LUẬN QUYẾT ĐỊNH TẠNG
Hán dịch: Đời Lương, Đại sư Chân Đế
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN HẠ

Phẩm ĐỊA TÂM, phần 3

Như trong kinh nói về sáu thứ thắng trí, nghĩa là ấm, giới, nhập, bốn đế, nhân duyên, hai mươi hai căn. Thắng trí như vậy làm sao phân biệt? Uất-đà-nam nêu:

Tướng, nghĩa cùng phân biệt

Thứ lớp thâu nhận nương

Dựa sáu thứ pháp này

Biết rõ ấm, giới, nhập.

Thế nào là tướng của sắc? Nghĩa là mười một thứ, từ nhãn cho đến xúc. Sắc có trong pháp nhập. Dựa nơi bốn đại có là bốn đại, đều là tướng ngăn ngại.

Thế nào là tướng của thọ? Nghĩa là có sáu thứ, như nhãn, nhĩ v.v… tiếp xúc sinh. Lại, ba thứ thọ có hai thứ nương dựa, là sắc và tâm. Nương dựa nơi sắc là thân thọ. Vì sao? Vì sắc của năm căn. Nếu căn có sắc, nương dựa nơi nhãn v.v… nên có thọ. Đó gọi là thân thọ. Vì sao năm căn không gọi là thân? Do tự tướng của căn nên dụng đều khác. Nếu do tướng khác thì không đồng với thân tướng, cho nên căn thọ không gọi là thân thọ.

Hỏi: Do không lìa thân, có các căn như nhãn v.v… Nương dựa nơi căn sinh thọ nên gọi là thân thọ. Nói như thế là không lỗi.

Nhưng nếu nói không lìa, cho là không lỗi thì tâm không lìa thân, thế nên tâm thọ cũng gọi là thân thọ? Phàm tất cả thọ đều gọi là thân thọ chăng?

Đáp: Thân cùng các căn không được lìa nhau, nhưng tâm thì không như vậy. Như có chúng sinh sinh nơi xứ vô sắc, lìa thân có tâm, vì thế căn thọ được gọi là thân thọ. Tâm có thể lìa thân nên gọi là tâm thọ. Tất cả thọ này có được hai tên gọi. Nghĩa là tất cả thọ đều là tướng dụng theo ba thứ nhân duyên: Một là lực hơn hẳn của trần. Hai là lực hơn hẳn của tư duy. Ba là lực hơn hẳn của tự tại.

Thế nào là tướng của tưởng? Có sáu thứ như trước. Lại, sáu thứ sinh như tưởng có tướng, tưởng không tướng, tưởng nhỏ, tưởng lớn, tưởng vô lượng, tưởng vô dụng. Tất cả tưởng này có hai thứ khác biệt: Một là thế gian. Hai là xuất thế gian. Duyên nơi cõi dục gọi là tưởng nhỏ. Duyên nơi cõi sắc gọi là tưởng lớn. Duyên nơi xứ không, thức gọi là tưởng vô lượng. Duyên nơi xứ vô sở dụng gọi là tưởng vô dụng. Các tưởng nơi cõi dục v.v… này gọi là tưởng có tướng. Tưởng nơi xứ phi tưởng phi phi tưởng gọi là tưởng không tướng. Tưởng xuất thế gian, nghĩa là các người học và người vô học, tất cả tướng này là tướng của tưởng phân biệt.

Thế nào là tướng của hành? Có sáu thứ như trước. Lại có năm thứ sự việc: Một là cùng với các trần. Hai là được cùng kết hợp. Ba là xa lìa hữu vi. Bốn là khởi nghiệp phiền não. Năm là tâm được tự tại.

Lược nêu ba thứ, thiện, bất thiện, vô ký, dẫn dắt tất cả quả, đó gọi là tướng của hành.

Thế nào là tướng của thức? Cũng có sáu thứ, đó là nhãn thức cho đến ý thức. Tướng của thức này phân ra lại có ba thứ: Một là phần dụng. Hai là phần duyên nhiều. Ba là phần trụ các dị. Phần dụng có ba. Phần cảnh có sáu. Phần trụ cũng có ba. Các phần như thế phân biệt là mười tám thứ giữ lấy trần làm tướng, là tướng của năm ấm.

Thế nào là nghĩa của ấm? Sắc là trong quá khứ, vị lai, hiện tại, cho đến tất cả các sắc xa gần, gọi chung là nghĩa của ấm. Các sắc như vậy, cho đến thức, như thế là gồm thâu chung tất cả hòa hợp đều gọi là nghĩa của ấm.

Vì sao Đức Phật nói hòa hợp là nghĩa của ấm? Do các ấm này chỉ là hòa hợp không có ngã thật, thế nên Đức Phật nói là nghĩa của ấm.

Thế nào là sắc ấm? Phân biệt có sáu: Một là tùy loại. Hai là tùy tướng. Ba là thức nương dựa và không nương dựa. Bốn là lìa thức và không lìa thức. Năm là tưởng trần. Sáu là sắc xứ cứu cánh.

Tất cả sắc này gọi là bốn đại và nương dựa nơi bốn đại. Đó gọi là tùy loại.

Tướng sắc có ba thứ: Một là sắc tịnh. Hai là trần tịnh. Ba là tâm trần. Cộng tướng đều là chất ngại. Tất cả các sắc đều cộng tướng.

Thế nào là thức nương dựa và không nương nương dựa? Số chúng sinh này gọi là nương dựa. Lại có sắc xứ, thức mới nhập cho đến sinh thọ, đó gọi là thức nương dựa. Lìa sắc như thế gọi là không nương dựa.

Thế nào là lìa thức và không lìa thức? Sắc không lìa thức, gọi là tự phần, vì cùng với thức và đồng dụng. Lại nữa, lìa thức gọi là chẳng tự phần. Tương tợ nối tiếp có thể sinh xúc, gọi là tự phần. Tuy tương tợ nối tiếp nhưng không sinh xúc gọi là chẳng tự phần. Có ba thứ tưởng gọi là sắc trần: Một là tưởng sắc. Hai là tưởng ngăn ngại. Ba là tưởng đủ loại. Tưởng sắc có ba tướng: Một là sắc hiển hiện. Hai là sắc ngăn ngại. Ba là sắc tích tụ. Ba tướng trần này như thứ lớp nên giữ lấy các màu xanh, đen v.v… gọi là tưởng sắc. Trở ngại cho người du hành gọi là tưởng ngăn ngại. Giữ lấy các tướng như nam, nữ, ruộng, nhà v.v… gọi là tưởng đủ loại.

Trần sắc, sắc cứu cánh lược nêu có hai: Nơi cõi dưới là thuộc cõi dục. Cõi sắc là tăng thượng duyên của nghiệp. Nếu là bốn không xứ, nương nơi đấy tạo nghiệp thì không có sắc. Nương nơi định tự tại có sắc diệu quang. Vì sao hết thảy sắc chủng đều được trí tự tại? Là do tu định hiện tại nên là sắc của định diệu.

Thế nào là thọ ấm? Phân biệt có năm thứ: Một là thọ loại. Hai là tự tướng. Ba là xứ sinh. Bốn là tư duy phân biệt. Năm là xứ diệt.

Thế nào là thọ loại? Là dụng pháp xứ.

Thế nào là tự tướng? Tức là khổ, vui, không khổ không vui. Lạc thọ là sinh lạc, trụ lạc, hoại khổ, là nhân duyên của ái chấp. Khổ thọ là sinh khổ, trụ khổ, hoại lạc, nhân duyên của lìa ái. Không khổ không vui là hành khổ nên khổ, là duyên của giải thoát ái. Tất cả thọ này thảy đều là khổ nên gọi là cộng tướng của thọ.

Thế nào là xứ sinh? Là từ mười sáu xúc nên thọ ấm được sinh. Những gì là mười sáu? Đó là xúc của sáu căn, xúc ngại, xúc y ngôn, xúc khổ, xúc vui, xúc không khổ không vui, xúc dục, xúc sân, xúc vô minh, xúc minh, xúc phi minh vô minh. Nương dựa nơi căn, giữ lấy trần, gọi là xúc của sáu căn. Nương dựa nơi trần suy nghĩ sinh ra xúc ngại. Nương nơi tâm phát ra lời nói gọi là xúc y ngôn. Nương nơi trói buộc hoặc giải thoát nên có xúc của ba thứ thọ là xúc khổ, xúc vui, xúc không khổ không vui. Xúc dục, xúc sân, xúc vô minh là nương dựa nơi trói buộc. Nương nơi giải thoát có xúc minh, xúc phi minh vô minh.

