Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Kinh Hoa Thủ
(hay Nhiếp Chư Thiện Căn)

Đời Hậu Tần, nước Quy Tư
Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Phụng chiếu dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán
Tỳ Kheo Thích Bảo Lạc dịch ra chữ Việt

 

Lời cẩn khải

Năm 1958, lúc đó tôi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, ngây thơ như trang giấy trắng học trò, tập sự sống đời xuất gia thoát tục, miệt mài kinh kệ trong nếp sống khắc khổ của tăng viện.

Nhờ được huấn luyện kỹ trong khuôn khổ Phật Học Viện, tăng sinh phải học kinh, luật, luận hầu hết đều bằng chữ Hán. Sau khi tốt nghiệp ra trường, lưu lạc đó đây như một hành giả, tôi mới nhận thấyThầy Tổ là những bậc đại ân sư, cố nhồi nhét vào đầu óc non nớt chúng tôi mớ kiến thức bao la về Phật giáo qua kinh điển Hán tự. Phuơng pháp giáo dục cố hữu ấy, có thể nói lỗi thời, nhưng giúp người học nhớ lâu và dễ dàng đem ứng dụng vào mọi môi trường, hoàn cảnh.

Ngày nay đọc hiểu được Hán tạng, một phần lớn phải nói nhờ lối học từ chương ấy giúp cho tôi tư lương rất nhiều trong việc phiên dịch và viết về Phật giáo. Năm 1988, lần đầu tiên tôi dịch bộ ‘Luận Ðại Thừa Bảo Yếu’, hẳn đã có nhiều người được đọc. Năm nay (1990) tôi dành trọn mấy tháng tịnh tu mùa hạ dịch bộ kinh Hoa Thủ này từ Ðại Tạng kinh Ðại Chánh Tân Tu, số 657, quyển thứ 16, cống hiến độc giả xa gần, để như một phần nào báo đáp thâm ân Tam Bảo mà người dịch đã được thừa hưởng từ những ngày còn thơ ấu.

Vốn biết sức học có hạn, tôi tin chắc trong lúc dịch không thể nào tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm làm cho cả lời và ý không lột tả được chân nghĩa văn kinh. Ngưỡng nguyện Tam Bảo thùy từ gia hộ, cần cầu sám hối:

Khấn nguyền bằng nén tâm hương
dịch kinh Hoa Thủ cúng dường Như Lai
Ba đời: quá, hiện, vị lai
Chư Phật, Bồ Tát hoằng khai đạo mầu.
Con nay thành khẩn cúi đầu
tỏ bày sám hối cần cầu hồng ân.
Nguyện xin sám hối lỗi lầm
ý khẩu ba nghiệp thân tâm nhẹ nhàng
Tiêu trừ tội chướng nghiệp khiên
tẩy khô ái nhiễm trược phiền tịnh thanh.
Cầu cho hết thảy chúng sanh
Nguyện đem công đức ấn kinh lưu truyền
Nguồn từ rưới khắp nhân thiên
xây tòa an lạc mãn viên đạo vàng
Vô dư thể nhập Niết Bàn
Chứng nên Phật quả thiện toàn Chân Như.

Cũng như tôi xin có lời tri ân tất cả quý Phật Tử xa gần đã góp phần tịnh tài ấn tống dịch phẩm khiêm tốn này, để tạo phước điền tối thắng. Nhờ sự trợ duyên quý báu của quý vị mà công việc hoằng pháp của quý thầy trở nên hữu hiệu, nhanh chóng.

Nguyện chư Phật thường gia hộ cho quý Phật Tử cùng thân bằng quyến thuộc kẻ còn, người mất đều được nhuần ân pháp vũ. Và chính quý vị tịnh ba nghiệp, thoát khỏi sáu nẽo luân hồi, chứng thành Phật quả.

Pháp Bảo tự,
Sydney, ngày 12-12-1990
Dịch giả cẩn đề
Thích Bảo Lạc

 

QUYỂN I

1- Phẩm Tựa thứ nhất

Ta nghe như thế này, có một dạo đức Phật tại thành Vương Xá, nước Xá Vệ, nơi vườn trúc Ca Lan Ðà; nơi đó Phật tịnh tu hạnh viễn ly (1), thực hành các hạnh không, vô tướng, vô nguyện định, nên phải an trụ cố định một nơi.

Lúc bấy giờ các ngài Huệ Mạng, Xá Lợi Phất… thừa lúc rãnh rang từ thiền định xuất, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy dưới chân đức Phật rồi ngồi qua một bên. Các ngài Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Kiếp Tân Na, Câu Ðà, Tu Bồ Ðề, La Xà, Bà Kỳ Xá, Nan Ðà, Nan Ðề Dà, Bạt Nan Ðà, A Nan, Kim Tỳ La, Na La Ðà, Bà Tư Xá, Vô Ê La, Ưu Bà Ly v.v… gồm 500 vị Tỳ Kheo như thế, đều thừa lúc rãnh rang từ thiền định xuất, đồng đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy dưới chân đức Phật, rồi ngồi qua một bên. Lúc đó cũng có các vị tỳ kheo danh tiếng, tỳ kheo hộ quốc, chư vị tỳ kheo đuợc chư thiên cung kính, tỳ kheo thích tiếng tăm tốt, tỳ kheo ưa nhàn lạc, tỳ kheo ham muốn… 500 vị như thế đều kiết hạ an cư (2) tại nước Xá Vệ đã xong đều hướng về thành Vương Xá, nơi Trúc Lâm tịnh xá đảnh lễ dưới chân đức Phật rồi ngồi qua một bên. Lúc đó ngài Di Lặc Bồ Tát và 3 vạn vị Bồ Tát tại nước Chiêm Bà đều đã an cư xong, cùng đến Trúc Lâm đãnh lễ dưới chân đức Phật rồi ngồi qua một bên. Các vị Bạt Ðà Bà La Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Ðạo Sư Bồ Tát, Tinh Ðắc Bồ Tát, Na La Ðạt Bồ Tát, Nhơn Ðà Ðạt Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Phạm Thiên Bồ Tát, Thiện Lực Bồ Tát, Ðại Ý Bồ Tát, Bất Hư Kiến Bồ Tát, Thiện Phát Bồ Tát, Ðại Lực Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Nhựt Tạng Bồ Tát, Trì Thế Bồ Tát, Trì Ðịa Bồ Tát, Trì Cam Lồ Vị Bồ Tát, Thiện Trụ Ý Bồ Tát, Vô Lượng Ý Bồ Tát, Kiên Ý Bồ Tát, Việt Tam Giới Bồ Tát, Vô Biên Lực Bồ Tát, Vô Lượng Lực Bồ Tát, Kim Cang Lực Bồ Tát, Vô Ðẳng Ðẳng Lực Bồ Tát, Vô Ðộng Lực Bồ Tát, Tật Biện Bồ Tát, Lợi Biện Bồ Tát, Thâm Biện Bồ Tát, Vô Biên Biện Bồ Tát, Vô Lượng Biện Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử (3), Hoa Ðức Tạng pháp vương tử, Ðàm Vô Kiệt Bồ Tát, Bửu Thủ Bồ Tát, Trì Bảo Bồ Tát, Chuyển Vô Lượng Kiếp Trang Nghiêm Bồ Tát, Chuyển Nữ Tướng Nguyện Bồ Tát, Chuyển Nam Tướng Nguyện Bồ Tát, Chuyển Chúng Sanh Tướng Nguyện Bồ Tát, Vô Biên Tự Tại Bồ Tát, Vô Lượng Tự Tại Bồ Tát, Hoại Tự Sanh Duyên Tự Tại Bồ Tát v.v… Những vị Bồ Tát này tùy theo hạnh nguyện mà độ thoát vô lượng chúng sanh. Các vị Bồ Tát sau khi an cư xong, đi du hóa(4) các nước, bèn gặp gỡ giữa đường, cùng nhau đến chỗ đức Phật, đảnh lễ Phật rồi ngồi qua một bên.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn biết đại chúng đều đã vân tập đầy đủ, bèn dùng thần thông làm cho chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đã an trú lâu tại nước Ma Dà Ðà đều đi đến Trúc Lâm đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi ngồi qua một bên. Lúc đó trưởng lão Ma Ha Ca Diếp ở hang động Ðế Thích tại núi Vi Ðề Ha cùng 500 vị tỳ kheo dừng lại ở đó và đều thực hành hạnh đầu đà (5), đi khất thực, mặc áo nạp (6), theo đúng pháp các vị thường trải tọa cụ ngồi dưới gốc cây, thiểu dục tri túc (biết đủ), ưa hạnh viễn ly. Khi ấy ngài Ca Diếp dùng thần lực của Phật làm cho hang động của họ tự nhiên biến mất, liền đến Trúc Lâm đảnh lễ đức Phật. Ðức Thế Tôn trông thấy họ, liền bảo chư Tỳ kheo rằng: các Thầy xem kìa! Ðây Ðại Ca Diếp từ xa lại, là người thường tu hạnh vắng lặng, đi khất thực, mặc áo nạp và mặc ba y (7) thô xấu; ở xa xôi, thiểu dục tri túc, ưa hạnh viễn ly, tâm không duyên các pháp, đức hạnh Thanh Văn của Ngài đều đủ cả; trong giáo pháp, hàng đệ tử của ta không ai bằng được Ca Diếp. Các Thầy nên biết, Ðại Ca Diếp đây không muốn chư thiên đề cập tới, huống gì là người ư? Lúc ấy đức Thế Tôn xoay qua bảo rằng: lành thay Ca Diếp, lâu mới gặp lại, ông lên ngồi nửa tòa của Như Lai đây. Lúc thân Phật di động, cả đại thiên thế giới sáu loài (8) đều chấn động với ánh sáng rực rỡ chiếu khắp các cõi, âm vang lan xa như tiếng chuông vàng. Ngài Ma Ha Ca Diếp trịch áo bày vai bên hữu, gối bên mặt quỳ sát đất, chấp tay bạch đức Thế Tôn rằng: Phật là bậc đại sư, con là đệ tử; y bát, tòa ngồi là sở hữu của Phật. Là đệ tử, theo đúng pháp không được xử dụng những đồ ấy. Tại sao vậy? Vì y của Như Lai được cả trời, người, thế gian cung kính cúng dường như tôn trọng chùa tháp Phật vậy. Trước đây con đã từng theo Phật nhận y Tăng Già Lê (9) cung kính tôn trọng chưa dám mặc. Con từ đó trở đi không sanh niệm ham muốn, niệm sân và não; không sanh lửa dục, lửa sân, lửa si để tự thiêu đốt mình. Bạch Thế Tôn, nói cách vắn gọn hơn, đối trong giáo pháp, con nhận y của Thế Tôn là để khi mặc vào liền được vô học (10). Con thuận nhận y của Như Lai mà thật tâm không dám cao mạn; chỉ dùng tay gìn giữ chứ không dám để lên thân. Nếu y chưa giặt, tay cũng không dám cầm, đâu dám khinh thường để gối đầu, thường đem theo bên mình chưa từng dám xa rời y. Con giữ y này như tôn kính xá lợi; Phật cho con, con không dám mặc. Con đích thân cầm y tới đây mà tâm thường nghĩ tới Phật, trừ lúc nhập định. Lúc nhập thiền định thì các tướng: đất, nước, gió, lửa cũng đều không; các tướng đời này, đời sau, các vật sở hữu với tâm thấy nghe hiểu biết mà trong đó không tưởng cũng không vô tưởng. Bạch Thế Tôn, các hạnh vô tưởng và định vô tưởng, vượt qua các tưởng hạnh, tưởng định và vô tưởng định. Trong các pháp ấy, con thấy không vô học hoặc hạnh vô học; không thấy Như Lai hoặc pháp Như Lai hay hạnh Như Lai. Như hư không có tên gọi khác nhau cũng vẫn là hư không. Hư giả không trụ cũng không sở hữu, không lấy không bỏ, không tranh, không nhận nên mang tên như thật, ấy là thanh tịnh, vô sắc vô hình nên không trông thấy được. Tuy nhiều tên gọi khác nhau như thế, song chỉ nghe được cái tên hư không, còn cái tướng của hư không thì không thể thấy được lớn, nhỏ, cao, thấp, có giới hạn hay không giới hạn v.v… Thưa Thế Tôn, bậc Thánh trí biết được tất cả mà cũng không biết rõ hư không hoặc hình sắc của hư không như thế nào. Bạch Thế Tôn, Như Lai cũng thế, hoặc gọi là Phật hay đại sư; cũng gọi Thế Tôn là đèn, là đuốc, là chỗ nương tựa, là bậc cứu cánh, là nhà của thế gian, kẻ soi sáng, viên tướng dẫn đường, là lương y trị bịnh, bậc giảng đạo, kẻ đạt đến cứu cánh, người đầy đủ trí huệ… Tuy mượn giả danh thế gian để xưng tán Như Lai như thế, song trong đó con thấy không có pháp nào có thọ hay được cả. Tại sao? Vì tất cả các pháp vốn không. Cũng như nhà thôi miên làm phép quán đảnh vua Chuyển Luân thánh vương có bốn loại binh (11), có đầy đủ thất bảo bao vây trong thiên hạ. Dân chúng trong nước thấy các hình tướng khác lạ như vậy bèn đồn đại thôi. Bạch Thế Tôn, vua Chuyển Luân không nghĩ như vậy. Chúng ta vì tôn quí vua nên thống hợp bốn loại binh bao vây thiên hạ, song bốn binh ấy nhà vua cũng không nghĩ tới. Vua là chủ, còn chúng ta là kẻ tùy tùng, tuy có đó song tâm không nghĩ vậy.

