Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI TÁT-GIÀ NI-KIỀN TỬ SỞ THUYẾT

Dịch Phạn ra Hán: Đầu đời Ngụy, Tam tạng Bồ-đề-lưu-chi,
Dịch Hán ra Việt: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Phẩm 8: CÔNG ĐỨC KHÔNG LỖI LẦM CỦA NHƯ LAI

(Từ quyển 6 – đầu quyển 9)

Bấy giờ, vua Nghiêm Sí đã nghe Tát-già Ni-kiền Tử nói rồi, tâm rất vui mừng, liền hỏi điều nghi ngờ:

–Thưa Đại sư! Nay những chúng sinh sống trong thế giới này, có người nào thông minh, đại trí, lợi căn, thông tuệ, biết pháp và phi pháp mà không có tội chăng?

Đáp:

–Đại vương! Có những chúng sinh này và họ không có tội lỗi.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Nay ai là những người như thế?

Đáp:

–Đại vương! Đó là Sa-môn Cù-đàm, con dòng họ Thích, sinh ra ở trong Vương gia họ Thích, vì đạo xuất gia.

Đại vương nên biết! Ở trong kinh Từ-vi-đà có nói: “Sa-môn Cù-đàm dòng họ Thích kia không có tội lỗi. Bởi vì sinh trong Vương gia, không có sự ganh tỵ. Vì sao? Vì sinh ở trong nhà vua Chuyển luân, thuộc dòng họ cao quý nên không thể ganh tỵ. Vì sao? Vì sinh ở trong nhà thuộc dòng họ Cam giá, phước đức trang nghiêm nên không thể có sự ganh tỵ. Vì sao? Vì thân có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm, đầy đủ sự thật không thể ganh tỵ. Vì sao? Vì đầy đủ hoàn toàn thành tựu trì giới, mười Lực, bốn Vô sở úy và mười tám pháp Bất cộng. Như thế, biết Sa-môn Cù-đàm kia không có tội.”

Đại vương! Sa-môn Cù-đàm con của dòng họ Thích kia, nếu không vì đạo bỏ nhà xuất gia thì sẽ thành bậc Chuyển luân thánh vương, làm vua trong bốn châu thiên hạ, sẽ làm vị Pháp vương thực hành pháp hạnh. Ngài có đầy đủ bảy báu, như xe báu, voi báu, ngựa báu, phu nhân báu như ý, đại thần báu, chủ kho báu và có đầy đủ ngàn người con, dũng mãnh tuấn kiệt, lại có tướng trượng phu. Thân của Ngài có đầy đủ uy đức, không thể chê bai được; có năng lực hàng phục các quân đội khác; thành tựu đầy đủ tướng Chuyển luân vương ở trong bốn thiên hạ, đều được tự tại, không có ai hơn Ngài. Ở trong đại địa này không có oán thù, không có não hại, không có vũ khí mà chỉ dựa theo pháp cai trị, sống trong sạch, bình đẳng tự tại.

Hơn thế nữa, Vương tử Sa-môn Cù-đàm kia cũng không thích thú vui ở thế gian, lại bỏ nhà xuất gia, dũng mãnh tinh tấn, thực hành đại khổ hạnh, ngày ăn một hạt vừng hay một hạt gạo, tâm không lười biếng. Trải qua sáu năm tu khổ hạnh, thành Đẳng chánh giác, ngồi nơi đạo tràng tu khổ hạnh, thu phục ma lực, nhất tâm nghĩ về điều mình đã biết, điều mình đã đắc, đã thấy và điều đã chứng ngộ tương ứng với trí tuệ. Tất cả pháp đã chứng ngộ kia không bởi học từ thầy mà chính tự trí của mình thể chứng được giác trí như thật ấy. Cho nên biết rằng, tất cả thế gian Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn không ai có thể bằng Sa-môn Cù-đàm, huống gì có người hơn Sa-môn Cù-đàm là Bậc Vô Đẳng Đẳng, Vô Thắng Đẳng! Bởi thế, Ngài không có lỗi lầm. Vì sao? Vì dòng họ của Sa-môn Cù-đàm kia không ai bằng, thân tướng không ai bằng, trí tuệ không ai bằng, nên không có lỗi lầm. Rồi nói kệ rằng:

Thân sinh dòng họ quý
Các tướng trăm phước quý
Tám mươi vẻ đẹp diệu
Trang nghiêm tự thân Phật
Sáu năm tu khổ hạnh
Ngồi dưới cây Bồ-đề
Thu phục các chúng ma
Đạt đến Nhất thiết trí
Là Thầy các trời người
Thường nghĩ lợi thế gian
Từ bi tâm bình đẳng
Cứu khổ không oán thân
Thành Ba-la-nại nói
Pháp tương ứng Tứ đế
Vô ngã, mạng, chúng sinh
Cho nên không lỗi lầm.

Bấy giờ, vua Nghiêm Sí thưa Tát-già Ni-kiền Tử:

–Thưa Đại sư! Nên nói cho chúng tôi biết thế nào là ba mươi hai tướng Đại trượng phu của Như Lai, và cách dùng ba mươi tướng này trang nghiêm thân và được tên Đại trượng phu sư tử chúa.

Khi ấy, Đại Tát-già Ni-kiền Tử bảo vua Nghiêm Sí:

–Đại vương! Xin chí thành lắng nghe, tôi sẽ nói.

Nhà vua trả lời:

–Thưa Đại sư! Tôi xin được nghe.

Tát-già Ni-kiền Tử nói:

–Đại vương! Ba mươi hai tướng tốt của Sa-môn Cù-đàm, đó là:

  1. Dưới bàn chân của Sa-môn Cù-đàm rất bằng phẳng, đứng vững vàng trên đất.
  2. Dưới bàn chân của Sa-môn Cù-đàm có đầy đủ tướng “Thiên bức luân” (bánh xe ngàn căm).
  3. Sa-môn Cù-đàm tay, chân mềm mại giống như vải hoa trời.
  4. Các ngón tay của Sa-môn Cù-đàm dài và rất thon thả.
  5. Giữa các ngón tay của Sa-môn Cù-đàm có màng lưới.
  6. Gót chân của Sa-môn Cù-đàm rất tròn trịa.
  7. Mu bàn chân của Sa-môn Cù-đàm đầy đặn.
  8. Sa-môn Cù-đàm có đùi nai chúa.
  9. Sa-môn Cù-đàm thân tướng đoan nghiêm.
  10. Âm tàng của Sa-môn Cù-đàm như ngựa chúa.
  11. Sa-môn Cù-đàm mỗi một lỗ chân lông trên người, chỉ mọc một sợi lông không lẫn lộn nhau.
  12. Tóc của Sa-môn Cù-đàm có màu sắc như lưu ly tinh diệu.
  13. Lông trên thân Sa-môn Cù-đàm mọc hướng lên trên rất mềm mại.
  14. Da của Sa-môn Cù-đàm có màu sắc như vàng.
  15. Da của Sa-môn Cù-đàm mịn màng và mềm mại.
  16. Bảy chỗ của Sa-môn Cù-đàm bằng phẳng.
  17. Hai vai của Sa-môn Cù-đàm tròn dầy.
  18. Hai vai của Sa-môn Cù-đàm cao và ngang bằng như núi vàng.
  19. Thân thể của Sa-môn Cù-đàm rất cao lớn.
  20. Thân thể của Sa-môn Cù-đàm thon thả, ngay thẳng như chúa Ni-câu.
  21. Má của Sa-môn Cù-đàm như má của Sư tử.
  22. Sa-môn Cù-đàm có đủ bốn mươi chiếc răng.
  23. Răng của Sa-môn Cù-đàm khít và sát.
  24. Răng của Sa-môn Cù-đàm đều và bằng phẳng.
  25. Răng của Sa-môn Cù-đàm trắng như tuyết.
  26. Lưỡi của Sa-môn Cù-đàm thưởng thức được vị tối thặng.
  27. Lưỡi của Sa-môn Cù-đàm che hết cả mặt.
  28. Tiếng nói của Sa-môn Cù-đàm như tiếng Phạm.
  29. Mắt của Sa-môn Cù-đàm như mắt trâu chúa, trên dưới đều có thể nhìn lên xuống được.
  30. Con mắt của Sa-môn Cù-đàm tươi sáng như cánh hoa sen xanh.
  31. Trên trán của Sa-môn Cù-đàm co sợi lông dài thể hiện tướng công đức đầy đủ.
  32. Đầu của Sa-môn Cù-đàm rất cao, không thấy đảnh.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm dùng ba mươi hai tướng tốt này trang nghiêm thân, nên gọi là Đại trượng phu sư tử chúa.

Rồi nói kệ rằng:

Đảnh cao tướng vi diệu
Thân trang nghiêm tối thắng
Tóc như lưu ly xanh
Màu đẹp xoáy bên phải.
Mắt đẹp giống trâu chúa
Như cánh hoa sen xanh
Cho nên, thân Cù-đàm
Chỉ khen không ganh tỵ.
Giọng Cù-đàm vi diệu
Vượt các tiếng Phạm thế
Như chim Ca-lăng-già
Các chim đều không bằng.
Lưỡi che khắp cả mặt
Sạch như cánh hoa sen
Diệu tướng vượt quần sinh
Cho nên, đời không bằng.
Lưỡi nếm đến thượng vị
Các vị không sai khác
Mau thành thân tướng đẹp
Nên Phật không lỗi lầm.
Răng công đức Cù-đàm
Tất cả không ai bằng
Trong sáng như ngọc tuyết
Ngang bằng không lồi lõm.
Gò má cao và rộng
Vuông như Sư tử chúa
Môi hồng ai cũng khen
Giống như trái Tần-bà.
Hai vai cao và bằng
Trước sau đều tròn trịa
Thần quang chiếu các mắt
Cao đẹp như núi vàng.
Các tướng thân Cù-đàm
Trang nghiêm ba mươi hai
Trên dưới thân tròn đầy
Như cây chúa Ni-câu.
Thân Cù-đàm cao lớn
Đứng vững không chê được
Trí giả thường mong đợi
Ưa nhìn không biết chán.
Cù-đàm thân công đức
Bảy chỗ đều đầy đủ
Màu da luôn tươi sáng
Như vàng Diêm-phù-đàn.
Lông thân nhỏ mềm mại
Bụi trần không làm nhơ
Mọc xoáy về bên phải
Dựa nhau hướng lên trên.
Tóc sạch màu xanh đẹp
Dày rậm không thưa thớt
Cho nên tướng Cù-đàm
Hơn các tướng thế gian.
Thân Cù-đàm ngay thẳng
Ngồi đứng không cong quẹo
Âm tàng tướng ngựa chúa
Cũng như Đại Long vương.
Đùi như chân nai chúa
Lớn nhỏ trên dưới đều
Cho nên người trí nhìn
Không có tâm nhàm chán.
Ngón tay, chân có màng
Trong ngoài thường tươi sáng
Móng như lá đồng đỏ
Ngón như hình đốt đồng.
Thân mu chân đầy cao
Dáng tròn như viên ngọc
Gót bàn chân rất đẹp
Ngang bằng không cao thấp.
Các ngón nhỏ và dài
Co duỗi rất mềm mại
Dưới chân phẳng đứng vững
Dẫm đất thường an ổn.
Đây là phước Cù-đàm
Công đức như các núi
Theo nhóm công đức đây
Hiện thành thân Cù-đàm.
Thân công đức như vậy
Hơn thế gian trời người
Như trăng tròn sáng kia
Xuất hiện giữa các sao.
Cù-đàm tướng Trượng phu
Công đức trang nghiêm thân
Đại Bi tự tại hiện
Lợi ích các thế gian.
Pháp thanh tịnh không dơ
Vô lượng các công đức
Các diệu tướng như thế
Chỉ cảnh giới Cù-đàm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Tám mươi vẻ đẹp của Như Lai là những nghiêm thân, nên nói Như Lai có trăm phước tướng trang nghiêm thân công đức?

Đáp:

–Đại vương! Nay tôi nói ví dụ về sự thành tựu của việc này. Nếu gom hết chúng sinh thuộc bốn loại sinh trong tam thiên đại thiên thế giới; nghĩa là những loài sinh bằng trứng, sinh bằng thai, sinh bằng ẩm ướt, sinh bằng bien hóa. Tất cả những chúng sinh này, giả sử cùng một lúc được làm thân người. Khi đã được làm thân người rồi, mỗi mỗi chúng sinh ấy đều tu mười thiện nghiệp, thành tựu phước đức của vua Chuyển luân thánh.

Những chúng sinh ấy đã tu thành tựu phước đức hội tụ của vua Chuyển luân thánh rồi, mỗi mỗi phước đức ấy lại tăng lên gấp trăm lần thì chỉ mới thành tựu tướng công đức của một lỗ chân lông Cù-đàm. Đó là công đức trong một lỗ chân lông, còn công đức trong mỗi mỗi lỗ chân lông khác cũng như thế.

Đại vương nên biết! Công đức trong tất cả lỗ chân lông lại tăng lên trăm lần thì chỉ mới thành tựu một công đức tốt ở thân Sa-môn Cù-đàm. Đó là một công đức tốt, còn mỗi công đức khác cũng lại như thế.

Như vậy, tất cả các công đức tốt lại tăng lên trăm lần thì chỉ mới thành tựu một tướng công đức Đại trượng phu trong thân Sa-môn Cù-đàm. Đó là một tướng cong đức, còn các tướng công đức khác cũng lại như thế.

Như vậy, ba mươi hai tướng công đức lại tăng lên trăm lần thì chỉ mới thành tựu một tướng công đức giữa lông trắng chân mày của Sa-môn Cù-đàm. Như vậy, tướng công đức lông trắng giữa chân mày lại tăng lên trăm lần mới được thành tựu một tướng đỉnh đầu công đức trong tướng Đại trượng phu của Sa-môn Cù-đàm.

Như vậy, công đức tướng đảnh đầu lại tăng thêm trăm, ngàn, vạn, ức lần mới được thành tựu một âm thanh như tiếng ốc công đức trong tướng Đại trượng phu của Sa-môn Cù-đàm.

Sa-môn Cù-đàm với công đức tiếng ốc này, tất cả những âm thanh của tất cả chúng sinh trong cảnh giới chúng sinh, với ngôn ngữ không đồng nhau, cùng một lúc đưa ra trăm ngàn câu hỏi khác nhau. Có những sự việc mà chúng sinh này hỏi rồi, chúng sinh khác không hỏi nữa. Nhưng có thể bằng trí tuệ, chỉ trong một niệm dùng một âm thanh trả lời tất cả các câu hỏi của chúng sinh ấy và có thể khiến cho họ cùng một lúc hiểu rõ vấn đề mình hỏi.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm dùng công đức này trang nghiêm thân, nên gọi là thành tựu tướng Đại trượng phu. Bởi thế, Samôn Cù-đàm đã thành tựu thân tướng trăm phước công đức, nên Samôn Cù-đàm thành tựu âm thanh vi diệu của Phạm vương.

Rồi nói kệ rằng:

Thân công đức Cù-đàm
Chứa nhóm trăm phước tướng
Giáo hóa các quan sinh
Nên gọi Thầy trời người.
Thấy, nghe và nhận vật
Phước ấy không thể lường
Cù-đàm xuất thế gian
Lợi ích các chúng sinh.
Cõi chúng sinh sai khác
Tùy loài hỏi khác nhau
Cù-đàm chỉ một niệm
Một âm đáp liền hiểu.
Cù-đàm hiện thế gian
Hay dùng âm thanh Phạm
Chuyển pháp luân tối thượng
Khiến trời người hết khổ.

Bấy giờ, vua Nghiêm Sí hỏi Tát-già Ni-kiền Tử bằng bài kệ:

Đại sư hãy nói tên
Các tướng nhỏ Như Lai
Xin vì các chúng sinh
Và tôi, phân biệt nói.

Lúc đó, Tát-già Ni-kiền Tử trả lời vua Nghiêm Sí:

–Đại vương! Người có thể vì các chúng sinh xiển dương thiểu tướng công đức của Như Lai sẽ có lợi ích lớn. Nay người lắng nghe, ta phân biệt nói rõ từng tướng một:

Sa-môn Cù-đàm có tám mươi tướng hảo. Theo những tướng hảo ấy, ta nói rộng về tướng công đức của Sa-môn Cù-đàm, giống như trăng rằm mùa thu xuất hiện giữa các sao.