Thế nào là tư duy phân biệt? Tám thứ phân biệt của tất cả chư Phật có bao nhiêu thứ thọ? Thế nào là thọ tập? Thế nào là thọ diệt?

Thế nào là đạo của hành thọ tập? Thế nào là đạo của hành thọ diệt? Thế nào là thọ vị? Thế nào là lỗi lầm của thọ? Thế nào là xứ thọ diệt? Phân biệt tướng sinh có ba thứ thọ. Do có xúc tập nên có thọ tập, như kinh đã nói rộng. Đây là tám thứ tướng phân biệt thọ ấm: Một là phân biệt tự tướng. Hai là phân biệt hiện nhân. Ba là phân biệt nhân diệt. Bốn là phân biệt hiện tại vị lai. Năm là phân biệt thọ diệt đạo. Sáu là phân biệt trược dụng. Bảy là phân biệt thanh tịnh. Tám là phân biệt thọ diệt xứ. Đó gọi là phân biệt.

Thế nào là xứ diệt? Thiền thứ nhất diệt ưu căn. Thiền thứ hai diệt khổ căn. Thiền thứ ba diệt hỷ căn. Thiền thứ tư diệt lạc căn. Định diệt tận diệt xả căn. Đó gọi là phân biệt xứ thọ diệt.

Thế nào là tưởng ấm? Phân biệt có năm thứ: Một là theo loại. Hai là theo tướng. Ba là điên đảo. Bốn là không điên đảo. Năm là quyết định.

Giữ lấy biệt tướng của cảnh có thể sinh pháp tưởng đó gọi là theo loại.

Theo tướng có sáu thứ, như trước đã giải thích. Giữ lấy cảnh tuy có khác nhưng đều là cộng tướng của tưởng, gọi là theo tướng.

Phàm phu vô trí bị vô minh che lấp tâm, khởi tư duy tà vạy, dựa nơi hai kiến, phát xuất bốn điên đảo. Dựa nơi vô thường cho là thường, là tưởng tu thường. Dựa nơi kiến thủ phát xuất hai điên đảo, là trong khổ cho là vui, bất tịnh cho là tịnh. Dựa nơi thân kiến phát xuất ngã điên đảo, ở trong vô ngã giữ lấy tướng pháp ngã. Như tại gia gọi là tâm điên đảo. Như người xuất gia gọi là kiến điên đảo. Phân biệt lại có tưởng dị điên đảo. Đối với bốn loại sinh tưởng tu tập tà vạy gọi là tưởng điên đảo. Đối với bốn loại sinh trí quyết định khởi phân biệt tin tưởng gọi là kiến điên đảo.

Thế nào là tưởng không điên đảo? Là các người có trí, không có vô minh, khởi suy nghĩ chân chánh. Đối với cảnh vô thường thấy vô thường, đối với khổ thấy khổ, đối với bất tịnh thấy bất tịnh, đối với cảnh vô ngã thấy vô ngã. Khởi tưởng tu tập chân chánh gọi là tưởng không điên đảo. Ở nơi bốn thứ này có thể khởi tín vui, gọi là tâm không điên đảo. Đối với bốn thứ ấy đều chánh kiến chánh tri, gọi là kiến không điên đảo. Đó gọi là tưởng không điên đảo.

Thế nào là quyết định? Phân biệt có năm thứ: Một là quyết định về trần. Hai là quyết định về dụng. Ba là quyết định giả danh. Bốn là quyết định không thật. Năm là quyết định nghĩa thật. Giữ lấy tự tướng của trần, giữ lấy sự tương tợ, là quyết định về trần. Đối với trần sinh thọ nhận giữ lấy tướng riêng biệt gọi là quyết định về dụng. Dựa nơi mình và người gọi là sinh, là tướng như tánh v.v…, tùy nơi ngôn ngữ thế tục tạo ra cảnh giới của tưởng, gọi là quyết định giả danh. Điên đảo giữ lấy trần, gọi là quyết định không thật. Giữ lấy trần như thật gọi là quyết định nghĩa thật.

Thế nào là hành ấm? Phân biệt có năm thứ: Một là trần. Hai là biệt trụ. Ba là bất tịnh. Bốn là thanh tịnh. Năm là sự. Sáu thứ lực thù thắng của tụ tư duy dẫn dắt quả, đó gọi là hành nơi trần. Hành không tương ưng như sinh, lão, trụ v.v… hòa hợp tích tụ, gọi là hành biệt trụ. Vì sao? Vì mỗi mỗi thứ đều khác biệt nên gọi là hành biệt trụ. Hành như ba độc v.v… gọi là hành bất tịnh. Các căn thiện gồm năm căn như tín v.v… gọi là hành thanh tịnh. Như năm thứ ở trước nhận biết cùng với trần v.v… gọi là sự.

Thế nào là thức ấm? Phân biệt cũng có năm thứ: Một là xứ nhập. Hai là bất tịnh. Ba là nương dựa. Bốn là trụ. Năm là nhiều loại. Trong cõi dục, thức nương dựa nơi sắc bên ngoài để nhập gọi là xứ nhập. Sắc giới, Tịnh thiên dựa nơi tự ấm, đó là danh sắc. Xứ nhập của thức tức có hai nhập. Thức của bốn không xứ dựa nơi bốn ấm của mình gọi là xứ nhập, là phân biệt xứ nhập. Thức của phàm phu này nương nơi hai thứ lạc sinh ở bất tịnh. Do dựa nơi dụng lạc của trần hiện tại nên bất tịnh. Nương theo khổ vui của sinh lão v.v… nơi vị lai nên bất tịnh, gọi bất tịnh. Thức nương dựa có sáu thứ, là thức sinh nương dựa nơi sáu nhập như nhãn v.v… Thức nương dựa được sinh nên được sáu tên gọi.

Ví như dựa nơi lửa trấu, thì lửa phân bò v.v… cũng lại như thế.

Phân biệt bốn xứ thức trụ như trong kinh nói. Ấm nương dựa nơi cảnh giới là xứ tâm trụ. Có thức trụ trong sắc, như kinh đã nói rộng. Cho đến ta nói thức không đến phương Đông, các phương khác cũng như vậy. Ở trong đời hiện tại không thích Niết-bàn, tự đến chốn tịch tĩnh trong mát để được phạm tự tại. Ta nói như vậy là thuộc về kinh như Đức Như Lai đã nói. Xứ trụ của bốn thức, sau sẽ nói rộng.

