Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN HIỂN DƯƠNG THÁNH GIÁO

Tác giả: Bồ-tát Thiên Thân.
Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng Đời Đường
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 17

PHẨM 8: THÀNH LẬP HIỆN QUÁN (Phần còn lại)

Luận chép: Nên biết: Như thế đã được các gốc lành như Noãn, v.v… nên biết từ đấy bước vào hiện quán. Tụng rằng:

Từ đây, không gia hạnh,
Trí giải thoát ba tâm,
Trăm mươi hai phiền não,
Phiền não thuộc dứt mười.

Luận chép: Từ đây nối tiếp không có gia hạnh, kiến đạo giải thoát, từ chỗ cắt đứt tùy miên phát sinh trí ba tâm là:

  1. Trí dứt trừ giả duyên hữu tình bên trong.
  2. Trí dứt trừ các pháp giả duyên bên trong.
  3. Trí dứt trừ tất cả các pháp giả duyên của các hữu tình.

Trong đây hai trí trước là pháp trí. Trí thứ ba là chủng loại trí. Ba trí nầy có công năng dứt bỏ một trăm mười hai phiền não. Nó thuộc về mười thứ phiền não. Một trăm mười hai thứ phiền não là cõi Dục, thấy sự thật về khổ (khổ đế). Mỗi đế dứt trừ mười thứ phiền não. Cõi Sắc, cõi Vô sắc, thấy khổ đế, mỗi đế dứt trừ chín thứ phiền não, trừ sân. Như thế gọi là một trăm mười hai phiền não. Những gì thuộc về mười thứ phiền não? Đó là tự tính của năm kiến chấp và tự tính của năm chẳng phải kiến chấp, mà trước đã nêu.

Lại nữa, Tụng rằng:

Chứng phần Bồ-đề nầy,
Sáu thứ tướng tịnh trí,
Thực hành vô phân biệt,
Lập ra theo việc làm.

Luận chép: Nên biết trí nầy chứng được giác chân thật phần chứ chẳng phải vị Phương tiện, đây cũng là sáu thứ tướng của trí thanh tịnh.

Đó là các trí tướng: Pháp trí, chủng loại trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí. Trí nầy không còn phân biệt cho nên chỉ tùy theo việc làm mà lập ra sáu tướng mạo của trí. Nên biết, lập ra sáu thứ không phải do hạnh khác nhau.

Lại nữa, Tụng rằng:

Bồ-tát ở vị nầy,
Trước tu sức nhân thắng,
Đối khổ thân mình, người,
Sinh tính tâm bình đẳng.

Luận chép: Các vị Bồ-tát trong phần vị hiện quán nầy, do trước tu tập thắng tư lương, nên đối với khổ nối nhau của mình và người mà phát khởi năm tâm bình đẳng, là tâm thô trọng bình đẳng, tâm vô ngã bình đẳng, tâm dứt trừ và tinh tấn bình đẳng, tâm không còn ái nhiễm, tinh tấn bình đẳng, tâm của tất cả Bồ-tát hiện quán bình đẳng.

Lại nữa, Tụng rằng:

Ý vui đại ngã nầy,
Về tự tính, vô đắc,
Nên biết, ý ưa rộng,
Hai tính vô phân biệt.

Luận chép: Nên biết tính chất của tâm bình đẳng nầy tức là đại ngã A-thế-da và A-thế-da (ý lạc) rộng lớn, không còn bóng dáng của tự tính biến kế sở chấp. Cũng không còn bóng dáng của công đức hay lỗi của hai tính chất hữu lậu và vô lậu. Ấy là kết quả của vô phân biệt.

Lại nữa, Tụng rằng:

Kế, mười sáu hạnh trên,
Trí thế gian thanh tịnh,
Do đối trị giới, địa,
Rốt ráo sự thành tựu.

Luận chép: Từ đế hiện quán nầy trở lên, có mười hạnh trong việc tu đạo. Nó làm phát sinh trí thế gian, xuất thế gian thanh tịnh. Nghĩa là từ khổ đế cõi Dục làm phát sinh hai trí:

  1. Trí hiện quán suy xét.
  2. Trí hiện quán quyết định.

Đối với khổ đế trói buộc trong cõi Sắc, cõi Vô sắc, cũng có hai trí như vậy. Như vậy, đối với khổ đế, có bốn thứ trí. Như vậy, đối với tập, diệt, đạo đế mỗi thứ cũng có bốn trí. Tổng cộng là mười sáu thứ trí.

Lại nữa, trí hiện quán như vậy, nếu Thanh văn, v.v… chứng được là đối trị với tạp nhiễm ở cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nếu Bồ-tát chứng được thì đối trị với chướng ngại của mười thứ địa.

Như vậy, nên biết, các việc đã làm đều thành tựu tới chỗ rốt ráo, đó gọi là chuyển y rốt ráo, cũng gọi là hiện quán trí rốt hay còn gọi là hiện quán rốt ráo.

Lại nữa, Kệ nói:

Hiện quán nầy khác nhau
Hoặc sáu hoặc mười tám,
Tướng rất thắng lợi nhiều,
Tùy theo kinh luận nói.

Luận chép: Nên biết sự khác nhau của hiện quán, có sáu thứ:

  1. Tư duy hiện quán.
  2. Tín hiện quán.
  3. Giới hiện quán.
  4. Trí hiện quán, đế hiện quán.
  5. Trí biên hiện quán, đế hiện quán.
  6. Rốt ráo hiện quán.

Hỏi: Tư duy hiện quán, lấy gì làm thể?

Đáp: Về phẩm trên, lấy tuệ do tư thành (Tuệ do tư tạo thành) làm thể, hoặc cả hai tư duy và trí tuệ cùng thực hành pháp Bồ-đề phần làm thể.

Hỏi: Tín hiện quán lấy gì làm thể?

Đáp: Ở phẩm trên, lấy việc duyên theo lòng tin Tam bảo một cách thanh tịnh của thế gian, xuất thế gian, làm thể, hoặc cả hai cùng thực hành pháp Bồ-đề phần làm thể.

Hỏi: Giới hiện quán lấy gì làm thể?

Đáp: Lấy nghiệp thân, ngữ mà bậc Thánh yêu thích làm thể, hoặc cả hai cùng thực hành pháp Bồ-đề phần làm thể.

Hỏi: Trí hiện quán, đế hiện quán lấy gì làm thể?

Đáp: Dùng trí tuệ bậc Thánh duyên vào phi an lập đế làm thể, hoặc cả hai cùng thực hành pháp Bồ-đề phần làm thể.

Hỏi: Trí hiện quán biên, đế hiện quán lấy gì làm thể?

Đáp: Lấy trí tuệ bậc Thánh duyên vào an lập đế làm thể, hoặc cả hai cùng thực hành phần pháp Bồ-đề làm thể.

Hỏi: Hiện quán rốt ráo lấy gì làm thể.

Đáp: Lấy tận trí và vô sinh trí, v.v… làm thể, hoặc cả hai cùng thực hành pháp Bồ-đề phần làm thể.