Tám mươi tướng ấy là:

  1. Tướng đầu của Sa-môn Cù-đàm rất uy nghiêm, trên dưới đều tương ứng.
  2. Tướng đầu của Sa-môn Cù-đàm tròn đẹp như trái cây Mađà-la.
  3. Tóc của Sa-môn Cù-đàm dài, đẹp và mem mại như tơ Uy hắc.
  4. Tóc của Sa-môn Cù-đàm suôn thẳng, không rối rắm.
  5. Lông và tóc của Sa-môn Cù-đàm uyển chuyển xuôi theo một mái về bên phải.
  6. Tóc và da của Sa-môn Cù-đàm có màu sắc bóng loáng như lưu ly xanh.
  7. Chan mày của Sa-môn Cù-đàm trắng xóa như trăng mới mọc.
  8. Mắt của Sa-môn Cù-đàm dài lớn như cánh hoa sen xanh.
  9. Trái tai của Sa-môn Cù-đàm thòng dài như giọt sương nhiễu xuống.
  10. Mũi của Sa-môn Cù-đàm dài, cao và thẳng không thấy lỗ.
  11. Miệng của Sa-môn Cù-đàm có hương thơm thanh khiết, người ngửi không biết chán.
  12. Lưỡi của Sa-môn Cù-đàm có màu sắc sáng đỏ như lá đồng đỏ.
  13. Lưỡi của Sa-môn Cù-đàm nhỏ, mỏng, láng sắc và mềm mại.
  14. Môi của Sa-môn Cù-đàm có màu sắc đỏ hồng như quả Tầnbà.
  15. Răng của Sa-môn Cù-đàm trắng, nhỏ và rất sắc bén, có ánh sáng phản chiếu trong miệng.
  16. Sắc mặt của Sa-môn Cù-đàm tươi sáng rực rỡ như tấm gương sáng.
  17. Khuôn mặt của Sa-môn Cù-đàm trên dưới, rộng hẹp đều rất tương xứng.
  18. Khuôn mặt của Sa-môn Cù-đàm tươi đẹp như vầng trăng tròn.
  19. Khuôn mặt của Sa-môn Cù-đàm uy nghiêm thù thắng, ai nhìn cũng thích.
  20. Thân thể của Sa-môn Cù-đàm sạch sẽ, bụi trần không làm dơ.
  21. Thân thể của Sa-môn Cù-đàm trong sạch, mềm mại, như tấm lụa, trắng như hoa, xanh tươi rực rỡ.
  22. Thân Sa-môn Cù-đàm cao lớn, ngay thẳng như cờ Đế Thích.
  23. Các vằn chỉ trên thân Sa-môn Cù-đàm có tướng phước đức siêu việt.
  24. Thân thể Sa-môn Cù-đàm mềm mại, trơn láng như bôi dầu.
  25. Thân thể Sa-môn Cù-đàm to nhỏ như cây chúa Ni-câu thẳng thắng, tròn trịa.
  26. Các tướng tốt trên thân Sa-môn Cù-đàm người không thể chê được.
  27. Sức mạnh của Sa-môn Cù-đàm không ai địch nổi, như Nala-diên.
  28. Sa-môn Cù-đàm dung mạo, cử chỉ rất uy nghi, tiến hoặc lùi đều có phép tắc.
  29. Các tướng tốt ở trên thân Sa-môn Cù-đàm, tất cả chúng sinh thích ngắm không nhàm chán.
  30. Các hình tướng trên thân Sa-môn Cù-đàm, các chúng sinh ác trông thấy sẽ sinh tâm vui mừng.
  31. Bước đi của Sa-môn Cù-đàm rất uy nghiêm, chúng sinh nhìn không biết chán.
  32. Sa-môn Cù-đàm mỗi khi xoay người lại nhìn giống như voi chúa.
  33. Sa-môn Cù-đàm cử động thân thể hiện tướng uy nghi như sư tử chúa.
  34. Thân Sa-môn Cù-đàm vững vàng luôn ổn định.
  35. Thân tướng Sa-môn Cù-đàm cao lớn không thể đo lường được.
  36. Thân Sa-môn Cù-đàm cao lớn, không có tướng thấp nhỏ.
  37. Vầng ánh sáng khắp trên thân Sa-môn Cù-đàm tỏa ra với chu vi một trượng.
  38. Thân Sa-môn Cù-đàm có các tướng ánh sáng chiếu soi khắp mười phương.
  39. Sa-môn Cù-đàm thân tướng tôn quý, người thấy đều quy phục.
  40. Da của Sa-môn Cù-đàm mịn màng, thường có ánh sáng.
  41. Da của Sa-môn Cù-đàm trơn láng bằng phẳng, không có tướng già nhăn.
  42. Ánh sáng trên thân Sa-môn Cù-đàm chiếu đến thì mắt chúng sinh không dám nhìn thẳng.
  43. Thân Sa-môn Cù-đàm sáng tỏ, ban ngày cũng như ban đêm.
  44. Những lỗ chân lông trên thân Sa-môn Cù-đàm tiết ra mùi thơm vi diệu.
  45. Tướng mạo và uy đức của Sa-môn Cù-đàm vượt hẳn thế gian.
  46. Các đường gân, mạch máu trên thân Sa-môn Cù-đàm ẩn sâu, không lộ ra.
  47. Các đốt xương của Sa-môn Cù-đàm nối liền nhau như mắt xích.
  48. Lông trên thân Sa-môn Cù-đàm nhỏ nhan, mịn màng và tất cả đều xoáy về bên phải.
  49. Lông trên thân Sa-môn Cù-đàm có màu sắc sáng rực rỡ như vàng Diêm-phù-đề.
  50. Sa-môn Cù-đàm chân tay có màu sắc đỏ trắng như hoa.
  51. Tay chân Sa-môn Cù-đàm tươi tắn, sạch sẽ và luôn luôn mềm mại.
  52. Mười ngón tay Sa-môn Cù-đàm nhỏ thon, dài rất đẹp.
  53. Mắt cá chân của Sa-môn Cù-đàm không lộ ra, ngang bằng không cao, không thấp.
  54. Xương đùi của Sa-môn Cù-đàm cứng dài trên dưới đều đầy đặn đẹp.
  55. Tay chân Sa-môn Cù-đàm đều đặn không cao thấp.
  56. Các ngón tay của Sa-môn Cù-đàm mềm mại, trong ngoài đều nắm được.
  57. Các đường chỉ trong bàn tay Sa-môn Cù-đàm nhỏ, hiện rất rõ và kín đáo.
  58. Chỉ tay Sa-môn Cù-đàm ngay thẳng rõ ràng.
  59. Chỉ tay của Sa-môn Cù-đàm không đứt đoạn.
  60. Móng tay Sa-môn Cù-đàm mỏng, láng bóng và có màu sắc như đồng đỏ.
  61. Sa-môn Cù-đàm đứng ngay thẳng, vững vàng không nghiêng ngửa.
  62. Sa-môn Cù-đàm đứng rất vững vàng, không ai có thể lay chuyển được.
  63. Thân Sa-môn Cù-đàm cử động có uy lực giống như sư tử chúa.
  64. Sa-môn Cù-đàm quay thân lại nhìn giống như voi đại chúa.
  65. Bước đi của Sa-môn Cù-đàm thẳng thắng không xiêu vẹo.
  66. Bước đi của Sa-môn Cù-đàm bình thản như voi chúa.
  67. Sa-môn Cù-đàm mỗi khi nhấc bước chân đi như ngỗng trắng chúa.
  68. Sa-môn Cù-đàm bước đi không chạm đất, nhưng thân tướng in rõ trên đất.
  69. Sa-môn Cù-đàm chín lỗ đầy đủ và đều.
  70. Bụng của Sa-môn Cù-đàm nhỏ, không lộ ra.
  71. Lỗ rốn của Sa-môn Cù-đàm sâu và tròn.
  72. Âm thanh của Sa-môn Cù-đàm hòa nhã lớn nhỏ đều hay.
  73. Tiếng nói của Sa-môn Cù-đàm rất vi diệu, vang xa, ai nghe cũng đều hiểu được.
  74. Giọng nói của Sa-môn Cù-đàm tùy theo ý nghĩ của chúng sinh khi nghe đều được vui vẻ.
  75. Giọng nói của Sa-môn Cù-đàm tùy theo phương hướng, không tăng không giảm.
  76. Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp đúng lúc, đúng trình độ không sai.
  77. Sa-môn Cù-đàm có khả năng nói theo tiếng của địa phương ở khắp mọi nơi.
  78. Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp bằng một thứ tiếng mà khiến cho tất cả mọi loài khác nhau đều hiểu được.
  79. Sa-môn Cù-đàm tùy theo nhân duyên thứ tự thuyet pháp.
  80. Giữa ngực Sa-môn Cù-đàm có chữ vạn biểu hiện tướng công đức.

Đại vương nên biết! Đó gọi là Sa-môn Cù-đàm thành tựu thân tướng công đức, với tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm. Tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật, các Trời, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn và các ngoại đạo không ai có được như thế, vì vậy, ta nói không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Đại vương nghe ta nói
Phật tám mươi vẻ đẹp
Đó là các tướng tốt
Trang nghiêm thân Cù-đàm.
Móng tay Ngài tròn đẹp
Hình như nửa ống trúc
Màu đồng đỏ tuyệt vời
Sáng tươi như bôi dầu,
Thịt giữa ngón bằng phẳng
Thứ tự rất đều nhau
Chỉ tay đều ngay thẳng
Sâu nhỏ tướng rõ ràng,
Mạch sâu không tướng khác
Môi đỏ quả Tần-bà
Chân khéo trụ đều nhau
Cho nên thường an ổn.
Mắt cá ẩn không hiện
Cao thấp khó phân biệt
Trong tay phát ánh sáng
Biểu hiện tướng công đức.
Tướng lưỡi rất mềm mại
Như lụa hoa trời mới
Mỏng như lá đồng đỏ
Sắc sáng thường tươi tắn.
Các đốt xương ẩn sâu
Diệu tướng thật khó thấy
Hai tay quá đầu gối
Trời, người đều khen ngợi.
Tiếng diệu vang rất xa
Giống như rồng chúa lớn
Như mưa sấm giữa trời
Tiếng vi diệu vượt hơn.
Cù-đàm thân trăng tròn
Hợp với thật tướng tinh
Hình đẹp rất đoan nghiêm
Trên dưới đều tròn đầy.
Dứt hẳn thân tướng xấu
Đầy đủ các công đức
Ngực nở như Sư tử
Mỗi tướng đẹp khác nhau.
Tay chân ánh sáng đẹp
Da như màu vàng tươi
Cho nên các công đức
Mỗi đức không thể chê.
Thân tướng đẹp thứ tự
Lìa các tướng thô xấu
Tướng rốn tròn và thẳng
Lỗ sâu không quanh co,
Tất cả các phần thân
Công đức tụ hợp thành
Các hạnh đều thanh tịnh
Sáng sạch lìa tối dơ.
Thân công đức như thế
Thiện đủ không nghi ngờ
Vì vậy các thế gian
Thích nhìn không nhàm chán.
Đứng dậy như rồng chúa
Mạnh mẽ động hang sâu
Bước đi như trâu chúa
Uy như sư tử chuyển.
Thân tướng rất mềm mại
Khớp xương không rời nhau
Bước tới như ngỗng chúa
Không mau cũng không chậm.
Bụng thon không lộ ra
Sườn mềm mại bằng phẳng
Lông sáng bóng xuôi phải
Ánh sáng như điện chớp.
Bước đi tới hoặc lui
Các tướng hiện điềm lành
Lìa các màu đen tối
Không có nốt ruồi xấu.
Mày như trăng đầu tháng
Cũng như vàng đen huyền
Mắt trong không đục dơ
Mắt lớn sáng như sao.
Miệng Ngài vuông tròn đẹp
Tiếng hay phát âm hòa
Các tướng vượt quần sinh
Lìa những dây phiền não.
Lông mày rất tươi đẹp
Mũi thẳng ống treo ngược
Hai mắt lớn và dài
Như cánh hoa sen xanh,
Mi đều giáp liền nhau
Tướng tròn đầy như khuôn
Răng dài sắc đều nhau
Răng sáng tỏa trong miệng,
Lông thân ngang bằng nhau
Cổ, họng không cao thấp
Cho nên tướng Cù-đàm
Người, trời không bằng được.
Đầu tròn như chiếc dù
Xương trên đỉnh ngang bằng
Da trán không nhăn nheo
Như viên ngọc thật tròn.
Lông Cù-đàm mịn màng
Không rối, không phân tán
Uyển chuyển xoáy về phải
Thường xuất tỏa hương thơm,
Lông Cù-đàm tươi sạch
Trần cấu không thể nhiễm
Như lưu ly trong sáng
Không bị vẫy bùn dơ,
Lông Cù-đàm đầy đủ
Từng sợi thứ tự mọc
Như cây cỏ Lăng chỉ
Đều mịn không rối nhau,
Lông Cù-đàm mềm mại
Như lông bụng ong chúa
Lìa tướng bệnh yếu già
Tóc đen không đổi trắng.
Ngực Cù-đàm nở nang
Giống như sư tử vương
Như voi, như lộng cao
Cũng như mốc Kim cang,
Như bình vàng đứng thẳng
Như bức tranh cuốn tròn
Như hoa Bát-đầu-ma
Như ngọc công đức trời,
Như ngồi xếp kiết già
Mỗi mỗi trong các đốt
Sức như Na-la-diên
Vì vậy, vượt thế gian.
Cù-đàm, ngực chữ vạn
Đầy đủ ngàn căm xe
Tay chân tướng không khác
Ngàn căm không khác nhau,
Chủ nhân chính là đây
Các tiểu tướng Cù-đàm
Nhị thừa và ngoại đạo
Trời người đều không bằng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã thành tựu thân với các tướng đẹp như thế. Tất cả chúng sinh không ai có được như vậy, nên ta nói Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu năng lực tâm đại Từ, có thể làm đến lợi ích rất lớn cho tất cả chúng sinh, không có tâm hại. Tâm đại Từ ấy không bị ngăn ngại, không bị cách trở, luôn luôn vận hành, tự nhiên tỏa chiếu khắp các cảnh giới trong thế gian, đi thẳng vào phiền não sử của các chúng sinh.

Đại vương nên biết! Giống như nước trong sạch, nhờ ngọc báu Ma-ni, vì bản chất của nó làm trong sạch nước, tự no là trong sáng mà làm cho tất cả nước đục thành trong. Cũng vậy, nước tâm đại Từ, tự thân thanh tịnh, lại có khả năng làm cho thanh tịnh tất cả nước đục kiến chấp, bùn phiền não của tất cả chúng sinh. Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu rộng lớn như thế, nên ta nói Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Cù-đàm đại Từ bi
Xem khắp mười phương cõi
Tâm đối các chúng sinh
Không lúc nào rời bỏ,
Nên gọi Phật Thế Tôn
Thành tựu tâm đại Bi
Vì thế, Nhất thiết trí
Không có những lỗi lầm.
Như nước trong sạch kia
Ngọc như ý ma-ni
Tự thể vốn sáng trong
Làm sạch các nước đục,
Cũng vậy, Đức Cù-đàm
Tự tánh lìa cấu bẩn
Dùng nước tâm đại Từ
Sạch tâm nhơ chúng sinh.

Đại vương nên biết! Đối với chúng sinh, Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu ba mươi hai quán tâm đại Bi.

