Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT

Hán dịch: Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hóa giảng giải
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

 

TẬP 19

QUYỂN NĂM MƯƠI BA

PHẨM LÌA THẾ GIAN THỨ BA MƯƠI TÁM PHẦN MỘT

 

Lìa tức là lìa khỏi. Lìa khỏi cái gì? Lìa khỏi thế gian. Thế gian là gì? Thế nghĩa là thiên lưu, gian nghĩa là gian cách. Thế gian tức là thế giới, tức cũng là thời gian với không gian mà được tên. Ba đời là thời gian, mười phương là không gian. Thế gian phân làm ba thế gian:

– Một là hữu tình thế gian (chúng sinh thế gian).

– Hai là khí thế gian (sơn hà đại địa, nhà cửa phòng ốc).

– Ba là trí chánh giác thế gian (giác ngộ pháp thế xuất thế gian, đầy đủ trí huệ của Như Lai).

Cho nên phải lìa hữu tình thế gian và khí thế gian, chứng nhập trí huệ chánh giác thế gian.

Thế gian có đủ thứ sự ăn uống vui chơi, tại sao phải lìa khỏi? Vì thế gian có cái vui của: Tài, sắc, danh, ăn và ngủ, năm dục, khiến cho con người sinh ra đủ thứ phiền não, làm cho con người gặp thọ quả khổ, chẳng đắc được sự giải thoát, cho nên phải lìa khỏi thế gian. Làm thế nào có thể lìa khỏi thế gian? Chỉ có một phương pháp, đó là phát bồ đề tâm, tu bồ đề đạo.

Bồ đề tâm là gì? Nói đơn giản là: “Trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh”, đừng học phát bồ đề tâm của hàng tiểu thừa, chỉ biết trên cầu Phật đạo, chẳng biết dưới độ chúng sinh, cho nên gọi là “tự liễu hán”. Phải học phát bồ đề tâm của người đại thừa, chẳng những trên cầu Phật đạo, mà còn dưới độ chúng sinh. Tóm lại, một mặt cầu chân lý của Phật pháp, một mặt giáo hoá tất  cả chúng sinh, cả hai mặt đồng thời tiến tu trung đạo.

Tu hành thì phải tinh tấn, không giải đãi. Tu hành đến cảnh giới viên mãn, thì tự nhiên đắc được giải thoát, sẽ thoát khỏi ba cõi, chấm dứt sinh tử. Phẩm nầy là phẩm thứ ba mươi tám, nên gọi là Phẩm Lìa Thế Gian thứ ba mươi tám.

Phẩm kinh văn nầy, vẫn nói ở tại Điện Phổ Quang Minh. Bồ Tát Phổ Hiền vẫn là chủ thuyết pháp. Trong pháp hội Hoa Nghiêm, có vị đại Bồ Tát Phổ Huệ, Ngài đại biểu đại chúng trong pháp hội hướng về đại Bồ Tát Phổ Hiền, đưa ra hai trăm câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Tín có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Trụ có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Hạnh có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh thập Hồi Hướng có hai mươi chín câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Địa có năm mươi câu hỏi, liên quan đến nhân tròn quả đầy có năm mươi mốt câu hỏi (Ba mươi hai câu hỏi trước là nhân tròn rốt ráo – bậc Đẳng Giác Bồ Tát, mười chín câu hỏi sau là quả dụng viên mãn – bậc Diệu Giác Bồ Tát). Lúc đó, đại Bồ Tát Phổ Hiền, từ bi tha thiết, hỏi một đáp mười, trả lời thẳng hai ngàn câu trả lời, khiến cho người nghe cảm giác mát mẻ.

Trong Kinh Hoa Nghiêm nói, Bồ Tát có năm mươi hai bậc, thứ tự đi lên (Sơ phát tâm bèn thành Chánh Giác, đó là riêng ngoài), cuối cùng tu đến bậc Diệu giác Bồ Tát, tức cũng là thành Phật vị. Y chiếu thứ tự tu đầy đủ hạnh Thập tín, sẽ phá được một phần vô minh (Bồ Tát có bốn mươi hai phần vô minh), thì chứng được một phần pháp thân (Bồ Tát có bốn mươi hai phần pháp thân). Khi tu đầy đủ hạnh sơ trụ (phát tâm trụ), lại phá được một phần vô minh, lại chứng được một phần pháp thân. Như vậy, trải qua Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, đã phá được bốn mươi mốt phần vô minh, chứng được bốn mươi mốt phần pháp thân, đến bậc Đẳng giác Bồ Tát. Nếu phá sạch một phần sinh tướng vô minh cuối cùng, thì sẽ đến bậc Diệu giác Bồ Tát – Thành Phật.

Sau đây là năm mươi hai bậc:

Thập tín:

1. Tín tâm.
2. Niệm tâm.
3. Tinh tấn tâm.
4. Huệ tâm.
5. Định tâm.
6. Bất thối tâm.
7. Hộ pháp tâm.
8. Hồi hướng tâm.
9. Giới tâm.
10. Nguyện tâm.

Thập trụ:

1. Phát tâm trụ.
2. Trị địa trụ.
3. Tu hành trụ.
4. Sinh quý trụ.
5. Phương tiện cụ túc trụ.
6. Chánh tâm trụ.
7. Bất thối trụ.
8. Đồng chân trụ.
9. Pháp vương tử trụ.
10. Quán đảnh trụ.

Thập hạnh:

1. Hoan hỉ hạnh.
2. Nhiêu ích hạnh.
3. Vô vi nghịch hạnh.
4. Vô khuất nạo hạnh.
5. Ly si loạn hạnh.
6. Thiện hiện hạnh.
7. Vô trước hạnh.
8. Nan đắc hạnh.
9. Thiện pháp hạnh.
10. Chân thật hạnh.

Thập hồi hướng:

1. Cứu hộ chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng.
2. Bất hoại hồi hướng.
3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.
4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng.
5. Vô tận công đức tạng hồi hướng.
6. Tuỳ thuận kiến cố nhất thiết thiện căn hồi hướng.
7. Đẳng tuỳ thuận nhất thiết chúng sinh hồi hướng.
8. Chân như tướng hồi hướng.
9. Vô phược giải thoát hồi hướng.
10. Pháp giới vô tận hồi hướng.

Thập địa:

1. Hoan hỉ địa.
2. Ly cấu địa.
3. Phát quang địa.
4. Diệm huệ địa.
5. Nan thắng địa.
6. Hiện tiền địa.
7. Viễn hành địa.
8. Bất động địa.
9. Thiện huệ địa.
10. Pháp vân địa.

Bậc Đẳng giác: Tự giác giác tha đã viên mãn, chỉ thiếu giác hạnh chưa viên mãn. Giác ngộ gần đồng với Phật.

Bậc Diệu giác: Ba giác đã viên mãn, vạn đức đã đầy đủ, tức là quả vị Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở tại nước Ma Kiệt Đề, trong A Lan Nhã Pháp Bồ Đề Tràng, Điện Phổ Quang Minh, ngồi trên toà sư tử Liên Hoa Tạng.

Sau khi đại Bồ Tát Phổ Hiền nói xong ba mươi bảy phẩm rồi, thì lúc đó, Đức Phật Thích Ca ở tại nước Ma Kiệt Đề, ở trong A Lan Nhã (nơi vắng lặng) Pháp Bồ Đề Tràng, Điện Phổ Quang Minh, ngồi kiết già trên toà sư tử Liên Hoa Tạng. Hội nầy Phật chẳng phóng quang minh, tại sao vậy? Vì trở lại điện Phổ Quang Minh nói pháp.

Diệu ngộ đều tròn đầy, hai hạnh dứt hẳn, đạt được pháp vô tướng. Trụ chỗ trụ của Phật, đắc được bình đẳng của Phật. Đến được nơi vô ngại, pháp không thể chuyển, sở hành vô ngại. Lập không nghĩ bàn, thấy khắp ba đời, thân luôn đầy khắp tất cả cõi nước. Trí luôn sáng suốt thông đạt tất cả các pháp, thấu rõ tất cả hạnh, hết tất cả nghi hoặc, thân không thể dò được. Trí đồng với chỗ cầu của tất cả Bồ Tát, đến được bờ bên kia rốt ráo không hai của Phật. Đầy đủ giải thoát bình đẳng của Như Lai, chứng được bậc bình đẳng của Phật không hai bên, tận pháp giới, đồng cõi hư không.

Diệu ngộ đều tròn đầy: Tức là chẳng có gì mà không ngộ, chẳng có gì mà không giác, đến được cảnh giới giác hạnh viên mãn. Hai hạnh dứt hẳn: Tức là kiến hạnh và ái hạnh, kiến ái hai hạnh vĩnh viễn dứt hẳn. Đạt được pháp vô tướng: Đã đạt được pháp vô tướng. Trụ chỗ trụ của Phật: Trụ ở chỗ trụ của Phật. Đắc được bình đẳng của Phật: Chứng được cảnh giới bình đẳng của Phật. Đến được nơi vô ngại: Đã đến được nơi chẳng còn chướng ngại. Pháp không thể chuyển: Bất cứ như thế nào, cũng không thối chuyển pháp nầy. Sở hành vô ngại: Những gì làm đều không có sự chướng ngại. Lập không nghĩ bàn: Thành lập cảnh giới không thể nghĩ bàn. Thấy khắp ba đời: Thấy khắp hết ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thân luôn đầy khắp tất cả cõi nước: Pháp thân đầy khắp tất cả mọi nơi, cho nên đầy khắp tất cả mười phương cõi nước. Trí luôn sáng suốt thông đạt tất cả các pháp: Trí huệ thấu rõ thông đạt tất cả các pháp, đều là thật tướng mà vô tướng. Thấu rõ tất cả hạnh: Đã đến được cảnh giới vô tu vô chứng. Hết tất cả nghi hoặc: Chẳng còn sự nghi hoặc nữa. Thân không thể dò được: Cảnh giới đó, bất cứ ai cũng không thể dò được. Trí đồng với chỗ cầu của tất cả Bồ Tát: Trí huệ mà mười phương hết thảy tất cả Bồ Tát đều cầu. Đến được bờ bên kia rốt ráo không hai của Phật: Đã đến được bờ Niết Bàn bên kia rốt ráo giống như Phật. Đầy đủ giải thoát bình đẳng của Như Lai: Tu hành viên mãn đầy đủ giải thoát bình đẳng của Phật. Chứng được bậc bình đẳng của Phật không hai bên: Chứng được bậc bình đẳng của Phật, chẳng có hai bên, chỉ có trung đạo. Tận pháp giới: Tận cùng pháp giới. Đồng cõi hư không: Thân đồng với cõi hư không. Do đó có câu: “Tận hư không khắp pháp giới”.

Cùng với các đại Bồ Tát nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật tụ lại, đều còn một đời nữa sẽ chứng được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Các vị Bồ Tát đó, đều từ đủ thứ cõi nước phương khác, cùng đến tụ tập, đều đầy đủ trí huệ phương tiện của Bồ Tát.

Cùng với các đại Bồ Tát nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật tụ lại, đều còn một đời nữa sẽ chứng được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Các vị Bồ Tát đó, đều từ đủ thứ cõi nước phương khác, cùng đến thế giới Ta Bà tụ tập tại điện Phổ Quang Minh, các Ngài thảy đều đầy đủ trí huệ phương tiện của Bồ Tát.

Đó là: Khéo hay quán sát tất cả chúng sinh, dùng sức phương tiện, khiến cho họ điều phục, trụ pháp Bồ Tát. Khéo hay quán sát tất cả thế giới, dùng sức phương tiện, đều đi đến khắp. Khéo hay quán sát cảnh giới Niết Bàn, tư duy suy lường, lìa hẳn tất cả hí luận phân biệt, mà tu diệu hạnh, không có gián đoạn. Khéo hay nhiếp thọ tất cả chúng sinh. Khéo vào vô lượng các pháp phương tiện. Biết các chúng sinh không chẳng chỗ có, mà chẳng hoại nghiệp quả. Khéo biết tâm sử thiện căn, cảnh giới phương tiện, đủ thứ khác biệt của chúng sinh. Đều được thọ trì Phật pháp ba đời, tự được giải thoát, lại vì người khác nói. Nơi thế gian, xuất thế gian vô lượng các pháp, đều khéo an trụ, biết rõ chân thật. Nơi tất cả các pháp hữu vi vô vi, đều khéo quán sát, biết chẳng có hai.

Đó là: Những vị Bồ Tát đó, đều khéo hay quán sát căn tánh của tất cả chúng sinh, dùng sức phương tiện, khiến cho họ đều được điều phục, trụ pháp của Bồ Tát tu. Lại khéo hay quán sát tất cả thế giới, dùng sức phương tiện, đều đi đến khắp tất cả thế gian. Lại khéo hay quán sát cảnh giới Niết Bàn, tư duy suy lường, lìa hẳn tất cả hí luận và tâm phân biệt, chuyên tu diệu hạnh của Bồ Tát, không có khi nào gián đoạn. Lại khéo hay nhiếp thọ tất cả chúng sinh. Lại khéo vào vô lượng các pháp phương tiện. Lại biết các chúng sinh, không chẳng chỗ có, tuy không chẳng chỗ có, mà có thể tạo nghiệp quả, vẫn tồn tại, không hoại nghiệp quả. Lại khéo biết tâm sử (tham, sân, si, mạn, nghi, thân, biên, giới, kiến, tà) của tất cả chúng sinh, và tất cả căn lành (mắt tai mũi lưỡi thân ý), cảnh giới và phương tiện, có đủ thứ sự khác biệt. Hoàn toàn thọ trì được pháp của chư Phật ba đời nói, tự mình đắc được giải thoát rồi, lại vì người khác nói. Đối với thế gian xuất thế gian vô lượng các pháp, đều khéo an trụ, đều biết rõ chân thật. Đối với tất cả các pháp hữu vi vô vi, đều khéo quán sát rốt ráo, biết pháp vốn chẳng có gì phân biệt.

Ở trong một niệm, đều đắc được hết thảy trí huệ của chư Phật ba đời. Ở trong niệm niệm, đều thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm thành đạo. Chỗ tâm phan duyên của tất cả chúng sinh, đều biết cảnh giới của tất cả chúng sinh. Tuy vào bậc nhất thiết trí của Như Lai, mà chẳng xả bỏ hạnh Bồ Tát. Các chỗ tạo nghiệp, trí huệ phương tiện mà không chỗ làm. Vì mỗi mỗi chúng sinh, trụ vô lượng kiếp, mà ở trong A tăng kỳ kiếp khó gặp được. Chuyển bánh xe pháp, điều phục chúng sinh, đều không luống qua. Hạnh nguyện thanh tịnh của chư Phật ba đời, đều đã đầy đủ, thành tựu vô lượng công đức như vậy, dù tất cả Như Lai ở trong vô biên kiếp, cũng không thể nói hết được.

Ở trong một niệm, đều đắc được hết thảy trí huệ của chư Phật ba đời. Ở trong niệm niệm, đều có thể thị hiện thành Phật, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo, chứng được quả vị Phật. Đối với chỗ tâm phan duyên của tất cả chúng sinh, tức cũng là việc nghĩ đến, đều biết cảnh giới của tất cả chúng sinh. Tuy chứng nhập được bậc nhất thiết trí của Như Lai, nhưng chẳng xả bỏ hạnh và tất cả nghiệp của Bồ Tát tu. Trí huệ phương tiện, nhưng không chỗ làm, tức là làm không chỗ làm. Vì mỗi chúng sinh, trụ ở trong vô lượng kiếp, mà ở trong A tăng kỳ kiếp khó gặp được bậc thiện tri thức. Chuyển bánh xe pháp, điều phục tất cả chúng sinh, đều không luống qua. Hạnh nguyện thanh tịnh của chư Phật ba đời, đều đã đầy đủ viên mãn, thành tựu vô lượng vô biên công đức như vậy, dù tất cả Như Lai ở trong vô biên kiếp, cũng không thể nói hết được.

Danh hiệu của các Ngài là: Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ Tát Phổ Nhãn. Bồ Tát Phổ Hoá. Bồ Tát Phổ Huệ. Bồ Tát Phổ Kiến. Bồ Tát Phổ Quang. Bồ Tát Phổ Quán. Bồ Tát Phổ Chiếu. Bồ Tát Phổ Tràng. Bồ Tát Phổ Giác. Có các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật như vậy, đều đã thành tựu hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm đại nguyện đều đã viên mãn. 

Chỗ tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, thảy đều đi đến, thỉnh chuyển bánh xe pháp. Khéo hay thọ trì pháp nhãn của chư Phật, chẳng dứt giống tánh của tất cả chư Phật. Khéo biết tất cả chư Phật ra đời, thọ ký thứ tự, danh hiệu cõi nước, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển bánh xe pháp. Thế giới không có Phật, thì hiện thân thành Phật. Hay khiến cho tất cả chúng sinh tạp nhiễm, đều được thanh tịnh. Diệt được nghiệp chướng của tất cả Bồ Tát, vào pháp giới thanh tịnh vô ngại.

