Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ

QUYỂN 05

Đời nhà Đường Sa môn Pháp Tạng thuật.

 

Phẩm 9: PHẬT THĂNG TU DI ĐẢNH

Đem giải thích văn này, có bốn môn như trước.

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI có hai:

1. Tên gọi của Hội, dựa theo pháp gọi là Hội Thập Trú, dựa theo nơi chốn gọi là Hội Đao Lợi Thiên, dựa theo giải thích có thể biết.

2. Tên gọi của Phẩm, Phật là Hóa chủ động tĩnh vô ngại, không đi mà tới cho nên gọi là Thăng. Lên cao đến nơi nào? Đó là đỉnh núi Tudi. Tu-di, Trung Hoa nói là núi Diệu Cao, nghĩa là do bốn loại quý báu mà làm thành cho nên nói là Diệu, đó là phía Đông vàng ròng-phía Tây bạc trắng-phía Nam pha lê-phía Bắc mã não, các núi khác chỉ có vàng cho nên không phải là Diệu; một mình vượt ngoài chín núi cho nên nói là Cao, cao tám vạn bốn ngàn Do-tuần, dài-rộng bằng nhau, cũng gọi núi An Minh. Đỉnh là đỉnh núi, nghĩa là chính giữa đỉnh núi này có cung của Đế Thích, bốn mặt đều có tám khối đất như đài cao, cách cung của Đế Thích trong ba Do-tuần có riêng cung thành của 32 cõi trời phụ giúp Đế Thích, cùng với cung của Đế Thích là 33. Nay đi đến cung của Đế Thích cho nên nói là Đỉnh. Dựa theo nơi chốn biểu thị cho pháp, trình bày về Thập Trú thành tựu phần vị thù thắng không lui sụt, cho nên ở trên đỉnh núi, tức là thuận theo ba nghĩa về con người- tác dụng và nơi chốn mà lập ra tên gọi.

Hỏi: Sao không thuyết pháp ở trong loài người?

Đáp: Bởi vì hiển bày về phần vị của Hành dần dần tiến lên cao, lại biểu thị cho thành tựu phần vị lìa nhiễm cho nên ở cõi trời.

Hỏi: Sao không đến cõi trời Tứ Thiên Vương?

Đáp: Có ba ý: 1) Bởi vì cõi ấy là quỷ- thần-trời xen lẫn, hiển bày về pháp không phải là thù thắng cho nên vượt lên trên; 2) Bởi vì dựa vào pháp mà Thập Tín là phần vị lui sụt thuộc ngoại phàm, Thập Trú là phần vị không lui sụt thuộc nội phàm, muốn biểu hiện về tiến-lùi khác xa nhau cho nên vượt qua cõi trời Tứ Thiên Vương; 3-Nếu chưa đến đỉnh núi thì có thể có tiến-lùi, đến trên đỉnh núi thì an trú không lui sụt, vì thế cho nên vượt qua cõi trời ở lưng chừng núi kia đến nơi đỉnh này để biểu thị cho pháp.

B. Ý đưa ra cũng có hai:

1. Đưa ra Hội, một là đáp câu hỏi về Thập Trú trước đây; hai là trước đây đã trình bày về Tín, nay hiển bày dựa vào Tín phát khởi về Giải cho nên tiếp tục đưa ra; ba là Tín trước đây chỉ là phương tiện trước phần vị, phương tiện đã đầy đủ, phần vị chính thức hiển bày rõ ràng cho nên tiếp tục đưa ra.

2. Đưa ra Phẩm, phẩm trước phân rõ về Tín đến cuối cùng, nay sắp đi đến phần vị sau cho nên đưa ra.

C. TÔNG THÚ cũng có hai:

1. Tông của Hội cũng có hai: a) Dựa theo người, đó là Hóa chủ và Trợ hóa, đều có Thể-Tướng-Dụng, dựa vào Tín thì Trú có thể biết; b) Dựa theo pháp, đó là giáo nghĩa của Thập Trú, trong Nghĩa thì lấy pháp giới bình đẳng làm Thể, phần vị thực hành của Thập Trú làm Tướng, thuận theo giáo đã nói ra làm Dụng; trong Giáo thì lấy sáu quyết định làm Thể, Thập Trú không giống nhau làm Tướng, lợi ích cho căn cơ làm Dụng. Tương tức vô ngại, dựa theo trên để suy nghĩ điều đó.

2. Tông của Phẩm là dùng nơi chốn trang nghiêm thỉnh cầu Đức Phật, Như Lai hướng đến cảm ứng làm Tông.

D. GIẢI THÍCH VĂN: Ngay trong Hội này có sáu phẩm phân hai: Hai phẩm đầu trình bày về phương tiện phát khởi tức là phần Tựa, bốn phẩm còn lại là Chánh tông của Hội này.

Trong phần trước có hai: Phẩm đầu là Tựa về Như Lai ứng cảm trình bày quả đức đầy đủ; phẩm sau trình bày Tựa ca ngợi ánh sáng quy tụ chúng trình bày về nhân đức tròn vẹn, tức là hiển bày trong phần vị Thập Trú đầy đủ nhân quả vốn là tông tròn vẹn đầy đủ.

Trong phẩm trước có ba: Một là phân rõ về hóa duyên; hai từ “Nhĩ thời Đế Thích…” trở xuống là căn dục trang nghiêm; ba từ “Nhĩ thời Thế tôn…” trở xuống là trình bày về căn duyên khế hợp.

Trong phần một có hai: Trước là Thể dung hòa rộng khắp pháp giới; sau là trình bày về Dụng dung hòa, nghĩa là không chuyển động mà tiến lên.

Trong phần trước: Một câu đầu trình bày về nguyên cớ của Thể dung hòa, đó là Phật lực; phần sau trình bày về Tướng dung hòa khắp nơi. Trong đó mười phương đều có Diêm-phù-đề của mỗi một phương…, 722 là phẩm Quang Minh Giác trên đây đã phân rõ. Mười phương đều có… cho đến trong thế giới như bất khả thuyết-bất khả thuyết hư không pháp giới…, đều có Phật Lô-xá-na dưới tán cây Bồ-đề, đều cùng với Hải hội chúng Bồ-tát và Văn Thù Sư Lợi cho đến Hiền Thủ…, tất cả đều thuyết pháp. Bởi vì các Hội chúng đều không xen tạp, cho nên nói là tự tại. Nay đều cùng lúc quy tụ chúng, đều lên cao trên cõi trời của cõi mình, mà không lìa xa nơi chốn của mình. Nếu dựa theo trong Tiểu thừa-Tam thừa… nói thì trải qua thi thiết giáo hóa, chỉ luận về nơi nào đó…, không có một nói-tất cả nói… như ở đây. Nay muốn trình bày về pháp Nhất thừa, tức là chủ-bạn viên minh bởi vì pháp như vậy. Trong đó: 1) Ba thế gian dung hòa; 2) Y và Chánh dung hòa; 3) Ở trong Chánh báo có Tam Bảo dung hòa với nhau, nghĩa là nói các loại pháp là Pháp bảo, Bồ-tát là Tăng, bởi vì hướng về Như Lai; 4) Đối với các Bồ-tát có ba nghiệp dung hòa, đó là biểu hiện rõ ràng là thân, thuyết pháp là ngữ, tự mình nói là ý.

Hỏi: Sao cần phải quy tụ chúng này?

Đáp: Muốn trình bày đầy đủ chủ-bạn, bởi vì hễ một pháp khởi lên thì cần phải có đủ tất cả.

Hỏi: Tại sao đều lấy cây Bồ-đề làm căn bản?

Đáp: Bởi vì là nơi đạt được pháp đầu tiên, lại bởi vì là cửa ngõ giác ngộ.

Thứ hai là trong Dụng dung hòa, một câu đầu là nguyên cớ của Dụng dung hòa, tiếp đến không rời khỏi… là chính thức trình bày về tướng của Dụng. Trong này, không rời khỏi nơi này mà lên cao trên cõi kia, người xưa có ba cách giải thích: Một nói rằng thân Thích-ca vốn có không rời khỏi cây Bồ-đề mà khởi lên thân ứng hóa khác để lên trên cõi trời. Nếu theo cách giải thích này thì thân lên trên cõi trời là trở lại Hóa thân, đã không phải là sâu xa vi diệu, sợ rằng trái với ý văn. Một nói rằng không rời khỏi là Pháp thân, lên trên cõi trời là dụng của Hóa thân. Điều này sợ rằng không hợp lý, lẽ nào có thể Pháp thân an tọa nơi cội Bồ-đề? Một nói rằng lên trên cõi trời này là không hướng về mà đến, bởi vì hướng về tức là không hướng về, cho nên không rời khỏi; không hướng về tức là hướng về, cho nên lên trên cõi trời; như tướng không đến mà đến gọi là thiện lai… Nếu theo cách giải thích này thì chỉ là không có tướng lên cao mà lên trên cõi trời, không phải là dưới cội cây này có thân không rời khỏi, cho nên cũng khó mà sử dụng. Nay giải thích văn này sơ lược có tám nghĩa:

1. Dựa theo Xứ tức là tìm được lối vào, nghĩa là bởi vì trong một

Xứ có tất cả Xứ, cho nên cung trời… này tức là xưa nay ở trong phần dưới tán cây chúa kia, cho nên nói là không rời khỏi. Nhưng trước chưa sử dụng Xứ của cung trời này, nay muốn ở trong đó thuyết pháp, bởi vì sử dụng cho nên nói là lên cao. Lại ngay trong nhau cho nên không rời khỏi, môn riêng biệt cho nên có lên cao.

2. Dựa theo Phật, nghĩa là thân Phật an tọa dưới tán cây chúa này tức là tất cả Xứ khắp pháp giới, vì vậy thân Phật xưa nay ở các Xứ như cõi Đao Lợi… kia, cho nên không cần phải rời khỏi, nay muốn dùng Phật trong môn Đao Lợi này cho nên nói lên cao. Vì vậy nếu rời khỏi thì không thành lên cao.

3. Dựa theo Thời, nghĩa là bởi vì thân Phật trên tòa dưới tán cây này tức là tất cả mọi lúc thuộc chín đời-mười đời như khắp thời gian trước sau… Vì vậy lúc Phật an tọa dưới tán cây này lên trên cõi trời, lúc đi cho đến lúc ở cõi trời, mỗi một lúc này đều khắp pháp giới thâu nhiếp tất cả thời gian trước sau, tức là biết lúc an tọa dưới tán cây, pháp vĩnh viễn không có lúc rời khỏi, nói là không rời khỏi. Nếu lúc đang đi thì cũng như vậy, cho nên chỉ có đi chứ không có gì khác, đều niệm niệm không cùng nhau đến, tất cả đều thu vào pháp giới, như vậy môn duyên khởi vô ngại luôn luôn không xen tạp.

4. Dựa theo Pháp giới môn, nghĩa là sự lên cao này loại trừ không có tự tánh, cho nên đã thâu nhiếp Chân như pháp giới. Bởi vì an tọa dưới tán cây ấy… cũng không khác với Chân như, giống với Chân như hiển bày rõ ràng ở môn trước, cho nên không rời khỏi mà lên cao.

5. Dựa theo Duyên khởi môn, nghĩa là ngồi do đi mà ngồi, ngồi quyết định ở trong đi; đi do ngồi mà đi, đi quyết định ở trong ngồi. Vì vậy do ngồi trong đi cho nên lên trên cõi trời tức là không rời khỏi, do đi trong ngồi cho nên không rời khỏi mà lên trên cõi trời. Đi và ngồi vô ngại cho nên tức là lên cao mà thường ngồi, tức là ngồi mà luôn luôn lên cao.

6. Dựa theo đức không thể nghĩ bàn của Phật, nghĩa là không rời khỏi nơi này mà ngồi tức là đi-tức là nằm-tức là đứng, tức là đến tất cả nơi chốn, tức là làm tất cả sự việc, đều không phải là sự nhận biết của Địa dưới.

7. Dựa vào pháp đã biểu hiện, nghĩa là biểu hiện phần vị trước thực hành thành tựu đến cuối cùng kiên cố không hoại, cho nên nói là không rời khỏi tòa ngồi trước đây, mà có công dụng đến với căn cơ, cho nên nói là lên cao.

8. Dựa theo Hội thành tựu, nghĩa là Hội sau nhất định phải đầy đủ

Hội trước, cho nên không rời bỏ trước mà thành tựu sau; nếu rời bỏ thì hư hoại duyên khởi, vì vậy không rời khỏi thời gian trước mà lên cao ở thời gian sau.

Thứ hai trong phần căn dục trang nghiêm, từ xa trông thấy Đức Phật đến, là dựa theo Phật thì Dụng từ Thể khởi lên, dựa theo cơ-cảnh vốn là từ tâm mà hiện. Trong đó có hai: 1-Trang nghiêm pháp tòa biểu thị cho tướng, trong đó trước là tổng quát-sau là riêng biệt, trong riêng biệt thì đầu là Báo bên ngoài-sau là Báo bên trong. 2-Từ “Hiệp chưởng…” trở xuống là phân rõ về mong muốn của căn.

Thứ ba trong phần căn duyên khế hợp cũng có hai: Trước là lợi ích lên cao trên cung điện, sau là lợi ích lên cao trên pháp tòa. Trong phần trước có hai: Một là cảm ứng đi đến, hai là thành tựu lợi ích. Hai phần này đều có hai, đó là cõi này và kết luận nối thông.

Trong lợi ích có hai: Đầu là vắng lặng… nêu rõ về lợi ích đạt được Định; sau là kệ ca ngợi về lợi ích phát sinh tuệ, trong đó có hai, một là nhớ lại hạnh vốn có, hai là tụng về đức. Trong tụng lý thật thì tất cả chư Phật quá khứ Thể cùng với Dụng dung hòa, pháp vốn như vậy không có hai, đều ở tại cung điện này thuyết về pháp của Thập Trú, mà nay lại lần lượt chỉ nói đến mười Đức Phật là bởi vì hiển bày về vô tận, bởi vì nói đến Thập Trú.

Ca-diếp là họ, Trung Hoa nói là Ẩm Quang.

Câu-na-hàm Mâu-ni, Trung Hoa nói là Kim Tiên Nhân.

Câu-lâu-tôn, Trung Hoa nói là Sở Ưng Đoạn Dĩ Đoạn, nghĩa là phiền não sinh tử…

Tùy Diệp cũng gọi là Tì-xá-phù, Trung Hoa nói là Nhất Thiết Thắng, cũng nói là Biến Hiện, nghĩa là mọi nơi đều hiện thân.

Thi Khí, Trung Hoa nói là Hữu Kế.

Tỳ-bà-thi, Trung Hoa nói là Chủng Chủng Kiến, tên gọi mới là Tịnh Quán.

Phất Sa, Trung Hoa nói là Tăng Thạnh, bởi vì không có khuyết giảm, cũng là tên gọi một ngôi sao.

Đề Xá, Trung Hoa nói là Thuyết, nghĩa là thường thuyết pháp, cũng gọi là Quang.

Ba Đầu Ma, Trung Hoa nói là Xích Liên Hoa.

Đỉnh Quang là Phật Nhiên Đăng, Đức Phật này lúc là Thái tử mới đản sinh, tất cả thân mình giống như ngọn đèn đang cháy, cho nên gọi là Thái tử Nhiên Đăng, lúc Thái tử thành Phật cũng dùng tên gọi này.

Hỏi: Trong này, bảy Đức Phật sau là Phật trong kiếp Trang Nghiêm ở quá khứ, vì sao có thể ở cung trời Đao Lợi trong kiếp Hiền này để mà thuyết pháp?

Đáp: Cung trời này đều có thô-có tế, thô thì kiếp trước đốt cháy không còn, tế thì luôn luôn tồn tại; như trải qua trời người thấy kiếp không còn, nhưng cõi này của Ta thường an ổn… Vả lại, Tam thừa đã nói là Diệt, Nhất thừa đã phân rõ là Thường tồn tại.

Thứ hai trong phần lợi ích lên cao trên pháp tòa có hai, đầu là cõi này, sau là kết luận nối thông. Trong phần đầu có hai, đầu là lên cao trên pháp tòa, sau là phân rõ về lợi ích. Nghĩa là cung điện ấy rộng rãi, bởi vì khác với bình thường đã thấy, cho nên tình thức đã tiêu tan. Cùng là cõi trời, vốn là hiển bày về lý giống nhau. Lợi ích lên cao trên cung điện trước đây là con người, lợi ích lên cao trên pháp tòa ở đây là nơi chốn, vốn là hiển bày về Y-Chánh đều thù thắng.

Phẩm 10: BỒ TÁT VÂN TẬP

Bốn môn giống như trước.

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI: Bồ-tát là Thể; Vân là Tướng, bởi vì các Bồ-tát hàm chứa mưa pháp, bởi vì hàm răng và nướu răng theo nhau; Tập là Dụng, Điện là nơi quy tập. Diệu Thắng có ba nghĩa:

  1. Chúng của Đức Phật là Diệu Thắng, Diệu Thắng là cung điện.
  2. Trong cung điện ấy thuyết về pháp vi diệu thù thắng này.
  3. Cung điện tức là Diệu Thắng, bởi vì xứng tánh.

Nói kệ là ngữ nghiệp gọi là pháp giới, Bồ-tát như mây mà quy tập, đều dùng biện tài tuyệt vời tuyên dương công đức của Đức Phật, cho nên nói là phẩm Bồ-tát Vân Tập Thuyết Kệ.

B. Y: đưa ra, trước đây trình bày về Như Lai lên trên cõi trời sắp thuyết pháp, nhất định phải có cơ duyên được che phủ, cho nên tiếp tục đưa ra. Lại trước đây trình bày về quả đức đến với căn cơ, nay nhờ vào lực Trợ hóa, trước là chủ-sau là bạn vốn có nghĩa theo thứ tự.

C. TÔNG: nghĩa là phát ra ánh sáng quy tụ chúng, nói kệ ca ngợi làm Tông. Chúng có ba loại:

  1. Chúng trợ hóa, đó là Bồ-tát mười phương chịu ảnh hưởng của Như Lai.
  2. Chúng biểu thị cho pháp, đó là các pháp đứng đầu-các pháp trí tuệ-các pháp như rừng cây-các pháp như cột cao… đều dựa vào con người để biểu thị cho pháp.
  3. Chúng đương cơ, đó là giáo đã che phủ. Văn này gồm chung ba loại này.

D. TRONG GIẢI THÍCH VĂN có ba: Một là quy tụ chúng, hai là phát ra ánh sáng, ba là thuyết kệ.

Trong phần một có hai: Trước là cõi này, sau là kết luận nối thông.

Trong phần trước có hai: Một- Hiển bày về đã theo đến; Hai- Từ “Phật thần lực…” trở xuống là trình bày về Bồ-tát đến quy tụ.

Trong phần một có hai:

1. Trình bày về phần lượng, trước đây là mười-bây giờ là trăm, bởi vì hiển bày về hành vị dần dần tăng thêm. Ý trong này chọn lấy trăm thế giới Phật nghiền vụn làm thành bụi nhỏ (vi trần), như vậy theo phương Đông vượt ra ngoài số quốc độ như số bụi nhỏ ấy, có một thế giới tên gọi Nhân-đà-la; từ phương Đông nơi này lại vượt ra ngoài số quốc độ gấp trăm lần số bụi nhỏ như trên, có quốc độ tên gọi Liên Hoa; như vậy hướng về phương Đông có mười lớp thế giới, mỗi một lớp đều vượt ra ngoài số thế giới gấp trăm lần số bụi nhỏ. Sở dĩ nói đến mười lớp, là bởi vì hiển bày về vô tận. Như mười lớp thế giới ở phương Đông, chín phương còn lại cũng như vậy. Thế giới Phật-tên gọi Bồ-tát… đều giống nhau, cho nên nói là mỗi một phương đều có mười lớp thế giới…, đều nêu ra tên gọi như nhau. Đây là chỉ dựa vào Hội ở một cung trời này, thế giới mười phương còn lại tất cả đều như vậy, là Hội pháp giới vô biên mà thôi, nghĩa là một Hội-tất cả các Hội…, như phần kết luận nối thông phân rõ.

2. Chính thức hiển bày về tên gọi của ba thế gian ở xứ sở này. Thế giới ấy gọi là Tạp, vốn là biểu thị cho pháp tướng đã giải thích không phải là một. Phật cùng tên gọi là Nguyệt, đây là tướng của quả trong Trú, có ba nghĩa: Một, dựa theo Thể là nghĩa về đầy đủ trọn vẹn; hai, dựa theo Dụng là nghĩa về ánh sáng chiếu rọi; ba, dựa theo Đức là nghĩa về mát mẻ trong lành. Lại đầu là Chánh Thể, tiếp là Hậu Đắc, sau là Đại Bi, dùng Nguyệt để biểu thị so sánh. Bồ-tát cùng tên gọi là Tuệ, là tướng của nhân trong Trú, đó là thông hiểu rõ ràng về nghĩa ChânTục, đều hướng về Đức Phật này mà tu Phạm hạnh, là hiển bày về nhân dựa vào quả mà thành tựu, vốn là thuận theo nhau.

Trong phần hai là chính thức đến quy tụ, có hai: 1) Đến nơi này chào hỏi cung kính; 2) Chào hỏi cung kính rồi an tọa. Đều nói đến Phật lực là nguyên cớ đến đây an tọa, lực của quả gia hộ thành tựu. Đầy khắp mười phương là nghĩa về duyên khởi vô ngại.

Thứ hai trong phần Tựa về phát ra ánh sáng, có sáu: 1) Người phát ra ánh sáng. 2) Nơi phát ra ánh sáng, đó là như ngón chân dựa vào đất mới đứng vững được, biểu thị cho Thập Trú này thành tựu phần vị không lui sụt, cho nên gọi là Trú. 3) Số của ánh sáng. ) Tướng của ánh sáng, đó là tướng tách ra rõ ràng sáng rực cho nên nói là diệu sắc, cũng là tên gọi. 5) Nơi ánh sáng chiếu rọi, đó là phẩm Quang Minh Giác trước đây đã phân rõ, lại là nơi của các văn kết luận nối thông, phẩm trước thì Phật lực hiển bày rõ ràng về các thân dưới tán cây Bồ-đề, nay ánh sáng chiếu rọi dưới tán cây và trên cõi trời. ) Như Lai và Đại chúng… là trình bày do chiếu rọi mà hiển bày rõ ràng tất cả cùng nhau làm thành một Hội pháp giới viên minh, lại nói là đỉnh Tu-di dưới tán cây, biết rõ điều đó.

Thứ ba trong phần kệ ca ngợi, mười Bồ-tát tức là mười đoạn, một vị đầu là tổng quát, chín vị sau là riêng biệt.

Bởi vì là chủ nói pháp cho nên gọi là Pháp Tuệ, vì vậy tổng quát thuật về đầu đuôi của Hội này để hiển bày công đức của Đức Phật. Sau đều ca ngợi về đức sai biệt từ trong ý chỉ tổng quát này, cho nên tổng quát và riêng biệt vô ngại, chỉ một thân Pháp giới của Như Lai. Trong đó, hoặc là tức Lý-tức Sự, tức Giáo-tức Nghĩa, tức Nhân-tức Quả, tức Người-tức Pháp, tức Tâm-tức Cảnh, viên dung tự tại, nêu ra Thể hoàn toàn thâu nhiếp. Những loại này tức là pháp trong Thập Trú. Các kệ sau thích hợp dựa theo nhận biết ý này. Trong kệ đầu phân hai: Trước là nói về sự việc của Hội này, sau là ba kệ giải thích nghi ngờ. Trong phần trước: Đầu là hai kệ nói về sự việc trong phẩm Thăng Thiên; tiếp là ba kệ nói về tướng quy tụ nơi này; tiếp là hai kệ nói về sự việc kết luận nối thông, trong đó trước là trình bày về nguyên cớ, sau là hiển bày về tướng ấy. Hai là giải thích chế phục nghi ngờ, nghi ngờ rằng: Phật quả tự tại có thể một thân hướng đến tất cả các Hội không có gì chướng ngại, nghĩ bàn không đến được, Bồ-tát là người thuộc nhân vị đã hạn chế không đầy đủ, vì sao cũng có thể khắp nơi như vậy? Trong giải thích có ba: Kệ đầu là sơ phát tâm sâu xa, kệ hai là tu hành sâu xa, kệ ba là thành tựu công đức sâu xa, cho nên có thể khắp nơi giống như Phật.

Hai là Nhất Thiết Tuệ, bởi vì hiểu rõ tất cả các pháp lìa xa tướng. Mười kệ phân năm: Một, ba kệ trình bày về Phật không phải là hư vọng giữ lấy mà thấy, kệ một là trình bày về Tiểu thừa Bồ-tát giữ lấy tướng thấy Phật chứ không nhìn thấy pháp chân thật, kệ hai là trình bày về phàm phu hư vọng nhiễm trước hoàn toàn không thấy Phật, kệ ba là trình bày về Nhị thừa tuy quán pháp mà chấp vẫn còn vướng vào giả danh của pháp. Hai, ba kệ trình bày về đã hư vọng giữ lấy không thấy, thì ai có thể thấy được? Nghĩa là lìa xa hư vọng đích thực hiểu rõ Phật thường hiện rõ trước mắt. Trong đó, kệ một là thấy Phật chân thật; kệ hai là không còn chủ động-thụ động, bởi vì không có thụ động giữ lấy cho nên không có chủ động nhìn thấy; kệ ba là hiển bày về lợi ích của quán. Ba, một kệ trình bày về hư vọng giữ lấy có gì sai mà không thấy? Đó là bởi vì ngu si tối tăm. Bốn, hai kệ trình bày về Phật chân thật có đức gì mà vượt lên trên hư vọng? Đó là bởi vì pháp giới thanh tịnh bình đẳng. Trong đó, kệ đầu là dựa theo Phật trình bày về nghĩa không sinh diệt của công đức thuộc Tu sinh, nghĩa là hai câu đầu trình bày về công đức tướng tốt lìa xa sinh diệt của ba đời, tức là thiết lập Tông; hai câu sau nêu ra hai nhân giải thích về thành tựu, một nói là dùng công đức này trú vào căn bản của Vô trú cho nên giống như Vô trú, lại hiển bày tức là không có tự tánh cho nên nói là Vô trú, vì vậy ngay nơi không sinh diệt mà không phải không có công đức; một nói là nếu Vô minh chưa hết, chướng ngại cách xa Chân như làm cho đức thuộc Tu sinh chưa hoàn toàn giống với Chân như cho nên có sinh diệt, nay thì ngược lại với điều này, Thỉ giác giống với Bổn giác cho nên nói là tất cả thanh tịnh, cho nên không sinh diệt. Kệ sau là dựa theo pháp, bởi vì thấy pháp duyên khởi tức là Phật, bởi vì nhân duyên sinh tức là không sinh, thấy lý Phật giống với kệ thứ tư không sinh diệt thấy Phật. Năm, một kệ sau cuối là suy ra công đức thuộc về gốc.

Ba là Thắng Tuệ, bởi vì Tuệ thanh tịnh-Nhãn thù thắng-trí sâu xa hiểu rõ về Phật, Trí sâu xa là thù thắng. Mười kệ phân năm: Một, ba kệ nêu ra sai lầm của tình thức hư vọng, kệ một là không nhận ra trí sâu xa của Phật, kệ hai là hư vọng giữ lấy làm chướng ngại tướng Phật, kệ ba là không nhận ra Ấm làm chướng ngại Pháp thân. Hai, hai kệ phân rõ về lợi ích của tuệ giải, trong đó trong kệ đầu nếu dựa theo Tam thừa quán về pháp không thật thì thấy lý Phật, Nhất thừa thì thấy thân pháp giới của Lô-xá-na gồm chung lý-sự; kệ sau là trình bày về Ấm chuyển Vô ngã là Phật. Ba, ba kệ ví dụ hiển bày về sai lầm trước đây, trong đó kệ một là tuy nhân thiếu mà duyên sai lầm; kệ hai là tuy duyên và nhân xen tạp sai lầm mà nói là bởi vì xen tạp Vô minh cho nên tâm không thanh tịnh, cũng là không có tín tâm; kệ ba là tuy duyên thiếu mà nhân sai lầm. Bốn, một kệ ví dụ hiển bày về lợi ích trước đây. Năm, một kệ sau cuối là suy ra công đức thuộc về gốc.

Bốn là Công Đức Tuệ, bởi vì phước vốn trang nghiêm cho tuệ. Mười kệ phân bốn: Một, bốn kệ phân rõ về mê mờ sai lầm, kệ một là chấp lấy tướng, kệ hai là Kiến thủ, kệ ba là Vô minh, kệ bốn là không có Pháp nhãn. Lại giải thích: Hai kệ trước là dấy khởi hư vọng, hai kệ sau là mê mờ về pháp. Trong hai kệ trước, kệ một là chấp hư giả làm chân thật, kệ hai là giữ lấy thua kém làm hơn hẳn. Trong hai kệ sau, kệ một là mê mờ tự tâm, kệ hai là mê mờ Chân Không. Hai, bốn kệ phân rõ về đức của hiểu biết, kệ một là cầu Pháp nhãn, kệ hai là tâm không có gì vướng mắc, kệ ba là có mắt thanh tịnh, kệ bốn là lìa xa thấy về năng-sở, hai câu trước không thấy gì tức là thấy, hai câu sau thấy tức là không thấy gì. Ba, một kệ ca ngợi Đức Phật thuận theo pháp thâu nhiếp chúng sinh. Bốn, một kệ sau cuối là suy ra công đức thuộc về gốc.

Năm là Tiến Tuệ, bởi vì lìa xa vọng tưởng phóng dật. Mười kệ phân hai: Một, một kệ trình bày về mất đi do ngu si hư vọng; hai, chín kệ trình bày về đạt được do trí tuệ tỏ ngộ. Trong đó: Một kệ đầu là cùng hiểu rõ chân-ngụy, nghĩa là hiểu rõ hư vọng giả tạo không thật, chân lý là thật. Hai kệ tiếp là rời bỏ giả tạo quay về chân thật, đó là kệ đầu dựa theo quán sát sở chấp Vô tướng, kệ sau dựa theo Y tha Vô sinh. Ba kệ tiếp trình bày về chân thật và giả tạo cùng dung hòa, tức là Viên thành Vô tánh, kệ một là đều chân, kệ hai là đều mất đi, kệ ba là giải thích về nguyên cớ không đi cùng. Ba kệ sau cuối là giả tạo không còn-chân thật trọn vẹn, kệ một là không thể bàn, kệ hai là không thể nghĩ, kệ ba là lợi ích của quán.