Ba mươi hai quán tâm đó là:

  1. Sa-môn Cù-đàm thay các chúng sinh rơi vào chỗ tối tăm, ngu si, nên khởi tâm Từ bi.
  2. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh rơi vào sự ràng buộc của vô minh, nên khởi tâm đại Bi.
  3. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị rơi vào nơi rất nguy hiểm trong thế gian, nên khởi tâm đại Bi.
  4. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh từ bỏ chốn tịch tịnh, đi theo thế gian, nên khởi tâm đại Bi.
  5. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh rơi xuống thác dữ, trôi theo dòng, nên khởi tâm đại Bi.
  6. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh rơi vào chốn điên đảo, nguy hiểm đau khổ tột cùng, nên khởi tâm đại Bi.
  7. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh đi theo đường ác, từ bỏ Thánh đạo, nên khởi tâm đại Bi.
  8. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị dây phiền não lớn trói buộc và luôn luôn bị các lưới phiền não vây bủa, nên khởi tâm đại Bi.
  9. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh ở trong các cảnh giới thường không đầy đủ, không thỏa mãn, nên khởi tâm đại Bi.
  10. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị các ái nhiễm làm chủ, không được tự tại, nên khởi tâm đại Bi.
  11. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường bị khổ đau lớn của già, chết dày vò, nhưng không sinh nhàm chán, nên khởi tâm đại Bi.
  12. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh không thoát khỏi bệnh tật, thường bị đau khổ bởi những căn bệnh hành hạ, nên khởi tâm đại Bi.
  13. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị ba ngọn lửa thiêu đốt suốt ngày đêm, không bao giờ dừng nghỉ, nên khởi tâm đại Bi.
  14. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị trói buộc trong nghề nghiệp thấp hèn làm tăng trưởng sự khổ đau ở thế gian, nên khởi tâm đại Bi.
  15. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường ôm lòng sợ hãi không an ổn, nên khởi tâm đại Bi.
  16. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị lợi nhỏ cám dỗ mà quên đi họa lớn, nên khởi tâm đại Bi.
  17. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị say sưa theo những điều buông lung, không biết rắn độc từ xưa đang ngủ trong tâm, trên đường, đồng trống; thường bị oan gia năm ấm theo đuổi, nên khởi tâm đại Bi.
  18. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường bị các triền cái cướp đoạt tài sản thiện, nên khởi tâm đại Bi.
  19. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị vô minh che mắt, thường mờ mịt không thấy được bậc thiện tri thức, nên khởi tâm đại Bi.
  20. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường bị mọi việc làm rối loạn tâm, giống như tơ rối không ai gỡ ra được, nên khởi tâm đại Bi.
  21. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường ở chỗ ồn ào náo nhiệt, xa lìa nơi tịch tĩnh, nên khởi tâm đại Bi.
  22. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường ở chỗ hoạn nạn, lìa chốn bình an, nên khởi tâm đại Bi.
  23. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị tà kiến trói buộc, nên khởi tâm đại Bi.
  24. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh rơi vào sự cám dỗ của miếng mồi ngon, nương theo tà kiến sử, nên khởi tâm đại Bi.
  25. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh ở trong đêm dài chấp tưởng điên đảo, tâm điên đảo; ở trong pháp vô thường mà khởi ý tưởng là thường, ở trong pháp đau khổ khởi ý tưởng là vui; ở trong pháp bất tịnh sinh ý tưởng là tịnh, ở trong pháp vô ngã mà sinh ý tưởng là ngã, nên khởi tâm đại Bi.
  26. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh từ vô thỉ đến nay phải nhận lấy việc sinh tử, gánh vác những điều ác xa, chịu đau khổ vô cùng mà không hề mỏi mệt, nên khởi tâm đại Bi.
  27. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh nương theo thế gian, sức lực yếu kém, chẳng phải vững chắc mà cho là vững chắc, nên khởi tâm đại Bi.
  28. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị nhiễm ô làm bẩn, thường ở trong vô số những cấu uế, nên khởi tâm đại Bi.
  29. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh bị sự tham ái trói buộc, không biết nhàm chán xa lìa, nên khởi tâm đại Bi.
  30. Sa-mon Cù-đàm thấy các chúng sinh bị các việc cúng dường, cung kính chinh phục mà thường mong cầu của cải và các vật cúng dường, nên khởi tâm đại Bi.
  31. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh thường bị các cảnh giới trói buộc, sinh tâm lo âu và bực bội, nên khởi tâm đại Bi.
  32. Sa-môn Cù-đàm thấy các chúng sinh rơi vào chỗ kiêu căng, ngã mạn, nên khởi tâm đại Bi.

Đại vương nên biết! Đó là Sa-môn Cù-đàm đối với chúng sinh đã thành tựu hoàn toàn ba mươi hai tâm quán đại Bi. Cho nên ta nói Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Cù-đàm thấy chúng sinh
Nhốt trong ngục thế gian
Luân chuyển đi các cõi
Thường chịu mọi đau khổ,
Ngu tối che tâm họ
Không biết sinh chán lìa
Cho nên Vô Thượng Tôn
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Ưa đắm các thế gian
Bốn dòng trời về đâu?
Trôi xuôi không trở lại,
Thường chìm biển sinh tử
Không biết cầu ra khỏi
Cho nên Đấng Mười Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Rơi vào hiểm họa lớn
Đi theo con đường tà
Không có người cứu giúp,
Cho nên Cù-đàm quán
Phát khởi tâm đại Bi
Dẫn đến Bồ-đề Phật
Chỗ tối thắng không sợ.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Bị trói trong lao ngục
Làm tôi tớ cho ái
Sai đi các cảnh giới,
Trôi lăn biển già chết
Không hay biết gì cả
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Đốt mạnh ba loại lửa
Thường ở các đường ác
Bao điều khổ hành hạ,
Rất sợ các đường ác
Không có nơi nương tựa
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Ưa đắm trong các cõi
Tâm tự do buông thả
Tham đắm các cảnh giới,
Thường bị mọi điều hại
Nhưng không sinh sợ hãi
Cho nên Đấng Mười Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Vô minh tăm tối che
Các thứ lộng che chắn,
Không lìa khỏi triền cái
Tà kiến rối như tơ
Không có người tháo mở
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Rơi vào đường tà kiến
Vì ở chỗ ái lâu
Tâm thường bị trói buộc,
Trong các nạn như thế
Thích thú không nhàm chán
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Khởi lên tâm điên đảo
Ở trong khổ bất tịnh
Sinh vui ý tưởng tịnh,
Trong vô thường vô ngã
Lại cho thật ngã thường
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Nương theo sức yếu kém
Thường mang vác nặng nhọc
Không sinh tâm chán lìa,
Khởi ý tưởng cố chấp
Đắm nhiễm không buông bỏ
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Ở trong biển tham ái
Lợi dưỡng che mất tâm
Thường cầu cảnh giới dục,
Tâm tham như lửa rừng
Cháy mãi không dừng nghỉ
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm thấy chúng sinh
Tạo đủ mọi nghiệp khổ
Thường bị mọi buồn bực
Khổ đau dày xéo mãi,
Vì cứu chúng sinh kia
Các phiền não làm hại
Cho nên Đấng Thập Lực
Thường khởi tâm đại Bi.
Cù-đàm luôn quán sát
Tất cả giới chúng sinh
Thường khởi tâm đại Bi
Cho nên không tội lỗi.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu ba niệm xứ.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Những gì là ba niệm xứ của Như Lai?

Đáp:

–Này Đại vương! Đó là tâm không vui, tâm không giận và tâm không giận không vui.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tâm không vui?

Đáp:

–Đại vương! Tâm không vui tức là khi Sa-môn Cù-đàm ở trong nội chúng thuyết pháp, nếu có chúng sinh với thân tâm đoan chánh cung kính, im lặng nghe, tùy thuận tiếp nhận lời dạy và theo lời dạy tu hành, thì đối với chúng sinh này, Sa-môn Cù-đàm cũng không sinh tâm vui mừng, không thích thú, không hớn hở. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có tâm xả, bình đẳng an trụ trong nhất tâm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tâm không giận?

Đáp:

–Đại vương! Sa-môn Cù-đàm ở trong chúng thuyết pháp. Nếu có chúng sinh thân không cung kính, không chuyên tâm lắng nghe, quay lòng lại với Thánh giáo, thực hành không đúng lời dạy, thì đối với chúng sinh này Sa-môn Cù-đàm cũng không tức giận, chỉ khởi tâm nhẫn, không sinh tâm không tin, cũng không sinh tâm nghĩ người kia không nghe theo lời dạy của mình. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đã có tâm xả, bình đẳng và an trụ trong nhất tâm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tâm không giận, không vui?

Đáp:

–Đại vương! Sa-môn Cù-đàm ở trong chúng thuyết pháp. Trong chúng ấy, có người thân nghiêm chỉnh cung kính, lắng tai nghe, tùy thuận ghi nhớ lời dạy và theo lời dạy để tu hành; hoac có người không cung kính, để ngoài tai, quay lưng với Thánh giáo, không tu hành như pháp. Đối với hai hạng người này, Sa-môn Cù-đàm không sinh tâm vui mừng, thích thú, hớn hở và cũng không sinh tâm giận, không khởi tâm bất nhẫn, không khởi tâm không tin, cũng không nghĩ rằng người kia trái với lời dạy của ta. Vì sao? Vì Sa-môn Cùđàm đã có tâm xả, bình đẳng và an trụ trong nhất tâm. Đại vương!

Sa-môn Cù-đàm trụ tâm vào ba niệm này, không ô nhiễm. Cho nên ta nói, Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Cù-đàm khi thuyết pháp
Người nhất tâm tiếp nhận
Thường trụ ở chánh niệm
Không khởi tâm vui mừng.
Cù-đàm khi thuyết pháp
Người không lắng tâm nghe
Thường trụ ở chánh niệm
Cũng không khởi tâm giận.
Cù-đàm khi thuyết pháp
Người nghe hay không nghe
Thường trụ ở bình đẳng
Không giận cũng không vui.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu ba nghiệp không giữ gìn.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Như Lai hoàn toàn thành tựu ba nghiệp không giữ gìn là những gì?

Đáp:

–Đại vương! ba nghiệp đó là:

  1. Không cần giữ gìn thân nghiệp.
  2. Không cần giữ gìn khẩu nghiệp.
  3. Không cần giữ gìn ý nghiệp.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là không cần giữ gìn thân nghiệp?

Đáp:

–Đại vương! Những hành động về thân của Sa-môn Cù-đàm đều thanh tịnh. Sa-môn Cù-đàm không có các hạnh bất tịnh. Cho nên Sa-môn Cù-đàm không nghĩ rằng, hành động về thân của ta bất tịnh, sợ người khác biết nên khởi tâm giữ gìn đề phòng. Vì sao? Vì Samôn Cù-đàm không có hành động về thân bất tịnh. Đó là không giữ gìn thân nghiệp thứ nhất.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là không giữ gìn khẩu nghiệp?

Đáp:

–Đại vương! Miệng của Sa-môn Cù-đàm thanh tịnh. Sa-môn Cù-đàm là người có khẩu nghiệp thanh tịnh, cho nên không nghĩ rằng hành động của miệng là bất tịnh, sợ người khác biết nên giữ gìn đề phòng. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có khẩu nghiệp thanh tịnh. Đó là không cần giữ gìn khẩu nghiệp thứ hai.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là không cần giữ gìn ý nghiệp?

Đáp:

–Đại vương! Ý nghiệp của Sa-môn Cù-đàm thanh tịnh. Sa-môn Cù-đàm là người có ý nghiệp thanh tịnh, cho nên Sa-môn Cù-đàm không nghĩ rằng ý nghĩ của là bất tịnh, sợ người khác biết nên khởi tâm đề phòng giữ gìn. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có ý nghiệp thanh tịnh. Đó là không cần giữ gìn ý nghiệp thứ ba.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu ba việc không cần giữ gìn nghiệp. Cho nên ta nói Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Ba nghiệp của Cù-đàm
Lìa vọng và vô úy
Cho nên thường thanh tịnh
Ra đời hộ thế giới,
Vì các chúng đệ tử
Tâm bình đẳng thuyết pháp
Người có lỗi thì bỏ
Người không lỗi khiến giữ.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm thành tựu Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Sa-môn Cùđàm, có bốn thứ.

  1. Thân Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
  2. Quán Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
  3. Tâm Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.
  4. Trí Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là Thân Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương nên biết! Thân Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Sa-môn Cù-đàm là lìa các phiền não; tất cả những tập khí đều chấm dứt không còn nữa, tùy ý muốn hay xả, sinh khởi hay thoái lui, ở trong tất cả mọi nơi thân được tự tại. Đó là Thân Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là Quán Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Như Lai.

Đáp:

–Đại vương! Quán Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Sa-môn Cù-đàm là đối với thân ứng hóa đã lìa khỏi tất cả phiền não và tập khí phiền não, chấm dứt không còn sự luân chuyển chìm nổi, trong các quán được tự tại. Đó là Quán Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là Tâm Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Tâm Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Sa-môn Cù-đàm là đã xa lìa hết tất cả phiền não, tập khí phiền não và tâm nhiễm ô, tâm được tự tại, chứa đầy đủ các thiện căn. Đó là Tâm Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là Trí Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Trí Nhất thiết chủng trí thanh tịnh của Sa-môn Cùđàm là tất cả các phần vô minh và các phiền não và tập khí phiền não đều đã dứt trừ không còn nữa, được tự tại trong các pháp, không còn chướng ngại. Đó là Trí Nhất thiết chủng trí thanh tịnh.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu Nhất thiết chủng trí thanh tịnh như thế. Cho nên ta nói, Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Cù-đàm Nhất thiết trí
Nương theo bốn tịnh pháp
Cho nên thấy vô cấu
Trí tuệ thân tự tại
Cù-đàm tuệ thanh tịnh
Đầy đủ bốn loại trí
Phiền não tập khí diệt
Cho nên không lỗi lầm.

********

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Như Lai tự tại như thế nào?

Đáp:

–Đại vương! Sa-môn Cù-đàm có mười sự tự tại.

  1. Mạng tự tại.
  2. Tâm tự tại.
  3. Vật tự tại.
  4. Nghiệp tự tại.
  5. Sinh tự tại.
  6. Như ý tự tại.
  7. Tín tự tại.
  8. Nguyện tự tại.
  9. Trí tự tại.
  10. Pháp tự tại.

Đại vương nên biết! Được cam lồ thượng diệu, nên gọi là Thọ mạng tự tại. Có thể biết tất cả chỉ trong một tâm, nên gọi Tâm tự tại. Ở trong hư không nắm được trân báu gọi là Vật tự tại. Xa lìa tất cả phiền não và tập khí vô minh các sử gọi là Nghiệp tự tại. Ở trong thiền định sâu xa, giải thoát Tam-muội, Tam-ma-bạt-đề, tùy ý vận hành, đó gọi là Sinh tự tại. Đối với tất cả mọi hành động thực hành một cách tự nhiên gọi là Như ý tự tại. Ở trong các nhập đạt được quán tự tại gọi là Tín tự tại. Khi mới vừa khởi tâm thì ngay lúc đó thành tựu tất cả mọi việc, đó gọi là Nguyện tự tại. Ba nghiệp thân,

khẩu, ý lấy trí làm căn bản nên gọi là Trí tự tại. Hiện tại trụ trong pháp giới bình đẳng, chân như thật tế vô cấu đó là Pháp tự tại.

Đại vương nên biết! Xa lìa sát sinh, không có tâm giận hại, đó là nhân của Mạng tự tại. ([1]) Tam bình đẳng, xả bỏ tất cả sự vật, cầu đại Bồ-đề, đó là nhân của Vật tự tại. Hành động của ba nghiệp thanh tịnh không nhiễm ô, đó là nhân của Nghiệp tự tại. Dùng tâm Bồ-đề giữ gìn các thiện căn, đó là nhân của Sinh tự tại. Xả bỏ tất cả những sự cúng dường, cung kính, lễ bái, khen ngợi mà bố thí như voi ngựa, xe cộ cho chúng sinh, đó là nhân của Như ý tự tại. Thường nói về Tam bảo, giáo hóa chúng sinh, đó là nhân của Tín tự tại. Tùy theo sự mong cầu của tất cả chúng sinh để đáp ứng kịp thời cho họ, đó là nhân của Nguyện tự tại. Thường thực hành bố thí pháp, không vì lợi dưỡng, tiếng tăm và sự cung kính, đó là nhân của Trí tự tại. Thường vì chúng sinh nói về lấy Pháp thân bình đẳng như của các chúng sinh và các Đức Như Lai làm thể, chứ không phải thân ăn uống, đó là nhân của Pháp tự tại.

