Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ĐẠI THỪA BỔN SANH TÂM ĐỊA QUÁN KINH

BÁO ÂN PHẨM

Pháp sư THÁI HƯ – Giảng ký
 Sa-môn KHÁNH ANH – Việt dịch

 

Kỷ niệm mùa Đông an cư năm Kỷ Hợi
 Phật lịch 2503 – Dương lịch 1959
 CHÙA PHƯỚC HẬU

 LỜI TỰ DẪN

Báo Ân Phẩm là một phẩm thứ 2 trong 13 phẩm(1) của toàn bộ “ĐẠI THỪA BỔN SANH TÂM ĐỊA QUÁN KINH”, do ngài Thái Hư giảng tại viện Mân Nam Phật Học, tháng Chạp năm Dân Quốc thứ 21.

Đại thừa

Đối với Tiểu thừa nên gọi rằng Đại thừa nghĩa là bực lớn bực chân tu thực chứng, đã tự độ mình, lại độ cả chúng nữa. Tỷ như cỗ xe lớn vận tải được nhiều người.
 Đây, như cái cảnh học, tu quán tưởng pháp Đại thừa, thực hành pháp Đại thừa, sự kết quả trên tinh thần tiến hóa, tức hay vận pháp thuyền phổ tải từ địa vị phàm phu tiến lên đến đại quả Vô thượng Bồ-đề Niết-bàn, công chở mình đã tròn, công chở chúng cũng không cùng tận, nên gọi là Đại thừa(2).

Bổn sanh

Là một trong mười hai phần giáo, bổn sanh đây là chỉ về nhân quả bổn sanh cả ba vô số kiếp của đức Thích-ca-mâu-ni.

Chính trong kinh đây, tự phẩm nói: “Một tiền thân của đức Thích-ca từ đời trước, thuở làm một nhà vua hiệu là Quang Minh, trước nhứt phát tâm học tu bực vô thượng, chánh đẳng chánh giác…; nhẫn đến ngồi nơi cội cây lâm vồ Bồ-đề, đắc thành Phật đạo; giữa rừng cây đôi ta-la vào nơi Niết-bàn. Cả trong chặng giữa ấy đã trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, tu tiến tất cả từ bi hỷ xả, tám vạn bốn ngàn ba-la-mật…”.

Căn cứ đoạn văn trên, có thể rõ biết rằng “Bổn sanh” là chỉ về sự bổn sanh những đời trước của đức Phật Thích-ca-mâu-ni tu hành từ quá khứ ba A-tăng-kỳ và, hiện tại tám tướng(3) thành Phật, cho đến vị lai kiến thiết tháp tự, thế là trải qua vô số kiếp phát Bồ-đề tâm, từ chỗ địa vị phàm phu, đến bực cứu cánh thành Phật độ sanh; chính là rất hiển nhiên đem cả nội dung, những đặc sắc trong bổn sanh của đức Thích-ca đều biểu hiện ra cả.

Tâm địa quán

Kinh đây, trong phẩm Quán Tâm nói: “Cả tam giới lấy tâm làm chính, người mà năng quán tâm thì, được cứu cánh giải thoát, trái lại thì vẫn ở trong cảnh triền phược”.

Tâm, nó phổ biến trong tất cả các pháp (pháp giới vạn pháp, vũ trụ vạn hữu), nó có công năng biến hóa chuyển hiện, sở dĩ lấy đại địa tỷ dụ cái tâm mà, tâm tên là tâm địa.

Lấy địa dụ tâm, có hai ý nghĩa:

Một, năng sanh: tâm nó năng sanh ra thiện pháp, ác pháp, nhân quả cho tất cả chúng hữu tình và vô tình của thế gian và xuất thế gian, nhẫn đến hết thảy các pháp vô lậu vô vi của chư Bồ-tát. Tỷ như cả thảy cỏ cây, lùm rừng đều nương trên miền đại địa để sanh trưởng.

Hai, sở y: hết thảy nước suối ao sông biển, tất cả núi ngũ nhạc, núi quần đảo, động vật và thực vật, với mỗi mỗi đồ đạc mà nhân loại thụ dụng, đều lấy nơi đại địa làm chỗ y trú. Tâm cũng lại như thế nó hay làm chỗ cho tất cả tám vạn bốn ngàn pháp môn y chỉ.

Vì có hai nghĩa năng sanh, sở y đó, sở dĩ dụ cái tâm là đại địa, rằng tâm địa.

Cứ đó, khá rõ biết rằng pháp quán sát tâm địa nó khẩn yếu biết là dường nào. Ví dẫu tu pháp quán tâm mà rõ biết được thực tướng cả các pháp của tức tâm tự tánh thì, rõ biết được tâm vương và tâm sở pháp là, nó không ở trong, không ở ngoài, cũng không ở chính giữa. Với trong các pháp tìm chẳng thể được nó, nên tâm tánh vẫn là không, nên nó bất sanh bất diệt, vô khứ vô lai, nó không có những hình tướng thượng hạ sai biệt mà, nó chỉ là bình đẳng, bình đẳng.

Bởi khéo quán sát và không khéo quán sát bất đồng nhau, nhân đó mà có chư Phật cùng chúng dị sanh sai biệt, bởi các sự sai biệt do tâm sanh khởi, nương tâm mà trụ, nếu người khéo quán tâm thì, có thể sáng suốt cả chân tướng của các pháp, cũng giải thoát được luôn.

Người mà khéo quán tâm, cũng tức rõ thấu tất cả nhân quả tà chánh của cõi thế gian và cõi xuất thế gian; đã rõ thấu tất cả nhân quả tà chánh của thế xuất thế gian, tức rõ thấu được pháp tướng của các pháp; đã rõ thấu pháp tướng của các pháp, tức có thể y nơi như thực rõ biết đó mà tu tập phước trí, nhẫn đến tức có thể chứng đặng Niết-bàn cứu cánh, vì y nơi nghĩa đó, nên gọi là tâm địa quán.

Cũng tức là quán cái cảnh giới Đại thừa, tu cái hạnh phẩm Đại thừa, nhẫn đến chứng cái quả vị Đại thừa và, cũng tức là nói rõ các sự nghiệp, trong bổn sanh của đức Thích tôn.

Dịch gia sử
Bổn kinh đề rằng:
Đường Kế Tân Tam tạng Bát-nhã đang dịch

Chữ Đẳng là còn nhiều nhà dịch nữa, khá thấy rằng kinh này chẳng chỉ một cá nhân dịch.

Xét, lời tự của vua Đường Hiến Tông nói: “… xuống lời chiếu vời các nhà nghĩa học ở kinh sư, Đại đức Kế Tân Tam tạng Bát-nhã và cả tám người cùng phiên dịch kinh chỉ, sai các quan Giám nghị Đại phu Mạnh Giản cả bốn người cũng nhuận sắc kinh văn sắp làm tám cuốn, chung thành một bộ”.

Thế là ghi rõ sử thực phiên dịch kinh này.

Sách Trinh Nguơn Tân Định Thích Giáo Mục Lục quyển 17 nói: “Pháp sư tên Bát-lặc-nhã (trí huệ), xuất thân nước Ca-tất-thí (Kế Tân), bắc Thiên Trúc, họ Kiều-đáp-ma, thời nhân xưng tặng là thần đồng, 7 tuổi quy y Tam bảo, học tu tại bổn quốc 18 năm”… Đó là lược kể nhân duyên xuất gia của Bát-nhã pháp sư.

Về năm, đời phiên dịch kinh này: Căn cứ sách Trinh Nguơn Tân Định Thích Giáo Mục Lục thì, dịch vào năm Trinh Nguơn thứ 6 (790) tuế thứ canh ngũ. Đó là về đời vua Đường Đức Tông (780-802).

Kinh đây, từ đức Thích Tôn ở tại Linh Sơn, đối với các Bồ-tát mà Phật ngài thuyết pháp; sau khi kiết tập, lưu thông qua đảo Tích Lan. Về thời đại vua Đường Cao Tông (650-683) lại được lưu thông qua Trung Hoa, sau nhân vua Đường Hiến Tông (806-820) lòng nhiệt thành hoằng hộ Phật pháp, và Tam Tạng pháp sư Bát Nhã cùng các vị nỗ lực phiên dịch thành ra chữ Nho của Trung Hoa. Thế là lịch sử phiên dịch kinh đây mười phần xác thực đấy.

Nhẫn trên là lời tự dẫn trình bày lai lịch.

 

BÁO ÂN PHẨM
XỨNG TÁNH ĐỐN TUYÊN

Ân tức là đức huệ, phàm với bổn thân ta mà có thể được người giúp ích cho đạo đức, học vấn, và những sự cần dùng đều gọi là ân, kia đã có ân huệ với ta thì, ta phải luôn luôn nhớ đến điều “cây có cội, nước có nguồn”, chẳng thể lửng quên cái căn bản ấy, nên phải nhớ mà lo báo đáp.

Phẩm tức phẩm loại, tức là văn nghĩa của một bộ kinh có các món tánh cách ý chỉ; nay đem một phần giống nhau mà lược nhóm lại làm một phẩm, nên gọi là Báo Ân Phẩm.

Ân có bốn thứ, tức ân của cha mẹ, ân của chúng sanh, ân của quốc vương và ân của Tam bảo. Vì bốn hạng ấy, đối với chúng ta đều có ân huệ nên phải báo đáp.

Song phẩm Báo Ân đây, ban đầu có một đoạn: Phật từ thiền định ra bảo ngài Di-lặc Bồ-tát…, là đoạn văn “xứng tánh đốn tuyên”, dù để ở trước bổn phẩm mà, nghĩa nó chẳng đồng với sự báo ân. Nhưng, cũng nhân có một đoạn văn ấy, mới kéo ra văn dưới do ông trưởng giả Diệu Đức nghi hỏi…

Văn ấy dù chẳng làm cái thân nhân duyên cho Báo Ân Phẩm, mà là làm cho tăng thượng duyên thì không nghi gì.

Lại, về đoạn “xứng tánh đốn tuyên” ấy câu văn rất ít, nên không thành là riêng phẩm ra, mà để trước phẩm Báo Ân đây, cũng như kinh Pháp Hoa đốn tuyên thực tướng của chư pháp Thập Như Thị để ở đầu phẩm Phương Tiện.

Bấy giờ đức Thế Tôn từ thiền định yên lành thức dậy, bảo ông Di-lặc Đại Bồ-tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Ông cùng các đại sĩ, các thiện nam tử vì muốn thân cận Từ phụ của thế gian, vì muốn nghe hiểu pháp xuất thế gian, vì muốn suy nghĩ lý như như, vì muốn tu tập trí như như, đều đến chỗ Phật cung kính cúng dường.

Ta nay diễn nói pháp mầu tâm địa, để đem chúng sanh khiến vào trí Phật. Pháp mầu như thế, các đức Như Lai qua vô lượng kiếp mới có một thời nói ra.

Như Lai Thế Tôn xuất hưng nơi đời, như bông Ưu-đàm(4) rất khó gặp! Ví dẫu Như Lai xuất hiện nơi đời, mà với diệu pháp ấy, cũng khó có dịp nói! Sở dĩ là sao? Vì tất cả chúng sanh, xa lìa hạnh nguyện của Đại thừa Bồ-tát, hướng theo quả Bồ-đề của Thanh văn, Duyên giác, bởi chán lìa sanh tử vẫn vào cảnh Niết-bàn(5) của Tiểu thừa, chớ chẳng thích quả mầu thường lạc của Đại thừa. 

Song, các đức Như Lai chuyển pháp luân là xa lìa 4 điều quá thất, nói pháp tương ưng: 1- Chúng không quấy, 2- Thời không quấy, 3- Đồ không quấy, 4- Pháp không quấy.

Theo bệnh cho thuốc, lành đã như xưa, đấy là đức bất cộng của Như Lai. Thanh văn, Duyên giác chưa được tự tại cảnh bất công của các chúng Bồ-tát, do nhân duyên ấy nên khó thấy nghe được pháp môn tâm địa của chánh đạo Bồ-đề.

Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, với pháp mầu đây, một phen nghe lọt vào tai rồi, thu niệm quán tâm trong một giây phút, huân tập thành giống vô thượng Bồ-đề, chẳng bao lâu sẽ được ngồi trên bảo tọa kim cang(6) nơi cây chúa Bồ-đề, đắc thành Phật quả.

Đức Như Lai sở dĩ đặc biệt cáo thị nơi ngài Di-lặc, đó là, nhân vì Bồ-tát đây chẳng bao lâu nữa sẽ thành Phật, lại là bổ xứ kế vị Phật sau đức Thích Tôn tại thế giới này.

Tuy còn có các vị Đại Bồ-tát kia, nhưng đức Thích Tôn muốn phú chúc Phật pháp tức là ở nơi Di-lặc; nên rốt phẩm đây có nói: “Nếu có người phát tâm ấn tống lưu bố phẩm Báo Ân đây, vừa mạng chung liền được vãng sanh lên nội cung của Di-lặc và đến Long Hoa tam hội được Ngài thọ ký cho thành Phật, tức là ý đây.

“Hay thay! Hay thay!” là lời ngợi khen rốt bực. Đối với Tam bảo phàm tất cả chúng sanh hay trồng các căn lành thì, đều gọi là “Thiện nam tử”. “Từ phụ của thế gian” tức chính chỉ đức Như Lai, nhân vì đức Như Lai ngài hay đem sự yên vui xuất thế gian ban cho thế gian chúng sanh.

“Pháp xuất thế gian” tức là diệu pháp bất tư nghì. Còn tất cả các pháp của thế gian đều chẳng rời những niệm tìm, nghĩ, xét, đo, vì những tìm nghĩ xét đo ấy nó chẳng qua là những phân biệt với ngôn luận của vọng tâm giả lập, luống dối so đo nên có thể bị phá hoại; mà pháp bất tư nghì của xuất thế gian, lìa cái giả danh hư vọng kế đoạn và ngôn luận, bèn là đức Phật đà ngài tự thân chứng đắc cái lý tánh chân thật thường trú bất tư nghì bất biến hoại như như, cũng tức là cái “căn bản tâm địa” trong bổn sanh kinh.

 Trong vũ trụ tất cả các pháp hữu tình vô tình, đều nhiếp thu ở trong “căn bản tâm địa” đây, làm cảnh sở hiện của “căn bản tâm địa” đây.

Phân tách mà nói, tức là lấy cái trí huệ của căn bản tâm địa năng quán mà chứng đắc cái lý thể của căn bản tâm địa sở quán.

 “Cái lý như như” tức là cái lý thể sở quán của căn bản tâm địa. Cái trí như như tức là cái trí huệ năng quán của căn bản tâm địa.

Chừ hiệp lại nói rõ nếu muốn tư duy cái lý như như, ắt trước phải nghe hiểu cái pháp xuất thế, đã nghe được pháp xuất thế rồi, rất phải cần gia công dụng để tu tập cái lý như như; cái trí như như đã thành thì, cái lý như như liền hiển hiện. Như như thì như trí tức là lý; như lý tức là trí, hai mà chẳng hai, chẳng hai mà hai. Rút lại, tức là cái “nhứt chân pháp giới” vô phân biệt.

“Pháp mầu tâm địa” tức là trong căn bản tâm địa sở hữu có pháp rất vi diệu khó thể suy nghĩ đặng, chính trong kinh Pháp Hoa chỉ gọi “Pháp ta mầu khó nghĩ”, cũng là ý đây.

Với tâm địa diệu pháp dây, bất luận là tâm năng chiếu (như Phật phóng ra hào quang sắc vàng), vô luận là cảnh sở chiếu (như hư không…), đều là cái cảnh trí vô phân biệt, năng sở đều vong, duyên quán đều tịnh nên phi tất cả cái tâm niệm tà vọng phân biệt có thể biết được. Vì tà vọng phân biệt xây dựng trên cái ý niệm phân biệt, còn cái diệu pháp của căn bản tâm địa bèn là sở hành vô phân biệt trí. Duy chỉ nó như thế, nên có thể phù hợp nhau với sự lý, chẳng đồng với lông rùa sừng thỏ là hoàn toàn không tướng không dụng.

Song, với tâm địa diệu pháp đây, nó vẫn là thậm thâm vi diệu khó thể nghĩ bàn, chỉ muốn khiến cho chúng sanh được biết pháp ấy, nên Phật lại không thể không mượn cách phương tiện hay khéo để nói ra, đặng dẫn dắt chúng sanh, khiến cho từ nơi nghe mà nhớ, từ nơi nhớ mà tu để tiến vào trí huệ của Phật; cũng tức Pháp Hoa kinh bổn.

“Đức Như Lai vì khiến tất cả chúng sanh đều được khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến của Phật, nên Phật ngài phải xuất hiện nơi đời.”

Với diệu pháp như thế, đến thời phải nói mới nói ra được, vì căn cơ của chúng sanh đã tiến đến bực kham thụ pháp Đại thừa.

Lìa bốn quá thất:

1- Vô phi xứ: dùng lý mà nói, tức là với chân tức nói là chân, với giả tức nói là giả, nhẫn đến hữu vô thị phi, đâu chẳng đều thích hợp với lý; nếu nói về sự, tức là phải ở giữa đại chúng, hễ có lời nói năng, đều thích ứng với hoàn cảnh chỗ ở, nên nói là vô phi xứ.

2- Vô phi thời: thì giờ không quấy, nếu lấy thắng nghĩa đế nói, tức pháp của Như Lai sở thuyết đều là sơ thiện, trung thiện và hậu cũng thiện luôn, điều nên nói thì thuyết ra cái giáo vô tướng, giáo hữu tướng, và cái giáo trung đạo phi hữu phi không cũng thế. Nếu y theo nơi thế tục đế mà nói, tức Phật ở nơi Lộc Dã Uyển và Kỳ Viên, Linh Sơn… Ngài nói ra các pháp, đâu chẳng thích nghi với đương thời, nên nói vô phi thời.

3- Vô phi khí: Khí: đồ, tức là căn khí, chỉ về những chúng sanh thụ lãnh giáo pháp. Nếu nói về thắng nghĩa đế, tức tất cả chúng sanh đều có cái pháp khí(7) thành Phật, là chỗ bảo “Nhứt thế chúng sanh giai hữu Phật tánh”, nên chi pháp của Phật thuyết ra, đều thích hợp với tâm của chúng sanh, đâu chẳng đều khiến cho thành Phật cả. Nếu lấy pháp đời mà nói, tức là kẻ chưa trồng căn lành khiến họ phải trồng, kẻ đã trồng thiện căn khiến họ làm tăng trưởng lên, kẻ đã tăng trưởng khiến họ được thành thục; hoặc tùy theo sở thích của năm tánh(8) mà thuyết cho đều được tùy tâm mãn nguyện, nên nói là vô phi khí.

 4- Vô phi pháp: nếu lấy thắng nghĩa đế(9) mà nói, tức nhứt thiết pháp đều chân như, đều tất cánh là không, là vô nguyện, là vô tướng, bất sanh bất diệt, bất đồng bất dị. Nếu lấy thế tục đế(10) mà nói thì, tức Như Lai ngài thuyết ra các pháp tứ đế, thập nhị nhân duyên, ngũ căn, ngũ lực, thất giác, bát chánh đạo, tứ vô lượng và lục độ, đều do nơi “Tối thanh tịnh pháp giới” mà đưa ra bằng cách bình đẳng, cũng đâu chẳng khiến tất cả chúng sanh (hoặc Thanh văn, hoặc Duyên giác, hoặc Bồ-tát) mỗi đều tùy nơi sở thích của mình mà trở về với tối thanh tịnh pháp giới (Phật tánh).

 

TÙY CƠ TIỆM THUYẾT
 Ngũ thừa cọng pháp giới.

đáp Diệu Đức vấn Ngũ thừa cọng pháp của nhân thiên thừa chấp, Diệu Đức niệm vấn

Bấy giờ có các nhà đại phú trưởng giả từ Vương Xá đại thành(11) đến: Dũng Minh trưởng giả, Thiện Pháp trưởng giả, Niệm Phật trưởng giả, Diệu Trí trưởng giả,

Bồ-đề trưởng giả, Diệu Biện trưởng giả, Pháp Nhãn trưởng giả, Quang Minh trưởng giả, Mãn Nguyện trưởng giả, như thế cả 500 ông trưởng giả do Diệu Đức trưởng giả làm đầu, đều đã thành tựu chánh kiến, cúng dường Như Lai và các thánh chúng; các trưởng giả đấy, nghe đức Thế Tôn tán thán tâm địa pháp môn của Đại thừa, mà tác ý khởi niệm thế này:

“Ta thấy đức Như Lai phóng ra hào quang sắc vàng; trong ánh vàng hiện ra những khổ hạnh khó làm của các vị Bồ-tát mà, ta chẳng yêu thích làm cái khổ hạnh ấy, vì ai mà có thể vĩnh kiếp ỡ mãi trong đường sanh tử để thay vì chúng sanh chịu mọi điều khổ não được ư?!”

Bọn ông Diệu Đức nghĩ thế rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, mích trống vai áo bên hữu, gối hữu quỳ đất, chắp tay cung kính, khác miệng rập lời, thưa hỏi Phật rằng:

 “Bạch đức Thế Tôn! Chúng con không thích cái hạnh tu của chư Bồ-tát Đại thừa, cũng chẳng ưa nghe đến âm thanh nói khổ hạnh. Sở dĩ là sao? Vì chỗ tu hạnh nguyện của các Bồ-tát, thảy đều chẳng phải biết ân báo ân, tại sao? Vì xa lìa cha mẹ, để đi xuất gia, đem vợ con mình, thí cho kẻ muốn, đầu mắt tủy não, thảy đều bố thí cho kẻ cầu xin, chịu mọi khổ não trải ba vô số kiếp, để tu đủ lục độ, tám muôn bốn ngàn hạnh ba-la-mật, chừng nào vượt khỏi dòng sanh tử, mới đến chỗ đại an lạc Bồ-đề; chẳng bằng tu về đạo quả Nhị thừa, chỉ trải qua ba đời trăm kiếp, nhóm họp tư lương, dứt cái nhân sanh tử, chứng quả Niết-bàn, mau đến chỗ an lạc, mới gọi là báo ân”.

Đây là trần thuật lại đương khi Phật thuyết pháp tại Linh Sơn. Cáo thị với Di-lặc, giữa pháp hội đại chúng có 500 vị trưởng giả, cùng đồng tại tọa nghe pháp, mà đều là bực đại phú hào đối với nhân dân xã hội, đều thường đem của bố thí, sở dĩ cũng đến pháp hội cúng dường Như Lai và các thánh chúng.
 Đối với Tam bảo, các nhà trưởng giả ấy đều có con mắt chánh kiến và lòng chánh tín, huệ chánh giải, nhưng còn là cái căn cơ nhân, thiên, tiểu thừa nên chưa có thể chóng vào pháp môn tâm địa vô thượng Bồ-đề được.

Nhân đó, họ vẫn chỉ phát khởi cái niệm báo ân thôi, nay vừa nghe đức Như Lai ngài tán thán pháp môn tâm địa của Đại thừa (đức Như Lai phóng quang hiện tướng, trong cái tướng ánh sáng vàng thuyết ra những khổ hạnh của Đại thừa là: nhân cứu tế chúng sanh, thay vì chúng sanh chịu mọi điều khổ não) mà họ đều chẳng nguyện nghe, cũng chẳng ưa làm. Họ chấp rằng: bỏ xa cha mẹ, không lo báo ân, trở lại đi thay chịu khổ cho chúng sanh, ấy là với trên nhân luân mà giảng cũng chẳng xuôi được. Cái ý kiến đây, với nhà Nho ở Trung Hoa xưa, cũng bảo là từ kẻ thân rồi mới đến kẻ sơ, trước phải thân ái với kẻ thân, rồi sau mới nhân ái với dân và vật, chẳng thế thì cho là chẳng hợp với luân lý. Các trưởng giả đây ý kiến họ cũng như thế, cho là với ân của cha mẹ, không lo đáp đền, trái lại đi hành cái khổ hạnh của Bồ-tát, thay thế chúng sanh, chịu các điều khổ não, ấy là việc làm chẳng phải biết ân báo ân đấy.

Gần đây người ta cũng thường thường lấy đó để phê bình Phật pháp chẳng nhân luân, in tuồng có phù hợp nhau với ý nghĩa trên đây.

Vả, tiến tới lấy pháp xuất thế tức từ nơi liễu thoát sanh tử để nói, ví dẫu xa lìa cha mẹ, bỏ biệt vợ con, nhẫn đến hy sanh đầu mắt tủy não, lại phải trải ba đại kiếp, tu tám muôn bốn ngàn pháp môn, mới có thể siêu việt biển khổ sanh tử, đắc quả đại Bồ-đề đi nữa, cũng chẳng bằng tiến tu đạo quả Nhị thừa là tốt hơn. Nhân vì tu về Duyên giác chỉ trải qua có trăm kiếp là chứng quả, tu về Thanh văn thì hoặc qua ba đời hoặc qua sáu mươi kiếp, tức chứng đạo quả, mà tu về Đại thừa Bồ-tát ắt phải trải qua ba vô số kiếp; thế đó há chẳng phải đắc Nhị thừa quả dễ dàng không? Dứt sanh tử cũng rất dung dị, chỉ cốt tu tập từ pháp Ngũ đình tâm(12) nhẫn đến Niết-bàn tức có thể đến chỗ an vui, lấy đó mà độ cha mẹ mới gọi là báo ân.