Danh hiệu của những vị đại Bồ Tát đó là: Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ Tát Phổ Nhãn. Bồ Tát Phổ Hoá. Bồ Tát Phổ Huệ. Bồ Tát Phổ Kiến. Bồ Tát Phổ Quang. Bồ Tát Phổ Quán. Bồ Tát Phổ Chiếu. Bồ Tát Phổ Tràng. Bồ Tát Phổ Giác. Đưa ra danh hiệu của mười vị đại Bồ Tát, mười là ý nghĩa đại biểu vô tận. Cảnh giới nói trong Kinh Hoa Nghiêm là trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Những vị đại Bồ Tát như vậy, nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha cõi Phật, đều đã thành tựu đại hạnh đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền tu, thâm tâm đại nguyện, đều đã tu đến trình độ viên mãn. Phàm là chỗ nào có chư Phật xuất hiện ra đời, các Ngài thảy đều đi đến đạo tràng của Phật, để thỉnh chuyển bánh xe pháp. Khéo hay thọ trì pháp nhãn của chư Phật nói, chẳng dứt giống tánh của tất cả chư Phật, có thể tục Phật huệ mạng. Khéo biết tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, Phật thọ ký cho Bồ Tát nào, vị Bồ Tát nào được thọ ký trước, vị Bồ Tát nào thọ ký sau. Danh hiệu thành Phật và tên cõi nước, thành Đẳng Chánh Giác rồi, chuyển bánh xe pháp, giáo hoá chúng sinh. Thế giới không có Phật, thì hiện thân thành Phật. Hay khiến cho tất cả chúng sinh tạp nhiễm, đều được thanh tịnh. Diệt hết sạch nghiệp chướng của tất cả Bồ Tát, vào được pháp giới thanh tịnh vô ngại.

Bấy giờ, đại Bồ Tát Phổ Hiền, vào tam muội rộng lớn, tên là Phật hoa trang nghiêm.

Lúc đó, đại Bồ Tát Phổ Hiền, vào tam muội rộng lớn, tên là tam muội Phật hoa trang nghiêm.

Khi vào tam muội đó, thì mười phương hết thảy tất cả thế giới, đều có sáu thứ mười tám tướng chấn động, vang ra âm thanh lớn, chẳng có chỗ nào mà không nghe. Sau đó, từ trong tam muội đó mà xuất định.

Khi đại Bồ Tát Phổ Hiền vào tam muội đó, thì mười phương hết thảy tất cả thế giới, đều có sáu thứ mười tám tướng chấn động. Sáu thứ tức là động, dũng, khởi (thuộc về hình tướng), chấn, hống, kích (thuộc về âm thanh). Mười tám tướng tức là mỗi thứ có ba tướng, ba lần sáu là mười tám tướng, vang ra âm thanh lớn, chẳng có chỗ nào mà không nghe. Sau đó, đại Bồ Tát Phổ Hiền từ trong tam muội Phật hoa trang nghiêm mà xuất định.

Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Huệ biết đại chúng đã vân tập, bèn hỏi Bồ Tát Phổ Hiền rằng: Phật tử! Xin hãy diễn nói.

Lúc đó, đại Bồ Tát Phổ Huệ biết đại chúng Bồ Tát trong mười phương thế giới đã vân tập tại điện Phổ Quang Minh, bèn hỏi đại Bồ Tát Phổ Hiền rằng: “Phật tử! Xin Ngài hãy vì chúng tôi diễn nói những pháp nầy. Như đưa ra hai trăm câu hỏi dưới đây, mỗi câu hỏi đều nên biết, nên học tập theo”.

1. HỎI VỀ PHÁP THẬP TÍN

Thế nào là chỗ nương tựa của đại Bồ Tát? Thế nào là nghĩ kỳ đặc? Thế nào là hạnh? Thế nào là thiện tri thức? Thế nào là siêng tinh tấn? Thế nào là tâm được an ổn? Thế nào là thành tựu chúng sinh? Thế nào là giới? Thế nào là tự biết thọ ký? Thế nào là vào Bồ Tát? Thế nào là vào Như Lai? Thế nào là vào tâm hạnh chúng sinh? Thế nào là vào thế giới? Thế nào là vào kiếp? Thế nào là nói ba đời? Thế nào là biết ba đời? Thế nào là phát tâm không nhàm mỏi? Thế nào là trí khác biệt? Thế nào là Đà la ni? Thế nào là diễn nói Phật ?

1. Thế nào là chỗ nương tựa của đại Bồ Tát?
2. Thế nào là nghĩ kỳ đặc?
3. Thế nào là hạnh của Bồ Tát tu?
4. Thế nào là thiện tri thức của Bồ Tát?
5. Thế nào là siêng tinh tấn?
6. Thế nào là tâm được an ổn?
7. Thế nào là thành tựu chúng sinh?
8. Thế nào là giới của Bồ Tát?
9. Thế nào là tự biết thọ ký?
10. Thế nào là Bồ Tát vào cảnh giới của Bồ Tát vào?
11. Thế nào là Bồ Tát vào cảnh giới của Như Lai vào?
12. Thế nào là Bồ Tát vào tâm hạnh chúng sinh?
13. Thế nào là cảnh giới của Bồ Tát vào thế giới?
14. Thế nào là cảnh giới Bồ Tát vào tất cả kiếp?
15. Thế nào là nói ba đời?
16. Thế nào là biết ba đời?
17. Thế nào là phát tâm không nhàm mỏi?
18. Thế nào là trí khác biệt?
19. Thế nào là Đà la ni?
20. Thế nào là diễn nói Phật pháp?
Những câu hỏi đó, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

2. HỎI VỀ PHÁP THẬP TRỤ

Thế nào là phát tâm của Phổ Hiền? Thế nào hạnh pháp của Phổ Hiền? Tại vì sao mà khởi đại bi? Thế nào là nhân duyên phát bồ đề tâm ? Thế nào khởi tâm tôn trọng đối với thiện tri thức? Thế nào là thanh tịnh ? Thế nào là các Ba la mật ? Thế nào là trí tuỳ giác ? Thế nào là chứng biết ? Thế nào là lực ? Thế nào là bình đẳng ? Thế nào là câu thật nghĩa của Phật pháp ? Thế nào là thuyết pháp ? Thế nào là trì ? Thế nào là biện tài ? Thế nào là tự tại ? Thế nào là tánh không chấp trước ? Thế nào là tâm bình đẳng ? Thế nào là sinh ra trí huệ ? Thế nào là biến hoá ?

1. Thế nào là phát tâm của Bồ Tát Phổ Hiền?
2. Thế nào hạnh pháp của Bồ Tát Phổ Hiền?
3. Tại vì sao mà khởi tâm đại bi?
4. Thế nào là nhân duyên phát bồ đề tâm ?
5. Thế nào khởi tâm tôn trọng đối với thiện tri thức?
6. Thế nào là thanh tịnh ?
7. Thế nào là các Ba la mật ?
8. Thế nào là trí huệ tuỳ theo giác ngộ ?
9. Thế nào là chứng biết ?
10. Thế nào là sức lực ?
11. Thế nào là bình đẳng ?
12. Thế nào là câu chân thật nghĩa của Phật pháp ?
13. Thế nào là thuyết pháp ?
14. Thế nào là thọ trì Phật pháp?
15. Thế nào là biện tài ?
16. Thế nào là tự tại ?
17. Thế nào là tánh không chấp trước ?
18. Thế nào là tâm bình đẳng ?
19. Thế nào là sinh ra trí huệ ?
20. Thế nào là biến hoá ?

Những vấn đề nầy, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

3. HỎI VỀ PHÁP THẬP HẠNH

Thế nào là lực trì ? Thế nào là được vui mừng lớn ? Thế nào là vào sâu Phật pháp ? Thế nào là y chỉ ? Thế nào là phát tâm không sợ hãi ? Thế nào là phát tâm không nghi hoặc ? Thế nào là không nghĩ bàn ? Thế nào là lời khéo léo bí mật ? Thế nào là trí khéo phân biệt ? Thế nào là vào tam muội ? Thế nào là vào khắp ? Thế nào là môn giải thoát ? Thế nào là thần thông ? Thế nào là minh ? Thế nào là giải thoát ? Thế nào là vườn rừng ? Thế nào là cung điện ? Thế nào là sự ưa thích ? Thế nào là trang nghiêm ? Thế nào là phát tâm bất động ? Thế nào là không bỏ tâm sâu lớn ? Thế nào là quán sát ? Thế nào là thuyết pháp ? Thế nào là thanh tịnh ? Thế nào là ấn ? Thế nào là trí quang minh ? Thế nào là vô đẳng trụ ? Thế nào là tâm không hạ liệt ? Thế nào là tâm tăng thượng như núi ? Thế nào là vào trí vô thượng bồ đề như biển ?

1. Thế nào là lực trì ?
2. Thế nào là được vui mừng lớn ?
3. Thế nào là vào sâu Phật pháp ?
4. Thế nào là y chỉ ?
5. Thế nào là phát tâm không sợ hãi ?
6. Thế nào là phát tâm không nghi hoặc ?
7. Thế nào là không nghĩ bàn ?
8. Thế nào là lời khéo léo bí mật ?
9. Thế nào là trí khéo phân biệt ?
10. Thế nào là vào tam muội ?
11. Thế nào là vào khắp ?
12. Thế nào là môn giải thoát ?
13. Thế nào là thần thông ?
14. Thế nào là minh ?
15. Thế nào là giải thoát ?
16. Thế nào là vườn rừng ?
17. Thế nào là cung điện ?
18. Thế nào là sự ưa thích ?
19. Thế nào là trang nghiêm ?
20. Thế nào là phát tâm bất động ?
21. Thế nào là không bỏ tâm sâu lớn ?
22. Thế nào là quán sát ?
23. Thế nào là thuyết pháp ?
24. Thế nào là thanh tịnh ?
25. Thế nào là pháp ấn ?
26. Thế nào là trí quang minh ?
27. Thế nào là vô đẳng trụ ?
28. Thế nào là tâm không hạ liệt ?
29. Thế nào là tâm tăng thượng như núi ?
30. Thế nào là vào trí huệ vô thượng bồ đề như biển ?

Những vấn đề nầy, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

4. HỎI VỀ PHÁP THẬP HỒI HƯỚNG

Thế nào là trụ như thật ? Thế nào là phát tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang ? Thế nào là đại phát khởi ? Thế nào là đại sự rốt ráo ? Thế nào là tin bất hoại ? Thế nào là thọ ký ? Thế nào là hồi hướng căn lành ? Thế nào là được trí huệ ? Thế nào là phát tâm rộng lớn vô biên ? Thế nào là phục tạng ? Thế nào là luật nghi ? Thế nào là tự tại ? Thế nào dụng vô ngại ? Thế nào là chúng sinh dụng vô ngại ? Thế nào là cõi nước dụng vô ngại ? Thế nào là pháp dụng vô ngại ? Thế nào là thân dụng vô ngại ? Thế nào là nguyện dụng vô ngại ? Thế nào là cảnh giới dụng vô ngại ? Thế nào là trí dụng vô ngại ? Thế nào là thần thông dụng vô ngại ? Thế nào là thần lực dụng vô ngại ? Thế nào là lực dụng vô ngại ? Thế nào là du hí ? Thế nào là cảnh giới ? Thế nào là lực ? Thế nào là không sợ hãi ? Thế nào là pháp bất cộng ? Thế nào là nghiệp ? Thế nào là thân ?

1. Thế nào là trụ như thật ?
2. Thế nào là phát tâm thệ nguyện đại thừa như kim cang ?
3. Thế nào là đại phát khởi ?
4. Thế nào là đại sự rốt ráo ?
5. Thế nào là tin bất hoại ?
6. Thế nào là thọ ký ?
7. Thế nào là hồi hướng căn lành ?
8. Thế nào là được trí huệ ?
9. Thế nào là phát tâm rộng lớn vô biên ?
10. Thế nào là phục tạng ?
11. Thế nào là luật nghi ?
12. Thế nào là tự tại ?
13. Thế nào dụng vô ngại ?
14. Thế nào là chúng sinh dụng vô ngại ?
15. Thế nào là cõi nước dụng vô ngại ?
16. Thế nào là pháp dụng vô ngại ?
17. Thế nào là thân dụng vô ngại ?
18. Thế nào là nguyện dụng vô ngại ?
19. Thế nào là cảnh giới dụng vô ngại ?
20. Thế nào là trí dụng vô ngại ?
21. Thế nào là thần thông dụng vô ngại ?
22. Thế nào là thần lực dụng vô ngại ?
23. Thế nào là lực dụng vô ngại ?
24. Thế nào là du hí ?
25. Thế nào là cảnh giới ?
26. Thế nào là thập lực ?
27. Thế nào là bốn không sợ hãi (bốn vô sở uý) ?
28. Thế nào là mười tám pháp bất cộng ?
29. Thế nào là nghiệp chướng ?
30. Thế nào là thân ?

Những vấn đề nầy, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

5. HỎI VỀ PHÁP THẬP ĐỊA

Thế nào là thân nghiệp ? Thế nào là thân ? Thế nào là lời ? Thế nào là tịnh tụ lời nghiệp? Thế nào là được giữ gìn ? Thế nào là thành biện việc lớn ? Thế nào là tâm ? Thế nào là phát tâm ? Thế nào là tâm khắp cùng ? Thế nào là các căn ? Thế nào là tâm thâm sâu ? Thế nào là tâm thâm sâu tăng thượng ? Thế nào là siêng tu ? Thế nào là quyết định giải ? Thế nào là quyết định giải vào thế giới ? Thế nào là quyết định giải vào cõi chúng sinh ? Thế nào là tập khí ? Thế nào là giữ lấy ? Thế nào là tu ? Thế nào là thành tựu Phật pháp ? Thế nào là thối thất đạo Phật pháp ? Thế nào là đạo lìa sinh ? Thế nào là pháp quyết định ? Thế nào là đạo sinh ra Phật pháp ? Thế nào là danh hiệu đại trượng phu ? Thế nào là đạo ? Thế nào là vô lượng đạo ? Thế nào là trợ đạo ? Thế nào là tu đạo ? Thế nào là trang nghiêm đạo ? Thế nào là chân ? Thế nào là tay ? Thế nào là bụng ? Thế nào là tạng ? Thế nào là tim ? Thế nào là mặc giáp ? Thế nào là khí trượng ? Thế nào là đầu ? Thế nào mắt ? Thế nào là tai ? Thế nào là mũi ? Thế nào là lưỡi ? Thế nào là thân ? Thế nào là ý ? Thế nào là đi ? Thế nào là đứng ? Thế nào là ngồi ? Thế nào là nằm ? Thế nào là chỗ ở ? Thế nào là chỗ đi ?

1. Thế nào là thân nghiệp ?
2. Thế nào là thân ?
3. Thế nào là lời ?
4. Thế nào là tịnh tụ lời nghiệp?
5. Thế nào là được giữ gìn ?
6. Thế nào là thành biện việc lớn ?
7. Thế nào là tâm ?
8. Thế nào là phát tâm ?
9. Thế nào là tâm khắp cùng ?
10. Thế nào là các căn ?
11. Thế nào là tâm thâm sâu ?
12. Thế nào là tâm thâm sâu tăng thượng ?
13. Thế nào là siêng tu ?
14. Thế nào là quyết định giải ?
15. Thế nào là quyết định giải vào thế giới ?
16. Thế nào là quyết định giải vào cõi chúng sinh ?
17. Thế nào là tập khí ?
18. Thế nào là giữ lấy ?
19. Thế nào là tu ?
20. Thế nào là thành tựu Phật pháp ?
21. Thế nào là thối thất đạo Phật pháp ?
22. Thế nào là đạo lìa sinh ?
23. Thế nào là pháp quyết định ?
24. Thế nào là đạo sinh ra Phật pháp ?
25. Thế nào là danh hiệu đại trượng phu ?
26. Thế nào là đạo ?
27. Thế nào là vô lượng đạo ?
28. Thế nào là trợ đạo ?
29. Thế nào là tu đạo ?
30. Thế nào là trang nghiêm đạo ?
31. Thế nào là chân ?
32. Thế nào là tay ?
33. Thế nào là bụng ?
34. Thế nào là tạng ?
35. Thế nào là tim ?
36. Thế nào là mặc giáp ?
37. Thế nào là khí trượng ?
38. Thế nào là đầu ?
39. Thế nào mắt ?
40. Thế nào là tai ?
41. Thế nào là mũi ?
42. Thế nào là lưỡi ?
43. Thế nào là thân ?
44. Thế nào là ý ?
45. Thế nào là đi ?
46. Thế nào là đứng ?
47. Thế nào là ngồi ?
48. Thế nào là nằm ?
49. Thế nào là chỗ ở ?
50. Thế nào là chỗ đi ?

