Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐẠI THỪA TU HÀNH BỒ-TÁT HẠNH MÔN CHƯ KINH YẾU TẬP

Hán dịch: Đời Đường, Sa-môn Thích Trí Nghiêm
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Tập yếu các kinh gồm có bốn mươi hai bộ.

Môn của Bồ-tát hạnh gồm có sáu mươi sáu điều, nêu đủ ra như sau:

1. Rút ra từ kinh Tượng Dịch (nói rõ ba hạnh):

-Hiểu rõ sáu hạnh Ba-la-mật.

-Bồ-tát tu hạnh vì chúng sinh nên sinh vào sáu nẻo, thọ mọi diệu lạc.

-Hạnh Bồ-tát dụ như hư không.

2. Rút ra từ kinh Diệu Pháp Quyết Định Nghiệp Chướng (nói rõ ba hạnh):

-Chỉ dạy hạnh Bồ-tát, biểu thị Thiện tri thức, không thoái chuyển nơi nhân Bồ-đề.

-Tuy hủy báng chánh pháp, nhưng pháp đã hội nhập nên sẽ thành tựu Phật đạo.

-Hiểu hai mươi bốn thứ danh hiệu của Đại thừa.

3. Rút ra từ kinh Duy-ma-cật Sở Vấn (nói rõ hai hạnh):

-Hiểu chủng tánh của Phật, nhân đó phát khởi tu hạnh Bồ-tát.

-Hiểu nhân duyên công đức của sự xuất gia.

4. Rút ra từ kinh Phương Quảng Như Lai Trí (nói rõ hai hạnh): -Hiểu chẳng phải là Thiện tri thức thì không nên ở chung.

-So sánh đạo hạnh của Thanh văn và tu hành hạnh Bồ-tát, có cạn sâu.

5. Rút ra từ kinh Thắng Nghĩa Đế Phẩm (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát tu hạnh phát khởi mười loại, hạnh nguyện, mau thành tựu Phật đạo.

-Hiểu Bồ-tát tu hành mười loại giới hạnh, thành tựu sáu Ba-lamật.

6. Rút ra từ kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa (nói rõ bốn hạnh):

-Bồ-tát tu hạnh mới đầu tu Bố thí ba-la-mật, nhân không tán loạn, phát khởi Bồ-đề.

-Hiểu Bồ-tát tu hành sợ tâm Bồ-đề bị tán loạn nên thâu giữ niệm nơi sáu Ba-la-mật.

-Giải thích nhân duyên của phiền não.

-Hiểu rõ về Bồ-tát tu hành mới đầu là phát khởi tâm Bồ-đề, chuyên trì sáu Ba-la-mật.

7. Rút ra từ kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thiện Tài Đồng Tử (nói rõ một hạnh):

-Nêu thí dụ: Bồ-tát mới tu hành phát khởi Bồ-đề, đối chiếu với đạo hạnh của hàng Thanh văn.

8. Rút ra từ kinh Bảo Kế Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Hiểu Bồ-tát tu hành trì giới thanh tịnh, thực hành sáu Ba-lamật.

9. Rút ra từ kinh Diễn Pháp Sư Phẩm (nói rõ hai hạnh): -Bồ-tát tu hành so sánh với giáo pháp Thanh văn.

-Lại hiểu rõ về môn tu hành Bồ-tát hạnh nơi các cõi.

10. Rút ra từ kinh Quyết Định Tỳ-ni (nói rõ hai hạnh):

-Hiểu Bồ-tát tu hành và người hành Thanh văn giữ gìn giới hạnh như thế nào.

-Hiểu rõ về nhân nặng nhẹ của ba độc.

11. Rút ra từ kinh Biến Thanh Tịnh Tỳ-ni (nói rõ hai hạnh):

-So sánh về giới hạnh của Bồ-tát tu hành với giới hạnh của Thanh văn.

-Điều phục nơi tâm.

* Mười một bộ trên gom vào quyển Thượng.

*********

12. Rút ra từ kinh Hải Tuệ Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ tám hạnh):

-Bồ-tát tu hành, giả sử phạm sáu Ba-la-mật, thì dùng phương tiện thiện xảo để có thể thành tựu, không phạm.

-Đức Phật nói nghĩa thâm diệu của Bát-nhã ba-la-mật, dẫn dụ để so sánh chỗ hơn kém của Thanh văn và Bồ-tát.

-Bồ-tát tu hành mới phát tâm Bồ-đề, thật sự có thể nhẫn nhục, không để hàng tà ma làm thoái chuyển mất Bồ-đề.

-Hiểu rõ về nhẫn, ba nghiệp thân, khẩu, ý bất động, thành tựu sáu Ba-la-mật.

-Hiểu rõ về môn niệm quán hành thành tựu sáu Ba-la-mật.

-Hiểu rõ về dụ tám loại công đức và phiền não hòa xen lẫn nhau.

-Hiểu về bốn loại hạnh thiện.

-Hiểu rõ về đối tượng tu đạo hạnh của Bồ-tát tu hành, có hai mươi loại tà ma ương-câu-xa-câu gây chướng ngại đạo.

1. Rút ra từ kinh Hý Lạc Nghiêm (nói rõ một hạnh):

-Hiểu rõ về phương tiện thiện xảo của Bồ-tát tu hành nơi nhân duyên của năm dục, tức nên khuyên phát khởi Bồ-đề nhân đó độ thoát vô lượng chúng sinh.

2. Rút ra từ kinh Thiện Xảo Phương Tiện (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành học theo hạnh Thanh văn là nhân phạm chướng ngại nặng.

3. Rút ra từ kinh Thắng Tích Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Dụ Bồ-tát tu hành thoái nhập vào hạnh Thanh văn.

4. Rút ra từ kinh Như Lai Tạng (nói rõ một hạnh):

-Quán niệm về nhân quả nhẫn nhục của Như Lai.

5. Rút ra từ kinh Kim Quang Thượng Thắng Tỳ-ni (nói rõ một hạnh):

-Đồng nữ Kim Quang Thắng phát mười thứ hạnh nguyện hành xuất gia, tâm mở ý không.

6. Rút ra từ kinh Hàng Phục Ma (nói rõ một hạnh):

-Ma vì Bồ-tát nói hai mươi thứ ma chướng, phải nên tự giác, không chấp giữ.

7. Rút ra từ kinh Phú-lâu-na Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành bị tri thức ác nên có bốn loại nhân duyên thoái bỏ Bồ-đề chọn lấy nẻo giải thoát của Thanh văn.

8. Rút ra từ kinh Bảo Đồng Tử Thiên Nhân Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-So sánh về đạo hạnh của Bồ-tát tu hành cùng với Thanh văn, về bốn loài thật ngữ không hư dối, không nhàm chán các hành.

9. Rút ra từ kinh Bảo Tích (nói rõ một hạnh):

-So sánh về pháp hành của Bồ-tát tu hành cùng với Thanh văn.

* Mười bộ trên nhập vào quyển Trung.

*********

10. Rút ra từ kinh Hư Không Tạng Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Nói Bồ-tát tu hành có bốn mươi lăm thứ ma chướng, nếu có thể giác ngộ thì có thể vượt qua bốn thứ ma.

11. Rút ra từ kinh Như Lai Cảnh Giới (nói rõ một hạnh):

-Có các Tỳ-kheo được nghe pháp từ Đức Như Lai Ca-diếp, nên ở đời nay không quên, sẽ sinh vào ba hội của Phật Di-lặc.

12. Rút ra từ kinh A-xà-thế Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Hiểu rõ nhân của Bồ-tát nơi tạng của ba thừa, lại hiểu nhân của Thượng tọa.

13. Rút ra từ kinh Ly Cấu Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Trong hư không có chúng Bồ-tát, đi xuống chỗ Phật, hiện thân là người nữ, vì phát tâm Bồ-đề nên chuyển thành thân nam.

14. Rút ra từ kinh Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu tập hai thứ hạnh đạt được mười thứ thiện căn lợi ích.

15. Rút ra từ kinh Quang Minh Biến Chiếu Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Có các Tỳ-kheo theo Đức Phật ở trong rừng Thệ-đa, không thấy thánh đức oai thần của Như Lai. Dụ cho các Bồ-tát phước lực thù thắng so với Thanh văn.

16. Rút ra từ kinh Xuất Sinh Bồ-đề (nói rõ hai hạnh):

-Nói về ba thứ Phật địa.

-Lại nói về nhân duyên cao thấp của ba thừa.

17. Rút ra từ kinh Bảo Tụ (nói rõ một hạnh):

-Người mới phát tâm Bồ-đề, công đức nhiều như số cát sông Hằng, hàng A-la-hán không thể sánh bằng.

18. Rút ra từ kinh Na-la-diên Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Nói Bồ-tát tu hành sinh nơi bốn thứ trụ địa.

19. Rút ra từ kinh Tập Nhất Thiết Công Đức Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành đưa đao xin giết, nguyện làm thay đổi sinh tử, cứu độ chúng sinh, không lìa ba cõi.

20. Rút ra từ kinh Mật Nghiêm (nói rõ một hạnh):

-So sánh Thanh văn với Bồ-tát tu hành, hành nghiệp có sâu cạn.

21. Rút ra từ kinh Phạm Sát (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành luôn phát đại hạnh nguyện nhẫn nhục, mau đạt đến Bồ-đề.

22. Rút ra từ kinh Nhất Thiết Chư Phật Sở Niệm (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành nhẫn nhục ba nghiệp thân, ngữ, ý luôn biết hổ thẹn chẳng tái phạm.

23. Rút ra từ kinh Pháp Tập (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát tu hành giữ gìn mười giới hạnh.

-Lại có mười loại giới hạnh.

24. Rút ra từ kinh A-sai-da-mạt Bồ-tát (nói rõ một hạnh):

-Giới lực của người hành đối với tất cả các sắc đều có lúc cùng tận, chỉ có giới lực của Bồ-tát tu hành thì không cùng tận.

25. Rút ra từ kinh Tập Hội Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Hiển bày giáo pháp của ba thừa.

26. Rút ra từ kinh Úc-già Trưởng Giả Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Nói về Bồ-tát tại gia nhân duyên không xuất gia nên tu bốn thứ hạnh công đức.

27. Rút ra từ kinh Thù Thắng Cụ Giới Phẩm (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát mới tu hành mới phát tâm Bồ-đề nên cùng ma chiến đấu, mới đủ sức thọ nhận vô lượng y phục, thức ăn, giường nằm, ngọa cụ đều không bị chướng ngại.

-Lại giải thích Long vương A-nậu-đạt tạo thành bốn con sông lớn.

28. Rút ra từ kinh Giải Thâm Mật (nói rõ một hạnh): -Bồ-tát tu hành tu sáu Ba-la-mật, hành trụ địa.

29. Rút ra từ kinh Thắng Man (nói rõ một hạnh):

-Phu nhân Thắng Man dùng kệ tán thán Đức Như Lai. Như Lai hiện ra để phu nhân được thọ mười đại hạnh nguyện.

30. Rút ra từ kinh Xuất Sinh Vô Biên Môn (nói rõ ba hạnh):

-Nói người trì kinh, chú này, khi mạng chung được tám mươi ức chư Phật đến nghênh tiếp.

-Lại biểu thị ba thân của Như Lai.

-Lại nói Bồ-tát tu hành tu tập bốn sự: Bốn sự hành môn vô tướng, mau chóng thành tựu Phật đạo.

* Hai mươi mốt bộ sau thuộc về quyển Hạ.

*********

Nếu muốn tra cứu, nên dựa theo thứ lớp kinh văn đã dẫn chứng.

1. Rút ra từ kinh Tượng Dịch (nói rõ ba hạnh):

– Hiểu rõ về Bồ-tát tu hành hạnh không của sáu Ba-la-mật.

– Bồ-tát sinh vào sáu đường để cứu độ chúng sinh nên thân thọ nhận dục lạc.

– Bồ-tát tu hành, dụ như hư không.

Bấy giờ, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con có chỗ nghi ngờ, cúi xin Như Lai vì đại chúng giảng nói.

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Tùy ý ông cứ hỏi, Như Lai sẽ vì ông giảng nói nghĩa ấy, khiến ông và đại chúng hoan hỷ phụng hành.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành làm thế nào để trụ nơi pháp vi diệu thù thắng, hiển thị hết thảy hạnh môn của Bồ-tát, có thể thành tựu đầy đủ cho vô lượng chúng sinh, dụ như trăng tròn hiện ra nơi tất cả cõi Phật?

Đức Thế Tôn khen Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Lành thay, lành thay! Này Đồng tử Văn-thù-sư-lợi! Những lời thưa hỏi của ông, ta nay vì ông giảng nói rộng về chỗ còn nghi ngờ.

Ông nên lắng nghe, khéo suy nghĩ.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Cúi xin Thế Tôn dạy bảo, con xin lắng nghe.

Phật nói:

–Bồ-tát tu hành có sáu thứ pháp tương ưng, khéo an trụ nơi tất cả nẻo pháp thâm diệu. Những gì là sáu?

  1. Nếu Bồ-tát tu hành ưa thích bố thí, không tiếc lẫn, không thấy tâm keo kiệt và thân có khác, thân và tâm keo kiệt đều không chỗ thủ đắc.
  2. Kiên trì giới hạnh, không thấy thân và chẳng phải giới có khác nhau, thân và chẳng phải giới đều không chỗ thủ đắc.
  3. Khéo trụ nơi nhẫn nhục, giữ gìn tự tâm, không thấy tự thân và sân hận khác nhau, thân cùng sân hận đều không chỗ thủ đắc.
  4. Siêng năng tinh tấn khéo hành trì không thấy tự thân và kiêu mạn có khác nhau, thân và biếng trễ, kiêu mạn đều không thủ đắc.
  5. Theo phương tiện an trụ thanh tịnh nơi thiền định Tam-muội, không thấy tự thân, xa lìa các hành, cũng không hòa hợp. Tâm định nơi Tam-muội và tất cả các pháp đều không thủ đắc.
  6. Chánh trí đối với tất cả pháp là không thủ đắc, cho đến không cầu Niết-bàn, không thấy tự thân và thân chúng sinh có khác, ở trong sáu nẻo thấy thân không khác.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi nên biết! Bồ-tát tu hành do sáu pháp này nên thành tựu tất cả pháp hành sâu xa.

Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát tu hành lại có sáu pháp hành tương ưng, khéo hội nhập vào tất cả pháp hành thâm diệu. Những gì là sáu?

  1. Bồ-tát tu hành nếu sinh vào địa ngục thì thọ nhận diệu lạc của cõi trời.
  2. Nếu sinh vào hàng súc sinh thì thọ nhận an lạc thượng diệu của nhân gian.
  3. Nếu sinh vào nhà nghèo thì thọ nhận an lạc của bậc Chuyển luân thánh vương.
  4. Nếu sinh vào sáu nẻo, đều hiện rõ bản thân đoan nghiêm, thù thắng, không ai sánh bằng.
  5. Dùng phương tiện khéo léo đi đến các cõi của chư Phật khắp mười phương không đến, không đi, an nhiên bất động. Nơi hết thảy cõi Phật thị hiện thân mình.
  6. Tùy theo âm thanh của mỗi loài, diễn nói các pháp, không hề tạp loạn.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi nên biết! Bồ-tát tu hành dùng sáu pháp này nên khéo đạt được tất cả pháp hạnh sâu xa.

Bấy giờ, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành làm thế nào sinh nơi địa ngục mà thọ nhận được diệu lạc của cõi trời?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Tam-muội tên là Ma-ha bát-đầu-ma đạt được Tam-muội này rồi, vì các chúng sinh, vào nơi địa ngục nhưng thọ nhận diệu lạc cõi trời. Người nơi các địa ngục này thấy Bồ-tát kia chịu khổ của địa ngục. Bồ-tát do phước lực nên giảng nói pháp cho hết thảy tội nhân, độ thoát vô lượng trăm ngàn chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi nên biết! Bồ-tát tu hành sinh nơi địa ngục nhưng thọ nhận diệu lạc của cõi trời.

Lại nữa, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành sinh vào hàng súc sinh mà thọ nhận an lạc thượng diệu của nhân gian?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Tam-muội tên là Biến tịch tĩnh. Đạt được Tam-muội này rồi tức sinh nơi súc sinh mà không mất niệm kia, nhưng thọ nhận an lạc thượng diệu của nhân gian. Bồ-tát do thân súc sinh nên cùng với các súc sinh kia giảng nói pháp Phật, độ thoát vô lượng trăm ngàn chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi nên biết! Bồ-tát tu hành vì chúng sinh nên sinh nơi súc sinh nhưng thọ an lạc thượng diệu của nhân gian.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành sinh trong cảnh nghèo nàn mà thọ diệu lạc của Luân vương?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Tam-muội tên là Ly duyên tịch tĩnh. Đạt được Tam-muội này rồi nên sinh vào nhà nghèo cùng với chúng sinh nơi các làng nghèo giảng nói pháp cho họ, từ bỏ tham lam keo kiệt không giữ giới, tán dương nhân thiện của bố thí, trì giới, độ thoát vô lượng trăm ngàn chúng sinh, nên thân thọ diệu lạc của bậc Chuyển luân thánh vương.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành ở trong sáu nẻo, vì các chúng sinh, tùy theo mỗi loài hiện ra vô số hình tướng, thọ nhận các diệu lạc đều được thù thắng?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Tam-muội tên là Nhất thiết biến quang minh. Đạt được diệu lực của Tam-muội này nên sinh khắp sáu nẻo, dùng phương tiện thị hiện nhiều loại thân hình, thọ nhận mọi tướng trạng diệu lạc thù thắng.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành, dùng phương tiện thiện xảo đi đến khắp tất cả cõi Phật, không đến, không đi, an nhiên bất động, như ánh trăng trong nước hiện ra nơi các cõi Phật?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Tam-muội tên là Nhiếp nhất thiết ngữ ngôn. Đạt được diệu lực của Tam-muội này, nên phân thân hiện khắp các cõi Phật, nơi mười phương mà không đến, không đi, an nhiên bất động. Hiện nơi cõi Phật, thấy các Đức Như Lai đều nghe pháp yếu. Như vậy là Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo đi tới khắp tất cả các cõi Phật mà không đến không đi, an nhiên bất động, như ánh trăng trong nước, hiện nơi các cõi Phật.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành, đối với tất cả các loài chúng sinh khác nhau tùy theo tiếng của mỗi loài, vì họ giảng nói pháp nhưng các ngôn âm ấy không hề tạp loạn?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát tu hành có Đà-la-ni tên là A-nan-sí-phạt-đa. Đạt được Đà-la-ni này rồi, Bồ-tát tu hành tức có thể biết rõ về tâm của vô lượng vô biên chúng sinh đều hiểu rõ về ngôn ngữ ấy không có tạp loạn.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo rất khó nhận biết rõ. Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành cầu pháp thâm diệu thân cận những pháp hành nào để có thể hiểu biết?

Phật bảo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành ưa thích nhận biết về ý nghĩa của pháp này, dụ như hư không.

Đồng tử Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Hư không như thế nào là thích hợp?

Phật nói:

–Ví như hư không không tham, sân, si. Văn-thù-sư-lợi nên biết! Các pháp như sắc… cũng lại như vậy, không tham, sân, si, chẳng khác tướng Niết-bàn.

Lại nữa, ví như hư không, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ đều không hòa hợp, vì không có tướng. Tất cả các pháp như sắc… cũng lại như vậy, không chỗ tương ưng. Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Định, Tuệ, chẳng khác tướng Niết-bàn. Niết-bàn cũng không hòa hợp.

Lại nữa, ví như hư không, không bỏ, không khác. Văn-thù-sưlợi nên biết! Các pháp như sắc… cũng lại như vậy, không bỏ, không khác. Niết-bàn cũng vậy, không bỏ, không khác.

Lại nữa, ví như hư không, không biết, không theo. Văn-thù-sưlợi nên biết! Tất cả các pháp như sắc… cũng lại như vậy, không biết, không theo. Niết-bàn cũng vậy, không biết, không theo.

Lại nữa, ví như hư không, không sáng, không tối. Các pháp như

sắc… cũng lại như thế, không sáng, không tối. Niết-bàn cũng vậy, không sáng, không tối.

Lại nữa, ví như hư không, ở khắp mọi nơi, không có chỗ chấp, thủ đắc, nên biết các pháp như sắc… cũng lại như thế, không có chỗ chấp, thủ đắc. Niết-bàn cũng vậy, không có chỗ chấp, thủ đắc.

Lại nữa, ví như hư không, không phải chỗ đạt được của đạo, không phải là chỗ đạt được của phi đạo. Các pháp như sắc… cũng lại như thế, không phải chỗ đạt được của đạo, không phải chỗ đạt được của phi đạo. Niết-bàn cũng vậy, không đạo, không phi đạo.

Lại nữa, ví như hư không, chẳng học về giải thoát của Thanh văn, của Duyên giác, của hạng Đại thừa. Các pháp như sắc… cũng lại như thế. Nơi chốn của thừa là không chỗ học. Niết-bàn cũng vậy, là không chỗ học.

Lại nữa, ví như hư không, không có xin dựa, thọ nhận. Các pháp như sắc cũng lại như vậy, không có xin dựa, không thọ nhận. Niết-bàn cũng vậy, không xin dựa, không thọ nhận.

Lại nữa, ví như hư không, không lấy, không bỏ. Các pháp như sắc… cũng lại như vậy, không lấy, không bỏ. Niết-bàn cũng vậy, không lấy, không bỏ.

Lại nữa, ví như hư không, không có thể tánh, không có đục loạn, vì thế tất cả chúng sinh đối với thể tánh của Niết-bàn đều không đục loạn. Niết-bàn cũng vậy, không đục, không loạn.

Lại nữa, ví như hư không ở khắp mọi nơi, không vướng, không động. Văn-thù-sư-lợi nên biết! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Nên biết tất cả chúng sinh đối với hết thảy các pháp không có chỗ chấp trước. Niết-bàn cũng vậy, không có chỗ chấp trước.

Nếu có thể tỏ ngộ thấu đạt về chánh trí như vậy, nên biết chấp tưởng các pháp tức là Niết-bàn, là nhận biết vô thường.

Này Văn-thù-sư-lợi! Tất cả các pháp đã không có thật tướng, nếu ai muốn thấy thân Phật, thì không nên như vậy. Nếu chẳng phải là chỗ thấy thì đạt được chánh vị. Người đạt chánh vị nếu ở trong chấp tướng mà hành thí, như vậy thì chẳng phải là đại phước điền, cũng chẳng phải lợi tha. Như thế, người bố thí chẳng đạt được phước nhiều, không có lợi ích. Nếu có chỗ bố thí không cầu được phước lợi nhiều. Đó là khất sĩ của thế gian ở trong chỗ bố thí phước lợi vô giá.

Đã được phước lợi vô giá tức đạt được tự mình không thủ đắc, thành tựu phước trí. Đã được tự mình không thủ đắc thành tựu phước trí rồi, thì có thể mau chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh.

********

2. Rút ra từ kinh Diệu Pháp Quyết Định Nghiệp Chướng (nói rõ ba hạnh):

-Hiểu rõ về tri thức thiện không thoái chuyển nơi Bồ-đề.

-Hiểu rõ về tà ma, tùy nghe pháp mà hủy báng. Vì nhờ đã được nghe pháp nên về sau sẽ thành Phật.

-Hiểu hai mươi bốn thứ danh hiệu của Đại thừa.

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật tại điện Pháp giới tạng, là đạo tràng vô biên, nơi chốn hội họp của chư Phật, cùng đông đủ chúng đại Tỳkheo và các vị Đại Bồ-tát.

Khi ấy, nơi đạo tràng này có một phu nhân tên là Công Đức Trang Nghiêm Khai Phu Hoa, chắp tay hướng về Đức Phật, lui ra ngồi qua một bên. Rồi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu có Bồ-tát mới tu hành, thì những người nào chẳng phải là Thiện tri thức không nên sống chung?

Phật bảo phu nhân:

–Nếu trong ba cõi các hàng Phạm, Thích, Tứ vương, Sa-môn, Bà-la-môn đều cùng với Bồ-tát tu hành làm Thiện tri thức, chỉ trừ hàng Thanh văn chẳng phải là Thiện tri thức, vì sợ Thanh văn thoái mất tu hành đạo hạnh của Bồ-tát Đại thừa. Vì sao? Vì hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ tự lợi, khuyên dẫn những Bồ-tát mới tu hành trở về với Tiểu thừa. Vì thế, hàng Thanh văn thừa chẳng phải là Thiện tri thức.

Phu nhân nên biết! Bồ-tát mới tu hành không nên cùng với Tỳkheo Thanh văn ở chung phòng xá, không cùng ngồi nơi giường, không cùng đi chung đường. Nếu Bồ-tát mới tu hành, trí tuệ rộng khắp, phân biệt không hai tỏ ngộ pháp Đại thừa, vì phương tiện khuyên dẫn hàng Thanh văn khiến vào Đại thừa thì mới cho cùng trụ. Nếu Tỳ-kheo Thanh văn phước trí hẹp, kém thì Bồ-tát tu hành không nên vì những vị ấy giảng nói pháp Đại thừa sâu xa, sợ các Tỳkheo Thanh văn kia hủy báng.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành không nên luôn xem kinh luận của Tiểu thừa. Vì sao? Vì làm chướng ngại nơi Phật đạo.

Phu nhân nên biết! Bồ-tát tu hành thà xả bỏ thân mạng, chứ không bỏ Bồ-đề để vào Thanh văn cầu đạo La-hán.

Bồ-tát khuyến thỉnh tất cả chúng sinh rồi, khi đó nếu bỏ tâm Bồ-đề là nhân não loạn khởi lên đạo khác, nhập nơi Thanh văn, cầu quả La-hán. Bồ-tát lui sụt tâm Bồ-đề, cả hai đều bị đọa vào địa ngục Vô gián.

Đức Phật bảo phu nhân:

–Bồ-tát tu hành thà phạm năm thứ tội lớn như sát sinh… chứ không học quả Tu-đà-hoàn, không thoái chuyển nơi sự tu hành Bồđề.

Bồ-tát thà ở trong một kiếp, trăm kiếp, cho đến ngàn kiếp bị khổ nơi địa ngục, chứ không học quả Tư-đà-hàm, không thoái chuyển nơi sự tu hành Bồ-đề.

Bồ-tát thà bị đọa nơi hàng súc sinh, chứ không học quả A-nahàm, không thoái chuyển nơi sự tu hành Bồ-đề.

Bồ-tát thà giết hại chúng sinh, bị đọa vào địa ngục, chứ không tu quả A-la-hán, không thoái chuyển nơi sự tu hành Bồ-đề.

La-hán chỉ riêng chứng đắc, chỉ riêng nhập Niết-bàn.

Ví như tên trộm nhỏ lén vào nhà người, Bồ-tát tu hành tâm Bồđề thâu tóm các chúng sinh, thà cùng nhau rơi vào hầm lửa, chứ không trụ nơi Niết-bàn tịch diệt của Thanh văn, không thoái chuyển đạo quả Bồ-đề. Vì ý nghĩa đó, nên thâu tóm chúng sinh khiến họ đi vào Phật đạo. Bồ-tát tu hành như vậy, nên được hết thảy các hàng Trời, Người, A-tu-la nơi thế gian đều tôn trọng, xứng đáng thọ nhận cúng dường, vượt qua Thanh văn, tức quyến thuộc của các thứ tà ma không thể quấy nhiễu, não hại.

Bấy giờ, phu nhân bạch Đức Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là quyến thuộc của tà ma?

Phật bảo phu nhân:

–Ở những nơi chốn diễn giảng rộng về kinh điển Đại thừa nếu

có chúng sinh nghe nêu giảng mà tâm chẳng muốn lãnh hội, lại chê cười, hủy báng, nên biết đó là quyến thuộc của tà ma. Vì tâm hủy báng kinh điển Đại thừa, nên sau khi chết bị đọa vào A-tỳ chịu khổ vô lượng. Lại sinh vào hàng ngạ quỷ ăn lửa, phân dơ, trong vô lượng kiếp chịu khổ hết rồi, sau sinh nơi loài người thì bị đui điếc, câm, ngọng, đủ thứ bệnh hoạn. Các chúng sinh ấy, sau khi mạng chung trải qua vô lượng kiếp mới gặp được Như Lai, lui tới thừa sự cúng dường, ở chỗ các Đức Phật trở lại được nghe kinh điển Đại thừa, tâm ý thuần nhất không tạp loạn.

Lúc này nơi các lỗ chân lông của Đức Như Lai đều phát ra âm thanh, mỗi mỗi lỗ chân lông đều phát ra vô lượng ức trăm ngàn ánh sáng chánh pháp, lại phát sinh vô lượng pháp âm, kệ tán.

Khi ấy, trong hội này, nếu có hàng Thanh văn thì nghe pháp của Thanh văn thừa, nếu có hàng Duyên giác thì nghe pháp của Duyên giác thừa, nếu có người hành Đại thừa thì nghe diệu pháp của Đại thừa. Các loài chim thú, đều tùy theo tiếng của chúng mà nghe pháp Phật. Cũng ở trong chúng hội đó, các chúng sinh hiện có, nơi đời quá khứ chưa từng được nghe pháp Phật, đều thấy Đức Như Lai im lặng không nói, các chúng sinh còn tại nơi đời quá khứ đã từng hủy báng kinh điển Đại thừa, tuy trong nhiều kiếp bị đọa nơi địa ngục, ngạ quỷ, chịu nhiều khổ não, do khi hủy báng chánh pháp, thì pháp Đại thừa đã nhập vào người. Vì thế, ở nơi chỗ Phật, đích thân nghe pháp Đại thừa tâm sinh hoan hỷ, phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Bồ-đề, rốt ráo thành tựu tuệ giác Bồ-đề.

Phu nhân bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Giảng nói về Đại thừa, vậy thế nào là Đại thừa? Vì lý do gì mà nói Đại thừa?

Phật khen ngợi phu nhân:

–Lành thay, lành thay! Phu nhân hâm mộ Đại thừa, vì ý nghĩa này, nên khéo suy nghĩ, Như Lai sẽ vì phu nhân giảng nói danh hiệu của Đại thừa.

  1. Người yêu thích một cách sâu xa. Đó là Đại thừa.
  2. Chẳng động. Đó là Đại thừa.
  3. Không lỗi lầm. Đó là Đại thừa.
  4. Vô lượng. Đó là Đại thừa.
  5. Như bốn biển cả. Đó là Đại thừa.
  6. Chỗ tôn kính của các loài Kim sí, Khẩn-na-la, Ma-hầu-lagià. Đó là Đại thừa.
  7. Chỗ tán thán của hàng Kiền-thát. Đó là Đại thừa.
  8. Chư Thiên cung kính. Đó là Đại thừa.
  9. Phạm thiên quy y. Đó là Đại thừa.
  10. Chỗ tôn kính của Thiên đế Thích. Đó là Đại thừa.
  11. Chỗ thâu tóm của Tứ vương. Đó là Đại thừa.
  12. Long vương cúng dường. Đó là Đại thừa.
  13. Bồ-tát phụng trì. Đó là Đại thừa.
  14. Thành tựu Phật tánh. Đó là Đại thừa.
  15. Thánh hiền quy y. Đó là Đại thừa.
  16. Kham nhận được tất cả. Đó là Đại thừa.
  17. Như Dược thọ vương. Đó là Đại thừa.
  18. Đoạn trừ các phiền não. Đó là Đại thừa.
  19. Có thể chuyển pháp luân. Đó là Đại thừa.
  20. Vô ngôn từ không thuyết giảng. Đó là Đại thừa.
  21. Như tướng hư không. Đó là Đại thừa.
  22. Chủng tánh của Tam bảo không bị dứt mất. Đó là Đại thừa.
  23. Chúng sinh độn căn không tin. Đó là Đại thừa.
  24. Vượt qua tất cả. Đó là Đại thừa.

