Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH HOA NGHIÊM
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT

Hán dịch: Sa Môn Thật Xoa Nan Ðà
Hoà Thượng Tuyên Hóa giảng giải
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

 

TẬP 23

QUYỂN BẢY MƯƠI

PHẨM VÀO PHÁP GIỚI THỨ BA MƯƠI CHÍN PHẦN MƯỜI MỘT

34. DẠ THẦN PHỔ CỨU CHÚNG SINH DIỆU ĐỨC PHÓ THÁC THỨ TƯ DIỆM HUỆ ĐỊA

Kinh Văn: (Chữ lớn in đậm là Kinh văn)

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, nghe môn giải thoát Phổ hỉ tràng, tin hiểu hướng vào, biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập. Nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không tạm xả, các căn chẳng tán, một lòng muốn gặp được thiện tri thức. Siêng cầu khắp mười phương không giải đãi. Muốn thường gần gũi sinh các công đức, đồng một căn lành với thiện tri thức. Đắc được hạnh phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa. Nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.

Giảng giải: (Chữ thường là giảng giải)

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh, lắng nghe pháp môn giải thoát Phổ hỉ tràng, sinh tâm tin sâu, hiểu rõ mà hướng vào pháp môn nầy. Ngài biết rõ tuỳ thuận, suy gẫm tu tập pháp môn nầy. Ngài tưởng nhớ hết những lời dạy của thiện tri thức, tâm không lúc nào tạm xả lìa. Lúc đó các căn mắt tai mũi lưỡi thân ý của Ngài, đều chẳng bị ngoại trần lay chuyển, Ngài một lòng muốn gặp được thiện tri thức, siêng cầu khắp mười phương pháp giới mà không giải đãi. Ngài muốn thường gần gũi thiện tri thức, để sinh ra tất cả các công đức, muốn đồng một căn lành với thiện tri thức. Ngài đắc được pháp môn phương tiện thiện xảo của thiện tri thức. Nương thiện tri thức vào biển tinh tấn, trong vô lượng kiếp thường chẳng xa lìa thiện tri thức, đời đời kiếp kiếp đều muốn gần gũi thiện tri thức. Thiện Tài đồng tử nguyện như vậy rồi, bèn đi đến chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức.

Đây là Diệm Huệ Địa thứ tư, là pháp bồ đề phần an trụ tối thắng, thiêu đốt củi phiền não, vì huệ diệm tăng. Thiện hữu là Chủ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức. Khởi hạnh tinh tấn, vì phổ cứu chúng sinh. Trí diệm cát tường, xưng là diệu đức.

Bấy giờ, vị Dạ Thần vì Thiện Tài đồng tử thị hiện thần lực giải thoát Bồ Tát điều phục chúng sinh. Dùng các tướng tốt trang nghiêm thân mình. Ở giữa lông mày phóng ra đại quang minh, tên là Trí đăng phổ chiếu thanh tịnh tràng, có vô lượng quang minh dùng làm quyến thuộc, quang minh đó chiếu khắp tất cả thế gian. Chiếu thế gian rồi, nhập vào đỉnh đầu Thiện Tài, sung mãn thân Thiện Tài.

Lúc đó, vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức vì Thiện Tài đồng tử thị hiện thần lực giải thoát Bồ Tát điều phục chúng sinh.

Hôm trước có người nói: “Thiện Tài đồng tử đến chỗ thiện tri thức thưa hỏi, nhưng Bồ Tát chẳng trả lời câu hỏi của Ngài”. Đó đều là trả lời mà! Đây là mỗi vị pháp thân Đại Sĩ dùng thân làm khuông phép, đem pháp môn của Ngài tu thành như thế nào, ở trước vị Phật nào phát tâm bồ đề, để nói với Thiện Tài đồng tử. Đây là giải đáp Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh như thế nào? Tu Bồ Tát đạo như thế nào? Chỉ bày pháp môn tu hành của Ngài. Sở dĩ vị Dạ Thần thị hiện thần lực Bồ Tát làm thế nào điều phục chúng sinh giải thoát. Ngài dùng đủ thứ tướng tốt để trang nghiêm thân của Ngài. Ở giữa lông mày của Ngài phóng ra đại quang minh, tên là Trí đăng phổ chiếu thanh tịnh tràng tam muội, có vô lượng quang minh dùng làm quyến thuộc của tam muội đó. Quang minh đó chiếu sáng khắp tất cả thế gian. Chiếu khắp thế gian rồi, quang minh bèn nhập vào đỉnh đầu của Thiện Tài đồng tử, sung mãn thân của Ngài (vị Dạ Thần hiện quang gia trì, Thiện Tài đồng tử nhờ quang minh mà được lợi ích).

Bấy giờ, Thiện Tài lập tức đắc được tam muội Thanh tịnh luân. Được tam muội nầy rồi, đều thấy ở giữa hai nơi của hai vị Dạ Thần, hết thảy tất cả bụi đất, bụi nước và bụi lửa, hạt bụi kim cang ma ni các báu, hoa hương anh lạc các đồ trang nghiêm, tất cả hết thảy bụi như vậy.

Lúc đó, Thiện Tài lập tức đắc được tam muội Thanh tịnh luân. (Đây là do ba nghiệp sáu căn đều lìa chướng, nên rốt ráo thanh tịnh, tức tịnh trí viên mãn, diệt chướng là luân, nên chỗ thấy vô ngại). Đắc được tam muội nầy rồi, thì đều thấy ở giữa hai nơi của hai vị Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh và Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức, hết thảy tất cả bụi đất, bụi nước và bụi lửa, hạt bụi kim cang ma ni các báu, hoa hương anh lạc các đồ trang nghiêm, tất cả hết thảy bụi như vậy. Đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn!

Trong mỗi hạt bụi, đều thấy các thế giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật thành hoại, và thấy tất cả đất nước gió lửa các đại tích tụ, cũng thấy tất cả thế giới vận hành với nhau, đều nhờ địa luân giữ gìn mà an trụ. Đủ thứ núi, biển, đủ thứ sông ngòi, đủ thứ cây rừng, đủ thứ cung điện. Như là: Cung điện trời, cung điện rồng, cung điện Dạ Xoa, cho đến cung điện phòng ốc của Ma Hầu La Già, người, chẳng phải người, địa ngục, súc sinh, cõi Diêm La Vương, tất cả chỗ ở. Các cõi luân chuyển, sinh tử đến đi, theo nghiệp thọ báo, thảy đều khác biệt, chẳng có gì mà chẳng thấy.

Trong mỗi hạt bụi, Thiện Tài đồng tử đều thấy các thế giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật thành, trụ, hoại, không, lại thấy tất cả đất, nước, gió, lửa, các đại tích tụ, cũng thấy tất cả thế giới vận hành với nhau, đều nhờ địa luân giữ gìn mà an trụ. Lại thấy đủ thứ núi, biển, đủ thứ sông ngòi, đủ thứ cây rừng, đủ thứ cung điện. Như là: Cung điện trời, cung điện rồng, cung điện Dạ Xoa, cho đến cung điện phòng ốc của Ma Hầu La Già, người, chẳng phải người. Lại thấy địa ngục, súc sinh, cõi Diêm La Vương, tất cả chỗ ở. Các cõi luân chuyển, sinh tử đến đi, chúng sinh tuỳ theo nghiệp mình đã tạo mà thọ đủ thứ quả báo, thảy đều khác biệt, Thiện Tài đồng tử chẳng có gì mà chẳng thấy.

Lại thấy tất cả thế giới khác nhau. Như là: Hoặc có thế giới tạp uế. Hoặc có thế giới thanh tịnh. Hoặc có thế giới hướng về tạp uế. Hoặc có thế giới hướng về thanh tịnh. Hoặc có thế giới tạp uế thanh tịnh. Hoặc có thế giới thanh tịnh tạp uế. Hoặc có thế giới thuần thanh tịnh. Hoặc có thế giới hình bằng phẳng. Hoặc có thế giới úp. Hoặc có thế giới nghiêng.

Thiện Tài đồng tử lại thấy tất cả đủ thứ thế giới khác nhau. Như là: Hoặc có thế giới tạp nhiễm ô uế, ví như thế giới Ta Bà đời ác năm trược chúng ta đang sống. Hoặc có thế giới thanh tịnh. Hoặc có thế giới dần dần hướng về tạp uế. Hoặc có thế giới dần dần hướng về thanh tịnh. Hoặc có thế giới tạp uế thanh tịnh lẫn nhau. Hoặc có thế giới thanh tịnh tạp uế. Hoặc có thế giới thuần thanh tịnh. Hoặc có thế giới hình bằng phẳng. Hoặc có thế giới úp. Hoặc có thế giới nghiêng.

Tất cả thế giới như vậy, trong tất cả các cõi, đều thấy vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh, trong tất cả thời, tất cả mọi nơi, tuỳ theo hình tướng lời nói, hành vi hiểu biết khác nhau của các chúng sinh, mà dùng sức phương tiện, khéo hiện ra ở trước họ, tuỳ nghi hoá độ.

Tất cả thế giới như vậy, trong tất cả các cõi, Thiện Tài đồng tử đều thấy vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh, trong tất cả thời, tất cả mọi nơi, tuỳ theo hình tướng lời nói, hành vi hiểu biết khác nhau của các chúng sinh, mà dùng sức phương tiện, khéo hiện ra ở trước họ, tuỳ nghi căn cơ của chúng sinh để giáo hoá độ thoát họ.

Khiến cho chúng sinh địa ngục, khỏi các khổ độc. Khiến cho chúng sinh súc sinh, không tham ăn nuốt nhau. Khiến cho chúng sinh ngạ quỷ, không còn đói khát. Khiến cho các loài rồng, lìa tất cả sự sợ hãi. Khiến cho chúng sinh dục giới, lìa khổ dục giới. Khiến cho chúng sinh cõi người, lìa sợ đêm tối, sợ mắng nhiếc, sợ tiếng xấu, sợ đại chúng, sợ chẳng sống, sợ chết, sợ đường ác, sợ dứt căn lành, sợ thối bồ đề tâm, sợ gặp ác tri thức, sợ lìa thiện tri thức, sợ rơi vào bậc nhị thừa, sợ đủ thứ sinh tử, sợ chúng sinh khác loài cùng ở với nhau, sợ thọ sinh vào giờ xấu, sợ thọ sinh trong loài giống ác, sợ tạo nghiệp ác, sợ nghiệp phiền não chướng, sợ chấp trước các tưởng trói buộc, các sự sợ hãi như vậy, đều khiến cho xả lìa. 

Vị Dạ Thần khiến cho chúng sinh địa ngục, khỏi các thống khổ và độc hại. Khiến cho chúng sinh súc sinh, không tham ăn nuốt hại nhau. Khiến cho chúng sinh ngạ quỷ, không còn thống khổ đói khát. Khiến cho các loài rồng, lìa tất cả sự sợ hãi về cát nóng. Khiến cho chúng sinh dục giới, lìa khỏi đủ thứ thống khổ tham ái dục niệm của dục giới. Khiến cho chúng sinh cõi người, lìa khỏi sự sợ hãi đêm tối, sợ huỷ báng mắng nhiếc mình, sợ tiếng xấu mất danh tiếng, sợ oai đức của đại chúng, sợ mình phải chết chẳng còn sống, sợ chết mất, sợ đường ác, sợ mình dứt mất căn lành, sợ mình thối thất tâm bồ đề, sợ gặp ác tri thức, sợ xa lìa thiện tri thức có trí huệ, sợ rơi vào bậc nhị thừa (Thanh Văn và Duyên Giác chẳng phát tâm đại thừa Bồ Tát), sợ đủ thứ sinh tử, sợ chúng sinh khác loài cùng ở với nhau, sợ thọ sinh vào thời ác, như sợ thọ sinh vào thời chiến loạn chẳng thái bình. Hoặc lại sợ thọ sinh trong loài chủng tộc gia đình ác, sợ mình tạo nghiệp ác, sợ mình tạo nghiệp chướng phiền não, sợ chấp trước các vọng tưởng trói buộc, đủ thứ các sự sợ hãi như vậy, vị Dạ Thần đều khiến cho năm nẻo chúng sinh xả bỏ lìa khỏi.

Lại thấy tất cả chúng sinh, noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hoá sinh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, khắp hiện ở trước họ, thường siêng cứu hộ.

Thiện Tài đồng tử lại thấy tất cả chúng sinh, ví như: noãn sinh (sinh bằng trứng, trứng do tưởng mà sinh), thai sinh (thai do tình mà có), thấp sinh (ẩm ướt do hợp mà cảm), hoá sinh (hoá do ly mà ứng), có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói về thế giới điên đảo và chúng sinh điên đảo rằng: “A Nan! Thế nào gọi là thế giới điên đảo? Thị hữu sở hữu, phân đoạn vọng sinh, do đây mà thế giới thành lập. Chẳng phải nhân sở nhân, vô trụ sở trụ, dời đổi chẳng trụ, do đây mà thế giới thành. Ba đời bốn phương, hoà hợp tương bộ, biến hoá chúng sinh thành mười hai loài”.

Vị Dạ Thần khắp thị hiện ở trước chúng sinh mười loại nầy, thường siêng cứu hộ hết thảy điên đảo chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui.

Vì thành tựu đại nguyện lực của Bồ Tát. Vì thâm nhập sức tam muội của Bồ Tát. Vì kiên cố sức thần thông của Bồ Tát. Vì sinh ra sức hạnh nguyện của Phổ Hiền. Vì tăng trưởng rộng lớn biển đại bi của Bồ Tát. Vì đắc được đại từ vô ngại che khắp chúng sinh. Vì đắc được vô lượng hỉ lạc ban khắp cho chúng sinh. Vì đắc được trí huệ phương tiện nhiếp khắp tất cả chúng sinh. Vì đắc được thần thông tự tại giải thoát rộng lớn của Bồ Tát. Vì nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Vì giác ngộ thấu rõ tất cả các pháp. Vì cúng dường tất cả chư Phật. Vì thọ trì tất cả Phật giáo. Vì tích tụ tất cả căn lành, tu tất cả diệu hạnh. Vì vào biển tâm của tất cả chúng sinh, mà không chướng ngại. Vì biết các căn của tất cả chúng sinh giáo hoá thành thục. Vì thanh tịnh tin hiểu của tất cả chúng sinh, trừ diệt ác chướng của họ. Vì phá trừ vô tri đen tối của tất cả chúng sinh. Vì khiến cho đắc được nhất thiết trí thanh tịnh quang minh.

Tại sao vị Dạ Thần phải thị hiện trước các loài chúng sinh như đã nói ở trên? Là vì thành tựu đại nguyện lực của Bồ Tát. Vì thâm nhập sức tam muội của Bồ Tát. Vì kiên cố sức thần thông của Bồ Tát. Vì sinh ra sức hạnh nguyện của Phổ Hiền. Vì tăng trưởng rộng lớn biển đại bi của Bồ Tát. Vì đắc được đại từ vô ngại che khắp chúng sinh. Vì đắc được vô lượng hỉ lạc ban khắp cho chúng sinh. Vì đắc được trí huệ phương tiện nhiếp khắp tất cả chúng sinh. Vì đắc được thần thông tự tại giải thoát rộng lớn của Bồ Tát. Vì trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật. Vì giác ngộ thấu rõ tất cả các pháp. Vì cúng dường tất cả chư Phật. Vì thọ trì tất cả Phật giáo. Vì tích tụ tất cả căn lành, tu hành tất cả diệu hạnh. Vì vào biển tâm của tất cả chúng sinh, mà không chướng ngại. Vì biết các căn của tất cả chúng sinh giáo hoá thành thục. Vì thanh tịnh tin hiểu của tất cả chúng sinh, trừ diệt ác chướng của họ. Vì phá trừ vô tri đen tối của tất cả chúng sinh. Vì khiến cho đắc được nhất thiết trí thanh tịnh quang minh. Đoạn kinh nầy biểu rõ hoá hiện trong ý, vì thành tựu các pháp, thông năng sở hoá.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử thấy thần lực của vị Dạ Thần đó như vậy, cảnh giới thâm sâu không thể nghĩ bàn, khắp hiện điều phục tất cả chúng sinh Bồ Tát giải thoát rồi. Hoan hỉ vô lượng, cuối đầu đảnh lễ, một lòng chiêm ngưỡng. 

Bấy giờ, vị Dạ Thần đó lập tức xả bỏ tướng Bồ Tát trang nghiêm, khôi phục lại thân hình như cũ, mà chẳng xả bỏ thần lực tự tại của mình.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử thấy đại oai thần lực của vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức đó như vậy, cảnh giới thâm sâu không thể nghĩ bàn, khắp hiện điều phục tất cả chúng sinh Bồ Tát giải thoát tam muội rồi. Hoan hỉ vô lượng, bèn cuối đầu đảnh lễ vị Dạ Thần, một lòng chiêm ngưỡng thiện tri thức (đây là thân tâm kính trọng). Lúc đó, vị Dạ Thần đó lập tức xả bỏ tướng Bồ Tát trang nghiêm biến hoá, khôi phục lại thân hình như cũ, mà chẳng xả bỏ thần lực tự tại của mình.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử cung kính chắp tay, đứng qua một bên, dùng kệ khen ngợi rằng:

Con Thiện Tài thấy được
Đại thần lực như vậy
Tâm con sinh hoan hỉ
Nói kệ để khen ngợi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử cung kính chắp tay, bèn đứng qua một bên, dùng kệ khen ngợi vị Dạ Thần rằng: “Con Thiện Tài đồng tử, thấy được đại thần lực như vậy, tâm con sinh đại hoan hỉ, cho nên nói bài kệ để khen ngợi công đức của Ngài”.

Con thấy thân Ngài đẹp
Các tướng dùng trang nghiêm
Ví như sao trong không
Tất cả đều nghiêm tịnh.

Con nhìn thấy thân của tôn giả rất đẹp, dùng 32 tướng tốt để trang nghiêm, giống như những vì sao trong hư không, tất cả đều trang nghiêm thanh tịnh tốt đẹp.

Phóng ra quang thù thắng
Vô lượng cõi số bụi
Đủ thứ sắc tốt đẹp
Chiếu khắp trong mười phương.

Ngài phóng ra quang minh thù thắng, nhiều vô lượng như số hạt bụi cõi Phật, chiếu soi chúng sinh, khiến cho họ nghiệp chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng. Đủ thứ sắc tướng tốt đẹp của Ngài, chiếu soi khắp trong mười phương thế giới.

Mỗi lỗ lông phóng ra
Số quang tâm chúng sinh
Đầu mỗi mỗi quang minh
Đều hiện hoa sen báu.

Trong mỗi mỗi lỗ chân lông của Ngài phóng ra quang minh nhiều như số tâm chúng sinh. Nơi đầu mỗi luồng quang minh, đều hiện ra đoá hoa sen báu.

Trong hoa hiện hoá thân
Hay diệt khổ chúng sinh
Trong quang toả hương thơm
Xông khắp các chúng sinh.

Trong mỗi đoá hoa sen báu, lại hiện ra hoá thân Phật, hay diệt khổ não của chúng sinh. Trong mỗi luồng quang minh, lại toả ra hương thơm, xông khắp tất cả chúng sinh.

Lại mưa đủ thứ hoa
Cúng dường tất cả Phật
Giữa lông mi phóng quang
Lớn bằng núi Tu Di.

Lại mưa xuống đủ thứ hoa sen báu, để cúng dường tất cả chư Phật. Giữa lông mi của Ngài phóng ra quang minh vi diệu, lượng lớn bằng núi Tu Di.

Chiếu khắp các hàm thức
Khiến diệt tối ngu si
Miệng phóng quang thanh tịnh
Như vô lượng mặt trời.

Quang minh của Ngài chiếu soi khắp tất cả hàm thức thế giới, khiến cho họ diệt trừ ngu si đen tối. Trong miệng của Ngài phóng ra quang minh thanh tịnh, ví như vô lượng mặt trời.

Chiếu khắp nơi rộng lớn
Cảnh Tỳ Lô Giá Na
Mắt phóng quang thanh tịnh
Như vô lượng mặt trăng.

Ngài chiếu soi khắp mười phương thế giới rộng lớn, đó là cảnh giới của Tỳ Lô Giá Na (pháp thân Phật khắp tất cả mọi nơi). Mắt của Ngài phóng ra quang minh thanh tịnh, giống như ánh sáng vô lượng mặt trăng.

Chiếu khắp mười phương cõi
Diệt si loà thế gian
Hoá hiện đủ thứ thân
Tướng trạng đồng chúng sinh.

Ngài chiếu khắp mười phương cõi Phật, hoàn toàn diệt trừ si loà đen tối của thế gian, hoá hiện đủ thứ thân, tướng trạng đồng với tất cả chúng sinh.

Đầy khắp mười phương cõi
Độ thoát biển ba cõi
Thân đẹp khắp mười phương
Khắp hiện trước chúng sinh.

Hoá thân của Ngài đầy khắp trong mười phương thế giới, cứu độ giải thoát biển khổ chúng sinh trong ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc). Thân tốt đẹp của Ngài đầy khắp mười phương thế giới, khắp thị hiện ở trước chúng sinh.

Diệt trừ nạn nước lửa
Nạn vua những sợ hãi
Con vâng theo Hỉ Mục
Khiến đến được chỗ Ngài.

Ngài diệt trừ những sợ hãi của nạn nước, nạn lửa, nạn đao binh, nạn vua. Con vâng theo lời dạy của vị Dạ Thần Hỉ Mục, khiến cho con đến được chỗ Ngài.

Thấy giữa lông mi Ngài
Phóng đại quang thanh tịnh
Chiếu khắp biển mười phương
Diệt tất cả đen tối.

Con nhìn thấy tướng giữa lông mi của Ngài, phóng ra đại quang minh thanh tịnh, chiếu khắp biển cõi chúng sinh trong mười phương, diệt đen tối của tất cả chúng sinh.

Hiển hiện sức thần thông
Mà nhập vào thân con
Con gặp quang viên mãn
Tâm sinh đại hoan hỉ.

Ngài lại hiển hiện sức thần thông, để mà nhập vào thân con, con gặp được quang minh viên mãn của Ngài, trong tâm sinh đại hoan hỉ.

Được tổng trì tam muội
Thấy khắp mười phương Phật
Những chỗ con đi qua
Thấy cõi nhiều như bụi.

Con đắc được sức tổng trì tam muội, mà nhìn thấy khắp mười phương chư Phật. Những chỗ con đi qua, đều nhìn thấy các thế giới nhiều như số hạt bụi.

Trong mỗi mỗi hạt bụi
Thấy cõi nhiều như bụi
Hoặc có vô lượng cõi
Tất cả đều trược uế.
Chúng sinh thọ các khổ
Thường buồn than kêu khóc.

Ở trong mỗi mỗi hạt bụi, lại thấy các cõi Phật nhiều như số hạt bụi, hoặc có vô lượng cõi, tất cả đều ô trược tạp uế, như đời ác năm trược. Chúng sinh thọ đủ thứ các thống khổ, thường buồn rầu than thở kêu khóc, thật là đáng thương!

Hoặc có cõi nhiễm tịnh
Ít vui nhiều lo khổ
Thị hiện thân ba thừa
Đến đó để cứu độ.

Hoặc có cõi tạp nhiễm và thanh tịnh lẫn lộn, ít vui mà nhiều lo buồn khổ não, Ngài thị hiện thân ba thừa: Bồ Tát thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, đến những cõi nước đó để cứu độ chúng sinh thọ khổ.

Hoặc có cõi tịnh nhiễm
Chúng sinh đều thích thấy
Bồ Tát thường đầy dẫy
Trụ trì các Phật pháp.

Hoặc có cõi thanh tịnh và tạp nhiễm, vì sở thích thấy của chúng sinh, Bồ Tát thường đầy dẫy trong đó, trụ trì tất cả các Phật pháp.

Trong mỗi mỗi hạt bụi
Vô lượng biển cõi tịnh
Phật Tỳ Lô Giá Na
Kiếp xưa đã nghiêm tịnh.

Trong mỗi mỗi hạt bụi, có vô lượng biển cõi Phật thanh tịnh, đó là hạnh môn của Phật Tỳ Lô Giá Na, thuở xưa trong đại kiếp đã trang nghiêm thanh tịnh. Cũng nhờ công đức của Phật, nên đắc được cõi Phật thanh tịnh đó.

Phật trong tất cả cõi
Đều ngồi cội bồ đề
Thành đạo chuyển pháp luân
Độ thoát các quần sinh.

Phật ở trong tất cả cõi, đều ngồi dưới cội bồ đề, thành tựu đạo nghiệp, sau đó chuyển bánh xe pháp, để độ thoát tất cả các quần sinh.

Con thấy Thần Phổ Cứu
Trong vô lượng cõi đó
Chỗ tất cả chư Phật
Đều đến khắp cúng dường.

Con nhìn thấy Ngài Thiên Thần Phổ Cứu, ở trong vô lượng cõi Phật đó, và trong đạo tràng chỗ tất cả chư Phật, đều đến trước khắp cúng dường.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nói bài kệ đó rồi, bèn bạch với vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức rằng: Thiên Thần! Môn giải thoát nầy rất là hi hữu, tên gọi là gì? Ngài đắc được môn giải thoát nầy đã bao lâu? Ngài tu hạnh gì mà được thanh tịnh?

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nói bài kệ đó rồi, bèn bạch với vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức rằng: “Thiên Thần! Hiện tại môn giải thoát tam muội nầy rất là vi diệu hi hữu khó được, tên gọi là gì? Ngài đắc được môn giải thoát tam muội nầy đã bao lâu? Ngài tu hạnh gì mà được thanh tịnh”?

Thiện Tài đồng tử hỏi vị Dạ Thần đắc pháp lâu mau, là vì muốn hiển đức tu lâu xa. Hỏi tu nhân tịnh trị, là vì cầu đạo.

Vị Dạ Thần nói: Thiện nam tử! Chỗ đó khó biết, chư Thiên và loài người, tất cả hàng nhị thừa, không thể dò lường được. Tại sao? Vì đây là cảnh giới của bậc trụ hạnh Bồ Tát Phổ Hiền. Vì là cảnh giới của bậc trụ đại bi tạng. Vì là cảnh giới của bậc cứu hộ tất cả chúng sinh. Vì là cảnh giới của bậc thanh tịnh được tất cả ba ác tám nạn. Vì là cảnh giới của bậc có thể ở trong tất cả cõi Phật thiệu long giống Phật không dứt. Vì là cảnh giới của bậc trụ trì được tất cả Phật pháp. Vì là cảnh giới có thể ở trong tất cả kiếp, tu Bồ Tát hạnh thành tựu viên mãn biển đại nguyện. Vì là cảnh giới của bậc có thể ở trong biển pháp giới, dùng trí huệ quang thanh tịnh, diệt trừ vô minh ám chướng. Vì là cảnh giới của bậc có thể dùng một niệm trí huệ quang minh, chiếu khắp tất cả biển phương tiện ba đời. Ta nương thần lực của Phật, nay vì ngươi nói.

Vị Dạ Thần nói: “Thiện nam tử! Thứ đạo lý nầy không dễ gì hiểu biết được. Chư Thiên và loài người, tất cả hàng nhị thừa, không thể dò lường được. Tại sao vậy? Vì đây là cảnh giới của bậc trụ hạnh nguyện Bồ Tát Phổ Hiền. Cũng là cảnh giới của bậc trụ đại bi tạng. Cũng là cảnh giới của bậc cứu hộ tất cả chúng sinh. Cũng là cảnh giới của bậc thanh tịnh được tất cả ba ác tám nạn. Cũng là cảnh giới của bậc có thể ở trong tất cả cõi Phật thiệu long giống Phật không dứt. Cũng là cảnh giới của bậc trụ trì được tất cả Phật pháp. Cũng là cảnh giới có thể ở trong tất cả kiếp tu Bồ Tát hạnh thành tựu viên mãn biển đại nguyện. Cũng là cảnh giới của bậc có thể ở trong biển pháp giới, dùng trí huệ quang thanh tịnh, diệt trừ vô minh ám chướng. Cũng là cảnh giới của bậc có thể dùng một niệm trí huệ quang minh, chiếu khắp tất cả biển phương tiện ba đời. Một người tu đạo nếu muốn đắc được pháp môn không thể nghĩ bàn nầy, thì phải viên mãn đủ thứ nhân duyên nầy. Ta nương thần lực của Phật, nay vì ngươi mà diễn nói”.