Lại nữa, sự khác nhau của hiện quán nầy, có mười tám thứ là:

  1. Trí hiện quán được phát sinh do nghe pháp.
  2. Trí hiện quán phát sinh do suy nghĩ.
  3. Trí hiện quán được phát sinh do tu tập.
  4. Trí hiện quán thuận theo phần quyết trạch.
  5. Trí hiện quán do kiến đạo.
  6. Trí hiện quán do tu đạo.
  7. Trí hiện quán đạo rốt ráo.
  8. Trí hiện quán của thế tục không khéo thanh tịnh.
  9. Trí hiện quán của thể tục khéo thanh tịnh.
  10. Trí hiện quán thắng nghĩa.
  11. Trí hiện quán có phân biệt hạnh không khéo thanh tịnh.
  12. Trí hiện quán của có phân biệt hạnh khéo thanh tịnh.
  13. Trí hiện quán của không phân biệt hạnh khéo thanh tịnh.
  14. Trí hiện quán của việc làm đang hoàn thành.
  15. Trí hiện quán của việc đã hoàn thành.
  16. Trí hiện quán của việc sau khi đã hoàn thành.
  17. Trí hiện quán Thanh văn.
  18. Trí hiện quán của Bồ-tát.

Lại nữa, những tướng mạo thắng nghĩa của hiện quán như vậy, nên biết, trong kinh luận còn có nhiều thứ nữa, nên biết.

Hỏi: Tư duy hiện quán có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu tư duy hiện quán thì họ có khả năng biết rõ được các hành pháp đều là vô thường, các hành đều khổ các pháp vô ngã, Niết-bàn vắng lặng. Dù đang còn trong giai đoạn phàm phu, nhưng đã có khả năng như thế, chắc chắn hiểu rõ tất cả, mà dù Sa-môn, Bà-lamôn, chư thiên, ma phạm và thế gian khác, chắc chắn không ai có khả năng chiếm đoạt cái hiểu biết ấy, một cách đúng như pháp được.

Hỏi: Hiện quán tín có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu hiện quán lòng tin thì hoặc đang ở địa vị phàm phu, hoặc không phải ở giai đoạn phàm phu, đối với pháp hiện tại, hoặc đối với pháp vị lai, họ không hề nói ra. Ở trong chúng khác có riêng một vị Đại sư, có riêng một người nói pháp giỏi, có riêng một vị tăng tu chánh hạnh.

Hỏi: Giới hiện quán có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu giới hiện quán, cho đến loài bàng sinh đi nữa, hoàn toàn không bao giờ giết hại mạng sống, và không chấp nhận cùng kẻ khác làm hạnh tà vạy, không chơi với hạng biết tội mà vẫn nói dối, vẫn buông lung uống rượu Tốt-la-mê-lệ-da-mạt-đà cho say.

Hỏi: Trí hiện quán, đế hiện quán có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu trí hiện quán, đế hiện quán thì họ không bao giờ mắc vào dị kiến để gậy ra nghiệp, không nương vào những gì mình chứng mà khởi lên nghi hoặc, không nương vào ái nhiễm chấp mắc vào nơi sinh, mà thường cân nhắc hành vi tốt để được thanh tịnh. Không nương vào hủy báng Ba thừa để gây ra nghiệp cho đường ác, huống chi là khởi tâm giết hại cha mẹ, gây nghiệp địa ngục Vô gián?

Cho đến cuối cùng khi chết bất sinh vào cõi thứ tám.

Hỏi trí, hiện quán biên, đế hiện quán có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu trí hiện quán biên, đế hiện quán thì đối với những gì mình chứng được, có ai hỏi, thì họ không hề run sợ.

Hỏi: Hiện quán rốt ráo có tướng mạo gì?

Đáp: Nếu ai thành tựu hiện quán rốt ráo thì quyết không đọa vào năm xứ sở trái phạm, không bao giờ cố hại mạng sống chúng sinh. Không chấp nhận gần gũi với hạng quen thói dâm dật sống phi phạm hạnh. Họ bảo nói dối là chứa nhóm tiền của vật dụng để thọ hưởng các thú vui ham muốn. Lại nữa, hạng trên hoàn toàn không run sợ họ, không tranh cãi bàn luận. Không hề cố chấp tự gây khổ vui, hay gây khổ vui cho ai khác, hay làm khổ vui cho mình và người. Không phải mình, không phải người gây ra không có nhân sinh ra khổ vui. Nên biết tướng hiện quán nầy chính là tướng thắng lợi của hiện quán, mà kinh luận ở trước đã nói rộng.

 

PHẨM 9: THÀNH LẬP DU-GIÀ

Lại nữa, như trước nói: Bồ-tát ở giai vị nầy, trước, tu sức mạnh của nhân. Thế nào là trước sức mạnh của nhân?

Tụng rằng:

Bát-nhã độ Du-già,
Đẳng chí, Vô phân biệt,
Tất cả, tất cả chúng,
Đều không có phân biệt.

Luận chép: Nương vào Tam-ma-bát-để phát sinh hạnh cao siêu của Bát-nhã Ba-la-mật-đa Du-già, đó là chánh tuệ, có khả năng đến bờ bên kia, là phương tiện tối thắng của Đại Bồ-đề, nên gọi là Du-già. Nương vào Du-già mà Đẳng Chí đến không còn phân biệt, đối với tất cả pháp và tất cả thứ vô phân biệt. Thế nào là tất cả và tất cả thứ?

Tụng rằng:

Tất cả, tất cả chủng,
Ba tướng và ba luân.
Gọi là tướng nhiễm, tịnh.
Và đều chẳng hai thứ.

Luận chép: Tất cả, nghĩa là ba luân:

  1. Cảnh sở tri.
  2. Trí năng tri.
  3. Người năng tri.

– Tất cả chủng là: Ba tướng:

  1. Danh tướng.
  2. Nhiễm tịnh.
  3. Câu phi.

– Danh là, v.v… mười hai thứ như giả lập.

– Danh tướng là tự tướng và cộng tướng.

– Nhiễm là pháp nhiễm ô.

– Tịnh là các pháp lành.

– Câu phi là pháp vô phú vô ký.

Lại nữa, như vậy, đã nói vô phân biệt. Vậy, nói vô phân biệt là đối với pháp nào? Tụng rằng:

Với pháp và pháp không,
Không hai thứ hý luận.
Vô phân biệt, vô cùng,
Trên đây chẳng hợp lý.

Luận chép: Pháp và pháp không đều chẳng có hai thứ hý luận, nên gọi là vô phân biệt. Thế nào là hai? Là có và không. Vì sao? Sắc chẳng phải có vì nó là tướng của biến kế sở chấp, cũng chẳng phải là không vì nó nương vào giả tạm mới có. Sắc, không cũng chẳng thật có vì tướng của biến kế sở chấp không sáng tỏ. Cũng chẳng phải không vì các pháp vô ngã đã làm sáng tỏ. Đối với sắc, sắc không, như vậy đối với tất cả pháp khác và tất cả pháp không, nên biết cũng như vậy. Không phải lìa các pháp và pháp không, mà còn có cảnh khác để nắm bắt được. Cho nên chỉ nói hai thứ không phân biệt, chứ chẳng phải không phân biệt. Hơn nữa, không phân biệt có lỗi vô cùng. Trên đây, lại không có cảnh của sở tri.

Lại nữa, bài Tụng rằng:

Nếu đều không sở thủ,
Vô tuệ cũng vô độ,
Đều thành chấp, lìa nói.
Vì thuận, chẳng vô dụng.