Đại vương nên biết! Đạt được Thọ mạng tự tại để đối trị tất cả noi sợ hãi về sinh tử. Đạt được Tâm tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về phiền não. Đạt được Vật tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về nghèo khổ. Đạt được Hành động tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về đường ác. Đạt được Sinh tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về trói buộc của sinh. Đạt được Như ý tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về sự truy cầu. Đạt được Tín tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về sự hủy bang pháp. Đạt được Nguyện tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về sự trói buộc của tâm niệm. Đạt được Trí tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi về ngu si. Đạt được Pháp tự tại để đối trị tất cả nỗi sợ hãi ở trong đại chúng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu sự tự tại như thế, cho nên ta nói Sa-môn Cù-đàm không có lỗi lầm.

Rồi nói kệ rằng:

Cù-đàm tu chánh hạnh
Vì lợi các quần sinh
Nên đối với các pháp
Tất cả được tự tại.
Nghĩ hộ các chúng sinh
Không hành tâm giết, trộm
Bởi thế với tài mạng
Sinh đâu cũng tự tại.
Thường hành thiền, thí pháp
Dứt hẳn các nhân ác
Nghiệp tâm không chướng ngại
Sinh nơi thường tự tại.
Thường nghĩ gốc Bồ-đề
Tâm không buồn chúng sinh
Khen ngợi phước Tam bảo
Lợi ích khắp chúng sinh,
Ba nghiệp hành theo trí
Tâm thường trụ pháp giới
Sinh nơi Ý, Tánh, Nguyện
Trí, Pháp thường tự tại.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu pháp ba mươi bảy phẩm Bồ-đề phần, đó là: Bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác phần và tám Thánh đạo.

Sa-môn Cù-đàm đã thành tựu pháp thanh tịnh như thế. Cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là bốn Niệm xứ của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Bốn Niệm xứ của Sa-môn Cù-đàm là:

  1. Thân niệm xứ.
  2. Thọ niệm xứ.
  3. Tâm niệm xứ.
  4. Pháp niệm xứ.

Đại vương nên biết! Thân niệm xứ của Sa-môn Cù-đàm nghĩa là quán chiếu trong thân, ngoài thân và trong ngoài thân. Ngay ở thân này khởi lên hai cách quán: Một là quán bất tịnh, hai là quán tịnh.

Quán bất tịnh là quán sát thân này không thanh tịnh, đầy dẫy ô uế, dối gạt phàm phu.

Quán tịnh là suy nghĩ rằng, nay ta nhờ thân bất tịnh này mà được thân thanh tịnh của Phật, được pháp thân thanh tịnh, được thân công đức thanh tịnh, được thân mà tất cả chúng sinh thích nhìn.

Quán như thế rồi, biết thân thanh tịnh có hai hạnh; đó là vô thường và thường.

Thế nào là vô thường? Quán rồi, không vì tấm thân này mà tạo những nghiệp ác, mưu sống bằng tà mạng. Vì thân này tu tập ba pháp kiên cố: Một là tu thân vững chắc; hai là tu mạng vững chắc; ba là tu tài của vững chắc.

Quán như thế rồi, xa lìa tất cả mọi sự quanh co về thân, khẩu và ý, làm theo tâm chánh trực.

Thế nào là thường? Quán vô thường rồi được thân thường. Nhân vô thường nên đạt được thân công đức. Nhờ vô thường nên không đoạn hạt giống Phật, Pháp, Tăng. Vì sao? Tu Thân niệm xứ, quán sát tất cả thân chúng sinh rốt ráo được thành tựu Pháp thân chư Phật. Vì có Pháp thân nên khi khởi quán chiếu đạt được tâm bình đẳng, không có tâm phân biệt; không khởi các lậu; nghĩa là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu; không thấy có ngã và ngã sở, trụ ở cảnh giới như thật, thành Nhất thiết trí. Đó gọi là Thân niệm xứ.

Đại vương nên biết! Thọ niệm xứ của Sa-môn Cù-đàm, nghĩa là quán nội cảm thọ, ngoại cảm thọ và nội ngoại cảm thọ. Ở trong sự cảm thọ đó khởi lên hai cách quán: thường và vô thường. Khởi tâm Từ bi quán các chúng sinh. Nếu khi cảm thọ vui thì sinh tâm tham đắm, còn khi cảm thọ khổ đau thì sinh tâm sân hận. Nếu khi thọ nhận cái cảm thọ không khổ, không vui thì sinh tâm si. Ta suy nghĩ rằng: “Hễ có cảm thọ đều đau khổ”. Người muốn an lạc hoàn toàn phải đoạn dứt mọi cảm thọ, tức là thường lạc, tùy chỗ thọ sinh và thường sinh lòng Từ bi. Nếu khi thọ nhận cảm thọ vui của mình hay cảm thọ vui của người thì phải xa lìa tâm nhiễm ô và sinh tâm Từ bi. Nếu khi thọ khổ nên quán chiếu ba đường ác, xa lìa tâm sân hận và sinh tâm Từ bi. Nếu khi thọ cái cảm thọ không khổ, không vui, thì xa lìa tâm vô minh, phát sinh tâm xả. Quán chiếu tất cả mọi cảm thọ đều vô thường, khổ và vô ngã. Khi thấy người thọ vui liền biết là khổ. Khi thấy người thọ khổ thì biết như ung nhọt, lở loét. Khi thấy người thọ cái cảm thọ không khổ không lạc là không phải tịch tịnh. Quán thọ lạc liền biết vô thường; quán khổ liền biết là không; quán thọ không khổ, không vui liền biết là vô ngã. Người quán như thế gọi là Thọ niệm xứ.

Đại vương nên biết! Tâm niệm xứ của Sa-môn Cù-đàm, nghĩa là quán nội tâm, ngoại tâm và nội ngoại tâm. Ở trong tâm khởi lên hai cách quán: thường và vô thường. Quán thường là quán tánh Bồđề của tự thân, không quên, không mất, chánh niệm không loạn, quán tâm như thế. Lại quán chỗ phát tâm Bồ-đề, tánh của tâm là sinh rồi liền diệt, niệm niệm không dừng; không ở nội nhập, không ở ngoại nhập và không ở nội ngoại nhập; không ở trong ấm, không ở trong giới. Lúc này, khởi suy nghĩ: duyên tâm như thế là khác hay không khác. Nếu tâm khác duyên thì trong lúc ấy sẽ có hai tâm. Nếu tâm là duyên thì không được trở lại quán ở tự tâm. Cũng như đầu ngón tay không tự tiếp xúc. Cũng vậy, tâm khởi quán rồi, thấy tâm không trụ, vô thường và biến đổi thì mới biết rằng, tâm này chẳng phải từ duyên sinh, không phải không từ duyên sinh, không thường, không đoạn, không trong, không ngoài, không có, không không. Tâm Bồ-đề cũng vậy. Nó là tâm chẳng phải sắc nên không thể thấy được, như huyễn, như hóa, không có chướng ngại. Tự quán tâm rồi, quán tâm tánh của tất cả các chúng sinh, cũng như tánh tâm của chính mình, như tướng tâm của chính mình thì tánh tâm và tướng tâm của tất cả chúng sinh cũng đều như vậy. Biết tự tâm vốn không thì tâm tất cả chúng sinh cũng đều không. Tự quán tâm bình đẳng và quán tâm bình đẳng của các chúng sinh cũng đều như vậy. Đó gọi là Tâm niệm xứ.

Đại vương nên biết! Pháp niệm xứ của Sa-môn Cù-đàm, nghĩa là quán nội pháp, ngoại pháp và nội ngoại pháp. Ở trong pháp ấy khởi lên hai cách quán: thường và vô thường. Thường là dùng Phật nhãn để thấy tất cả các pháp, cho đến lúc ngồi trong đạo tràng chưa từng mất. Khi quán các pháp không thấy có một pháp nào, dầu cho tất cả các tướng vi tế cũng không lìa Không, Vô tướng, Vô nguyện; không tạo tác, không sinh, không diệt, không vật. Không thấy tất cả pháp cho đến một tướng vi tế, mà không nằm trong mười hai duyên khởi. Thấy pháp, phi pháp đều là pháp.

Thế nào là pháp? Nghĩa là không có ta, không có chúng sinh, không có thọ mạng và không có người, đó gọi là pháp.

Thế nào là phi pháp? Nghĩa là thấy có ta, thấy có chúng sinh, thấy có thọ mạng, thấy có người, thấy đoạn, thấy thường, thấy có và thấy không, đó gọi là phi pháp.

Sa-môn Cù-đàm thấy tất cả pháp là pháp và phi pháp. Vì sao? Quán Không, Vô tướng và Vô nguyện, đó gọi là tất cả pháp là pháp. Quán ngã mạn, kiêu mạn, ngã và ngã sở, bao gồm các kiến hoặc, đó gọi là quán tất cả pháp là phi pháp. Khởi quán chiếu tánh các pháp như thế rồi, không thấy pháp nào mà chẳng phải là nhân Bồ-đề, chẳng phải là nhân đạo xuất thế, chắc chắn là pháp xuất thế. Nếu không như vậy mà cầu các pháp thì gọi là diệt pháp. Nhưng người xuất ly từ duyên, diệt cũng từ duyên.

Khi quán như thế thì phải quán ba hạnh: hạnh ác, hạnh thiện và hạnh bất động. Ở trong ba hạnh này thường thực hành hạnh phước; thực hành mười thiện pháp làm thanh tịnh ba nghiệp. Thanh tịnh thân nghiệp vì cầu ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp chư Phật, người khác không thể hại. Thanh tịnh khẩu nghiệp thì khi thuyết pháp chúng sinh thích nghe. Thanh tịnh ý nghiệp, tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, thường nhập vào thiền định. Dùng phương tiện như vậy để quán chiếu Pháp niệm xứ, lìa bỏ tất cả những sự chướng ngại làm cấu nhiễm Bồ-đề; không chấp thường kiến, không rơi vào đoạn kiến, thực hành trung đạo kiến. Trung đạo như vậy thì trí tuệ thế gian không thể thấy được, không thể tuyên thuyết và không thể chỉ bày, không có tướng trạng, không có cảnh sắc, không có chỗ, không lấy và không bỏ mà thanh tịnh vắng lặng. Không thể dùng mắt để thấy, cho đến không thể tiep xúc, cũng không có chỗ đến, không ở tại thế gian, không ra khỏi thế gian, không thể tuyên thuyết; chẳng nhiều, chẳng ít; chẳng thường, chẳng đoạn; chẳng phải tướng, chẳng phải phi tướng; chẳng phải giác, chẳng phải khong giác; không hư, không thật; không đây, không kia; chẳng có chẳng không; không hữu vi, không vô vi; chẳng phải hạnh, chẳng phải phi hạnh; không sinh không diệt; không Niết-bàn không tác pháp. Đó gọi là Trung đạo.

Không thể dùng Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn để quán Pháp niệm xứ. Vì sao? Vì ba mắt này không có tướng trạng. Cho nên quán pháp phải dùng Pháp nhãn để quán, nhưng không đắm trước, không đánh mất các pháp. Đó gọi là Phap niệm xứ.

Đại vương nên biết! Tu tập bốn Niệm xứ thì đạt được bốn cách lìa pháp: Quán thân bất tịnh để ra khỏi sự thanh tịnh điên đảo. Quán thọ là khổ để ra khỏi cái vui điên đảo. Quán tâm vô thường để ra khỏi cái thường điên đảo. Quán pháp vô ngã để ra khỏi cái ngã điên đảo.

Lại nữa, quán Thân niệm xứ xa lìa đoàn thực; quán Thọ niệm xứ xa lìa xúc thực; quán Tâm niệm xứ xa lìa thức thực; quán Pháp niệm xứ xa lìa tư thực.

Đại vương! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu Niệm xứ như thế, cho nên ta nói Ngài không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Những gì là bốn pháp Chánh cần của Đức Như Lai?

Đáp:

–Đại vương nên biết! Bốn pháp Chánh cần cua Sa-môn Cùđàm nghĩa là bốn pháp tinh tấn để ngăn ngừa hai loại ác pháp và tích tập hai loại pháp thiện. Sa-môn Cù-đàm thành tựu tánh thiện, tâm trụ trong pháp thiện. Những pháp ác chưa sinh và đã sinh, không cần tinh tấn khiến nó tiêu diệt. Những pháp thiện chưa sinh và đã sinh cũng không cần dùng tinh tấn khiến nó phát sinh. Vì sao? Vì ở trong vô lượng đời, Sa-môn Cù-đàm thường tu tánh thiện, tất cả pháp ác tự nhiên không sinh và tat cả pháp thiện tự nhiên đầy đủ. Pháp ác, là bè đảng với phi giới uẩn, bè bạn với phi định uẩn, bè bạn với tuệ uẩn. Khi quán bốn Niệm xứ thì phải lìa các tâm biếng nhác, và năm triền cái phiền não ngăn che tâm mắt. Nếu xa lìa năm thiện căn như Tín…, tức là các pháp ác chưa sinh thì không để phát sinh, sinh rồi liền diệt, đó là siêng cần tinh tấn vậy. Pháp thiện là đối với các thiện căn chưa sinh khiến sinh, sinh rồi làm tăng trưởng, đó là cầu tinh tấn vậy. Đó gọi là bốn pháp Chánh cần.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm thành tựu hoàn toàn bốn pháp Chánh cần như thế, cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là bon phần Như ý của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Bốn phần Như ý của Sa-môn Cù-đàm là:

  1. Dục như ý.
  2. Tinh tấn như ý.
  3. Tâm như ý.
  4. Tư duy như ý.

Đó là bốn pháp, lấy Từ, Bi, Hỷ, Xả làm căn bản, là thường gần gũi bốn Vô lượng tâm. Thường gần gũi nên tâm đạt được sự điều hòa. Tâm điều hòa nên được nhập vào Sơ thiền, đệ Nhị thiền, đệ Tam thiền, đệ Tứ thiền. Nhập vào các thiền định thân được khinh an, thành tựu được thân thanh thoát. Tâm điều hòa như thế thì đã nhập vào phần Như ý. Nhập vào phần Như ý liền sinh thần thông, hoặc dục, hoặc tinh tấn là thành tựu được pháp ấy. Tâm là quán sát pháp ấy. Tư duy là phương tiện thành tựu pháp ấy. Phần Như ý như thế thì đã đạt được thần thông. Dục là trang nghiêm, Tinh tấn là thành tựu, Tâm là trụ trong chánh niệm, Tư duy là có khả năng phân biệt hoàn toàn.

Sa-môn Cù-đàm đã đạt được bốn điều Như ý, hiểu theo pháp ấy và hành động như pháp ấy. Tâm được tự tại, tùy ý đi lại, làm các nghiệp thiện, hoàn toàn thành tựu tất cả bốn hạnh, như gió bay giữa hư không bị chướng ngại và đạt được bốn pháp tự tại:

  1. Thọ mạng tự tại.
  2. Thân tự tại.
  3. Pháp tự tại.
  4. Thần lực tự tại.

Thọ mạng tự tại là điều phục chúng sinh, tùy theo chỗ thọ sinh, hoặc trời, hoặc người; ở trong tuổi thọ ngắn thì thể hiện sự trường thọ, ở trong chỗ trường thọ thể hiện sự tuổi thọ ngắn. Đó gọi là Mạng tự tại.

Thân tự tại là vì tự tại nên theo tâm mà hiện thân, theo tâm khởi các cảnh sắc, thể hiện oai nghi; vì chúng sinh nên muốn cùng với tất cả chúng sinh đồng thân tướng ấy, thường đều làm được. Đó gọi là Thân tự tại.

Pháp tự tại là có khả năng biết tất cả pháp xuất thế, nhưng vẫn thị hiện việc thế gian chúng sinh, khéo biết sâu xa mười hai nhân duyên, đạt được biện tài vô ngại, có khả năng nói tùy theo từng ngôn ngữ của chúng sinh, khiến họ trụ trong chánh tín. Đó gọi là Pháp tự tại.