Thiện nam tử! Vào thuở quá khứ, trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật. Bấy giờ có kiếp, tên là Viên Mãn Thanh Tịnh. Thế giới tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức. Có chư Phật nhiều như số hạt bụi núi Tu Di xuất hiện ra đời.

Thiện nam tử! Vào thuở quá khứ, trải qua đại kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật. Lúc đó có kiếp, tên là Viên Mãn Thanh Tịnh. Thế giới tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức. Có chư Phật nhiều như số hạt bụi núi Tu Di xuất hiện ra đời.

Phật thế giới đó, dùng tất cả hương vương ma ni báu làm thể, các báu trang nghiêm, trụ trên biển vô cấu quang minh ma ni vương, thế giới đó hình tròn, sạch và dơ hợp thành. Tất cả đồ trang nghiêm trướng mây che phủ phía trên. Tất cả trang nghiêm ma ni luân sơn bao quanh ngàn vòng. Có mười vạn ức Na do tha bốn thiên hạ đều trang nghiêm tốt đẹp. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh ác nghiệp ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh tạp nghiệp ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh căn lành ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, các đại Bồ Tát thuần thanh tịnh ở trong đó.

Phật thế giới đó, dùng tất cả hương vương ma ni báu làm thể, các báu trang nghiêm, trụ trên biển vô cấu quang minh ma ni vương, thế giới đó hình tròn, sạch sẽ và dơ bẩn hợp thành. Tất cả đồ trang nghiêm trướng mây che phủ phía trên. Có tất cả trang nghiêm ma ni luân sơn bao quanh ngàn vòng. Có mười vạn ức Na do tha bốn thiên hạ đều trang nghiêm tốt đẹp. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh tạo ác nghiệp ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh tạp nghiệp thiện ác lẫn lộn ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, chúng sinh tạo căn lành ở trong đó. Hoặc có bốn thiên hạ, các đại Bồ Tát thuần thanh tịnh ở trong đó. (Đoạn nầy là tướng cõi thông hiển).

Bên cạnh núi Luân Vi bờ mé phía đông thế giới đó, có bốn thiên hạ, tên là Bảo Đăng Hoa Tràng, cõi nước thanh tịnh, thức ăn uống phong phú đầy đủ, không cần trồng trọt mà lúa mọc tươi tốt. Cung điện lầu các, thảy đều đẹp lạ. Các cây như ý, thẳng hàng khắp nơi. Đủ thứ cây thơm, luôn toả ra mây thơm. Đủ thứ cây tràng hoa, luôn sinh ra mây tràng hoa. Đủ thứ cây hoa, thường mưa xuống hoa đẹp. Đủ thứ cây báu, sinh ra các báu lạ, vô lượng màu sắc ánh sáng, chiếu sáng chung quanh. Các cây âm nhạc, vang ra các thứ âm nhạc. Theo gió thổi động, phát ra âm thanh vi diệu. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng ma ni vương báu, chiếu khắp tất cả. Ngày đêm hưởng thọ an vui, không khi nào gián đoạn. 

Bốn thiên hạ đó, có trăm vạn ức Na do tha các cõi nước vương quốc. Mỗi cõi nước đều có ngàn con sông lớn, chảy khắp chung quanh. Mỗi con sông đều có các hoa đẹp phủ trên mặt nước. Theo dòng chảy lưu động, vang ra âm nhạc trời. Tất cả cây báu mọc bên bờ sông, nghiêm sức đủ thứ đẹp lạ. Ghe thuyền qua lại, vui chơi thoả thích. Giữa mỗi dòng sông, có trăm vạn ức thành. 
Mỗi thành đều có trăm vạn ức Na do tha xóm làng. Tất cả thành ấp xóm làng như vậy, đều có vô lượng trăm ngàn ức Na do tha cung điện vườn rừng, bao bọc chung quanh. Bốn thiên hạ đó trong Diêm Phù Đề, có một cõi nước, tên là Bảo Hoa Đăng, an ổn sung túc, nhân dân thịnh vượng, chúng sinh trong đó, đều tu hành thập thiện.

Bên cạnh núi Luân Vi bờ mé phía đông thế giới Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức đó, có một bốn thiên hạ, tên là Bảo Đăng Hoa Tràng, cõi nước thanh tịnh, thức ăn uống phong phú đầy đủ, đất đai không cần trồng trọt mà lúa ngũ cốc mọc lên tươi tốt, đây là hiện tượng nhân dân có phước báo. Cung điện lầu các, thảy đều tốt đẹp kỳ lạ. Tất cả các cây như ý, thẳng hàng khắp nơi. Đủ thứ cây thơm, luôn toả ra mây thơm. Đủ thứ cây tràng hoa, luôn sinh ra mây tràng hoa. Đủ thứ cây hoa, thường mưa xuống hoa đẹp. Đủ thứ cây báu, sinh ra các báu đẹp lạ, lại có vô lượng màu sắc ánh sáng, chiếu sáng chung quanh. Các cây âm nhạc, vang ra các thứ âm nhạc, tuỳ theo gió thổi động, mà phát ra âm thanh vi diệu. Lại có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ma ni vương báu, chiếu sáng khắp tất cả. Nhân dân ngày đêm hưởng thọ an vui, không khi nào gián đoạn. Bốn thiên hạ đó, có trăm vạn ức Na do tha các cõi nước vương quốc. Mỗi cõi nước đều có ngàn con sông lớn, chảy khắp chung quanh. Mỗi con sông đều có các hoa đẹp phủ trên mặt nước. Theo dòng chảy lưu động, mà vang ra âm nhạc trời. Tất cả cây báu mọc lên la liệt hai bên bờ sông, nghiêm sức đủ thứ các báu đẹp lạ. Ghe thuyền của nhân dân qua lại với nhau, vui chơi thoả thích. Ở giữa mỗi dòng sông, có trăm vạn ức thành thị. Mỗi thành thị đều có trăm vạn ức Na do tha xóm làng. Tất cả thành ấp xóm làng như vậy, đều có vô lượng trăm ngàn ức Na do tha cung điện vườn rừng, bao bọc chung quanh. Bốn thiên hạ đó trong Diêm Phù Đề, có một cõi nước, tên là Bảo Hoa Đăng, an ổn sung túc, nhân dân thịnh vượng, chúng sinh trong đó, đều tu hành thập thiện (Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không chửi mắng, không tham, không sân, không si).

Có vị Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện trong cõi nước đó, tên là Tỳ Lô Giá Na Diệu Bảo Liên Hoa Kế. Đột nhiên sinh ra trong hoa sen, có ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm thân, đầy đủ bảy báu. Vua thống trị bốn thiên hạ, luôn dùng chánh pháp giáo hoá quần sinh. Vua có ngàn vương tử, đoan chánh dũng mãnh, hàng phục được oán địch. Trăm vạn ức Na do tha cung phi thể nữ, thảy đều cùng trồng căn lành với vua, cùng tu các hạnh, sinh ra cùng thời, đoan chánh xinh đẹp như Thiên nữ. Thân màu vàng ròng, thường phóng quang minh. Trong các lỗ chân lông, luôn toả ra hương thơm. Dân thần dũng tướng, đầy đủ mười ức người. Vua có bà chánh phi, tên là Viên Mãn Diện, là nữ báu của vua, rất đoan chánh xinh đẹp, da màu vàng ròng, mắt và tóc xanh biếc, tiếng nói như Phạm âm, thân có hương trời. Thường phóng quang minh, chiếu sáng ngàn do tuần.

Có một vị Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện trong cõi nước Bảo Hoa Đăng đó, tên là Tỳ Lô Giá Na Diệu Bảo Liên Hoa Kế. Đột nhiên sinh ra trong hoa sen, có ba mươi hai tướng tốt, trang nghiêm thân, đầy đủ bảy báu (Bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, thần báu, ngọc nữ báu, binh báu). Vua thống trị bốn thiên hạ, luôn dùng chánh pháp giáo hoá quần sinh. Vua có một ngàn vương tử, đều đoan chánh dũng mãnh, hàng phục được tất cả oán địch. Lại có trăm vạn ức Na do tha cung phi thể nữ, thảy đều cùng trồng căn lành với vua Chuyển Luân Thánh Vương, cùng tu lục độ vạn hạnh, sinh ra đời cùng thời, đều rất đoan chánh xinh đẹp như Thiên nữ. Thân thể màu vàng ròng, thường phóng ra quang minh. Trong các lỗ chân lông, luôn toả ra hương thơm. Vua có dân thần dũng tướng, đầy đủ mười ức người. Vua có bà chánh phi, tên là Viên Mãn Diện, là nữ báu của vua, rất đoan chánh xinh đẹp, da màu vàng ròng, mắt và tóc màu xanh biếc, tiếng nói rất thanh tịnh như Phạm âm, trên thân có hương trời. Thường phóng ra quang minh, chiếu sáng ngàn do tuần. (Đoạn nầy tên bổn sanh phụ mẫu).

Bà chánh phi đó, có một người con gái, tên là Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn, thân hình đoan nghiêm, sắc tướng xinh đẹp thù thắng. Chúng sinh ai thấy được, đều không nhàm chán.

Bà chánh phi đó có một người con gái, tên là Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn, thân hình cô ta rất đoan nghiêm, sắc tướng rất xinh đẹp thù thắng. Chúng sinh ai thấy được, nhìn đều không nhàm chán. (Đoạn nầy rõ bổn thân).

Bấy giờ, chúng sinh thọ mạng vô lượng. Hoặc có người chết yểu giữa chừng không nhất định. Đủ thứ hình sắc, đủ thứ âm thanh, đủ thứ danh tự, đủ thứ chủng tộc, ngu trí mạnh yếu, giàu nghèo khổ vui, vô lượng phẩm loại, thảy đều khác nhau. 
Lúc đó có người nói với người khác rằng thân tôi đẹp, thân ngươi xấu xí. Nói như vậy rồi, thì họ huỷ nhục nhau, tích tập nghiệp bất thiện. Bởi vì nghiệp bất thiện, nên thọ mạng sắc lực, tất cả việc vui, thảy đều tổn giảm.

Lúc đó, chúng sinh hưởng thụ thọ mạng vô lượng. Nhưng vẫn có những người chết yểu giữa chừng không nhất định. Những chúng sinh đó có đủ thứ hình mạo và sắc tướng, đủ thứ âm thanh, đủ thứ danh tự, đủ thứ chủng tộc, có những người ngu si, hoặc người trí huệ thông minh, hoặc người mạnh, kẻ yếu, người giàu, kẻ nghèo, người khổ, kẻ vui, vô lượng phẩm loại, thảy đều khác nhau.

Lúc đó có người nói với người khác rằng: “Thân tôi xinh đẹp, thân ngươi rất là xấu xí”. Đây là trên đầu lại thêm đầu, không việc tìm việc phiền não nói lời thị phi. Họ nói như vậy rồi, thì huỷ nhục phỉ báng lẫn nhau, cho nên tích tập nghiệp bất thiện chửi mắng, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi. Bởi vì có những nghiệp báo bất thiện đó, nên thọ mạng sắc tướng và sức lực của họ, tất cả việc phước lạc, thảy đều tổn hại giảm bớt. (Đoạn nầy là chúng sinh khởi ác, là nguyên nhân Phật xuất hiện)

Bấy giờ, phía bắc thành đó có cội bồ đề, tên là Phổ Quang Pháp Vân Âm Tràng, rễ cây bằng ma ni vương kiên cố, niệm niệm xuất hiện tất cả Như Lai đạo tràng trang nghiêm. Tất cả ma ni dùng làm thân cây, các tạp báu đẹp dùng làm lá cây, phân bố thứ tự, tương xứng với nhau, bốn phía trên dưới, viên mãn trang nghiêm. Phóng ra quang minh báu, vang ra âm thanh vi diệu, nói cảnh giới thâm sâu của tất cả Như Lai. 

Ở trước cây đó, có một ao thơm, tên là Bảo Hoa Quang Minh Diễn Pháp Lôi Âm, báu đẹp làm bờ, có trăm vạn ức Na do tha cây báu chung quanh. Mỗi mỗi thân cây, đều như cây bồ đề. Các chuỗi báu thòng rũ chung quanh. Có vô lượng lầu các, đều làm bằng châu báu, khắp chung quanh đạo tràng, dùng để nghiêm sức. Trong ao thơm đó, mọc lên hoa sen lớn, tên là Phổ Hiện Ba Đời Tất Cả Như Lai Trang Nghiêm Cảnh Giới Vân.

Lúc đó, phía bắc thành đó có cây bồ đề, tên là Phổ Quang Pháp Vân Âm Tràng, rễ cây bằng ma ni vương kiên cố, niệm niệm xuất hiện tất cả Như Lai đạo tràng trang nghiêm. Tất cả ma ni dùng làm thân cây, các tạp báu đẹp dùng làm lá cây, phấn bố thứ tự, tương xứng với nhau, bốn phía trên dưới, viên mãn trang nghiêm. Phóng ra quang minh báu, vang ra âm thanh vi diệu, nói cảnh giới thâm sâu của tất cả Như Lai.

Ở trước cây đó, có một ao thơm, tên là Bảo Hoa Quang Minh Diễn Pháp Lôi Âm, báu đẹp làm bờ, có trăm vạn ức Na do tha cây báu chung quanh. Mỗi mỗi thân cây, đều như cây bồ đề. Có các chuỗi báu thòng rũ chung quanh. Có vô lượng lầu các, đều làm bằng châu báu, khắp chung quanh đạo tràng, dùng để nghiêm sức. Trong ao thơm đó, mọc lên một đoá hoa sen lớn, tên là Phổ Hiện Ba Đời Tất Cả Như Lai Trang Nghiêm Cảnh Giới Vân. (Đoạn nầy tường thuật lại Phật hưng ích vật, minh đắc đạo chi tràng).

Trong hoa sen đó, có chư Phật xuất hiện nhiều như số hạt bụi núi Tu Di. Vị Phật thứ nhứt, hiệu là Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng. Ngài ở trong hoa sen đó, ban đầu đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Trong vô lượng ngàn năm, Ngài diễn nói chánh pháp, thành thục chúng sinh.

Trong đoá hoa sen đó, có chư Phật xuất hiện nhiều như số hạt bụi núi Tu Di. Vị Phật thứ nhứt, hiệu là Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng. Ngài ở trong hoa sen đó, ban đầu đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Trong vô lượng ngàn năm, Ngài diễn nói chánh pháp, thành thục chúng sinh.

Khi đức Như Lai đó chưa thành Phật, thì trước đó mười ngàn năm, hoa sen lớn đó, phóng tịnh quang minh, tên là Hiện chư thần thông thành thục chúng sinh. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì tâm tự khai ngộ, chẳng có gì mà không thấu rõ. Biết mười ngàn năm sau, sẽ có Phật xuất hiện. 

Chín ngàn năm trước, phóng tịnh quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh ly cấu đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đắc được mắt thanh tịnh, thấy tất cả sắc. Biết chín ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Tám ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh nghiệp quả âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều biết được các nghiệp quả báo của mình. Biết tám ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Bảy ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Sinh nhất thiết thiện căn âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì tất cả các căn đều được viên mãn. Biết bảy ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Sáu ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Phật bất tư nghì cảnh giới âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì tâm họ rộng lớn, khắp được tự tại. Biết sáu ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Năm ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Nghiêm tịnh tất cả cõi Phật âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều thấy tất cả cõi Phật thanh tịnh. Biết năm ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Bốn ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết Như Lai cảnh giới vô sai biệt đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều có thể đến hầu hạ tất cả chư Phật. Biết bốn ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Ba ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Tam thế minh đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều hiện thấy được các biển bổn sự của tất cả Như Lai. Biết ba ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Hai ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Như Lai ly ế trí huệ đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì liền được phổ nhãn, thấy thần biến của tất cả Như Lai, cõi nước của tất cả chư Phật, tất cả thế giới chúng sinh. Biết hai ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Một ngàn năm trước, phóng đại quang minh, tên là Khiến tất cả chúng sinh thấy Phật tập các căn lành. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì liền được thành tựu thấy Phật tam muội. Biết một ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện. 

Kế đó bảy ngày trước, phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh hoan hỉ âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì thấy được khắp chư Phật sinh đại hoan hỉ. Biết bảy ngày sau, Phật sẽ xuất hiện.

Khi đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng đó chưa thành Phật, thì trước đó mười ngàn năm, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng ra quang minh thanh tịnh, tên là Hiện chư thần thông thành thục chúng sinh. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì trong tâm tự nhiên khai ngộ, chẳng có gì mà không thấu rõ. Họ biết mười ngàn năm sau, sẽ có Phật xuất hiện ra đời.

Chín ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh ly cấu đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đắc được con mắt pháp thanh tịnh, thấy tất cả sắc tướng. Họ biết chín ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Tám ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng ra quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh nghiệp quả âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều biết được mình tạo nghiệp gì, thì sẽ đắc được quả báo đó. Họ biết tám ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Bảy ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Sinh nhất thiết thiện căn âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì tất cả các căn của họ đều được viên mãn. Họ biết bảy ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Sáu ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Phật bất tư nghì cảnh giới âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì tâm họ rộng lớn, khắp được tự tại. Họ biết sáu ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Năm ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Nghiêm tịnh tất cả cõi Phật âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều thấy tất cả cõi Phật thanh tịnh.

Họ biết năm ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Bốn ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết Như Lai cảnh giới vô sai biệt đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều có thể đến hầu hạ thấy tất cả chư Phật. Họ biết bốn ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Ba ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Tam thế minh đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì đều hiện thấy được các biển bổn sự của tất cả Như Lai. Họ biết ba ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Hai ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Như Lai ly ế trí huệ đăng. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì liền được phổ nhãn, nhìn thấy được thần thông biến hoá của tất cả Như Lai, cõi nước của tất cả chư Phật, tất cả thế giới chúng sinh. Họ biết hai ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Một ngàn năm trước, đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Khiến tất cả chúng sinh thấy Phật tập các căn lành. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì liền được thành tựu thấy Phật tam muội. Họ biết một ngàn năm sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Bảy ngày trước khi Phật xuất hiện ra đời, thì đoá hoa sen lớn đó, lại phóng đại quang minh, tên là Nhất thiết chúng sinh hoan hỉ âm. Nếu có chúng sinh thấy được quang minh đó, thì thấy được khắp chư Phật sinh đại hoan hỉ. Họ biết bảy ngày sau, Phật sẽ xuất hiện ra đời.

Đoạn nầy tường thuật lại tướng trước khi Phật thành đạo, hoa sen đó phóng quang điều cơ, tổng cộng có hai mươi mốt thứ, trong mỗi một thứ, đều có tên của quang minh. Mỗi một thứ quang minh đều hiển bày công dụng công đức của Phật không thể nghĩ bàn. Mười thứ quang minh ở trước, đều đại biểu mười Ba La Mật. Quang minh cuối cùng là viên dung mười độ quang, dùng đây chiếu tâm, thì tự trí xuất hiện.

Cảnh giới trong Phẩm Pháp Giới, đều không ra ngoài tự tánh của chúng ta. Pháp giới tức là tánh diệu giác của chúng ta. Cho nên nói:

“Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Tất cả do tâm tạo”.

Qua bảy ngày sau, tất cả thế giới đều chấn động, thuần tịnh không nhiễm. Niệm niệm khắp hiện tất cả cõi Phật thanh tịnh trong mười phương, cũng hiện đủ thứ sự trang nghiêm của các cõi đó. Nếu có chúng sinh nào căn tánh thành thục, đáng được gặp Phật, thì đều đi đến đạo tràng.

Qua bảy ngày sau, tất cả thế giới đều phát sinh sáu thứ chấn động (điềm cát tường), biến thành thuần thanh tịnh không có nhiễm ô. Trong niệm niệm khắp thị hiện tất cả cõi Phật thanh tịnh trong mười phương, có bất khả thuyết cõi Phật hốt nhiên tự thị hiện, cũng thị hiện đủ thứ sự trang nghiêm trong các cõi đó, đó là sự biến hoá rất kỳ diệu. Nếu có chúng sinh nào căn tánh thành thục, đáng được gặp Phật, thì đều đi đến đạo tràng dưới cội bồ đề Phổ quang pháp vân âm tràng. (Đoạn nầy tường thuật lại động cõi tập chúng)

Bấy giờ, trong thế giới đó, tất cả núi Luân Vi, tất cả núi Tu Di, tất cả các núi, tất cả biển cả, tất cả đất đai, tất cả thành, tất cả tường rào, tất cả cung điện, tất cả âm nhạc, tất cả ngôn ngữ, đều vang ra âm thanh, diễn nói cảnh giới thần lực của tất cả chư Phật Như Lai. 

Lại hiện ra tất cả mây hương, tất cả mây hương đốt, tất cả mây hương bột, tất cả mây hương hình bóng ma ni, tất cả mây bảo diệm, tất cả mây diệm tạng, tất cả mây ma ni y phục, tất cả mây anh lạc, tất cả mây hoa đẹp, tất cả mây Như Lai quang minh, tất cả mây Như Lai viên quang, tất cả mây âm nhạc, tất cả mây Như Lai nguyện thanh, tất cả mây Như Lai ngôn âm hải, tất cả mây Như Lai tướng tốt. Hiển bày tướng Như Lai xuất hiện thế gian không thể nghĩ bàn.

Lúc đó, trong thế giới Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức, tất cả núi Luân Vi, tất cả núi Tu Di, tất cả các núi, tất cả biển cả, tất cả đất đai, tất cả thành thị, tất cả tường rào, tất cả cung điện, tất cả âm nhạc, tất cả ngôn ngữ, vô tình thế giới v.v… đều vang ra âm thanh, để khen ngợi diễn nói cảnh giới thần lực của tất cả chư Phật Như Lai. Lại hiện ra tất cả mây hương, tất cả mây hương đốt, tất cả mây hương bột, tất cả mây hương hình bóng ma ni, tất cả mây bảo diệm, tất cả mây diệm tạng, tất cả mây ma ni y phục, tất cả mây anh lạc, tất cả mây hoa đẹp, tất cả mây Như Lai quang minh, tất cả mây Như Lai viên quang, tất cả mây âm nhạc, tất cả mây tiếng nguyện của Như Lai, tất cả mây biển lời nói của Như Lai, tất cả mây tướng tốt của Như Lai. Đủ thứ mây đó đều hiển bày tướng Như Lai xuất hiện ra thế gian không thể nghĩ bàn. Đây cũng biểu thị người ở thế giới đó có căn lành và phước báo sâu dày, thiên thời, địa lợi, nhân hoà, mới có sự cảm ứng như vậy. (Đoạn nầy là hiện tướng hiển đức).

Thiện nam tử! Đoá hoa sen báu chúa lớn Phổ chiếu ba đời tất cả Như Lai trang nghiêm cảnh giới đó, đều có các hoa sen nhiều như số hạt bụi cõi Phật, khắp chung quanh tứ phía. Trong các hoa sen đó, đều có toà sư tử ma ni bảo tạng. Trên mỗi toà, đều có Bồ Tát ngồi kiết già.

Thiện nam tử! Đoá hoa sen báu chúa lớn Phổ chiếu ba đời tất cả Như Lai trang nghiêm cảnh giới đó, có các hoa sen nhiều như số hạt bụi cõi Phật, khắp chung quanh tứ phía. Trong mỗi đoá hoa sen đó, đều có toà sư tử ma ni bảo tạng. Trên mỗi toà, đều có Bồ Tát ngồi kiết già. (Đoạn nầy biểu thị rõ thành đạo y chánh)

Thiện nam tử! Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng đó, lúc bấy giờ thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thì lập tức trong mười phương tất cả thế giới, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng đó, lúc bấy giờ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì lập tức trong mười phương tất cả thế giới, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện cũng có miêu tả cảnh giới nầy rằng: “Trong một bạt bụi có các cõi nhiều như số hạt bụi, mỗi mỗi cõi đều có chư Phật nhiều khó nghĩ bàn được, trong chúng hội của mỗi mỗi vị Phật, ta thấy luôn luôn diễn nói hạnh bồ đề”.

Tuỳ tâm chúng sinh, đều hiện ra ở trước họ, vì họ chuyển bánh xe pháp. Nơi mỗi mỗi thế giới, khiến cho vô lượng chúng sinh lìa khổ đường ác. Khiến cho vô lượng chúng sinh, được sinh về cõi trời. Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ nơi bậc Thanh Văn Bích Chi Phật. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề xuất ly. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề dũng mãnh tràng. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề pháp quang minh. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề thanh tịnh các căn. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề bình đẳng lực. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề vào pháp thành. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề sức thần thông đến khắp nơi không thể hoại. Khiến cho vô lượng chúng sinh, vào hạnh bồ đề phổ môn phương tiện đạo. Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ hạnh bồ đề môn tam muội. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề duyên tất cả cảnh giới thanh tịnh. Khiến cho vô lượng chúng sinh, phát tâm bồ đề. Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ Bồ Tát đạo. Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ đạo Ba La Mật thanh tịnh. Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ sơ địa Bồ Tát. Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ nhị địa Bồ Tát, cho đến thập địa. Khiến cho vô lượng chúng sinh, vào nơi hạnh nguyện thù thắng của Bồ Tát. Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ hạnh nguyện thanh tịnh của Phổ Hiền.

Vị Phật đó tuỳ tâm chúng sinh, đều hiện ra ở trước chúng sinh, vì tất cả chúng sinh chuyển bánh xe pháp. Ngài lại ở trong mỗi mỗi thế giới, khiến cho vô lượng chúng sinh lìa khỏi thống khổ ba đường ác. Khiến cho vô lượng chúng sinh, được sinh về cõi trời (đầu tiên lợi ích phàm phu). Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ nơi bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật (kế lợi ích hai thừa). Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề xuất ly ba cõi (sau lợi ích Bồ Tát). Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề dũng mãnh tràng. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề pháp quang minh. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề sáu căn thanh tịnh. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề bình đẳng sức lực. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề vào pháp thành. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề sức thần thông đến khắp nơi không thể hoại. Khiến cho vô lượng chúng sinh, vào hạnh bồ đề phổ môn phương tiện đạo. Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ hạnh bồ đề môn tam muội. Khiến cho vô lượng chúng sinh, thành tựu hạnh bồ đề duyên tất cả cảnh giới thanh tịnh. (Trước khiến Bồ Tát thành tựu đủ thứ hạnh môn, sau phát tâm bồ đề). Khiến cho vô lượng chúng sinh, phát tâm bồ đề (Đây là bậc Thập trụ). Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ Bồ Tát đạo (Đây là bậc Thập hạnh). Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ đạo Ba La Mật thanh tịnh (Đây là bậc Thập hồi hướng). Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ Sơ địa Bồ Tát (Hoan hỉ địa). Khiến cho vô lượng chúng sinh, trụ Nhị địa Bồ Tát, cho đến Thập địa. Khiến cho vô lượng chúng sinh, vào nơi hạnh nguyện thù thắng của Bồ Tát. Khiến cho vô lượng chúng sinh, an trụ hạnh nguyện thanh tịnh của Phổ Hiền. (Đây là dùng biển đại nguyện, tịnh trị tiền độ, hai câu sau là bậc Đẳng Giác).

Thiện nam tử! Khi đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng đó, hiện thần lực tự tại không thể nghĩ bàn như vậy, chuyển bánh xe pháp, thì trong mỗi mỗi các thế giới đó, tuỳ chúng sinh đáng được giáo hoá, niệm niệm điều phục vô lượng chúng sinh.