Cái tâm tu lo báo ân thế đó tức là pháp nhân thiên thừa của Dục giới, mà Thiên thừa Nhân thừa đây thông đồng với pháp của người tu xuất thế, nên gọi là “ngũ thừa cọng pháp”, nghĩa là cả năm thừa bước đầu đều tu pháp này nên nói cọng pháp.

Ý niệm của trưởng giả thế đó, toàn là bỏ Đại thừa, đến Tiểu thừa và lại là lấy Nhân thừa rất nhỏ làm căn cứ lập luận.

NHƯ LAI AN ỦI ĐÁP

Bấy giờ Phật bảo năm trăm trưởng giả: “Hay thay! Tốt thay! Các ông nghe lời ta tán thán tu pháp Đại thừa mà nảy lòng thối chuyển, thế là khêu gợi ra nghĩa mầu làm lợi ích, an vui cho tất cả chúng sanh nào chẳng biết ân đức trong đời vị lai.

Vậy các ông lóng nghe! Lóng nghe! Khéo nghĩ ghi nhớ! Ta nay vì các ông phân biệt diễn nói về chỗ có ân của thế, xuất thế gian.

Đối với các trưởng giả, đức Thế Tôn ngài luận nghĩa về việc báo ân, rất là tán thán, vả lại dùng lời “Hay thay! Hay thay!” để an ủi. Vì tuy nhân nghe Phật nói khổ hạnh của Đại thừa mà các ông ấy nảy lòng sợ lui, song cũng có thể phát khởi ra nghĩa mầu khiến cho người đời sau biết ân lo báo ân; nên Phật đôi ba phen khuyên các ông ấy khéo nghĩ ghi nhớ, chỉn vì các ông ấy mà Phật ngài phân biệt diễn nói rành chỗ có ân của thế gian và xuất thế gian.

 

ĐÁP GIẢI

NÊU GIẢI THÍCH BỐN ÂN

NÊU CHUNG.

Thiện nam tử! Lời của các ông nói đó chưa được chánh kiến, là sao? Giữa cõi đời có bốn thứ ân: 1- Ơn của cha mẹ. 2- Ơn của chúng sanh. 3- Ơn của quốc vương. 4- Ơn của Tam bảo. Với bốn ơn như thế, tất cả chúng sanh đều bình đẳng mang đội.

Cái đạo lý của mấy ông nói biết ân báo ân đó, nó chỉ nhằm có một mặt thôi, chớ chẳng phải là phổ biến hoàn toàn. Đến với sự báo ân của cha mẹ đó mà luận thì, cũng chưa được rõ rành trọn vẹn.

 Đây, đối với giữa cõi đời, chúng ta phải biết có bốn thứ ân, là phụ mẫu ân, chúng sanh ân, quốc vương ân và Tam bảo ân. Vì bốn ân đây đều là bằng bực như nhau về công sức gùi cõng tất cả chúng sanh, nên mỗi mỗi chúng sanh đều phải đền đáp bốn ân đấy.

GIẢI RIÊNG

1- PHỤ MẪU ÂN:

 Thiện nam tử! Ân của cha mẹ như thế, nên cha có cái từ ân, mẹ có cái bi ân.

Với bi ân của thân mẫu, nếu ta ở hoài nơi đời luôn một kiếp nói mãi cũng không hết được. Nay vì các ông, ta tuyên thuyết được phần nào thôi.

Ví dẫu có người vì làm phước đức, mà cung kính cúng dường một trăm vị tịnh hạnh bà-la-môn, một trăm vị đại thần tiên đã chứng năm phép thần thông, một trăm vị thiện hữu, đều tôn trí ở trong nhà bằng bảy báu tốt nhứt, dâng trăm ngàn thức ăn ngon nhứt, y phục bằng các món quý báu kết thả các tua chuỗi ngọc anh lạc, phòng liêu bằng các thứ gỗ chiên đàn hương, sàng nằm đồ lót bằng trăm vật báu trang nghiêm, trăm món thuốc hay trị lành các chứng bệnh, tự thỉ chí chung nhứt tâm cúng dường suốt trăm ngàn kiếp; cũng chẳng bằng chỉ trong một niệm để tâm hiếu thuận, đem vật sắc chút ít phụng dưỡng bi mẫu, tùy tiện cúng hầu, so với việc cúng dường trên kia thì công đức hiếu dưỡng này nhiều gấp trăm ngàn muôn phần, chẳng thể so lường.

Đức bi mẫu quan niệm với con, trong đời không có gì sánh kịp: Ơn từ mới bắt đầu thụ thai chưa thành hình, trải mười tháng, đi đứng ngồi nằm chịu đủ khổ não, phi miệng lời kể hết được.

Dầu có gặp cuộc vui sướng, món ăn uống ngon, y phục đẹp, cũng chẳng yêu thích mấy cho bằng cái lòng yêu cưng lo nhớ hằng không thôi nghĩ đối với con.

Chúng ta lại tự nhớ nghĩ: Lúc bà mẹ sắp sanh nở, dần dần chịu lắm khổ sở, cả ngày lẫn đêm, vẫn thường lo sợ! Nếu bị khó đẻ, đau như trăm ngàn mũi dao đua đến cắt xẻ, mà phải chết đi; nếu không khổ não, thì thân bằng quyến thuộc, mừng vui vô cùng! Tỷ như cô gái nhà nghèo được ngọc như ý, mẹ mừng hài nhi cũng như ngọc vậy.

 Nghe tiếng con học nói, như nghe âm nhạc, lấy hung ức mẹ làm chỗ con nghỉ, đôi bên đầu gối làm chỗ con dạo chơi. Trong hai núm vú chảy suối cam lộ, cái ân trưởng dưỡng, trùm khắp vòm trời, cái đức thương yêu rộng không chi sánh ví.

Cõi đời, vật cao không chi hơn núi, mà ân bi mẫu vượt hơn Tu-di. Cõi đời vật nặng, đại địa là trước, mà ơn bi mẫu cũng hơn địa cầu.

Nếu có nam nữ trái ân chẳng thuận, làm cho cha mẹ sanh tâm hờn trách, hễ mẹ nổi dóa, thốt lời ác ngôn, con liền phải đọa, hoặc ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Trong đời gì chóng, chẳng hơn gió dữ, chút lời giận trách, lại mau hơn gió, tất cả Như Lai, trời, thần Kim Cang và tiên Ngũ thông, đều chẳng thể cứu!

Nếu Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, vâng y lời dạy của bi mẫu, kính thuận không trái, được chư thiên hộ niệm đặng phước vô biên. Nam nữ như thế, được gọi là kẻ tôn quý, chủng loại của trời người, hoặc là Bồ-tát vì độ chúng sanh, nên thị hiện làm con cái để giúp ích cho đấng làm cha mẹ.

Nếu thiện nam nữ, vì trả ơn mẹ: trải qua một mỗi ngày ba thời, cắt thịt trong mình để nuôi cha mẹ đi nữa cũng chưa có thể trả ơn một ngày của mẹ. Sở dĩ là sao?

Tất cả con cái ở trong mẫu thai, miệng nuốt căng vú sữa, uống lấy máu trắng của mẹ; và ra bào thai rồi, cả khi trẻ con uống sữa của mẹ uớc có một trăm tám mươi đấu, mẹ có được vị gì ngon đều nhịn cho con, cho đến y phục quý đẹp cũng lại như thế, dù con có đứa ngu si hèn hạ, cũng tình thương như nhau, không bỉ thử đứa hơn đứa kém.

Xưa có một phụ nữ, du lịch qua nước xa, đồng thời ôm con, lội qua sông Hằng, dòng nước chảy mạnh, sức yếu không thể lướt qua nổi, lại bận yêu con không nỡ buông con, để lo tự riêng sống, nên rồi mẹ con đều bị nước cuốn chìm. Do vì cái sức lành của lòng thương con đó mà thần thức liền đặng siêu lên cõi trời Sắc cứu cánh, làm Đại phạm vương.

Do nhân duyên ấy, mẹ có mười đức: 1- Rằng đại địa vì với trong mẫu thai làm chỗ y chỉ. 2- Rằng năng sanh vì trải chịu lắm khổ mà năng sanh. 3- Rằng năng chánh vì mẹ thường lấy tay nắn sửa năm căn của con. 4- Rằng dưỡng dục, vì tùy theo bốn mùa thích hợp nuôi lớn. 5- Rằng trí giả, vì hay dùng phương tiện để nảy khôn biết. 6- Rằng trang nghiêm, vì dùng đồ trang sức để tốt đẹp thân con. 7- Rằng an ẩn, vì lấy sự hoài bão của mẹ làm chỗ chỉ tức. 8- Rằng giáo thụ, vì dùng cách hay khéo để dẫn dắt con. 9- Rằng dạy răn, vì dùng lời hiền lành, lìa răn tiếng thô ác. 10- Rằng dữ nghiệp, vì năng lấy gia nghiệp phó thác cho con.

Thiện nam tử! Với cả thế gian, thứ gì rất giàu, thứ chi rất nghèo? Đức bi mẫu còn sống trên nhà thì gọi là giàu; đức bi mẫu chẳng còn thì gọi là nghèo. Khi mà bi mẫu còn sống gọi là mặt trời giữa ngày, khi bi mẫu thác rồi, gọi là mặt nhật lặn; thuở mà bi mẫu còn gọi là nguyệt sáng, thuở bi mẫu vong rồi gọi là đêm tối.

Thế nên các ông cần thêm tu tập hiếu dưỡng phụ mẫu phước cũng như người cúng Phật không khác, nên phải như thế báo ân cha mẹ.

Rằng ơn của cha mẹ, là cha có từ ân, mẹ có bi ân, vì từ là ban vui, bi hay vớt khổ. Cho vui, là đem con giáo dưỡng cho nên người, cấp cho mỗi món gia nghiệp, tài vật học vấn, đạo đức, khiến con tự biết giác ngộ, tự biết thành lập và tự trị lấy, ấy đều là chỗ ơn của đức nghiêm thân.

Mà ở phương diện bạt khổ thì ơn của đức từ mẫu rất là trọng đại, như ở thời kỳ bé nhỏ, lúc có bệnh hoạn và những cơn đói khát, lạnh, nực mọi sự khổ não mà, mẹ thì có thể dẹp bỏ mỗi điều khổ não đó.

Thực ra thì cha mẹ đều có lẫn ân từ bi cả, bất quá ở về phương diện đặc thắng thì có phụ từ, mẫu bi chẳng đồng đó thôi.

Về phương diện mẫu thân, ý nghĩa của từ bi còn có cách ngoại thân thiết nữa, thường thường ở về loài súc sanh nó chỉ biết có mẹ thôi, mà ở về trên lý tánh thì nhân loại mới biết rằng còn có ân của cha.

Giữa xã hội thường thường có những đứa con ngỗ nghịch bất hiếu, vì chẳng những chẳng hề lo trả cái đức từ bi của cha mẹ nó, mà lại chẳng biết cái ân từ bi của cha mẹ nó ở chỗ nào, thậm chí còn có kẻ tự giết hại cái sanh mạng của cha mẹ nó nữa, đấy nói sơ sơ ra thì còn chẳng bằng so với chim muông thay, là quạ và rái(13)! Ví bằng năng biết ân mẹ, thì kẻ ấy tức là hột giống Bồ-đề.

Nhân vì muốn trả ân mẹ, tức phải có cái tâm thân ái hiếu thuận đối với mẹ, năng đem cái tâm làm lợi ích cho mình chuyển dời qua đến trên cái tâm biết trả ân mẹ thì, chẳng còn cái lối hành động cực đoan tự tư tự lợi.

Nhân vì biết trả ân mẹ, tức có thể dần dần bỏ được cái tâm tự tư mà đi đến cái tâm hiếu dưỡng phụ mẫu, tức là cái căn bản đạo đức của nhân gian.

Do đó suy rộng ra, thì cái tâm của Bồ-tát cũng tức là như thế, chẳng tiếc hy sanh cái hạnh phúc của cá nhân mình mà đến thay thế sự lao khổ cho chúng sanh, để khiến chúng sanh đặng hạnh phúc, chung sống chung vui giải thoát!

Sở dĩ tu hạnh Đại thừa Bồ-tát là nhận lấy chúng sanh làm cha mẹ, do tâm đại bi mà phát khởi nên làm sự nghiệp để cứu khổ não cho chúng sanh.
 Chỗ sở truyền của Phật giáo bên Tây Tạng: từ tu tâm đại bi mà sanh khởi ra tu tâm Bồ-đề, ấy có hai biện pháp: 1- Đem cái tinh thần ích kỷ, đổi qua làm việc vị pháp vị nhân để lợi ích cho kẻ khác thì, tự nhiên sanh khởi ra cái tâm đại bi; đối với sự lợi ích công cộng nó trọng yếu hơn so với lợi ích của cá nhân. 2- Biết ân mẹ mà báo ân, phàm người có tri giác, nhẫn đến cao đẳng động vật(14) đều có thể cảm giác đến ân mẹ, do một ân mẹ đây mà suy rộng ra cả đường luân hồi, để quan sát tất cả chúng sanh đều đã làm mẹ của ta trong nhiều đời, như nói “Quá khứ thất thế phụ mẫu” nhẫn đến “pháp giới phụ mẫu”’, thì chúng ta đều cốt phải làm thế nào khiến tất cả chúng sanh đều an vui thì, phi phát cái tâm đại Bồ-đề là không thể được.

Sở dĩ hễ tu đại bi tâm thì, Bồ-đề tâm bèn tự nhiên sanh khởi, chẳng thế thì bị cái ngã ái nó làm chướng hại, dù có hiểu biết cũng chẳng ứng dụng đến phương diện thiện mỹ được, vả lại, tăng trưởng các điều phiền não là ngã si, ngã mạn…

Nếu có thể tu được đại bi tâm, thì tự nhiên có thể ra làm được những sự nghiệp lợi ích cho người, “vô ngã” cũng chẳng phải là cái danh từ muốn nghe.

Nếu có thể chí thành cầu tu đại bi tâm, thì cái tâm ngã chấp cũng tự nhiên phải tiêu diệt ngay, cũng không có cái bệnh “ác thủ không”(15), ấy mới là cái xuất phát điểm phát khởi Bồ-đề tâm.

Đây vả lại đặt ra mỗi món so sánh, để cho biết ân của mẹ rất thâm trọng. Ví bằng có người đem mỗi mỗi vật phẩm cúng dường cung kính tất cả các bậc siêu nhân hữu học vấn, hữu đạo đức, chẳng bằng một niệm để tâm hiếu thuận đem chút đỉnh vật phẩm cúng dường mẫu thân, đem so cái công đức cúng dường các siêu nhân trên kia thì, công đức cúng dường mẫu thân còn nhiều gấp trăm ngàn vạn phần. Ấy là rõ bày chỗ lớn nhỏ của công đức cúng dường, để cho biết vậy thôi.
 Chớ như giảng đến sự chân chánh trả ơn cha mẹ, ví dẫu người con mỗi ngày lóc thịt trên thân để hiếu dưỡng phụ mẫu, cũng còn là chẳng thể trả được cái ơn của cha mẹ trong một ngày, nhân vì lúc ban sơ ở nơi mẫu thai, trải qua mười tháng mẹ chịu các sự khốn khổ, sau khi ra khỏi mẫu thai sú sữa nuôi nấng nên người; nên cái ân đức ấy dẫu trả cũng khó hết được. Trung Quốc, xưa có kẻ cắt thịt nơi bắp vế để lành bệnh của thân sanh, cũng là loại này.

Trong đời, kẻ làm nhân tử, thường thường đến sanh nhật của họ thiết tiệc chơi vui linh đình hơn ngày bình thường. Thực chẳng nên lấy sanh nhựt làm cuộc vui, phải biết cái ngày ta được sanh, tức là ngày mẹ đẻ phải chịu điều khốn khổ! Người mà năng tưởng nhớ như thế thì, ắt không nỡ làm cuộc ngỗ nghịch vui chơi.
 Nếu con có làm điều trái nghịch ý mẹ, làm cho mẹ sanh niệm bất an, thì đứa con ấy rất dễ đọa lạc; tuy có thần Kim Cang, trời hay người gì cũng chẳng thể cứu hộ được.

Nhân sanh rất có sự hạnh phúc tức là cha mẹ còn sống trên nhà, sở dĩ nhân sanh mà có hạnh phúc hay vô hạnh phúc là do cha mẹ còn tại đường làm phiên chuẩn.

Ơn của cha mẹ nhiều lắm, dù có trả mãi cũng không hết, với sự đi cúng dường các người thượng thiện bên ngoài, cũng chẳng bằng cúng dường cha mẹ trong nhà. Người xưa nói: “Trong nhà có hai đức Phật(16)” tức là cha mẹ đấy. Do cúng Phật, cúng cha mẹ trên chỗ đắc phước đồng đẳng như nhau, chứ không sai khác, chủ yếu cầu phương pháp xuất thế thì, phi cúng Phật chẳng thể đặng.

2- CHÚNG SANH ÂN

Thiện nam tử! Ơn của chúng sanh là, tức từ vô thỉ lại nay, tất cả chúng sanh, luân chuyển mãi trong năm ngả, trải qua trăm ngàn kiếp, với trong nhiều đời lẫn làm cha mẹ. Do vì lẫn nhau làm cha mẹ đó, mà tất cả nam tử tức là từ phụ, hết thảy nữ nhân tức là bi mẫu. Trong mỗi đời trước, vì có lòng đại bi, cũng như ơn cha mẹ đời hiện tại, đồng bực không khác.

Như thế ơn xưa đã chưa đền trả, hoặc bởi cái nghiệp mê vọng mà sanh các điều thuận nghịch, do vì chấp trước trở lại làm thù oán.

Do sao? Cái vô minh hoặc nó che ngăn ánh trí của đời trước đi, nên đời nay chẳng thấy rõ được đời trước đã từng làm cha mẹ, chỗ khá báo ân, làm lợi ích lẫn nhau gọi là có hiếu, không làm lợi ích gọi là bất hiếu.

Vì nhân duyên ấy, với các loại chúng sanh, trong tất cả giờ cũng có ơn lớn, thực là khó trả; với việc như thế gọi là chúng sanh ân.

Người ta từ đời vô thỉ lại nay, trôi lăn trong tam giới, chìm nổi giữa biển sanh tử ngũ thú, luân hồi mãi chẳng thôi; bởi thế, nên mỗi một chúng sanh đều có ân huệ với ta, đều đã làm cha mẹ từ đời quá khứ của ta; vì chúng sanh đều tức phụ mẫu, nên với ơn của chúng sanh tức đồng ơn của phụ mẫu.

Nhân vì đã từng làm cha mẹ, sở dĩ tất cả nam tử đều là ngã phụ, hết thảy nữ nhân đều là ngã mẫu, cùng đồng một cách với cha mẹ hiện tại. Với cái ơn từ trước xưa chưa trả, thì đời này đây cần phải lo trả.

Giữa cõi đời thường thường có cùng đồng một chủng loại mà tương tàn tương sát với nhau, với dị loại cũng tương hại với nhau, in tuồng lấy ta làm dao thớt, lấy kia làm cá thịt, hễ muốn ăn thì bắt giết mà ăn, không có một mảy may thương xót.

Nếu đều biết có cái ơn khó trả, tức phi dấy cái tâm đại bi thì chẳng thể được.

Ơn chúng sanh đây, tức là ơn của xã hội. Trong đây dù chỉ do nơi ơn của cha mẹ mà suy rộng ra để nói, song với ơn của xã hội, phải bao quát cả ơn của thân thích, lân lý, sư trưởng, bằng hữu, đồng sự, đồng nghiệp, đồng học, đồng một quốc dân, đồng một dân tộc, đồng một nhân chủng, đồng một nhân loại và đồng làm chúng hữu tình… đều có điều rất mật thiết quan hệ với nhau.

Với phương diện hữu tình mà nói: Con trâu hay về cày, con ngựa hay về bước, con chó hay về ban đêm, con gà chủ về việc gáy sớm. Tóm lại, hễ là có cái nhân duyên hay giúp lẫn tăng ích với nhau thì, đều phải thuận theo chỗ cần dùng mà vì giúp đỡ ấy mới là báo ân.

Do đó, giữa nhân loại đều phải làm nhiêu ích lẫn nhau; đối với xã hội, dân tộc đều phải đến thí cho lợi ích. Với cái tâm lý báo chúng sanh ân đây, là mỗi người đều phải cụ túc mới được.

3- QUỐC VƯƠNG ÂN:

Quốc vương là người có phúc đức thắng phần hơn giữa một dân tộc, người tuy sanh ở nhân gian mà được đặc biệt tự tại, vì các vị thiên tử trên cõi trời 33 (Đao Lợi thiên) hằng giúp sức thường hộ trì cho; với trong quốc giới, nào sơn hà, nào đại địa, cùng tận đến mé biển đều thuộc về quyền sở hữu của quốc vương, nên chi một người mà phúc đức thắng hơn phước tất cả chúng nhân. Là bực đại Thánh vương lấy chánh pháp trị hóa, nên hay khiến chúng dân thảy đều an lạc!

Thí như tất cả nhà đền của thế gian, cây cột làm căn bản; nhân dân được giàu vui là nhân nhà vua làm căn bản vì y chỉ nơi vua mà có.

Cũng như vị Phạm vương năng giúp cho sanh hóa vạn vật, vị thánh vương năng giúp sanh ra pháp trị quốc, vì làm lợi cho chúng dân.

Như vị Nhật thiên tử năng chiếu lâm xuống thế gian, vị thánh vương cũng năng quan sát cả thiên hạ, vì tìm cách làm cho nhân dân được an vui.

Quốc vương mà mất chính trị thì, nhân dân không chỗ y chỉ; nếu lấy chính pháp trị hóa thì tám điều đại khủng bố không vào trong cõi nước, là: 1- Không cái nạn ngoại xâm. 2- Không nạn nội loạn. 3- Không ác quỷ làm tật bệnh. 4- Trong cõi nước không cái tai đói khát. 5- Không cái tai mưa gió phi thời. 6- Không tai phong vũ quá thời. 7- Không có nhựt nguyệt ăn xâm. 8- Không tinh tú biến quái.

Vị Nhân vương lấy chánh pháp trị hóa, lợi ích cho nhân dân, nên tám điều thiên tai nhân họa như thế không xâm hại.

Thí như nhà trưởng giả chỉ có một đứa con, yêu cưng không chi sánh bằng, thương tưởng làm giúp ích, thường cho an vui ngày đêm chẳng rời; vị đại thánh vương trong nước cũng lại như thế, bình đẳng coi quần sanh đồng như con một, với lòng ủng hộ ngày đêm không rời.

Vị nhân vương như thế khiến nhân dân đồng tu thập thiện, gọi là phúc đức vương; nếu chẳng khiến dân đồng tu gọi là phi phúc chủ.

Sở dĩ là sao? Nếu trong nước vua, mỗi người tu thiện, chỗ ra làm phúc đều là bảy phần: người tạo thiện hưởng được năm phần, vị quốc vương kia thường đặng hai phần; vì với thập thiện, nhân vua khiến tu nên đồng được phúc lợi; còn tạo thập ác nghiệp cũng lại như thế,vì vua dân đồng sự nhau.

Cả trong cõi nước những vật sở hữu như ruộng đất, vườn rừng… đều phân làm bảy phần cũng lại như thế.

Nếu có nhân vương thành tựu kiến thức chân chánh, đúng chánh pháp trị đời hóa dân thì, gọi là thiên chủ, vì lấy pháp lành của trời hành hóa thế gian.

Được các vị thiên vương, các vị thiện thần và bốn vị Hộ thế thiên vương thường giáng gia hộ nơi cung vua; nhà vua dù ở nhân gian mà thường tu thiện nghiệp của trời, vì cái tâm thưởng phạt không chênh lệch, vì pháp của hết thảy thánh hiền đều như thế cả.

Vị thánh chủ như thế gọi là Chánh pháp vương, do nhân duyên ấy mà thành tựu được 10 đức: 1- Rằng năng chiếu, vì dùng mắt trí huệ soi xét thế gian. 2- Rằng trang nghiêm, vì lấy phước trí lớn làm trang nghiêm quốc gia. 3- Rằng dữ lạc, vì lấy điều đại an lạc ban cho nhân dân. 4- Phục oán, vì tất cả phe oán địch tự nhiên phục tòng. 5- Ly bố, vì hay đẩy lui tám nạn lìa sự khủng bố. 6- Trú hiền, vì năng chiêu tập các đấng hiền tài để bình quốc chính. 7- Pháp bổn, vì nhân dân được an trụ là y chỉ quốc vương. 8- Trì thế, vì lấy chánh pháp của thiên vương để duy trì thế vận. 9- Nghiệp chủ, vì các nghiệp thiện ác đều hệ thuộc quốc vương. 10- Nhân chủ, vì tất cả nhân dân mà nhà vua làm chủ, cả các vị quốc vương, đều do sự tu phúc từ đời trước, nên nay mới được thành tựu 10 món thắng đức như thế.
 Trời Đại phạm thiên vương và trời Đao Lợi, thường âm phúc mặc tưởng cho nhân vương hưởng phúc vui thắng diệu; các vị La-sát vương và tất cả chư thần, dù chẳng hiện thân, cũng đến bằng cách ẩn hình để vệ hộ vua cùng quyến thuộc.