Khi Đức Phật giảng nói về oai lực nơi các danh hiệu của Đại thừa, tam thiên đại thiên thế giới này đã chấn động sáu cách, trăm ngàn thứ kỹ nhạc không tấu mà tự vang lên, ở trong hư không chư Thiên tuôn mưa hoa, vô lượng trăm ngàn Thiên tử đều phát tâm Bồđề vô thượng, vô lượng trăm ngàn Thanh văn đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có Bồ-tát mới thọ giới chưa hiểu về pháp, đều được tỏ ngộ thông hiểu.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Pháp này tên là gì và phụng hành như thế nào?

Phật bảo:

–Kinh này tên là Đại Thừa Cự Noa Thắng, nên theo đấy mà thọ trì. Lại gọi là Diệu Pháp Thuyết Quyết Định Nghiệp Chướng nên theo đấy mà thọ trì.

Đức Như Lai giảng nói kinh này rồi, Tôn giả A-nan và phu nhân Công Đức Trang Nghiêm Khai Phu Hoa, cùng các chúng trời, rồng, tám bộ đều rất hoan hỷ thọ trì, phụng hành.

*********

3. Rút ra từ kinh Duy-ma-cật Sở Vấn (nói rõ hai hạnh):

-Hiểu rõ về nhân duyên nơi chủng tánh của Phật, phát khởi Bồđề.

-Hiểu rõ công đức của nhân duyên xuất gia.

Bấy giờ, Trưởng giả Duy-ma-cật thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Thưa nhân giả! Nhân giả khéo hiểu rõ về chủng tánh của Như Lai. Ý của nhân giả như thế nào? Những gì là chủng tánh?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này thiện nam! Chủng tánh của chư Phật là chủng tánh của năm ấm, chủng tánh của vô minh sinh tử, chủng tánh của tham, sân, si, chủng tánh của bốn vọng tưởng điên đảo, chủng tánh của năm thứ ngăn che, chủng tánh của sáu nhập, chủng tánh của bảy thức phiền não, chủng tánh của chín phiền não hoại diệt thân tâm, chủng tánh của mười điều ác, bất thiện.

Này thiện nam! Nói tóm lại, sáu mươi hai thứ kiến chấp và tất cả phiền não đều là chủng tánh của Như Lai.

Trưởng giả Duy-ma-cật lại hỏi:

–Thưa nhân giả! Nghĩa này là thế nào? Vì sao tất cả phiền não là chủng tánh của Phật?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này thiện nam! Nếu chấp thấy vô vi, rồi trụ vào định diệt, thì người ấy không thể phát khởi đạo quả Chánh đẳng Chánh giác. Nếu Bồ-tát trụ nơi phiền não, thấy được thật tướng của chánh vị thì người ấy có khả năng phát khởi được đạo quả Bồ-đề. Ví như đất liền chẳng mọc hoa sen, nhưng ở trong bùn dơ mới mọc lên hoa sen. Thiện nam! Cũng lại như vậy, nếu hàng Thanh văn, Duyên giác trụ vào định diệt vô vi thì mầm hoa nơi chủng tánh của Phật không thể mọc được. Nhưng ở trong ao bùn dơ phiền não có thể phát khởi Bồ-đề, vì nhân nơi phiền não nên mầm nơi chủng tánh của Phật mới sinh.

Này thiện nam! Ví như trong hư không thì hạt giống chẳng sinh, nhưng nơi đất có phân bón thì hạt giống mới có thể nảy mầm tươi tốt. Thiện nam! Cũng lại như vậy, không phải ở nơi định diệt vô vi mà sinh Bồ-đề. Nếu khởi lên ngã sở, chẳng phải là ngã sở, tâm bất động như Tu-di thì mới có thể phát sinh Bồ-đề, sinh khởi vô lượng trí tuệ của giống Phật.

Này thiện nam! Ví như chẳng vào nơi bốn biển cả thì không do đâu mà lấy được châu báu vô giá. Thiện nam! Cũng lại như vậy, nếu không vào biển cả của phiền não thì không do đâu mà lấy được châu báu Phật tánh. Nếu biết chủng tánh của Bồ-đề vốn từ trong phiền não mà ra.

Khi ấy, Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp khen ngợi Bồ-tát Văn-thùsư-lợi:

–Đúng như lời nói chân thật, chẳng hư dối của Nhân giả. Như thế, chủng tánh của Phật đều là chủng tánh của phiền não. Vì sao? Hàng Thanh văn chúng ta lại không có khả năng phát sinh Bồ-đề, vì chúng ta đã hủy diệt chủng tử của phiền não nơi ba cõi. Chúng ta thà tạo tội ngũ nghịch vô gián, chứ không nên đoạn trừ phiền não ở thế gian. Vì sao? Vì nếu người đã tạo tội ác ngũ nghịch, thọ nhận tội báo hết rồi, trở lại phát sinh tâm Bồ-đề, đích thân nghe pháp Phật hiện rõ Phật sự. Còn nếu hàng A-la-hán đã diệt hết phiền não, không còn thân sau thì không thể phát khởi được Chánh đẳng Chánh giác.

Ví như có người năm căn đều bị hủy hoại, tâm thức của người ấy không thể khởi lên được. A-la-hán cũng vậy, hoại diệt hết các phiền não, trừ bỏ các kết sử. Đã không có năng lực nên không thể kham nổi việc giữ gìn Vô thượng Bồ-đề. Vì ý nghĩa ấy, nên hàng phàm phu thân cận nơi Đức Phật, còn hàng Thanh văn, Bích-chi-phật thì xa lìa Bồ-đề. Vì sao? Vì phàm phu thường được nghe vô lượng chủng tánh nơi oai lực của Tam bảo nên phát tâm Bồ-đề, chẳng đoạn tâm Vô thượng Chánh giác. Còn như hàng Thanh văn, Duyên giác, tuy từng nghe nói về Thánh đức của Như Lai như mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng, cũng không có khả năng phát khởi được Bồ-đề.

Đức Phật bảo Tôn giả La-hầu-la:

–Tôn giả nên đến thăm bệnh Trưởng giả Duy-ma-cật.

Tôn giả La-hầu-la bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con không thể đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ lại khi trước, nơi thành Tỳ-xá-ly có các tộc tánh tử đi tới chỗ con, cúi đầu đảnh lễ, hỏi:

“–Thưa Tôn giả La-hầu-la! Tôn giả là con của Phật, bỏ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia vì đạo, thì sự xuất gia ấy có những lợi gì?

“Con theo như pháp giảng nói về nhân duyên công đức của sự xuất gia cho các tộc tánh tử kia. Khi nói pháp ấy, Trưởng giả Duyma-cật đến chỗ con, đảnh lễ nơi chân con và bảo:

“–Thưa Tôn giả La-hầu-la! Nay Tôn giả không nên giảng nói về công đức xuất gia như vậy. Vì sao? Vì phàm là xuất gia thì không lợi, không công đức, đó là xuất gia.

“Về pháp hữu vi thì có thể nói là có lợi, có công đức. Còn xuất gia là pháp vô vi, mà pháp vô vi thì không lợi, không công đức, xa lìa tất cả hành xứ. Đối với Niết-bàn, người trí hướng đến để lãnh thọ nẻo hành xứ của bậc Thánh, hàng phục chúng ma, vượt qua năm đường làm thanh tịnh năm mắt, an định năm căn bố thí vô úy, không não hại kẻ khác, không nhiễm các ác, phá trừ các ngoại đạo, vượt lên mọi giả danh, ra khỏi chốn bùn nhơ phạm giới, không chấp trước ngã sở, không ngã sở, không chỗ thọ nhận, cũng không nhiễu loạn, điều phục thân tâm, thấy giữ mọi người, tùy thuận thiền định, lìa lỗi lầm bên ngoài nơi tất cả xứ không chỗ chấp giữ. Nếu có thể xuất gia như vậy, mới gọi là chân xuất gia.

“Các ông ở trong chánh pháp nên cùng xuất gia, khéo học luật nghi, giáo pháp của chư Phật. Vì sao? Vì thân người khó được, Phật ra đời là khó gặp, Bồ-đề Vô thượng lại càng khó phát khởi.

“Lúc này, các tộc tánh tử ấy thưa Trưởng giả Duy-ma-cật:

“–Chúng con nghe Đức Phật dạy: Nếu cha mẹ không cho thì không được xuất gia?

“Trưởng giả Duy-ma-cật bảo các đồng tử:

“–Các ông chỉ nên phát tâm Vô thượng chánh giác, thường tu phạm hạnh. Đó tức là công đức của xuất gia.

“Bấy giờ, ba mươi hai tộc tánh tử đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Con không thể đối đáp được. Vì lý do đó, nên con không thể đến thăm bệnh ông ta.”

*********

4. Rút ra từ kinh Phương Quảng Như Lai Trí (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát hiểu rõ về tri thức thiện, ác không nên sống chung với Thanh văn.

-Hiểu rõ Bồ-tát tu hành cùng với Thanh văn so sánh về đạo hạnh cạn sâu.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Đại Mục-kiền-liên:

–Này thiện nam! Nên biết, Thiện tri thức đã chỉ dạy các pháp cho Bồ-tát nên đạt được Vô thượng Bồ-đề. Vì thế Bồ-tát mới tu hành không nên học theo giáo pháp Tiểu thừa của hàng Thanh văn, Duyên giác. Vì sao? Vì mọi người phá giới, tà hạnh đều là Thiện tri thức của Bồ-tát.

Nếu các Thanh văn, Duyên giác làm chướng ngại Phật đạo thì chẳng phải là Thiện tri thức. Vì sao? Vì người phạm giới không thể phá được chánh hạnh của Bồ-tát, vì pháp của người phạm giới, tà hạnh ấy còn sức lực nên không thể làm chướng ngại nơi Phật đạo của Bồ-tát.

Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác, dùng vô ngã của Thế đế, lại không có phiền não, cho đấy là Trí có thể khiến cho Bồ-tát mới tu học nhập vào giáo pháp của hàng Thanh văn. Nên biết, Thanh văn chẳng phải là Thiện tri thức của Bồ-tát. Bồ-tát tu hành thà giao du với những kẻ phá giới, tà hạnh chứ không cùng với hàng Thanh văn, Duyên giác thọ pháp. Vì sao? Vì với những kẻ phạm giới, tà hạnh tuy cùng giao du nhưng thân tướng xa lìa. Còn với hàng Thanh văn thì đi đứng nằm ngồi chẳng lìa. Ví như giặc ở trong nhà không hề rời nhau. Vì ý nghĩa đó nên Bồ-tát không cùng với hàng Thanh văn học tập, qua lại.

Ví như loài dã can không thể sống chung với sư tử. Nên biết Thanh văn cùng với Bồ-tát cũng lại như vậy. Vì sao? Vì hàng Thanh văn tu học chỉ cầu lợi cho chính mình. Còn như Bồ-tát tu hành thì chuyên cầu Phật đạo, độ thoát chúng sinh. Thanh văn chỉ thấy thân mình đi trên đường.

Còn như Bồ-tát thì khéo đi trên con đường chánh, nhằm dẫn dắt chúng sinh, Thanh văn chỉ làm thanh tịnh nơi tâm mình. Còn như Bồ-tát thì có thể làm thanh tịnh tâm mình, cũng lại làm thanh tịnh cho chúng sinh. Thanh văn chỉ tự dứt trừ phiền não. Còn như Bồ-tát thì tự diệt trừ phiền não, cũng có thể trừ diệt phiền não của chúng sinh. Thanh văn đi vào con đường tà, chỉ riêng xa lánh thế gian. Bồtát tự đi vào con đường chánh, dẫn dắt chúng sinh.

Thanh văn chỉ dứt trừ tập khí phiền não. Bồ-tát thành tựu quả vị Đẳng chánh giác, tập khí đều diệt, phiền não đều trừ.

Thanh văn dị đạo nhập nơi Niết-bàn. Bồ-tát tự chứng chánh đạo Niết-bàn vô dư. Thanh văn nhập nơi Niết-bàn tịch diệt, thì pháp kia cũng diệt. Bồ-tát thành tựu Chánh đẳng Chánh giác rồi, nhập Niết-bàn vô dư, pháp vẫn không diệt; mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng, bốn Thánh đế, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, vô lượng thần thông Phật sự không diệt. Nên biết, Thanh văn và Bích-chi-phật đều không có công đức đó.

*********

5. Rút ra từ kinh Thắng Nghĩa Đế Phẩm (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát tu hành phát khởi mười hạnh nguyện, mau thành tựu Phật đạo.

-Hiểu rõ Bồ-tát tu hành mười loại giới hạnh, thành tựu sáu Bala-mật.

Bấy giờ, Bồ-tát Phổ Hiền nói với Bồ-tát Phổ Trí:

–Phật tử! Bồ-tát tu hành vì cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên phát khởi mười thứ hạnh nguyện. Những gì là mười?

  1. Nguyện độ tất cả chúng sinh.
  2. Khiến họ xa lìa tất cả phiền não.
  3. Trừ diệt tập khí tương tục.
  4. Đối với tất cả pháp Phật không còn nghi hoặc.
  5. Đoạn trừ, cứu độ tất cả khổ tụ của chúng sinh.
  6. Nguyện cứu độ chúng sinh nơi ba đường, tám nạn.
  7. Quy y, thân cận, phụng sự, hết thảy chư Phật.
  8. Nguyện học tất cả giới hạnh của Bồ-tát
  9. Bay lên hư không nơi đầu sợi lông thị hiện vô lượng Phật sự.
  10. Dùng trống pháp lớn khua vang động tất cả cõi Phật.

Chúng sinh nào nghe được thì tùy theo căn cơ của họ, mau nhập vào Niết-bàn vô dư. Nên biết, Bồ-tát mới tu học phải tu tập như vậy. Nếu trụ ở quả vị này thì không bao lâu sẽ phát khởi hạnh nguyện của Như Lai.

Lại nữa, này Phật tử! Bồ-tát tu hành lại có mười thứ giới hạnh.

Những gì là mười?

  1. Hoàn toàn không thoái chuyển nơi Bồ-đề, đó là giới hạnh.
  2. Xa lìa bậc Thanh văn, Bích-chi-phật.
  3. Thường làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.
  4. Khiến hết thảy chúng sinh trụ vào hạnh Phật.
  5. Thọ trì giới hạnh của Bồ-tát, không hề khuyết, phạm.
  6. Mở bày ngộ nhập tất cả các pháp.
  7. Công đức đã tu tập hồi hướng cho khắp mười phương, nguyện thành Phật đạo.
  8. Không nên phân biệt Pháp, Thể của Như Lai.
  9. Không tham đắm nơi tất cả pháp thế gian.
  10. Luôn giữ gìn sáu căn, không khiến bị nhiễm vướng.

Phật tử! Đó là mười thứ giới hạnh của Bồ-tát tu hành. Nếu Bồtát có thể trụ vào nơi quả vị này thì không bao lâu sẽ viên mãn giới hạnh nơi sáu Ba-la-mật, thành tựu Bồ-đề vô thượng.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành có mười con đường mê làm thoái chuyển đạo, phải nên xa lìa, luôn tự xét tâm mình. Những gì là mười?

  1. Không tôn kính Sư tăng, Hòa thượng và Thiện tri thức. Đó là con đường mê lầm.
  2. Sợ hãi sự khổ nơi thế gian. Đó là con đường mê lầm.
  3. Giới hạnh đã tu tập chợt sinh tâm hối tiếc. Đó là con đường mê lầm.
  4. Không ưa thích an trụ nơi cảnh giới của chư Phật. Đó là con đường mê lầm.
  5. Không ưa thích Thiền định. Đó là con đường mê lầm.
  6. Tu một ít công đức liền cho là đủ. Đó là con đường mê lầm.
  7. Phỉ báng Đại thừa. Đó là con đường mê lầm.
  8. Xa lìa giới hạnh của Bồ-tát. Đó là con đường mê lầm.
  9. Ưa thích đạo quả A-la-hán và Bích-chi-phật. Đó là con đường mê lầm.
  10. Nếu thấy Bồ-tát tu hành sinh ganh ghét. Đó là con đường mê lầm.

Phật tử! Mười con đường mê lầm của Bồ-tát như vậy, nếu có thể xa lìa, thì không lâu sẽ hội nhập pháp môn giải thoát.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành có mười loại hạnh nguyện. Những gì là mười?

  1. Nguyện ta vì các chúng sinh tận cùng nơi kiếp vị lai trụ ở nhân gian. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  2. Nguyện ta nơi thân sau cùng luôn gần gũi, phụng sự cúng dường hết thảy chư Phật. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  3. Nguyện ta khiến cho tất cả chúng sinh trụ nơi hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  4. Nguyện ta tích tập được tất cả công đức giới hạnh. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  5. Nguyện ta tu tập hết sáu Ba-la-mật. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  6. Nguyện ta hành trì đầy đủ giới hạnh Bồ-đề. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  7. Nguyện ta làm trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  8. Nguyện ta sinh ở cõi Phật trong mười phương. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  9. Nguyện ta cầu đạt một cách sâu xa hết thảy pháp Phật khéo tự thông tỏ. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.
  10. Ở nơi cõi của chư Phật, thành tựu đạo quả Đẳng chánh giác. Nguyện như vậy là nguyện lành rộng khắp.

Phật tử! Nên biết đó là mười loại đại nguyện của Bồ-tát tu hành. Nhờ nguyện lực, nên mau đạt được đầy đủ hạnh nguyện của Bồ-tát.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành có mười loại ma chướng. Những gì là mười?

  1. Chợt sinh tâm thoái chuyển, nói: “Ta chẳng thể thành Phật”. Đó là ma chướng.
  2. Phát khởi siêng năng, tu hành chân chánh, bỗng nhiên xả bỏ. Đó là ma chướng.
  3. Có một ít công đức lại sinh tâm chán đủ. Đó là ma chướng.
  4. Ưa thích trụ nơi ẩn giấu, lánh bỏ hạnh thiện. Đó là ma chướng.
  5. Xả bỏ tất cả nguyện lành. Đó là ma chướng.
  6. Đoạn trừ phiền não, thích tu diệt định. Đó là ma chướng.
  7. Cắt đứt pháp thế gian. Đó là ma chướng.
  8. Thoái bỏ đạo hạnh của Bồ-tát. Đó là ma chướng.
  9. Không thích khuyến hóa chúng sinh. Đó là ma chướng.
  10. Phỉ báng Phật pháp. Đó là ma chướng.

Phật tử! Nên biết, mười loại ma chướng ấy của Bồ-tát tu hành nếu Bồ-tát xa lìa những chướng ấy, thì không bao lâu sẽ được Đức Phật thọ ký mười loại quả vị.

*********

6. Rút ra từ kinh Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật (nói rõ bốn hạnh):

-Bồ-tát mới tu hành trước hết tu học Bố thí ba-la-mật, phát khởi tâm Bồ-đề.

-Hiểu rõ về Bồ-tát tu hành sợ tâm Bồ-đề bị tán loạn nên thâu giữ niệm nơi sáu Ba-la-mật.

-Hiểu nhân duyên của phiền não.

-Hiểu rõ Bồ-tát tu hành mới phát tâm Bồ-đề thọ trì sáu hạnh Ba-la-mật.

Bấy giờ, Thánh giả Xá-lợi-phất nói với Thánh giả Phú-lâuna:

–Lại nữa, này Phú-lâu-na! Bồ-tát tu hành trước hết phải nên tu học Bố thí ba-la-mật. Vì sao? Vì nghiệp tham tiếc nơi thế gian là tập khí có từ vô thỉ. Nếu Bồ-tát tu hành bố thí, thì bỏ được tâm keo kiệt, nhân đấy có thể phát khởi tâm Bồ-đề. Khi đã phát tâm Bồ-đề thì có thể dần dần tăng trưởng, thành tựu. Nếu dần dần tăng trưởng, thành tựu thì dần dần xa lìa Nhị thừa. Nếu dần dần xa lìa Nhị thừa thì lại tiến nhanh đến đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ví như trong cơn mưa đặt bình hứng nước, giọt nước mưa đầu tiên và giọt nước mưa sau cùng rơi vào bình ấy, chẳng phải là hai giọt nước trước sau, làm duyên khiến bình đầy, mà chính là trong thời gian mưa, các giọt nước mưa dần dần rơi vào nên bình đầy nước.

Phú-lâu-na nên biết! Cũng lại như vậy, như Bồ-tát tu hành không nên cho nhờ phát tâm Bồ-đề đầu tiên mà thành Phật đạo, cũng không cho lần sau cùng an tọa nơi cội Bồ-đề mà thành Phật đạo, do ý nghĩa ấy nên mới phát tâm Bồ-đề, cho đến lần sau cùng, trong khoảng thời gian đó, Bồ-tát dần dần chứng đắc Phật đạo, trong ba a-tăng-kỳ phát khởi vô số hạnh thiện, tu hành tạo lợi ích, hỗ trợ cho Phật đạo. Vì thế, nhân giả Phú-lâu-na! Bồ-tát tu hành không nên để tâm tán loạn, dứt mọi đắm nhiễm.

Bấy giờ Thánh giả Phú-lâu-na nói với Thánh giả Xá-lợi-phất:

–Bồ-tát tu hành làm thế nào để thâu giữ tâm không bị tán loạn?

Thánh giả Xá-lợi-phất nói:

–Vì Bồ-tát hỗ trợ cho Phật đạo. Nếu phát khởi tà hạnh, ác kiến để làm thiện lợi thì nên biết: Nay ta đã khởi hạnh ác, làm lợi ích cho Bồ-đề. Vì sao? Vì nhờ tà kiến ấy mà ta không đoạn sinh tử ở thế gian, thế nên thân ta biến đổi nơi thế gian, theo phương tiện làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Vì ý nghĩa đó nên Bồ-tát tu hành có trí tuệ như vậy, tâm không tán loạn.

Thánh giả Phú-lâu-na nói với Xá-lợi-phất:

–Nếu tâm Bồ-đề của Bồ-tát bị tán loạn thì tướng trạng ấy như thế nào để có thể nhận biết?

Thánh giả Xá-lợi-phất nói:

–Tâm ấy bị tán loạn là người của thừa Thanh văn, Duyên giác, làm chướng ngại nơi đạo. Nếu cầu đạo quả Nhị thừa thì nên biết, đó là tâm tán loạn. Vì sao? Vì đạo hạnh của hàng Nhị thừa không phải là Bồ-đề. Nếu Bồ-tát tu hành có kiến giải về tham, sân, si hãy còn không tán loạn. Vì sao? Vì kiến giải về độc ấy là hỗ trợ cho Phật đạo, chuyển đổi sinh tử tạo lợi ích cho Bồ-đề. Do kiến giải ấy nên sinh nơi thế gian, dùng phương tiện thiện xảo để hành hóa đầy đủ sáu Ba-la-mật. Bồ-tát tu hành hỗ trợ cho phiền não nên chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Phú-lâu-na nên biết! Nếu Bồ-tát tu hành thâu giữ tâm niệm mà sinh chướng ngại nẻo thiện thì nên biết đó là tán loạn. Lại có Bồ-tát thâu giữ tâm niệm tương ưng với Thanh văn, Bích-chi-phật, đó cũng là tán loạn. Nếu chẳng phải thâu giữ những niệm ấy, lại không đoạn sinh tử, hỗ trợ cho đạo thì chẳng phải là tâm tán loạn. Vì sao? Vì đã thâu giữ niệm. Bồ-tát tu hành ở nơi thế gian, dùng phương tiện thiện xảo, thâu giữ niệm liên tục, không đoạn sinh tử ở đời, sinh rồi thì thọ Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ ba-la-mật. Tu học như vậy, thâu giữ niệm hỗ trợ cho nẻo sinh tử ở thế gian. Bồtát tu hành phải nên tu học truyền trao như thế cho đến thành tựu Phật đạo cũng không xả bỏ.

Phú-lâu-na nên biết! Bồ-tát tu hành không nên chán lìa phiền não. Vì sao? Vì trí thức khác với phiền não. Nên suy nghĩ như vầy: Những phiền não ấy tạo lợi ích cho thân ta, giúp ta thành Phật. Nếu các phiền não này có hình tướng thì có thể dùng các thứ thượng diệu để cúng dường. Vì sao? Vì các phiền não này, nên Bồ-tát tu hành luôn được phiền não giúp đỡ. Vì ý nghĩa đó, nên phải dùng trí để nhận biết về nhân của phiền não. Vì sao? Vì ta dùng phương tiện thiện xảo, không thâu giữ mọi sự trói buộc của ba cõi, khiến ta được tăng trưởng, viên mãn sáu Ba-la-mật, mau chứng đắc Bồ-đề. Nếu sáu Ba-la-mật dần dần tăng trưởng, thì ta giải thoát khỏi mọi sự trói buộc nơi sinh tử của thế gian, đạt được tự tại.

Phú-lâu-na nên biết! Ví như xe chở vật nặng, do xe nặng nên trục xe liên tục quay vòng thì vật chở mới vào đến thành. Khi tới nơi rồi, trục xe mới dừng; nên biết, nhân nơi phiền não nên ba cõi mới có sinh tử. Bồ-tát tu hành nhờ nơi phiền não nên liên tục sinh nơi thế gian, sáu Ba-la-mật tức được tăng trưởng viên mãn. Nếu sáu Ba-la-mật dần dần được viên mãn thì phiền não nơi sinh tử dần dần được giảm bớt: nhẹ, mỏng. Nếu phiền não nơi sinh tử giảm dần thì có thể quyết định đến gần quả vị Phật. Nếu Bồ-tát tu hành, ngồi nơi cội Bồ-đề rồi thì phát khởi trí Nhất thiết trí, phiền não trước và sau đều được đoạn trừ, không còn sinh trở lại. Các phiền não ấy, chỗ tạo tác đã xong, Bồ-tát thành tựu đạo quả Chánh giác thì phiền não không có cơ hội để tái sinh. Ví như xe chở vật nặng vào thành rồi, tất nhiên xe dừng. Bồ-tát tu hành nếu thành tựu đạo quả Chánh giác rồi cũng lại như vậy, phiền não được diệt sạch không có cơ hội tái sinh. Vì thế nên biết, đó là lợi ích. Trong khoảng thời gian đó, Bồ-tát tu hành không đoạn trừ phiền não, cho dù bị giận dữ, bị mắng chửi, trái lại từ chỗ mong cầu những thứ cần dùng đều là thiện duyên hỗ trợ đạo để phát khởi tâm Bồ-đề. Nếu thâu giữ tâm trí A-la-hán cũng là hỗ trợ Phật đạo cho Bồ-tát tu hành. Nếu không có môn hạnh của A-la-hán thì Đức Như Lai từ đâu chế ra việc tu tập đạo quả A-la-hán. Vì chế ra pháp tu tập mà hỗ trợ cho Phật đạo.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở nơi kệ tụng của Ma-ha Bát-nhã đã giảng nói, ví như nơi thế gian, nếu cây cối không có mầm thì không có thân cây. Nếu không có thân cây thì cành, lá, hoa, quả không do đâu mà được tươi tốt. Nên biết, chúng sinh nếu không có hạt giống Bồ-đề thì chư Phật chẳng xuất hiện ở đời. Phật không xuất hiện ở đời thì hàng Thanh văn từ đâu mà phát khởi?

Ví như đèn sáng chính là nhờ vào tim đèn, nhưng tim đèn ấy chẳng nhân nơi ngọn lửa thứ nhất mà có thể cháy hết, cũng chẳng phải là không nhân nơi ngọn lửa đầu tiên mà cháy hết, lại chẳng phải do nơi ngọn lửa sau cùng cháy rụi mà dứt hết, cũng chẳng nhân nơi ngọn lửa sau mà cháy hết. Vì ý nghĩa đó nên ngọn lửa cháy liên tục trước, giữa, sau, cho đến khi tim đèn hết.

Bồ-đề cũng như vậy, chẳng phải duyên với tâm trước mà thành tựu Phật đạo, cũng chẳng phải duyên với tâm sau, mà là tâm trước, sau, giữa liên tục mới có thể thành tựu Phật đạo. Vì sao? Vì trong mỗi mỗi sát-na, tâm Bồ-đề đã thành tựu Phật đạo. Nếu Bồ-tát tu hành bố thí không chấp trước nơi tướng ngã, tướng nhân, tướng thọ giả, tâm không mong cầu, không keo kiệt, bố thí như vậy dù là bố thí một phần ít đều là bố thí vô lượng. Đó là Bồ-tát tu hành đầy đủ hạnh Bố thí ba-la-mật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành luôn nghĩ về uy thần viên mãn của Đức

Như Lai, hiển dương Thánh đức, tức giới hạnh sâu xa của Bồ-tát.

Nếu Bồ-tát giảm dần nơi lời Phật dạy thì giới tướng bị khiếm khuyết, Bồ-tát tu hành nếu thuận theo pháp thế gian, tuy thọ năm dục nhưng tâm luôn nhớ nghĩ về tam quy, do thế, ta nguyện thành tựu đạo quả Đẳng chánh giác cứu độ chúng sinh, đây tức là hạnh Trì giới ba-lamật.

Bồ-tát tu hành trí tuệ như vậy, tâm niệm không phạm, thì không gọi là phạm giới. Nếu Bồ-tát tu hành ở trong hàng ức kiếp tuy thọ trì giới hạnh mười thiện nhưng ưa thích quả A-la-hán của Thanh văn, nên biết đó là sự trói buộc tăng trưởng phạm thiếu đối với Đại thừa. Đó là tu hạnh Bồ-tát Trì giới ba-la-mật.

Lại nữa, nếu Bồ-tát tu hành phát tâm rộng lớn, thấy các chúng sinh bị giam nhốt nơi lao ngục, gông cùm, xiềng xích, roi gậy đánh đập, trong chốc lát các phần trên thân như đầu, cổ, tay, chân, tai, lưỡi… bị cắt đứt.

Khi ấy, Bồ-tát suy nghĩ: “Ta nguyện chịu thay các khổ kia, khiến cho hết thảy chúng sinh đều được an lạc. Nếu có kẻ bức não ta, những điều khó nhẫn ta cũng có thể nhẫn chịu được, tâm không thù hận”. Nên biết, Bồ-tát tu hành như vậy là hành Nhẫn nhục ba-lamật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nguyện vì các chúng sinh ưa thích ở thế gian, tạo mọi thành tựu đầy đủ cho họ, làm thanh tịnh cõi Phật, hành khổ hạnh, bức não nhưng không hề mệt mỏi. Nên biết, đó là Bồ-tát hành Tinh tấn ba-la-mật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nếu bị năm thứ dục là thanh, hương, vị, xúc trói buộc nhưng không ưa thích đạo quả A-la-hán của hàng Thanh văn mà chuyên niệm nơi Bồ-đề, nên biết người ấy luôn ở trong hạnh Thiền định ba-la-mật.

Lại nữa, ví như người đi buôn muốn vào biển cả nhưng thuyền bè không được tu sửa thì người buôn và của cải sẽ bị rơi chìm mất hết. Nếu dự định tu sửa thuyền rộng lớn, bền chắc thì người buôn và của cải đều đạt tới bờ an toàn.

Bồ-tát tu hành tuy có tâm đạo, nếu trí tuệ không kiên cố thì không bao lâu sẽ thoái mất tâm Bồ-đề. Do Trí tuệ ba-la-mật ấy nên Bồ-đề thành tựu, không bị thiếu mất, mau thành đạo quả Vô thượng

Chánh đẳng Chánh giác, là Bồ-đề vô thượng của một niệm trong sátna. Đó là Bồ-tát tu hành hạnh Trí tuệ ba-la-mật, vượt hơn vô lượng công đức của hàng Nhị thừa.

*********

7. Rút ra từ kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát mới tu tập phát khởi tâm Bồ-đề, dụ cho hàng Thanh văn không thể sánh bằng.