Thiện nam tử! Khi đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng đó, thị hiện đủ thứ thần thông lực tự tại không thể nghĩ bàn như vậy, chuyển bánh xe pháp, thì trong mỗi mỗi các thế giới đó, tuỳ thuận căn cơ chúng sinh đáng được giáo hoá, niệm niệm điều phục vô lượng chúng sinh.

Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền biết chúng sinh trong thành Bảo Hoa Đăng Vương, ỷ cậy sắc tướng diện mạo của mình và các cảnh giới, mà sinh tâm kiêu mạn, lăng nhục miệt thị người khác. Ngài bèn hiện ra thân tốt đẹp, đoan chánh thù đặc, đi đến thành đó. Phóng đại quang minh, chiếu khắp tất cả, khiến cho Thánh vương đó và các báu đẹp, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thân chúng sinh, tất cả ánh sáng, thảy đều lu mờ. Ví như mặt trời mọc trên cao chiếu sáng khắp nơi. Cũng như vàng Diêm Phù để gần đống mực đen.

Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền biết chúng sinh trong thành Bảo Hoa Đăng Vương, ỷ cậy sắc tướng diện mạo xinh đẹp của mình và tất cả cảnh giới tốt đẹp, mà sinh ra tâm kiêu căn ngã mạn, lăng nhục miệt thị người nước khác. Do đó, Bồ Tát Phổ Hiền Ngài bèn hoá hiện ra thân tướng tốt đẹp, đoan chánh thù đặc hơn những người trong thành đó, mà đi đến thành Bảo Hoa Đăng Vương đó. Ở trong thành phóng đại quang minh, chiếu sáng khắp tất cả thế giới, khiến cho Chuyển Luân Thánh Vương và tất cả báu đẹp, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thân chúng sinh, tất cả ánh sáng, thảy đều lu mờ, ẩn đi. Ví như mặt trời mọc trên cao chiếu sáng khắp nơi. Cũng như vàng Diêm Phù để gần đống mực đen. (Đây là hiện thân vượt trội hơn)

Bấy giờ, các chúng sinh đều nghĩ như vầy: Đây là ai vậy? Là Trời, hay là Phạm Thiên? Nay phóng quang minh nầy, khiến cho thân chúng ta và hết thảy ánh sáng màu sắc, đều chẳng hiển hiện. Suy nghĩ đủ thứ như vậy, cũng không thể hiểu rõ được.

Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền trụ trong hư không, trên cung điện báu của Chuyển Luân Thánh Vương đó, mà bảo rằng: Đại Vương nên biết! Nay trong nước của nhà ngươi, có vị Phật xuất hiện ra đời, ở dưới cội bồ đề Phổ quang minh pháp vân âm tràng.

Bấy giờ, tất cả chúng sinh đều nghĩ như vầy: “Đây là ai vậy? Là người Trời, hay là Đại Phạm Thiên? Nay phóng quang minh nầy, khiến cho thân chúng ta và hết thảy ánh sáng màu sắc, đều chẳng hiển hiện”. Những chúng sinh đó suy nghĩ đủ thứ như vậy, cũng không cách chi có thể hiểu rõ được.

Lúc đó, Bồ Tát Phổ Hiền ngồi kiết già trụ trong hư không, trên cung điện báu của Chuyển Luân Thánh Vương đó, mà bảo với vua rằng: “Đại Vương nên biết! Nay trong nước của nhà ngươi, có vị Phật xuất hiện ra đời, ở dưới cội bồ đề Phổ quang minh pháp vân âm tràng”. (Đây là lời nói Phật hiện ra đời)

Bầy giờ, vương nữ Liên Hoa Diệu Nhãn, thấy Bồ Tát Phổ Hiền hiện sắc thân quang minh tự tại và nghe các đồ trang nghiêm trên thân vang ra diệu âm, sinh tâm hoan hỉ, bèn nghĩ như vầy: Nguyện cho hết thảy tất cả căn lành của con, đắc được thân như vậy, trang nghiêm như vậy, tướng tốt như vậy, oai nghi như vậy, tự tại như vậy. Nay đại Thánh nầy, ở trong đêm dài đen tối sinh tử của chúng sinh, phóng đại quang minh, khai thị Như Lai xuất hiện ra đời. Nguyện khiến cho con cũng được như vậy, vì các chúng sinh tác trí quang minh, phá tan hết thảy đen tối vô tri đó. Nguyện cho con ở chỗ chúng sinh, thường được không lìa khỏi vị thiện tri thức nầy.

Lúc đó, vương nữ Liên Hoa Diệu Nhãn của vua Chuyển Luân Thánh Vương, nhìn thấy Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện sắc thân quang minh tự tại, lại nghe các đồ trang nghiêm trên thân của Ngài vang ra diệu âm, sinh tâm đại hoan hỉ, bèn nghĩ như vầy: “Nguyện cho hết thảy tất cả căn lành của con, đắc được thân giống như Ngài, trang nghiêm như vậy, có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp như vậy, oai đức nghi biểu như vậy, tự tại như vậy. Hiện nay vị đại Thánh nầy, ở trong đêm dài đen tối sinh tử của chúng sinh, phóng đại quang minh, khai thị chúng con, nói Như Lai đã xuất hiện ra đời. Nguyện khiến cho con cũng được như vậy, hay vì các chúng sinh tác trí huệ quang minh, phá tan hết thảy đen tối vô tri đó. Nguyện cho con ở chỗ chúng sinh, thường được không lìa khỏi vị thiện tri thức nầy. (Đây là vương nữ phát tâm lớn, cũng là nhân đi vào pháp). Trong Hoa Nghiêm Sớ Sao của Ngài Thanh Lương Quốc Sư có nói : “Nhân bao quả chi hải, quả thông nhân chi nguyên”, do đó: “Lúc ban đầu phát tâm, liền thành Chánh Giác”.

Thiện nam tử! Bấy giờ, vua Chuyển Luân và nữ báu, quyến thuộc ngàn người con, đại thần phụ tá, bốn thứ binh chúng, cùng với vô lượng nhân dân trong thành, trước sau vây quanh. Nhờ thần lực của vua, đều bay lên hư không, cao một do tuần. Phóng đại quang minh, chiếu bốn thiên hạ, khắp khiến cho tất cả đều được chiêm ngưỡng. Muốn khiến cho chúng sinh đều đi đến gặp Phật, bèn dùng kệ khen ngợi rằng:

Thiện nam tử! Lúc đó, vua Chuyển Luân và nữ báu, quyến thuộc ngàn người con, đại thần phụ tá, bốn thứ binh chúng, cùng với vô lượng nhân dân trong thành, trước sau vây quanh hướng về đạo tràng của Phật. Nhờ thần lực của vua Chuyển Luân Thánh Vương, tất cả mọi người đều bay lên hư không, cao một do tuần (khoảng tám mươi dặm). Phóng đại quang minh, chiếu sáng bốn thiên hạ, khắp khiến cho tất cả chúng sinh đều được chiêm ngưỡng. Vua Chuyển Luân Thánh Vương muốn khiến cho chúng sinh đều đi đến gặp Phật, bèn dùng kệ khen rằng:

Như Lai hiện thế gian
Cứu khắp các quần sinh
Các ngươi hãy mau lên
Đi đến chỗ Đạo Sư.

Đức Phật xuất hiện ra thế gian, là vì cứu độ khắp tất cả chúng sinh, các ngươi hãy mau lên, đi đến chỗ đạo tràng của đấng Đạo Sư (đức Phật).

Vô lượng vô số kiếp
Mới có Phật ra đời
Diễn nói diệu pháp sâu
Lợi ích tất cả chúng.

Trong vô lượng vô số đại kiếp, mới có Phật thị hiện ra đời, đây chẳng phải là một nhân duyên nhỏ, mà là trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được một cơ hội tốt. Đức Phật diễn nói đại pháp thâm sâu vi diệu, để lợi ích tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui.

Phật quán các thế gian
Điên đảo thường si hoặc
Luân hồi sinh tử khổ
Mà khởi tâm đại bi.

Đức Phật quán sát tất cả chúng sinh thế gian, đều điên điên đảo đảo, chẳng rõ trắng đen, chẳng rõ thị phi, bị mê hoặc trong đen tối ngu si. Họ luân hồi trong sáu nẻo, lúc lên trời, lúc dưới đất, lúc làm ngạ quỷ, lúc làm súc sinh, lúc làm người, lúc làm A tu la, luân hồi thọ khổ như vậy. Cho nên đức Phật khởi tâm đại bi, đến cứu độ chúng sinh thọ khổ.

Vô số ức ngàn kiếp
Tu tập hạnh bồ đề
Vì muốn độ chúng sinh
Đều do sức đại bi.

Trong vô số ức ngàn đại kiếp, đức Phật tu tập hạnh bồ đề. Vì muốn cứu độ tất cả chúng sinh, đều do sức lực tâm đại bi.

Đầu mắt tay chân thảy
Tất cả đều xả được
Vì cầu đạo bồ đề
Vô lượng kiếp như vậy.

Đức Phật hay nội thí xả đầu mắt tuỷ não tay chân, ngoại thí xả đất nước vợ con, tất cả đều xả bỏ được. Phật vì cầu đạo bồ đề, cho nên thân tâm tánh mạng đều chẳng cần. Đây chẳng phải phát tâm một ngày hai ngày, mà là vô lượng kiếp luôn phát đại nguyện như vậy.

Vô lượng ức ngàn kiếp
Đạo Sư khó gặp được
Thấy nghe hoặc hầu hạ
Tất cả không luống qua.

Trong vô lượng ức ngàn đại kiếp, bậc Đạo Sư (Phật) rất khó gặp được. Nếu ai thấy được Phật, hoặc nghe được danh hiệu Phật, hoặc hầu hạ cúng dường Phật, thì tự nhiên sẽ có đại công đức, do đó: “Công chẳng tổn hao”, tất cả đều không luống qua.

Nay sẽ cùng các ngươi
Đến gặp đấng Điều Ngự
Ngồi nơi toà Như Lai
Hàng ma thành Chánh Giác.

Nay ta sẽ cùng các ngươi, cùng nhau đi đến gặp đấng Điều Ngự, lễ lạy Phật. Phật ngồi nơi toà báu sư tử, ở chỗ đó hàng phục thiên ma, chế các ngoại đạo, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Chiêm ngưỡng thân Như Lai
Phóng ra vô lượng quang
Đủ thứ sắc vi diệu
Trừ diệt tất cả tối.

Chúng ta hiện đang chiêm ngưỡng sắc thân Như Lai, phóng ra diễn biến vô lượng quang minh, có đủ thứ nhan sắc vi diệu, trừ diệt được tất cả vô minh đen tối của chúng sinh.

Trong mỗi mỗi lỗ lông
Phóng quang không nghĩ bàn
Chiếu khắp các quần sinh
Đều khiến đại hoan hỉ.

Trong mỗi mỗi lỗ chân lông của Phật, đều phóng ra quang minh không thể nghĩ bàn, chiếu sáng khắp tất cả chúng sinh, đều khiến cho họ sinh đại hoan hỉ.

Các ông đều nên phát
Tâm rộng lớn tinh tấn
Đến chỗ Như Lai đó
Cung kính mà cúng dường.

Các ông đều nên phát tâm rộng lớn tinh tấn dũng mãnh, đi đến chỗ đạo tràng của đức Như Lai đó, để cung kính cúng dường Phật.

Bấy giờ, Chuyển Luân Thánh Vương nói kệ khen ngợi đức Phật, khai ngộ tất cả chúng sinh rồi. Từ căn lành của Luân Vương, hiện ra mười ngàn thứ mây đại cúng dường. Đi đến đạo tràng, hướng đến chỗ đức Như Lai. Như là: Mây tất cả lọng báu. Mây tất cả trướng hoa. Mây tất cả y báu. Mây tất cả lưới linh báu. Mây tất cả biển hương. Mây tất cả toà báu. Mây tất cả tràng báu. Mây tất cả cung điện. Mây tất cả hoa đẹp. Mây tất cả các đồ trang nghiêm. Nghiêm sức khắp nơi ở trong hư không. Đến rồi, đảnh lễ dưới chân Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, lập tức ở trước đức Phật, ngồi trên toà hoa sen báu phổ chiếu thập phương.

Lúc đó, Chuyển Luân Thánh Vương nói kệ khen ngợi đức Phật, khai ngộ tất cả chúng sinh rồi. Từ căn lành của luân vương, hiện ra mười ngàn thứ mây đại cúng dường. Sau đó đi đến đạo tràng, hướng đến chỗ đức Phật. Như là: Mây tất cả lọng báu. Mây tất cả trướng hoa. Mây tất cả y báu. Mây tất cả lưới linh báu. Mây tất cả biển hương. Mây tất cả toà báu. Mây tất cả tràng báu. Mây tất cả cung điện. Mây tất cả hoa đẹp. Mây tất cả các đồ trang nghiêm. Đủ thứ mây đại cúng dường đó nghiêm sức khắp nơi ở trong hư không. Đến đạo tràng của đức Phật rồi, Chuyển Luân Thánh Vương đảnh lễ dưới chân Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức, rồi đi nhiễu quanh vô lượng vòng, lập tức ở trước đức Phật, ngồi trên toà hoa sen báu phổ chiếu thập phương. (Đoạn nầy tường thuật lại nổi mây cúng dường rộng lớn, sau đó đi đến đó tu kính)

Bấy giờ, vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn của Chuyển Luân Vương, lập tức cởi các đồ trang nghiêm trên thân mình, cầm rải lên cúng dường đức Phật.

Lúc đó, vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn của Chuyển Luân Vương, lập tức cởi tất cả các đồ trang nghiêm trên thân mình, cầm rải lên đức Phật, để cúng dường đức Phật. (Đồ trang nghiêm dâng cúng Phật, là biểu thị tu vạn hạnh, hướng về quả Phật)

Bấy giờ, đồ trang nghiêm biến thành lọng báu ở trong hư không, lưới báu thòng rũ xuống, có Long Vương đứng cầm giữ. Tất cả cung điện xen bày trong đó, có mười thứ lọng báu, bày bố chung quanh, hình như lầu các, trong ngoài thanh tịnh. Các mây chuỗi báu và các cây báu, hương hải ma ni, dùng để trang nghiêm. Ở trong những lọng đó, có cây bồ đề, cành lá sum sê, che khắp pháp giới. Niệm niệm thị hiện vô lượng trang nghiêm. Tỳ Lô Giá Na Như Lai ngồi dưới cội bồ đề đó, có các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi Phật vây quanh trước sau, đều từ Phổ Hiền hạnh nguyện sinh ra, an trụ nơi trụ không khác biệt của các Bồ Tát. 

Cũng thấy có tất cả các thế gian chủ, cũng thấy thần lực tự tại của Như Lai. Lại thấy tất cả các kiếp thứ tự, thế giới thành hoại. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó, tất cả chư Phật, xuất hiện ra đời thứ tự. Lại cũng thấy tất cả thế giới đó, mỗi thế giới đều có Bồ Tát Phổ Hiền cúng dường đức Phật, điều phục chúng sinh. Lại cũng thấy tất cả Bồ Tát đó, đều ở trong thân của Phổ Hiền. Cũng thấy thân mình ở trong thân đó, cũng thấy thân mình ở trước tất cả Như Lai, ở trước tất cả Phổ Hiền, ở trước tất cả Bồ Tát, ở trước tất cả chúng sinh.

Lúc đó, đồ trang nghiêm của nữ báu, biến thành lọng báu, ở trong hư không, lưới báu thòng rũ xuống, có Long Vương đứng cầm giữ. Tất cả cung điện xen bày la liệt trong đó. Có mười thứ lọng báu khác nhau, bày bố chung quanh, hình thù giống như lầu các, trong ngoài đều rất thanh tịnh. Có các mây chuỗi báu và tất cả các cây báu, hương hải ma ni, dùng để trang nghiêm. Ở trong những lọng báu đó, có cây bồ đề, cành lá rất sum sê, che phủ khắp pháp giới. Trong niệm niệm, thị hiện vô lượng sự trang nghiêm. Tỳ Lô Giá Na Như Lai ngồi dưới cội bồ đề đó, có các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi Phật vây quanh trước sau, các Ngài đều từ Phổ Hiền hạnh nguyện sinh ra, an trụ nơi pháp môn trụ không khác biệt của các Bồ Tát.

Vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn, cũng nhìn thấy có tất cả các thế gian chủ, cũng nhìn thấy sức thần thông tự tại của Như Lai. Lại nhìn thấy tất cả các kiếp thứ tự trước sau, thế giới thành trụ hoại không. Lại cũng nhìn thấy tất cả thế giới đó, tất cả chư Phật, xuất hiện ra đời thứ tự. Lại cũng nhìn thấy tất cả thế giới đó, mỗi thế giới đều có Bồ Tát Phổ Hiền cúng dường đức Phật, điều phục hết thảy chúng sinh. Lại cũng nhìn thấy tất cả Bồ Tát đó, đều ở trong pháp thân của Bồ Tát Phổ Hiền. Vương nữ cũng nhìn thấy thân mình ở trong pháp thân của Bồ Tát Phổ Hiền đó. Lại cũng nhìn thấy thân mình thị hiện ở trước tất cả chư Phật, ở trước tất cả Bồ Tát Phổ Hiền, ở trước tất cả các Bồ Tát và ở trước tất cả chúng sinh.

Đây là cảnh giới rất kỳ diệu, viên mãn vô ngại, trùng trùng vô tận, trong phẩm thứ hai Như Lai Hiện Tướng, có đoạn Kinh văn cũng tương tự như cảnh giới nầy: “Trong mỗi lỗ chân lông của Như Lai, có chư Phật ngồi nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, Bồ Tát chúng hội cùng vây quanh, diễn nói thắng hạnh của Phổ Hiền”; “Pháp giới nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đều xuất hiện trong tất cả chúng, như vậy phân thân trí cảnh giới, kiến lập trong hạnh Phổ Hiền”; “Bồ Tát Phổ Hiền khai giác, tất cả Như Lai cùng khen ngợi hoan hỉ, đã đắc được đại thần thông của chư Phật, chảy khắp cùng pháp giới”. Vương nữ chẳng những nhìn thấy một vị Bồ Tát Phổ Hiền, mà ở trong mỗi hạt bụi, Ngài đều nhìn thấy Bồ Tát Phổ Hiền phân thân vô số, để cúng dường chư Phật, làm thượng thủ trong pháp hội, giáo hoá chúng sinh không nhàm mỏi.

Lại cũng thấy tất cả thế giới đó, mỗi thế giới đều có các thế giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật, đủ thứ ranh giới, đủ thứ nhiệm trì, đủ thứ hình trạng, đủ thứ thể tánh, đủ thứ an bày, đủ thứ trang nghiêm, đủ thứ thanh tịnh, đủ thứ mây trang nghiêm che phủ phía trên, đủ thứ tên kiếp, đủ thứ Phật ra đời, đủ thứ ba đời, đủ thứ phương xứ, đủ thứ trụ pháp giới, đủ thứ vào pháp giới, đủ thứ trụ hư không, đủ thứ Như Lai bồ đề tràng, đủ thứ Như Lai thần thông lực, đủ thứ toà sư tử của Như Lai, đủ thứ biển đại chúng của Như Lai, đủ thứ chúng Như Lai khác biệt, đủ thứ phương tiện thiện xảo của Như Lai, đủ thứ chuyển bánh xe pháp của Như Lai, đủ thứ âm thanh vi diệu của Như Lai, đủ thứ biển lời nói của Như Lai, đủ thứ mây khế kinh của Như Lai, thấy như vậy rồi, tâm Ngài thanh tịnh, sinh đại hoan hỉ.

Vương nữ Phổ Trí Diệm Diệu Đức Nhãn lại cũng nhìn thấy tất cả thế giới đó, mỗi thế giới đều có các thế giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật, mỗi thế giới lại bao vô số thế giới. Mỗi thế giới có đủ thứ ranh giới khác nhau, có đủ thứ vận hành chi trì, có đủ thứ hình trạng, có đủ thứ thể tánh. Mỗi một thế giới đều có thể khác nhau, hình trạng và tính cách cũng khác nhau. Có đủ thứ sự an bày phân bố khác nhau. Có đủ thứ trang nghiêm, đủ thứ thanh tịnh, đủ thứ mây trang nghiêm che phủ phía trên. Có đủ thứ tên kiếp, đủ thứ Phật xuất hiện ra đời, đủ thứ ba đời khác nhau, đủ thứ phương hướng và xứ sở, đủ thứ trụ pháp giới, đủ thứ vào pháp giới, đủ thứ trụ hư không, đủ thứ bồ đề đạo tràng của Phật, đủ thứ trí huệ thần thông lực của Phật, đủ thứ toà báu sư tử của Phật, thăng toà thuyết pháp, đủ thứ biển đại chúng của Phật, đủ thứ đại chúng Như Lai khác biệt, đủ thứ phương tiện thiện xảo của Phật, đủ thứ chuyển bánh xe pháp của Phật, đủ thứ âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn của Phật, đủ thứ biển lời nói của Phật, đủ thứ mây khế kinh của Phật. Do đó:

“Trên khế với ý của chư Phật,
Dưới hoá độ căn cơ của chúng sinh”.

Vương nữ thấy đủ thứ cảnh giới như vậy rồi, tâm của Ngài rất thanh tịnh, mà sinh tâm đại hoan hỉ.

Đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Vương, vì vương nữ nói Tu Đa La, tên là Nhất Thiết Như Lai Chuyển Pháp Luân, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật làm quyến thuộc.

Đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng Vưong, vì vương nữ nói Tu Đa La, tên là Nhất Thiết Như Lai Chuyển Pháp Luân. Bộ Kinh đó, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật làm quyến thuộc.

Bấy giờ, người nữ đó nghe Kinh đó rồi, liền được thành tựu mười ngàn môn tam muội. Tâm Ngài mềm mại, không cứng thô, như mới thọ thai, như mới sinh ra, như cây Sa La mới nảy mầm. Tâm tam muội đó, cũng lại như thế. Đó là: Tam muội hiện thấy tất cả Phật. Tam muội chiếu khắp tất cả cõi. Tam muội vào tất cả môn ba đời. Tam muội nói tất cả Phật pháp luân. Tam muội biết biển nguyện của tất cả Phật. Tam muội khai ngộ tất cả chúng sinh, khiến cho thoát khỏi khổ sinh tử. Tam muội thường nguyện phá đen tối của tất cả chúng sinh. Tam muội thường nguyện diệt khổ của tất cả chúng sinh. Tam muội thường nguyện sinh vui cho tất cả chúng sinh. Tam muội giáo hoá tất cả chúng sinh chẳng sinh mỏi nhàm. Tam muội tất cả Bồ Tát không chướng ngại tràng. Tam muội đến khắp tất cả cõi Phật thanh tịnh.

Khi người nữ đó nghe bộ Kinh Nhất Thiết Như Chuyển Pháp Luân đó rồi, liền được thành tựu mười ngàn môn tam muội. Tâm Ngài rất nhu hoà mềm mại, không cứng thô, mềm mại như mới thọ thai, mềm mại như đứa bé mới sinh ra, lại mềm mại như cây Sa La mới nảy mầm. Mười ngàn tam muội của đó trong tâm của Ngài, cũng lại như thế. Đó là: Tam muội hiện thấy tất cả Phật. Tam muội chiếu sáng khắp tất cả cõi Phật. Tam muội vào tất cả môn ba đời. Tam muội diễn nói tất cả Phật pháp luân. Tam muội biết rõ biển đại nguyện của tất cả chư Phật. Tam muội khai ngộ tất cả chúng sinh, khiến cho họ thoát khỏi khổ sinh tử. Tam muội thường nguyện phá trừ đen tối của tất cả chúng sinh. Tam muội thường nguyện diệt trừ khổ của tất cả chúng sinh. Tam muội thường nguyện sinh an vui cho tất cả chúng sinh. Tam muội giáo hoá tất cả chúng sinh chẳng sinh mỏi nhàm. Tam muội tất cả Bồ Tát không chướng ngại tràng. Tam muội đến khắp tất cả cõi Phật thanh tịnh.

Đây là vừa bắt đầu đả thiền thất thứ hai, lần đả thiền thất nầy, rất nhiều người muốn dụng công phu, không muốn giải đãi, thậm chí có người không nói chuyện. Nhất là có một người mới đến, đến đây tham gia thiền thất chẳng nói chuyện, hôm nay người đó đã quy y. Lại có người ngồi thiền có thể nhập định, vị cư sĩ đó trong đời quá khứ, đã từng tu qua, cho nên lần nầy đến đây tham gia thiền thất, công phu của anh ta cũng rất có tiến bộ, rất tương ưng. Khi anh ta ngồi, liền có thể nhập định. Do đó, lúc chúng ta khai tĩnh, anh ta đứng dậy, hoặc không đứng dậy, đều tuỳ ý anh ta. Người ngồi thiền, khi nhập định rồi, có lúc cũng không biết đã khai tĩnh. Ở trong định không muốn đứng dậy, cũng không thể đứng lên. Cho nên các vị đừng kêu anh ta đứng dậy chạy hương. Bất cứ vị nào ngồi yên, không đứng lên đều được hết. Chỉ cần bạn không cảm thấy đau chân, đau lưng, thì có thể nhập định, đây đều là hiện tượng tốt. Về sau các vị thấy vị nào đã khai tĩnh rồi, mà chẳng đứng lên chạy hương, thì các vị đừng kêu họ.

Đả thiền thất lần nầy, có mấy người đắc được lợi ích rất lớn, cho nên có người đề nghị muốn tiếp tục đả thiền thất. Tôi nghĩ đây cũng là luật nghi rất tốt, có thể đả thêm một thiền thất nữa, có thêm ít người khai ngộ, rất có giá trị. Đả xong ba tuần thiền thất rồi, chúng ta sẽ tiếp tục đả Quan Âm thất, vì cầu nguyện cho người dân Đài Loan, khiến cho họ tiêu tai khỏi nạn, tất cả được thuận lợi, vạn sự cát tường. Chúng ta phải đem chân tâm ra, để dụng công tu đạo, đừng có bỏ ngang giữa chừng, để thời gian trôi qua một cách lãng phí.

Đắc được mười ngàn tam muội như vậy rồi, lại đắc được tâm diệu định, tâm bất động, tâm hoan hỉ, tâm an ủi, tâm rộng lớn, tâm thuận thiện tri thức, tâm duyên nhất thiết trí thâm sâu, tâm trụ biển phương tiện rộng lớn, tâm xả lìa tất cả chấp trước, tâm chẳng trụ tất cả cảnh giới thế gian, tâm vào cảnh giới Như Lai, tâm chiếu khắp tất cả biển sắc, tâm không não hại, tâm không cao ngạo, tâm không mệt mỏi, tâm không thối chuyển, tâm không giải đãi, tâm suy gẫm tự tánh các pháp, tâm an trụ tất cả biển pháp môn, tâm quán sát tất cả biển pháp môn. Tâm biết rõ tất cả biển chúng sinh. Tâm cứu hộ tất cả biển chúng sinh. Tâm chiếu khắp tất cả biển thế giới. Tâm khắp sinh biển nguyện của tất cả chư Phật. Tâm phá trừ tất cả núi chướng. Tâm tích tập phước đức trợ đạo. Tâm hiện thấy thập lực chư Phật. Tâm chiếu khắp cảnh giới Bồ Tát. Tâm tăng trưởng Bồ Tát trợ đạo. Tâm duyên khắp biển tất cả phương.