Lại lược nêu trụ xứ duyên của ba hữu hữu rốt ráo có duyên trụ tĩnh. Đức Phật nói ba thứ này hiển bày bốn thức trụ. Cảnh phiền não giống với phiền não dựa trụ. Thuyết này gọi là chấp trước phiền não. Do hai thứ ấy nên gọi là chấp trước nơi cảnh: Một là cảnh. Hai là thủ. Cảnh tức là ái duyên nơi phiền não, như nói đây là vật của ta, tức là chấp nơi cảnh. Phiền não ngã kiến là tư duy về ngã. Lại có bốn thứ kiết nơi thân như tham v.v…, là nhân duyên của nghiệp tức giữ lấy cảnh. Chỗ chấp như trên là trụ xứ của tâm. Vì sao? Vì cảnh của các phiền não dựa nơi tâm nên được trụ. Cũng như áo ướt thì bụi bặm dễ bám, ruộng tốt thì hạt giống dễ tăng trưởng. Các người phàm phu chưa chán lìa ái dục nên đối trị phải chịu thức dẫn dắt. Trong đời vị lai tức được thọ sinh, tất khiến đầy đủ. Cho đến chưa xả bỏ tánh phàm phu, thì sự thọ sinh này sẽ khiến đầy đủ, gọi là chủ thể trụ. Sinh này nối tiếp gọi là nơi chốn sinh tử. Ngoài ra như trước đã nói ở duyên trụ. Như vậy, tất cả gọi là trụ xứ của duyên hữu. Hữu trong sắc giới, các thức đi đến, trong vô sắc giới nói là tâm không sinh. Ba xứ này trụ cho đến thọ mạng dứt hẳn. Như trước, hai xứ được sinh tăng trưởng và lớn mạnh. Như vậy, do lượng xét nên được biết trụ xứ cứu cánh của các thức. Nếu có người nói khác với nghĩa này, chỉ văn tự là khác còn lý thì không khác. Vì sao? Vì văn tự theo nghĩa riêng, không có phân biệt. Nếu có người hỏi thì không thể đáp, tức liền tư duy: Ta làm sao đối thoát. Nếu có đáp, sau đó lại suy nghĩ: Ta thật ngu si, tự mình không hiểu biết mà trả lời người khác hỏi. Thế nên, người trí từ tất cả sắc cho đến hành ấm, các kiết như ái v.v…, do tạm điều phục nên không thể sinh nghiệp trói buộc, do có trí tuệ nên căn bản vĩnh viễn diệt hết. Vì sao nhận biết? Vì các người tại gia dựa nơi kiết tham sân tức có thể tạo nghiệp, tạo nhân duyên trần vị, nhân duyên oán ghét. Đối với người xuất gia, giới thủ kiết thật nên có thể sinh nghiệp. Giới thủ phiền não cùng với tham đồng tướng, nguyện cầu sinh thiên. Do phiền não kiết thật cùng với sân đồng tướng, nên hủy báng Niết-bàn. Các kiết như vậy dựa nơi địa tâm, từ tư duy sinh, các phiền não này nên đối trị diệt. Dục giữ lấy sắc làm cảnh, tức được vĩnh viễn diệt. Do diệt này nên các thức có Hoặc ở bốn trụ xứ tức không trụ lại, các thức được đối trị thật thanh tịnh. Như vậy được nhận biết trụ xứ tịch tĩnh, do duyên diệt nên nơi đời vị lai sự nối tiếp có được do sinh đầy đủ không sinh trở lại. Đó gọi là trụ duyên hữu. Thức A-ma-la tịch tĩnh đối trị với thức, thế gian nói là thanh tịnh sâu xa, gọi là chẳng trụ. Lại nữa, thức này không là duyên sinh. Môn giải thoát không do khéo tu tập nên không thể sinh nghiệp. Môn giải thoát vô nguyện do khéo tu tập tức có thể biết đủ. Môn giải thoát vô tướng do khéo tu tập nên trụ nơi bất động, như bốn nghĩa trước, được chánh giải thoát. Quán xét hành đối với trần, đối với ngã, ngã sở, không có chỗ chấp giữ tham đắm. Thế nên các trần như sắc v.v… tức diệt hoại. Tâm không còn khát ái. Các tướng này khiến tâm rất thanh tịnh. Do thức thanh tịnh nên không tự hoại diệt, cũng không bị các duyên khác hoại diệt. Vì không nối tiếp nên đối với mười phương xứ không còn nhập sinh, đối với sinh tử không còn tham dục. Nói không cầu dục, tâm ví như cây, thọ dụ như bóng, đối với thời cả hai đều không, cho nên không có cây, tức nên không có ảnh. Do tâm thế gian diệt nên nói hiện tại tận diệt. Do tâm học vô lậu giải thoát, nên ở trước theo thứ lớp nói là được tịch tĩnh. Vì vô học giải thoát nên được thanh tịnh. Bốn thứ còn lại diệt nên được phạm tự tại.

Hỏi: Vì sao không nói thức là xứ của thức trụ?

Đáp: Nói không tự tướng nên thức chẳng được tịnh. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói: Tự tướng của tâm là thanh tịnh, bốn xứ thì không như thế. Tất cả phiền não rất là không tịnh, nhận biết tham dục là vi tế, khó thấy. Sáu trần như sắc v.v… thì không như vậy, chẳng phải là nhân của phiền não. Không có chúng sinh nào, đối với một thức xứ dấy khởi ái nhiễm, như đối với sắc v.v… Thế nên Đức Phật nói thức chẳng phải là trụ xứ. Đó gọi là phân biệt trụ xứ của thức ấm. Phân biệt nhiều loại, đây nói có ba thứ: Là có tâm dục, không tâm dục. Có sân không sân, nói rộng như trong kinh. Cho đến chưa được giải thoát và chánh giải thoát. Ở đây Đức Như Lai nói gọi là thứ nhất tức phân biệt cảnh giới. Do phân biệt, nên ở trong cõi dục tâm có bốn thứ: Thiện, bất thiện, nhiễm ô, không nhiễm ô. Nơi cõi sắc tâm có ba thứ: Thiện, nhiễm ô, không nhiễm ô. Nơi cõi vô sắc cũng có ba thứ như vậy. Vô lậu có hai, là học và vô học. Tâm thiện ở cõi dục phân biệt có hai, là sinh đắc, học đắc. Không nhiễm ô có bốn, là quả báo, oai nghi, công xảo, biến hóa. Biến hóa của cõi dục chỉ có một thứ là sinh đắc. Như trời, rồng, quỷ, không có quả tu tuệ. Trong cõi sắc không có công xảo. Nơi cõi vô sắc chỉ có quả báo. Tâm thiện như từ thấp lên cao gọi là thứ hai dựa nơi cõi phân biệt.

Lại có nhiều thứ tâm sai khác, phân biệt chủng loại phiền não. Trong cõi dục có năm là khổ, tập, diệt, đạo, tu đạo phá trừ. Nơi cõi sắc, cõi vô sắc mỗi cõi có năm thứ cũng như vậy, tức có mười lăm và tâm vô lậu nên có mười sáu. Đó gọi là thứ ba diệt nên phân biệt.

Lại phân biệt ba phẩm trợ phần là Tam-ma-đề: Một là sử động. Hai là không sử động. Một là không đắc định. Hai là đắc định. Một là không chánh tịnh. Hai là chánh tịnh. Đối với phẩm thứ nhất, người có tâm nhiễm thì bị dục v.v… gây chướng ngại tâm. Lại, nơi một thời, người có tâm thiện, tâm vô ký, thì dục v.v… không khởi. Như vậy là phân biệt tâm có dục v.v…, tâm không dục v.v… Đối với phẩm thứ hai, hoặc lại có lúc nương bên trong ở nơi định, an tâm một xứ, do niệm về cảnh diệt nên đối với năm trần tâm sinh tán loạn, hoàn toàn khiến ẩn mất, nên lại rơi vào chỗ biếng trễ ngăn che. Vì diệt trừ biếng trễ nên đối với cảnh hỷ lạc tâm không chánh an. Vì vậy nhất thời tán động, do đang giữ lấy cảnh nên tâm không trôi nổi. Chìm đắm, trôi nổi là bị phiền não ngăn che nên tâm không tịch tĩnh. Những thứ ấy diệt nên tâm được tịch tĩnh. Do chánh tư duy nên được thiền căn bản. Đó gọi là tâm định, lìa tướng định trước gọi là tâm chẳng định. Đạt đến đạo rốt ráo thế nên chánh tu. Đạt đến diệt rốt ráo nên chánh giải thoát. Lìa hai tướng trước là không chánh tu tập, không chánh giải thoát. Giữ lấy tướng của các định nhận biết phẩm thứ ba. Đó gọi là phân biệt thức ấm.

Thế nào là thức ấm? Thứ lớp có tám thứ ấm: Một là sinh tạo. Hai là trị đạo. Ba là nhân nhiễm đã tạo. Bốn là trụ tạo. Năm là phân biệt tạo. Sáu là như xứ tạo. Bảy là như thô tạo. Tám là như khí v.v… tạo.

Thế nào là thứ lớp sinh tạo? Là nương dựa nơi căn, nơi sắc sinh khởi nhãn thức. Nương dựa nơi ý, nơi pháp cũng đều như vậy. Như thứ lớp nơi kinh trước nói chỗ nương của sắc ấm, tâm số, sau nói thức ấm, các tâm số như thọ v.v… ở trong ấy. Đó gọi là thứ lớp sinh tạo.

Thế nào là thứ lớp trị đạo? Trừ bốn điên đảo nên nói bốn niệm xứ. Đối với sắc bất tịnh chấp cho là tịnh nên nói Thân niệm xứ. Đối với thọ chấp cho là vui nên nói Thọ niệm xứ. Dựa nơi tưởng hành vô ngã chấp cho là ngã nên nói Pháp niệm xứ. Dựa nơi tâm vô thường chấp cho là thường nên nói Tâm niệm xứ.