Bạch đức Thế Tôn, các tướng pháp cũng như thế, không Như Lai, không Thanh Văn, bậc hữu học (12) và vô học, không Bích Chi Phật, cũng không có phàm phu. Bạch Thế Tôn, tướng các pháp, hoặc pháp Như Lai hay tướng Như Lai đều là không, không thể biết, không thể thủ đắc. Pháp Bích Chi Phật, tướng Bích Chi Phật; hoặc pháp Thanh Văn và tướng Thanh Văn, tâm phàm phu và thân tướng phàm phu đều không, cũng không thể biết, không thủ đắc. Trong các pháp sắc tướng, sắc pháp đều không, không thể biết, không thể thủ đắc, cho đến thọ, tưởng, hành, thức (13) thức pháp, thức tướng cũng không, không thể biết, không thể thủ đắc. Bạch Thế Tôn, trong các tướng, sở dĩ gọi sắc không cho nên là không, vì vốn sắc không đều không, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều không nên gọi là không; thậm chí thức không cũng đều không. Bạch Thế Tôn, trong các tướng không Như Lai, Như Lai pháp không cũng đều là không. Và cái không nói đây cũng không nốt, cho đến phàm phu và pháp phàm phu cũng đều là không, và ngay cả cái không này cũng đều không. Do huyễn hóa nên có chuyển luân thánh vương, có tứ binh mà trong đó thật không có chuyển luân thánh vương, không có tứ binh. Không tướng huyễn thì trong đó không có việc huyễn; không cả tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong, các loại nước, lửa, gió, không có hư không và chủng loại hư không. Bạch Thế Tôn, con quán xét các pháp đều như thế; từ bản lai (gốc) con không theo các pháp ấy, nên đối trong các pháp huyễn không tâm phân biệt. Con nương theo pháp này, nghĩ tới công đức của Phật, ấy là chánh đạo. Bạch Thế Tôn, nếu có người thiện nam, tín nữ nào vào đạo như thế mà thực hành giáo pháp, thuận theo thầy, tôn kính theo lời dạy dỗ là có chánh kiến, không chấp như thế. Bạch đức Thế Tôn, đối với các pháp con không còn nghi vấn nữa. Con vào cửa này mà biết tất cả pháp đều là một tướng. Sở dĩ lìa tướng, không còn thấy có tướng, con đương trong động đá Ðế Thích vâng mệnh Thế Tôn nên đến đây, là vì đối trong Phật pháp con muốn thưa thỉnh Thế Tôn một vài nghi vấn mà Như Lai lại còn đoái thương chia chỗ ngồi, làm cho cả đại thiên thế giới sáu loài chấn động, nên con có thể nói chỉ có Như Lai thật là hy hữu, thành tựu được pháp thanh tịnh tuyệt vời; tự nhiên không thầy mà thành tựu đạo vô thượng, đấng đại từ bi bẻ tràng kiêu mạn, nay Ngài xót thương bèn chia tòa ngồi cho đệ tử. Thật như kẻ nghèo hèn do lòng tôn kính mà được gặp vua Chuyển Luân. Nhà vua bảo ngồi kẻ nghèo kia tự cho là việc hy hữu. Ta gặp được Thánh vương đã là khó, huống gì còn chia cho chỗ ngồi ư? Phật cũng như thế, bậc đại trí đều có oai đức lớn, là đấng pháp vương, tự giác ngộ. Các bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật không sánh kịp, huống gì thế gian, người, trời , a tu la… Con nay được gặp Phật, thân cận thưa hỏi đã là điều lợi lớn, huống nữa còn được phân cho chỗ ngồi thật là hy hữu! Con nghĩ thế này: Như Lai đầy đủ tâm đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả (14), không tự cho mình cao tột, là bậc đứng đầu tối tôn của con ở thế gian. Công đức của Phật tự hiển hiện không như bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn tán thán ngài Ca Diếp: Lành thay, lành thay! Như ông vừa nói, Như Lai có vô lượng công đức nên thành tựu vô lượng đại pháp không thể tính kể. Như do bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ ba la mật (15), thực hành tam muội (16) tam muội ba la mật, công đức, hạnh nguyện, phương tiện, giải thoát, giải thoát tri kiến (17) ba la mật. Ca Diếp! Như Lai thành tựu bốn vô đẳng trí (18) nên giữa đại chúng oai dũng như sư tử gầm. Bốn vô đẳng trí là gì? Ðó là giới phẩm, định phẩm, huệ phẩm, Phật pháp, nên chỉ Như Lai mới có đủ bốn trí vô đẳng mà thôi. Lúc đó đức Thế Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ:

Phật trí diệu cao vời
Thế gian khó nghĩ lường
Tâm, nghiệp lắng thanh tịnh
như tiếng sư tử gầm
rền vang giọng oai dũng
khiếp hãi ngoại đạo chúng
Nghe Phật Pháp nhiệm mầu
rơi vào trong đại loạn
Như người chấp ngã tướng
và trụ tướng chúng sanh
Ðối ở trong Phật pháp
ấy là kẻ ngoại đạo;
còn người nương pháp tướng
chấp ngã, tướng ngã sở
thì đối trong Phật pháp
ấy là kẻ ngoại đạo
Như người chấp giữ giới
ôm chặt mớ công đức
hoặc nghe nhiều tự cao
ấy là kẻ ngoại đạo.
Người nào ưa thiểu dục
hạnh viễn ly tri túc
và mặc y bá nạp
ấy là kẻ ngoại đạo.
Như không trung trống rỗng
bụi khói khó nhiễm dơ
gọi ấy bậc sa môn (19)
Người không nhiễm cũng vậy
như người lấy hoa thơm
hương bột và hương đốt
cúng dường khắp hư không
hư không chẳng vui mừng
Lấy bụi dơ rãi khắp
cũng không nhiễm hư không.
Với bản tánh thanh tịnh
pháp sa môn cũng vậy.
Như dùng lời ác mắng
hư không chẳng tức giận
pháp sa môn không nhiễm
dụ kia cũng như vậy.
Người nào trong pháp đây
đã học hoặc đang học
mà tâm không nhiễm trước
mới chính danh sa môn
Như hư không vô ngại
bụi khói khó phả vào
pháp sa môn cũng vậy
vốn tịnh không biến động
như trăng trong không trung
ánh sáng tỏa mênh mông
cũng chẳng hề dao động
Phật quang sáng chói lọi…
Tỳ kheo vào nhà pháp
chớ nhiễm các thói đời
như ánh trăng tỏa rạng.
Ta nay không đắm nhiễm.
Tỳ kheo vào nhà pháp
không ôm lòng kiêu mạn
tâm tự đại tự cao.
Nếu sanh đều phải diệt
tăng trưởng lòng từ bi
vô dục và vô cầu
rộng thuyết pháp báu mầu
hạnh sáng soi cõi đời…

2- Phẩm THẦN LỰC thứ hai

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo ngài Ca Diếp rằng, ông nên ngồi thong thả để hỏi chỗ nghi ngờ, ta sẽ vì ông mà giảng giải rõ ràng.