Sáu là Thiện Tuệ, bởi vì nhận biết Phật lìa xa tâm làm hại, cho nên khéo léo trình bày về đạo thanh tịnh. Mười kệ phân bốn: Một, ba kệ nêu ra thật đức của Phật, kệ một là Tự lợi-Lợi tha tròn vẹn tuyệt diệu, kệ hai là tích lũy công đức mới thấy, kệ ba là cùng chung lý vượt quá tình thức. Hai, bốn kệ phân rõ về pháp mà Đức Phật đã nói, kệ một là hiển bày về pháp Vô thuyết; kệ hai là trình bày về thuyết của Vô thuyết cho nên nói không tận cùng, lại cũng kệ trước trình bày về Vô thuyết cho nên tận cùng ngôn từ, kệ này trình bày về tận cùng ngôn từ cũng lìa xa cho nên nói là không tận cùng; kệ ba là giải thích về danh xưng của Đại đã thấy trước đây, trong kệ đầu trình bày về không thấy gì mà thấy, chúng sinh là thấy, thấy này cũng không có, trong kệ sau trình bày về thấy mà không thấy gì, bất hoại ấy, một là bởi vì thấy không cần phá bỏ, hai là bởi vì thấy lý của bất hoại, ba là bởi vì thấy Thể tức là Chân. Ba, một kệ rưỡi kết luận về nhận biết Phật và tướng lợi ích của thuyết giảng trước đây. Bốn, một kệ rưỡi sau cuối là suy ra công đức thuộc về gốc.

Bảy là Trí Tuệ, vốn là nghe giáo phát sinh trí tuệ. Mười kệ phân bốn: Một, một kệ phân rõ tự mình thuận theo giáo phát sinh trí tuệ, cho nên lập thành tên gọi ấy. Hai, sáu kệ trình bày về chúng sinh bị tổn hại vì làm trái lý, trong đó: Hai kệ đầu tùy tiện chấp vào người và pháp cho nên không thấy Phật, kệ trước là người-kệ sau là pháp, nghĩa là không quán sát Thật tướng của thân. Bốn kệ sau dựa theo phần vị trình bày về không thấy Phật, hai kệ đầu dựa theo phần vị phàm phu, kệ một dựa vào tình thức sai lầm, kệ hai dựa vào Chánh lý, nghĩa là sinh tử và Niết-bàn đối đãi nhau cho nên đều không thể có được, lại bởi vì là Niết-bàn của Nhị thừa, lại phần nhiễm là sinh tử, phần tịnh là Niết-bàn, cùng dung hòa cho nên đều không thể có được; hai kệ sau dựa theo Nhị thừa, kệ một dựa theo mê lầm về giáo, kệ hai dựa theo giữ lấy tướng, như Am-đề-già quở trách Xá-lợi-phất rằng: “Ta ở trong tịnh thất, Đức Thế Tôn thường hiện rõ trước mắt, Nhân giả nói là A-la-hán thường đi theo mà không thấy.” Ba, một kệ khuyến khích khiến cho thuận theo lý thành tựu lợi ích. Bốn, hai kệ nêu ra pháp để giải thích về thành tựu, nghĩa là vì sao chấp có mà không thấy Phật? Giải thích rằng: Pháp thật sự là không có, dùng trí Phật mong cầu thì không thể có được. Lại nói bởi vì biết rõ ràng tất cả các pháp ba đời là Không, cho nên gọi là Như Lai. Vì vậy nên biết, nếu giữ lấy các tướng thì không thấy Phật.

Tám là Chân Tuệ, là bởi vì thấy chân lý Pháp thân, lại tuệ giống như lý gọi là Chân Tuệ. Mười kệ phân hai: Một, hai kệ ca ngợi về danh đức của Phật, kệ một là nêu ra, kệ hai là giải thích. Hai, tám kệ trình bày về nghĩa đức của Phật, trong đó có hai: Ba kệ đầu là thông hiểu cảnh của hai Đế mà Đức Phật đã nhận biết thành tựu quán về Pháp thân, kệ một nêu ra đó là bởi vì giả tạo không có hòa hợp cho nên Tục giống như Chân, kệ hai là giải thích dựa theo ba thời gian cầu tướng hòa hợp không được, kệ ba là thành tựu lợi ích của quán. Năm kệ tiếp theo là thông hiểu cảnh-trí của Phật thành tựu không còn năng hành-sở hành, trong đó có bốn: Một là nêu cảnh-trí. Hai là mất đi năng-sở, nghĩa là cảnh-trí một cũng không được, hai cũng không được, chứng Như trở lại hướng về, không có trí ngoài Như cho nên không có chủ động Giác, cũng không có pháp ngoài trí có thể giữ lấy cho nên không có thụ động Giác, là pháp của Đức Phật đã tu cho nên không có một-không có hai. Điều này có ba nghĩa: 1) Dựa theo cảnh Chân-Tục không phải là mộthai; 2) Dựa theo trí rỗng rang soi chiếu không phải là một-hai; 3) Dựa theo cảnh-trí không phải là một-hai, theo giải thích có thể biết. Ba là giải thích về không có một-hai, bởi vì cảnh-trí không có hòa hợp. Lại nửa kệ trước là nêu rõ về Tông, nửa kệ sau giải thích bởi vì một pháp không có chỗ dựa của chính mình cho nên trở thành nhiều, trở thành một cũng như vậy, cả hai đều không có tánh, sao có duyên hòa hợp? Vả lại, Tạng tánh dựa vào duyên thì một trở thành nhiều, các pháp dựa vào Tạng thì nhiều trở thành một, đều không có tự tánh, đều không có chỗ dựa, bởi vì không có chỗ dựa cho nên nói là sao có duyên hòa hợp, bởi vì Thể-Dụng đều mất đi cho nên nói là người làm ra và việc đã làm ra đều không có. Bốn từ “Nhược năng…” trở xuống là trình bày về quán thành tựu lợi ích, hai câu là nêu ra, bốn câu là giải thích, nghĩa là nơi không thể nào đạt được này là chỗ dựa của Phật, trong này không còn năng-sở cho nên nói là không có gì nương tựa-không có gì giác ngộ.

Chín là Vô Thượng Tuệ, bởi vì tuệ lìa xa tướng phía trên. Mười kệ phân ba: Một, một kệ giải thích về tên gọi của mình. Hai, tám kệ hiển bày về đức của Phật, trong đó: Sáu kệ đầu phân rõ về đức nội chứng của Phật, đó là một về cảnh lìa xa thô-diệu, đức thuộc tu sinh là thô, bởi vì Không cho nên không tạo tác, chân lý là tế, bởi vì vốn có cho nên không hy vọng; hai là lìa xa số lượng-không có số lượng, hai loại này dựa theo cảnh; ba là lìa xa soi chiếu-không có soi chiếu, loại này dựa theo trí; bốn là một kệ rưỡi lìa xa nương tựa-không có nương tựa; năm là một kệ rưỡi lìa xa tướng một-hai. Trên đây là dựa theo cảnh-trí cùng dung hòa. Hai kệ sau là hiển bày về đức ngoại hóa của Phật, kệ một là chỉ dạy khiến cho trú vào pháp mà không có gì trú vào, kệ hai là được thấy chân thân mà không có gì thấy. Ba, một kệ sau cuối là suy ra công đức thuộc về gốc.

Mười là Kiên Cố Tuệ, bởi vì biết ân đức của Phật không thể hoại được. Mười kệ phân ba: Một, sáu kệ nêu ra ân đức sâu dày của Phật; hai, ba kệ vui mừng đã gặp được; ba, một kệ kết luận ca ngợi về vô tận. Trong phần một: Một câu đầu nêu ra ân đức, những câu còn lại giải thích hiển bày về tướng của ân đức, một là vì chúng sinh mà xuất hiện, hai là thấy chúng sinh rất khổ, ba là trình bày về cứu khổ thì chỉ có Đức Phật, bốn là ban vui cũng chỉ có Đức Phật, năm là chúng của Phật cũng có năng lực, sáu là thấy nghe đạt được lợi ích. Trong phần hai là vui mừng đã gặp được có ba: Một là vui mừng mình được lợi ích, hai là mọi người cùng chung lợi ích, ba là vui mừng trở lại thấy lợi ích của trí, cũng là kết luận về điều mà mình đã nói. Một kệ sau cuối là tổng quát kết luận về chín người đã nói trên đây.

Phẩm 11: THẬP TRÚ

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI: Bồ-tát là con người, Thập Trú là pháp, nghĩa là đạt được phần vị không lui sụt cho nên nói là Trú. Pháp của Trú thích hợp dựa vào tròn vẹn thì nói là mười, tức là Đới số thích. Lại nữa, mười pháp Trú này là Bồ-tát vốn có, là Hữu tài thích. Lại nữa, Trú của Bồ-tát, là Y chủ thích. Lại nữa, Bồ-tát tức là Trú, là Trì nghiệp thích.

Hỏi: Ngoại phàm trước đây trong phẩm Hiền Thủ chỉ dựa theo tên gọi con người, phần vị Thánh ở Thập Địa sau này chỉ dựa theo tên gọi của pháp, ở trong này ba Hiền thuộc nội phàm thì con người và pháp hợp lại làm tên gọi là thế nào?

Đáp: Trước đây phần vị chưa thành tựu cho nên dựa vào tên gọi của con người và pháp, phần vị ba Hiền còn kém cho nên con người và pháp hợp lại làm tên gọi, phần vị Thánh rõ ràng cho nên chỉ dựa theo tên gọi của pháp, đây cũng là tướng thi thiết dần dần tăng thêm.

Hỏi: Đều là con người và pháp hợp lại làm tên gọi, vì sao Thập Hạnh-Thập Hồi Hướng nêu ra tên gọi con người riêng biệt, trong này đưa ra tên gọi gồm chung con người và pháp?

Đáp: Ở trong phần vị Hiền có ba, đó là Hạ-Trung-Thượng, đây là Hạ phẩm, thua kém cho nên nêu ra tên gọi gồm chung; Thập Hạnh là Hiền thuộc Trung phẩm vốn là tiếp theo, tuy nêu ra tên gọi riêng biệt nhưng dựa theo nghĩa ít thay đổi tên gọi là Hoa Tụ…; Hồi Hướng là Hiền thuộc Thượng phẩm vốn là hơn hẳn, xứng với riêng biệt vốn có nêu ra tên gọi là Kim Cang Tràng Hồi Hướng.

B. Ý: đưa ra, là nghĩa về phần Tựa đã làm sáng tỏ, phần Chánh tông cần phải hiển bày cho nên tiếp tục đưa ra.

C. TÔNG THÚ: là pháp của Thập Trú là Tông, dựa vào đây đạt được quả là Thú, nghĩa còn lại nói như trong phần chính.

D. GIẢI THÍCH VĂN: ngay trong phần Chánh tông có bốn phẩm phân hai: Ba phẩm đầu là hành đức của phần vị này (đương vị), một phẩm sau là thắng tiến hướng về sau.

Trong phần trước, ba phẩm tức là ba đoạn: Phẩm đầu trình bày về phần vị, phẩm tiếp trình bày về công hạnh, phẩm sau ca ngợi về công đức. Lại đầu là hiểu rõ, tiếp là thực hành, sau là hiển bày công đức, giống như ba phẩm Minh Nạn… trước đây.

Hỏi: Vì sao Hội trước không có riêng biệt thắng tiến hướng về sau, mà trong này có?

Đáp: Trong này bởi vì thành tựu phần vị, bởi vì hơn hẳn trước đây, vả lại Tín trước đây không có phần vị toàn bộ là hướng về, Trú vốn là phương tiện, nay phần vị này thành tựu, vì thế cho nên có riêng phương tiện tiến về sau.

Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao sau phẩm Hồi Hướng không có thắng tiến?

Đáp: Bởi vì đầy đủ phần vị thế gian cho nên không cần đến. Lại tổng quát thâu nhiếp các phần vị trước, vốn là làm phương tiện của chứng.

Ngay trong phẩm này có bảy phần: 1) Phần Tam-muội; 2) Phần gia hộ; 3) Phần phát khởi; 4) Phần căn bản; 5) Phần thuyết giảng; 6) Phần chứng thành; 7) Phần kệ tụng.

Trong phần một vì sao nhập Định thì có sáu ý: Một, vì Tam-muội này là Thể của pháp; hai, hiển bày không phải là chứng thì không thuyết giảng; ba, hiển bày pháp này không phải là cảnh của suy nghĩ; bốn, xét căn cơ biết rõ thuốc; năm, bởi vì được Phật gia hộ; sáu, bởi vì hiển bày chư Phật cùng thuyết giảng.

Trong văn có bốn: Một- Phân rõ về người nhập Định, vì sao Pháp Tuệ nhập Định, bởi vì là đứng đầu chúng, vị khác nhập Định thì rối loạn cho nên chúng không điều phục được, hiển bày Pháp Tuệ ở Thập Trú có thể thuyết giảng; hai-Hiển bày không phải là lực của mình; baTrình bày về Định đã đạt được đó là lựa chọn quả Phật cho nên nói là Bồ-tát, quán giải khéo léo cho nên nói là phương tiện, tức là pháp của Trú, phương tiện nhiều cách cho nên nói là vô lượng, tức là mười loại; bốn-Tiếp nhận pháp vào tâm cho nên nói là Chánh thọ.

Trong phần hai là phần gia hộ có ba: Một-Tổng quát phân rõ về chủ động gia hộ; hai-Hiển bày gia hộ bằng việc làm; ba-Chính thức trình bày về tướng gia hộ.

Trong phần một có sáu:

1. Hiển bày xứ sở gần xa của Phật chủ động gia hộ.

2. Số lượng chư Phật chủ động gia hộ, Luận nói: Vì sao nhiều Đức Phật gia hộ? Bởi vì hiển bày do pháp và Pháp sư mà tăng trưởng tâm cung kính, lại muốn hiển bày về chư Phật cùng thuyết giảng, là vì nương theo thần lực của chư Phật, từ Pháp Tuệ này thuyết giảng tức là tất cả chư Phật thuyết giảng. Đây vốn là gồm chung hai thuyết về nhân quả.

3. Hiển bày danh hiệu của Phật giống nhau thì có bốn ý: Một là trình bày về pháp đạt được vốn không khác nhau; hai là Bồ-tát ấy nghe các Đức Như Lai cùng tên gọi với mình cho nên lại thêm vui mừng; ba là hiển bày nhân quả trong Trú vốn giống nhau; bốn là chỉ riêng chư Phật ở trong môn Trú này chủ động gia hộ biểu hiện rõ ràng đều là tên gọi Pháp Tuệ, bởi vì pháp lực, bởi vì pháp vốn như vậy.

4. Ca ngợi đạt được Định này, mới có năng lực là lời nói mong mỏi dâng cao, trình bày hiếm có người có thể tiến vào Tam-muội này.

Hỏi: Vì sao chư Phật ở giữa Đại chúng khen ngợi về nhập Định này?

Đáp: Bởi vì lúc ấy Pháp Tuệ im lặng tiến vào Định này, vì Đại chúng không biết đã tiến vào là pháp gì, không có tâm khao khát ngưỡng mộ, không thể nào nói cho biết, vì vậy chư Phật đưa ra tên gọi của Tammuội, ở trước Đại chúng khen ngợi làm khởi tâm mong muốn ưa thích của Đại chúng.

5. Từ “Thiện nam tử…” trở xuống là trình bày về đạt được Định làm chỗ dựa, nghĩa là chư Phật ấy tự nói, nhờ vào lực gia hộ đã thực hiện mà khiến cho đạt được Định này.

6. Từ “Hựu Lô-xá-na…” trở xuống là Đức Phật ấy tự giải thích về nguyên cớ thực hiện gia hộ, có ba câu: Một-Do lực bổn nguyện của Lô-xá-na khiến cho Ta thực hiện gia hộ, theo Địa Luận giải thích: “Lô-xá-na trong quá khứ đã từng thấy có một Đức Phật Lô-xá-na, gia hộ cho một Bồ-tát Pháp Tuệ thuyết về pháp Thập Trú, lúc ấy chư Phật chủ động gia hộ cùng tên gọi là Pháp Tuệ, nhân đó liền phát nguyện: Nguyện con thành Phật cũng có sự việc này, nay thành tựu như bổn nguyện, cho nên gia hộ mà thôi.” Hai-Cũng là thần lực của Lô-xá-na hiện tại cảm ứng cùng nhau gia hộ. Ba-Là tự thiện căn của Pháp Tuệ thuần thục, có thể thuyết pháp lợi ích cho Đại chúng, trên cảm đến chư Phật cho nên cùng nhau gia hộ. Tóm lược không có lực cơ cảm của đại chúng, ở Hội sau có đủ. Vả lại, nguyện vốn có của Lô-xá-na hiển bày về gốc rễ sâu xa của pháp, nghĩa là từ xa xưa đến nay tu về pháp Trú này, nghĩ rằng vào lúc này vì căn cơ mà tuyên thuyết. Uy thần lực là chính thức hiển bày về lúc này trao truyền. Trên đây là lực của Hóa chủ. Dưới đây là một lực của Trợ hóa, hiển bày nhân quả cùng dung hòa, chủ-bạn hợp lại phân rõ, để thành tựu sự việc hóa độ mà thôi.

Trong phần hai là hiển bày gia hộ bằng việc làm, câu đầu là tổng quát, chín câu tiếp là riêng biệt, một câu sau cuối là kết luận, đồng-dịthành-hoại dựa theo có thể biết.

Trong riêng biệt: Một- Tăng trưởng Chân tuệ-Phật tánh vốn có, khiến cho hướng về quả Phật thành tựu không lui sụt; đây là dựa theo trí. Hai- Mở thông chân lý pháp giới ở trong ràng buộc, khiến cho có thể hiển bày rõ ràng; đây là dựa theo cảnh. Lại vốn là khai mở rõ ràng giải thích về lý của pháp giới. Ba-Phân tích về tánh loại của chúng sinh, khiến cho phân rõ những phần vị ở Thập Trú vốn đều sai biệt, lại biết năm tánh sai biệt; đây là dựa theo hậu trí. Vả lại, Giới của chúng sinh tức là Như Lai Tạng, phân biệt vốn là hiểu rõ nhân, lại vốn là giải thích, lại phân biệt Xứ của một chúng sinh thì có tất cả chúng sinh và tất cả các pháp môn… Bốn-Dựa theo Nhất thừa, tức là đối trị diệt tánh, diệt ba chướng-bốn chướng-sử-tập…, Tam thừa trừ bỏ Ngã chấp của ngoại đạo, chướng ngại tăm tối trong tâm; đây là dựa theo Đoạn đức. Năm-Vô minh chướng ngại không còn, trí tiến sâu vào chân cảnh, cho nên nói là tiến vào cảnh vô ngại, lại tiến vào cảnh Nhân-đà-la cho nên nói là vô ngại; đây là dựa theo thắng tiến hòa vào cảnh của quả. Sáu-Khéo léo tiến vào trí của quả, thâu nhiếp tổng trì lẫn nhau; đây là dựa theo tiến vào trí của quả, tức là tiến vào trí bí mật. Bảy-Soi chiếu rõ ràng chântục; đây là dựa theo dụng của trí. Tám-Biết căn của chúng sinh chưa thuần-thuần thục nhiều loại, lại biết cùng là Như, lại biết một căn tức là tất cả các căn, như căn dục-tánh hải… Chín-Xứng với căn nói pháp, tùy ý duy trì căn tánh khiến cho không sai lạc, lại giữ hành không sai lầm-giữ nghĩa không phân tán, lại giữ pháp không diệt.

Câu sau cuối kết luận, nghĩa là nói rộng về pháp gì thành tựu những sự việc như vậy? Đó gọi là Bồ-tát Thập Trú.

Trong phần ba là tướng gia hộ, có ba nghiệp gia hộ: Đầu là gia hộ bằng miệng khuyến khích thuyết giảng để tăng thêm biện tài, tiếp là gia hộ bằng ý âm thầm che chở ích lợi cho trí, sau là gia hộ bằng thân thì tay xoa đỉnh đầu để tăng thêm uy lực. Vì sao trước phải gia hộ bằng miệng? Bởi vì phương tiện dựa vào lời nói đầu tiên.

Tiếp trong phần gia hộ bằng ý, có hai: Đầu là gia hộ, sau là giải thích.

Trong gia hộ có mười câu, một câu đầu là tổng quát, nghĩa là khiến cho ở giữa đại chúng thuyết pháp vô ngại, tức là vô ngại giải; chín câu riêng biệt hiển bày về vô ngại. Đồng-dị-thành-hoại có thể dựa theo đây. Một-Không có gì vướng mắc, vô ngại tức là biện tài không có gì vướng mắc. Hai-Lúc thuyết giảng không gián đoạn, nghĩa là không quên danh nghĩa, tức là tùy ý biện tài lưu loát, thuyết giảng không cần thứ tự, ngôn từ không dứt đoạn… Ba-Lúc thuyết giảng không xen tạp Vô minh, bởi vì không trái với Chánh lý. Bốn-Lý đã nói quyết định, lại bởi vì luận thuyết khác không có thể hủy hoại được. Năm-Khéo léo trong sáng không có sai lầm, nghĩa là bởi vì không mong cầu xấu xa như danh lợi… Sáu-Đối với tất cả các pháp có thể tùy thuận thuyết giảng, lại bởi vì thông hiểu tất cả các nghĩa. Bảy-Vượt lên trên phần vị bên dưới, lại bởi vì người khác không có ai có thể vượt qua. Tám-Thuyết giảng không có gì chán ngán mỏi mệt, lại bởi vì lìa xa kiêu mạn. Chín-Lời nói không có hủy bỏ sai lầm, lại lời nói không có sai lạc nghĩa lý, lại lời nói không hủy bỏ tùy tiện.

Sau là giải thích về nguyên cớ gia hộ, chư Phật có uy lực-có Từ Bi, vì sao chỉ gia hộ cho Pháp Tuệ mà không gia hộ cho người khác? Giải thích có hai nhân: Một- Bởi vì đạt được Định lực; Hai- Bởi vì pháp vốn như vậy, nghĩa là như pháp của dòng nước chảy vốn như vậy hướng về phía dưới, nay điều này cũng như vậy, hễ có người có thể thuyết giảng về pháp Thập Trú, lý thường như vậy thần lực của chư Phật tuôn chảy tụ vào trong đó, cho nên nói như vậy.

Gia hộ bằng thân, xoa đỉnh đầu là bởi vì tăng thêm uy lực cho người ấy, khiến cho từ Định hiểu rõ, an ủi khiến cho thuyết giảng. Vả lại, chư Phật ấy đều không đi đến nơi này, tay cũng không dài mà xoa đỉnh đầu của người này. Hơn nữa, tay của chư Phật đều hoàn toàn xoa đỉnh đầu của người ấy mà không trở ngại lẫn nhau, là pháp không thể nghĩ bàn của duyên khởi pháp giới.

Trong phần ba là phần phát khởi, có bốn ý: Một-Bởi vì đã nội chứng về pháp; hai-Bởi vì đã đạt được lực thù thắng; ba-Bởi vì lúc thuyết giảng đã đến; bốn-Bởi vì Định không có nói năng giảng giải, vì vậy cần phải phát khởi. Hội thứ nhất trước đây, Phổ Hiền bởi vì pháp của quả sâu xa vi tế, cho nên thuyết giảng trong Định, lại bởi vì hiển bày về Phổ Hiền tự tại; Hội này trình bày về nhân hạnh, cho nên dựa vào xuất Định.

Trong phần bốn là phần căn bản, có hai: Trước là Chứng căn bản, sau là Giáo căn bản; cũng là trước Thể-sau Tướng. Trong ban đầu, trước phải hướng về các phần vị trước-sau để phân tích, vì sao trong Tín không có nghĩa này? Bởi vì chưa thành tựu phần vị, bởi vì đây là Thể của phần vị. Vì sao ở đây gọi là chủng tánh cho đến Thập Địa gọi là thiện quyết định? Bởi vì phần vị này kém nhất dựa theo chủng tánh làm tên gọi, Thập Hạnh tiếp tục tăng lên dựa theo chủng tánh nương tựa đã phát khởi nghiệp hạnh làm tên gọi; Thập Hồi Hướng lại tăng lên cho nên dựa theo Đại nguyên sau hành làm tên gọi, bởi vì hồi các hạnh trước đây hướng về Chứng đích thực; Thập Địa đã đạt được Chứng chân thật, chắc chắn vì vậy gọi là Thiện quyết định. Như vậy đều là Thể gồm chung trong phần vị, tùy theo phần vị dần dần tăng lên mà có sự lên-xuống này, cho nên Thập Trú-Thập Hạnh không có Đại thiện quyết định là bởi vì yếu kém. Lại bởi vì ba Hiền thuộc phẩm Trung-Hạ, bởi vì yếu kém nhất cho nên chưa phân rõ về Đại Dụng này; lại bởi vì Tự lợi tăng lên, lại bởi vì dựa theo chủng tánh chưa hiện hành.

Nghĩa của chủng tánh sơ lược đưa ra ba môn:

1. Giải thích tên gọi, chủng là nghĩa về nhân, tánh là nghĩa về Thể; lại tánh là nghĩa về Tộc, gọi là chủng tộc; lại tánh là nghĩa về Loại, gọi là chủng loại.

2. Đưa ra Thể có hai: a) Tánh của Tánh chủng, b) Tánh của Tập chủng. Tánh chủng có hai môn: Một là dựa theo Hữu vi Vô thường môn, như luận Du-già nói: “Sáu xứ thù thắng từ vô thỉ lần lượt chuyển tiếp do pháp vốn như vậy mà có được…” Hai là dựa theo Vô vi Thường trú môn, như luận Bảo Tánh nói: “Tánh Chân như là như trong kinh nói về sáu căn tụ…” Tập tánh có-không có: a-Dựa theo Hộ Nguyệt nói chỉ là tánh vốn có; b) Thắng Quân nói chỉ là Tập tánh; c) Hộ Pháp nói có đủ hai loại; d) Như duyên khởi đều xa lìa.

3. Các môn phân biệt làm năm môn: Một là dựa theo Tánh-Tập trước sau, hai là dựa theo năm tánh, ba là dựa theo sáu tánh, bốn là dựa vào phần vị, năm là các giáo đều như giải thích riêng biệt. Lại phẩm Tánh Khởi nói: Bồ-tát Ma-ha-tát tự biết trong thân đều có Bồ-đề của tất cả chư Phật. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tâm của Bồ-tát ấy không lìa xa Bồ-đề của tất cả Như Lai. Như trong tâm mình, trong tâm của tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, vô lượng vô biên, không nơi nào không có, không thể phá hoại, không thể nghĩ bàn.”

Trong văn có sáu câu: Một câu đầu là tổng quát, đó là trong năm chủng tánh lựa chọn loại bỏ tánh khác, cho nên nói là chủng tánh Bồtát. Năm câu sau là riêng biệt hiển bày về nghĩa của chủng tánh: 1) Rất sâu xa là nghĩa về sâu kín tĩnh mịch, một là dựa theo tánh Hữu vi, bởi vì tận cùng thời gian vị lai; hai là dựa theo tánh Vô vi, bởi vì pháp tánh Chân như lìa tướng-lìa tánh; ba là dựa theo Dụng, bởi vì sinh ra công đức thù thắng không thể hết được; bốn là xuyên suốt, bởi vì giống với quả Phật. Vả lại, soi chiếu cùng tận vượt xa nói là sâu xa (thâm), hoàn toàn không có đáy nói là rất (thậm), sâu thẳm vô cùng cho nên nói là rất sâu xa (thậm thâm). 2) Rộng lớn là nghĩa về chứa đựng, nghĩa về khắp nơi, nghĩa về không giới hạn; ở trước tức là sâu xa không có đáy, ở đây tức là rộng lớn không có bờ. Đây là gồm chung các pháp như Hữu vi-Vô vi, chủ động sinh-thụ động sinh, nhân-quả…, dựa theo riêng biệt để hiển bày. 3) Sánh bằng pháp giới là nghĩa về thắng thiện, đó là bởi vì như pháp giới hoàn toàn rõ ràng, lại bởi vì đầy đủ tất cả các pháp như người-pháp, giáo-nghĩa, nhân-quả, lý-sự… ) Sánh bằng hư không là nghĩa về nhân thiện, đó là bởi vì thành tựu nhân quả Vô thường-Ái cho nên giống như hư không. Bởi vì ở Địa tiền lược qua nhân quả Vô thường, lại cũng bởi vì sâu xa ở trên cho nên sánh bằng pháp giới, rộng lớn cho nên giống như hư không, hoặc đều gồm chung cả hai, hoặc khác với trên có thể biết. 5) Là nghĩa về không yếu hèn, bởi vì sinh ra từ trong chủng tánh Phật. Cũng là nghĩa giải thích về tên gọi của chủng tánh, lại cũng được chư Phật sinh ra từ trong tánh Bồ-tát. Lại là giải thích những câu trên, đó là vì sao có thể biết sâu rộng như pháp giới…? Giải thích rằng: Bởi vì là chủng tánh của ba đời chư Phật có thể sinh ra tất cả Bồ-tát…

Hai là trong phần hiển bày về tướng, có ba: Một-Nêu ra số để dẫn chứng, nghĩa là quả của chư Phật ba đời, tất cả đều nhờ vào nhân của Thập Trú mà cảm được, như con đường của nhà vua đi thẳng tắp không có ngã rẽ, cho nên nói là cùng thuyết giảng. Hai-Nêu ra tên gọi, nghĩa là tất cả trọn vẹn như nhau để trình bày về mười chủng. Ba-Kết luận về thuyết giảng.

Trong này, nghĩa về Thập Trú sơ lược đưa ra mười môn: Một-Giải thích tên gọi; hai-Phân rõ về Thể; ba-Trình bày về thân đã nương tựa; bốn-Hạnh đã thực hành; năm-Cảnh đã quán sát; sáu-Chướng đã lìa xa; bảy-Đức đã thành tựu; tám-Pháp đã nương nhờ; chín-Phần vị đã thâu nhiếp; mười-Quả đã thành tựu.