Luận chép: Đây, nếu không có hai thứ phân biệt thì không có chấp lấy. Do đều không chấp lấy nên đều không chấp nên tự thể của tuệ còn là không, huống chi là đến bờ kia? Do vậy, phải có pháp lấy tướng nhưng lìa lời nói. Do có chấp nhận nầy nên cả hai, trí tuệ qua bên kia mới thành tựu. Vì sao? Vì do trí tuệ bậc Thánh nầy dù không chấp lấy, tính tướng, như đã nói, nhưng vẫn chấp nhận tướng tính bằng ly ngôn.

Hỏi: Nếu trí tuệ bậc Thánh nầy không chấp lấy tướng tính như lời nói thì giảng nói chánh pháp lẽ ra là vô dụng?

Đáp: Không đúng, vì thuận theo. Vì sao? Do thuận theo cho nên chấp lấy tướng mà lìa lời nói. Thế nên Đức Như lai giảng nói chánh pháp.

 

PHẨM 10: THÀNH LẬP BẤT TƯ NGHỊ

Luận chép: Trước phải suy nghĩ mới nhập vào hiện quán. Do vậy nên phải tách rời phương tiện tư duy, không thể nghĩ bàn. Thế nào là chỗ không thể nghĩ bàn?

Tụng rằng:

Chín việc không nghĩ bàn,
Do nương vào năm chỗ,
Có năm thứ nguyên nhân,
Đức, lỗi, đều có ba.

Luận chép: Có chín việc không thể nghĩ bàn:

  1. Ngã.
  2. Hữu tình.
  3. Thế giới.
  4. Nghiệp báo.
  5. Cảnh giới của người nhập tĩnh lự.
  6. Cảnh giới của Chư Phật.
  7. Mười bốn việc không thể ghi chép.
  8. Chẳng phải chánh pháp.
  9. Bị dẫn dắt do tất cả phiền não.

Nếu có tư duy chín việc nầy, thì phải nương vào năm chỗ mới phát sinh tư duy là:

  1. Kiến.
  2. Nhẫn.
  3. Tìm tòi.
  4. Lợi dưỡng.
  5. Rối loạn.

– Nương vào thấy mà tư duy về ngã và hữu tình.

– Nương vào nhẫn mà tư duy thế giới.

– Nương vào tìm tòi mà tư duy nghiệp báo. Tịnh lự là cảnh giới của Chư Phật và mười bốn thứ việc không thể ghi chép.

– Nương vào lợi dưỡng mà tư duy là không đúng chánh pháp.

– Nương vào rối loạn mà tư duy thì thuộc về tất cả phiền não dắt dẫn.

Hỏi: Vì sao không nên nghĩ bàn chín việc như vậy?

Đáp: Do năm nhân duyên là:

  1. Do ngã và hữu tình không có tự tướng, nên không thể nghĩ bàn.
  2. Do tướng của thế giới đã thành lập rồi, nên không nên nghĩ bàn.
  3. Do nghiệp báo và tướng mạo của hai cảnh giới sâu xa, nên không nên nghĩ bàn.
  4. Do việc không thể (ghi chép) vì chúng không có tướng mạo nhất định, nên không thể nghĩ bàn.
  5. Do không phải chánh pháp và bị phiền não dắt dẫn, có thể dẫn đến tướng vô nghĩa, nên không thể nghĩ bàn.

Nếu ai tư duy những việc như vậy, thì họ bị dẫn đến ba lỗi là:

  1. Lỗi khởi tâm lầm loạn.
  2. Sinh ra lỗi không phải phước thiện.
  3. Lỗi không phải điều lành.

Ai không tự suy nghĩ bàn chín việc trên thì họ có khả năng đem lại ba công đức trái lại. Nên biết.

Tụng rằng:

Không nên nghĩ, không ký,
Phải biết do bốn nhân,
Sâu xa không định, một,
Dẫn trụ tướng vô nghĩa.

Luận chép: Nếu nói lược thì có bốn thứ nguyên nhân đối với việc không thể nghĩ bàn, tự mình không nên nghĩ bàn cũng không nên vì người khác mà ký riêng?

1. Ngã và hữu tình là có hoặc không chẳng nhất định, cho nên không thể nghĩ bàn, không thể ký riêng.

2. Bởi nghiệp báo và hai cảnh giới đều rất sâu xa nên không thể nghĩ bàn, không thể ký riêng.

3. Không thể ký việc của thế giới vì không phải chánh pháp. Vì bị lôi cuối vào tất cả phiền não, đưa đến vô nghĩa, nên không thể suy tìm, không ký riêng được.

4. Chân như đối với các pháp như hành, v.v… là bất tức bất li. Do tướng ấy mà pháp an trụ thế ấy, nên không thể nghĩ bàn, không thể ký riêng.

Lại nữa, Tụng rằng:

Không nghĩ ngã có, không ,
Sẽ thành hai thứ lỗi.
Với khác, cũng hai lỗi,
Không nên nghĩ một, khác.

Luận chép: Không nên tư duy là ngã có hay không. Vì sao? Vì sẽ mắc hai lỗi. Nếu suy nghĩ ngã là có thì đối với nghĩa không phải thật có, phát sinh lỗi chấp càng thêm nặng. Nếu suy nghĩ ngã là không thì đối với nghĩa giả có, phát sinh lỗi chấp làm tổn hại đối với các hữu tình khác. Nếu chấp vừa là một, vừa là khác thì cũng mắc hai lỗi. Nếu chấp là một thì mắc lỗi là có nhiều hữu tình. Nếu chấp là khác thì các lỗi là chẳng phải có sáu xứ.

Lại nữa, Tụng rằng:

Hai dù không nương thấ,
Cũng không thể nghĩ bàn.
Không nghĩ sinh như thế,
Do ba lỗi thường theo.

Luận chép: Hai thứ là thế giới hữu tình và khí thế giới, dù không nương kiến cũng không nên nghĩ bàn về nó. Vì sao? Vì tướng của thế giới đã thành hình mà cũng biết rồi.

Hỏi: Vì sao không nên suy tư về thế giới với câu hỏi nó sinh ra như thế hay bất sinh ra như thế?

Đáp: Nếu suy tư như thế hoặc cho là như thế. Nếu suy tư không phải như thế cho là không phải như thế. Ba lối hỏi sai lầm ấy, sẽ cứ theo đuổi mãi.

Lại nữa, tụng rằng:

Đường lành và đường ác,
Hai tác giả chẳng định
Nghiệp thiện ác quá khứ,
Nơi làm, đều khó nghĩ.

Luận chép: Không nên nghĩ bàn về nghiệp báo, vì nó không chắc chắn là hễ ai làm phước thì sinh về đường lành, ai làm ác thì đọa vào đường ác. Hơn nữa, đời quá khứ đã làm nghiệp tốt hay xấu hoặc bởi nơi sống hoặc do việc hoặc vì nhân hay quả báo, cho nên không thể nghĩ bàn được.

Tụng rằng:

Tính chân như vô lậu,
Thành nghĩa lợi đã làm,
Người tĩnh lự Như lai,
Tự tại, không gì dụ.