Nhà vua thấy nhân dân gây các điều bất thiện mà không ngăn dứt, các thiên vương thiện thần thảy đều xa lìa, trái lại, nếu thấy vua, dân tu thiện, chư thiên thiện thần hoan hỷ tán thán đều xướng rằng: “Vị thánh vương của chúng ta”. Long vương thiện thần rưới mưa cam lộ, năm thóc được mùa, nhân dân giàu vui.
 Nếu chẳng thân cận các bọn người ác, làm lợi khắp thế gian, đều theo chánh hóa, ngọc báu như ý, ắt hiện trong nước vua, các vua nước láng giềng, đều đến quy phục, nhân cùng phi nhân đâu chẳng khen tặng.

Nếu có người ác ở trong nước vua mà sanh ác nghịch, thì chẳng bao lâu nó tự tiêu diệt, mạng chung phải đọa vào trong địa ngục, trải qua súc sanh chịu đủ các khổ, sở dĩ là sao? Bởi nó chẳng biết ơn của thánh vương, sanh điều ác nghịch, nên phải mắc báo như thế.

Nếu có nhân dân, lòng năng hành thiện, kính giúp vị nhân vương, tôn trọng như Phật, người ấy hiện đời được yên lành giàu vui, có cầu nguyện chi đâu chẳng xứng ý.

Sở dĩ là vì sao? Tất cả quốc vương với đời quá khứ, từng đã thụ trì cấm giới thanh tịnh của Như Lai, nên thường được làm vua nhân gian an ổn khoái lạc.

Nhân duyên như thế, thuận nghịch quả báo đều như vang dội. Ân đức của thánh vương rộng lớn như thế!

Quốc vương, là ông chủ lãnh đạo của quốc dân, là người hay bảo hộ đất đai cõi nước, hay gầy dựng một quốc gia hoàn mỹ, khiến nhân dân được an cư lạc nghiệp. Nhân đó, người có thể được nhân dân tín ngưỡng, được nhân dân ủng hộ, ấy mới là vị minh chủ, thánh quân, phi như các ông Kiệt, Trụ khá sánh đặng.

Tại nơi Dân quốc, tuy chẳng có vị quốc vương, vì chủ quyền ở nơi toàn thể quốc dân mà, quyền thống trị thì lại đặt gởi nơi chánh phủ thì, có thể nói là ơn của quốc dân, và ơn của quốc chánh. Ví bằng các nhân viên chấp chánh của chánh phủ, xử lý chánh trị mọi việc đều được chánh đáng thì, trong nước được an ninh mà, điều ngoại hoạn tự nhiên cũng chẳng có; nên hạnh phúc của mỗi người đều gá nhờ nơi nước thì, cần phải biết ơn mà báo ơn.

 Đấng nguyên thủ lãnh đạo quốc dân xây dựng quốc gia dân chủ cộng hòa, như ông Hoa Thạnh Đốn(17) nước Mỹ, được toàn thể quốc dân xưng ông là Quốc phụ; ông Tôn Trung Sơn cũng được xưng là Quốc phụ của Trung Hoa Dân Quốc. Nhân vì, ông hay kiến quốc an dân, bảo hộ non sông đất nước. Ở trên chánh trị ông hay tổ chức chánh phủ, thi hành chánh trị pháp luật, với quyền lợi của tất cả nhân dân, ông đều có bảo chứng. Sở dĩ đối với ông, quốc dân có cái kỷ niệm rất thạnh đại, thảy đều mang ơn mà lo báo đáp.

Ví bằng mỗi người đều biết phải trả ơn nước, tức là biểu hiện cái tâm của quốc dân ái quốc.

Nước quân chủ xưa, vị quốc vương có đại phước đức là ở trong cõi nước những núi sông đất liền đều thuộc quyền sở hữu của quốc vương mà, lại tất cả nhân dân đều lấy quốc vương làm căn bản, y chỉ nơi ngọn rau tấc đất của quốc vương mà sanh sống. Sở dĩ phước đức của cá nhân quốc vương thắng phần hơn hết thảy quốc dân, như Phạm vương hay giúp sanh vạn vật.

Phạm vương là vị chủ tể giữa tiểu thiên thế giới(18), Ngài có cái mạng sống lâu sáu mươi kiếp(19). Chúng sanh ở trong một cõi tiểu thiên thế giới, đều nhận vị Phạm vương(20) là sanh khởi trước nhất thế giới, thứ mới dần dần sanh khởi vạn vật; nhẫn đến cái thời tiểu thế giới diệt vong (kiếp hoại) thì vạn vật tiêu diệt trước, rốt sau mới là Phạm vương diệt vong(21). Tóm lại, Phạm vương ở giữa một quả tiểu thiên thế giới, sanh trước nhất mà diệt sau nhất.

Vị quốc vương ở giữa một quốc dân cùng quan hệ nhau cũng thế, quốc vương có thể có cái chánh trị công chính thì ở trong nước bất luận sự khủng bố chi đều chẳng có cả, các nước khác chẳng thể đến xâm hại, mà trong nước cũng không có những bọn loạn thần tặc tử, cũng chẳng có những năm cơ cẩn, nhẫn đến đều không có tám món tai nạn tinh tú biến quái…

Sở dĩ đấng làm quốc vương vẫn phải lấy sự khổ lạc của nhân dân làm khổ lạc mà, đồng thời những kẻ quốc dân sở hữu lợi ích gì, cũng phải đem hai phần bảy hiến về quốc hữu, còn năm phần tự hưởng.

Ví bằng đấng làm quốc vương không có đức phước, quốc gia có xảy ra sự tình bất hạnh thì, cái tội lỗi cũng tại nơi vua, là chỗ gọi rằng “vạn bang hữu tội, tội tại nhứt nhân”.

Nếu vị quốc vương có phước đức thì, các nước láng giềng hòa thuận, trong nước nếu có kẻ loạn nghịch đi nữa nó đã chẳng làm hại gì được mà, lại mạng chung đọa địa ngục.

Ngày nay các nước thế giới, có lẽ bởi cái duyên cớ thiếu người phước đức chấp chính mà, nhân dân cũng “ác hóa” nữa, làm những sự tình ác liệt tổn nhân ích kỷ, hầu như diễn thành cái hiện tượng phổ biến! Sở dĩ, nước chẳng ra nước, dân chẳng ra dân, vì tranh đấu lẫn nhau, thảm sát lẫn nhau, làm cho sôi nổi thành một cuộc diện như mưa gió mịt trời, chông gai chật đất, chớ có biết đâu rằng trên tinh thần và vật chất đã hy sanh rồi biết bao là giá trị thay vì!

Thoảng như ái quốc một cách chân chánh, ắt phải cốt lấy đạo đức làm tiền đề. Đem đạo đức ứng dụng nơi quốc tế, theo tôi tưởng chắc nước này hòa hội với nước nọ lẫn nhau, ái hộ tôn trọng tất không có cái hiện tượng tàn sát lẫn nhau một cách thảm khốc. Cái nạn quốc tế chiến tranh có cũng sẽ tiêu diệt ngay trong đáy lòng vô hình, ấy tức là cái quan điểm trị quốc ở tại đó.

Đã biết trị quốc lấy đạo đức làm tiền đề mà, với đạo đức thì nên lấy pháp nghĩa của Phật thuyết làm tối cao phiên chuẩn. Sở dĩ chúng ta phải tiến tới để tín ngưỡng hiểu rõ thì, phải cung kính cúng dường nghiên cứu pháp nghĩa của Phật.

Cả ba ân trên, đều là đến ngay nơi pháp của thế gian mà nói, là sở dĩ để cho mọi người ai cũng đều nên phải biết ân báo ân. Nói đến việc báo ân thì, phải lấy đại bi làm căn bản, mà phi phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát hạnh thì không thể được, sở dĩ kế đây nói cái ân đức bất khả tư nghì của Tam bảo.

 

TAM BẢO ÂN
 PHIÊU THÍCH TAM BẢO
 TỔNG PHIÊU

Thiện nam tử! Ân của Tam bảo là bất khả tư nghị, bởi lợi lạc cho chúng sanh không có thôi nghỉ.

Là vì thân của chư Phật vẫn chân thiện vô lậu. Do tu nhân trải qua vô số đại kiếp mà chứng được thân ấy, nghiệp quả tam giới đã hết không còn, công đức như bửu sơn vọi vọi không sánh, tất cả chúng hữu tình đều chẳng thể xét biết nổi.

Phước đức rất sâu như biển cả, trí huệ vô ngại đồng hư không, phép thần thông biến hóa đầy dẫy thế gian, hào quang chiếu khắp mười phương ba đời.

Tất cả chúng sanh bị phiền não nghiệp chướng đều không hay biết, trầm luân biển khổ, sanh tử vô cùng! Tam bảo ra đời làm đại thuyền sư, năng lấp dòng ái, siêu lên ngàn giác. Các người có trí thảy đều chiêm ngưỡng.

Công đức của Tam bảo trong các kinh luận đều có nói rõ một cách tường tế, nhưng mà bất đồng nhau, vì đều có chỗ ẩn chỗ hiển và thiển thâm. Trong bổn kinh giảng về ân công đức của Tam bảo là, đến ngay ngôi Tam Bảo, sở hữu ân đức đối với tất cả chúng hữu tình mà nói rõ ra, sở dĩ từ nay về sau các người nếu muốn rõ biết cái thâm ân của ngôi Tam bảo đối với chúng sanh kịp đến phát tâm cung kính cúng dường…, đều có thể y kinh mà giải thích.

Bất tư nghị tức là đối với ba ơn, phụ mẫu, chúng sanh và quốc vương trước kia mà nói. Nhân vì ba ơn trước, dù ơn cũng thâm trọng nhưng, chỉ là pháp hữu lậu thuộc về của thế gian là đều có thể tư nghị, phân biệt và xét đo được cả.

Mà ơn của Tam bảo đây, siêu lên trên chỗ kể lường của tất cả phàm phu, phi lời lẽ nói năng, phân biệt mà có thể hiểu rõ đặng, sở dĩ ân của Tam bảo là bất tư, bất khả nghị, và chẳng thể nói được, vì là phương pháp xuất thế gian. Mà lại phổ biến tại thế gian, làm lợi lạc cho chúng hữu tình không có thôi nghỉ, nên gọi ơn của Tam bảo là bất khả tư nghị!

Song điều nghĩ bàn được và chẳng thể nghĩ bàn được đây cũng tức là đối đãi và phi đối đãi, có phân biệt cùng không phân biệt, có cái tướng nói năng cùng không cái tướng ngôn thuyết.

Nhân vì đối đãi là pháp của thế gian, còn cái phi đối đãi đó tức là pháp xuất thế gian; đổi nói lại, còn đối đãi tức là tư nghị, phi đối đãi tức là bất tư nghị. Sở dĩ nghĩ bàn được và chẳng thể nghĩ bàn được đây, gồm thâu hết tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian.

Thân của chư Phật là chân thiện vô lậu ấy. Pháp thân của chư Phật là do tu nhân từ ba vô số kiếp mà hiển hiện, với những cái quả của tất cả hữu lậu, nghiệp hoặc, phiền não, cửu kiết, thập triền đều đã đoạn trừ hết một cách triệt để vĩnh viễn; sở dĩ Duy Thức tụng rằng:

“Thử tức vô lậu giới, bất tư nghị thiện thường”: Đây tức là các pháp giới vô lậu; nó vẫn thiện vẫn thường, nên chẳng thể nghĩ bàn. Để rõ ra rằng, nhân đã tròn quả đã đầy, đắc cái pháp lạc Bồ-đề.

Nhân địa sở tu hành của chư Phật, chính là tu mỗi pháp môn như là tất cả pháp lục độ, pháp tứ vô lượng, ở trong ba đại vô số kiếp đối với những việc khó làm mà năng làm, những việc khó nhẫn mà năng nhẫn, cho đến nào đầu mắt nào tay chân đâu chẳng bố thí nốt, tu hết tất cả môn ba-la-mật, đoạn hết tất cả nghiệp quả tam hữu (ba giới). Sở dĩ Như Lai chứng đến cái quả địa thì, công đức bửu sơn nguy nguy vô lượng, tức phi cái trí của cả thảy chúng hữu tình phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát đều có thể biết được đâu.

Chính chỗ gọi rằng đức Như Lai là phúc đức trí huệ đều thậm thâm vô ngại, dường như bể cả, đồng với hư không, mà thần thông biến hóa quang minh khắp soi, đầy dẫy thế gian, phổ biến mười phương giới, cùng tột cả ba đời, không có cùng tận.

Nhưng, đối với công đức của Tam bảo đây, tất cả chúng sanh đều chẳng hay biết gì, là vì chúng sanh từ vô thỉ lại nay cứ bị cái vô minh phiền não nó làm cho mê mờ đi, thành thử với công đức Tam bảo của tự tánh cũng không tự giác ngộ hay biết, sở dĩ bị trầm luân khổ ải vẫn không hẹn ra.

Đức Thế Tôn ngài đủ bốn trí sáng suốt khắp soi, vì tâm nguyện đại bi cảm thông khuynh động, thương tưởng chúng hữu tình, nhân đó, với trong Tam giới khổ ải đây, Phật ngài làm vị đại thuyền sư (ông lái đò), tùy theo căn cơ mà Phật ngài thị hiện ra ba loại hóa thân(22), để tắt cái máy hoạt động nơi sanh tử khổ ải của chúng sanh.
Nhân đó, tất cả chúng sanh vì cái sức bi trí đại nguyện của Phật, tức đều tùy căn cơ thích hợp mà thấy được hoặc đại hóa thân hay tiểu hóa thân của Như Lai.
Thế nên biết với công đức của ngôi Tam bảo chẳng khá tư duy nghị luận, không thể nói rao! Tất cả chúng sanh bị nghiệp chướng che tối, chẳng thấy nên chẳng biết báo đáp; còn ở về các đấng có trí giác, ai chẳng chiêm ngưỡng cung kính!

BIỆT THÍCH
PHẬT BẢO

Thiện nam tử! Ngôi duy nhứt Phật bảo, đủ ba thứ thân: 1- Tự tánh thân. 2- Thụ dụng thân. 3- Biến hóa thân.

Phật thân thứ nhứt, có đại đoạn đức, do pháp nhị không hiển hiện, tất cả chư Phật thảy đều bình đẳng như nhau.

Phật thân thứ nhì, có đại trí đức, chân thường vô lậu, tất cả chư Phật thảy đều đồng ý.

Phật thân thứ ba, có đại ân đức, do thiền định thần thông biến hiện, tất cả chư Phật thảy đều đồng sự.

Xuống dưới là chính giải thích về Tam Bảo, phân làm ba đoạn.

Ngôi Duy nhứt Phật bảo trọn đủ ba thân đó, với Phật mà khai và hiệp thì, trong các kinh luận đều có chỗ bất đồng. Vì hoặc nói Duy nhứt làm một, tức là pháp giới thân; hoặc phân làm hai, tức là tự tánh thân và tự thụ dụng thân làm chân thân, còn thì là ứng thân; nhẫn đến trong kinh Hoa Nghiêm thì nói làm mười thân(23).

Nay trong kinh đây lấy về nghĩa trung dung phân làm ba thân: tức là tự tánh thân, thụ dụng thân và biến hóa thân, thực ra thì rằng nhứt thân, hay là thập thân nhẫn đến vô lượng thân, cũng tức y nơi tam thân đây mà mở ra hay hiệp lại mà thôi.

Sở dĩ kinh đây nói làm tam thân, rất là chính xác mà thích đáng.

Từ Phật thân thứ nhứt nhẫn xuống, tức là dùng ba đức để hiển ba thân. Đệ nhứt tự tánh Phật thân: tức là do nơi đoạn đức mà hiển ra. Tự tánh ấy tức là tự tánh của các pháp. Cái thể thực tướng của các pháp đây, lìa hẳn ngôn ngữ, phân biệt kế đạt, tất cả tầm tứ(24) danh tướng là những chỗ chẳng thể hiểu đến nổi nên cái thân tự tánh đây ở bực Thánh bất tăng, ở bực phàm bất giảm vì nó không có cái tướng sanh diệt, nhiễm tịnh và khứ lai. Nhưng phi tu trải qua ba vô số kiếp đã nhân viên quả mãn thì, không thể chứng được cái thân ấy, sở dĩ với tự tánh ấy, thánh phàm tuy đồng mà ở nơi Phật mới gọi là thân tự tánh. Còn ở về phàm chẳng đặng gọi là tự tánh đó, vì phàm phu bị hai chướng ngăn che, mười kiết mười sử ràng buộc, nên với thực tướng của chư pháp chúng sanh chẳng thể thân chứng, chẳng thể như thực rõ biết, chẳng thể được tự tại, nên chẳng gọi là tự tánh thân.

Nhân đó, cái thân tự tánh tức là dứt hai chướng, diệt mười triền(25) vẫn hết tất cả pháp hữu lậu chủng mà thành đại đoạn đức.

Nhị không tức là cái năng hiển trí sanh không và pháp không(26); sở hiển tức là y nơi năng hiển trí mà hiển ra cái chân lý như như. Đổi nói lại: tức quán xét cái lý như như đây, ắt sanh khởi cái trí nhị không; y nơi cái trí nhị không ấy, tức khiến trừ được hai cái chấp, trừ rồi hai chướng mà hiển hiện ra được cái pháp tánh ly ngôn thuyết tướng. Sở dĩ, trí nhị không là năng hiểu; mà cái chân lý tự tánh của các pháp là hiển, nhưng ắt phải trí và như chẳng hai, năng với sở đều vắng, mới chứng được cái tự tánh thân căn bản vô phân biệt. Cái thân tự tánh ấy, thể nó phổ biến pháp giới, bình đẳng giữa chúng sanh và chư Phật, sở dĩ tất cả chư Phật cũng đều bình đẳng, chung chứng đấy làm thanh tịnh pháp giới thân.

Từ Phật thân thứ hai sắp xuống, tức là thụ dụng thân. Thụ dụng thân ấy là do trí và đức mà thành ra, chỗ gọi là tứ trí Bồ-đề.

Thường: tức là chẳng chịu sự huân tập để biến hiện ra, vì Phật quả sở thành là do pháp lành vô lậu tương tục vô gián, nên gọi là thường.

Nghĩa huân biến (huân tập biến hiện) ấy, tức là Bồ-tát khi tới hậu nhập Kim Cang định, vẫn còn có cái vi tế vô minh khá đoạn, cái thân dị thục sanh diệt khá không, cái trí đại viên vô cấu khá phát, nên có huân biến; chứ chí như sau Phật quả, tức tất cả đều viên mãn nên gọi chân thường vô lậu.

Song, chân thường vô lậu ấy, nó thường thường sanh khởi ra các ứng hóa diệu dụng, để độ thoát chúng sanh, nên cái thụ dụng thân thường vô lậu đây, cũng tức là hữu vi vô lậu. Còn cái tự tánh thân của pháp tánh chư pháp thì, là vô vi vô lậu.

Tất cả chư Phật thảy đều đồng ý ấy. Đây là nói rõ cái dụng của tự thụ dụng thân chư Phật. Vì mỗi mỗi hằng thẩm tư lương vô ngã tánh, mỗi mỗi khắp đầy pháp giới, mỗi mỗi đều chẳng chướng ngại vì là bình đẳng không hai.

Nghĩa ấy, tỷ như trong một tịnh thất, có ngàn ngọn đèn, mỗi ánh sáng khắp đầy, mỗi ánh sáng chiếu lẫn nhau, mà mỗi ánh sáng của ngàn ngọn đèn ấy đều chẳng chướng ngại với nhau, cũng chẳng tạp loạn, có chỗ gọi bất đồng bất dị, bất tức bất ly. Mà cũng vẫn đồng vẫn dị, vẫn tức vẫn ly ấy bèn là chỗ nhân địa của chư Phật, nào sở tu sở hành nào sở phát thệ nguyện, mỗi mỗi bất đồng nhau, nên đến quả vị tự thụ dụng thân, có sự bất khả tư nghị đó.

Thân Phật thứ ba sắp xuống, tức là ân đức của biến hóa thân, vì sở hữu những sự tùy cơ thiết hóa, làm lợi ích cho chúng hữu tình.

Định thông biến hiện ấy. Đây là cái dụng của hóa thân, hoàn toàn lợi ích cho chúng, thực chỗ bảo rằng dữ lạc bạt khổ.

Cái hóa thân đây khi nó phát khởi, là từ nơi hai cái trí: Diệu quán sát và Thành sở tác, tức là: 1. Đại hóa ngàn Thích-ca thân. 2. Tiểu hóa thì trượng lục kim thân, tám tướng thành Phật, nhẫn đến 3. Tùy loại hóa thân, tức là “tam loại hóa thân” đấy.

Song, cái thân biến hóa đây, từ chỗ thực mà nói thì, cũng tức là tự thụ dụng thân sở hiển hiện ra.

Nên chi cái thể tánh của tam thân là bất tức bất ly, vô khứ vô lai, không có cái tướng chi cả; chỗ bảo: Phật Phật đạo đồng, một tức tất cả, tất cả tức một, phổ biến viên mãn cả pháp giới.

Thiện nam tử! Cái tự tánh thân là vô thỉ vô chung, lìa tất cả tướng, dứt các hí luận, giáp tròn không bờ mé, vẫn ngưng nhiên thường trú.

Về thụ dụng thân, có hai: 1- Tự thụ dụng. 2- Tha thụ dụng.

1- Tự thụ dụng thân: Do trải qua ba vô số kiếp tu cả muôn hạnh, làm lợi ích an lạc cho chúng sanh rồi, đã mãn thập địa tâm, vận thân tiến ngay lên trời Sắc cứu cánh ra khỏi ba giới cõi nước tịnh diệu, ngồi trên hoa sen báu lượng lớn vô số, cả lượng lớn Bồ-tát số bất khả thuyết vi nhiễu trước sau, lấy lụa vô cấu buộc trên đảnh để cúng dường cung kính tán thán như thế gọi là hậu báo lợi ích.

Bấy giờ Bồ-tát nhập Kim Cang định, đoạn trừ tất cả sở tri chướng phiền não chướng là thứ cực kỳ vi tế mà chứng đắc a-nậu-đa-la, tam miệu tam bồ-đề. Cái diệu quả như thế, gọi là hiện lợi ích.

Là cái chân báo thân hữu thỉ vô chung, về cái kiếp số tự muốn sống lâu không có hạn lượng, tư sơ thành chánh giác, đến tột đời vị lai, các căn tướng hảo khắp giáp pháp giới.

Bốn trí tròn đủ, là chân báo thân thụ dụng pháp lạc.

* Đại viên cảnh trí: Chuyển đổi cái dị thục thức mà đắc cái trí huệ đây, như mặt gương tròn lớn hiện các sắc tượng cũng như thế, trong cái gương trí của Như Lai năng ứng hiện các nghiệp thiện ác của chúng sanh, do nhân duyên ấy, nên trí đây gọi là Đại viên cảnh trí.

Vì y nơi đại bi tâm nên hằng duyên qua chúng sanh, vì y nơi đại trí nên pháp tánh vẫn thường như, vừa quán chân đế đồng thời vừa quán tục đế không có gián đoạn, thường năng chấp trì căn thân vô lậu, để làm chỗ cho tất cả công đức y chỉ.

* Bình đẳng tánh trí, chuyển đổi cái ngã kiến thức mà đặng cái trí huệ đây, là lấy năng chứng tự tha bình đẳng không hai ngã tánh, như thế gọi là bình đẳng tánh trí.

* Diệu quan sát trí, chuyển đổi cái phân biệt thức mà đắc cái trí huệ đây năng quán sát cái tự tướng, cọng tướng của các pháp, với trước chúng hội nói các pháp vi diệu, hay khiến chúng sanh đặng bực bất thối chuyển, do thế gọi là diệu quan sát trí.

* Thành sở tác trí, chuyển đổi năm món thức trước, mà thành đắc cái trí huệ đây, năng hiện ra tất cả mỗi món hóa thân, khiến các chúng sanh thành thục thiện nghiệp, do nhân duyên ấy, gọi là thành sở tác trí.
Như thế, bốn trí này làm thượng thủ, mà trọn đủ tám vạn bốn ngàn trí môn; như thế tất cả các công đức pháp gọi là tự thụ dụng thân của Như Lai.

2- Là tha dụng thân của Như Lai, trọn đủ tám vạn bốn ngàn tướng hảo, ở nơi chân tịnh độ thuyết pháp nhứt thừa, khiến các Bồ-tát thụ dụng cái vui vi diệu pháp của Đại thừa.

Tất cả Như Lai vì giáo hóa các chúng Bồ-tát bực Thập địa, nên hiện ra mười thứ tha thụ dụng thân:

Đệ nhứt Phật thân, ngồi trên đài hoa sen trăm lá (một bông nở 100 cánh) vì Bồ-tát bực Sơ địa nói bách pháp minh môn; Bồ-tát ngộ rồi, hiện khởi ra đại thần thông biến hóa, đầy dẫy trong trăm thế giới Phật, làm lợi ích an lạc cho vô số chúng sanh.