Vương nữ đắc được mười ngàn tam muội như vậy rồi, lại đắc được tâm định vi diệu, tâm bất động, tâm hoan hỉ, tâm an ủi, tâm rộng lớn, tâm thuận thiện tri thức, tâm duyên nhất thiết trí thâm sâu, tâm trụ biển phương tiện rộng lớn, tâm xả lìa tất cả chấp trước, tâm chẳng trụ tất cả cảnh giới thế gian, tâm vào cảnh giới Như Lai, tâm chiếu khắp tất cả biển sắc, tâm không não hại, tâm không cao ngạo, tâm không mệt mỏi, tâm không thối chuyển, tâm không giải đãi, tâm suy gẫm tự tánh các pháp, tâm an trụ tất cả biển pháp môn, tâm quán sát tất cả biển pháp môn. Tâm biết rõ tất cả biển chúng sinh. Tâm cứu hộ tất cả biển chúng sinh. Tâm chiếu khắp tất cả biển thế giới. Tâm khắp sinh biển nguyện của tất cả chư Phật. Tâm phá trừ tất cả núi chướng. Tâm tích tập phước đức trợ đạo. Tâm hiện thấy thập lực chư Phật. Tâm chiếu khắp cảnh giới Bồ Tát. Tâm tăng trưởng Bồ Tát trợ đạo. Tâm duyên khắp biển tất cả phương.

Một lòng suy gẫm đại nguyện Phổ Hiền. Phát biển nguyện của tất cả Như Lai, nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Nguyện nghiêm tịnh tất cả cõi Phật. Nguyện điều phục tất cả chúng sinh. Nguyện biết khắp tất cả pháp giới. Nguyện vào khắp tất cả biển pháp giới. Nguyện ở nơi tất cả cõi Phật, hết kiếp thuở vị lai, tu Bồ Tát hạnh. Nguyện hết kiếp thuở vị lai, chẳng xả bỏ tất cả Bồ Tát hạnh. Nguyện được gần gũi tất cả Như Lai. Nguyện được hầu hạ tất cả bạn lành. Nguyện được cúng dường tất cả chư Phật. Nguyện ở trong niệm niệm tu Bồ Tát hạnh, tăng trưởng nhất thiết trí, không có gián đoạn. Phát biển nguyện nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật như vậy. Thành tựu hết thảy đại nguyện Phổ Hiền.

Vương nữ một lòng một dạ suy gẫm mười đại hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Do đó, cô ta cũng phát biển nguyện của tất cả Như Lai nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Cô ta nguyện trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật. Nguyện điều phục tất cả chúng sinh. Phát nguyện biết khắp tất cả pháp giới. Phát nguyện vào khắp tất cả biển pháp giới. Phát nguyện ở nơi tất cả cõi Phật, hết kiếp thuở vị lai, tu Bồ Tát hạnh. Phát nguyện hết kiếp thuở vị lai, chẳng xả bỏ tất cả Bồ Tát hạnh. Phát nguyện được gần gũi tất cả Như Lai. Phát nguyện được hầu hạ tất cả bạn lành. Phát nguyện được cúng dường tất cả chư Phật. Phát nguyện ở trong niệm niệm tu Bồ Tát hạnh, tăng trưởng nhất thiết trí, không có gián đoạn. Vương nữ phát biển nguyện nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật như vậy rồi, thành tựu hết thảy biển đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.

Đoạn nầy tường thuật lại sau khi vương nữ nghe đức Phật diễn nói Kinh Nhất Thiết Như Lai Chuyển Pháp Luân rồi, liền đắc được ba thứ lợi ích:

1. Trước hết được lợi ích tam muội.
2. Được lợi ích tâm lớn, tức tâm bi trí đẳng.
3. Lợi ích thành đại nguyện.

Ba việc đều là pháp điều phục.

Từ đoạn Kinh văn nầy, chúng ta biết được tất cả Bồ Tát phát nguyện đều không cùng tận, do đó: “Hư không hữu tận, ngã nguyện vô tận”. Lại nói: “Như vậy cõi hư không tận, cõi chúng sinh tận, nghiệp chúng sinh tận, phiền não chúng sinh tận, nguyện của con không cùng tận. Niệm niệm liên tục, không có gián đoạn. Thân lời ý nghiệp, không có nhàm mỏi”. Hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, làm cơ bản cho hết thảy tất cả các Bồ Tát. Chúng Bồ Tát hải hội trong Kinh Hoa Nghiêm đều tu hành hạnh nguyện giống nhau.

Bấy giờ, đức Như Lai đó lại vì vương nữ khai thị diễn nói căn lành tích tụ, tu diệu hạnh, đắc được đại quả, từ khi phát tâm từ đó đến nay, khiến cho vương nữ khai ngộ thành tựu hết thảy biển nguyện của Như Lai, một lòng hướng về bậc nhất thiết trí.

Lúc đó, đức Như Lai Phổ Trí Bảo Diệm Diệu Đức Tràng, lại vì vương nữ khai thị diễn nói căn lành tích tụ, tu diệu hạnh, đắc được đại quả, từ khi phát tâm từ đó đến nay, khiến cho vương nữ khai ngộ thành tựu hết thảy biển đại nguyện của Như Lai trong quá khứ, một lòng một dạ hướng về quả vị nhất thiết trí. Đoạn nầy hiển phát nhân xưa.

Thiện nam tử! Lại ở trước đó, trải qua mười đại kiếp, có thế giới tên là Nhựt Luân Quang Ma Ni, đức Phật hiệu là Nhân Đà La Tràng Diệu Tướng. Người nữ diệu nhãn đó, ở trong di pháp của đức Như Lai đó, Bồ Tát Phổ Hiền khuyên cô ta tu bổ tượng Phật hư hoại trên toà sen. Khi tu bổ rồi, lại còn sơn vẽ. Sơn vẽ rồi, lại còn trang nghiêm châu báu. Phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Ta nhớ quá khứ do nhờ thiện tri thức Bồ Tát Phổ Hiền, mà gieo trồng xuống căn lành nầy. Từ đó đến nay, chẳng đoạ vào đường ác. Thường được sinh vào trong tất cả dòng dõi vua chúa trên trời và nhân gian, đoan chánh xinh đẹp, các tướng viên mãn, khiến cho mọi người ưa nhìn. Thường được gặp Phật, thường được gần gũi Bồ Tát Phổ Hiền cho đến nay, chỉ đạo khai ngộ thành thục cho ta, khiến cho ta sinh hoan hỉ.

Thiện nam tử! Lại ở trước đó, trải qua mười đại kiếp, có thế giới tên là Nhựt Luân Quang Ma Ni, đức Phật hiệu là Nhân Đà La Tràng Diệu Tướng. Người nữ diệu nhãn đó, ở trong di pháp của đức Như Lai đó sau khi nhập Niết Bàn, Bồ Tát Phổ Hiền khuyên cô ta tu bổ tượng Phật hư hoại trên toà sen. Khi cô ta tu bổ tượng Phật rồi, lại còn sơn vẽ. Sơn vẽ rồi, lại còn dùng vàng bạc châu báu để trang nghiêm tượng Phật. Lúc đó, cô ta bèn phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Thiện nam tử! Ta nhớ quá khứ do nhờ thiện tri thức Bồ Tát Phổ Hiền, mà gieo trồng xuống căn lành nầy. Từ đó đến nay, chẳng đoạ vào đường ác. Thường được sinh vào trong tất cả dòng dõi vua chúa trên trời và nhân gian, tướng mạo của ta đoan chánh xinh đẹp, các tướng viên mãn, khiến cho mọi người ưa nhìn. Thường được gặp Phật, cho nên có những người sinh ra liền thường được gặp Phật, được mở ngũ nhãn, đó đều là người có căn lành. Ta lại thường được gần gũi Bồ Tát Phổ Hiền cho đến ngày hôm nay, Ngài chỉ lối dẫn đường, khiến cho ta khai ngộ thành thục, khiến cho ta sinh đại hoan hỉ. (Đoạn nầy biểu rõ bắt đầu phát tâm).

Thiện nam tử! Ý ông thế nào? Lúc bấy giờ vị Chuyển Luân Thánh Vương Tỳ Lô Giá Na Tạng Diệu Bảo Hoa Kế, đâu phải là người nào khác, nay chính là Bồ Tát Di Lặc. Vị vương nữ Viên Mãn Diện, tức là vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, ở cách đây không xa. Vị đồng nữ Diệu Đức Nhãn thuở đó, tức là thân ta vậy.

Thiện nam tử! Ý ông thế nào? Lúc bấy giờ vị Chuyển Luân Thánh Vương Tỳ Lô Giá Na Tạng Diệu Bảo Hoa Kế, đâu phải là người nào khác, nay chính là Bồ Tát Di Lặc. Vị vương phi Viên Mãn Diện, tức là Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, Ngài ở cách đây không xa. Vị đồng nữ Diệu Đức Nhãn thuở đó, tức là thân ta vậy.

Lúc đó ta làm thân đồng nữ, Bồ Tát Phổ Hiền khuyên ta tu bổ tượng Phật ngồi trên toà sen, dùng làm nhân duyên vô thượng bồ đề, khiến cho ta phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. 

Lúc đó, ta bắt đầu phát tâm, sau đó lại dẫn dắt khiến cho ta được thấy đức Phật Diệu Đức Tràng. Ta cởi chuỗi ngọc trên thân, rải lên cúng dường đức Phật, thấy thần lực của đức Phật, nghe đức Phật thuyết pháp, lập tức đắc được môn giải thoát Bồ Tát khắp hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh. Ở trong niệm niệm, thấy các đức Phật nhiều như số hạt bụi núi Tu Di, cũng thấy đạo tràng chúng hội cõi nước thanh tịnh của các đức Phật đó. Ta đều tôn trọng cung kính cúng dường, lắng nghe thuyết pháp, y giáo phụng hành.

Lúc đó ta làm thân đồng nữ Diệu Đức Nhãn, Bồ Tát Phổ Hiền khuyên ta tu bổ tượng Phật ngồi trên toà sen, dùng làm nhân duyên vô thượng bồ đề, khiến cho ta phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Lúc đó, ta bắt đầu phát tâm, sau đó Bồ Tát Phổ Hiền lại dẫn dắt khiến cho ta được thấy đức Phật Diệu Đức Tràng. Ta cởi chuỗi ngọc trên thân, rải lên cúng dường đức Phật, nhìn thấy thần thông lực của đức Phật, nghe đức Phật thuyết pháp. Ta lập tức đắc được môn giải thoát Bồ Tát khắp hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh. Ở trong niệm niệm, ta thấy các đức Phật nhiều như số hạt bụi núi Tu Di. Ta cũng thấy đạo tràng chúng hội cõi nước thanh tịnh của các đức Phật đó. Ta đều tôn trọng cung kính cúng dường chư Phật, lắng nghe Phật nói diệu pháp, mà y giáo phụng hành.

Thiện nam tử! Trải qua thế giới Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức, kiếp Viên Mãn Thanh Tịnh rồi. Lại có thế giới, tên là Bảo Luân Diệu Trang Nghiêm, kiếp tên là Đại Quang, có năm trăm vị Phật, xuất hiện ra đời, ta đều hầu hạ cung kính cúng dường.

Thiện nam tử! Trải qua thế giới Tỳ Lô Giá Na Đại Oai Đức, kiếp Viên Mãn Thanh Tịnh rồi. Lại có thế giới, tên là Bảo Luân Diệu Trang Nghiêm, kiếp tên là Đại Quang, có năm trăm vị Phật, xuất hiện ra đời, ta đều hầu hạ cung kính cúng dường.

Vị Phật đầu tiền, hiệu là Đại Bi Tràng, lúc đức Phật mới xuất gia, ta làm Dạ Thần, cung kính cúng dường. Lại có vị Phật ra đời, hiệu là Kim Cang Na La Diên Tràng, ta làm Chuyển Luân Vương, cung kính cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Tất Cả Phật Xuất Hiện, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật làm quyến thuộc. 

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Kim Cang Vô Ngại Đức. Lúc đó ta làm Chuyển Luân Vương, cung kính cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Chiếu Khắp Căn Tất Cả Chúng Sinh, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi núi Tu Di làm quyến thuộc, ta đều thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Hoả Diệm Sơn Diệu Trang Nghiêm. Lúc đó ta làm nữ trưởng giả. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Chiếu Khắp Tạng Ba Đời, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi Diêm Phù Đề làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Nhất Thiết Pháp Hải Cao Thắng Vương. Ta làm A Tu La Vương, cung kính cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Phân Biệt Tất Cả Pháp Giới, có năm trăm Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Hải Nhạc Pháp Quang Minh. Ta làm nữ Long Vương, mưa xuống mây báu ma ni như ý để cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Tăng Trưởng Biển Hoan Hỉ, có năm trăm ức Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Bảo Diệm Sơn Đăng. Ta làm Thần Biển, mưa xuống mây hoa sen báu, cung kính cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Pháp Giới Phương Tiện Hải Quang Minh, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi cõi Phật làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Công Đức Hải Quang Minh Luân. Lúc đó ta làm Tiên Ngũ Thông, hiện đại thần thông, có sáu vạn chư Tiên vây quanh trước sau, mưa xuống mây hương hoa để cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Vô Trước Pháp Đăng, có sáu vạn Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.    

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Tỳ Lô Giá Na Công Đức Tạng. Lúc đó ta làm Chủ Địa Thần, tên là Xuất Sanh Bình Đẳng Nghĩa, với vô lượng Địa Thần tụ lại, mưa xuống tất cả cây báu, tất cả tạng ma ni, tất cả mây chuỗi báu để cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Xuất Sanh Tất Cả Như Lai Trí Tạng, có vô lượng Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, thọ trì không quên.

Vị Phật đầu tiền, hiệu là Phật Đại Bi Tràng, lúc đức Phật mới xuất gia, ta làm Dạ Thần, để cung kính cúng dường vị Phật đó. Lại có vị Phật ra đời, hiệu là Kim Cang Na La Diên Tràng, ta làm Chuyển Luân Vương, để cung kính cúng dường vị Phật đó. Đức Phật đó vì ta diễn nói Tu Đa La, tên là Kinh Tất Cả Phật Xuất Hiện, có các Kinh điển nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật làm quyến thuộc.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Kim Cang Vô Ngại Đức. Lúc đó ta làm Chuyển Luân Vương, để cung kính cúng dường vị Phật đó. Đức Phật đó vì ta diễn nói Tu Đa La, tên là Chiếu Khắp Tất Cả Căn Chúng Sinh, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi núi Tu Di làm quyến thuộc, ta đều thọ trì Kinh của Phật nói.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Hoả Diệm Sơn Diệu Trang Nghiêm. Lúc đó ta làm nữ trưởng giả. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Chiếu Khắp Tạng Ba Đời, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi Diêm Phù Đề làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Nhất Thiết Pháp Hải Cao Thắng Vương. Ta làm A Tu La Vương, để cung kính cúng dường vị Phật đó. Đức Phật đó vì ta diễn nói Tu Đa La, tên là Kinh Phân Biệt Tất Cả Pháp Giới, có năm trăm Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Hải Nhạc Pháp Quang Minh. Ta làm nữ Long Vương, mưa xuống mây báu ma ni như ý để cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Kinh Tăng Trưởng Biển Hoan Hỉ, có năm trăm ức Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Bảo Diệm Sơn Đăng. Ta làm Thần Biển, mưa xuống mây hoa sen báu, để cung kính cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Kinh Pháp Giới Phương Tiện Hải Quang Minh, có các Tu Đa La nhiều như số hạt bụi cõi Phật làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Công Đức Hải Quang Minh Luân. Lúc đó ta làm Tiên Ngũ Thông, thị hiện sức đại thần thông, có sáu vạn chư Tiên vây quanh ta trước sau, mưa xuống mây hương hoa để cúng dường. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Kinh Vô Trước Pháp Đăng, có sáu vạn Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, như pháp thọ trì.

Kế lại có vị Phật ra đời, hiệu là Tỳ Lô Giá Na Công Đức Tạng. Lúc đó ta làm Chủ Địa Thần, tên là Xuất Sanh Bình Đẳng Nghĩa, ta với vô lượng Địa Thần cùng nhau tụ lại, cùng mưa xuống tất cả cây báu, tất cả tạng ma ni, tất cả mây chuỗi báu để cúng dường Phật. Đức Phật đó vì ta nói Tu Đa La, tên là Xuất Sanh Tất Cả Như Lai Trí Tạng, có vô lượng Tu Đa La làm quyến thuộc, ta đều lắng nghe, thọ trì nơi tâm, niệm niệm không quên.

Thiện nam tử! Thứ tự như vậy, vị Phật cuối cùng, hiệu là Sung Mãn Hư Không Pháp Giới Diệu Đức Đăng. Ta làm kỹ nữ, tên là Mỹ Nhan. Thấy đức Phật đi vào thành, bèn ca múa để cúng dường. Nhờ thần lực của đức Phật, ta nhảy vọt lên hư không, dùng ngàn bài kệ, để khen ngợi đức Phật. Đức Phật vì ta, phóng ra quang minh giữa lông mày, tên là Trang nghiêm pháp giới đại quang minh, chiếu đến khắp thân ta. Ta nhờ quang minh đó chiếu rồi, lập tức đắc được môn giải thoát, tên là Pháp giới phương tiện bất thối tạng.

Thiện nam tử! Thứ tự như vậy, vị Phật cuối cùng, hiệu là Phật Sung Mãn Hư Không Pháp Giới Diệu Đức Đăng. Lúc đó ta làm kỹ nữ, tên là Mỹ Nhan. Ta nhìn thấy đức Phật đi vào thành, bèn ca múa để cúng dường Phật. Nhờ sức thần thông của đức Phật, ta nhảy vọt lên hư không, dùng ngàn bài kệ, để khen ngợi đức Phật. Đức Phật liền vì ta, phóng ra quang minh giữa lông mày, tên là Trang nghiêm pháp giới đại quang minh, chiếu sáng đến khắp thân ta. Ta nhờ quang minh đó chiếu sáng rồi, lập tức đắc được môn giải thoát, tên là Pháp giới phương tiện bất thối tạng.

Thiện nam tử! Trong thế giới đó, có đại kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật như vậy. Tất cả Như Lai xuất hiện ra đời, ta đều hầu hạ cung kính cúng dường. Các Như Lai đó nói chánh pháp, ta đều ghi nhớ, cho đến không quên một câu, một chữ. Ta ở chỗ mỗi mỗi các đức Như Lai đó, tán thán khen ngợi tất cả Phật pháp, vì vô lượng chúng sinh rộng làm lợi ích. Ta ở chỗ mỗi mỗi các đức Như Lai đó, đắc được quang minh nhất thiết trí, hiện biển pháp giới ba đời, nhập vào tất cả hạnh Phổ Hiền.

Thiện nam tử! Vì ta nương quang minh nhất thiết trí, nên ở trong niệm niệm, thấy được vô lượng chư Phật. Khi thấy được chư Phật rồi, những gì trước kia chưa đắc được, trước kia chưa thấy các hạnh Phổ Hiền, thì ta đều được thành tựu viên mãn. Tại sao? Vì nhờ đắc được quang minh nhất thiết trí.

Thiện nam tử! Trong thế giới Bảo Luân Diệu Trang Nghiêm đó, có đại kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật như vậy. Tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, ta đều hầu hạ cung kính cúng dường. Chư Phật đó diễn nói chánh pháp, ta đều ghi nhớ, cho đến không quên một câu một chữ. Ta ở chỗ đạo tràng của mỗi mỗi các đức Như Lai đó, tán thán khen ngợi tất cả Phật pháp, vì vô lượng chúng sinh rộng làm lợi ích. Ta ở chỗ đạo tràng mỗi mỗi các đức Như Lai đó, đắc được quang minh nhất thiết trí, thị hiện biển pháp giới ba đời, nhập vào tất cả hạnh Phổ Hiền (Đắc pháp tu hành).
Thiện nam tử! Vì ta y chiếu quang minh nhất thiết trí, nên ở trong niệm niệm, thấy được vô lượng chư Phật. Khi thấy được chư Phật rồi, những gì trước kia chưa đắc được, trước kia chưa thấy các hạnh Phổ Hiền, thì ta đều được thành tựu viên mãn. Tại sao? Vì ta nhờ đắc được quang minh nhất thiết trí (Thấy Phật hạnh thành tựu).

Bấy giờ, vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh, muốn thuật rõ lại nghĩa giải thoát nầy, bèn nương thần lực của Phật, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Thiện Tài nghe ta nói
Pháp thâm sâu khó gặp
Chiếu khắp cả ba đời
Tất cả môn khác nhau.

Lúc đó, Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh, vì muốn thuật rõ lại nghĩa lý pháp môn giải thoát nầy, bèn nương thần lực của Phật, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng: “Thiện Tài! Ngươi hãy nghe ta diễn nói, pháp thâm sâu vô thượng, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được, chiếu soi khắp cả ba đời, quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả pháp môn khác nhau.

Như ta mới phát tâm
Chuyên cầu công đức Phật
Nhập vào các giải thoát
Nay ngươi nên lắng nghe.

Như xưa kia lúc ta mới bắt đầu phát tâm, chuyên tâm tìm cầu công đức của Phật. Chứng nhập vào các pháp môn giải thoát, nay ngươi nên lắng nghe cho kỹ!

Ta nhớ đời quá khứ
Qua kiếp số bụi cõi
Kế trước có một kiếp
Tên Viên Mãn Thanh Tịnh.

Ta nhớ đời quá khứ, trải qua đại kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật. Kế trước đó có một kiếp, tên là kiếp Viên Mãn Thanh Tịnh.

Bấy giờ có thế giới
Tên là Biến Chiếu Đăng
Phật nhiều bụi Tu Di
Ra đời ở trong đó.

Bấy giờ có một thế giới, tên là thế giới Biến Chiếu Đăng. Có các đức Phật nhiều như số hạt bụi núi Tu Di, xuất hiện ra đời.

Một Phật hiệu Trí Diễm
Kế Phật hiệu Pháp Tràng
Thứ ba Pháp Tu Di
Thứ tư Đức Sư Tử.

Đức Phật thứ nhứt hiệu là Phật Trí Diễm, kế đó đức Phật hiệu là Phật Pháp Tràng. Thứ ba là Phật Pháp Tu Di. Thứ tư là đức Phật Đức Sư Tử.

Thứ năm Tịch Tĩnh Vương
Thứ sáu Diệt Chư Kiến
Thứ bảy Cao Danh Xưng
Thứ tám Đại Công Đức.

Thứ năm là đức Phật Tịch Tĩnh Vương. Thứ sáu là đức Phật Diệt Chư Kiến. Thứ bảy là đức Phật Cao Danh Xưng. Thứ tám là đức Phật Đại Công Đức.

Thứ chín hiệu Thắng Nhựt
Thứ mười hiệu Nguyệt Diện
Ở chỗ mười Phật đó
Ban đầu ngộ pháp môn.

Thứ chín hiệu là Phật Thắng Nhựt. Thứ mười hiệu là Phật Nguyệt Diện. Ta ở chỗ mười vị đức Phật đó, ban đầu lãnh ngộ được đại dụng của pháp môn nầy. (10 vị Phật nầy, hợp làm 1 vị Phật).

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Một hiệu Hư Không Xứ
Thứ hai hiệu Phổ Quang.

Từ đó về sau, thứ tự lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Hư Không Xứ. Thứ hai hiệu là Phật Phổ Quang.

Ba hiệu Trụ Chư Phương
Bốn hiệu Chánh Niệm Hải
Năm hiệu Cao Thắng Quang
Sáu hiệu Tu Di Vân.

Thứ ba hiệu là Phật Trụ Chư Phương. Thứ tư hiệu là Phật Chánh Niệm Hải. Thứ năm hiệu là Phật Cao Thắng Quang. Thư sáu hiệu là Phật Tu Di Vân.

Bảy hiệu Phật Pháp Diệm
Tám hiệu Phật Sơn Thắng
Chín hiệu Đại Bi Hoa
Mười hiệu Pháp Giới Hoa.
Khi mười Phật đó hiện
Ngộ pháp môn thứ hai.

Thứ bảy hiệu là Phật Pháp Diệm. Thứ tám hiệu là Phật Sơn Thắng. Thứ chín hiệu là Phật Đại Bi Hoa. Thứ mười hiệu là Phật Pháp Giới Hoa. Khi mười vị Phật đó xuất hiện, thì ta lãnh ngộ được diệu dụng của pháp môn thứ hai nầy. (Mười vị Phật nầy, hợp lại là 1 vị Phật)

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhứt Phật Quang Tràng
Thứ hai Phật Trí Huệ.

Từ đó về sau, thứ tự lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Quang Tràng. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Trí Huệ.

Thứ ba Phật Tâm Nghĩa
Thứ tư Phật Đức Chủ
Thứ năm Phật Thiên Huệ
Thứ sáu Phật Huệ Vương.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Tâm Nghĩa. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Đức Chủ. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Thiên Huệ. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Huệ Vương.

Thứ bảy Phật Thắng Trí
Thứ tám Phật Quang Vương
Thứ chín Phật Dũng Mãnh
Thứ mười Phật Liên Hoa.
Ở chỗ mười Phật đó
Ngộ pháp môn thứ ba.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Thắng Trí. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Quang Vương. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Dũng Mãnh. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Liên Hoa. Ta ở chỗ đạo tràng mười vị Phật đó, lãnh ngộ được diệu dụng của pháp môn thứ ba nầy.

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhất Bảo Diệm Sơn
Thứ hai Công Đức Hải.

Từ đó về sau, thứ tự lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhất hiệu là Phật Bảo Diệm Sơn. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Công Đức Hải.

Thứ ba Pháp Quang Minh
Thứ tư Liên Hoa Tạng
Thứ năm Chúng Sinh Nhãn
Thứ sáu Hương Quang Bảo.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Pháp Quang Minh. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Liên Hoa Tạng. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Chúng Sinh Nhãn. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Hương Quang Bảo.

Bảy Tu Di Công Đức
Tám Càn Thát Bà Vương
Thứ chín Ma Ni Tạng
Thứ mười Tịch Tĩnh Sắc.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Tu Di Công Đức. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Càn Thát Bà Vương. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Ma Ni Tạng. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Tịch Tĩnh Sắc.

Kế sau đó thứ tự 
Lại có mười Phật hiện
Một Phật Quảng Đại Trí
Kế Phật Bảo Quang Minh.

Từ đó về sau, thứ tự lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhất hiệu là Phật Quảng Đại Trí. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Bảo Quang Minh.

Thứ ba Hư Không Vân
Thứ tư Thù Thắng Tướng
Thứ năm Viên Mãn Giới
Thứ sáu Na La Diên.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Hư Không Vân. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Thù Thắng Tướng. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Viên Mãn Giới. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Na La Diên.

Thứ bảy Tu Di Đức
Thứ tám Công Đức Luân
Thứ chín Vô Thắng Tràng
Thứ mười Đại Thụ Sơn.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Tu Di Đức. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Công Đức Luân. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Vô Thắng Tràng. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Đại Thụ Sơn.

Kế sau đó thứ tự 
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhứt Bà La Tạng
Thứ hai Thế Chủ Thân.

Kế sau đó thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt là Phật Bà La Tạng. Thứ hai là Phật Thế Chủ Thân.

Thứ ba Cao Hiển Quang
Thứ tư Kim Cang Chiếu
Thứ năm Địa Oai Lực
Thứ sáu Thậm Thâm Pháp.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Cao Hiển Quang. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Kim Cang Chiếu. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Địa Oai Lực. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Thậm Thâm Pháp.

Thứ bảy Pháp Huệ Âm
Thứ tám Tu Di Tràng
Thứ chín Thắng Quang Minh
Thứ mười Diệu Bảo Quang.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Pháp Huệ Âm. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Tu Di Tràng. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Thắng Quang Minh. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Diệu Bảo Quang.

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhứt Phạm Quang Minh
Thứ hai Hư Không Âm.

Kế sau đó thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Phạm Quang Minh. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Hư Không Âm.

Thứ ba Pháp Giới Thân
Thứ tư Quang Minh Luân
Thứ năm Trí Huệ Tràng
Thứ sáu Hư Không Đăng.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Pháp Giới Thân. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Quang Minh Luân. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Trí Huệ Tràng. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Hư Không Đăng.