Một là giải thích tên gọi, có hai: Một-Tổng quát về tên gọi như trước giải thích. Trong riêng biệt: 1) Đó là dựa vào ngoại phàm, mười ngàn kiếp nay tu tập thiện căn của Tín thực hành đầy đủ phương tiện, đối với Đại Bồ-đề khởi tâm quyết định tiến vào phần vị không lui sụt, cho nên nói là Sơ phát tâm, Sơ phát tâm tức là Trú, là Trì nghiệp thích. Đây là Tín thành tựu phát tâm trong luận Khởi Tín. 2) Tập trung rèn luyện tâm này khiến cho lìa xa cấu nhiễm trở thành trong sáng, cho nên nói là Trị địa, nghĩa là rèn luyện sửa trị tâm địa. 3) Khéo léo quán sát Không-Hữu mà huân tu về Chánh hạnh, cho nên nói là Tu hành. 4) Chủng tánh tôn quý sinh vào nhà Phật, cho nên nói là Sinh quý, nghĩa là nương vào đây mà làm phần vị vô lậu. 5) Khéo léo không vướng vào Chân, khởi tâm Bi mẫn đối với chúng sinh, kèm Chân tùy theo Tục, hai loại này hợp lại quán sát lìa xa giới hạn (biên) khéo léo đầy đủ, cho nên nói là Cụ túc, Trú này giống như Địa thứ năm khó kết hợp Chân-Tục mà có thể kết hợp. 6) Quán sát pháp không hai, đã dần dần thuần thục nghe ca ngợi-hủy báng Phật… mà tâm không lay động, cho nên nói là Chánh tâm. Tâm tức là Chánh cho nên nói là Chánh tâm, lại Chánh là cảnh, tâm là trí, dùng tâm trú vào Chánh lý cho nên nói là Chánh tâm. 7) Chỉ và Quán cùng vận dụng, duyên không có thể hủy hoại, cho nên nói là Bất thối, Trú này giống như hai hành tướng của Địa thứ bảy. 8) Ba nghiệp sáng ngời lìa xa cấu nhiễm giống như trẻ thơ, hành động và tính cách của trẻ thơ có được mà pháp không có thể ngăn chặn, cho nên nói là Chân, Trú này giống như hạnh không có công sức vận dụng của Địa thứ tám. 9) Ứng với cơ khéo léo thuyết giảng, thừa kế nối dõi Pháp Vương, cho nên nói là Tử. Phần vị Thập Trú đầy đủ thì thành tựu Trí thân, dùng nước pháp của chư Phật để rưới trên đỉnh đầu của vị ấy, cho nên nói là Đảnh. Nếu dựa vào Viên giáo, thì phần vị Quán Đảnh này đầy đủ tức là thành Phật, lại không có Thập Hạnh…, như văn sau nói ở phần Tỳ-kheo Hải Tràng. Nếu theo giáo của Tam thừa thì không như vậy, chỉ là tướng của Giải chưa chứng được Chân, cho nên được tên gọi có ba, đó là Trú thứ tư-thứ tám-thứ chín-thứ mười thuận theo dụ làm tên gọi, Trú thứ bảy dựa theo lìa xa lỗi lầm mà được tên gọi, những Trú còn lại đều dựa theo công năng mà làm tên gọi, có thể biết.

Hai- Trình bày về Thể tánh thì đưa ra ba môn: 1) Dựa theo nơi nương tựa thì dùng Tam-muội Vô lượng phương tiện làm Thể, bởi vì dựa vào Định này mà nói về Thập Trú, cho nên về sau Luận nói: Tammuội này vốn là Thể của pháp. 2) Dựa theo căn bản thì dùng chủng tánh rất sâu xa… trước đây làm Thể, bởi vì những chủng tánh ấy là Thể của Thập Trú này, nhưng tùy theo phần vị nói là mười, mà không có tánh riêng biệt. 3) Khắc tánh dựa theo duyên thụ động thì dùng hai đế ChânTục, dựa theo duyên chủ động thì dùng hai hành Bi-Trí, những hành quyến thuộc còn lại đều do loại này thâu nhiếp. Vả lại, cảnh Chân-Tục cùng dung hòa, Bi-Trí chỉ là một, hai loại này lại đầy đủ cùng dung hòa, pháp giới không có chướng ngại, đầy đủ đức tự tại là Thể của Trú. Đây là dựa theo Viên giáo phân rõ(còn lại đưa ra ở môn riêng biệt).

Trong phần năm là phần thuyết giảng, Thập Trú có hai phần: MộtPhần quả viên dung không thể nói được. Hai- Phần nhân tùy theo thuyết giảng có hai phần: 1) Dựa theo hành tự Thể của Phổ Hiền; 2) Dựa theo tướng phần vị của Phổ Hiền, phần này có hai phần: a) Phần vị A-hàm như phẩm này nói, b) Phần vị Chứng như phẩm Thập Địa nói. Nay ở đây chủ yếu nói đến phần vị A-hàm, trong đó có hai: Đầu là trình bày về phần vị thâu nhiếp Thể, sau là phân rõ về phần vị tùy theo Tướng.

Trong phần đầu giải thích về Thập Trú tức là mười đoạn, mỗi một

đoạn đều có hai, đó là trước nêu ra-sau giải thích. Trong giải thích đều có hai: Một- Tu hành là tướng riêng biệt của Trú, bởi vì trong mỗi một Trú đều tu một hạnh; hai-Quán giải là tướng riêng biệt của Trú, bởi vì các Trú đều có tướng giải ngộ. Trong phần một đều có hai: Đầu là hành thuộc Tự phần, sau là học mười pháp làm hành Thắng tiến. Trong hành Thắng tiến đều có hai: Trước là Chánh tu, sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích về ý của tu. Trong đó văn tướng thứ nhất-thứ mười thêm vào bởi vì đầu là công hạnh vốn có cho nên dựa vào nhiều duyên, sau là phần vị đầy đủ cho nên công đức sâu rộng. Lại giải thích: Trong mỗi một đoạn đều có hai, đó là nêu ra và giải thích. Trong giải thích đều có ba: Một là trình bày về hành tiến vào Trú, hai là học mười pháp làm hành thanh tịnh của Trú, ba là Trú đầy đủ đạt được quả. Dựa theo Địa Luận thì các Địa đều có Nhân-Thể-Quả ngay trong nhau, tiến vào Trú là Nhân, thanh tịnh Trú là Thể, Trú đầy đủ là Quả, đều có thể biết. Nay lại dựa vào trước giải thích.

Trong Trú thứ nhất: Trước là nêu ra tên gọi, sau là giải thích về nghĩa.

Trong giải thích về nghĩa có hai: Trước trong hành riêng biệt có hai, trước là Tự phần, sau là Thắng tiến.

Trong phần trước có hai: Một là trình bày về hạnh căn bản, đó là phát tâm Bồ-đề làm căn bản của Thập Trú, chỉ chuyển tâm này dần dần tăng thêm thù thắng mà thành tựu các Trú sau. Hai là pháp đã đạt được.

Trong phần một: Đầu là sáu câu nêu ra duyên đã dựa vào của phát tâm, tiếp là một câu trình bày về Thể của tâm đã phát, tiếp là một câu trình bày về sự mong cầu của phát tâm, sau cuối là một câu trình bày về không lui sụt trở lại. Lại giải thích: Đầu là sáu câu giải thích về phát, tiếp là một câu giải thích về tâm, tiếp là một câu giải thích về Bồ-đề, sau cuối là một câu giải thích về nghĩa của Trú. Trong sáu câu trước, hai nơi nghe thuyết pháp: Đầu là nghe người khác thuyết giảng, sau là nghe Phật thuyết giảng. Lại đầu là trước nói tóm lược, sau là nói mở rộng. Lại đầu là nói về pháp của nhân, sau là nói về pháp của quả. Lại bảy duyên phát tâm dựa theo phân rõ. Lại luôn luôn không quay lại là chọn lựa khác với ngoại phàm.

Hai là trong pháp đã đạt được: 1) Phần là nghĩa về nhân, đó là do sơ phát tâm mà đạt được nhân thành tựu về pháp của quả mười Lực, đây là dựa theo Thỉ giáo phân rõ. 2) Phần là nghĩa chưa tròn vẹn, đó là do tiến vào Trú không lui sụt cho nên bắt đầu sinh vào nhà Phật, đạt được một phần Thể của Phật, nghĩa là đối với mười Lực tùy phần mà đạt được, đây là dựa theo Chung giáo phân rõ. 3) Phần tròn vẹn vô ngại cho nên đạt được phần tức là đạt được tròn vẹn, nhưng bởi vì ngay trong môn Phổ Hiền phân rõ, là nhân mà không phải là quả, cho nên nói là phần. Trong này đối với Lậu tận cũng đạt được từng phần là dựa theo giáo mà biết. Lại mười Lực này, trong Tiểu thừa đến quả Phật mới đạt được, trong Tam thừa thì Địa thượng mới đạt được từng phần, Nhất thừa tiến vào phần vị liền đạt được.

Hai là trong Thắng tiến có hai: Trước là chính thức phân rõ, sau là giải thích thành tựu. Trong phần trước có mười câu: 1) Cúng dường chư Phật. 2) Ca ngợi các Bồ-tát có thể rời bỏ niềm vui của mình chịu đựng khổ đau để mong cầu quả vị. 3) Dùng pháp thù thắng vi diệu giáo hóa các chúng sinh, không để cho tâm họ rơi vào phần vị phàm phu Tiểu thừa, cho nên nói là bảo vệ, lại bảo vệ thiện căn làm cho được tăng trưởng. 4) Dựa theo tụng dưới là thứ ba thường ca ngợi Hiền Thánh, ở đây nói gần gũi thì đây là dựa theo Tự lợi, tụng dựa theo Lợi tha, đó là tiến lên mà thường ca ngợi. 5) Ca ngợi pháp thanh tịnh vi diệu, các ma không phá hoại cho nên biết là không lui sụt. 6) Dùng công đức của Phật để an lập Bồ-tát, cho nên nói là tu, điều này thuận với tụng. 7) Khéo léo giáo hóa chúng sinh làm cho được thấy Phật, cho nên nói là ca ngợi sinh ở trước chư Phật. 8) Cố gắng tu Tam-muội để chỉ dạy chúng sinh, cho nên nói là phương tiện. 9) Chuyển vòng xoay diệu pháp, diệt vòng xoay sinh tử, cho nên nói như vậy. 10) Làm nơi trở về trong lành cho chủng loại khổ đau sinh tử.

Lại giải thích: 9) Khiến cho lìa xa Vô thường-Khổ, 10) Khiến cho chúng sinh đạt được Thường-Lạc. Mười câu này đều dựa theo văn tụng ở sau mà biết rõ.

Hai là trong giải thích về ý, trước là nêu ra-sau là giải thích. Nêu ra rằng phát tâm Bồ-đề rồi, vì sao lại cần phải học mười hạnh này? Giải thích có ba nghĩa: 1) Bởi vì muốn khiến cho tâm này càng thêm thù thắng; 2) Bởi vì khiến cho kiên cố; 3) Bởi vì khiến cho thành tựu quả. Lại một là khiến cho nhân của Tự phần vững chắc, hai là Thắng tiến càng tăng thêm, ba là cuối cùng thành tựu quả Phật, cho nên cần phải học.

Hai là trong tướng giống nhau trình bày về ngộ cần phải nhờ vào duyên, cho nên nói là có pháp được nghe; hiểu biết từ bên trong phát ra, cho nên nói là tỏ ngộ không nhờ vào nơi khác. Nhưng nghĩa về nơi khác có ba: Một là giáo Tiểu thừa, hai là ở ngoài tâm, ba là ở ngoài tánh. Tự hiểu cũng có ba, ngược lại với trước có thể biết. Vì vậy văn sau nói tuy biết tất cả pháp, tỏ ngộ không nhờ vào nơi khác, mà cầu thiện tri thức không hề có thỏa mãn đầy đủ. Trong các Trú sau tùy theo phần vị dần dần tăng thêm, nghĩa đều giống như ở đây.

Trong Trú thứ hai: Một- Mười tâm trong Tự phần có hai nghĩa, một là hễ đối với một chúng sinh thì khởi lên mười tâm này bởi vì hiển bày về vô tận, hai là bởi vì phân rõ về tướng sai khác của mười tâm cho nên trình bày ở nơi mười loại chúng sinh mà khởi lên: 1) Đối với chúng sinh oán ghét thì không nghĩ đến trả thù. 2) Đối với chúng sinh nhận chịu đau khổ. 3) Đối với chúng sinh thiếu thốn vật dụng sinh hoạt. 4) Vì chúng sinh bất thiện khiến cho trú vào thiện hạnh, Luận nói An là thuộc về nhân, Lạc là thuộc về quả. 5) Đối với chúng sinh đạt được nhân Thiện-quả Lạc. 6) Đối với chúng sinh có lưu chuyển, hóa độ khiến cho phát tâm. 7) Đối với chúng sinh mới phát tâm. 8) Đối với chúng sinh tu đạo Bồ-tát thiếu kém hơn mình thì thâu nhiếp khiến cho giống như mình, 9) Người giúp mình học hỏi thì tôn sùng giống như bậc thầy. 10) Người đức có phần hơn mình thì tôn kính giống như đối với Đức Phật. Mười tâm này đều giải thích như trong Tập quả của Địa thứ hai.

Hai, Mười hạnh trong Thắng tiến, một hạnh đầu là tổng quát, nghĩa là nếu không đa văn thì hành không có chỗ dựa, lại lấy gì để giáo hóa chúng sinh, cho nên cần phải tu tập; chín hạnh còn laị là riêng biệt: 1) Nêu ra ý mong cầu đa văn, lại là rời bỏ ham muốn của mình. 2) Gần gũi thiện hữu. 3) Thuận theo sự chỉ dạy ấy. 4) Không thưa hỏi không đúng lúc. 5) Không sợ không đạt được pháp, lại không sợ pháp sâu xa. 6) Hiểu về nghĩa sâu xa. 7) Thông hiểu Chánh giáo. 8) Ở trong giáo nghĩa chọn lấy pháp để tu hành. 9) Dựa vào pháp đích thực tu tập, lìa xa chướng ngại, thành tựu công đức, cho nên nói là bất động. Văn sau giải thích rằng dùng mười hạnh này tu tập Từ Bi đối trị… khiến cho càng thêm nhiều, cho nên cần phải tu tập.

Trong Trú thứ ba: Một, Mười câu thuộc Tự phần là hành bảo vệ phiền não, nghĩa là trong này khiến cho hành không dừng lại, vì vậy tổng quát trình bày về nghĩa Vô thường: 1) Một câu đầu là tổng quát, Vô thường là không có vật gì có thể là Thường, đó là tự tánh không có thật, ba tánh như Vô thường… dựa theo đây. 2) Khổ đó là năm Uẩn hoàn toàn trống rỗng là Khổ… 3) Không đó là ba vô tánh-chân lý Không… 4) Vô ngã đó là không có hai Ngã, Lại đối với Ngã-Vô ngã mà không hai…, đầy đủ như Yểm-đề-già nói. 5) Hệ thuộc nhân duyên không thể nào tự có tồn tại. – Pháp thế gian là tướng bất tịnh xấu ác hư vọng, lại bởi vì mau chóng diệt mất cho nên niềm vui không đến được. 7) Thành tựu không có gì tụ tập, hư hoại không có gì phân tán. 8) Không có thật nhưng làm tên gọi, lại không có thể dừng lại trong khoảnh khắc. 9) Tướng có mà Thể không có gọi là hư, chấp hư làm thật gọi là vọng; lại không có thật cho nên hư, giả làm thật cho nên vọng. 10) Pháp thế gian mau chóng diệt mất, cho dù dụng tâm ngăn ngừa bảo vệ mà cũng không có thể làm cho tồn tại. Lại giải thích: Trong duyên không có lực cho nên nói là không có tinh cần, bởi vì không có lực cho nên không có hòa hợp, không có hòa hợp cho nên không có kiên cố. Mười loại Vô thường này như trong luận giải thích về Địa thứ ba.

Hai, Mười câu trong phần Thắng tiến là hành bảo vệ Tiểu thừa, trong đó một câu đầu là tổng quát, nghĩa là phân biệt giả danh không thật… của chúng sinh, lại phân biệt chủng loại sai biệt…, chín câu còn lại là riêng biệt: Câu một là biết về pháp giới nhiễm tịnh-hoặc nghiệp của chúng sinh sai biệt; câu hai là biết về nơi chốn nương tựa khác nhau của chúng sinh; tiếp bốn câu là biết về bốn Đại thành tựu chúng sinh khác nhau; tiếp ba câu là biết về ba cõi khác nhau, chúng sinh thô tế khác nhau. Lại giải thích: Câu thứ ba là tổng quát biết về y báo, tiếp đến bốn Đại là đưa ra Thể của căn khí, tiếp đến ba cõi là phân rõ về Tướng của căn khí, đều phân biệt tức là trống rỗng và sai biệt… Trong giải thích nêu ra rằng trước đây chỉ có quán về Vô thường-Không…, vì sao lại khởi lên phân biệt như vậy? Giải thích rằng bởi vì ngay nơi trống rỗng mà phân biệt về sự mới làm cho Tuệ sáng suốt rõ ràng.

Trong Trú thứ tư: nêu ra và giải thích tên gọi có thể biết. Trong kinh Pháp Hoa nói: “Từ miệng Phật sinh ra, từ pháp giáo hóa sinh ra…” Một-Mười câu về Tự phần giống như mười loại Pháp trí trong Địa thứ tư. Ba câu đầu là thâu nhiếp tâm tiến vào lý để tu về hạnh Chỉ: 1) Chứng tâm hướng về Phật; 2) Tận cùng nguồn gốc của pháp; 3) An tâm phù hợp với pháp. Bởi vì đây là dựa vào phần vị xuất thế, đối với Tam Bảo đạt được Tín thanh tịnh bất hoại.

Bảy câu sau là soi chiếu thông hiểu sự tướng để tu về hạnh Quán: 1) Phân tích về chủng loại đã giáo hóa có nhiều loại; 2) Ứng với cơ hiện rõ quốc độ sai biệt không phải là một; 3) Y báo nhiễm tịnh của chúng sinh khác loại; 4) Nghiệp có thiện ác không giống nhau; 5) Quả có khổ vui khác nhau; 6) Sinh tử có bảy loại sai biệt; 7) Niết bàn có hai-bốnnăm khác nhau. Đều đối với những loại này phân tích mà hiển bày về Không và tụ loại sai biệt, hai nghĩa dựa theo đây. Lại giải thích: Trong bảy câu, một câu là tổng quát nêu ra Chánh báo nhiễm tịnh, tiếp hai câu là Y báo nhiễm tịnh, tiếp hai câu là nhân quả nhiễm tịnh, tiếp hai câu là phần vị nhiễm tịnh có thể biết.

Hai, Mười câu trong phần Thắng tiến: Ba câu đầu là tìm tòi suy nghĩ để chọn lựa, ba câu tiếp là chọn lựa rồi chính thức tu tập, ba câu tiếp là tu tập đã thành tựu đầy đủ, một câu sau cuối là tổng quát kết luận không có hai. Lại giải thích: Ba câu đầu là Giáo pháp, ba câu tiếp là Hành pháp, ba câu tiếp là Quả pháp, một câu sau cuối là Lý pháp. Nêu ra giải thích có thể biết.

Trong Trú thứ năm:

Một, Trong Tự phần, một câu đầu là tổng quát, chín câu còn lại là riêng biệt. Trú thứ hai trước đây phát khởi tâm này, Trú này nêu ra thiện căn, hiển bày việc đã làm dần dần chín muồi cho nên riêng biệt. Trong chín câu riêng biệt: 1) Khiến cho tu thiện hạnh; 2) Khiến cho đạt được quả vui sướng; 3) Không khiến cho đắm vào vui sướng; ) Khiến cho tu đạo xuất thế; 5) Khiến cho nơi đã sinh ra xa lìa tám nạn…, lại khiến cho xa lìa những nạn như phiền não-nghiệp…; ) Cuối cùng mong muốn khiến cho ra khỏi các khổ như Phần đoạn-Biến dịch…; 7) Chỉ rõ dùng Chánh pháp để diệt trừ không tin và nghi ngờ cho nên vui mừng; ) Trao cho ba Học để khống chế điều phục đi đến tu tập; 9) Khiến cho đạt được quả của Học, cũng là bảy Trí-tám Định.

Hai, Mười quả Đoạn trong Thắng tiến về Học: 1) Bởi vì không có đối trị cho nên sinh tử không giới hạn; 2) Đây là dựa theo quá khứ-vị lai cho nên làm thành hai câu; 3) Dựa theo Khổ hiện tại; 4) Dựa theo mười phương, lại dựa theo Thể tánh, lại dựa theo căn dục; 5) Dựa theo hai cõi dưới; 6) Dựa theo cõi Vô sắc, lại dựa theo nhiều chủng loại; 7) Dựa theo tánh Sở chấp; và 8) Dựa theo tánh Y tha, nghĩa là câu trước dựa vào duyên, câu sau không có thật, lại đầu là không có tánh-sau tựa như có; 9) Dựa theo Như Lai Tạng Không trong Viên thành thật để phân rõ. Lại 10) Dựa theo Vô tướng, 11) Dựa theo Vô sinh, 12) Dựa theo Vô tánh, 13) Tổng quát kết luận về ba Vô tánh.

Sau là trong giải thích về không có nhiễm trước có hai nghĩa: 1) Đã dùng thiện căn cứu giúp thâu nhiếp chúng sinh, dùng pháp Học nhận biết về chúng sinh vô biên… cho nên tâm không vướng vào phạm vi giới hạn…, tức là hai tâm rộng rãi và bình thường. 2) Học nhận biết về Không… cho nên không chấp trước, thật là tâm không điên đảo, bởi vì những pháp Học này làm cho Từ Bi… trước đây mới có thể thuận theo lý thực hành tăng lên, vì vậy cần phải học.

Trong Trú thứ sáu: Mười câu trong Tự phần, bốn câu đầu dựa

theo tâm cung kính Tam Bảo mà tu pháp quán bình đẳng, ba câu tiếp dựa theo tâm thương xót chúng sinh mà tu pháp quán bình đẳng, ba câu sau dựa theo nhận biết về pháp giới mà sáng tỏ về pháp quán bình đẳng. Bởi vì lời khen ngợi-chê bai đều từ duyên khởi và không có tự tánh, lý của Vô tánh là cảnh quán này, cho nên Bất động gọi là Chánh tâm trú. Lại nữa, Phật có đủ công đức thù thắng thì lý nên ca ngợi, cho nên nghe ca ngợi không lay động, nếu chấp Phật là có tình thức thì đã trái với Chánh lý, cho nên nghe chê bai không lay động. Vả lại, tướng chê bai làm cho không còn, lý ca ngợi làm cho hiển bày, cho nên đều là Bất động. Vì vậy trong kinh Thương Chủ Thiên Tử nói: “Lại tiếp tục hỏi Văn Thù Sư Lợi: Nếu lại có người chê bai điều Đại Sĩ đã nói thì lúc ấy sẽ thế nào? Đáp rằng: Sẽ hướng về Niết-bàn. Lại hỏi: Vì sao đưa ra cách nói như vậy? Đáp rằng: Tất cả không có, ngôn ngữ không chê bai mà có thể đến được trong giải thoát của bậc Thánh, nguyên cớ thế nào? Bởi vì trong Thánh đạo ấy không có danh tự-chương cú-ngôn ngữ có thể giảng giải-có thể nêu rõ, nếu không tin thì những người ấy sẽ không giải thoát. Lại hỏi: Vì sao đưa ra cách nói như vậy? Đáp rằng: Bởi vì không thể nào đã được giải thoát lại tiếp tục được giải thoát, lại bởi vì pháp giới tùy theo chứng có sâu cạn, cho nên nói là lượng-vô lượng, thế giới nhiều cho nên nói là pháp giới thành-hoại.” Vì vậy trong tụng nói thế giới thành-hoại, Không-Bất Không là có-không có. Bởi vì đạt được mười loại tâm quyết định này, cho nên đối với duyên nghịch thuận đều không thể nào lay động. Ở trong phần vị này có thị hiện lui sụt, là bởi vì dẫn dắt sơ tâm lười nhác…, như Xá-lợi-phất Pháp Tài Vương…, cho nên Trú thứ bảy mới gọi là Bất thối.

Trong mười Thắng tiến: 1,2,3) Ba loại đầu dựa theo quán ba Vô tánh; 4) Dựa theo hoặc nghiệp; 5) Dựa theo quả báo; 6) Dựa theo chủ động hiện bày; 7) Dựa theo thụ động hiện bày; 8) Không có Thể; 9) Hiện bày chân thật; 10) Duyên tụ tập. Lại giải thích: Mười loại này đều lần lượt chuyển tiếp giải thích về nghi ngờ. Người nghi ngờ nghe về pháp Sở chấp không có tướng liền cho rằng Y tha là có. Giải thích là bởi vì thuận theo duyên không có tánh. Lại nghi ngờ đã không có Y tha, Chân như ở trong ràng buộc lẽ nào không cần phải tu để hiển bày hay sao? Giải thích là bởi vì tánh thanh tịnh cho nên không cần phải tu. Lại nói rằng Chân nếu là tánh thanh tịnh thì nghiệp-phiền não… lẽ nào không đoạn trừ hay sao? Giải thích là bởi vì không vốn có. Nghi ngờ rằng nếu như vậy thì vì sao hiện tại có Y-Chánh quả báo? Giải thích là bởi vì dựa vào Chân mà không thật. Lại nói nếu pháp thế gian không thật thì chân lý làm chỗ dựa cho các pháp, điều này phải là có? Giải thích là bởi vì như hư không làm chỗ dựa cho Sắc…, nhưng tự Thể không phải là có. Lại nói chỗ dựa nếu không có thì các pháp tự động dựa vào lẽ ra phải có? Giải thích là bởi vì Y tha không có tự tánh. Lại nói nếu như vậy thì lẽ ra hủy hoại nghiệp quả? Giải thích là bởi vì như huyễn. Lại nói nếu như vậy thì người thế gian sao không thấy là huyễn mà thấy là thật? Giải thích là bởi vì còn trong mộng. Lại nói mộng thì thấy cảnh mộng, tỉnh rồi thì không thấy, pháp thế gian không phải như vậy, phàm Thánh cùng thấy? Giải thích là như tiếng vang tuy lớn nhỏ đều nghe, nhưng hiểu rõ và không hiểu rõ khác nhau. Nguyên cớ thế nào? Hỏi rằng trước nghe mười pháp thì tâm nhất định không lay động, đã thuận với Chánh lý, đâu cần phải trở lại quán như vậy…? Giải thích là bởi vì muốn tiếp tục tiến sâu vào khiến cho đạt được Nhẫn không lui sụt của phần vị sau.

Trong Tự phần của Trú bất thối thứ bảy: Tâm kiên cố không lay chuyển cùng với Chánh tâm trước đây khác nhau thế nào? Giải thích là trước đây Chánh tâm tiến vào lý, nay lý-sự không lui sụt, bởi vì từng niệm thuần thục cùng hiện rõ trước mắt, cho nên giống như Địa thứ bảy. Lại có thể phần vị trước thông hiểu sự tiến vào lý, đây là cùng hành; phần vị sau từ lý hướng về sự, bởi vì dần dần thuần thục. Do đó, phần vị trước chỉ ở nơi Tam Bảo… nghe ca ngợi không vui mừng, nghe chê bai không buồn rầu, hãy còn chưa có thể nghe về có và không có, bởi vì không chịu nổi. Trong Trú này nghe về có-không lợi-hại, càng thêm kiên cố không lay động, cho nên hơn hẳn so với trước. Trong này dựa theo lý là không có, dựa theo sự là có, bởi vì có này tức là có của không có. Nghe có cũng có thể không có, không bị có làm cho lay động; bởi vì không có tức là không có của có, nghe không có cũng có thể có, không bị không có làm cho lay động. Bởi vì đạt được hai hành cho nên như vậy. Lại dựa theo ba tánh để giải thích về có-không có. Lại không ra khỏi sinh tử là bởi vì không có thể ra, bởi vì Đại Bi cho nên không rời bỏ. Lại bởi vì ba đời cùng là Như, một tướng không hủy hoại sai biệt cho nên không phải là một.

Trong Thắng tiến có mười pháp-năm cặp: Một- Một và Nhiều ngay trong nhau. Hai- Giáo và Nghĩa dựa vào nhau, vị là giáo. Ba- Có và Không có vô ngại: 1) Sở chấp về lý không có là không phải có, ngay nơi tình này có cho nên là có; 2) Có lý không có này, cho nên không phải có là có; 3) Dựa theo lý pháp, đó là không phải tình có mà là lý có; 4) Y tha tựa như có cho nên không phải là có, có pháp có này bởi vì là có; 5) Y tha Vô sinh là không phải có, không hoại tựa như có cho nên là có; 6) Có pháp Vô sinh này cho nên dựa theo đây; 7) Chân như lìa tướng cho nên không phải là có, có pháp Chân này cho nên là có; 8) Không Chân như là không phải có, ngay nơi Bất Không này là có; 9) Tánh thuộc Vô tánh là không phải có, có tánh này là có; 10) Tùy theo nhiễm ẩn kín cho nên không phải là có, tánh vốn thanh tịnh cho nên là có. Có là không phải có thì ngược lại với mười nghĩa trước, nên biết. Bốn-Tướng và Phi tướng vô ngại. Năm-Tánh và Phi tánh vô ngại. Đều có đủ mười nghĩa, thuận nghịch giống như trước dựa theo biết rõ. Lại giải thích: Ba cặp sau dựa theo ba tánh-ba vô tánh, như thứ tự nên biết. Giải thích trong pháp Học, muốn làm cho hai hành vô ngại khéo léo tròn vẹn đầy đủ, cho nên nói là cụ túc…

Trong Trú thứ tám: Nghĩa là thuận theo lý hướng về sự mà không sai lý, cho nên nói là tâm được an lập. Trong Tự phần: Đầu là ba nghiệp vô nhiễm, là Thể của đồng chân, bởi vì không sai lạc chân lý khiến cho sự thanh tịnh, là hành thuộc Tự lợi, còn lại là hành thuộc Lợi tha. Bởi vì ba nghiệp thanh tịnh, cho nên có thể thọ sinh tự tại. Biết các tâm như Tín…, thuận theo tâm khởi lên ham muốn vui thích, quen ham muốn rồi thành tánh, dựa vào tánh mà tạo nghiệp, đều nói như phần về mười rừng rậm trong Địa thứ chín. Lại như phẩm Phát Tâm Công Đức nói, nhận biết về hai mươi kiếp thành… của Khí thế giới, lại nhận biết tụ tập cho nên thành-phân tán cho nên hoại… Thần thông tự tại là tổng quát kết luận về Dụng thù thắng của ba nghiệp.