Những vấn đề nầy, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

6. HỎI VỀ PHÁP ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ
(BẬC ĐẲNG GIÁC)

Thế nào là quán sát ?   Thế nào là quán sát khắp ? Thế nào là phấn tấn ? Thế nào là sư tử hống ? Thế nào là thí thanh tịnh ? Thế nào là giới thanh tịnh ? Thế nào là nhẫn thanh tịnh ? Thế nào là tinh tấn thanh tịnh ? Thế nào là định thanh tịnh ? Thế nào là huệ thanh tịnh ? Thế nào là từ thanh tịnh ? Thế nào là bi thanh tịnh ? Thế nào là hỉ thanh tịnh ? Thế nào là xả thanh tịnh ? Thế nào là nghĩa ? Thế nào là pháp ? Thế nào là đủ phước đức trợ đạo ? Thế nào là đủ trí huệ trợ đạo ? Thế nào là minh túc ? Thế nào là cầu pháp ? Thế nào là thấu rõ pháp ? Thế nào là pháp tu hành ? Thế nào là ma ? Thế nào là ma nghiệp ? Thế nào là xả lìa ma nghiệp ? Thế nào là thấy Phật ? Thế nào là Phật nghiệp ? Thế nào là mạn nghiệp ? Thế nào là trí nghiệp ? Thế nào là chỗ ma nhiếp trì ? Thế nào là chỗ Phật nhiếp trì ? Thế nào là chỗ pháp nhiếp trì ?

1. Thế nào là quán sát ?
2. Thế nào là quán sát khắp ?
3. Thế nào là phấn tấn ?
4. Thế nào là sư tử hống ?
5. Thế nào là thí thanh tịnh ?
6. Thế nào là giới thanh tịnh ?
7. Thế nào là nhẫn thanh tịnh ?
8. Thế nào là tinh tấn thanh tịnh ?
9. Thế nào là định thanh tịnh ?
10. Thế nào là huệ thanh tịnh ?
11. Thế nào là từ thanh tịnh ?
12. Thế nào là bi thanh tịnh ?
13. Thế nào là hỉ thanh tịnh ?
14. Thế nào là xả thanh tịnh ?
15. Thế nào là nghĩa ?
16. Thế nào là pháp ?
17. Thế nào là đủ phước đức trợ đạo ?
18. Thế nào là đủ trí huệ trợ đạo ?
19. Thế nào là minh túc ?
20. Thế nào là cầu pháp ?
21. Thế nào là thấu rõ pháp ?
22. Thế nào là pháp tu hành ?
23. Thế nào là ma ?
24. Thế nào là ma nghiệp ?
25. Thế nào là xả lìa ma nghiệp ?
26. Thế nào là thấy Phật ?
27. Thế nào là Phật nghiệp ?
28. Thế nào là mạn nghiệp ?
29. Thế nào là trí nghiệp ?
30. Thế nào là chỗ ma nhiếp trì ?
31. Thế nào là chỗ Phật nhiếp trì ?
32. Thế nào là chỗ pháp nhiếp trì ?

Những vấn đề nầy, hy vọng Ngài từ bi, xin vì chúng tôi đại chúng mà nói.

7. HỎI VỀ PHÁP QUẢ DỤNG VIÊN MÃN
(BẬC DIỆU GIÁC)

Thế nào là nghiệp làm ở trời Đâu Suất ? Thế nào là cung trời Đâu Suất mất đi ? Thế nào là hiện ở thai ? Thế nào là cõi vi tế ? Thế nào là hiện sơ sinh ? Thế nào là mỉm cười ? Thế nào là thị hiện đi bảy bước ? Thế nào là hiện đồng tử ? Thế nào là hiện nơi nội cung ? Thế nào là hiện xuất gia ? Thế nào là thị hiện khổ hạnh ? Thế nào là đi đến đạo tràng ? Thế nào là ngồi đạo tràng ? Thế nào là ngồi đạo tràng thì hiện tướng kỳ đặc ? Thế nào là thị hiện hàng ma ? Thế nào là thành tựu lực của Như Lai ? Thế nào là chuyển bánh xe pháp ? Thế nào là do chuyển bánh xe pháp được pháp trắng tịnh ? Thế nào là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thị hiện vào Niết Bàn ? 

Lành thay Phật tử ! Những pháp như vậy, xin hãy diễn nói.

1. Thế nào là nghiệp làm ở trời Đâu Suất ?
2. Thế nào là cung trời Đâu Suất mất đi ?
3. Thế nào là hiện ở thai ?
4. Thế nào là cõi vi tế ?
5. Thế nào là hiện sơ sinh ?
6. Thế nào là mỉm cười ?
7. Thế nào là thị hiện đi bảy bước ?
8. Thế nào là hiện đồng tử ?
9. Thế nào là hiện nơi nội cung ?
10. Thế nào là hiện xuất gia ?
11. Thế nào là thị hiện khổ hạnh ?
12. Thế nào là đi đến đạo tràng ?
13. Thế nào là ngồi đạo tràng ?
14. Thế nào là ngồi đạo tràng thì hiện tướng kỳ đặc ?
15. Thế nào là thị hiện hàng ma ?
16. Thế nào là thành tựu lực của Như Lai ?
17. Thế nào là chuyển bánh xe pháp ?
18. Thế nào là do chuyển bánh xe pháp được pháp trắng tịnh ?
19. Thế nào là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thị hiện vào Niết Bàn ?

 Lành thay Phật tử ! Những pháp như vậy, xin hãy vì chúng tôi tất cả Bồ Tát và đại chúng trong pháp hội, mà diễn nói.

1. TRẢ LỜI PHÁP THẬP TÍN

Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền bảo Bồ Tát Phổ Huệ và các Bồ Tát rằng : Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ nương tựa. Những gì là mười ? 

Đó là : Dùng bồ đề tâm để nương tựa, vì luôn chẳng quên mất. Dùng thiện tri thức để nương tựa, vì hoà hợp như một. Dùng căn lành để nương tựa, vì tu tập tăng trưởng. Dùng Ba la mật để nương tựa, vì tu hành đầy đủ. Dùng tất cả pháp để nương tựa, vì rốt ráo thoát khỏi. Dùng đại nguyện để nương tựa, vì tăng trưởng bồ đề. Dùng các hạnh để nương tựa, vì khắp đều thành tựu. Dùng tất cả Bồ Tát để nương tựa, vì đồng một trí huệ. Dùng cúng dường chư Phật để nương tựa, vì tín tâm thanh tịnh. Dùng tất cả Như Lai để nương tựa, vì như cha lành dạy bảo không dứt. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được nơi nương tựa vô thượng đại trí của Như Lai.

Bồ Tát Phổ Huệ thỉnh Bồ Tát Phổ Hiền trả lời nghĩa lý những câu hỏi vừa hỏi ở trên. Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền quán căn cơ chúng sinh, vì người thuyết pháp, bảo Bồ Tát Phổ Huệ và hết thảy các Bồ Tát mà nói ra hai ngàn câu trả lời dưới đây.

Bồ Tát Phổ Hiền gọi một tiếng các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát tuy là đại Bồ Tát, nhưng vẫn phải nương tựa mười thứ pháp môn để tu hành. Những gì là mười ? Đó là :

1. Bồ Tát dùng bồ đề tâm để nương tựa, vì luôn chẳng quên mất bồ đề tâm. Luôn thường nương theo bồ đề tâm để tu hành. Bất cứ lúc nào, cũng không quên mất bồ đề tâm, lúc nào cũng phải phát đại bồ đề tâm.

2. Bồ Tát dùng thiện tri thức để nương tựa. Thế nào gọi là thiện tri thức ? Phàm là người có chánh tri chánh kiến, đều là thiện tri thức. Người có tà tri tà kiến là ác tri thức. Chúng ta người tu đạo, phải nương tựa thiện tri thức, phải xa lìa ác tri thức; thiện tri thức là người có đại trí huệ, không chỉ cho chúng sinh đi con đường sai lầm, nói tóm lại, thiện tri thức tức là người chỉ đường, mình biết rõ con đường đi như thế nào, mới bảo người khác tu hành theo. Nếu mình chẳng tu hành, cứ nói ngoài miệng thôi, nói được mà làm không được, thì làm sao chỉ dạy người khác tu hành, còn mình chẳng chịu tu hành, như vậy cũng chẳng có ích gì. Người tu hành nhất định phải gần gũi bậc thiện tri thức, dùng thiện tri thức để nương tựa. Bồ Tát còn phải nương tựa thiện tri thức, hà huống là phàm phu chúng ta, càng cần thiện tri thức khai thị và chỉ điểm, thì mới có thể tiến tới đại đạo quang minh, bằng không, tu mù luyện đui không thể nào đến cửa được, đi qua con đường nhỏ hẹp quanh quo, lãng phí thời gian một kiếp người, thật là đáng tiếc ! Do đó, nhất định phải nghe thiện tri thức dạy bảo, phải hoà hợp với thiện tri thức như một, giống như nước hoà với sữa, chẳng phân ra được nước hoặc sữa, tức cũng là đồng hoá.

3. Bồ Tát dùng căn lành để nương tựa, gieo trồng tất cả căn lành, tích tập tất cả căn lành, tăng trưởng tất cả căn lành, tài bồi tất cả căn lành. Tóm lại, khiến cho căn lành thành thục.

4. Bồ Tát dùng pháp Ba la mật (đến bờ kia) để nương tựa. Bất cứ làm việc gì, nhất định phải có trước có sau, làm cho được viên mãn, không thể bỏ dở giữa chừng, có trước chẳng có sau, như vậy thì công trước mất hết, càng không thể thấy cái khác thì thay đổi tư tưởng, hôm nay học tham thiền, ngày mai học trì chú, ngày mốt học niệm Phật, không thể luôn luôn thay đổi tông chỉ của mình, phải tu hành đầy đủ pháp Ba la mật.

5. Bồ Tát dùng tất cả pháp để nương tựa, vì đến nơi rốt ráo, tức là thoát khỏi ba cõi.

6. Bồ Tát dùng đại nguyện để nương tựa, hay phát đại nguyện, thì sẽ tăng trưởng bồ đề tâm.

7. Bồ Tát dùng các hạnh để nương tựa, các hạnh tức là lục độ vạn hạnh. Khiến cho các hạnh khắp đều thành tựu.

8. Bồ Tát dùng tất cả Bồ Tát để nương tựa, vì Bồ Tát và trí huệ của Bồ Tát tu đều là một, cho nên nương tựa với nhau.

9. Bồ Tát dùng cúng dường tất cả chư Phật để nương tựa, vì khiến cho tín tâm thanh tịnh, chẳng còn ý niệm hoài nghi.

10. Bồ Tát dùng tất cả Như Lai để nương tựa. Phật tức là cha lành của Bồ Tát, thường thường dạy bảo Bồ Tát, chẳng có khi nào gián đoạn. Đó là mười pháp môn nương tựa của Bồ Tát tu. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đắc được nơi nương tựa vô thượng đại trí huệ của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ nghĩ tưởng kỳ đặc. Những gì là mười ? 

Đó là : Nơi tất cả căn lành sinh nghĩ tưởng căn lành của mình. Nơi tất cả căn lành nghĩ tưởng sinh hạt giống bồ đề. Nơi tất cả chúng sinh nghĩ tưởng bồ đề khí. Nơi tất cả nguyện sinh nghĩ tưởng nguyện của mình. Nơi tất cả pháp sinh nghĩ tưởng thoát khỏi. Nơi tất cả hạnh sinh nghĩ tưởng hạnh của mình. Nơi tất cả pháp sinh nghĩ tưởng Phật pháp. Nơi tất cả lời nói sinh nghĩ tưởng lời nói đạo. Nơi tất cả chư Phật sinh nghĩ tưởng từ phụ. Nơi tất cả Như Lai sinh nghĩ tưởng không hai. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, sẽ đắc được nghĩ tưởng vô thượng khéo léo.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ nghĩ tưởng kỳ đặc chẳng bình thường. Những gì là mười ? Đó là :

1. Đối với tất cả căn lành, sinh nghĩ tưởng căn lành của mình. Tại sao ? Vì mình với chúng sinh là đồng một thể. Chúng sinh có căn lành, thì giống như mình có căn lành; chúng sinh có công đức, tức là mình có công đức, muốn căn lành của người khác làm căn lành của mình. Căn lành thì như thế, lỗi lầm cũng như vậy, người khác có lỗi lầm, cũng giống như mình có lỗi lầm. Công và lỗi giữa mình với người khác đồng một thể, chẳng có sự phân biệt với chúng sinh. Cho nên tất cả căn lành sinh nghĩ tưởng căn lành của mình.

2. Đối với tất cả căn lành nghĩ tưởng sinh hạt giống bồ đề, có căn lành thì có hạt giống bồ đề.

3. Đối với tất cả chúng sinh, nghĩ tưởng bồ đề khí. Tất cả chúng sinh đều là khí chuyên chở đạo, tương lai đều có thể thành Phật.

4. Đối với tất cả nguyện, sinh nghĩ tưởng nguyện của mình. Nguyện chúng sinh phát ra, tức là nguyện của mình phát ra. Mình với chúng sinh không hai không khác, hợp mà làm một.

5. Đối với tất cả pháp, sinh nghĩ tưởng thoát khỏi. Tất cả pháp đều là Phật pháp, đều bất khả đắc. Phải lìa khỏi chấp trước, lìa chấp ta, lìa chấp pháp, thì sinh ra nghĩ tưởng thoát khỏi ba cõi.

6. Đối với tất cả hạnh, sinh nghĩ tưởng hạnh của mình. Chúng sinh tu lục độ vạn hạnh, giống như mình tu không khác.

7. Đối với tất cả pháp, sinh nghĩ tưởng Phật pháp. Tất cả pháp hữu vi và vô vi của thế gian, đều đang nói pháp, giáo hoá chúng sinh. Hữu tình đang nói pháp, vô tình đang nói pháp, vạn sự vạn vật đều đang nói pháp.

8. Đối với tất cả lời nói pháp, sinh nghĩ tưởng lời nói đạo. Vì lời khế lý, mà lý chẳng phải lời, cho nên là lời nói đạo.

9. Đối với tất cả chư Phật, sinh nghĩ tưởng từ phụ, chư Phật dạy bảo, giống như từ phụ dạy dỗ con cái, nên sinh nghĩ tưởng như vậy.

10. Đối với tất cả Như Lai, sinh nghĩ tưởng không hai, đều nghĩ tưởng là một, chẳng có hai.

Đó là mười nghĩ tưởng kỳ đặc. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đắc được nghĩ tưởng vô thượng phương tiện khéo léo.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ hạnh. Những gì là mười ? 

Đó là : Hạnh của tất cả chúng sinh, vì khắp khiến cho thành thục. Hạnh cầu tất cả pháp, vì thảy đều tu học. Hạnh tất cả căn lành, vì đều khiến cho tăng trưởng. Hạnh tất cả tam muội, vì nhất tâm bất loạn. Hạnh nhất thiết trí huệ, vì chẳng có gì mà không biết rõ. Hạnh tu tập tất cả, vì chẳng có gì mà không thể tu. Hạnh tất cả cõi Phật, vì thảy đều trang nghiêm. Hạnh tất cả bạn lành, vì cung kính cúng dường. Hạnh tất cả Như Lai, vì tôn trọng thừa sự. Hạnh tất cả thần thông, vì biến hoá tự tại. Đó là mười hạnh. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được hạnh đại trí huệ vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ hạnh. Những gì là mười ? Đó là :

1. Hạnh của tất cả chúng sinh, vì khắp khiến cho thành thục quả bồ đề.
2. Hạnh cầu tất cả pháp, vì thảy đều tu hành học tập.
3. Hạnh tất cả căn lành, vì đề khiến cho tăng trưởng.
4. Hạnh tất cả tam muội, vì đều đắc được cảnh giới nhất tâm bất loạn.
5. Hạnh nhất thiết trí huệ, vì chẳng có gì mà không biết rõ, biết khắp tất cả.
6. Hạnh tu tập tất cả, vì chẳng có gì mà không thể tu.
7. Hạnh tất cả cõi Phật, vì thảy đều trang nghiêm thanh tịnh.
8. Hạnh tất cả bạn lành, vì cung kính cúng dường.
9. Hạnh tất cả Như Lai, vì tôn trọng thừa sự.
10. Hạnh tất cả thần thông, vì biến hoá tự như, nhậm vận tư tại.

Đó là mười thứ hạnh. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đắc được hạnh đại trí huệ vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười bậc thiện tri thức. Những gì là mười ? 