Đệ nhị Phật thân, ngồi trên đài hoa sen ngàn cánh, vì các Bồ-tát bực nhị địa nói ngàn pháp minh môn; Bồ-tát ngộ rồi, khởi ra đại thần thông biến hóa, đầy trong ngàn thế giới Phật, làm lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sanh.

Đệ tam Phật thân, ngồi trên đài hoa sen muôn cánh, vì bực tam địa Bồ-tát nói vạn pháp minh môn; Bồ-tát ngộ rồi, khởi lên đại thần thông biến hóa, đầy trong vạn Phật quốc độ, làm lợi ích an lạc cho vô số chúng sanh; cũng như thế, Như Lai với mỗi địa dần dần tăng trưởng, nhẫn đến với bực Thập địa tha thụ dụng thân, ngồi trên cái đài tọa hoa sen diệu bửu số bất khả thuyết cánh lá, vì Bồ-tát thập địa nói số bất khả thuyết các pháp minh môn, Bồ-tát ngộ rồi dấy lên đại thần thông biến hóa, đầy cả số bất khả thuyết Phật vi diệu quốc độ làm lợi ích an lạc cho số bất khả tuyên thuyết vô lượng vô biên mỗi thứ chúng sanh.

Mười thân như thế đều ngồi nơi cội cây chúa Bồ-đề bằng thất bửu, chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Các thiện nam tử! Trên mỗi mỗi cánh hoa sen thảy đều là mỗi một quả tam thiên thế giới, mỗi đều có trăm ức núi chúa Tu-di và bốn châu lớn nhật nguyệt tinh thần, tam giới chư thiên đâu chẳng trọn đủ.

Trên mỗi một cánh hoa sen các châu thiệm bộ, đều có cái tọa Kim Cang nơi cội cây chúa Bồ-đề, cả trăm ngàn vạn đến số bất khả thuyết nào đại hóa thân Phật, nào tiểu hóa thân Phật, mỗi đều nơi cội cây Bồ-đề phá tan ma quân rồi, đồng một thời đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Như thế các đức đại hóa thân Phật, tiểu hóa thân Phật, mỗi đều trọn đủ 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp, vì các chúng Bồ-tát của ngôi tư lương, của bốn thiện căn, nhị thừa, phàm phu, theo cơ nghi mà thuyết ra tam thừa diệu pháp; vì các Bồ-tát nên nói ra sáu pháp ba-la-mật, khiến cho đắc quả a-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề, đến cứu cánh Phật huệ; vì kẻ cầu quả Bích Chi Phật thì vì nói pháp Thập nhị nhân duyên; vì kẻ cầu quả Thanh văn thì, nên thuyết pháp Tứ đế, để độ cái khổ sanh, lão, bệnh, tử mà đắc cái vui cứu cánh Niết-bàn; vì các chúng sanh thì nói về nhân thiên giáo pháp, khiến cho đắc cái diệu quả an lạc của nhân thiên.

Các đức Đại hóa thân Phật, Tiểu hóa thân Phật như thế, thảy đều gọi là Phật biến hóa thân.

Thiện nam tử! Hai thứ ứng hóa thân Phật mặc dầu hiện cái tướng diệt độ, mà thân Phật ấy cũng vẫn tương tục thường trú.

Thiện nam tử! Đấy, một ngôi Phật bảo có ân đức rộng lớn như thế thảy vô lượng vô biên bất khả tư nghị làm lợi ích cho chúng sanh, do nhân duyên ấy gọi là Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Thiện nam tử! Trong một ngôi Phật bảo trọn đủ sáu món công đức vi diệu: 1- Ruộng vô thượng đại công đức. 2- Có đại ân đức vô thượng. 3- Đấng tôn quý trong các chúng sanh (loài không chân, loài hai chân, cho đến loài nhiều chân). 4- Rất khó gặp được như hoa Ưu đàm. 5- Đấng độc nhứt xuất hiện trong tam thiên đại thiên thế giới. 6- Công đức đầy tất cả nghĩa giữa thế xuất thế gian.

Nương đủ như thế cả sáu món công đức, thường hay làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh, là cái ơn bất khả tư nghị của ngôi Phật bảo.
Nhẫn xuống lặp lại nói rõ ba thân, tức là giải thích tam thân.

Tự tánh pháp thân, thể nó khắp đầy vốn không sanh diệt, nên chẳng có hình tướng thỉ chung, tánh thể lìa ngữ ngôn, duy có chứng được rồi mới tương ưng, nên tuyệt hẳn tất cả cái tánh hí luận. Giáp tròn không bờ mé mà vẫn ngưng nhiên thường trú. Đấy, chính là rõ cái pháp tánh thân phổ biến tất cả pháp mà tánh vẫn thường như.

Kế, giải thích rõ về hai cái thụ dụng thân.

Đệ nhứt tự thụ dụng thân: tức là nhân địa của chư Phật trong cái nghiệp vô lậu mà cảm được cái tổng quả của thân biệt báo. Với cái thân biệt báo tổng quả đây, chỗ chứng của chư Phật đều riêng biệt, bởi vì chỗ nhân địa tu hành có sai khác. Trong khi các Ngài thành Phật quả tròn, tức chứng cái thân của tự thụ dụng đây.

Như người đời thường nói tức thân thành Phật, hiện thần thông thị hiện tướng hảo đó, đều là thành Phật tương tợ thôi; duy có thành cái tự thụ dụng thân đây mới là chân thành Phật. Nhưng với cái chân thụ dụng thân của Phật đây tất cả thánh nhân hãy còn không hiểu rõ và, tối hậu thân Bồ-tát không thể sánh ngang được thay, huống chi là các hạng trời, người làm gì hiểu được ư!?

Cái tâm tu lên bậc Thập địa đã mãn đó tức là bậc Đẳng giác Bồ-tát. Chỉ trong các kinh luận hoặc khai ra hoặc hiệp lại chẳng đồng thôi; về chỗ khai ra, tức ngoài Thập địa riêng lập bậc Đẳng giác, còn chỗ hiệp lại thì, tức là ngôi Thập địa mãn tâm là Đẳng giác.

Vận chuyển cái thân tiến ngay lên cung trời Sắc cứu cánh là khi các Ngài sắp thành Phật chánh giác, đều lên cõi trời Sắc cứu cánh, ngồi trên đài hoa sen lớn, để chứng quả viên mãn đại giác.

Ra quá ba giới cõi nước tịnh diệu đó, tức là với trên cõi trời Sắc cứu cánh, hiện khởi ra một tịnh độ siêu quá tam giới, bèn thành thắng quả Phật.

Ngồi hoa sen báu lớn vô lượng số nhẫn xuống, tức vị tối thân Bồ-tát tu nhân đã trải qua ba vô số kiếp nay mới đắc cái lợi ích tối hậu.

Lấy lụa vô cấu buộc trên đảnh đó, tức rõ rằng trên đảnh tối cao trong hàng Bồ-tát, đoạn một phần vi tế vô minh, chuyển đổi thành đại viên cảnh trí, mà đắc Am-ma-la vô cấu thức.

Bấy giờ Bồ-tát nhẫn xuống, là giải rõ cái hiệu quả của Bồ-tát thành Phật.

Định Kim Cang là tỷ dụ nghĩa kiên lợi, tức là lấy cái định tối kiên lợi đây, để phá cái vi tế vô minh, phá vô minh rồi tức đắc đại giác diệu quả, nên gọi là hiện lợi ích.

Là chân báo thân hữu thỉ vô chung đó tức là thành Phật rồi, thì với tất cả đức mầu không sót, không thiếu, không thêm, không bớt, lần lựa tiếp tục nhau, nhẫn đến tột qua đời vị lai cũng lại như thế, nên gọi là vô chung.

Song, quả lành chân diệu đây, riêng một mình Phật có nên gọi là chân báo thân thụ dụng pháp lạc.

Tứ trí sắp xuống, là giải rõ thân đây tức chuyển đổi thức mà thành ra bốn trí.

Đại viên cảnh trí là, theo tỷ dụ làm danh, nhân vì mặt gương nó hay phổ chiếu vạn vật hiện bày các sắc tướng mà, cái tịnh thân thức thứ tám nó tương ưng với trí đây, trí đây nó hay duy trì tất cả căn thân vô lậu, làm chỗ cho tất cả các công đức y chỉ, nên gọi là cảnh. Lại như mặt gương sáng hay hiển hiện tất cả hình tướng sai biệt của vật sắc, trong gương trí thứ tám của Như Lai năng hiển hiện các nghiệp thiện ác của chúng sanh và diệu quả của tự tha các vị Bồ-tát ở mười tín, mười trú, mười hạnh và mười hồi hướng, nên gọi đệ bát là Đại viên cảnh trí.

Lại, các vị Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa quán xét tánh của các pháp, chẳng thể hiểu cùng cực, ngay như bậc Bát địa Bồ-tát cho đến Đẳng giác cũng còn có một vi tế vô minh che mờ, chỉ có chư Phật độc tự viên minh, nên lại gọi Đại viên cảnh trí.

Dị thục thức có ba nghĩa(27) nay không “dị loại nhi thục” vì tánh vô phú vô ký.

Bình đẳng tánh trí tức là chuyển đổi thức thứ bảy mà thành cái trí này. Nhân vì thức thứ bảy hữu lậu, phân biệt chấp trước thức thứ tám làm ngã, thường cùng tương ưng nhau với bốn hoặc(28), nên lại tên thức thứ bảy là ngã kiến thức. Chuyển đổi cái ngã kiến ấy, dứt cái phiền não chướng, đắc cái lý ngã không, tức chứng các pháp tự tha bình đẳng không hai ngã tánh, mà thành bình đẳng tánh trí.

Diệu quan sát trí tức là chuyển đổi cái tâm thức phân biệt thứ sáu mà thành ra cái trí đây. Phân biệt thức là cái công năng phân biệt của thức đây rất là cường thắng, vì như các thức kia chỉ đủ một phân biệt tự tánh thôi, mà thức thứ sáu đây thì, thảy đều trọn đủ (phân biệt tự tánh, phân biệt tùy niệm và phân biệt kế đạt) nên gọi phân biệt thức. Trong khi thức này chuyển thành tịnh trí, liền có thể quán sát được tất cả tự tướng, cọng tướng của các pháp và với trước chúng hội thuyết các diệu pháp làm phổ lợi cho quần cơ.

Tự tướng tức là những tự thể mỗi đều riêng biệt của năm uẩn pháp. Cọng tướng tức là năm uẩn pháp chung làm một cái khổ không vô thường vô ngã.
Thành sở tác trí tức là chuyển năm thức trước mà thành ra cái trí này. Trong khi năm thức trước chuyển thành tịnh trí, năm thức hiện ra tất cả chủng chủng đại hóa thân, tiểu hóa thân và tùy theo mỗi loại mà hóa hiện ra vô lượng hóa thân, để làm thành thuộc lợi ích cho tất cả chúng hữu tình.

Như thế, bốn trí đây đều làm thượng thủ và căn bản cho tất cả chủng chủng trí, thực ra thì có vô lượng trí.

Đệ nhị, tha thụ dụng thân nghĩa là đức Như Lai chứng tự thụ dụng thân rồi, từ nơi cái bình đẳng tánh trí đó mà, biến khởi ra cái đại hóa thân bất khả tư nghì, để vì thuyết nhứt pháp môn cho các Bồ-tát ở hàng Thập địa nghe khiến cho các Bồ-tát được thụ dụng pháp lạc, nên gọi là Tha thụ dụng thân.

Tám vạn bốn ngàn tướng hảo, là các Bồ-tát trong hàng Thập địa thấy được cái tha thụ dụng thân của Như Lai đủ cả tướng hảo phúc đức.

Từ tất cả Như Lai sắp xuống, là giải rõ đức Như Lai ngài thuyết pháp là tùy theo căn cơ mà hiển hiện thân, nhân vì Thập địa Bồ-tát đều đủ trí huệ đức tướng và đoạn phiền não hoặc sâu hay cạn chẳng đồng nhau, nên đối với các Bồ-tát ấy tức hiển hiện ra mười món thân.

Như bậc Sơ địa Bồ-tát thấy được Phật thân thứ nhứt ngồi trên đài bông sen trăm lá, được nghe trăm pháp minh môn.

Bậc Nhị địa Bồ-tát thấy được thân Phật ngồi trên đài bông sen ngàn lá, thuyết ngàn pháp minh môn.

Như thế lần lựa thêm hơn cho đến bậc Thập địa Bồ-tát thấy được thân Phật ngồi trên đài liên hoa bất khả tư nghị, thuyết bất khả tư nghị pháp môn. Đấy tức là sự sai khác của thập thân Như Lai.

Lại, Thập địa Bồ-tát đây, nhân vì nghe pháp hiểu lý hoặc thiển hoặc thâm chẳng đồng, nên sự phóng quang việc độ sanh của Phật cũng khác.

Như bậc Sơ địa Bồ-tát chứng ngộ được Bách pháp minh môn, Phật tức nơi đài liên hoa trăm cánh hiện ra trăm cánh thế giới, một trăm gồm bốn châu thiên hạ, một trăm một đức hóa Phật mà, một trăm một đức hóa Phật đều khắp đầy trăm cánh thế giới, để làm lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sanh.

Như thế, Nhị địa, Tam địa cho đến Thập địa, lần lựa dần dần thêm bội lên thì, thành ra đài hoa sen bất khả tư nghị, các đức hóa Phật bất khả tư nghị mà, mỗi đều khắp đầy các thế giới bất khả tư nghị, để làm lợi ích cho vô lượng vô số chúng sanh.

Lại, bậc Sơ địa Phật thân bằng bách Phật thế giới đó, như kinh Đại A-Di-Đà nói rõ y báo chánh báo nước Cực lạc.

Đệ nhị địa Phật thân bằng thiên Phật thế giới đó, như thân Phật Lô-xá-na trong kinh Phạm Võng.

Nhẫn đến thân Phật bất tư nghị ở bậc Thập địa, tức như cảnh giới bất tư nghị nơi lâu các Di-lặc trong kinh Hoa Nghiêm.

Như thế thập thân nhẫn xuống, tức tổng quát nói thân Phật cả Thập địa, đều ngồi nơi cây chúa Bồ-đề bằng thất bửu mà đều thành ngôi chánh giác.

Đệ tam biến hóa Phật thân: Biến hóa Phật thân cũng ba loại:

Như mỗi mỗi cánh hoa sen đều là một “tam thiên thế giới”…, tức đại thân trong tướng biến hóa, vì các Bồ-tát trước Thập địa mà Phật ngài hiện thân thuyết pháp.

Lại, như thị hiện tám tướng thành đạo, trượng sáu thước thân vàng… tức vì các thánh bậc Nhị thừa nhân loại và thiên loại mà Phật ngài hiện ra tiểu hóa thân để thuyết pháp.

Còn nữa, như ở trong Bát bộ cùng Tam ác đạo thì, lại cũng tùy theo mỗi loại mỗi hình thế nào mà Phật ngài biến hiện ra những hóa thân như thế nấy để nói pháp cứu độ.

Các đức hóa Phật đó, cũng đều ngồi nơi cội cây Bồ-đề, đắc thành chánh giác, đều độ chúng sanh.

Như thế, các đức đại hóa thân Phật, tiểu hóa thân Phật sắp xuống, tức là kể bày những phương tiện sai khác nhân theo căn cơ mà thuyết pháp. Như gặp căn cơ Thanh văn thì thuyết pháp Tứ đế; gặp trình độ Duyên giác thì thuyết pháp Duyên khởi; gặp bậc Bồ-tát thì thuyết pháp Lục độ; vì các vị Bồ-tát ở ngôi tư lương và tứ thiện căn thì thuyết pháp Đại thừa. Cái điều mà chư Phật biến hóa thân và thuyết pháp là cái phương tiện tùy loại độ sanh thôi.

Song, ở trong pháp Đại thừa đều thông suốt làm một, như thuyết pháp Nhứt thừa ở Thập địa, các vị Bồ-tát ở trước Thập địa (như tín, trú, hạnh, hướng) qua vị lai tức đồng với Bồ-tát Thập địa.

Sở dĩ, tại Trung Hoa các đức Tổ xưa phân tán ra các giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên hoặc Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên, phân biệt các giáo, các vị Bồ-tát đoạn vọng chứng chân và ngôi thứ. Giả như y nơi một Đại thừa mà thuyết thì, rất là bất khả vì có trái với ý Phật thuyết.

Số là, đến với căn cơ Tam thừa mà thuyết, nên có chỗ bất đồng nhau giữa Đại thừa Tiểu thừa; mà ở nơi Bồ-tát thì chỉ vì bất đồng về thiển và thâm mà thôi.

Như là hai món sắp xuống, là tổng quát nói rõ hai thân, đều từ nơi tự thụ dụng thân mà hiển hiện ra; tự thụ dụng thân khắp thường tương tục.

Kế giải rõ Như Lai có ân đức bất khả tư nghị, nên trọn đủ mười hiệu dĩ chí vô lượng đức.

Mười hiệu là: tức Như Lai, Ứng cúng (A-la-hán, dịch ứng), Chánh biến tri… Trong mười hiệu ấy, nếu đem Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu phân ra làm hai hiệu, tức lấy Thế Tôn làm cái danh tổng quát cho mười hiệu; như đem Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng hiệp lại làm một hiệu thì Thế Tôn cũng là một giữa mười hiệu.

ẤN ĐÁP

Bấy giờ, năm trăm trưởng giả bạch Phật rằng: “Đức Thế Tôn! Như lời Phật nói trong một ngôi Phật bảo có vô lượng đức hóa Phật đầy dẫy trong thế giới làm lợi lạc cho chúng sanh; thế, do nhân duyên chi mà thế gian, chúng sanh nhiều kẻ chẳng thấy Phật? Lại vẫn chịu các điều khổ não?”

Phật bảo năm trăm trưởng giả:“Thí như Nhật quang thiên tử phóng ra trăm ngàn ánh sáng chiếu cả thế giới mà những người bị tối mắt chẳng thấy ánh sáng, thế các thiện nam tử nghĩ sao? Vị Nhật Quang thiên tử có lỗi chăng?”

Các trưởng giả thưa rằng:“Chẳng có lỗi, thưa Thế Tôn!”

Phật dạy:“Thiện nam tử! Chư Phật Như Lai thường diễn chánh pháp lợi lạc hữu tình, nhưng có những chúng sanh thường tạo ác nghiệp đều chẳng hay biết, tâm không biết hổ thẹn với Phật pháp tăng, chẳng ưa thân cận. Đấy, những chúng sanh tội căn thâm trọng như thế, trải qua vô lượng kiếp chẳng đặng thấy nghe được danh tự của Tam bảo; như kẻ tối mắt kia chẳng thấy ánh sáng của mặt nhật.

Nếu có chúng sanh cung kính Như Lai ưa thích pháp Đại thừa, tôn trọng ngôi Tam bảo, phải biết người ấy nghiệp chướng đã tiêu trừ, trí huệ lại tăng trưởng, trọn nên căn lành, mau được thấy Phật, vẫn lìa sanh tử, sẽ chứng Bồ-đề.

Đấy, tức là vấn đáp để đoạn trừ điều nghi hoặc.

Năm trăm nhà trưởng giả nghe Phật nói ân đức của Phật Bảo rất lớn như thế và tha thụ dụng thân, với biến hóa thân Phật lại rất nhiều như thế nữa; nhưng thế gian chúng sanh vẫn chẳng thấy chẳng nghe, nên dấy lòng nghi mà hỏi.

Phật bảo năm trăm nhà trưởng giả: Chúng sanh chẳng Phật nghe pháp, tỷ như người đui chẳng thấy ánh sáng của nhật nguyệt, thì phi lỗi của Phật.

Sở dĩ Thế Tôn lại nói: Như Lai thường trú nơi đời để thuyết chánh pháp, nhưng các chúng sanh bị kiết sử trói buộc, thường gây nghiệp ác đều không xấu hổ mà chẳng hay biết, với Phật pháp tăng cũng chẳng khâm kính. Sở dĩ các chúng sanh ấy chẳng được thấy Phật.

Nếu có chúng sanh nhẫn xuống, là nói rõ chúng sanh nếu tin kính Tam bảo, cúng dường cung kính ưa nghe pháp Đại thừa thì, hiện đời liền đặng tiêu trừ tội chướng, tăng trưởng huệ phước; qua đời vị lai sẽ chứng quả Bồ-đề.

PHÁP BẢO

Các thiện nam tử! Như trong một ngôi Phật bảo, có vô lượng đức Phật thì, Như Lai nói ngôi Pháp bảo cũng thế, trong một ngôi Pháp bảo có vô lượng nghĩa.

Thiện nam tử! Với trong Pháp bảo có cả bốn thứ: 1. Giáo pháp. 2. Lý pháp. 3. Hành pháp. 4. Qủa pháp. Tất cả pháp vô lậu hay phá được vô minh phiền não nghiệp chướng, thanh danh cú văn, gọi là giáo pháp. Các pháp hữu – vô gọi là lý pháp. Giới hành, định hành, huệ hành gọi là hành pháp. Quả mầu vô vi gọi là quả pháp. Như thế bốn món, gọi là Pháp bảo, dẫn dắt chúng sanh ra khỏi biển sanh tử, đến bờ giác ngạn.

Thiện nam tử! Thầy của chư Phật, tức là Pháp bảo, sở dĩ là sao? Tam thế chư Phật y theo pháp tu hành, dứt tất cả chướng, đắc thành Bồ-đề, tột đời vị lai, lợi ích chúng sanh.

Do nhân duyên đó, tam thế chư Phật thường hay cúng dường các ba-la-mật vi diệu Pháp bảo, phương chi ba giới tất cả chúng sanh chưa đặng giải thoát mà chẳng hay kính vi diệu Pháp bảo ư?

Thiện nam tử! Chính ta đời trước đã từng làm vị nhân vương đi tìm pháp, phải vào nơi hầm lửa lớn để cầu chánh pháp, vĩnh đoạn khổ sanh tử, đắc quả Bồ-đề.

Thế nên Pháp bảo hay phá được tất cả lao ngục sanh tử, dường như chất Kim Cang năng phá hoại được vạn vật; Pháp bảo năng chiếu phá được cái nghiệp si ám cho chúng sanh; tỷ như vị Nhật thiện tử năng chiếu phá được màu hắc ám của thế giới; Pháp bảo năng cứu tế chúng sanh bần phạp, như ngọc ma-ni hay hóa hiện rải xuống các thứ châu báu; Pháp bảo hay cho chúng sanh được hưởng điều vui mừng, dường như Thiên cổ giúp vui cho chư thiên; Pháp bảo hay làm cái thềm bực báu cho chư thiên, vì nghe hiểu chánh pháp được sanh lên thiên cung; Pháp bảo hay làm chiếc thuyền lớn bền chắc, vì đưa chúng sanh qua khỏi biển sanh tử tiến lên bờ giác bên kia; Pháp bảo dường như vị Chuyển luân thánh vương, vì năng trừ được giặc tam độc phiền não; Pháp bảo hay làm món y phục quý đẹp, vì che đậy các chúng sanh vô tàm quý; Pháp bảo là cái áo giáp Kim Cang, vì năng phá được bốn quân ma chứng quả Bồ-đề; Pháp bảo dường như gươm bén trí huệ, vì cắt đứt dây tình ái lìa nghiệp trói buộc; Pháp bảo chính là xe báu tam thừa, vì năng chuyên chở chúng sanh ra khỏi hỏa trạch; Pháp bảo dường như tất cả ngọn đèn sáng, vì năng chiếu đến chỗ tăm tối nơi Tam đồ; Pháp bảo dường như cung tên đòn giáo vì đẩy lui bọn oán địch, trấn an nơi cõi nước; Pháp bảo tỷ như ông đạo sư nơi đường hiểm, vì khéo khuyên dỗ dẫn đường chúng sanh đi đến bảo sở. Thiện nam tử! Các đức Như Lai trong ba đời sở thuyết ra pháp vi diệu, có như thế cả các sự khó nghĩ bàn.

Pháp bảo do nơi kim khẩu của Phật nói bày, từ nơi pháp giới thanh tịnh vô lậu đưa ra.

Trong một Phật bảo có vô lượng Phật, nên trong một pháp bảo cũng có vô lượng pháp, mà trong mỗi mỗi pháp cũng có vô lượng nghĩa. Sở dĩ kinh Kim Cang nói: “Kinh điển ở đâu, tức là có Phật ở đó”. Nếu người biết tôn trọng cúng dường, tức là đắc phước vô lượng.
Thanh, danh, cú , văn là bốn món giáo thể để thuyết pháp. Thanh tức là âm thanh, là cái thực thể làm chỗ cho danh, cú và văn y chỉ, danh cú văn là pháp giả phân vị của thanh; tức là Phật ngài dùng âm thanh của Ngài để tuyên thuyết ra tất cả giáo pháp mà, dùng danh cú văn làm cái môn năng hiển giáo lý.

Song, thanh danh cú văn đây, là năng nói ra pháp thể của Phật thuyết, phi thanh danh của hạng người thường sánh bằng. Nhân vì thanh danh cú văn toàn là vô lậu của Phật sở hiển ra giáo pháp, nó năng phá tan cả phiền não của chúng sanh, nó năng dẫn dắt chúng sanh vào nơi pháp giới vô lậu, nên được làm giáo pháp của Pháp bảo.