Thần thông tự tại là có khả năng làm cho nước trong bốn biển lớn hợp thành một biển, không đến, không đi, không có tướng xao động. Có thể khiến cho các núi Tu-di trong tam thiên đại thiên thế giới hợp thành một hòn núi, không đến, không đi và không có sự tăng giảm, như cũ không thay đổi. Ở địa vị Tứ Thiên vương của cõi trời Tam thập tam không bị chướng ngại; muốn khiến cho tam thiên đại thiên thế giới đều được trang nghiêm bằng bảy báu, vàng bạc, chiên-đàn, hương hoa đều hiện ra để làm, có thể làm theo ý muốn. Đó gọi là Thần lực tự tại.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm rốt ráo thành tựu bốn phần Như ý như thế. Cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Đại vương! Sa-môn Cù-đàm đã thành tựu bốn phần Như ý như thế rồi, có thể nhập vào tất cả các cảnh giới thiền định, thần thông, giải thoát, bốn Vô lượng tâm, không còn ngăn ngại.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là thiền định của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Sa-môn Cù-đàm có chín bậc thiền định theo thứ

tự nhập vào Tam-ma-bạt-đề:

  1. Sơ thiền.
  2. Nhị thiền.
  3. Tam thiền.
  4. Tứ thiền.
  5. Không xứ.
  6. Thức xứ.
  7. Bất dụng xứ.
  8. Phi hữu tưởng và phi vô tưởng xứ.
  9. Diệt tận định xứ.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã xa lìa các dục, pháp ác bất thiện; có giác, có quán, lìa sự phát sinh hỷ lạc, nhập vào hạnh Sơ thiền.

Lìa các dục ác nghĩa là Sơ thiền đối trị các pháp ái nhiễm, xa lìa pháp ấy gọi là lìa các dục. Lìa các pháp bất thiện, nghĩa là nhân lúc tham, sân, si khởi lên mười nghiệp bất thiện như sát sinh…, đó gọi là pháp bất thiện. Lìa bỏ pháp ấy gọi là Sơ thiền.

Có giác, nghĩa là có đủ giác vậy. Vậy giác là cái gì? Nương vào cảnh giới nào để tùy thuận Sơ thiền? Giác có nhiều loại, nghĩa là tri giác, tư duy, quán thiền định…, đó gọi là giác. Thế nào là quán? Tức là nói tùy thuận theo Sơ thiền giác hạnh, tư duy quán, thọ dục định và tri giác, đó gọi là quán. Nương vào hạnh nhàm chán cùng với nó có giác, có quán mà thành Sơ thiền y. Đối với hạnh nhàm chán cùng với nó có hỷ có lạc mà thành Sơ thiền hành. Đó gọi là có hỷ, có lạc, nhập vào Sơ thiền hành. Hành là thọ trì, niệm, hộ, hỷ, lạc và tri, đó gọi là hành.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm trụ trong Sơ thiền đạt được Vô sinh pháp nhẫn, Tăng thượng dục tâm. Cho nên nhập vào Sơ thiền cầu Vô sinh pháp nhẫn.

Vì cầu chuyển thắng vô sinh nhẫn nên ở trong Sơ thiền sinh tưởng không kiên cố, phát khởi tâm mong muốn hướng lên trên, nên xả bỏ Sơ thiền ấy và cầu Nhị thiền. Vì muốn vào đệ Nhị thiền ấy nên lìa bỏ tâm có giác có quán của Sơ thiền kia; diệt tận tâm ấy, xa lìa tâm ấy và thanh tịnh tâm ấy, tịch tĩnh tâm ấy. Thanh tịnh bên trong, tâm gồm một chỗ, không giác không quán, định sinh hỷ lạc, nhập vào đệ Nhị thiền hành. Thanh tịnh bên trong là đối trị pháp kia làm chướng ngại Nhị thiền; tịch tĩnh, pháp ấy thanh tịnh không cấu dục. Đó gọi là thanh tịnh bên trong. Tâm một chỗ là diệt trừ tất cả giác quán của Sơ thiền kia, vắng lặng chỉ một vị. Thí như biển lớn, tất cả các dòng nước chỉ chảy vào đó đều thành một vị đó là vị mặn. Vào đệ Nhị thiền diệt trừ tất cả giác quan của Sơ thiền kia, vắng lặng một vị không giác không quán. Cho nên gọi đạt được Tam-muội không giác, không quán. Nương vào Tam-muội ấy phát sinh hỷ lạc, nghĩa là ở trong Phật, Pháp, Tăng sinh tâm hoan hỷ; nương vào tâm hoan hỷ ấy mà các công đức thiện tự nhiên đầy đủ.

Vì muốn làm cho Vô sinh pháp nhẫn kia chuyển dần đến chỗ cao hơn, chuyển dần đến ánh sáng, chuyển dần đến chỗ thắng diệu, chuyển dần đến chỗ nhu nhuyến; đạt được tâm dục hướng lên và đối với đệ Nhị thiền không trụ, không lạc. Lại mong cầu đệ Tam thiền hành thang thượng. Sinh tâm như thế, mới biết tâm hỷ kia vẫn làm chướng ngại đệ Tam thiền và Vô sinh pháp nhẫn. Cho nên lìa bỏ hạnh hỷ hành xả, bặt dứt sự ghi nhớ, an trụ trong tuệ, thân thọ lạc. Lạc này Thánh nhân cũng gọi là xả. Nương vào tâm dục thắng thượng Vô sinh pháp nhẫn của Nhị thiền kia, lìa hỷ lạc kia, nhập vào Tam thiền hành, đạt được lạc Tam-muội và nhàm chán hỷ trước. Sinh tâm như thế này mới biết là không có hỷ lạc nữa mà là vô thường lạc, là pháp tận diệt, chẳng có lạc chân thật, không thường không hằng.

Biết như vậy rồi! Lại chuyển dần tâm dục tăng thượng của Vô sinh nhẫn. Nương vào tâm dục thắng thượng ở trên không thích, khổ hay lạc, xa lìa khổ lạc. Diệt ưu hỷ ở trước, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, nhập vào thiền hành thứ tư, đạt được tâm Tam-ma-bạt-đề của thiền thứ tư, tâm nhu nhuyến, tâm tự tại, tâm tịch tĩnh, tâm sáng suốt, tâm ngay thẳng. Xả bỏ tất cả những lạc sự ấy cho các chúng sinh, và khi đoạn cho các chúng sinh kia an ổn thì ngay lúc ấy được thắng Vô sinh nhẫn sáng suốt kia xuất hiện. Đạt được thắng nhẫn sáng suốt kia xuất hiện nên khiến cho hành mau chóng. Ở trong thiền thứ tư thắng diệu lạc không sinh tâm lạc, xa lìa tâm lạc kia, xả niệm thanh tịnh, chỉ thấy hư không vô biên xuất hiện. Vượt qua tất cả sắc tướng, diệt hết tất cả các tướng hữu đối và không nghĩ đến các tướng; biết vô biên hư không tức là nhập vào vô biên hư không. Quán sắc như thế, đại khái có hai loại: một là bốn đại, hai là nương gá vào bốn đại phát sinh. Bốn đại là đất, nước, gió, lửa. Nương gá vào bốn đại là sắc, hương, vị và xúc. Như vậy, rộng có tám loại sắc tướng. Lìa những sắc tướng ấy, không còn những sắc tướng ấy, diệt trừ tất cả các sắc tướng ấy gọi là vượt qua tất cả sắc tướng.

Theo những pháp nào có sắc tướng ấy? Pháp ấy chắc có tướng đối ngại. Diệt tất cả tướng đối ngại ấy, không nghĩ, không hành các tướng khác mà có thể vượt qua các tướng khác, mà cũng không nghĩ đến các tướng khác đó, chỉ thấy tướng hư không. Cho nên biết rằng, vô biên hư không tức là nhập vào vô biên hư không hạnh. Do đó mà nói là vượt qua tất cả sắc tướng. Nhập vào vô biên hư không Tammuội kia rồi, sinh tâm như vầy: hư không vô biên, hư không không biên giới, hư không không bờ bến, theo những pháp nào? Vì vô biên nên pháp ấy không có sinh giới trước, sinh giới giữa và sinh giới sau. Như vậy, quán tất cả pháp đều không có sinh giới trước, giữa và sau. Nhập vào Tam-muội. Như thế, liền đối với tất cả chúng sinh khởi tâm đại Từ bi, xả bỏ tất cả pháp, đạt được trí bình đẳng hiện tiền. Lúc bấy giờ, ở trong pháp Vô sinh nhẫn kia mới đạt được thắng tiến sáng suốt hiện tiền.

Vượt qua tất cả tướng vô biên hư không và hiện tại biết tướng vô biên thức nhập vào hạnh Thức vô biên xứ. Sinh tâm thế này là tướng vô biên hư không, chỉ là do phân biệt thức tưởng. Đạt được tâm như thế này thì biết rằng các phap chỉ là tướng của thức, thức là thức vô lượng. Nhập vào Tam-muội như thế, đạt được Vô sinh pháp nhẫn, nhưng chưa phải hoàn toàn thành tựu Vô sinh pháp nhẫn.

Vượt qua tất cả chỗ vô biên thức tướng, hiện tại biết chỗ vô sở hữu, nhập vào hạnh chỗ vô sở hữu thiểu xứ. Vô sở hữu là không bị sở hữu bởi tâm tham, sân, si…, phân biệt, các loại phân biệt, hư vọng phân biệt. Tất cả pháp hữu vi ở trong thế gian đều phát sinh từ tâm hư vọng phân biệt. Không sở hữu ấy nên nói là vô sở hữu. Thiểu là như trước đã nói, tướng ít, tướng nhỏ, tướng vi tế ở trong pháp…, gọi là tướng thiểu. Vì không có thiểu tướng ấy nên nói không thiểu.

Vượt qua tất cả tưởng thô tế nên nói vô sở hữu, vô sở thiểu, trú vào Tam-muội này, Vô sinh pháp nhẫn chuyển thắng có ánh sáng hiện tiền. Vì được thắng vô sinh nhẫn ấy rồi mà không còn thích Tam-muội vô sở hữu, vô thiểu kia; sinh tâm thắng dục cầu tăng thượng hạnh thù thắng Tam-muội. Sinh tâm như thế là tướng vô sở hữu, vô thiểu hạnh, cũng là tướng vi tế hư vọng phân biệt.

Tiếp theo quán Phi tưởng và phi phi tưởng xứ. Những gì là phi tưởng, phi phi tưởng xứ? Phi tưởng là không. Phi phi tưởng là từ nhân duyên sinh. Lúc ấy, phi tưởng phi phi tưởng Tam-muội hiện tiền. Vượt qua tất cả thiểu tướng Vô sở hữu xứ, nhập vào phi tưởng phi phi tưởng xứ Tam-muội rồi, trú ở chỗ ấy. Sinh tâm như thế thì phi tưởng phi phi tưởng xứ kia không thể vui được, nên xa lìa pháp ấy, tức là chứng nghiệm được các pháp không sinh, không diệt Tammuội hiện tiền. Biết được tất cả pháp không sinh, không diệt, thấy các pháp tự tánh tịch diệt, không hành, không trụ. Khi đó, gọi là đạt được Vô sinh pháp nhẫn thanh tịnh thắng thượng. Đó gọi là chín thứ tự nhập vào Tam-ma-đạt-đề.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm thành tựu hoàn toàn định pháp như thế, cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tướng giải thoát của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Tướng giải thoát của Sa-môn Cù-đàm có tám loại:

  1. Có sắc thấy sắc.
  2. Trong có sắc tướng thấy sắc ở ngoài.
  3. Tín thanh tịnh.
  4. Vượt tất cả sắc tướng, diệt trừ tất cả các tướng hữu đối, không nghĩ các tướng khác; biết hư không vô biên tức là nhập vào hạnh Hư không vô biên.
  5. Vượt qua tất cả tướng hư không vô biên; biết vô biên thức tức là nhập vào hạnh Vô biên thức.
  6. Vượt qua tất cả tướng vô biên thức, biết không còn một chỗ nào cả, tức nhập vào hạnh Vô sở hữu xứ.
  7. Vượt qua tất cả Vo sở hữu xứ, biết phi hữu tưởng phi vô tưởng an ổn, tức là nhập vào hạnh Hữu tưởng và vô tưởng xứ.
  8. Vượt qua tất cả hạnh phi hữu tưởng và phi vô tưởng, diệt trừ tất cả thọ tưởng, nhập vào hạnh Diệt tận định. Đó gọi là tám giải thoát.

Có sắc thấy sắc: Có sắc là pháp do nhân duyên sinh, thấy không là không tuổi thọ. Có khả năng thấy như vậy thì được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Trong có sắc tướng thấy sắc ở ngoài thấy sắc ở ngoài là thấy không, không có tuổi thọ đều là pháp do nhân duyên sinh. Có khả năng thấy như vậy, được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Tín thanh tịnh, là nếu phân biệt tướng tịnh và bất tịnh thì gọi là kiến. Vì tin thanh tịnh, nên được giải thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Vượt qua tất cả sắc tướng là diệt trừ tất cả tướng hữu, đối đãi, không nghĩ phân biệt tướng khác, thoát khỏi trói buộc, nên gọi là giải thoát.

Người biết hư không vô biên, liền nhập vào hạnh Hư không vô biên, có thể biết vô lượng hư không như thế thì được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Vượt qua tất cả tướng hư không vô bien, biết vô biên thức liền nhập vào hạnh Vô biên thức, vô lượng thức, vô biên thức. Vô biên thức này tức là không. Có khả năng biết như vậy thì được thoát khỏi sự trói buộc, đó gọi là giải thoát.

Vượt qua vô biên thức, biết không có chút nào cả liền nhập vào hạnh Vô sở hữu. Sở hữu là phiền não tham, sân, si. Nhập vào hạnh Vô sở hữu thì diệt trừ được phiền não kia. Có khả năng biết như vậy thì được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Vượt qua vô sở hữu, biết an ổn ở trong phi hữu tưởng, phi vô tưởng liền nhập vào hạnh Phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Phi hữu tưởng là tánh vốn rỗng không, vắng lặng. Phi vô tưởng là do nương vào nhân duyên mà có. Có khả năng nhận biết như vậy thì được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Vượt qua tất cả phi hữu tưởng, phi vô tưởng, chấm dứt tất cả tưởng thọ, nhập vào hạnh Diệt tận định. Như vậy, thấy tưởng như ánh nắng, thọ như bong bóng nước, tưởng tức là thọ, thọ tức là tưởng, không thể thọ, không người biết. Có khả năng thấy như vậy thì được thoát khỏi sự trói buộc, gọi là giải thoát.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu giải thoát như thế, cho nên ta nói Ngài không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là thần thông trí hạnh của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Thần thông của Sa-môn Cù-đàm có sáu thứ:

  1. Thiên nhãn thông.
  2. Thiên nhĩ thông.
  3. Tha tâm thông.
  4. Túc mạng thông.
  5. Như ý thông.
  6. Lậu tận thông.