Đó là : Thiện tri thức khiến trụ bồ đề tâm. Thiện tri thức khiến sinh căn lành. Thiện tri thức khiến thực hành các Ba la mật. Thiện tri thức khiến hiểu nói tất cả các pháp. Thiện tri thức khiến thành thục tất cả chúng sinh. Thiện tri thức khiến đắc được quyết định biện tài. Thiện tri thức khiến chẳng chấp trước tất cả thế gian. Thiện tri thức khiến nơi tất cả kiếp tu hành không nhàm mỏi. Thiện tri thức khiến an trụ hạnh Phổ Hiền. Thiện tri thức khiến vào trí huệ của tất cả chư Phật đã vào. Đó là mười.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười bậc thiện tri thức. Những gì là mười ? Đó là :

1. Thiện tri thức khiến trụ bồ đề tâm.
2. Thiện tri thức khiến sinh căn lành.
3. Thiện tri thức khiến thực hành các Ba la mật.
4. Thiện tri thức khiến hiểu nói tất cả các pháp.
5. Thiện tri thức khiến thành thục tất cả chúng sinh.
6. Thiện tri thức khiến đắc được quyết định biện tài.
7. Thiện tri thức khiến chẳng chấp trước tất cả thế gian.
8. Thiện tri thức khiến nơi tất cả kiếp tu hành không nhàm mỏi.
9. Thiện tri thức khiến an trụ hạnh Phổ Hiền.
10. Thiện tri thức khiến vào trí huệ của tất cả chư Phật đã vào.

Đó là mười bậc thiện tri thức.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ siêng tinh tấn. Những gì là mười ? 

Đó là : Siêng tinh tấn giáo hoá tất cả chúng sinh. Siêng tinh tấn vào sâu tất cả pháp. Siêng tinh tấn nghiêm tịnh tất cả thế giới. Siêng tinh tấn tu hành chỗ học của tất cả Bồ Tát. Siêng tinh tấn diệt trừ tất cả chúng sinh ác. Siêng tinh tấn dừng lại tất cả khổ ba đường ác. Siêng tinh tấn phá tan tất cả chúng ma. Siêng tinh tấn nguyện vì tất cả chúng sinh làm mắt thanh tịnh. Siêng tinh tấn cúng dường tất cả chư Phật. Siêng tinh tấn khiến cho tất cả Như Lai thảy đều hoan hỉ. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được đầy đủ vô thượng tinh tấn Ba la mật của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ siêng tinh tấn. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vì giáo hoá tất cả chúng sinh, nên siêng tinh tấn
2. Vì vào sâu tất cả pháp, nên siêng tinh tấn.
3. Vì nghiêm tịnh tất cả thế giới, nên siêng tinh tấn.
4. Vì tu hành chỗ học của tất cả Bồ Tát, nên siêng tinh tấn.
5. Vì diệt trừ tất cả chúng sinh ác, nên siêng tinh tấn.
6. Vì dừng lại tất cả khổ ba đường ác, nên siêng tinh tấn.
7. Vì phá tan tất cả chúng ma, nên siêng tinh tấn.
8. Nguyện vì tất cả chúng sinh làm mắt thanh tịnh, nên siêng tinh tấn.
9. Vì cúng dường tất cả chư Phật, nên siêng tinh tấn.
10. Vì khiến cho tất cả Như Lai thảy đều hoan hỉ, nên siêng tinh tấn.

Đó là mười thứ tinh tấn. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được đầy đủ vô thượng tinh tấn Ba la mật của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ tâm được an ổn. Những gì là mười ? 

Đó là : Tâm bồ đề tự tại, cũng khiến cho người khác trụ tâm bồ đề, tâm được an ổn. Mình rốt ráo lìa phẫn nộ đấu tranh, cũng khiến người khác lìa phẫn nộ đấu tranh, tâm được an ổn. Mình lìa pháp phàm ngu, cũng khiến người khác lìa pháp phàm ngu, tâm được an ổn. Mình siêng tu căn lành, cũng khiến người khác siêng tu căn lành, tâm được an ổn. Mình trụ đạo Ba la mật, cũng khiến người khác trụ đạo Ba la mật, tâm được an ổn. Mình trụ tại nhà của Phật, cũng khiến người khác trụ tại nhà của Phật, tâm được an ổn. Mình vào sâu pháp chân thật không tự tánh, cũng khiến người khác vào sâu pháp chân thật không tự tánh, tâm được an ổn. Mình chẳng phỉ báng tất cả Phật pháp, cũng khiến người khác chẳng phỉ báng Phật pháp, tâm được an ổn. Mình tròn đầy nhất thiết trí bồ đề nguyện, cũng khiến người khác tròn đầy nhất thiết trí bồ đề nguyện, tâm được an ổn. Mình vào sâu vô tận trí tạng của tất cả Như Lai, cũng khiến người khác vào sâu vô tận trí tạng của tất cả Như Lai, tâm được an ổn. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được vô thượng đại trí an ổn của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ tâm được an ổn. Những gì là mười ? Đó là :

1. Mình trụ tâm bồ đề tự tại, cũng nên khiến cho người khác trụ tâm bồ đề, như vậy tâm mới được an ổn.

2. Mình rốt ráo lìa khỏi cảnh giới phẫn nộ đấu tranh, cũng khiến người khác lìa phẫn nộ tranh luận, như vậy tâm mới được an ổn. Thế nào là phẫn nỗ đấu tranh ? Vì tâm phân biệt quá nhiều, do đó : « Phẫn hận bất bình ». Vốn chẳng có đạo lý để nói, nhưng vẫn nói ra những điều chẳng có lý, do đó có câu : « Cường từ đoạt lý ». Nếu có phẫn nộ đấu tranh, thì tâm chẳng được an ổn.

3. Mình lìa pháp phàm ngu, nên cũng khiến người khác lìa pháp phàm ngu, như vậy tâm mới được an ổn.

4. Mình siêng tu căn lành, cũng khiến người khác siêng tu căn lành, như vậy tâm mới được an ổn.

5. Mình trụ đạo Ba la mật, cũng khiến người khác trụ đạo Ba la mật, như vậy tâm mới được an ổn.

6. Mình trụ tại nhà của Phật, cũng khiến người khác trụ tại nhà của Phật, như vậy tâm mới được an ổn.

7. Mình vào sâu pháp chân thật không tự tánh, cũng khiến người khác vào sâu pháp chân thật không tự tánh, như vậy tâm mới được an ổn.

8. Mình chẳng phỉ báng tất cả Phật pháp, cũng khiến người khác chẳng phỉ báng Phật pháp, như vậy tâm mới được an ổn.

9. Mình tròn đầy nhất thiết trí bồ đề nguyện, cũng khiến người khác tròn đầy nhất thiết trí bồ đề nguyện, như vậy tâm mới được an ổn.

10. Mình vào sâu vô tận trí tạng của tất cả Như Lai, cũng khiến người khác vào sâu vô tận trí tạng của tất cả Như Lai, như vậy tâm mới được an ổn.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đắc được vô thượng đại trí an ổn của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười cách thành tựu chúng sinh. Những gì là mười ? 

Đó là : Dùng sự bố thí để thành tựu chúng sinh. Dùng sắc thân để thành tựu chúng sinh. Dùng thuyết pháp để thành tựu chúng sinh. Dùng sự đồng hành để thành tựu chúng sinh. Dùng không nhiễm trước để thành tựu chúng sinh. Dùng sự khai thị Bồ Tát hạnh để thành tựu chúng sinh. Dùng sự thị hiện tất cả thế giới rõ ràng để thành tựu chúng sinh. Dùng sự thị hiện đại oai đức của Phật pháp để thành tựu chúng sinh. Dùng đủ thứ thần thông biến hiện để thành tựu chúng sinh. Dùng đủ thứ phương tiện thiện xảo vi diệu bí mật để thành tựu chúng sinh. Đó là mười. Bồ Tát dùng những cách nầy để thành tựu cõi chúng sinh.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười cách thành tựu chúng sinh. Những gì là mười ? Đó là :

1. Dùng sự bố thí để thành tựu chúng sinh.
2. Dùng sắc thân để thành tựu chúng sinh.
3. Dùng thuyết pháp để thành tựu chúng sinh.
4. Dùng sự đồng hành để thành tựu chúng sinh.
5. Dùng không nhiễm trước để thành tựu chúng sinh.
6. Dùng sự khai thị Bồ Tát hạnh để thành tựu chúng sinh.
7. Dùng sự thị hiện tất cả thế giới rõ ràng để thành tựu chúng sinh.
8. Dùng sự thị hiện đại oai đức của Phật pháp để thành tựu chúng sinh.
9. Dùng đủ thứ thần thông biến hiện để thành tựu chúng sinh.
10. Dùng đủ thứ phương tiện thiện xảo vi diệu bí mật để thành tựu chúng sinh.
Đó là mười. Bồ Tát dùng những cách nầy để thành tựu cõi chúng sinh.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười loại giới. Những gì là mười ? 

Đó là : Giới chẳng xả bỏ bồ đề tâm. Giới xa lìa bậc nhị thừa. Giới quán sát lợi ích tất cả chúng sinh. Giới khiến cho tất cả chúng sinh trụ vào Phật pháp. Giới tu tất cả chỗ học của Bồ Tát. Giới đối với tất cả pháp vô sở đắc. Giới đem tất cả căn lành hồi hướng bồ đề. Giới chẳng chấp vào tất cả thân Như Lai. Giới tư duy tất cả pháp lìa chấp lấy. Giới các căn luật nghi. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được giới Ba la mật vô thượng rộng lớn của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười loại giới. Những gì là mười ? Đó là :

1. Chẳng xả bỏ bồ đề tâm, mà tu giới luật nầy. Giới tức là « Ngừng làm ác, ngừa lỗi lầm ». Nếu không làm các điều ác, làm các điều thiện, thì mới tăng trưởng căn lành, mới được giải thoát. Giới là khuông phép của sự học Phật, không thể vượt ra ngoài phạm vi, mỗi cử chỉ hành động, phải hợp với pháp tắc của giới luật. Bằng không, thì tu hành vô lượng kiếp, cũng không thể nào thành tựu được. Tại sao ? Vì những gì mình làm, mình tu, đều trái ngược với giới luật. Bất cứ học tập tông phái nào, nhất định đều phải giữ gìn giới luật, ở đâu cũng lấy giới luật làm đầu. Giới luật của tôn giáo là phòng ngừa tâm ý trước khi phạm tội, còn pháp luật của thế gian thì trị thân thể đã phạm tội rồi. Do đó có thể thấy, giới luật hơn pháp luật.

2. Muốn xa lìa bậc nhị thừa Thanh Văn Duyên Giác, mà tu giới luật nầy.
3. Muốn quán sát lợi ích tất cả chúng sinh, mà tu giới luật nầy.
4. Muốn khiến cho tất cả chúng sinh trụ vào Phật pháp, mà tu giới luật nầy.
5. Muốn tu tất cả chỗ học của Bồ Tát, mà tu giới luật nầy.
6. Muốn đối với tất cả pháp vô sở đắc, mà tu giới luật nầy.
7. Muốn đem tất cả căn lành hồi hướng bồ đề, mà tu giới luật nầy.
8. Muốn chẳng chấp vào tất cả thân Như Lai, mà tu giới luật nầy.
9. Muốn tư duy tất cả pháp lìa chấp lấy, mà tu giới luật nầy.
10. Muốn các căn luật nghi, mà tu giới luật nầy.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được giới Ba la mật vô thượng rộng lớn của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp thọ ký. Bồ Tát nhờ đó mà tự biết thọ ký. Những gì là mười ? 

Đó là : Dùng ý thù thắng phát bồ đề tâm tự biết thọ ký. Vĩnh viễn không nhàm bỏ các hạnh Bồ Tát tự biết thọ ký. Trụ tất cả kiếp hành Bồ Tát hạnh tự biết thọ ký. Tu tất cả Phật pháp tự biết thọ ký. Nơi tất cả Phật giáo một lòng hướng về niềm tin sâu xa tự biết thọ ký. Tu tất cả căn lành đều khiến thành tựu tự biết thọ ký. Để tất cả chúng sinh nơi Phật bồ đề tự biết thọ ký. Nơi tất cả thiện tri thức hoà hợp không hai tự biết thọ ký. Nơi tất cả thiện tri thức khởi nghĩ tưởng Như Lai tự biết thọ ký. Luôn siêng giữ gìn bồ đề nguyện xưa tự biết thọ ký. Đó là mười.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp thọ ký. Bồ Tát nhờ nhân duyên đó mà tự biết thọ ký. Những gì là mười ? Đó là :

1. Dùng ý thù thắng, phát bồ đề tâm. Nếu như vậy thì mười phương chư Phật ở trong tĩnh lặng để thọ ký. Tự biết thọ ký.
2. Vĩnh viễn không nhàm bỏ các hạnh Bồ Tát, tự biết thọ ký.
3. Trụ ở trong tất cả kiếp, tu hành Bồ Tát hạnh, tự biết thọ ký.
4. Tu hành tất cả Phật pháp, từ từ dũng mãnh tinh tấn, tự biết thọ ký.
5. Nơi giáo pháp của tất cả chư Phật nói, một lòng hướng về niềm tin sâu xa không có hoài nghi, tự biết thọ ký.
6. Tu hành hết thảy tất cả căn lành, do đó :

« Đừng cho rằng việc lành nhỏ mà không làm,
Đừng cho rằng việc ác nhỏ mà làm ».

Phải biết việc lành to lớn là do việc lành nhỏ tích tụ mà thành, còn việc ác to lớn cũng từ việc ác nhỏ tích tụ mà thành tựu, giống như núi Thái, vẫn do từng hạt bụi từng hạt bụi tích tụ mà thành, giống như biển cả, cũng do từng giọt từng giọt tích tụ mà thành biển. Tu căn lành, đều sẽ thành tựu, tự biết thọ ký.

7. Để tất cả chúng sinh nơi Phật bồ đề, tự biết thọ ký.
8. Nơi tất cả thiện tri thức, gần gũi cúng dường, hoà hợp không hai, tự biết thọ ký.
9. Nơi tất cả thiện tri thức, sinh khởi nghĩ tưởng Như Lai. Cung kính thiện tri thức, tức là cung kính chư Phật, tự biết thọ ký.
10. Luôn luôn siêng năng giữ gìn bồ đề nguyện xưa, không quên mất, tự biết thọ ký.

Đó là mười pháp tự biết thọ ký của Bồ Tát.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào, vào các Bồ Tát. Những gì là mười ? 

Đó là : Vào nguyện xưa. Vào hạnh. Vào tụ. Vào các Ba la mật. Vào thành tựu. Vào nguyện khác biệt. Vào đủ thứ sự hiểu biết. Vào cõi Phật trang nghiêm. Vào thần lực tự tại. Vào thị hiện thọ sinh. Đó là mười. Bồ Tát nhờ vậy mà vào khắp tất cả Bồ Tát ba đời.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào, hay vào cảnh giới của tất cả Bồ Tát. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vào nguyện xưa của Bồ Tát.
2. Vào hạnh xưa của Bồ Tát.
3. Vào căn lành tích tụ của Bồ Tát.
4. Vào các pháp Ba la mật của Bồ Tát tu.
5. Vào công đức thành tựu của Bồ Tát.
6. Vào nguyện khác biệt của Bồ Tát đã phát.
7. Vào đủ thứ sự hiểu biết của Bồ Tát.
8. Vào cõi Phật trang nghiêm của Bồ Tát.
9. Vào thần lực tự tại của Bồ Tát.
10. Vào thị hiện thọ sinh của Bồ Tát.

Đó là mười sự vào của Bồ Tát vào cảnh giới của tất cả Bồ Tát. Bồ Tát nhờ vậy mà vào khắp hết thảy cảnh giới của tất cả Bồ Tát ba đời.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào, vào các Như Lai. Những gì là mười ? 

Đó là : Vào vô biên thành Chánh Giác. Vào vô biên chuyển bánh xe pháp. Vào vô biên pháp phương tiện. Vào vô biên âm thanh khác biệt. Vào vô biên điều phục chúng sinh. Vào vô biên thần lực tự tại. Vào vô biên đủ thứ thân khác biệt. Vào vô biên tam muội. Vào vô biên lực vô sở uý. Vào vô biên thị hiện Niết Bàn. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp tất cả Như Lai ba đời.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào, vào tất cả cảnh giới của Như Lai. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vào cảnh giới vô biên mười phương ba đời tất cả chư Phật thành Chánh Giác.
2. Vào cảnh giới vô biên mười phương chư Phật chuyển bánh xe pháp.
3. Vào vô biên pháp môn phương tiện của mười phương chư Phật đã nói.
4. Vào vô biên âm thanh nói pháp khác biệt của mười phương chư Phật.
5. Vào vô biên pháp môn điều phục chúng sinh của mười phương chư Phật.
6. Vào vô biên pháp môn thần lực tự tại của mười phương chư Phật.
7. Vào vô biên cảnh giới đủ thứ thân khác biệt của mười phương chư Phật.
8. Vào vô biên cảnh giới tam muội của mười phương chư Phật.
9. Vào vô biên cảnh giới thập lực và bốn vô sở uý của mười phương chư Phật.
10. Vào vô biên cảnh giới thị hiện Niết Bàn của mười phương chư Phật.