Các pháp hữu vô, rõ những nghĩa pháp bị nói trong thanh danh cú văn năng nói, y nơi giáo pháp đây sở hiển ra các lý hữu vô tức là lý pháp.

Hữu, tức pháp hữu vi, vô vi y tha khởi, viên thành pháp vô, tức là biến kế sở chấp tỷ như lông rùa sừng thỏ…

Giới định huệ, tức là ba vô lậu học, tức là cái quá trình y nơi giáo để nhớ lý, y nơi lý để khởi sự tu, y nơi tu để chứng quả, cũng tức là nhiếp tâm làm giới, do giới sanh ra định, do nơi định mà phát ra huệ, giới định huệ là ba tăng thượng hạnh.

Quả mầu vô vi, tức là do ba tăng thượng hạnh trước mà đi đến cái mục đích tối hậu tức là quả pháp.

Do bốn pháp giáo lý hành quả đây, hay độ vô lượng chúng sanh thoát ra khỏi biển sanh tử, bạt tế vô lượng hữu tình tiến đến bỉ ngạn, đấy bao quát hết cả tâm địa pháp môn của chư Phật, nên với ơn của Pháp bảo đây cũng bất khả tư nghị.

Thiện nam tử sắp xuống, nói rõ cái lý do ngôi Pháp bảo sở dĩ là quý báu và khuyên người phải tôn trọng cung kính các giáo pháp của tam thế Phật thuyết.

Cả chư Phật trong ba đời, đều y theo pháp tu hành mà đắc thành quả Bồ-đề, tức lấy pháp làm thầy, vì thường hay cung kính nơi Pháp bảo.

Thiện nam tử ta xưa từng làm sắp xuống, tức là Phật ngài đề cử lên cái nhân hành đã kinh nghiệm từ đời trước lấy thân làm quy tắc đấy.

Như Kim Cang sắp xuống là mượn tỷ dụ để rõ cái uy lực của ngôi Pháp bảo. Như chất kim cang hay làm hoại vạn vật, Pháp bảo năng phá tan ngu si.

Bửu giai là cái nấc thang của chư thiên tiến bước lên thiên cung, Pháp bảo có thể dắt đưa chúng sanh lên khỏi biển sanh tử.

Chuyển luân thánh vương có uy đức lớn, năng khiến chúng sanh được an vui; pháp bảo có cái pháp lực lớn, năng diệt những khổ của chúng sanh.

TĂNG BẢO

“Thiện nam tử! Cả thế gian và xuất thế gian, có ba hạng Tăng già: 1- Bồ-tát tăng. 2- Thanh văn tăng. 3- Phàm phu tăng.

Như Văn-thù-sư-lợi và Di-lặc… là hạng Bồ-tát tăng.

Như Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên… là hạng Thanh văn Tăng.

Như có kẻ phàm phu mà chân thiện, thành tín giới biệt giải thoát, nhẫn đến trọn đủ tất cả kiến thức chân chánh, hay rộng ra vì chúng mà diễn thuyết nói bày đạo pháp của các thánh ra, để lợi ích an lạc cho chúng sanh, thì gọi phàm phu tăng, mặc dầu chưa có thể được giới, định vô lậu và huệ giải thoát, mà người cúng dường cho hạng phàm phu tăng cũng đặng phước vô lượng.

Như thế ba hạng kể trên đều gọi là chân phước điền Tăng.

Ngoài ra, còn có một hạng nữa cũng gọi là phước điền tăng: Đối với xá-lợi của Phật và hình tượng của Phật, cùng là các pháp, các Tăng giới của Phật chế ra, chúng ta rất sanh lòng kính tin, chính mình không tà kiến, khiến kẻ khác cũng thế; lại hay tuyên dương chánh pháp, tán thán Đại thừa, tin sâu lý nhân quả, thường phát thiện nguyện, tùy chỗ phạm lỗi sám trừ nghiệp chướng; phải biết người ấy, do cái sức tin ngôi Tam bảo, mà phước hơn các phái ngoại đạo gấp trăm ngàn muôn bội, cũng hơn phước của bốn hạng Chuyển luân thánh vương, huống chi những phước mọn của tất cả chúng sanh trong các loại khác?

Tỷ như hoa Uất kim mặc dầu đã héo, nhưng còn hơn tất cả các thứ hoa tạp loại khác; thầy Tỳ-kheo chánh kiến cũng lại như thế, phước thắng hơn phước của tất cả chúng sanh gấp trăm ngàn muôn bội, dù có hủy phạm cấm giới chứ chẳng phá hoại chánh kiến, do nhân duyên đó, nên cũng gọi là phước điền Tăng.

Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, có cúng dường phước điền tăng như thế thì, sở đắc phước đức không có cùng tận, vì đặng công đức cũng đồng bực như cúng dường ba hạng chúng thực Tăng bảo trước kia.

Bốn hạng thánh phàm Tăng bảo như trên, thường không tạm rời làm lợi lạc cho chúng hữu tình, thế gọi là ơn bất khả tư nghị của ngôi Tăng bảo.

Thế gian tăng tức phàm phu tăng, xuất thế gian tăng tức Thánh tăng vậy.

Chữ Thế là nghĩa đổi dời biến hoại; Gian tức là trung gian; nghĩa là với trong cái thời gian chưa đắc Thánh đạo thì, tất cả chúng sanh đều đọa trong cái vòng sanh diệt biến hoại đây, nên gọi là thế gian. Chúng hữu tình đã như thế mà, cái chỗ sở y là căn thân, khí giới cũng thế.

Xuất thế gian, tức tương phản với thế gian, nhân một loại chúng sanh được nghe giáo pháp của Phật-đà, rõ biết thế gian là ảo hóa vô thường mà lo tu, hoặc tu tập pháp Tứ đế, hoặc sáu pháp ba-la-mật, mỗi mỗi pháp môn, được ra khỏi cái phạm vi sanh diệt biến hoại. Hoặc có nhân nơi bổn nhân đã thành thục cơ duyên, không nương nơi giáo pháp của Phật mà, chính tự thân cũng có thể biết mà tu pháp thập nhị nhân duyên khởi, để siêu xuất ra ngoài thế gian mà chẳng bị hạn cuộc trong vòng sanh tử huyễn hóa của Tam giới. Về sự thụ thân căn và quốc thổ cũng tùy theo, chẳng đọa vào cái khổ sanh diệt biến hoại mà đắc gọi là xuất thế gian.

Ba hạng Tăng: 1- Bồ-tát tăng. 2- Thanh văn tăng. 3- Phàm phu tăng.

Tăng nghĩa là chúng, tức là chúng hòa hợp. Hòa hợp có sáu nghĩa: tức với giới cấm hòa hợp đồng tu, với sở kiến hòa đồng giải thích cho hiểu, với lợi lộc hòa hợp đồng chia chung sống nhau, với thân thể đồng hòa hợp chung ở, với khẩu nghiệp đồng hòa hợp không tranh tụng, với ý chí đồng hòa hợp chung vui. Nói đổi lại, gọi là tăng, nghĩa đồng nhau với đoàn thể của thế tục; cốt phải từ bốn Tỳ-kheo nhẫn lên nhiều người mới gọi là tăng, chẳng thế thì chỉ gọi là Bật-sô hoặc Sa-di mà thôi.

Trong đây, Bồ-tát tăng và Thanh văn tăng, đều là chỉ về các đấng đã chứng Thánh đạo, như là tam hiền, thập thánh và tứ quả Thanh văn với Duyên giác là bực tăng-già đã xuất thế gian. Còn những đấng chưa chứng đặng Thánh đạo thì là phàm phu tăng đương ở tại thế gian, do vì chưa ra khỏi tam giới sanh tử.

Phàm phu tăng đây có nội phàm và ngoại phàm phân biệt nhau, chẳng đồng với hạng phàm phu bình thường, nhân với ngôi Tin tâm, ngôi Tư lương và ngôi Gia hạnh(29) cũng có công tu tập tương đương, sở dĩ chẳng đồng nhau với hạng phàm phu bình thường.

Bồ-tát có hai hạng: tại gia và xuất gia. Trong kinh đây chỉ về Bồ-tát tăng là, đức Văn-thù-sư-lợi, đức Di-lặc Bồ-tát làm thượng thủ; hai đức Bồ-tát đây là y nơi luật nghi xuất gia Bồ-tát tăng, chẳng đồng với tại gia Bồ-tát hình tướng không nhứt định, không thể biểu hiện tăng tướng, nên đức Phật đà mỗi khi thuyết pháp thường dùng hai vị ấy làm bực Bồ-tát thượng thủ. Kinh đây cũng như thế.

Hai vị Đại sĩ đây là giữa hàng xuất gia Bồ-tát tăng đã làm đầu, lại là thường theo sát bên Phật; và là Bồ-tát ở nơi cõi này. Còn như các đức Quan Âm, đức Thế Chí… là Bồ-tát ở nơi cõi Phật phương khác, có đến dự pháp hội nơi cõi này cùng chăng, không thể quyết định.

Đức Văn-thù-sư-lợi cùng đức Di-lặc Bồ-tát đây là vị đản sanh tại nước Ấn Độ, với chỗ các Ngài ứng sanh đều có sử ký tung tích khá xét.

Đây, kinh Văn-Thù-Sư-Lợi Bát Niết-Bàn chép rằng: “Phật bảo Bạt-đà-ba-la Bồ-tát: Ngài Văn-thù-sư-lợi có tâm đại từ, đản sanh trong nhà Phạm Đức dòng Bà-la-môn làng Đa-la nước Xá-vệ, đến nơi ta cầu xuất gia học đạo, tâm trú vào Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, dùng pháp lực của tam muội ấy mà xuất thần hiện ra khắp cả mười phương, sau Phật diệt độ trải qua 450 năm, tại chỗ bổn sanh ông sẽ nhập diệt”.

Lại, kinh Di Lặc Thướng Sanh chép: “Phật bảo Ưu-ba-ly rằng: Trước kia Di-lặc đản sanh trong nhà ông Ba-ba-lợi, dòng đại Bà-la-môn làng Kiếp-ba-lợi nước Ba-la-nại, lại về sau này mười hai năm nữa, ngày rằm tháng hai ông trở về nơi chỗ bổn sanh (là tại chỗ nhà làng), ngồi kiết già như nhập diệt tận định, sắc thân màu vàng tía đỏ, ánh sáng đỏ hực, như hai trăm ngàn mặt nhựt, chói rọi suốt lên cung trời Đâu-suất-đà.”

Nên ở trong Bồ Tát Luật Nghi do đức Thích-ca Như Lai chế ra, đều để ngài Văn-thù-sư-lợi làm Yết-ma A-xà-lê, để ngài Di-lặc Bồ-tát làm Giáo thụ A-xà-lê.

Vì có mỗi mỗi quan hệ ấy, nên kinh đây chỉ cử lên hai vị đại sĩ là Văn-thù, Di-lặc để đại biểu cho tất cả Bồ-tát tăng.

Văn-thù-sư-lợi, dịch là Diệu Cát Tường (Bồ-tát).

Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên là bực thượng thủ trong hàng Thanh văn đệ tử của Như Lai.

Thanh văn: là lóng nghe âm thanh của Phật đà thuyết pháp mà đắc ngộ đạo, nên gọi là Thanh văn.

Xá-lợi đây rằng “chim thu”; phất là lược bớt một chữ của “phất-đa”, đây rằng: tử là con, ấy là theo tên mẹ mà đặt tên, vì Xá-lợi là tên mẹ, tức con của bà Xá-lợi. Các kinh khác nói Xá-lợi-tử đó, tức là Xá-lợi-phất, ông là một người trí huệ thù thắng trong hàng Thanh văn đệ tử của Phật.

Mục-kiền-liên, dịch là Thái thục thị, đời thượng cổ có tiên nhân ở yên lặng nơi thâm sơn, thường đi hái bẻ đậu xanh (thái thục) mà ăn, nhân lấy đó làm họ. Mẹ của Mục-kiền-liên tức là chắt chít của tiên nhân kia, cũng là theo mẹ mà đặt tên, ông là một người thần thông tối thù thắng trong hàng Thanh văn đệ tử của Phật.

Hai người này đều nguyên là bực thủ lãnh bên phái ngoại đạo, đối với kinh sách của các phái ngoại đạo, hai người đều tinh thông thuộc làu cả; sau nhân ông Mã Thắng Tỳ-kheo, mới đặng theo Phật xuất gia, liền chứng vô sanh thánh quả.

Đối trong pháp hội của Phật-đà, hai người mỗi làm vị thượng thủ trong hàng Thanh văn tăng, nên kinh đây cũng đem hai Ngài ấy đại biểu cho tất cả Thanh văn tăng.
Hai Ngài này nhân vì chẳng nỡ thấy Phật khi vào Niết-bàn, nên đều nguyện nhập diệt trước Phật, thành thử cho nên đức Ca-diếp và A-nan phải lãnh truyền pháp tạng của Phật.

Phàm phu tăng cốt phải giữ giới giải thoát cho được thành tựu là trước nhứt.

iới, nghĩa là thôi dứt điều ác, tu hành việc thiện, tức là luật nghi. Luật nghi có ba thứ mà đây là một trong ba ấy.

Rằng giới biệt giải thoát ấy là, nhân giải điều, chủng loại có cả bảy chúng chẳng đồng nhau, đối với riêng riêng mỗi điều có phạm, nên phải chế định ra riêng riêng mỗi giới điều, khiến phải riêng riêng tuân giữ mỗi điều, để được riêng riêng mỗi đều giải thoát.

Phàm phu tăng đây, mặc dầu chưa chứng thánh đạo, nếu có thể với riêng riêng (biệt biệt) giải thoát luật nghi phải đúng như pháp mà thụ trì, đều có thể trọn đủ chính tri chính kiến, hiểu sâu vào nơi giáo pháp thánh ngôn lượng của Phật đà, để rộng vì chúng sanh mà mở bày cái pháp của thánh đạo, khiến cho chúng sanh được lợi ích an vui, là chỗ bảo “hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp”. Như thế mới đáng gọi là phàm phu tăng chân thiện.

Trong đây nói rằng thánh đạo pháp đó, nếu lấy về pháp của Tam thừa cọng tu mà nói thì, tức là tám thánh đạo pháp học, 37 Bồ-đề phần pháp. Nếu lại xét rộng phạm vi ra thì, hễ pháp của Phật thuyết, đều có thể gọi là thánh đạo pháp.

Do đó quan sát ra thì, phàm phu tăng cũng phải trọn đủ những điều kiện thành tựu việc tự lợi và việc lợi tha, dẫu chỉ giữ đủ giới biệt giải thoát mà chẳng thể thông đạt Phật pháp, để hóa đạo chúng sanh lưu truyền xã hội thì chỉ thu được phần tự lợi là “chỉ ác” mà không thể làm được sự nghiệp lợi tha là “sanh thiện”, hãy chưa có thể được hoàn thành cái tư cách phàm phu tăng chân thiện.

Với đấy, có thể biết được rằng trọn đủ thành tựu cái tư cách phàm phu tăng cũng là việc chẳng dễ!

Tuy chưa có thể được vô lậu cho đến đắc phước vô lượng đó, tức là nói, đối với phàm phu tăng đây mặc dầu chưa có thể được năm phần vô lậu pháp thân là giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, nhưng nếu thiện tín có thể rộng dấy sự cúng dường thì, cũng đắc phước vô lượng, đồng với cúng dường Bồ-tát xuất thế gian và Thanh văn, không có sai khác, vì cái tâm cúng dường không phân biệt nên đắc phước cũng bình đẳng.

Ba hạng tăng như thế gọi là chân phước điền tăng, điền dùng nghĩa là sanh trưởng, như ruộng đất ở thế gian, đem hột giống gieo trồng trong đó, đến mùa thành thục có thể thu hoạch được số nhiều huê quả; còn phước điền đây cũng thế, nếu có người năng cúng dường ba hạng tăng như thế thì, đến tương lai sẽ thu hoạch phước quả, vì gây nhân nào là đắc quả nấy, tức là đắc phước vô lượng.

Song, giữa đời cũng có một số người, không hiểu rằng những giáo pháp và giáo sư nào chân hay ngụy, thường thường sùng bái tà giáo, phụng sự tà sư, chẳng những chẳng có thể cảm phước mà lại bị điều tội lỗi lây vì đồng lõa cũng như giúp lương cho giặc và dưỡng hổ vi họa.

Nay ba hạng tăng đây thì chẳng phải như thế, là ruộng tốt có thể sanh phước, nên gọi là phước điền tăng.

Lại có một thứ gọi phước điền tăng đó, trong đây bảo là xá-lợi, thì chẳng phải là tên người mà, tức là sau khi Như Lai nhập diệt, các đại đệ tử phàm thiêu thi hài, cháy tàn rồi, còn lại có những cốt tử rất kiên cố, viên chính, sáng sạch, hình như hột châu, vẻ nó chẳng nhứt định: hoặc trắng, xanh hoặc xăm điểm ngũ sắc mà đều có ánh ngời, cùng phân tán ra mà dựng tháp cúng thờ; tại Trung Hoa, huyện Ngâu, chùa Dục Vương có thờ ngọc xá-lợi đó, cũng chính là xá-lợi của Phật đấy.

Hình tượng Phật, là sau khi Phật diệt độ, người đời đúc, có khi tượng Phật bằng vàng, bạc, đồng hay gỗ đá hoặc bằng đất, keo, giấy vẽ… đều gọi là hình tượng Phật.

Chuyển luân thánh vương, về thời mà mỗi người sống vô lượng tuổi, giảm xuống còn tám vạn tuổi, hoặc sáu vạn tuổi, bốn vạn tuổi, hai vạn tuổi là những thời có Luân vương ra đời, đủ 32 tướng tốt, do có đại phước lực, đều có được cỗ xe bằng chất vàng báu, vì tức vị đều thắng được bốn phương quy phục, nên gọi là Chuyển luân thánh vương.

Có bốn hạng Chuyển luân thánh vương: 1-Kim luân vương thống quản cả bốn châu là Đông thắng thần châu, Nam thiệm bộ châu, Tây ngưu hóa châu, Bắc cu lô châu. 2-Ngân luân vương, thống quản ba châu. 3-Đồng luân vương thống quản hai châu. 4-Thiết luân vương thống quản một châu.

Hoa uất kim, là hoa trân quý, màu bông sắc vàng nên tên là uất kim.

Trong văn đây nói: Lại có một hạng phàm phu tăng cũng được gọi là phước điền tăng đó, là hạng này dù chưa có thể bền giữ luật nghi, song đối Như Lai hoặc xá-lợi, và sau khi Phật diệt độ thờ cúng các thứ hình tượng và kinh điển, cùng những giới điều mà Phật đương thời chế ra, hoặc đối với các tăng-già đời quá khứ, hiện tại đều rất sanh tâm cung kính tín ngưỡng. Chính mình đã chẳng sanh tà kiến phỉ báng, lại cũng khiến người chẳng sanh tà kiến phỉ báng mà sanh cung kính tín ngưỡng, và lại có thể diễn nói chánh pháp của Phật-đà, tán thán Đại thừa lý thậm thâm vi diệu, tin sâu lẽ thiện ác nhân quả, sở dĩ thường thường phát nguyện, nguyện ở hiện tại qua vị lai, sám hối diệt trừ những điều lỗi phạm và nghiệp chướng. Phàm phu tăng như thế, tuy đối với giới luật chưa có thể hết lòng ngừa giữ, nhưng có thể rộng làm sự nghiệp lợi tha và hết lòng tin sức Tam bảo; thiện tín cúng dường hạng phàm phu tăng ấy, phước cũng hơn gấp trăm ngàn vạn bội cúng các ngoại đạo; nhân vì ngoại đạo tuy cũng hay cần khổ tu hành, mà chưa hay nhận thức chân thì sở tu của họ cũng lao khổ mà vô công, vì tu mù luyện quáng.

Đối với ngoại đạo, chẳng những thắng hơn gấp trăm ngàn muôn lần, lại cũng thắng hơn bốn vị Chuyển luân thánh vương nữa. Vì các tăng già thâm tín Tam bảo đây, dù trong đời hiện tại vẫn chưa hoàn thành tăng cách, song, hay sám trừ nghiệp chướng, gây các tịnh nhân, khiến cho vô lậu chủng tử ngày càng tăng trưởng, phiền não dần dần tiêu diệt, lại cũng hay rộng truyền Phật pháp, dẫn người siêu xuất thế gian.

Với giữa nhân loại, các luân vương kia uy đức lớn, phước lực nhiều, song chưa ra khỏi Tam giới, nếu chẳng cầu pháp xuất thế, cũng vẫn luân hồi trong ác thú không có hẹn ra như bao chúng hữu tình kia một thứ!

Với phàm phu tăng, các Chuyển luân thánh vương còn chẳng kịp thay, huống chi là tất cả chúng sanh? Số là cả nhân loại không ai phước bằng và cao hơn luân vương; lại suy ra từ loài người sắp xuống tất cả chúng sanh kia, khỏi nói cũng khá biết nốt.

Đây lại dùng một tỷ dụ để nói rõ tỷ như mùi hoa uất kim là mùi thơm nhứt trong các loại hương, dù đến lúc nó héo tàn mà hãy còn thơm hơn tất cả hương vị bất chánh thức khác, hoặc các thứ hoa mà hương vị rất ít. Cũng thế, vị Tỳ-kheo chánh kiến, tuy khó trừ sạch được cái tập quán đã chứa từ vô thỉ lại nay, đối với luật nghi có chỗ hủy phạm, song, sẵn có cái căn bản kính tín Tam bảo và chẳng phá hoại cái công đức chánh kiến vẫn có thể làm cái nhân xuất thế cho mình và người. Nhân đấy nên có thể hơn tất cả chúng sanh thì cũng được gọi là phước điền tăng.

Đối với phàm phu tăng đây, nếu thiện nam tín nữ đều có thể cúng dường thì, sở đắc công đức, vẫn đồng với công đức cúng dường ba hạng Tăng Bảo trước kia không có sai.

Cả bốn hạng thánh phàm Tăng Bảo như thế đến đây đồng gọi là ơn của Tăng Bảo bất khả tư nghị. Đấy là lời tổng kết; đối với chúng sanh, bốn hạng Tăng Bảo thường bố thí những thiện pháp thanh tịnh, mà hằng không buông rời làm lợi lạc chúng hữu tình, nên đối với chúng sanh, ơn của Tăng Bảo cũng bất khả tư nghị.

Bốn hạng Tăng Bảo trên đây, hai hạng trước là Thánh tăng, hai hạng sau là phàm phu tăng; hai bực trước là Tăng Bảo xuất thế gian, hai bực sau là Tăng Bảo chưa xuất thế gian.

VẤN ĐÁP BẢO NGHĨA

Bấy giờ năm trăm nhà trưởng giả bạch Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Hôm nay, chúng con được nghe pháp âm của Phật, mới hiểu rõ ngôi Tam bảo lợi ích, an lạc cho cả thế gian. Song hôm nay chẳng biết lấy nghĩa như thế nào để nói Phật, pháp, tăng được gọi là Bảo? Xin Phật giải thích, rõ bày cho chúng hội và đời vị lai kính tin Tam bảo, tất cả chúng hữu tình dứt hẳn lưới hồ nghi, đặng đức tin bất hoại, khiến vào biển bất tư nghị của ngôi Tam bảo”.

Bấy giờ Phật bảo trưởng giả rằng: “Thiện tai! Thiện tai! Người thiện nam hay hỏi Như Lai về nghĩa thậm thâm vi diệu pháp ấy, hầu để lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh đời vị lai!

Thí như món trân bửu đệ nhất nơi thế gian, nó trọn đủ mười nghĩa, để làm cho cõi nước được tốt đẹp và nhiêu ích cả chúng sanh; mà Phật, pháp, tăng bảo cũng lại như thế!

1- Bền chắc, như ngọc báu ma-ni, không ai có thể phá hoại nó được; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì ngoại đạo, thiên ma vương đều chẳng phá đặng.

2- Không bụi bặm, trong đời những vật thắng bửu thể nó thanh tịnh sáng sạch, bụi nhơ không xâm bám, Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì thảy đều xa lìa cái phiền não trần cấu.

3- Cho vui, như cái đức bình của Thiên đế, nó hay cho những sự an lạc; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì năng cho chúng sanh những điều vui của thế xuất thế.

4- Khó gặp, như món cát tường bửu, đã là hiếm có mà lại là khó đặng; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì những chúng sanh nào bị nghiệp chướng, dẫu qua ức kiếp cũng khó gặp đặng.

5- Năng phá, tỷ như cái bình như ý, nó hay phá được cái khổ bần cùng; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì năng phá được các điều bần khổ của thế gian.

6- Uy đức, như Chuyển luân vương sở hữu cỗ xe luân bửu, năng chế phục được các chúng oán địch, Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì đủ sáu thần thông năng chế phục được bốn ma quân.

7- Mãn nguyện, như viên châu ma-ni tùy tâm nguyện vọng của chúng nhân cần cầu chi thì nó năng tuôn ra các món báu; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì năng thỏa mãn cho sở tu và thiện nguyện của chúng sanh.