Đại vương! Thiên nhãn của Sa-môn Cù-đàm vượt hẳn Thiên nhãn của tất cả trời, rồng, tám bộ, Thanh văn và Duyên giác. Thấy rõ tất cả trong mười phương do công đức trí tuệ mà thành, đều thấy cảnh sắc, ánh sáng. Những hình tượng hoặc thô, hoặc tế, hoặc gần hoặc xa trong mười phương, tất cả đều thấy, phân biệt rõ ràng ở trong ấy có các chúng sinh, sinh tử tương trụ khắp mọi nẻo. Hoặc nghiệp quả phân biệt, các căn đều biết không sót và cũng thấy được quốc độ trang nghiêm tịnh diệu của chư Phật trong mười phương thế giới. Ở trong ấy đều thấy không khác việc tu tịnh nghiệp của Bồ-tát, Thanh văn và chúng sinh trong năm đường. Vì sao? Vì mắt thanh tịnh thấy khong còn bị ngăn ngại, vì mắt không cấu đục, không đắm trước sắc; vì mắt đã giải thoát, xa lìa sự trói buộc của các kiến hoặc phiền não; vì mắt thanh tịnh, tánh sáng suốt thông tỏ; vì mắt không thiển cận, lìa bỏ sở duyên; vì mắt không phát khởi, đoạn dứt phiền não; vì mắt không cấu nhiễm, đoạn đứt các điều ác; vì mắt không bị màng, cắt đứt lưới nghi; vì mắt không sinh khởi, dứt chướng ngại; mắt này không tham, sân, si, đoạn trừ tất cả các kết sử vì mắt sáng suốt, thấu tỏ được pháp; vì mắt do niệm mà biết, không hành theo thức; vì mắt này Vô thượng rốt ráo đạo Thánh; vì mắt không ngại bình đẳng chiếu khắp chúng sinh; vì mắt không nhiễm, tánh thanh tịnh. Vì sao? Vì Sa-môn Cùđàm bằng tâm đại bi, khéo phân biệt nghĩa, không có sự tranh luận, nói theo sự thấy và nghe, bỏ tâm bất thiện, thẳng đến đạo tràng, tâm không chướng ngại. Thấy người keo kiệt, tham lam có thể dạy họ đem tài sản bố thí; thấy người phạm giới khuyên họ giữ gìn các căn; thấy người sân hận khuyên họ nhẫn nhục, không tranh cãi; thấy người lười biếng khuyên họ siêng năng tinh tấn; thấy người tán loạn dạy họ niềm vui trong thiền định; thấy người ngu si dạy họ tu trí tuệ, cho nên đạt được Thiên nhãn thanh tịnh, không chướng ngại. Đó gọi là Thiên nhãn thần thông trí hạnh.

Đại vương! Thiên nhĩ thông của Sa-môn Cù-đàm, đối với tất cả những tiếng nói trong các thế giới khắp mười phương như tiếng nói của Trời, Rồng, Quỷ thần, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân thảy đều phân biệt được. Và biết được tiếng của chư Phật thuyết pháp, tiếng nói của Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Tất cả những tiếng nói có thể dùng tai nghe được. Cho đến các tiếng của địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, muỗi mòng, ruồi nhặng và bọ chét đều có thể nghe được. Nếu tâm các chúng sinh duyên với đối tượng nào rồi phát ra âm thanh từ thiện ác hay vô úy thì cũng đều biết rõ cả; các âm thanh quá khứ, hiện tại và vị lai đều nghe hết đến tận ngọn ngành. Vì sao? Vì Samôn Cù-đàm an trụ trong đại Bi, có thể nghe các âm thanh không bị chướng ngại, đoạn diệt các phiền não tập khí. Đó gọi là Thiên nhĩ thần thông trí hạnh.

Đại vương! Tha tâm thần thông trí hạnh của Sa-môn Cù-đàm, thâu nhiếp toàn bộ chúng sinh và tâm niệm của họ. Nghĩa là, tâm thiện, tâm bất thiện, tâm vô úy, tâm thuận theo phiền não, tâm trái với phiền não, tâm Thanh văn, tâm Bích-chi-phật, tâm Bồ-tát, tâm Phật, tâm Trời, tâm Rồng, tâm Dạ-xoa, tâm Càn-thát-bà, tâm A-tula, tâm Ca-lâu-la, tâm Khẩn-na-la, tâm Ma-hầu-la-già, tâm người, tâm chẳng phải người, tâm địa ngục, tâm súc sinh, tâm ngạ quỷ, tâm Diêm-la xử chúng sinh, tâm quá khứ, tâm vị lai… thảy đều phân biệt biết được. Sa-môn Cù-đàm an trụ trong tâm đại Bi có thể biết tâm người khác không chướng ngại, không có những phiền não, đoạn trừ những tập khí, thấu tỏ các pháp. Có khả năng hiểu rõ như thế gọi là Tha tâm thần thông trí hạnh.

Đại vương! Túc mạng thần thông trí hạnh của Sa-môn Cùđàm là nghĩ biết được trong quá khứ một đời, hai đời, cho đến mười đời, ngàn đời, vô lượng trăm đời, vô lượng ngàn đời, vô lượng trăm ngàn đời. Biết sự thành hoại của trời đất, vô lượng thế giới hình thành rồi hoại diệt, vô lượng kiếp hình thành hoại diệt. Biết các chúng sinh ở trong đó có dòng họ như thế, tên như thế, thân hình như thế, thọ mạng như thế, chịu đau khổ như thế và thọ hưởng vui sướng như thế, sống ở nơi như thế, y phục, ăn uống như thế; chết ở trong đó rồi sinh trở lại trong đó, chết ở chỗ kia rồi sinh trở lại chỗ kia, chết đây sinh kia, chết kia sinh đây. Lại biết hết quá khứ, biet các Đức Phật trong tận quá khứ này đến quá khứ khác. Như vậy, quyến thuộc, cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, từ lúc mới phát tâm xuất gia cầu đạo, cho đến tu tập hạnh nguyện cúng dường chư Phật, giáo hóa điều phục tất cả chúng sinh, ngồi dưới cội Bồ-đề thành Đẳng chánh giác. Những danh hiệu như thế, trụ xứ như thế, ngồi tòa thù thắng, Thanh văn, thị giả, trời, người, đại chúng, hoặc ngoại đạo như thế.

Lại nữa, thuyết pháp, độ chúng sinh, thọ mạng, diệt độ, thời kỳ chánh pháp tồn tại, thời kỳ tượng pháp tồn tại như thế, tất cả đều có khả năng nghĩ biết được. Vì sao? Vì Như Lai an trụ trong đại Bi, khéo hiểu rõ khởi nghiệp; là trí không có phiền não, vì an trụ trong thiền định; là trí không sợ hãi, khéo giữ gìn trí tuệ; là trí tự nhiên, không tìm cầu từ người khác, hiện tại khéo biết được; là trí hoàn toàn không quên; là trí công đức, Đại thừa cứu cánh; là trí thiện căn, từ Ba-la-mật sinh đến bờ kia. Đây gọi là biết bằng Túc mạng thần thông trí hạnh.

*********

Đại vương nên biết! Như ý thần thông trí hạnh của Sa-môn Cù-đàm là vì muốn điều phục những chúng sinh tà kiến, kiên cường khó giáo hóa, khiến họ theo chánh pháp. Cho nên Sa-môn Cù-đàm thị hiện các loại thần thông để giáo hóa, hoặc bằng sắc tướng, hoặc bằng thế lực, hoặc bằng biến hóa. Sắc tướng là thị hiện thân Phật, thân Bồ-tát, thân Duyên giác, thân Thanh văn, thân Thích Đề-hoàn Nhân, thân Phạm, vua trời và vua bốn cõi trời. Hoặc thân Chuyển luân thánh vương và các thân khác, cho đến thân súc sinh. Tùy theo chúng sinh mà ứng hiện để giáo hóa, đều có thể thị hiện để thuyết pháp. Nếu có chúng sinh tự ỷ vào sức mạnh của tự thân mà khởi lên thái độ kiêu mạn, sân giận, cống cao, vì muốn giáo hóa những chúng sinh như thế, nên Ngài thị hiện đại lực Na-la-diên, lấy núi Tu-di đặt ở đầu ngón tay, rồi ném vào trong vô lượng thế giới ở các phương khác. Hoặc có khi gom nắm tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến tận cùng thủy tế rồi dùng một tay nhấc cao lên đến trời Hữu đảnh, trải qua một kiếp. Thị hiện năng lực như vậy để làm cho chúng sinh kia dứt bỏ tâm kiêu mạn, tự đại và cống cao mà thuyết pháp cho họ.

Biến hóa là dùng năng lực biến hóa, có thể biến biển lớn kia thành nước trong lỗ dấu chân trâu, biển lớn không giảm mà lỗ chân trâu cũng không lớn ra. Ngược lại, biến nước trong lỗ dấu chân trâu trở thành biển lớn. Hoặc khi kiếp số sắp kết hỏa tai nổi lên cầu ứng hiện nước thì liền biến làm nước; cầu ứng hiện gió thì liền biến làm gió. Khi thủy tai nổi lên, cầu ứng hiện lửa thì liền biến làm lửa, cầu

ứng hiện gió thì liền biến làm gió. Khi phong tai nổi lên, cầu ứng hiện nước thì liền biến làm nước, cầu ứng hiện lửa thì liền biến làm lửa. Thể hiện những loại biến hóa như thế, chỉ dạy các chúng sinh, khiến họ sinh tâm vui mừng mà thuyết pháp cho họ. Vì sao? Vì sức thần thông Như Lai bao gồm các pháp tín, dục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ; điều phục tâm nhu hòa, đạt được sự tự tại, tu tập hoàn hảo. Đó gọi là Thần thông như ý.

Đại vương nên biết! Lậu tận thông trí hạnh của Sa-môn Cùđàm là các lậu hoặc đã hết, xa lìa tất cả phiền não tập khí; đó là dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu. Nó không giống chỗ đạt được lậu tận của tất cả Thanh văn và Bích-chi-phật. Vì sao? Tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật tuy đạt được lậu tận, nhưng đối với các sinh xứ vẫn còn bị chướng ngại, không đủ sức tự tại giáo hóa chúng sinh. Vì thế, họ còn có sự chướng ngại. Sa-môn Cù-đàm không còn có sự chướng ngại, nên gọi là Lậu tận trí thông.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu thần thông trí hạnh như thế, cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là bốn Trí vô ngại của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Bốn Trí vô ngại của Như Lai là:

  1. Pháp vô ngại.
  2. Nghĩa vô ngại.
  3. Từ vô ngại.
  4. Nhạo thuyết vô ngại.

Đại vương! Pháp vô ngại của Sa-môn Cù-đàm nghĩa là quán chúng sinh mới phát tâm, hành tâm nhiều dục, hành tâm ít dục và pháp thiện, pháp ác, pháp thế gian và pháp xuất thế gian, pháp có thể làm, pháp không thể làm, có pháp hữu lậu và pháp vô lậu, có pháp hữu vi và vô vi, pháp đen và pháp trắng, pháp sinh tử và pháp Niết-bàn, Bồ-đề bình đẳng, pháp tánh bình đẳng. Biết đúng như thật, tùy theo đối tượng nghe để thuyết pháp. Đó gọi là Pháp vô ngại.

Đại vương nên biết! Nghĩa vô ngại của Sa-môn Cù-đàm là đối

với các pháp nhận thức bằng trí đệ nhất nghĩa, là vô ngã trí, vô chúng sinh trí, vô nhân trí, vô thọ mạng trí; biết về quá khứ bằng trí không chướng ngại; biết về vị lai bằng trí vô biên; biết hiện tại bằng trí Nhất thiết chủng. Biết rõ về trí của bốn Đế, đó là Khổ không hòa hợp trí, biết Tập không tạo tác trí, biết Diệt tự tánh trí, biết Đạo có thể không tạo tác trí; biết tâm các chúng sinh thực hành theo trí. Tất cả đều đúng như thật, tùy theo đối tượng nghe để thuyết pháp. Đó gọi là Nghĩa vô ngại trí.

Đại vương nên biết! Trí của Sa-môn Cù-đàm đối với ngôn từ không ngại là hoàn toàn hiểu rõ các âm thanh, ngôn ngữ. Nghĩa là, biết được âm thanh, ngôn ngữ văn tự của Trời, Rồng, Quỷ thần, Cànthát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Ma-hầu-la-già, người và chẳng phải người. Tùy theo đối tượng nghe của từng loại khác nhau, tùy theo từng loại với âm thanh khác nhau của từng địa phương mà thuyết pháp thuyết nghĩa. Đó gọi là Từ vô ngại trí.

Đại vương nên biết! Nhạo thuyết vô ngại trí của Sa-môn Cùđàm là tùy theo đối tượng nghe và người cầu hỏi, tất cả ngôn ngữ văn tự, ngay trong miệng phân biệt mà trả lời thẳng ngay. Tâm không nhàm chán mệt mỏi, nghĩa là tất cả thiền định Tam-ma-bạtđề, biện thuyết ba thừa, tùy theo những tâm hạnh của chúng sinh để trả lời đúng như yêu cầu. Ngôn ngữ bóng bẫy, nói không trở ngại, giống như dòng nước chảy không bao giờ cùng tận. Đó gọi là Nhạo thuyết vô ngại trí.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã thành tựu bốn vô ngại trí như thế, cho nên ta nói Ngài không có lỗi lầm.

Nha vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là bốn Tâm vô lượng của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Bốn Tâm vô lượng của Như Lai là tâm Từ vô lượng, tâm Bi vô lượng, tâm Hỷ vô lượng và tâm Xả vô lượng. Đại vương! Sa-môn Cù-đàm có mười loại tâm đại Từ vô lượng:

  1. Tâm Từ rộng lớn bình đẳng, đối với chúng sinh không có sự lựa chọn.
  2. Tâm Từ rộng lớn làm lợi ích; có khả năng khai mở con đường thiện Niết-bàn cho trời và người, đóng cửa những con đường ác.
  3. Tâm Từ rộng lớn cứu độ, hoàn toàn có khả năng đưa tất cả chúng sinh qua khỏi hiểm nạn của sinh tử.
  4. Tâm Từ rộng lớn thương xót, không bỏ tất cả chúng sinh, nuôi dưỡng các căn.
  5. Tâm Từ rộng lớn giải thoát, diệt trừ những phiền não nóng bức của chúng sinh.
  6. Tâm Từ rộng lớn phát sinh Bồ-đề, dạy các chúng sinh về Bồ-đề Niết-bàn Vô thượng.
  7. Đối với chúng sinh tâm Từ rộng lớn không bị trở ngại, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả cảnh giới của chúng sinh.
  8. Tâm Từ rộng lớn như hư không, cứu hộ tất cả chúng sinh.
  9. Tâm Từ rộng lớn duyên với pháp, giác ngộ tất cả chúng sinh cùng biết được pháp chân thật.
  10. Vô duyên đại Từ, chứng được tánh thật pháp, xa lìa sinh tử. Đại vương nên biết! Đó gọi là tâm Từ vô lượng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm có mười loại tâm đại Bi vô lượng:

  1. Đại Bi bất cộng, vì tánh đại Bi.
  2. Đại Bi không nhàm chán, thay tất cả chúng sinh chịu mọi sự đau khổ.
  3. Đại Bi đi vào tất cả đường ác, ở trong sinh tử giáo hóa chúng sinh.
  4. Đại Bi thọ sinh trong các cõi trời người, thị hiện các pháp đều vô thường.
  5. Đại Bi không bỏ các tà định của chúng sinh, ở trong vô lượng kiếp khởi tâm thệ lớn trang nghiêm thành tựu.
  6. Đại Bi không đắm trước niềm vui của chính mình mà đem cho niềm vui của tất cả chúng sinh.
  7. Đại Bi không cần báo đáp, tự tâm thanh tịnh.
  8. Đại Bi diệt trừ tâm điên đảo của tất cả chúng sinh, để nói pháp chân thật.
  9. Đại Bi nói pháp tánh chân thật, biết các pháp giới tự tánh thanh tịnh.
  10. Đại Bi nói về không, không có sở hữu, không bị các khách trần phiền não làm ô nhiễm.

Đại vương! Đó gọi là tâm Bi vô lượng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm có mười loại tâm đại Hỷ vô lượng:

  1. Tâm đại Hỷ vui mừng các chúng sinh phát tâm Bồ-đề.
  2. Tâm đại Hỷ nghĩ đến các chúng sinh đã từ bỏ các cõi.
  3. Tâm đại Hỷ đối với người phạm giới, không sinh tâm ác, giao hóa họ được thành tựu.
  4. Tâm đại Hỷ đối với tất cả các chúng sinh hay đấu tranh, kiện tụng đều khiến cho họ hòa hợp và được trí Vô thượng.
  5. Tâm đại Hỷ vì các chúng sinh thường hộ chánh pháp.
  6. Tâm đại Hỷ vì xa lìa thế gian và xuất thế gian.
  7. Tâm đại Hỷ khiến cho các chúng sinh không đắm trước mọi thứ của cải, thường vui trong chánh pháp.
  8. Tâm đại Hỷ không để cho những khó khăn khuất phục.
  9. Tâm đại Hỷ không hoại diệt pháp giới, làm cho các chúng sinh thường ưa thích thiền định, giải thoát Tam-muội liên tục không gián đoạn.
  10. Tâm đại Hỷ khiến các chúng sinh chuyên cầu sự tịch tĩnh, diệt trừ tâm loạn, đạt được trí tuệ Vô thượng, xa lìa tà kiến và có đầy đủ các hạnh nguyện.