Trong Thắng tiến: Sáu câu đầu là cảnh bên ngoài tự tại, bốn câu sau là tự thân tự tại. Lại giải thích: Bảy câu đầu là trình bày về pháp Học rộng rãi nhận biết ba nghiệp rộng lớn, ba câu sau trình bày về ba nghiệp tự tại. Trong phần đầu, trước là trình bày về ý nghiệp, trong đó: 1) Tổng quát nhận biết về cảnh (khí); 2) Nhận biết về mình có thể sử dụng; 3) Tuy sử dụng nhưng dùng nguyện lực duy trì khiến cho không hư hoại, lại duy trì khiến cho sử dụng bình thường; 4) Quán sát điều ấy tức là Chân…, lại quán nhiễm tịnh sai biệt, bởi vì sắp đi đến nơi; 5) Trình bày về thân nghiệp, nghĩa là quán sát rồi cần phải đi đến nơi đó; 6) Không những theo thứ tự đi đến, mà cũng có thể cùng lúc đến khắp nơi. Cõi Phật chắn chắn có Phật, thế giới bao gồm có Phật và không có Phật. 7) Trình bày về ngữ nghiệp, nghĩa là nếu đến nơi có Phật thì có thể thưa hỏi Đức Phật về diệu pháp, nếu đến cõi không có Phật thì có thể khéo léo giải đáp mọi chất vấn, trong bản khác giống như sau giải thích. 8) Trình bày về thân nghiệp tự tại, nghĩa là không những một thân đến nhiều thế giới, mà còn có thể biến hóa trở lại làm ra nhiều thân thành tựu thân nghiệp pháp giới; 9) Ngữ; 10) Ý; đều thành tựu về Dụng thù thắng tự tại của pháp giới có thể biết. Trong phần sau là nêu ra giải thích, trình bày hễ đối với tất cả các pháp thì có thể khéo léo sử dụng tự tại, bởi vì thành tựu viên mãn.

Trong Trú thứ chín: Giống như Thiện Tuệ địa, ở trong Tự phần: 1) Hiểu rõ sáu nẽo tức là rừng rậm của hành Sinh; 2) Là rừng rậm của hành Sử; 3) là rừng rậm của hành Tập khí. Ba loại trên là chúng sinh đã giáo hóa; 4) Là trí phương tiện chủ động giáo hóa; 5) Là trí thành tựu hiểu rõ về thuốc pháp; 6) Biết rõ nghi thức hóa đạo, chỉ rõ oai nghi của Pháp sư; 7) Hiểu rõ nơi giáo hóa, nghĩa là trú xứ của chúng sinh đã giáo hóa; 8) Hiểu rõ thời gian giáo hóa, nghĩa là bởi vì biết về ba đời như thời gian chưa chín muồi-đã chín muồi… của căn cơ được giáo hóa; 9) Không thay đổi giới hạn của chân thật (chân tế) mà kiến lập các pháp; 10) Không hủy hoại giả danh mà nêu rõ thật tướng của các pháp.

Trong phần Thắng tiến, đã là con của bậc Pháp Vương cho nên cần phải học để nhận biết trú xứ… của Pháp Vương. Trong đó, một-Trú xứ có tám: 1) Dựa theo Pháp thân thì không có trú xứ; 2) Dựa theo Trí thì trú vào chân lý tức là trú vào nơi không hề trú; 3) Dựa theo Báo thân thì trú trong các Tịnh độ; 4) Dựa theo hạnh đức thì trú trong bốn Phạmba Không và điện Từ Bi…; 5) Dựa theo Hóa thân thì trú trong nước Ma-kiệt…; 6) Dựa theo mười Phật thì trú trong quốc độ hải; 7) Trú trong Hoa Tạng giới…; 8) Trú trong pháp giới không có chướng ngại. HaiKhéo léo nhận biết bốn oai nghi hóa hiện bên ngoài, nghĩa là tùy theo chúng sinh cần phải đi thì đi… Ba-Khéo léo nhận biết nơi chốn của bậc Pháp Vương an lập, nghĩa là do cơ cảm và Bi nguyện khởi lên cho nên thân độ mới hiện bày, cho nên nói là an lập, bản khác gọi là hưng lập. Bốn-Khéo léo chứng chân lý, lại khéo léo dựa vào ứng cơ. Năm-Dựa vào chứng dấy khởi thuyết giảng, lại dựa vào cơ phân tích riêng biệt. Sáu-Biết Đức Phật dùng nước Trí rưới trên đỉnh đầu Bồ-tát đạt được phần vị… Bảy-Biết Chánh pháp của Phật nên lấy gì để duy trì mà có thể thọ trì. Tám-Biết mười Vô úy của Phật giải đấp chất vấn không sợ hãi… Chín-Biết Phật ở thế gian không nhiễm, lại không đắm vào biện tài… Mười-Biết ca ngợi quỹ tắc của Phật, lại biết thật đức đáng ca ngợi của Phật. Trong giải thích là bởi vì đạt được trí Vô ngại của Địa thứ chín.

Trong Trú thứ mười, Tự phần có hai: Trước là mười câu hiển bày về trí đã thành tựu, sau là mười câu ca ngợi về đức thù thắng. Trong phần trước, năm câu đầu trình bày về trí thế giới vô ngại: 1) Tùy tâm xoay chuyển; 2) Ánh sáng chiếu rọi giác ngộ; 3) Nguyện cùng tùy ý duy trì; 4) Tự tại tiến vào khắp nơi; 5) Nơi đến đều trang nghiêm. Ba câu tiếp là trí nhận biết tâm hành của chúng sinh: 6) Nhận biết về tâm; 7) Nhận biết cảnh giới hiện hành của tâm; 8) Nhận biết về căn hải. Hai câu sau là trí trao truyền pháp: 9) Thuận theo căn trao cho pháp; 10) Khiến cho diệt trừ phiền não thành tựu công đức, cho nên nói là điều phục. Lại cũng đầu là nêu ra ý, sau là giải thích thành tựu. Đó là hóa độ như thế nào? Vốn là dùng ba pháp Học để điều phục.

Hai là trong mười câu phân rõ về đức thù thắng, bốn câu đầu trình bày về thân nghiệp không thể nào biết được tức là nghĩa về Nghiệp tự tại, sáu câu sau là tâm trí không thể nào biết được tức là nghĩa về Trí tự tại. Trong bốn câu đầu: 1) Thân sắc vi diệu; 2) Dựa vào thân khởi lên nghiệp thù thắng; 3) Biến hiện kỳ lạ; 4) Lạ lùng vô ngại.

Lại giải thích: 1) Thể của thân; 2) Dụng; 3) Thể của thần túc; 4) Dụng. Đều không thể nào biết được, bởi vì sự tức là giống như lý mà hiển bày sự, lại bởi vì hiển mật sử dụng khắp nơi. Trong sáu câu sau: Ba trí đầu là cùng tận ba đời, tức là ba trí thông hiểu vi diệu, nhận biết tất cả thời gian; bốn là trí trang nghiêm thanh tịnh quốc độ, tức là trí tự tại về Khí thế gian, nhận biết tất cả mọi nơi; năm là trí tự tại về Chúng sinh thế gian, bởi vì nghiệp nhiễm tịnh-tâm tập khởi là chúng sinh; sáu là trí tự tại về Trí chánh giác thế gian. Lại giải thích: Tâm tức là Định, sau là Tuệ. Lại giải thích: Tâm cảnh là Tục đế, bởi vì là Tập khởi, tức là trí vốn có của chín loại trên; cảnh là Chân, bởi vì chiếu rọi lý, tức là kết luận quy về Chân. Bởi vì Chân-Tục này vô ngại cùng chiếu rọi như gương treo cho nên đều không thể nào biết được. Sau là chọn lựa xác định phần vị ấy, nói là lẽ nào có thể cùng phần vị Bồ-tát và Phật cũng không biết hay sao? Nay giải thích như văn.

Sau là trong mười Thắng tiến, học về Nhất thiết trí-Nhất thiết chủng trí của Phật, ngay nơi phần vị ấy đầy đủ Quán đảnh làm Phật, bởi vì thâu nhiếp các phần vị đều đầy đủ; như sau ở phẩm Nhập Pháp Giới, Tỳ-kheo Hải Tràng đảnh lễ nơi Đức Phật thuyết pháp mà nhận biết. Một- Dựa theo văn tụng sau tổng quát học về trí của chư Phật ba đời; hai- Học về trí Giáo pháp của Phật; ba- Trí về Lý pháp; bốn- Trí về lý sự nhiều môn vô ngại; năm- Trí về Đại Dụng rộng khắp mọi nơi; sáuTrí về đối với duyên soi chiếu tỏ ngộ; bảy- Trí về thế giới nương tựa duy trì; tám- Trí về phía dưới cùng cùng tận thế giới chúng sinh; chín- Trí về phía trên tận cùng quả Phật; mười- Trí về quả đức nhiều môn. Trong này, Quán đảnh có nghĩa về tiếp nhận chức vụ, cùng với Pháp Vân địa sai khác như nhau…

Trong phần sáu là phần chứng thành, có hai: Trước là hiển bày chân thật, sau là chứng minh thành tựu. Hai phần này đều có hai: Trước là cõi này, sau là kết luận nối thông.

Trong phần hiển bày chân thật, trong cõi này có ba: Một- Trong mặt đất rung động: 1) Nhân rung động, 2) Nơi rung động, 3) Tướng rung động. Hai- Mưa cúng dường tức là thân nghiệp. Ba- Phát ra âm thanh tức là ngữ nghiệp, dùng pháp để dựa theo.

Trong phần chứng minh thành tựu, trong cõi này có bốn: Một, Bồ-tát đến nơi này, trong đó có nguyên nhân đến, nơi đến, người đến. Hai, phát ra lời ca ngợi. Ba, trong thuật rõ đã dẫn ra chứng minh, một là người thuyết giảng như nhau, hai là nơi chốn như nhau, ba là chủ như nhau, bốn là nghĩa như nhau, năm là chúng như nhau, sáu là giáo như nhau. Bốn, hiển bày về ý đưa ra là chính thức kết luận về thành tựu chứng đắc.

Trong phần bảy là phần kệ tụng, dùng bốn câu làm thành một tụng, tức là có 101 tụng rưỡi, phân hai: Đầu có 92 tụng rưỡi, tụng về pháp của Thập Trú trước đây; sau có 9 tụng kết luận ca ngợi khuyến khích tu tập.

Trong phần trước tụng về Thập Trú tức là mười đoạn. Ngay trong Trú thứ nhất có tụng, trong đó phân bốn: Một có ba tụng về Duyên và Thể của phát tâm trước đây; hai có 32 tụng về đạt được một phần của mười Lực; ba từ “Bồ-tát như thị phát tâm…” trở xuống có mười kệ tụng về mười pháp cần phải học; bốn từ “Thị thuyết Bồ-tát…” trở xuống có một kệ tụng về tổng quát kết luận. Trong phần hai cũng có ba: a) Mười tụng về hành của mười Lực; b) Có hai tụng về phát tâm cầu pháp thuộc hai Đế đã nhận biết; c) Từ “Chấn động…” trở xuống là 20 tụng về phát tâm vì cầu ba nghiệp của Phật, trong đó một là mười tụng về thân nghiệp, hai từ “Thập phương…” trở xuống là ba tụng về ngữ nghiệp, ba từ “Nhất thiết thập phương…” trở xuống là sáu tụng về ý nghiệp, bốn là một tụng về kết luận ca ngợi. Lại ba nghiệp rộng lớn này là pháp đã đạt được trong Trú này, đó là ba nghiệp tùy theo trí hành… Trong ba tụng về Thắng tiến đã học, Giáo không lui sụt là thuyết giảng về Giáo thuận với Chánh lý không thay đổi, lại thuyết giảng về Giáo tiến vào phần vị này là nghĩa không lui sụt, lại bởi vì thuận theo Giáo pháp này nhất định không lui sụt; trước là Trì nghiệp thích, hai loại sau là Y chủ thích.

Ở trong mười pháp Thắng tiến trước đây, mười tụng theo thứ tự đều tụng về một pháp, một tụng sau cuối là tổng quát kết luận, đều có thể biết.

Trong Trú thứ hai có sáu tụng, hai tụng đầu về Tự phần, bốn tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ ba có năm tụng, hai tụng đầu về Tự phần, ba tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ tư có sáu tụng, ba tụng đầu về Tự phần, ba tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ năm có bốn tụng rưỡi, ba tụng đầu về Tự phần, một tụng rưỡi sau trình bày về Thắng tiến. Trong Trú thứ sáu có năm tụng, bốn tụng đầu về Tự phần, một tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ bảy có bốn tụng, hai tụng đầu về Tự phần, hai tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ tám có năm tụng, ba tụng đầu về Tự phần, hai tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ chín có ba tụng, hai tụng đầu về Tự phần, một tụng sau về Thắng tiến. Trong Trú thứ mười có tám tụng, năm tụng đầu về Tự phần, một tụng tiếp hiển bày về đức, hai tụng sau về Thắng tiến.

Trong đoạn lớn thứ hai là kết luận ca ngợi khuyến khích tu tập, có chín tụng phân ba: Một có một tụng tổng quát ca ngợi về Thập Trú, hai có bảy tụng riêng biệt ca ngợi về Trú thứ nhất, ba có một tụng dùng Trú thứ nhất tăng lên tương tự hiển bày về Trú sau.

Phẩm 12: PHẠM HẠNH

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI: Giải thích tên gọi: Một- Lìa xa cấu nhiễm của vọng niệm cho nên nói là Phạm, thông hiểu về lý Vô ngã cho nên nói là Hạnh, Hạnh này tức là Phạm. Hai- Lìa xa cấu nhiễm đến cuối cùng gọi là Phạm, tức là cảnh chân thật; Trí có năng lực chứng được cảnh này cho nên nói là Hạnh. Ba- Quả của Niết-bàn là Phạm, bởi vì vắng lặng; nhân của tu là Hạnh, đây là Hạnh của hai Phạm. Tịnh và Phạm khác nhau thế nào? Có sáu khác nhau: 1) Dựa theo Báo, trời cõi Dục là Tịnh, trời cõi Sắc là Phạm. 2) Dựa theo Người, Giới tại gia là Tịnh, Giới xuất gia là Phạm. 3) Dựa theo Hành vị, trong Tín thì tu là Tịnh hạnh, tiến vào phần vị trở đi thì tu là Phạm hạnh. ) Dựa theo hai Lợi, ba Học thuộc về Tự lợi là Tịnh hạnh, bốn Đẳng thuộc về Lợi tha là Phạm hạnh, điều này như kinh Niết Bàn nói. 5) Dựa theo hai Hành, tùy theo sự việc mà thực hành tu tập Bố thí-Trì giới… là Tịnh hạnh, lìa niệm phù hợp với sâu xa là Phạm hạnh, như trong văn. ) Dựa theo nhân quả, Niết-bàn là Tịnh, hành thuộc Đạo đế là Phạm, chính là trong kinh nói: Phạm hạnh đã lập.

B. Ý đưa ra có năm: 1) Trước là phần vị-tiếp theo là hành, nghĩa là trước trình bày về phần vị chính thức, nay phân rõ về hành của phần vị thành tựu, do đó văn nói tu tập Phạm hạnh gì để đầy đủ Thập Trú? 2) Trước trình bày về phần vị chính thức, nay phân rõ dựa vào phần vị để khởi hạnh. 3) Trước là riêng-đây là chung, nghĩa là trong Thập Trú trước đây đều tu một loại công hạnh riêng biệt, nay phân rõ công hạnh trong các phần vị thực hành như nhau. ) Trước là chung-đây là riêng, nghĩa là trước đây phân rõ chung về phần vị, nay trình bày riêng về hạnh của người xuất gia. 5) Trước đây hiển bày về tướng sai biệt của phần vị, nay gặp duyên tiến vào thật, tức là Tướng trước-Thể sau.

C. TÔNG THÚ, dùng Chánh hạnh vô niệm làm Tông, phần vị Thập Trú đã thành tựu và mau chóng thành Phật… làm Thú. Quán lý Vô niệm sơ lược làm thành năm môn v.v…

D. GIẢI THÍCH VĂN có hai: Đầu là hỏi-sau là đáp. Trong hỏi trình bày về căn khí tiếp nhận pháp lìa nhiễm cho nên dựa vào Thiên Tử, căn khí lìa vọng niệm mới có thể tiếp nhận cho nên gọi là Chánh niệm, đầy đủ trong phần Thiên chủ Quang Nữ ở văn sau.

Trong văn: Một, Nêu ra người tin theo sự việc, không phải là người thì Không, pháp không phải là người; Hai, Từ “Bỉ chư…” trở xuống là chính thức hỏi có ba: 1) Hỏi về tu Phạm hạnh; 2) Thành tựu phần vị; 3) Đạt được quả.

Trong đáp sở dĩ Pháp Tuệ thuyết giảng, là bởi vì Tuệ chiếu rọi pháp mới có thể nêu rõ pháp. Trong đó cũng có ba: 1) Đáp câu hỏi về tu Phạm hạnh; 2) Từ “Hựu phục tu tập…” trở xuống là đáp câu hỏi về thành tựu phần vị; 3) Từ “Như thị quán giả…” trở xuống là đáp câu hỏi về đạt được quả. Lại cũng có thể phẩm này trở lại tiếp tục giải thích về nghĩa thành tựu của Trú thứ nhất trong Thập Trú trước đây, trong đó có ba, đó là một giải thích về phát tâm trước đây, hai là giải thích về mười Lực do phát tâm mà đạt được, ba là giải thích về tự giác ngộ đạt được quả thông hiểu giống như pháp giới trước đây, vì vậy ngay Trú thứ nhất này thâu nhiếp đầy đủ Thập Trú.

Trong phần một có bốn: 1) Trình bày về quán sát tìm tòi suy nghĩ, 2) Từ “Hựu tri quá khứ…” trở xuống là trình bày về quán sát đúng như thật, 3) Từ “Bồ-tát chánh niệm…” trở xuống là tướng thành tựu lợi ích của quán,4 ) Từ “Thị danh…” trở xuống là kết luận về tên gọi của quán. Trong phần một có ba: a) Nêu ra mười pháp làm cảnh đã quán (sở quán), b) Từ “Ưng như thị quán…” trở xuống là dùng lý nêu ra rõ ràng để hiển bày về chân lý của Phạm hạnh, c) Từ “Đương như thị…” trở xuống là kết luận.

Vì sao chỉ dựa vào mười pháp mà quán, bởi vì thâu nhiếp tóm lược toàn bộ các pháp, nghĩa là thân-khẩu-ý là quả hữu vi, ba nghiệp là nhân của quả ấy, Phật và Pháp là quả xuất thế, Tăng và Giới là nhân của quả ấy. Lại người xuất gia tu hạnh xuất thế cần phải dựa vào mười pháp này mới thành tựu Phạm hạnh, nghĩa là Tam Bảo và Giới là bốn cảnh thanh tịnh không hư hoại, tức là thụ động tin-thụ động tiến vào; thân-khẩu-ý là dụng cụ có thể tu hành, tức là chủ động tin-chủ động tiến vào, ba nghiệp là hành đối với cảnh thụ động tu tập-thụ động thành tựu. Nay suy xét tìm hiểu Phạm hạnh này ở trong pháp nào? Đã cầu không thể được, tức là Tướng không còn-Lý hiển bày mới là Phạm hạnh chân thật, cho nên trong văn dựa theo mười pháp này chỉ nêu ra Phạm hạnh mà không nêu ra pháp khác.

Trong văn có hai: Một, Dùng lý đối chiếu để xác định; Hai,Từ “Nhược thân thị…” trở xuống là phá bỏ từ ngoài vào trong để hiển bày về không phải. Lại đầu là tổng quát-sau là riêng biệt, đầu là tóm lượcsau là mở rộng. Trong này nêu ra mười pháp để đối chiếu, tức là mười phần.

Trong phần một, nếu thân là Phạm hạnh thì nhất định đã thiết lập điều ấy; sau dùng lý mở rộng nêu ra, nghĩa là Phạm đã là pháp thanh tịnh, thân là tạp uế cho nên không phải. Bởi vì sáu sự như thân… này là gồm chung pháp nhiễm-tịnh, chỉ dựa theo nhiễm-tịnh trái ngược nhau trình bày không phải là Phạm hạnh, không phá bỏ tự Thể của sau sự ấy; bốn phần sau là pháp thanh tịnh, bởi vì thuận với Phạm hạnh, tức là mở rộng phân tích riêng biệt để hiển bày về chân lý.

Trong phần một là thân có tám câu, một câu đầu là tổng quát, bảy câu còn lại là riêng biệt: 1) Không có quỹ tắc thích hợp thì không phải là pháp xuất thế; 2) Ăn uống cung cấp để thành tựu; 3) Tập khí tệ hại bừng bừng; 4) Có đủ ba mươi sáu vật; 5) Vấy nhiễm bụi bặm dơ bẩn; 6) Tự nuôi dưỡng bằng tà mạng; 7) Các loài trùng rúc rỉa.

Theo kinh Quán Phật Tam Muội: “Lúc Đức Phật sắp thành đạo, có các ma đến quấy nhiễu. Lúc ấy Đức Phật dùng lông trắng nhỏ dài để hóa ra, khiến cho ma nữ kia tự thấy máu mủ, nước miếng-nước mũi, chín lỗ căn bản, sinh tạng-thục tạng, tạng phủ trong thân, uốn lượn quanh co, sinh ra các loài trùng. Có tám vạn hộ trùng, mỗi hộ có chín ức các trùng nhỏ cùng chui rúc tiến vào trong ruột non, há miệng hướng lên phía trên, trùng lớn chui rúc tiến vào trong ruột già, há miệng cũng như vậy, rúc rỉa ăn các tạng phủ-mạch tủy, sinh trùng nhỏ như lông tơ, số ấy rất nhiều. Các ma nữ trông thấy sự việc này lập tức nôn mửa…”

Lại trong Tiểu thừa nói: “Đầu trùng hướng vào phía trong, đuôi trùng hướng ra phía ngoài, đan làm lớp da người.” Lại trùng này là cảnh quán cho nên tuy thật có mà lúc dấy lên quán về trùng thì mới trông thấy, như xương trắng… cũng quán sát thì mới trông thấy. Tiểu thừa tức là thật, Sơ giáo tức là Không, đều dựa theo đây.

Trên đây chỉ là phá bỏ từ ngoài vào trong, vì vậy nói là nên biết Phạm hạnh tức là các loài trùng. Nếu đầy đủ thì phải nói là các loài trùng đã không phải là Phạm hạnh, biết rõ ràng Phạm hạnh không ngay nơi thân này, như thân không có Phạm hạnh thì môn khác cũng như vậy. Bởi vì dựa vào những điều này mà thành tựu Phạm hạnh, cho nên đối với mười pháp này cầu Phạm hạnh không thể được, lìa xa mười pháp này cũng cầu không thể được. Văn sau nói như thế nào là Phạm hạnh, pháp của Phạm hạnh là ở nơi nào…? Ý là như vậy, tùy văn dựa theo biết được.

Trong phần hai là thân nghiệp có thể biết.

Trong phần ba là khẩu, tâm tiếp xúc là Xúc thường xuyên duyên với cảnh dấy khởi lời nói, giúp cho phát ra thành khẩu nghiệp. Luận Câu Xá gọi là Tăng ngữ xúc trong mười sáu loại Xúc.

Trong phần bốn là khẩu nghiệp, ngôn ngữ so với trước có gì khác nhau? Trước là dựa theo Thể của báo, sau là dựa theo Dụng của nghiệp cho nên khác nhau. Thật sự mà luận thì Thể của khẩu thuộc về thân thâu nhiếp, nhưng chọn lấy bên lời nói chủ động phát ra gọi là Ngữ, pháp của lời nói thụ động phát ra gọi là Ngữ nghiệp. Vì vậy Tân dịch ra là Ngữ nghiệp, Cổ dịch dựa vào tướng gọi là Khẩu. Tác-Vô tác là nghĩa về Biểu-Vô biểu trong Thể của Ngữ nghiệp.

Trong phần năm là ý, huyễn mộng là bởi vì ý thức hiện hành trong lúc ngủ, những sự việc chủ động-thụ động… đã trông thấy trong mộng, đều vốn là tâm huyễn dấy lên. Trong đó Giác quán… đã là tâm pháp, giống như là nêu ra tâm sở(số) để chứng minh cho tâm vương.

Trong phần sáu là ý nghiệp, dựa theo năm Biến hành để nêu ra, bởi vì là hoạt động hiện hành căn bản. Tưởng là Tưởng số, thi thiết là Tư, nóng lạnh-đói khát là Xúc, khổ… là Thọ, đại khái là không có tác ý.

Trên đây chỉ là nhiễm-tịnh trái ngược nhau hiển bày về không phải là Phạm hạnh, không cần phải phá bỏ tường tận; bốn phần sau thuận với Phạm hạnh cho nên phá bỏ riêng biệt, phân tích tường tận mới hiển bày về chân lý, cho nên không giống nhau.

Trong phần bảy là Phật: 1) Dựa theo năm Ấm; 2) Dựa theo tướng tốt; 3) Dựa theo thần thông. Nghiệp báo là nêu rõ sự việc cây thương vàng… Ba điều trên đây đều dựa vào phần trước phát khởi phần sau theo thứ tự nêu ra.

Trong phần tám là Pháp, có sáu câu: 1) Giáo thanh tịnh; 2) Lý về quả; 3) Dựa theo duyên sinh-không sinh; 4) Dựa vào Thể thật-không thật; 5) Dựa vào tình là hư vọng; 6) Thành và hoại là hợp và tán. Trong này gồm chung có ba nghĩa: a) Tịnh là hai câu đầu; b) Nhiễm là hư vọng; c) Không phải nhiễm-không phải tịnh là những câu còn lại. Bởi vì dựa theo ba tánh tùy theo thấy một phần, tánh thuộc phần còn lại không khác, cho nên đều không phải là pháp. Lại dựa theo chấp, Lương Nhiếp Luận nói: “Chấp Niết-bàn lấy Vô sinh tịch tịnh làm Thể, có năng lực lìa xa ba khổ làm Dụng…, đều thành Pháp-Ngã và Ngã sở chấp, cho nên đều không phải là pháp.”

Trong phần chín là Tăng: 1) Dựa theo phần vị mà cầu, Tăng nghĩa là bốn Hướng-bốn Quả, bởi vì cùng chứng Vô ngã. Hòa hợp là ai? Vì vậy không có Tăng. 2) Dựa theo đức dụng mà cầu, nghĩa là ba Minhsáu Thông. 3) Dựa theo căn mà cầu, nghĩa là A-la-hán độn căn nhờ vào thời gian-nơi chốn mới đạt được giải thoát, gọi là Thời giải thoát; lợi căn ngược lại với điều này, gọi là Phi thời giải thoát.

Trong phần mười là Giới, Tầm-Tư có thể biết. Trên đây là bốn phương tiện Tầm-Tư cũng gọi là cầu trí: 1) Cầu theo danh, 2) Cầu nghĩa, 3) Cầu tự tánh, 4) Cầu sai biệt.

Từ đây trở xuống là phần thứ hai trình bày về trí quán sát đúng như thật. Trong đó có sáu: 1) Nêu ra thời gian làm chỗ dựa của Phạm hạnh, đó là ba đời đều Không, đầu là tổng quát quán sát, sau là giải thích riêng biệt. Nghĩa là bởi vì pháp hiện tại này không có Thể cho nên có thể dừng lại, không có chuyển vào trong đời quá khứ. Lại bởi vì không có Thể, cho nên không thể nào tiếp tục chuyển vào đời vị lai. Lại bởi vì quá khứ diệt mất không có, cho nên không có vật nào có thể nối tiếp nhau chuyển vào hiện tại. Lại bởi vì vị lai không có Thể, cho nên không có pháp nào có thể dấy khởi khiến cho đến hiện tại, sát-na trước sau nên biết cũng như vậy. 2) Nêu ra Thể của Phạm hạnh. 3) Nêu ra nơi chốn làm chỗ dựa của Phạm hạnh, đó là đối với mười pháp trên đây, pháp nào là Phạm, Phạm ở nơi nào? 4) Nêu ra chủ của Phạm hạnh. 5) Dựa theo có-không có để nêu ra. 6) Dựa theo năm Ấm để nêu ra.

Trong phần thứ ba là quán thành tựu lợi ích: Một là trong thành tựu về quán, trước nói về pháp, như trên dựa theo ba đời quán sát mười pháp đều Không, cho nên nói phân biệt các pháp ba đời bình đẳng; sau nói về dụ, có thể biết. Hai từ “Như thị…” trở xuống trình bày về tướng của lợi ích có hai: 1) Lợi ích về hư vọng không trở ngại tâm, nghĩa là vì sao có thể không trở ngại? Bởi vì không giữ lấy tướng. Vì sao không giữ lấy? Bởi vì không có tánh. 2) Lợi ích về soi chiếu rõ ràng pháp giới, pháp-dụ có thể biết. Lại cũng có thể trước quán sát sáu pháp là thân… bình đẳng như Không, sau quán sát bốn pháp là Phật… như Không.

Thứ tư là kết luận về tên gọi của quán, có thể biết. Giải đáp câu hỏi thứ nhất, xong.

Từ đây trở xuống là đáp về câu hỏi thứ hai. Do thành tựu về hành của quán trước đây, cho nên lại tiếp tục tu thắng hạnh tiến vào phần vị Thập Trú. Trong văn có ba: Một là quán sâu vào quả trí; hai là tăng trưởng Đại Bi; ba từ “Tất phân biệt…” trở xuống là dùng lý dẫn dắt hai loại trước, tức là ba tâm-ba giới thành tựu ba đức-ba thân… Bởi vì văn trước kia, ở trong Trú thứ nhất đạt được một phần của mười Lực, nay hành thành tựu tiến vào phần vị cho nên phân rõ về lúc đầu, văn phần một-hai có thể biết. Trong phần ba có hai: Đầu là pháp, sau là dụ. Trong pháp có hai: 1) Dùng lý dẫn dắt Bi, nghĩa là không rời bỏ tịch diệt, không rời bỏ chúng sinh, bởi vì Không-Hữu không hai là chúng sinh, Bát-nhã Đại Bi là một tâm. 2) Dùng lý dẫn dắt quả, nghĩa là thực hành về nghiệp Vô thượng mà không cầu báo, bởi vì tức là Không cho nên không cầu, bởi vì không hoại cho nên thường hành, cũng là hành Trung đạo Chỉ-Quán cùng thực hành không vướng vào Không-Hữu. Vì sao đạt được như vậy? Bởi vì quán sát các pháp như huyễn…, không có Thể như huyễn, hiện tại thật như mộng, có tác dụng như chớp, duyên tụ như tiếng vang, thành sự như biến hóa.