Này thiện nam! Ví như sư tử là vua trong loài thú, vì các loài thú nên gầm lên tiếng gầm lớn. Do tiếng gầm đó nên sư tử con mới sinh mập mạnh khỏe khoắn chạy nhảy nhanh. Các loài thú nghe tiếng gầm lớn kia thảy đều chạy trốn. Bồ-tát mới tu hạnh dụ như sư tử con mới sinh, Bồ-tát gầm lên tiếng Bồ-đề cũng lại như vậy. Vì thế, Đức Như Lai với trí Nhất thiết trí vì Bồ-tát mới tu hành, nên gầm lên lời tán thán Phật tánh, đều nhờ Đức Như Lai khéo dạy dỗ, dẫn dắt, nên Bồ-tát có được trí tuệ dũng mãnh, tăng trưởng Bồ-đề. Nếu các chúng sinh tham chấp nơi phiền não, tự mình làm tổn giảm. Ví như gân của thân sư tử đem làm dây đàn, khi âm thanh đó được tấu lên thì các dây đàn khác đều đứt hết. Đức Như Lai dùng Ba-lamật làm thành thục Bồ-đề khiến phát khởi tâm, nếu có kẻ tán thán về năm tình đều đoạn, tán thán về đạo hạnh của Nhị thừa cũng thảy đều dứt hết. Ví như lấy nhiều loại sữa của voi, bò, đổ đầy trong ao lớn, nếu lấy đúng một giọt sữa của sư tử nhỏ vào ao thì các loại sữa kia đều chảy ra khỏi ao. Sữa của tâm Bồ-đề cũng lại như vậy. Trong trăm ngàn kiếp, nghiệp tích chứa tội ác. Do tâm Bồ-đề của sư tử nên tội chướng đều được hủy diệt không còn sót, giải thoát của hàng Nhị thừa và chủng tánh Bồ-đề không thể ở chung.

Này thiện nam! Ví như chim Ca-lăng-tần-già còn ở trong trứng, nếu phát ra tiếng kêu thì tiếng của loài chim lớn nơi núi tuyết không sánh bằng, Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Ở trong trứng sinh tử phát khởi tâm đại Bồ-đề, uy lực đại Bi nơi công đức đã tu tập thì hàng Thanh văn, Duyên giác không thể sánh bằng.

Này thiện nam! Ví như Kim sí điểu chúa, con của nó mới sinh

nhưng mắt đã sáng tỏ, lanh lợi, bay đã mau, mạnh, tất cả các loài tuy sinh đã lâu, đã lớn, nhưng không loài nào sánh bằng. Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Phát tâm Bồ-đề làm bậc Pháp vương tử, trí tuệ thanh tịnh, đại Bi dũng mãnh, hết thảy hàng Nhị thừa, tuy đã trải qua nhiều kiếp tu tập đạo hạnh, nhưng đều không thể sánh bằng.

**********

8. Rút ra từ kinh Bảo Kế Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Hiểu rõ về Bồ-tát tu hành có một loại trì giới, hành Ba-la-mật thanh tịnh.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Bảo Kế:

–Này thiện nam! Sao gọi là Bồ-tát tu hạnh Trì giới ba-la-mật thanh tịnh?

Này thiện nam! Bồ-tát tu hành có một loại hành trì giới thanh tịnh. Một loại ấy là gì? Nghĩa là đối với Bồ-đề vô thượng mà lại có tâm xả. Tâm ấy, nếu nơi sự việc không tương ưng thì có thể làm cho tương ưng. Tâm ấy, ở trong ba cõi là tối thắng, tối thượng. Tâm ấy, vượt hơn hẳn hàng Thanh văn, Duyên giác. Tâm ấy, có thể cứu độ hết thảy chúng sinh trong ba cõi, đạt đến bờ giác. Tâm ấy có thể giống như ngọc báu vô giá, không gì so lường. Tâm ấy, sâu nặng giữ gìn không bỏ, khiến không hề quên.

Thiện nam nên biết! Bồ-tát tu hành thực hành mười loại Giới ba-la-mật thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là: Ba loại thân hành thanh tịnh; bốn loại khẩu hành thanh tịnh; ba loại ý hành thanh tịnh. Đây là mười giới thanh tịnh vô tận.

**********

9. Rút ra từ kinh Diễn Pháp Sư Phẩm (nói rõ hai hạnh): -Bồ-tát tu hành so sánh với giáo pháp của Thanh văn.

-Bồ-tát tu hành nơi các cõi tu học môn Bồ-tát hạnh.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Này Xá-lợi-phất! Nếu như có người tự nói: “Tôi có thể vào

trong biển cả, ngồi nơi đáy biển”. Người ấy đã thấy biển rồi, tức đối với phần nước trong dấu chân bò tay chân huơ múa tự nói: “Tôi học cách bơi lội”. Người khác bảo: “Trước thì ông tự nói là sẽ vào biển cả, ngồi nơi đáy biển. Vì sao ông lại không vào?” Người kia đáp: “Tôi trước hết là ở trong phần nước nơi dấu chân bò để học bơi, sau đó mới vào biển cả”. Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Chỗ người ấy đã tạo nên là tà hay chánh? Do không phỏng theo tác giả, dùng phương tiện thiện xảo, không còn chỗ chấp, tôi vào nơi đáy biển, nhưng trước thì ở trong phần nước nơi lỗ chân bò để tập bơi.

Xá-lợi-phất thưa:

–Chẳng phải vậy, thưa Thế Tôn! Nếu người muốn vào biển cả, tất phải vào biển để tập bơi.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Cũng lại như vậy, sau khi Như Lai nhập Niết-bàn. Đời có Pháp chủ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, lúc đó học có tâm tin tưởng cúng dường kinh điển Đại thừa, hiển dương trí tuệ của Như Lai, cung kính tôn trọng Thánh đức. Đã duyên với nghĩa thâm diệu của Đại thừa, thì hàng trí tuệ hạn hẹp, không thấu đạt về chỗ sâu xa, không lãnh hội được ý nghĩa đó. Thời sau nương vào Thanh văn để tu tập, học hỏi không chuyên về kinh luận A-hàm, vì tiếng tăm lợi dưỡng nên cùng với các đàn-việt qua lại. Nếu có các Tỳkheo, không học hỏi kinh điển Đại thừa, tùy thuận thay đổi, khởi tâm nịnh dối, bị bạn bè dẫn dắt, ưa thích học theo hàng Thanh văn, là học tập bơi lội trong phần nước nơi dấu chân bò.

Này Xá-lợi-phất! Do ý nghĩa đó, nếu Bồ-tát tu hành gắn liền với kinh điển Đại thừa để cầu đạt Phật trí, thì Bồ-tát tu hành phải nên học tập hành oai nghi của Như Lai. Nếu Như Lai ở trong chúng vô trí, thì không qua lại với họ, cũng không thọ nhận, ngoại trừ pháp bố thí thì mặc nhiên không nói, Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Như nghe nơi cõi của chư Phật hiện có chư Đại Bồ-tát, giữ gìn trăm ngàn phương tiện thiện xảo, đối với trăm ngàn cõi nước học tập, dạy dỗ hàng trăm ngàn chúng sinh, khiến được diệu lực nơi đại thần thông và thiện hạnh công đức.

Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát tu hành phải nên ở nơi các cõi, vâng theo các Bồ-tát học tập pháp hạnh, lại nên học hành nghiệp oai nghi, thiền định giải thoát, Tam-muội, Tam-ma-bát-đế, phương tiện thiện xảo, oai thần nơi năm thông giải thoát, tùy theo đó tu học. Đối với nơi chốn vắng vẻ tịch tĩnh tâm niệm về các Đại Bồ-tát nơi mười phương quốc độ, tùy theo căn cơ phương tiện, không nên ưa thích nhập vào trí tuệ của hàng Thanh văn thọ trì, học tập.

**********

10. Rút ra từ kinh Quyết Định Tỳ-ni (nói rõ hai hạnh):

-Hiểu rõ về Thanh văn và Bồ-tát, chỉ dạy, trao truyền về giới, hành luật nghi tương ưng như thế nào?

-Lại hiểu về ba loại độc định rõ chỗ nặng, nhẹ khinh trọng.

Bấy giờ, Thánh giả Ưu-ba-ly xả thiền định, đứng dậy đến trước Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ, lui ra ngồi một bên, bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vừa rồi con an tọa nhập định, có điều suy nghĩ. Bạch Thế Tôn! Trước hết vì người của hàng Thanh văn, Duyên giác thừa và người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát, vì họ mà chế ra giới luật nghi thanh tịnh. Đức Như Lai đã dạy: “Thà bỏ thân mạng, không được phạm giới”. Con đối với tạng Luật Tỳ-ni được cho là hàng thượng thủ. Nay Đức Như Lai còn tại thế, sau này vào Niết-bàn, con sẽ chỉ dạy trao truyền giới luật như thế nào? Nếu người của hàng Thanh văn thì lại phải như thế nào? đối với người mới tu Đại thừa, hành Bồ-tát, thì phải chỉ dạy về tu trì, hộ giới như thế nào?

Bạch Thế Tôn! Vì thế nên con nói rộng về giáo tích. Nay con âm thầm được Đức Phật thọ ký. Con nhờ nơi diệu lực từ oai thần của Phật, nên mạnh dạn tự chế, nếu con thâu giữ, trao truyền, cấm, đoạn luật nghi, xin Phật từ bi vì con giảng nói rõ. Thế nào là phạm giới? Thế nào là không phạm? Nay trong pháp hội này có vô lượng chúng Thanh văn, Bồ-tát tụ hội, có thể nhận được lời dạy của Đức Thế Tôn.

Khi Ưu-bà-ly nói lời ấy xong, Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

–Ông là hàng Thanh văn căn cơ ứng hợp nên nói riêng về giới hạnh thanh tịnh. Lại nữa, vì người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát nên dùng phương tiện thiện xảo tùy theo căn cơ nói riêng về giới hạnh thanh tịnh. Vì sao? Này Ưu-ba-ly! Nếu hàng Thanh văn trì giới, nên biết đó là giới hạnh sai khác. So với người mới tu Đại thừa hành Bồtát thì giới tướng trái ngược, tức chẳng phải là tịnh giới của Bồ-tát. Nếu Bồ-tát mới tu Đại thừa trì giới thanh tịnh tức cùng với giới hạnh của Thanh văn trái ngược, chẳng đồng, nên chẳng phải là tịnh giới. Vì sao? Vì năng lực chí nguyện của hàng Thanh văn cho đến trong từng sát-na chẳng cầu sinh tử ở thế gian, cũng không ưa thích, cũng không phát nguyện, đó là giới hạnh thanh tịnh của hàng Thanh văn, Còn như Bồ-tát mới tu hành Đại thừa, thì hiện bày sức mạnh chí nguyện, nguyện trải qua vô lượng kiếp ở trong biển khổ này cứu độ chúng sinh, tâm không mệt mỏi. Đó là người mới tu Đại thừa hành giới hạnh thanh tịnh của Bồ-tát.

Vì ý nghĩa đó, Ưu-ba-ly nên biết! Tùy theo căn cơ nên giảng nói giới cấm. Nếu là người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát thì nói giới thuận theo tâm người khác, không gây não hại cho chúng sinh. Nếu vì hàng Thanh văn nói giới thì chỉ nhằm lợi mình, không thuận theo tâm của người khác. Nếu vì Bồ-tát mới tu Đại thừa thì nên theo phương tiện nói giới mở rộng. Hoặc vì hàng Thanh văn nói giới cấm, không khoan dung. Hoặc vì Bồ-tát mới tu Đại thừa nói giới thì có thể dùng vô tướng rộng lớn để nói. Nếu vì hàng Thanh văn nói giới thì có thể dùng chỗ nghiêm khắc, chấp thấy có tướng mà nói.

Này Ưu-ba-ly! Vì sao nơi người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát phải thuận theo ý của người khác để tu học? Vì sao đối với hàng Thanh văn không thuận theo ý nơi người khác để tu học?

Ưu-ba-ly nên biết! Người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát mỗi mỗi đều tùy theo căn cơ dẫn dắt, hóa độ chúng sinh, vì thuận theo tâm của người khác nên không còn gây não hại, khiến cho tu trì giới hạnh. Nếu là hàng Thanh văn thì chẳng phải tâm người khác để tu trì giới hạnh. Vì sao người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát thì giới hạnh khoan dung, không phạm? Vì sao giới cấm của hàng Thanh văn, thì hạn hẹp, nghiêm khắc?

Ưu-ba-ly nên biết! Nếu người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát, từ sáng sớm có phạm, phải nên kết tội đến giờ ngọ, tâm Bồ-đề không gián đoạn, giới tích thành tựu, thì chẳng phạm.

Nếu vào giờ ngọ có phạm, thì đợi đến hoàng hôn, tâm Bồ-đề không gián đoạn, giới tích thành tựu, thì chẳng phạm.

Nếu vào lúc hoàng hôn có phạm thì đợi đến đầu đêm, tâm Bồđề không gián đoạn, giới tích thành tựu, thì chẳng phạm.

Nếu vào đầu đêm có phạm thì đợi đến giữa đêm, tâm Bồ-đề không gián đoạn, giới tích thành tựu, thì chẳng phạm.

Nếu vào giữa đêm có phạm, thì đợi đến cuối đêm, tâm Bồ-đề không gián đoạn, giới tích thành tựu, thì chẳng phạm.

Ưu-ba-ly nên biết! Người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát thì giới hạnh rộng rãi, hòa hoãn. Nếu có Bồ-tát kết tội là có phạm, thì không nên hối hận, sợ hãi. Lại nữa, nếu hàng Thanh văn phạm giới thì giới tướng diệt, không còn nguyên vẹn. Vì sao? Nếu hàng Thanh văn trì giới, trừ bỏ phiền não, giống như cứu lửa cháy đầu, cháy áo, tâm mau chóng kiên trì giới hạnh, cầu Niết-bàn tịch diệt. Vì sao người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát, tu tập lâu xa về không tướng, không chấp trước, chẳng lìa thế gian? Vì sao Thanh văn chấp tướng, một đời dứt diệt hiện tiền tu học?

Này Ưu-ba-ly! Nếu người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát, dụ như hằng hà sa kiếp tuy thọ nhận diệu lạc của năm dục, nhưng tâm Bồđề không hề xả bỏ, nên biết, đó là giới hạnh không khuyết của Bồtát. Vì sao? Vì người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát, về sau tâm Bồ-đề thành thục, nếu ở nơi phiền não theo năm dục hãy còn không bị cấu nhiễm, huống nữa là ở nơi giác ngộ.

Vì sao? Vì nếu người mới tu Đại thừa hành Bồ-tát không phải một đời mà có thể đoạn trừ hết toàn bộ phiền não. Nếu Bồ-đề thành thục thì phiền não tự diệt. Còn như Thanh văn tu tập đạo hạnh còn chưa thành thục, thì những tâm ấy trong sát-na chẳng nguyện sinh lại ở thế gian, vì thế nên trong một đời mau chóng tu hành, dụ như cứu lửa cháy dầu.

Ưu-ba-ly nên biết! Bồ-tát mới tu hạnh Đại thừa từ lâu xa tâm không hề nhàm chán mệt mỏi, tùy thuận, hội nhập để tu tập. Còn hàng Thanh văn một đời tạm thời tu học.

Vì ý nghĩa đó, này Ưu-ba-ly! Nếu ông Bồ-tát mới tu hành Đại thừa, chỉ dạy truyền trao, thuyết giới rộng rãi, thuận theo ý người khác nêu dạy về chỗ sâu xa, rộng lớn để họ tu học. Nếu vì hàng Thanh văn thì nêu dạy, truyền trao, nói giới không phải thuận theo người khác, cũng không rộng rãi hòa hoãn. Vì sao? Vì Bồ-tát mới tu hạnh Đại thừa là đại nhân duyên, pháp khí của sự tu tập nên thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ-tát không nên nhàm chán, sợ hãi về thế gian. Ta nguyện trải qua vô lượng kiếp dài lâu vì chúng sinh nên chịu mọi thứ khổ nơi sinh tử. Thế nên Đức Như Lai chẳng vì Bồ-tát tu hành giảng nói nhân duyên ra khỏi biển khổ sinh tử nơi ba cõi. Vì sao? Vì Đức Như Lai đã vì Bồ-tát tu hành nên tâm vui mừng giảng nói nhân duyên thanh tịnh sâu xa, không lỗi lầm, không trói buộc, không chướng ngại, không tướng, như vậy cùng với ngôn thuyết. Nếu Bồ-tát lãnh hội chỗ nêu giảng này rồi thích trụ nơi thế gian, không nhàm chán, mệt mỏi, cho đến thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng.

Khi ấy, Thánh giả Ưu-ba-ly bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nói có ba loại tội nặng theo ba độc, hoặc duyên với chỗ tương ưng của tham dục, hoặc duyên với chỗ lôi kéo trói buộc của sân, hoặc vì ngu si. Sao gọi là rất nặng? Sao gọi là rất nhẹ? Xin vì Bồ-tát mới tu hạnh Đại thừa dùng phương tiện giảng nói về giới hạnh khinh trọng kia.

Đức Phật bảo Thánh giả Ưu-ba-ly:

–Nếu Bồ-tát mới tu hạnh Đại thừa, do hằng hà sa kiếp thường phạm các loại tội về tham dục, nếu tín thọ pháp Đại thừa mà sinh khởi niệm tâm sân thì kết tội nặng, nơi tham dục. Vì sao? Này Ưuba-ly! Nếu tâm sân phát khởi thì có thể từ bỏ chúng sinh. Nếu bỏ sân hận, tâm tham dục phát khởi thì thâu giữ chúng sinh, Bồ-tát không còn ách nạn. Vì sao? Này Ưu-ba-ly! Nếu phạm tham dục, lìa bỏ một ít kiêu mạn thì phạm tội càng nhẹ. Nếu phạm sân hận xa lìa càng nhanh thì mắc tội rất nặng. Nếu phạm ngu si lìa bỏ càng nhanh thì mắc tội càng sâu.

Ưu-ba-ly nên biết! Ba độc nặng nhẹ như vậy. Bồ-tát tu hành tâm phải nên giữ gìn, dùng phương tiện trí tuệ khéo léo, nên không còn khuyết phạm.

*********

11. Rút ra từ kinh Biến Thanh Tịnh Tỳ-ni (nói rõ hai hạnh):

-Giải thích về hạnh Bồ-tát và hạnh Thanh văn, mỗi mỗi đều phải làm thế nào để điều phục tâm họ.

-Nêu những tội khinh trọng của hàng Nhị thừa.

Bấy giờ, Thiên tử Tịch tĩnh thưa Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát mới tu hành làm thế nào để điều phục tâm họ? Nếu là Tỳ-kheo Thanh văn làm thế nào để điều phục tâm họ?

Văn-thù đáp:

–Chán lìa ba cõi tâm kinh sợ, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ. Nếu thâu giữ trao truyền vô lượng pháp ở thế gian, không đoạn sinh tử nơi hết thảy chúng sinh, bố thí vô úy, làm lợi ích cho họ ưa trụ ở thế gian, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu chán lìa công đức nơi hành trang tu tập đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu không nhàm chán tích tập trí nơi công đức của hành trang tu tập, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu thấy chán đối với tất cả phiền não, đó là Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu thâu giữ phiền não của hết thảy chúng sinh, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu không vì chúng sinh, không nghĩ đến Thánh đức của chư Phật, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu vì tất cả chúng sinh, nên hiển hiện ra Thánh đức của chư Phật, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu chỗ tu hành tạo nghiệp đối với chư Thiên không chứng biết, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu chỗ tu tập tạo nghiệp, đối với chư Thiên khắp tam thiên đại thiên thế giới đều chứng biết nghe khắp, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu trừ bỏ hết thảy quân ma, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu nơi tam thiên đại thiên thế giới, với các thứ quân ma, hiện có đều khiến chúng phát động, Bồ-tát có thể hàng phục phá trừ, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu không sáng suốt lường xét thân tâm mình, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu nêu rõ Thánh đức của chư Phật Như Lai nơi tất cả các cõi, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu chỉ vì tự thân, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu vì chúng sinh tu tập, thâu giữ nhớ nghĩ về Thánh đức của hết thảy chư Phật, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu vì Tiểu thừa, mau chóng đạt giải thoát, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu dùng trí tuệ, trong từng sát-na để thành tựu Bồ-đề, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu đoạn diệt chủng tánh của Tam bảo, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu tu học về chủng tánh của Tam bảo, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu dụ như cái bình đất bị phá vỡ không còn nguyên vẹn, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu dụ như vật dùng bằng vàng bị phá hoại, tu sửa lại như cũ, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu dùng phương tiện thiện xảo không đầy đủ, tức là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu các phương tiện thiện xảo đều tương ưng, tức là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu mười Lực, bốn Vô sở úy không đầy đủ, tức là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu dùng mười Lực, bốn Vô sở úy, tương ưng với tâm, tức là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu lánh bỏ thế gian như tránh hầm lửa, tức là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu thích trụ nơi thế gian như dạo chơi các vườn hoa, như ở trong điện, đường, tức là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu không đủ sáu Ba-la-mật và bốn Nhiếp sự, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu tu sáu Ba-la-mật và bốn Nhiếp sự, kiên trì thâu giữ niệm, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nếu không đoạn trừ mọi tập khí của duyên từ đời trước, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu đoạn trừ mọi thứ tập khí tương tục, đó là Bồ-tát tu hành điều phục tâm họ.

Nói tóm lại, nếu tâm vướng mắc nơi số lượng, thân cận nơi pháp suy lường, học tập về hữu lượng về giới hạnh, Tam-muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, đó là hàng Thanh văn điều phục tâm họ.

Nếu chẳng phải là số lượng, cũng không ràng buộc nơi số lượng, gần gũi vô lượng dùng phương tiện thiện xảo, để tu học về giới hạnh, Tam-muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, đó là Bồtát tu hành điều phục tâm họ.

Bấy giờ, Đức Như Lai khen Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Lành thay, lành thay! Như lời Bồ-tát đã nêu bày, đây là Bồtát tu hành bắt đầu nhập vào pháp hành điều phục tâm, do ý nghĩa gì, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Lãnh hội điều ta giảng nói, cho đến giải thoát, nghĩa điều phục ấy đã được thành tựu viên mãn.

Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Ví như hai người cùng ở một nơi, một người khen ngợi nước nơi bốn biển cả, một người khen ngợi phần nước nơi dấu chân bò. Này Văn-thù-sư-lợi! Ý ông thế nào? Người khen ngợi phần nước nơi dấu chân bò, nước đó có nhiều không?

Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Nước nơi dấu chân bò ít, cạn, làm sao so sánh với nước nơi bốn biển cả mà nói nhiều hay ít.

Phật bảo:

–Nếu hàng Thanh văn điều phục nơi hiện tướng, cũng lại như vậy. Ví như nước nơi dấu chân bò tự nó ít, không thể so sánh với nước nơi bốn biển cả được. Nên biết, chỗ khinh trọng của Tiểu thừa cũng như vậy. Còn chỗ tán thán của người kia về nước nơi biển cả. Văn-thù-sư-lợi! Ý ông thế nào? Người ấy có thể khen ngợi về biển cả được không?

Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Công đức nơi biển cả là vô lượng, sự khen ngợi cũng vô lượng.

Phật nói:

–Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, nên chỗ ứng hiện tu hành là vô lượng. Ví như biển cả không thể nhận biết về số lượng từng giọt nước, công đức của Đại thừa cũng lại như vậy.

Khi Đức Phật giảng nói pháp này, một vạn hai ngàn Thiên tử đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả đều phát ra lời như vầy:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con từ nay hành xử theo Bồ-tát tu hành để có thể tu học, đi đến nơi nguyện dẫn dắt hết thảy chúng sinh khiến vào Phật đạo.

 

ĐẠI THỪA TU HÀNH BỒ-TÁT HÀNH MÔN CHƯ KINH YẾU TẬP

QUYỂN TRUNG

12. Rút ra từ kinh Hải Tuệ Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ tám hạnh):

-Hiểu rõ về Bồ-tát phạm giới mà có thể thành tựu sáu Ba-lamật.

-Hiểu nghĩa sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật, so sánh với chỗ cạn sâu của Thanh văn.

-Hiểu rõ về người mới phát tâm Bồ-đề, thật sự có thể nhẫn nhục, tà ma không làm thoái chuyển Bồ-đề.

-Hiểu rõ về ba nghiệp thân, khẩu, ý; thành tựu sáu Ba-la-mật.

-Hiểu rõ về môn niệm quán hành thành tựu sáu Ba-la-mật.

-Hiểu về dụ tám loại công đức cùng với phiền não lẫn lộn.

-Hiểu rõ về bốn loại môn hành thiện.

-Hiểu rõ về môn hành của Bồ-tát có mười hai thứ ma chướng lôi kéo.

Bấy giờ, có một Thiên tử bạch Đồng tử Văn-thù-sư-lợi:

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Giả như có Bồ-tát mới tu hành, tâm luôn keo kiệt thì có thể thành tựu Bố thí ba-la-mật không?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Do ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu Bồ-tát tu hành thành tựu đầy đủ cho chúng sinh, không bỏ Bồ-đề. Do không bỏ Bồ-đề tức là keo kiệt, đem tâm bố thí, thành tựu đầy đủ cho chúng sinh nên có thể thành tựu Bố thí ba-lamật.

Thiên tử lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành hiện phạm giới thì có thể thành tựu Trì giới ba-la-mật chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Vì ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Bồ-tát tu hành thâu giữ, tạo thành tựu đầy đủ cho chúng sinh, dù giới không đầy đủ nhưng họ vẫn thành tựu Giới ba-la-mật.

Thiên tử lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành, xả bỏ nhẫn nhục mà có thể thành tựu Nhẫn ba-la-mật không?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Vì ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu Bồ-tát tu hành, xả bỏ hành của ngoại đạo, chuyên học pháp nhẫn Bồ-đề vô thượng, tức có thể thành tựu Nhẫn ba-la-mật.

Thiên tử lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành, tâm ngã mạn tự cao mà có thể thành tựu Tinh tấn ba-la-mật không?

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Vì ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu Bồ-tát tu hành, không thích quả vị Bích-chi-phật và A-lahán, nhưng vì để hiển dương trí Nhất thiết trí nên ưa thích Đại thừa, tâm không lười biếng, tích tập điều lành, nhớ nghĩ về Bồ-đề vô thượng thì sẽ có thể thành tựu Tinh tấn ba-la-mật.

Thiên tử lại bạch Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành, tâm bị tán loạn mà có thể thành tựu Thiền ba-la-mật không?

Thiên tử lại bạch Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành, tâm bị tán loạn mà có thể thành tựu Thiền ba-la-mật không?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Vì ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu Bồ-tát tu hành cho đến khi ngủ nghỉ cũng không ưa thích quả vị Bích-chi-phật và A-la-hán, chỉ chuyên cầu Bồ-đề vô thượng thì có thể thành tựu Thiền ba-la-mật.

Thiên tử lại bạch Văn-thù-sư-lợi:

–Nếu có Bồ-tát tu hành ngu si vô trí, mà có thể thành tựu Trí tuệ ba-la-mật không?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Có người thực hành được việc này.

Thiên tử thưa:

–Vì ý nghĩa gì mà có người ấy?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu Bồ-tát tu hành trí tuệ hẹp kém thấy nơi thế gian với bao thứ mê hoặc, trù yếm khởi lên, nhiễu động làm kinh loạn tâm người khác, mà Bồ-tát không có trí của phương tiện cứu giúp nhưng nhờ tâm Bồ-đề, nên thâu giữ nhớ nghĩ về Phật địa, tức có thể thành tựu Bát-nhã ba-la-mật.

Khi ấy, Đức Như Lai khen ngợi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Lành thay, lành thay! Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đúng như lời ông đã nói, ông đã có thể phân biệt Bồ-tát mới tu hành điều nên làm, không nên làm về hành nghiệp tu tập chân thật chẳng hư dối. Vì sao? Nay ông nghe ta lược nói về Trí tuệ ba-la-mật giải thoát viên mãn.

Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Ví như có người trong một ngày nhẫn chịu đói khát, không nếm thức ăn có độc, Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Thà giữ keo kiệt, chẳng trì giới, tâm sân giận, biếng nhác, chẳng thâu giữ niệm, nhưng tâm không ưa thích đạo hạnh của hàng Thanh văn, Duyên giác. Nếu tâm thích tu sáu Ba-la-mật thì không nên như vậy. Vì sao? Vì trong thời gian tu hành đó Bồ-tát phải có ách nạn.

Thiên tử lại bạch Đức Thế Tôn:

–Bồ-tát tu hành không nên sợ hãi phiền não.

Phật nói:

–Bồ-tát tu hành thật sự là sợ hãi phiền não, sợ nhập vào quả vị Thanh văn. Này Thiên tử! Ý ông thế nào? Ví như có người chí muốn bảo tồn thân mạng, bỗng nhiên bị hại, nên đoạn đầu hay đoạn thân?

Thiên tử bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu muốn bảo tồn mạng sống thì thà cắt thịt nơi thân chứ không đoạn đầu. Vì sao? Vì còn đầu thì hãy còn có thể tu tập công đức, dấu vết thiện hiện bày. Do công đức được hiện bày nên được sinh lên cõi trời. Nếu đoạn đầu thì mọi dấu vết thiện đều mất hết.

Phật bảo Thiên tử:

–Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, thà bỏ oai nghi, giới hạnh chứ không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Thà cùng với phiền não tương ưng chứ không vào pháp môn đoạn phiền não của hàng Thanh văn.

Thiên tử bạch Đức Thế Tôn:

–Bồ-tát tu hành tu tập hành nghiệp như thế thế gian rất hiếm có, rất khó tin. Hành nghiệp tinh tấn của hàng Thanh văn, Duyên giác cũng xem như Bồ-tát tu hành phạm giới.

Phật nói:

–Đúng như lời ông đã nói! Ví như cơm của nhà nghèo thường ăn, Chuyển luân vương nếu chỉ nếm đồ ăn đó thì khác nào uống thuốc độc. Như hàng Thanh văn kiên cố tinh tấn, trừ diệt phiền não, đối với Bồ-tát tu hành giới hạnh cũng lại như vậy.

Lại nữa, ví như có người dốc cầu sự nghiệp để nuôi sống, trang sức nơi thân, người ấy không thể giàu nhất trong một nước, huống nữa là các thế gian khác. Hàng Thanh văn cũng vậy, tâm đã trừ phiền não, tuy thực hành tinh tấn nhưng không thể tạo lợi ích cho chúng sinh nơi cõi Diêm-phù-đề, huống nữa là các thế gian khác.

Lại nữa, ví như chủ buôn giàu sang, có nhiều quyến thuộc, kẻ hầu người hạ, rất siêng năng bố thí, có thể tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh.

Thiên tử nên biết! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Tu tập Từ bi, tâm Bi tinh tấn, vì thế tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nơi Thắng nghĩa đế, Thế tục đế, đều bố thí khắp mọi sự an lạc cho muôn loài.

Bấy giờ, Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu hàng Thanh văn tu đạo, chứng quả vô vi, Bồ-tát tu hành còn ở nơi hữu vi, vì nghĩa gì mà Bồ-tát tu hành có thể hơn người chứng quả vô vi?

Phật nói:

–Ca-diếp nên biết! Vì ông, ta sẽ nêu ví dụ, người trí nhờ ví dụ mà mau hiểu biết. Ví như sữa đầy khắp trong bốn biển cả, nếu có người lấy một sợi lông bò phân làm trăm phần, dùng một phần của đầu sợi lông để lấy một giọt sữa kia. Này Tôn giả Ca-diếp! Ý ông thế nào? Người kia lấy sữa bằng đầu sợi lông có nhiều hơn sữa trong bốn biển cả chăng?

Tôn giả Ca-diếp thưa:

–Dạ không, thưa Thế Tôn!

Phật nói:

–Này Ca-diếp! Ý ông thế nào? Hai phần sữa đó, bên nào là nhiều, là quý, là tối tôn, tối thượng?

Tôn giả Ca-diếp thưa:

–Nếu lấy sữa nơi đầu sợi lông, đem so sánh với sữa ở trong bốn biển cả, thì vượt hơn hàng ức trăm ngàn, sữa ấy thật là tối thượng, tối tôn, rất nhiều rất quý, còn sữa nơi đầu sợi lông thì không thể so sánh được.