Lúc đó ngài Ca Diếp liền đứng dậy đảnh lễ đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi. Ngay lúc đó đức Thế Tôn lại hiện thần lực khiến cho chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di ở các quốc độ đều nương theo thần lực của Phật mà đến Trúc Lâm đảnh lễ dưới chân đức Phật, rồi ngồi qua một bên. Lúc đó bốn bộ chúng: trời rồng, dạ xoa, càn thác bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn cùng đến Trúc Lâm đều thấy thấu suốt không có tướng ngăn che. Lúc đó đức Thế Tôn lại hiện thần lực làm cho ba nghìn đại thiên thế giới (20) các vua bốn cõi trời Ðế Thích, Phạm Vương, trời Quan Âm, Biến Tịnh, Quảng Quả, trời Vô Cuồng, Vô Nhiệt, Hỷ Kiến, Thiện Kiến, trời A Ca Nị Tra v.v… đều nương theo thần lực của Phật mà đến Trúc Lâm tại thành Vương Xá, đồng chắp tay lễ Phật xong rồi ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lại dùng thần lực khiến các vị Ta Già La long vương, A Nậu Ðạt long vương, Khiếm Bà La long vương, Du Ðà La long vương, Kiều Ðà La long vương, Nan Ðà long vương, Bạt Nan Ðà long vương, Ma Na Tư long vương, Ðức Xoa Ca long vương, Tôn Ðà La long vương, Y La Bát long vương v.v… cả nghìn ức vị thiên vương như thế nương thần lực của Phật mà đến Trúc Lâm đãnh lễ dưới chân đức Phật rồi ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ ba nghìn đại thiên thế giới trời, rồng, dạ xoa, càn thác bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la già… cho đến trời A Ca Nị Sắc đều nương thần lực của Phật mà đến Trúc Lâm. Chư Bồ Tát chúng ngồi trước, tới chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di đều ngồi mà không e ngại… Lúc đó đức Thế Tôn bảo ngài Mục Kiền Liên, ông cùng ngồi lên tòa cao với Như Lai. Ta nay giảng thuyết để trừ nghi cho chúng sanh, nên ắt rõ tâm niệm của chúng thảy đều hoan hỷ đồng vào biển pháp, sẽ nói về hạnh Bồ Tát, đại Bồ Tát và tịnh cõi Phật để chuyển nghiệp cho chúng sanh; cũng giảng về đàn ba la mật, thi ba la mật, sằn đề ba la mật, tỳ lê da ba la mật, thiền định ba la mật, trí huệ ba la mật (21) và giảng về cách thực hành để thành tựu các pháp môn, nên biết rõ căn tánh chúng sanh, chỗ ở và chẳng phải nơi trụ xứ của chúng, khiến chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di (22), trời, rồng, dạ xoa, càn thác bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhơn và phi nhơn thảy đều hoan hỷ. Ta biết thấu rõ nghiệp duyên, quả báo trong quá khứ theo như tâm nguyện, nên vì các Thầy mà nói một ít về việc này. Lúc ấy Ngài Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy đãnh lễ dưới chân đức Phật, vì Phật mà trải tòa ngồi cao đến trời Phạm Thiên; và cũng tạo chỗ đi kinh hành giữa không trung, rải thất bảo (23) trang hoàng bằng phẳng thấu đến cõi Da Lăng Già, dài 1000 thế giới, rộng 700 do tuần (24), đi kinh hành xong ngồi lại một nơi, đều có cửa sổ bảy lớp thẳng hàng, bảy lớp mành báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới báu bọc xung quanh. Ðại chúng ngồi thành hàng hai bên các hàng cây báu, do vàng bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Cây vàng, lá bạc, hoa màu pha lê, quả óng ánh màu lưu ly; cây bạc, lá vàng, hoa màu lưu ly, quả óng ánh màu pha lê hoặc cây màu lưu ly, lá bạc, hoa vàng, quả màu pha lê hoặc cây pha lê, lá vàng hoa bạc, quả màu lưu ly. Giữa các cây báu đều có ao tắm, có đầy đủ nước tám công đức (25) trong đó. Bốn bên ao đều có lát thềm bằng bảo châu, vàng bạc, lưu ly, pha lê tạo thành. Ðáy ao trãi cát vàng với các thứ sen báu đủ màu đủ sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng vươn lên khỏi mặt nước, có chim oanh lãnh lót líu lo. Bảy lớp lưới báu che phủ mặt ao, tràng phang thẳng hàng. Có các loại danh hương sực nức mùi thơm xông lên chỗ đi kinh hành; hoa rải dày bảy lớp mà trên đó có các hóa tỳ kheo như ngài Mục Liên. Lúc đó ngài Mục Liên dùng thần lực hóa ra tòa ngồi xong liền qua đến chỗ đức Phật mà bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn: con đã trải tòa ngồi, dám mong bậc Thánh biết thời mà đến.

Phật bảo Mục Liên: tuy ông đã thiết tòa ngồi, song Như Lai không thăng lên trên tòa để thuyết pháp.

Lúc bấy giờ Phật bày tỏ cho vô số chúng Bồ Tát hữu duyên biết rằng: Ngươi trải tòa ngồi cho Như Lai nên ta phải ngồi giảng pháp cho chúng sanh đoạn trừ nghi hoặc; lúc chỉ dạy vô lượng Bồ Tát hữu duyên đã nhờ lời dạy bảo của Phật nên muốn trải pháp tòa. Lúc đó cả ba nghìn đại thiên thế giới, trong đó có các vị Bồ Tát, mỗi vị cởi y trên chất lên thành tòa cao. Lúc ấy Như Lai nghĩ thế này: Ta nay nên hiện sức thần thông khiến chư Bồ Tát tự biết sở nguyện mà phát tâm hành đạo, thanh tịnh cõi Phật để thành tựu chúngsanh, thành tựu cõi Phật, nghiêm tịnh chúng Thanh Văn, Bồ Tát số đông như thế, diễn nói chánh pháp độ vô số người như thế, Phật pháp tồn tại nhiều ít như thế, hình thể, tướng tốt, hạnh sạch như thế… Sau khi Ta diệt độ, chánh pháp còn tồn tại lâu dài khiến chư Bồ Tát nương giáo pháp mà thấy được những việc như thế để đoạn trừ nghi hoặc. Lúc đó đức Thế Tôn an nhiên đứng dậy thăng lên tòa cao nhập Phật tam muội. Tam muội ấy tên là Vô Lượng Duyên. Lúc đó các vị Bồ Tát nương nơi tam muội ấy mà thấy được cõi nước nghiêm tịnh thành tựu đạo vô thượng. Số chúng Thanh Văn, Bồ Tát đông vầy, tuổi thọ dài ngắn sắc tướng như vậy, tinh tấn, hạnh sáng, công đức như vậy, diễn nói chánh pháp độ người như vậy; sau khi tịch diệt xá lợi lưu hành như vậy, giáo pháp tồn tại lâu dài không hoại diệt như vậy, mỗi vị nương theo giáo pháp mà thấy được những việc như thế. Lúc bấy giờ chư vị Bồ Tát đồng lúc lên tiếng nói bài kệ rằng:

Hạnh sáng sạch đáng kính
nương giáo pháp tự tại
do công đức nghiêm tịnh
Lực vô ngại thiền định
Thánh chúa không dua dối
chẳng kiêu mạn lừa đảo
được thánh trí giải thoát
thâm nhập huệ tam muội
Phật tam muội vi diệu
hiện vô lượng thần thông
Dùng trí huệ vô ngại
thấy hiện tại, vị lai
chúng ta được trông qua
tâm an nhiên bất động
liền được ngồi đạo tràng
phục ma bằng tam muội
bằng Phật nhãn vô thượng
mà chúng ta khổ luyện
Và đây mắt vô thượng
thấu suốt pháp không tướng
gọi mắt không phải mắt
Thấy đó như không thấy
đạt pháp vô ngại ấy
chính danh mắt tự tại.
Tâm pháp vốn không hai
nhân đây được Phật nhãn
Tuy còn trong ba cõi
vẫn thấy xa quang đảng
Phật nhập định tam muội
cho ta được mắt sáng
vào sâu pháp tổng trì (26)
biến khắp tất cả pháp.
Ta từ trước đến nay
thấy Phật trí vô tận
nhờ công tu vô lượng
hạnh thanh tịnh chói lọi.
Nếu ít thí-giới-huệ
đâu dễ chóng viên thành.
Ðược ngồi tòa sư tử
ánh sáng chiếu mười phương
khiến chư thiên long thần
đều biết ta là Phật;
cũng biết rõ chúng ta
hành nghiệp nhân duyên là
Phật vô úy thăng toà
thuyết pháp dứt nghi lầm
cũng như sư tử chúa
rống vang chốn sơn lâm
Vốn từ vô lượng kiếp
tu tập hạnh trí huệ
dùng lực tam muội để
thấu rõ khắp trời người.
Vốn cầu cho lợi ích
tu bố thí, trì giới,
định, huệ, tấn, nhẫn nhục.
Pháp lục độ chúng sanh
do có nhân duyên lành
được ngồi toà sư tử.
Chúng nay đang chắp tay
mong dứt nghi hối ngay
do pháp trụ bao lâu
khiến chúng được hiểu thấu
trừ hết các lưới nghi
thông đạt tất cả pháp.

Lúc đó trong chúng có vị pháp vương tử tên là Hoa Ðức Tạng từ tòa ngồi đứng dậy trịch áo bày vai bên hữu, chắp tay quì gối sát đất hướng về Phật mà nói lên ý nghĩ rằng: con muốn theo Phật hỏi các pháp môn: kim cang, trùng cú môn, bất đoạn cú môn, tu tập chư pháp cú môn… Nếu các thiện nam, tín nữ đã học qua những cú môn (27) này đối với các pháp môn phải đạt được con mắt trí phương tiện không ngăn ngại; ngưỡng mong Phật quán xét đời trước của con gieo căn lành gì mà nay phát tín tâm cầu đạo vô thượng Bồ Ðề? Lúc bấy giờ Phật quán xét vị Bồ Tát này từ lúc mới phát tâm đã gieo căn lành với thâm nguyện là cầu đạo vô thượng Bồ Ðề. Ngài xoay sang đại chúng miệng phóng ra ánh quang minh chói lọi như ánh đuốc chiếu soi khắp các thế giới cả núi rừng, tường vách, đất nước, gió lửa và cõi hư không đều tỏa ánh sáng vàng; khắp cả tám phương, thượng phương, hạ phương (28) đều lưu chuyển pháp môn không ngăn ngại này. Lúc đó chúng sanh ở ba nghìn đại thiên thế giới đều thấy thân Như Lai ánh sắc vàng. Chúng sanh phần nhiều bị lửa dục thiêu đốt, nên biết thân dâm dục do ý khởi, vì lửa nóng giận thiêu đốt, nên tự biết do ý phát sanh, bị lửa si mê thiêu đốt, nên tự biết do ý dấy động, cho đến chúng sanh trong cõi ba nghìn đại thiên thế giới phải chịu bao nhiêu khổ não trong đại địa ngục, nhờ thần thông nguyện lực của Phật tạm được dứt khổ.

Lúc bấy giờ chúng sanh trong ba nghìn đại thiên thế giới bị nghiệp chướng, báo chướng, và phiền não chướng (29) ngăn che, nhờ thần lực của Phật và nguyện lực của ngài Hoa Ðức Tạng mà tạm được dứt hết. Lúc ấy mỗi lỗ chân lông nơi thân đức Phật phóng ra vô số ánh sáng, làm cho chúng sanh căn lành tăng trưởng. Ánh sáng chiếu khắp đến vô số cõi ở phương đông nhiều như số cát sông Hằng và, các phương tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, thượng, hạ phương đều như vậy. Phật phóng quang xong phát ra âm thanh dõng dạc khiến tất cả các thế giới thảy đều nghe.

3- Phẩm VÕNG MINH thứ ba

Lúc bấy giờ ở phương Ðông nhiều vô lượng vô số các thế giới có chúng sanh đồng ở. Trong số các thế giới đó có đức Phật hiệu là Nhất Bảo Nghiêm hiện đang thuyết pháp thọ ký cho ngài Võng Minh Ðại Bồ Tát thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác (30), nói lời rằng: vị Ðại Bồ Tát này kế sau ta sẽ thành Phật. Lúc đó ngài Võng Minh hỏi Phật rằng:

– Ánh quang minh rực rỡ và âm thanh vang vọng kia do ai phát ra?