Đó là mười sự vào của Bồ Tát vào tất cả cảnh giới của Như Lai. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp cảnh giới của tất cả Như Lai ba đời.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào hạnh chúng sinh. Những gì là mười ? 

Đó là : Vào hạnh quá khứ của tất cả chúng sinh. Vào hạnh vị lai của tất cả chúng sinh. Vào hạnh hiện tại của tất cả chúng sinh. Vào hạnh lành của tất cả chúng sinh. Vào hạnh chẳng lành của tất cả chúng sinh. Vào tâm hạnh của tất cả chúng sinh. Vào căn hạnh của tất cả chúng sinh. Vào hạnh giải của tất cả chúng sinh. Vào hạnh phiền não tập khí của tất cả chúng sinh. Vào hạnh giáo hoá điều phục thời phi thời của tất cả chúng sinh. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp tất cả hạnh của các chúng sinh.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào hạnh chúng sinh. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vào hạnh quá khứ của tất cả chúng sinh đã tu.
2. Vào hạnh vị lai của tất cả chúng sinh sẽ tu.
3. Vào hạnh hiện tại của tất cả chúng sinh đang tu.
4. Vào hạnh lành của tất cả chúng sinh tu.
5. Vào hạnh chẳng lành của tất cả chúng sinh tu.
6. Vào tâm hạnh của tất cả chúng sinh.
7. Vào căn hạnh của tất cả chúng sinh.
8. Vào hạnh giải của tất cả chúng sinh.
9. Vào hạnh phiền não và tập khí của tất cả chúng sinh.
10. Vào hạnh giáo hoá điều phục thời và phi thời của tất cả chúng sinh. Tức cũng là không lỗi thời, lúc nào đáng giáo hoá, thì đi giáo hoá; lúc nào đáng điều phục, thì đi điều phục. Chúng sinh thì khó điều khó phục, chẳng dễ gì giáo hoá, Bồ Tát từ bi tha thiết, chẳng sợ mệt mỏi, nhẫn nãi để giáo hoá chúng sinh cang cường. Đó là mười pháp vào hạnh chúng sinh của Bồ Tát. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp tất cả hạnh của tất cả chúng sinh tu.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào thế giới. Những gì là mười ? 
Đó là : Vào thế giới nhiễm. Vào thế giới tịnh. Vào thế giới nhỏ. Vào thế giới lớn. Vào thế giới trong hạt bụi. Vào thế giới vi tế. Vào thế giới úp. Vào thế giới ngửa. Vào thế giới có Phật. Vào thế giới không có Phật. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp mười phương tất cả thế giới.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào thế giới. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vào thế giới nhiễm ô, để độ thoát tất cả chúng sinh nhiễm ô.
2. Vào thế giới thanh tịnh, để giáo hoá tất cả chúng sinh thanh tịnh.
3. Vào thế giới nhỏ, để tiếp dẫn chúng sinh thế giới nhỏ.
4. Vào thế giới lớn, để hồi hướng chúng sinh thế giới lớn.
5. Vào thế giới trong hạt bụi, để độ khắp chúng sinh trong thế giới hạt bụi.
6. Vào thế giới vi tế, để độ khắp chúng sinh thế giới vi tế.
7. Vào thế giới úp, để giáo hoá chúng sinh thế giới úp.
8. Vào thế giới ngửa, để giáo hoá chúng sinh thế giới ngửa.
9. Vào thế giới có Phật, để rộng độ chúng sinh có căn lành.
10. Vào thế giới không có Phật, để rộng độ chúng sinh không có căn lành.

Tóm lại, bất cứ chúng sinh căn tánh gì, đều độ thoát khỏi biển khổ. Đó là mười pháp môn vào thế giới của Bồ Tát. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp mười phương tất cả thế giới, để giáo hoá tất cả chúng sinh.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào kiếp. Những gì là mười ? 

Đó là : Vào kiếp quá khứ. Vào kiếp vị lai. Vào kiếp hiện tại. Vào kiếp có thể đếm. Vào kiếp không thể đếm. Vào kiếp có thể đếm tức kiếp không thể đếm. Vào kiếp không thể đếm tức kiếp có thể đếm. Vào tất cả kiếp tức chẳng phải kiếp. Vào chẳng phải kiếp tức tất cả kiếp. Vào tất cả kiếp tức một niệm. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp tất cả kiếp.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự vào kiếp. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vào tất cả kiếp quá khứ.
2. Vào tất cả kiếp vị lai.
3. Vào tất cả kiếp hiện tại.
4. Vào kiếp có thể đếm.
5. Vào kiếp không thể đếm.
6. Vào kiếp có thể đếm tức kiếp không thể đếm.
7. Vào kiếp không thể đếm tức kiếp có thể đếm.
8. Vào tất cả kiếp tức chẳng phải kiếp.
9. Vào chẳng phải kiếp tức tất cả kiếp.
10. Vào tất cả kiếp tức một niệm. Đây là cảnh giới một tức là nhiều, nhiều tức là một, nhiều một không hai, lớn nhỏ viên dung.

Đó là mười pháp môn vào kiếp. Bồ Tát nhờ đó mà vào khắp tất cả kiếp, độ khắp tất cả chúng sinh.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp nói ba đời. Những gì là mười ? 

Đó là : Đời quá khứ nói đời quá khứ. Đời quá khứ nói đời vị lai. Đời quá khứ nói đời hiện tại. Đời vị lai nói đời quá khứ. Đời vị lai nói đời hiện tại. Đời vị lai nói vô tận. Đời hiện tại nói đời quá khứ. Đời hiện tại nói đời vị lai. Đời hiện tại nói bình đẳng. Đời hiện tại nói ba đời tức một niệm. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà nói khắp ba đời.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ nói ba đời. Những gì là mười ? Đó là :

1. Đời quá khứ lại nói đời quá khứ.
2. Đời quá khứ lại nói đời vị lai.
3. Đời quá khứ lại nói đời hiện tại.
4. Đời vị lai lại nói đời quá khứ.
5. Đời vị lai lại nói đời hiện tại.
6. Đời vị lai lại nói vô tận (vị lai là pháp tiếp tục khởi, nên vị lai vị lai, gọi là vô tận).
7. Đời hiện tại lại nói đời quá khứ.
8. Đời hiện tại lại nói đời vị lai.
9. Đời hiện tại lại nói bình đẳng.
10. Đời hiện tại nói ba đời tức một niệm.

Quá khứ vị lai hiện tại chẳng rời khỏi một tâm niệm hiện tiền. Đó là pháp môn mười thứ nói ba đời của Bồ Tát. Bồ Tát nhờ đó mà nói khắp tất cả nhân duyên ba đời.

Phật tử! Đại Bồ Tát có mười pháp biết ba đời. Những gì là mười ? 

Đó là : Biết các an lập. Biết các ngôn ngữ. Biết các luận nghị. Biết các quỹ tắc. Biết các xưng tán. Biết chế lịnh. Biết kia giả danh. Biết kia vô tận. Biết kia tịch diệt. Biết tất cả không. Đó là mười. Bồ Tát nhờ đó mà biết khắp tất cả các pháp ba đời.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp môn biết ba đời. Những gì là mười ? Đó là :

1. Biết tất cả thế giới an lập.
2. Biết tất cả ngôn ngữ của thế giới.
3. Biết tất cả luận nghị của thế giới.
4. Biết tất cả quỹ tắc của thế giới.
5. Biết tất cả xưng tán của thế giới.
6. Biết tất cả chế lịnh của thế giới.
7. Biết tất cả thế giới là giả danh.
8. Biết tất cả thế giới là vô tận.
9. Biết tất cả thế giới là tịch diệt.
10. Biết tất cả thế giới là không.

Đó là mười pháp biết ba đời của Bồ Tát. Bồ Tát nhờ đó mà biết khắp tất cả các pháp ba đời.

Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không nhàm mỏi. Những gì là mười ? 

Đó là : Cúng dường tất cả chư Phật tâm không nhàm mỏi. Gần gũi tất cả thiện tri thức tâm không nhàm mỏi. Cầu tất cả pháp tâm không nhàm mỏi. Lắng nghe chánh pháp tâm không nhàm mỏi. Tuyên nói chánh pháp tâm không nhàm mỏi. Giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh tâm không nhàm mỏi. Đặc để chúng sinh nơi Phật bồ đề, tâm không nhàm mỏi. Nơi mỗi thế giới, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, hành Bồ Tát hạnh, tâm không nhàm mỏi. Du hành tất cả thế giới tâm không nhàm mỏi. Quán sát tư duy tất cả Phật pháp tâm không nhàm mỏi. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được đại trí vô thượng không nhàm mỏi của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không nhàm mỏi. Những gì là mười ? Đó là :

1. Cúng dường tất cả chư Phật tâm không nhàm mỏi.
2. Gần gũi tất cả thiện tri thức tâm không nhàm mỏi.
3. Cầu tất cả pháp tâm không nhàm mỏi.
4. Lắng nghe chánh pháp tâm không nhàm mỏi.
5. Tuyên nói chánh pháp tâm không nhàm mỏi.
6. Giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh tâm không nhàm mỏi.
7. Đặc để chúng sinh nơi Phật bồ đề, tâm không nhàm mỏi.
8. Nơi mỗi thế giới, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, hành Bồ Tát hạnh, tâm không nhàm mỏi.
9. Du hành tất cả thế giới tâm không nhàm mỏi.
10. Quán sát tư duy tất cả Phật pháp tâm không nhàm mỏi.

Đó là mười thứ tâm không nhàm mỏi của Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được đại trí vô thượng không nhàm mỏi của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ trí khác biệt. Những gì là mười ? 

Đó là : Trí khác biệt biết chúng sinh. Trí khác biệt biết các căn. Trí khác biệt biết nghiệp báo. Trí khác biệt biết thọ sanh. Trí khác biệt biết thế giới. Trí khác biệt biết pháp giới. Trí khác biệt biết chư Phật. Trí khác biệt biết các pháp. Trí khác biệt biết ba đời. Trí khác biệt biết tất cả ngôn ngữ. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được trí khác biệt rộng lớn vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ trí khác biệt. Những gì là mười ? Đó là :

1. Trí khác biệt biết chúng sinh.
2. Trí khác biệt biết các căn.
3. Trí khác biệt biết nghiệp báo.
4. Trí khác biệt biết thọ sanh.
5. Trí khác biệt biết thế giới.
6. Trí khác biệt biết pháp giới.
7. Trí khác biệt biết chư Phật.
8. Trí khác biệt biết các pháp.
9. Trí khác biệt biết ba đời.
10. Trí khác biệt biết tất cả ngôn ngữ.
Đó là mười thứ trí huệ khác biệt của Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được trí khác biệt rộng lớn vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp Đà la ni. Những gì là mười ? 

Đó là : Văn trì đà la ni, vì trì tất cả pháp không quên mất. Tu hành đà la ni, vì khéo quán tất cả pháp như thật. Tư duy đà la ni, vì biết rõ tánh của tất cả các pháp. Pháp quang minh đà la ni, vì chiếu các Phật pháp không nghĩ bàn. Tam muội đà la ni, vì khắp tất cả chỗ Phật hiện tại, lắng nghe chánh pháp tâm không loạn. Viên âm đà la ni, vì hiểu rõ âm thanh ngôn ngữ không nghĩ bàn. Ba đời đà la ni, vì diễn nói các Phật pháp ba đời không nghĩ bàn. Đủ thứ biện tài đà la ni, vì diễn nói vô biên các Phật pháp. Sinh ra tai vô ngại đà la ni, vì bất khả thuyết pháp của Phật nói đều nghe được. Tất cả Phật pháp đà la ni, vì an trụ lực vô sở uý của Như Lai. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát muốn được pháp nầy, thì phải siêng tu học.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp Đà la ni. Những gì là mười ? Đó là :

1. Văn trì đà la ni. Đà la ni dịch là tổng trì. Tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa. Hay nghe tất cả pháp, thọ trì tất cả pháp, thì vĩnh viễn không quên mất.
2. Tu hành đà la ni, khéo quán tất cả pháp như thật.
3. Tư duy đà la ni, biết rõ tánh của tất cả các pháp.
4. Pháp quang minh đà la ni, chiếu các Phật pháp không nghĩ bàn.
5. Tam muội đà la ni, khắp tất cả chỗ Phật hiện tại, lắng nghe chánh pháp tâm không tán loạn.
6. Viên âm đà la ni, hiểu rõ âm thanh và ngôn ngữ không nghĩ bàn.
7. Ba đời đà la ni, diễn nói các Phật pháp ba đời không nghĩ bàn.
8. Đủ thứ biện tài đà la ni, diễn nói vô biên các Phật pháp.
9. Sinh ra tai vô ngại đà la ni, bất khả thuyết pháp của Phật nói đều nghe được.
10. Tất cả Phật pháp đà la ni, an trụ thập lực và bốn vô sở uý của Như Lai.

Đó là mười pháp đà la ni của Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát muốn được pháp nầy, thì phải siêng tu học tất cả Phật pháp.

Phật tử ! Đại Bồ Tát nói mười thứ Phật. Những gì là mười ? Đó là : Phật thành Chánh Giác. Phật nguyện. Phật nghiệp báo. Phật trụ trì. Phật Niết Bàn. Phật pháp giới. Phật tâm. Phật tam muội. Phật bổn tánh. Phật tuỳ lạc. Đó là mười. 

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát nói mười thứ Phật. Những gì là mười ? Đó là :

1. Phật thành Chánh Giác, tức là bồ đề thân.
2. Phật phát nguyện, tức là nguyện thân.
3. Phật nghiệp báo, tức là trang nghiêm thân.
4. Phật trụ trì, tức là lực trì thân.
5. Phật Niết Bàn, tức là hoá thân.
6. Phật pháp giới, tức là pháp thân.
7. Phật tâm, tức là oai thế thân.
8. Phật tam muội, tức là phước đức thân.
9. Phật bổn tánh, tức là trí thân.
10. Phật tuỳ lạc, tức là ý sinh thân.
Đó là Bồ Tát nói mười thứ Phật.

Ở trên là Bồ Tát Phổ Hiền trả lời hai mươi câu hỏi về pháp Thập tín hạnh của Bồ Tát Phổ Huệ hỏi. Vì hỏi một đáp mười, nên có hai trăm câu trả lời.

2. TRẢ LỜI PHÁP THẬP TRỤ

Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm Phổ Hiền. Những gì là mười ? 

Đó là : Phát tâm đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sinh. Phát tâm đại bi, vì thế tất cả chúng sinh chịu khổ. Phát tâm thí tất cả, vì đều xả bỏ hết thảy. Phát tâm nhớ nhất thiết trí làm đầu, vì thích cầu tất cả Phật pháp. Phát tâm công đức trang nghiêm, vì học tất cả Bồ Tát hạnh. Phát tâm như kim cang, vì tất cả nơi thọ sinh không quên mất. Phát tâm như biển, vì tất cá pháp trắng tịnh đều chảy vào. Phát tâm như núi chúa lớn, vì tất cả lời ác đều nhẫn thọ. Phát tâm an ổn, vì bố thí cho tất cả chúng sinh không sợ hãi. Phát tâm Bát nhã ba la mật rốt ráo, vì khéo quán sát tất cả pháp không chỗ có. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sớm được thành tựu trí Phổ Hiền khéo léo.

Bồ Tát Phổ Hiền lại gọi một tiếng, các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm Phổ Hiền. Những gì là mười ? Đó là :

1. Phát tâm đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sinh, lìa khổ được vui. Tâm đại từ tức là vô duyên đại từ, ban cho chúng sinh tất cả sự an vui.
2. Phát tâm đại bi, vì thay thế tất cả chúng sinh chịu khổ, thọ nạn, tâm cam tình nguyện, mà không lời than oán. Tâm đại bi tức là đồng thể đại bi, nhổ sạch tất cả sự thống khổ của chúng sinh.
3. Phát tâm thí tất cả, vì đều xả bỏ hết thảy nội tài và ngoại tài, tuyệt đối không có tư tưởng xẻn tiếc, càng không có xí đồ cầu đền đáp.
4. Phát tâm nhớ nhất thiết trí làm đầu, vì thích cầu tất cả Phật pháp.
5. Phát tâm công đức trang nghiêm, vì học tất cả hạnh Bồ Tát tu.
6. Phát tâm như kim cang, vì tất cả nơi thọ sinh không quên mất nhân duyên đời trước.
7. Phát tâm như biển, vì tất cá pháp trắng tịnh đều chảy vào.
8. Phát tâm như núi chúa lớn, vì tất cả lời ác đều nhẫn thọ nơi tâm.
9. Phát tâm an ổn, vì bố thí cho tất cả chúng sinh không sợ hãi.
10. Phát tâm Bát nhã ba la mật rốt ráo, vì khéo quán sát tất cả pháp không chỗ có.