Phật nói:

–Này Ca-diếp! Ví như đã lấy được sữa hàng trăm phần nơi đầu sợi lông, trí tuệ vô vi của hàng Thanh văn đối với trí của Phật cũng lại như vậy. Bồ-tát tu hành tu tập công đức hữu vi, hạnh nguyện vô vi nhập khắp nơi trí Phật. Ca-diếp nên biết! Ví như loài muỗi và kiến, chỉ có thể lấy được một hạt cơm, nếu lại có người trong ba tháng trồng nhiều ruộng lúa, ý ông thế nào, cái gì là nhiều?

Ca-diếp thưa:

–Số lúa nơi ba tháng đã trồng được đến mùa thu thì thu hoạch vô lượng, đem lại lợi ích cho chúng sinh, còn một hạt cơm kia chưa đủ lợi cho mình, huống nữa là lợi cho chúng sinh.

Phật nói:

–Ca-diếp nên biết! Ví như muỗi, kiến chỉ tha nổi một hạt cơm, hàng Thanh văn cũng vậy. Còn như ba tháng trồng lúa thì thu hoạch rất nhiều, Bồ-tát tu hành công đức nơi sáu Ba-la-mật và bốn Nhiếp sự cũng lại như vầy. Nếu an lập, thành tựu đầy đủ rồi, thì tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Nơi Thắng nghĩa đế và Thế tục đế đều bố thí khắp mọi sự an lạc mới có thể thành tựu Niết-bàn vô thượng.

Đức Phật bảo Ca-diếp:

–Ví như có trăm ngàn xe cộ ngựa thồ chở châu ngọc lưu ly vào thành ấp. Lại có một viên ngọc báu vô giá đặt trong thuyền nơi biển cả, nếu không bị chướng ngại thì ngọc báu kia sẽ đến cõi Diêm-phùđề, chúng sinh nơi cõi ấy nhờ ngọc báu này mà được giàu có, tạo nhiều lợi ích cho người nghèo khổ.

Này Ca-diếp! Ý ông thế nào? Trăm ngàn xe cộ ngựa thồ chở châu ngọc Lưu ly giá trị kia có thể hơn một viên ngọc báu vô giá này không?

Ca-diếp thưa:

–Dạ không, thưa Thế Tôn!

Phật nói:

–Các châu ngọc Lưu ly kia không có nhiều giá trị. Hàng Thanh văn tu tập nhập vào giải thoát vô vi cũng lại như vậy.

Ca-diếp nên biết! Ví như ngọc báu vô giá còn ở nơi thuyền, nếu không bị trở ngại sẽ đến cõi Diêm-phù-đề, tức có thể khiến cho hết thảy chúng sinh được giàu có. Nếu Bồ-tát tu hành khiến cho chủng tánh của Tam bảo luôn nối tiếp không gián đoạn, thì có thể phát khởi Bồ-đề vô thượng, dụ như được viên ngọc báu vô giá tạo lợi ích vô lượng.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Hải Tuệ:

–Thế nào là mới phát tâm Bồ-đề, thật sự có thể nhẫn nhục, không thoái chuyển Bồ-đề? Vì sao tâm Bồ-đề không bị chướng ngại?

Hải Tuệ nên biết! Nếu Bồ-tát tu hành đã phát tâm Bồ-đề, gặp tri thức ác hoặc ma Ba-tuần, hoặc quyến thuộc của ma, hoặc kẻ thờ tà ma, hoặc đi với ma, bị chúng nhiễu hại, cướp đoạt tâm thiện, Bồtát tu hành tâm có nghi hoặc thì những thứ tà ma ấy đến não hại Bồtát. Khi ấy, tâm Bồ-tát không thoái tán, lại chẳng xa lìa Bồ-đề vô thượng, cũng không đoạn tuyệt việc giải thoát chúng sinh, do đại Bi nên tinh tấn tụ tập, cũng không đoạn tuyệt chủng tánh của Tam bảo, cũng không đoạn tuyệt tất cả hạnh Phật, cũng không đoạn tuyệt ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Đức Như Lai; thứ lớp tu hành, hiển bày hành trang công đức đã tích tập hiện ra cõi của chư Phật thanh tịnh, hộ trì pháp thiện để tu tập thành tựu đầy đủ cho chúng sinh rồi mới bỏ thân mạng, không thích nhiễm đắm nơi dục lạc của thế gian. Nếu Bồ-tát tu hành vì chúng sinh nên tâm hành đại Bi, nhẫn nhục kiên cố, lại bị người khác khinh chê, nhục mạ, không thể nói hết, đánh đập gây khổ sở đều có thể nhẫn chịu, có khả năng gánh vác việc nặng cho chúng sinh, không giấu, không thiếu, tinh tấn không thoái chuyển.

Tâm đó dũng mãnh, đạt đến bờ giác, cũng không mỏi mệt, tu trì tinh tấn, phát khởi phương tiện, tâm chuyên chú, kiên cố, người khác não hại mình nhưng mình không não hại người, nếu có người đánh đập mắng nhiếc thì tự mình không sân hận họ.

Vì diệu nghĩa của Đại thừa khác hẳn thế gian, nên tâm ấy chánh niệm, lường xét về đường thiện, vì chúng sinh thuận theo hành của ba cõi, ta nay nên dốc cầu hành nghịch, chúng sinh trong ba cõi đều trái với ta, ta nên cùng với họ tương ưng hòa hợp. Tâm sân của những chúng sinh ấy dữ dội, ta cầu nhẫn nhục tâm luôn tùy thuận chúng sinh, làm chuyển đổi mọi dối lầm nơi thế gian.

Ta nay chỉ nghĩ đến trí tuệ viên mãn. Nếu có chúng sinh trong mười phương tụ hội, mỗi mỗi đều cầm binh khí như đao, kiếm, thương, giáo… theo ta mà đi, đều mang tâm đối nghịch. Bồ-tát tu hành này hoặc đi, đứng, nằm, ngồi, hoặc phát tâm Bồ-đề, hoặc phát tâm bố thí, hoặc phát tâm trì giới, hoặc phát tâm nhẫn nhục, hoặc phát tâm tinh tấn, hoặc phát tâm thiền định, hoặc phát tâm trí tuệ, hoặc phát tâm học tập kinh điển, hoặc phát tâm tu trì công đức.

Khi Bồ-tát tu hành suy niệm về tâm ấy, thì những kẻ kia cũng nghĩ: “Chúng ta nên chặt đứt đầu ấy, cắt nhỏ thân xác ấy ra như lá cây táo”. Những chúng sinh ấy chuyên mang tâm giận dữ, ý muốn giết người. Bấy giờ, Bồ-tát tu hành chuyên tâm tự nghĩ: “Nay ta đối với người khác không hề có tâm hiểm oán, ta vì nhẫn nhục nên không thù ác. Do ý nghĩa gì, thân ta từ vô thỉ đến nay ở trong ba cõi, chuyển đổi theo sinh tử số lượng vô biên tất đã trải qua các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chịu vô lượng khổ, hoặc sinh trong loài người tham đắm nơi năm dục, không chút lìa bỏ, hoặc nghe phi pháp mà tùy thuận theo tâm kẻ khác?” Do nhân duyên ấy uổng phí bị mất tánh mạng, thân thể bị mổ xẻ, chia cắt làm trăm phần. Khi thọ khổ như vậy thì nghĩ tưởng đây kia đều không lợi ích: “Nay đã cắt xé phần thân của ta, đoạn mạng căn của ta, nếu có thể đến tận đời vị lại, không dừng, ta cũng luôn không lìa bỏ Bồ-đề vô thượng. Vì lý do gì, nên nay ta phải chịu cắt đứt các chi phần khổ sở khó nhẫn? So ở địa ngục, cái khổ ở đó còn gấp trăm lần, nên ta nguyện vào địa ngục, chứ không lìa bỏ Bồ-đề, là do đại Từ bi nhằm cứu độ chúng sinh. Vì sao? Vì Đức Như Lai đã dạy: “Chỉ có một phần nhỏ tâm đều có thể thành tựu việc lớn. Nay chúng sinh nơi thế gian bạn ác rất nhiều, bạn lành thì ít, phải biết là không nên thân với bạn ác. Vì sao? Vì ta cùng với chúng sinh không có oán ghét, không sinh tâm sân hận, kẻ khác có liên hệ với người ta có liên hệ với kẻ khác. Kẻ khác chỉ trao cho người sân hận, ganh ghét. Ta chỉ dùng từ nhẫn trao cho người. Ta nay nên hiện ra sức mạnh nơi nhẫn không giết hại, không sinh sân giận, nếu có thể xả bỏ thân mạng thì mau được Bồđề vô ngại”.

Đối với thân mạng tham ái, nhiễm đắm nơi năm dục mạng sống đoạn hết, thì tự dứt trừ tâm sân, nếu khởi lên thì nên biết để trừ bỏ liền, để có thể nhập vào pháp môn ấy.

Nên biết, Bồ-tát tu hành như vậy thì có thể nhẫn chịu mọi não loạn của tất cả chúng sinh, không cùng với chúng sinh đoạn tuyệt, thường có thể nhẫn nhục ba thứ khổ não. Những gì là ba?

  1. Nhẫn chịu khổ não nơi thân.
  2. Nhẫn chịu khổ não nơi miệng.
  3. Nhẫn chịu khổ não nơi ý.

Lại nữa, sao gọi là nhẫn chịu những não loạn nơi thân? Nếu bị cắt đứt thân mà có thể nhẫn chịu, chỉ để tâm nơi thế gian, quán pháp nghĩ đến chúng sinh bị cắt thân thể. Nếu Bồ-tát tu hành, dùng trí tuệ phương tiện chính vào lúc bị cắt đứt thân thì quán nghĩ về sáu Ba-lamật. Tâm quán như vậy là xả bỏ của cải, thân mạng, bố thí thân mạng, không tiếc thân mạng, tức có thể thành tựu hạnh Bố thí ba-lamật.

Nếu bị hại mà có tâm bi hiện bày khắp, tuy có đau đớn nhưng tâm không tán loạn, thì có thể thành tựu hạnh Trì giới ba-la-mật.

Nếu khi bị cắt thân phần, nguyện hóa độ người này, nhẫn chịu không oán giận, thì có thể thành tựu hạnh Nhẫn nhục ba-la-mật.

Nếu do tinh tấn kiên cố, không bỏ tâm Bồ-đề, không chán thế gian, tu các công đức thì có thể thành tựu hạnh Tinh tấn ba-la-mật.

Nếu khi bị cắt thân phần, phải nên thâu giữ niệm: “Thân này giống như cỏ, cây, ngói, đá, như bóng bức vách, như huyễn, vô thường, vô ngã, chốc lát hoại diệt”. Quán như vậy rồi thì có thể thành tựu hạnh Trí tuệ ba-la-mật.

Bồ-tát Hải Tuệ nên biết! Nếu Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo như vậy thì có thể làm viên mãn sáu hạnh Ba-la-mật, không thoái chuyển nơi Bồ-đề. Đó là Bồ-tát thành tựu thân hành nhẫn nhục.

Lại nữa, thế nào là Bồ-tát tu hành nhẫn chịu khổ nào nơi miệng?

Nếu Bồ-tát tu hành bị mắng chửi, không nên nói lại. Tất cả mọi thứ tranh chấp sân giận, nghi ngờ, khinh khi, đánh đập, quanh co đều không nên nói lại. Nghe người nói ác không khởi lên sân giận, đều có thể nhẫn chịu. Đó là Bồ-tát thành tựu khẩu hành nhẫn nhục.

Lại nữa, sao gọi là Bồ-tát tu hành nhẫn chịu khổ não nơi ý?

Nếu Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo tương ưng với trí tuệ bị người chê bai, mắng chửi, hủy nhục, sân giận, chê trách đều không hề đáp lại. Bồ-tát nghe rồi, ý có thể nhẫn nhục. Đó là Bồ-tát tu hạnh thành tựu ý hành nhẫn nhục.

Lại nữa, này Bồ-tát Hải Tuệ! Bồ-tát tu hành trí tuệ, phương tiện thiện xảo viên mãn như thế nào để có thể thành tựu môn niệm hạnh quán của sáu Ba-la-mật?

Nếu Bồ-tát tu hành nghe người khác mắng nhiếc khó nghe, khó nhẫn, miệng nói ác, sân giận chê trách, không thể nói hết. Bồ-tát phải nên quán niệm: “Người ấy nay mắng chửi ta là do trong đời quá khứ ta đã keo kiệt, ganh ghét, chẳng gặp duyên lành, chẳng truyền trao sự học tập, chẳng từng cúng dường Tam bảo. Nay người mắng chửi ta, ta phải nên trừ bỏ tâm phiền não, sân hận, giận dữ kia. Ta nay có thể bỏ tâm độc ác, ganh ghét, không còn tham tiếc, cầu Thiện tri thức, tu học đường thiện, thân cận người lành, răn cấm, thận trọng lỗi lầm nơi miệng. Tức có thể thành tựu Thí ba-la-mật”.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nên niệm như vầy: “Người ấy phạm giới không hiểu biết tội lỗi. Ta đã thọ giới, không nên khởi sân, nhất tâm niệm Phật, quán thọ tội báo” tức có thể thành tựu Trì giới ba-lamật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nên niệm như vầy: “Người ấy tánh đã gắn theo nhiều sân, ác, do đấy nên mắng chửi ta, ta nay không oán định. Tâm từ hướng đến họ” tức có thể thành tựu Nhẫn nhục ba-lamật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nên niệm như vầy: “Người ấy không đủ hạnh thiện do đấy đã mắng chửi ta. Ta nay tự thân tâm mình phải gắng sức làm việc, nhất tâm chánh niệm, không quên Bồ-đề. Những người ác ấy đã kết đại nhân duyên, làm lợi ích cho ta, ai chưa điều phục sẽ làm cho điều phục, ai chưa nghĩ thiện khiến họ nghĩ thiện, ai chưa dừng điều ác khiến họ dừng điều ác”. Tâm nghĩ như vậy thì có thể thành tựu Thiền ba-la-mật.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành nên niệm như vầy: “Người ấy hoàn toàn vô trí, kiến chấp có tướng ngã, tướng chúng sinh, tướng tham nhận tài sản. Do đó đã mắng chửi ta, ta nay như pháp tự nghĩ: Trong đó ai là người mắng chửi ta? Người mắng chửi cùng với người thọ nhận đều là không. Đã không có ta và người thì tự trừ diệt tất cả hạnh tà nơi pháp tướng, không còn oán giận, có thể nhẫn chịu tức có thể thành tựu Bát-nhã Ba-la-mật.

Phật bảo Bồ-tát Hải Tuệ:

–Nếu Bồ-tát tu hành gồm đủ trí tuệ, nghe người khác dùng lời thô ác mắng chửi, hủy nhục mà mình không nhận, Bồ-tát có thể an tâm nhẫn chịu, nên hạnh nguyện thành tựu viên mãn Ba-la-mật, an định, không lìa Đại thừa, thì có thể thành tựu nhẫn nhục các khổ não nơi miệng.

Bồ-tát Hải Tuệ thưa Phật:

–Sao gọi là Bồ-tát tu hành nhẫn chịu khổ não nơi ý?

–Vì hết thảy ma chướng khiến Bồ-tát kia xa lìa Bồ-đề, khiến sinh tâm thoái chuyển. Hoặc là tất cả ngoại đạo do tham danh lợi, tu tập tà hạnh, khiến Bồ-tát kia xa lìa Bồ-đề. Bồ-tát đã ngộ chánh hạnh, tâm không tán loạn, chẳng lìa Bồ-đề cho dù các kẻ kia hóa hiện ra thân Phật, nhưng tâm Bồ-tát không hề thoái chuyển.

Lại nữa, tà ma có sức mạnh, chê trách Bồ-tát, khiến sinh tà niệm, chúng nói Bồ-tát: “Ông chẳng có sức để tích tập Đại thừa, trọn không thể thành Phật, mau bỏ gánh nặng và sự tinh tấn ấy đi. Bồ-đề khó được, Thánh đức của Như Lai cũng lại khó cầu, khó nhẫn chịu vô lượng khổ não của thế gian. Người đã vào Niết-bàn, hiện thọ diệu lạc, ông là đại trượng phu nên cũng mau nhập Niết-bàn.”

Hải Tuệ nên biết! Bồ-tát tu hành chân chánh, khi bị ma khuyến thoái mất Bồ-đề, Bồ-tát không chạy theo tâm người khác, không bỏ chánh niệm. Bồ-tát nghĩ như vầy: “Ta nhất định an tọa nơi cội Bồđề, nhất định sẽ phá trừ hàng phục chúng tà ma, nhất định sẽ thành tựu đạo quả Đẳng chánh giác, chuyển đại pháp luân, diễn giảng pháp Phật ở tam thiên đại thiên thế giới. Ta sẽ khuyến khích thúc đẩy hết thảy chúng sinh, khiến thành Chánh giác, nguyện khắp thảy chúng sinh ở nơi ta thọ nhận pháp thí thanh tịnh hoặc hết thảy chư Phật, tâm của các bậc Hiền thánh đều biết ta thành tâm theo hạnh nguyện Bồ-đề. Ta nay dùng tâm Bồ-đề này, nên đối với thân nhẫn nhục, không dám dối lừa với chư Phật, Hiền thánh và tất cả chúng sinh, cho đến tự thân mình.” Bồ-tát tu hành thâu giữ tâm nhẫn chịu như vậy, không thoái mất Đại thừa, không đoạn tâm báu Bồ-đề.

Hải Tuệ nên biết! Phát khởi tâm Bồ-đề báu như vậy thì có thể phát khởi Nhẫn nhục ba-la-mật, lại không thoái chuyển nơi Tinh tấn ba-la-mật, viên mãn hai hạnh. Đó là Bồ-tát nhẫn nhục mọi khổ não nơi ý.

Bồ-tát Hải Tuệ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là công đức tương tục nơi thế gian cùng với phiền não hòa lẫn mà có thể thành tựu đầy đủ? Con và tất cả chúng sinh do nghĩa gì mà gọi là công đức tương tục nơi thế gian cùng với phiền não hòa lẫn?

Phật nói:

–Có tám loại công đức tương tục nơi thế gian cùng với phiền

não hòa lẫn. Những gì là tám?

  1. Bồ-tát tu hành đối với hành trang của công đức không nhàm chán.
  2. Thích thọ nhận sinh tử ở thế gian.
  3. Nguyện được gặp chư Phật Như Lai.
  4. Nguyện thành tựu đầy đủ cho chúng sinh không hề mệt mỏi.
  5. Giữ gìn pháp Phật, học tập tu hành.
  6. Tâm siêng năng thâu giữ trao truyền hạnh thiện cho chúng sinh.
  7. Ưa thích pháp Phật, không bỏ Bồ-đề.
  8. Tâm luôn gắn bó với các hạnh Ba-la-mật.

Hải Tuệ nên biết! Tu hành về công đức tương tục nơi thế gian hòa lẫn với phiền não như vậy thì Bồ-tát tu hành này đối với phiền não ác kiến không còn bị nhiễm chấp.

Bồ-tát Hải Tuệ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Các công đức ấy vì sao hòa lẫn với phiền não?

Phật nói:

–Nên biết, chỗ kiến lập ba cõi đều nhân nơi phiền não mà được thành tựu. Bồ-tát tu hành ấy dùng sức của công đức nơi phương tiện thiện xảo, nguyện trụ nơi thế gian, cứu độ chúng sinh, luôn ở ba cõi thâu nhận phiền não, Bồ-tát không để tự thân mình bị nhiễu loạn. Vì ý nghĩa ấy nên công đức hòa lẫn với phiền não.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như vậy là vô lượng hạnh nguyện của Bồ-tát nương vào trí tuệ phương tiện, chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai, rất hiếm, khó có. Bạch Thế Tôn! Lại nữa, Bồ-tát mới tu hành nên biết trí của Đức Như Lai, tùy theo các chúng sinh, tu hành vô lượng mọi thứ hành nghiệp. Rất khó, rất khó! Không thể nghe, không thể nói. Nếu Bồ-tát tu hành, nhẫn những khó khăn như vậy mà không kinh, không sợ thì việc ấy lại càng khó hơn.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Như sư tử con nghe tiếng gầm rống của sư tử cha, có kinh sợ không?

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:

–Dạ không, thưa Thế Tôn!

Phật nói:

–Xá-lợi-phất nên biết! Bồ-tát tu hành nếu nghe Sư tử Bồ-đề gầm rống vang lên mà không kinh, không sợ nên nếu nghe vô lượng hành nghiệp của vô số các loài chúng sinh khác biệt cũng không kinh, không động.

Này Xá-lợi-phất! Như một ít lửa nhỏ không sợ tất cả cỏ cây rừng rậm, cũng chẳng nghĩ: “Ta không có sức để đốt cháy mọi thứ cỏ cây ở thế gian.” Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Dùng một ít lửa trí tuệ để cứu các chúng sinh, không sợ tất cả phiền não, cũng chẳng nghĩ: “Ta không thể trừ diệt phiền não của chúng sinh nơi thế gian”. Vì sao? Vì nếu hiểu rõ về tất cả phiền não của chúng sinh thì các phiền não ấy lại hỗ trợ cho lửa trí tuệ.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Ví như tất cả cỏ cây, cành lá, thân rễ… nơi thế gian, đều cùng nhau nói rằng: “Bảy ngày nơi kiếp sau tất cả cây cỏ nên cùng với lửa đánh nhau, bên nào cũng giành lấy phần thắng. Khi đó, các cỏ cây này tích tập củi và cỏ chất cao như núi Tu-di rồi nói với lửa: “Cây cỏ tích tập cao như núi Tu-di, lửa của ông vì sao không tích tập sức lực, chắc chắn củi và cỏ sẽ hơn”. Lửa nói: “Tôi không tích tập. Vì sao? Vì cỏ cây là bạn bè của tôi, nếu cỏ cây nhiều thì tôi tăng thêm sức lực, nếu cỏ cây ít thì tôi sẽ bị diệt”.

Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Vì vô lượng phiền não của chúng sinh nên có thể làm cho đuốc lửa trí tuệ bùng cháy, Bồ-tát tu hành dần dần có sức mạnh. Nếu hiểu rõ về nghĩa của phiền não rồi, thì giữ lấy phiền não làm đuốc trí tuệ. Nếu Bồ-tát tu hành không thích phiền não mà lại xả bỏ, liền rơi xuống hàng Thanh văn, Duyên giác.

Xá-lợi-phất nên biết! Nếu Bồ-tát tu hành chánh niệm, quán sát tất cả phiền não thì Bồ-tát tu hành dần dần có sức mạnh. Nghe lời này rồi, không kinh sợ, không dao động, nên biết Bồ-tát đã thành tựu trí tuệ nơi phương tiện thiện xảo.

Lại nữa, Bồ-tát tu hạnh có bốn loại hành thiện tương ưng.

Những gì là bốn?

  1. Tinh tấn tu tập sáu Ba-la-mật.
  2. Dùng tâm đại Bi thành tựu đầy đủ cho chúng sinh.
  3. Kiên trì tạo công đức đạt thành tựu viên mãn.
  4. Trong vô lượng kiếp luôn giữ gìn ba cõi, cũng không mệt mỏi, tích tập tất cả hành trang của công đức.

Nếu Bồ-tát tu hành có thể thành tựu bốn loại công đức như vậy, thì nhất định đó là hành nghiệp của Bồ-tát.

Phật bảo Bồ-tát Hải Tuệ:

–Này thiện nam! Ông nhận biết về tà ma Ba-tuần Ương-câuxa-câu không?

Bồ-tát Hải Tuệ thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con hiểu biết về chướng ngại của tà ma ấy.

Phật nói:

–Ông nay muốn nghe về nghĩa giải thoát của tà ma tạo chướng ngại dẫn dắt không?

Bồ-tát Hải Tuệ thưa:

–Con rất muốn nghe!

Phật nói:

–Nếu có Bồ-tát nghe nghĩa này rồi thì được giải thoát khỏi chướng ngại của tà ma dẫn dắt. Lại có thể hàng phục, phá trừ tất cả quân ma, mau thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bồ-tát Hải Tuệ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con hôm nay nương nơi oai thần của Phật, muốn nói về mười hai loại tà ma Ương-câu-xa-câu để cho Bồtát mới tu hành đạo được nghe. Những gì là mười hai?

Một là nếu Bồ-tát tu hành tu Thí ba-la-mật, đối với vật đáng yêu thích sinh tâm luyến tiếc, vật không yêu thích mới đem bố thí, nếu là người thân quen thì tâm ý vui vẻ bố thí, nếu chẳng phải người thân quen thì tâm không bố thí. Người bố thí, người nhận thí đều sinh phân biệt. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ nhất nơi bố thí bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành khéo hành tinh tấn, kiên trì giới hạnh, đầy đủ oai nghi. Khi thấy người kia có phạm tội chút ít, thân tâm mình vẫn thanh tịnh, bình đẳng học giới. Hoặc thấy Tỳ-kheo, Bà-la-môn tinh tấn thì sinh tâm cúng dường, cùng với họ học tập. Nếu thấy người phạm giới thì sinh tâm sân hận, hiềm oán, chê bai, là tu hành tạo nghiệp tự khen mình, chê người. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ hai nơi trì giới bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành thân nhẫn, khẩu nhẫn nhưng tâm ý không nhẫn, trái lại sinh sân hận. Hoặc thấy người cậy dựa nơi tộc họ hiển dương đức của mình thì vì họ mà nhẫn chịu; còn như thấy những kẻ thấp kém lại sinh sân hận, tâm không nhẫn. Tuy tạm nhẫn chịu nhưng tâm luôn kiêu mạn, sân, hận không bỏ. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ ba nơi nhẫn nhục bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành tâm siêng học tập để giáo hóa chúng sinh, khiến vào hàng Thanh văn, Duyên giác thừa, lại không chỉ dạy pháp Đại thừa, khen ngợi quả vị Thanh văn Bích-chi-phật, chuyên học Tục đế, xả bỏ pháp môn Thắng nghĩa đế, che giấu Đại thừa, chuyên tu danh lợi theo thế gian, cúng dường cờ phướn, âm nhạc, hương hoa, tôn trọng, bao dung để cầu danh tiếng, chẳng xem pháp Đại thừa, chẳng cầu Phật pháp. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ tư nơi tinh tấn bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành khởi lên bốn thiền định Tam-ma-bát-để, ngồi yên, vắng lặng, thành tựu thiền định mà bị hủy báng về chỗ tạo thành tựu đầy đủ cho chúng sinh, hủy báng nơi giảng nói pháp Phật, hủy báng nơi cùng ở với chúng sinh, hủy báng nơi khéo thực hành công đức hữu vi, đối với pháp vô vi bất động chỉ tu học một phần ít, chẳng cầu thiền định. Trái lại, thấy cõi Dục và cõi Vô sắc, ưa thích cõi trời Vô sắc, do tâm trì độn nên mong được sống lâu, hoặc sinh lên cõi trời Vô tưởng, hàng trăm ngàn Đức Phật thành Chánh giác, người này do không được gặp chư Phật, không được nghe pháp Phật, không gặp chư Tăng, không thể thành tựu được chúng sinh, cũng không thọ nhận được diệu pháp của Như Lai, không tích tập được hành trang của công đức, lại không có trí tuệ, ngu si, lười biếng, ngã mạn, nếu thọ mạng nơi cõi trời Vô tưởng hết rồi, rồi sinh xuống nơi thiếu trí, thấp kém. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ năm nơi thiền định bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành trí tuệ rộng khắp,

hiểu rõ về tập tánh, nhận biết nhân duyên sinh khởi nên các pháp hiện có là không đi, không trụ lại hủy báng công đức hữu vi, nên mất trí tuệ của phương tiện thiện xảo, hoặc không tu tập Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, chỉ khen Bát-nhã ba-la-mật, tự nói: “Bát-nhã là tối thắng”, đối với năm Ba-la-mật kia tâm sinh phân biệt, không nhiếp hóa chúng sinh bằng bốn Nhiếp sự; tâm thường vô tướng, vô vi, cho là tối thắng, vi diệu. Người ấy trí chưa thành thục nên lại rơi xuống đường tà. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ sáu nơi Bát-nhã bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành tu tập hạnh A-lannhã ưa thích ở nơi tĩnh lặng, nơi rừng núi vắng vẻ, không hề đắm chấp. Lại hoàn toàn không gồm chứa, không ở nơi đạo tục, an nhiên, không dụng công, không động trí, cũng chẳng học tập về nghĩa sâu xa, cũng chẳng thành thục cho chúng sinh; cũng chẳng nghe pháp Phật, cũng chẳng lường xét về con đường hướng đến. Nếu có nơi giảng giải nghĩa thâm diệu cũng chẳng đi đến nghe, cũng chẳng hỏi han, cũng chẳng tìm kiếm các bậc Thiện tri thức. Do thích ở chốn Alan-nhã nên tâm còn nhiều phiền não. Nếu không trừ bỏ các chủng tử phiền não để đạt đến tám con đường Thánh đạo, thì Bồ-tát tu hành như vậy tuy ở nơi vắng lặng, nhưng không tạo được lợi ích cho mình và người. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ bảy nơi Alan-nhã bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành giảng nói pháp thâm thúy, lời hay ý đẹp, oai đức gồm thâu tóm mọi chúng. Hoặc có chúng sinh có thể thọ nhận giáo pháp, lại không truyền trao. Hoặc thấy những kẻ căn trí ám độn ngu si không thể lãnh thọ giáo pháp thì lại đem pháp Phật hiển thị. Bạch Thế Tôn! Đấy là chướng ngại thứ tám thuộc phần quy y biển pháp bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành tập học các thứ luận giải của ngoại đạo thế gian, xả bỏ nghĩa lý thâm diệu nơi Đại thừa, tán dương các học thuyết của ngoại đạo. Hoặc thấy có người sáng suốt, an nhàn bàn luận về ngoại đạo thì thích nói, ưa nghe, cho là đức tốt. Khi ấy, trong hội chúng, chư Thiên thích nghe pháp Đại thừa nên đi đến đạo tràng, nhưng lại nghe giảng nêu về luận giải của ngoại đạo, tâm sinh áo não, quay về bổn cung, nói lời như vầy: “Thiện nam này nay đã hủy diệt pháp thiện giáo của Như Lai, Bồ-tát tu hành đối với pháp rường cột như vậy, cớ sao lại nêu dạy luận thuyết của ngoại đạo nơi thế gian, ưa thích hý luận, xả bỏ Đại thừa? Vì sao? Vì pháp thâm diệu của chư Phật Như Lai thành bậc Đẳng chánh giác chẳng nhân nơi hý luận của ngoại đạo thế tục mà thành tựu Bồ-đề.”

Bạch Thế Tôn! Nhưng Bồ-tát tu hành ấy học theo tất cả ngôn luận của ngoại đạo mà che giấu pháp của Như Lai. Người như vậy đối với sự giáo hóa của pháp Phật để thành tựu Đẳng chánh giác chỉ chuyên thực hành việc hủy diệt. Bạch Thế Tôn! Đây là chướng ngại thứ chín về sự ngăn che pháp thâm diệu của Phật, lại tán dương các thứ hý luận của ngoại đạo bị ma dẫn dắt nơi Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành chạy theo bạn ác, cho là Thiện trí thức, cùng kết làm bạn bè; bạn ác kia chuyên khiến Bồ-tát xả bỏ chúng sinh, không khiến thành tựu đầy đủ, lại chẳng khiến hộ trì pháp Phật, dạy ở nơi chốn vắng lặng, thiếu công sức, luôn đem pháp hạnh của hàng Thanh văn để trao truyền, nếu có ý nghĩa sâu xa tương ưng với Đại thừa thì chẳng phải nêu giảng truyền bá. Hoặc Bồ-tát tu hành học tập Đại thừa, trụ nơi vắng lặng nhằm tiến đến Bồ-đề, bạn ác muốn gây chướng ngại nên khiến Bồ-tát duyên dựa vào thế gian, nói rằng: “Bồ-tát tu hành hợp với pháp duyên dựa vào thế gian, nếu dạy học theo pháp thế gian, thì khiến trụ nơi vắng lặng” được hiện bày để ngộ nhập vào quả vị của người khác, không nhằm hiển thị hạnh môn vô thượng, quyết định của Bồtát”.