Trong đáp về câu hỏi thứ ba, có hai: Một là nhắc lại phần trước, hai là phát khởi phần sau. Trong phát khởi phần sau, có hai lớp hiển bày về nhân ít đạt được quả lớn, trong đó đều có hai: Trước là nêu ra, sau là giải thích. Lớp thứ nhất trong nêu ra, dùng ít phương tiện là nhân, mau chóng đạt được… là quả. Trong giải thích, vì sao ít nhân mà mau chóng đạt được quả lớn? Giải thích bởi vì thường vui với quán sát về pháp không hai như Bi-Trí, Không-Hữu…, cho nên mau chóng đạt được, vì vậy nói rằng điều này là có. Trong lớp thứ hai, nêu ra lúc mới phát tâm là nhân, liền thành Chánh giác là quả; cũng là trở lại giải thích điều trước, nghĩa là trước đây nói mau chóng đạt được quả Phật, nhưng chưa biết lúc nào gọi là mau chóng đạt được, nay giải thích là lúc phát tâm liền đạt được. Văn sau nói Bồ-tát mới phát tâm tức là Phật, cho nên cùng với các Như Lai trong ba đời như nhau. Đây là trình bày về lúc hạnh đầy đủ tiến vào phần vị liền đạt được phần vị Phổ Hiền, một phần vị tức là tất cả các phần vị, cho đến quả Phật không có gì không đầy đủ trọn vẹn, cho nên nói là Chánh giác. Sau giải thích vì sao đạt được như vậy? Bởi vì nhận biết tất cả chân thật, là hiển bày về lý đầy đủ; đầy đủ thân Tuệ, là hiển bày về trí đức đầy đủ; không từ nơi khác mà tỏ ngộ, là bên trong tự nhiên giác ngộ thông suốt, lẽ nào là trong nhân nói quả hay sao? Đây là hành vị Phổ Hiền của Nhất thừa, nhân quả viên dung ngay trong nhau vô ngại, cho nên đưa đến như vậy. Thích hợp nên suy nghĩ dựa theo đây.

Phẩm 13: SƠ PHÁT TÂM BỒ TÁT CÔNG ĐỨC

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI: Bổn giác huân tập từ bên trong, Đại tâm bắt đầu phát khởi, cho nên nói là Phát tâm; thành tựu công hạnh, thiết lập phần vị gọi là Bồ-tát; công vượt lên trên nhiều kiếp, đức rộng lớn như trần sa, cho nên nói là Công đức; đây là trình bày về công đức sơ phát tâm của Bồ-tát. Ở đây đã phân rõ bởi vì giản lược Nhị thừa cho nên nói là Bồ-tát, giản lược tâm cuối cùng cho nên nói là Sơ phát; đây là trình bày về công đức do phát tâm thâu nhiếp, không phải là phân rõ về tướng của phát tâm, cho nên lấy làm tên gọi của phẩm.

B. Ý đưa ra có ba:

1. Thập Trú và Phạm Hạnh trước đây trình bày về Thể của hành vị, nay hiển bày về đức thù thắng ấy cho nên đưa ra.

2. Cuối phẩm trước vào lúc mới phát tâm liền thành Chánh giác, nhưng chưa biết tâm này có công đức gì mà có thể như vậy, vì thế đưa ra để giải thích về nghĩa này.

3. Hai phẩm trước đây dùng pháp dựa vào cơ mà nói khiến cho hành vị có phạm vi giới hạn, nay thì dùng cơ dựa vào pháp để hiển bày về đức lượng là không có giới hạn. Vì vậy hai phẩm trước gồm chung hai Giáo đồng-biệt, nay thì chỉ trình bày về Biệt giáo vốn là sự huyền diệu của Nhất thừa, về sau trong kệ dùng ngôn từ tuyệt vời để ca ngợi thuật lại, cho nên tiếp tục đưa ra.

C. TÔNG THÚ: Phân rõ về sơ phát tâm thâu nhiếp công đức của Phổ Hiền, đầy đủ phần lượng nhân quả sánh cùng pháp giới, là Tôn của phẩm này.

D. GIẢI THÍCH VĂN: Ở trong phẩm này có phần thuyết giảng là bốn phần: Một là Thỉnh, hai là Thuyết, ba là Chứng, bốn là Tụng.

Nay là phần Thuyết, trong đó có hai: Đầu là trường hàng nói phân tán, sau là kệ tụng thâu nhiếp toàn bộ.

Trong phần đầu cũng có hai: Trước là cõi này, sau là kết luận nối thông.

Trong phần trước cũng có hai: Một là chính thức thuyết giảng, hai là chứng minh thành tựu.

Trong phần một cũng có hai: Đầu là hỏi, sau là đáp.

Trong đáp có ba: Một- Tổng quát ca ngợi về rất sâu xa(thậm thâm) khiến cho sinh tâm mong mỏi; Hai- So sánh hiển bày về thù thắng làm sinh khởi niềm tin thanh tịnh (tịnh tín); Ba- Ngay nơi tướng phân rõ về sâu xa khiến cho phát sinh hiểu biết chính xác (Chánh giải).

Đầu trong phần thưa hỏi, Đế Thích thưa hỏi là ở cõi trời cho nên hiển bày về công đức tự tại, Pháp Tuệ thuyết giảng là Tuệ xứng với pháp thì mới cùng tận ranh giới của công đức.

Hai là trong phần thuyết giảng, có hai: Một- Ca ngợi về sâu xa khiến cho tin tưởng; Hai- Từ “Tuy nhiên…” trở xuống là chính thức thuyết giảng khiến cho hiểu biết. Lại giải thích trước là dấy khởi mong mỏi của họ, sau là chính thức trao cho lý pháp. Lại giải thích trước là hiển bày về Thể rất sâu xa, sau là trình bày về Dụng rộng lớn. Lại giải thích trước là hiển bày về Nghĩa rất sâu xa, sau là hiển bày về Giáo rất rộng lớn.

Trong phần trước, câu đầu là tổng quát, sáu câu là riêng biệt: 1) Tự mình không có thể biết được; 2) Người khác nghe không tin được; 3) Tư duy không hiểu được; 4) Nói ra không sáng tỏ; 5) Tu tuệ không có thể thông suốt; 6) Trí do báo sinh ra không có thể phân biệt, bởi vì rất sâu xa.

Lại giải thích: 1) Giáo lượng khó biết; 2) Nghĩa sâu khó tin; 3) Tư duy khó hiểu; 4) Ứng giáo khó nói; 5) Muốn chứng khó thông; 6) Kể ra cùng tận cho nên khó phân biệt.

Thứ hai là trong phần so sánh hiển bày về thù thắng, toàn bộ có 11 đoạn so sánh: 1) Dựa theo dụ để so sánh về lợi ích chúng sinh; 2) Dựa theo dụ để so sánh về bước đi và quốc độ; 3) Dụ về tính kiếp thành hoại; 4) Dụ về khéo léo nhận biết dục lạc; 5) Dụ về khéo léo nhận biết các căn; 6) Dụ về khéo léo nhận biết hy vọng; 7) Dụ về khéo léo nhận biết phương tiện; 8) Dụ về khéo léo nhận biết tâm ý người khác; 9) Dụ về khéo léo nhận biết tướng của nghiệp; 10) Dụ về khéo léo nhận biết phiền não; 11) Dụ về công đức cúng dường Phật. Trong luận thâu nhiếp làm thành sáu: Ba loại đầu là ba, năm loại tiếp là một, hai loại tiếp là một, một loại sau là một, cho nên làm thành sáu. Giải thích có ba môn: Một-Đối với sáu thậm thâm trước đây; hai-Dựa theo tâm Bồ-đề tương tự của Bồ-tát; ba-Dựa theo đối trị sáu chướng.

Trong Dụ một có hai: Trước là so sánh để hiển bày về thù thắng, sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích nguyên cớ về thù thắng.

Trong phần trước có mười lớp làm thành hai: Đầu là một lớp nói riêng biệt, sau là chín lớp nói gồm chung.

Trong lớp đầu có bốn: Một-Nêu ra sự rộng rãi; hai-Chính thức nêu ra hỏi; ba-Đáp để hiển bày về rộng rãi; bốn-Phân rõ về vượt lên trên.

Trong phần một cũng có bốn rộng rãi: 1) Đã cúng dường rộng rãi đó là Tăng-kỳ chúng sinh…; 2) Sự cúng dường rộng rãi đó là tất cả vật dụng ưa thích; 3- Thời gian cúng dường rộng rãi đó là một kiếp…; – Lợi ích rộng rãi khiến cho tu năm giới…

Trong chín lớp sau cũng có bốn: 1) Cùng nêu ra chín sự, trong đó cũng có đủ bốn rộng rãi, dựa theo phần một thì biết, chỉ tăng thêm nhiều… là khác; 2) Hỏi; 3) Đáp; 4) Vượt lên trên; đều có thể biết mà thôi.

Trong phần hai là giải thích hiển bày về thù thắng có hai: 1) Nguyên cớ thế nào là chính thức nêu ra vặn hỏi, nêu ra vặn hỏi có hai ý: Một là nói rằng như trước đã nói công đức rất nhiều, vì sao so với đây mà không phải là tương tự; vì vậy giải thích rằng Bồ-tát mới phát tâm không vì phạm vi giới hạn bấy nhiêu… cho nên không phải là so sánh. Hai là nói rằng sơ tâm của Bồ-tát có công đức thù thắng gì mà vượt lên trên phần vị trước; giải thích rằng bởi vì đều mong muốn không đoạn mất chủng tử Phật…, cho nên vượt qua trước. Các văn sau đều dựa theo đây. 2) Từ “Phật tử…” trở xuống là giải thích về thành tựu.

Trong giải thích về thành tựu có hai: Một là trình bày không bởi vì sự có phạm vi giới hạn mà phát tâm, hiển bày về bốn rộng rãi trước đây không phải là rộng rãi; hai từ “Dục bất đoạn Phật chủng…” trở xuống là trình bày bởi vì sự không có phạm vi giới hạn mà phát tâm, cho nên hiển bày phần vị này vượt lên trên phần vị kia.

Trong phần này có mười hai câu: Một câu đầu vượt qua phần vị là tổng quát, bởi vì tâm Bồ-đề là chủng tử Phật mà Bồ-tát luôn luôn phát khởi gọi là không đoạn mất; lại Bồ-tát giáo hóa chúng sinh tồn tại trong chủng tử Như Lai, không khiến cho chọn lấy quả nhỏ bé cũng gọi là không đoạn mất, không giống như năm giới trước đây. Những câu còn lại là riêng biệt: 1) Tâm vượt qua, dựa theo sau nên nói là muốn dùng tâm Từ Bi làm cho tràn đầy mười phương thế giới, vượt qua mười Tăng-kì thế giới… trước đây. 2) Hạnh vượt qua, đó là muốn hóa độ tất cả chúng sinh, vượt qua phạm vi giới hạn trước đây, cho nên nói là tất cả. 3) Biết vượt qua tướng của Khí thế giới thành-hoại, là biết nơi chốn mà mình giáo hóa, đó là biết thành-hoại sai biệt; lại biết thành tức là hoại…, là Nhất thiết trí của Phật, cho nên rộng rãi. 4) Biết chủng loại quả báo cấu-tịnh của chúng sinh trong Khí thế giới, đều do nghiệp khác nhau, tức là trí về nghiệp lực. 5) Biết Thể của Khí thế giới trước đây vốn thanh tịnh, là trí như lý.6 ) Biết về Sinh-Sử-Tập thô tế của chúng sinh đã giáo hóa, là trí lậu tận, đó là biết ngay nơi Không ấy cũng tức là trở thành chướng ngại… 7) Sinh tử trí thông này tức là Thiên nhãn lực. 8) Căn lực trí. 9) Tha tâm trí. 10) Tam đạt trí này cũng có Túc mạng trí. 11) Cũng là trí như lý.

Lại trong 11 loại này, hai loại đầu là Đại Bi, chín loại còn lại là Đại Trí; trong trí thì loại thứ năm và mười một là Nhất thiết trí của Phật địa, còn lại là Nhất thiết chủng trí, bởi vì hoàn toàn không có phạm vi giới hạn cho nên vượt lên trên.

Trong Dụ hai là so sánh về bước đi và quốc độ cũng có hai: Trước trình bày về ví dụ vốn không kịp được, sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích hiển bày về tướng thù thắng.

Trong phần trước, tướng của dụ có 100 lớp, mười lớp đầu nói riêng biệt, còn lại là nói tổng quát.

Trong giải thích có hai: Trước là nêu ra vặn hỏi, sau là giải thích thành tựu.

Trong giải thích thành tựu cũng có hai: Trước trình bày về không bởi vì sự có phạm vi giới hạn để hiển bày không kịp được trước đây, sau từ “Tất vi…” trở xuống là trình bày về không có phạm vi giới hạn để hiển bày phần vị này vượt qua phần vị trước.

Trong phần này cũng có 12 câu: Hai câu đầu dựa theo Bi tâm, đầu là tổng quát nêu ra, sau là giải thích riêng biệt, đó là muốn giúp để vượt qua mà đạt được quả cho nên nói là Vì; mười câu tiếp dựa theo Trí, bởi vì thành tựu trí tự tại, trong đó một câu đầu là tổng quát nhận biết, tám câu tiếp là hiển bày riêng biệt, một câu sau cuối là kết luận về ý. Lại một câu đầu là nhận biết rộng rãi khắp tất cả mọi nơi, tám câu tiếp là nhận biết lớp lớp liền tiến vào vô ngại.

Trong này: 1) Đại và Tiểu ngay trong nhau; 2) Nhiều và ít ngay trong nhau; 3) Rộng và hẹp; 4) Một và nhiều; 5) Hòa vào nhau; 6) Nhiễm và tịnh; 7) Trùng trùng Đế võng;8 ) Sinh khởi lẫn nhau. Trong tám loại này có hai nghĩa, là ngay trong nhau-hòa vào nhau (tương tức-tương nhập); hai loại này đều có hai, đó là đồng thể-dị thể; hai loại này lại có hai nghĩa, có thể thành tựu hòa vào trong nhau: MộtDựa theo Duyên khởi môn; hai-Dựa theo Chân tánh môn.

Trong môn đầu cũng có hai nghĩa: 1) Dựa theo Thể, có nghĩa về Không-Hữu cho nên có thể ngay trong nhau; hai-Dựa theo Dụng, có nghĩa về có lực-không có lực cho nên có thể hòa vào nhau. Dựa theo Duyên, có nghĩa đợi chờ-không đợi chờ, cho nên có hai môn đồng-dị. Dựa theo Tánh cũng có hai nghĩa: 1-Không hoại duyên cho nên hòa vào nhau; 2) Tướng của duyên không còn cho nên ngay trong nhau, đều là nghĩa về viên dung vô ngại tự tại, dựa theo trên suy nghĩ về điều này.

Trong Dụ ba là so sánh về tính số kiếp, trong này cũng có hai: Đầu

là trình bày về ví dụ vốn không có thể kịp được, sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống giải thích về tướng vượt lên trên.

Trong phần đầu cũng có hai: Một là phân rõ về dụ rộng lớn, hai là so sánh để hiển bày về vượt lên trên.

Trong phần một: Đầu là phân rõ về Đông phương có mười lớp tăng lên gấp bội có thể biết, sau là tương tự kết luận về chín phương cũng đều có mười.

Hai là trong giải thích, trước là nêu ra-sau là giải thích.

Trong giải thích có hai: Đầu là không bởi vì nhận biết phạm vi giới hạn như vậy…, cho nên vượt qua trước; sau từ “Bồ-tát dục tất liễu tri…” trở xuống là trình bày bởi vì nhận biết về sự không có phạm vi giới hạn, cho nên không thể ví dụ.

Trong phần này có mười câu: Một câu đầu là nhận biết tổng quát; tám câu tiếp là nhận biết riêng biệt. Sao nói là phân biệt nhận biết? Đó là như vậy hòa vào trong nhau trùng trùng thâu nhiếp nhau tự tại vô ngại, như vậy nhận biết mà thôi. Cũng có thể đầu là bình thường khắp nơi mà nhận biết, sau là trùng trùng hòa vào trong nhau vô ngại mà nhận biết hiển bày về tướng thuần thục. Trong tám câu này:

1. Dài và ngắn ngay trong nhau, dài là Đại kiếp-ngắn là Tiểu kiếp, lại thế giới Ta-bà là kiếp ngắn, thế giới An Lạc… là kiếp dài, ngay trong nhau cho nên vô ngại.

2. Một và nhiều ngay trong nhau.

3. Dựa theo có và không có Phật, như Trang Nghiêm kiếp và Hiền kiếp… là kiếp có Phật, như vượt qua Tinh Tú kiếp về sau có sáu vạn hai ngàn kiếp đi qua trống trải không có Phật, bởi vì hai kiếp này ngay trong nhau.

4. Dựa theo Phật nhiều và ít, như trong Tinh Tú kiếp có tám vạn Đức Phật xuất thế, là vô lượng Đức Phật trong một kiếp, như lúc Đức Phật Đại Thông Trí Thắng xuất thế, Phạm Vương ca ngợi rằng: Có lúc ngàn kiếp… đi qua trống trải không có Phật, nay mới được thấy một Đức Phật Đại Thông, cũng ngay trong nhau cho nên nói vậy.

5. Khác và không khác, là thuần-tạp vô ngại, hoặc quá khứ-vị lai gọi là khác, hiện tại gọi là không khác, quá khứ-vị lai tiến vào hiện tại, hiện tại tiến vào quá khứ-vị lai cho nên nói vậy.

6. Hết và không hết, là còn-mất vô ngại, như trời-người thấy kiếp không còn, quốc độ này thường an ổn…

7. Một niệm tức là vô lượng kiếp, bởi vì tích lũy nhiều niệm trở thành kiếp, không có Thể của kiếp riêng biệt cho nên tức là niệm.

8. Có và không có hòa vào nhau, là suy ra vọng trở về chân, kiếp hòa vào không có kiếp, dựa vào chân khởi lên vọng, không có kiếp hòa vào kiếp; lại đầu là lấy sự theo lý, sau là lấy lý theo sự, cho nên vô ngại.

Trong kết luận, đầu là tổng quát kết luận về điều đã nhận biết, sau là kết luận về bổn thệ ấy, vì thế công đức giống như quả Phật, cho nên không thể nói được.

Trong Dụ bốn là so sánh về nhận biết dục lạc của chúng sinh, cũng có hai: Trước là trình bày về ví dụ vốn không có thể kịp được, mười phương đều có mười lớp tăng lên gấp bội có thể biết; sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích về vượt lên trên.

Trong đó đầu là nêu ra nguyên cớ thù thắng, sau là giải thích nguyên cớ thù thắng.

Trong này, trước không bởi vì phạm vi giới hạn… là trình bày về trước đây không kịp được lúc này, sau từ “Dục tất tri…” trở xuống là trình bày về tướng vượt qua trước.

Trong phần này: Một câu đầu là tổng quát, đó là dùng trí lực của Như Lai nhận biết dục lạc của tất cả chúng sinh, nhận biết đối với biển dục lạc của chúng sinh, cho nên nói là đủ loại dục lạc. Sau trong phần hiển bày riêng biệt có hai: Đầu là dựa theo pháp nhận biết riêng biệt, sau từ “Nhất nhất chúng sinh…” trở xuống là dựa theo con người nhận biết tất cả.

Luận nói rằng trước là nhận biết tất cả, sau gọi là nhận biết vi tế cũng được. Trước là tướng khác nhau, sau là tướng giống nhau. Trong phần trước có 23 câu:

1. Dựa theo tâm mong cầu của chúng sinh, riêng biệt gọi là vô lượng ham muốn (dục), cùng mong mỏi một quả thì gọi là một ham muốn, tuy cùng mong mỏi một quả, nhưng mong cầu thực hành luôn luôn sai khác, cho nên nói là không hủy hoại tánh của tất cả các ham muốn. Lại bởi vì niệm của hy vọng không hai, cùng là trong cảnh sai khác do nhiều ham muốn thâu nhiếp, tâm-pháp không khác nhau cho nên nói tức là một, mà do vui thích sai biệt cho nên nói là không hủy hoại. Đây là dựa theo tâm của một chúng sinh, dục lạc trước sau nhiều loại nhưng ngay trong nhau vô ngại mà thôi.

2. Chỉ ra dục lạc nhiều loại sâu rộng như biển.

3. Chúng sinh khác loại, biển tâm dục lạc duyên khởi vô ngại vốn là ngay trong nhau; lại biết thiện ác vô ký của một chúng sinh, tất cả chúng sinh cũng như vậy, cho nên nói vậy.

4. Ở trong một chúng sanh tuỳ theo ba đời, dục lạc trước sau đủ loại mà biết, mỗi một chúng sinh thảy đều như vậy, cho nên nói là tất cả như nhau.

5. Trong đó chủng loại giống nhau thì gọi là tương tự, những vui thích khác nhau thì gọi là không tương tự.

6. Dựa theo Tam thừa thì ham muốn sai khác gọi là tất cả, cùng quy về Nhất thừa thì gọi là chỉ một ham muốn, thật ra thì Nhất thừa gọi là một ham muốn, quyền biến tách ra Tam thừa gọi là tất cả các ham muốn. Lại dựa theo duyên khởi vô ngại, gồm chung các phần vị TựTha…, có thể biết.

7. Cùng quả trí của Phật, vốn là trí lực về dục là trong mười Lực.

8. Cầu mong Tam thừa… gọi là có ham muốn bậc Thượng, cầu mong Nhất thừa gọi là ham muốn Vô thượng.

9. Đối với nơi đã mong cầu, nếu như đến cuối cùng thì gọi là ham muốn Vô dư, trái lại với trước thì gọi là Hữu dư.

10. Cầu lý gọi là như nhau, cầu sự gọi là không như nhau.

11. Nhờ vào tâm sở khác thì có chỗ dựa, một mình khởi lên nhiều ham muốn gọi là không có chỗ dựa; lại dựa vào cảnh khởi lên ham muốn gọi là có nương tựa, nhận biết cảnh chỉ là tâm, tâm khởi lên không có nhờ cậy gọi là không có nương tựa.

12. Mong cầu giống nhau gọi là chung, mong cầu khác nhau gọi là không chung.

13. Ham muốn còn ở phần vị của nhân gọi là Hữu biên, đến phần vị của Phật quả gọi là Vô biên, bởi vì hoặc chướng phiền não không còn.

14. Thuận với lý gọi là ham muốn thiện, trái với lý gọi là ham muốn bất thiện.

15. Tùy theo lưu chuyển gọi là Thế gian, ngược với lưu chuyển gọi là Xuất thế gian.

16. Mong cầu Trí đức của Phật gọi ham muốn thuộc Đại Trí.

17. Mong cầu Đoạn đức của Phật gọi là ham muốn thanh tịnh.

18. Vượt qua phần vị phàm phu-Tiểu thừa gọi là ham muốn thù thắng.

19. Mong cầu thành tựu các địa Bồ-tát là ham muốn chứng trí Bátnhã. Lại trong luận giải thích: Ham muốn Đại Trí ở phần vị chủng tánh, ham muốn thanh tịnh là phần vị Kiến đạo, thù thắng là phần vị Tu đạo, Vô ngại trí là phần vị không có công dụng từ Địa thứ tám trở lên.

20. Ở phần vị của Phật quả, Đại Trí vô ngại viên minh giải thoát.

21. Nhiễm mà không nhiễm gọi là ham muốn thanh tịnh, không nhiễm mà nhiễm gọi là không thanh tịnh; lại nếu lìa xa danh lợi của thế gian thì gọi là thanh tịnh, mong cầu danh lợi của thế gian thì gọi không thanh tịnh.

22. Nhiều mong cầu gọi là rộng, ít mong cầu gọi là hẹp; lại Đại Bi cứu giúp chúng sinh gọi là rộng, chuyên cầu tự mình giải thoát gọi là hẹp.

23. Mong cầu sâu xa gọi là vi tế, mong cầu cạn cợt gọi là thô thiển.

Trong phần sau là dựa theo con người phân rõ về tướng giống nhau của ham muốn, đầu là đưa ra mười số nêu ra tên gọi có tám, đây là giảm số mười:

1) Bởi vì nỗi khổ sinh tử bức bách cho nên mong muốn vui với Niết-bàn, nghĩa là bởi vì khổ mà nghĩ đến vui, như ở trong tù mong cầu thoát ra.

2) Ở trong sự việc thiện ác, nhờ nghe rồi tư duy mà sinh khởi dục lạc, cho nên gọi là ham muốn phương tiện.

3) Đối với sự việc vừa ý mong cầu gọi là ham muốn hy vọng.

4) Đạt được rồi không rời bỏ gọi là ham muốn vướng vào ý vị.

5) Do chủng tử của nhân vốn có sinh ra gọi là tùy theo nhân sinh ra; lại từ Tư và Tưởng sinh ra, kinh nói: “Ham muốn-ham muốn nhận biết nguồn gốc của ông chỉ từ Tư và Tưởng sinh ra, nay ta không nghĩ đến ông, ông cũng không có thể sinh ra.”

6) Bên ngoài dựa vào cảnh sinh ra gọi là tùy duyên sinh, lại vì thiện ác thay đổi trái ngược dẫn dắt sinh ra cũng gọi là tùy duyên sinh.

7) Không có pháp nào không cầu gọi là ham muốn tất cả, lại cầu Niết-bàn diệt hết tất cả cũng gọi là ham muốn tất cả.

8) Mở rộng mong cầu các pháp gọi là ham muốn tất cả, lại mong cầu Vô biên Bồ-đề cũng gọi là ham muốn tất cả.

Trong phần sau là tổng quát kết luận, mạng lưới ham muốn (dục võng) có ba nghĩa: 1) Nghĩa về khó thoát ra, như lưới giăng của thế gian thì cá chim khó thoát khỏi, do đủ loại lưới giăng của ham muốn mà sinh tử khó thoát ra. Đây là dựa theo nhiễm dục. 2) Nghĩa về gạn lọc, như lưới gạn lọc ở thế gian, nghĩa là khởi lên ham muốn thanh tịnh lọc lấy các hữu tình, khiến cho ra khỏi biển khổ sinh tử. Văn sau nói: Bậc Pháp Vương trí tuệ đã nói ham muốn là nguồn gốc của các pháp, nên dấy khởi ham muốn thanh tịnh quyết chí mong cầu Vô thượng đạo. Đây là dựa theo tịnh dục. 3) Nghĩa về chiếu rọi kín đáo, như lưới giăng của Đế Thích sai biệt, các ham muốn nhiễm-tịnh đan xen qua lại, trùng trùng vô ngại hòa vào nhau cho nên nói là lưới giăng. Đây là dựa theo Thể của ham muốn.

Trong Dụ năm là so sánh về nhận biết các căn dựa theo ví dụ, cũng thuận theo hiển bày đầy đủ bởi vì chủng loại giống nhau, cho nên trong văn sơ lược phân rõ, là mong cầu đủ loại trí lực về các căn trong mười Lực của Như Lai.

Trong Dụ sáu hy vọng và dục trước đây khác nhau thế nào? Gồm chung tức là một. Trong đó có phân biệt, dục dựa vào bắt đầu cho nên nói trước căn, hy vọng dựa vào cuối cùng cho nên nói sau căn.

Trong Dụ bảy về nhận biết phương tiện, tạo ra duyên dấy khởi hạnh gọi là phương tiện, là phương tiện phát nghiệp cho nên không giống như nghiệp.

Trong Dụ tám về nhận biết tâm ý, bởi vì cầu Tha tâm trí của Như Lai, trước đây trình bày về pháp của tâm, ở đây phân rõ về Thể của tâm.

Trong Dụ chín về nhận biết tướng của nghiệp, là cầu trí lực về nghiệp trong mười Lực của Phật. Năm môn trên đây đều tóm lược nêu ra, tương tự dục môn ở trên, nên biết!

Trong Dụ mười là so sánh về khéo léo nhận biết phiền não, có hai: Trước là trình bày về ví dụ vốn không có thể kịp được, sau là giải thích hiển bày về tướng thù thắng.

Trong tướng thù thắng: Trước là nêu ra, sau là giải thích.

Trong giải thích: Trước là không bởi vì nhận biết phạm vi giới hạn cho nên hiển bày ở đây vượt qua trước, sau từ “Tất dục phân biệt…” trở xuống là trí lực Lậu tận không có phạm vi giới hạn cho nên trình bày trước đây vốn không kịp được.

Trong này, câu đầu là tổng quát, từ “Sở vị…” trở xuống là hiển bày riêng biệt, có mười tám câu, sơ lược đưa ra mười môn phân biệt:

1. Hai câu đầu dựa theo nặng nhẹ phân biệt, đó là tâm hời hợt khởi lên gọi là phiền não nhẹ, tâm sâu nặng khởi lên gọi là phiền não nặng. Lại vi tế khởi lên dễ ngăn chặn gọi là nhẹ, thô thiển khởi lên khó chấm dứt gọi là nặng. Lại chánh sử là nặng, tập khí sót lại là nhẹ. Lại căn bản phiền não là nặng, tùy phiền não là nhẹ. Lại trong tùy phiền não thì Tiểu tùy là nhẹ, Thượng-Trung tùy là nặng có thể biết.

2. Có hai câu, dựa theo Sử-Triền phân biệt. Sử gọi là mười Sử, tức là năm Kiến và Nghi-Tham-Sân-Si-Mạn. Triền gọi là mười Triền, tức là Vô tàm-Vô quý-Thụy-Hối-Kiên-Tật-Trạo-Hôn-Phẫn và Phú. Luận Địa Trì và Du Già nói là tám Triền trừ ra Phẫn và Phú, vì sao trừ ra? Bởi vì có Luận sư nói: “Phẫn và Phú là tánh của Sử, nghĩa là Phẫn là tánh của Sử thuộc Sân, Phú là tánh của Sử thuộc Tham, vì ham lợi của người khác mà che giấu lỗi lầm của mình.” Sử và Triền khác nhau thế nào? Luận Tạp Tâm nói: “Căn bản gọi là Sử, tất cả dịch thể trong thân gọi là Triền cấu, ràng buộc nặng gọi là Triền, ràng buộc nhẹ gọi là Cấu. Lại trong này Kiết tức là chín Kiết, có thể biết.