– – Phật đáp: ở phương Tây cách đây vô lượng a tăng kỳ cõi nước, có một thế giới tên là Ta Bà, ở đó có đức Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni hiện đang vì chư Bồ Tát mà thuyết pháp trừ nghi cho chúng sanh, khiến chúng hoan hỷ trong kinh tạng Ðại Thừa. Cõi đó có vị Bồ Tát tên Hoa Ðức Tạng muốn hỏi đức Phật Thích Ca về pháp môn nào tạo được nhiều công đức.

– Phật bảo: Võng Minh ông nên biết, trong các thế giới kia, chư vị Bồ Tát đều phát đại nguyện vô hạn, tất cả đều vân tập trong hội đây, đến từ các thế giới rất trang nghiêm ấy. Chư Bồ Tát ở đó hoặc được thấy hoặc nghe danh vị Bồ Tát kia mà còn được lợi ích như thế, huống gì gần gũi, hỏi han, cúng dường ư?

– Lúc đó ngài Võng Minh bạch Phật rằng: đúng thế, thưa Thế Tôn. Con muốn qua thế giới Ta Bà lễ bái cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật, và xem cõi ấy có đầy đủ trang nghiêm chúng Bồ Tát không?

– Phật bảo: ông nên biết thời mà thành tâm để qua cõi Ta Bà thế giới. Tại sao như thế? Vì chư Bồ Tát ở đó có oai đức khó sánh kịp. Ðức Phật Nhất Bảo Nghiêm cầm hoa sen đưa ngài Võng Minh và nói rằng: ông đem hoa này sang cúng dường Phật Thích Ca, và cho ta gởi lời ân cần thăm hỏi Ngài có được ít bịnh, ít não, đi đứng được nhẹ nhàng, khí lực có được điều hòa chăng? Võng Minh Bồ Tát lễ dưới chân Phật xong, đi nhiễu bên hữu ba vòng, lúc đó có vô số Bồ Tát cùng đại chúng trước sau đi nhiễu quanh đức Phật, như đại lực sĩ, bỗng nhiên mất dạng không còn trông thấy nữa mà hiện ở cõi Ta Bà, vào Trúc Lâm đảnh lễ dưới chân đức Phật, bạch rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, con là Võng Minh

– Phật bảo: lành thay! Võng Minh ông được an lành?

Võng Minh Bồ Tát cúi đầu lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên, bạch Thế Tôn rằng: đức Nhất Bảo Nghiêm Phật thăm hỏi đức Thế Tôn có được ít bịnh, ít não, đi đứng được nhẹ nhàng, khí lực có được điều hòa chăng? Ngài đưa hoa này dâng lên đức Thế Tôn. Phật bèn nhận lấy và đưa hoa cho ngài Di Lặc. Ngài Di Lặc nhận hoa xong bèn bảo các ngài Bạt Ðà Bà La cùng 500 vị Bồ Tát rằng:

– Chư thiện tri thức! Ðức Như Lai đưa tôi những hoa sen này, nay tôi xin trao lại cho các vị. Lúc ấy ngài Bạt Ðà Bà La Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Ðạo Sư Bồ Tát, Tinh Ðắc Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Thiện Lực Bồ Tát, Ðại Ý Bồ Tát, Thắng Ý Bồ Tát, Tăng Ý Bồ Tát, Bất Hư Kiến Bồ Tát, Trụ Ý Bồ Tát, Quá Lực Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Nhựt Tạng Bồ Tát, Trì Thế Bồ Tát, Trì Ðịa Bồ Tát, Việt Tam Giới Bồ Tát, Vô Lượng Lực Bồ Tát, Kim Cang Lực Bồ Tát, Kiên Ý Bồ Tát, Vô Biên Tự Tại Bồ Tát… cả thảy 500 vị Bồ Tát như thế đều nhận được hoa sen từ Bồ Tát Di Lặc xong, bèn bạch Phật rằng: bổn nguyện của chúng con là, nếu có chúng sanh nào được nghe tên và gặp chúng con, thì quyết định đều chứng được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.

– Bạch đức Thế Tôn, ngài Di Lặc Bồ Tát đưa cho con hoa này, nay chúng con đem rải nơi chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai ở phương Ðông, và cũng đem cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai các phương Tây, Nam, Bắc, Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc, thượng phương, hạ phương, mong cho những hoa này rải khắp mười phương vô lượng thế giới. Những chúng sanh trong các thế giới ấy, nếu thấy hoa này, nghe mùi thơm của hoa thì phải theo thâm tâm chí nguyện chúng con mà thực hành, bày tỏ xã bỏ tất cả ý lực chúng sanh, thì chắc chắn sẽ chứng được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc ấy chư Bồ Tát đem hoa sen rải ở khắp mười phương thế giới. Phật dùng tay sờ lên mỗi hoa sen thân Phật hiện trên đó. Những vị hóa Phật này từ trên không trung đi đến, cũng phát lời rằng: nếu có chúng sanh không tin các pháp không, như huyễn hóa, không tưởng, không duyên… thì, các chúng sanh ấy đối với Phật không phải là bậc thầy và, họ cũng chẳng phải là đệ tử của Phật, rồi liền nói kệ rằng:

Các pháp không vô tướng
không thủ, không chỗ duyên,
tất cả đều huyển hóa
như mặt nước trăng hiện
Chẳng phải không trống rỗng
bản tánh hằng như vậy.
Chính danh Phật đã nói
pháp tối thượng vi diệu.
Các pháp không, vô tướng
cũng lại là vô ngã
người nào biết như thế
thì không còn tham tranh.
Người nào ưa pháp ấy
Phật chính danh thầy họ.
Ta nay dùng Phật lực
du hóa khắp mười phương.

Lúc đó các hóa Phật mỗi vị nói kệ này đến khắp mười phương. Võng Minh Bồ Tát bạch Phật rằng: thưa Thế Tôn, bổn nguyện chư vị Bồ Tát này thanh tịnh chưa từng có, có thể làm cho chúng sanh hoạn họa, khổ não ở cõi này, cũng như các cõi khác đều được nghe danh tự chư Bồ Tát, thì chắc chắn chứng được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chỉ vì Phật và chư Bồ Tát không muốn sanh ra trong thế giới xấu ác này. Tại sao như thế? Ví như viên ngọc ma ni vô giá có thể trừ hết các khổ não cho chúng sanh để được an vui tịnh lạc. Như người tri thức biết giá trị ngọc quí thì chỉ nghe tới viên bảo châu cũng đã được lợi lạc vô cùng. Tâm suy nghĩ, tưởng tượng, tìm cầu thấy ngọc trong hầm phẩn nhơ uế, với nhiều người thợ khéo nghèo khổ, là những kẻ làm công hèn, đứng bên hầm còn chưa biết được tên bảo châu, huống gì biết được sự lợi lạc của nó. Những người tìm châu báu lúc đó thấy thế liền nói rằng: viên bảo châu không thể để khuất lấp chỗ dơ uế như vậy được, trong lúc ấy người nghèo hỏi những người tìm châu rằng: châu báo đang ở chỗ nào? Mấy người tìm châu chỉ viên bảo châu mà nói rằng, ông vô trí không biết viên ngọc báu, bèn nói thế này: tuy ông biết khen viên bảo châu như thế, song chúng tôi không thấy được chỗ lợi ích của ngọc báu. Lời ông nói không thật, ai có thể tin tưởng được? Lúc đó người tìm châu liền từ chỗ ngồi đưa ra viên ngọc quí đang cầm tay, nó là hậu quả mà người nghèo phải gặp bao nhiêu vất vả, bịnh tật tranh tụng khổ não bất an.

– Bạch Thế Tôn, người cõi Ta Bà cũng thế , tàn hại thôn tính lẫn nhau mà kẻ nghèo hèn hạ tiện là hậu quả của khổ đau, cũng như châu báu ở chỗ đầy nhơ uế bẩn thỉu vậy.

– Bạch Thế Tôn, viên ngọc ma ni này có thể làm giảm bớt sự đau khổ và làm tăng thêm sự an lạc. Nên biết rằng đức Phật Thích Ca và thế giới Ta Bà đầy đủ chư Bồ Tát trang nghiêm cũng như châu báu ở bốn phía kẻ bần cùng hạ tiện; và cũng nên biết rằng chúng sanh ở cõi Ta Bà phần nhiều tệ ác, nên hễ nghe tới châu báu là cả nam lẫn nữ đua nhau đi tìm kiếm ở chỗ dơ mà họ cho rằng châu báu làm gì có chỗ dơ như vậy. Cũng như ta nghe chư Phật hiện tại trong mười phương đều xưng tán đức Thế Tôn và cõi Ta Bà có đầy đủ chúng đại Bồ Tát trang nghiêm, nên muốn đến thăm hỏi đãnh lễ đức Phật, thấy cõi này chúng sanh phần nhiều khổ não, tội lỗi, xấu ác, thiếu phước đức đầy dẫy khắp nơi.

– Bạch Thế Tôn, như viên ngọc báu ở chỗ dơ nên không hiện ra sáng rỡ. Phật và chư Ðại Bồ Tát ở cõi này cũng thế, không hiện rõ công đức, cũng giống ngọc ma ni (cái thể của nó vẫn trong sáng) tuy ở chỗ dơ vẫn mang lại ít nhiều lợi lạc cho kẻ bần cùng; cũng như nay đức Thế Tôn ở thế giới này chỉ hiện ánh đại quang minh thôi. Phật có sắc tướng sáng rỡ chân thật, có công đức, thần thông và nguyện lực tự tại, song vẫn không hiện rõ.

– Bạch Thế Tôn, chúng sanh cõi này căn lành mỏng cạn, chưa đủ sức tin Phật có công đức sáng chói hiển hiện, huống gì là tin được công đức của chư Ðại Bồ Tát, không thể có được.

– Bạch Thế Tôn, như người tìm châu báu, từ chỗ dơ tìm được ngọc quí rồi cầm châu mà đi khỏi. Những người nghèo khổ tới sau gặp sự khổ não, tật bệnh, tranh chấp, các khổ bất an. Sau khi Phật diệt độ, có người đọc tụng, tu tập kinh điển như thế vẫn phải sanh vào quốc độ của thế giới này, thọ nhận bao sự khổ não, thậm chí không được nghe được đến tên Phật pháp. Tại sao thế? Vì chúng sanh ưa làm việc ác, và tàn hại lẫn nhau nên chìm đắm trong đủ thứ khổ não, không tịnh hạnh (hạnh trong sạch), phước hạnh, huệ hạnh nên mất hết lợi lạc.

– Bạch Thế Tôn, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào muốn cầu thành Phật đạo không nên sanh ở cõi này. Người cầu Thanh Văn còn không sanh vào thế giới này, huống gì là Bồ Tát. Tại sao thế? Vì cõi A Tỳ địa ngục như địa ngục cưa xẻ, địa ngục hắc ám, địa ngục nóng bức, địa ngục cách tử… chúng sanh ở trong đó không một giây phút nào an lạc.

– Bạch Thế Tôn, ở thế giới kia Phật và chư Bồ Tát thấy chúng sanh trong cõi Ta Bà này cũng như ở trong các địa ngục thọ mọi sự khổ não. Chúng sanh ở cõi Phật khi sanh ra được thường lạc, con đã nói chưa từng có ai tin như vậy.