Thế nào là thứ lớp của nhân nhiễm đã tạo? Nam thấy nữ sắc khởi ái nhiễm. Vì sao lại thọ vị ái? Thọ vị ái tức là dựa nơi tưởng điên đảo. Tưởng điên đảo là dựa nơi hành phiền não. Hành phiền não là dựa nơi thức ấm, dựa nơi căn trần. Trần tác dụng sinh ra thọ, giữ lấy nhiều thứ trần. Đó gọi là tưởng. Trong đời hiện tại, trần tác dụng sinh các phiền não, gọi đó là hành. Dựa theo các phiền não này sinh khởi thức bất tịnh, nghiệp thiện, bất thiện, nên ở xứ vị lai có các khổ như sinh v.v… lại bị bất tịnh, nói là thức ở sau.

Thế nào là thứ lớp trụ tạo? Thức trụ nơi bốn xứ: Một là sắc. Hai là thọ. Ba là tưởng. Bốn là hành. Vì sao? Vì trong cõi dục sắc là trụ xứ của sắc, do trong cõi dục có đầy đủ sắc. Nơi cõi sắc nói là thọ trụ. Vì sao? Vì thọ hiển hiện. Ở nơi ba xứ vô sắc nói là trụ xứ của tưởng. Vì sao? Vì tưởng hiển hiện. Ở nơi xứ không thứ tư nói là trụ xứ của hành. Vì sao? Vì đại tư duy hiện, tám vạn đại kiếp là quả của tư duy, nên nói trụ nơi bốn xứ. Đó gọi là thứ lớp trụ tạo.

Thế nào là thứ lớp phân biệt tạo? Tức do sắc ấm nên thấy được sắc, nghe tiếng tức nhận biết người khác. Do thọ ấm nên tâm có cao thấp, sinh khởi khổ vui. Do tưởng ấm nên nhận biết danh sinh tánh. Do hành ấm nên phân biệt ngu trí. Do thức ấm nên trong ấm chấp là ngã. Đó gọi là thứ lớp phân biệt tạo.

Thứ lớp như xứ tạo: Tức như người tại gia thì do nơi sắc, thọ nên khởi tranh chấp. Nếu người xuất gia thì do nơi tưởng, hành nên cũng sinh tranh chấp. Thức đối với cả hai thứ đều làm nhân duyên.

Thứ lớp như thô tạo: Tức sắc là thô nhất nơi cảnh của sáu thức. Thứ đến là nêu rõ thọ ấm. Do có ba thọ nên các tướng như nam nữ cùng có thể nhận biết. Tham sân si tự có thể nhận biết. Lìa thọ, tưởng, hành, thức thì khó nhận biết.

Thứ lớp như khí v.v… tạo: Tức là sắc ví như vật chứa (khí) đầy ba thọ. Thọ ví như ăn uống làm tổn hại hoặc tăng ích cho thân. Tưởng ví như loài cá biển giữ lấy thọ khác biệt. Hành dụ như đến lúc ăn cùng với khổ, vui. Thức ví như người ăn, sử dụng các thọ.

Thế nào là thâu nhận? Tức có bao nhiêu ấm, bao nhiêu nhập, bao nhiêu giới, bao nhiêu nhân duyên phần, bao nhiêu xứ phi xứ, bao nhiêu căn thâu nhận. Như sắc ấm cho đến thức ấm.

Sắc ấm thâu nhận là một ấm, mười nhập, mười giới, pháp nhập pháp giới nói phần ít, sáu duyên là phần ít, đối với xứ phi xứ cũng nói phần ít, căn có bảy.

Thọ ấm thâu nhận là một ấm, pháp nhập pháp giới đều nói phần ít, một phần nhân duyên, ba duyên đều phần ít, phần xứ phi xứ, trong căn có năm.

Tưởng ấm thâu nhận là một ấm, pháp nhập, pháp giới đều nói phần ít, ba duyên đều phần ít, phần xứ phi xứ, căn không gồm thâu.

Hành ấm thâu nhận là một ấm, pháp nhập, pháp giới cũng nói phần ít, bốn phần nhân duyên, năm duyên đều là phần ít, phần xứ phi xứ, trong căn đủ sáu, ba căn là phần ít.

Thức ấm thâu nhận là một ấm, một nhập, bảy giới, hai phần nhân duyên, ba duyên là phần ít, phần xứ phi xứ, trong căn nói một, ba căn là phần ít.

Như vậy, ấm nhập cho đến căn cùng gồm thâu lẫn nhau. Lại, gồm thâu dị biệt có các pháp như mười ấm v.v… gồm thâu tự chủng tử, đó gọi là gồm thâu dị biệt. Các pháp như ấm v.v… tự cùng gồm thâu lẫn nhau, đó gọi là cùng gồm thâu. Các pháp như ấm hiện bày khắp tất cả xứ, gọi là sinh gồm thâu. Các pháp như ấm v.v…, các trụ như lạc thọ v.v… gọi là biệt trụ gồm thâu. Như ấm v.v… nhất thời cùng khởi, đó gọi là gồm thâu không lìa. Các pháp như ấm v.v… ở trong ba đời, gọi là thời gồm thâu. Các pháp như ấm v.v… dựa nơi xứ được sinh, gọi là xứ gồm thâu. Các pháp như ấm v.v… do có năm thứ nên gọi là gồm thâu đầy đủ. Các pháp như ấm v.v… phân phân không đủ, gọi là thiểu phần gồm thâu. Các pháp như ấm v.v… có tướng như như, đó gọi là chân như gồm thâu. Từ ấm đến căn hợp thành mười sáu thứ gồm thâu.

Lại có ba thứ gồm thâu tất cả pháp, là sắc ấm, pháp giới, ý nhập.

Thế nào là ấm? Nương dựa nơi bao nhiêu thứ sắc, sắc ấm được sinh? Nương dựa nơi bao nhiêu thứ xứ gọi là gồm thâu ấm sinh? Nương dựa nơi sáu xứ sắc ấm được sinh: Một là xứ dựa. Hai là xứ trụ. Ba là xứ ngọa cụ. Bốn là xứ căn. Năm là xứ căn nương dựa. Sáu là xứ như hành có thể nên có các địa định.

Thức nương dựa nơi bảy xứ gọi là gồm thâu ấm sinh: Một là dục. Hai là sắc. Ba là trần. Bốn là giác. Năm là quán sát. Sáu là phương tiện tịnh hạnh. Bảy là thanh tịnh. Bốn xứ trước như dục v.v… là nói người tại gia. Quán sát là nói người xuất gia siêng năng trì giới. Phương tiện tịnh hạnh là đắc thiền vị lai. Bảy là thanh tịnh tức được thiền căn bản. Vì bốn hạng người nên bảy xứ phân ra làm bốn. Về phân biệt sắc ấm, sau sẽ nói rộng dựa nơi sắc để phân biệt.

Uất-đà-nam nêu:

Các vật và cực vi

Sinh hình cùng nối tiếp

Nghiệp cùng sát-na riêng

Cảnh tạp nói có mười .

Lại có bao nhiêu vật, sắc ấm gồm thâu nhãn, gồm thâu căn, một vật là chỗ nương dựa của nhãn thức, là sắc thanh tịnh gồm thâu không lìa tức có bảy vật, là nhãn, thân, địa, sắc, hương, vị, xúc. Do ba cõi gồm thâu nên nói có mười vật. Bảy thứ như trên và thêm thủy, hỏa, phong. Các vật như nhãn thì nhĩ, tỷ, thiệt cũng lại như vậy. Lìa bốn thứ căn, thân căn có chín vật. Vì sao? Vì lìa bốn căn nên thân được sinh riêng. Lại có thanh giới, do không trụ lâu cho nên nói riêng là có xứ có thanh. Tức có mười một vật phân biệt về sáu trần như sắc v.v… Như nhỏ, trơn, cho đến to khỏe đều là xúc nhập. Dựa nơi bốn đại địa lập ra biệt danh. Dựa nơi bốn đại tịnh nói xúc trơn láng. Dựa nơi cứng chắc sinh nặng, bất tịnh, không cứng chắc sinh thô nhẹ là tịnh, không hợp sinh nơi xúc mềm mại. Dựa nơi gió, nước lẫn lộn tức sinh xúc lạnh. Giữ nhân không đầy đủ sinh nơi đói khát, cũng sinh xấu kém. Giữ nhân đầy đủ, dựa nơi lực đại bình đẳng sinh xúc no đủ. Dựa nơi đại không thích ứng, ăn uống khó tiêu sinh các xúc bệnh. Dựa nơi thân chuyển biến, bốn đại không điều hòa, sinh xúc già. Mạng căn chuyển biến, bốn đại không điều hòa, sinh xúc chết. Dựa nơi máu không đều sinh ra bệnh hoạn, ăn uống độc hại có xúc tạm tử. Đất, nước lẫn lộn sinh ra xúc cấu đục. Đi lại chuyển động, tâm khởi phiền não sinh xúc mệt mỏi. Lìa các nhân duyên trên sinh xúc tuần hoàn, lên xuống. Bốn đại điều hòa, thân sắc không giảm, sinh xúc khỏe tốt, hòa hợp các xúc. Bốn đại riêng trụ nói có sáu thứ: Đó là bốn đại tịnh cùng không tịnh. Kiên cố cùng không kiên cố. Không gồm thâu và xen lẫn. Không bình đẳng, bình đẳng. Tất cả các trần gồm sắc đến xúc, do hai thức nhận biết tự thức, tâm thức. Hoặc đồng thời nhận biết hoặc không đồng thời. Ở trong cõi sắc hiện không có hương, vị, không phải là không có chủng tử. Không có đoàn thực, do lìa thực nơi cõi dục, nên hai trần hương và vị là thuộc về đoàn thực. Hai thức tỷ và thiệt không hiện dụng, cũng có chủng tử.