3. Có hai câu, dựa theo nhân quả phân biệt, vô lượng phiền não của mỗi một chúng sinh là quả đã dấy khởi do tham-sân-si…, phiền não giác quán là phiền não làm nhân mà sinh ra quả ấy. Kinh Niết Bàn nói có tám loại giác quán, cho nên nói là đủ loại: 1) Dục giác là mong cầu sự việc vừa ý; 2) Sân giác là nghĩ đến người khác muốn nổi giận; 3) Não giác là nghĩ đến người khác muốn làm hại; ) Thân lý giác là nhớ nghĩ về duyên gần gũi; 5) Quốc độ giác là nghĩ đến sự an nguy của thế gian; ) Bất tử giác là tích lũy tài sản để nuôi sống; 7) Tộc tánh giác là nghĩ đến dòng họ cao thấp; ) Khinh vũ giác là kiêu mạn nghĩ đến cậy thế ức hiếp người.

4. Có hai câu, dựa theo gốc ngọn phân biệt, cũng là phân biệt về Si-Ái, nghĩa là Vô minh là Vô minh trú địa, dựa vào Vô minh khởi lên là hằng sa phiền não bậc Thượng; Ái là Dục-Sắc có ba Ái, là Hữu ái trú địa, tương ưng là phiền não tương ưng với Ái, gọi là bởi vì Ái mà sinh ra Ưu…

5. Có bốn câu, dựa theo ba căn bất thiện phân biệt, có thể biết.

6. Có hai câu, địa-khởi phân biệt, câu đầu là năm trú khởi, câu sau là năm trú địa.

7. Dựa theo lợi-độn phân biệt, Ngã-Ngã sở là lợi, Mạn là độn.

8. Dựa theo thứ tự sinh ra nhau phân biệt, tà niệm hư vọng là ba điên đảo thuộc Tâm-Tưởng-Kiến, sinh ra phiền não là từ ba điên đảo sinh ra bốn điên đảo.

9. Dựa theo gốc ngọn của các Kiến phân biệt, đó là hai kiến đều dựa vào Thân kiến mà sinh ra, bởi vì Thân kiến làm nguồn gốc.

10. Có hai câu, dựa theo lỗi lầm phân biệt, Cái đó là năm Cái, tức là Tham-Sân-Thụy miên-Trạo-Hối và Nghi, che lấp người thực hành không đạt được thiền trí cho nên gọi là Cái. Chướng đó là hai chướng, tức là phiền não và sở tri, vì vậy sở tri chướng cũng có thể gọi là phiền não.

Trong phần sau là kết luận, bởi vì phiền não khó thoát ra cho nên gọi chung là mạng lưới mê hoặc, bởi vì nhận biết rõ ràng về ngọn nguồn sâu xa của tất cả phiền não là Nhất thiết chủng trí, đều muốn đoạn trừ làm cho vĩnh viễn không còn là Đại Từ Bi.

Trong Dụ mười một là so sánh về công đức cúng dường Phật, có hai: Đầu là nêu ra sự việc so sánh để trình bày về ví dụ vốn không kịp được, sau từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích hiển bày về vượt lên trên.

Trong phần đầu có mười lớp, một lớp đầu là nói riêng biệt, chín lớp còn lại là nói tổng quát. Trong lớp đầu có bốn: Một là nêu ra rộng rãi, hai là so sánh để hỏi rộng rãi hay không, ba là đáp để hiển bày rất rộng rãi, bốn là so sánh để hiền bày về thù thắng.

Trong phần một: Trước là nêu ra Đông phương, sau là tương tự chín phương còn lại.

Trong phần trước có năm: 1) Một niệm thấy nhiều Phật-nhiều chúng sinh; 2) Tự mình ở thời gian dài phát khởi nhiều sự cúng dường; 3) Khuyến khích chúng sinh cúng dường giống như mình trước đây; 4) Chính mình xây dựng chùa tháp đẹp đẽ để cúng dường; 5) Khuyến khích người khác cũng cùng nhau xây dựng chùa tháp cúng dường. Văn còn lại có thể biết.

Ngay trong phần giải thích hiển bày về vượt lên trên, có hai: Trước là nêu ra, sau là giải thích. Ý nêu ra hỏi rằng: Tạm thời như Đông phương trong một niệm đã thấy vô biên chư Phật, bởi vì niệm lực này trải qua vô lượng kiếp cúng dường, trình bày về chư Phật rất nhiều; như Đông phương, chín phương còn lại cũng như vậy, tức là hiển bày về vô cùng nhiều. Như một người đã như vậy lại còn khuyến khích tất cả chúng sinh khác cũng như vậy, huống hồ tăng thêm gấp bội vượt qua trước? Đến lớp thứ mười trình bày về phạm vi giới hạn của công đức này khó biết, dựa vào đâu để so sánh công đức phát tâm này, cho đến không bằng một phần ở trong phần không thể nói được, cho nên nói là nguyên cớ thế nào?

Trong phần sau là giải thích: Trước là trình bày không bởi vì phạm vi giới hạn cho nên hiển bày về trước kém hơn ở đây, sau từ “Dục tất…” trở xuống là bởi vì không có phạm vi giới hạn cho nên hiển bày ở đây vượt qua trước.

Trong này, tướng vượt qua tuy là vô lượng, nhưng nói tóm lược thì có sáu loại:

1) Xứ vượt qua, nghĩa là bởi vì mong muốn cúng dường tất cả chư Phật ở vô tận thế giới như hư không pháp giới vô tận khắp mười phương, đây là tất cả nơi chốn như lưới giăng của Đế Thích cho nên không giống với trước.

2) Thời vượt qua, nghĩa là tất cả chư Phật ba đời, tức là tất cả thời gian trùng trùng vô tận như chín đời-mười đời.

3) Phật vượt qua, nghĩa là tất cả các cảnh giới Phật vốn có chư Phật, đều cúng dường cho nên không phải là chỉ giống như trước.

4) Cúng dường vượt qua, nghĩa là trong tất cả pháp giới có TựTha, Sắc-Tâm, Lý-Sự, Hành… đều dùng đẻ cúng dường, không phải là chỉ giống như trước.

5) Tâm vượt qua, nghĩa là đối với vô tận cảnh Phật trước đây, nơi mỗi một Đức Phật đều dùng sự vật cúng dường vô tận, đều trải qua thời gian vô tận mà tâm cúng dường hãy còn không cạn, cho nên vượt qua.

6) Hành vượt qua, nghĩa là thông hiểu rõ ràng về năng-sở, ba sự bình đẳng viên dung vô ngại, cho nên vượt qua.

Hỏi: Chỉ có thể hoàn toàn so sánh không phải là như nhau, lẽ nào có thể không giống như một phần trong phần không thể nói được hay sao?

Đáp: Công đức phát tâm này tức là giống như pháp giới, vì vậy không có thể phân tích, cho dù một phần trong phần không thể nói được cũng tức là khắp nơi pháp giới, không hỏi gì nhiều ít đều không gì sánh được; như một Hộc thóc gạo của Thường trú Tăng cũng là của tất cả mười phương Tăng, cho đến một Đấu cũng là của tất cả mười phương Tăng, bởi vì chính là không có thể phân ra, suy nghĩ có thể biết.

Trong phần thứ ba là ngay nơi tướng hiển bày về sâu xa, có hai: Trước là nêu ra, sau là giải thích.

Trong phần trước, phát tâm này rồi, là nhắc lại tâm đã so sánh ở các ví dụ trước đây, tức là nêu ra chữ Phát Tâm; từ “Đắc tri…” trở xuống là nêu ra phân rõ về công đức rất sâu xa. Trong đó: Một là thâu nhiếp tất cả nhân cho nên sâu xa, hai là giống như quả Phật cho nên sâu xa. Trong này, Phát là xuyên suốt Bồ-đề của thời gian trước sau, Tâm là cùng tận tất cả cảnh Phật.

Trong phần trước: Một là nêu ra cảnh đã nhận biết, đó là nhận biết về công đức trí tuệ của chư Phật ba đời; hai là thành tựu công hạnh sâu xa, đó là Tín hướng là Thập Tín, Thọ trì là Thập Trú, Tu tập là Thập Hạnh-Thập Hồi Hướng, Đắc chứng là Sơ Địa trở lên, Thân chứng là Thập Địa đầy đủ trở về sau. Lại nữa, Nội chứng là Đắc chứng, tướng bên ngoài rõ ràng cho nên nói là Thân chứng, như trong Tiểu thừa lấy Diệt tận định làm Thân chứng, ở đây cũng như vậy. Lại nữa, đầu là Hành chứng, sau là Vị chứng. Lại nữa, đầu là Trí tương ưng, sau là Thân tương ưng. Lại nữa, có thể Đắc chứng là dựa theo nhân tròn vẹn, Thân chứng là dựa theo quả đầy đủ. Hai là đều giống như công đức của chư Phật, là giống như quả Phật cho nên sâu xa.

Hai từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích hai phần nêu ra trước đây, trong đó có ba: Đầu là giải thích về nhân như nhau, tiếp là giải thích về quả như nhau, sau là kết luận về phạm vi giới hạn của nhân.

Trong phần đầu: Trước là nêu ra hỏi, nghĩa là vì sao biết Sơ phát tâm đã lập tức có thể chứng được Đại phước trí của chư Phật ba đời? Sau trong phần giải thích có 20 câu hiển bày, nghĩa là cùng âm với con đường đã đi qua của chư Phật ba đời, cho nên nói là như nhau. Trong đó 11 câu đầu là đức giáo hóa bên ngoài, 9 câu sau là đức tự nhiên bên trong. Lại trước là Bi đức, sau là Trí đức.

Trong 11 câu trước: Một câu đầu là tổng quát, đó là giáo hóa chúng sinh làm cho phát tâm Bồ-đề, nối tiếp chủng tử Phật cho nên nói là không đoạn dứt. Mười câu sau hiển bày riêng biệt: 1) Khởi tâm thương xót chúng sinh. 2) Thực hiện ý định cứu độ. 3) Biết về trú xứ đã giáo hóa. 4) Biết về chủng loại khác nhau đã giáo hóa, nghĩa là nghiệp thiện ác sinh khởi quả báo khổ vui cho nên nói là khởi lên cấu tịnh, cũng là trí lực về nghiệp trong mười Lực. 5) Khởi ý rộng lớn cũng là khiến cho lìa xa nghiệp chướng. 6) Biết về hoặc chướng nặng nhẹ của chúng sinh đã giáo hóa, cũng là mong cầu trí lực về Lậu tận, cũng là khiến cho đoạn hết phiền não chướng. 7) Biết về tướng luân chuyển, cũng là trí lực về Thiên nhãn, cũng là khiến cho rời bỏ báo chướng. 8) Biết về căn thuần thục-chưa thuần thục, là khởi hạnh làm chỗ dựa, tức là trí lực về các căn. 9) Biết về tâm thành tựu tu đích thực sáng tỏ khởi hạnh, cũng là trí lực về Tha tâm. 10) Tổng quát kết luận về những gì đã nhận biết, cũng là trí lực về Tam đạt.

Trong 9 câu sau là cầu đức Tự lợi của Phật, một câu đầu là tổng quát, tám câu còn lại là riêng biệt. Trong đó: Hai câu đầu là Nhân-Quả phân biệt, một là biết về quả Bồ-đề, hai là biết về nhân Bồ-đề, đó gọi là pháp thanh tịnh. Hai câu tiếp là Lý-Hành phân biệt, một là biết về Lý pháp bình đẳng, hai là biết về Trí hành thanh tịnh. Bốn câu tiếp là Thể-Đức phân biệt, ba câu đầu là Đức của Phật, một là Thập lực, hai là Vô úy, ba là Bất cộng; một câu sau là Thể của Phật, đó vốn là Thật trí bình đẳng.

Trong phần hai là giải thích về quả như nhau: Trước là nêu ra phát khởi, sau là giải thích thành tựu.

Trong giải thích thành tựu: Một câu đầu là tổng quát, hai là riêng  biệt, ba là kết luận.

Trong câu đầu, bởi vì chính là Phật, có người giải thích: Hoặc nói rằng trong nhân nói về quả, hoặc nói rằng hiểu biết giống như cảnh Phật, hoặc nói rằng dựa theo lý bình đẳng. Nếu dựa theo giáo của Tam thừa thì cũng có thể nói như trên, nay tìm theo văn trên dưới, dựa theo Viên giáo của Nhất thừa thì từ đầu đến cuối thâu nhiếp lẫn nhau, viên dung vô ngại, đạt được bắt đầu tức là cuối cùng, cùng tận cuối cùng mới bắt đầu: 1) Bởi vì Đà-la-ni môn duyên khởi thâu nhiếp nhau; 2) Bởi vì tâm Bồ-đề của Phổ Hiền đầy đủ tất cả sáu phần vị, ngay nơi nhân là quả; 3) Bởi vì pháp tánh không có bắt đầu và cuối cùng, cho nên phát tâm tiến vào bắt đầu thì chính là cuối cùng. Vì vậy văn trên nói: Lúc mới phát tâm liền thành Chánh giác, thân đầy đủ Tuệ, không từ nơi khác mà tỏ ngộ, là nói đến nghĩa này.

Trong phần hai là riêng biệt, có 15 câu: Năm câu đầu dựa theo đức bên trong đầy đủ như Phật, mười câu sau dựa theo dụng giáo hóa bên ngoài rộng khắp mọi nơi như Phật.

Trong năm câu đầu là Nội đức, một câu là tổng quát, bốn câu là riêng biệt. Trong riêng biệt: Hai câu đầu là pháp Sở y như nhau, một là cảnh Tục đế, hai là cảnh Chân đế; hai câu sau là đức Năng y như nhau, một là thân-hai là trí.

Trong mười câu sau là Ngoại dụng, một câu đầu là tổng quát, chín câu còn lại là riêng biệt. Trong riêng biệt: Ba câu đầu là giáo hóa khiến cho thoát khỏi khổ, một là tác động làm cho sinh khởi niềm tin, hai là chiếu rọi làm cho kinh sợ thức tỉnh, ba là chính thức làm cho thoát khổ. Năm câu tiếp là giáo hóa làm cho tiến vào pháp, một là trang nghiêm nơi chốn giáo hóa, hai là hiện tướng thành Phật, ba là hiện bày thần thông làm cho vui mừng, bốn là chính thức làm cho tiến vào pháp, năm là tiến vào pháp rồi bảo vệ làm cho không sai lạc. Một câu sau cuối là kết luận về trí giáo hóa bên ngoài.

Lại giải thích, trong 15 câu này, một câu đầu là tổng quát, 1 câu là riêng biệt. Trong riêng biệt: Năm câu đầu là Trí chánh giác thế gian tự tại…, trong đó hai câu đầu dựa vào pháp như nhau, câu một là sở duyên và phạm vi giới hạn như nhau, câu hai là lý giáo như nhau, ba câu sau là ba nghiệp như nhau, đó là đã giáo hóa dựa theo ngữ nghiệp phân rõ. Bốn câu tiếp là Khí thế gian tự tại…, trong đó một là rung động, hai là soi chiếu, ba là loại trừ, bốn là trang nghiêm. Năm câu sau cuối là Chúng sinh thế gian tự tại…, một là thị hiện, hai là làm cho vui mừng, ba là trao cho pháp, bốn là bảo vệ giữ gìn, năm là đạt được quả. Bởi vì nếu không bảo vệ thì sợ rằng rơi vào địa vị của Nhị thừa.

Trong phần ba là kết luận về phạm vi giới hạn của nhân, trong ba đời không lìa xa các pháp nhiễm tịnh như Tam Bảo-chúng sinh…, ở đây có hai nghĩa: Một là do Bồ-tát đạt được thân nối thông của ba đời, cho nên luôn luôn khắp nơi ba thời gian, không thời gian nào không tồn tại. Hai là do Bồ-tát đạt được thân ngay nơi pháp giới, về không gian thì hàm chứa nhiễm tịnh, về thời gian thì có khắp ba đời, cho nên nói là không lìa xa. Văn còn lại có thể biết.

Thứ hai là trong phần hiển thật chứng thành, có hai: Một-Trong hiển thật, một là mặt đất rung động, hai là mưa hoa cúng dường, ba là âm thanh chấn động, bốn là phát ra ánh sáng. Hai-Trong chứng thành, có hai: Trước là thị hiện về Thân chứng, sau là nêu ra lợi ích của Chứng. Trong phần trước, vì sao Phật tự chứng, là bởi vì Sơ phát tâm liền thâu nhiếp nhân quả của Phật, sự việc này khó tin cho nên Phật tự chứng. Lại bởi vì biểu thị cho tánh giống nhau của nhân quả. Lại bởi vì biểu thị cho nhân quả Thắng tiến thâu nhiếp thành tựu. Trong phần sau là nêu ra lợi ích, nêu rõ những điều mà Pháp Tuệ thuyết giảng trong tất cả thế giới kia, đã có lợi ích này thì nhận biết rõ ràng pháp này quyết định không hư vọng, cũng bởi vì thuyết giảng về pháp này khó tin nhận, cho nên dẫn đến Chứng này, bởi vì tâm này thâu nhiếp chứa đựng công đức tròn vẹn thanh tịnh, cho nên gọi là Tịnh Tâm Như Lai.

Trên đây là phần Thuyết giảng trong một thế giới này, xong.

Thứ hai là trong phần kết luận nối thông, có hai: Trước là hiển bày về pháp rộng khắp vô tận thế giới, sau là có mười câu giải thích về nguyên cớ rộng khắp, nghĩa là vì sao pháp này rộng khắp mười phương, mà nơi thuyết giảng-người thuyết giảng-pháp thuyết giảng và Chứng thảy đều giống nhau như vậy? Giải thích là bởi vì mười câu như Phật lực…: 1) Phật Lô-xá-na này và tất cả chư Phật, đều dùng lực của uy thần hiện tại cùng nhau gia trì cho nên khiến như vậy; 2) Do bổn nguyện của chư Phật đã thâu nhiếp hộ trì; 3) Bởi vì muốn biểu hiện rõ ràng về pháp mà chư Phật đã đạt được, lý thường xuyên như vậy khắp nơi mười phương; 4) Trình bày về ánh sáng trí tuệ của Phật khiến cho soi chiếu khắp nơi; 5) Muốn làm cho hiểu rõ ràng về chân lý rộng khắp mọi nơi; 6) Tướng duyên khởi của pháp giới bởi vì pháp vốn như vậy cho nên phải thuyết giảng khắp nơi; 7) Bởi vì người vui mừng đối với Đại pháp thì nêu rõ pháp rộng lớn xứng tánh này khiến cho hoan hỷ; 8) Bởi vì muốn ca ngợi đầy đủ về công đức của Phật rộng khắp mọi nơi; 9) Biểu hiện rõ ràng về pháp mà tất cả chư Phật trong mười phương đã đạt được như nhau, pháp ấy vốn là bình đẳng không có gì khác nhau; 10) Bởi vì làm cho hiểu biết mười phương pháp giới không có hai đường. Bởi vì mười nghĩa này cho nên thuyết giảng rộng khắp mọi nơi, sở dĩ nói là mười cũng là phương thức phép tắc hiển bày về vô tận mà thôi. Nghĩa của các văn trên dưới kết luận nối thông, đều dựa theo đây có thể biết.

Trên đây là phần trường hàng nói phân tán về tất cả các nơi, bao gồm vô tận thế giới thuộc cõi này-phương khác, xong.

Trong đoạn lớn thứ hai là kệ tụng tổng quát thâu nhiếp, có hai: Trước là tựa về ý thuyết giảng, sau là chính thức tụng lại. Trong phần trước có mười câu:

1. Bởi vì vô tận thế giới khắp mười phương cùng thuyết giảng về pháp này, do đó cần phải quán sát.

2. Bởi vì muốn để cho tất cả hải chúng trong mười phương đều nghe giống nhau.

3. Bởi vì hiển bày tự tâm như hư không, vốn không có gì thiên lệch hạn hẹp.

4. Vốn là pháp môn quán sát thành tựu chúng sinh.

5. Quán sát phù hợp với pháp tánh tuy thanh tịnh như hư không mà nhân quả vốn không mất.

6. Muốn khiến cho lìa xa phiền não.

7. Đạt được giải thoát của Nhất thừa.

8. Thông hiểu rõ ràng về căn hải.

9. Hội tụ duyên tiến vào thật.

10. Hiện rõ công đức phát tâm tự nhiên vô tận để cho Đại chúng thấy rồi mà tu học.

Ngay trong phần chính thức tụng, toàn bộ có 21 tụng rưỡi phân bốn: Một có 13 tụng rưỡi, tụng ngược lại văn của đoạn thứ ba ngay nơi tướng trước đây; hai có 29 tụng, tụng về văn so sánh của Dụ thứ hai trước đây; ba có 39 tụng, tụng về văn đầu tiên sơ lược hiển bày về thậm thâm trước đây; bốn có 10 tụng về tổng quát ca ngợi hiển bày thù thắng.

Ngay trong văn phần một, phân dài có 27 đoạn:

1. Sáu tụng, tụng về văn mong muốn làm cho tâm Từ Bi đầy khắp mười phương thế giới… trước đây.

2. Từ “Dục tất phân biệt tri…” trở xuống là bảy tụng, tụng về văn mong muốn biết rõ tất cả thế giới rộng hẹp ngay trong nhau-hòa vào nhau… trước đây, trong này đều hiển bày về tác dụng làm lợi ích cho chúng sinh…

3. Từ “Dục linh chư Phật chủng…” trở xuống là ba tụng, tụng về văn bởi vì mong muốn không đoạn mất Phật chủng… trước đây.

4. Từ “Tín tâm bất khả tữ…” trở xuống là hai tụng, tụng về văn đều đạt được ánh sáng rực rỡ của trí tuệ chư Phật trước đây.

5. Từ “Tất năng phân biệt tri…” trở xuống là hai tụng, tụng về văn mong muốn biết các loại nghiệp-các loại tâm-các loại căn tánh… của chúng sinh trước đây.

6. Từ “Bồ-đề tâm vô lượng…” trở xuống là sáu tụng, tụng về văn mong muốn đạt được trí tuệ bình đẳng của chư Phật ba đời như pháp giới trước đây.

7. Từ “Thanh tịnh vô lượng tâm…” trở xuống là hai tụng, tụng về văn cúng dường tất cả chư Phật trước đây.

8. Từ “Ư chư thậm thâm pháp…” trở xuống là tám tụng, tụng về văn nhân duyên đạt được trí tuệ của Phật trước đây, nghĩa là nhân của trí tuệ tức là Tam-muội rất sâu xa, và từ cảnh Chân như mà sinh ra. Bởi vì trong này đều hiển bày về tác dụng của thông tuệ.

9. Từ “Cụ túc Đại Bi tâm…” trở xuống là chín tụng, tụng về văn độ thoát tất cả chúng sinh… trước đây.

10. Từ “Thế giới nhược thành hoại…” trở xuống là ba tụng, tụng về văn biết thế giới thành hoại… trước đây, nghĩa là thành hoại này chỉ có cảnh thuộc trí Phật, nay tin Phật không nghi ngờ gì cho nên cũng nhận biết rõ ràng.

11. Từ “Tận ư vị lai tế…” trở xuống là năm tụng rưỡi, tụng về văn chấm dứt các khổ đau ở nẽo ác của chúng sinh trong tất cả thế giới trước đây.

12. Từ “Bồ-tát phóng đại quang…” trở xuống là bảy tụng, tụng về văn đều có thể soi chiếu khắp tất cả các thế giới trước đây, trong này bao gồm phân rõ thưa hỏi Đức Phật thuyết pháp trong quốc độ đã soi chiếu.

13. Từ “Minh tịnh lợi trí tuệ…” trở xuống là bốn tụng, tụng về văn cùng với Chánh pháp của chư Phật ba đời… trước đây.

14. Từ “Thanh tịnh diệu pháp thân…” trở xuống là mười một tụng, tụng về văn đều ở tại tất cả thế giới thị hiện thành Phật… trước đây.

15. Từ “Nhất thân tất sung mãn…” trở xuống là tám tụng, tụng về văn đạt được trí tuệ bình đẳng của Phật… trước đây.

16. Từ “Nhất thiết chư thế giới…” trở xuống là tám tụng, tụng về văn đạt được một thân-vô lượng thân… của Như Lai trước đây.

17. Từ “Kỳ tâm vô sở nhiễm…” trở xuống là mười tụng, tụng về văn cũng cùng cảnh giới chư Phật ba đời… trước đây. Đây là phạm vi giới hạn của cảnh giới, có mười loại như nhau: Một là lìa nhiễm như nhau, hai là cứu giúp chúng sinh như nhau, ba là trí tuệ như nhau, bốn là tướng tốt như nhau, năm là sự nhận biết như nhau, sáu là chứng lý như nhau, bảy là định sâu xa như nhau, tám là hành vững chắc như nhau, chín là tâm an như nhau, mười là sung mãn như nhau.

18. Từ “Dục cầu Đạo sư tuệ…” trở xuống là hai tụng nêu ra đức khuyến khích tu tập.

19. Từ “Bồ-tát Ma-ha-tát…” trở xuống là bốn tụng hiển bày về phạm vi giới hạn của thuyết giảng.

Hai đoạn trên không tụng về văn trước đây.

20. Từ “Thiện phân biệt chúng sinh…” trở xuống là sáu tụng, tụng về đạt được ánh sáng trí tuệ rực rỡ của chư Phật ba đời, nghĩa là soi chiếu cảnh Tục thường thuộc về Chân.

21. Từ “Vô lượng bất khả số…” trở xuống là bốn tụng, tụng về văn đều có thể trang nghiêm thanh tịnh tất cả thế giới trước đây.

22. Từ “Tuệ nhãn vô chướng ngại…” trở xuống là tám tụng, tụng về văn cùng với chúng sinh mà chư Phật đã giáo hóa thảy đều giống nhau… trước đây.

23. Từ “Tất năng thiện phân biệt…” trở xuống là bốn tụng, tụng về văn nhận biết về kiếp dài-ngắn ngay trong nhau-hòa vào nhau… trước đây.

24. Từ “Thành tựu trí tuệ lực…” trở xuống là mười hai tụng, tất cả tụng về văn Sơ tâm đã đạt được trí về mười lực của Phật trước đây.

25. Từ “Nhất nhất mao khổng trung…” trở xuống là chín tụng, tụng về văn đều có thể chấn động vô lượng thế giới trước đây, nghĩa là hòa vào lưới giăng của Đế Thích…

26. Từ “Như thị thâm pháp môn…” trở xuống là bảy tụng, tụng về văn đều mong muốn trưởng dưỡng trí tuệ của chư Phật trước đây.

27. Từ “Bồ-tát Ma-ha-tát…” trở xuống là sáu tụng, tụng về văn Bồ-tát không lìa xa chư Phật, Bồ-tát và Nhị thừa chúng sinh… trước đây.

Từ đầu đến đây toàn bộ là tụng ngược lại đoạn thứ ba, văn phân rõ ngay nơi Tướng.

Từ đây về sau là phần hai có 29 tụng, tụng về văn thứ hai dựa vào Dụ để so sánh, trong đó:

1. Sáu tụng đầu, tụng về Dụ thứ nhất là lợi ích chúng sinh.

2. Từ “Vô lượng vô hữu biên…” trở xuống là hai tụng, tụng về Dụ thứ hai là bước chân và quốc độ trước đây.

3. Từ “Khứ-lai-hiện tại kiếp…” trở xuống là bốn tụng, tụng về Dụ thứ ba là tính số kiếp trước đây.

4. Từ “Thập phương thế giới trung…” trở xuống là sáu kệ, tụng về năm Dụ như dục… trước đây, một là dục, hai là hy vọng, ba là căn, bốn là phương tiện, năm là tâm, pháp hợp có thể biết.

5. Từ “Nhất thiết chúng sinh loại…” trở xuống là bốn tụng, tụng về hai Dụ thứ chín-thứ mười là nhận biết nghiệp-phiền não trước đây.

6. Từ “Thập phương chư thế giới…” trở xuống là bảy tụng, tụng về Dụ thứ mười một là công đức cúng dường chư Phật thứ trước đây.

Trên đây đoạn lớn thứ hai về Dụ so sánh, xong.

Thứ ba từ “Tam thế nhân trung tôn…” trở xuống có 39 tụng, tụng về văn thứ nhất là nêu ra ca ngợi hiển bày sâu xa trước đây, trong đó phân làm bảy:

1) Có bảy tụng, tụng về văn của câu tổng quát rất sâu xa đầu tiên trước đây, đó là sâu xa bởi vì thấu suốt quả Phật, sâu xa bởi vì vượt lên trên quả báo của chúng sinh, sâu xa bởi vì giống như pháp tánh, sâu xa bởi vì tác dụng rộng khắp mọi nơi, sâu xa bởi vì trí nhận biết xa vời, đều như văn có thể biết.

2) Từ “Thường tu diệu công đức…” trở xuống là bảy tụng, tụng về phần thứ hai rất sâu xa khó biết trước đây, trong đó bốn tụng đầu là tự nhiên sâu rộng khó biết, hai tụng tiếp là Phật dùng đức sâu xa gia trì khó biết, một tụng sau cuối là kết luận về đức khó biết, nghĩa là đức như hư không, không phải là tính toán mà có thể biết được, cho nên gọi là khó biết.

3) Từ “Sơ phát tâm Bồ-đề…” trở xuống là năm tụng, tụng về rất sâu xa khó tin trước đây, nghĩa là bởi vì mới phát tâm liền thành tựu công đức vô biên của quả Phật, cho nên điều này khó tin nhận.

4)  Từ “Nhất thiết Bích-chi Phật…” trở xuống là tám tụng, tụng về rất sâu xa khó hiểu trước đây, nghĩa là khiến cho Nhị thừa có được an lạc trong ba cõi, chính là ở trong sơ phát tâm của Bồ-tát, sự việc này khó hiểu, vì thế trong văn: Bốn tụng đầu nêu ra hai phần vị đạt được niềm vui, mỗi phần vị có hai tụng; bốn tụng sau giải thích về nguyên cớ đạt được niềm vui của hai phần vị ấy, cũng đều có hai tụng có thể biết.