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là hạnh môn vô thượng quyết định của Bồ-tát? Hạnh môn đó có mười loại. Những gì là mười?

  1. Dựa vào tín căn, nhận Thiện tri thức chỉ dạy.
  2. Siêng cầu diệu pháp như cứu lửa cháy đầu.
  3. Đối với pháp thiện thì chỉ dạy, thích trụ nơi chánh nịêm, thường siêng năng tu học.
  4. Chánh cần tinh tấn, đã được pháp đó rồi thì tâm không bỏ.
  5. Không thích cái vui của riêng mình, chỉ ước muốn tạo mọi thành tựu đầy đủ cho chúng sinh.
  6. Vì cầu giáo pháp nên không tiếc thân mạng.
  7. Đối với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp làm thanh tịnh cõi Phật, tu tập các thứ hành trang công đức, không nhàm chán.
  8. Oai nghi tổng trì thành tựu viên mãn.
  9. Nơi hết thảy địa vị của thế gian tâm không đắm nhiễm, nên tu tập hạnh đại Bát-nhã ba-la-mật.
  10. Vượt hơn tất cả trí tuệ nơi phương tiện thiện xảo của quả vị Thanh văn và Duyên giác.

Bạch Thế Tôn! Đây là mười hành nghiệp vô thượng quyết định của Bồ-tát. Bồ-tát tu hành phải nên tu tập. Các thứ bạn ác ấy, không hiển thị việc thiện, trái lại gây tạo chướng ngại đạo, nói với Bồ-tát: “Nếu ông siêng năng, tu tập khổ nhọc thì có thể thành Phật. Tâm không nên biếng trễ, ngã mạn, nên có thể thành tựu Phật đạo. Ông nếu trong tám kiếp cho đến mười kiếp, chẳng thành tựu Bồ-đề, tất không thể cầu đạo quả Vô thượng Chánh giác”.

Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành khổ hạnh tinh tấn, bị người khác làm chướng ngại nơi đạo, khiến thoái chuyển vào quả vị Thanh văn. Đây là chướng ngại thứ mười nơi chẳng phải là Thiện tri thức, bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành tâm cao ngạo ngã mạn, vì cao ngạo nên không chịu khiêm tốn đối với các Sư tăng, Hòa thượng, Yết-ma oai nghi, môn đồ, đàn-việt, cho đến cha mẹ, tâm không điều phục. Nếu thấy Bồ-tát tu hành đã vượt qua hạnh môn của Bồ-tát, ngộ đạt hạnh thiện, đã được oai nghi, tổng trì viên mãn thì không muốn gần gũi, không cùng học tập thiện giáo, cũng không tìm cầu để thỉnh vấn. Nếu thấy người từng tu hạnh Đại thừa đã bị ma dẫn dắt, tâm lại chấp trước theo ma. Do ý nghĩa ấy, nên người đó lại tu theo là hạnh, ưa thích bạn tà, chuyên hành đường tà, thoái mất Bồ-đề, như con dê mẹ ngu si không bước tới phía trước. Ví như vào lúc thời tiết khô hạn, có người nơi vùng đất cao, khô đã trồng cây Thiệm-bộ, lại không tưới nước cho dù có dòng kênh mương nhưng bị đập đất ngăn chận lấp bít. Người ấy tuy trồng mà không tưới nên cây không mọc được.

Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Trước phát tâm Bồ-đề, sau sinh tâm cao ngạo ngã mạn nên thoái chuyển, quên mất lời dạy của bậc Thiện tri thức, không nghe pháp Phật. Hoặc đã nghe, thọ nhận, lại không tu tập. Ví như nước biển, chỗ nào sóng dữ không động thì địa thế nơi ấy trũng thấp, nước lại rất sâu, mọi sông ngòi, suối nguồn đều đổ về đó.

Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Đối với Sư tăng, cha mẹ, tâm nên khiêm cung, dụng một ít công sức mà đạt được pháp lớn sâu tùy chỗ ghi nhớ khiến pháp nhập vào tâm. Nếu cao ngạo ngã mạn, không tôn kính Sư tăng, cha mẹ, nên biết người ấy đã bị ma lôi kéo, chấp trước vào ma.

Bạch Thế Tôn! Đây là chướng ngại thứ mười một do cao ngạo kiêu mạn bị ma dẫn dắt.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát tu hành tướng mạo đoan nghiêm, chúng đều kính ngưỡng, giàu sang danh giá kẻ hầu người hạ, kho tàng châu báu vô lượng. Bồ-tát này chẳng cầu hành trang tích tập trí tuệ. Do sức mạnh nơi sự giàu sang tiếng tăm nên say đắm, biếng trễ, kiêu mạn, chẳng thấy con đường chánh. Nếu thấy người xuất gia mới tu tập giới Bồ-tát, đã ra khỏi phiền não, siêng năng hành trì nhờ vào sức trí tuệ làm hành trang dốc tâm vì pháp nhập định suốt ngày, máu thịt khô cạn, xương lộ rõ, gầy yếu, sớm tối tu tập như cứu lửa cháy đầu. Như vậy, Bồ-tát tu hành cao ngạo kiêu mạn kia, nếu thấy người hành trì như trên thì sinh tâm chê bai, khinh rẻ, không cùng làm bạn, không theo thọ giáo vì tâm ngu muội, ám độn, vô trí.

Bạch Thế Tôn! Đây là chướng ngại thứ mười hai vì tâm say đắm bị ma dẫn dắt của Bồ-tát tu hành.

Khi ấy, Bồ-tát Hải Tuệ thưa:

–Bạch Thế Tôn! Đây là mười hai loại ma chướng Ương-câuxa-câu khiến Bồ-tát tu hành bị chướng ngại nơi đạo. Nếu Bồ-tát tu hành không hiểu, không biết, không xa, không lìa bỏ vô minh như vậy hãy còn không thể gắng sức học tập, theo đuổi hành nghiệp bước đầu của Bồ-tát, huống hồ là có thể thành tựu được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì thế, Bồ-tát mới tu hành phải nên tinh tấn, thâu giữ tâm, tự giác, vượt qua mười hai thứ chướng ngại dẫn dắt của tà ma.

**********

13. Rút ra từ kinh Hý Lạc Nghiêm (nói rõ một hạnh):

-Hiểu rõ về phương tiện thiện xảo, bố thí năm thứ dục lạc nên khuyến hóa tất cả chúng sinh, khiến phát Bồ-đề vô thượng.

 

Bấy giờ, trưởng lão Tu-bồ-đề bảo phu nhân:

–Này thiện nữ! Chồng của phu nhân hiện nay ở nơi chốn nào?

Phu nhân đáp:

–Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Con nay chẳng phải chỉ có một người chồng. Vì sao? Vì chúng sinh trong thế gian bị năm thứ dục trói buộc chạy theo mọi vui chơi đều là chồng của con. Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Sao gọi là phương tiện thiện xảo tùy ý vui chơi?

Phu nhân đáp:

–Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Nếu có chúng sinh tham cầu năm dục, con sẽ dùng của cải để hỗ trợ, giúp đỡ, nhưng lại khuyến hóa khiến phát tâm Bồ-đề. Nếu có chúng sinh tâm dục hừng hẫy, con sẽ trở lại bố thí tình ái vui chơi. Thế nên gọi là phương tiện thiện xảo tùy ý vui chơi.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Đức Như Lai không cho chúng sinh đam mê nơi dục lạc.

Phu nhân đáp:

–Con nghe trong kinh của Đức Như Lai đã nói: Nếu có Tỳkheo thọ trì ca-sa, tích trượng, ngọa cụ, nhiều loại thuốc để trị các bệnh và các thứ lặt vặt, không nên giữ nhiều. Lúc đó, đồng tử kia cùng các đàn-việt đi đến xóm làng, được cung cấp đầy đủ nhiều món thượng diệu, cúng dường Sư tăng, Hòa thượng, chúng Tăng cùng ở, tùy theo đó mà vui nhận. Nếu nhân nơi một vật này, hạnh ác diệt trừ mà đạo được trường tồn. Vì ý nghĩa ấy nên Đức Như Lai chấp thuận cho Tỳ-kheo nhận giữ vật như vậy.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Đúng như phu nhân đã nói, là chân thật không đối.

Phu nhân đáp:

–Hết thảy sự tham đắm vui chơi nơi năm dục, Đức Như Lai vì phương tiện ấy, nếu có lợi thì cũng chấp thuận, không ngăn chặn.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Này thiện nữ! Có bao nhiêu chúng sinh nhận nơi phương tiện thiện xảo ấy, thọ nhận sự vui chơi mà thành tựu đầy đủ đạo quả Vô thượng Bồ-đề?

Phu nhân đáp:

–Nếu nơi hư không trong tam thiên đại thiên thế giới, số lượng tinh tú hiện có cho đến tận cùng biên vực, hãy còn nhận biết được số lượng ấy, còn như cùng với phương tiện thiện xảo của con thọ nhận sự vui chơi ở thế gian theo đấy để điều phục, khuyến hóa họ đều phát tâm cầu đạt đạo quả Vô thượng Bồ-đề, thì số lượng của những chúng sinh đó nhiều hơn số tinh tú nơi hư không kia.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Này thiện nữ! Phu nhân làm sao có thể khiến các chúng sinh đạt được an lạc?

Phu nhân đáp:

–Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Có các chúng sinh thích thờ Phạm thiên, con dùng hỷ lạc nơi Tứ thiền tùy theo ý họ mà bố thí, sau đó khuyên phát tâm Bồ-đề. Lại có chúng sinh thích thờ Đế Thích, con sẽ dùng những diệu lạc của Đế Thích để bố thí, sau đó khuyên phát tâm Bồ-đề. Lại có những chúng sinh thích ở nơi các hàng chư Thiên, Long vương, Dạ-xoa, Tu-la, Kiền-thát, Kim sí điểu cùng các loài rắn lớn để vui chơi thì con sẽ tùy theo chỗ ưa thích của họ mà bố thí đầy đủ, sau đó khuyên phát tâm Bồ-đề. Lại có chúng sinh vui thích với những hoan lạc của bậc Chuyển luân thánh vương, cho đến hàng quan lớn, con của tộc họ nổi tiếng nơi xóm làng, thành ấp, các hàng Bà-la-môn cùng với dân chúng, các chúng sinh như vậy, con đều tùy theo ý thích của họ mà thí khắp chẳng khiến thiếu sót, sau đó khuyên phát tâm Bồ-đề. Lại có chúng sinh vui thích đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Lại có chúng sinh ý muốn tham đắm nơi các thứ tràng hoa, chuỗi anh lạc, hương bột, hương thoa, y phục, tơ lụa dùng để trang sức. Lại có chúng sinh tham đắm nơi tiền của, vàng bạc, châu ngọc, pha lê, mã não, trống nhạc, đàn ca… Như vậy, chúng sinh nào ý đã vui thích nơi năm dục, con đều thí cho họ, sau đó khuyên phát tâm Bồ-đề.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Thiện nữ nên biết! Những thứ năm dục lạc ấy làm chướng

ngại tám Thánh đạo và con đường hướng đến Niết-bàn khéo đạt được Vô sở đắc. Những thứ năm dục ấy khi chánh thọ, cũng có chúng sinh do nhân duyên này nên khéo điều phục, khuyên hội nhập vào Bồ-đề. Nghĩa này theo thứ lớp là rất khó nghĩ.

Này thiện nữ! Vì việc tu tập của Đại Bồ-tát là rất khó, khiến Bồ-tát tu hành ấy thành tựu việc thiện nên biết cũng là rất khó. Vì sao? Vì những việc như vậy đều là một loại làm chướng ngại đạo đối với chúng sinh. Cũng có các loài chúng sinh trở lại nhân nơi đấy mà điều phục, được nhập vào đường thiện.

Bấy giờ, trong pháp hội nơi tinh xá có hai trưởng giả tử đã từng giao du với phu nhân, được phu nhân dùng phương tiện thiện xảo tùy chỗ ý thích vui chơi mà khuyên vào Bồ-đề vô thượng.

Lúc đó, hai trưởng giả tử này bạch Trưởng lão Tu-bồ-đề:

–Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Chớ lấy trí của mình đem so với trí của người khác. Thưa Trưởng lão Tu-bồ-đề! Ý trưởng lão thế nào? Nếu trong đèn còn một ít dầu, Tôn giả có thể dùng miệng thổi tay quạt để đèn tắt không?

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Có thể thổi tắt.

Trưởng giả tử thưa:

–Nếu các thiện nam, thiện nữ hành pháp Thanh văn, dùng một ít trí tuệ sáng suốt thì dùng một trí tự tại là có thể diệt, cũng lại như vậy.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Ví như khi kiếp mạt, có bảy mặt trời hiện ra, do các mặt trời chiếu soi dữ dội khiến thế gian khởi lên lửa cháy lớn, lửa này có thể dùng nước nơi sông Hằng dập tắt được không?

Trưởng lão Tu-bồ-đề nói:

–Trăm ngàn nước biển còn không thể dập tắt, huống nữa là nước nơi sông Hằng.

Trưởng giả tử thưa:

–Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Ánh sáng nơi trí tuệ vô lượng, vô biên, ánh sáng nơi công đức vô lượng vô biên của Bồ-tát cũng như vậy. Nếu Bồ-tát tu hành ở trong hằng hà sa số kiếp, đem năm thứ dục vui thích, thọ nhận hoan lạc nơi thế gian thì Bồ-tát tu hành trí tuệ sáng suốt, công đức sáng suốt này không thể gắng nhận nhưng có thể diệt được. Ví như có một người nghèo bệnh, đi tìm thầy thuốc để chữa trị. Do người nghèo khổ mà thầy thuốc lại ở xa xôi, lúc đó, người nghèo bệnh kia muốn trừ khỏi bệnh thì phải có tiền mua thuốc uống mới hết bệnh. Vì sao? Vì người nghèo bệnh ấy do không còn sức lực tiền bạc. Hàng Thanh văn cũng vậy, thâu giữ tâm tu mười hai hạnh Đầu-đà, một mình ở nơi A-lan-nhã, thích mặc y xấu, sau đó giải thoát khỏi phiền não ở thế gian.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Giống như người nghèo khổ bị bệnh, thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà chế ra thuốc để chữa trị, Thanh văn cầu giải thoát cũng lại như vậy.

Lại nữa, ví như quốc vương dòng họ Sát-lợi đã thọ pháp Quán đảnh, nếu vua lâm bệnh, lương y vì vua hòa hợp thuốc quý như: quang trạch, hương mỹ, thần khẩu, cam điềm tứ chi, an thái… đem cho vua uống. Vua uống thuốc rồi, lại phụng hiến âm nhạc, hương hoa vui thích, lấy đó làm hoan lạc. Nhờ phương tiện này mà quốc vương khỏi bệnh.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Cũng giống như vậy! Như có Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo, tùy ý vui thích thọ năm thứ dục lạc, do hoan lạc mà thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Trưởng lão Tu-bồ-đề nên biết! Như vua bệnh, phải cho uống loại thuốc thượng diệu, Bồ-tát tu hạnh cũng lại như vậy, nhờ diệu lực nơi trí tuệ theo phương tiện thiện xảo nên được giải thoát.

**********

14. Rút ra từ kinh Thiện Xảo Phương Tiện (nói rõ một hạnh):

-Nguyên nhân phạm trọng chướng của Bồ-tát tu hành theo học hạnh Thanh văn.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Vô Thượng Tuệ:

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo tu hạnh Bồ-tát mà phạm các trọng tội, rồi dùng phương tiện thiện xảo nên có thể diệt trừ. Vì ý nghĩa đó nên nay ta giảng nói về nhân duyên không phạm.

Bồ-tát Vô Thượng Tuệ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát tu hành vì sao bị phạm?

Phật bảo:

–Này thiện nam! Nếu Bồ-tát tu hành tu tập pháp hạnh của hàng Thanh văn, giả sử trong trăm ngàn kiếp, uống các loại cỏ thuốc, hoa quả, có thể nhẫn chịu các lời nói thiện ác của chúng sinh, tu tập pháp định của hàng Thanh văn, Duyên giác. Đây là Bồ-tát tu hành phạm tội rất nặng.

Này thiện nam! Ví như hàng Thanh văn phạm bốn trọng tội rồi, hiện rõ nơi thân năm ấm, lại không có khả năng vào được Niết-bàn. Thiện nam! Cũng lại như vậy, nếu Bồ-tát tu hành không lìa bỏ Thanh văn, không sám hối tội kia, khi ấy Bồ-tát tu hành lại không thể thành tựu đạo quả Đẳng chánh giác, không thể nhập vào Niếtbàn Vô dư nơi quả vị của Phật.

*********

15. Rút ra từ kinh Thắng Tích (nói rõ một hạnh):

-Nêu Bồ-tát tu hành mà thoái chuyển vào trong hạnh Thanh văn.

 

Lại nữa, này thiện nam! Ví như có người bị đau mắt, trải qua một tháng dùng thuốc chữa trị, mắt dần dần lành, thấy được. Nhưng lại có người thù hằn dùng ngọn lá tất-bát phẩy vào trong mắt, khiến người ấy mắt sáng bị mù tối như cũ. Nếu Bồ-tát tu hành, lúc tu Đại thừa, thoái chuyển vào hàng Thanh văn, căn ám độn ấy giống như người vô trí, dùng bột trắng chiên-đàn hòa lẫn với bùn dơ thoa lên thân thể, chiên-đàn trắng kia hòa với ác khí nên mùi của nó trước kia không còn nghe nữa. Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, do học tập hạnh của Thanh văn nên hành trang của công đức bị cấu nhiễm ô, khó gặp hạnh Phật, lại không thể tụ hội với các Bồ-tát đạt quả vị thanh tịnh trong chúng hội.

*********

16. Rút ra từ kinh Như Lai Tạng (nói rõ một hạnh):

-Quán niệm về nhân quả nhẫn nhục của Như Lai.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Ma-ha Ca-diếp:

–Ví như có người ngã xuống đất rồi trở lại dùng đất chống đất mà đứng dậy. Ca-diếp nên biết! Cũng lại như vậy, nếu ở trong giáo pháp của Phật mà điên đảo thì bị đọa vào địa ngục Vô gián. Nếu thọ trì Thánh đức của Như Lai thì từ trong địa ngục lại được ra khỏi. Sao gọi là nương tựa nơi Đức Như Lai, lại có thể nhất tâm nhớ nghĩ về Thánh đức của Phật, y theo lời dạy để tu hành?

Tôn giả Ma-ha Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Giả sử dùng tâm không thanh tịnh để quán sát Đức Như Lai hãy còn tự đạt được đại lợi ích, huống nữa là dùng tâm thanh tịnh quán sát Như Lai thì phước đó là vô lượng.

Phật bảo:

–Đúng như lời ông đã nói, chỉ có dùng vô số các thứ ý hành quán sát Như Lai đều sẽ vì đây mà giảng nói về con đường hướng đến Niết-bàn.

Tôn giả Ma-ha Ca-diếp thưa:

–Nay con đã hiểu lời chỉ dạy của Như Lai, thà ở trong giáo pháp của Phật mà phạm tội, còn hơn là thờ ngoại đạo và học các hạnh ác. Vì lý do đó, nếu ở trong giáo pháp của Như Lai hành tội phi pháp, đã khởi lên hành ác thì nhân của Niết-bàn có thể bị diệt. Nếu thờ ngoại đạo, khởi lên hành ác thì đều đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chịu các báo ác.

Phật nói:

–Đúng như lời ông đã nói! Ca-diếp nên biết! Ví như có người chê bai cây Tử đàn hương, vứt bỏ ném xuống đất, hủy báng cho là không thể thọ dụng. Này Ca-diếp! Ý ông thế nào? Tử đàn hương kia lại có thể tỏa mùi thơm tới người chê bai kia chăng?

Tôn giả Ca-diếp thưa:

–Bạch Thế Tôn! Mùi thơm của Tử đàn hương đó bay tới người chê bai kia, giống như trước không khác.

Phật nói:

–Ca-diếp nên biết! Nếu có chúng sinh chuyên nhớ nghĩ về Như

Lai, hoặc thấy Như Lai, hoặc nghe danh hiệu của Như Lai, thì những chúng sinh ấy đều được huân tập pháp môn giải thoát, cũng lại như vậy.

*********

17. Rút ra từ kinh Kim Quang Thượng Thắng Tỳ-ni (nói rõ một hạnh):

-Đồng nữ Kim Quang Thắng với nhân duyên của mười thứ hạnh nguyện xin xuất gia.

 

Bấy giờ, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi nói với Đồng nữ Kim Quang Thắng:

–Ngươi vì sao nên nghe Phật pháp?

Đồng nữ đáp:

–Do thích nghe pháp, nên nghe pháp của Đức Như Lai đã giảng nói để tu hành.

Khi ấy, Đồng nữ nương vào oai thần của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, cùng diệu lực nơi công đức trí tuệ của thiện căn mình, ở trong pháp hội kia thuyết pháp liên tục, nhân đó, một vạn hai ngàn chúng sinh phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có năm trăm hàng trời, người, trước ở trong tạng Bồ-tát tu tập căn lành, lúc đó là những Bồ-tát giác ngộ về pháp môn Vô sinh. Lại có ba vạn hai ngàn hàng trời, người, xa lìa phiền não, dứt hết trần cấu, đạt được Pháp nhãn thanh tịnh.

Lúc này, Đồng nữ thuyết pháp làm cho tâm họ đều vui mừng, nên nhập vào pháp môn giải thoát tùy thuận tỏ ngộ sâu xa. Đã hiểu pháp rồi, trở lại đối trước Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đảnh lễ, năm vóc sát đất, xin xuất gia:

–Cúi xin Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đem tâm đại Từ bi thuận nghe về pháp ấy. con nguyện đời này được dự vào hàng xuất gia.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Đồng nữ nên biết! Nếu Bồ-tát tu hành tự mình vui thích xuất gia, cạo bỏ râu tóc, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết là vì tất cả chúng sinh, cắt đứt mọi phiền não, khiến càng tinh tấn. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, dùng nước sạch nhuộm màu sắc, tạo ra y phục, ca-sa, ngọa cụ thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Vì trước hết là dứt trừ màu sắc tham, sân, si của hết thảy chúng sinh, khiến càng tinh tấn, đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, thọ cụ túc giới thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Vì nếu thấy chúng sinh phạm giới, thì khiến họ thâu giữ các hạnh, dứt điều ác, tu tập điều lành, đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, một mình ở nơi tịch tĩnh, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Vì Bồ-tát trước hết trừ diệt mọi ngu si của chúng sinh nơi năm đường khiến họ trụ vào trí tuệ. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, trụ vào hình tướng oai nghi, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Do trước hết là vì chúng sinh phát tâm đại Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, tu tập tinh tấn tạo công đức thiện căn thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Vì phải khuyến hóa chúng sinh phát khởi căn lành, tu tập công đức. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, ý cầu Niết-bàn, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết là vì hết thảy chúng sinh kiên tâm dốc cầu con đường hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là Bồtát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, diệt trừ phiền não nơi tự thân thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết nên vì tất cả chúng sinh, siêng năng cầu tinh tấn để dứt trừ phiền não cho họ. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, nguyện tỏ ngộ nơi thân tâm, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết vì tạo mọi thành tựu đầy đủ cho chúng sinh nên khiến tỏ ngộ về thân tâm. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, để giải thoát ách nạn cho mình, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết là nhằm cứu ách nạn của chúng sinh, khiến họ được giải thoát. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, chán lìa phiền não, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết vì tạo thành tựu trọn vẹn cho tất cả chúng sinh, thích trụ ở thế gian. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Nếu Bồ-tát tu hành tự mình thích xuất gia, nguyện vào Niếtbàn, thì không nên xuất gia như vậy. Vì sao? Trước hết là làm viên mãn hết thảy công đức thiện căn của Như Lai. Đó gọi là Bồ-tát xuất gia.

Lại nguyện cho tất cả chúng sinh mau được xuất gia, đó là xuất gia.

Lại có thể không còn thấy lỗi lầm của chúng sinh, đó là xuất gia.

Lại xả bỏ tất cả mọi trở ngại trừ diệt tội lỗi, đó là xuất gia.

Phàm là xuất gia buộc tâm lệ thuộc nơi người khác, nếu Bồ-tát tu hành thì chẳng phải bị lệ thuộc.

Đồng nữ thưa:

–Vì sao xuất gia gọi là lệ thuộc nơi người khác?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Phàm người xuất gia phải lệ thuộc nơi giới cấm, phải gìn giữ không phạm. Đó là lệ thuộc nơi người khác.

Phàm người xuất gia lệ thuộc nơi thiền định, không nên tán loạn. Đó là lệ thuộc nơi người khác.

Phàm người xuất gia lệ thuộc nơi trí tuệ, không nên ngu si. Đó là lệ thuộc nơi người khác.

Lại lệ thuộc nơi giải thoát, đó là lệ thuộc nơi người khác.

Không nên bị trói buộc, đó là lệ thuộc nơi người khác.

Đồng nữ thưa:

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Như thế nào là Bồ-tát tu hành chẳng bị lệ thuộc người khác?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Nếu Bồ-tát tu hành, không thọ nhận hành người khác thì chẳng phải lệ thuộc người khác, cũng chẳng chạy theo sắc của người khác, cũng chẳng phải trí của người khác, hay lời nói của người khác. Bồ-tát tự có trí Nhất thiết trí, vì thế không nên lệ thuộc người khác.

Khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi giảng nói pháp xuất gia này, có năm trăm Bồ-tát đều tự cởi ca-sa thượng diệu trên thân đem dâng cúng cho Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi khoác trên thân Bồ-tát, nói như vầy:

–Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã giảng nói về nhân duyên xuất gia hoàn toàn chân thật không hư dối. Chúng ta từ nay phải nên tu học.

Bấy giờ, đồng nữ Kim Quang Thắng đắc pháp về bản nguyện hóa độ đạt đến bờ giác, được ánh sáng trí tuệ, diệt trừ tối tăm, thấy rõ tội lỗi nơi sinh tử, duyên khởi của phiền não, liền đảnh lễ Đồng tử Văn-thù-sư-lợi, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi lên xe quay về bản cung.

*********

18. Rút ra từ kinh Hàng Phục Ma (nói rõ một hạnh):

-Ma vì Bồ-tát tu hành nói hai mươi loại ma chướng. Bồ-tát nên nhận biết không chấp giữ.

 

Bấy giờ, Thiên tử Thiện Kiên ở trong chúng hội thấy ma Batuần hóa hiện hình Phật ngồi nơi đạo tràng, Thiên tử hỏi Ba-tuần:

–Vừa rồi, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã nói về ma Ba-tuần hay tạo chướng ngại nơi hành nghiệp của Bồ-tát tu hành. Xin Ma vương nói cho, sao gọi là Bồ-tát tu hành bị ma chướng?

Khi nói lời này rồi, thì ma Ba-tuần như chợt tỉnh lại hóa ra hình cũ, thưa với Thiên tử:

–Bồ-tát tu hành gồm có hai mươi loại ma chướng:

  1. Cầu giải thoát, sợ hãi thế gian, cúng dường và tu học các luận của Du-già. Nên biết, đó là ma chướng.
  2. Tìm cầu tướng không, xa lìa không sinh. Nên biết, đó là ma chướng.
  3. Tu pháp vô vi, không thích thiện căn, công đức của pháp hữu vi. Nên biết, đó là ma chướng.
  4. Chỗ tu tập thiền định, không thích môn định của thế gian.

Nên biết, đó là ma chướng.

  1. Chỗ hiển bày giáo pháp, không khiến phát tâm đại Từ. Nên biết, đó là ma chướng.
  2. Tìm cầu con đường tinh tấn có đức, đối với người phá giới lại sinh giận dữ, chê bai. Nên biết, đó là ma chướng.
  3. Tán dương đạo hạnh của Thanh văn, ngăn che Đại thừa. Nên biết, đó là ma chướng.
  4. Tán dương Thế đế đã giảng nói, nếu nghe về nghĩa không không chấp trước, vô tướng của Đại thừa thì có thể che lấp. Nên biết, đó là ma chướng.
  5. Đã hiểu rõ con đường hướng đến đạo Bồ-tát, lại không cầu sáu Ba-la-mật. Nên biết, đó là ma chướng.
  6. Tự khen ngợi về tinh tấn, không khuyên chúng sinh từ bỏ biếng trễ ngã mạn. Nên biết, đó là ma chướng.
  7. Tu tập công đức, không nhớ nghĩ về Bồ-đề vô thượng. Nên biết, đó là ma chướng.
  8. Tu tập thiền định, chánh kiến. Không thấy rõ về chánh kiến của chúng sinh. Nên biết, đó là ma chướng.
  9. Chí cầu dứt trừ phiền não, chẳng nguyện ở trong ba cõi. Nên biết, đó là ma chướng.
  10. Tuy dùng trí tuệ quán sát Từ bi mà không thực hành. Nên biết, đó là ma chướng.
  11. Chỗ tu tập hạnh thiện, nếu chẳng phải là theo phương tiện thiện xảo. Nên biết, đó là ma chướng.
  12. Không tu học kinh điển nơi Bồ-tát tạng của Đại thừa mà lại học tập các luận của thế gian, ngoại đạo. Nên biết, đó là ma chướng.
  13. Thông đạt tuệ học nhưng tiếc giữ kinh pháp, sợ người khác học tập và hiểu biết. Nên biết, đó là ma chướng.
  14. Tận tâm đối với các việc thế gian, vốn không có ý học hỏi pháp vi diệu. Nên biết, đó là ma chướng.
  15. Nếu Bồ-tát tu hành thấy giảng nói về Đại thừa. Lại không cung kính, học tập, cũng không cúng dường. Nếu thấy người hành thừa Thanh văn, Duyên giác thì theo họ học tập, tương ưng, hòa hợp. Nên biết, đó là ma chướng.
  16. Nếu Bồ-tát tu hành đạt được danh tiếng vang khắp, không chỗ thiếu sót, hoặc chính mình gặp các bậc Thích, Phạm, Tứ vương, Đế chúa, đại thần, trưởng giả, đều không hiển bày vô lượng Thánh đức của Như Lai, không cúng dường, cũng không kính thuận. Nên biết, đó là ma chướng.

Thiên tử nên rõ! Bồ-tát tu hành có hai mươi loại ma chướng rất lớn như vậy, phải nên thâu giữ tâm, giác ngộ như giáo pháp đã dạy. Bồ-tát tu hành nhập vào thứ vị của Đại thừa rồi, phát tâm Bồ-đề, tu Thiền định ba-la-mật, hoặc đang ngủ nghỉ hãy còn không muốn nhập vào quả vị của hàng Thanh văn.

*********

19. Rút ra từ kinh Phú-lâu-na Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành bị tri thức ác nên có bốn loại nhân duyên thoái bỏ Bồ-đề, nhập vào nơi giải thoát của hàng Thanh văn.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Thánh giả Phú-lâu-na:

–Phú-lâu-na nên biết! Bồ-tát tu hành có bốn thứ pháp tương ưng khiến thoái bỏ Bồ-đề, trở lại nhập vào quả vị Thanh văn. Những gì là bốn?

1. Nếu Bồ-tát tu hành bị bạn tri thức ác cùng học hạnh ác. Những bạn ác này khiến Bồ-tát xa lìa hạnh Phật, xả bỏ chúng sinh, nói với Bồ-tát: “Ông có thể chán đủ về hành nghiệp như vậy, ba cõi xa vời khổ não vô cùng, thế gian thọ sinh, phiền não kết chứa không chút dừng nghỉ, thành Phật rất khó, tại gia từ bỏ thế tục lại càng rất khó, chỉ khiến tâm mệt nhọc, quá lâu xa nên chớ tu tập. Ông cũng chưa được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ông nay sức lực yếu đuối, không thể vượt qua con đường của năm cõi, giữa đường không thể đoạn tuyệt.” Bồ-tát tu hành nghe lời này rồi tâm sinh thoái lui, mang nỗi sầu lo, tức ở trong Bồ-tát hạnh, tâm không vui thích.