8- Trang nghiêm, như các món trân bửu của thế gian, nó hay làm nên vẻ trang nghiêm cho cung điện của đế vương; Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì hay làm cho bửu cung bồ-đề của pháp vương được trang nghiêm.

9- Tối diệu, như món diệu bửu của thiên đế rất là vi diệu, Phật pháp tăng bửu cũng thế, vì cao siêu hơn các tối thắng diệu bửu của thế gian.

10- Bất biến, ví như chất vàng ròng để vào lửa đốt mà vẫn chẳng biến đổi, Phật pháp tăng bửu cũng lại như thế, vì tám gió của thế gian chẳng làm cho khuynh động được.

Phật pháp tăng bảo trọn đủ vô lượng thần thông biến hóa, không chút thôi nghỉ lợi lạc cho chúng hữu tình, do vì nghĩa đó nên nói chư Phật pháp tăng là bửu.

Thiện nam tử! Ta vì các ông nói sơ lược chỗ có ơn của bốn hạng tăng tại thế gian và xuất thế gian, các ông phải biết, nên tự tu Bồ-tát hạnh phải báo đáp bốn hạng ơn như thế!”

Tại khi Phật nói ơn của Tam bảo rồi, bọn ông Diệu Đức năm trăm trưởng giả, nhân hiểu được nghĩa quý báu nên lặp lại hỏi đức Như Lai: Chúng con hiện nay dù được nghe tiếng giáo huấn, đặng hiểu rõ cái ân huệ của Phật pháp tăng có lợi ích cho thế gian, chỉ còn chẳng biết lấy ý nghĩa gì mà nói Phật pháp tăng là báu? Cúi xin Như Lai vì chúng con mà giải thích nghĩa ấy, khiến cho đại chúng ở tại nơi này được biết và, với nay đến sau khi mà pháp bảo này lưu hành cũng có thể khiến đời vị lai tất cả chúng sanh chẳng hoại lòng chánh tín kính tin ngôi Tam bảo, để dứt hẳn phiền não chướng và sở tri chướng, đặng tiến vào biển bất tư nghị của ngôi Tam bảo.

Với biển bất tư nghị đây, chỉ có đức tin mới có thể vào được, còn không tin thì chẳng thể vào đặng, số là đức tin làm căn bản cho quả vô thượng Bồ-đề. Nên kẻ tu về Tịnh độ pháp môn, lấy đức tin làm một trong tư lương; nhẫn đến những người tu tất cả pháp môn khác, đâu chẳng lấy đức tin làm cơ sở.

Với bốn ơn trước, do bọn ông trưởng giả Diệu Đức hỏi mà sanh khởi, còn ở đây các ông trưởng giả đã rõ nghĩa tứ ân, lại tiến tới hỏi về ý nghĩa Tam bảo, sao được tên là Bửu. Một mặt là để trừ sự nghi của mình, mặt khác là khiến cho chúng sanh đời hiện tại và vị lai đều được lợi ích, nên Phật khen ngợi là “hay hỏi Như Lai về nghĩa thậm thâm diệu pháp, lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh ở đời vị lai”.

Món trân bửu đệ nhất của thế gian trọn đủ mười nghĩa, Phật pháp tăng bửu cũng trọn đủ mười nghĩa như thế. Trang nghiêm nhiêu ích, tức là nghiệp dụng của bửu vật. Cõi nước tức là quốc độ (thổ), hữu tình tức là nhân dân.

Với Phật pháp tăng mà sở dĩ tỷ dụ là bửu đó, vì Bửu là báu là vật rất trân quý của thế gian, chúng hữu tình mà được nó thì liền có thể được lợi ích an lạc; Phật pháp tăng lợi ích cho thế gian, an lạc cho hữu tình cũng thế, vì hay khiến cho ly khổ đắc lạc, nên Phật pháp tăng được gọi là bửu.

Song, bửu của thế gian, là cái bửu hư ngụy, rốt phi cứu cánh, vả lại có người nhân nó mà bị khốn lụy; duy có Phật Pháp Tăng mới xiết gọi bửu chân thực, vì năng khiến chúng sanh rốt ráo an lạc.

Nói riêng nghĩa báu có mười món:

1- Kiên lao: Ma-ni, đây rằng “ngọc như ý”, thể tánh của thứ báu đây, rất là cứng chắc không ai có thể phá hoại nổi, Phật pháp tăng bửu cũng thế, dẫu có chúng ngoại đạo tà kiến, tà phân biệt và tà thế lực đủ có đại uy đức, cho đến Thiên ma vương thường phá hoại chánh kiến chánh hạnh đi nữa, cũng chẳng làm gì phá hoại ngôi Tam bảo chân thực đấy. Bọn ngoại đạo, trời thiên ma vương hãy còn chẳng thể phá được thì, chúng phàm phu lại chẳng thể phá vậy.

2- Vô cấu: Nghĩa trên rõ bày bền chắc, nghĩa thứ hai đây nêu rõ không nhơ. Hễ là vật báu thù thắng hiếm có, thể tánh nó đều thanh tịnh quang khiết mà chẳng bị bụi bặm ô uế làm xâm nhiễm; chừ Phật Pháp Tăng bảo cũng thế, chẳng những Phật bảo, Pháp bảo thanh tịnh quang khiết xa lìa trần cấu, tức hạng phàm phu tăng chưa chứng thánh quả, chưa ra khỏi Tam giới, hay giữ giới biệt giải được tinh nghiêm thì cũng có thể xa lìa được những trần cấu phiền não ô nhiễm (nhân trì giới bèn hay sanh định, do định mà hay phát huệ thì bèn hay chứng được thanh tịnh thiện pháp xuất thế gian).

Tại nơi bổn ý của Phật ngài thuyết pháp thì, vẫn một thứ diễn nói, chúng sanh dù bởi căn khí bất đồng, cái trình độ lãnh thụ giáo pháp cũng thiên sai vạn biệt. Song, cứu cánh đều đem về pháp giới thanh tịnh vô lậu.

Về việc trí đời, các đấng thánh đế hiền vương tuy có hay tốt đến thế nào (Như nước Trung Hoa, kinh Thi, kinh Thư ghi chép có những điều thạnh trị…), cũng khó mà khỏi được những cái thói dâm chưng, thí sát…; duy có Phật pháp tăng bảo hay tuyệt hẳn mà chẳng ô nhiễm, sở dĩ gọi đó là bửu.

3- Dữ lạc: Bình thiên đức, là do phước đức của trời mà cảm được cái bình, nó hay biến hiện ra đầy đủ cho theo lòng nhu cầu của chúng sanh thế gian, nhân vì cái bình đây như ngọc ma-ni, với kẻ muốn cầu tài thì nó liền hay hóa sanh ra tài bửu, nhẫn đến y phục, ẩm thực, ốc xá, cả thế gian chúng sanh cần dùng món chi đâu chẳng tùy tâm mãn nguyện, Phật pháp tăng bửu cũng thế, kẻ muốn cầu quả vị Thanh văn thì Tam bảo hay cho quả vị Thanh văn, nhẫn đến Duyên giác, Bồ-tát cũng đều tùy sở thích mà đắc quả nấy.

4- Nan ngộ, kiết tường bửu, là một vật quý báu ít lại khó được, Phật Pháp Tăng bửu cũng thế, vì những chúng sanh bạc phước vô căn khó gặp được Tam bảo, kêu là “Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ”. Như chúng sanh bị nghiệp chướng quá nặng, không những không thể thân gặp Phật Pháp Tăng bửu, mà đến cái tên của Phật Pháp Tăng bửu cũng khó mà được nghe, chính chúng sanh ở địa ngục làm gì được thấy được nghe. Đối với giáo pháp của Phật, có lắm người đời thường thường chẳng tín ngưỡng, chẳng những chẳng kính tín, hoặc sanh ác kiến phản nghịch hủy báng, hạng người ấy dù được thấy Phật nghe pháp, song bởi nghiệp chướng thâm trọng làm trở ngại thì cũng đồng với kẻ chưa thấy Phật nghe pháp một thứ.

5- Năng phá: Ngọc báu như ý tức là ma-ni châu, trước kia tánh chất nó cũng tương tợ với Thiên đức bình, hay phá trừ cái khổ bần cùng của chúng sanh, kẻ cầu y thực được y thực, cả đến các sự thế gian đều có thể đầy đủ cả nguyện vọng của chúng sanh. Phật pháp tăng bửu cũng vậy, hễ chúng sanh có những vọng cầu chánh đáng, đều có thể tùy tâm mãn nguyện, như muốn cầu trí, cầu đạo nhẫn đến cầu phước, cầu khang kiện, Phật pháp tăng bảo đều có thể nhất nhất ban cho cả.

6- Uy đức: Luân bửu, tức là chiếc xe báu của Chuyển luân thánh vương do phước lực cảm được đã nói trước kia, và hình nó như xa luân, nên gọi là luân bửu. Khi mà Chuyển luân vương đi chinh phục bốn phương, luân bửu nó tự động tiến trước dẫn đường uy phục tứ phương; cả bốn kim ngân đồng thiếc Chuyển luân vương đều có luân bửu như thế cả; Phật Pháp Tăng bửu cũng thế, do sở hữu thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông nhẫn đến lậu tận thông, cả sáu phép thần thông, bèn hay chế phục phiền não ma quân, ngũ uẩn ma quân, nhẫn đến thiên ma vương quân cả bốn ma quân.

7- Mãn nguyện: Đây nghĩa nó sơ lược đồng với thứ năm trước kia, tức là nói ngọc ma-ni châu nó hay đầy đủ những nguyện vọng của chúng sanh mà Phật pháp tăng bửu cũng có thể đầy đủ thiện nguyện cho chúng sanh, là bảo “đều khiến cho kết quả toại nguyện, quyết định không ngờ, hay khiến đắc quả Tam thừa, sớm lên bực Phật”.

8- Trang nghiêm: Các món trân bửu của thế gian nó hay khiến cho quốc độ được trang nghiêm, để nơi vương cung thì, hay khiến cho cung điện nhà vua được tôn quý; Phật pháp tăng bửu cũng thế, hay khiến cho Bồ-đề đạo tràng, đại hùng bửu điện của đức pháp vương, khiến cho tất cả chúng sanh đều thành chánh giác ngồi trên pháp vương tọa nơi Bồ-đề bửu điện.

9- Tối diệu: Món diệu bửu của trời mặc dầu rất quý mầu, nhưng bất quá là vật báu của thế gian mà thôi, Phật pháp tăng bửu là món diệu bửu siêu xuất thế gian, là món tối thắng công đức siêu việt thế gian, chẳng phải các món thế bửu khá dụ được.

10- Bất hoại: Vàng thực của thế gian khi đem vào lửa nấu đúc mà màu chất nó vẫn chẳng biến hoại; Phật Pháp Tăng bửu cũng thế, chẳng bị tám gió của thế gian làm khuynh động. Tám gió là tám điều lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ và lạc. Với tám điều mà sở dĩ gọi là gió là vì tất cả chúng sanh trên đời thường bị những sự: khổ, lạc, tắng, ái… nó làm cho lay động tâm hồn, tỷ như gió làm reo động các vật, nên gọi là bát phong.

Lợi: là được những sự vừa ý; suy: là gặp những việc chẳng bằng lòng; hủy: là bị người bài xích sau lưng; dự: là được người đời khen tặng; xưng: là được người đối trước mặt hoan nghinh tán mỹ; cơ: là bị người phỉ báng trước mặt; khổ: là những điều ép ngặt tổn não trong tâm; lạc: là thân tâm được thuận thích vui sướng.

Tám điều trên là sự thường có của người đời, vả lại người đời đâu chẳng do đó mà chuyển dời tâm trí; duy có Phật pháp tăng thì chẳng bị tám điều ấy làm diêu động.
Từ Phật Pháp Tăng bửu… đến nói gọi là bửu, là tổng kết rằng Phật pháp tăng do nơi trọn đủ vô lượng thần thông món món biến hóa, thường với thế gian làm nhiêu ích chúng hữu tình, sở dĩ được danh là bửu.

Từ thiện nam tử nhẫn xuống, là tổng kết bốn ơn từ trước lại, rõ phải báo đáp.

Người hạng bình thường ở giữa đời, nếu đều có thể biết báo ân thì, cả người thế gian đều có thể thực hành cái sự nghiệp lợi ích cho kẻ khác dù là hao tổn phần mình thì đạo đức cũng do đó mà hiển hiện.

Nhưng với cái tánh chất báo ân có rộng hẹp bất đồng nhau, vì hễ biết cái ân nhỏ thì, cái ân chỗ trả cũng nhỏ; nay chỉ vì đề cử ra sự báo ân có lớn nhỏ để mở rộng cái tâm lượng của chúng sanh, khiến cho biết cái ân đức phổ biến cả thế gian và xuất thế gian.

Trong đời có một hạng chúng sanh, chỉ biết có một ơn của cha mẹ, nên duy nhứt chỉ ở trước mặt cha mẹ mà thừa sự cúng dường, hoặc mưu cầu công danh cho được vinh hiển đại môn đình, để cha mẹ được thường hoan lạc; đấy, tuy là báo đáp ơn đức mà phạm vi hẹp lắm.

Nếu phát được Bồ-đề tâm, y theo Phật pháp mà lo báo ân đức thì, có thể biết được mình cùng người tất cả chúng hữu tình, từ vô thỉ lại nay lưu chuyển sanh tử giữa năm thú, đều đã từng lẫn nhau làm phụ mẫu, thê tử, quyến thuộc, thân bằng đồng có ân huệ với ta cả, chỉ bởi phiền não quá ư thâm hậu, chưa có thể chứng được túc mạng thông, nên đều chẳng nhớ biết gì được việc những đời kiếp từ trước; dẫu chứng được bậc thánh giả có túc mạng thông thì với những việc của mấy đời đã qua xưa liền nhớ thấy rõ rõ rành rành.

Nếu lại tiến tới mà xét đến xã hội quốc gia, từ xưa đến nay, đều là có ân huệ với ta cả, ba món ân đức trước, hãy còn là ân của thế gian, lại còn có Tam Bảo ân mới là đại ân bất tư nghị, phi hạng bình thường tiểu tri tiểu kiến mà có thể thấy biết được.

Nên cả trong Phật pháp, vô luận mà nói đến việc chi, đều có thể bàn suốt đến chỗ rộng lớn vô cùng cực, chính như chỗ bàn về việc báo ân đây vậy.

Với lời tổng kết, đức Như Lai ngài đến giữa bốn món ân của thế gian và xuất thế gian, khai thị cho Diệu Đức và các ông trưởng giả phải hiểu rằng: Bó rọ nơi chỉ biết báo đáp cái ơn của cha mẹ hiện đời nay đối với ta mà thôi, mà vả lại cũng phải báo đáp cả đến các ân huệ sau đó nữa

Đã cần phải báo đáp ba món ân huệ ấy, thì phi hạng phàm phu và bực Tiểu thừa có thể đền trả đặng, chỉ có kẻ phát Bồ-đề tâm, tu học cả sáu độ vạn hạnh nhẫn đến chứng quả chánh giác mới có thể báo đáp tất cả ân huệ bằng một cách cứu cánh. Nên Phật ngài dặn dò phải tu Bồ-tát hạnh đặng để mà báo đáp tứ ân.

THỊ BÁO ÂN HẠNH

Lúc bấy giờ năm trăm trưởng giả đồng thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! bốn ân như thế rất là khó trả, phải tu hạnh nào mới đáp được ân ấy?”

Phật bảo trưởng giả: “Thiện nam tử! Vì cầu chứng quả Bồ-đề, có ba món thập ba-la-mật: 1- Mười món bố thí ba-la-mật đa. 2- Mười món thân cận ba-la-mật đa. 3- Mười món chân thực ba-la-mật đa.

Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát tâm tu chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác mà hay đem bảy món báu đầy dẫy tam thiên đại thiên thế giới để bố thí chúng sanh bần khổ cùng khốn. Bố thí như thế, chỉ gọi là bố thí ba-la-mật đa mà thôi, chớ chẳng gọi là chân thực ba-la-mật đa.

Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân phát đại bi, vì cầu quả vô thượng chánh đẳng Bồ-đề, mà lòng không tiếc đem vợ con của mình bố thí cho người khác đến xin, đem thịt đầu mắt tay chân tủy óc của mình, nhẫn đến cả thân mạng thí cho kẻ đến xin. Bố thí như vậy, chỉ gọi là thân cận ba-la-mật đa chứ chưa gọi là chân thực ba-la-mật đa.

Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân phát khởi cái tâm vô thượng đại Bồ-đề, tâm trụ nơi vô sở đắc, khuyên các chúng sanh cùng đồng phát cái tâm ấy, lấy pháp chân thực ít nhất là một bài kệ bốn câu bố thí cho tất cả chúng sanh, khiến hướng về quả vô thượng chánh đẳng Bồ-đề. Thế mới gọi là chân thực ba-la-mật đa.

Hai hạnh bố thí trướcchưa gọi báo ân được, nếu thiện nam tử thiện nữ nhân năng tu được hạnh thứ ba là chân thực ba-la-mật đa đó mới gọi chân thực năng báo tứ ân

Sở dĩ là sao? Vì hai hạnh bố thí trước cái tâm còn có sở đắc; kẻ tu hạnh bố thí thứ ba cái tâm vô sở đắc, lấy pháp chân thực bố thí cho tất cả chúng hữu tình, khiến phát tâm vô thượng đại Bồ-đề, người đến khi sẽ đặng chứng quả Bồ-đề, rộng độ chúng sanh không có cùng tận, nối dõi giống Tam Bảo, khiến chẳng ngớt dứt. Do nhân duyên ấy nên gọi là Báo ân.”

Tại trong tổng khoa trên thì, pháp môn Báo ân phẩm đây thâu nhiếp vào “Ngũ thừa cọng pháp”, nếu chúng sanh có thể biết báo đáp thâm ân của phụ mẫu, tuy chưa trả ngay được ba ân sau, nhưng cũng có thể trồng được giống phước nghiệp về nhân thiên thừa.

Nhưng, bổn ý của Phật là ở về pháp đại thừa xuất thế, khiến chúng sanh đồng được phước vui Niết-bàn xuất thế; còn pháp nhân thiên thừa mặc dầu chưa thuộc vào cái hạnh thanh tịnh xuất thế, song cũng là cái cơ sở xuất thế.

Hễ Phật thuyết pháp là từ nơi Đại thừa mà phát sanh, rốt cũng có thể đạt đến bực cứu cánh của Đại thừa.

Bọn ông Diệu Đức cả năm trăm ông trưởng giả thỉnh vấn đức Như Lai: Bốn món ơn ấy đã phi hạng tiểu tri tiểu hạnh của thế gian mà có thể báo đáp được thì, lẽ phải tu hạnh chi mới có thể báo đáp được bốn ơn rất là khó trả ấy ư?

Đức Như Lai trả lời cho Diệu Đức các trưởng giả: Muốn báo đáp bốn món ân đức như thế mà phi phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát hạnh thì không thể đền trả đặng

Như chúng sanh kia từ vô thỉ đã có ơn với ta, nay ta phi đến cái thời thành Phật, lấy vô biên đại từ bi, đại trí huệ các lực lượng đó để cứu bạt tế độ thì chẳng đủ dùng rộng trả ơn của chúng sanh ấy.

Song, muốn thành Phật, cần phải tu ba món mười ba-la-mật. Ba món thập ba-la-mật ấy: thứ nhất, tức là chỉ danh tự bố thí cả mười món ba-la-mật; thứ nhì, tức là bố thí thảy mười món thân cận ba-la-mật; thứ ba, tức là bố thí cả mười món chân thực ba-la-mật.

Ba-la-mật, đây rằng “Đáo bỉ ngạn” đến bờ bên kia, tức là từ cái bờ sanh tử bên đây mà qua tới bờ Niết-bàn bên kia.

Phương pháp đến bờ bên kia có cả mười món, tức là mười món đáo bỉ ngạn. Do trình độ của chúng hữu tình bất đồng nhau, thành thử mới có ba món thập đáo bỉ ngạn.

1- Thập chủng ba-la-mật đa ấy, tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, tịnh lự, huệ, phương tiện, nguyện lực, lực và trí gọi là mười món; sau hai món thập chủng ba-la-mật cũng thế, bất quá ý nghĩa thực hành hoặc sâu rộng hoặc cạn hẹp mà thôi. Ở về trình độ rất thấp, tức là chỉ gọi bố thí… Cả mười món kể trên đấy, vì bố thí mà trụ nơi cái tướng bố thí, cho đến chín cái kia cũng trụ tướng như thế, nên gọi là Danh tự ba-la-mật.

2- Mười món thân cận ba-la-mật đa ấy, tức là bố thí thân cận ba-la-mật đa, cho đến trí thân cận ba-la-mật đa.

3- Mười món chân thực ba-la-mật đa ấy, cùng đồng với nghĩa thứ hai, tức là chân thực bố thí đáo bỉ ngạn, cho đến chân thực trí đáo bỉ ngạn.

Do sự bất đồng nhau giữa trình độ thâm thiển, chẳng những chỉ nên tu bố thí thảy mười món ba-la-mật đa mà, vả lại cần phải đến bố thí thảy mười món chân thực ba-la-mật đa.

Như người sơ phát tâm tu Bồ-tát, với khi sơ phát tâm tự phải tu mười món ba-la-mật đa thứ nhất ấy, tức là bực thập tín Bồ-tát ở về địa vị ngoại phàm, ấy thì gọi là danh tự ba-la-mật, vì tùy phận quyết định mà chưa có thể thực hành.

Nếu đã đạt đến bực địa vị tư lương, địa vị gia hạnh thì là mười món thân cận ba-la-mật đa, vì bực này có cái nghịch thắng giải mà có thể tu hành một cách chân thực.

Lại do giải (hiểu biết) và hành (thực hành) mà tiến lên bực Sơ địa, hiểu suốt thể tánh của các pháp đều không, tức là thông đạt cái thực tánh của chân như. Mà về phương pháp sở hành, tức là mười món chân thực ba-la-mật đa

Tu mười pháp thứ nhất, chỉ gọi là bố thí… ba-la-mật đa, tức rõ rằng một hạng chúng sanh đã phát Bồ-đề tâm, lại có thể lấy bảy báu khắp đại thiên thế giới bố thí cho các chúng sanh bần cùng, tức là bố thí về ngoại tài, nghĩa ở ngoài thân thì chỉ khá gọi là thập ba-la-mật, chớ chẳng đặng gọi thân cận ba-la-mật đa và chân thực ba-la-mật đa.

Tu mười pháp Thân cận ba-la-mật đa, tức rõ rằng bố thí vật ở thân thể ấy, là một hạng hũu tình này nhân phát tâm vô thượng đại Bồ-đề, có thể đem cả vợ con của mình và thân thể tay chân nhẫn đến cả sanh mạng của mình đều có thể bố thí cho những kẻ đến khất cầu mà không có cái tâm niệm hối tiếc. Hạng này cố nhiên cường thắng hơn so với hạng Bồ-tát tu hạnh bố thí ở thứ nhứt nói trên. Song, cũng chỉ có thể gọi là Thân cận ba-la-mật đa thôi, chớ hãy còn chẳng đặng chân thực ba-la-mật đa

Tu mười pháp chân thực ba-la-mật đa thứ ba đây là, rõ rằng lấy pháp bố thí, đồng thời khuyên chúng sanh đồng phát tâm ấy để kỳ cho được đồng chung chứng quả Bồ-đề thì hạng này phi hai hạng trước kia có thể đồng ngày nói chuyện được đâu!

Vì hai hạng Bồ-tát trước là lấy của cải và thân mạng bố thí với sự lợi lạc cho chúng sanh bất quá là tạm thời thôi, mà hạng Bồ-tát thứ ba đây là trụ nơi vô sở đắc, lấy pháp thí cho chúng sanh, khiến đồng phát đại tâm, đồng thành đẳng chánh giác, đều là pháp chân thực cứu cánh, nên gọi là chân thực ba-la-mật đa.

Nghĩa bố thí ở đây, sơ lược có đồng nhau với ý nghĩa lời nói “Bố thí ba-la-mật trong kinh Kim Cang”. Nghĩa cốt yếu ở Kinh kia, ở về “chạm đụng không chỗ được”, cũng lấy nghĩa rằng thụ trì một bài kệ bốn câu hoặc vì người diễn thuyết thì công đức hơn hai món bố thí trên.

Như kinh kia, trước có hai lần lấy của ngoài thân thể bố thí để rồi so bằng nếu người đem bảy báu đầy tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí thì, phước đức tuy nhiều, chẳng bằng có người với trong kinh đây thụ trì ít nhất một bài kệ bốn câu, … và vì diễn thuyết cho người nghe thì phước đức hơn người bố thí bảy báu kia; sau lại lấy hai lần dùng vật ở nội thân bố thí để so, là nếu người thiện nam tín nữ đem thân mạng nhiều bằng số cát sông Hằng để bố thí; nếu lại có người với trong kinh đây thụ trì từ một câu, hai câu, ba câu nhẫn đến một bài kệ bốn câu… và vì người diễn nói thì được phước rất nhiều.