Sắc ấm gồm thâu sắc tức có chín vật. Bốn đại dựa nơi năm trần, tất cả sắc khác giả danh nói là ấm. Trong pháp nhập đạt được, sắc có hai thứ, vật có giả, có nương nơi định tự tại. Trong định quán sắc gọi là vật có. Quả của định này hóa định cùng thức trần. Sắc của giới phi giới đều là giả danh.

Lại, quả của định trần, sắc xứ do định xứ, sắc tương ưng. Nương nơi định đại được sinh là pháp thế gian. Nương nơi sắc của định hữu lậu và định vô lậu, là pháp thế gian chẳng phải là pháp xuất thế gian. Vì sao? Vì có tướng là nhân duyên tư duy về định. Tất cả người định, có khả năng sinh sắc, không có khả năng sinh sắc, cũng như hóa sinh. Nếu không tư duy, dựa nơi tự tại ở trước thì không có ám chướng, được thanh tịnh sáng rõ tự nhiên đến nơi đời hiện tại. Sinh là tên gọi vật có tư duy. Do tư duy về lực giải thoát nên được thấy các sắc. Sắc chưa hiện tiền là giả danh có, chẳng phải là trần của cảnh giới nơi định xuất thế, là sắc của định xuất thế, không thể tư duy về sắc của cõi dục, cõi sắc. Thế nào là sắc dị biệt trong cõi sắc? Do rất thanh tịnh lớn lao xuất sinh ánh sáng tỏ rõ. Do rất vi diệu vi tế, chẳng phải là căn trần bậc thấp, không có khổ thọ. Do vượt qua khổ thọ nên không thể tư duy. Do trụ nơi cực vi trần nên không trở ngại. Tùy nơi tâm tưởng nên có thô, tế. Đó là năm thứ dị biệt. Lược nêu về sắc ấm có sáu thứ tướng. Tự tướng – cộng tướng. Y y giả tướng. Quan tướng. Dụng tướng. Nghiệp tướng. Diệu tướng. Các đại như địa, thủy cứng chắc, thấm ướt, nóng bức, chuyển động là tự tướng của bốn đại. Các căn như nhãn v.v… tịnh là tự tướng. Đó gọi là tự tướng. Đều có chướng ngại là cộng tướng của sắc. Bốn đại là y y giả tướng. Năm trần là quan tướng. Nội nhập có sắc dụng tăng thượng, nên ngoại trần được sinh nhiều loại. Có một sắc tụ được gọi là xúc cứng chắc, có thấm ướt, có nóng, có động, có xen tạp là dụng của nội nhập. Đó gọi là dụng tướng. Bốn đại dựa nơi sự gồm thâu thành thục dẫn dắt. Đấy gọi là nghiệp tướng. Lại có biệt nghiệp phần sau sẽ nói rộng. Sắc cực vi tế gọi là diệu tướng. Diệu tướng có ba thứ: Phân phá cực tế hữu sinh cực tế. Tự tại cực tế phân phá. Lân hư cực vi sinh cực tế. Các thứ vi tế như gió v.v… đến trong sắc ấm, sắc trong cõi sắc, sắc nơi cõi vô sắc, do tự tại vi tế nên được gọi là cực vi. Như trong kinh Phật nói: Nơi đời người trụ được tâm bình đẳng, tu học tự tâm, trang nghiêm tự tâm, tạo tâm tự tại, cùng trụ một xứ không gây trở ngại nhau, cũng không não hại. Nếu sau này sinh nơi cõi sắc cứu cánh Đại phạm tự tại, thì từ xứ sinh ấy xuống châu Diêm-phù-đề, vì để nghe pháp nên chia đầu một sợi lông làm mười sáu phần, địa như một phần, các cõi trời cùng tuy không hề bị ngăn ngại, gọi là cực vi tự tại. Như vậy vật chủng của sắc ấm tư duy, sắc tướng của cực vi trần có bao nhiêu thứ phân biệt? Lược nói có năm, sau sẽ nói rộng. Như kinh nói: Bản địa trí phần phá. Chủng phân biệt. Riêng tự phần. Cùng bạn phần. Vô phương phần. Phân chia sắc cứu cánh trí quyết định, là cực vi phân chẳng phải là thân lượng, cho nên cực vi là không sinh không diệt. Vì thế sắc tụ chẳng phải là cực vi sinh. Phân biệt về cực vi có mười lăm thứ, là năm căn như mắt v.v…, năm trần như sắc v.v…, bốn đại và sắc pháp. Phân biệt tự tướng gọi là riêng phần. Hòa hợp cực vi là cùng bạn phần. Vì sao? Vì các cực vi như đất v.v… là không lìa nhau. Như thế vì sao có pháp chướng ngại không lìa một xứ? Do cùng bạn trụ nên không phải là không chướng ngại. Như tâm đại địa hợp với căn tương tợ, các sự việc dụng sinh làm nghiệp tương tợ. Do duyên tăng thượng nên các sắc hòa hợp, cùng làm dụng của căn nên được sinh khởi. Nếu không như vậy thì chẳng phải là các hòa hợp. Các trần như nhãn thức v.v…, các căn trần không dụng, cho nên cùng bạn không được lìa nhau. Có một thứ sắc, hoặc ngăn ngại, không ngăn ngại, như trung ấm cho đến phạm sắc, gọi là cùng bạn phần, do sắc cứu cánh nên các sắc cực vi không có phương phần, không hòa hợp. Do các sắc hòa hợp cực vi phương phần, lìa một phương xứ không có sắc cực vi, như trước đã nói về năm thứ cực vi. Có năm thứ nhãn (mắt) là nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn. Năm thứ cực vi có bao nhiêu cảnh giới của nhãn? Hai thứ nhục nhãn và thiên nhãn thì không thể thấy. Ba thứ nhãn còn lại thì thấy. Vì sao? Vì chỉ sắc hòa hợp, thiên nhãn mới được thấy trong ngoài, trên dưới, trước sau, sáng tối, không thấy cực vi. Do trí phân biệt nên cực vi là sắc tướng chẳng phải là thể riêng biệt.

Vì sao cực vi không sinh, không diệt, có thể nhận biết, có thể nêu? Do hòa hợp đầy đủ, nên trước được sinh, lúc sau chưa đến, nên chưa được thể riêng, do ở trong diệt. Ví như giọt nước có năm thứ tướng, cực vi tư duy được nhận biết không chính đáng. Đối với sắc hòa hợp, do tự thể nên cực vi được trụ, đây là thứ nhất. Tư duy không đúng về cực vi sinh diệt, đây là thứ hai. Cực vi sắc trụ cùng bạn lìa bạn, đó gọi là thứ ba. Chỉ có sắc trong cực vi hòa hợp trụ, đây là thứ tư. Cực vi hòa hợp có thể sinh các sắc khác. Các sắc được sinh khác với cực vi. Như vậy cực vi không chánh tư duy. Như người chánh tâm lại giữ lấy các tướng, trước lìa năm thứ tư duy không đúng, do cực vi được tư duy chân chánh nên có thể phát khởi năm thứ công đức, hòa hợp sắc xứ nơi phần cực vi nên dụng hành tu đạo. Đối với các cảnh giới, nhân không còn nghi hoặc, nên tạo được tự tại, đây là công đức thứ nhất. Thân kiến diệt, đạo dần dần tăng hơn, đây là công đức thứ hai. Ngã mạn diệt và đạo phương tiện được sinh, đây là công đức thứ ba. Các phiền não khởi, khởi liền tạm dừng, tâm được thanh tịnh, đây là công đức thứ tư. Vì hai môn giải thoát là không và vô tướng nên được tu tuệ, đây là công đức thứ năm.