Phú-lâu-na nên biết! Đó là pháp thứ nhất, Bồ-tát tu hành thoái bỏ Bồ-đề, nhập vào nẻo giải thoát của hàng Thanh văn.

2. Nếu Bồ-tát tu hành không nghe đạo hạnh của Bồ-tát, chẳng nghe kinh điển nơi Bồ-tát tạng công đức tích tập của Bồ-tát, chỗ nêu bày về giới cấm của Bồ-tát, hướng đến con đường sáu Ba-la-mật, tương ưng với pháp chứng đắc, đều chẳng từng nghe. Đã chẳng từng nghe nên không thể như pháp tu tập, không biết dùng hạnh môn gì để tu hành, hạnh môn gì để xa lìa, nên theo pháp thứ lớp nào để tạo tác, pháp như thế nào không nên học tập. Sao gọi là pháp hành của Thanh văn? Sao gọi là pháp môn của Bồ-tát? Đã chưa rõ ràng, chẳng biết pháp nào để tu, nên tu thì không tu, không nên tu lại tu. Bồ-tát tu hành như thế thì Bồ-đề dần dần tổn giảm, đạo tâm dần dần phóng túng, trong lòng khiếp sợ, xả mất hạnh nguyện xưa, thoái mất Bồ-đề.

Phú-lâu-na nên biết! Bồ-tát tu hành thoái mất Bồ-đề như vậy mà nhập vào nẻo giải thoát của hàng Thanh văn.

3. Nếu Bồ-tát tu hành khởi lên dị kiến, nhàm chán thân mình, chấp hai bên tà và chánh, không lìa hạnh này, nên nghe pháp yếu vô thượng thâm diệu để được khai ngộ, trái lại sinh phỉ báng, khinh chê, bất tín. Do hủy báng pháp nên chết bị đọa vào địa ngục Vô gián, lại không thấy nghe Phật pháp, lại không tu Đại thừa, không gặp Thiện tri thức. Vì không gặp Thiện tri thức cho nên hạnh thiện bị lui sụt, nhập vào hạnh ác, cách xa bạn lành, hòa hợp với người ác, quên mất bản niệm, bỏ quả vị Bồ-tát thừa, không cứu độ chúng sinh trong ba cõi, không theo hành nghiệp của Đại thừa.

Phú-lâu-na nên biết! Đấy là pháp thứ ba tương ưng nên thoái mất Bồ-đề, nhập vào nẻo giải thoát của hàng Thanh văn.

4. Nếu Bồ-tát tu hành nghe pháp yếu thâm diệu không giảng nói cho chúng sinh, biếng trễ, ngã mạn, giấu kín, sụt lùi, tâm không muốn nêu giảng chỉ dùng một ít công sức để tu học, keo kiệt pháp của Phật, không thâu giữ chúng sinh. Do tội này, nên chỗ suy niệm dần dần tiêu diệt, nịêm hành diệt rồi nên không thể lường xét về pháp nghĩa, cũng không gắng nhận một phần giáo pháp, khi bỏ thân này, thoái mất Bồ-đề.

Phú-lâu-na nên biết! Đây là pháp thứ tư tương ưng khiến thoái mất Bồ-đề, nhập vào giải thoát của Thanh văn.

*********

20. Rút ra từ kinh Bảo Đồng Phu Nhân Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành bốn loại thật ngữ không hư dối, vượt qua các hành của Thanh văn, không nhàm chán.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo phu nhân Bảo Đồng:

–Bồ-tát tu hành có ba loại thật ngữ không hư dối. Những gì là ba?

  1. Không lừa dối chư Phật, Như Lai.
  2. Không lừa dối tất cả chúng sinh.
  3. Không lừa dối chính mình.

Phu nhân nên biết! Như thế nào là Bồ-tát tu hành không lừa dối Như Lai, không lừa dối tất cả chúng sinh và không lừa dối chính mình?

Nếu Bồ-tát tu hành, phát tâm Bồ-tát rồi, sau đó phát nguyện muốn chứng qua Thanh văn, A-la-hán phu nhân nên biết. Bồ-tát này là lừa dối Như Lai, lừa dối chúng sinh và lừa dối chính mình. Sao gọi là không lừa dối?

Nếu Bồ-tát tu hành, phát tâm Bồ-đề rồi, dù gặp các khổ não bức bách, cho đến bị tà ma, ngoại đạo Ni-kiền đùa cợt, mắng chửi, hủy nhục, dùng lời nói hình dung ra như dao, kiếm, thương, giáo, đâm vào tâm tổn thương… nhưng Bồ-tát tu hành không kinh sợ, không động loạn, không giấu diếm, không thiếu thốn, không sầu lo, không ăn năn, đều có thể nhẫn chịu, kiên cố không bỏ tâm báu Bồđề, không dời đổi, không lay động, ở trong ba cõi cứu độ chúng sinh, quy y Vô đẳng Vô thượng Bồ-đề, cho đến trong từng sát-na không nghĩ gì khác, thường nghĩ về chư Phật, nguyện chuyển pháp luân, thâu nhận chúng sinh, sinh đại oai lực, hiện rõ sức mạnh lớn, hạnh thiện bền chắc tu tập tinh tấn, chẳng chạy theo lời nói của người khác, không gì có thể hàng phục.

Phu nhân nên biết! Bồ-tát tu hành như vậy là không lừa dối chúng sinh, không lừa dối chính mình. Nếu có Bồ-tát hành trì như vậy, đó là thật ngữ tối đại, vô thượng.

Lại nữa, có bốn loại nhân duyên khiến Bồ-tát tu hành không lừa dối Như Lai:

  1. Tâm kiên cố.
  2. Tâm oai lực.
  3. Có sức mạnh không biếng trễ.
  4. Trì giới tinh tấn.

Lại có bốn loại nhân khiến không lừa dối tất cả chúng sinh:

  1. Tu học kiên cố.
  2. Tâm Từ ban vui.
  3. Tâm Bi cứu khổ.
  4. Thâu nhận giáo hóa chúng sinh.

Lại có bốn loại nhân khiến không lừa dối chính mình:

  1. Tâm kiên cố.
  2. Tâm kiên cố gấp bội.
  3. Tâm không dua nịnh, mê hoặc.
  4. Tâm không dối trá.

Phu nhân nên biết! Bồ-tát tu hành tức hội nhập vào quả vị thật ngữ bậc nhất, không lìa bỏ Bồ-đề, hạnh nguyện quá khứ cũng chẳng dời đổi, chẳng lay động.

Khi ấy, phu nhân Bảo Đồng thưa với Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Tôn giả có thể dùng thân nữ để thuyết pháp cho chúng sinh không?

Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

–Nay ta hãy còn chán thân nam tử, huống nữa là thọ thân người nữ.

Phu nhân thưa:

–Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Tôn giả thật sự chán thân này chăng?

Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

–Thật sự là chán thân này.

Phu nhân nói:

–Vì ý nghĩa này nên Bồ-tát tu hành vượt hơn hẳn tất cả chúng sinh. Vì sao? Vì nếu hàng Thanh văn chán, riêng Bồ-tát thì không có tâm chán. Nếu hàng Thanh văn có chỗ nghi hiềm, Bồ-tát thì không thế.

Thanh văn chán lìa năm ấm, sáu nhập, Bồ-tát thì không chán lìa.

Thanh văn chán việc thâu giữ thân phần, Bồ-tát thì không chán.

Thanh văn nhàm chán sự nhiếp hóa ba cõi, Bồ-tát thì không chán.

Thanh văn chán sinh tử ở thế gian, Bồ-tát thì không chán.

Thanh văn chán lìa công đức hữu vi, Bồ-tát tích tập mọi hành trang của công đức, không chán.

Thanh văn chán tạo duyên với chúng sinh, Bồ-tát làm thành thục tâm chúng sinh nên kết duyên không chán.

Thanh văn chán lìa xóm làng, Bồ-tát không chán luôn hội nhập nơi các quốc ấp, xóm làng, cung vua.

Thanh văn tự chán về phiền não, Bồ-tát có thể thâu giữ chúng sinh, không chán phiền não.

Tôn giả Xá-lợi-phất nên biết! Thanh văn đã nhàm chán xa lìa các hành, Bồ-tát đều có thể thâu nhận, giáo hóa nên không chán.

Xá-lợi-phất nói:

–Bồ-tát tu hành như vậy, dùng oai lực gì, do khí thế gì mà tâm không nhàm chán?

Phu nhân đáp:

–Bồ-tát tu hành tâm có tám loại tương ưng khiến không nhàm chán. Những gì là tám?

  1. Đối với các chúng sinh luôn hiện bày oai lực tâm Từ không não hại.
  2. Uy lực nơi tâm Bi thành tựu đầy đủ cho chúng sinh.
  3. Khéo tu tập hạnh nguyện vô tác.
  4. Uy lực của trí tuệ nên trừ diệt phiền não.
  5. Uy lực của phương tiện thiện xảo, không có mệt mỏi.
  6. Uy lực nơi công đức nên không thoái chuyển.
  7. Uy lực của trí tuệ nên diệt trừ ngu si.
  8. Uy lực của tinh tấn đầy đủ hội nhập, không bỏ nguyện xưa.

Tôn giả Xá-lợi-phất nên biết! Bồ-tát tu hành có tám loại năng lực hạnh nguyện tương ưng nên tâm không nhàm chán.

*********

21. Rút ra từ kinh Bảo Tích (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành so sánh với con đường của Thanh văn.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Ca-diếp:

–Giống như mặt trăng cùng với ngôi sao, không thể bỏ mặt trăng để trước hết nghĩ về các ngôi sao. Người trí cũng vậy, Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Vì tu tập nên chẳng phải xả bỏ niệm trước về Thanh văn. Lại nữa, giống như chư Thiên và người nơi thế gian cùng đem sức mài dũa ngọc lưu ly làm cho sáng trong, nhưng không do đâu làm biến đổi ngọc báu pha lê, dù có lau chùi, mài dũa rồi cũng trở lại như cũ.

Ca-diếp nên biết! Hàng Thanh văn cũng lại như vậy. Giả sử trì giới thanh tịnh hành mười hai hạnh Đầu-đà, hết thảy thiền định tương ưng, nhưng không thể làm được việc an tọa nơi cội Bồ-đề thành tựu bậc Đẳng chánh giác.

Này Ca-diếp! Ví như mài dũa ngọc báu pha lê trị giá vô lượng trăm ngàn, làm lợi ích cho vô số chúng sinh. Ca-diếp nên biết! Cũng lại như vậy, nếu Bồ-tát tu hành đạo hạnh thanh tịnh rồi, khi ấy, khiến cho vô lượng trăm ngàn Thanh văn, Duyên giác nhập vào pháp môn giải thoát.

 

ĐẠI THỪA TU HÀNH BỒ-TÁT HẠNH MÔN CHƯ KINH YẾU TẬP

QUYỂN HẠ

22. Rút ra từ kinh Hư Không Tạng Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hạnh do nhận biết bốn mươi lăm loại ma chướng, nên vượt qua bốn ma.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Hư Không Tạng:

–Này Thiện nam! Thế nào là Bồ-tát tu hành có thể hàng phục hết thảy tà ma, có thể vượt qua bốn ma?

Nếu Bồ-tát tu hành dùng trí tuệ nhận thấy tất cả các pháp giống như huyễn hóa thì có thể vượt qua Ấm ma.

Nếu nghe pháp thâm diệu của Phật rồi nương vào văn tự tìm cầu thì có thể vượt qua Uẩn ma.

Nếu tỏ ngộ về thường, lạc, ngã, tịnh thì có thể vượt qua Tử ma.

Nếu không lìa tâm Bồ-đề thì có thể vượt qua Thiên ma.

Như thế là Bồ-tát tu hành này có thể hàng phục tất cả ma chướng.

Sao gọi là Bồ-tát có thể hàng phục phá trừ ma chướng, không bị tà ma nhiễu loạn?

Thiện nam nên biết! Ma chướng gồm có bốn mươi lăm thứ, làm chướng ngại chánh hạnh:

  1. Nếu Bồ-tát tu hành tâm thích quả vị Thanh văn. Đó là ma chướng.
  2. Không nhớ nghĩ về Bồ-đề. Đó là ma chướng.
  3. Đã bố thí mà còn phân biệt. Đó là ma chướng.
  4. Cầu sinh chốn cao quý. Đó là ma chướng.
  5. Mong muốn thân tướng đoan nghiêm. Đó là ma chướng.
  6. Dốc cầu việc thế gian. Đó là ma chướng.
  7. Hành thì thiền định chấp vào sự vui thích. Đó là ma chướng.
  8. Dùng trí khinh chê những phần công đức nhỏ, ít. Đó là ma chướng.
  9. Không thích sinh tử nơi thế gian. Đó là ma chướng.
  10. Chỗ tu tập công đức mà không hồi hướng nơi Vô thượng Bồ-đề. Đó là ma chướng.
  11. Thấy chán nơi phiền não. Đó là ma chướng.
  12. Che giấu chỗ phạm tội không thể sám hối. Đó là ma chướng.
  13. Đối với Bồ-tát tu hành khởi tâm ganh ghét. Đó là ma chướng.
  14. Phỉ báng Phật pháp. Đó là ma chướng.
  15. Lừa dối, làm mê hoặc chúng sinh. Đó là ma chướng.
  16. Không tu sáu pháp Ba-la-mật. Đó là ma chướng.
  17. Đối với pháp của chư Phật không thích nghe. Đó là ma chướng.
  18. Keo kiệt trong khi truyền bá giáo pháp của Phật. Đó là ma chướng.
  19. Vì lợi dưỡng nên giảng nói Phật pháp. Đó là ma chướng.
  20. Chẳng dùng phương tiện để giáo hóa chúng sinh. Đó là ma chướng.
  21. Không thâu nhận chúng sinh. Đó là ma chướng.
  22. Đối với người phạm giới tỏ ra ganh ghét, khinh chê. Đó là ma chướng.
  23. Đối với người trì giới tinh tấn, tâm không kính trọng. Đó là ma chướng.
  24. Tu tập hạnh Thanh văn. Đó là ma chướng.
  25. Thuận theo hạnh của hàng Độc giác. Đó là ma chướng.
  26. Ý tu đạo nghiệp không đúng thời. Đó là ma chướng.
  27. Bỏ đại Từ bi mà cầu Niết-bàn. Đó là ma chướng.
  28. Thích tu vô vi. Đó là ma chướng.
  29. Nghi ngờ, chê bai pháp hữu vi. Đó là ma chướng.
  30. Chẳng hỗ trợ hạnh thiện của chúng sinh. Đó là ma chướng.
  31. Ngã mạn cao ngạo. Đó là ma chướng.
  32. Nói hai lưỡi, gây tranh chấp. Đó là ma chướng.
  33. Dối trá đối với chúng sinh, vọng nói chuyện thị phi. Đó là ma chướng.
  34. Dua nịnh, quanh co, nói dối, chỗ thích không chân thật. Đó là ma chướng.
  35. Đối với các chúng sinh, tâm không chân thật, ngay thẳng.

Đó là ma chướng.

  1. Tâm biến đổi hung ác. Đó là ma chướng.
  2. Tâm thay đổi thô dữ. Đó là ma chướng.
  3. Thấy người tạo tội không khuyên sám hối. Đó là ma chướng.
  4. Báng pháp, bất tín. Đó là ma chướng.
  5. Tùy theo dục lạc của mình. Đó là ma chướng.
  6. Thích làm những việc phi lý. Đó là ma chướng.
  7. Ưa thích phi pháp. Đó là ma chướng.
  8. Tất cả nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng hiện có trói buộc, tích chứa, không khiến cho tan diệt. Đó là ma chướng.
  9. Không trừ bỏ tâm cấu uế. Đó là ma chướng.
  10. Cùng duyên với thế tục. Đó là ma chướng.

*********

23. Rút ra từ kinh Cảnh Giới Như Lai (nói rõ một hạnh):

-Có các Tỳ-kheo ở nơi trụ xứ của Phật Ca-diếp đã được nghe pháp nên gặp giáo pháp của Đức Như Lai Thích-ca hóa độ. Vào vị lai, nếu có chúng sinh ở trong pháp Phật nghe nói về Đại thừa thì sẽ sinh vào ba hội của Phật Di-lặc.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề:

–Những Tỳ-kheo ấy đã nói lời chân thật không hư dối. Tu-bồđề nên biết! Khi Đức Như Lai Ca-diếp xuất hiện ở đời, các Tỳ-kheo ấy đều theo Phật, nghe pháp. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi do theo Phật, chỗ pháp thâm diệu được nghe ấy không có quên mất, thiện căn, trí tuệ được thành tựu viên mãn. Đời vị lai, trong giáo pháp của ta, nếu có người lãnh hội pháp sâu xa, nghe rồi thì nhớ nghĩ, chúng sinh như vậy đều ở trong số đông nơi ba hội của Phật Di-lặc, tuần tự đều nhập vào, huống nữa là Bồ-tát tu tập Đại thừa. Nếu có thể tu tập hạnh Đại thừa rồi, thì những người ấy thông đạt pháp nhẫn sâu xa.

*********

24. Rút ra từ kinh A-xà-thế Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Hiểu rõ về tạng Bồ-tát, tạng Thanh văn và tạng Duyên giác. Lại hiểu rõ về nhân của Thượng tọa.

 

Bấy giờ, Bồ-tát Bảo Nhât nói:

–Này thiện nam! Hành nghiệp của Đức Như Lai là chẳng thể nghĩ bàn, đối với pháp Đại thừa không thể xem thường, phải điều phục, học hỏi để ngộ nhập. Nếu Bồ-tát tu hành cho đến trong khi ngủ nghỉ cũng không thích hành nghiệp của hàng Thanh văn, Duyên giác. Nếu là thật tướng của Như Lai thị hiện nơi chúng sinh thì không nên keo kiệt, có thể nghĩ như vầy: “Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tu học Đại thừa, nhưng tâm vô đẳng này lại không tổn giảm”. Do chẳng tiếc giáo pháp, nên phải giác ngộ về nghĩa lý sâu xa nơi Đại thừa của Như Lai.

Này thiện nam! Ví như trồng cây, rễ bám sâu xuống đất thì cành lá hoa quả ắt sẽ sum suê, Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Đã có thể kiên trì nơi tạng Bồ-tát, nên cũng hiểu rõ hết thảy các thừa. Đó gọi là vô lượng thiện căn pháp khí của tạng Bồ-tát.

Này thiện nam! Sao gọi là Bồ-tát tạng? Nhân nơi gì mà gọi là Bồ-tát tạng?

Ví như trong biển cả có vô lượng giọt nước vô số tạp báu, các chúng Rồng, Dạ-xoa, Kiền-thát-bà, A-tu-la, Kim sí điểu chúa, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, cá Ma-kiệt…, vô lượng đủ các loài đều ở trong đó. Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy. Vô lượng pháp bảo ấn chứng như Bố thí, Trì giới, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến đều trụ trong đó. Thế nên gọi là Pháp tạng Bồ-tát. Ví như nơi biển cả, chỗ sinh ra nhiều loài chúng sinh, những loài chúng sinh ấy không thể uống nước nơi những sông khác. Nếu Bồtát tu hành, tu tập tạng Bồ-tát rồi, cũng không nên dùng pháp vị nơi thừa khác. Do vậy nên gọi là Pháp tạng của Bồ-tát.

Thiện nam nên biết! Gồm có ba tạng là tạng Thanh văn, tạng Duyên giác và tạng Bồ-tát Đại thừa.

Sao gọi là tạng Thanh văn?

–Là nương theo chỗ thuyết giảng của người khác, nương theo chỗ nghe nơi người khác mà đạt được đạo hạnh.

Sao gọi là tạng Bích-chi-phật?

–Là nương theo sự giác ngộ của chính mình để hội nhập môn diệt định thường, lạc, ngã, tịnh.

Sao gọi là Pháp tạng Bồ-tát?

–Là tỏ ngộ thông đạt về vô lượng pháp của chư Phật, phát khởi tâm Bồ-đề Vô thượng.

Này thiện nam! Nên biết, người theo thừa Thanh văn, Duyên giác không thể đạt được danh vị của ba tạng, chỉ có thể được gọi là ba thừa giáo. Nếu ai nghe vị pháp sư giảng nói về ba thừa giáo, đều tùy theo chỗ nghe mà được Niết-bàn. Do nơi ba thừa đều thọ nhận vâng theo, đủ ba thừa này nên gọi là ba tạng, nhưng chẳng phải là làm rõ nghĩa lý sâu xa của Đại thừa. Nếu Bồ-tát tu hành khi giảng nói pháp dùng pháp nơi ba thừa giáo hóa chúng sinh khiến vào Niếtbàn, thế nên Bồ-tát gọi là tam tạng.

Này thiện nam! Có ba loại học:

  1. Học của hàng Thanh văn.
  2. Học của hàng Bích-chi-phật.
  3. Học của hạnh Bồ-tát.

Sao gọi là học của hàng Thanh văn?

–Là phân biệt khiến tỏ ngộ tự tâm.

Sao là học của hàng Bích-chi-phật?

–Là hành theo trung phẩm, không có tâm bi.

Sao gọi là học của hạnh Bồ-tát?

–Là tùy thuận đại Bi, tự tỏ ngộ về trí nên tinh tấn hành thiện. Hàng Thanh văn, Duyên giác không theo hạnh môn của Bồ-tát, cũng không nhận biết về nghĩa. Còn Bồ-tát thì biết rõ về hành môn nghĩa lý của hai thừa, nhưng không nhiễm chấp. Bồ-tát tu tập, thâm tâm thích an trụ, có thể thị hiện ra con đường hướng đến giải thoát của Thanh văn, Bích-chi-phật mà không nhập vào quả vị đó.

Này thiện nam! Nếu Bồ-tát tu hành học hỏi như vậy, đó gọi là tạng Bồ-tát thừa.

Bấy giờ, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi đắp y, cầm bát, nói với Trưởng lão Ca-diếp:

–Nhân giả nên đi trước, chúng tôi theo sau. Vì sao? Vì như Trưởng lão Tu-bồ-đề được Đức Như Lai ngày trước độ xuất gia đã lâu, các vị tuổi đời, hạ lạp đều tôn quý. Trưởng lão từ ngày trước ấy phát nguyện: Nay tôi được độ để xuất gia, là nương và thế gian và các bậc A-la-hán. Này Trưởng lão Ca-diếp! Nhân giả nên đi trước, chúng tôi theo sau.

Lúc đó, Trưởng lão Tu-bồ-đề thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Ở trong pháp của Phật không nên cho tuổi già là trên trước, sống lâu là trên trước. Vì sao? Bồ-tát Văn-thù nên biết, ở trong pháp của Phật, trí tuệ là trên hết. Trí tuệ trên hết nên sở học cũng là trên, oai đức cũng là trên, những giáo pháp thâm diệu cũng là trên. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Trí tuệ của Bồ-tát là trên, giáo pháp là trên, oai đức vô ngại, quán khắp căn tánh thiện, ác của tất cả chúng sinh, tri kiến luôn sáng tỏ. Vì thế nên biết, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là tối tôn, tối thượng, Nhân giả nên đi trước, chúng tôi theo sau.

********

25. Rút ra từ kinh Ly Cấu Bồ-tát Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Các Bồ-tát từ trong hư không đi xuống. Thuở xưa người nữ do phát nguyện Bồ-đề, nên hiện chuyển thân thành nam tử.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo phu nhân Tịnh Quang:

–Phu nhân nên biết! Nếu có người nữ, dùng một hạnh, mau có thể lìa bỏ thân người nữ, thọ thân trượng phu. Một hạnh là gì? Là ý nguyện kiên cố, phát tâm Bồ-đề vô thượng.

Vì sao? Phu nhân nên biết, tâm Bồ-đề là đại trượng phu, là đại nam tử, chẳng phải là tâm bình thường, nên có thể xa lìa hạnh A-lahán, hàng phục, bẻ gãy tất cả các thứ quân ma, ngoại đạo, ở trong ba cõi là bậc vô thượng đoạn trừ hết các phiền não, tập khí. Nếu có người nữ chánh niệm, quy y Phật, khởi tâm Bồ-đề, thì không còn trở lại thọ thân người nữ, tâm thanh tịnh nên thân người nữ này trở lại chuyển thành thân nam, căn lành như vậy là hồi hướng cho tất cả người nữ. Vì hồi hướng, ban cho công đức ấy, nên cũng đều hồi hướng đến đạo quả Bồ-đề vô thượng.

Phu nhân nên biết! Do một hạnh nguyện ấy nên mau chóng lìa thân nữ chuyển thành thân nam.

Lúc đó, từ trong hư không thuộc pháp hội này có các Bồ-tát cùng đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi lui ra ngồi một bên. Thuở xưa, các vị Bồ-tát này đều là người nữ, hiện đã chuyển thành thân nam. Lúc này, các vị Bồ-tát ấy ở trong chúng hội, thấy các người chồng từ thuở trước nay đều là người xuất gia nên cùng an ủi:

–Các ông là Thiện tri thức của chúng tôi, nên mau phát tâm Bồ-đề vô thượng. Chư Phật ra đời khó có thể gặp, tu tập nhân công đức tạo, duyên hội họp này là rất khó. Nếu đối với chúng sinh khởi đại Từ bi, phát khởi tâm Bồ-đề vô thượng thì có thể thành tựu viên mãn, cúng dường hết thảy chư Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Khi các vị Bồ-tát nói lời ấy rồi, các Tỳ-kheo kia thưa các Bồ-tát:

–Hay thay! Đại trượng phu! Các vị đối với chúng tôi là Thiện tri thức, cứu độ tất cả chúng sinh, nay còn khuyên chúng tôi phát tâm vô thượng. Chúng tôi do lời khuyên của các vị nên khéo suy nghĩ, quy y hết thảy chư Phật. Chúng tôi nguyện vào đời vị lai thành tựu quả vị Đẳng chánh giác, đều như Đức Thích-ca Mâu-ni.

Chư vị Đại Bồ-tát và các Bồ-tát tu hành bạch Đức Phật:

–Bạch Thế Tôn! Xin Phật Từ bi độ chúng con được xuất gia.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Bồ-tát Di-lặc! Hãy độ cho những thiện nam này được xuất gia.

Bồ-tát Di-lặc nói:

–Như Phật đã dạy, con xin độ hết.

*********

26. Rút ra từ kinh Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Giải Nghĩa (nói rõ một hạnh):.

-Bồ-tát tu hành tu tập hai loại hạnh, đạt được mười thứ căn lành lợi ích.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:

–Bồ-tát tu hành do hai loại hạnh tương ưng nên không thoái chuyển nơi nguyện lành, tùy theo nguyện, vãng sinh đến cõi của chư Phật, không còn chướng ngại. Những gì là hai hạnh?

Nếu Bồ-tát tu hành không thích hành nghiệp của hàng Thanh văn, cũng không học tập, qua lại, không nói xen lẫn giáo pháp của bậc Thanh văn, cũng không khuyến hóa chúng sinh khiến vào trong pháp của Thanh văn và Duyên giác, chuyên vì Bồ-đề vô thượng để khuyến hóa chúng sinh tu học, thành tựu Thánh đức của Như Lai.

Nếu Bồ-tát tu hành khuyến hóa chúng sinh, khiến vào nơi Phật thừa thì đạt được mười loại lợi ích. Những gì là mười?

  1. Xa lìa hàng Thanh văn, Duyên giác, cho đến thành Phật, du hóa nơi các cõi.
  2. Gặp pháp của Bồ-tát thanh tịnh thì tập hợp lại.
  3. Thành Phật rồi, được chư Phật thâu giữ, hộ trì.
  4. Tiếng tăm vang khắp mười phương, trong pháp hội của chư Phật đều tán dương.
  5. Phát khởi tâm tối thắng, vi diệu không gì sánh kịp.
  6. Chỉ thọ thân của Phạm thiên, Đế Thích.
  7. Nếu sinh trong loài người, được ngôi vị Chuyển luân vương.
  8. Thường được gặp chư Phật, Như Lai.
  9. Được hàng trời người cung kính.
  10. Tích tập vô lượng công đức thiện căn.

Này Xá-lợi-phất! Nếu chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới đều được khuyên hội nhập vào quả vị La-hán và Bích-chi-phật. Nếu lại có người, chỉ khuyên một thiện nam, thiện nữ khiến an trụ vào quả vị Phật, thì công đức của người này nhiều hơn người trước kia. Vì sao? Xá-lợi-phất nên biết! Chủng tánh của Phật không phải do Thanh văn, Duyên giác phát khởi mà có thể bị đoạn tuyệt. Nếu Đức Như Lai không xuất hiện ở đời thì hàng Thanh văn, Duyên giác không có. Nếu chủng tánh của Phật không dứt thì Đức Phật xuất hiện ở đời, hàng Thanh văn, Duyên giác mới xuất hiện. Bồ-tát tu hành ở trong quả vị của Phật an lập cho người khác, nên được mười loại thiện lợi này. Vì thế, hai loại công đức tương ưng nên chẳng lìa hạnh nguyện, tùy theo nguyện, vãng sinh nơi các cõi.

*********

27. Rút ra từ kinh Quang Minh Biến Chiếu Phẩm (nói rõ một hạnh):

-So sánh về phước lực của Bồ-tát và Thanh văn.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Tỳ-lô-giá-na Nguyện Quang Minh:

–Ví như hai bên bờ sông Hằng có vô lượng trăm ngàn ngạ quỷ, bị đói khát bức bách, lõa hình lộ thể, dùng lửa cháy làm áo, thịt nơi thân luôn bị thiêu đốt, hình tướng khô gầy. Lại có các thứ diều hâu, quạ, bồ cắt bay vòng quanh, tranh nhau ăn thịt, cùng những thú dữ, chó sói giành giật bắt lấy. Do tội của ngạ quỷ nên chúng chẳng thấy sông Hằng. Ví như có chỗ thấy thì nước kia khô cạn, hoặc thấy là tro. Vì sao? Vì do các tội chướng nên chịu các khổ não nói không thể hết. Hàng đệ tử là Thanh văn, tuy cùng ở trong rừng Thệ-đa nhưng chẳng thấy thần lực quảng đại của Như Lai, chẳng nghe Đức Phật giảng nói về Bồ-tát tập hội, so sánh về pháp nghĩa. Vì sao? Vì mắt kia đã bị màng vô minh che lấp, chẳng từng gieo trồng các căn lành của quả vị Nhất thiết trí.

Này thiện nam! Ví như có người ở trong đại hội, đang ngủ say bỗng chốc mộng thấy nơi đỉnh núi Tu-di, chỗ ở của Đế Thích với thành lớn Thiện kiến, các cung điện, vườn rừng… tất cả đều trang nghiêm đẹp đẽ, trăm ngàn vạn ức Thiên tử, Thiên nữ, tung rải nhiều hoa trời biến khắp trên mặt đất đó. Vô số các cây y phục tao ra y phục vi diệu, vô số các cây hoa nở ra hoa vi diệu, vô số các cây âm nhạc tấu lên nhạc trời. Các thể nữ cõi trời ca hát rất hay, vô số chư Thiên đều ở trong các chốn đó vui chơi. Người kia tự thấy mình mặc y phục trời trụ dừng nơi khắp tất cả mọi xứ. Khi ấy, tất cả mọi người trong chúng hội, tuy cùng ở một chỗ mà chẳng biết, chẳng thấy. Vì sao? Vì ở đây là người nằm mộng thấy, chẳng phải là chỗ có thể nhận thấy của đại chúng kia. Hết thảy Bồ-tát và các vị vua ở thế gian, cũng lại như vậy. Do từ lâu tích tập diệu lực nơi căn lành, nên phát nguyện rộng lớn về Nhất thiết trí tu học công đức của tất cả chư Phật.