Luận chép: tĩnh lự và hai cảnh giới của Phật, chân như là thể tính vô lậu của nó, đều không thể nghĩ bàn. Lại nữa, các việc làm thành tựu của Chư Phật, ý nghĩ nó, cũng không thể nghĩ bàn. Nghĩa là các việc làm lợi ích cho chúng sinh, cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì không thể thí dụ được. Tất cả các việc, dù tinh tế nhất đi nữa ở trên đời nầy, cũng không có khả năng thí dụ được với sự sâu xa của hai cảnh giới ấy. Lại nữa, về tự tại thì nó là tâm tự tại mà các Đức Như lai tự chứng được bên trong nên khởi lên tất cả tác dụng đối với các việc mà các Đức Như lai làm cho đời. Nếu lìa nhân duyên hòa hợp thì không thấy.

Lại nữa, Tụng rằng:

Những gì ngoại đạo nói,
Dẫn đến không nghĩa lợi,
Phi lý, xa bốn chỗ,
Vô ký, không nghĩ bàn.

Luận chép: Các việc không nên ký, không thể nghĩ bàn, đối với những gì mà ngoại đạo nói, do chúng dẫn đến những điều không ích lợi, không đúng chân đế, do họ đã lìa bốn thứ chánh tư duy: là nhân của tư duy, quả của tư duy và tư duy về tạp nhiễm, tư duy thanh tịnh.

Lại nữa, như trước đã nói, tư duy lối của họ phạm ba lỗi, vì sao mắc lỗi?

Tụng rằng:

Phi xứ siêng dụng công,
Hủy báng với đại ngã,
Không tu thiện trong sạch,
Nên thành ba thứ lỗi.

Luận chép: Vì không phải lãnh vực mà cố gắng dụng công cho nên họ sinh ra tâm rối loạn lỗi lầm. Vì họ nói xấu chê bai công đức tối thắng của người tĩnh lự và Phật, Thế Tôn nên họ mắc lỗi là làm việc phi phước đức. Vì họ bất sinh pháp lành trong sạch nên mắc lỗi là không được điều thiện.

Lại nữa, tụng rằng:

Xa lìa, không nghĩ bàn,
Nghĩ chỗ đáng suy nghĩ,
Đủ tám thứ công đức.
Phải nghĩ đúng chân đế.

Luận chép: Những ai gắng gượng tư duy phạm vi không thể nghĩ bàn, thì mắc phải những lỗi như vậy. Cho nên phải xa lìa vấn đề ấy. Còn đối với phạm vi có thể nghĩ bàn thì phải tư duy đúng như lý. Nếu tư trong phạm vi nầy thì có tám công đức, tám công đức là:

  1. Có khả năng khéo biết rõ về hoặc thuyết, đại thuyết.
  2. Tư duy theo ý nghĩa chứ không theo văn tự.
  3. Ít dùng lòng tin trong sạch để tin hiểu.
  4. Ít dùng tuệ quán để quán xét.
  5. Tư duy vững chắc.
  6. Tư duy bằng quán xét chắc thật.
  7. Thường siêng năng tư duy.
  8. Những gì mình tư duy đều đạt tới chỗ rốt ráo, không biếng nhác rút lui.

Lại nữa, Tụng rằng:

Những gì Chư Phật nói,
Biết khắp, thảy không trái.
Năm nhân và hai nhân,
Không nghĩ bàn về nó.

Luận chép: Do năm nguyên nhân nên chẳng phải phạm vi ta nghĩ bàn, không nên nghĩ bàn với ham thích, vì những gì Phật nói và trong pháp Tứ đế chứa đầy cái biết cùng khắp đưa đến đoạn hoặc chứng chân không trái nhau. Lại lược do hai nguyên nhân là giáo pháp và sự chứng ngộ giáo pháp, là các Đức Phật nói lên những gì mà các Ngài đã chứng, là biết rõ về khổ, v.v…

 

PHẨM 11: THÂU NHIẾP QUYẾT TRẠCH THÙ THẮNG (Phần 1)

Luận chép: Như vậy, đã xa lìa phạm vi không nên nghĩ bàn với phương tiện rồi, đối với chín việc, nên dùng mười thứ để làm phát sinh các thứ quyết định tối thắngmười thứ là:

Tụng rằng:

Số, tướng, biệt, xứ, có.
Bờ mé và sinh khởi.
Thuộc về tưởng, thiện xảo thảy,
Quyết trạch hơn các việc.

Luận chép: mười thứ ấy là:

  1. Số.
  2. Tướng.
  3. Khác nhau.
  4. Có tính.
  5. Nơi chốn.
  6. Bờ mé.
  7. Sinh khởi.
  8. Tưởng.
  9. Thiện xảo.
  10. Thâu nhiếp.

– Số nói ở đây là số sắc, gồm có mười năm thứ Cũng thế.

– Tướng là tướng giả lập có cộng tướng, tự tướng. Trong đây, sự cũng gọi là tướng. Tướng đã có như vậy do tên gọi thì gọi là danh tướng. Tương ưng nhau cũng gọi là tướng, nó có đủ tướng chủ thể, như tướng nào tương ưng với màu lửa thì nó gây cho ta cảm giác ấm. Bổ-đặc-giàla như vậy cũng gọi là tướng. Vì là tướng nên có sự tiếp lấy, đó cũng gọi là tướng, vì nó là thể của năng tướng.

– Khác nhau là khác nhau ở chỗ có sắc, không sắc, có thấy, không thấy.

– Hữu tính là tính giả có, tính có thật, tính có thắng nghĩa.

– Nơi chốn là như bốn đại lần lượt đến cùng ở chung một chỗ với sắc sở tạo. Lại, sắc, tâm cùng ở một chỗ. Lại nữa, nương vào cõi Dục mà tâm cũng lần lượt đến an trụ trong sắc thân nầy.

– Bờ mé: như sắc, đến cõi Sắc và cái hết sức nhỏ, đó là bờ mé của lạc thọ, cho đến tĩnh lự thứ ba, đó là bờ mé.

– Sinh khởi là do nhân duyên như thế, pháp sinh như thế, như dẫn sức mạnh phát sinh, v.v…

– Tưởng là câu nói mê lầm hay nhiều thứ khác.

– Thiện xảo là uẩn thiện xảo, v.v…

Nhiếp là thâu nhiếp, hoặc tương ưng, hoặc nương vào, hoặc duyên cớ, hoặc vấn luận. Cũng thế, vấn luận lại có nhiều thứ, nghĩa là một hành vi thuận với câu trước, thuận với câu sau, bốn câu và câu vô sự. Nếu khéo biết rõ như vậy thì gọi là khéo hỏi, nhớ.

Lại nữa, đối với tất cả việc, nên sinh nhiều quyết định tối thắng. Việc tâm lựa chọn quyết định nay sẽ nói trước.

Tụng rằng:

Tâm tính có hai thứ
Dị thục và chuyển thức.
Trước thức A-lại-da,
Hạt giống hai, nên biết.

Luận chép: Nói lược thì tâm tính có hai thứ: 1. Tâm Dị thục; 2. Chuyển tâm.

– Tâm Dị thục là thức A-lại-da, cũng gọi là Nhất thiết hạt giống thức. Nên biết, thức nầy còn có hai thứ là: 1. Chứng thành; 2. Lập ra.

Thế nào là chứng thành?

Tụng rằng:

Chấp thọ, đầu sáng tỏ,
Hạt giống nghiệp thân thọ,
Định Vô tâm qua đời,
Chẳng đều không hợp lý.

Luận chép: Thức A-lại-da chắc chắn là có, nó được chứng minh bởi tám thứ tướng. Nếu không có thức A-lại-da làm chỗ nương cho cảm giác tóm lấy, là không thể được.