– Bạch Thế Tôn, vì muốn nghe pháp nên vào cửa pháp tịnh, đến chỗ Phật làm sao xưng tán cõi Phật là vui. Tại sao như thế? Vì tất cả khổ vui đều vô thường, không có tướng nhất định. Chúng con muốn nghe không khổ, không vui, vô thường chẳng phải thường, vô tưởng phân biệt, không tu chẳng tu, chẳng là không là, không thuyết chẳng thuyết, không thế gian và xuất thế gian, vô lậu chẳng lậu (31), không thật không hư, không có Bồ Ðề và Bồ Ðề phần, không lực chẳng lực, không tối không sáng, không đạo chẳng đạo, không quả chẳng quả, không phát khởi, không trụ, không chỗ này chỗ kia… Mong thayThế Tôn, nay chúng con muốn nghe pháp ấy. Tại sao như thế? Vì tất cả điều vui đều do phước đức nhân duyên hư vọng mà có trên đời. Pháp Không của Như Lai không hình không tướng, không có 10 lực (32), bốn vô sở úy (33), không thần thông cũng không thuyết pháp, không khổ không vui, lìa các vọng niệm và tâm sở hành, đạt được các tướng như vậy nên gọi là Như Lai. Những ngườI vọng niệm cho là thật là hư, là lậu vô lậu, là thế gian xuất thế gian, là cõi chảng cõi, là lực chẳng lực, là sợ chẳng sợ, là thánh phước điền chẳng phước điền, là Như Lai, là chúng Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật, là thần thông nguyện lực… Như Lai đều đã dứt sạch các hý luận (34) này bằng sức vô ngại, vô úy (35); đối với đại chúng phát ra tiếng sư tử gầm hiện âm thanh của Phật.

– Bạch Thế Tôn, Phật cũng có thể ở trong chỗ xấu ác mà tâm không nghĩ ác – trong sạch chẳng nhiễm ác – sanh tưởng xa lìa. Lại cũng quyết thực hành hạnh xã, đó là hạnh Phật, hạnh Thánh, không như hạnh Thanh Văn và hạnh Bích Chi Phật.

– Bạch Thế Tôn, các hạnh không giống nhau ấy không thể sánh kịp cũng không thể làm hoại diệt được. Vì sao? Vì người có thừa trí lực cũng không thể biết hết được; chỉ chư Phật Thế Tôn mới phân biệt rõ các hạnh ấy sâu xa là thế, nhân duyên như thế, vắng lặng như thế, an lạc là thế.

– Bạch Thế Tôn, hạnh Như Lai không phải là những hạnh mà chúng sanh không thể làm được. Vì thế, bạch Thế Tôn, hạnh Như Lai không phải là hạnh mà tất cả Thanh Văn, và Bích Chi Phật chẳng thể làm được. Người nào chẳng thấy chỗ sở hành, tức chẳng hành cũng chẳng phải chẳng hành, như hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật đối trong các Pháp không có lực hành. Vì thế, bạch Thế Tôn, chỗ hành của Như Lai là hạnh rộng khắp. Hạnh rộng khắp ấy là bổn nguyên mà chư Phật muốn không có biên cương.

– Bạch Thế Tôn, pháp này không thể dùng văn tự thuyết được. Vì dùng văn tự thuyết là xa lìa hạnh xã ly này. Pháp ấy là nghĩa thú pháp môn. Nghĩa thú pháp môn có thể mở bày sáu vạn sáu nghìn pháp môn đều làm cho rõ ràng.

– Bạch Thế Tôn, Ðức Phật Nhất Bảo Nghiêm thường nói pháp môn ấy cho chúng sanh . Lúc Ngài nói pháp có bảy ngàn chúng Bồ Tát đều chứng được pháp môn ‘‘giải thoát’’, tùy thuận hạnh Phật. Chư Bồ Tát ấy đồng thanh xướng lên rằng: ‘‘Chúng tôi nay đã chứng được đạo vô thượng chánh giác, sáu vạn chúng sanh cũng đều phát tâm vô thượng chánh giác’’. Liền trong lúc đó Như Lai thọ ký (36) cho tám trăm ức vạn hằng hà sa chúng, đối với nghĩa thú Pháp môn, xa lià trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Lại có ba vạn chúng tỳ kheo ni không thọ các pháp lậu hết ý tịnh. Lúc đó Phật mỉm cười phóng quang rực rỡ chiếu khắp các thế giới làm chấn động cõi đại địa.

Lúc bấy giờ ngài A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, gối bên mặt quỳ sát đất bạch Phật rằng: bạch Thế Tôn, do nhân gì? duyên gì mà Phật mỉm cười phóng quang rực rỡ chiếu khắp thế giới, làm chấn động cõi đất như thế?

– Phật bảo A Nan: ngài Võng Minh Bồ Tát lúc nói pháp có bảy vạn bảy ngàn chúng Bồ Tát đều chứng được pháp môn ấy. Võng Minh Bồ Tát trong hư không ở thế giới này, đã từng theo tám vạn chư Phật nghe được pháp môn ấy. Ðã nghe được Pháp môn ‘‘không tịch ’’ liền được vắng lặng, thường du hóa đến vô số cõi Phật.

 

4 – Phẩm NHƯ TƯỚNG thứ tư

Lúc bấy giờ ở phương Ðông quá bảy vạn tám trăm a tăng kỳ quốc, có một thế giới tên là Nhất Bảo Tụ, đức Phật hiệu là Vô Biên Bảo Lực hiện đang có vô số đại chúng cung kính vây quanh để nghe thuyết pháp. Phật Vô Biên Bảo Lực thọ ký đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác cho Bất Hư Hạnh Lực Ðại Bồ Tát mà nói như thế này: Nay Ngươi là Bồ Tát, kế sau Ta đây sẽ thành Phật. Lúc đó Bồ Tát Bất Hư Hạnh Lực ở giữa đại chúng thấy ánh sáng rực rỡ, nghe đại âm thanh rồi hỏi Phật rằng: Phật hiện ra ánh sáng và âm thanh gì thế?

-Phật đáp: ở phương Tây cách đây hơn bảy trăm tám vạn a tăng kỳ quốc, có một thế giới tên là Ta Bà, ở đó có đức Phật hiệu là Thích Ca Văn hiện đang thuyết pháp cho chư Ðại Bồ Tát, đoạn nghi ngờ chúng sanh làm cho chúng được hoan hỷ trong pháp tạng Ðại Thừa. Lúc đó Bồ Tát Bất Hư Hạnh Lực bạch Phật rằng: con muốn thân đến cõi Ta Bà để lễ bái cúng dường Thích Ca Văn Phật và để xem xét cõi ấy có đầy đủ trang nghiêm chúng Ðại Bồ Tát không.

-Phật bảo: ông nên biết thời, phải nhất tâm để sang cõi Ta Bà mới được. Tại sao thế? Vì chư Bồ Tát ở đó có đại oai đức khó ai hơn, khó có thể sánh bằng. Ông cho ta có lời thăm hỏi Phật Thích Ca Văn được ít phiền, ít bịnh, chỗ ở có được thư thái, tứ đại có điều hòa chăng? Và đem hoa sen này sang cúng dường Phật.

Lúc đó Bồ Tát Bất Hư Hạnh Lực từ chỗ ngồi đứng dậy đãnh lễ dưới chân Phật rồi đi nhiễu bên phải ba vòng; trong lúc đó thì bảy vạn tám ngàn Bồ Tát ở cõi kia bỗng biến mất, hiện đến cõi Ta Bà làm cho ba nghìn cõi đại thiên thế giới cây cối bỗng dưng không theo đúng thời tiết đều đơm hoa kết trái, mưa rải các thứ danh hoa hương thơm xông ngát với âm nhạc tuyệt vời đồng thời trổi lên. Lúc ấy Bồ Tát Bất Hư Hạnh Lực đi đến Trúc Viên đầu mặt lễ Phật, lấy tay xoa chân Phật rồi nói ba lần rằng: con là Bồ Tát Bất Hư Hạnh Lực. Phật bảo: ông không cần phải thủ lễ đến thế! Lúc đó Bồ Tát lạy Phật xong, bèn bạch Phật rằng: thưa Thế Tôn, đức Vô Biên Bảo Lực Phật thăm hỏi Thế Tôn có được ít bịnh, ít phiền, chỗ ở có được thư thái, tứ đại có điều hòa không? Ngài đưa hoa sen này sang cúng dường Thế Tôn. Phật nhận hoa xong bèn hỏi: Phật Vô Biên Bảo Lực có được an ổn, không hận, thân thể có được khỏe mạnh không?

– Ðáp: thưa Thế Tôn, Phật Vô Biên Bảo Lực được ít phiền, không bịnh và được an ổn, không việc gì cả… Phật bèn đưa hoa sen ấy tặng Bồ Tát Di Lặc. Lúc đó Bồ Tát Di Lặc tay cầm hoa sen và nói lời này: cầm được hoa này phải đủ thiện căn phước đức và lực nhân duyên làm cho kẻ thiện nam, tín nữ phát tâm vô thượng Bồ Ðề, thanh tịnh cõi Phật, thành tựu chúng sanh. Tại sao như thế? Vì chúng sanh không gieo căn lành thì khó có thể giáo hóa, hoặc căn lành không đủ cũng khó có thể giáo hóa, căn lành mỏng cạn cũng khó giáo hóa, người ưa pháp nhỏ (tiểu thừa) cũng khó giáo hóa. Tại sao như thế? Vì từ trong hoa sen, nếu người nào muốn thấy mười phương chư Phật liền thấy ngay; cũng có thể thấy được Phật Vô Biên Bảo Lực, thế giới Bảo Tụ và chúng Bồ Tát. Vừa thấy cõi ấy liền được giải thoát tam minh, lục thông (37) như chúng đại Thanh Văn.

– Bạch Thế Tôn, hoa này do thiện căn, phước báo mà có, cho nên con đem cúng dường chư Phật, làm cho những người phát tâm cầu Phật đạo không bị chướng duyên; còn những người chưa phát tâm cũng làm cho họ phát tâm. Như Phật thấu triệt các pháp nên không còn có tướng hoại diệt, đạt thành đạo vô thượng; con đem tâm này dâng hoa cúng dường.

Lúc bấy giờ Phật hỏi ngài Bạt Ðà Bà La: Pháp là gì? Như Lai dùng pháp thông đạt không hoại mà đạt được đạo vô thượng chăng?

– Ngài Bạt Ðà Bà La bạch Phật rằng, thưa Thế Tôn: không có pháp như thế. Như Lai không dùng pháp thông đạt không hoại để thành Phật đạo. Tại sao? Vì Như Lai không phải là tướng của các pháp ấy. Phật không phải mang tên pháp hay phi pháp.