Đó là mười pháp phát tâm Phổ Hiền của Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sớm được thành tựu trí Phổ Hiền khéo léo.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp hạnh Phổ Hiền. Những gì là mười ? Đó là : Nguyện trụ pháp hạnh Phổ Hiền tất cả kiếp vị lai. Nguyện cúng dường cung kính tất cả chư Phật vị lai pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện đặc để tất cả chúng sinh nơi hạnh Bồ Tát Phổ Hiền pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện tích tập tất cả căn lành pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện vào tất cả Ba la mật pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện trang nghiêm tất cả thế giới pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện sinh tất cả cõi Phật pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện khéo quán sát tất cả pháp pháp hạnh Phổ Hiền. Nguyện nơi tất cả cõi nước Phật thành vô thượng bồ đề pháp hạnh Phổ Hiền. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát siêng tu pháp nầy, thì sớm sẽ được đầy đủ hạnh nguyện Phổ Hiền.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp hạnh Phổ Hiền. Những gì là mười ? Đó là :

1. Nguyện trụ tu pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu, ở trong tất cả kiếp vị lai.
2. Nguyện cúng dường cung kính tất cả chư Phật vị lai, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
3. Nguyện đặc để tất cả chúng sinh nơi hạnh Bồ Tát Phổ Hiền, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
4. Nguyện tích tập tất cả căn lành, vì hết thảy chúng sinh hồi hướng, dùng thân của chúng sinh làm thân, dùng tâm của chúng sinh làm tâm, dùng ý của chúng sinh làm ý, giống như đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền phát ra tận hư không khắp pháp giới, tu pháp vô tận nầy.
5. Nguyện vào sâu tất cả Ba la mật, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
6. Nguyện đầy đủ vạn hạnh của tất cả Bồ Tát tu, tu hành hạnh pháp của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
7. Nguyện trang nghiêm tất cả thế giới, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
8. Nguyện sinh tất cả cõi Phật, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
9. Nguyện khéo quán sát tất cả pháp, chiếu rõ tất cả các pháp, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.
10. Nguyện ở tại tất cả cõi nước chư Phật, thành tựu vô thượng bồ đề, tu hành pháp hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền tu.

Đó là mười pháp hạnh Phổ Hiền. Nếu tất cả Bồ Tát siêng tu pháp nầy, thì sớm sẽ được đầy đủ đại hạnh đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.

Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng mười pháp quán chúng sinh mà khởi đại bi. Những gì là mười ? 

Đó là : Quán sát chúng sinh không chỗ nương tựa mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh tánh không điều thuận mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh bần cùng không có căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh ngủ mãi đêm dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh hành pháp bất thiện mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh bị dục trói buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh chìm đắm trong biển sinh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh mãi mang bệnh khổ mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh không muốn pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sinh mất các Phật pháp mà khởi đại bi. Đó là mười. Bồ Tát luôn dùng tâm nầy để quán sát chúng sinh.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát dùng mười pháp quán chúng sinh mà khởi đại bi. Những gì là mười ? Đó là :

1. Quán sát chúng sinh không chỗ nương nhờ, chẳng có ai đến hộ trì họ, mà khởi tâm đại bi, nguyện làm chỗ nương nhờ của chúng sinh, đó là tâm đại bi khởi lên, tức cũng là biểu hiện của tâm bồ đề.

2. Quán sát chúng sinh tánh không điều thuận. Tại sao tánh không điều thuận ? Nói một cách đơn giản là không nghe lời. Dạy họ đi về hướng nam, họ lại đi về hướng bắc; kêu họ đi về hướng đông, họ lại đi về hướng tây. Lại có thể nói là tánh tình khó dạy, cứng đầu, chuyên môn làm phiền đến người khác, khiến cho họ không vui. Giống như trong đạo tràng, mọi người bình an vô sự, tĩnh tâm tu đạo, nhưng họ cố ý gây sự, làm cho mọi người khởi phiền não, hoặc vô duyên vô cớ nổi giận, hoặc làm chướng ngại người khác tu hành, những hành vi đó đều là tánh không điều thuận, tánh không điều thuận, tức là cang cường, nếu cang cường có lý trí, thì không có gì để nói, chỉ sợ rằng cang cường vô lý trí, thì chính mình mê còn không biết, còn cho rằng người khác cũng mê. Chính mình ngu si, chẳng muốn người khác có trí huệ, đó là tánh đố kị chướng ngại đang tác quái.

Chúng ta mọi người cùng tu ở tại Vạn Phật Thành, đó là nhân duyên nhiều đời, cùng nhau tụ lại một nơi để tu tập Phật pháp, nỗ lực siêng học, không nên bỏ qua cơ hội tốt, cho nên mọi sự đều làm cho tốt, làm lành, đừng giống như A tu la, thường nổi giận với mọi người, khiến cho mọi người khởi phản cảm. Phải biết rằng, nổi giận đối với người và mình đều không có ích lợi gì, chỉ có hại, do đó có câu :

« Một niệm tâm sân nổi lên
Trăm vạn cửa chướng đều mở ra ».

Tu đạo là tu cái gì ? Tức là tu tánh phải điều thuận, điều tức là điều hoà, thuận là nhu thuận, tức cũng là không ngỗ nghịch, không ngỗ nghịch tức là không nổi nóng, giống như con cái chẳng nghe lời cha mẹ dạy bảo, đó là con cái ngỗ nghịch bất hiếu. Làm đồ đệ không nghe lời thầy dạy bảo, thì gọi là nghịch đồ. Nếu tánh điều thuận thì những vấn đề nầy đều chẳng còn nữa. Nhưng Bồ Tát gặp chúng sinh tánh chẳng điều thuận, vẫn sinh khởi tâm đại bi, tha thứ cho chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh, bằng không thì, làm sao xưng là Bồ Tát !

3. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh, chẳng có một chút căn lành nào, loại chúng sinh đó chẳng dễ gì hoá độ, nhưng Bồ Tát vẫn sinh khởi tâm đại bi, vẫn đến cứu khổ chúng sinh đó, khiến cho họ được an lạc.

4. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh, ngủ mãi đêm dài, chẳng biết thức tỉnh. Luôn bị trôi nổi ở trong vô minh, cũng chẳng sinh trí huệ, ở trong đường mê bồi hồi, chẳng biết cách thoát khỏi, cho nên Bồ Tát sinh khởi tâm đại bi, cứu chúng sinh chẳng biết giác ngộ, thoát khỏi biển khổ, sớm lên bờ bên kia.

5. Bồ Tát lại quán sát chúng sinh, chuyên làm pháp bất thiện, cho nên làm gì cũng đều là tạo nghiệp ác. Thường thường sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, chưởi mắng, uống rượu, san tham, sân hận, ngu si .v.v… đó đều là pháp bất thiện. Bồ Tát thấy loại chúng sinh đó, mà khởi tâm đại bi, trợ giúp chúng sinh cải ác hướng thiện.

6. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh bị dục trói buộc, nhất là tư tưởng dâm dục là ác nhất. Mỗi cử chỉ hành động không lìa khỏi cảnh giới sáu trần, suốt ngày cứ lay chuyển ở trong sáu căn và sáu trần, chạy theo cảnh giới, chẳng có lúc nào ngừng nghỉ. Có người cảm thấy mình rất là thông minh, bất cứ làm việc gì cũng đều hiểu biết. Nhưng chỉ có một việc không minh bạch, không rõ ràng. Đó là việc gì ? Tức là dục niệm của mình sinh ra. Có dục niệm tồn tại, thì không thể được giải thoát. Tại sao ? Vì bị dục ràng buộc, chẳng được tự tại. Lưới dục nầy, không dễ gì phá được.

Do đó, nên bị chuyển tới chuyển lui ở trong sáu nẻo luân hồi, tìm chẳng được lối thoát ra, chẳng thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng phá được cửa ải sinh tử, đó là bị dục trói buộc.

Các vị hãy xem trên thế gian nầy, có bao nhiêu người bị dục làm mê, có người bị dục niệm mà thân bại danh liệt, rồi tự tử, để cầu giải thoát, đó là quan niệm sai lầm. Tự tử rồi, có giải quyết được vấn đề chăng ? Không thể giải quyết, chẳng những không thể giải quyết, ngược lại càng trói buộc càng sâu. Tương lai biến thành chim bồ câu, biến thành chim uyên ương, còn chẳng biết giác ngộ, vẫn ở trong niệm dâm. Bạn hãy xem chim uyên ương, thường ở chung với nhau, không giây phút nào lìa nhau, do đó có câu :

« Đi thì cùng đi
Ngủ thì cùng ngủ
Nhìn thì cùng nhìn
Nghe thì cùng nghe ».

Đó là bị lưới dục trói buộc, nương tựa sống với nhau, mãi mãi không chia lìa. Bồ Tát thấy loại chúng sinh đó, rất là đáng thương ! Khi làm người thì không biết đoạn dục khử ái, bây giờ làm chim sẻ, vẫn còn mê muội như thế, cho nên sinh khởi tâm đại bi, khiến cho họ quay đầu, do đó có câu :

« Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ ».

7. Bồ Tát lại quán sát chúng sinh trôi nổi trong biển sinh tử, nổi lên chìm xuống, không có kỳ hạn. Thoát cốt như núi, giải nhục như biển. Bồ Tát đối với loại chúng sinh nầy, sinh khởi tâm đại bi, để cứu độ họ thoát khỏi biển khổ.

8. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh mãi mang bệnh khổ. Người già có bệnh của người già, người lớn có bệnh của người lớn, người trẻ có bệnh của người trẻ. Tóm lại, đều có bệnh khổ. Nhất là hiện tại chứng bệnh ung thư hoành hành, chẳng màng già trẻ bé lớn, mang chứng bệnh bất trị nầy, giống như mang án tử hình, khiến cho con người rất là lo sợ. Bồ Tát thấy loại chúng sinh nầy, mà sinh khởi tâm đại bi.

9. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh, không muốn làm pháp lành, mà khởi tâm đại bi, khuyên bảo chúng sinh, đừng tham cầu khoái lạc năm dục. Phải thấu được tài, sắc, danh, ăn, và ngủ, là năm con đường vào địa ngục. Bất cứ tham ái một dục nào trong năm dục, đều là cửa hướng đến địa ngục.

10. Bồ Tát lại quán sát tất cả chúng sinh, quên mất tất cả Phật pháp mà chẳng chịu tu hành. Bồ Tát vì loại chúng sinh nầy mà khởi tâm đại bi, khiến cho chúng sinh y giáo phụng hành, y pháp tu hành.

Đó là mười pháp khởi tâm đại bi của Bồ Tát. Bồ Tát luôn dùng tâm nầy để quán sát tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, tu vô thượng đạo.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười nhân duyên phát bồ đề tâm. Những gì là mười ? 

Đó là : Vì giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm. Vì trừ diệt các khổ của tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm. Vì ban cho tất cả chúng sinh đầy đủ an lạc, mà phát bồ đề tâm. Vì đoạn trừ ngu si của tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm. Vì ban cho tất cả chúng sinh Phật trí, mà phát bồ đề tâm. Vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật, là phát bồ đề tâm. Vì tuỳ thuận giáo pháp của Như Lai, khiến Phật hoan hỉ, mà phát bồ đề tâm. Vì thấy tất cả chư Phật sắc thân tướng tốt, mà phát bồ đề tâm. Vì vào trí huệ rộng lớn của tất cả chư Phật, mà phát bồ đề tâm. Vì hiển hiện lực vô sở uý của chư Phật, mà phát bồ đề tâm. Đó là mười.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười nhân duyên phát bồ đề tâm. Bồ đề là tiếng Phạn, dịch là giác đạo. Giác là giác ngộ, có trí huệ. Đạo là con đường, đi trên con đường của người có trí huệ tu hành. Người ngu si thì không giác, có tâm ích kỷ lợi mình. Người có trí huệ thì giác, có tâm tự lợi lợi tha. Bồ đề tâm tức là trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh, tức cũng là học tập tâm giác ngộ. Những gì là mười ? Đó là :

1. Vì giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm. Khiến cho chúng sinh chưa có căn lành, liền trồng căn lành. Chúng sinh đã gieo trồng căn lành, thì khiến cho tăng trưởng. Chúng sinh căn lành đã tăng trưởng, thì khiến cho thành thục. Chúng sinh căn lành đã thành thục, thì khiến cho được giải thoát. Do đó có câu :

« Muốn làm công việc được tốt,
Thì trước hết phải có dụng cụ ».

Dụng cụ của Bồ Tát giáo hoá điều phục chúng sinh, tức là trí huệ. Trước hết phải phát bồ đề tâm, phát rồi sẽ đắc được đại trí huệ. Có trí huệ rồi, thì mới có thể giáo hoá chúng sinh, mới có thể điều phục chúng sinh. Nếu không có trí huệ, thì không thể làm gì được, càng không thể nói đến điều phục chúng sinh khó giáo hoá.

2. Bồ Tát vì trừ diệt các khổ của tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm.
3. Bồ Tát vì ban cho tất cả chúng sinh đầy đủ an lạc, mà phát bồ đề tâm.
4. Bồ Tát vì đoạn trừ ngu si của tất cả chúng sinh, mà phát bồ đề tâm.
5. Bồ Tát vì ban cho tất cả chúng sinh Phật trí, mà phát bồ đề tâm.
6. Bồ Tát vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật, là phát bồ đề tâm.
7. Bồ Tát vì tuỳ thuận giáo pháp tu hành của Như Lai nói, khiến cho mười phương chư Phật hoan hỉ, mà phát bồ đề tâm.
8. Bồ Tát vì thấy tất cả chư Phật sắc thân tướng tốt, mà phát bồ đề tâm.
9. Bồ Tát vì vào trí huệ rộng lớn của tất cả chư Phật, mà phát bồ đề tâm.
10. Bồ Tát vì hiển hiện lực vô sở uý của chư Phật, mà phát bồ đề tâm.

Đó là mười nhân duyên phát bồ đề tâm của Bồ Tát.

Phật tử ! Nếu Bồ Tát phát vô thượng bồ đề tâm, để ngộ vào trí Nhất thiết trí, khi gần gũi cúng dường thiện tri thức, nên khởi mười thứ tâm. Những gì là mười ? 

Đó là : Khởi tâm cung cấp hầu hạ, tâm hoan hỉ, tâm không trái, tâm tuỳ thuận, tâm không cầu gì khác, tâm một hướng, tâm đồng căn lành, tâm đồng nguyện, tâm Như Lai, tâm hạnh đồng viên mãn. Đó là mười.

Các vị Phật tử ! Nếu như Bồ Tát phát vô thượng bồ đề tâm, để ngộ vào trí huệ Nhất thiết trí, khi gần gũi cúng dường thiện tri thức, nên sinh khởi mười thứ tâm. Những gì là mười ? Đó là :

1. Khởi tâm cung cấp hầu hạ : Tức là đem thân tâm của mình bố thí cho Phật giáo, tức cũng là hiến thân cho Phật giáo, hộ trì Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, vì Phật giáo mà làm tất cả mọi sự việc.

2. Tâm hoan hỉ : Nếu muốn có trí huệ, thì phải sinh tâm hoan hỉ. Tâm có phiền não thì thì có ngu si.

3. Tâm không trái : Chẳng trái với Phật, chẳng trái với pháp, chẳng trái với Tăng. Phải tôn trọng Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, đó là tâm không trái.

4. Tâm tuỳ thuận : Tức là tuỳ thuận thiện tri thức mà mình tôn kính, chẳng có tơ hào tâm hoài nghi.

5. Tâm không cầu gì khác: Tức là chẳng có tâm xí đồ, chẳng phải cúng dường Tam Bảo, hy vọng tương lai thành Phật. Hoặc mong cầu Tam Bảo bảo hộ, vạn sự như ý. Hoặc khai đại trí huệ, hoặc được phước báo lớn. Tóm lại, phàm là có sở cầu, tức là có dục vọng nghĩ tưởng khác, những mong cầu nầy chẳng hợp lý. Những sự cầu mong đó chẳng có ích lợi gì.

6. Tâm một hướng : Tức là tâm chuyên nhứt tu học Phật pháp, bất cứ làm việc gì, đều chuyên tâm nhất chí, mới có sự thành tựu. Do đó có câu :

« Chuyên nhất thì linh, phân chia thì tán ».

7. Tâm đồng căn lành : Tức là người khác có căn lành, giống như mình có căn lành. Người khác có trí nhớ tốt, có biện tài vô ngại, có đại trí huệ, cũng giống như mình có trí nhớ tốt, có biện tài vô ngại, có đại trí huệ. Phải có tư tưởng như thế, ta với người đồng thể, chẳng có tâm phân biệt. Không thể thấy người ta giỏi, bèn sinh tâm đố kị. Người học Phật pháp, kị nhất là có tâm đố kị. Nếu có tâm đố kị, thì căn lành không thể nào tăng trưởng, hạt giống bồ đề sẽ khô héo đi. Trong đạo tràng không thể sinh tâm đố kị, người tại gia không thể phê bình người xuất gia, nếu nói ra lỗi lầm của người khác, thì tương lai chắc chắn sẽ đoạ vào địa ngục cắt lưỡi. Nhất là người thọ Bồ Tát giới, chuyên nói lỗi của bốn chúng, đây là tập khí xấu nhất, không thể chấp nhận được. Bất cứ vị nào, nếu có mao bệnh nầy, thì phải mau sửa đổi, không thể đã sai lại càng sai, phải hồi quang phản chiếu. Nếu có thì phải mau sửa đổi lỗi trước, bằng không, chẳng cách chi cứu vãn.