Đó gọi là tâm đại Hỷ vô lượng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm có mười loại tâm xả vô lượng:

  1. Tâm đại Xả là tất cả chúng sinh cung kính, cúng dường mà vẫn không tăng thêm tâm vui mừng. Còn đối với tất cả những chúng sinh khinh mạn, hủy nhục cũng không sinh tâm buồn giận.
  2. Tâm đại Xả là thường sống ở trong thế gian nhưng không bị nhiểm bởi tám pháp của thế gian.
  3. Tâm đại Xả là biết khả năng, biết thời, đối với khả năng hay chẳng phải khả năng, tâm vẫn thực hành bình đẳng.
  4. Tâm đại Xả không đem cho chúng sinh pháp học và vô học của Thanh văn, Bích-chi-phật.
  5. Tâm đại Xả là lìa xa tất cả phiền não tập khí.
  6. Tâm đại Xả không vui tu hành Bồ-đề Nhị thừa để nhàm chán sinh tử.
  7. Tâm đại Xả là xa lìa ngôn ngữ thế gian và Niết-bàn, ngôn ngữ chẳng lìa dục, ngôn ngữ cười đùa, ngôn ngữ làm người khác buồn bực, ngôn ngữ Thanh văn và Duyên giác, cho đến tất cả các ngôn ngữ làm chướng ngại Bồ-đề.
  8. Tâm đại Xả, nếu có chúng sinh đợi thời cơ được giáo hóa thì lúc đó Như Lai tạm thời xả bỏ cho họ.
  9. Tâm đại Xả, nếu có chúng sinh đáng được Đức Phật giáo hóa thì tùy theo đó liền thấy các sắc thân ứng hiện.
  10. Tâm đại Xả là lìa xa hai pháp không cao và không thấp, không giữ không bỏ, không hư không thật, quán sát bình đẳng, an trụ ở chân thật và đạt được nhẫn thanh tịnh.

Đó gọi là tâm đại Xả vô lượng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu bốn Vô lượng tâm như vậy. Cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! thế nào là tướng năm Căn của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! tướng năm Căn của Như Lai là: Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn.

Đại vương nên biết! Tín căn của Sa-môn Cù-đàm là tin ở bốn pháp. Bốn pháp ấy là:

  1. Ở trong sinh tử thực hành chánh kiến, tin ở nghiệp báo, thậm chí bị mất mạng cũng không làm điều ác.
  2. Tin hạnh Bồ-tát, không theo tà kiến, chuyên cầu Bồ-đề, không cầu các thừa khác.
  3. Tin hiểu các pháp, đồng với Không, Vô tướng và Vô nguyện, đồng với Đệ nhất nghĩa đế; đồng với hiểu rõ nghĩa lý nhân duyên sâu xa, không có ta không có người, không có chúng sinh, không có phân biệt.
  4. Tin vào mười Lực, bốn pháp Vô úy, mười tám pháp Bất cộng của chư Phật. Khi tin như thế rồi, cắt bỏ những lưới nghi, tóm thâu tất cả giáo pháp của Đức Phật.

Đó gọi là Tín căn.

Đại vương nên biết! Tinh tấn căn của Sa-môn Cù-đàm là nếu pháp nào thuộc về Tín căn thì pháp ấy chính là pháp tu Tinh tấn căn, do đó gọi là Tinh tấn căn.

Nếu pháp nào thuộc về Tinh tấn căn thì pháp ấy không bao giờ bị quên mất, do đó gọi là Niệm căn.

Nếu pháp nào được thuộc về Niệm căn thì pháp ấy không quên, không mất và nhất tâm bất loạn, do đó gọi là Định căn.

Nếu pháp nào được thuộc về Định căn là đối tượng quán của tuệ, là thể tánh của tuệ, bên trong tự chiếu tỏ, không biết do người khác, tự trụ trong chánh hạnh, đó gọi là Tuệ căn.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu Năm căn như vậy, cho nên ta nói là không có lỗi.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tướng năm Lực của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Tướng năm Lực của Như Lai là: Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực.

Đại vương nên biết! Tín lực của Sa-môn Cù-đàm là tin vào một mục đích không bao giờ thay đổi; đến nỗi trời ma biến làm thân Phật, thị hiện ra vào thiền định giải thoát cũng không lay chuyển được, đó gọi là Tín lực.

Ở trong các pháp thiện đạt tâm kiên cố. Đạt được sức như thế, tu các thiền định, các trời và người không thể phá hoại, đều được thành tựu như sở nguyện, đó gọi là Tinh tấn lực.

Trụ ở trong các pháp nhưng không bị phiền não phá hoại. Vì sao? Vì có năng lực chánh niệm nên có thể thu phục được. Bởi vậy, không đánh mất năng lực của niệm, đó gọi là Niệm lực.

Xa lìa nơi ồn ào náo nhiệt, thích độc hành. Tuy có nói ngôn ngữ, âm thanh, nhưng không làm chướng ngại Sơ thiền, khéo trụ ở giác quán, không chướng ngại Nhị thiền. Tâm sinh hoan hỷ không chướng ngại Tam thiền; dẫu thích giáo hóa tất cả chúng sinh nhưng không bỏ Phật pháp và cũng không làm chướng ngại Tứ thiền. Khi thực hành Tứ thiền không bị chướng ngại bởi các pháp chướng ngại định, không bỏ các định cũng không theo định mà có thể tự tại thọ sinh bất cứ ở đâu, đó gọi là Định lực.

Biết pháp thế gian và pháp xuất thế gian, không có một pháp nào có thể hoại đó là trí. Trong đời sống, tất cả nghề nghiệp không học từ thầy mà chỉ tự nhiên biết. Tất cả hạnh khổ của thế gian và ngoại đạo, vì giáo hóa chúng sinh nên đều thọ nhận thực hành, là pháp xuất thế gian. Nó có khả năng vượt qua thế gian, thành tựu năng lực tuệ, đó gọi là Tuệ lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu năm lực như thế, cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tướng bảy Giác phần của Sa-môn Cù-đàm?

Đáp:

–Đại vương! Bảy Giác phần của Sa-môn Cù-đàm là: Niệm giác phần, Trạch pháp giác phần, Tinh tấn giác phần, Hỷ giác phần, Ỷ giác phần, Định giác phần và Xả giác phần.

Đại vương nên biết! Niệm giác phần của Sa-môn Cù-đàm là khả năng quán các pháp, có khả năng phân biệt các pháp và cũng có khả năng quán sát tự tướng các pháp. Thế nào là tự tướng? Quán các pháp tự tánh vốn không. Niệm biết tường tận tất cả như thế, gọi là Niệm giác phần.

Nếu có khả năng phân biệt hiểu rõ tám vạn bốn ngàn pháp tụ (pháp môn). Hiểu được pháp như thế, hiểu nghĩa là hiểu nghĩa, không hiểu nghĩa là không hiểu nghĩa, thế đế là thế đế, Đệ nhất nghĩa đế là Đệ nhất nghĩa đế, giả danh là giả danh, hiểu chính chắn không nghi. Phân biệt chọn lựa được những pháp như thế, đó gọi là Trạch pháp giác phần.

Nếu Niệm pháp, Trạch pháp, Hỷ pháp, Ỷ pháp, Định pháp và Xả pháp thì dùng trí tuệ gom lấy, tinh tấn dũng mãnh; muốn không thoái chuyển nên siêng năng tu tiến lên, không xả bỏ ý mình, thực hành chánh đạo, đó gọi là Tinh tấn giác phần.

Đối với việc tu hành ở trong pháp vô lượng thanh tịnh thắng lạc, tâm sinh phấn chấn không lười biếng, thì là vui mừng hớn hở, có khả năng dứt trừ phiền não, đó gọi là Hỷ giác phần.

Nếu diệt trừ các phiền não cấu uế trong thân tâm thì lìa khỏi các triền cái, nhập vào cảnh giới định, khiến tâm trụ vững, đó gọi là Ỷ giác phần.

Như chỗ nhập định đều có thể liễu giác. He nhập định là hiểu rõ pháp, lại hiểu rõ sự trói buộc của các kiến hoặc phiền não, tâm ấy bình đẳng, tất cả các pháp không có tướng sai khác. Có khả năng biết rõ như thế, đó gọi là Định giác phần.

Nếu đối với pháp vui, buồn mà tâm ấy không mất, lại cũng không bị pháp thế gian lôi kéo, không cao, không thấp, trụ vững không lay động, không có các lậu, không vui, không đắm, không có các sự chướng ngại, tùy thuận chân đế, thẳng đến chánh đạo, đó gọi là Xả giác phần.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu bảy Giác phần như thế, cho nên ta nói Ngài không có lỗi lầm.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là tám phần Thánh đạo của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Tám phần Thánh đạo của Như Lai là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

Đại vương nên biết! Chánh kiến của Sa-môn Cù-đàm là nếu thấy xuất thế là không khởi ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng, dưỡng dục, đàn ông, đoạn kiến, thường kiến, hữu kiến, vô kiến. Lại cũng không khởi cái thấy thiện, bất thiện và vô úy; cho đến không khởi lên thấy hai tướng Niết-bàn và sinh tử, đó gọi là Chánh kiến.

Nếu các phiền não tham dục, sân hận, ngu si kia thường sinh

khởi thì gọi là bất chánh. Không sinh khởi việc ấy, chỉ suy nghĩ về giới, định, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Có khả năng suy nghĩ, trụ trong giới uẩn như thế, gọi là Chánh tư duy.

Phàm khi nói năng không làm cho chính mình và người khác buồn phiền, tổn thương. Thành tựu lời nói tốt đẹp như thế, sinh khởi chánh đạo, đó gọi là Chánh ngữ.

Nếu nghiệp đen thì có quả báo đen; nghiệp trắng thì có quả báo trắng; hoặc nghiệp vừa đen vừa trắng thì cũng có quả báo vừa đen vừa trắng, rốt cuộc không dám làm. Nếu nghiệp không đen, không trang thì quả báo không đen không trắng. Nếu hành động nào có khả năng dứt nghiệp thì hành động đó nên làm, đó gọi là Chánh nghiệp.

Tu hành theo Thánh chủng, Đầu-đà, oai nghi, không vọng động, không thay đổi, không dối gat quanh co, không bị chi phối bởi lợi dưỡng của thế gian. Thấy người khác được lợi dưỡng tâm không sinh buồn bã, mình được lợi dưỡng thường nên biết đủ. Hạnh chân chánh như thế sẽ được Thánh nhân khen ngợi, đó gọi là Chánh mạng.

Nếu như tinh tấn hướng đến điều sai trái, không được bậc Thánh khen ngợi; vì đó là phiền não, tham dục, sân hận và ngu si. Là người có Chánh tinh tấn thì hoàn toàn không làm việc ấy. Nếu pháp nào có thể đi vào Thánh đạo vững chắc, tịch diệt Niết-bàn, đó gọi là Chánh tinh tấn.

Nếu không đánh mất chánh niệm, ở trong pháp không bị dao động, ngay thẳng không quanh co, vì thấy họa sinh tử nên cầu tiến đến Niết-bàn; buộc tâm không quên, khong mất chánh đạo, đó gọi là Chánh niệm.

Nếu định không tán loạn, khi trụ ở trong các pháp là định, thành tựu quyết định, đó gọi là Chánh định.

Đại vương nên biết! Trụ chính là Tam-muội, vì tất cả chúng sinh đạt được giải thoát, thành chánh quyết định, đó gọi là Chánh định. Tám Thánh đạo này chính là chỗ thực hành của chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, cho nên gọi là Thánh đạo.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm thành tựu đầy đủ ba mươi

bảy pháp trợ Bồ-đề. Sa-môn Cù-đàm nương vào pháp này nên gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Rồi nói bài kệ rằng:

Cù-đàm bốn Niệm xứ
Và đến bốn Chánh cần
Thiền định các Tam-muội
Được tự tại trong ấy,
Chỉ Cù-đàm hoàn hảo
Lại không người thứ hai
Cho nên nói Cù-đàm
Không có các lỗi lầm.
Đạo như ý Cù-đàm
Tối thắng không gì hơn
Tu tập bốn vô ngại
Đầy đủ đến bờ kia.
Đại Thánh hay hiểu rõ
Vượt khỏi mọi sai biệt
Cho nên biết như thật
Làm thanh tịnh chúng sinh,
Phạm hạnh được tự tại
Từ, Bi và Hỷ, Xả
Được chánh kiến tịch tĩnh
Cho nên không lỗi lầm.
Nước tám Thánh chánh đạo
Trong sạch không đục nhơ
Rửa các tội chúng sinh
Mặc y báu bảy Giác,
Đem đặt chỗ không động
Chỗ vô úy Niết-bàn
Cho nên nói Cù-đàm
Không có các lỗi lầm.
Cù-đàm như trâu chúa
Riêng vượt hẳn quần chúng
Thánh chúng đều kính ngưỡng
Thế gian không ai bằng,
Lìa hết mọi điều ác
Đầy đủ các công đức
Thường nghĩ lợi thế gian
Cho nên không lỗi lầm.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm rốt ráo thành tựu mười thứ trí lực.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là mười thứ trí lực của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Mười trí lực của Như Lai là: Biết Xứ chẳng phải xứ trí lực; biết Tập nghiệp trí lực; biết Tánh trí lực; biết Tín trí lực; biết Căn trí lực; biết Chí xứ đạo trí lực; biết Định trí lực; biết Túc mạng trí lực; biết Thiên nhãn trí lực; biết Lậu tận trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Xứ chẳng phải xứ lực tức là, trí đối với nhân quả quyết định hiểu rõ. Biết từ nhân này có thể sinh là quả kia, không sinh quả khác; biết hành bất thiện nhất định bị quả báo khổ, không sinh quả báo vui, tu hành nhân thiện nhất định được quả vui, không sinh quả báo khổ. Thị xứ là có quả báo, phi xứ là không có quả báo, đó gọi là biết rõ về Trí lực thị xứ, phi xứ.

Đại vương! Sa-môn Cù-đàm biết Tập nghiệp trí lực tức là có khả năng biết đúng như thật quả báo của các nghiệp (hành động) trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Biết chỗ, biết việc, biết nhân, biết quả, hoặc là việc quá khứ đoạn diệt không còn. Sa-môn Cù-đàm nói ở quá khứ tuy không hiện tướng, nhưng nghiệp đó có thể đưa đến quả báo trong đời vị lai. Nếu có tác nghiệp là nhân Thanh văn, nhân Bích-chi-phật, nhân Bồ-tát, nhân Như Lai. Sa-môn Cù-đàm đều có khả năng biết rõ, cho nên gọi là biết Tập nghiệp trí lực.