– Bạch Thế Tôn, không có chỗ nào đạt được pháp ấy cả, nếu có Như Lai ắt khởi cái tướng của pháp ấy rồi. Tại sao như thế? Vì các tướng có sanh ra đều do lục nhập (38) mà thành. Như Lai còn chưa có các ‘nhập’, huống là có chỗ đắc trong các tướng ư? Có quán xét như thế tức là thấy tướng, nên Phật nói tất cả các pháp không lấy, không bỏ, cũng không tùy thuận; như người thực hành được tướng ấy, gọi là Như Lai. Tại sao? Vì Phật muốn pháp ở trung đạo. Nếu thủ các pháp, thì bị hoại diệt, như không Như Lai mà NHƯ cho nên gọi là Như Lai. NHƯ ấy không có tướng, vì không tướng nên gọi là Như Lai. NHƯ ấy vô tận, vì vô tận nên gọi là Như Lai. NHƯ ấy không hoại, vì không hoại nên gọi là Như Lai. Các pháp như thật, vì như thật nên gọi là Như Lai. Vì thế, thưa Thế Tôn, tất cả pháp NHƯ tức là Như Lai, Như Lai tức là các pháp Như. Vì thế, thưa Thế Tôn, không có chỗ trụ nghĩa là Như Lai; ở chỗ thông đạt rốt ráo cũng không trụ. Vì thế, Phật bảo, như người nào ở trong pháp này không thủ, không bỏ, không thuận, không tranh, ấy gọi là tất cả phước điền thế gian.

Phật bảo ngài Bạt Ðà Bà La: Ngươi trụ nơi đâu mà nói ra lời này?

-Ðáp: thưa Thế Tôn, tất cả thế gian đều là chỗ trụ, con trụ trong đó mà bạch lời này. Bạch Thế Tôn, con không tham trước như người phàm phu. Tại sao thế? Vì chỗ trụ của người phàm phu là do tham trước bại hoại, biến đổi. Bạch Thế Tôn, con trụ trong thật tướng không giống như thế gian trụ. Các bậc hiền thánh đối với các tướng thế gian này không tranh, không hai mới gọi là trụ thế gian. Phàm phu theo pháp Hữu Vô này hành xử nên thế gian giống như ánh lửa bập bùng cháy qua lục nhập vậy. Thế gian vô thường do duyên sanh mà có. Thế gian bất tịnh khởi ra ác nghiệp, chỗ trụ thế gian là tướng hoại diệt, nên trụ trong vô trụ. Vì thế con trụ trong pháp vô nhị này mà nói ra lời như thế.

-Lúc bấy giờ Phật hỏi ngài Bạt Ðà Bà La, ta trụ trong pháp này mà thuyết chăng?

-Ðáp: thưa Thế Tôn, Phật sở đắc các pháp nên bỏ pháp không ai có thể biết được.

-Này Bạt Ðà Bà La, ta đắc pháp gì?

-Thưa Thế Tôn, Phật ngồi đạo tràng là pháp sở đắc, pháp hoặc phi pháp, hữu hoặc vô đều là sở đắc vậy.

-Phật bảo Bạt Ðà Bà La rằng: lành thay, lành thay! Như ông đã nói: Như Lai ngồi đạo tràng là chỗ đắc Pháp, là pháp, phi pháp cũng chẳng phi pháp. Ta đối với pháp này, trí không hành, mắt không thấy có hữu vô; huệ không thông thấu không thể hiểu rõ được có hỏi không đáp. Ðối với trong pháp này, không nhận, không lấy, không dơ, không sạch… Nếu ta nói pháp ấy mà tự cho là sở đắc, hoặc theo hình tướng thực hành pháp ấy đều mê hoặc cả.

Này Bạt Ðà Bà La, ta đối với pháp đây chỉ trừ chư Phật không chứng minh được, hoặc hiện thân Bồ Tát, một đời bổ xứ Bồ Tát ta cũng không thể chứng minh được. Người nghe pháp như thế đã lấy làm kinh khiếp lắm rồi, huống gì còn đem chia chẻ chứng minh được sao!

5- Phẩm BẤT TÍN thứ năm

Phật bảo ngài Bạt Ðà Bà La rằng, đời sau có tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di không tu thân, chẳng tu tâm, không tu giới, chẳng tu huệ (37) nghe kinh nói chư Phật với đạo giác ngộ, không đắc, không mất, không phân biệt, không dơ, không sạch theo như lời Phật phó chúc, nên sanh tâm nghi sợ bèn đọa vào đại địa ngục.

Họ nghĩ rằng Như Lai không đạt được nhất thiết trí mà nay kinh này nói, nếu trí không huệ không đủ thông đạt, không thấu rõ câu hỏi ‘hữu vô’, nên câu đáp không có thể biết được các tướng. Những người như thế thấy có đọc tụng, có người nói kinh này thật đáng thương hại, hoặc họ sanh giận dữ, khởi tâm thù ghét… Này Bạt Ðà Bà La, ông xem đời sau có những kẻ điên đảo làm hại ta; đối trong giáo pháp, kẻ phản tặc vẫn được tôn quí. Có thể nói: Như Lai bậc trí tuệ mà còn bị khinh rẽ, như nói Phật không dừng lại nơi tăng phòng, hay tịnh xá. Ta đem pháp tự nhiên vô sư này ra giảng giải giữa đại chúng cũng giống như tiếng sư tử gầm, thì những kẻ ác tâm kia không biết Như Lai và pháp Như Lai. Vì không biết nên mắng trách trong pháp ấy khởi ra loạn tưởng, tức sanh lòng mắng trách. Tại sao? Vì những người đối với pháp sanh tâm tham chấp cho đến các thiện pháp nên cho rằng Như Lai bị mắng trách. Họ dùng những lời mắng trách xưng tán pháp, nên gọi là trong hàng sa môn họ là bọn giặc thầy chùa; cũng trong hàng sa môn họ là bọn chiên đà la (39), trong Tăng đoàn họ làm lũng đoạn hàng ngũ, theo mưu sâu của ngoại đạo chấp đoạn, chấp thường (40) khởi tâm phân biệt đắm trước các pháp. Này Bạt Ðà Bà La, Như Lai đã nói chánh kiến thế gian có thể là các pháp hí luận theo lẽ sanh tử, nên muốn cho chúng sanh biết nghiệp, quả báo. Những kẻ ngu si như thế đối với giáo pháp sanh lầm tưởng nhất. Này Bạt Ðà Bà La, bọn Phạm Chí vấn tóc cũng nói tới nhân duyên, tội phước của thế gian. Nếu cho đó là Bồ Ðề thì bọn Phạm Chí cũng chứng đạo quả. Này Bạt Ðà Bà La, bọn Phạm Chí này sau khi ta diệt độ (41) tự cho rằng đã thấy biết hết nên có sự sai lầm cần xa lánh họ. Ở trong giáo pháp ta mà cầu xuất gia, hễ đã xuất gia thì phải đạt được Phật Pháp. Này Bạt Ðà Bà La, ông xem đời sau, những người ngu si ấy quá lắm không thể nói hết được, là bọn Phạm Chí thờ lửa. Những người ngu như bọn Mạt Ca LợI, Phú Lan Na… đem chỗ ta nói chánh kiến thế gian thuận lẽ sanh tử, nghiệp duyên, quả báo làm pháp hý luận, cho đó là trí huệ cao tột. Những người như thế chỉ hủy báng Phật và Phật Pháp; họ không thể thấy biết mà điều quan trọng là ra khỏi sanh tử. Ta cho những người này không kham nổi được đạo ta. Tại sao như thế? Vì họ không trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp tích tập Phật Pháp như ta, mà chỉ dùng chút ít nhân duyên để hủy hoại Phật Pháp. Những người như thế đối với Như Lai chỉ gây ra lỗi quấy hại Phật thôi. Này Bạt Ðà Bà La, những gì là xưng tán Như Lai; tùy thuận ý Như Lai mà thuyết pháp? Như đối với các pháp không tham, không tranh, không khởi niệm, không tạo tác, vô tướng, vô vi vượt ra khỏi ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) mà nói pháp. Người như thế là kẻ xưng tán Phật, tùy ý thực hành, ấy là chính danh Phật Tử, từ miệng Phật sanh ra, từ Pháp hóa sanh.

Này Bạt Ðà Bà La, người như thế có thể đọc tụng, vấn đáp những kinh điển như thế này. Ấy là kẻ tùy ý thực hành, như pháp mà nói, theo pháp mà hành, được ta gia trì thần lực. Người như thế trước đây đã từng thọ sự chỉ giáo của ta. Ta được khuyến thỉnh lập pháp tràng (42), thổi đại pháp cụ, giống trống đại pháp, trương cờ pháp bảo, vì chỗ tri thức của chư Phật. Người như thế tỏa hoa công đức ở nơi thường lạc, hàng phục ác ma. Trong đời ít thấy được người lợi ích như thế; nhờ thế mới có thể gánh vác đảm đương nổi đạo vô thượng. Vì niệm nghĩ đến chư Phật, chư Bồ Tát có thể làm cho pháp nhãn thanh tịnh. Ðối với các pháp không còn chướng ngại nên làm vui ý Phật. Phật nghe người như thế thân cận tôn phụng trao gởi chánh pháp, và cả các công đức để họ tự trang nghiêm. Ấy là bậc có trí huệ cao tột! Ta vì kẻ có học mưa rải nước đại pháp làm cho Phật Pháp tăng trưởng, tỏa hoa giác ngộ, kết qủa giải thoát làm tòa đạo tràng, chứng nên Phật quả, chỉ đường cho chúng sanh, quảng bá chánh pháp làm cho chúng sanh được mãn nguyện.

Này Bạt Ðà Bà La, ta nay lược nói công đức của người như thế, nếu nói rộng hơn nữa cũng ít người tin hiểu. Người như thế là kẻ xưng dương đức Phật, tán thán Phật Pháp. Này Bạt Ðà Bà La, như người chưa thấy ao A Nậu Ðạt, còn như đã thấy liền nói lời này: ao này cùng các ao lớn đâu có gì khác lạ. Người kia dù muốn ca ngợi ao, song lại làm thương tổn vậy.