– Không có nó thì sự sống ban đầu không thể có được, là nói sinh khởi lẽ ra không thể được.

– Nếu không có nó thì hạt giống các pháp không thể có được.

– Bốn thứ nghiệp dụng không thể có được. Các thứ thọ của thân, không thể có được. Hai thứ định tâm không thể có được. Khi chết không thể có được.

Hỏi: Vì sao không có thức A-lại-da làm chỗ nương thì chấp thọ không thể nắm bắt được?

Đáp: Do năm nguyên nhân: năm nguyên nhân ấy là thức A-lại-da là cội nguồn sinh khởi trước nhất. Như nhãn thức, v.v… các chuyển thức như nhãn thức, v.v… là duyên vào nhân ấy khởi. Như kinh nói: Do sức mạnh của căn, cảnh, tác ý nên chuyển thức sinh ra, cho đến nói rộng.

Đó gọi là nhân đầu tiên. Lại, sáu thức thân, thiện, bất thiện có thể được. Đó gọi là nguyên nhân thứ hai. Lại nữa, sáu thức thân đều thuộc về một loại vô ký, Dị thục, hẳn không thể có được. Đó gọi là nguyên nhân thứ ba. Lại nữa, thức thân, thức đều có y chuyển riêng. Nếu nương vào các nơi nương tựa kia, nếu mỗi thức hướng vào mỗi chỗ nương kia để chuyển vận theo nó thì lẽ ra có chấp thọ, mà không có nơi nào khác để chấp thọ là điều không hợp lý. Dù thừa nhận có chủ thể tiếp nhận, cũng không hợp lý vì xa lìa thức. Đó là nguyên nhân thứ tư.

Lại nữa, chỗ nương sẽ thành lỗi thường nhiếp thọ. Vì sao? Bởi nhãn thức có lúc chuyển vận, có lúc không. Các thức khác cũng vậy. Đó gọi là nguyên nhân thứ năm.

Như vậy, trước khi nghiệp nhân hiện hành, nó đã duyên vào nhân đã sinh, thiện và bất thiện cùng một loại thì không thể được, bởi mỗi chỗ nương khác nhau. Có lỗi là thường chấp giữ là không hợp lý.

Hỏi: Vì sao sinh khởi sớm nhất là không thể được?

Đáp: Nếu có kẻ nói: Nếu có thức A-lại-da thì hai thức phải sinh khởi cùng lúc, thì nên nói với người ấy: Từ chỗ không có lỗi mà ông sinh tưởng sai lầm luống dối, vì ông đã chủ trương có hai thức chuyển biến cùng lúc. Vì sao? Nghĩa là như có người cùng lúc vừa thấy lại cùng lúc vừa muốn biết mà lại theo thức riêng sinh khởi trước tiên, là điều không hợp lý. Vì sao? Vì tác ý như vậy không khác nhau. Căn và đối tượng của nó không tan mất ngay đây thì vì sao thức không cùng chuyển biến?

Hỏi: Vì sao sự sinh khởi sáng tỏ không biết được?

Đáp: Nếu có ai chấp chắc chắn thức không phát sinh tác dụng cùng lúc thì với nhãn thức, v.v… cùng hiện hành trước một cảnh mà có ý thức nhận biết rõ là điều không hợp lý. Vì sao? Vì nếu duyên vào cảnh quá khứ mà khởi lên nhớ lại thì bấy giờ, ý thức không sáng tỏ hiện hành trước mắt, chứ tướng không sáng tỏ kia là do không có ý thức hiện hành cảnh trước mắt. Cho nên thừa nhận các thức biến chuyển cùng lúc, thừa nhận rằng thức thứ sáu kia không sáng tỏ, thì đó là mắc lỗi.

Hỏi: Vì sao hạt giống Vô sở đắc?

Đáp: Do sáu chuyển thức thân, mỗi thứ đều khác nhau. Vì sao. Do sáu chuyển thức nầy, đều phát sinh từ tính chất thiện, bất thiện không xen hở. Tính chất bất thiện nối tiếp thì tính chất thiện lại phát sinh. Từ hai cái vô gián mà vô ký phát sinh. Trong cõi thấp kém nối tiếp thì trung giới sinh. Trung giới nối tiếp thì cõi đẹp sinh. Cũng thế, từ cõi tốt đẹp cho đến cõi thấp kém sinh. Hữu lậu nối tiếp thì vô lậu sinh. Vô lậu nối tiếp thì hữu lậu sinh. Thế gian nối tiếp thì xuất thế gian sinh. Xuất thế gian nối tiếp thì thế gian sinh. Tướng như vậy thì không phải là thể của hạt giống, nên đúng với đạo lý.

Lại nữa, các thức kia xen hở trong thời gian dài, nhưng vẫn nối nhau trôi lăn mãi không ngừng nghỉ. Cho nên chuyển thức mới có khả năng giữ gìn hạt giống. Chủ trương ấy là không đúng lý.

Hỏi: Vì sao các nghiệp không thể có được?

Đáp: Vì các thức không cùng lúc sinh khởi để các nghiệp cùng chuyển biến thì không đúng lý. Vì sao? Vì nếu nói lược thì nghiệp có bốn thứ:

  1. Khí liễu biệt nghiệp.
  2. Y liễu biệt nghiệp.
  3. Ngã liễu biệt nghiệp.
  4. Cảnh liễu biệt nghiệp.

Bốn thứ nghiệp. Dụng liễu biệt như thế, chúng hiện hành có thể được trong từng sát-na, chứ chẳng phải một thức, trong một sát-na, có những nghiệp dụng khác nhau, nên chắc chắn phải có các thức phát sinh tác dụng cùng lúc.

Hỏi: Vì sao thân thọ không thể được nếu không có thức A-lạida?

Đáp: Như có người tư duy đúng chân đế, hay tư duy không đúng chân đế, hoặc có suy nghĩ hay không, nếu tâm ở trong định hay không ở trong định, thì thân sinh cảm giác không phải một mà là nhiều. Nếu không có thức A-lại-da thì thân không thể cảm nhận được những gì hiện có như vậy. Bởi vậy, nên chắc chắn phải có thức A-lại-da.

Hỏi: Vì sao mà các định vô tâm không thể có được, nếu không có thức A-lại-da?

Đáp: Như Đức Bạc-già-phạm nói: Khi nhập định Vô tưởng và định Diệt tận, nên biết lúc ấy, thức không tách khỏi thân. Nếu không có thức A-lại-da thì lúc ấy, thức phải tách rời khỏi thân. Nếu thức tách lìa khỏi thân thì chết rồi, không thể gọi là đang ở trong định.

Hỏi: vì sao khi chết, thức không thể có được nếu không có thức A-lại-da?

Đáp: Như có người lúc sắp chết, thức nầy xả bỏ dần phần trên của thân khiến nơi ấy dần dần nghe lạnh, hay phần dưới của thân, có lúc, ý thức kia không chuyển biến. Do vậy, nên biết, chỉ có thức A-lại-da là duy trì sự sống trên thân. Thức nầy buông xả thì thân xác lạnh, không còn cảm giác thọ. Ý thức thì không như vậy. Cho nên nếu không có thức

A-lại-da thì không hợp lý.

Như vậy, đã nói xong nguyên tắc chứng minh thành lập thức Alại-da, làm sao thành lập?