8. Tâm đồng nguyện : Người nào đó phát đại nguyện, cảm thấy đồng với tâm nguyện của mình.

9. Tâm Như Lai : Phải thành tựu tâm Phật. Tâm Phật tức là từ bi hỉ xả bốn tâm vô lượng.

10. Tâm hạnh đồng viên mãn : Phải tu hạnh viên mãn. Có tâm nầy thì tất cả đều thành tựu viên mãn. Đó là mười thứ tâm của Bồ Tát phát khởi.

Phật tử ! Nếu đại Bồ Tát khởi tâm như vậy, thì sẽ được mười pháp thanh tịnh. Những gì là mười ? 

Đó là : Thâm tâm thanh tịnh, vì đến nơi rốt ráo. Sắc thân thanh tịnh, vì tuỳ theo sở nghi mà thị hiện. Âm thanh thanh tịnh, vì thấu đạt tất cả các ngôn ngữ. Biện tài thanh tịnh, vì khéo nói vô biên các Phật pháp. Trí huệ thanh tịnh, vì xả lìa tất cả ngu si đen tối. Thọ sinh thanh tịnh, vì đầy đủ lực tự tại của Bồ Tát. Quyến thuộc thanh tịnh, vì thành tựu chúng sinh đồng tu hành các căn lành trong quá khứ. Quả báo thanh tịnh, vì trừ diệt tất cả các nghiệp chướng. Đại nguyện thanh tịnh, vì với các Bồ Tát tánh không hai. Các hạnh thanh tịnh, vì nhờ thừa Phổ Hiền mà thoát khỏi. Đó là mười.

Các vị Phật tử ! Nếu đại Bồ Tát sinh khởi tâm như vậy, thì sẽ được mười pháp thanh tịnh. Những gì là mười ? Đó là :

1. Thâm tâm thanh tịnh : Chẳng còn ý niệm nhiễm ô, đến nơi rốt ráo không thất bại, thành tựu quả vị Phật.

2. Sắc thân thanh tịnh : Sắc thân vốn là hạt giống bất tịnh mà sinh, nhưng khiến cho nó thanh tịnh, chẳng còn nhiễm ô xen tạp nữa, tuỳ theo sở nghi mà thị hiện.

3. Âm thanh thanh tịnh : Người tu hành phải giữ gìn âm thanh thanh tịnh. Âm thanh có thanh tịnh hay không, thì hãy xem người đó có giữ giới thanh tịnh hay không, thấu rõ thông đạt tất cả các ngôn ngữ.

4. Biện tài thanh tịnh : Biện tài có bốn :

a. Pháp vô ngại biện : Pháp là Phật pháp, pháp nói ra đều là đạo, khiến cho bạn không cách chi biện luận thắng lợi được.
b. Nghĩa vô ngại biện : Nghĩa là nghĩa lý. Ngài thấu rõ nghĩ chân thật của Như Lai nói, khiến cho bạn cam bái hạ phong, không thể nào vặn ngược nghĩa lý của Ngài.
c. Từ vô ngại biện : Lời của Ngài nói ra, câu câu đều là chân lý, chữ chữ khế hợp với đạo pháp, không cách chi biện luận với Ngài được.
d. Nhạo thuyết vô ngại biện : Nhạo thuyết nghĩa là hoan hỉ nói. Bất cứ nói pháp gì, cũng đều thao thao bất tuyệt. Có cảnh giới hoa trời rơi xuống, dưới đất vọt hoa sen, nhưng đều là pháp thanh tịnh, chẳng có sự cường từ đoạt lý, nói ra lời nào cũng có đạo lý, khiến cho người nghe có cảm giác hứng thú. Tuyệt đối chẳng nói ra những lời vô lý, dùng lý luận chánh quyết, để diễn nói vô biên pháp môn của tất cả chư Phật đã nói.

5. Trí huệ thanh tịnh : Có trí huệ quang minh rồi, sẽ chiếu phá tất cả ngu si đen tối.

6. Thọ sinh thanh tịnh : Giống như lão hoà thượng Hư Vân, khi Ngài sinh ra là một bọc thịt hình tròn, đó là mặc y phục để thọ sinh. Bồ Tát từ Bát địa trở lên, khi thọ sinh mới có cảnh giới đó, đầy đủ lực nhậm vận tự tại của Bồ Tát.

7. Quyến thuộc thanh tịnh : Người một nhà đều tin Phật, trở thành gia đình đệ tử Phật. Mọi người đều hoà thuận, chẳng có hiện tương tranh cãi, vì thành tựu chúng sinh đồng tu hành, gieo xuống các căn lành trong quá khứ.

8. Quả báo thanh tịnh : Vì hay trừ diệt hết sạch tất cả các nghiệp chướng.

9. Đại nguyện thanh tịnh : Đại nguyện phát ra đặc biệt thanh tịnh và tự tại với tất cả Bồ Tát, đều là một.

10. Các hạnh thanh tịnh : Tu lục độ vạn hạnh rất thanh tịnh, vì nhờ thừa của Bồ Tát Phổ Hiền mà thoát khỏi ba cõi. Đó là mười pháp thanh tịnh của Bồ Tát.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười Ba la mật. Những gì là mười ? 

Đó là : Bố thí Ba la mật, vì đều xả bỏ hết tất cả sở hữu. Giới Ba la mật, vì thanh tịnh giới của Phật. Nhẫn Ba la mật, vì trụ nhẫn của Phật. Tinh tấn Ba la mật, vì làm tất cả những gì đều không thối chuyển. Thiền Ba la mật, vì nhớ một cảnh. Bát nhã Ba la mật, vì quán sát tất cả các pháp như thật. Trí Ba la mật, vì vào Phật lực. Nguyện Ba la mật, vì đầy đủ các đại nguyện của Phổ Hiền. Thần thông Ba la mật, vì thị hiện tất cả tự tại dụng. Pháp Ba la mật, vì vào khắp tất cả các Phật pháp. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được đầy đủ vô thượng đại trí Ba la mật của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp Ba la mật. Những gì là mười ? Đó là :

1. Bố thí Ba la mật : Bố thí có ba loại :
a. Bố thí tài : Gồm có nội tài (đầu mắt tuỷ não) và ngoại tài (đất nước vợ con).
b. Bố thí pháp : Tức là giảng kinh thuyết pháp, khiến cho người nghe thấu hiểu đại ý Phật pháp, y pháp tu hành, do đó :

« Trong các sự bố thí,
Pháp thí là hơn hết ».

Đem pháp bố thí cho người khác, là bố thí cao thượng nhất.

c. Bố thí vô uý : Nếu có người phát sinh tâm sợ hãi, phải dùng lời hay tốt để an ủi họ, khiến cho họ chẳng còn cảm giác sợ hãi nữa, hy sinh tất cả để giúp đỡ họ, giải quyết mọi sự khó khăn. Bố thí tức là xả bỏ hết thảy tất cả tài vật, chẳng còn tư tưởng xả bỏ chẳng được.

2. Trì giới Ba la mật : Giới có năm giới (giới cơ bản), tám giới (giới Bát quan trai), mười giới (giới Sa di), mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh (giới Bồ Tát), hai trăm năm mươi giới (giới Tỳ Kheo), ba trăm bốn mươi tám giới (giới Tỳ Kheo Ni). Tóm lại, giới là ngừa ác phòng quấy, dạy người đừng làm ác mà làm thiện. Người học Phật, nhất định phải giữ gìn giới luật. Hay giữ giới luật thì sẽ đến được cảnh giới vô ngã, tất cả đều thanh tịnh. Chúng ta người học Phật, phải luôn luôn giữ gìn thanh tịnh giới luật của Phật.

3. Nhẫn Ba la mật : Nhẫn gồm có sinh nhẫn, pháp nhẫn, vô sinh pháp nhẫn. Sinh nhẫn là gì ? Đối với tất cả chúng sinh phải nhẫn. Pháp nhẫn là gì ? Đối với tất cả pháp phải nhẫn. Vô sinh pháp nhẫn là gì ? Tức là chẳng thấy có chút pháp sinh, chẳng thấy có chút pháp diệt. Lúc đó, nhẫn nơi tâm, do đó có câu :

« Miệng muốn nói mà lời đã bặc,
Tâm muốn duyên mà tư lự chẳng còn nữa ».

Đến cảnh giới không còn lời gì để nói, không còn tướng văn tự. Lúc đó, cảnh giới không dễ gì nhẫn được, nhưng vẫn phải nhẫn, mới là thượng sách. Do đó có câu :

« Nhẫn là báu vô giá
Mọi người xử không tốt
Nếu hay dùng được nó
Mọi việc đều sẽ tốt ».

Đó là nhẫn Ba la mật, phải trụ ở trong nhẫn của Phật, Phật hay nhẫn được những điều mà người khác không nhẫn được.

4. Tinh tấn Ba la mật : Ở trên đã nói về bố thí Ba la mật, trì giới Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, dùng tinh tấn Ba la mật để làm tiên sách mới có công hiệu. Bất cứ làm việc gì, phải dũng mãnh tinh tấn hướng về trước, đừng thối lùi về sau. Không thể niệm trước muốn xuất gia, niệm sau thì muốn hoàn tục, đó chẳng phải là hành vi của đại trượng phu.

5. Thiền định Ba la mật : Phải tu tứ thiền bát định.

Tứ thiền là :

– Sơ thiền
– Nhị thiền
– Tam thiền
– Tứ thiền.

Bát định là : Tứ thiền và Tứ không xứ.

Tứ không xứ là :

– Không vô biên xứ.
– Thức vô biên xứ.
– Không vô sở hữu xứ.
– Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tứ thiền tại sắc giới, Tứ không xứ tại vô sắc giới. Thiền là chuyên nhất một cảnh, tâm chẳng duyên ngoài.

6. Bát nhã Ba la mật : Dùng diệu quán sát trí để quán sát tất cả các pháp.
7. Trí huệ Ba la mật : Bồ Tát có trí huệ, vào được mười lực của Phật.
8. Nguyện Ba la mật : Bồ Tát phát bồ đề nguyện, đầy đủ mười đại nguyện vương của Bồ Tát Phổ Hiền.
9. Thần thông Ba la mật : Bồ Tát có đủ thứ thần thông lực, hay thị hiện tất cả thần thông diệu dụng tự tại.
10. Pháp Ba la mật : Pháp tức là pháp phương tiện khéo léo, có thể vào khắp tất cả pháp của chư Phật nói, để giáo hoá tất cả chúng sinh.

Đó là mười pháp ba la mật. Nếu tất cả Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được đầy đủ vô thượng đại trí huệ Ba la mật của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười trí tuỳ giác. Những gì là mười ? 

Đó là : Trí tuỳ giác tất cả thế giới vô lượng khác biệt. Trí tuỳ giác tất cả cõi chúng sinh không thể nghĩ bàn. Trí tuỳ giác tất cả các pháp, một vào đủ thứ, đủ thứ vào một. Trí tuỳ giác tất cả pháp giới rộng lớn. Trí tuỳ giác tất cả hư không giới rốt ráo. Trí tuỳ giác tất cả thế giới vào đời quá khứ. Trí tuỳ giác tất cả thế giới vào đời vị lai. Trí tuỳ giác tất cả thế giới vào đời hiện tại. Trí tuỳ giác tất cả Như Lai vô lượng hạnh nguyện, đều ở nơi một trí mà được viên mãn. Trí tuỳ giác ba đời chư Phật đều đồng một hạnh, mà được thoát khỏi. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì được tất cả pháp tự tại quang minh, sở nguyện đều viên mãn. Trong khoảng một niệm, đều hiểu rõ tất cả Phật pháp, thành Đẳng Chánh Giác.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười trí tuỳ giác. Những gì là mười ? Đó là :

1. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả thế giới có vô lượng khác biệt.
2. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả cõi chúng sinh không thể nghĩ bàn. Chúng sinh có thống khổ gì ? Thì ứng dụng cái đó để độ thoát họ.
3. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả các pháp, một vào đủ thứ, đủ thứ vào một. Do đó có câu : « Một gốc tán làm vạn thù, vạn thù quy về một gốc ».
4. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả pháp giới rộng lớn.
5. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả hư không giới rốt ráo.
6. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả thế giới vào đời quá khứ.
7. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả thế giới vào đời vị lai.
8. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả thế giới vào đời hiện tại. Cảnh giới nầy, có thể vào với nhau. Đời quá khứ có thể vào đời hiện tại, đời hiện tại có thể vào đời vị lai, đời vị lai có thể vào đời quá khứ, vào với nhau, hổ tương vô ngại.
9. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ tất cả Như Lai vô lượng hạnh nguyện, đều ở nơi một trí mà được viên mãn.
10. Trí huệ tuỳ sự giác ngộ ba đời chư Phật đều đồng một hạnh, mà được thoát khỏi.

Đó là mười trí huệ tuỳ sự giác ngộ của Bồ Tát. Nếu tất cả Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì được tất cả pháp tự tại quang minh, sở nguyện đều viên mãn. Trong khoảng một niệm, đều hiểu rõ tất cả Phật pháp, thành Đẳng Chánh Giác.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp chứng biết. Những gì là mười ? 

 Đó là : Biết tất cả pháp là một tướng. Biết tất cả pháp là vô lượng tướng. Biết tất cả pháp trong một niệm. Biết tất cả tâm hạnh chúng sinh vô ngại. Biết tất cả chúng sinh các căn bình đẳng. Biết tất cả chúng sinh phiền não tập khí hành. Biết tất cả chúng sinh tâm sử hành. Biết tất cả chúng sinh hạnh lành, chẳng lành. Biết tất cả Bồ Tát tu hành tự tại trụ trì giáo hoá. Biết tất cả Như Lai đầy đủ mười lực thành Đẳng Chánh Giác. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được tất cả pháp phương tiện khéo léo.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp chứng biết. Những gì là mười ? Đó là :

1. Biết tất cả pháp là một tướng, vắng lặng bất động.
2. Biết tất cả pháp vô lượng tướng, lại có vô lượng tướng trạng khác nhau.
3. Biết tất cả pháp trong một niệm, có thể ngộ nhập.
4. Biết tất cả tâm hạnh chúng sinh vô ngại.
5. Biết tất cả chúng sinh các căn đều bình đẳng.
6. Biết tất cả chúng sinh phiền não và tập khí hành, có sâu có cạn, có nhiều có ít, đủ thứ sự khác nhau.
7. Biết tất cả tâm chúng sinh có mười triền và mười sử hành.
– Mười triền đó là : Vô tàm, vô quý, đố kị, xan tham, hối, thuỳ miên, trạo cử, hôn trầm, sân khuể, phú.
– Mười sử đó là : Thân kiến, biên kiến, giới thủ, kiến thủ, tà kiến (đây là năm lợi sử), tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm mạn, tâm nghi (đây là năm độn sử).
8. Biết tất cả chúng sinh người nào có hạnh lành, người nào chẳng có hạnh lành.
9. Biết tất cả Bồ Tát tu hành, nhậm vận tự tại, trụ trì giáo hoá.
10. Biết tất cả Như Lai đầy đủ mười lực, thành Đẳng Chánh Giác.
Đó là mười pháp chứng biết. Nếu tất cả Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được tất cả pháp phương tiện khéo léo.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười lực. Những gì là mười ? 

Đó là : Lực vào tự tánh của tất cả các pháp. Lực vào tự tánh của tất cả các pháp như biến hoá. Lực vào tất cả pháp như huyễn. Lực vào tất cả pháp đều là Phật pháp. Lực nơi tất cả pháp không nhiễm trước. Lực nơi tất cả pháp hiểu rõ thâm sâu. Lực nơi tất cả thiện tri thức luôn không xả lìa tâm tôn trọng. Lực khiến cho tất cả căn lành thuận đến trí vương vô thượng. Lực đối với tất cả Phật pháp tin sâu không phỉ báng. Lực khiến cho nhất thiết trí tâm không thối sự khéo léo. Đó là mười. 