Thứ bảy Vi Diệu Đức
Thứ tám Biến Chiếu Quang
Thứ chín Thắng Phước Quang
Thứ mười Đại Bi Vân.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Vi Diệu Đức. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Biến Chiếu Quang. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Thắng Phước Quang. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Đại Bi Vân.

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhứt Lực Quang Huệ
Thứ hai Phổ Hiện Tiền.

Kế sau đó thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Lực Quang Huệ. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Phổ Hiện Tiền.

Thứ ba Cao Hiển Quang
Thứ tư Quang Minh Thân
Thứ năm Phật Pháp Khởi
Thứ sáu Phật Bảo Tướng.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Cao Hiển Quang. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Quang Minh Thân. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Pháp Khởi. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Bảo Tướng.

Thứ bảy Tốc Tật Phong
Thứ tám Dũng Mãnh Tràng
Thứ chín Diệu Bảo Cái
Thứ mười Chiếu Tam Thế.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Tốc Tật Phong. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Dũng Mãnh Tràng. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Diệu Bảo Cái. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Chiếu Tam Thế.

Kế sau đó thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Thứ nhứt Nguyện Hải Quang
Thứ hai Kim Cang Thân.

Kế sau đó thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Nguyện Hải Quang. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Kim Cang Thân.

Thứ ba Tu Di Đức
Thứ tư Niệm Tràng Vương
Thứ năm Công Đức Huệ
Thứ sáu Trí Huệ Đăng.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Tu Di Đức. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Niệm Tràng Vương. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Công Đức Huệ. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Trí Huệ Đăng.

Thứ bảy Quang Minh Tràng
Thứ tám Quảng Đại Trí
Thứ chín Pháp Giới Trí
Thứ mười Pháp Hải Trí.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Quang Minh Tràng. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Quảng Đại Trí. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Pháp Giới Trí. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Pháp Hải Trí.

Kế đó sau thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Một hiệu Bố Thí Pháp
Hai hiệu Công Đức Luân.

Kế đó sau thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Bố Thí Pháp. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Công Đức Luân.

Ba hiệu Thắng Diệu Vân
Bốn hiệu Nhẫn Trí Đăng
Năm hiệu Tịch Tĩnh Âm
Sáu hiệu Tịch Tĩnh Tràng.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Thắng Diệu Vân. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Nhẫn Trí Đăng. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Tịch Tĩnh Âm. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Tịch Tĩnh Tràng.

Bảy hiệu Thế Gian Đăng
Tám hiệu Thâm Đại Nguyện
Chín hiệu Vô Thắng Tràng
Mười hiệu Trí Diệm Đăng.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Thế Gian Đăng. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Thâm Đại Nguyện. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Vô Thắng Tràng. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Trí Diệm Đăng.

Kế đó sau thứ tự
Lại có mười Phật hiện
Một Phật Pháp Tự Tại
Hai Phật Vô Ngại Huệ.

Kế đó sau thứ tự, lại có mười vị Phật xuất hiện ra đời. Vị Phật thứ nhứt hiệu là Phật Pháp Tự Tại. Vị Phật thứ hai hiệu là Phật Vô Ngại Huệ.

Ba hiệu Ý Hải Huệ
Bốn hiệu Chúng Diệu Âm
Năm hiệu Tự Tại Thí
Sáu hiệu Phổ Hiện Tiền.

Vị Phật thứ ba hiệu là Phật Ý Hải Huệ. Vị Phật thứ tư hiệu là Phật Chúng Diệu Âm. Vị Phật thứ năm hiệu là Phật Tự Tại Thí. Vị Phật thứ sáu hiệu là Phật Phổ Hiện Tiền.

Bảy hiệu Tuỳ Lạc Thân
Tám hiệu Trụ Thắng Đức
Chín hiệu Phật Bổn Tánh
Thứ mười Phật Hiền Đức.

Vị Phật thứ bảy hiệu là Phật Tuỳ Lạc Thân. Vị Phật thứ tám hiệu là Phật Trụ Thắng Đức. Vị Phật thứ chín hiệu là Phật Bổn Tánh. Vị Phật thứ mười hiệu là Phật Hiền Đức.

Kiếp số bụi Tu Di
Hết thảy Phật trong đó
Khắp làm đèn thế gian
Ta đều từng cúng dường.

Đại kiếp nhiều như số hạt bụi núi Tu Di, hết thảy chư Phật ở trong đó, khắp làm đèn sáng thế gian, ta đều từng cúng dường tất cả chư Phật.

Số kiếp bụi cõi Phật
Hết thảy Phật ra đời
Ta đều từng cúng dường
Vào môn giải thoát nầy.

Trong đại kiếp nhiều như số hạt bụi cõi Phật, hết thảy chư Phật xuất hiện ra đời, ta đều từng cúng dường mỗi vị Phật, cho nên ta vào được pháp môn giải thoát nầy.
Trong Kinh trường hàng nầy, có một trăm mười vị Phật, biểu thị Thập Địa và Đẳng Giác. Vị Phật thứ nhứt làm chủ, chín vị kia làm bạn. Hai bài kệ sau cùng, hiển bày tổng thể các kiếp, cũng biểu thị trí hạnh viên mãn.

Ta trong vô lượng kiếp
Tu hành được đạo nầy
Nếu ngươi hay tu hành
Chẳng lâu cũng sẽ được.

Ta ở trong vô lượng kiếp về trước, tu hành đắc được đạo quả nầy. Nếu ngươi tu hành pháp môn nầy, thì chẳng bao lâu nữa cũng sẽ đắc được môn giải thoát nầy. (Đây là cử nhân khuyến tu).

Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát Bồ Tát phổ hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh nầy. Như các đại Bồ Tát, tích tập vô biên hạnh, sinh ra đủ thứ sự hiểu biết, hiện đủ thứ thân, đầy đủ các thứ căn, viên mãn đủ thứ nguyện, vào đủ thứ tam muội, khởi đủ thứ thần biến, quán sát được đủ thứ pháp, vào đủ thứ môn trí huệ, được đủ thứ pháp quang minh, mà ta làm sao biết được, nói được, những hạnh công đức đó ?

Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát Bồ Tát phổ hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh nầy. Như tất cả các đại Bồ Tát, tích tập vô biên hạnh, sinh ra đủ thứ sự hiểu biết, hiện đủ thứ sắc thân, đầy đủ các thứ căn, viên mãn đủ thứ đại nguyện, vào đủ thứ tam muội, khởi đủ thứ thần thông biến hoá, quán sát được đủ thứ pháp, vào đủ thứ pháp môn trí huệ, đắc được đủ thứ pháp quang minh, mà ta làm sao biết được, nói được những hạnh công đức đó. Ngươi hãy đi tìm cầu một vị thiện tri thức khác!

Thiện nam tử! Cách đây không xa, có vị Chủ Dạ Thần, tên là Tịch Tĩnh Âm Hải. Ngồi trên toà sen ma ni quang tràng trang nghiêm, có trăm vạn A tăng kỳ vị Chủ Dạ Thần vây quanh trước sau. Ngươi hãy đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo ? 

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ vị Dạ Thần, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, rồi từ tạ mà đi.

Thiện nam tử! Cách đây không xa, có một vị Chủ Dạ Thần, tên là Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải. Ngài đang ngồi trên toà sen ma ni quang tràng trang nghiêm, có trăm vạn A tăng kỳ vị Chủ Dạ Thần vây quanh trước sau Ngài. Ngươi hãy đi đến đó thưa hỏi: “Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? Ngài sẽ vì ngươi diễn nói”.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức, đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, sau đó ân cần chiêm ngưỡng thiện tri thức, rồi từ tạ mà đi.

Hỏi: Cảnh giới chứng được sáu căn dụng với nhau như thế nào?

Đáp: Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Công năng của chúng dụng với nhau không thể dùng tâm ý thức để trắc lường. Bạn không cần nghĩ đến tình hình chúng dụng với nhau. Một khi bạn nghĩ nói muốn kêu chúng dụng với nhau, đó tức là vọng tưởng. Nếu bạn chân chánh chứng được cảnh giới nầy, thì bạn không cần kêu nó đi làm việc, nó sẽ làm việc tự nhiên. Chúng chẳng phải là máy móc, phải mở nút chính, thì mới làm việc; nếu không mở, thì nó sẽ thành một vật chết. Người chứng được sáu căn dụng với nhau, chẳng phải bạn kêu chúng làm gì, thì chúng làm cái đó. Không cần bạn phát ra hiệu lệnh, mà nó tự động làm. Bạn không thể mạo xưng có cảnh giới nầy. Nếu mạo xưng, thì ai ai cũng đều có thể mạo xưng đã chứng được cảnh giới nầy, như vậy là ngư mục hỗn châu (mắt cá lầm tưởng hạt châu).

Phải dụng công mới có cảnh giới. Trong sự tu đạo, gặp cảnh giới gì, chẳng màng tốt, hoặc không tốt, vẫn tiếp tục dụng công, đừng chạy theo cảnh giới, cũng đừng đi tìm cảnh giới. Tức không chạy theo, cũng không hoan nghênh nó đến, coi như bình thường chẳng có việc gì. Nếu chấp trước vào cảnh giới, thì công phu sẽ mất đi. Giống như trồng trọt, bạn không biết hạt giống lúc nào sẽ mọc lên, nhưng có một ngày nó sẽ nảy mầm. Nhưng bạn không đợi được, muốn giúp mầm cao lớn hơn một chút, cho nên bạn nhổ nó lên một chút, chẳng những nó không lớn, mà còn khô héo rồi chết. Đây gọi là “Nhổ mầm giúp lớn”.

Chúng ta dụng công phải sống động, đừng có cứng ngắt, phải mở mắt cho thật lớn, đừng có suốt ngày đến tối mặt mày ủ rũ, chẳng có sự linh động. Như vậy gọi là “nước chết”, do đó có câu: “Nước chết không thành rồng”, bạn phải linh hoạt sống động.

Ngày thứ nhất đả thiền thất, tôi đã nói với các vị: “Mỗi người phải hồi quang phản chiếu, đừng nhìn ra bên ngoài, mà phải nhìn vào bên trong của chính mình. Lúc đó, bên trong quán tâm mà không có tâm, bên ngoài quán thân mà không có thân, ở xa quán tất cả vạn vật cũng chẳng tồn tại”. Đây tức là:

“Trong không thân tâm,
Ngoài không thế giới”.

Nhưng đây chẳng phải là chết, ngược lại càng sống lại, rất là hoạt bát thiên chân, giống như rồng sống, hổ sống. Đừng có mặt mày ủ rũ mắt mở không lên, như vậy thì tu hành chẳng tương ưng. Tóm lại, phải phấn chấn tinh thần lên, đấu tranh với sinh tử không thể giống như cỏ đầu tường, gió thổi thì ngã. Nhất là lúc chạy hương, tay phải hoạt động lên, đừng có cứng ngắt, như bị người ta trói. Khi chạy hương, tay trái phải co lên, tay phải phải dũi ra, chạy thì giống như rồng bay hổ đi, tóm lại, phải có oai nghi tinh thần. Tại sao? Vì bạn đấu tranh với sinh tử, nếu không đem tinh thần chân chánh ra, thì sẽ đấu không lại nó. Điểm nầy các vị nên chú ý!

 

35. DẠ THẦN TỊCH TĨNH ÂM HẢI PHÓ THÁC THỨ NĂM NAN THẮNG ĐỊA

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức, nghe môn giải thoát Bồ Tát phổ hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh, biết rõ tin hiểu, tự tại an trụ, mà đi đến chỗ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử ở chỗ đạo tràng của vị Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức, nghe được môn giải thoát Bồ Tát phổ hiện tất cả thế gian điều phục chúng sinh, Ngài biết rõ tin hiểu, tự tại an trụ nơi pháp môn nầy, mà đi đến chỗ đạo tràng của vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải.

Đây là Nan thắng địa thứ năm, là chân tục hai trí, hành tướng trái nhau, hợp khiến cho tương ưng, vì rất nan thắng. Vị Thần nầy tức là mẹ của Phổ Cứu, biểu thị chân tinh tấn, tức từ định sinh. Khởi tâm động niệm, vì là vọng không thể tiến. Thiền gọi là “Tịch tĩnh”. Nhập tục diễn pháp, hoá vật sâu rộng, nên gọi là “âm hải”.

Đảnh lễ vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, ở trước chắp tay, mà bạch rằng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Con muốn nương thiện tri thức, học Bồ Tát hạnh, nhập vào Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát hạnh, trụ Bồ Tát hạnh, xin hãy thương xót, vì con mà diễn nói: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

Thiện Tài đảnh lễ vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, rồi đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, sau đó ở trước vị Dạ Thần chắp tay lại, mà bạch rằng: “Đại Thánh! Con trước đã phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con muốn nương thiện tri thức, học Bồ Tát hạnh, nhập vào Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát hạnh, an trụ Bồ Tát hạnh, xin Ngài hãy từ bi thương xót, vì con mà diễn nói: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, làm thế nào tu Bồ Tát đạo”?

Bấy giờ, vị Dạ Thần bảo Thiện Tài rằng: Lành thay ! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi có thể nương thiện tri thức cầu Bồ Tát hạnh. 

Thiện nam tử! Ta được môn giải thoát Bồ Tát niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn. 

Thiện Tài nói: Đức Thánh! Môn giải thoát nầy, sự nghiệp như thế nào? Cảnh giới ra sao? Khởi phương tiện gì? Quán sát như thế nào?

Lúc đó, vị Dạ Thần bảo Thiện Tài đồng tử rằng: “Lành thay ! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi có thể nương thiện tri thức mà cầu Bồ Tát hạnh.

Thiện nam tử! Ta đắc được pháp môn giải thoát Bồ Tát niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn”. Môn giải thoát nầy có hai ý nghĩa:

1. Hoá sinh toại chí nên sinh hỉ, tức là phước đức trang nghiêm.
2. Quán Phật Bồ Tát thắng dụng nên hoan hỉ, tức là trí huệ trang nghiêm. Quán hoá tức không gián đoạn, nên hỉ cũng niệm niệm sinh ra.

Thiện Tài đồng tử hỏi: “Đại Thánh! Phải làm tịnh đức sự nghiệp gì mới có thể thành tựu môn giải thoát nầy? Cảnh giới hạnh chứng như thế nào? Sinh khởi phương tiện gì? Quán sát suy gẫm như thế nào”?

Vị Dạ Thần nói: Thiện nam tử! Ta phát khởi tâm ưa thích thanh tịnh bình đẳng. Ta phát khởi tâm ưa thích lìa tất cả thế gian bụi dơ, thanh tịnh kiên cố không thể hoại. Ta phát khởi tâm phan duyên không thối chuyển, quả vị vĩnh viễn không thối chuyển. Ta phát khởi tâm trang nghiêm công đức núi báu bất động. Ta phát khởi tâm không trụ xứ. Ta phát khởi tâm hiện khắp cứu hộ trước tất cả các chúng sinh. Ta phát khởi tâm thấy tất cả biển chư Phật không nhàm đủ. Ta phát khởi tâm cầu tất cả nguyện lực thanh tịnh của Bồ Tát. Ta phát khởi tâm trụ biển đại trí quang minh.

Vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải nói: Thiện nam tử! Ta phát khởi tâm ưa thích thanh tịnh bình đẳng. Ta phát khởi tâm ưa thích lìa tất cả thế gian bụi dơ, thanh tịnh kiên cố trang nghiêm không thể hoại. Ta lại phát khởi tâm phan duyên không thối chuyển, quả vị vĩnh viễn không thối chuyển. Ta phát khởi tâm trang nghiêm công đức núi báu bất động. Ta lại phát khởi tâm không trụ xứ. Ta lại phát khởi tâm hiện khắp cứu hộ trước tất cả các chúng sinh. Ta lại phát khởi tâm thấy tất cả biển chư Phật không nhàm đủ. Ta lại phát khởi tâm cầu tất cả nguyện lực thanh tịnh của Bồ Tát. Ta lại phát khởi tâm trụ biển đại trí quang minh.

Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh vượt qua đồng hoang lo buồn. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa buồn rầu khổ não. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa sắc thanh hương vị xúc pháp không vừa ý. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa khổ thương yêu mà xa lìa, ghét mà gặp nhau. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa ác duyên ngu si các khổ. Ta phát khởi tâm làm chỗ nương nhờ cho tất cả chúng sinh bị hiểm nạn. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh thoát khỏi nơi khổ sinh tử. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa khổ sinh già bệnh chết. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu pháp vui vô thượng của Như Lai. Ta phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh đều thọ vui thích. 

Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh vượt qua đồng hoang lo buồn. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa buồn rầu khổ não. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa sắc thanh hương vị xúc pháp không vừa ý. Chúng sinh đều chấp vào cảnh giới sáu trần, bị pháp nhiễm ô nầy làm thương hại huệ mạng của họ, một chút lợi ích cũng chẳng có. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa khổ thương yêu mà xa lìa, ghét mà gặp nhau. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa ác duyên ngu si các khổ. Ta lại phát khởi tâm làm chỗ nương nhờ cho tất cả chúng sinh bị hiểm nạn. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh thoát khỏi nơi khổ sinh tử. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh xả lìa khổ sinh già bệnh chết. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh thành tựu pháp vui vô thượng của Như Lai. Ta lại phát khởi tâm khiến cho tất cả chúng sinh đều thọ hoan hỉ vui thích.
Vị Dạ Thần dùng phương pháp thiện xảo phương tiện để trả lời bốn câu hỏi của Thiện Tài đồng tử. Trong 20 tâm nầy, 10 tâm trước là tâm đại trí trên cầu Phật đạo. 10 tâm sau là tâm đại bi hạ hoá chúng sinh.

Phát tâm như vậy rồi, lại vì họ thuyết pháp, khiến cho họ dần dần đến bậc nhất thiết trí.

Ta phát đủ thứ tâm ở trên như vậy rồi, lại vì họ diễn nói diệu pháp, khiến cho họ dần dần đạt đến bậc nhất thiết trí huệ.

Đó là: Nếu thấy chúng sinh ưa chấp chỗ ở cung điện nhà cửa, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thấu đạt tự tánh các pháp, lìa các chấp trước. 

Nếu thấy chúng sinh mến luyến cha mẹ, anh em, chị em, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được dự chúng hội thanh tịnh của chư Phật Bồ Tát. 

Nếu thấy chúng sinh luyến mến vợ con, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ xả lìa ái nhiễm sinh tử, khởi tâm đại bi, đối với tất cả chúng sinh, bình đẳng không hai. 

Nếu thấy chúng sinh trụ nơi cung vua, thể nữ hầu hạ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được tập hội với Thánh chúng, vào giáo pháp của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh nhiễm trước cảnh giới, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ vào cảnh giới của Như Lai. 

Đó là: Nếu thấy chúng sinh ưa chấp chỗ ở cung điện và nhà cửa, thì ta vì họ diễn nói diệu pháp, khiến cho họ thấu rõ thông đạt tự tánh tất cả các pháp, mà xa lìa mọi sự chấp trước.

Nếu thấy chúng sinh tham luyến chấp trước cha mẹ anh em chị em lục thân quyến thuộc, thì ta vì họ diễn nói diệu pháp, khiến cho họ được dự vào đại chúng hải hội thanh tịnh của chư Phật Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh tham luyến chấp trước vợ con, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ xả lìa ái nhiễm sinh tử, có ái nhiễm tức là sinh tử, xả lìa ái nhiễm thì sẽ chấm dứt sinh tử, sinh khởi tâm đại bi, do đó có câu: “Từ hay ban vui”, ban cho tất cả chúng sinh an lạc, đối với tất cả chúng sinh, bình đẳng không phân biệt.

Nếu thấy chúng sinh trụ nơi cung vua, có rất nhiều thể nữ hầu hạ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được cùng nhau tập hội với Thánh chúng, nhập vào giáo pháp của Như Lai.

Nếu thấy chúng sinh tham nhiễm chấp trước cảnh giới, nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng tất cả cảnh giới, như người tu đạo gặp một thứ cảnh giới nào đó, thì tham đắm vào cảnh giới đó, kỳ thật tu đạo tức là tu hướng về trước, có cảnh giới gì hiện tiền, thì đó chỉ là một bộ phận thành tựu của sự tu hành, không cần nhiễm trước, mà cảm thấy cảnh giới thù thắng như thế nào, thì ta vì họ nói pháp, giáo hoá họ đừng tự phế bỏ giữa đường, phải dũng mãnh tinh tấn, tiến vào cảnh giới của Như Lai. (Đoạn nầy cả hai minh xả giới Ba La Mật, dùng xả tất cả tham trước, thì giữ giới thanh tịnh).

Nếu thấy chúng sinh nhiều sân hận, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ trụ nhẫn Ba La Mật của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh tâm họ giải đãi, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được thanh tịnh tinh tấn Ba La Mật. 

Nếu thấy chúng sinh tâm họ tán loạn, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được thiền Ba La Mật của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh vào rừng rậm kiến chấp, vô minh ám chướng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát khỏi rừng rậm đen tối. 

Nếu thấy chúng sinh không có trí huệ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được Bát Nhã Ba La Mật. 

Nếu thấy chúng sinh nhiễm trước ba cõi, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát khỏi sinh tử. 

Nếu thấy chúng sinh ý chí hạ liệt, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ viên mãn nguyện Phật bồ đề. 

Nếu thấy chúng sinh trụ hạnh lợi mình, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ phát khởi nguyện lợi ích tất cả chúng sinh. 

Nếu thấy chúng sinh chí lực yếu kém, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được lực Ba La Mật của Bồ Tát. 

Nếu thấy chúng sinh tâm ngu si đen tối, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí Ba La Mật của Bồ Tát.

Nếu ta thấy chúng sinh nhiều sân hận, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ trụ nhẫn Ba La Mật của Phật. Giống như chúng ta tu đạo rất khổ, phải nhẫn lạnh, nhẫn nóng, nhẫn đói, nhẫn khát, tất cả đều phải nhẫn, không thể đối với cảnh giới bạn chẳng hoan hỉ, bèn nổi giận. Đạo lý trong Kinh nói, nhất định phải sử dụng, không thể gặp cảnh giới, mà không thể dùng pháp môn trong Kinh điển. Người nóng giận nhiều, nhất định phải thay đổi sự nóng giận của mình, phải tu hạnh nhẫn nhục, nhẫn nhục Ba La Mật, chứ chẳng có pháp nào khác.

Vị Dạ Thần lại nói: Nếu ta thấy chúng sinh tâm họ giải đãi, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được thanh tịnh tinh tấn Ba La Mật, không nên giải đãi, người nào giải đãi thì sẽ đoạ lạc.

Nếu thấy chúng sinh tâm họ tán loạn, cứ khởi vọng tưởng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được thiền Ba La Mật của Phật, hồi quang phản chiếu, thì tự nhiên sẽ hàng phục được tâm mình.

Nếu thấy chúng sinh vào rừng rậm tà tri tà kiến, bị vô minh ám chướng linh tánh của mình, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát khỏi rừng rậm tà kiến đen tối.

Nếu thấy chúng sinh ngu si không có trí huệ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được Bát Nhã Ba La Mật, có đại trí huệ.

Nếu thấy chúng sinh nhiễm trước cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Nếu thấy chúng sinh thân tâm ý chí hạ liệt, chẳng cao thượng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ phát tâm lớn, viên mãn nguyện Phật bồ đề.

Nếu thấy chúng sinh trụ hạnh lợi mình, chỉ biết lợi ích chính mình, chẳng tu hạnh lợi tha, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ hồi tiểu hướng đại, phát khởi đại nguyện chẳng những lợi ích chính mình, mà còn muốn lợi ích tất cả chúng sinh.

Nếu thấy chúng sinh chí lực yếu kém, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ lực Ba La Mật của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh tâm ngu si đen tối, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ Ba La Mật của Bồ Tát (đây là dùng mười độ hoá trị mười che đậy).

Nếu thấy chúng sinh sắc tướng không đủ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được sắc thân thanh tịnh của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh hình dung xấu xí, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được pháp thân thanh tịnh vô thượng. 

Nếu thấy chúng sinh sắc tướng thô ác, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được sắc thân vi diệu của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh tình nhiều lo buồn, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được an lạc rốt ráo của Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh bần cùng khổ sở, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được công đức bảo tạng của Bồ Tát. 

Nếu thấy chúng sinh trụ nơi vườn rừng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ siêng cầu nhân duyên Phật pháp. 

Nếu thấy chúng sinh đi trên đường, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ hướng về con đường nhất thiết trí. 

Nếu thấy chúng sinh ở trong xóm làng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát ba cõi. 

Nếu thấy chúng sinh ở tại nhân gian, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ vượt qua đạo hai thừa, trụ bậc Như Lai. 

Nếu thấy chúng sinh ở trong thành quách, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ ở trong thành Pháp Vương. 

Nếu thấy chúng sinh ở nơi bốn hướng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ ba đời bình đẳng. 

Nếu thấy chúng sinh ở nơi các phương, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ, thấy tất cả pháp. 

Nếu ta thấy chúng sinh nhan sắc hình tướng không đầy đủ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được sắc thân thanh tịnh của Phật.

Nếu thấy chúng sinh hình dung xấu xí, thì ta vì họ nói pháp, dạy họ tu hành như thế nào, khiến cho họ đắc được pháp thân thanh tịnh vô thượng của Phật, đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp.

Nếu thấy chúng sinh sắc tướng thô ác, ai thấy cũng sợ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được sắc thân vi diệu không thể nghĩ bàn của Như Lai.

Nếu thấy chúng sinh tình nhiều lo buồn, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được an ổn khoái lạc rốt ráo của Phật. Tại sao chúng sinh tình nhiều lo buồn? Vì cảm tình phong phú, cảm tình dụng sự, cho nên đa sầu thiện cảm, việc gì cũng lo buồn, việc không nên buồn, cũng sinh buồn.

Nếu thấy chúng sinh bần cùng khổ sở, thì ta vì họ nói pháp, dạy họ gieo phước trồng huệ trước cửa Tam Bảo, đắc được vô lượng công đức bảo tạng của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh trụ nơi vườn rừng (đây là chỉ những vị tu hành, tham trước tịch tĩnh, cũng chẳng hiểu Phật pháp), thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ siêng năng cầu nhân duyên Phật pháp.

Nếu thấy chúng sinh đi trên đường, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ hướng về con đường nhất thiết trí.

Nếu thấy chúng sinh ở trong xóm làng, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ thoát khỏi ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc).

Nếu thấy chúng sinh ở tại nhân gian, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ vượt qua đạo hai thừa (Thanh Văn và Duyên Giác), mà trụ bậc Như Lai, tức là một thừa Phật đạo.

Nếu thấy chúng sinh ở trong thành quách, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ ở trong thành Pháp Vương của Phật.

Nếu thấy chúng sinh ở nơi bốn hướng (đông tây nam bắc), thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) bình đẳng.

Nếu thấy chúng sinh ở tất cả các nơi mười phương, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ, thấy tất cả Phật pháp tận hư không khắp pháp giới. (Trên đây có hai mươi môn, đều là giáo hoá chung sinh chưa tích luỹ công đức, khiến cho họ tu thắng huệ được nhân quả công đức của Phật).

Nếu thấy chúng sinh nhiều tham, thì ta vì họ nói môn quán bất tịnh, khiến cho họ xả lìa ái nhiễm sinh tử. 

Nếu thấy chúng sinh nhiều sân, thì ta vì họ nói môn quán đại từ, khiến cho họ vào được, siêng năng tu tập. 

Nếu thấy chúng sinh nhiều si, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí sáng, quán biển các pháp. 

Nếu thấy chúng sinh đẳng phần, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được vào biển nguyện các thừa. 

Nếu thấy chúng sinh thích vui sinh tử, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ nhàm lìa. 

Nếu thấy chúng sinh chán khổ sinh tử, đáng được Như Lai hoá độ họ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ có thể phương tiện thị hiện thọ sanh. 