Sinh tức lược nêu về vật sắc, có năm thứ sinh: Một là dựa nơi sinh. Hai là loại sinh. Ba là dẫn dắt sinh. Bốn là trưởng sinh. Năm là hoại sinh.

Thế nào là dựa nơi sinh? Là đối với bốn đại nương nơi sắc tạo được sinh, thế nên bốn đại không gọi là sắc tạo. Bốn đại này hư tạo nên sắc được sinh. Sắc ấy hòa hợp là chỗ dựa của bốn đại, nhận biết tự tướng của sắc ở trong hòa hợp biết được có sắc. Lại có hư giả không thấy tự tướng, nhận biết là không có sắc riêng. Lược nói được nhận biết về có tướng không có tướng. Nếu là hư giả không thấy nhưng nói có thì nhờ thí dụ nên được nhận biết. Nếu có cùng dựa là được vật đồng, là vật không đồng, nghĩa có hai thứ là lượng và lực. Nếu không đồng lượng nên được nhận biết nhỏ, nhận biết nhỏ nếu không được thì không có nghĩa ấy. Nếu có lực thì dựa nơi vật không đồng, lìa tự tướng thì không có lực riêng, lực này nếu không đồng thì cũng không đúng nghĩa. Đó gọi là nương dựa nơi sinh.

Thế nào là loại sinh? Là từ chủng loại của chính mình sinh ra, ví như hạt lúa, đến nơi nhiều nhân duyên như mầm, đất, tro nên được sinh. Gặp các nhân duyên tức vật cứng được mềm, vật mềm được cứng, không nóng được nóng, nóng được không nóng, không động được động, động được không động. Như vậy là sắc tốt và sắc không tốt có tự tướng. Do tự chủng tử nên nhiều loại được sinh. Đó gọi là loại sinh.

Thế nào là dẫn dắt sinh? Là nghiệp của nội nhập tăng thượng, vật bên ngoài không động nhưng có thể được sinh. Ví như vật dụng của thế gian, do nghiệp đời trước dẫn dắt nên nội nhập được sinh. Ví như tạo nghiệp nơi năm đường nhập sinh các vật sắc bên ngoài, có ba thứ nghiệp dẫn dắt: Một là như nơi châu Uất-đơn-việt, y báo tự sinh, trời Tứ thiên vương đến trời thứ tư. Hai là nghiệp hiện tại tự dẫn dắt, sắc bên ngoài được sinh, như trời thứ năm. Ba là dựa nơi nghiệp tha niệm, sắc bên ngoài được sinh, như trời thứ sáu. Đó gọi là dẫn dắt sinh.

Thế nào là tăng trưởng sinh? Là đầy đủ nhân duyên nên nhiều loại được sinh. Nghĩa là sắc tăng trưởng dần dần đầy đủ. Nước mưa tưới xuống, mầm cây v.v… được tăng trưởng. Đó gọi là tăng trưởng sinh.

Lìa tăng trưởng sinh, đó gọi là hoại sinh.

Sắc tạo sinh, như có nhiều thứ vật như đá mài hòa hợp không thể phân biệt, do nhận biết tướng riêng, không như các vật như hạt mè, đậu, lúa, tích tụ một chỗ có thể nhận biết chủng loại riêng. Vì sao? Cũng như tướng sinh, có thể sinh sự dụng làm nhân tăng thượng nên sắc tạo được sinh. Nếu tất cả hành từ chủng tử của mình, sau liền được sinh. Vì sao sắc dựa nơi bốn đại nói là sắc tạo sinh? Vì bốn đại tăng giảm, nên sắc tạo theo đó cũng có giảm tăng. Giống như nhãn thức lìa bốn đại thì không có sinh riêng. Ví như đại địa giữ gìn bốn đại, như mái che dây giăng giữ áo vải. Do ba nhân duyên nên đại địa tăng giảm phương tiện, có thể khiến sắc tạo tăng giảm: Do nhân của công dụng, do nhân duyên của nghiệp, do định tự tại, nên đại địa có thể tạo sắc tăng giảm. Có ba thứ lực. Những gì là ba? Nghĩa là lực có thể phá tăng giảm, lực có thể thọ vật dụng, lực có thể sinh nhân.

Thủy đại có thể làm thấm nhuần lực. Hỏa đại có thể tạo nóng bức. Phong đại có thể làm khô ráo. Đó là công dụng.

Bốn đại tăng giảm có thể khiến sắc tạo tăng giảm. Nghiệp trước tượng tợ các thứ do bốn đại sinh nên được tương tợ, vì thế sắc tạo tợ như bốn đại. Đó gọi là nhân duyên của nghiệp.

Định tự tại: Tức trước đến nơi đại địa, thời gian sau mới có thể khiến sắc tạo tăng giảm. Như có thể chuyển biến bốn đại sắc tạo, dùng đất làm nước, lấy nước làm đất, là định tự tại.

Lại lược nói về năm thứ nhân duyên. Tướng khác nơi bốn đại khiến sinh quả khác. Do lực của bốn đại, lực của công dụng, lực của chú thuật, lực của thần thông, lực của hành nghiệp. Từ đây về sau chưa đến xứ sinh, ở đây trung ấm có các sắc hòa hợp. Nhân gì, duyên gì, tự nhân của chủng tử có thể dẫn dắt nghiệp sinh, là tăng thượng duyên. Do nghĩa gì nên có trung ấm sinh? Làm sao có thể tin? Về sau không nương dựa nơi tâm, tâm số pháp lại sinh xứ khác, do không thể đến. Hoặc như tư duy về dụ tiếng vang, nghĩa này không đúng. Do căn tán loạn nên thấy có hai mặt trăng. Hoặc như tư duy không có trung ấm, ví như ảnh trong gương, là cũng không đúng. Do mặt không giảm, nên ảnh dụ không đúng. Nếu lại tư duy như tâm giữ lấy cảnh, không có thức trung gian, thì thí dụ của ông không đúng, do tâm không đi. Nếu là các dụ phá cho là không có trung ấm, thì nghĩa này không như vậy, cho nên trung ấm thật có thể tin. Đó gọi là sắc ấm. Phần sinh tư duy đã sinh sắc ấm, vì sao trước khi đi, lấy ở xứ sinh, cho sắc khác là xứ sinh? Do bốn đại ở trước đã hướng đến xứ thọ sinh. Do bốn đại nương dựa, nên đối với xứ sắc tạo và bốn đại cùng sinh. Xứ của bốn đại, do xứ sinh ngăn che nên sinh. Lại nữa, tự tướng của sắc tạo hiện bày khắp, do không lìa đại nên có thể gây chướng ngại nơi xứ sinh. Bốn đại như địa v.v… thô tế có thể nhận biết, như thứ lớp nói rõ. Địa giới do giữ gìn nên có thể tạo sự nghiệp được nói là có quả. Thủy, hỏa, phong giới thì trôi chảy, thiêu đốt và thổi động, là nghiệp của ba đại. Tất cả các thanh chỉ là sinh diệt, đối với sắc hòa hợp nối tiếp không lâu. Đối với hai xứ trong ngoài do nương dựa nên được biết. Cùng thời xứ sinh, xứ được nghe biết thảy đều đầy đủ khắp. Ví như ánh sáng đến không có trước sau, không có mau chậm. Gió này có hai thứ, là động và không động. Luân thì không động. Đi trên không tức động. Hành đối với vật thường là tùy thuận nắm giữ nơi huyễn hóa. Nắm giữ huyễn hóa tức là không động, khác với đây thì đều động.