Nếu Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đầy đủ các lực vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười lực. Những gì là mười ? Đó là :

1. Lực vào tự tánh của tất cả các pháp.
2. Lực vào tất cả các pháp như biến hoá.
3. Lực như huyễn vào tất cả pháp.
4. Lực vào tất cả pháp đều là Phật pháp.
5. Lực nơi tất cả pháp không nhiễm trước.
6. Lực nơi tất cả pháp hiểu rõ thâm sâu.
7. Lực nơi tất cả thiện tri thức luôn không xả lìa tâm tôn trọng.
8. Lực khiến cho tất cả căn lành thuận đến trí vương vô thượng.
9. Lực đối với tất cả Phật pháp tin sâu không phỉ báng.
10. Lực khiến cho nhất thiết trí tâm không thối sự khéo léo.

Đó là mười lực của Bồ Tát. Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đầy đủ các lực vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười sự bình đẳng. Những gì là mười ? 

Đó là : Đối với tất cả chúng sinh bình đẳng. Tất cả pháp bình đẳng. Tất cả cõi bình đẳng. Tất cả thâm tâm bình đẳng. Tất cả căn lành bình đẳng. Tất cả Bồ Tát bình đẳng. Tất cả nguyện bình đẳng. Tất cả Ba la mật bình đẳng. Tất cả hạnh bình đẳng. Tất cả Phật bình đẳng. Đó là mười. 

Nếu Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được pháp bình đẳng vô thượng của tất cả chư Phật.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp bình đẳng. Những gì là mười ? Đó là :

1. Đối với tất cả chúng sinh cũng bình đẳng.
2. Đối với Tất cả pháp cũng bình đẳng.
3. Đối với tất cả cõi cũng bình đẳng.
4. Đối với tất cả thâm tâm cũng bình đẳng.
5. Đối với tất cả căn lành cũng bình đẳng.
6. Đối với tất cả Bồ Tát cũng bình đẳng.
7. Đối với tất cả nguyện cũng bình đẳng.
8. Đối với tất cả Ba la mật cũng bình đẳng.
9. Đối với tất cả hạnh cũng bình đẳng.
10. Đối với tất cả chư Phật cũng bình đẳng.

Đó là mười. Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được pháp bình đẳng vô thượng của tất cả chư Phật.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười câu Phật pháp thật nghĩa. Những gì là mười ? 

Đó là : Tất cả pháp chỉ có danh. Tất cả pháp như huyễn. Tất cả pháp như hình bóng. Tất cả pháp chỉ là duyên khởi. Tất cả pháp nghiệp thanh tịnh. Tất cả pháp chỉ là văn tự sở tác. Tất cả pháp thật tế. Tất cả pháp vô tướng. Tất cả pháp đệ nhất nghĩa. Tất cả pháp pháp giới. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ khéo vào trí Nhất thiết trí vô thượng chân thật nghĩa.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười câu Phật pháp thật nghĩa. Những gì là mười ? Đó là :

1. Tất cả pháp chỉ có là giả danh mà thôi, vốn chẳng có thật thể.
2. Tất cả pháp như huyễn hoá, hư vọng chẳng thật.
3. Tất cả pháp như hình bóng, chẳng phải là thể chân thật, do đó có câu :

« Trăng trong nước, hoa trong gương ».

4. Tất cả pháp đều do nhân duyên mà sinh khởi, duyên khởi là không tánh, do đó có câu :

« Các pháp do duyên sinh,
Các pháp do duyên diệt ».

5. Tất cả pháp nghiệp vốn là thanh tịnh, chẳng có sự nhiễm ô.
6. Tất cả pháp chỉ là văn tự sở tác.
7. Tất cả pháp là lý thể thật tế.
8. Tất cả pháp là vô tướng.
9. Tất cả pháp đều là đệ nhất nghĩa.
10. Tất cả pháp đều có pháp giới của nó.

Đó là mười pháp. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ khéo vào trí Nhất thiết trí vô thượng chân thật nghĩa.

Phật tử ! Đại Bồ Tát nói mười thứ pháp. Những gì là mười ? 
Đó là : Nói pháp thâm sâu. Nói pháp rộng lớn. Nói pháp các thứ. Nói pháp nhất thiết trí. Nói pháp tuỳ thuận Ba la mật. Nói pháp sinh ra lực của Như Lai. Nói pháp ba đời liên tục. Nói pháp khiến cho Bồ Tát chẳng thối chuyển. Nói pháp khen ngợi công đức của Phật. Nói pháp tất cả Bồ Tát học sự bình đẳng của tất cả chư Phật, cảnh giới tương ưng của tất cả Như Lai. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được pháp khéo nói vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát nói mười thứ pháp. Những gì là mười ? Đó là :

1. Bồ Tát hay nói pháp thâm sâu.
2. Bồ Tát hay nói pháp rộng lớn.
3. Bồ Tát hay nói pháp các thứ.
4. Bồ Tát hay nói pháp nhất thiết trí.
5. Bồ Tát hay nói pháp tuỳ thuận Ba la mật.
6. Bồ Tát hay nói pháp sinh ra mười lực của Như Lai.
7. Bồ Tát hay nói pháp ba đời liên tục.
8. Bồ Tát hay nói pháp khiến cho Bồ Tát chẳng thối chuyển.
9. Bồ Tát hay nói pháp khen ngợi công đức của Phật.
10. Bồ Tát hay nói pháp tất cả Bồ Tát học sự bình đẳng của tất cả chư Phật, cảnh giới tương ưng của tất cả Như Lai.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được trí huệ khéo nói pháp vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp trì. Những gì là mười ? 

Đó là : Trì tích tập tất cả căn lành phước đức. Trì pháp của tất cả Như Lai nói. Trì tất cả ví dụ. Trì tất cả thú môn pháp lý. Trì tất cả môn xuất sinh đà la ni. Trì tất cả pháp trừ nghi hoặc. Trì pháp thành tựu tất cả Bồ Tát. Trì tất cả môn tam muội bình đẳng của Như Lai nói. Trì tất cả môn pháp chiếu sáng. Trì sức thần thông du hí của tất cả chư Phật. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được sức trụ trì đại trí vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp trì. Những gì là mười ? Đó là :

1. Phải thọ trì tích tập tất cả căn lành phước đức.
2. Phải thọ trì pháp của tất cả Như Lai nói.
3. Phải thọ trì tất cả ví dụ.
4. Phải thọ trì tất cả thú môn pháp lý.
5. Phải thọ trì tất cả môn xuất sinh đà la ni.
6. Phải thọ trì tất cả pháp giải trừ nghi hoặc.
7. Phải thọ trì pháp thành tựu tất cả Bồ Tát.
8. Phải thọ trì tất cả môn tam muội bình đẳng của Như Lai nói.
9. Phải thọ trì tất cả môn pháp chiếu sáng.
10. Phải thọ trì sức thần thông du hí của tất cả chư Phật.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được sức trụ trì đại trí vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ biện tài. Những gì là mười ? 
Đó là : Biện tài đối với tất cả pháp không phân biệt. Biện tài đối với tất cả pháp không chỗ làm. Biện tài đối với tất cả pháp không chấp trước. Biện tài đối với tất cả pháp thấu đạt đều là không. Biện tài đối với tất cả pháp không nghi hoặc và đen tối. Biện tài đối với tất cả pháp được Phật gia bị. Biện tài đối với tất cả pháp tự giác ngộ. Biện tài khéo léo đối với tất cả pháp câu văn khác biệt. Biện tài đối với tất cả pháp diễn nói đều chân thật. Biện tài tuỳ theo tâm của tất cả chúng sinh, khiến cho họ hoan hỉ. Đó là mười. 

Nếu Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được biện tài khéo léo vi diệu vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ biện tài. Những gì là mười ? Đó là :

1. Biện tài đối với tất cả pháp không phân biệt. Pháp vốn là vắng lặng, chẳng có gì để phân biệt.
2. Biện tài đối với tất cả pháp không chỗ làm. Pháp tức nhiên là vắng lặng, là không chẳng có thể tánh, cho nên chẳng có một kẻ nào làm.
3. Biện tài đối với tất cả pháp không có mọi sự chấp trước.
4. Biện tài đối với tất cả pháp thấu đạt đều là không.
5. Biện tài đối với tất cả pháp không nghi hoặc và đen tối.
6. Biện tài đối với tất cả pháp được Phật gia bị.
7. Biện tài đối với tất cả pháp tự mình giác ngộ, không do người khác dạy.
8. Biện tài khéo léo đối với tất cả pháp câu văn khác biệt.
9. Biện tài đối với tất cả pháp diễn nói đều chân thật.
10. Biện tài tuỳ theo tâm của tất cả chúng sinh, nói tất cả pháp, khiến cho tất cả đều hoan hỉ.

Đó là mười pháp biện tài. Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được biện tài khéo léo vi diệu vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp tự tại. Những gì là mười ? 

Đó là : Tự tại giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh. Tự tại chiếu khắp tất cả các pháp. Tự tại tu tất cả hạnh căn lành. Tự tại trí huệ rộng lớn. Tự tại giới luật không chỗ nương. Tự tại tất cả căn lành hồi hướng bồ đề. Tự tại tinh tấn không thối chuyển. Tự tại trí huệ phá tan tất cả chúng ma. Tự tại tuỳ theo sự ưa thích khiến cho phát bồ đề tâm. Tự tại tuỳ sự ứng hoá hiện thành chánh giác. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được đại trí tự tại vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp tự tại. Những gì là mười ? Đó là :

1. Tự tại giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh.
2. Tự tại chiếu khắp tất cả các pháp.
3. Tự tại tu tất cả hạnh căn lành.
4. Tự tại trí huệ rộng lớn vô biên.
5. Tự tại giới luật không chỗ nương tựa.
6. Tự tại tất cả căn lành hồi hướng bồ đề.
7. Tự tại tinh tấn không thối chuyển.
8. Tự tại trí huệ phá tan tất cả chúng ma.
9. Tự tại tuỳ theo sự ưa thích khiến cho phát bồ đề tâm.
10. Tự tại tuỳ sự ứng hoá chúng sinh mà hiện thành chánh giác.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ được đại trí tự tại vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp không chấp. Những gì là mười ? 

Đó là : Không chấp trước tất cả thế giới. Không chấp trước tất cả chúng sinh. Không chấp trước tất cả các pháp. Không chấp trước tất cả việc làm. Không chấp trước tất cả căn lành. Không chấp trước tất cả nơi thọ sinh. Không chấp trước tất cả các nguyện. Không chấp trước tất cả các hạnh. Không chấp trước tất cả Bồ Tát. Không chấp trước tất cả chư Phật. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sớm sẽ chuyển được tất cả các nghĩ tưởng, đắc được trí huệ thanh tịnh vô thượng.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp không chấp. Những gì là mười ? Đó là :

1. Không chấp trước tất cả thế giới.
2. Không chấp trước tất cả chúng sinh.
3. Không chấp trước tất cả các pháp.
4. Không chấp trước tất cả việc làm.
5. Không chấp trước tất cả căn lành.
6. Không chấp trước tất cả nơi thọ sanh.
7. Không chấp trước tất cả các nguyện.
8. Không chấp trước tất cả các hạnh.
9. Không chấp trước tất cả Bồ Tát.
10. Không chấp trước tất cả chư Phật.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sớm sẽ chuyển được tất cả các nghĩ tưởng, đắc được trí huệ thanh tịnh vô thượng.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười tâm bình đẳng. Những gì là mười ? 

Đó là : Tâm bình đẳng tích tập tất cả công đức. Tâm bình đẳng phát tất cả thệ nguyện khác biệt. Tâm bình đẳng đối với thân của tất cả chúng sinh. Tâm bình đẳng đối với nghiệp báo của tất cả chúng sinh. Tâm bình đẳng đối với tất cả pháp. Tâm bình đẳng đối với tất cả cõi nước dơ sạch. Tâm bình đẳng đối với sự hiểu biết của tất cả chúng sinh. Tâm bình đẳng đối với tất cả hạnh không phân biệt. Tâm bình đẳng đối với lực và vô uý của tất cả chư Phật. Tâm bình đẳng đối với trí huệ của tất cả Như Lai. Đó là mười. 

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được tâm đại bình đẳng vô thượng của Như Lai.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười tâm bình đẳng. Những gì là mười ? Đó là :

1. Tâm bình đẳng tích tập tất cả công đức.
2. Tâm bình đẳng phát tất cả thệ nguyện khác biệt.
3. Tâm bình đẳng đối với thân của tất cả chúng sinh.
4. Tâm bình đẳng đối với nghiệp báo của tất cả chúng sinh.
5. Tâm bình đẳng đối với tất cả pháp.
6. Tâm bình đẳng đối với tất cả cõi nước dơ bẩn và cõi nước sạch sẽ.
7. Tâm bình đẳng đối với sự hiểu biết của tất cả chúng sinh.
8. Tâm bình đẳng đối với tất cả hạnh không phân biệt.
9. Tâm bình đẳng đối với lực và vô uý của tất cả chư Phật.
10. Tâm bình đẳng đối với trí huệ của tất cả Như Lai.

Đó là mười. Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ được tâm đại bình đẳng vô thượng của Như Lai.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp sinh ra trí huệ. Những gì là mười ? 

Đó là : Biết sự hiểu biết của tất cả chúng sinh sinh ra trí huệ. Biết tất cả cõi Phật đủ thứ sự khác biệt sinh ra trí huệ. Biết lưới mười phương phân đều sinh ra trí huệ. Biết tất cả thế giới úp ngửa sinh ra trí huệ. Biết tất cả pháp một tánh, tánh rộng lớn sinh ra trí huệ. Biết tất cả các thứ thân sinh ra trí huệ. Biết tất cả thế gian điên đảo vọng tưởng đều không chấp trước sinh ra trí huệ. Biết tất cả pháp rốt ráo đều dùng một con đường thoát khỏi sinh ra trí huệ. Biết thần lực Như Lai hay vào tất cả pháp giới sinh ra trí huệ. Biết ba đời tất cả chúng sinh giống Phật chẳng dứt sinh ra trí huệ. Đó là mười. 

Nếu Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì nơi các pháp thảy đều thấu đạt.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp sinh ra trí huệ. Những gì là mười ? Đó là :

1. Biết sự hiểu biết của tất cả chúng sinh sinh ra trí huệ.
2. Biết tất cả cõi Phật đủ thứ sự khác biệt sinh ra trí huệ.
3. Biết lưới mười phương phân đều sinh ra trí huệ.
4. Biết tất cả thế giới úp ngửa sinh ra trí huệ.
5. Biết tất cả pháp một tánh, tánh rộng lớn sinh ra trí huệ.
6. Biết tất cả các thứ thân sinh ra trí huệ.
7. Biết tất cả thế gian điên đảo vọng tưởng đều không chấp trước sinh ra trí huệ.
8. Biết tất cả pháp rốt ráo đều dùng một con đường thoát khỏi sinh ra trí huệ.
9. Biết thần lực Như Lai hay vào tất cả pháp giới sinh ra trí huệ.
10. Biết ba đời tất cả chúng sinh, đều có giống Phật chẳng dứt sinh ra trí huệ.

Đó là mười pháp sinh ra trí huệ. Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì nơi các pháp thảy đều thấu rõ thông đạt.

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp biến hoá. Những gì là mười ? 

Đó là : Tất cả chúng sinh biến hoá. Tất cả thân biến hoá. Tất cả cõi biến hoá. Tất cả cúng dường biến hoá. Tất cả âm thanh biến hoá. Tất cả hạnh nguyện biến hoá. Tất cả sự giáo hoá điều phục chúng sinh biến hoá. Tất cả thành chánh giác biến hoá. Tất cả thuyết pháp biến hoá. Tất cả sự gia trì biến hoá. Đó là mười. 

Nếu Bồ Tát an trụ pháp nầy thì, sẽ được đầy đủ tất cả pháp biến hoá vô thượng.

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp biến hoá. Những gì là mười ? Đó là :
1. Tất cả chúng sinh hổ tương biến hoá.

Tôi thường nói : Đời trước của người Mỹ, không nhất định là người Mỹ, cũng có thể là người Tàu, cũng có thể là người Nhật. Người Mỹ chết rồi, hoặc có thể sinh vào nước Trung Quốc, hoặc có thể sinh vào nước Nhật. Tóm lại, người tây phương có thể sinh vào đông phương ; người đông phương có thể sinh vào tây phương, đó là hổ tương biến hoá.

2. Tất cả thân hổ tương biến hoá.
3. Tất cả cõi Phật cũng biến hoá.
4. Tất cả sự cúng dường cũng biến hoá.
5. Tất cả âm thanh cũng biến hoá.
6. Tất cả hạnh nguyện cũng biến hoá.
7. Tất cả sự giáo hoá điều phục chúng sinh cũng biến hoá.
8. Tất cả thành chánh giác đều biến hoá.
9. Tất cả thuyết pháp đều biến hoá.

Đó là mười pháp biến hoá. Nếu Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thì, sẽ được đầy đủ tất cả pháp biến hoá vô thượng.

Ở trên là hai trăm câu trả lời của Bồ Tát Phổ Hiền trả lời hai mươi câu hỏi của Bồ Tát Phổ Huệ đã hỏi về Thập hạnh. Vì hỏi một đáp mười vậy.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.