5) Từ “Vô lượng trí tuệ minh…” trở xuống là năm tụng, tụng về rất sâu xa khó nói trước đây, nghĩa là trí sâu xa-đức rộng lớn, nghiệp dụng rất nhiều, bàn nói giảng giải khó đến được, cho nên nói là ca ngợi không thể hết được.

6) Từ “Phổ quán nhất thiết pháp…” trở xuống là bốn tụng, tụng về rất sâu xa khó thông suốt trước đây, nghĩa là tâm trú trong bình đẳng vì chúng thuyết pháp, bởi vì hai phần vị trái ngược nhau làm cho hết sức thuận theo nhau, cho nên rất khó lĩnh hội thông suốt.

7) Từ “Vô lượng diệu công đức…” trở xuống là ba tụng, tụng về rất sâu xa khó phân biệt trước đây, nghĩa là Sơ tâm này giống như phạm vi giới hạn của phần vị Phật, cho nên khó phân biệt.

Đoạn lớn thứ tư từ “Dục đắc nhất thiết Phật…” trở xuống có mười tụng về kết luận ca ngợi khuyến khích tu tập, hai tụng đầu là nêu ra đức để khuyến khích tu tập, hai tụng tiếp là hiển bày về đức sâu rộng, bốn tụng tiếp là hiển bày về công năng thù thắng của đức dụng, hai tụng sau cuối là khuyến khích học hỏi đến cuối cùng.

Phẩm 14: MINH PHÁP

Bốn môn giống như trước.

A. GIẢI THÍCH TÊN GỌI: có bốn nghĩa:

1. Hành pháp của phần vị sau nhờ vào hiểu rõ phần vị trước, Minh này tức là pháp.

2. Minh là giáo, Pháp là nghĩa.

3. Minh là trí-Pháp là cảnh, đây là hiểu rõ về pháp-pháp đã hiểu rõ

4. Trí hành lìa nhiễm ngay nơi tướng gọi là Minh, ngay nơi Minh hợp với quy phạm là bởi vì xứng với pháp. Lại các hành soi chiếu rõ ràng xứng với tánh là Minh, quy phạm tuyệt diệu của Thể ấy vốn cũng nói là Pháp, cho nên nói là Minh Pháp, không như vậy là tối tăm thì cũng không phải là pháp.

B. Ý đưa ra: Trước đây trình bày về Thể đức của phần vị ấy, nay phân rõ về nơi của Dụng thù thắng, bởi vì nghĩa sau theo thứ tự cho nên đưa ra; lại trước đây trình bày về Tự phần, nay hiển bày về Thắng tiến, cho nên tiếp theo đưa ra.

C. TÔNG THÚ: Trình bày về pháp không giống nhau có bốn loại:

  1. Lý pháp, đó là tánh Chân như.
  2. Hành pháp, đó là các hạnh như sáu Độ….
  3. Giáo pháp, đó là mười hai phần giáo.
  4. Quả pháp, đó là Bồ-đề Niết-bàn.

Nay ở đây chính là trình bày về Hành pháp, bao gồm trình bày ba loại còn lại, cho nên lấy làm Tông. Lại trong bốn loại này, dựa vào Lý mà khởi Hạnh, dựa vào Hạnh mà thành Quả, Giáo giải thích về ba loại trước, cho nên chỉ có bốn loại mà thôi.

D. GIẢI THÍCH VĂN, văn này phân ba: Một là phần Thỉnh, hai là phần Thuyết, ba là phần Chứng tín.

Trong phần một có hai: Đầu là trường hàng, sau là kệ tụng.

Trong phần trước có hai: Đầu là hiểu rõ Tự phần trước đây, sau là hỏi về Thắng tiến sau này.

Trong phần đầu: Nếu không phải là căn cơ chịu khó thúc đẩy, thì không làm sao có thể tiếp nhận pháp Thắng tiến chuyển đổi tăng lên. Lại nếu không phải là đầy đủ Hành pháp thanh tịnh chân thật thấu suốt này, thì không làm sao có năng lực thuyết giảng, cho nên Tiến Tuệ thưa hỏi-Pháp Tuệ thuyết giảng.

Trong tụng có tám câu, một câu là tổng quát, bảy câu là riêng biệt. Trong riêng biệt: 1) Đại thệ tự trang nghiêm; 2) Hành thừa và Quả thừa; 3) Tiến vào phần vị của nhân, lìa ra hãy còn không có, nghĩa là đến đạo của phần vị Vô sinh, nơi khác giải thích là phần vị Sơ Địa, đây là thuộc về Địa tiền cho nên thâu nhiếp lẫn nhau; 4) Tách ra; 5) Hướng về; 6) Cùng trú như Phật; 7) Nhất định thành tựu quả.

Hai là trong phần chính thức hỏi về Thắng tiến sau này, có hai: Trước là chính thức hỏi về Thể của Hành pháp, sau là hỏi về Đức dựa vào hành mà thành tựu.

Trong phần trước toàn bộ có 11 câu: Sáu câu đầu là hành Tự lợi, bốn câu tiếp là hành Lợi tha, một câu sau cuối là tổng quát kết luận về hai Lợi cứu cánh.

– Trong phần đầu, Bồ-tát ấy là nhắc lại người đầy đủ đức phát tâm trước đây. Câu một là hỏi tu tập hạnh gì khiến cho công đức trở nên thù thắng?

Hỏi: Trong phẩm trước nói: Các Tam-muội rất sâu xa, vô lượng Đà-la-ni môn, lực tự tại của chư Phật, vô lượng công đức tuyệt diệu, trang nghiêm cho sơ phát tâm; lại nói tức là giống như Phật, thiếu pháp gì mà tu tập thêm nữa?

Đáp: Đây là phần vị Đại trong hạnh Phổ Hiền thuộc Viên giáo có hai môn, đều thâu nhiếp pháp giới, trước là dựa theo Tự phần, ở đây phân rõ về Thắng tiến. Trong trước cũng đầy đủ sau, trong sau cũng đầy đủ trước, nhưng trước luôn luôn không phải là sau, sau luôn luôn không phải là trước, nghĩa là đầy đủ sau của trước không phải là trước, đầy đủ trước của sau không phải là sau, cho nên phần vị phân ra trước sau, mà thâu nhiếp nghĩa luôn luôn đầy đủ.

– Câu hai là hỏi tu tập hạnh gì khiến cho Như Lai hoan hỷ, vì thế cho nên nói tu tập thế nào, nối thông đến các câu sau, đều dựa theo như vậy. 3) Hỏi về phần vị. 4) Dựa vào phần vị khởi hạnh. 5) Đại nguyện giúp đỡ thành tựu. -Tích lũy công đức thành kho tàng.

Trong Lợi tha: Một là giáo hóa thuận theo căn cơ chúng sinh; hai là không bỏ dở công hạnh của mình; ba là đi đến mong muốn hóa độ chúng sinh, đời trước căn cơ này thuần thục là khác; bốn là giáo hóa khiến cho hướng về Bồ-đề, làm cho Tam Bảo không đoạn tuyệt mà trở nên hưng thịnh.

Trong một câu sau cuối là kết luận về hai Lợi, cảnh của thiện căn là kết luận về Tự lợi, phương tiện là kết luận về hạnh giáo hóa, cả hai đều cứu cánh cho nên nói là không hư vọng.

Từ “Thiện tai…” trở xuống cho đến “… dục văn”, văn này có hai ý: Hướng lên trên thì trở thành kết luận thưa thỉnh khuyến khích thuyết giảng, hướng xuống dưới tức là mong mỏi nghe câu hỏi sau.

Trong phần hai là hỏi về đức đã thành tựu, như công đức mà các Bồ-tát đã tu, là tổng quát nêu ra đức đã dựa vào.

Từ “Diệt trừ…” trở xuống là trình bày về dựa vào đức mà thành tựu là pháp đã hỏi. Trong đó dựa theo phần đáp ở sau toàn bộ có 1 câu phân hai: Đầu là 17 câu trình bày về Đức đầy đủ, sau từ “Đắc thiện căn lực…” trở xuống là trình bày về Dụng thù thắng.

Trong phần đầu có hai: Trước là 1 câu về đức bên trong tròn vẹn, sau từ “Thiên Vương…” trở xuống là bên ngoài tôn kính.

Trong phần trước có hai: Trước là 9 câu trình bày về đức Tự lợi, sau từ “Cụ túc Phật sát…” trở xuống là 7 câu hỏi về đức Lợi tha.

Trong phần trước có hai: Trước có 7 câu hỏi về đức thuộc nhân, sau từ “Trang nghiêm…” trở xuống là 2 câu hỏi về đức thuộc quả.

Trong phần trước có hai: Trước là câu trình bày về hành tu đầy đủ, sau từ “Bồ tát nhất thiết…” trở xuống là các đức tròn vẹn đầy đủ.

Trong phần trước có hai: Một, bốn câu là hành đoạn chướng, đó là trước lìa Vô minh trú địa là lìa nhân ác, hai là làm cho ma phải hàng phục, ba là chế phục ngoại đạo là lìa duyên ác dấy khởi, bốn là lìa trần cấu là lìa tập khí ác. Hai, tu thiện hạnh có ba: 1) Tu thành tựu phước đức; 2) Vượt lên trên lìa xa quả ác, là lìa ba ác-tám nạn, 3) Tu đầy đủ Tuệ thanh tịnh. Tuệ này ở văn sau lấy làm giải đáp, cho nên chỉ có sáu câu, tổng quát là trừ bỏ hai chướng ngại, thành tựu hai trang nghiêm, vốn là hành tu đầy đủ.

Sau là trong đức tròn vẹn, có bảy: Một là thâu nhiếp mười Địa, hai là đầy đủ mười Độ, ba là nhiều Tam-muội, bốn là Tổng trì vi diệu, năm là sáu Thông, sáu là ba Minh, bảy là tổng quát kết luận về pháp thanh tịnh.

Sau là trong đức thuộc quả, có hai: Trước là quả về ba nghiệp thuộc y-chánh, sau là Lực-Vô úy… thâu nhiếp quả sai biệt của các đức.

Sau là trong Lợi tha, có bốn: Một-Một câu về ứng cơ hiện bày quốc độ đầy đủ. Hai-Từ “Tùy thành tựu chúng sinh…” trở xuống là dùng Chánh hạnh để thâu nhiếp chúng sinh, trong đó: 1) Tùy duyên thành tựu hạnh; 2) Từ “Cập chư Bồ-tát…” trở xuống là chính thức kết luận về Hành pháp, có năm: a) Đức thù thắng; b) Quy phạm vốn có; c) Dựa vào pháp thành tựu về tu; d) Thực hành có thể đến quả; e) Thâu nhiếp rộng rãi sở duyên và phạm vi giới hạn, thảy đều đầy đủ là tổng quát kết luận. 3) Mau chóng thành tựu… là trình bày về hành có phân rõ về công năng của quả, cho nên nói là mau chóng thành tựu. 4) Thành tựu hành bảo vệ pháp có bốn, một câu đầu tổng quát trình bày về hành bảo vệ pháp, tại sao bảo vệ? Ba câu sau hiển bày riêng biệt: a) Nói nhiều về giáo, nêu rõ thông suốt về nghĩa; b) Không bị ngoại đạo xâm lấn; c) Tự có đủ văn nghĩa tổng trì luôn luôn thuyết giảng, lập tức thuyết giảng mà không có gì cùng tận. Trên đây là đức bên trong tròn vẹn.

Sau là trong phần trình bày về bên ngoài tôn kính bảo vệ, có hai: Một là tổng quát nêu ra sự bảo vệ của mười vị vua thế gian và bậc Pháp Vương là Phật. Hai là trong hiển bày riêng biệt, có ba: 1) Tất cả thế gian… là hiển bày sự bảo vệ của mười vị vua trước; 2) Từ “Thường vị…” trở xuống là hiển bày sự bảo vệ của bậc Pháp Vương; 3) Từ “Nhất thiết Bồ-tát…” trở xuống là trình bày về cùng phần vị bảo vệ. Phần nói về Thể của hành và Đức trọn vẹn đầy đủ, xong.

Sau là trình bày về Dụng thù thắng, nghĩa là dựa vào các đức có Dụng thù thắng này. Trong đó có bốn câu: Một là tăng thêm pháp vô lậu của mình cho nên nói là pháp thanh tịnh, tức là tự thành tựu chứng về hạnh; hai là có thể làm cho thông suốt…, là dùng pháp đã chứng để dạy cho người; ba là tự mình đầy đủ giáo hạnh; bốn là theo thứ tự như nhau dạy cho người về giáo hạnh.

Hai là trong kệ tụng, bốn câu thành một tụng, có 11 tụng, đầu là một tụng tổng quát về thưa thỉnh, sau là tụng về riêng biệt.

Trong riêng biệt có hai: Một là một tụng, tụng về văn trước đây; hai từ “Vân hà…” trở xuống là chính thức tụng hỏi về hành pháp sau này. Trong đó: Một tụng về mười một loại hành pháp trước đây; hai từ “Nhân hùng…” trở xuống là tụng về dựa vào hành mà thành tựu đức trước đây. Trong đó: Đầu là hai câu tụng về văn tốt lành thay nguyện xin thuyết giảng trên đây; tiếp là một tụng rưỡi tụng về hành tu lìa chướng trên đây; tiếp là hai câu tụng về các đức đầy đủ; tiếp là một câu lược tụng về pháp của đức thuộc quả; tiếp từ “Tùy kỳ…” trở xuống là ba câu tụng về hành duyên trong Lợi tha trên đây; tiếp từ “Nhất thiết…” trở xuống là một tụng, tụng về hành bảo vệ pháp trên đây; sau cuối là một tụng về mười vua cung kính bảo vệ trên đây. Trong đó có bốn: 1) Trí đức Vô úy giống như sư tử; 2) Phước đức tròn vẹn đầy đủ như vầng trăng tròn; 3) Đoạn đức lìa nhiễm như hoa sen; ) Quả thanh tịnh hiện rõ trước mắt như thù thắng nhất. Bốn loại này cũng là tụng về văn thuộc Dụng thù thắng như lực thiện căn tăng thêm pháp thanh tịnh sáng ngời… trên đây.

Thứ hai là trong phần đáp, có hai: Đầu là nói thẳng, sau là trùng tụng.

Trong phần đầu, có hai: Trước là khen ngợi thưa hỏi nhận lời thuyết giảng, sau là dùng pháp chính thức giải đáp.

Trong phần trước, có hai: Trước là khen ngợi thưa hỏi, sau từ “Phật tử…” trở xuống là nhận lời thuyết giảng về phạm vi giới hạn.

Trong phần trước: Trước là khen ngợi về lợi ích đã thưa hỏi, sau là khen ngợi về đức của người có thể thưa hỏi.

Trong phần trước: Trước là phân rõ về lợi ích, lợi ích nhiều là tăng thêm nhân thiện, an vui là trao cho quả vui sướng, trí tuệ sắc bén khiến cho đạt được lợi ích của pháp xuất thế.

Trong phần sau từ “Ai mẫn…” trở xuống là kết luận về ý khen ngợi người có thể thưa hỏi: Trước là khen ngợi về đức của Tự phần có năm: 1) Xứng với Tuệ chân thật; 2) Bất động mà tiến lên cho nên nói là Đại lực; 3) Không gián đoạn tu tập cho nên nói là Nhất tâm…; 4) Phần vị thành tựu cho nên nói là Bất thối; 5) Ngay nơi phần vị đầy đủ cho nên vượt ra khỏi thế gian. Lại nữa, câu đầu là trình bày về có hiểu biết (giải), bốn câu sau trình bày về có thực hành (hạnh). Lại nữa, những câu này cũng là giải thích về tên gọi của Tiến Tuệ, có thể biết. Sau là khen ngợi về đức Thắng tiến, đó là đối với thưa hỏi tự tại không khác gì Như Lai.

Sau là trong phần chính thức giải đáp, có hai: Trước là giải đáp 11 câu hỏi về Thể của Hành pháp trước đây, sau là giải đáp về đức dựa vào Hành ấy mà thành tựu.

Trong phần trước dựa vào câu hỏi theo thứ tự giải đáp. Giải đáp câu thứ nhất về công đức chuyển sang thù thắng, có 20 câu: 10 câu đầu là bắt đầu tu tập, 10 câu sau là cuối cùng thành tựu. Lại đầu là Tự phần, sau là Thắng tiến.

Trong phần trước, đã đạt được kho tàng của phát tâm, là nhắc lại phần trước-nghĩ đến phần sau; thuận theo lìa xa ngu si là tổng quát nêu ra. Lại kinh Niết Bàn nói: “Gốc rễ không phóng dật ăn sâu vững chãi khó nhổ lên, nhờ vào gốc rễ không phóng dật vững chãi, cho nên tất cả các thiện căn đều được tăng trưởng.” Không phóng dật có hai: 1) Dựa theo Sự như luận giải thích v.v… 2) Dựa theo Lý như kinh Pháp Tập v.v…

Trong phần sau là riêng biệt, có ba: Một là nêu ra số lượng, hai là nêu ra tên gọi, ba là kết luận về số lượng.

Trong phần nêu ra, trong này đối trị mười loại phóng dật: 1) Phóng dật về phá giới; 2) Phóng dật về lạc mất Bồ-đề; 3) Phóng dật về làm mất tâm Bi; 4) Phóng dật về lười biếng; 5) Phóng dật về vui với ồn ào hỗn tạp; 6) Phóng dật về vui với thế gian; 7) Phóng dật về vui với thiện yếu kém; 8) Phóng dật về vui với Nhị thừa; 9) Phóng dật về nhiễm theo công đức; 10) Phóng dật về phát sinh hết phần. Như thứ tự mười câu đối trị nên biết.

1) Đã có thể phát tâm rồi cần phải giữ gìn (trì) ba tụ giới thanh tịnh của Bồ-tát, như vậy giữ gìn ba loại: Một- Không làm ba nghiệp ác; hai- Không vì danh lợi; ba- Không khởi lên kiến chấp về Giới, đây là bảo vệ trong phần nêu ra. 2) Không đối với Bồ-đề khởi lên thấy có-không có… mà phát tâm, đây là lìa xa ngu si trong phần nêu ra. 3) Dựa vào lời nói thâu nhiếp chúng sinh cho nên lìa xa nịnh bợ quanh co. 4) Thiện căn đã đã dấy lên cần phải làm cho cuối cùng thành tựu, cho nên nói là không lui sụt, đây là tinh tiến trong nêu ra, còn lại đều không lìa xa ba loại như vậy. 5) Tạo nghiệp cầu sinh là hạnh của phàm phu, Bồ-tát lìa xa điều này thường vui với vắng lặng có hai loại: Một- Dựa theo thân có hai, một là thụ động cư trú yên lặng, nghĩa là lìa xa những nơi ồn ào náo loạn như gia đình…; hai là chủ động cư trú yên lặng, nghĩa là giữ gìn tịnh giới lìa xa ba nghiệp sai trái, đây là lấy Phước-bỏ Tội lìa xa phàm phu tại gia. Hai- Dựa theo tâm cũng có hai: Một là thụ động cư trú, nghĩa là cảnh vi diệu của Chân Không; hai là chủ động cư trú, nghĩa là tâm của Định-Tuệ, đây là lấy Tuệ bỏ Hoặc lìa xa phàm phu xuất gia. 6) Chán ngán rồi bỏ niềm vui thế gian. 7) Dốc lòng tu theo nghiệp xuất thế gian. 8) Tuy cầu xuất thế nhưng rời bỏ Nhị thừa không có tâm Bi cứu giúp thế gian. 9) Tuy tu công đức Đại Bi của Bồ-tát nhưng không thấy chủ động-thụ động tu tập cho nên không có nhiễm ô. 10) Biết thân hình có bốn nghĩa: Một là biết thân từ duyên mà có, lìa xa Ngã-Ngã sở; hai là biết lực thực hành về đạo của mình, nếu yếu kém thì cuối cùng không miễn cưỡng hướng về cảnh giới phiền não; ba là biết lực nếu mạnh thì cần phải chịu khó chịu khổ thực hành công hạnh tu tập; bốn là biết chắc chắn chính mình có chủng tử Bồ-đề, cho nên sẽ được quả Phật.

Hai là trong phần Thắng tiến, pháp thanh tịnh nghĩa là luyện tập sửa trị các hành trước đây khiến cho thuần thục lìa xa cấu nhiễm, cho nên nói là thanh tịnh. Trong mười: 1) Chánh niệm thanh tịnh; 2) Từ “Xả ly…” trở xuống là lìa xa lỗi lầm thanh tịnh; 3) Từ “An trú…” trở xuống Chánh hạnh thanh tịnh; 4) Từ “Thường lạc…” trở xuống là cầu pháp thanh tịnh; 5) Từ “Tùy sở…” trở xuống là trừ bỏ nghi ngờ thanh tịnh; 6) Từ “Cụ túc…” trở xuống là trí tuệ thanh tịnh; 7) Từ “Tâm thường…” trở xuống là Tam-muội thanh tịnh; 8) Từ “Văn hảo…” trở xuống là hiểu rõ về Không thanh tịnh, cũng là hướng về Nhẫn thanh tịnh; 9) Từ “Đẳng thị…” trở xuống là Tưởng thù thắng thanh tịnh; 10) Từ “Cung kính…” trở xuống là báo ân thanh tịnh, cũng là kính dưỡng thanh tịnh.

Giải đáp câu thứ hai khiến cho Như Lai hoan hỷ, có 20 câu, cũng 10 câu đầu là Tự phần, 10 câu sau là Thắng tiến.

Trong phần trước: Một là kết thúc phần trước, hai từ “Bất xả…” trở xuống là sinh khởi phần sau. Trong đó: Câu đầu nhắc lại năm câu đầu ở phần sau; hai tâm không nương tựa nhắc lại câu thứ sáu ở phần sau; tu pháp rất sâu xa nhắc lại hai câu thứ bảy-thứ tám ở phần sau; từ “Ư Vô tranh đẳng…” trở xuống nhắc lại câu thứ chín-thứ mười ở phần sau. Vì vậy tổng quát nêu ra mười môn thực hành ở phần sau, thích hợp với Thánh tâm, do đó làm cho Như Lai hoan hỷ.

Trong mười câu riêng biệt của phần sau: Ba câu đầu là tu về hạnh Hữu, một câu đầu là hạnh chịu khó hăng hái, hai câu tiếp là hạnh lìa xa lỗi lầm ở trong Hữu, nghĩa là thân bên trong không luyến tiếc, vật bên ngoài không mong cầu. Ba câu tiếp là tu về hạnh Không Tuệ, một là gia hạnh tu Không, hai là đích thực chứng đắc soi chiếu chân thật, ba là sau khi đạt được phân biệt nhưng hãy còn không nương tựa. Bảy là thường cầu Bồ-đề, cho nên gọi là Đại nguyện. Tám là tướng thù thắng hiện rõ trước mắt, cho nên nói là ánh sáng rạng ngời. Chín là tùy theo có lìa xa lỗi lầm, cho nên nói là khéo léo nhận biết về lợi ích-tổn hại… Mười là dùng tâm không đắm trước hướng đến thực hành các pháp, cho nên nói là thanh tịnh.

Sau là trình bày về mười pháp Thắng tiến, tu đã thành tựu cho nên nói là an trú. Trong mười: 1) Đối với lỗi lầm không nhiễm; 2) Chứng chân thật rời bỏ tướng; 3 và 4) Từ Bi thâu nhiếp chúng sinh; 5 và 6) Hành đầy đủ lìa xa nhiễm; bốn loại còn lại là Nguyện-Trí đầy đủ, một là Đại nguyện đầy đủ, hai là Trí tuệ phương tiện song hành, ba là Lực suy nghĩ chọn lựa thù thắng, bốn là Đạt được tánh vô ngại, cho nên nói là không có gì nương tựa.

Giải đáp câu thứ ba về công đức mà Bồ-tát an trú, cũng có 20 câu. Đầu là trong 10 câu thuộc Tự phần: 1) Tâm phát khởi thực hành; 2) Thực hành Chánh hạnh; 3) Trí thuận với Lý cho nên vượt lên trên lời nói. Trên đây là bắt đầu tu. 4) Gần gũi thiện hữu; 5) Nếu không chịu khó chịu khổ thì tuy gần gũi mà không có lợi ích; 6) Nếu không chọn ý để hiểu pháp thì tuy chịu khó mà không có lợi ích. Lại khéo léo chọn lấy ý Phật thì có ba loại: Một là dựa theo Giáo, dùng hai Đế, ba Tánh, ba Lượng, bốn Lý, bốn Tất-đàn, bốn Ý, bốn Mật, sáu Tướng, sáu Thích, tám Thanh, năm Lực… để thông hiểu chọn lấy ý kinh mà thọ trì; hai là dựa theo Nghĩa, đó là lời gần mà ý xa, tuy nói các môn về pháp tướng nhưng ý ở nơi chân lý vượt lên trên lời nói; ba là dựa theo Hạnh, đó là ý ở nơi diệt trừ phiền não thành tựu công đức, vốn không phải chỉ là miệng nói ra. 7) Nếu không dựa vào hành để hiểu về ý thì cũng đâu lợi ích gì? Trên đây là tu tiếp theo. 8) Thành tựu Đại thệ phước trí trang nghiêm; 9) Phần vị của nhân thành tựu đầy đủ; 10-Tròn vẹn giống như phần vị của quả. Trên đây là tu cuối cùng.

Trong phần Thắng tiến có hai: Trước là trình bày về quán xét hiểu rõ, sau từ “Ma-ha-tát tác thị niệm…” trở xuống là trình bày về dựa vào hiểu rõ phát khởi thực hành. Trong phần trước: Đầu là kết thúc phần trước sinh khởi phần sau, nghĩa là khéo léo thành tựu các địa gọi là phương tiện khéo léo, lại đối với địa không vướng mắc cũng gọi phương tiện khéo léo, điều quan trọng để thành tựu địa, cho nên nói là trước nên tu tập. Trong mười, tám loại đầu là pháp đã thành tựu địa: 1) Tổng quát, 2) Chứng trí các địa, 3) Thực hành Thí-Giới…; 4) Tịnh độ làm chỗ dựa; 5) Sở duyên và phạm vi giới hạn; 6) Thần thông thù thắng và mười tự tại…; 7) Thị hiện thân khác nhau; 8) Hậu trí thuyết pháp. Đây đều là các địa chứ không phải là một, cho nên đều nói là tùy theo sự thích hợp.

Sau là trình bày về có thể thành tựu phương tiện, nghĩa là tuy phân biệt mà không đắm trước là phương tiện. Bởi vì tâm tạo là giải thích về nguyên cớ không đắm trước, nghĩa là biết không có pháp nào ngoài tâm, cho nên không có gì đắm trước. Tâm tạo có ba lớp: Một là Chuyển thức phân biệt dấy lên, hai là Bổn thức tùy theo huân tập dấy lên, ba là Chân tâm nương tựa giữ gìn dấy lên, đều là tâm dấy lên cho nên không có, tâm dấy lên cho nên không phải không có, vì thế cho nên không đắm trước. Từ “Bồ-tát nhược năng…” trở xuống là kết luận về có thể thành tựu địa.

Sau là trình bày về phát khởi thực hành, trong đó có ba: Một là nêu ra, hai là giải thích, ba là kết luận, đều có thể biết.

Giải đáp câu thứ tư về hạnh thanh tịnh, có 20 câu. Đầu là trong 10 câu thuộc Tự phần, đó là mười Độ thuần thục ra khỏi chướng. Thanh tịnh đó là: 1) Thí tức là không có gì không rời bỏ, 2) Giới tức là không hủy phạm…, đều trình bày về tướng thanh tịnh. Sáu câu trước có thể biết. 3) Khéo léo thành tựu các hạnh vốn đều là phương tiện; 4) Đại nguyện vững vàng lời thề tôn trọng như núi, đây giống với hạnh tôn trọng ở sau; 5) Nhờ vào năng lực suy nghĩ chọn lựa, năng lực tu tập, thuyết pháp trừ bỏ nóng bức, như hồ nước mát ở thế gian; 6) Trí độ thâu nhiếp chúng sinh khiến cho cùng chung pháp Phật.

Sau là trong phần Thắng tiến, bởi vì sau vượt qua trước cho nên nói là chuyển sang thù thắng. Trong mười: Ba loại đầu là hạnh thành tựu vốn có, ba loại tiếp là hạnh dựa vào duyên, bốn loại sau là hạnh Bi-Trí.

Trong phần đầu: 1) Bên trong có thật đức, bên ngoài cảm được Phật nghĩ đến. 2) Nhờ dựa vào hộ niệm cho nên càng tăng thêm thiện thù thắng. 3) Có thể hiện rõ phần thô-ẩn kín phần tế giống như tám tướng của Phật cho nên gọi là phương tiện bí mật; lại thông hiểu rõ ràng về nghĩa sâu kín bí mật của Như Lai, như ngọc châu trong búi tóc của vua; lại khéo léo hiểu rõ các giáo quyền biến-bí mật…, cho nên gọi là an trú.

Trong phần tiếp là dựa vào duyên: 1) Gần gũi thiện hữu, nghĩa là thân tiếp cận-tâm nương tựa. 2) Dựa vào thiện hữu phát khởi Chánh hạnh. 3) Sinh khởi Chánh giải, nghĩa là thu nhận riêng biệt trở thành tổng quát cho nên không phải là tổng quát, phân tích tổng quát trở thành riêng biệt cho nên không phải là riêng biệt, hoàn toàn làm mất đi cả hai không còn, cả hai dung hòa vô ngại, vì thế cho nên duyên khởi đều không phải là tổng quát hay riêng biệt.

Trong phần sau là hạnh Bi-Trí: Một loại trước là Đại Bi, ba loại sau là Đại Trí. Trong đó: Một loại đầu là Thật trí; hai loại sau là Xảo trí, một là khéo léo thành tựu nhân, hai là khéo léo hướng về quả.