Nếu thấy chúng sinh ái trước năm uẩn, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trụ cảnh giới không nương tựa. 

Nếu thấy chúng sinh tâm họ hạ liệt, thì ta vì họ hiển bày đạo thù thắng trang nghiêm. 

Nếu thấy chúng sinh tâm sinh kiêu mạn, thì ta vì họ nói pháp nhẫn bình đẳng. 

Nếu thấy chúng sinh tâm họ quanh co, thì ta vì họ nói tâm ngay thẳng của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh nhiều tham, tức là tham tài sắc danh ăn ngủ, thì ta vì họ nói pháp môn quán bất tịnh, người nhiều tham dục phải tu quán bất tịnh, quán tưởng chín lỗ trên thân người thường chảy ra đồ bất tịnh, chẳng có chỗ nào đáng ưa thích, khiến cho họ xả lìa tư tưởng ái nhiễm sinh tử.

Nếu thấy chúng sinh nhiều sân, thì ta vì họ nói pháp môn quán đại từ bi, khiến cho họ được vào quán từ bi, mà siêng năng tu tập.

Nếu thấy chúng sinh nhiều ngu si, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trí huệ sáng suốt, để quán sát biển nguồn gốc tất cả các pháp. Tại sao con người ngu si? Vì chẳng minh bạch nhân quả.

Nếu họ quán được tiền nhân hậu quả của tất cả các pháp, hiểu rõ tất cả pháp đều do nhân duyên sinh ra, thì họ sẽ thông đạt thật tướng các pháp, chứng được trí sáng, chẳng còn ngu si nữa.

Nếu thấy chúng sinh tham sân si bằng nhau (đẳng phần), thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được vào tất cả biển đại nguyện các thừa, nhân thừa, thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, Phật thừa.

Nếu thấy chúng sinh thích vui sinh tử, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ nhàm lìa sinh tử.

Nếu thấy chúng sinh chán khổ não sinh tử, đáng được Như Lai hoá độ họ, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ có thể đủ thứ phương tiện thị hiện thọ sanh. Tuy ở trong dòng sinh tử, mà chẳng bị nghiệp duyên sinh tử trói buộc. Tuy thọ sinh, nhưng cũng rất tự tại.

Nếu thấy chúng sinh có tình ái, chấp trước sắc pháp năm uẩn, thì ta vì họ nói pháp, khiến cho họ được trụ cảnh giới không chỗ nương tựa.

Nếu thấy chúng sinh tâm họ hạ liệt, thì ta vì họ hiển bày đạo thù thắng trang nghiêm.

Nếu thấy chúng sinh tâm sinh kiêu căn ngã mạn, thì ta vì họ nói pháp nhẫn bình đẳng, tu hạnh nhẫn nhục.

Nếu thấy chúng sinh tâm họ quanh co, nói những lời không ngay thẳng, thì ta vì họ nói tâm ngay thẳng là đạo tràng của Bồ Tát, phải tâm ngay nói thẳng. (Ở trên có mười môn, nhưng dùng môn đối trị, để phá hoặc chướng của họ)

Hỏi: Trung đạo có phải là chẳng có cảnh giới vô không chăng?

Đáp: Trung đạo chẳng phải chẳng có vô không, nó cũng có có, cũng có không, nhưng bạn đừng rơi vào có, cũng đừng rơi vào không. Tức là bạn đừng chấp vào không, cũng đừng chấp vào có, đó tức là trung đạo. Đừng chấp trước, chứ chẳng phải nói nó chẳng có. Rơi vào không, là bạn thiên về không. Rơi vào có, là bạn thiên về có. Chẳng không, chẳng có, tức là trung đạo, đây là chẳng chấp trước. Nếu tìm trung đạo, mà bạn chấp vào trung vào, thì cũng chẳng phải là trung đạo.

Thiện nam tử! Ta dùng vô lượng pháp thí nầy, đủ thứ phương tiện nhiếp lấy các chúng sinh. Giáo hoá điều phục, khiến cho họ lìa đường ác, thọ vui của trời người. Thoát khỏi ràng buộc của ba cõi, trụ nhất thiết trí. Lúc đó ta bèn đắc được biển pháp quang minh hoan hỉ rộng lớn, tâm ta rất sung sướng, an ổn thư thái.

Thiện nam tử! Ta dùng ba mươi bảy môn vô lượng pháp thí trên đây, nhiếp thọ tất cả chúng sinh, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện giáo hoá điều phục chúng sinh, khiến cho họ xa lìa thống khổ ba đường ác, hưởng thọ phước vui của trời người, thoát khỏi sự ràng buộc của ba cõi, trụ nơi nhất thiết trí. Lúc đó ta bèn đắc được biển pháp quang minh hoan hỉ rộng lớn, tâm ta rất sung sướng, an ổn thư thái. (Đây là thấy vật, nên đại hoan hỉ).

Lại nữa, thiện nam tử! Ta thường quán sát đạo tràng chúng hội của tất cả Bồ Tát, tu đủ thứ hạnh nguyện, hiện đủ thứ thân thanh tịnh, có đủ thứ thường quang, phóng đủ thứ quang minh. Dùng đủ thứ phương tiện, vào môn nhất thiết trí, vào đủ thứ tam muội, hiện đủ thứ thần biến, vang ra đủ thứ biển âm thanh, đầy đủ các thứ thân trang nghiêm, vào đủ thứ môn Như Lai, đi đến đủ thứ biển cõi nước, thấy đủ thứ biển chư Phật, đắc được đủ thứ biển biện tài, chiếu đủ thứ cảnh giải thoát. Đắc được đủ thứ biển trí huệ quang minh. Nhập vào đủ thứ biển tam muội. Du hí đủ thứ các môn giải thoát. Dùng đủ thứ môn, hướng về nhất thiết trí. Đủ thứ trang nghiêm hư không pháp giới. Dùng đủ thứ mây trang nghiêm, che khắp hư không. Quán sát đủ thứ đạo tràng chúng hội, tích tụ đủ thứ thế giới. Vào đủ thứ cõi Phật. Đi đến đủ thứ biển phương hướng. Thọ đủ thứ sứ mạng Như Lai. Theo đủ thứ chỗ Như Lai. Cùng tụ hội đủ thứ Bồ Tát. Mưa xuống đủ thứ mây trang nghiêm. Vào đủ thứ phương tiện của Như Lai. Quán đủ thứ biển pháp của Như Lai. Vào đủ thứ biển trí huệ. Ngồi đủ thứ toà trang nghiêm.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta thường quán sát đạo tràng chúng hội của tất cả Bồ Tát, tu hành đủ thứ đại hạnh và đại nguyện. Ta lại thị hiện đủ thứ diệu sắc thân thanh tịnh, có đủ thứ thường quang, phóng ra đủ thứ quang minh. Dùng đủ thứ pháp môn phương tiện, nhập vào môn nhất thiết trí. Lại nhập vào đủ thứ tam muội, ở trong tam muội thị hiện đủ thứ thần thông biến hoá. Lại vang ra đủ thứ biển âm thanh, đầy đủ các thứ thân trang nghiêm, nhập vào đủ thứ diệu pháp môn của Như Lai. Đi đến đủ thứ biển cõi nước của chư Phật, thấy đủ thứ biển chư Phật, đắc được đủ thứ biển biện tài vô ngại. Chiếu soi đủ thứ cảnh giới giải thoát. Đắc được đủ thứ biển trí huệ quang minh. Nhập vào đủ thứ biển tam muội. Du hí đủ thứ các môn giải thoát. Dùng đủ thứ môn, hướng về nhất thiết trí. Đủ thứ trang nghiêm hư không pháp giới. Ta lại dùng đủ thứ mây trang nghiêm, che khắp hư không. Ta lại quán sát đủ thứ đạo tràng chúng hội, tích tụ đủ thứ thế giới, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc thanh tịnh, hoặc nhiễm ô, đều ở trong phạm vi của ta. Ta lại nhập vào đủ thứ cõi nước chư Phật. Đi đến đủ thứ biển phương hướng. Thọ đủ thứ sứ mạng của Như Lai. Theo đủ thứ đạo tràng của Như Lai. Cùng tụ hội đủ thứ Bồ Tát ở một chỗ. Mưa xuống đủ thứ mây trang nghiêm. Vào đủ thứ phương tiện của Như Lai. Quán sát đủ thứ biển pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai. Vào đủ thứ biển trí huệ. Ngồi đủ thứ toà báu trang nghiêm. (Đây là trước quán cảnh giới Bồ Tát).

Thiện nam tử! Ta quán sát đạo tràng chúng hội đó, biết thần lực của Phật vô lượng vô biên, ta sinh tâm đại hoan hỉ. 

Thiện nam tử! Ta quán Tỳ Lô Giá Na Như Lai, niệm niệm xuất hiện sắc thân thanh tịnh không thể nghĩ bàn, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Lại quán Như Lai ở trong niệm niệm, phóng đại quang minh, đầy khắp pháp giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Lại thấy mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, niệm niệm xuất hiện biển quang minh nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật. Mỗi mỗi quang minh, dùng quang minh nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật làm quyến thuộc. Mỗi mỗi quang minh khắp cùng tất cả pháp giới, tiêu diệt tất cả khổ của các chúng sinh, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Lại nữa thiện nam tử! Ta quán sát đảnh của Như Lai và giữa lông mày, niệm niệm xuất hiện mây bảo diệm sơn, nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đầy khắp mười phương tất cả pháp giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, ở trong niệm niệm, xuất hiện mây hương quang minh, nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đầy khắp mười phương tất cả cõi Phật, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán mỗi mỗi tướng của Như Lai, niệm niệm xuất hiện mây thân Như Lai các tướng trang nghiêm, nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đến khắp mười phương tất cả thế giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, ở trong niệm niệm, xuất hiện mây Phật biến hoá, nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi Phật, thị hiện Như Lai từ lúc ban đầu phát tâm tu Ba La Mật, đủ đạo trang nghiêm, vào Bồ Tát địa, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, niệm niệm xuất hiện mây thân Thiên Vương, nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, và dùng tự tại thần biến của Thiên Vương, đầy khắp tất cả mười phương pháp giới. Kẻ đáng dùng thân Thiên Vương độ được, liền hiện thân Thiên Vương để vì họ nói pháp, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ. 

Như thân mây Thiên Vương, Long Vương, Dạ Xoa Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương, Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già Vương, nhân vương, thân mây Phạm Vương, thảy đều hiện ra ở trong mỗi mỗi lỗ chân lông như vậy, nói pháp như vậy.

Thiện nam tử! Ta quán sát đạo tràng chúng hội đó, biết thần lực của Phật vô lượng vô biên, ta bèn sinh tâm đại hoan hỉ.

Thiện nam tử! Ta quán Tỳ Lô Giá Na Như Lai, niệm niệm xuất hiện sắc thân thanh tịnh không thể nghĩ bàn, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại quán Như Lai ở trong niệm niệm, phóng đại quang minh, đầy khắp tận hư không pháp giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.
Ta lại thấy mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, niệm niệm xuất hiện biển quang minh nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật. Mỗi mỗi quang minh, lại dùng quang minh nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật làm quyến thuộc. Mỗi mỗi luồng quang minh đều khắp cùng tất cả hư không pháp giới, tiêu diệt tất cả thống khổ vô minh của các chúng sinh, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa thiện nam tử! Ta quán sát tướng vô kiến đảnh của Như Lai và giữa lông mày, trong niệm niệm xuất hiện mây bảo diệm sơn nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đầy khắp mười phương tất cả hư không pháp giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán sát mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, ở trong niệm niệm, xuất hiện mây hương quang minh nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đầy khắp mười phương tất cả cõi Phật, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán sát mỗi mỗi tướng của Như Lai, niệm niệm xuất hiện mây thân Như Lai các tướng trang nghiêm nhiều như số hạt bụi tất cả cõi Phật, đến khắp mười phương tất cả thế giới, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán sát mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, ở trong niệm niệm, xuất hiện mây Phật biến hoá nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết cõi Phật, thị hiện Như Lai từ lúc ban đầu phát tâm tu Ba La Mật, đầy đủ đạo trang nghiêm phước trí, cho đến chứng được Bồ Tát địa, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại nữa, thiện nam tử! Ta quán sát mỗi mỗi lỗ chân lông của Như Lai, niệm niệm xuất hiện mây thân Thiên Vương nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, và dùng thần thông biến hoá tự tại của Thiên Vương, đầy khắp tất cả mười phương pháp giới. Chúng sinh nào đáng dùng thân Thiên Vương độ được, thì liền hiện thân Thiên Vương để vì họ nói pháp, ta thấy như vậy rồi, sinh tâm đại hoan hỉ.

Lại như thân mây Thiên Vương, Long Vương, Dạ Xoa Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương, Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già Vương, nhân vương, thân mây Phạm Vương, thảy đều hiện ra ở trong mỗi mỗi lỗ lông của Phật như vậy, nói pháp như vậy. (Ở trên là quán Phật thắng dụng, có mười môn).

Ta thấy như vậy rồi, ở trong niệm niệm, sinh tâm đại hoan hỉ, sinh tâm đại tin ưa, lượng bằng pháp giới nhất thiết trí. Chỗ xưa kia chưa đắc được, nay mới đắc được. Chỗ xưa kia chưa chứng, nay mới chứng. Chỗ xưa kia chưa vào, nay mới vào. Chỗ xưa kia chưa viên mãn, nay mới viên mãn. Chỗ xưa kia chưa thấy, nay mới thấy. Chỗ xưa kia chưa nghe, nay mới nghe.

Ta thấy đủ thứ cảnh giới như vậy rồi, ở trong niệm niệm, ta sinh tâm đại hoan hỉ, sinh tâm đại tin ưa, tâm lượng ta bằng pháp giới nhất thiết trí. Phước huệ và pháp giới nhất thiết trí của ta bình đẳng. Chỗ xưa kia ta chưa đắc được, nay đều đã đắc được. Cảnh giới mà xưa kia chưa chứng, nay cũng đã chứng được. Tam muội mà xưa kia chưa nhập vào, nay đều đã ngộ nhập vào. Hạnh môn mà xưa kia chưa viên mãn, nay đều đã được viên mãn. Cảnh giới mà xưa kia chưa thấy, nay cũng đã thấy được cảnh giới đó. Chỗ xưa kia chưa nghe, nay đều đã nghe được.

Tại sao vậy? Vì biết rõ được tướng pháp giới. Vì biết tất cả pháp chỉ một tướng. Vì bình đẳng vào được đường ba đời. Vì nói được tất cả pháp vô biên. 
Thiện nam tử! Ta nhập vào Bồ Tát niệm niệm sinh ra biển quang minh giải thoát hỉ trang nghiêm rộng lớn.

Tại sao vậy? Vì nhờ ta biết rõ được tướng hư không pháp giới. Lại biết tất cả pháp chỉ là một tướng tịch tĩnh, không có tướng nào khác. Bình đẳng vào được đường ba đời quá khứ hiện tại và vị lai. Lại diễn nói được tất cả Phật pháp vô biên.
Thiện nam tử! Ta nhập vào pháp môn Bồ Tát niệm niệm sinh ra biển quang minh giải thoát hỉ trang nghiêm rộng lớn. (Đây là vị Dạ Thần dùng đại trí năng quán, gọi thể tướng pháp giới, nên sở sinh tin đẳng, đẳng nhất thiết trí).

Lại nữa, thiện nam tử! Giải thoát nầy vô biên, vì vào khắp tất cả môn pháp giới. Giải thoát nầy vô tận, vì khắp phát tâm nhất thiết trí tánh. Giải thoát nầy không bờ mé, vì vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh không giới hạn. Giải thoát nầy thâm sâu, vì trí huệ tịch tĩnh biết được cảnh giới. Giải thoát nầy rộng lớn, vì khắp cùng tất cả cảnh giới Như Lai. Giải thoát nầy không hoại, vì mắt trí huệ của Bồ Tát biết được. Giải thoát nầy không đáy, vì tận đáy nguồn nơi pháp giới. Giải thoát nầy tức là phổ môn, vì ở trong một việc thấy khắp tất cả các thần biến. Giải thoát nầy trọn không thể lấy, vì tất cả pháp thân bình đẳng không hai. Giải thoát nầy trọn không sanh, vì nhờ biết rõ được pháp như huyễn.

Lại nữa, thiện nam tử! Pháp môn giải thoát nầy vô lượng vô biên, vì vào được khắp tất cả môn pháp giới. Môn giải thoát nầy vô cùng vô tận, vì phát khởi tâm nhất thiết trí tánh, bảo tạng trí huệ của tất cả chúng sinh. Môn giải thoát nầy không bờ mé, vì vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh không giới hạn. Tư tưởng của chúng sinh không có bờ mé, mà môn giải thoát nầy cũng không có bờ mé, bao hàm tư tưởng của tất cả chúng sinh. Môn giải thoát nầy rất thâm sâu, vì chỉ có trí huệ tịch tĩnh mới biết được cảnh giới. Môn giải thoát nầy rộng lớn, vì khắp cùng tất cả cảnh giới của Như Lai. Môn giải thoát nầy không hoại, vì là mắt trí huệ của Bồ Tát biết được. Môn giải thoát nầy không đáy, vì tận đáy nguồn nơi pháp giới, chẳng có khi nào cùng tận. Môn giải thoát nầy tức là phổ môn, vì ở trong một việc thấy khắp tất cả các thần thông biến hoá, do đó có câu: “Một làm vô lượng, vô lượng làm một”. Môn giải thoát nầy trọn không thể thủ lấy, cũng không thể bỏ, vì pháp thân của tất cả chư Phật đều bình đẳng, không hai, không phân biệt. Môn giải thoát nầy trọn không sanh, cũng không diệt, vì nhờ ta biết rõ được tất cả pháp như mộng huyễn bọt bóng, như sương, cũng như điện.

Giải thoát nầy như hình bóng, vì nhất thiết trí, nguyện lực, quang minh sinh ra. Giải thoát nầy như biến hoá, vì hoá sinh các thắng hạnh của Bồ Tát. Giải thoát nầy như đại địa, vì là chỗ nương tựa của tất cả chúng sinh. Giải thoát nầy như nước lớn, vì hay dùng đại bi thấm nhuần tất cả. Giải thoát nầy như lửa lớn, vì làm khô cạn nước tham ái của chúng sinh. Giải thoát nầy như gió lớn, vì khiến cho các chúng sinh mau chóng hướng về nhất thiết trí. Giải thoát nầy như biển lớn, vì đủ thứ công đức trang nghiêm tất cả các chúng sinh. Giải thoát nầy như núi Tu Di, vì sinh ra nhất thiết trí biển pháp bảo. Giải thoát nầy như thành quách lớn, vì trang nghiêm tất cả diệu pháp. Giải thoát nầy như hư không, vì dung khắp thần lực của Phật ba đời. Giải thoát nầy như mây lớn, vì khắp chúng sinh mưa pháp vũ. Giải thoát nầy như mặt trời chiếu sáng, vì phá được đen tối vô tri của chúng sinh. Giải thoát nầy như trăng rằm, vì đầy đủ biển phước đức rộng lớn. Giải thoát nầy như chân như, vì đều khắp cùng tất cả mọi nơi. Giải thoát nầy như bóng của mình, vì từ thiện nghiệp của mình hoá ra. Giải thoát nầy như tiếng vang, vì tuỳ nghi mà thuyết pháp. Giải thoát nầy như hình bóng, vì tuỳ tâm chúng sinh mà chiếu hiện. Giải thoát nầy như đại thụ vương, vì nở hoa tất cả thần thông. Giải thoát nầy như kim cang, vì bổn lai không thể hoại. Giải thoát nầy như châu như ý, vì sinh ra vô lượng sức tự tại. Giải thoát nầy như ly cấu tạng ma ni bảo vương, vì thị hiện các thần lực của tất cả Như Lai ba đời. Giải thoát nầy như hỉ tràng ma ni báu, vì có thể bình đẳng vang ra tiếng pháp luân của tất cả chư Phật.
Thiện nam tử! Nay ta vì ngươi nói những ví dụ nầy, ngươi nên suy gẫm, tuỳ thuận ngộ nhập.

Môn giải thoát nầy như hình bóng, vì nhất thiết trí huệ, nguyện lực và quang minh sinh ra. Môn giải thoát nầy như biến hoá, chẳng có thật thể, vì hoá sinh các hạnh thù thắng của Bồ Tát. Môn giải thoát nầy như đại địa, vì là chỗ nương tựa của tất cả chúng sinh. Môn giải thoát nầy như nước lớn, vì hay dùng nước đại bi thấm nhuần căn tánh của tất cả chúng sinh. Môn giải thoát nầy như lửa lớn, vì làm khô cạn nước tham ái và dục niệm của chúng sinh. Nếu tu môn giải thoát nầy, thì dục niệm sẽ dứt. Môn giải thoát nầy như gió lớn, vì khiến cho các chúng sinh mau chóng hướng về đạo nhất thiết trí. Môn giải thoát nầy như biển lớn, vì có đủ thứ công đức tạng để trang nghiêm tất cả các chúng sinh. Môn giải thoát nầy như núi Tu Di, vì sinh ra nhất thiết trí biển pháp bảo. Môn giải thoát nầy như thành quách lớn thời xưa (quách ở bên ngoài thành), vì dùng để trang nghiêm tất cả diệu pháp. Môn giải thoát nầy như hư không, vì bao dung khắp thần lực của chư Phật ba đời quá khứ hiện tại và vị lai. Môn giải thoát nầy như mây lớn, vì khắp chúng sinh mưa đại pháp vũ, để thấm nhuần căn tánh của chúng sinh. Môn giải thoát nầy như mặt trời chiếu sáng, vì phá được đen tối vô tri của chúng sinh. Môn giải thoát nầy như trăng rằm, vì đầy đủ biển phước đức rộng lớn. Môn giải thoát nầy như chân như, vì đều khắp cùng tất cả mọi nơi. Chân như chỗ nào cũng có, chẳng có chỗ nào mà chẳng có, tận hư không khắp pháp giới đều không ra khỏi bản thể của chân như. Môn giải thoát nầy như bóng của mình, vì từ thiện nghiệp của mình hoá sinh ra. Môn giải thoát nầy như tiếng vang, như vang theo tiếng, vì tuỳ căn cơ của chúng sinh mà diễn nói tất cả diệu pháp. Môn giải thoát nầy như hình bóng, vì tuỳ tâm chúng sinh mà chiếu hiện. Môn giải thoát nầy như đại thụ vương, vì nở hoa tất cả thần thông. Môn giải thoát nầy như kim cang, vì bổn lai không thể hoại. Môn giải thoát nầy như châu như ý, vì sinh ra vô lượng sức tự tại. Bạn nghĩ muốn cái gì, thì liền có cái đó, toại tâm mãn nguyện. Môn giải thoát nầy như ly cấu tạng ma ni bảo vương, vì hay thị hiện các thần lực của tất cả Như Lai ba đời. Môn giải thoát nầy như hỉ tràng ma ni báu, vì có thể bình đẳng vang ra tiếng pháp luân của tất cả chư Phật. (Ở trên đây có hai mươi hai môn, dụ nói nhờ tướng sâu rộng, vì khó biết được).
Thiện nam tử! Nay ta vì ngươi nói đủ thứ những ví dụ nầy, ngươi nên thường thọ trì nơi tâm, hành trì nơi thân, phải quán sát suy gẫm, tuỳ thuận ngộ nhập.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử bạch Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải rằng: Đại Thánh! Làm thế nào tu hành đắc được giải thoát nầy? 

Vị Dạ Thần nói: Thiện nam tử! Bồ Tát tu hành mười đại pháp tạng, thì đắc được giải thoát nầy. Những gì là mười pháp tạng? 

Một là pháp tạng tu bố thí rộng lớn, tuỳ tâm chúng sinh đều khiến cho họ được đầy đủ. 

Hai là pháp tạng tu tịnh giới rộng lớn, vào khắp biển công đức của tất cả chư Phật. 

Ba là pháp tạng tu kham nhẫn rộng lớn, có thể suy gẫm khắp tất cả pháp tánh. 

Bốn là pháp tạng tu tinh tấn rộng lớn, hướng về nhất thiết trí, luôn không thối chuyển. 

Năm là pháp tạng tu thiền định rộng lớn, có thể diệt trừ nhiệt não của tất cả chúng sinh. 

Sáu là pháp tạng tu Bát Nhã rộng lớn, có thể biết rõ khắp tất cả biển pháp. 

Bảy là pháp tạng tu phương tiện rộng lớn, có thể khắp thành thục các biển chúng sinh. 

Tám là pháp tạng tu các nguyện rộng lớn, khắp tất cả cõi Phật, biển tất cả chúng sinh, hết kiếp thuở vị lai tu Bồ Tát hạnh. 

Chín là pháp tạng tu các lực rộng lớn, niệm niệm hiện ra nơi tất cả biển pháp giới, tất cả cõi Phật, thành Đẳng Chánh Giác, thường không ngừng nghỉ. 

Mười là pháp tạng tu trí thanh tịnh rộng lớn, đắc được trí Như Lai, khắp biết ba đời tất cả các pháp, không có chướng ngại.

Thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát an trụ mười đại pháp tạng như vậy, thì sẽ đắc được giải thoát thanh tịnh như vậy, tăng trưởng tích tụ kiên cố, an trụ viên mãn.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử bạch Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải rằng: “Đại Thánh! Làm thế nào tu hành đắc được môn giải thoát nầy”?

Vị Dạ Thần nói: “Thiện nam tử! Bồ Tát tu hành mười đại pháp tạng nầy, thì sẽ đắc được môn giải thoát nầy. Những gì là mười pháp tạng?

Một là pháp tạng tu bố thí rộng lớn, tức là tu tài thí, pháp thí, vô uý thí. Tài thí bao gồm nội tài và ngoại tài. Ngoại tài là đất nước vợ con, đều có thể bố thí. Trong Kinh có nói qua, có người bố thí vợ con cho người khác. Mấy năm trước, có vị cư sĩ phát tâm muốn đem ông chồng bố thí, nhưng bố thí như thế nào, cũng chẳng có ai nhận, chẳng có ai muốn. Đủ thấy người chồng không dễ gì bố thí cho người ngoài! Nội thí là đầu mắt tuỷ não và hết thảy những gì trên thân của mình, đều có thể bố thí. Nhưng có những người tu đạo nghe người khác mắng mình, cũng cảm thấy chịu không được, bị người khác đánh, càng chịu không được. Nếu bạn muốn đem chính mình bố thí cho nhân loại toàn thế giới, vốn chẳng còn chính mình, không nghĩ tới mình, thì còn có nóng giận gì sinh ra chớ! Người khác đến mắng bạn, hoặc nói xấu bạn, đó đều là đại thiện tri thức của bạn! Tại sao họ nói bạn không tốt? Vì họ cảm thấy bạn nên tốt, không nên không tốt, cho nên họ phải nói. Họ nói bạn, họ đúng là thiện tri thức của bạn. Ngược lại bạn phải tìm chỗ tốt của họ, đừng có khi nghe những lời trái tai, thì nổi nóng. Cho nên bất cứ các vị đến chỗ nào, nếu nghe có người mắng chửi sư phụ của bạn, thì bạn đừng có biện luận với họ, đừng có tranh luận với họ. Tại sao? Vì một khi tranh luận thì sẽ có thị phi, do đó có câu:

“Tranh là tâm hơn thua
Trái ngược lại với đạo
Sẽ sinh tâm bốn tướng
Làm sao được tam muội”?

Khi bạn tranh với người khác, thì sẽ có sự thắng bại, đây là trái ngược lại với đạo. Khi biện luận với người khác, thì sẽ sinh ra tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Làm sao bạn đắc được tam muội? Khi bạn tranh luận với người khác, thì sẽ có thị phi, do đó có câu:

“Thị phi suốt ngày có
Không nghe tự nhiên không”.