Này Bạt Ðà Bà La, những người ngu si này không có một mảy công đức, không đạt được pháp như thế, không có trí huệ. Họ đem chánh kiến hữu lậu (43) thế gian và cái sanh tử nhiễm ô mà xưng tán ta, nói lời rằng, trí huệ Như Lai đối với trong pháp này không còn chướng ngại. Tuy họ muốn khen ta mà là hủy báng ta. Cũng như người ngu nghe nói màu vàng của vàng, sau khi nghe người ta đồn vàng ở Diêm Phù Ðàn (Ðề) hình dạng hơn hẳn không tin; cho rằng, ông chớ có nói như thế, màu sắc thật của vàng không giống như ông nói. Những người ngu si cũng thế, không có mắt – đui mù không trông thấy – chỉ nghe người ta nói tới tên Phật, tên Pháp. Họ chỉ nghe Như Lai có 32 tướng tốt (44), 80 vẻ đẹp (45) sanh trong cung vua, quyến thuộc xum vầy mà xuất gia học đạo, có đầy đủ giới, định, chớ không nghe được tướng chân thật của Phật Pháp và chân pháp tướng mà cho pháp đó là tất cả trí, gọi đó là Như Lai. Họ cũng không nghe Như Lai diễn thuyết, lấy gì cho là tướng, là pháp, là phi pháp. Người kia có khi được nghe kinh Phật nói cái chân thân như thật của pháp tướng liền sanh nghi, cho rằng, có pháp như thế sao? Có thật như vậy không? Như người mù nghe nói màu vàng của vàng, sau khi có người nói tới vàng Diêm Phù Ðàn sanh nghi, không tin là có vàng thật như thế. Như có người ngu nghe nói tới biển lớn rộng ngát mênh mông đo được ba vạn do tuần, đáy sâu tám vạn bốn ngàn do tuần, có vô số châu báu trong biển, nước biển thuần một vị (mặn) không tăng không giảm. Người ấy không tin, nghĩ rằng, các dòng nước chảy đều dồn vào biển tại sao không tràn; lại rộng sâu như thế? Dù có châu báu, nhưng ai có thể lấy được nên cho rằng không có biển sâu như thế. Người si mê cũng thế, chỉ nghe nói tên Phật, tên Pháp, chứ không nghe tới công đức cao sâu, trí huệ pháp tướng chân thật; hoặc nghe kinh nói tới rốt ráo Niết Bàn, được vô lượng pháp bảo, đạt đến đại giải thoát, làm cho chúng sanh được con mắt vô ngại của Phật. Các pháp không tăng không giảm, trí huệ vô biên vô bờ, công đức vô cùng vô tận khó dò tới ngằn mé. Tất cả chúng sanh không thể đo lường, cũng không dễ gì làm hoại được. Ví như đại hải không lưu giữ thây chết, Phật Pháp cũng thế, những kẻ tà kiến xấu ác, mất huệ mạng không thể ở trong Phật Pháp. Cũng như biển cả chỉ có một vị mặn, Phật Pháp cũng như thế, thẳng đến Niết Bàn, là vị giải thoát. Người ngu si nghe thế không thể tin hiểu, cho rằng không thể có như vậy, pháp ấy không chân thật.

Này Bạt Bà Ðà La, quán xét người ngu si ấy, không biết từ đâu sanh ra rồi đi về đâu? Sau khi chết sẽ tới chốn nào? Trong đời quá khứ người kia đã làm hạnh gì mà không biết nghiệp duyên, không biết quả báo. Ở đời vị lai nên hành pháp gì, được quả báo gì để thực hành trí đạo, là biết hành đạo. Nếu người ngu si ấy ở trong giáo pháp sanh tưởng phi pháp, ta khá chê họ không biết nghĩ tới pháp chân thật. Sau khi ta diệt độ họ không thể nương theo kinh điển tu hành.

Này Bạt Ðà Bà La, ta đã nói trong các kinh, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người hủy báng Phật – Pháp – Tăng, các Thầy cũng chớ nên sân hận lo buồn mà nên nghĩ thế này: nếu chúng ta sanh tâm sân hận thì chảng phải hàng sa môn, cũng chẳng phải pháp sa môn, không hợp với Ðạo. Nếu sa môn không theo đúng pháp thì rốt cuộc không thể hiểu rõ thông suốt pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác.

 

Chú thích:

1/  Hạnh viễn ly: tu hành ở chỗ vắng vẽ một mình. Xa lánh những nơi ồn náo, chỗ thị thành đông người tranh đua phức tạp. Nơi thích hợp cho việc tu tập này là núi cao, rừng vắng gần với thiên nhiên.

2/ Kiết hạ an cư: Thời Phật còn tại thế trong ba tháng hạ, mùa mưa, Phật cùng chư đệ tử xuất gia kết các giới cấm, ở an một chỗ tu tập nhiếp niệm thân tâm thanh tịnh để có thời giờ tham thiền, tu tập… Vào tiết mùa hạ ở Ấn Ðộ thường có những trận mưa giông lớn; những loại côn trùng cũng sinh nở nhiều vào mùa này. Vì lòng từ bi, Phật muốn tránh cho

hàng đệ tử dẫm đạp loài chúng sanh dưới đất, nên chế phép an cư ba tháng, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy âm lịch.

Cứ theo lệ ấy, ngày nay chư Tăng các nước vâng theo lời Phật dạy tổ chức 3 tháng tu tập này. Tuy nhiên thời tiết tại mỗi quốc độ có thay đổi, việc an cư kiết hạ vì thế cũng đổi thay thời gian đôi chút cho phù hợp.

3/ Pháp vương tử: Con đấng pháp vương, tức chỉ đức Phật. Những vị đại đệ tử hầu cận đức Phật đều được tôn hiệu là pháp vương tử đi liền sau tên riêng.

4/ Du hóa: đi khắp mọi nơi hóa độ chúng sanh mà thầy tỳ kheo ngày đi đêm nghỉ lại ở bất cứ nơi nào, không luận nhà cửa hay tịnh xá. Ðức Phật Thích Ca chính là người hành hạnh du hóa này trong suốt 49 năm truyền giáo của Ngài.

5/ Hạnh đầu đà hay tu khổ hạnh, tức hạnh tu ép xác như tắm suối lạnh mùa đông, ngồi trên lửa, đứng một chân, ăn thuần rau cải hoặc trái cây v.v… như đức Phật khi xưa chẳng hạn.

6/ Áo nạp tức áo bá nạp; bá: trăm, nạp: vải vụn. Ðem kết hợp 100 thứ vải vụn lại thành chiếc áo thầy tỳ kheo mặc để không ai còn thấy tướng đẹp nữa cho dễ việc tu hành. Chiếc áo nạp cũng tượng trưng cho mãnh ruộng công đức để người tín đồ gieo phước lành.

7/ Ba y: Thầy tỳ kheo khi thọ giới phải sắm đủ ba y mới hợp pháp là y Tăng Gìa Lê hay đại y, gồm 9 điều, 12 điều, 17, 21 hoặc 25 điều, Uất Ða La Tăng là y 7 điều và An Ðà Hội là y 5 điều.

(điều là do từng mãnh hay từng ô vải. Y  7 điều có 7 mãnh vải, 5 điều có 5 mãnh vải kết lại với nhau thành chiếc y). Sự nghiệp của người tu Phật chỉ có ba chiếc y này và một bình bát mà thôi. Y pháp là vật cần có luôn bên mình người tu, nên gọi là “y pháp bất ly thân” là thế.

8/ Sáu loài hay 6 đường trong vòng sanh tử luân hồi là trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

9/ Y Tăng Gìa Lê (Xem chú thích 7 ở trên)

10/ Vô học: Tu chứng quả A La Hán (Tiểu Thừa) và Bồ Tát hay Phật quả (Ðại Thừa) là vô học, tức có ý nói không còn phải học gì nữa cả.

11/ Tứ binh: bốn đạo binh thời xưa là đội binh voi, đội binh ngựa, đội binh xe (xa binh) và bộ binh của vua thường dùng.

12/ Hữu học: Hành giả còn đang ở địa vị tu tập, nghiên tầm giáo pháp để dứt phiền não hoặc nghiệp, gọi là bậc hữu học. Chứng 3 quả vị đầu trong bốn Thánh quả: Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm,  A Na Hàm của Tiểu Thừa gọi là hữu học.

13/ Sắc, thọ, tưởng, hành, thức: trong 5 yếu tố của sắc thân và tâm thức đều không có tự tánh, nên đều là không.

14/ Ðại từ, đại bi, đại hỷ, đại xã: tức bốn vô lượng tâm: từ – bi – hỷ – xả mà chỉ có Phật, chư Bồ Tát mới có tâm đại lượng bình đẳng này đối với mọi loài chúng sanh.

15/ Ba la mật: Tàu dịch là đáo bỉ ngạn, có nghĩa là đến bờ bên kia, tức bờ giác hay bến giác; đối lại với bờ bên này là bờ mê hay bến bờ sanh tử.

16/ Tam muội hay Tam ma địa (Samadhi) hoặc tam ma đề là phép thiền định cao tột, nên còn gọi là nhập đại định.

17/ Giải thoát, giải thoát tri kiến: giải là lìa khỏi sự trói buộc của mê lầm hoặc nghiệp; thoát là vượt ra ba cõi (dục, cõi sắc và cõi vô sắc). Giải thoát tri kiến : xa lìa chỗ biết, chỗ thấy hạn hẹp cố chấp của phàm phu, đạt đến tri kiến của bậc Thánh.

18/ Tứ vô đẳng trí: Bốn trí của hàng Thánh giả khó thể sánh lường (vô đẳng). Ðó là: 1- Ðạo huệ trí: trí biết rõ cái Thật Tánh, tức Chân Tánh. 2- Ðạo huệ chủng trí: biết khắp cả mười phương pháp giới. 3- Nhứt thiết trí: trí biết tất cả các pháp, các tướng tịch diệt. 4- Nhứt thiết chủng trí: trí biết các pháp hoàn toàn, các tướng đều tịch diệt, biết trọn vẹn hết thảy không ngăn ngại.

19/ Sa môn: Tăng sĩ Phật Giáo đã thọ đủ giới luật; có ba nghĩa:

1-Tức giả: người dứt bỏ cá việc ác. 2- Cần giả: người siêng năng làm điều thiện giúp kẻ khác tăng trưởng đạo tâm cho lòng từ bi phát triển. 3- Bần giả: người chịu thiếu, chịu nghèo chẳng giữ của cải, chẳng có chi gọi là của mình. Sa môn còn gọi là bần đạo, bần giả, ý nói nhà tu thiếu thốn vất vả, không chứa giữ của cải, không tư sản; cũng gọi là đại sa môn hay tỳ kheo.

20/ Tam thiên đại thiên thế giới: ba nghìn đại thiên thế giới. Một thế giới như thế giới chúng ta là 1×1000 của tiểu thiên thế giới. Một trung thiên thế giới có 1000×1000=

1,000, 000. Một đại thiên thế giới có 1000x1000x1000= 1, 000,000,000. Một tam thiên đại thiên thế giới hay một đại thiên thế giới gồm 1,000 triệu tiểu thế giới.

Con số 3 nghìn đại thiên thế giới bao hàm các thế giới có chúng hữu tình đang sinh sống như trong kinh thường dẫn dụ. Ðiều này chứng tỏ cho thấy rằng ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác đang thành hình, tồn tại hay hoại diệt.

21/ Ðàn ba la mật, thi ba la mật, sằn đề, tỳ lê da, thiền định, trí tuệ: tức là 6 pháp lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.

22/ Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di: bốn chúng đệ tử của Phật gồm hai chúng nam nữ Phật Tử tại gia và hai chúng xuất gia. Ưu bà tắc tiếng Phạn là Upasak, tức người nam Phật tử đã quy y Tam Bảo và thọ 5 giới, có pháp danh (tên đạo) do vị Thầy truyền giới đặt. Ưu bà tắc còn gọi là cận sự nam: người nam gần gủi phụng sự ngôi Tam Bảo để phát triển đạo đức, phước trí…; Ưu bà di tiếng Phạn là Upasika, người nữ Phật Tử… (như trên).

23/ Thất bảo: bảy thứ báu như vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.