Tụng rằng:

Tương ưng cảnh sở duyên,
Làm tính nhân lẫn nhau,
Thức đều cùng trôi lăn,
Tạp nhiễm ô hoàn diệt.

Luận chép: Nói lược thì thức nầy được lập nên do năm tướng:

  1. Tướng cảnh sở duyên.
  2. Tướng tương ưng.
  3. Tướng làm nhân cho nhau.
  4. Tướng cùng chuyển biến.
  5. Tướng tạp nhiễm hoàn diệt.

Nên biết bốn thứ tướng mạo trước lập ra lưu chuyển. Một tướng sau cùng là lập ra tướng hoàn diệt.

Hỏi: Tướng mạo của cảnh sở duyên được lập ra sao?

Đáp: Nếu nói lược thì thức nầy do biết rõ hai cảnh của sở duyên:

  1. Do cảm nhận được sự tiếp nhận bên trong.
  2. Do cảm nhận được tướng vô phân biệt khí bên ngoài.

– Cảm nhận được sự chấp thọ bên trong là biết tự tính biến kế sở chấp, chấp thói quen sai lầm và các sắc căn nương. Nghĩa là ở cõi Sắc, hay Vô sắc chỉ có thói quan chấp trước một cách sai lầm về chấp thọ.

Cảm nhận vô phân biệt tướng khí bên ngoài là: Biết rõ chỗ nương của bám chấp bên ngoài là do sự chấp giữ bên trong của thức A-lại-da. Nó không xen hở đối với tướng của khí thế giới, bất cứ lúc nào. Như lúc thắp đèn, tim đèn phải được giữ chặt mới phát ra ánh sáng ra bên ngoài.

Như vậy, thức A-lại-da, bên trong thì duyên theo chấp thọ đối tượng của nó, bên ngoài thì duyên vào tướng của khí thế giới. Nên biết, nguyên tắc sinh khởi là như vậy.

Lại nữa, thức nầy duyên theo cảnh hết sức nhỏ nhiệm, dù người thông minh trên đời cũng khó biết rõ. Lại nữa, lúc duyên lấy đối tượng, thức nầy không bỏ sót, không đổi khác. Từ sát-na đầu chấp thọ cho đến khi chết, nó thuần một thứ là biết rõ mà lưu chuyển. Lại nữa, thức nầy mỗi ý niệm sinh diệt nối nhau đối với sở duyên. Nên biết sự nối nhau trôi chảy của nó trong từng sát-na là chẳng phải một nhưng cũng chẳng phải khác.

Lại nữa, thức nầy Duyên theo cảnh nhỏ bé ở cõi Dục và Duyên theo cảnh rộng lớn ở cõi Sắc. Và nó duyên theo vô lượng đối tượng của Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ ở cõi Vô sắc. Nó Duyên theo cảnh hết sức nhỏ nhiệm ở cõi Vô sở hữu xứ. Nó Duyên theo cảnh hết sức nhỏ nhiệm ở cõi Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.

Như vậy, bởi phân biệt rõ hai cảnh sở duyên, phân biệt rõ đối tượng nhỏ nhiệm, do phân biệt rõ cái tương tự, do chấp thọ cảnh sở duyên nhỏ hẹp, do chấp thọ cảnh sở duyên rộng lớn, do chấp thọ cảnh sở vô lượng, do chấp thọ cảnh sở duyên là cái hết sức nhỏ, bởi chấp thọ cảnh sở duyên là cái vô cùng nhỏ nhiệm. Đó gọi là lập ra tướng của đối tượng thức A-lại-da.

Hỏi: Sự tương ưng với biến chuyển được lập ra sao?

Đáp: Thức A-lại-da nầy là hằng và biến hành tương ưng với năm thứ tâm pháp. Đó là tác ý, xúc thọ, tưởng, tư. Năm pháp nầy cũng thuộc về Dị thúc rất nhỏ nhiệm. Dù kẻ thông minh trên đời cũng khó biết được. Như vậy, tâm pháp cũng một loại thường nhất Duyên theo cảnh mà chuyển biến.

Lại nữa, thức nầy tương ưng hoàn toàn với tính chất cảm nhận không khổ, không vui, vô ký. Nên biết hành tướng của các tâm pháp khác cũng như vậy.

– Do tương ưng với tâm pháp biến hành như vậy, vì tương ưng với một loại Dị thục, vì tương ưng với một pháp hết sức nhỏ nhiệm, thuần là một loại duyên đối tượng mà sinh tương ưng, do tương ưng với không khổ, không vui, bởi hoàn toàn tương ưng với vô ký. Tất cả những tương ưng ấy, gọi là lập ra tướng mạo chuyển biến tương ưng với thức A-lạida.

Hỏi: Lập ra tướng nhân lẫn nhau là sao?

Đáp: Thức A-lại-da và các chuyển thức kia làm hai thứ nhân:

  1. Làm nhân sinh hạt giống.
  2. Làm nhân cho chỗ nương.

– Làm nhân sinh hạt giống là: Tất cả chuyển thức khi sinh tất cả thiện, bất thiện, vô ký là tất cả đều phát sinh từ hạt giống thức A-lại-da, làm nhân.

– Làm nhân cho sự nương là do thức A-lại-da duyên theo sắc căn làm chỗ nương, nên năm thức thân chuyển biến chẳng phải không có chấp thọ.

Lại do có thức nầy mới có được ý căn. Do nương vào ý căn nầy nên ý thức mới phát sinh tác dụng. Như nương vào năm sắc căn như nhãn, v.v… mà năm thức thân biến chuyển, chẳng phải không có năm căn, ý thức cũng vậy, chẳng phải không có ý căn. Lại nữa, chuyển thức và thức A-lại-da là hai thứ nhân:

  1. Nuôi lớn hạt giống kia trong pháp hiện tại.
  2. Trong pháp vị lai, tùy theo thức A-lại-da mới được phát sinh bởi đã gieo trồng hạt giống ấy.

– Nuôi lớn hạt giống kia, trong pháp hiện tại là: Theo chỗ nương trong thức A-lại-da, như vậy như vậy, khi chuyển thức phát sinh thiện, bất thiện, vô ký thì cũng chỗ nương mà cùng sinh cùng diệt. Thức nầy huân tập như thế. Vì thức nầy làm nhân duyên, nên về sau, chuyển thức kia mới chuyển biến thiện, bất thiện, và tính vô ký.

Lại nữa, nó còn chuyển biến thêm lên, chuyển biến rực sáng, được sinh khởi đậm nét.

– Gieo trồng hạt giống thuộc pháp vị lai là: Thức A-lại-da đã huân tập chủng loại thì nó có khả năng dẫn đến đời vị lai, tức là thức Dị thục A-lại-da nầy.

Như thế, bởi làm nhân cho hạt giống, do làm nhân cho chỗ nương, vì nuôi lớn hạt giống, vì duy trì, gieo trồng hạt giống, đó gọi là lập ra sự làm tướng nhân cho nhau của thức A-lại-da và chuyển thức.

Hỏi: Được lập ra sao về tướng của các thức cùng chuyển biến?