Bồ-tát tu hành trang nghiêm đạo pháp, làm viên mãn pháp của trí Nhất thiết trí, hành trì đầy đủ các hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền, hướng đến quả vị trí tuệ của tất cả Bồ-tát, hiển bày diệu dụng nơi các Tam-muội của Bồ-tát, đã có thể quan sát về cảnh giới trí tuệ của hết thảy Bồ-tát không bị chướng ngại. Thế nên, đều thấy Thánh đức thần biến tự tại chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai. Tất cả hàng Thanh văn nơi các đại đệ tử không thể thấy biết, vì không có mắt thanh tịnh của các Bồ-tát. Ví như Tỳ-kheo tâm được tự tại, nhập định diệt tận, sáu căn tạo nghiệp đều dừng lại, tất cả lời nói đều chẳng rõ, chẳng biết, nhờ định lực giữ gìn nên chẳng Bát-biết-bàn, do ở trong định nên không hiểu các pháp thế gian. Tất cả hàng Thanh văn cũng lại như vậy. Những vị đại Tỳ-kheo ấy cùng ở trong rừng Thệđa, sáu căn đầy đủ, lại chẳng thấy Thánh đức thần biến của Như Lai, chẳng thấy Bồ-tát tụ hội so sánh về pháp nghĩa. Vì sao? Vì chư Phật, Như Lai và Đại Bồ-tát có diệu lực tự tại sâu xa, nên hiếm thấy, khó gặp, công đức thiện căn của ở đời quá khứ thanh tịnh không xen tạp. Nếu là Thanh văn, Duyên giác thì không dự được phần này. Vì thế các Tỳ-kheo, tuy ở tại rừng Thệ-đa, dưới chân Như Lai mà chẳng thấy Thánh đức thần biến của Như Lai, cũng chẳng thấy Bồ-tát tụ hội so sánh về pháp nghĩa, do không tương ưng với trụ nơi quảvị Bồđề vô thượng.

*********

28. Rút ra từ kinh Xuất Sinh Bồ-đề (nói rõ một hạnh):

-Nói về ba loại Phật địa.

-Giải thích về chỗ cao thấp của ba thừa.

 

Bấy giờ, Bà-la-môn Ca-diếp Ngao-đát bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu người đã phát tâm Bồ-đề rồi còn có thoái thất không?

Đức Phật bảo Bà-la-môn:

–Nếu đã phát tâm Bồ-đề rồi thì không thoái thất. Vì sao? Bà-la-môn nên biết, có ba loại Bồ-đề:

  1. Bồ-đề của Thanh văn.
  2. Bồ-đề của Duyên giác.
  3. Bồ-đề vô thượng của chư Phật. Sao gọi là Bồ-đề của Thanh văn?

Nếu có thiện nam, thiện nữ ở trong hàng của Thanh văn, tuy phát tâm Bồ-đề cũng chẳng khuyến hóa, an lập cho chúng sinh khiến họ phát tâm Bồ-đề, cũng không hiển thị nghĩa lý sâu xa của Đại thừa, không kính người thực hành pháp Đại thừa, không cùng tu học, cũng không cúng dường, nếu thấy người đến chẳng đón, chẳng vui. Do hạnh này nên chỉ một mình giải thoát. Đó gọi là Bồ-đề của Thanh văn.

Lại nữa, này Bà-la-môn! Sao gọi là Bồ-đề của Duyên giác?

Nếu có thiện nam, thiện nữ ở trong hàng của Duyên giác, tuy tự mình đã phát tâm Bồ-đề, nhưng không khuyên chúng sinh khiến họ phát tâm Bồ-đề, không tu học giáo pháp Đại thừa sâu xa, cũng không chỉ dạy trao truyền cho người khác, không kính trọng người hành Đại thừa, không cùng học tập, cũng không cúng dường, nếu thấy người đến thì chẳng đón, chẳng vui. Do hạnh này nên chỉ một mình giải thoát. Đó gọi là Bồ-đề của Duyên giác.

Lại nữa, này Bà-la-môn! Sao gọi là Bồ-đề vô thượng?

Nếu có thiện nam, thiện nữ tự mình phát tâm Bồ-đề rồi, lại khuyên các chúng sinh cùng phát tâm Bồ-đề, điều phục an lập tu học pháp nghĩa của Đại thừa, vì người khác diễn nói rộng. Nếu thấy người hành Đại thừa thì hoan hỷ nghênh đón. Bà-la-môn nên biết! Những người ấy giải thoát cho các người khác, rồi an lập nơi hàng trời người, làm lợi ích thế gian. Đó là Bồ-đề của Đại thừa vô thượng.

Vì sao gọi là Bồ-đề vô thượng? Vì ở trong ba cõi tất cả đã làm xong lại về chỗ cầu đạt là vô thượng. Thế nên gọi là Bồ-đề vô thượng.

Khi ấy, Bà-la-môn Ca-diếp Ngao-đát bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Giải thoát của giải thoát có hai nghĩa chăng?

Phật nói:

–Giải thoát của giải thoát nghĩa không có khác. Lại nói đạo cùng với đạo nghĩa cũng không hai, vì người ở trong ba thừa nên có phân biệt.

Bà-la-môn nên biết! Ví như đi đường có ba loại xe: thứ nhất là xe voi, thứ hai là xe ngựa, thứ ba là xe lừa. Ba loại xe này tuần tự cùng đi vào cửa thành.

Này Bà-la-môn! Ý ông thế nào? Ba cỗ xe ấy có cao thấp không?

Bà-la-môn thưa:

–Có cao thấp, thưa Thế Tôn!

Phật nói:

–Như ba thừa: thừa Thanh văn, thừa Duyên giác và Phật thừa vô thượng có cao thấp cũng lại như thế. Do vậy, đạo cùng với giải thoát không có cao thấp.

Này Bà-la-môn! Ví như ba người cùng vượt qua sông Hằng, đến bờ bên kia. Một người qua được nhờ bè cỏ nổi, một người qua được nhờ phao nổi, còn người thứ ba thì tạo thuyền lớn, cùng với trăm ngàn chúng sinh qua được đến bờ bên kia. Sau đó giao cho người con trưởng trông coi thuyền ấy, dặn bảo: “Người đến đều phải chuyên chở đưa họ qua sông đến bờ bên kia.”

Người thứ ba đó tự mình đến bờ bên kia, lại có thể cứu giúp chúng sinh trong một nước.

Này Bà-la-môn! Ý ông thế nào? Chỗ đưa qua sông của ba người cùng lợi ích chăng?

Bà-la-môn thưa:

–Dạ không, thưa Thế Tôn!

Phật bảo:

–Này Bà-la-môn! Ý ông thế nào? Lợi ích của ba thừa có cao thấp không?

Bà-la-môn thưa:

–Có cao thấp, thưa Thế Tôn!

Phật bảo:

–Bà-la-môn nên biết! Thừa Thanh văn, thừa Duyên giác và thừa Vô thượng Phật, chỗ lợi ích có cao thấp, chẳng giống nhau.

********

29. Rút ra từ kinh Bảo Tụ (nói rõ một hạnh):

-Mới phát tâm Bồ-đề, so sánh với Thanh văn, La-hán cùng Bồtát tu hành về số lượng cao thấp, bất đồng.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:

–Nếu chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới này đều chứng đắc quả A-la-hán. Lại có chúng sinh nơi tam thiên đại thiên thế giới đều được thành Phật, đối trước chư Phật này đều đặt một vị La-hán, mỗi mỗi vị ấy đều cúng dường các Đức Như Lai kia, hoặc trải qua một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, cho đến trải qua hằng hà sa kiếp. Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Huống nữa là cúng dường vô lượng vô viên các Đức Như Lai, thì phước đó là rất nhiều, nói không thể hết.

Phật nói:

–Nếu có vô lượng vị A-la-hán như vậy, cúng dường vô lượng chư Phật như thế. Lại có người mới phát tâm Bồ-đề thì công đức của người ấy nhiều hơn công đức nơi số A-la-hán kia, huống nữa là do Bồ-đề không bị đoạn mất, nên cúng dường chư Phật và các đệ tử, Sư tăng, Hòa thượng, Thiện tri thức… cả đến bố thí một nắm cơm cho loài súc sinh, so công đức đó với công đức cúng dường của các vị Ala-hán thì trăm phần, ngàn phần không bằng cúng dường một người mới tu tập tâm Bồ-đề.

*********

30. Rút ra từ kinh Na-la-diên Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành trụ nơi bốn thứ Trụ địa, tu tập bốn thứ Hành.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Na-la-diên:

–Bồ-tát Na-la-diên nên biết! Ví như ngọc báu Phệ-lưu-ly, nếu đặt nó trong đồ đựng các vật xen tạp thì ánh sáng vốn có của ngọc báu lưu ly chẳng mất. Na-la-diên nên biết! Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, chỗ trụ trong Tam-muội, dù là y phục thế gian cũng gọi là xuất gia, không lìa đạo hạnh của pháp giới.

Khi Đức Phật nói lời này rồi, Bồ-tát Na-la-diên thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát trụ nơi địa nào mà không bị tổn giảm, tích tập công đức của các Tam-muội đạt được hành trang của trí tuệ vô tận?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo Bồ-tát Na-la-diên: –Bồ-tát có bốn loại trụ địa. Những gì là bốn?

  1. Đối với thân mạng không hề tiếc lẫn.
  2. Không thích danh tiếng, lợi dưỡng.
  3. Không thích mọi hoan lạc cho mình.
  4. Không nguyện thọ sinh mọi dục lạc của chư Thiên.

Đó là bốn loại trụ địa.

********

31. Rút ra từ kinh Tập Nhất Thiết Công Đức (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát vì các chúng sinh nên không lìa ba cõi.

 

Bấy giờ, lại có Bồ-tát bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Ví như nhiều người đều phạm tội hình, đến giờ hành quyết lại có một người đến giải thoát cho họ khỏi bị chết. Sau, người này trở lại, đến chỗ đao phủ bảo: “Ông hãy cầm dao giết tôi đi, giết tôi đi!”

Bạch Thế Tôn! Đó là ba cõi không khác với nơi chốn của pháp nhân. Hàng phàm phu ngu độn cũng như người phạm tội chết, Bồ-tát giải thoát cho thế gian, rồi trở lại tạo mọi đầy đủ cho các chúng sinh, như người phạm tội hình được thoát khỏi, rồi lại đi đến chỗ tử hình. Bồ-tát cũng lại như vậy, chẳng hề lìa ba cõi. Vì thế, chư Phật Như Lai đại Từ, đại Bi tương ưng với tâm Bồ-đề, nên Bồ-tát tu hành, vượt qua tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác. Vì sao? Vì hàng Thanh văn, Duyên giác không có tâm đại Bi ấy, cũng không có phương tiện thiện xảo.

********

32. Rút ra từ kinh Mật Nghiêm (nói rõ một hạnh):

-Hiển bày việc so sánh hạnh môn của Thanh văn và Bồ-tát.

 

Nếu có Bồ-tát, đối với các pháp, khéo dùng phương tiện thiện xảo để hiểu sâu xa pháp nghĩa thì sẽ đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu thành tựu Đẳng chánh giác rồi thì hiển dương chánh pháp. Nếu thấy năm ấm lìa nơi tự thân, quán thể tánh của các pháp là không có nhân, ngã, cũng không có chỗ động. Đây là giải thoát của hàng Thanh văn.

Nếu Bồ-tát tu hành nơi tất cả pháp hạnh, quán nơi hai biên, xa lìa mọi biên vực thì những vị ấy mau chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác. Nếu thấy rõ về biên vực nơi dục lạc rồi, thì đối với các chúng sinh không có tâm Từ bi, lìa bỏ duyên thế gian. Người như vậy, thành Phật rất là khó. Vui thay, trí tuệ của Như Lai, khiến các chúng sinh đạt được an lạc! Ví như hoa sen, tuy mọc lên ở nơi bùn dơ, nhưng rất thanh tịnh, tuy sinh ở chỗ bùn nhơ, mà sinh ra là để cúng dường chư Phật, Thánh hiền. Bồ-tát cũng lại như vậy, sinh ở chốn bùn nhơ là ba cõi, nếu thành Phật rồi thì được chư Thiên tán thán. Nếu Bồ-tát tu hành sinh trở lại ở thế gian thì sẽ được ngôi vị Chuyển luân vương thống lãnh bốn cõi thiên hạ. Nếu sinh lên trời thì tự làm Thiên chủ vua Càn-thát-bà. Vì không đoạn mất mà tương ưng với pháp Đại thừa nên chỗ sinh ra thường nhận được ngôi vị tối thắng hơn hết. Thế nên, Bồ-tát tu hành phải thâu giữ pháp Đại thừa, sẽ được ngôi vị thù thắng, rốt ráo thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

*********

33. Rút ra từ kinh Phạm Sát (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành phát đại hạnh nguyện nhẫn nhục.

 

Khi ấy, Đức Phật nói:

–Bồ-tát mới tu hành phải nên luôn phát hạnh nguyện tương ưng với phát Bồ-đề vô thượng, làm khô cạn mọi thứ khổ não của chúng sinh, vì phát đại thệ nguyện với tâm nhẫn nhục, nên tạo thành tựu đầy đủ cho các chúng sinh, nguyện cho đất nơi tam thiên đại thiên thế giới đều bằng Kim cang, thân ta phân tán ở trên đất đó. Ví như cỏ lau, cây mía, hoặc như mầm lúa, nhiều thân như vậy, đều chịu pháp khổ vui của thế gian, luôn nương nơi tất cả chúng sinh, biến làm sức mạnh của Na-la-diên, dùng sức mạnh đó, nên nguyện đối với thân ta sinh nhiều sân giận, ganh ghét, đều cầm chày Kim cang đêm ngày ba thời nghiền nát thân ta, giống như thuốc An-thiện-na nhãn nghiền nát rồi lại sinh, dựa theo như trước, không bỏ. Đối với những chúng sinh này, tâm ta không hiềm oán, ta nguyện chịu thay khổ ách này cho tất cả chúng sinh, không có gián đoạn, khiến xa lìa hết các khổ phiền não, không thoái chuyển nơi đạo quả Vô thượng Bồ-đề, không vào đạo quả của Thanh văn, Duyên giác, ta nguyện thành tựu quả vị Đẳng chánh giác để độ thoát tất cả chúng sinh.

*********

34. Rút ra từ kinh Nhất Thiết Chư Phật Sở Niệm (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành nhẫn nhục, thận trọng nơi ba nghiệp thân, khẩu, ý chẳng phạm trở lại.

 

Bấy giờ, Bồ-tát Thiện Đẳng Quán bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như thế nào là Bồ-tát tu hành trụ nơi hạnh môn nhẫn nhục, hổ thẹn?

Phật nói:

–Nếu Bồ-tát tu hành, do thân hành ác thì tự mình thận trọng hổ thẹn, do khẩu hành ác thì tự mình thận trọng hổ thẹn, do ý hành ác thì tự mình thận trọng hổ thẹn. Cùng với hàng Thanh văn, Duyên giác đàm luận hạnh ác thì tự mình thận trọng hổ thẹn.

Này thiện nam! Đó là nơi chốn hổ thẹn của Bồ-tát tu hành. Nếu có thể thận trọng hiểu biết rõ thì đạt đến quả vị Bồ-đề vô thượng.

********

35. Rút ra từ kinh Phát Tập (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành tu trì mười loại giới hạnh, lại có mười loại giới hạnh khác.

 

Bấy giờ Đức Phật bảo Đại Bồ-tát Vô Sở Phát:

–Này thiện nam! Ý ông thế nào? Sao gọi là Bồ-tát tu hành nói lời chân thật? Bồ-tát nếu đã phát tâm Bồ-đề rồi thì thà bỏ thân mạng chứ không bỏ Bồ-đề, đối với các chúng sinh chẳng hành phi pháp, đó là không vọng ngữ. Nếu Bồ-tát tu hành phát tâm Bồ-đề vô thượng rồi, sau lại trái với chí nguyện trước, nói lời sai trái, khinh dối, tức là Bồ-tát tu hành thoái thất Bồ-đề.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành sao gọi là niệm hành trì giới?

  1. Thích nghe pháp Phật, thành tựu viên mãn được bốn Tâm vô lượng. Đó là niệm hành trì giới.
  2. Chí cầu pháp Phật, thành tựu viên mãn được tâm khiêm tốn. Đó là giới.
  3. Cúng dường Thiện tri thức, thành tựu viên mãn được các thứ kỹ nghệ không khuyết. Đó là giới.
  4. Tu tập các hạnh Ba-la-mật, thành tựu viên mãn được trí Phật. Đó là giới.
  5. Nghe kinh điển, vì người khác mà giảng nói, thành tựu viên mãn nên có thể rộng nói kinh điển Đại thừa. Đó là giới.
  6. Thường nhớ nghĩ về pháp Phật, thành tựu viên mãn oai lực tổng trì sáng suốt. Đó là giới.
  7. Chuyên tu Bồ-đề, thành tựu viên mãn việc diệt trừ các tội chướng. Đó là giới.
  8. Không ganh ghét chúng sinh vì thế nên không mất Bồ-đề.

Đó là giới.

  1. Không thoái chuyển Bồ-đề, là không mất giới, Tam bảo hiện tiền.
  2. Niệm giới như như, quán xét tất cả, không khuyết.

Này thiện nam! Bồ-tát tu hành thường phải nên dùng tâm niệm về giới thiện như vậy.

Lại nữa, Bồ-tát tu hành có mười loại tâm Giới Bồ-đề:

  1. Vì cầu lợi ích cho tất cả chúng sinh, không phải vì lợi ích của riêng mình.
  2. Đạo nghiệp đã tu tập hồi hướng cho chúng sinh, nguyện mau chóng thành Phật, không phải chuyên vì riêng mình.
  3. Dùng hạnh kiên cố lợi tha làm sự nghiệp, cũng không phải vì mình.
  4. Giới hạnh thanh tịnh, Bồ-đề tăng trưởng, trải qua nhiều kiếp nhẫn nhục, không có mệt mỏi.
  5. Bố thí là giới, cho đến có thể xả bỏ đầu, mắt, tủy, não… để làm lợi ích cho chúng sinh.
  6. Trì giới là giới, Bồ-tát cũng không lìa bỏ các chúng sinh không giữ giới.
  7. Nhẫn nhục là giới, Bồ-tát không sợ tất cả quân ma.
  8. Tinh tấn là giới, vì chúng sinh nên tích tập Phật đạo, không hề mệt mỏi.
  9. Thiền định là giới, Bồ-tát dù bị các âm thanh làm náo loạn, tâm định cũng không lay động.
  10. Trí tuệ là giới, Bồ-tát thấy các pháp thế gian tưởng đồng với tướng không của Bồ-đề là giới. Bồ-tát không nhiễm thế gian, Từ bi là giới, không vào Niết-bàn, đó là pháp tập.

*********

36. Rút ra từ kinh A-sai-da-mạt Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành giới hạnh vô tận, người thực hành giới năng lực có tận.

 

Bấy giờ, Bồ-tát A-sai-da-mạt nói với Xá-lợi-phất:

–Bồ-tát tu hành trì giới vô tận. Xá-lợi-phất nên biết! Tương tục, không đoạn kiến.

Vì sao hàng phàm phu trì giới được sinh lên cõi thiện, giới lực diệt hết?

Nhân gian trì giới mười thiện, thọ rồi thì giới lực diệt hết?

Nếu giới nơi sáu cõi trời thuộc Dục giới với công đức quả báo hết thì giới lực diệt hết.

Nếu giới nơi các cõi trời Tứ thiền sắc giới diệt thì giới lực diệt hết.

Nếu giới của bốn Tam-ma-bát-đế ở cõi Vô sắc diệt thì giới lực diệt hết.

Nếu giới của Tiên nhân đạt ngũ thông mất thì giới lực của ngũ thông cũng diệt hết.

Nếu giới của tất cả hàng Thanh văn nhập vào Niết-bàn thì giới lực cũng diệt hết.

Nếu giới của Bích-chi-phật không có đại Bi thì giới lực bị diệt hết.

Xá-lợi-phất nên biết! Giới hạnh của Đại Bồ-tát là vô tận. Vì sao? Vì tất cả giới tịnh đều nhân nơi giới của Bồ-tát, thâu giữ để hiện tiền. Ví như hạt giống dần dần tạo được nhiều lợi ích, vô tận.

Xá-lợi-phất nên biết! Tâm Bồ-đề cũng như hạt giống, giới hạnh của chư Phật, Như Lai là vô tận, bậc Đại trượng phu ấy gọi là giới hạnh vô tận.

Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát tu hành ấy trì giới, nên giới hạnh là vô tận.

********

37. Rút ra từ kinh Tập Hội Phẩm (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành ở trong ba thừa, thấu rõ khắp các phương tiện thiện xảo.

 

Sao gọi là Bồ-tát tu hành ở trong tất cả các thừa đều dùng phương tiện thiện xảo?

Gồm có pháp ba thừa để đạt được giải thoát. Những gì là ba?

  1. Thừa Thanh văn.
  2. Thừa Duyên giác.
  3. Đại thừa.

Lại có hai thừa là: Thiên thừa và Nhân thừa.

Nơi ba thừa kia, sao gọi là Bồ-tát tu hành ở trong thừa Thanh văn mà có phương tiện thiện xảo?

Nếu Đức Phật không xuất hiện ở đời thì thừa Thanh văn không thành tựu. Vì sao? Vì nương theo người khác để nghe pháp, nên hiện ra Thanh văn.

Sao gọi là nghe pháp, trì giới, nhẫn nhục tích tập viên mãn?

Nếu tích tập giới viên mãn thì có thể tích tập thiền định viên mãn.

Nếu tích tập định viên mãn thì có thể tích tập trí tuệ viên mãn.

Nếu tích tập tuệ viên mãn thì có thể tích tập giải thoát được viên mãn.

Nếu tích tập giải thoát viên mãn thì có thể tích tập giải thoát tri kiến được viên mãn.

Theo các phương tiện như vậy, đó là phương tiện thiện xảo của Thanh văn. Thanh văn lại có phương tiện thiện xảo nơi phước đức bất động, các pháp không thuận hợp. Ở trong ba cõi sinh chán lìa, tất cả các hành vô thường, chán lìa phiền não, tất cả các pháp vô ngã, nên chuyên cầu Niết-bàn tịch diệt, cho đến trong trong từng sát-na chẳng cầu sinh tử nơi thế gian, luôn sợ vô thường, năm ấm, các hành không có tướng, nên dụ năm căn như tướng mãng xà, mười hai nhân duyên như xóm làng trống vắng, tâm không ưa thích tất cả sinh tử.

Hiển bày pháp ấy rồi, Bồ-tát tu hành tức nhận biết phương tiện thiện xảo trong thừa Thanh văn.

Sao gọi là Bồ-tát tu hành ở trong thừa Duyên giác mà có phương tiện thiện xảo? Do nhân duyên gì, Duyên giác được xuất hiện ở đời? Bồ-tát tu hành nên biết duyên khởi ấy là gì? Gia hạnh thích tu tinh tấn, thiền định, không trụ nơi chỗ tích tập hành trang công đức. Không trụ ở chỗ tích tập hành trang trì giới, nghe pháp một phần ít để tu tập; cũng không thân cận, cúng dường chư Phật, trí bậc trung ấy thường là xuất gia, tâm thấp kém nên tu tập ít dùng công lực, không thích lường xét về pháp tập, thích an trụ một mình nơi chốn vắng lặng, dốc cầu, khó nhập vào ngôi vị đại quán đảnh, thích đi khất thực, luôn nghĩ về pháp thường, lạc, ngã, tịnh, ra khỏi ba cõi, tìm cầu Niết-bàn, nên tự trí mình ngộ nhập vào định. Thích tu Tam-muội, chẳng phải nhờ người khai mà tự ngộ, dùng trí để tỏ ngộ rõ về chỗ dấy khởi nơi biên vực nhân duyên của tất cả các hành. Khi rõ pháp này rồi, Bồ-tát tu hành tức nhận biết phương tiện thiện xảo trong thừa Duyên giác.

Sao gọi là Bồ-tát tu hành ở trong Đại thừa dùng phương tiện thiện xảo?

Nếu hành Đại thừa thì phương tiện là vô lượng vô biên, nay ta chỉ lược nói. Công lực của thừa này, làm vì tất cả chúng sinh, khiến họ nhập vào thừa ấy, tích tập thiện căn làm hành trang của công đức, vì các chúng sinh thanh tịnh thâu nhận các Ba-la-mật, khiến nhập vào tất cả pháp. Do hành trì Phật đạo không gián đoạn, nên thừa này là vô ngại, ánh sáng chiếu khắp. Nếu tất cả chúng sinh của Đại thừa này đều là Khất sĩ, thì vượt hơn tất cả, không sợ đường tà. Thừa này là Thánh đức của Như Lai, thường ở trước mặt, có thể hàng phục tất cả tạp hạnh của các thứ tà ma, ngoại đạo, lại được hạnh thiện của Như Lai hỗ trợ, như lá cờ báu hiện rõ nơi cây không có gián đoạn. Thừa này có thể trừ diệt vọng tưởng chấp giữ về vô tướng, vô thường, kết sử, nghi hoặc, nhị biên trong ba cõi, đều có thể trừ đoạn về chỗ thủ đắc nơi thừa Như Lai, Phật là không chướng ngại. Thừa này có thể đối với tất cả pháp tích tập, thân cận Tam bảo, lợi ích người đời, đều được nương tựa, đi trên con đường không bị lừa dối, tất cả chúng sinh đều có phần. Vì sức kiên trì đại Bi của quá khứ nên thị hiện nơi này, dùng mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm nơi thân, khẩu, ý, đầy đủ ánh sáng tươi đẹp, vì mọi nơi không nghi ngờ, không lỗi lầm.

Đó là Bồ-tát tu hành dùng phương tiện thiện xảo trong Đại thừa.

********

38. Rút ra từ kinh Úc-già Trưởng Giả Sở Vấn (nói rõ một hạnh):

-Nói Bồ-tát tại gia nên tu bốn loại hạnh là nhân duyên không xuất gia.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Trưởng giả Úc-già:

–Bồ-tát tu hành tại gia, dùng bốn loại hạnh tương ưng mà được quy y nơi Như Lai. Những gì là bốn?

  1. Không bỏ tâm Bồ-đề.
  2. Không phát bỏ hành trì Tam-ma thiền.
  3. Không đoạn đại Từ, đại Bi.
  4. Không nhiễm tạp các thừa.

Đó là bốn loại hạnh tương ưng thành tựu sự quy y nơi Như Lai

Lại có bốn loại hành nghiệp tương ưng để quy y Pháp. Những gì là bốn?

  1. Cúng dường Pháp sư.
  2. Tôn trọng việc nghe pháp.
  3. Lắng nghe pháp rồi, thì dốc tìm cầu đúng đắn.
  4. Nếu được nghe pháp yếu thì vì chúng sinh mà giảng nói rõ, lưu truyền hồi hướng bố thí cho chúng sinh thành tựu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác.

Lại có bốn loại hạnh tương ưng để quy y Tăng:

  1. Chẳng ưa thích pháp Thanh văn, chuyên cầu Bồ-đề vô thượng.
  2. Nếu có chúng sinh tu hạnh nghiệp khác thì khuyên khiến tu học Phật đạo chân chánh.
  3. Không thoái chuyển nơi tâm Bồ-đề.
  4. Cúng dường Tăng chúng, tìm cầu hạnh nghiệp của bậc Thanh văn mà không thủ chứng nẻo giải thoát của Thanh văn.

Nếu Bồ-tát tu hành xả bỏ tất cả tài vật rồi thì trí phát sinh tâm bố thí, suy nghĩ như vầy: “Nếu có người đói khát đến xin đồ ăn thức uống đều nên thí cho.” Giả sử bố thí những vật cần dùng cho người, lại nghĩ như vầy: “Nhờ tất cả chỗ mong cầu mà thành tự Bố thí bala-mật.”

Bồ-tát tu hành tại gia thâu giữ giới hạnh như vậy.

Khi ấy, Phật bảo A-nan:

–Ông có thấy trưởng giả Úc-già cúng dường Đức Như Lai, tu tập pháp có thể bố thí các vật mình thích không?

Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con đã thấy việc này.

Phật nói:

–A-nan nên biết! Trưởng giả Úc-già trong Hiền kiếp này, có tất cả một ngàn Đức Phật xuất hiện ở đời, đều đem vô lượng của cải cúng dường đầy đủ, nên đã thâu giữ Phật pháp, tuy ở tại gia mà tu hạnh Tăng sĩ hành trì Phật đạo rộng khắp.

Lúc đó, A-nan hỏi Trưởng giả Úc-già:

–Này trưởng giả! Vì ý nghĩa gì mà ở thế gian giống như oán tặc, chỗ ở nơi thế gian có thể ưa thích? Nay gặp nhân duyên xuất gia sao tâm không vui nhận?

Trưởng giả đáp:

–Con không ưa thích thế gian. Vì sao? Vì Bồ-tát tu hành luôn tương ưng với đại Bi chẳng cầu dục lạc, dù nhẫn nhục, khổ não nhưng không bỏ chúng sinh.

Phật bảo:

–A-nan nên biết! Trưởng giả Úc-già tuy là tại gia, nhưng đã từng thành tựu đầy đủ cho số lượng chúng sinh, trăm ngàn vị Bồ-tát khác không thể có được sự thành tựu đầy đủ như vậy. Vì sao? Vì trăm ngàn vị Bồ-tát kia đều không có oai lực thiện xảo như một vị trưởng giả Úc-già.

********

39. Rút ra từ kinh Thù Thắng Cụ Giới (nói rõ hai hạnh):

-Bồ-tát tu hành mới phát tâm có thể thọ nhận vô lượng sự cúng dường về y phục, thực ăn uống, giường nằm, tọa cụ, phước đó vô lượng.

-Lại giải thích về thần lực của Long vương A-nậu-đạt-đa.

 

Bấy giờ Phật bảo các thiện nam:

–Này các thiện nam! Nên cùng ma tranh biện để tìm cầu Thánh vị. Nếu Bồ-tát tu hành khi thành tựu đầy đủ cho chúng sinh thì trước phải cùng với tà ma giao chiến, khiến tạo mọi biến hóa để tương ưng với hạnh thiện, chẳng tìm cầu thầy khác. Đó là pháp hành.

Các thiện nam nên biết! Nếu có người chê, nghi đối với hạnh Thanh văn thì các ông chớ nên chê, nghi. Nếu có người ưa thích tu hạnh Thanh văn thì các ông cũng chớ nên ưa thích.

Khi ấy, các Bồ-tát bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là chê, nghi về hạnh Thanh văn, nhưng Bồ-tát thì không như thế? Hàng Thanh văn cầu đạt mà Bồ-tát thì không cầu?

Phật nói:

–Nếu hàng Thanh văn chê, nghi về sinh tử thì các ông không nên chê nghi. Nếu sở nguyện của hàng Thanh văn là ưa thích Niếtbàn thì các ông cũng không nên ưa thích. Đó là pháp hành.

Lúc đó, Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Này Xá-lợi-phất! Nếu Đại Bồ-tát tu hành đối với các chúng sinh trong khắp thế gian mỗi ngày đều trao cho họ ca-sa, y phục, ý ông thế nào, sự bố thí như vậy là bố thí hoàn toàn thanh tịnh, chẳng như Bồ-tát mới tu hành mới phát tâm và phát tâm Bồ-đề vô thượng, từ đó về sau tức thành tựu tối thượng, Bồ-tát tu hành mới có thể thọ nhận sự bố thí y phục thanh tịnh như vậy.

Nếu Bồ-tát mới tu hành mỗi ngày nhận từng phần cơm thanh tịnh của người khác tích chứa như núi Tu-di tức có thể thọ nhận thanh tịnh, chẳng bằng Bồ-tát mới tu hành phát khởi tâm Bồ-đề, từ đó về sau thành tựu tối thượng, Bồ-tát tu hành mới có thể thọ nhận thức ăn thanh tịnh như vậy.