Giới hư không là những gì thuộc sáng tối, đều là sắc tạo. Đó gọi là không giới. Lìa sáng tối thì tướng riêng của không giới là không thể nhận biết, cũng là không động. Ở xứ chúng sinh luôn có ánh sáng, luôn có u tối, trong ấy không động. Nếu khác với xứ đấy gọi là động. Dựa nơi sắc hòa hợp thuộc về thanh tịnh rỗng sáng, quang minh. Không sáng trong cũng là thuộc về sắc. Hình tức là dài, ngắn, là pháp thật hay là giả danh? Đó là giả danh. Vì sao? Vì do tụ tập. Nói đây là xứ, nói đây là hình, chỉ là ngôn ngữ, chỉ là suy lường, ở trong tám tướng không có nghĩa riêng khác. Nếu do xem nhìn nên có thể thấy, do thể tánh xen tạp, cũng như chiếc xe v.v… Do tuệ có sai khác nên nói là giả danh. Lại, đối với pháp nhập thiền định, quả sắc chỉ được có sắc. Vì sao? Vì các hương, vị, xúc khác không có sinh nhân, nên lại không dùng. Như vậy, đối với gió không hành, các trần như hương v.v… không cùng sinh. Do cùng gần nên trong gió có hương, lại ở trong ánh sáng phát ra bên ngoài những vòng. Nghĩa là nếu pháp của các đại và các trần như hương v.v… không được hiện trở lại, thì quả sắc của thiền định ở trong pháp nhập sẽ dựa nơi thiền định sinh, chẳng phải là bốn đại sinh. Do tợ như sắc gốc nên cũng nói là sắc tạo, không dựa nơi bốn đại.

Từ trong sắc ấm có bao nhiêu thứ pháp là có thể thấy, có chướng ngại? Đáp: Một là hai thứ hành xứ của nhãn thức, lìa sắc của pháp nhập, các sắc còn lại đều không thể thấy, cũng có chướng ngại. Như vậy việc phân rõ ở trong sắc ấm là so sánh. Tư duy nối tiếp tức ở trong sắc ấm có bao nhiêu thứ lưu xuất? Có ba thứ: Một là nương dựa. Hai là báo sinh. Ba là nuôi lớn.

Nương dựa có bốn: Một là nương dựa của báo. Hai là nương dựa của nuôi lớn. Ba là nương dựa của không bình đẳng. Bốn là nương dựa của thể tánh.

Nương dựa của báo có hai thứ: Một là phẩm trước. Hai là nối tiếp phẩm trước. Do báo này cùng dẫn dắt nên báo tiếp theo sinh. Đó gọi là nối tiếp.

Nuôi lớn có hai là nuôi lớn mãn xứ và nuôi lớn cùng tăng.

Mãn xứ: Nghĩa là có sắc tăng trưởng, thức ăn uống, vật dụng ngồi nằm, phạm hạnh, thiền định, nương nơi đấy nên tăng trưởng.

Cùng tăng: Nghĩa là từ việc dựa nơi ăn uống, nương nơi mãn xứ nên thường thọ lạc, do khi nương đã thành thục nên được tăng trưởng. Các pháp có sắc dựa nơi hai thứ này nên được tăng trưởng. Đối với pháp không sắc chỉ có cùng tăng mà được tăng trưởng. Các sắc nơi cõi dục do bốn thứ ăn nên được nuôi lớn. Đó là tư thực, thức thực, đoàn thực và xúc thực. Hai thứ thực trước chưa dẫn dắt là nhân duyên sinh. Hai thứ thực sau là nhân duyên trụ. Xúc thực là duyên trụ của thọ ấm. Ngoài ra ngủ nghỉ cũng có thể làm tăng trưởng sắc nơi cõi sắc, không dựa nơi đoàn thực, không dựa nơi ngủ nghỉ, không nương nơi phạm hạnh mà được tăng trưởng. Các căn có sắc tùy theo hai thứ lưu xuất. Lìa hai thứ này tức không có dựa nơi lưu xuất riêng. Quả báo nối tiếp tăng trưởng lớn mạnh có lúc được thấy. Vì sao những thứ thuộc về báo này không gọi là nuôi lớn? Sắc của quả báo này như xứ an trí, không tăng không giảm nhưng được trụ.

Nuôi lớn nối tiếp tức là y báo nối tiếp nhưng có trái ngược, nên theo đấy có tăng có giảm. Chẳng phải là sắc căn đều có ba lưu xuất, tâm tâm số pháp nương nơi y lưu xuất, nương nơi báo lưu xuất, như nương nơi cùng tăng mà có tăng trưởng, thì đối với sắc của pháp nhập không có báo sinh. Chỗ còn lại của các pháp như tâm tâm số có thể được nhận biết. Ở trong cõi dục, các sắc trong ngoài được quả báo sinh. Nơi cõi sắc lìa hương, vị, thì phần còn lại là báo. Nơi cõi dục các căn không đủ cũng là quả báo. Ở trong cõi sắc các căn đầy đủ đều là quả báo. Thanh giới ấy cũng là quả báo, chẳng phải là âm thanh. Đó gọi là tư duy tương tục về sắc ấm.

Nghiệp là gồm thâu trong sắc ấm. Trì giới có bao nhiêu nghiệp cho đến phong giới? Tất cả bốn đại có năm thứ nghiệp. Ở địa giới này là nghiệp khai phát chuyển biến, là nghiệp giữ lấy xứ sở, là nghiệp tạo tác nương dựa, là nghiệp cùng trái nhau, là nghiệp bình đẳng tăng trưởng. Nghiệp của thủy giới là lưu xuất, thâu tóm, thấm nhuần, trái nhau và tăng trưởng. Nghiệp của hỏa giới là ánh sáng, thành thục, hủy hoại, trái nhau và tăng trưởng, tức cũng có năm thứ. Nghiệp của phong giới là khinh động, khiến thảm trái và tăng trưởng, đó là nghiệp của phong giới. Lại có bốn đại nơi sắc tạo sinh, cũng có năm nghiệp: Một là có thể sinh. Hai là cùng nương dựa. Ba là trụ xứ. Bốn là thắng trì. Năm là tăng trưởng. Vì sao? Vì từ khai phát sinh khởi ở trước được đến, đó gọi là có thể sinh. Đã được sinh rồi, không lìa xứ sở, đó gọi là cùng nương dựa. Đối với tăng, hoại tánh cùng tương tợ, đó gọi là trụ xứ. Như lượng không giảm có thể giữ lấy hơn hẳn nên gọi là thắng trì. Khiến cho tăng trưởng đó gọi là tăng trưởng.

Vì sao nhãn, nhĩ đối với sắc trần có thiện và bất thiện, còn các trần khác thì không? Ở đây lược nói có ba, là tư duy hạ, trung, thượng. Thế nào là hạ? Lúc tư duy là tư, lúc quyết định là tư, lúc tạo nghiệp là tư. Là nghiệp thân khẩu thiện, bất thiện sinh khởi, dựa nơi tư duy cực thượng hai sắc sinh thế nên sắc của nghiệp có thiện và bất thiện, còn các trần khác thì không như vậy. Tướng khác theo sắc hòa hợp dao động nên chẳng là tướng khác. Phần đáp lại cũng nói như thế. Vì sao? Vì đối với xứ của vật này đã sinh, chưa sinh, đã hoại, chưa hoại, nhưng nghĩa động thì không đúng. Nếu động đã sinh nhưng sau được động thì không có tự tướng. Còn nếu chưa sinh thì không có động. Hoặc nếu đã hoại thì không thể động được, chưa sinh cũng đồng như vậy. Nếu không hoại thì không có hành tướng phân biệt rõ ràng về Thể, dẫn đến nhân duyên kia thì nghĩa này không đúng. Vì vậy dao động không thật có riêng. Đó gọi là sát-na tư duy về phần nghiệp của sắc ấm được đầy đủ. Vì sắc ấm trong từng sát-na, sát-na diệt. Vì sao? Vì các pháp hành được sinh diệt không có chướng ngại. Lúc này là nhân sinh tức là nhân diệt, nghĩa này không như vậy. Vì sao? Vì một nhân khác quả thì không được sinh. Đã sinh nhân trụ thì biệt tướng không hiện, vì thế pháp hành tự diệt không duyên nơi khác. Hành niệm diệt không có chướng ngại, như lửa cùng với vật làm nhân hủy hoại. Nếu là tư duy thì nghĩa này không đúng. Lửa cùng hành nên cùng đồng sinh diệt, không giống như sinh ở trước, chỉ nhân là có thể tạo. Các sự việc như lửa ấy diệt, là diệt nhân, nghĩa này không như thế. Vì sao? Vì diệt là cùng hành, không cùng kết hợp. Nếu diệt đã có ở trong hành diệt, thì các hành nối tiếp đã đoạn diệt, do nghĩa này nên không thể cùng kết hợp. Diệt là diệt Thể vô vi có thể tạo ra nhân diệt, cho nên không đúng. Nếu diệt là diệt nhân thì không thể một diệt, do việc tạo ra nhân diệt trước sau không khác, các pháp nối tiếp vĩnh viễn nên không sinh. Nếu diệt thể khác theo diệt nghĩa khác, thì riêng có tướng diệt tức không thể được, do vậy là không đúng. Lại nữa, nếu cùng với lửa diệt bạn tức có thể diệt, nên khởi suy nghĩ này, cho nên các tâm, tâm số cùng các đèn đuốc v.v… có tự thể diệt tức nên không có, vì thế là không đúng. Lại nữa, nếu lực lại cùng hỗ tương thành hai chủ thể diệt, thì đây là đối tượng diệt, đây là chủ thể diệt, tức không phân biệt, thế nên không đúng. Nếu hai thứ pháp đều có khả năng phân cùng diệt đầy đủ, nhưng hai thứ này đều chỉ có một nửa khả năng, một nửa thì không thể, vì thế không đúng. Các phần như vậy ở trong sắc ấm sát-na tư duy về tự thể diệt. Các pháp như các đại là ngăn chận nhân diệt, ngăn chận hai thứ nhân diệt. Vì sao nhận biết? Vì tất cả các hành tâm là quả, như tâm có thể nhận biết đều có sát-na.