Đáp: Thức A-lại-da đôi khi trong một lúc, chỉ hiện khởi với một thức, đó là hiện khởi với ý căn mà thôi. Vì sao? Vì ý căn nầy thường tương ưng với ngã kiến, ngã mạn. Những hành vi kênh kiệu có chú tâm hay không có chú tâm, luôn luôn cũng thường sinh khởi cùng thức nầy. Và ý căn nầy duyên mãi thức A-lại-da làm sở duyên phát sinh hành vi chấp ngã, làm phách, kiêu ngạo. Lại nữa thức nầy, cùng phát sinh tác dụng với hai chuyển thức, trong cùng lúc. Nghĩa là ý và ý thức cùng chuyển thức đồng thời phát sinh, trong một thời gian. Nghĩa là năm thức thân cùng lúc, sinh khởi với hai thức trước và một thức nầy. Trong cùng một thời gian hay cùng lúc hiện lên với bốn chuyển thức. Nghĩa là năm thức thân lúc theo hai thức phát sinh tác dụng với hai thức trước và hai thức nầy.

Cũng thế, thức A-lại-da nầy, hoặc cho đến bảy thức cùng khởi hiện, trong cùng lúc. Nghĩa là khi năm thức thân hòa hợp sinh khởi là cùng với hai thức trước và năm thức nầy.

Lại nữa, như trước đã nói, ý thức nương vào ý ô nhiễm mà phát sinh. Khi ý chưa diệt thì tướng liễu biệt trói buộc, không thể giải thoát được dù biết rõ chỗ trói buộc. Nếu ý đã diệt rồi thì tướng trói buộc được 3 giải thoát.

Lại nữa, ý thức vừa Duyên theo cảnh khác, vừa duyên vào chính nó làm đối tượng.

– Duyên vào đối tượng khác là Duyên theo cảnh chung hoặc riêng của năm thức thân.

– Duyên vào chính nó làm đối tượng là duyên vào các cảnh duyên pháp. Lại nữa, thức A-lại-da đồng thời chuyển biến, trong một thời gian, với cảm thọ khổ, vui, không khổ, không vui. Những cảm thọ ấy tương ưng với chuyển thức, nương vào chuyển thức mà sinh khởi. Từ thức nầy, hạt giống phát sinh.

Lại nữa, đối với cõi người hay đối với sự trói buộc trong các tầng trời cõi Dục, và một phần trong cõi quỷ, bàng sinh mà đồng thời phát sinh thọ không khổ, không vui, xen lẫn nhau tiếp nối cùng chịu trong cùng một lúc mà cùng chuyển biến.

Hoặc trong cõi Na-lạc-ca, thọ không khổ, không vui bị kẻ khác cướp lấy và thọ thuần đau khổ, không xen lẫn, cùng lúc nối nhau chuyển biến, tương ưng tới chuyển thức kia.

Nên biết những cảm thọ nầy đều bị ánh sáng, lấn át nên khó thấy rõ tướng mạo. Do vậy, ở Na-lạc-ca, hoàn toàn cảm nhận khổ mà cùng chuyển biến. Còn đối với ba tĩnh lự dưới thì cùng chuyển biến với cảm giác vui hoàn toàn. Còn đối với tĩnh lự thứ tư, cho đến cõi Hữu đảnh thì cùng chuyển biến với cảm giác hoàn toàn không khổ, không vui.

Lại nữa, thức A-lại-da trong cùng lúc, cùng chuyển biến tương ưng với chuyển thức và thiện, bất thiện, vô ký và các tâm sở. Như vậy, thức A-lại-da chuyển biến cùng lúc với các chuyển thức. Nó cũng cùng chuyển biến với các cảm thọ dung nạp và dung nạp thiện, bất thiện, vô ký các tâm pháp. Dù vậy, không nên nói là tương ưng với thức kia. Vì sao? Vì không cùng một duyên chuyển biến với thức A-lại-da. Giống như cái biết của nhãn thức và mắt, dù chúng chuyển biến cùng lúc, nhưng lại không tương ưng nhau. Thức nầy cũng như vậy. Do một chút có tương tự như pháp kia cho nên có thể thí dụ được. Về nguyên tắc thí dụ, nên biết như vậy.

Lại nữa, như các tâm pháp, nghĩa của thể của tâm pháp dù không khác nhau, nhưng do tướng có khác nhau, nên trong một thân cùng lúc chuyển biến, mà vẫn không trái nhau.

Như vậy, thức A-lại-da nầy, và các chuyển thức, nên biết, cả hai cùng lúc chuyển biến, cũng không trái nhau. Lại như nương vào thác đổ, mà nhiều đợt sóng cùng lúc sinh khởi nhưng không trái nhau. Lại như nương vào gương trong mà bao hình ảnh phát sáng nhưng chúng không trái nhau. Thế đó, nương vào thức A-lại-da mà chuyển thức cùng lúc sinh khởi nhưng chúng không trái nhau, nên biết.

Lại như cái biết của một nhãn thức, trước một cảnh vật, trong một lúc, là chỉ biết có một loại sắc tướng, không có gì khác. Hay trong một lúc, nó chẳng phải nhìn thấy có một sắc tướng, cái biết của mắt đối với sắc đã vậy, thì cho đến thân thức, trong một lúc, đối với một cảnh tiếp xúc thì nó chỉ tiếp lấy một tướng, hoặc nhận lấy nhiều cảnh tướng, trong một lúc. Như thế, ý thức phân biệt, trong một lúc, nó tóm lấy một cảnh hoặc tóm lấy nhiều cảnh trong cùng lúc, nhưng chúng vẫn không trái nhau, nên biết.

Lại nữa, như trước đã nói, ý căn thường chuyển biến với thức nầy, bất cứ lúc nào cho đến nó chưa bị cắt đứt. Nên biết thức nầy chuyển biến mãi mãi, nhậm vận cùng lúc phát sinh, và tương ưng với bốn thứ phiền não, là Tát-ca-da-kiến, ngã mạn, ngã ái, vô minh. Bốn phiền não ấy là tính chất hữu phú vô ký, chúng không trái với thiện, chúng thường hiện hành trong cõi định hay chẳng phải cõi định.

Cũng thế, thức nầy chuyển biến cùng lúc với chuyển thức, các thọ đều chuyển, với thiện, v.v… đều chuyển, nên gọi là lập ra tướng cùng chuyển biến của thức A-lại-da.

Hỏi: Tướng hoàn diệt tạp nhiễm của thức A-lại-da được lập ra sao?

Đáp: Nếu nói lược thì, nên biết, thức A-lại-da nầy chính là chủng tánh của tất cả pháp tạp nhiễm. Vì sao? Vì thức A-lại-da nầy cũng là căn bản sinh khởi của hữu tình thế gian. Nó có công năng sinh ra tác dụng của các căn, làm chỗ nương cho các căn và chuyển thức. Nó cũng là chủng tánh sinh khởi cho khí thế gian, có công năng sinh khởi khí thế gian, mà nó cũng là căn bản sinh khởi lẫn nhau của hữu tình các giống, vì tất cả hữu tình làm cội gốc sanh khởi lẫn nhau. Vì sao? Vì không có hữu tình nào, khi thấy nghe những chúng sinh khác mà không thọ dụng các thọ vui khổ do họ làm phát sinh. Do ý nghĩa đó, nên biết, thế giới của chúng sinh đều làm duyên tăng thương lẫn nhau.

– Lại nữa, do thức A-lại-da có đủ tất cả hạt giống, nên trong hiện tại, nó là thể của khổ đế, đối với đời vị lai, nó làm nhân sinh khổ đế, nó cũng là nhân sinh ra tập đế trong hiện tại.