Hạng người bình thường đọc đoạn văn trên, thường thường thấy hành văn trùng điệp. Nếu nghĩ chín chắn đọc đó thì mới có thể hiểu rõ rằng ban đầu lấy của ngoại tài thí so, kế lấy của nội thân so, có nghĩa dần dần thắng tấn

Nay kinh đây rõ từ bực thập tín phát tâm, dần dần tiến vào bực ngôi tư lương, gia hạnh, kịp vào bực Sơ địa thông suốt được thực tánh của chân như chạm không chỗ đặng

Duy Thức Tụng bảo: “Hiện tiền lập chút vật, gọi là tánh duy thức, do vì có chỗ đặng, phi thực tánh duy thức”. Đấy tức là rõ rằng hạng người chưa chứng vào cái tâm chân kiến đạo, vì còn có sở đắc, thì chẳng gọi là trụ duy thức tánh, bởi hữu sở đắc. Vị Bồ-tát chứng đến bực Sơ địa, đối với tự tha đều vô sở đắc, mới được gọi là chân trụ duy thức.

Ở nơi lòng người bình thường còn có cái tướng năng (tâm) sở (cảnh) biến chuyển duyên vấn thì, chẳng gọi vô sở đắc được, vì tâm còn dính vướng nơi hoàn cảnh, tức trụ trước lục trần. Cốt phải ở nơi hạng người đã tiến vào địa vị chân kiến đạo chứng nhập trí vô phân biệt, vì đã vô sở đắc, tức tâm không trụ chấp cảnh, cảnh chẳng chi phối tâm, cũng có thể gọi là vô sở trụ. Hạng người bình thường tâm còn có đối với tướng thì bèn là tâm hữu sở trụ thì đó gọi là trụ A cảnh tâm hay trụ B cảnh tâm…; nếu người đã đạt đến vừa quên năng vừa quên sở, mới gọi là tâm vô sở đắc, mới xưng là chân thực pháp.

Các vị Bồ-tát ở Thập địa thuyết pháp lợi sanh, đều nói pháp chân thực đây, cũng khiến chúng sanh đều vào nơi pháp tánh chân thực, cũng tức khiến chúng sanh đồng tu ba món ba-la-mật đa đây.

Song, ba-la-mật tuy có ba món, nếu muốn báo ân một cách cứu cánh, cần phải tu món chân thực ba-la-mật đa thứ ba. Vì với hai món ba-la-mật đa trước, tâm còn hữu sở đắc thì có hạn lượng, chẳng thể chân thực báo ân được; tâm đã vô sở đắc mà tu ba-la-mật đa, thế thì gọi là chân thực báo ân.

Phật ngài nói rõ nghĩa báo ân, cũng là khiến cho chúng sanh đồng đến cảnh giới an lạc.

Nếu chỉ có thể khiến cho cha mẹ của tự thân mình riêng được an lạc, còn tất cả chúng sanh không được đồng hưởng lợi ích ấy, nên phải tu luôn pháp ba-la-mật đa thứ ba mới là phương pháp chân thực báo ân.

Có thể dùng phương pháp chân thực đem bố thí cho chúng sanh, đồng thời khiến cho chúng sanh phát tâm vô thượng để thành Phật quả, như thế lần lựa tiếp tục phổ biến tế độ chúng sanh mãi không có cùng tận mà, nối thạnh dòng giống Tam bảo cũng chẳng thiếu người.

Pháp chân thực ba-la-mật đa đây, tuy cốt ở bực Sơ địa Bồ-tát mới có thể thực hiện được mà những người mới phát tâm tu Bồ-tát hạnh cũng cần phải rõ lý hiểu nghĩa nó, để làm cái mục đích lý tưởng. Chẳng thế thì, luôn với cả danh tự ba-la-mật và thân cận ba-la-mật cũng sẽ chẳng tu tập gì được, có đâu nói chuyện đạt đến bực chân thực được ư!?

THUYẾT PHÁP LỢI ÍCH

Bấy giờ, năm trăm trưởng giả nay theo Phật nghe được cái giáo pháp báo ân mà từ bấy nay chưa được nghe, nên ôm lòng hớn hở nhảy nhót đặng điều chưa từng có, nay phát tâm cầu tiến đến địa vị vô thượng Bồ-đề, đắc pháp nhẫn nhục tam muội, chứng vào cái trí bất tư nghị, vẫn chẳng thối chuyển.

Lúc đó, giữa pháp hội, có tám vạn bốn ngàn chúng sanh phát Bồ-đề tâm, đắc cái đức tin kiên cố và phát tâm tu tam muội nhẫn nhục. Cả hải hội đại chúng đều đắc Kim cang nhẫn nhục tam muội, ngộ được pháp vô sanh nhẫn và nhu thuận nhẫn, hoặc chứng được bất khởi nhẫn của bực Sơ địa. Cả đến vô lượng chúng sanh phát Bồ-đề tâm, an trụ nơi bất thối vị.

Lúc đó, Phật bảo năm trăm trưởng giả: “Tất cả chúng sanh trong đời vị lai, nếu có được nghe phẩm Tâm Địa Quán Báo Tứ Ân đây, mà hoặc thụ trì, đọc tụng, giải thuyết, thư tả lưu bố pháp này cho được sâu rộng ra, các người như thế, được tăng trưởng phước trí, được chư thiên vệ hộ, hiện đời thân không bệnh khổ, mạng sống lâu dài. Đến khi mạng chung liền đặng vãng sanh nơi nội cung của đức Di-lặc, thấy được cái tướng lông trắng nơi chặng mày của đức Di-lặc, tức siêu việt đường sanh tử, ba hội Long Hoa, sẽ đắc giải thoát, với tịnh độ nơi mười phương tùy ý mình muốn về đâu tức vãng sanh đấy, thấy Phật nghe pháp vào chánh định tụ, chóng thành A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề là trí huệ của Như Lai”.

Thuở Phật nói phẩm Báo Ân đệ nhứt hội rồi, các kẻ dự hội đồng đặng lợi ích lớn. Các ông trưởng giả Diệu Đức… với từ xưa chưa từng được nghe về giáo nghĩa tứ ân, mà nay thoạt được nghe Phật thuyết về pháp báo đáp tứ ân, niềm hoan lạc sung sướng nơi lòng mà từ xưa chưa hề có, liền phát Bồ-đề tâm để thành lập cái chí hướng Đại thừa, đồng thời đều đắc pháp nhẫn nhục tam-muội.

Tam-muội tức là thiền định, Nhẫn là nhẫn khả, tức là y nơi nghĩa pháp của Như Lai thuyết ra, tâm có thể nhẫn khả đặng mà đắc an lạc. Đồng thời với cảnh tam-muội ấy, tỏ hiểu được cái trí vô phân biệt bất tư nghị mà chẳng thối chuyển.

Bất thối chuyển tức là thứ 6 “tín bất thối” trong Thập tín Bồ-tát, hoặc là bực đệ nhứt trụ phát tâm bất thối trong Thập trụ Bồ-tát.

Rằng trong hội có tám vạn bốn ngàn chúng sanh cũng phát Bồ-đề tâm đắc kiên cố tín đó tức là ngôi tín bất thối trong Thập tín Bồ-tát, cũng đắc được pháp nhẫn nhục tam-muội như năm trăm trưởng giả đã sở đắc nói trên.

Từ hải hội đại chúng đến đắc bất khởi nhẫn ấy, đấy là nói rõ cái sở đắc lợi ích của các Bồ-tát sẽ lên ngôi Thập địa và các Bồ-tát đã ở ngôi Thập địa.

Song, cái nhẫn mà nói ở trong đây với cái nhẫn nói trong các kinh đều có bất đồng nhau. Chừ đây có thể nói một cách tổng quát là bực Đẳng giác Bồ-tát đắc pháp Kim Cang nhẫn; Bát địa Bồ-tát đắc pháp vô sanh nhẫn; trước Thập địa, như các vị Bồ-tát ở nơi các ngôi Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh và Thập hồi hướng thì đều đắc Nhu thuận nhẫn; bực Sơ địa Bồ-tát thì đắc pháp Bất khởi nhẫn.

Lại bất thối: Ở nơi bực sơ phát tâm tu Bồ-tát thì, đắc bực đệ lục tâm đắc pháp tín bất thối trong ngôi Thập tín Bồ-tát. Tiến tới, thì bực sơ trụ phát tâm bất thối trong ngôi Thập trụ Bồ-tát, bực đệ thất trụ thì hành bất thối; bực Sơ địa Bồ-tát thì đắc cái chứng bất thối, bực Bát địa Bồ-tát thì đắc cái niệm bất thối.
Thứ đó là nói rõ sự lợi ích của chúng sanh đời sau lưu thông ấn tống kinh đây.

Nội cung của đức Di-lặc: tức là Đâu-suất nội viện, hiện nay là chỗ ở của đức Di-lặc bổ xứ Bồ-tát, nên nói là Di-lặc nội cung.

Nói là nội cung, là để cho phân biệt với ngoại viện. Nhân vì cõi trời Đâu-suất-đà có phân ra nội viện và ngoại viện, ngoại viện là chỗ của các trời ở, chỉ thích hưởng phước vui chơi, tức là phi thanh tịnh…

Với ba hội Long Hoa sẽ đắc giải thoát tức là qua đời vị lai (tiểu kiếp thứ 10, còn đời đức Thích-ca là tiểu kiếp thứ 9) trong thế giới của đức Di-lặc Phật ngài tọa nơi gốc cây Long Hoa Bồ-đề, ba lần thuyết pháp, độ các chúng sanh đều đắc giải thoát, nghĩa là đều thụ ký thành Phật.

Chánh định tu, tụ: tức nghĩa như chữ loại là một trong ba tụ, mà là thông đồng cả đại tiểu thừa. Với Tiểu thừa, chánh định tụ ở từ Ngũ đình tâm nhẫn lên, Đại thừa ở từ Sơ trụ nhẫn lên. Kẻ mà tu về tà định tụ, tức là rốt ráo nhứt định chẳng chứng nhập được; còn bất định tụ thì tức là ở về trung gian hai ấy.

Ba tụ: Chánh định tụ, tà định tụ và bất định tụ. Ba tụ đây, sơ lược đồng với ngũ tánh của pháp tướng duy thức đã gọi. Như Duy Thức gọi chủng tánh Thanh văn, chủng tánh Bồ-tát thì, có thể thu vào trong chánh định tụ đây; chủng tánh bất định bên kia, cũng đồng với bất định tụ đây; vô tánh bên kia, là tà định tụ ở đây. Như cái biểu:

5 tánh

  1. Bồ-tát
    2. Duyên giác
    3. Thanh văn
    4. Bất định
    5. Vô tánh
    Chánh định

    Bất định
    Tà định Tam tụ

CHÚ THÍCH
1. Mười ba phẩm:
1. Tự phẩm
2. Báo ân phẩm
3. Yếm xả phẩm
4. Vô cấu phẩm
5. A-lan-nhã phẩm
6. Ly thế gian phẩm
7. Yếm thân phẩm
8. Ba-la-mật đa phẩm
9. Công đức trang nghiêm phẩm
10. Quán tâm phẩm
11. Phát tâm phẩm
12. Thành Phật phẩm
13. Chúc lụy

Phẩm thuộc về phần giáo khởi nhân duyên pháp chung cả 5 thừa tu pháp chung cả 3 thừa tu pháp chẳng chung của Đại thừa tu thuộc về phần y giáo phụng hành

  1. Đại thừa: Nghĩa của Đại thừa, chính ở chỗ cởi mở những sự tham nhiễm, ràng buộc của tất cả phàm phu, khiến tiến vào quả Phật vô thượng. Pháp Đại thừa không ngoài ba nghĩa: cảnh, hành và quả. Nghĩa là, nếu đối tất cả tánh tướng của các pháp mà hiểu suốt một cách đúng như thật, tức là cảnh sở quán của Đại thừa; y nơi cảnh mà khởi sự tu hành, tức là học tu tất cả vô lượng vô biên pháp môn: lục độ, thập độ, vạn hạnh. Hễ pháp nào mà có lợi cho chúng hữu tình thì, bực Đại thừa Bồ-tát đều lo học tu cả; trải qua các cấp vị thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa, suốt qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới được tiến đến quả Phật cánh, tức là do nơi hành mà đắc nơi quả. Y nơi pháp là cảnh, hành và quả đây, có thể ra làm đúng như thực, tức là Đại thừa diệu pháp. Pháp Đại thừa, chẳng những hạn cuộc ở nơi kinh tạng, mà cũng gồm Luận tạng, Luật tạng của Đại thừa nữa. Kinh Đại thừa bổn sanh tâm địa quán đó là một bộ trong Đại thừa kinh tạng. Giáo lý đã siêu xuất lên trên nhân thừa, thiên thừa và nhị thừa mà lại phổ thông thu nhiếp cả các pháp của năm thừa.
  2. Hiện tại tám tướng thành Phật: Phật ngài lấy cái tướng thành đạo làm trung tâm, thị hiện ra cái tướng trạng do trong một thời kỳ từ thỉ chí chung, mà gọi là bát tướng thành đạo, thành đạo tuy là một trong tám tướng, song là chủ não giữa tám tướng, nên riêng nêu lên cái danh thành đạo. Với tám tướng, các kinh luận ghi nói hoặc còn hoặc mất chẳng đồng, mà đại yếu có hai thuyết: Đại Thừa Khởi Tín thì nói: 1-Từ trời Đâu-suất xuống: Trước là vị Bồ-tát nhứt sanh bổ xứ ở cung trời Đâu-suất, ở đây 4000 năm (số năm của trời ấy; một năm của trời ấy bằng 1000 năm của nhân gian), thấy thời cơ đã đến, bèn hiện ra cái tướng cỡi con bạch tượng từ Đâu-suất-đà thiên giáng xuống. 2-Nhập thai: Cỡi voi trắng sáu ngà vào thác thai nơi tả hiếp của đức bà Ma-da phu nhân, là hai tướng. 3-Trụ thai: Ở trong mẫu thai, đi, đứng, ngồi nằm mỗi ngày sáu giờ vì nói pháp cho chư thiên nghe, là ba tướng. 4-Xuất Thai: Ngày 8 tháng 4 âm lịch, trong vườn Lâm-tỳ-ni, do nơi sườn phía hữu của Thánh mẫu mà xuất sanh, là bốn tướng. 5-Xuất gia: 19 hoặc 25 tuổi, quán sát hiện tượng của thế gian đều vô thường, nên ra khỏi vương cung vào núi học đạo, là năm tướng. 6-Thành đạo: Tu khổ hạnh trải qua sáu năm, đến ngồi nơi gốc cây, đắc đạo thành Phật, là sáu tướng. 7-Chuyển pháp luân: Từ thành đạo về sau, suốt thời gian năm mươi năm nói pháp phổ độ nhân thiên, là bảy tướng. 8-Nhập diệt: Năm đã 80 tuổi, đến nằm nghiêng phía phải giữa Ta-la song thọ mà vào nơi cảnh Niết-bàn, là tám tướng. Đó là thuyết thứ nhứt. Thuyết thứ nhì, Tứ Giáo Nghi cuốn 4 ghi rằng: 1-Từ Đâu-suất-đà thiên xuống. 2-Thác thai. 3-Xuất sanh. 4-Xuất gia. 5-Hàng ma. 6-Thành đạo. 7-Chuyển pháp luân. 8-Nhập Niết-bàn.
  3. Bông ưu-đàm: Cũng tên là Ưu-đàm-bát hoa, tức là loại cây không có bông mà chỉ có quả, nó hay xuất sanh nơi các xứ ở chân núi Hi-mã-lạp-da, Can-cao-nguyên và Tích-lan. Thân cây cao hơn trượng, lá có hai thứ giống, một bằng bặng trơn láng, một thể thô tháo, đều dài chừng bốn, năm tấc, ngoài đầu lá nhọn. Người đời gọi 3000 năm nó mới trổ một lần bông, mà có Phật ra đời nó mới khai hoa. Sách Nam Sử nói: “Ưu-đàm hoa bèn là điềm Phật ứng hiện, 3000 năm mới trổ một lần bông, hễ trổ thì có vua Kim Luân ra đời”. Nên nay người ta báo: vật gì hiếm có xuất hiện nói là “Đàm hoa nhất hiện” là mượn điển ở đây.
  4. Niết-bàn của Tiểu thừa: Các thánh Thanh văn, Duyên giác chấp lấy nghĩa không, nghĩa là vào nơi cảnh vô dư Niết-bàn thì thân và trí vĩnh viễn vong mất mà không còn một cái gì cả, vì chán cái khổ sanh tử, ham cái vui vắng lặng, tức tự giải thoát lấy một mình, Phật quở là tiêu nha bại chủng, giải thoát thâm khanh!
  5. Bảo tọa kim cang: Chỗ của Phật ngồi khi sắp thành chánh giác. Chỗ này tại bên gốc cây Tất-bát-la (Bồ-đề), nước Ma-kiệt-đà, tòa ngồi đây bằng một tảng đá lớn, trên đảnh bằng phẳng tròn, tảng đá này dưới chân căn cứ nơi kim luân, trên thì sát mặt đất. Cu Xá Luận 11 nói: “Chỉ giữa châu Nam Thiệm Bộ này có kim cang tọa trên thấu mặt đất, dưới cứ kim cang, tất cả Bồ-tát, khi sắp thành Phật, đều ngồi trên tọa đây, khởi cái định kim luân dụ, dùng cái chỗ vô dư y và dư có cái đại lực kiên cố, có thể chủ trì để trừ vi tế hoặc (nhứt phần sanh tướng vô minh) thành đẳng chánh giác”. Tây Vực Ký 8 chép: “Chính giữa cái nền thành Bồ-đề thụ có cái tọa bằng chất kim cang, xưa ban sơ hiền kiếp, tọa ấy (rún của trái đất) cùng đại địa đồng thời sanh khởi lên, vị trí nó cứ nơi trung tâm tam thiên đại thiên thế giới, chu vi hơn trăm bước, trong hiền kiếp này ngàn đức tối hậu thân Bồ-tát cũng đều ngồi lên đấy, vào Kim cang định để thành Phật, nên gọi Kim cang tọa. Chỗ chứng thánh đạo, cũng gọi đạo tràng…, đến thời mạt kiếp, chánh pháp suy vi, đất cát bồi lấp, không còn được thấy cái tọa ấy nữa. Sau khi Phật Niết-bàn, các vị quốc vương nghe truyền lời Phật nói cái hạn lượng của Kim cang tọa, bèn dùng hai tượng đồng Quán Tự Tại đem để làm nêu ranh giới nam và bắc, tượng ngồi hướng mặt về phương đông. Nghe các vị Kỳ Cựu nói: “Thân tượng Bồ-tát ấy đến khi lún ngập chẳng thấy thì, Phật pháp sẽ diệt tận”. Nay tượng Bồ-tát ở góc phía nam đã lún ngập quá nơi hung ức rồi.
  6. Pháp khí: Món đồ pháp, có hai nghĩa: 1-Người mà xiết ra làm được đạo Phật thì gọi là pháp khí. Kinh Pháp Hoa phẩm Đề Bà nói: “Người phụ nữ là cái thân cấu uế, chẳng phải pháp khí”. Đức Nhị tổ Huệ Khả thờ tổ Đạt-ma đã lâu mà chưa được nghe dạy răn chi, bèn dứt cánh tay để làm vật nội tài cầu pháp. Tổ biết là pháp khí, lấy y bát truyền trao cho. Thấy sách San Đường tứ thảo. 2-Bên tăng hoặc bên đạo, những món nhạc khí, dùng để làm trong lễ trai tiếu, gọi là pháp khí, như chuông, trống, linh, bạt…
  7. Năm Tánh: Kinh Anh Lạc nói: “Dùng chủng tánh nơi nhân và quả mà làm ngũ chủng tánh. 1-Tập chủng tánh: Là ngôi Thập trụ, xét tập phần không quán mà, phá dứt kiến hoặc tư hoặc. 2-Tánh chủng tánh: Là địa vị của Thập hạnh, chẳng trụ nơi không, mà hay giáo hóa chúng sanh, để phân biệt tất cả pháp tánh. 3-Đạo chủng tánh: Là ngôi Thập hồi hướng, tu pháp diệu quán của trung đạo, nhân đó mà thấu suốt đến Phật tánh của tất cả. 4-Thánh chủng tánh: Thập địa Bồ-tát. Dùng thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng trước kia, đều danh là hiền. Còn đây là Thập địa Bồ-tát, y nơi diệu quán trung đạo, phá một phần rốt sau (vi tế hoặc) sanh tướng vô minh mà chứng vào thánh vị, nên gọi là thánh chủng tánh. 5-Đẳng giác tánh: Bồ-tát ở ngôi đây, mong với sau là ngôi Diệu giác, dù còn có một ngôi nữa, song đã thắng hơn cả các ngôi trước, nên xưng giác danh là Đẳng giác tánh.
  8. Thắng nghĩa đế: Pháp tướng tông lập ra hai đế, đây là một trong hai đế, đối với thế tục đế mà gọi là thắng nghĩa đế, tức chân đế. 1-Tục đế: Sở kiến của hạng phàm tình là sự tướng giữa thế gian, là những cái pháp (sự vật) thuận với mê tình của phàm tục, nên nói là tục. Cái đạo lý thuộc về pháp của phàm tục, quyết định mà chẳng động nên nói là đế. Lại, với sự tướng ấy, thế tục cho là thực, nên gọi là đế. 2-Chân đế: Sở kiến của thánh trí là lý tánh chân thực, vì lìa bỏ rồi những điều hư vọng, nên nói là chân, lý nó quyết định mà bất động, nên nói là đế. Lại, lý tánh ấy, với thánh là thực, nên gọi là đế.

Với danh từ nhị đế, các kinh luận nói bất nhứt: Niết Bàn Kinh, Nhân Vương Bát Nhã Kinh thì gọi là thế đế, đệ nhứt nghĩa đế; Kim Cang Bất Hoại Giả Danh Luận thì gọi chân đế, tục đế; Du Già Luận, Duy Thức Luận thì gọi thế tục đế, thắng nghĩa đế; Nam Hải Ký Quy Truyện thì gọi phú tục đế, thắng nghĩa đế hoặc gọi phú đế, chân đế, mà với trong đó chỉ lấy chân đế, tục đế là rất thông hành hơn hết.