Riêng tức là từ bốn đại các sắc được tạo có tướng riêng hay là không riêng? Đáp: Có riêng khác. Vì sao? Vì nhận thấy riêng tướng.

Như tướng riêng này là cảnh của căn khác. Cảnh của căn đại khác, cảnh của sắc tạo khác, là suy tính không suy tính. Từ các hoa hương suy tính về cây gai không suy tính về biến đổi không biến đổi. Như trong tô, chưng nấu hòa hợp thì sắc vị có biến đổi. Vật cứng thì không như vậy, nên biết là có tướng riêng nơi sắc tạo. Bốn đại tạo sắc có nơi tướng riêng nhưng thể là một. Ví như thấy gốc cây khởi lên hai trí, giữ lấy tướng có khác nhưng thể là một. Một là cảnh của trí nghi. Hai là cảnh của trí quyết định. Dụ này không đúng. Tuy có tướng riêng nhưng tạo ra một thể, ở trong bốn đại cũng nên như vậy. Vì sao nhận biết? Vì bốn đại này mỗi thứ tự có tướng riêng, nếu quyết định bốn đại có một thể như vậy là không nên có bốn. Nghĩa này không đúng. Cho nên sắc tạo cùng với đại là thể riêng. Đây gọi là nghĩa riêng và không riêng.

Tư duy về cảnh, là tất cả các sắc pháp. Chỗ gồm thâu là có bao nhiêu căn, bao nhiêu trần? Đáp: Năm sắc là căn, sáu sắc là trần. Thế nào là căn? Là các trần thành cảnh, căn không hủy hoại, như kinh đã nói rộng. Ở trong địa thứ nhất có bao nhiêu thứ nhân duyên khiến các căn hủy hoại không hủy hoại? Đáp: Gồm có hai thứ: Một là suy kém. Hai là đều mất. Không như nghĩa này thì đều là thành căn. Lược nêu có bốn nhân duyên biến dị: Một là theo duyên bên ngoài sinh. Làm sao nhận biết? Do dùng các trần bên ngoài có nghịch thuận, do người khác làm tổn thương, do đối trị tổn thương. Đó gọi là duyên bên ngoài. Hai là từ duyên bên trong. Như ở bên trong tư duy bất thiện, sinh ra các dục, các căn bị tổn giảm. Hoặc theo chánh tư duy hành Tam-ma-đề, các căn tăng ích. Ba là nghiệp duyên được sinh. Như nghiệp duyên đời trước có mạnh có yếu, có các việc đáng yêu thích, không đáng yêu thích. Bốn là từ tự thể sinh. Do tất cả các căn dựa nơi tự tướng nên có lúc tổn giảm có lúc tăng ích.

Lại nữa, tâm căn bị hủy hoại có bao nhiêu thứ? Có bốn: Một là từ sự tạo tác của các cái. Ở trong năm cái tùy theo một thứ che lấp tâm. Hai là tạo ra tâm loạn. Tạo ra tâm loạn là như vướng mắc vào các quỷ. Ba là chỗ mong cầu chưa được. Như bốn định không và sáu thần thông, lúc chưa được tự nói cho là được, khởi tâm tà gọi là cầu chưa được. Bốn là chưa rõ chỗ tạo tác. Như là chưa có hiểu biết rộng và các thứ công xảo. Dựa nơi bốn nghĩa này nên tâm bị hủy hoại.

Lại nữa, thế nào là các trần như sắc v.v… đối với căn được sáng rõ? Sắc không đến nơi mắt, nhưng ở nơi được sáng rõ . Không quá vi tế thì thấy cũng được rõ, cùng có thể thấy sắc không bị ngăn che, có xứ sáng rõ lại không quá xa. Đối trước mắt là trần, nên mắt được thấy rõ. Có các chúng sinh ở trong nhà tối cũng được biết rõ sắc, chỉ có một thứ là không thể thấy sắc. Như trước các trần thì mắt thường không thấy, đều dùng thiên nhãn mới thấy.

Âm thanh không đến, không bị chướng ngại. Nếu có đến như trong tối sáng không quá vi tế, trụ nơi cảnh xứ tức được rõ ràng. Hương, vị và xúc đến nơi tự căn, trụ ở cảnh xứ. Là các thiên nhãn có thể thấy sắc, tuy lại vi tế, có chướng ngại và xa, đến trụ nơi cảnh xứ đều được sáng rõ, không trụ nơi cảnh xứ không thể được thấy. Lại, các Thánh nhân có mắt Thánh tuệ, thì tất cả loại sắc thảy đều thấy rõ. Như nơi địa thứ nhất nói sáu thứ cảnh giới. Giải thích như thế nào? Cảnh thứ nhất là các sắc đều được nhập nơi thế gian chúng sinh và khí thế gian. Hai là dựa nơi ba thứ tánh đều có phân biệt: Thứ nhất là phân biệt tướng. Thứ hai là phân biệt sự. Thứ ba là phân biệt trụ. Như vậy là phân biệt các sắc xanh, đỏ, trắng, cho đến nói rộng là phân biệt tướng. Phân biệt sự là sắc tác vô tác, sắc của giới chẳng phải giới, sắc của phi giới chẳng phải phi giới. Phân biệt trụ là sắc như ý cùng không như ý và có xứ xả, gọi là phân biệt sắc. Phân biệt âm thanh là nhân của số chúng sinh là nhân chẳng phải chúng sinh, là nhân của chúng sinh chẳng phải chúng sinh. Phân biệt sự là miệng tạo tác. Phân biệt hương là phân biệt về gốc, cành, vỏ, ruột, lá, hoa, quả. Trong hương, vị, xúc không có phân biệt sự. Phân biệt trụ như nơi phần sắc đã nói. Phân biệt tướng của vị là ngọt, đắng v.v… Trụ cũng như trước. Xúc có nhiều thứ phân biệt như trước. Cảnh thứ ba là ở trong mười phương tức có thể nhận biết được. Cảnh thứ tư là phân biệt về ba đời. Cảnh thứ năm là thật, không thật, giữ lấy sự phân biệt có thể nhận biết. Cảnh thứ sáu là ở nơi xứ của một biên được giữ lấy đầy đủ. Như vậy, tự phân các trần có sắc được phân biệt rõ ràng.

Thế nào là tư duy có thể sinh thức? Là đối với các căn cùng không bị hủy hoại, cùng hiểu rõ các trần, đồng hưng khởi tâm, tư duy như thế tức có thể sinh các thức. Đó gọi là tư duy về phần cảnh của sắc ấm. Tư duy xen tạp là đối với cõi dục, ấm nhập là trụ xứ, nơi cõi sắc thì sắc sinh ở thân này.

Hỏi: Vì sao các sắc của cõi trên so với cõi dưới thì cùng có xứ riêng nhưng trụ thì không xứ riêng?

Đáp: Xứ trụ không riêng cũng như cát và nước. Đó gọi là tư duy phần tạp của sắc ấm, không phải là tư duy phân biệt rốt ráo về sắc ấm1

HẾT – QUYỂN HẠ

Pages: 1 2 3

CHÚ THÍCH

  1.  Xin nhắc lại: Đối chiếu nơi các quyển 51 –> 54 của Luận Du Già Sư Địa, để thấy bản Hán dịch của Luận này (N0 1584/3) là hoàn toàn bất thành, rất khó đọc, rất khó lãnh hội, chỉ có giá trị lịch sử – ND.