24/ Do tuần: đọc là do diên hoặc du thiên na hay Yojana, tên số mục để đo lường của Ấn Ðộ thời xưa. Một do tuần  bằng 16 dặm (lý) của Tàu mà một dặm bằng 576 mét, thì một do tuần bằng 9,216 m tương đương với 1 km.

25/ Bát công đức thủy: nước tám công đức, tức nước ao hồ thuần tịnh ở cõi Cực Lạc có đầy đủ tám công đức: 1- lắng trong, 2 – sạch mát, 3 – ngon ngọt, 4 – dịu dàng, 5 – thấm nhuần, 6 – an hòa,7 – lúc uống trừ được đói khát và vô số sự lầm lỗi lo âu, 8 – uống xong bổ khỏe các căn về thân thể và về tinh thần.

26/ Pháp tổng trì: pháp nhập vào đại định, chỉ có Phật  mới đạt được pháp định này.

27/ Cú môn: tiếng Phạn là Pada hay Padakàya dịch là cú, tức bao hàm nghĩa lý của các pháp sai khác, làm cho người ta hiểu ngay vấn đề gọi là cú; môn là pháp hay một lãnh vực chuyên biệt.

28/ Tám phương là Ðông, Tây, Nam, Bắc, Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc. Nếu cộng chung hạ phương và thượng phương thành 10 phương.

29/ Ba thứ phiền não làm chướng ngại sự tu hành giải thoát trong ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Ðó là những thế giặc nguy hiểm nhất, nếu hành gỉa không lập bộ quốc phòng để phòng ngự thì giặc sẽ nhiễu loạn bất cứ lúc nào.

30/ Ðạo vô thượng chánh đẳng chánh giác: giải thoát, giác ngộ hay đạo Bồ Ðề, tức thành Phật.

31/ Vô lậu: không còn lọt, rơi sót lại phiền não; chẳng bị phiền não hoặc nghiệp chi phối tâm tư hành giả nữa, tức là giải thoát khỏi sanh tử.

32/ Thập lực: 10 trí lực của Phật gồm có: 1- Trí biết sự đúng sai (tri thị xứ phi xứ trí lực), 2- biết nhân qủa của chúng sanh trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai (tri tam thế nghiệp báo trí lực), 3- biết các lớp lang tu hành của chúng sanh, biết sức thắng tình dục bằng sự tham thiền (tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực), 4- biết tâm tánh của mọi loài chúng sanh (tri chúng sanh tâm tánh trí lực), 5- biết chúng sanh hiểu đạo tới đâu; biết rõ sự nhận hiểu của thế gian và xuất thế gian (tri chủng chủng giải trí lực), 6- biết hết các cảnh giới giống nhau hoặc khác nhau trong mười phương pháp giới (tri chủng chủng giải trí lực), 7- biết hết phần hành hữu lậu của 6 cõi chúng sanh và phần hành Niết Bàn vô lậu đến đâu, tức biết hết các đường mà chúng sanh theo để được giải thoát (tri nhứt thiết sở đạo trí lực), 8- thấy biết mọi việc của chúng sanh trong vô số thế giới thấu suốt không bị ngăn ngại. Thấy biết đường sanh tử và việc tạo nghiệp thiện ác của họ (tri thiên nhãn vô ngại trí lực), 9- biết rõ nhiều đời nhiều kiếp lâu xa về trước của chúng sanh (tri túc mạng vô lậu trí lực), 10- biết đoạn dứt hết mọi tập khí (những thói hư tật xấu bám rể thành nếp sẵn) làm cho các thói quen đều đoạn tuyệt (tri vĩnh đoạn tập khí trí lực).

33/ Tứ vô sở úy: bốn đức dạn dĩ không sợ sệt. Phật và Bồ Tát có đủ bốn đức tánh ấy nên dễ giáo hoá chúng sanh, không còn khiếp sợ. Ðó là:

1- Trí biết khắp tất cả

2- Dứt sạch hết mọi phiền não

3- Nói rõ chỗ ngăn chướng đạo, nên không còn e sợ

4- Giảng dạy để dứt trừ sự khổ, nên chẳng còn sợ sệt chi cả.

34/ Hý luận: Nói bàn suông theo thế gian không ăn nhập gì với Phật Pháp, làm trở ngại sự tu hành giải thoát. Ðây là một chướng nạn ngăn che tâm hành gỉa trên bước đường tu tập đạo Bồ Ðề.

35/ Vô úy: không sợ, tức người có một sức mạnh tinh thần dũng mãnh. Chính mình không sợ bất cứ việc gì và cũng ban cho người tánh không sợ sệt.

36/ Thọ ký: Những đệ tử có căn cơ, trình độ chứng ngộ chân lý được Phật truyền tâm ấn hay ấn chứng để thành Phật, Bồ tát hay Tổ; cũng chỉ định quốc độ, số chúng hội, tuổi thọ dài ngắn  v.v… cho người kế tục, tức là thọ ký.

37/ Tam minh, lục thông: Ba món trí huệ sáng suốt và sáu phép thần thông của bậc Thánh.

Tam minh là:

1-Túc mạng minh: Biết rõ kiếp trước của mình và người một cách thấu suốt, 2- Thiên nhãn minh: mắt thấy thấu suốt các cõi không bị ngăn ngại, 3- lậu tận minh: trí sáng rỡ làu làu, diệt tận hết các phiền não.

Lục thông là:

1-Thiên nhãn thông: con mắt thông suốt được các cõi trời, cõi chúng sanh , 2- thiên nhỉ thông: nghe khắp hết mọi ngôn ngữ, âm thanh của chúng sanh, 3- túc mạng thông: biết rõ kiếp trước của mình và người, 4- tha tâm thông: biết rõ tâm niệm chúng sanh,  5- thần túc thông: có sức biến hoá phi thường, dạo đi khắp đó đây trong tích tắc, 6- lậu tận thông (xem lậu tận minh trên).

38/ Lục nhập: Sáu pháp hay 6 trần cảnh bên ngoài tiếp xúc các căn của thân thể. Ðó là màu sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và pháp.

39/ Chiên đà la: hạng người hạ tiện nhất Ấn Ðộ thời xưa chuyên nghề hàng thịt, đánh cá và làm nô bộc. Người nam gọi là chiên đà la, người nữ gọi là chiên đà lỵ mà từ Pali gọi là Pariahs hay bất xúc dân (intouchable), không được tiếp xúc đụng chạm tới những người giai cấp khác.

40/ Chấp đoạn, chấp thường: hai lối kiến chấp cho rằng: con người sau khi chết là hoàn toàn mất hẳn (chấp đoạn), hoặc sau khi chết vẫn trở lại làm người (chấp thường). Cả hai lối kiến chấp ấy đều sai lầm cả, không đúng với Phật pháp.

41/ Diệt độ, tịch diệt, thị tịch hay nhập Niết Bàn chỉ đức Phật hay các bậc Thánh qua một chặng đường hiện thế hành đạo.

42/ Pháp tràng: Nơi thiết lập đạo tràng trang nghiêm để giảng pháp cho thính chúng nghe mà tu tập đạo giác ngộ.

43/ Hữu lậu: hữu là có; lậu: rỉ, lọt, chảy rơi tràn, sót lại, chỉ kẻ phàm phu còn phiền não nghiệp chướng buộc chặt chưa thể giải thoát được.

44/ 32 tướng tốt: Phật đủ 32 tướng tốt là: 1- Mười đầu ngón tay và chân có xoáy tròn ngay chính giữa,2- ngón tay thon dài, 3- tay chân mềm mại, 4- tay, chân có màng lưới giao tiếp, 5- gót chân đầy đặn, 6- mu chân cao đẹp,7- vế tròn lám như con hưu, 8- tay dài quá gối, 9- dương vật ẩn tàng như dương vật con ngựa, 10- mình cao lớn,  từ chân đến đầu cao bao nhiêu, hai tay duỗi ra cũng bằng ấy, 11- lỗ chân lông sinh sắc xanh, 12- lông trên mình chia xoáy hướng đều, 13- thân sắc vàng, 14- lòng bàn chân có nghìn vòng xoáy, 15- luôn luôn có hào quang phóng xa một trượng, 16- da dẻ mịn bóng, 17- lòng bàn chân, tay, hai vai, đỉnh đầu đều đầy đặn, bằng, 18- hai nách đều đặn, 19- thân uy nghiêm như sư tử, 20- thân hình đoan chánh, 21- vai tròn đầy, 22- bốn mươi cái răng, 23- răng trắng, bằng và khít, 24- bốn răng cửa trắng sạch, 25- gò má đầy như má sư tử, 26- nước tân dịch trong cổ họng có thượng vị, 27- lưỡi rộng dài, 28-tiếng vang xa và trầm ấm, 29- con ngươi mắt xanh biếc, 30- lông mi mắt cong dài, 31- khoảng giữa hai lông mày có tia hào quang trắng, 32- đầu có thịt nổi lên như búi tóc (nhục kế).

45/ Tám mươi vẻ đẹp: căn cứ 32 tướng tốt mà phân biệt tỉ mỉ ra như: 1- vô kiến đãnh tướng (tướng nhục kế cao không trông thấy được), 2- mũi cao không thấy lỗ, 3- lông mày cong vòng nguyệt, 4- vành tai rủ xuống, 5- thân mình rắn chắc như lực sĩ, 6- chỗ đầu xuơng giao nhau như vòng câu, 7- thân không nghiêng vẹo, 8- khi đi chân cách đất 4 tấc mà vẫn có dấu chân in xuống đất, 9- móng tay, chân mỏng và bóng như đồng đỏ, 10- ngón tay tròn, thon, nhỏ, 11- dung nghi đầy đủ, 12- có uy đức chấn động mọi loài, 13- hết thảy chúng sanh trông thấy đều vui, 14- mặt không dài, lớn, 15- dung mạo nghiêm chỉnh sắc không biến đổi, 16- môi sắc đỏ như thoa son, 17- tiếng nói rền vang như sư tử gầm, 18- mặt đầy đặn trong sáng như mặt trăng, 19- miệng luôn tỏa mùi thơm ngát, 20- dung nghi đỉnh đạc như tiếng sư tử, 21- mắt  dài rộng, 22- tay chân trắng hồng như màu hoa sen, 23- bụng thon nhỏ, 24- thân không rung động, nghiêng vẹo, 25- thân cao lớn, 26- tay chân mềm, sạch, trơn, bóng, 27- hào quang bốn bên phóng ra xa một trượng, 28- thuyết pháp âm theo tiếng nói của chúng sanh, 29- cất giọng nói hợp tiếng chúng sanh, 30- hết thảy chúng sanh xem dung tướng mãi không chán, 31- tóc dài mượt, 32- tóc không rối, 33- tóc cuộn quăng, 34- màu tóc như ngọc xanh, 35- tay chân coi dáng có đức, 36- nói chung toàn thân hình tỏa ra phước tướng trang nghiêm v.v… từ lỗ chân lông, từ nét đặc biệt tạo thành 80 vẻ đẹp.

Ấy là nhờ công đức tu hành tích lũy từ nhiều đời kiếp trước mới có được thân tướng như Phật.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.