Nếu Bồ-tát mới tu hành thọ dụng tòa ngồi cao, rộng như bốn cõi thiên hạ, cao như núi Tu-di do bảy báu tạo thành như: Kim, ngân, pha lê, trân châu, mã não, kim cương… lại chạm trổ bằng đủ loại ngọc báu, dùng Thiên y để giăng che bên trên, ở nơi tòa kia, mỗi ngày đối với các chúng sinh thọ dụng thanh tịnh, chẳng bằng Bồ-tát mới tu hành phát khởi tâm Bồ-đề vô thượng, từ đó về sau, vì các chúng sinh sẽ thành thí chủ mới có thể thọ nhận tòa cao ấy.

Xá-lợi-phất nên biết! Ví như bốn phía cung của Long vương Anậu-đạt-đa sinh ra bốn con sông lớn:

  1. Sông Hằng.
  2. Sông Tư-đồ.
  3. Sông Bạc-xoa.
  4. Sông Tân-đô.

Chúng đều chảy vào biển cả, khiến nước biển luôn tràn đầy.

Bốn con sông lớn ấy đều có quyến thuộc:

Sông lớn Hằng hà có năm trăm sông nhỏ là quyến thuộc, chảy vào biển cả ở phương Đông.

Sông lớn Tư-đồ có năm trăm sông nhỏ làm quyến thuộc, chảy vào biển cả ở phương Nam.

Sông lớn Bạc-xoa có năm trăm sông nhỏ làm quyến thuộc, chảy vào biển cả ở phương Tây.

Sông lớn Tân-đô có năm trăm sông nhỏ làm quyến thuộc, chảy vào biển cả ở phương Bắc.

Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Bốn sông lớn ấy tùy theo hướng mà chảy ra trước khi đổ về biển cả, đã dẫn nước đến khắp đồng rộng, có thể tạo lợi ích cho chúng sinh ở thế gian?

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:

–Bạch Thế Tôn! Bốn sông lớn ấy đã tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh, nhân và phi nhân…

Như vậy, các sông lớn nhỏ chảy khắp trong thiên hạ làm thấm nhuần ruộng đất với các thứ lúa gạo, ngũ cốc, rau đậu, dầu, mè, các thứ cây nông nghiệp… đều nhờ nước của các con sông ấy dẫn vào đồng ruộng.

Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Bốn biển cả kia được tràn đầy ra sao?

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:

–Nhờ bốn con sông lớn đó mà biển cả tràn đầy.

Phật bảo:

–Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Bốn con sông lớn kia, ở trong biển cả có thể tạo lợi ích cho chúng sinh ra sao?

Xá-lợi-phất thưa:

–Bạch Thế Tôn! Làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.

Trước hết là tạo lợi ích cho vô số chúng sinh ở dưới nước và đất liền như cá, ba ba, cá sấu, giải, rồng, cá ma-kiệt, mãng xà, nhiều loại hình thù khác nhau ở trong biển… đến các hàng nhân, phi nhân đều được lợi ích. Còn có nhiều loại châu báu đầy khắp trong biển như trân châu, pha lê, mã não, mạt yết, xà cừ, hổ phách, mai khôi, san hô… đều đem lại lợi ích cho chúng sinh.

Này Xá-lợi-phất! Ý ông thế nào? Bốn biển cả này từ đây mà có?

Xá-lợi-phất thưa:

–Bạch Thế Tôn! Do Long vương A-nậu-đạt-đa mà có.

Phật nói:

–Này Xá-lợi-phất! Long vương A-nậu-đạt-đa này chẳng gặp ba nạn.

  1. Chẳng sợ Kim sí điểu ăn thịt nuốt thân.
  2. Các nóng chẳng rơi trên thân.
  3. Khi hành dục không biến thành rắn.

Còn các Long vương khác đều có ba nạn ấy, chỉ mỗi Long vương A-nậu-đạt-đa thì không bị ba nạn này. Cung điện của Long vương A-nậu-đạt-đa thường có những bậc thần thông thiền định tìm đến. Tất cả chúng sinh vào trong cung đó, cát nóng chẳng rơi trên thân.

Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Cung điện của Long vương A-nậu-đạt-đa do đâu mà có được oai lực công đức kỳ diệu như thế? Vì sao các Long vương khác, ngày đêm sáu thời đều bị ách nạn, chỉ có Long vương A-nậu-đạt-đa và nơi cung điện kia là không có nạn như vậy? Lại có vô lượng thiện căn công đức là nơi phát xuất của bốn sông lớn tạo lợi ích cho vô lượng sản nghiệp của chúng sinh.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Đúng như lời ông đã nói! Long vương A-nậu-đạt-đa là Đại Bồ-tát, là Bồ-tát tu hành Bồ-tát lớn lao.

Này Xá-lợi-phất! Ví như Long vương A-nậu-đạt-đa đối với ba thứ nạn kia đều được giải thoát. Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, cũng được giải thoát khỏi ba thử ách nạn, đó là nạn địa ngục, nạn ngạ quỷ và nạn súc sinh. Ví như từ nơi ao của Long vương A-nậuđạt-đa xuất phát bốn con sông lớn làm thấm nhuần rộng khắp đồng ruộng. Bồ-tát tu hành cũng lại như vậy, dùng bốn Nhiếp sự thâu giữ, giáo hóa các chúng sinh. Bốn Nhiếp sự đó là Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành và Đồng sự.

Này Xá-lợi-phất! Ví như nước nơi bốn biển cả, do bốn con sông lớn xuất phát từ Long vương A-nậu-đạt-đa mà được thành tựu, Bồ-tát mới tu hành cũng lại như vậy. Do phát sinh tâm Bồ-đề nên thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ví như trong bốn biển cả vô lượng vô biên trăm ngàn ức chúng sinh tương ưng với an lạc.

Xá-lợi-phất nên biết! Chúng sinh nơi ba cõi được an lập trong pháp Phật cũng lại như vậy. Nên thấy chúng sinh nơi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, hoặc chúng sinh nơi tam thiên đại thiên thế giới thọ nhận an lạc đều nhân nơi công đức của Bồ-tát mà hiện ra.

********

40. Rút ra từ kinh Giải Thâm Mật (nói rõ một hạnh):

-Bồ-tát tu hành tu tập sáu Ba-la-mật trụ nơi hạnh địa.

 

Bấy giờ, Bồ-tát Quán Thế Âm bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát tu hành ấy gồm có bao nhiêu trụ địa để tu học? Bồ-tát nên học như thế nào để có thể thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng?

Phật bảo Bồ-tát Quán Thế Âm:

–Này Thiện nam nên biết! Bồ-tát tu hành học nơi trụ địa lược ra có sáu loại, đó là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ.

Bồ-tát Quán Thế Âm bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sáu thứ trụ địa tu học như thế bao nhiêu là thụôc về Giới học, bao nhiêu là thuộc về Định học và bao nhiêu là thuộc về Tuệ học.

Phật bảo Bồ-tát Quán Thế Âm:

–Này thiện nam! Nên biết, ba loại học Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, là thuộc về Giới học. Một loại Thiền định là thuộc về Tâm học tăng thượng. Còn Trí tuệ thì thuộc về Tuệ học tăng thượng. Riêng Tinh tấn thì ta nói là hiện bày khắp tất cả ba học.

Bồ-tát Quán Thế Âm bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sáu thứ trụ kia tu học như vậy, bao nhiêu là hành trang của công đức, bao nhiêu là thuộc về hành trang của trí tuệ?

Phật bảo Bồ-tát Quán Thế Âm:

–Này thiện nam! Nếu nhân nơi phần thuộc về giới học, đó là

thuộc về hàng trang của công đức. Nếu tu học nơi phần thuộc trí tuệ thì đó là thuộc về hành trang của trí tuệ. Ta nói tinh tấn, thiền định, thì có mặt khắp tất cả, cũng nhập vào hành trang của công đức, cũng nhập vào hành trang thuộc về trí tuệ.

Bồ-tát Quán Thế Âm lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Đối với sáu loại ấy một là, đầu tiên đối với Ba-la-mật của Bồ-tát tạng do hạnh nguyện kiên cố, tương ưng với chánh pháp vi diệu. Hai là lần lượt ở nơi mười loại pháp hạnh, tinh tấn tu tập, dùng văn, tư, tu để thành tựu diệu trí. Ba là giữ gìn tâm Bồ-đề. Bốn là thân cận cúng dường Thiện tri thức đích thực không gián đoạn, siêng năng tu tập thiện phẩm.

Bạch Thế Tôn! Vì sao sáu loại trụ địa tu học ấy cả sáu thứ nguyện nhận biết nhân của nó.

Phật bảo Bồ-tát Quán Thế Âm:

–Này thiện nam! Có hai nhân duyên:

  1. Tạo lợi ích cho chúng sinh.
  2. Đối trị các phiền não.

Bồ-tát Quán Thế Âm nên biết! Trong sáu loại học ấy, ba loại trước: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục là tạo lợi ích cho chúng sinh. Ba loại sau: Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ là đối trị về nhân của tất cả phiền não. Trong đó Bồ-tát tu hành dùng ba loại trước là bố thí tức cung cấp vô số vật dùng cần thiết để thâu giữ nuôi dưỡng chúng sinh. Do trì giới, nên chẳng làm tổn hại, bức bách, não loạn, để khiến họ xa lìa oan gia. Do nhẫn nhục nên dù người khác đến muốn gây hại, bức bách, gây khổ não… đều có thể chịu đựng nhằm thâu giữ, cứu giúp chúng sinh.

Bồ-tát Quán Thế Âm nên biết! Ba loại đã nói ở trước là nhân của sự thâu tóm, bố thí cho chúng sinh. Ba loại sau là để đối trị phiền não. Bồ-tát tu hành do tu học tinh tấn, nên khiến phiền não bị khuynh động, tu học để có thể đối trị, nên dũng mãnh tu các phẩm thiện. Do tu học thiền định nên có thể tẩy trừ tâm phiền não. Do tu học trí tuệ nên trừ hẳn phiền não. Ba loại sau này là để đối trị nhân của phiền não.

********

41. Rút ra từ kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng (nói rõ một hạnh):

-Phu nhân Thắng Man phát mười đại thọ nguyện tán thán Đức Như Lai, Đức Như Lai liền xuất hiện.

 

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc và phu nhân Mạt-lợi tin pháp chưa lâu, cùng nhau nói:

–Con gái của ta là phu nhân Thắng Man, căn tánh thông minh, lanh lợi, mau tỏ ngộ, nếu được gặp Đức Phật, ắt chóng hiểu rõ về pháp, tâm không nghi ngờ. Nên kịp thời khiến tin tưởng phát đạo tâm.

Phu nhân thưa:

–Nay thật đúng lúc.

Vua và hoàng hậu đưa thư cho Thắng Man, tóm lược tán thán về công đức vô lượng của Như Lai.

Liền sai người hầu trong cung tên là Chiên-đề-la đem thư đến nước A-du-xà vào trong cung trao thư cho Thắng Man. Phu nhân Thắng Man được thư, hoan hỷ thọ nhận, đọc tụng, thọ trì, sinh tâm cho là ít có, rồi hướng đến Chiên-đề-la nói kệ:

Ta nghe âm thanh Phật
Ở đời chưa từng có
Quả lời thư chân thật
Phải nên tu cúng dường.

Cúi xin Đức Thế Tôn
Xuất hiện ở thế gian
Nên rủ lòng thương xót
Nguyện cho con được thấy.

Lúc sinh khởi niệm này
Phật hiện nơi hư không
Phóng ánh sáng chiếu khắp
Hiện rõ thân vô thượng.
Thắng Man và quyến thuộc
Đầu mặt lễ sát chân
Đều dùng tâm thanh tịnh
Tán thán công đức Phật.
Thân Như Lai nhiệm mầu
Thế gian không ai bằng
Vô thượng không nghĩ bàn
Thế nên con kính lễ.
Sắc Như Lai vô tận
Trí tuệ cũng như thế
Tất cả pháp thường trú
Thế nên con quy y.
Hàng phục tâm lỗi, ác
Cùng với thân bốn loại
Đến bậc khó điều phục
Thế nên lễ Pháp Vương.
Là Đấng Nhất Thiết Trí
Thân tự tại trí tuệ
Thâu giữ hết thảy pháp
Thế nên con kính lễ.
Kính lễ quá xưng lường
Kính lễ khôn sánh ví
Kính lễ pháp vô biên
Kính lễ khó nghĩ bàn.
Thương xót che chở con
Khiến giống pháp tăng trưởng
Đời nay và đời sau
Nguyện Phật thường thâu nhận.

Ta an lập cho con
Đời trước đã khai ngộ
Nay lại thâu nhận pháp
Đời vị lai cũng vậy.

Con đã tạo công đức
Hiện tại và vị lai
Các gốc thiện như vậy
Cúi xin được thâu nhận.

Khi đó, phu nhân Thắng Man nghe Phật thọ ký rồi nên cung kính đứng yên, thọ mười đại giới:

–Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồđề, chỗ giới con đã thọ không hề có tâm hủy phạm.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, đối với các bậc tôn trưởng, con không khởi tâm kiêu mạn.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, đối với các chúng sinh con không khởi tâm sân giận.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, đối với thân sắc người khác và những vật dụng bên ngoài con không khởi tâm ganh ghét.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, đối với các pháp trong ngoài, con không khởi tâm keo kiệt.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, con không tự vì mình nhận giữ của cải. Nếu có nhận giữ đều vì thành tựu đầy đủ cho chúng sinh nghèo khổ.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, con chẳng tự vì mình mà thực hành bốn nhiếp pháp mà tất cả chúng sinh, dùng tâm không ái nhiễm, tâm không chán đủ, tâm không ngăn ngại để thâu nhận chúng sinh.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồ-đề, nếu thấy các chúng sinh cô độc, tối tăm bệnh tật bị trói buộc cùng vô số các thứ khốn khổ ách nạn, con trọn không hề bỏ họ, mà thảy khiến họ được an ổn, dùng nghĩa tạo lợi ích khiến họ giải thoát các khổ, sau đó mới xả.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồđề, nếu thấy những người gây tạo nuôi dưỡng các luật nghi ác và phạm giới, con trọn không lìa bỏ. Khi con có được năng lực, đối với mọi nơi chốn, gặp các chúng sinh ấy người nên hàng phục thì hàng phục họ; người nên thâu nhận thì thâu nhận họ. Vì sao? Vì do hàng phục thâu nhận nên khiến pháp được an trụ lâu dài. Pháp được trụ lâu dài thì nơi cõi trời người thêm đông đúc, cõi ác giảm dần. Ở chỗ Như Lai đã chuyển pháp luân mà được tùy chuyển, thấy rõ lợi ấy, nên cứu giúp, thâu giữ không bỏ.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến ngày chứng quả Bồđề, con xin thâu nhận chánh pháp, trọn không hề quên mất. Vì sao? Vì người quên mất pháp thì quên mất Đại thừa. Người quên mất Đại thừa thì quên mất Ba-la-mật. Người quên mất Ba-la-mật thì không thích Bồ-tát Đại thừa. Người không quyết định Đại thừa thì không thể thâu giữ chánh pháp, muốn thuận theo chỗ ưa thích thì vĩnh viễn không kham nổi địa vị vượt phàm phu. Con thấy vô lượng lỗi lầm lớn như vậy, lại thấy các Đại Bồ-tát đời vị lai thâu nhận chánh pháp phát sinh vô lượng phước lợi, nên con thọ mười đại nguyện này.

Bạch Thế Tôn! Xin hiển hiện làm chứng cho con. Chỉ mỗi Đức Thế Tôn là hiện tiền chứng biết. Các chúng sinh, thiện căn vốn mỏng manh, ít ỏi hoặc vượt qua lưới nghi, dùng mười đại nguyện rất khó độ thoát. Các chúng sinh ấy như những kẻ trong đêm dài tăm tối làm những lợi ích phi nghĩa nên không được an lạc. Để tạo sự an lạc cho họ nên nay con đối trước Đức Phật, thệ nguyện nói lời thành thật. Nếu con thọ mười đại nguyện này đúng như lời nói mà hành trì thì do thệ nguyện này, xin ở trong đại chúng sẽ được mưa hoa trời và phát ra âm thanh trời vi diệu.

Khi nói ra lời này rồi, thì nơi hư không mưa các loại hoa trời, phát ra âm thanh vi diệu, nói:

–Đúng vậy! Đúng vậy! Như phu nhân đã nói là chân thật, không khác.

Do thấy hoa và nghe âm thanh kia, tất cả chúng hội đều trừ dứt mọi nghi hoặc, hết mực hoan hỷ cùng phát nguyện: “Thường cùng với phu nhân Thắng Man kết hợp, hành trì.” Đức Thế Tôn đều thọ ký cho tất cả đại chúng theo như sở nguyện của họ.

Bấy giờ, phu nhân Thắng Man lại đến trước Đức Phật, phát ba đại nguyện, nói như vầy:

–Dùng nguyện chân thật này làm an ổn vô lượng, vô biên chúng sinh. Do thiện căn này, đối với tất cả đời đều được trí lãnh hội chánh pháp. Đó là đại nguyện thứ nhất.

Con được trí lãnh hội chánh pháp rồi, đem tâm không chán bỏ vì các chúng sinh giảng nói. Đó là đại nguyện thứ hai.

Con thâu nhận chánh pháp, xin xả thọ mạng, của cải để hộ trì chánh pháp. Đó là đại nguyện thứ ba.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền thọ ký về ba đại thệ nguyện của phu nhân Thắng Man. Giống như hết thảy các sắc đều nhập vào cõi “không”, hằng sa các thệ nguyện của Bồ-tát như vậy, đều nhập vào trong ba đại nguyện này. Nguyện này là chân thật, rộng lớn.

********

42. Rút ra từ kinh Xuất Sinh Vô Biên Đà-la-ni Môn (nói rõ ba hạnh):

-Nói người hành trì Đà-la-ni nơi kinh này đến khi mạng chung có tám mươi ức chư Phật đến nghênh tiếp.

-Lại biểu thị ba thân của Như Lai.

-Lại nói Bồ-tát tu hành tu bốn hạnh môn vô tướng, mau chóng thành tựu Phật đạo.

 

Bấy giờ, Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Nếu các Bồ-tát tu hành vì cầu đạt đạo quả Vô thượng Bồ-đề, phải nên phát tâm rộng lớn, không còn nhiễm chấp, không lấy, không bỏ, thọ trì tụng niệm Đà-la-ni này.

Thế Tôn liền nói Đà-la-ni:

–Tả đà thể đàm, a noa ma noa, a khê ma khê, sa mạn đa mục khê, sa đê la dương, tảo dương, dục ngật đê, nê lỗ ngật đê, nê lỗ ngật đa bát tỳ, ế lê dương lê hê lê, khả lập tỵ, khả lập báng nê, khả lập bả tê, sa lê sa la hòa đê, hê la hê lê, hê lễ lê, hê la hể lễ lê, chiến đề, già hòa đê, giả lê già la noa, già la già la noa, a giả lê, án đê, án đa dê, khả la noa, a la noa, a tán đê, niết mạn nê, niết mạn đát nê, niết mục ngật đê, niết điện đê, niết đà lê, niết ha lê, niết ha la phục ma lê, niết ha la thiêu đà nê, thiêu đà nê, thi la thiêu đà nê, bát kiết đê mạt nê, bát kiết đê nê bả nê, bà hòa phục bà hòa nê, a tăng nghê, na dương, sai dương, vi bô la bát tỳ, tang cát tỷ noa, điệt lê, điệt điệt lê, ma ha điệt điệt lê, nê na nê, bà hòa phục bà lê nê, bà hòa nê, ma ha bà hòa nê, ngật tra nê, ma ha ngật tra nê, da xa hòa đê, giả lê, a giả lê, ma giả lê, sa ma giả lê, điệt trà tán nê, tốc tư thể đê, a tăng già tỳ ha lê, a tăng già tỳ ha lê, sa mạn đa mục khê, niết ha lê, niết ha la dục ngật đê, nê ha la phục ma lê, nê ha la thiêu đà nê, diệt trà tán nê, tốc tư thể đê, tảo dương tống ma hòa đê, tư đãng dương, tư đãng ma hòa đê, tư tham bà hòa đê, điệt trà tư thảng dương, tư đãng ma bát ty đê, ma ha bát tỳ, sa mạn đa bát tỳ, tùy ma la bát tỳ, tỳ ma la thấp dương, sa mạn đa mục khê, tát bà đát la nữ hạt đê, đấu na xả đà bát la đê bà nê, đà la ni nê đà nê, đà la ni mục kháng nô tán nê, tát bà bột đà bà sắt đê, tát bà bột đà diệt sắc sỉ đê, nê đà na ngao đê lê, sa ha.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Nếu Bồ-tát nào tu trì Đà-la-ni này, thì không nên phân biệt pháp hữu vi, vô vi, cũng không chấp trước, không tăng giảm, không thành, không hoại, không hợp, không tán, không sinh, không diệt, cũng không nghĩ các pháp quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng không tích tập, thâu giữ các pháp, chỉ nên tư duy về chư Phật chẳng phải sắc, chẳng phải không sắc, chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng. Bồ-tát không nên cùng các hàng Nhị thừa chấp giữ sắc thân của Phật. Vì sao? Vì hàng Thanh văn, Duyên giác chấp giữ tướng trang nghiêm nơi sắc thân của Phật. Bồ-tát thì không như vậy. Vì sao? Vì thân của Như Lai là tướng vô sinh, vì khắp chúng sinh, đối với tất cả pháp, do không soi chiếu về tư lương của tập trí, hiện rõ Pháp thân là tướng hư không, tướng vô sinh. Pháp thân của Như Lai dùng tướng vô sinh làm sắc uẩn, lại do ý nghĩa thâm diệu của tướng vô sinh, là thể của các pháp. Nhưng các Bồ-tát chẳng nên ở nơi phi sắc mà chấp tướng của Như Lai. Nếu do nơi phi sắc chấp giữ tướng của Như Lai thì đồng với Thanh văn, tức cho Đức Phật vào Niết-bàn tịch diệt thì sắc thân đoạn mất, không còn sinh nữa. Bồ-tát thì chẳng như vậy. Vì sao? Vì thân của Đức Như Lai là tướng vô tận, vì khắp chúng sinh nơi tất cả pháp, do chẳng soi sáng mà hiện rõ sắc thân, dùng pháp tạo tướng tích lập tư lương phước đức. Do sắc thân của Như Lai là tướng vô tận. Đó là sắc uẩn vô tận, thế nên, tướng của các pháp cũng là vô tận. Nếu độ thoát chết chưa hết cảnh giới của chúng sinh thì Như Lai luôn hiện ra sắc thân vô tận.

Này Xá-lợi-phất! Đối với phần Đà-la-ni trong kinh này thường sinh ra vô lượng diện môn. Bồ-tát tu hành nếu được nghe kinh này thì đối với đạo quả Vô thượng Bồ-đề đều không thoái chuyển. Vì sao? Vì trong ấy đã hiển thị tất cả thần thông Thánh đức của Như Lai. Lại nhân nơi kinh này mà tăng thêm lợi ích từng phần giới hạnh cho chúng sinh, giữ gìn pháp vô sở đắc.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ tụng:

Các ông chớ đắm trước
Hết thảy các pháp không
Nơi chư Phật Bồ-đề
Cũng không khởi phân biệt.
Đối Bồ-đề Niết-bàn
Cũng không sinh nghi hoặc
Nếu hay tu hạnh này
Mau được Đà-la-ni.
Nghe trong Khế kinh ấy
Tập trí, không vô tướng
Không sinh cũng không diệt
Nên mau chứng Bồ-đề.
Bồ-tát trì kinh này
Hiểu rõ vô lượng pháp
Được sinh cõi chư Phật
Thân cận bậc Tối thắng.
Nếu được Đà-la-ni
Quyết định nghĩa sâu xa
Tâm không sinh sợ hãi
Thọ trì pháp vô tận.
Tất cả mười phương Phật
Nói pháp đều nghe hết
Nghe rồi nên thọ trì
Cung kính mà phụng hành.
Nếu thọ trì kinh này
Đối văn tự, danh cú
Nghĩa vi diệu đã nêu
Trọn không còn nghi ngờ.
Như ánh sáng nhật nguyệt
Soi chiếu khắp mọi nơi
Biết rõ pháp môn này
Thông đạt vô lượng nghĩa.
Nên trì tụng kinh này
Liền tự mình hiểu biết
Tất cả pháp tối thắng
Diệu môn Đà-la-ni.
Giả sử trong một kiếp
Hết thảy các chúng sinh
Những nghi hoặc hiện có
Đều hỏi người trì kinh.
Khi Bồ-tát trì kinh
Đều vì họ giảng giải
Đã đoạn trừ lưới nghi
Trí Bồ-tát vô tận.
Nên ưa thích kinh này
Mau thân cận Bồ-đề
Đó là chân Phật tử
Hộ trì tạng bí mật.
Trì Đà-la-ni này
Chúng sinh đều cung kính
Chư Phật cùng ngợi khen
Danh vang khắp mười phương.
Vì do trì kinh này
Đến lúc sắp mạng chung
Thấy tám mươi ức Phật
Đều đưa tay dắt dẫn.
Cùng phát lời như vầy:
Ông sinh qua cõi ta
Do tụng trì kinh này
Hịên được phước như vậy.
Nếu trăm ngàn ức kiếp
Tạo tội, phải nên biết
Tụng Đà-la-ni này
Một tháng được thanh tịnh.
Bồ-tát trong ức kiếp
Siêng học các công đức
Tụng kinh này một tháng
Phước đó hơn người kia.
Khéo nghĩ, tuệ tinh tấn
Tam-muội Đà-la-ni
Vì kinh thường hiện tiền
Cho đến Như Lai địa.
Các chúng sinh ba cõi
Một thời đều là ma
Lo tụng trì kinh này
Đều không còn chướng ngại.
Trong kinh này giải thích
Tất cả các pháp môn
Mà nói Nhất thiết trí
Nhân đấy thành Chánh giác.
Ta nhân nghe kinh này
Nhiên Đăng thọ ký ta
Rằng ông sẽ thành Phật
Giải thoát các chúng sinh.
Lúc đó, thấy chư Phật
Số nhiều như hằng sa
Nghe như Phật thuyết pháp
Đều có thể hiểu rõ.
Nếu muốn được thọ trì
Pháp chư Phật đã nói
Siêng tu học kinh này
Mau thành lực như vậy.
Cõi trang nghiêm thù thắng
Đại hội các thánh chúng
Tướng ánh sáng diệu tộc
Đều từ kinh này được.
Nếu người qua bảy ngày
Suy nghĩ kinh này kỹ
Tám mươi ức chư Phật
Đều nói pháp như thế.
Nghĩ tà, đừng nên nghĩ
Không nên nghĩ, chớ nghĩ
Dùng trí nghĩ chân chánh
Mau được kinh điển này.
Siêng năng tu pháp môn
Chớ sợ xa Bồ-đề
Như người đến “chốn báu”
Tùy ý nhặt châu ngọc.
Nếu trì Đà-la-ni
Đừng nói không báo lành
Trời người đầy đủ vui
Gần Phật đạo chẳng khó.
Nếu nguyện mau thành Phật
Nên trì kinh điển này
Rốt ráo ắt sẽ được
Đại Bồ-đề vô thượng.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Nếu Bồ-tát thành tựu bốn pháp nhất định sẽ được Đà-la-ni này. Những gì là bốn?

  1. Không thích ái dục.
  2. Không sinh ganh ghét.
  3. Đối với các chúng sinh hay xả tất cả, không có giận dữ.
  4. Ngày đêm vui vẻ, hết lòng ưa thích cầu pháp.

Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát thành tựu bốn pháp như vậy thì được Đà-la-ni ấy.

Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Nếu Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì đạt được Đà-la-ni này. Những gì là bốn?

  1. Trụ hạnh A-lan-nhã, vắng lặng.
  2. Ngộ nhập vào pháp nhẫn sâu xa.
  3. Không thích danh tiếng lợi dưỡng.
  4. Có thể xả bỏ các vật yêu thích, cả đến thân mạng.

Bồ-tát thành tựu bốn pháp như vậy thì đạt được Đà-la-ni ấy.

Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Nếu Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì đạt được Đà-la-ni ấy. Những gì là bốn pháp? Đó là nhập vào nghĩa của tám chữ. Tám chữ là gì?

  1. Chữ Bả: Nghĩa thứ nhất này là nhập vào nghĩa vô ngã của tất cả các pháp.
  2. Chữ La: Là nhập vào Pháp thân vô sinh của Đức Như Lai. Do không soi chiếu về hành trang của Tập trí là tướng không chốn nhập, nên dùng tướng vô sinh làm sắc thân, dùng tướng vô tận làm nghĩa nhập của sắc uẩn.
  3. Chữ Ma: Là nhập vào nghĩa pháp pháp trí tuệ, ngu si tạo nên cùng loại.
  4. Chữ Khả: Là nhập vào nghĩa phân biệt nghiệp báo, cũng không nghiệp báo.
  5. Chữ Xà: Là nhập vào nghĩa tỏ ngộ về sinh, già, bệnh, chết, chẳng sinh chẳng diệt.
  6. Chữ Đà: Là nhập vào nghĩa thông tỏ, giác ngộ thể của pháp Đà-la-ni là Không, Vô tướng, Vô nguyện, vắng lặng như Niết-bàn.
  7. Chữ Xả: Theo pháp Xa-ma-tha, trụ vào tướng tịch định. Nơi Tỳ-bát-xá-na thấy đúng tướng của các pháp.

Như thế nào để được trụ vào tịch định? Là phải ngày đêm siêng năng, tinh tấn không gián đoạn quán hình tượng của Đức Phật, không nên chấp tướng, nên nghĩ nơi Tỳ-bát-xá-na, do trí tuệ nên thấy chân chánh.

Nếu hành giả thấy Đức Phật hiện ra, bèn cho là Phật thật, nên nghĩ như vầy: “Đức Phật này đã từ phương nào đến? Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương phụ, trên, dưới?”

Nếu cho Đức Phật ấy là do người tạo ra thì nên nghĩ như vầy: “Đức Phật này, đó là đất, cây, làm ra chăng? Hay là vàng, bạc, đồng, thiếc làm ra?”

Quán như vậy rồi, Phật được biết thấy chỉ là do ta ở trong tinh xá. Quán hình tượng Đức Phật, ngày đêm nhớ nghĩ, thế nên hình Phật thường hiện ra trước mắt. Do thế, nên biết, ta thường thấy nghe tất cả các pháp, bèn cho là thật, đều tự nơi tâm mình nhớ nghĩ mà khởi lên. Tức là Bồ-tát tu hành, thứ nhất là luôn tu tập định không trụ, cho đến địa Hoan hỷ.

Vì sao quán hình tượng Đức Phật, cùng trụ vào môn Thắng nghĩa đế? Nên nghĩ như vầy: “Ta nay đã thấy hình tượng của Phật, không phải là tướng của chủng loại nơi Phật hiện có. Đây chỉ là ta hiện đang quán sát nhân duyên của hình tượng, nên thấy hình tượng Phật, được vào trong định nhận biết tất cả các pháp cũng lại như vậy.”

Vì ý nghĩa đó nên thấy hình tượng Phật, không phải là hoàn toàn không thấy. Nên biết chữ Xả cùng với tất cả các pháp là không sai khác, đều cùng nhập vào nghĩa của pháp môn.

Tám là chữ Xoa là nhập vào nghĩa các pháp đều không, chẳng sinh chẳng diệt. Vì sao? Vì hiểu rõ các pháp xưa nay là vắng lặng, tự tánh là Niết-bàn.

Nghĩa của tám chữ ấy nên thọ trì như vậy, tùy theo nơi chốn nào có kinh này thì phải nên tôn trọng, cung kính, cúng dường, cứ mỗi nửa tháng thì đọc tụng diễn nói. Nếu thấy người đọc tụng kinh điển này thì nên tán dương, khuyên họ tinh tấn.

Này Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu có Bồ-tát tu hành, tu tập bốn pháp ấy thì đạt được Đà-la-ni.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.