Như thế, do thức nầy là căn bản sinh ra hữu tình thế gian, là căn bản sinh ra khí thế gian, là thể tính của khổ đế trong hiện tại, có thể phát sinh khổ đế trong vị lai, có thể làm phát sinh tập đế trong hiện tại, 30 cho nên thức A-lại-da nầy là căn bản của tất cả Thánh nhân, nên biết.

Lại nữa, thức A-lại-da nầy thâu nhiếp, gìn giữ tất cả hạt giống gốc lành thuận giải thoát phần, và thuận quyết trạch phần. Ở đây, nó chẳng phải là nhân của tập đế, vì căn lành và thuận giải thoát phần trái với trôi lăn ở các thế gian khác, thức nầy làm nhân cho tất cả gốc lành nên chuyển thành thanh tịnh. Vì sao? Vì duyên ấy, nên thức A-lại-da đã tiếp nhận hạt giống tự loại, mà chuyển thành công năng, mà chuyển thành có sức mạnh, làm lớn lên mãi mà hạt giống được thành lập. Nhờ hạt giống nầy nên các pháp lành kia mới chuyển biến trở nên trong sạch sáng suốt. Lại còn có thể cảm đến quả Dị thục đáng quí mến, gia tăng mãi đời sau.

– Lại nữa, do dựa vào tất cả hạt giống của thức A-lại-da nầy, nên Đức Bạc-già-phạm nói: “Nhãn giới, cõi Sắc, nhãn thức giới cho đến ý giới, pháp giới, ý thức giới đều có trong thức A-lại-da”.

Lại nữa, như trong kinh Thí Dụ Ác-Xoa Tụ là do trong thức A-lạida, chẳng phải chỉ có một giới. Cho nên phải biết, từ căn bản tạp nhiễm của A-lại-da nầy mà tu tập pháp lành, tức là làm chuyển biến, tiêu diệt tạp nhiễm.

Lại nữa, trong tu tập pháp lành, nếu phàm phu duyên vào chuyển biến làm cảnh tác ý, lấy phương tiện trụ tâm để bước vào hiện quán đế lý ban đầu, chẳng phải là họ chưa kiến đế. Trong các đế, dù chưa được pháp nhân, nhưng họ vẫn có thể thông hiểu tất cả hạt giống của thức Alại-da. Dù chưa thấy đế, nhưng sau khi tu tập như thế, là bước vào chính tính ly sinh Thanh văn hay bước vào chính tính ly sinh của Bồ-tát, thông đạt hết các pháp giới rồi, cũng có khả năng thông suốt thức A-lại-da, thì ngay bấy giờ, quan sát toàn diện tính chất khác nhau bên trong của tất cả tạp nhiễm. Và, còn biết rõ các trói buộc của chính thân bên ngoài; cũng như sự trói buộc thô trọng bên trong.

– Lại nữa, do hành nầy, cũng bởi thức A-lại-da gom hết tất cả hý luận của các hành. Lược các hành kia, đối với thức A-lại-da, nó chỉ là một nắm, một đống, một nhóm. Tu tập rồi, lấy chân như cảnh trí làm đối tượng, tu tập và tu tập nhiều hơn lên nên chỗ nương bị chuyển biến hằng chuyển y không xen hở. Nên biết, như vậy là đã cắt đứt thức Alại-da rồi. Do sự cắt đứt nầy nên các pháp tạp nhiễm cũng bị cắt đứt, nên biết.

– Lại nữa, vì tính chất trái nhau của chuyển y nầy, nên phải biết thức A-lại-da năng trị nầy, thể tính lại vô thường, nó có tính chất nhận lấy. Do khả năng chuyển biến là duyên vào đối tượng cảnh Thánh đạo chân như, cho nên phần thô, nặng của A-lại-da cũng theo đó mà chuyển y. Cuối cùng là tách rời tất cả thô, nặng.

– Lại nữa, thức A-lại-da là nhân phát sinh phiền não. Nó không phải là nhân sinh Thánh đạo, mà chuyển y là nhân không còn sinh ra phiền não, nên chuyển y làm nhân sinh Thánh đạo. Đây là lập ra thể của nhân, chứ không phải thể của nhân phát sinh.

– Lại nữa, thức A-lại-da khiến người ta không được tự tại đối với các pháp thiện, thanh tịnh vô ký. Mà chuyển y lại khiến người ta được tự tại đối với tất cả pháp thiện, vô ký.

– Lại nữa, thức A-lại-da, tướng đoạn diệt của nó là chính nó đoạn diệt tức là bỏ ngay hai thứ tóm lấy, cho nên thân tuy còn sống đây, nhưng giống như biến hóa. Vì sao? Vì nhân khổ đời vị lai, đời sau đã bị cắt đứt, tức là buông bỏ các nương dựa vào vị lai, vào đời sau bằng cách cắt bỏ tất cả nhân phiền não ngay trong hiện tại. Buông bỏ duyên bám là chỗ nương của tất cả phiền não và xa lìa các sự thô trọng cho nên sống đây chỉ tạm thời. Do còn đời sống nầy nên kinh Phật nói: “Bấy giờ chỉ thọ thân cuối cùng, thọ đời sống cuối cùng, nếu hỏi rộng ra là thọ sự tận diệt cuối cùng đối với tất cả pháp hiện tại”.

Như vậy, do lập ra căn bản tạp nhiễm, do nhắm vào tác ý tu tập thông suốt, do lập ra chuyển y, nên gọi là lập ra tướng hoàn diệt tạp nhiễm của thức A-lại-da. Như vậy, do lý thắng nghĩa mà lập ra tâm, ý, thức rồi. Ấy là tùy theo lý đã nói, cho nên cũng theo lý đó mà hiểu rõ về nguyên tắc của thanh tịnh cũng như bậc Thánh của tất cả tâm ý thức trong ba cõi. Còn đối với chỗ khác với nguyên tắc nào mà làm cho tâm, ý thức sáng tỏ thì đó là vì chỗ khác nhau của hữu tình đã được giáo hóa. Sự giáo hóa ấy chỉ dựa vào trí tuệ có đủ của kẻ ngu tối để giáo hóa bằng cách nói phương tiện khiến hữu tình dễ bước vào pháp.

Hỏi: Có phải trong thành tựu thức A-lại-da cũng là thành tựu chuyển thức chăng? Nếu thành tựu chuyển thức cũng là thành tựu thức A-lại-da chăng?

Đáp: Câu hỏi nầy, nên đặt thành bốn trường hợp, là: Hoặc thành tựu thức A-lại-da mà không phải chuyển thức, nghĩa là như người vô tâm khi ngủ mê, người vô tâm lúc ngất xỉu, người nhập định Vô tưởng, người nhập định Diệt tận, người sinh lên cõi trời Vô tưởng.

– Hoặc thành tựu chuyển thức, chứ không phải thức A-lại-da: là an trụ ở giai vị có tâm, như bậc A-la-hán, Độc giác, Bồ-tát không thụt lùi và Như lai.

– Hoặc cả hai đều thành tựu thì như người an trụ trong giai vị hữu khác.

– Hoặc cả hai đều không thành tựu thì như bậc A-la-hán, Độc giác, Bồ-tát không thụt lùi và Như lai nhập định Diệt tận, hoặc ở cảnh giới Niết-bàn Vô dư y.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.