Hơn nữa, có người mắng chửi sư phụ của bạn, thì bạn nên thế ta lạy họ mấy lạy, và cảm ơn họ, vì họ đặc biệt quan tâm đến ta, mới muốn dạy dỗ ta. Người dạy dỗ mình là thiện tri thức của mình. Do đó, không nên tranh dài luận ngắn với người khác. Chẳng phải mấy ngày trước ta đã nói với các vị mấy câu kệ rồi chăng? Các vị nên đặc biệt chú ý, mấy câu kệ đó rất nông cạn, nhưng rất có sự thọ dụng đối với sự tu đạo. Bài kệ đó là:

“Thị phi hà tu biện?
Chân nguỵ cửu tự minh
Trí giả kiến chân thật
Ngu giả hành hư nguỵ
Thiện giả học Bồ Tát
Ác giả cảm mã Phật
Bình đẳng đại nhân từ
Phổ nhiếp chư hàm thức”.

Nghĩa là:

Thị phi không cần nói
Thật giả lâu sẽ rõ
Người trí thấy chân thật
Kẻ ngu làm việc quấy
Người thiện học Bồ Tát
Kẻ ác dám mắng Phật
Bình đẳng đại nhân từ
Nhiếp khắp các hàm thức.

Người ta nói bạn đúng, hoặc không đúng, đều không cần biện luận. Thật và giả, thời gian lâu sau thì tự nhiên nước cạn đá bày. Người có trí huệ thì gặp việc gì cũng đều minh bạch chân lý. Kẻ ngu si cứ làm những chuyện sai quấy, cho rằng mắng chửi người cho đã, nhưng không biết rằng đó cũng chẳng khác nào bịt tai ăn cắp chuông, tự mình lừa dối mình. Làm những chuyện hồ đồ, gây ra những lỗi lầm. Người hiền lương thì cử chỉ hành động đều học tập theo từ bi hỉ xả của Bồ Tát, lợi ích tất cả chúng sinh. Kẻ ác thì chẳng nói gì đến nhân quả, bát vô nhân quả, cho đến Phật mà họ cũng dám mắng chửi, thì huống gì chúng ta là những người bình thường! Cho nên chúng ta phải học tập đại từ bi bình đẳng của Phật, kẻ oán người thân đều bình đẳng. Ai đối với ta tốt, cũng phải dùng tâm bình đẳng đối đãi; ai đối với ta không tốt, cũng phải dùng tâm bình đẳng để đối đãi. Phải dùng tâm bình đẳng đại từ bi, để nhiếp thọ khắp tất cả các chúng sinh, đây gọi là làm “Bố thí pháp tạng rộng lớn”.

Pháp thí tức là diễn nói diệu pháp, để lợi ích tất cả chúng sinh. Vô uý thí, tức là nếu người nào đó sợ hãi, thì bạn hãy an ủi họ, khiến cho họ hết sợ hãi, đó đều là bố thí.
Thứ hai là pháp tạng tu tịnh giới rộng lớn, vào khắp biển công đức kim cang quang minh bảo kiếm của tất cả chư Phật. Các vị phải chú ý “Tịnh giới” nầy, tịnh là gì? Tức là thanh tịnh không nhiễm ô. Một niệm không sinh, gọi là tịnh, tức là tịnh niệm. Nếu bạn chỉ có giữ giới biểu hiện bên ngoài, nói: “Tôi chẳng sát sinh”, nhưng trong tâm của bạn bất mãn người khác, nóng giận, đó đều là phạm giới sát. Hoặc bạn nói: “Tôi không trộm cắp”, nhưng trong tâm của bạn thường hâm mộ tài vật của người khác, hoặc đố kị tài cán của người khác. Hoặc bạn nói: “Tôi không tà dâm”, nhưng trong tâm của bạn thường khởi vọng tưởng đến người khác tính, đó đều là phạm giới tà dâm, chẳng thanh tịnh. Tịnh giới là phải thật thanh tịnh, chẳng có chút niệm nhiễm ô nào, thì đó mới gọi là thanh tịnh.

Thứ ba là pháp tạng tu kham nhẫn rộng lớn, có thể suy gẫm khắp tất cả pháp tánh. Nhẫn nhục chẳng dễ dàng tu tí nào, nếu dễ tu thì chẳng biểu hiện được chân tâm của bạn. Cho nên trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Đại Sư có nói rằng: “Chẳng vì chê bai khởi oán thân”. Đừng vì người khác chê cười mình, phỉ báng mình, thì mình bất mãn họ, có sự cừu hận. Hoặc có người khen ngợi mình, nói mình một câu tốt, thì mình rất cao hứng. Đó đều là bị tám ngọn gió (Xưng, cơ, khổ, lạc, lợi suy, đắc, thất) thổi động tâm mình. Ví như có người khen ngợi bạn, bạn cũng chẳng hoan hỉ. Có người quở trách bạn, bạn cũng chẳng buồn phiền. Gặp việc khổ sở như thế nào, cũng đều nhẫn thọ được. Gặp việc vui cũng nhẫn thọ được.

Lợi, tức là đắc được lợi ích. Suy, tức là gặp sự việc không thuận lợi. Đắc thất, tức là được điều gì đó, hoặc mất mát điều gì đó. Đó là tám gió. Chúng ta giảng về vấn đề nầy là phải vận dụng, chứ chẳng phải nghe rồi thì thôi. Chúng ta minh bạch đạo lý nầy, gặp những cảnh giới nầy đến, thì phải có một chút định lực. Chẳng phải nói tôi biết, nhưng khi đến lúc thì không thể vận dụng được, đó cũng chẳng có ích gì. Pháp thì phải thực hành, bạn nói hay, nói giỏi, mà chẳng thực hành thì chẳng phải là đạo. Đạo thì phải hành, không hành thì có đạo gì? Đức thì phải làm, không làm sao có đức? Miệng bạn nói đạo đức, mà chẳng hành đạo đức, thì chẳng có ích gì. Cho nên phải cung hành thực tiễn, thì đó mới là công đức. Kham nhẫn, tức là không thể nhẫn cũng phải nhẫn. Nhẫn được thì không cần nói, vì bạn không thọ được, nên mới phải thọ. Bạn nhẫn không được, mới phải nhẫn. Có người nói: “Tôi không thể nhẫn”, không thể nhẫn cũng phải nhẫn. Đến lúc đó mới có thể qua được cửa ải. Nếu bạn qua không được cửa ải, thì bạn không thể đắc được pháp hỉ sung mãn, chẳng đắc được lợi ích của pháp, thì không thể đạt được Ba La Mật viên mãn dùng trí huệ đến bờ kia.

Thứ tư là pháp tạng tu tinh tấn rộng lớn, hướng về biển nhất thiết trí, luôn không thối chuyển. Tinh tấn tức là lúc nào cũng phải tinh tấn, ngày đêm sáu thời chẳng có lúc nào nghỉ ngơi, thường tinh tấn, tu tinh tấn độ, thân cũng tinh tấn, tâm cũng tinh tấn, thân chẳng mệt mỏi, tâm chẳng lười biếng, thời khắc lúc nào cũng từ từ dũng mãnh tinh tấn tiến về trước.
Thứ năm là pháp tạng tu thiền định rộng lớn, có thể diệt trừ nhiệt não của tất cả chúng sinh. Thiền định tức là tư duy tu, hiện tại chúng ta đang đả thiền thất, là tu thiền định độ. Thiền định độ và tư duy tu, là dạy bạn tham ngộ “Niệm Phật là ai?” Một cửa thâm nhập, một niệm chẳng sinh. Do đó có câu:

“Một niệm không sinh toàn thể hiện
Sáu căn hốt động bị mây che”.

Khi sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý động, thì giống như bầu trời nổi mây lên. Khi căn mắt động, thì bị sắc trần lay chuyển. Khi căn tai động thì bị thanh trần lay chuyển. Khi căn mũi động thì khi ngửi mùi thơm bị hương trần lay chuyển. Khi căn lưỡi động, lưỡi nếm vị thì bị vị trần lay chuyển. Thân súc giác thì bị súc trần lay chuyển. Ý duyên pháp thì bị pháp trần lay chuyển. Cho nên khi bạn chấp trước vào sáu trần, thì sẽ “hốt động”, bị vô minh che đậy, cho nên tu thiền định thì sáu căn phải thanh tịnh.

“Mắt quán hình sắc bên trong chẳng có
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay”.

“Thấy việc tỉnh việc thoát thế gian
Thấy việc mê việc đoạ trầm luân”.

Đó đều là tại con mắt. Đạo lý trước mắt đều rất nông cạn, nếu bạn không thể làm được, thì chẳng có ích gì. Cho nên tôi vì các vị giảng Kinh, các vị đừng cho rằng nghe qua rồi thì cho rằng mình đã hiểu đạo lý của Kinh điển. Kinh điển dạy chúng ta chiếu theo đạo lý mà thực hành, nếu bạn chẳng thực hành, thì dù có hiểu biết nhiều, cũng chẳng có lợi ích gì. Nếu bạn biết một chút mà thực hành một chút, thì sẽ có một chút thọ dụng. Ví như bạn nghe được pháp tạng bố thí rộng lớn, liền tu hành bố thí. Khi nghe được tịnh giới, liền tịnh giới độ. Đừng có khởi những vọng tưởng tà tri tà kiến. Đừng có khi gặp những cảnh giới nào đó, thì bị cảnh giới lay chuyển.

Tóm lại, phải giữ gìn định lực của mình. Nếu biết kham nhẫn, thì phải tu nhẫn nhục. Biết tinh tấn thì phải tu tinh tấn. Chẳng phải nói: “Tôi hiểu rồi, trong Phật pháp có tinh tấn Ba La Mật”, chỉ là niệm một niệm, hoặc nghe một nghe, nếu như vậy thì bạn chẳng có chút lợi ích gì hết, chính bạn phải thực hành. Cho nên tôi hy vọng, các vị biết một chút, làm một chút, đừng có nghe kinh rồi, tâm sân của mình vẫn nặng nề như trước, tâm tham của mình cũng lớn như xưa, tâm si của mình vẫn lợi hại như lúc trước. Nếu chẳng nghĩ cách thay đổi, thì dù có nghe bao nhiêu kinh cũng chẳng có ích lợi gì. Tu đạo nhất định phải cung hành thực tiễn, nếu chẳng cung hành thực tiễn, thì chẳng bằng không nghe. Không nghe, thì trong tâm chẳng có nhiều cặn bã, vẫn sạch sẽ một chút. Bạn nghe rồi, nếu không thực hành thì trong tâm nhiều vọng tưởng. Cho nên tôi hy vọng các vị đều phải tự mình chân thật tu hành, mới không có lỗi với cha mẹ tổ tiên từ vô thuỷ kiếp đến nay, họ đều đang đợi bạn tu hành, bạn tu hành thành công, thì họ cũng được lìa khổ được vui. Cho nên tu hành thiền định, chẳng những diệt trừ nhiệt não của mình, mà cũng diệt trừ nhiệt não của tất cả chúng sinh. Nhiệt não cũng tức là phiền não, cũng tức là vô minh. Có vô minh thì chẳng có trí huệ. Tu thiền định sẽ sinh ra trí huệ, cho nên sẽ diệt trừ tất cả phiền não.

Thứ sáu là pháp tạng tu Bát Nhã rộng lớn, có thể biết rõ khắp tất cả biển pháp. Chúng ta phải tu hành Bồ Tát hạnh, trước hết phải tu hành mười pháp tạng rộng lớn. Mười pháp tạng rộng lớn nầy cũng là mười độ, mười môn Ba La Mật. Tại sao nói “Rộng lớn”? Vì trong một độ có đủ đạo lý mười độ. Trong mười độ cũng do mỗi một độ thành tựu. Phân ra là mười độ, hợp lại trong mỗi một độ, đều có mười độ, đều đầy đủ lý mười độ. Cho nên nói tu hành pháp tạng Bát Nhã rộng lớn. Nếu chẳng phải pháp môn một độ đầy đủ mười độ, thì không cần phải nói đến hai chữ “Rộng lớn”, chỉ nói Bát Nhã độ là được. Pháp tạng rộng lớn, chẳng những đầy đủ mười độ, mà cũng đầy đủ trăm độ, ngàn độ, vạn độ, vô lượng độ, đều bao quát ở trong mỗi một độ. Cho nên nói “Biết rõ khắp tất cả biển pháp” – Từ Bát Nhã độ, bèn có thể thâm nhập tất cả biển pháp, mới đắc được trí huệ như biển.

Thứ bảy là pháp tạng tu phương tiện rộng lớn, có thể khắp thành thục biển tất cả chúng sinh. “Phương tiện” cũng tức là một quyền pháp, quyền giáo. Quyền là quyền xảo phương tiện, thông quyền đạt biến. Pháp phương tiện, cũng có thể nói là pháp đặc biệt. Pháp nầy thường chẳng ở trong khuôn phép, chẳng có nhất định, nên nói là phương tiện. Có lúc giáo hoá chúng sinh, phải dùng đủ thứ thông quyền đạt biến, thiện xảo phương tiện, lâm thời đặt nghi: Do sự đặt nghi, do thời đặt nghi, do cảnh đặt nghi. Vì cảnh giới khác nhau, nên thời gian chế định, phương pháp cũng khác nhau, cho nên gọi là “phương tiện”. Phương tiện chẳng phải là luôn luôn, mà là tạm thời, đến lúc sẽ dùng một thứ phương pháp, do môn phương tiện quyền xảo, mà dẫn vào Phật đạo.
“Khắp thành thục biển tất cả các chúng sinh”, tức cũng là quán căn cơ vì người nói pháp, tức cũng là theo bệnh cho thuốc, vì người thí giáo, để cứu độ khắp biển tất cả các chúng sinh.
Thứ tám là pháp tạng tu các nguyện rộng lớn. Pháp nguyện lực đến bờ kia, khắp tất cả cõi Phật, biển tất cả chúng sinh, hết kiếp thuở vị lai tu Bồ Tát lục độ vạn hạnh, mười độ vạn hạnh.
Thứ chín là pháp tạng tu các lực rộng lớn. Do sức lực nầy, mà niệm niệm thị hiện ra nơi tất cả biển pháp giới, tất cả cõi Phật, thành Đẳng Chánh Giác, thường không ngừng nghỉ. Đây là nhờ có sức lực nầy ở phía sau chi trì, cho nên lúc nào cũng đều dũng mãnh tinh tấn.

Thứ mười là pháp tạng tu trí huệ thanh tịnh rộng lớn. Tịnh trí thì chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Cũng không có tâm ích kỷ lợi mình, cũng chẳng có tâm tham, tâm sân và tâm si. Đây là trí huệ thanh tịnh, không có chút cặn đục nào. Cho nên đắc được trí huệ của Phật, biết khắp các pháp của tất cả chư Phật ba đời, không có chướng ngại, đạt đến cảnh giới viên dung vô ngại, không tu không chứng.

Thiện nam tử! Nếu tất cả Bồ Tát an trụ mười đại pháp tạng như vậy, thì sẽ đắc được trí huệ thanh tịnh giải thoát như vậy, tăng trưởng thần thông, tích tụ hết thảy căn lành, kiên cố không hoại, an trụ nơi quả vị bồ đề, khiến cho được viên mãn.

Thiện Tài đồng tử bạch rằng: Đức Thánh! Ngài phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đã được bao lâu?

Thiện Tài đồng tử nói: “Đức Thánh! Ngài phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đã được bao lâu rồi”? Đây là hỏi về phát tâm bao lâu, vì muốn hiển bày nguồn gốc đạo thâm sâu.

Vị Dạ Thần nói: Thiện nam tử! Phía đông biển thế giới Hoa Tạng Trang Nghiêm nầy, qua khỏi mười biển thế giới, có biển thế giới tên là Nhất Thiết Tịnh Quang Bảo. Trong biển thế giới đó, có thế giới chủng, tên là Nhất Thiết Như Lai Nguyện Quang Minh Âm. Trong đó có thế giới, tên là Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, tất cả hương kim cang ma ni vương làm thể, hình như lầu các. Dùng các mây báu đẹp làm bờ mé, trụ ở biển tất cả báu anh lạc, mây cung điện đẹp che phủ phía trên, sạch dơ xen tạp lẫn nhau. Trong thế giới đó, đời xa xưa có kiếp tên là Phổ Quang Tràng, nước tên là Phổ Mãn Diệu Tạng, đạo tràng tên là Nhất Thiết Bảo Tạng Diệu Nguyệt Quang Minh.

Vị Dạ Thần đáp: “Thiện nam tử! Phía đông biển thế giới Hoa Tạng Trang Nghiêm nầy, qua khỏi mười biển thế giới, có biển thế giới tên là Nhất Thiết Tịnh Quang Bảo. Trong biển thế giới đó, lại có thế giới chủng, tên là Nhất Thiết Như Lai Nguyện Quang Minh Âm. Trong đó lại có thế giới, tên là Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, thế giới đó dùng tất cả hương kim cang ma ni vương làm thể, hình tướng như lầu các. Dùng các mây báu đẹp làm bờ mé, trụ ở biển tất cả báu anh lạc, có mây cung điện đẹp che phủ ở phía trên thế giới. Thế giới đó sạch dơ xen tạp lẫn nhau. Trong thế giới đó, đời quá khứ xa xưa có kiếp tên là Phổ Quang Tràng, nước tên là Phổ Mãn Diệu Tạng, đạo tràng tên là Nhất Thiết Bảo Tạng Diệu Nguyệt Quang Minh.

Có đức Phật hiệu là Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm, thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề ở đó. Lúc bấy giờ ta làm Bồ Đề Thụ Thần, tên là Cụ Túc Phước Đức Đăng Quang Minh Tràng, giữ gìn đạo tràng. Ta thấy đức Phật đó thành Đẳng Chánh Giác, thị hiện thần lực, ta bèn phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, lập tức lúc đó ta đắc được tam muội, tên là Phổ Chiếu Như Lai Công Đức Hải.

Có đức Phật hiệu là Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở thế giới đó. Thánh nhân ở thế giới thanh tịnh, còn phàm phu thì ở thế giới dơ bẩn, mà thế giới đó có Thánh nhân, cũng có phàm phu, cho nên sạch dơ xen tạp lẫn nhau. Lúc đó ta làm Bồ Đề Thụ Thần, tên là Cụ Túc Phước Đức Đăng Quang Minh Tràng, để giữ gìn đạo tràng đại thụ vương. Ta nhìn thấy đức Phật Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm đó thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác, thị hiện đủ thứ thần thông lực. Ta bèn phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, lập tức lúc đó ta đắc được tam muội, tên là Phổ Chiếu Như Lai Công Đức Hải. (Đoạn nầy hiển bày lúc gặp Phật đầu tiên phát tâm đắc được định, đây cũng là lúc ban đầu phát tâm, cũng hỏi đắc được pháp đã bao lâu. Thần tên là Cụ Túc Phước Đức Đang Quang Minh Tràng, cũng biểu đạt ngũ địa nhập tục, phước trí cao thắng).

Ở trong đạo tràng đó, lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Pháp Thụ Oai Đức Sơn. Khi ta mạng chung, vẫn sinh ở trong đó, làm đạo tràng Chủ Dạ Thần, tên là Thù Diệu Phước Trí Quang. Thấy Như Lai đó chuyển bánh xe chánh pháp, hiện đại thần thông, ta lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp tất cả cảnh giới lìa tham. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Nhất Thiết Pháp Hải Âm Thanh Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Sinh trưởng tất cả thiện pháp địa.

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Bảo Quang Minh Đăng Tràng Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Khắp hiện thần thông mây quang minh.

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Công Đức Tu Di Quang. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp biển chư Phật. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Pháp Vân Âm Thanh Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Tất cả pháp hải đăng. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Trí Đăng Chiếu Diệu Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Diệt khổ tất cả chúng sinh đèn quang minh thanh tịnh. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Pháp Dũng Diệu Đức Tràng. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Ba đời Như Lai quang minh tạng. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Sư Tử Dũng Mãnh Pháp Trí Đăng. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Tất cả thế gian không chướng ngại trí huệ luân. 

Lại có Như Lai xuất hiện ra đời, hiệu là Trí Lực Sơn Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp các căn hạnh chúng sinh ba đời. 

Ở trong đạo tràng Nhất Thiết Bảo Tạng Diệu Nguyệt Quang Minh đó, lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Pháp Thụ Oai Đức Sơn. Khi ta mạng chung rồi, vẫn sinh ra lại ở trong đó, làm đạo tràng Chủ Dạ Thần, tên là Thù Diệu Phước Trí Quang. Ta thấy đức Phật Pháp Thụ Oai Đức Sơn đó chuyển bánh xe chánh pháp, thị hiện đại thần thông, ta lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp tất cả cảnh giới lìa tham. Chẳng còn dục niệm nữa, đã khử dục đoạn ái.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Nhất Thiết Pháp Hải Âm Thanh Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Sinh trưởng tất cả thiện pháp địa.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Bảo Quang Minh Đăng Tràng Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Khắp hiện thần thông mây quang minh.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Công Đức Tu Di Quang. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp biển chư Phật.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Pháp Vân Âm Thanh Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Tất cả pháp hải đăng.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Trí Đăng Chiếu Diệu Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Diệt khổ tất cả chúng sinh đèn quang minh thanh tịnh.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Pháp Dũng Diệu Đức Tràng. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Ba đời Như Lai quang minh tạng.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Sư Tử Dũng Mãnh Pháp Trí Đăng. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Tất cả thế gian không chướng ngại trí huệ luân.

Lại có một vị Phật xuất hiện ra đời, hiệu là Phật Trí Lực Sơn Vương. Lúc đó ta làm Dạ Thần, nhờ thấy được Phật, hầu hạ cúng dường, lập tức đắc được tam muội, tên là Chiếu khắp các căn hạnh chúng sinh ba đời. Vì ta hầu hạ cúng dường rất nhiều vị Phật, cho nên đắc được rất nhiều đủ thứ tam muội khác nhau.

Thiện nam tử! Trong kiếp Phổ Quang Minh Tràng, thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, có các Như Lai nhiều như số hạt bụi cõi Phật ra đời như vậy. Lúc đó ta làm Thiên Vương, hoặc làm Long Vương, hoặc làm Dạ Xoa Vương, hoặc làm Càn Thát Bà Vương, hoặc làm A Tu La Vương, hoặc làm Ca Lâu La Vương, hoặc làm Khẩn Na La Vương, hoặc làm Ma Hầu La Già Vương, hoặc làm Nhân Vương, hoặc làm Phạm Vương, hoặc làm thân Trời, hoặc làm thân người, hoặc làm thân người nam, hoặc làm thân người nữ, hoặc làm thân đồng nam, hoặc làm thân đồng nữ. Đều dùng đủ thứ các đồ cúng dường, để cúng dường tất cả các Như Lai đó, cũng nghe các đức Phật đó nói các pháp.

Thiện nam tử! Trong kiếp Phổ Quang Minh Tràng, thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, có các đức Phật nhiều như số hạt bụi cõi Phật ra đời như vậy. Lúc đó ta làm Thiên Vương, hoặc làm Long Vương, hoặc làm Dạ Xoa Vương, hoặc làm Càn Thát Bà Vương, hoặc làm A Tu La Vương, hoặc làm Ca Lâu La Vương, hoặc làm Khẩn Na La Vương (Nhạc Thần), hoặc làm Ma Hầu La Già Vương (đại mãng xà), hoặc làm Nhân Vương, hoặc làm Phạm Vương, hoặc làm thân Trời, hoặc làm thân người, hoặc làm thân người nam, hoặc làm thân người nữ, hoặc làm thân đồng nam, hoặc làm thân đồng nữ. Đều dùng đủ thứ các đồ cúng dường, để cúng dường tất cả các đức Phật đó. Ta cũng nghe các đức Phật đó nói đủ thứ các pháp. (Đoạn này nói trong một kiếp, có các đức Phật nhiều như số hạt bụi cõi Phật, đều cúng dường)

Từ đó mạng chung, ta vẫn sinh ra ở trong thế giới đó. Trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật tu Bồ Tát hạnh.

Vị Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải nói: “Ta từ đó mạng chung, vẫn sinh ra ở trong thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm đó. Trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật tu Bồ Tát hạnh”.

Sau đó mạng chung, sinh vào thế giới Ta Bà trong biển thế giới Hoa Tạng Trang Nghiêm nầy, gặp đức Như Lai Câu Lưu Tôn, hầu hạ cúng dường, đắc được tam muội tên là Lìa tất cả trần cấu quang minh. 

Lại gặp đức Như Lai Câu Na Hàm Mâu Ni, hầu hạ cúng dường, đắc được tam muội tên là Hiện khắp tất cả biển chư Phật. 

Lại gặp đức Như Lai Ca Diếp, hầu hạ cúng dường, đắc được tam muội tên là Diễn nhất thiết chúng sinh ngôn âm hải.

Sau đó lại mạng chung, sinh vào thế giới Ta Bà trong biển thế giới Hoa Tạng Trang Nghiêm nầy, gặp đức Như Lai Câu Lưu Tôn (Ngài là vị Phật thứ nhất trong kiếp Hiền), hầu hạ Phật, cúng dường Phật, đắc được tam muội tên là Lìa tất cả trần cấu quang minh.

Kế lại gặp đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (vị Phật thứ hai trong kiếp Hiền), hầu hạ Phật, cúng dường Phật, đắc được tam muội tên là Hiện khắp tất cả biển chư Phật.

Kế lại gặp đức Phật Ca Diếp (vị Phật thứ ba trong kiếp Hiền), hầu hạ Phật, cúng dường Phật, đắc được tam muội tên là Diễn nhất thiết chúng sinh ngôn âm hải. Đây là lúc tu hành ở thế giới Ta Bà, đắc được pháp nơi ba vị Phật đầu tiên trong kiếp Hiền.

Lại gặp đức Như Lai Tỳ Lô Giá Na, ở đạo tràng nầy, thành Đẳng Chánh Giác. Niệm niệm thị hiện sức đại thần thông. Lúc đó ta thấy được, lập tức đắcđược giải thoát tam muội Niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn nầy.

Kế đó, nay lại gặp đức Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai (vị Phật thứ tư trong kiếp Hiền, tức là pháp thân của Phật Thích Ca Mâu Ni), ở tại đạo tràng nầy, thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Niệm niệm thị hiện sức đại thần thông. Lúc đó ta (Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải) thấy được Phật, lập tức đắc được môn giải thoát tam muội Niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn nầy.

Đắc được giải thoát nầy rồi, vào được biển pháp giới an lập nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, thấy được tất cả biển pháp giới an lập đó, hết thảy hạt bụi tất cả cõi Phật. Trong mỗi hạt bụi, có cõi nước chư Phật nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.

Đắc được môn giải thoát nầy rồi, vào được biển pháp giới an lập, nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, an trụ ở đó. Thấy được tất cả biển pháp giới an lập đó, hết thảy hạt bụi tất cả cõi Phật. Trong mỗi hạt bụi, có cõi nước chư Phật nhiều như số hạt bụi mười bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. (Đây là cõi trong hạt bụi).

Mỗi cõi Phật, đều có Tỳ Lô Giá Na Như Lai ngồi nơi đạo tràng. Trong niệm niệm thành Chánh Đẳng Giác, hiện các thần biến. Sở hiện thần biến, mỗi thứ thần biến đều khắp cùng tất cả biển pháp giới. Cũng thấy thân mình ở chỗ tất cả các Như Lai đó. Lại cũng nghe các Như Lai đó nói diệu pháp.

Trong mỗi cõi Phật, đều có Tỳ Lô Giá Na Như Lai (biến nhất thiết xứ) ngồi nơi đạo tràng. Trong niệm niệm đều thành Chánh Đẳng Giác, hiện ra đủ thứ thần thông biến hoá. Sở hiện thần thông biến hoá, mỗi thứ thần biến đều khắp cùng tất cả biển pháp giới. Chẳng những thấy được Phật tình hình như vậy, mà cũng thấy thân mình ở chỗ đạo tràng của tất cả các Như Lai đó. Lại cũng nghe tất cả các Như Lai đó nói diệu pháp. (Đây là Phật ở trong cõi nước).