Giải đáp câu thứ năm về Đại nguyện đầy đủ, có 20 câu. Đầu là trong Tự phần mọi mong cầu đều đạt được gọi là Nguyện đầy đủ: 1) Nén chịu phiền muộn thâu nhiếp chúng sinh. 2) Trang nghiêm quốc độ vì chúng sinh. 3) Phát khởi cúng dường đối với Đức Phật. 4) Bảo vệ đối với pháp. Luận chung về bảo vệ pháp, có bốn lớp: Một là bảo vệ Lý pháp, nghĩa là soi chiếu Lý không xen tạp Vô minh; hai là bảo vệ Hành pháp, nghĩa là thực hành không xen tạp lợi danh-lười nhác…; ba là bảo vệ Giáo pháp, nghĩa là như pháp giảng dạy lưu truyền rộng ra khắp nơi…; bốn là bảo vệ Quả dụng của pháp, nghĩa là giữ gìn bảo vệ hình tượng… 5) Khiến cho Thân của chúng sinh vãng sinh Tịnh độ. 6) Khiến cho Trí của chúng sinh tiến vào pháp môn. 7) Khiến cho nguyện của người khác được đầy đủ. 8) Tu hành không có thỏa mãn, nghĩa là thực hành tận cùng thời gian vị lai, khiến cho không sinh tâm mỏi mệt chán ngán dù chỉ là khoảnh khắc, lại nguyện kiếp tùy theo tâm mà chuyển. 9) Nguyện cho nhân đến cứu cánh. 10) Nguyện cho quả tròn vẹn thanh tịnh.

Sau là phần Thắng tiến, trong mười: 1) Đại thệ trang nghiêm tâm không lo không thành cho nên không buồn rầu. 2) Nghĩ đến nương nhờ bạn tốt chuyển đổi phát khởi nguyện ấy. 3) Đều nguyện vãng sanh thì lập tức phát khởi các hành. 4) Cuối cùng giống như bình thường phát khởi thực hành. Trên đây là Tự lợi. 5) Giáo hóa làm cho nguyện đầy đủ. 6) Thường giáo hóa không mệt mỏi. 7) Ở nơi đau khổ làm lợi ích cho chúng sinh. 8) Rời bỏ niềm vui để làm lợi ích cho chúng sinh. 9) Dùng pháp của quả để trao cho. 10) Đạt được quả bình đẳng. Trên đây là Lợi tha.

Giải đáp câu thứ sáu về đạt được Bồ-tát tạng. Đầu là kết thúc phần trước sinh khởi phần sau, toàn bộ có 10 câu, nghĩa là bởi vì tích trữ công đức trở thành kho tàng rộng sâu vô tận, cho nên không có Thắng tiến: 1) Thấy Phật; 2) Trì pháp tức là Trì tạng; 3) Thuyết pháp tức là Biện tạng; 4) Tâm Bi rộng khắp; 5) Định tuyệt diệu; 6) Dụng thù thắng; 7) Tiến vào Chứng; 8) Dựa vào Chứng phát khởi Thần thông, nghĩa là dùng Thiên nhãn nhìn thấy kho tàng chìm dưới đất và các vật báu trong biển, hoàn toàn biết rõ các sự việc như xuất xứ-giá trị… của các vật báu. 9) Phật gia hộ tăng thêm đức. 10) Trí thông hiểu về Khí thế giới.

Giải đáp câu thứ bảy về tùy theo điều kiện thích hợp mà hóa độ chúng sinh: Một là kết thúc phần trước sinh khởi phần sau, nghĩa là hợp với cơ trao cho pháp, gọi là tùy theo sự thích ứng mà hóa độ, trong đó có ba: 1) Nhận biết căn cơ; 2) Dạy dỗ lìa xa lỗi lầm; 3) Dạy dỗ tu tập pháp thiện.

Trong phần một cũng có ba: a) Nhận biết thích hợp về bệnh hoạn của chúng sinh; b) Nhận biết về nhân duyên của tập khí đời trước; c) Nhận biết về tâm niệm hiện tại.

Trong phần hai là dạy dỗ lìa xa lỗi lầm có ba: a) Một câu đầu là tổng quát; b) Chín câu tiếp là riêng biệt, câu thứ tám là do quán Tự-tha bình đẳng cho nên không khởi lên kiêu mạn đối với người khác, câu thứ chín là tâm nịnh hót quanh co thì phần nhiều vì danh lợi làm cho tâm rối loạn không ngay thẳng, Bồ-tát nhận biết điều ấy không phải là có cho nên tâm vắng lặng; c) Từ “Như thị…” trở xuống là kết luận.

Trong phần ba là dạy dỗ tu tập pháp thiện: Một câu đầu là tổng quát, 13 câu sau là hiển bày riêng biệt. Trong đó: Đầu là tám câu về pháp giáo hóa thuộc Tự phần, sau là năm câu về pháp giáo hóa thuộc Thắng tiến.

Trong phần đầu: 1) Hai câu đối với pháp chủ động thuyết giảng, một là quán xét về Lý như nhau mà không trái với Sự riêng biệt, hai là phân tích Sự hủy hoại mà không trở ngại Lý giữ lại, bởi vì Lý-Sự tuy là làm mất lẫn nhau, cả hai không còn mà không trở ngại giữ lại cả hai. Lại giải thích: Phân biệt là thuyết giảng, nghĩa là ở trong pháp bình đẳng tuy lại dùng môn khác để thuyết giảng riêng biệt đủ loại, nhưng đều không mất đi tông chỉ ban đầu, cho nên nói là trước sau không có trái nhau; đây là gốc-ngọn vô ngại. 2) Thuyết giảng về pháp duyên khởi không có tánh gọi là phá hoại, mà cũng không trở ngại duyên khởi, bởi vì pháp giới không có gì phân tán diệt đi; đây là thành-hoại vô ngại. Dưới đây là đối với người chủ động làm lợi ích: 3) Giáo hóa khiến cho phát sinh niềm tin, tin tưởng trừ hết nghi ngờ cho nên hoan hỉ; 4) Giáo hóa khiến cho phát sinh hiểu biết, hiểu rõ về thật lý gọi là tiến vào, sau là giáo hóa khiến cho phát khởi thực hành; 5) Phước thực hành hướng đến quả, sau là giáo hóa thực hành về Tuệ; 6) Thực hành phá bỏ tướng; 7) Thực hành tiến vào thật; 8) Thực hành không đắm trước, pháp đều dựa vào tâm, hai bên cùng lìa xa cho nên nói là vô nhiễm. Trong phần sau là trình bày về pháp giáo hóa thuộc Thắng tiến: 9) Giáo hóa dùng niệm niệm bình đẳng không hai này để tôn kính chư Phật, đây là tiếp cận thân Phật; 10) Giáo hóa tự học âm thanh êm dịu mà không có gì đắm trước; 11) Đối với âm thanh kỳ lạ của người khác mà không có gì sai biệt, đây là hai pháp học về ngữ nghiệp của Phật; 12) Học theo giáo pháp của Phật; 13) Từ “Cụ túc…” trở xuống là tu tập trí tuệ của Phật, đây là hai pháp học về ý nghiệp của Phật. Phần sau là kết luận có thể biết.

Giải đáp câu thứ tám về không rời bỏ các Ba-la-mật: Một là kết thúc phần trước sinh khởi phần sau, phần này có hai nghĩa: Một là tuy thường giáo hóa chúng sinh, mà trong tâm luôn luôn vắng lặng, cho nên nói là không rời bỏ công hạnh của mình; hai là thực hành công hạnh này vì người khác, cho nên không rời bỏ công hạnh của mình, chính là nói đến Lợi tha.

Bởi vì trong mười Độ, bốn Độ sau là trong Độ thứ sáu tách ra, cho nên chỉ nêu ra sáu Độ. Lại dùng bốn Độ sau để trang nghiêm sáu Độ trước, cho nên nói là có đủ tất cả các Độ.

Sáu Độ trang nghiêm ở trong mười Độ:

Trong Độ thứ hai, không cậy vào Giới mà tự cao, lại không chấp Giới làm có mà khiến cho thanh tịnh.

Trong Độ thứ ba, đầu là an tâm nhẫn nại nhận chịu khổ đau, nghe tiếng xấu không buồn rầu… mà nhẫn nại nhận chịu oán hại, nghe tiếng tốt không vui mừng mà nhẫn nại tư duy về pháp, chưa từng có… là kết luận lìa xa cả hai.

Trong Độ thứ tư, đầu là chịu khó tu tập về nhân của Phật, từ “Cứu cánh…” trở xuống là chịu khó tu tập về quả của Phật.

Trong Độ thứ năm là Thiền: Một là Thể của nhập Định, rời bỏ dục… là Thiền thứ nhất, theo thứ tự tiến vào là ba Thiền sau, đây là Định thuộc Sự, tiến vào mà không đắm trước cho nên nói là Vô nhiễm; sau là trình bày về diệt trừ mê hoặc phát sinh Định, là Định thuộc Lý; sau là trình bày về Dụng của Định phát khởi thần thông. Hai là vượt lên trên thứ tự, nghĩa là đối với tám-chín theo thứ tự tiến vào, và vượt qua tiến vào, đây là Dụng của Định thuộc Sự. Ba là tiến vào một biết nhiều, bốn là dần dần đầy đủ trí đức, hai loại này là Dụng của Định thuộc Lý.

Trong Độ thứ sáu là Trí: 1) Mong cầu Văn Tuệ; 2) Từ “Sở văn đẳng…” trở xuống là trình bày về Tư Tuệ; 3) Từ “Nhập chân đẳng…” là trình bày về Tu Tuệ. Trên đây là Trí về gia hạnh. ) Từ “Diệu thiện đẳng…” là phân rõ về chính thức chứng trí; 5) Từ “Cụ túc đẳng…” là trình bày về Hậu đắc trí hướng đến Tuệ của Phật.

Trong Độ thứ bảy là Phương tiện, có sáu loại phương tiện đều dùng Bi-Trí dẫn dắt nhau khéo léo, bởi vì không có gì đắm trước cho nên nói là Phương tiện: 1) Bi chỉ ra oai nghi, Trí lìa xa ái kiến; 2) Bi là hiện thân, Trí là vô nhiễm; 3) Bi bên ngoài thị hiện trẻ thơ, Trí bên trong đầy đủ thông tuệ; 4) Bi thị hiện thoát khỏi trói buộc, Trí khéo léo không giữ lấy; 5) Bi và Trí hiện rõ trang nghiêm; 6) Bi có thể tiến vào nơi chốn, Trí hiểu rõ những việc đã làm.

Trong Độ thứ tám là Nguyện có mười, mỗi một Nguyện đều Nguyện tận cùng nguồn cội ấy, đều nói là cứu cánh: 1) Nguyện giáo hóa chúng sinh; 2) Nguyện thanh tịnh cõi Phật; 3) Nguyện cúng dường Đức Phật; 4) Nguyện thâu nhiếp trí tuệ; 5) Nguyện tu theo hạnh pháp giới; 6) Đại chí nguyện, nghĩa là dùng chí lực tu hạnh bậc Thượng, tận cùng thời gian kiếp trú vị lai, nói là giống như khoảnh khắc; 7) Nguyện tu rút ngắn, nghĩa là nguyện dùng kiếp dài làm ngắn, câu trên chỉ chuyển tâm chủ động thấy, câu này quay lại kiếp thụ động trú, vì thế cho nên câu trên có chữ trú, câu này không có; 8) Nguyện thành hoại, nghĩa là nguyện thông hiểu rõ ràng về sự thành hoại của thế giới, một là duyên quy tụ mà thành không làm cho hư hoại, hai là kiếp mới thành-kiếp chưa hoại đều nguyện thông hiểu rõ ràng; 9) Nguyện hiện rõ Tịnh độ; 10) Nguyện thành tựu Chánh giác.

Trong Độ thứ chín là Lực, có mười nghĩa đều có năng lực chịu đựng được, không thể khuất phục cho nên gọi là Lực. Mỗi một loại đều đầu là nêu ra tên gọi, sau là giải thích về nghĩa. Trong 1) giải thích, bên trong lìa xa phiền não… là lìa xa lỗi lầm, có đủ thanh tịnh… là thành tựu đức, hai loại này thành tựu Tự hành cho nên gọi là Tự chuyên chánh. Trong 2) giải thích, nghĩa là bởi vì Lực thù thắng của Chánh lý cho nên lực khác luôn luôn không có thể hủy hoại được, hai loại này tổng quát nêu về Lợi tha. 3) Tâm bạt trừ đau khổ đầy đủ; 4) Tâm mang lại niềm vui như nhau đều có thể che chở bảo vệ tất cả, là nghĩa về Lực, hai loại này là tâm Lợi tha. 5) Lực về Trì là bên trong tích trữ nghĩa của pháp; 6) Lực về Biện là bên ngoài thích nghi để ứng cơ, hai loại này là đức Lợi tha. 7) Lực về Đại hạnh có đủ trang nghiêm. 8) Lực về hoằng nguyện không đoạn dứt. 9) Lực về nhân sinh ra nhiều. 10) Lực về quả che phủ rộng khắp.

Trong Độ thứ mười là Trí, nghĩa là nhận biết bệnh-hiểu rõ cănxứng với lý trao truyền pháp cho nên nói là Trí, cũng có mười câu. Trong đó: Bốn câu đầu là biết bệnh nặng nhẹ; ba câu tiếp là biết căn mong muốn, một là biết bệnh ở phần vị Học, hai là biết thói quen lang thang của hành trong tâm ấy tức là hoạt động của căn, ba là biết ham thích hy vọng; ba câu tiếp là biết về thuốc pháp, một là biết pháp của cảnh, hai là biết pháp của trí, ba là biết pháp môn vô ngại vô biên của cảnh-trí, cho nên nói là pháp giới.

Giải đáp câu thứ chín về chúng sinh đã thưa thỉnh đều có thể độ thoát, trong đó có ba: Một là kết thúc phần trước sinh khởi phần sau. Hai từ “Giáo hóa nhất thiết…” trở xuống là mười câu chính thức hiển bày về độ thoát. Trong đó:

Đầu là hai câu, một là giáo hóa ra khỏi đường ác, đó là câu đầu tu nhân thiện về sau thoát khỏi quả khổ; hai là giáo hóa thoát khỏi các nạn, đó là tinh tiến tu nhân thoát khỏi, vượt lên trên nạn thoát khỏi quả của tám nạn.

Tiếp theo là ba câu về giáo hóa đối trị ba độc, nhưng tham dục có hai loại, một là tham sắc thì dạy cho quán về bất tịnh, hai là tham tài sản thì dạy cho quán về lìa dục; sân cũng có hai loại, một là sân với hữu tình thì dạy cho quán về tâm Từ Bi, hai là sân với vô tình thì dạy cho quán về bình đẳng, bởi vì vật vô tình không xứng ý và vật xứng ý không hai, cho nên nói là bình đẳng; ngu si cũng có hai loại, một là ngu ngốc không biết gì thì dạy cho quán về phân biệt thế giới, hai là tà kiến ngu si thì dạy cho quán về nhân duyên, bởi vì các pháp từ nhân duyên mà sinh ra chứ không phải là tự tại cùng làm ra, lại bởi vì không tin nhân quả do đó dạy cho quán về nhân duyên.

Tiếp theo là ba câu về giáo hóa khiến cho thoát khỏi ba cõi, một là dạy cho lìa xa dục sân…, rời bỏ cõi Dục đến Sơ thiền…; hai là dạy cho quán tăng thượng, rời bỏ tăng thượng của cõi Sắc đến Vô sắc xứ; ba là dạy cho trí vi tế, dùng để soi chiếu xem xét về Tưởng vi tế khiến cho đoạn hết, chứng Không vượt lên trên ba cõi.

Tiếp theo là hai câu về giáo hóa khiến cho tiến vào Tam thừa, trong đó có ba: Một-Dạy cho hạnh vắng lặng có ba nghĩa, một là dùng Nhị thừa ấy tu hạnh lìa xa ồn ào xen tạp của sinh tử; hai là khiến cho tu hạnh vắng lặng chứng nhập Nhân Không; ba là Niết-bàn Vô dư gọi là vắng lặng, tu pháp ấy gọi là hạnh. Hai-Dạy cho dùng mười Lực…, là vượt lên trên phàm phu-Tiểu thừa, trang nghiêm hiển bày về Đại thừa. Ba-Sau là giải thích về nghĩa của Độ đã thưa thỉnh, nghĩa là như Sơ phát tâm nêu ra Bổn nguyện ấy, chỉ rõ Bổn gọi là Như, thấy chúng sinh rơi vào nẽo ác là nêu ra nguyện bằng việc làm, Đại Sư Tử Hống là nêu ra lời nguyện ấy, lời thề quyết định gọi là Sư Tử Hống, biết bệnh dùng pháp để cứu giúp là chính thức hiển bày về tướng của Nguyện.

Ý văn trong này hiển bày từ lúc mới phát tâm, bởi vì thấy chúng sinh đau khổ, cho nên dùng lời quyết định để thưa thỉnh chọn lấy lời thề độ hết tất cả chúng sinh.

Ba từ “Cụ túc…” trở xuống là ý kết luận có thể biết.

Giải đáp câu thứ mười về làm cho Tam Bảo hưng thịnh, trong đó có ba: Một là nêu ra, hai là giải thích, ba là kết luận.

Trong giải thích, chín câu đầu là riêng biệt, một câu sau là tổng quát. Trong riêng biệt, chín câu làm thành ba lớp.

Có nơi giải thích rằng: Đầu là dựa theo Giáo đạo, tiếp là dựa theo Chứng đạo, sau là dựa theo không trú vào đạo. Nay lại giải thích: Đó là đầu-giữa-sau phân làm ba.

Một là dựa theo Phật Bảo: Đầu là dạy cho phát tâm Bồ-đề, tiếp theo là đã phát nguyện Bồ-đề thì khen ngợi Đại nguyện ấy khiến cho không thối chuyển, sau là khiến cho dựa vào nguyện khởi hạnh làm cho nhân của Phật tròn vẹn cho nên nói là gieo giống Phật…, nhân đầy đủ-quả phát sinh gọi là nảy mầm Chánh giác, vì vậy trước sau nối tiếp nhau khiến cho Phật Bảo không đoạn mất.

Hai là dựa theo Pháp Bảo: Đầu là chỉ rõ về Giáo pháp sâu xa, tiếp theo là giải thích về Lý pháp, sau là hộ trì… trình bày về Hành pháp. Lại giải thích: Đầu là tổng quát nêu rõ về pháp sâu xa, tiếp theo bởi vì pháp sâu xa khó hiểu do đó cần phải giải thích khiến cho hiểu rõ về pháp để lưu hành, sau là pháp đã thực hành rồi thì thêm sự bảo vệ không tiếc thân mạng, vì vậy làm cho Pháp Bảo này lưu hành rộng ra không đoạn tuyệt. Lại giải thích: Đầu là Khế kinh, tiếp là Đối pháp, sau là Tỳ-ni, vì vậy cần phải nghiêm khắc bảo vệ.

Ba là dựa theo Tăng Bảo: Đầu là thọ trì oai nghi về Giáo pháp, là phương tiện thực hành của Tăng; tiếp theo là thực hành sáu pháp hòa kính, Tăng thực hành thành tựu, trở thành hạnh không trái nhau gọi là Hòa, hạnh hòa đồng dẫn dắt nhau gọi là Kính, nghĩa là ba nghiệp Từ là ba, Giới như nhau-Thí như nhau cũng nói là Xả như nhau, Kiến như nhau cũng nói là Tuệ như nhau, cho nên có sáu. Sau là khéo léo cai quản Đại chúng, tâm không có gì lo buồn, là đức của Tăng đã thành tựu cai quản tất cả chung một khối, cho nên có thể khiến cho Tăng Bảo thường tồn tại.

Sau là tổng quát kết luận, có thể biết. Trong này có chương Tam Bảo, giải thích như ở phần khác.

Giải đáp câu thứ mười một về cảnh giới đã hiện bày không hư vọng. Trong đó: Đầu là kết thúc phần trước, từ “Bồ-tát như thị an trú…” trở xuống là sinh khởi phần sau. Trong đó có ba: Đầu là tổng quát, tiếp là riêng biệt, sau là kết luận.

Trong phần tổng quát, có ba: Một là ngữ nghiệp không trống rỗng; hai từ “Bỉ Bồ-tát…” trở xuống là thân nghiệp không hư giả, nghĩa là những việc làm đều không sai lầm; ba từ “Như thị nhất thiết…” trở xuống là ý nghiệp, trí tuệ hồi hướng không hư giả.

Hai là trong phần riêng biệt, có ba: Đầu là pháp, tiếp là dụ, sau là hợp.

Trong pháp: Đầu là nêu rõ, tiếp là đưa ra, ba là kết luận. Trong phần đưa ra, năm loại đầu là trình bày về tự mình y-chánh trang nghiêm, năm loại sau trình bày về pháp thâu nhiếp chúng sinh trang nghiêm. Trong năm loại đầu: Ba loại đầu về ba nghiệp tức là Chánh báo trang nghiêm; hai loại tiếp là Y báo trang nghiêm, trong đó đầu là trình bày về quốc độ lìa nhiễm, đó là thọ dụng quốc độ này nuôi lớn đạo để diệt trừ phiền não, sau là trình bày về quốc độ có đủ đức thanh tịnh, đó là bởi vì thường có ánh sáng rực rỡ. Năm loại sau: 1) Thâu nhiếp chúng thù thắng; 2) Thị hiện thần lực khiến cho sinh khởi niềm tin; 3) Trao truyền Thánh giáo khiến cho phát sinh hiểu biết; 4) Hóa hiện thành Phật, gọi là Niết-bàn, đây không phải là nghĩa của viên tịch, tiếng Phạm nói là Nê-bạn, Trung Hoa gọi là Hóa, là những tác dụng của quốc độ này cho nên thuận theo nói là Hóa địa nghiêm, vốn gọi là hiện bày xứ sở giáo hóa; 5) Tùy theo cơ trao cho pháp. Còn lại là kết luận có thể biết. Dụ-hợp cũng có thể biết. Trên đây là đáp về phần hỏi thứ nhất, xong.

Thứ hai trong phần giải đáp về do thực hành mà thành tựu công đức, có 20 câu: 1) Diệt ngu si là nhắc lại câu hỏi trước đây, vốn đầy đủ trí tuệ là giải đáp. Những câu dưới đều trước là nêu ra câu hỏi, sau là hiển bày giải đáp. 2) Từ Bi là giải đáp câu hỏi về hàng ma. 3) Lực công đức của tuệ là giải đáp câu hỏi về chế phục ngoại đạo. 4) Nhập định Kim Cang trừ diệt tập khí cấu nhiễm của tâm là giải đáp câu hỏi về lìa bỏ trần cấu. Trên đây là hạnh lìa xa lỗi lầm. 5) Ở tại trú xứ của chư Phật trước đây… là giải đáp câu hỏi về thành tựu đầy đủ tất cả công đức. 6) Tuệ thanh tịnh đầy đủ là giải đáp câu hỏi về có thể lìa xa nẽo ác… Sáu câu trên đây là tổng quát về thực hành tu tập đầy đủ. 7) Lực trí tuệ phương tiện theo thứ tự là giải đáp câu hỏi về sáu loại tên gọi-các đức đầy đủ trọn vẹn như các Địa…: Một là Địa, hai là Độ, ba là Định, bốn là Thông, năm là Minh, sáu là Vô úy. Trên đây là nhân tròn vẹn. 8) Lực của pháp thanh tịnh là giải đáp câu hỏi về ba nghiệp y-chánh của Phật. 9) Trí tuệ phân biệt mau chóng hiểu rõ các pháp… là giải đáp câu hỏi về đạt được mười Lực… của Phật. Câu trước là trình bày về quả thuộc tướng tốt của y-chánh, câu này trình bày về quả thuộc công đức sai biệt, hai câu này là tổng quát trình bày về quả đầy đủ. Trên đây là tổng quát về phần Tự lợi, xong. 10) Nguyện lực-thần lực-trí lực là giải đáp câu hỏi về tùy theo cõi Phật. 11) Tùy theo sự thích hợp tiếp nhận giáo hóa… là giải đáp câu hỏi về tùy theo thành tựu chúng sinh… 12) Bồ tát tu tập thực hành như vậy… là giải đáp câu hỏi về tu hành thành Phật. 13) Đối với vô lượng quốc độ… là giải đáp câu hỏi về hộ trì pháp tạng. 14) Thành tựu bốn Biện… là giải đáp câu hỏi về phân biệt thuyết giảng rộng ra. 15) Ở giữa Đại chúng không có gì sợ hãi… là nhắc lại câu hỏi trước, Bát-nhã tăng thượng đầy đủ là giải đáp câu hỏi về ma không có thể phá hoại. 16) Phân biệt theo thứ tự… là giải đáp câu hỏi về thâu nhiếp duy trì Chánh pháp vô cùng tận. 17) Từ “Cụ túc Đại Bi…” trở xuống là giải đáp câu hỏi về đối với tất cả thế giới đều có thể diễn thuyết. 18) Mười vị vua tôn kính bảo vệ lược qua không có văn giải đáp, lại bởi vì đây là quả của hành cho nên không có giải đáp, lại trừ Đức Phật ra không có ai hơn được… cũng là giải đáp tổng quát mà thôi.

Hỏi: Thập Địa đầy đủ về sau tiếp nhận chức vị Bồ-tát mới nói chỉ trừ ra Như Lai, còn lại không có ai hơn được, vì sao trong này phần vị là ở Thập Trú thuộc Địa tiền mà lại có lời này?

Đáp: Đây là pháp Đà-la-ni của phần vị Phổ Hiền thuộc Viên giáo, cho nên ở một phần vị thành tựu đầy đủ thì thâu nhiếp tất cả các phần vị đều hết. Như văn sau Tỳ-kheo Hải Tràng đảnh lễ nơi Đức Phật thuyết pháp trước đây, nói Thập Trú đầy đủ về sau tức là Bổ xứ thành Phật, lại không nói tiến vào Thập Hạnh thì giống như ở đây nói. Đây là dựa theo phần vị bắt đầu mà nói. Như trong phẩm Tiểu Tướng sau này, từ địa ngục thoát ra liền đến phần vị sau Vô sinh nhẫn của Thập Địa, đến trước Tam-muội Ly Cấu…, đó là dựa theo phần vị cuối cùng mà nói. Ở giữa hai phần vị, dựa theo đó có thể biết. 19) Tất cả thế gian cung kính… cũng không có giải đáp, bởi vì giống như quả của hành, cũng có thể cùng nối thông ở trong câu hỏi sau. 20) Từ “Phật tử…” trở xuống là giải đáp câu hỏi về đạt được lực của thiện căn-tăng trưởng pháp thanh tịnh…

Trong đó đầu là tổng quát nêu ra, sau là giải thích về thành tựu. trong phần đầu, trước là lợi ích thù thắng của thân nghiệp, tiếp từ “Dĩ Từ tâm..” trở xuống là ý nghiệp thù thắng, sau từ “Cụ túc biện tài…” trở xuống là ngữ nghiệp thù thắng. Trong phần sau là giải thích có 11 câu: Sáu câu đầu là thành tựu về đức của nhân thuộc Tự phần, một là thành tựu Chứng trí thanh tịnh, hai là như Chứng mà khéo léo thuyết giảng, ba là đối với giáo có thể nghĩ nhớ duy trì, bốn là như nghĩ đến có thể khéo léo thuyết giảng, năm là đối với pháp đã đạt được có thể ghi nhớ duy trì, sáu là đối với pháp chưa đạt được có thể suy xét tìm tòi. Năm câu sau là thành tựu về đức của quả thuộc Thắng tiến, một là đạt được lực dụng bên ngoài của Phật, hai là đạt được thật trí bên trong của Phật, ba là đạt được trí khéo léo thuyết giảng của Phật, bốn là chính thức thuyết giảng về pháp sâu xa, năm là thành tựu trí thù thắng của Phật, nghĩa là đầy đủ Lý-Lượng và Nguyện trí của Bồ-tát…

Trong phần thứ hai là kệ tụng có 20 kệ: Đầu là 13 kệ tụng về 11 loại hành pháp của đoạn thứ nhất trước đây, sau có 7 kệ tụng về 1 loại công đức do hành mà thành tựu sau này.

Trong phần đầu: Đầu là bốn kệ tụng về hai đoạn đầu, đó là một kệ rưỡi đầu tụng về chuyển sang thù thắng do tu tập, đó là gọi Sơ phát tâm trú là Địa thứ nhất, bởi vì đã đạt được kho tàng của công đức phát tâm cho nên nói là trưởng dưỡng; câu tiếp là tụng về diệt trừ phóng dật; câu tiếp là tụng về lìa xa si ám; hai câu tiếp là tụng về không quên tâm Bồ-đề…; hai câu sau là tụng về Như Lai hoan hỷ. Tiếp một kệ trùng tụng về tu thù thắng, ba câu đầu là tụng về không thối chuyển, một câu sau là tụng về lìa xa phàm phu tại gia-xuất gia. Còn lại lược qua không tụng. Sau là một kệ trùng tụng về Đức Phật hoan hỷ có thể biết.

Tiếp có hai kệ, tụng về ba đoạn tiếp theo, đó là năm câu đầu vượt

qua tụng về hạnh thanh tịnh thứ tư, tiếp một câu đầy đủ các Địa là lùi lại tụng về sở trú thứ ba, từ “Công đức…” trở xuống là nửa kệ tụng về Đại nguyện thành tựu đầy đủ thứ năm. Tiếp nửa kệ tụng về đạt được Bồ-tát tạng thứ sáu. Tiếp một kệ rưỡi tụng về tùy theo sự thích hợp mà hóa độ thứ bảy. Tiếp một kệ tụng về không rời bỏ các Ba-la-mật thứ tám. Tiếp một kệ tụng về tùy theo chúng sinh đã thưa thỉnh thảy đều độ thoát thứ chín. Tiếp một kệ tụng về làm cho Tam Bảo hưng thịnh thứ mười. Tiếp hai kệ tụng về việc Bồ tát đã làm không hư giả.

Từ đây trở xuống là bảy kệ tụng về công đức do hành mà thành tựu. Trong đó: Đầu là một kệ rưỡi tụng về văn ở 9 câu đầu là nhân tròn vẹn-quả đầy đủ trong 1 câu. Tiếp hai kệ rưỡi là tụng về hộ trì Chánh pháp và thuyết giảng rộng rãi… Tiếp ba kệ tụng về văn lợi ích của ba nghiệp lợi ích ở câu thứ 1, nghĩa là tụng về ở giữa Đại chúng yên tâm vững vàng uy lực mạnh mẽ kiên cố thuyết giảng về pháp rất sâu xa diệt trừ mê hoặc trước đây.

Sau là trình bày về điều đã nói là hợp với lý, cho nên Như Lai tùy hỷ; điều đã nói là hợp với cơ, cho nên Đại chúng vâng theo thực hành. Trên đây là Hội thứ ba, xong.

 

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.