  1. Thế tục đế: Ngài Từ Ân gọi là thế tục đế; ngài Pháp sư Nghĩa Tịnh gọi là phú tục đế, đều là danh từ đối với thắng nghĩa, gọi vắn tắt là thế đế hoặc tục đế, cũng đồng nghĩa. Là đạo lý của thế tục. Truyện Ký Quy nói: “Phú tục đế, cựu dịch gọi là thế tục đế, thì chưa hết nghĩa, vì đạo ý, tục sự nó phủ che chân lý kia. Sắc chất vốn phi là cái bình, mà quấy tưởng hiểu làm cái bình; âm thanh không có ca khúc, mà mạn tưởng làm ca tâm… Do đó tủ che cái chân đi nên gọi là phú tục. Đấy, cứ nơi phú tức là tục, gọi là phú tục, hoặc có thể chỉ gọi Chân đế, Phú đế”. Chân đế là về mặt đạo, phú đế là về mặt đời.
  2. Vương-xá thành: Tiếng Phạm Ràjagrha (thành Hạt-la-xà-kiết-lị-tứ) ở tại nước Ma-già-đà Trung Ấn Độ; vua Tần-bà-sa-la (tân dịch Tần-bì-sa-la) từ nơi thủ đô cũ là Thượng mao thành mà dời về ở nơi đây, chung quanh ngoài thành Vương-xá có năm quả núi, mà thứ nhứt là núi Linh Thứu. Luận Trí Độ cuốn 3 nói: “Hỏi: Các đồ thành lớn như Xá-bà-đề, Ca-bì-la, Ba-la-nại… đều có các vương-xá mà do sao thành này lại riêng được danh là Vương-xá? Đáp: Có người nói rằng vua nước Ma-già-đà có một hoàng tử thân hình kỳ dị, một đầu, hai mặt, bốn tay. Người bấy giờ đều cho là bất tường. Vua liền lấy dao xẻ rạch nơi mình và đầu rồi đem bỏ ngoài đồng. Nữ quỷ La-sát tên Xà-la dùng phép thần hoàn hiệp thân phần lại và cho bú sữa nuôi nấng, sau lớn thành người, có dũng lực hay gồm cả các nước, làm chủ cả thiên hạ. Bắt một vạn tám ngàn vị quốc vương đem để giam giữa năm núi này, dùng đại thế lực thống trị cả châu Nam Diêm-phù-đề. Cả nhân loại Diêm-phù-đề nhân gọi núi ấy là Vương-xá thành. Lại có người nói: Nguyên vua Ma-già-đà ở nơi đại thành. Trước kia trong thành bị hỏa hoạn, mỗi một lần bị cháy, phải lo kiến thiết lại một lần, mà như thế đã bảy lần. Quốc dân bị làm xâu khốn khổ, nhà vua rất lo, thường cho vời các người trí thức nhóm lại hỏi ý kiến, có người đề nghị di đô qua chỗ khác. Vua liền tìm chỗ ở, thấy vùng năm núi đây vây giáp như thành, bèn xây làm cung điện, ngự ở nơi trong, do đó nên gọi Vương-xá thành. Tây Vực Ký cuốn 9 chép: Châu thành Hạt-la-xà-kiết-lị-tứ dịch là Vương-xá. Trước kia vua Tần-bì-sa-la đóng đô ở thành Thượng mao cung. Nhân dân ngoại ô thường bị hỏa tai, phòng ngừa, cứu hỏa chẳng xiết, tài sản hư hao, nhân dân than khóc, chẳng ở yên được. Vua than: Quả nhân thiếu đức, nên dân khốn khổ, tu những đức chi, khả dĩ cầu an được? Quần thần tâu: Đại vương có đức hóa, khuê môn hòa mục, chánh giáo rõ xét, nay kẻ dân nhỏ bất cẩn, đến nỗi gây tai họa, nên ra lệnh nghiêm cấm để sạch dứt điều phạm, nếu nhà nào để phát hỏa thì phạt kẻ thủ phạm, bắt ở nơi hàn lâm (Hàn lâm: Là chỗ bỏ thây chết, chúng tăng bảo là chỗ đất bất tường, tuyệt hẳn dấu người lui đến, nay đày kẻ gây hỏa tai đến ở đó), đồng với tử thi, đã bị xấu hổ, lại ở đê hèn, nó sẽ lo sợ mà phải cẩn thận sự lửa củi”. Vua khen rằng hay, chấp thuận lời quần thần tâu, rồi khắp rao bảo cho nhân dân biết. Không bao lâu, chính trong cung vua lại phát sanh hỏa hoạn trước. Vua bảo quần thần rằng: Ta phải tự di cung. Bèn dạy thái tử xem cầm việc ở lại, muốn thanh phép nước nên nhà vua phải dời chỗ, lo kiến thiết thành trì nơi đấy. Vì vua đến ở đây trước, nên gọi Vương-xá.
  3. Pháp Ngũ đình tâm: Năm phép quán đình tâm, là một pháp tu của Tam hiền bên phái Tiểu thừa, tu năm món quán pháp, để đình chỉ cái tâm khỏi điều quá thất, là bước đầu vào đạo của Thanh văn thừa. Có hai thứ: Một: 1-Bất tịnh quán: Quán tưởng cái tướng bất tịnh của cảnh giới là phương pháp để đình chỉ cái lòng tham dục. Người nào mà ý thức quá ư tham trước, tu bất tịnh quán này. 2-Từ bi quán: Đến với tất cả chúng hữu tình, quán xét cái tướng khá thương, là phương pháp để đình chỉ cái lòng sân nhuế, người nào có nhiều chứng giận dữ tu đó. 3-Nhân duyên quán: Quán xét mười hai nhân duyên, là cái lẽ tiếp tục nhau luôn ba đời, là phương pháp để đình chỉ cái lòng ngu si, người nào nhiều ngu si tu đó. 4-Giới phân biệt quán: Đến với các pháp mà phân biệt sáu giới, hoặc mười tám giới, là phương pháp để phá cái ngã kiến, người nào nhiều bệnh ngã kiến tu đó. 5-Sổ tức quán: Kể đếm hơi hô hấp, là phương pháp để đình chỉ cái tâm tán loạn, người tán tâm nhiều tu đó. Hai: Lại một pháp nữa, lấy cái “giới phân biệt quán” thứ 4, cùng tương tợ nhau với cái “nhân duyên quán” thứ 3, nên bớt đi mà gia pháp “quán Phật” vào, nhân vì quán tưởng cái tướng hảo của Phật, là phương pháp để năng trị tất cả phiền não, người nào nhiều nghiệp chướng tu đó.
  4. Quạ, rái. Ô: chim quạ, sách Tiểu Nhĩ Nhã nói: “Toàn sắc đen mà hay sú mồi lại cho quạ già là cha mẹ, nó là con quạ”, nên gọi là hiểu điểu. Sách Phật nói: Từ ô phản bộ. Thát: Rái, tức con rái cá, mỗi năm tháng giêng tiết vũ thủy, Thát tế ngư: rái cúng cá, nghĩa là rái bắt cá đem lên bờ, sắp đặt ngay hàng, như trần phẩm vật để cúng tế. Kinh Lễ nói là thế. Tục truyền: Rái bắt cá giỗ Tổ phụ nó. Kẻ làm con mà bất hiếu, bị người đời phỉ báng là chẳng bằng chim muông, tức là quạ và rái.
    14. Cao đẳng động vật: Loài mà sự tổ chức trong thân thể có phần phức tạp đó, phổ thông phân làm bốn môn: môn tích chùy có xương sống; môn tiết túc, chân có lóng; môn nhuyễn thể có thân thể mềm mại; môn nhu hình có hình dáng mềm bủn, như là trùng, đỉa. Cũng có người chỉ lấy loại tích chùy động vật làm cao đẳng, còn ba loại thứ đó là hạ đẳng.
  5. Ác thủ không: Cái ác chấp không, tức cái đạo lý bác đi cho là không có nhân quả; chớ chấp trước lấy cái kiến thức ác không. Trì Địa Luận cuốn 2 nói, thế nào là ác thủ không? Nếu sa-môn hay Bà-la-môn chấp rằng bỉ thử đều không, ấy gọi là ác thủ không; Duy Thức Luận 7 nói: Bác không có hai đế, là ác thủ không; chư Phật cho là cái bệnh bất trị. Sách Chỉ Quán 5 nói: Thà khởi cái ngã kiến lớn bằng núi Tu-di, chẳng nên ác thủ không.
  6. Trong nhà có hai đức Phật: Đức Di-lặc nói: “Đường thượng hữu Phật nhị tôn, áo não thế nhân bất thức”: Trên nhà có hai đức Phật, rất buồn người đời chẳng biết. Phật nói: “Phụ mẫu vi tại đường hoạt Phật”: Cha mẹ là Phật sống tại nhà.
  7. Ông Hoa Thạnh Đốn: Một tay ông dựng nên nước Bắc Mỹ hiệp chủng quốc. Ông là người sanh ở Vật-các-ni-á, trong thời chiến tranh quần chúng suy tôn ông làm tổng tư lệnh. Sau chiến tranh ông lui về ở ẩn chưa lâu, ông đáp với nguyện vọng của quốc dân, tham dự chế định hiến pháp. Năm 1789 dương lịch, ông bị tuyển làm Đệ nhứt thứ đại tổng thống. Năm 1793, lại bị tuyển lần nữa. Năm 1885, người trong nước vì dựng bia đá kỷ niệm tại quốc đô Hoa Thạnh Đốn. Sanh năm 1732, thất lộc năm 1799.
  8. Tiểu thiên thế giới: Lấy Tu-di sơn làm trung tâm, ngoài ranh thì có núi Thiết-vi chạy giáp vòng bốn phía làm giới hạn, gọi là một thế giới, như thế, một ngàn thế giới như vậy gọi là một tiểu thiên thế giới.
  9. Sáu chục kiếp: Kiếp có ba hạng: 1-Tiểu kiếp, mười sáu triệu năm (16.000.000 năm); 2-Trung kiếp, ba trăm hai chục triệu năm (320.000.000 năm); 3-Đại kiếp, một ngàn hai trăm tám chục triệu năm (1.280.000.000 năm). Mà sáu chục kiếp đây, chẳng biết là tiểu hay trung, đại kiếp.
  10. Phạm vương: Vua của Sơ thiền thiên là đại Phạm thiên, tu chứng được trung gian thiền, là pháp thiền định vị trí ở giữa Sơ thiền và Nhị thiền. Tên là Thi Khí, dịch là lửa, hay là đùm tóc trên đảnh, vì Ngài có cái búi tóc trên đảnh, hình như lửa, để tỏ rằng vào pháp định hỏa quang. Ngài ở nơi trời Sơ thiền, được sanh ra trước nhất, nên tự nghĩ rằng: Ta không cha mẹ, tự nhiên mà sanh, ta làm chủ cõi Ta-bà thế giới. Ngài rất tin chánh pháp, mỗi đức Phật ra đời, Ngài trước nhất thỉnh thuyết pháp, lại thường đứng bên hữu của Phật, tay cầm phủ phất trắng, để đối với Đế-thích.
  11. Phạm thiên diệt vong: 1 đại kiếp có 4 trung kiếp, 1 trung kiếp có 20 tiểu kiếp; 1 tiểu kiếp có 20 lần tăng giảm. Hiện nay là tiểu kiếp thứ 9 của kiếp trụ (thành, trụ, hoại, không là 4 trung kiếp), qua 11 tiểu kiếp nữa là đến kiếp hoại. Hoại kiếp có 20 lần tăng giảm; 19 lần tăng giảm trước, hoại diệt hết cõi hữu tình thế gian; rốt sau một lần tăng giảm hoại diệt cõi khí giới thế gian. Hoại cõi khí giới thế gian đây, có ba lần là đại hỏa tai, đại thủy tai, đại phong tai. Đệ nhứt hỏa tai, do bảy mặt nhựt đồng thời xuất hiện, đốt cháy thế giới này, dưới từ địa ngục vô gián, trên đến trời Sơ thiền (Phạm chúng thiên) của trung giới. Đệ nhị thủy tai, ngục vô gián, trên đến trời Nhị thiên (Phạm phụ thiên) của Sắc giới, đều bị nước dầm ngâm. Đệ tam phong tai, dưới từ ngục vô gián, trên đến trời Tam thiền (Đại phạm thiện vương ở tại đây), cả thế giới đều bị trận bão lớn nhất cổ kim tàn phá hoại hết vật chất (ba cõi Phạm thiên kể trên chung ở trong một Sơ thiền thiên). Luận Cu-xá 12 nói: “Hỏa tai là do bảy nhựt luân xuất hiện…, thủy tai là do mưa đá dầm dề…, phong tai là do những trận phong luân nổi lên thổi trốc núi này chọi với núi kia, nên cõi vật chất vọt tan ra bụi…”
  12. Ba loại hóa thân: 1-Đối với Sơ địa Bồ-tát mà Phật ứng hiện thân thuyết pháp, gọi là Thắng ứng thân, tức là tha thụ dụng báo thân. 2-Đối với các Bồ-tát trước Thập địa và Nhị thừa, phàm phu, Phật ứng hiện thân thuyết pháp, gọi là Liệt ứng thân, tức là thân trượng lục của Thích-ca Như Lai. 3-Biến hóa thân, là do cái trí thành sở tác mà biến hiện ra vô lượng tùy loại hóa thân, xứng theo căn cơ, hiện thần thông nói pháp, khiến cho đều đặng mọi sự lợi lạc. Hiện Phật hình là Ứng thân, hiện các hình lạ khác là Hóa thân. Đại Thừa Nghĩa Chương 18 nói: “Vì giáo hóa chúng sanh, thị hiện ra hình Phật, gọi là Ứng thân; thị hiện ra mỗi mỗi hình của Lục đạo, gọi là Hóa thân.

Cái biểu ba thân đối chiếu:

Tự tánh thân

Thụ dụng thân

Biến hóa thân
Tự thụ dụng thân
Tha thụ dụng thân
Thắng ứng thân
Liệt ứng thân Pháp thân
Báo thân

Ứng thân

Với trong Ứng thân, phân biệt ra ứng và hóa:

Pháp thân
Ứng thân
Hóa thân
Tự tánh thân
Tự thụ dụng thân
Tha thụ dụng thân
Biến hóa thân

  1. Mười thân: 1-Bồ-đề thân hoặc rằng chánh giác pháp: thị hiện ra cái thân Phật tám tướng thành đạo chánh giác. Lại rằng vô trước Phật, vì an trụ nơi thế gian mà chẳng đắm nơi Niết-bàn; vì thành chánh giác mà chẳng đắm nơi sanh tử. Tỏ ra cái đạo vô trước mà thành chánh giác, nên nói vô trước, cùng đồng ý nghĩa với chánh giác Phật. 2-Nguyện thân, cũng rằng nguyện Phật, là thân Phật nguyện sanh ở cung trời Đâu-suất-đà. 3-Hóa thân, tức hóa Phật, Niết-bàn Phật, là hóa thân sanh ở nơi cung vua, mà hễ hóa tất tỏ ra có diệt, nên nói là Niết-bàn Phật. 4-Trụ trì thân, tức trụ trì Phật, là cái thân sau khi diệt rồi chỉ tự thân xá-lợi mà trụ trì Phật pháp. 5-Tướng hảo trang nghiêm thân, tức nghiệp báo Phật, là lấy vô biên tướng hảo để trang nghiêm thân Phật, thế là công đức đền trả vạn hạnh nghiệp nhân, nên nói là nghiệp báo Phật. 6-Thế lực thân, tức là tâm Phật, là lấy cái từ tâm của Phật, để thâu phục tất cả, nên nói là thế lực, cũng rằng tâm Phật. 7- Như ý thân (tân dịch là ý sanh thân), tức là như ý Phật, đối với các Bồ-tát trước Thập địa và giữa Thập địa, mà hiện sanh ra thân Phật như ý. 8-Phước đức thân, tức tam-muội Phật, là thân thường ở nơi tam-muội. Tam-muội là phước rất tột, nên nói phước đức. 9-Trí thân, tức tánh Phật là cả 4 trí, như đại viên cảnh trí… thì là tánh đức sẵn có nên nói tánh Phật. 10-Pháp thân, tức pháp giới Phật là cái bổn tánh sẵn rõ của trí thân, phối hiệp với ba thân của thông thường đã nói thì từ Bồ-đề thân đến trụ trì thân, cả bốn thân ấy là “Ứng thân”, từ tướng hảo thân đến trí thân, cả năm thân ấy là “Báo thân”, cái pháp thân rốt sau đó, tức là “pháp thân”. Mười thân đây, ấy là đối với mười thân nơi cảnh “giải’ mà gọi là mười thân, nơi cảnh “hành”, do vì làm nơi “hành” có thể cảm được Phật thân.
  2. Tầm từ: tức Tầm tâm sở và Từ tâm sở. Tầm tâm sở: cái tâm sở tìm kiếm; Từ tâm sở: cái tâm sở dòm rình. Giả như khi ta bị mất một vật gì, cái tâm vội kíp đi tầm nghĩ tìm kiếm, đấy tức là cái tác dụng của Tầm tâm sở. Từ tâm sở: Giả như tầm kiếm chưa đặng, lại cố tâm để ý đi dòm xét, đấy tức là cái tác dụng của Từ tâm sở. Hai cái tâm sở tầm và từ, thể nó tương tợ nhau, bất quá là thô với tế có hơi phân biệt thôi.
  3. Hai chướng: Một, phiền não chướng; hai, trí chướng (Tân dịch: phiền não chướng, sở tri chướng). Các điều mê hoặc là tham, sân, si… đều có hai tác dụng: 1-Phát nghiệp nhuận sanh ràng buộc chúng sanh, khiến lẩn quẩn nơi đường sanh tử giữa ngũ thú của Tam giới. Do đó mà làm chướng ngại cái lý tịch tịnh Niết-bàn, nên gọi là Phiền não chướng, vì nó làm lay động khổ não trong thân tâm của chúng sanh, nên tên là phiền não, bởi phiền não nó hay làm chướng ngại Niết-bàn, nên tên là chướng. 2-Tất cả các điều mê hoặc là tham, sân, si, mạn… nó làm cho chúng sanh bị ngu si mê ám, chẳng thể hiểu rõ được sự tướng của các pháp và thực tánh (chân như), bởi vì cái dụng của nó hay làm chướng cái Bồ-đề diệu trí có thể khả dùng rõ biết sự tướng thực tánh. Tên là ngu si mê ám chướng ngại cái diệu trí, nên gọi là trí chướng, cũng gọi là tri chướng, làm chướng nga”i cảnh sở tri mà chẳng cho hiện ra, nên rằng Sở tri chướng, làm chướng ngại cái trí năng tri mà chẳng sanh ra, nên rằng trí chướng. Cái sở tri chướng đây do pháp chấp mà sanh. Hai chướng đây: một thể mà hai dụng, với cái dụng của sự vật mà, mê nơi bên sự hòa hiệp thì, tên là phiền não chướng; với cái thể của sự vật mà, mê nơi bên lý như huyễn thì tên là sở tri chướng.

Mười triền: Có mười món vọng hoặc, nó triền phược chúng sanh, chẳng cho ra khỏi sanh tử, không cho chứng quả Niết-bàn nên gọi là Thập triền: 1-Vô tàm. 2-Vô quí. 3-Tật. 4-San. 5-Hối. 6- Thụy miên. 7-Trạo cử. 8-Hôn trầm. 9-Sân phẫn. 10-Phú.

  1. Sanh không Pháp không: Tức sanh pháp nhị sanh quán, hoặc sanh không quán, pháp không quán, chính cái đạo quán của Đại thừa Bồ-tát. Nghĩa là quán xét nhân vẫn không và pháp vẫn không, để đoạn trừ cái ngã chấp và pháp chấp mà chứng cái ngã không chân như và pháp không chân như. Người tu hành bên Tiểu thừa, chỉ tu sanh không quán (ngã không, nhân không), chứ chẳng tu pháp không quán, nên chẳng thể đoạn được cái bệnh pháp chấp, thấy trong Bách Pháp Vấn Đáp Sao cuốn 7.
  2. Dị thục thức có 3 nghĩa: Cựu dịch là quả báo; tân dịch là dị thục. Y nơi thiện ác của đời quá khứ mà đắc lấy cái tên chung là quả báo. Nghĩa là quả khác (dị) với tánh chất của nhân mà thành thục. Như thiện nghiệp chiêu cảm lấy lạc quả, ác nghiệp chiêu cảm lấy khổ quả, là lạc quả phi thiện tánh mà là vô ký tánh (phi thiện phi ác rằng vô ký), đối với nghiệp của thiện tánh, có thể nói là dị loại (thiện tánh với vô ký tánh khác loại), khổ quả đối với ác nghiệp, khổ quả phi ác tánh mà là vô ký tánh, là cũng nhân cùng quả tánh chất khác nhau (khổ quả lạc quả đều là vô ký tánh). Nhân tên rằng dị thục quả. Lại, nhân với quả nghĩa nó ắt cách đời với cái thời khác mà thục. Luận Cu Xá cuốn 6 nói: “Khác loại mà thục, là nghĩa dị thục”. Duy Thức Thuật Ký rốt cuốn 2 nói: “Rằng dị thục đó, hoặc dị thời mà thục, hoặc biến dị mà thuc, hoặc dị loại mà thục”. (Đó là 3 nghĩa).
  3. Tương ưng với bốn hoặc: Quảng Hoằng Minh Tập Tự nói: “Say bốn hoặc mà đắm dục trần”, cũng tức tứ phiền não. 1-Ngã si: Tức vô minh, ngu nơi cái tướng của ngã mà mê ám nơi cái lý vô ngã. 2-Ngã kiến: Tức ngã chấp, với cái pháp phi ngã quấy kể là ngã. 3-Ngã mạn: Tức cứ ngạo, trì lấy cái ngã sở chấp, khiến cho cái tâm tự cao lên. 4-Ngã ái: Tức ngã thân, với cái ngã sở chấp sanh niệm đắm dính quá sâu. Bốn phiền não đây là căn bản, nó thường hằng tương ưng với đệ thất thức.
  4. Ngôi tín tâm: Tức thập tín tâm vị. Quán tu cái lý vạn pháp duy thức, lập làm năm vị: 1-Tư lương vị, với trước thập địa, 30 tâm là thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, là ngôi chứa tư lương của Phật đạo. 2-Gia hạnh vị, với sau rốt 30 tâm, sắp vào kiến đạo, mà làm noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhứt pháp. Bốn thiện căn là ngôi phương tiện gia hạnh.

    Sơ a-tăng-kỳ 10 Tín
    10 Trụ
    10 Hạnh
    10 Hồi hướng

    10 Hồi hướng
    4 thiện căn

    Tư lương vị

    Gia hạnh vị

    Gia hạnh vị là ngôi thứ hai trong năm ngôi của Duy Thức tông, với sau 10 hồi hướng, tu bốn pháp tâm từ, đắc ngôi tứ thiện căn là noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất pháp, là vào nơi kiến đạo, chính là thông đạt nơi bờ mé phương tiện gia hạnh với chân lý, nên gọi là gia hạnh vị, tức là gia hạnh đạo trong bốn đạo. 3-Thông đạt vị, với nhập tâm (mỗi địa đều có: nhập, trụ, xuất là 3 tâm) nơi Sơ địa, suốt thấu nơi lý nhị không vô ngã, tức là kiến đạo. 4-Tu tập vị, từ trụ tâm Sơ địa đến xuất tâm thập địa (tức đẳng giác) giữa đó, lặp tu tập diệu quán để trừ các chướng, tức là ngôi tu đạo. 5-Cứu cánh vị, là ngôi đoạn hoặc chướng là đã cứu cánh, tức là vô học đạo, mở ra thì là ba a-tăng-kỳ bốn mươi mốt vị. Tiếp với cái biểu trên.

Nhị a-tăng-kỳ

Tam a-tăng-kỳ

Sơ địa
Nhị địa
Tam địa
Tứ địa
Ngũ địa
Lục địa
Thất địa
Bát địa
Cửu địa
Thập địa

Phật vị
Nhập tâm
Trụ tâm
Xuất tâm

Nhập tâm
Trụ tâm
Xuất tâm
Thông đạt vị

Tu tập vị

Cứu cánh vị

Nhân quả hiệp lại có 41 vị. Đây là với trước ngôi 10 trụ, mở thêm ra ngôi Thập tín tâm thì là 51 vị. Với số 1 thập địa, mới thêm ra ngôi Đẳng giác thì, thành là 52 ngôi Bồ-tát. Pháp tướng tông dùng 41 ngôi; Thiên Thai tông dùng 52 ngôi, là vì chỉ hoặc khai hoặc hiệp mà bất đồng đó thôi. Lại, Tứ tầm tư: Là ngôi tứ thiện căn của Cu-xá tông tiểu thừa, tu 16 pháp quán hành tướng; Thành Thực tông thì tu pháp quán vô thường. Mà Đại thừa pháp tướng tông với ngôi đây tu bốn pháp quán tầm tư, cùng bốn pháp như thực. Tứ tầm tư tức là ngôi đệ nhị gia hạnh trong năm ngôi của pháp tướng. Tứ tầm tư quán ấy, là với ác pháp có bốn món: danh, nghĩa, tự tánh và sai biệt. Danh: là cái danh của sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Nghĩa là y nơi cái danh mà nói ra các cái thể của sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Tự tánh sắc, thụ, tưởng, hành, thức đều tự thể tánh. Sai biệt: là chủng loại sai biệt trong thể. Như sắc thụ của người cùng đồng đẳng với trời. Các pháp cũng bất quá bốn món ấy. Hành giả quán xét bốn pháp ấy, là do nơi nội tâm của tự mình sở biến ra, là những cái pháp như huyễn hư giả, tìm cầu nghĩ xét đấy là giả có mà thực không, nên gọi là tứ tầm tư quán. Lấy cái quán xét tìm ấy làm nhân, mà sanh ra cái trí ấn khả quyết định, không những như thực rõ biết danh nghĩa, tự tánh, sai biệt của sở thủ sở duyên là tự tâm sở biến là giả hữu thực vô, mà còn rõ biết ấn khả cả bốn pháp danh, nghĩa, tự tánh, sai biệt cũng là giả hữu thực vô nữa, nên gọi là trí như thực quán. Song, tứ tầm tư trí như thực đây, chính là pháp quán sở phát. Đến nơi thiên định năng phát mà nói thì. 1-Minh đắc định. 2-Minh tăng định. 3-Ấn thuận định. 4-Vô gián định, mà bốn noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhứt pháp ấy, chính là cái công đức sở đắc.

Tứ gia hạnh: Bên Đại thừa pháp tướng tông, lấy bốn thiện căn: noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhứt pháp là ngôi gia hạnh trong năm ngôi, nên lấy tứ gia hạnh làm cái danh khác tứ thiện căn.

Cu-xá tứ thiện căn: 1-Noãn pháp: Cái niệm tổng tướng trụ rồi, cái niệm sau sở sanh ra thiện căn tên là Noãn pháp. Noãn là cái tướng trước của thánh hỏa, thánh hỏa ví là cái vô lậu trí ngôi kiến đạo. 2-Đảnh pháp: Noãn pháp thực phẩm, niệm sau sở sanh ra cái thiện căn tên là Đảnh pháp,… 3-Nhẫn pháp: Là cái thiện căn sanh hậu niệm của đảnh, tên là Nhẫn pháp… 4-Thế đệ nhất pháp, là cái thiện căn sanh nơi hậu niệm của thượng nhẫn. Cả bốn ấy đều do quán pháp Tứ thánh đế mà đắc Tứ thiện căn.

Thành Thực tông tứ thiện căn: Tông này chẳng bằng Cu-xá tông, có nói riêng quán Tứ thánh đế, vì tông này chỉ lấy pháp quán vô thường, quán sát ngũ uẩn, sanh ra cái Niết-bàn trí tương tợ. Trong đó phân làm bốn phẩm, hạ tên là Noãn pháp, trung tên Đảnh pháp, thượng tên Nhẫn pháp, thượng thượng tên là Thế đệ nhứt pháp.
Pháp tướng tứ thiện căn: Pháp tướng Đại thừa với tiền gia hạnh của chân duy thức quán, y nơi Minh đắc định, Minh tăng định, Ấn thuận định và Vô gián định là bốn định ấy mà phát ra cái quán trí tứ tầm tư, tứ như thực, như thực thứ đệ là noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhứt pháp là Tứ thiện căn.

mid

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.