Lại cũng thấy tất cả chư Phật đó, trong mỗi mỗi lỗ chân lông, đều hiện ra biển biến hoá, hiện sức thần thông. Trong tất cả biển pháp giới, tất cả biển thế giới, tất cả thế giới chủng, tất cả thế giới, tuỳ tâm chúng sinh, chuyển bánh xe chánh pháp.

Ta cũng lại thấy tất cả chư Phật đó, trong mỗi mỗi lỗ chân lông, đều hiện ra đủ thứ biển biến hoá, thị hiện sức thần thông. Trong tất cả biển pháp giới, tất cả biển thế giới, tất cả thế giới chủng, tất cả thế giới, tuỳ thuận tâm của tất cả chúng sinh, mà chuyển bánh xe chánh pháp.

Ta đắc được lực đà la ni mau chóng, thọ trì suy gẫm tất cả văn nghĩa. Dùng trí sáng rõ, vào khắp tất cả pháp tạng thanh tịnh. Dùng trí tự tại, du khắp tất cả biển pháp thâm sâu. Dùng trí khắp cùng, biết khắp các nghĩa rộng lớn ba đời. Dùng trí bình đẳng, thông đạt khắp pháp không khác biệt của chư Phật. Ngộ hiểu tất cả pháp môn như vậy.

Ta đắc được lực đà la ni mau chóng, thọ trì suy gẫm tất cả văn nghĩa của pháp. Dùng trí huệ sáng tỏ, vào khắp tất cả pháp tạng thanh tịnh vi diệu. Dùng trí huệ như ý tự tại, du khắp tất cả biển pháp thâm sâu vi diệu. Dùng trí huệ khắp cùng ngang dọc, biết khắp tất cả nghĩa lý của pháp rộng lớn ba đời. Dùng trí huệ bình đẳng rộng lớn, thông đạt khắp diệu pháp không khác biệt của tất cả chư Phật. Ngộ hiểu tất cả pháp môn như vậy.

Trong mỗi mỗi pháp môn, ngộ hiểu tất cả mây Tu Đa La. Trong mỗi mỗi mây Tu Đa La, ngộ hiểu tất cả biển pháp. Trong mỗi mỗi biển pháp, ngộ hiểu tất cả pháp phẩm. Trong mỗi mỗi pháp phẩm, ngộ hiểu tất cả mây pháp. Trong mỗi mỗi mây pháp, ngộ hiểu tất cả dòng pháp. Trong mỗi mỗi dòng pháp, sinh ra tất cả biển đại hỉ. Trong mỗi mỗi biển đại hỉ, sinh ra tất cả địa. Mỗi mỗi địa, sinh ra tất cả biển tam muội. Mỗi mỗi biển tam muội, thấy được tất cả biển chư Phật. Mỗi mỗi biển thấy chư Phật, đắc được biển nhất thiết trí quang. Mỗi biển nhất thiết trí quang, chiếu khắp ba đời, vào khắp mười phương.

Trong mỗi mỗi pháp môn, giác ngộ thấu hiểu tất cả mây Tu Đa La (khế Kinh). Trong mỗi mỗi mây Tu Đa La, ngộ hiểu tất cả biển pháp thâm sâu vi diệu. Trong mỗi mỗi biển pháp, ngộ hiểu phẩm loại của tất cả pháp. Trong mỗi mỗi phẩm pháp, ngộ hiểu tất cả mây pháp. Mây thì lúc có, lúc không, lúc hiển, lúc ẩn. Có lúc đột nhiên giăng đầy khắp hư không. Có lúc, không có chút mây nào, bầu trời xanh bao la. Mây pháp có lý diệu không thể tả. Trong mỗi mỗi mây pháp, ngộ hiểu tất cả dòng pháp. Dòng nghĩa là dòng nước. Pháp chảy thì không có hình tướng, vì không có hình tướng, cho nên mới chảy, tức cũng là chẳng có chỗ nào mà chẳng có. Ví như nước biển cả, tháo hướng đông thì nước chảy về hướng đông; tháo hướng tây, thì nước chảy về hướng tây. Trong mỗi mỗi dòng pháp, sinh ra tất cả biển đại hỉ. Biển nghĩa là nhiều, hình dung vô lượng vô biên, không cách chi đo lường được. Trong mỗi mỗi biển đại hỉ, sinh ra tất cả địa. Địa ở đây là không hình tướng, giống như đất, đất hay sinh trưởng tất cả vạn vật. Sau đó hay sinh ra tất cả pháp địa, cũng hay sinh ra tất cả Thánh Hiền. Trong mỗi mỗi địa, sinh ra tất cả biển tam muội. Trong mỗi mỗi biển tam muội, thấy được tất cả biển chư Phật. Trong mỗi mỗi biển thấy chư Phật, lại đắc được biển nhất thiết trí huệ quang. Trong mỗi biển nhất thiết trí huệ quang, chiếu khắp ba đời, vào khắp mười phương.

Biết được biển các hạnh thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết được biển hết thảy bổn sự của vô lượng Như Lai. Biết được biển khó xả mà xả được của vô lượng Như Lai. Biết được biển giới luân thanh tịnh của vô lượng Như Lai. Biết được biển kham nhẫn thanh tịnh của vô lượng Như Lai. Biết được biển tinh tấn rộng lớn của vô lượng Như Lai. Biết được biển thiền định thâm sâu của vô lượng Như Lai. Biết được biển Bát Nhã Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển phương tiện Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển nguyện Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển lực Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển trí Ba La Mật của vô lượng Như Lai. 

Biết được biển các hạnh thuở xưa của vô lượng Như Lai tu. Biết được biển hết thảy bổn sự của vô lượng Như Lai. Biết được biển khó xả mà xả được của vô lượng Như Lai. Phật thành Chánh Đẳng Giác, nhất định phải trải qua hạnh môn khó xả mà xả được, khó thí mà thí được. Tóm lại, nếu muốn thành Phật, phải có tinh thần xả không được cũng phải xả. Nếu xả không được, thì còn có sự chấp trước. Có sự chấp trước thì không thể viên mãn lục độ vạn hạnh. Cho nên không xả được cũng phải xả. Người ta xả được, bạn cũng xả được; người ta làm được, bạn cũng làm được, đó chẳng phải là kỳ lạ gì! Người ta không xả được, mà bạn xả được; người ta không làm được, mà bạn làm được, đó mới chân thật. Tức là việc mình không làm được, cũng phải làm cho được. Chẳng những làm được, mà còn phải viên mãn rốt ráo, đó mới là chân chánh Phật pháp. Đây là hạnh bố thí Ba La Mật. Biết được biển giới luân thanh tịnh của vô lượng Như Lai, đây là hạnh môn trì giới Ba La Mật. Biết được biển kham nhẫn thanh tịnh của vô lượng Như Lai, đây là hạnh môn nhẫn nhục Ba La Mật. Biết biển tinh tấn rộng lớn của vô lượng Như Lai, đây là hạnh môn tinh tấn Ba La Mật. Biết được biển thiền định thâm sâu của vô lượng Như Lai, đây là hạnh môn thiền định Ba La Mật. Biết được biển Bát Nhã Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển phương tiện Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển nguyện Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển lực Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Biết được biển trí Ba La Mật của vô lượng Như Lai. Đây là nói về mười độ như biển cả, thâm sâu không thể dò, rộng không thể lường, hình dùng không có bờ mé.

Biết vượt qua Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết trụ Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Vô lượng biển kiếp hiện sức thần thông. Biết nhập Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết tu Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết tịnh trị Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết quán sát Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. 

Biết vượt qua Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết an trụ Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Trong vô lượng biển kiếp hiện sức thần thông. Biết nhập vào Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết tu trì Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết tịnh trị Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai. Biết quán sát Bồ Tát địa thuở xưa của vô lượng Như Lai.

Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi làm Bồ Tát, thì thường thấy chư Phật. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi làm Bồ Tát, thì thấy hết biển chư Phật cõi chư Phật đồng trụ. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi làm Bồ Tát, thì dùng vô lượng thân khắp sinh trong biển cõi. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi làm Bồ Tát, thì tu hạnh rộng lớn, khắp cùng pháp giới. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi làm Bồ Tát, thì thị hiện đủ thứ các môn phương tiện, điều phục thành thục tất cả chúng sinh. 

Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi tu hành Bồ Tát hạnh, thì thường thấy mười phương ba đời tất cả chư Phật. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi tu hành Bồ Tát hạnh, thì thấy hết biển chư Phật cõi chư Phật đồng trụ. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi tu hành Bồ Tát hạnh, thì dùng vô lượng thân khắp sinh trong vô lượng biển cõi. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi tu hành Bồ Tát hạnh, thì tu hạnh rộng lớn, khắp cùng pháp giới. Biết vô lượng Như Lai thuở xưa khi tu hành Bồ Tát hạnh, thì thị hiện đủ thứ các môn phương tiện, để điều phục thành thục tất cả chúng sinh.

Biết vô lượng Như Lai phóng đại quang minh, chiếu khắp mười phương tất cả biển cõi. Biết vô lượng Như Lai hiện đại thần lực, khắp hiện ở trước tất cả chúng sinh. Biết vô lượng Như Lai bậc trí huệ rộng lớn. Biết vô lượng Như Lai chuyển bánh xe chánh pháp. Biết vô lượng Như Lai thị hiện biển tướng. Biết vô lượng Như Lai thị hiện biển thân. Biết vô lượng Như Lai biển lực rộng lớn.

Biết vô lượng Như Lai phóng đại quang minh, chiếu sáng khắp mười phương tất cả biển cõi chư Phật. Biết vô lượng Như Lai hiện ra đại thần lực, khắp hiện ở trước tất cả chúng sinh, để vì chúng sinh thuyết pháp. Biết vô lượng Như Lai bậc trí huệ rộng lớn. Biết vô lượng Như Lai chuyển bánh xe chánh pháp. Biết vô lượng Như Lai thị hiện tất cả biển tướng. Biết vô lượng Như Lai thị hiện thân tướng, như biển cả. Biết vô lượng Như Lai đại lực rộng lớn, như biển cả.

Các Như Lai đó, từ lúc ban đầu phát tâm, cho đến pháp diệt, ta ở trong niệm niệm đều thấy biết được.

Các Như Lai đó, từ lúc ban đầu phát tâm, cho đến pháp diệt cuối cùng, ta ở trong niệm niệm đều thấy biết được cảnh giới đó, rất rõ ràng.

Thiện nam tử! Ngươi hỏi ta rằng phát tâm đã được bao lâu? 

Thiện nam tử! Thuở xưa, ta trải qua số kiếp, nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật, như ở trên đã nói, trong thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, làm Bồ Đề Thụ Thần. Nghe Như Lai Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm thuyết pháp, mà phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. 

Ở trong số kiếp nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật, tu Bồ Tát hạnh, sau đó mới sinh vào thế giới Ta Bà kiếp Hiền nầy. Từ đức Phật Câu Lưu Tôn, đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải nói: Thiện nam tử! Ngươi đến hỏi ta rằng: Ngài phát tâm bồ đề cho đến hiện tại đã được bao lâu?

Thiện nam tử! Thuở xưa, ta trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật, như tình hình đã nói ở trên, trong thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, làm Bồ Đề Thụ Thần. Lắng nghe Như Lai Bất Thối Chuyển Pháp Giới Âm diễn nói diệu pháp, mà ta phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức cũng là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ở trong số kiếp nhiều như số hạt bụi hai cõi Phật, tu Bồ Tát hạnh, sau đó mới sinh vào thế giới Ta Bà trong kiếp Hiền nầy. Từ đức Phật Câu Lưu Tôn, cho đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Vị Phật thứ tư trong kiếp Hiền).

Tại sao gọi là kiếp Hiền? Vì trong kiếp nầy, có một ngàn vị Phật xuất hiện ra đời, nên gọi là kiếp Hiền. Trong Kinh Đại Bi có nói rằng : “Đức Phật nói với Ngài A Nan rằng: Tại sao gọi là kiếp Hiền? A Nan! Ba ngàn đại thiên thế giới nầy, khi kiếp sắp thành, thì nước dâng lên ngập hết. Bấy giờ, Trời Tịnh Cư dùng thiên nhãn thấy thế giới nầy, toàn là nước lớn, thấy có một ngàn đoá hoa sen đẹp. Mỗi mỗi hoa sen, đều có ngàn cánh, màu vàng ròng, ánh sáng vàng ròng, chói sáng chiếu khắp, hương thơm toả ra, rất đáng ưa thích. Trời Tịnh Cư đó, do thấy như vậy rồi, tâm sinh hoan hỉ, nhảy nhót vô lượng, mà hoan hỉ nói rằng: Lạ thay lạ thay! Ít có ít có, như trong kiếp nầy, sẽ có một ngàn vị Phật xuất hiện ra đời. Bởi nhân duyên đó, nên kiếp nầy tên là Hiền”.

Và trong kiếp nầy, hết thảy tất cả chư Phật vị lai, ta đều gần gũi cúng dường chư Phật như vậy. Như trong kiếp Hiền thế giới nầy, cúng dường tất cả chư Phật vị lai. Trong tất cả thế giới, tất cả kiếp, hết thảy chư Phật vị lai, cũng đều như vậy, ta đều gần gũi cúng dường.

Và trong kiếp nầy, hết thảy tất cả chư Phật vị lai, ta đều gần gũi cúng dường chư Phật như vậy. Như trong kiếp Hiền thế giới nầy, cúng dường tất cả chư Phật vị lai. Trong tất cả thế giới, tất cả kiếp, hết thảy chư Phật vị lai, cũng đều như vậy, ta đều gần gũi cúng dường.

Thiện nam tử! Thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm đó, nay vẫn tồn tại. Chư Phật xuất hiện ra đời, liên tục không ngừng. Ngươi nên một lòng tu môn Bồ Tát đại dũng mãnh nầy.

Thiện nam tử! Thế giới Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm đó, nay vẫn còn tồn tại. Chư Phật vẫn xuất hiện ra đời, liên tục không ngừng. Ngươi nên phát tâm đại bồ đề, một lòng chuyên nhất tu pháp môn Bồ Tát đại dũng mãnh nầy. (Đây là khuyên siêng tu tập).

Bấy giờ, vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, muốn thuật lại nghĩa giải thoát nầy, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Lúc đó, vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, Ngài muốn thuật lại nghĩa giải thoát nầy, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

Thiện Tài nghe ta nói
Môn giải thoát thanh tịnh
Nghe rồi sinh hoan hỉ
Siêng tu khiến rốt ráo.

Thiện Tài ! Ngươi hãy chú ý lắng nghe lời ta nói, ta sẽ nói cho ngươi biết pháp môn giải thoát thanh tịnh, khiến cho ngươi nghe rồi, nhất định sẽ sinh tâm đại hoan hỉ, ngươi phải siêng năng tu học pháp môn giải thoát nầy cho minh bạch, hiểu biết rốt ráo.

Xưa ta trong biển kiếp
Sinh tâm tin ưa lớn
Thanh tịnh như hư không
Thường quán nhất thiết trí.

Thuở xưa, ta ở trong biển kiếp, phát tâm đại bồ đề, sinh tâm tín ngưỡng Phật, tâm hoan hỉ học Phật pháp. Trong tâm thanh tịnh không nhiễm, như hư không, thường quán sát nghiên cứu tu hành pháp nhất thiết trí huệ.

Ta nơi Phật ba đời
Đều sinh tâm tin ưa
Cùng chúng hội của Phật
Đều nguyện thường gần gũi.

Ta đối với chư Phật mười phương ba đời, đều sinh tâm tín ngưỡng và hoan hỉ. Bất cứ vị Phật nào ra đời, ta đều đến gần gũi cúng dường. Đạo tràng của chư Phật, như có pháp hội, ta nhất định tham gia, lắng nghe diệu pháp của chư Phật nói, lúc nào cũng đều muốn gần gũi chư Phật.

Xưa ta từng thấy Phật
Vì chúng sinh cúng dường
Nghe được pháp thanh tịnh
Tâm sinh đại hoan hỉ.

Thuở xưa, ta đã từng thấy tất cả chư Phật. Ta đại biểu cho tất cả chúng sinh cúng dường tất cả chư Phật, nghe được diệu pháp của chư Phật nói – môn giải thoát thanh tịnh. Nghe rồi, tâm sinh đại hoan hỉ.

Thường tôn trọng cha mẹ
Cung kính mà cúng dường
Như vậy không ngừng nghỉ
Vào môn giải thoát nầy.

Ta thường tôn trọng cha mẹ của ta, lúc nào cũng cung kính, cúng dường, chẳng khi nào ngừng nghỉ và giải đãi. Ta luôn luôn tôn trọng chư Phật, giống như tôn trọng cha mẹ. Ta cung kính Phật, gần gũi Phật, hầu hạ Phật, cúng dường Phật. Trong vô lượng kiếp, ta đều phát tâm như vậy, không ngừng nghỉ giải đãi, cho nên mới đắc được môn giải thoát hỉ trang nghiêm rộng lớn nầy. (Chẳng có mọi sự chướng ngại, đắc được chân chánh tự tại, vô câu vô thúc, không quái không ngại, chẳng có mọi sự phiền não, nên gọi là môn giải thoát.

Người già bệnh bần cùng
Các căn không đầy đủ
Tất cả đều cứu giúp
Khiến họ được an ổn.

Đối với người già, người bệnh, người bần cùng, người sáu căn không đầy đủ, phải thương xót họ, cứu giúp họ, khiến cho họ được an ổn. Khôi phục lại tự tánh vốn có, sinh hoạt lại bình thường. Phật giáo đồ phải có tinh thần từ bi làm hoài bảo, phương tiện làm cửa.

Nước lửa nạn vua cướp
Các sợ hãi trong biển
Xưa ta tu các hạnh
Vì cứu chúng sinh đó.

Người có tam tai và bát nạn, do nghiệp lực đưa đến. Tam tai là gì? Tức là nạn nước, nạn lửa, nạn gió. Bát nạn là gì? Tức là nạn vua, nạn cướp, nạn rồng độc, nạn thuốc độc, nạn ác quỷ, nạn thú dữ, nạn Dạ Xoa, nạn La Sát, và tất cả sự sợ hãi ở trong biển. Vị Dạ Thần nói: Thuở xưa ta tu tất cả các hạnh, là vì cứu hộ tất cả chúng sinh. Phàm là chúng sinh có tam tai bát nạn, thì ta nhất định sẽ cứu họ thoát khỏi hiểm cảnh dầu sôi lửa bỏng.

Phiền não luôn nóng bức
Bị nghiệp chướng trói che
Đoạ vào các đường hiểm
Ta cứu chúng sinh đó.

Phiền não tức là phiền thân não tâm, đau khổ giống như lửa lớn đốt thân. Tại sao có sự nóng bức như vậy? Vì bị nghiệp chướng trói buộc và che đậy, cho nên chẳng được giải thoát, do đó mà đoạ vào trong các đường hiểm, tức cũng là đường A tu la, đường súc sinh, đường ngạ quỷ, đường địa ngục, đây là bốn đường ác. Ta phải cứu những chúng sinh đó, thoát khỏi biển khổ, đến được bờ bên kia.

Tất cả các cõi ác
Vô lượng sự khốn khổ
Sinh già bệnh chết thảy
Ta đều sẽ trừ diệt.

Chúng sinh trong tất cả các cõi ác, thọ vô lượng đủ thứ sự khổ não và độc hại. Còn có thọ khổ sinh, già, bệnh, chết, thương nhau mà xa lìa, ghét mà gặp nhau, cầu mà không được, năm ấm thiêu đốt. Ta đều sẽ trừ diệt hết khổ cho họ.

Nguyện hết kiếp vị lai
Khắp vì các quần sinh
Diệt trừ khổ sinh tử
Được vui Phật rốt ráo.

Ta phát đại thệ nguyện, hết kiếp thuở vị lai, khắp vì tất cả chúng sinh, tiêu diệt hết sạch tất cả khổ sinh tử, khiến cho họ được an vui rốt ráo thường lạc ngã tịnh bốn đức Niết Bàn của Phật.
Mười bài kệ ở trên, bài kệ đầu tiên nói về nghe bảo siêng tu. Kế tám bài kệ sau là thấu rõ hạnh xưa. Bốn bài kệ trước, là trí hạnh thượng cúng. Bốn bài kệ sau là bi tâm hạ cứu. Bài kệ cuối cùng là kết hạnh phân đều.

Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn nầy. Như các đại Bồ Tát vào sâu tất cả biển pháp giới, đều biết tất cả các kiếp số, thấy khắp tất cả cõi thành hoại. Mà ta làm sao biết được, nói được, những hạnh công đức đó?

Vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải gọi một tiếng thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát niệm niệm sinh ra hỉ trang nghiêm rộng lớn nầy mà thôi. Còn như các đại Bồ Tát, làm thế nào vào sâu tất cả biển pháp giới? Làm thế nào biết tất cả các kiếp số? Làm thế nào thấy khắp tất cả cõi thành trụ hoại không? Những vấn đề đó, ta làm sao biết được! Ta làm sao nói được những hạnh công đức đó?

Thiện nam tử! Trong hội Như Lai bồ đề đạo tràng nầy, có Chủ Dạ Thần, tên là Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực. Ngươi nên đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo?

Thiện nam tử! Ở trong pháp hội Như Lai bồ đề đạo tràng nầy, có vị Chủ Dạ Thần, tên là Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực. Ngươi nên đến đó hỏi Ngài: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Ngài sẽ giải thích, chỉ bày minh bạch rõ ràng.

Một số người học Phật, hoan hỉ học theo Thiện Tài đồng tử, cho rằng bái sư càng nhiều thầy càng tốt, đây là tư tưởng hoàn toàn sai lầm! Phải biết Thiện Tài đồng tử tuy đi tham phương 53 vị thiện tri thức, đó là vâng lời thầy, chẳng phải tự nhiên đi bái sư, mà là trải qua sự giới thiệu của thiện tri thức. Thiện Tài đồng tử vì pháp quên mình, leo núi lội nước, dãi nắng dầm mưa, trải qua năm tháng, tinh tấn tiến về trước, thứ lớp tham phương thiện tri thức, cuối cùng đạt thành chí nguyện của Ngài, do đó có câu:

“Xuất gia chẳng tham phương
Như Phật tổ chưa khai quang”.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử một lòng quán sát thân Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, mà nói kệ rằng:

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử một lòng quán sát thân của vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, mà nói kệ rằng:

Con nhờ bạn lành dạy
Đi đến chỗ Thiên Thần
Thấy Thần ngồi toà báu
Thân vô lượng vô biên.

Thiện Tài đồng tử nói với vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải: Con nhờ người bạn lành Chủ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Đức giới thiệu, đi đến chỗ Ngài Thiên Thần. Con thấy Thiên Thần ngồi nơi toà báu sư tử, thân lượng của Ngài rộng lớn vô lượng vô biên không có bờ mé, khiến cho con vô cùng cung kính.

Chẳng phải chấp sắc tướng
Cho các pháp là có
Người trí kém hiểu cạn
Không biết cảnh giới Ngài.

Chẳng phải con chấp vào sắc tướng thân thể, cho các pháp là có, là không, tuyệt đối chẳng phải như thế. Những người trí kém cỏi, hiểu biết nông cạn, họ không cách gì biết về cảnh giới của Ngài.

Thế gian trời và người
Vô lượng kiếp quán sát
Cũng không dò lường được
Vì sắc tướng vô biên.

Chư Thiên và người thế gian, họ ở trong vô lượng kiếp quán sát cảnh giới của Ngài, cũng không thể nào dò lường được cảnh giới của Ngài. Tại sao vậy? Vì sắc tướng của Ngài vô biên, vô cùng vô tận, không cách chi dò lường được.

Xa lìa nơi năm uẩn
Cũng không trụ nơi xứ
Dứt hẳn nghi thế gian
Hiển hiện sức tự tại.

Thân Ngài chẳng phải thành tựu bởi sắc thọ tưởng hành thức năm uẩn, cũng không trụ chỗ nào, dứt hẳn tất cả nghi hoặc thế gian, hiển hiện sức tự tại vi diệu không thể nghĩ bàn.

Chẳng chấp pháp trong ngoài
Không động không chướng ngại
Mắt trí huệ thanh tịnh
Thấy Phật thần thông lực.

Cũng chẳng chấp pháp trong, cũng chẳng chấp pháp ngoài. Không lay động, không chướng ngại. Mắt trí huệ thanh tịnh của Ngài, thấy được tất cả thần thông lực của chư Phật, thiên biến vạn hoá.

Thân là chánh pháp tạng
Tâm là trí vô ngại
Liền được trí quang chiếu
Lại chiếu các quần sinh.

Thân của Ngài là chánh pháp tạng, tâm của Ngài là trí vô ngại. Liền được trí huệ quang minh chiếu sáng, lại chiếu sáng tất cả quần sinh, quần sinh tức cũng là chúng sinh, bao quát phi tiềm động thực.

Tâm tập vô biên nghiệp
Trang nghiêm các thế gian
Rõ đời đều tâm đó
Hiện thân đồng chúng sinh.

Trong tâm tích tập vô biên công đức nghiệp, trang nghiêm tất cả thế gian pháp hữu vi và pháp vô vi. Thấu rõ hết thảy tất cả thế gian đều do tâm hiện. Do đó có câu: “Tất cả do tâm tạo”. Thân thị hiện ra nhiều đồng số chúng sinh.

Biết đời đều như mộng
Tất cả Phật như ảnh
Các pháp đều như vang
Khiến chúng không chấp trước.

Biết tất cả tướng thế gian, thảy đều như mộng huyễn. Tất cả chư Phật như bọt bóng. Tất cả các pháp đều như tiếng vang, đều là hư vọng không thật, khiến cho tất cả chúng sinh không chấp trước.

Người tu hành, trước hết phải minh bạch tất cả pháp, hoàn toàn do vọng tâm của mình biến hiện, đều là giả không. Nếu vọng tâm nầy không chấp trước vào tất cả cảnh giới, thì trong tâm sẽ thanh tịnh, còn có gì gọi là người? gì gọi là pháp? có gì để phân biệt? có gì để chấp trước? Nếu trừ sạch hai thứ chấp người và chấp pháp, thì có thể chứng được giải thoát. Giải thoát tức là chấm dứt sinh tử, chẳng còn thọ khổ luân hồi nữa.

Vì chúng sinh ba đời
Niệm niệm thị hiện thân
Mà tâm chẳng chỗ trụ
Nói pháp khắp mười phương.

Vì hết thảy chúng sinh ba đời, ở trong niệm niệm thị hiện tất cả sắc tướng, tất cả thân, mà tâm chẳng chỗ trụ, mà đi đến mười phương thế giới, khắp vì tất cả chúng sinh nói pháp, độ thoát họ phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo.

Vô biên các biển cõi
Biển Phật biển chúng sinh
Đều trong một hạt bụi
Đây giải thoát của Ngài.

Có vô lượng vô biên các biển cõi, biển Phật, biển chúng sinh, hoàn toàn đều ở trong một hạt bụi, đây là sức giải thoát của Ngài Thiên Thần, thật là cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Mười bài kệ trên, bài kệ thứ nhứt rõ nhân hữu được thấy. Bài kệ thứ hai ký đối hiển thắng. Sáu bài kệ kế tiếp đương tướng hiển thắng. Bài kệ cuối tổng kết viên dung.

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nói bài kệ nầy rồi, đảnh lễ vị Chủ Dạ Thần, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, rồi từ tạ mà đi.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nói bài kệ nầy rồi, bèn đảnh lễ vị Chủ Dạ Thần, rồi đi nhiễu quanh vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng dung nhan vị Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải, mắt không tạm rời, từ tạ mà đi, tham phương vị thiện tri thức khác.

Pages: 1 2 3 4 5 6
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.