Sa-môn Cù-đàm biết Dục trí lực là có khả năng biết đúng như thật về tất cả những thứ dục lạc của chúng sinh. Biết rõ chúng sinh vui trong năm dục, biết rõ chúng sinh vui trong đường tu tập, biết rõ chúng sinh ở trong định tà tụ, biết rõ chúng sinh ở trong các bất định tụ, biet rõ chúng sinh thích đạo Thanh văn, biết rõ chúng sinh thích đạo Bích-chi-phật, biết rõ chúng sinh thích đạo Vô thượng. Biết như vậy rồi, tùy nghi để thuyết pháp, giáo hóa khắp tất cả chúng sinh, đó gọi là biết Dục trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Tánh trí lực là có khả năng biết đúng như thật vô lượng chủng tánh của tất cả chúng sinh. Có chủng tánh vô lậu; có chủng tánh hữu lậu, chủng tánh thế gian và chủng tánh xuất thế gian; tánh thường và tánh vô thường; tánh pháp giới, tánh không sai biệt. Lại biết sở thích của chúng sinh thành thói quen khó cải đổi từ tánh sinh dục, biết chỗ ưa thích ấy phát khởi từ tánh dục, và biết chỗ phat khởi tánh thiện và bất thiện, khởi tánh Thanh văn, tánh Bích-chi-phật và tánh Vô thượng Bồ-đề đều biết đúng như thật, tùy nghi để thuyết pháp, đó gọi là biết Tánh trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Căn trí lực là có khả năng biết rõ đúng như thật những căn sai biệt của tất cả chúng sinh. Biết căn hữu lậu, căn vô lậu, căn lanh lợi, căn chậm lụt, biết tăng, biết giảm. Có khả năng biết đúng như thật về tham dục, sân hận, ngu si có vô số loại; mỗi thứ có nặng, có nhẹ. Biết rõ những căn nào có thể làm tăng trưởng sinh tử; biết có những căn nào làm giảm bớt sinh tử, biết căn thiện và căn bất thiện, biết căn phi thiện và phi bất thiện; biết nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn; biết nam căn, nữ căn, mạng căn, khổ căn, lạc căn, ưu căn, lạc căn, hỷ căn, xả căn; biết tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Biết vị tri dục tri căn; biết tri dĩ tri căn; biết nhân nhãn căn cho đến nhân ý căn; biết nhân nhĩ căn làm duyên nhãn căn, biết nhân tỷ căn làm duyên thiệt căn; biết nhân thiệt căn là duyên thân căn, biết giới trang nghiêm có thể tu tập ở bố thí; biết bố thí trang nghiêm tu tập ở giới. Có thể biết ai nói thí, nói giới, cho đến trí tuệ cũng như vậy. Có khả năng biết ai nói bốn Niệm xứ, cho đến tám Chánh đạo phần; biết ai có thể nói được Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa và Vô thượng thừa. Biết căn Duyên giác học Thanh văn thừa; biết căn Chánh giác học Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa. Biết người hạ căn có thể tu tập thượng căn, người thượng căn có thể tu tập hạ căn; biết căn chúng sinh người chưa điều phục được thì sinh tâm xả, người có thể điều phục thì thuyết pháp chánh pháp; biết căn thuần thục, tướng không thuần thục; biết căn không thuần thục, tướng thuần thục; biết căn không thuần thục tướng không thuần thục, căn thuần thục có tướng thuần thục. Biết căn sinh tử, biết căn giải thoát; biết căn trang nghiêm, biết căn đầy đủ. Biết như thế rồi, thuyết pháp cho họ, đó gọi là biết Căn trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Chí xứ đạo trí lực tức là có khả năng biết đúng như thật người thực hành đạo như thế nào thì đọa ở địa ngục, hay là sinh lên cõi trời; người thực hành đạo như thế nào thì được đạt đến Niết-bàn. Những nghiệp như vậy đều phát sinh từ tánh căn dục. Biết có nghiệp hữu lậu cho nên sinh ở năm đường, nghiệp vô lậu nên đạt đến Niết-bàn. Như vậy, có khả năng biết các chánh định tụ, các tà định tụ và những bất định tụ. Biết năng lực của nhân, năng lực quả báo; biết nhân duyên phước đức đời quá khứ; biết nhân duyên trang nghiêm đời hiện tại, biết khó điều phục, dễ điều phục, nói lược hiểu rộng, nói rộng hiểu lược. Biết chúng sinh ấy có thể đạt giải thoát, biết chúng sinh như thể không đạt được giải thoát. Biết người chưa được định lại gặp Thiện tri thức được trụ ở các chánh định tụ, không gặp được bạn tốt thì không giải thoát. Biết như vậy rồi, tùy theo khả năng nghe của họ mà thuyết pháp, đó gọi là biết Chí xứ đạo trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Thiền định trí lực, tức là có khả năng biết đúng như thật thiền định, giải thoát Tammuội, Tam-ma-bạt-đề. Biết cấu, biết tịnh, biết trụ, biết tăng; biết các chúng sinh do nhân duyên nào mà ham thích sinh tử, do nhân duyên nào lại ham thích Niết-bàn. Thế nào là nhân? Thế nào là duyên? Biết các chúng sinh suy nghĩ điều bất thiện là nhân duyên sinh tử. Do suy nghĩ bất thiện nên sinh trưởng vô minh, vì thế bất thiện là nhân, vô minh là duyên. Do nhân vô minh nên phát sinh ra hành, cho nên vô minh là nhan, các hành là duyên. Như vậy, cho đến do sinh mà có những đau khổ về già và chết, cho nên sinh là nhân, già chết là duyên; phiền não là nhân, năm cái là duyên, cho nên gọi là nhân duyên. Vì thế, các chúng sinh do nhân duyên ham thích sinh tử. Do nhân duyên gì mà ham thích Niết-bàn? Có hai nguyên nhân và hai pháp làm cho các chúng sinh ưa thích Niết-bàn, đó là Chỉ và Quán. Lại biết thuyết pháp nhân duyên, đắc Thanh văn Tam-muội, Duyên giac Tam-muội, Bồ-tát Tam-muội. Biết như thế rồi, thuyết pháp cho họ, đó gọi là biết Định trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Túc mạng trí lực, tức là có khả năng biết đúng như thật tất cả mọi nơi mình đã thọ sinh trong quá khứ, có sắc, không sắc, dòng họ, tên, ăn uống, sắc đẹp, hình tướng, khổ, vui và tuổi thọ dài ngắn; nghĩ nhớ chết nơi cõi kia và sinh ở nơi cõi khác. Biết thân ta và thân người cũng như vậy. Biết nghiệp nhân của chúng sinh do các chúng sinh ấy tạo những nghiệp nhân này nên được thân ở cõi khác; biết tâm và nhân duyên của các chúng sinh, tâm diệt như thế rồi thì tuần tự sinh; biết rõ ba đời không có bắt đầu và cuối cung. Khuyên các chúng sinh nên quán các quả báo thiện ác, khổ vui ttong quá khứ. Biết như thế rồi, tùy theo người nghe mà thuyết pháp, đó gọi là biết Túc mạng trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Thiên nhãn trí lực, tức là biết đúng như thật. Thấy tất cả chúng sinh sinh diệt đọa lạc, hoặc thọ hình sắc thiện hoặc thọ hình sắc ác, hoặc sinh cõi thiện, hoặc sinh cõi ác. Biết rõ tất cả các nghiệp nhân, biết thân, miệng, ý của chúng sinh làm ác và phỉ báng Thánh nhân, tăng thêm tà kiến. Vì nghiệp ác nên bỏ thân này liền đọa vào địa ngục. Biết thân, miệng, ý của chúng sinh thiện là không phỉ báng Thánh nhân, tăng thêm chánh kiến. Do nghiệp duyên, do bỏ thân này liền sinh ở cõi thiện. Có thể thấy thế giới mười phương chư Phật không cùng tận, giống như hư không không có giới hạn. Thấy rõ chúng sinh lúc sinh, lúc diệt, thấy lúc thành lúc hoại của các thế giới; cũng biết tâm Bồ-đề của các chúng sinh lúc sinh lúc diệt. Thấy tất cả chư Phật từ khi mới thành chánh giác, chuyển bánh xe chánh pháp cho đến lúc nhập Niết-bàn; thấy các bậc Thanh văn khi chứng giải thoát rồi thì nhập Niết-bàn; thấy các bậc Duyên giác dùng sức thần thông bảo các chúng sinh ở ân bố thí. Những việc như thế, tất cả năm phép thần thông của Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát không thể thấy được. Thiên nhãn Sa-môn Cù-đàm thành tựu công đức như thế. Dùng Thiên nhãn quán các chúng sinh, ai đáng được Phật hóa độ, ai đáng được Thanh văn, Duyên giác hóa độ. Thấy như vậy rồi, tùy theo người được độ mà hiện thân ấy để thuyết pháp, đó gọi là biết Thiên nhãn trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm biết Lậu tận trí lực, các lậu hoặc đã hết, giải thoát hoàn toàn. Cho nên tuyên bố rằng: Ta đã chấm dứt việc thọ sinh, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, lại không có đời sau. Trí lậu tận của Phật thanh tịnh vi diệu. Nói thanh tịnh là không còn tập khí. Trí Thanh văn còn có giới hạn. Vì sao? Vì còn có tập khí. Trí Bích-chi-phật cũng còn có giới hạn. Vì sao? Vì không có đại Bi. Trí lậu tận của Phật vô lượng, vô biên. Vì sao? Biết tất cả các hạnh, thành tựu đầy đủ Nhất thiết trí, đoạn sạch tất cả những tập khí, có đủ đại Từ, đại Bi, trang nghiêm bằng bốn Vô sở úy. Đối với tất cả pháp không thủ tướng, tất cả thế gian không thể hơn được; đi, đứng, nằm, ngồi không có những lỗi lầm. Giống như hư không trong sạch, không chướng ngại, không có xen lẫn những khói mây. Cũng vậy, Lậu tận trí của Đức Phật không lẫn những tập khí phiền não; thường thuyết pháp cho tất cả chúng sinh, khiến người nghe đoạn dứt các phiền não, đó gọi là Lậu tận trí lực.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm thành tựu hoàn toàn mười loại trí lực như thế để trang nghiêm, nên được gọi là Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Rồi nói bài kệ rằng:

Thị xứ và phi xứ
Chư Phật biết như thật
Lời Thế Tôn chân thật
Nên không có lỗi lầm.
Các đời trong quá khứ
Thánh chiếu không chướng ngại
Vị lai và hiện tại
Trí tuệ không chìm mất,
Nghiệp và quả báo nghiệp
Trí về nhân và quả
Đều hay biết như thật
Cho nên gọi là Phật.
Thế gian vô số tánh
Từng loại biết như thật
Trong tánh khéo hiểu rõ
Cho nên người không bằng.
Thế gian nhiều loại tin
Và vô số người tin
Trí tuệ biết như thật
Cho nên nói lời thật.
Như thật biết căn thuần
Với căn được tự tại
Sức thần thông thiền định
Giác phần và giải thoát,
Biết nhiễm và thanh tịnh
Như thật hiểu sai khác
Như Lai không cách trở
Vì lìa mọi chướng ngại,
Quá khứ vô số đời
Mỗi mỗi trí lực thấy
Chính mình và thân người
Trí ấy biết như thật.
Mắt Phật trong không đục
Vượt thế gian trời người
Dùng mắt thanh tịnh ấy
Thấy chúng sinh sinh diệt,
Biết các Lậu tận trí
Và biết chỗ giải thoát
Là cảnh giới vô lậu
Thánh nhân biết như thật.
Năng lực không ai bằng
Phật Thế Tôn tự tại
Hiện ở trong nhất tâm
Mà tâm không sai khác,
Không lấy cũng không bỏ
Tự nhiên ở hiện tiền
Như bánh xe theo nghiệp
Tự nhiên mà xoay chuyển,
Nhất niệm biết như thật
Các tâm niệm chúng sinh
Ở tâm và chúng sinh
Không khởi có hai tướng,
Ở trong tất cả pháp
Đầy đủ các công đức
Cho nên nói Cù-đàm
Tự tại không lỗi lầm.

*********

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu bốn Vô sở úy.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là bốn Vô sở úy cua Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Đó là Nhất thiết trí vô úy, Lậu tận vô úy, Chướng đạo vô úy và Tận khổ đạo vô úy.

Đại vương nên biết! Nhất thiết trí vô úy tức là Sa-môn Cùđàm đều biết rõ hết tất cả pháp. Nếu Trời, Người, Ma, Phạm, Samôn, Bà-la-môn trong thế gian đều nói rằng: “Sa-môn Cù-đàm không thể biết rõ tất cả các pháp”. Nếu lời nói ấy đúng như thật, là điều không thể có. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có khả năng biết rõ tất cả các pháp. Cho nên gọi là Bình Đẳng Chánh Giác, nghĩa là biết rõ các pháp phàm phu, pháp Thánh nhân, pháp Thanh van, pháp Duyên giác, pháp Phật, pháp Bồ-tát, pháp học, pháp vô học, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp thiện, pháp bất thiện, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp hữu vi, cho nên gọi là Chánh Giác. Nói Bình Đẳng tức là thấy bình đẳng, vì pháp chân thật, nói vô tướng bình đẳng, vì không có các tướng; nói vô nguyện bình đẳng, vì không đắm nhiễm ba cõi, không sinh bình đẳng vì tánh vô sinh; không hành bình đẳng, vì tánh vô hành, vô xuất bình đẳng, vì tánh vô xuất, vô chí xứ bình đẳng vì tánh vô chí xứ; chân thật bình đẳng vì không có ba đời; giải thoát bình đẳng vì tánh vô minh; Niết-bàn bình đẳng vì không sinh tử. Vì thế, Sa-môn Cù-đàm đều có khả

năng biết rõ tất cả pháp đến chỗ không còn sợ hãi. Với tâm thương yêu rộng lớn, ở trong đại chúng rống lên tiếng rống sư tử, vận chuyển bánh xe pháp Phật, tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn trong thế gian không ai có khả năng chuyển vận chánh pháp như thế. Đó gọi là Nhất thiết trí vô úy.

Đại vương nên biết! Lậu tận vô úy là Sa-môn Cù-đàm các lậu hoặc đã hết, cho nên đã tuyên bố rằng: “Ta lậu hoặc đã hết.” Nếu như Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn trong thế gian nói rằng: “Sa-môn Cù-đàm các lậu hoặc chưa hết.” Nếu nói lời như thế thì không đúng sự thật. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm các lậu hoặc đã hết. Đối với dục lậu, hữu lau, vô minh lậu và kiến lậu tâm đạt được giải thoát, các tập khí đã diệt. Cho nên, Sa-môn Cù-đàm các lậu hoặc đã hết, đến chỗ vô úy, ở trong đại chúng rống lên tiếng rống sư tử, xoay chuyển bánh xe Phật pháp. Tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn trong thế gian, chưa từng có ai có khả năng vận chuyển như thế, đó gọi là Lậu tận vô úy.

Đại vương nên biết! Chướng đạo vô úy là Sa-môn Cù-đàm biết các pháp dục có thể chướng ngại Thánh đạo, cho nên đã nói rằng: “Dục có thể làm chướng ngại đạo.” Nếu như Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn trong thế gian đều nói rằng; “Các pháp dục không làm chướng ngại đạo.” Nếu nói lời như vậy là không đúng sự thật. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm biết rõ đúng như thật là pháp chướng đạo. Pháp chướng đạo nghĩa là mười nghiệp bất thiện, có thể làm chướng ngại Thánh đạo. Sa-môn Cù-đàm có khả năng biết đúng như thật đến chỗ vô úy. Ở trong đại chúng rống lên tiếng rống sư tử, xoay chuyển bánh xe Phật pháp, tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn trong thế gian chưa từng có ai có khả năng chuyển vận bánh xe Phật pháp như thế, đó gọi là Chướng đạo vô úy.

Đại vương nên biết! Tận khổ đạo vô úy là Sa-môn Cù-đàm nói: “Tu tập đạo Thánh tận diệt ngọn nguồn khổ đau, đạt giải thoát vô thượng.” Nếu như tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-lamôn trong thế gian đều nói, tu tập Thánh đạo không thể chấm dứt hoàn toàn ngọn nguồn các đau khổ. Nếu nói như vậy thì không đúng sự thật. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đã chứng Vô thượng giải thoát, chấm dứt mọi đau khổ.

Thế nào gọi là Thánh đạo chân thật? Đó là Nhất thừa. Nó có hai loại: Chỉ và Quán. Lại có ba loại: Không Tam-muội, Vô tướng Tam-muội và Vô nguyện Tam-muội. Lại có bảy pháp: Từ bốn Niệm xứ cho đến tám Thánh đạo, đó gọi là Thánh đạo hoàn toàn chân thật. Đạo rốt ráo là không tăng, không giảm, không giữ, không bỏ, không nắm, không buông, không chánh, không tà, không một, không hai, đó gọi là Chánh đạo chân thật hoàn toàn. Sa-môn Cù-đàm có khả năng biết đúng như thật đến chỗ vô úy, ở trong đại chúng rống lên tiếng rống sư tử, xoay chuyển bánh xe Phật pháp, tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn chưa từng có người nào có khả năng xoay chuyển bánh xe pháp như vậy nên gọi là Tận khổ đạo vô úy.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm đã hoàn toàn thành tựu trí bốn Vô úy như thế, có khả năng rống lên tiếng rống sư tử, cho nên ta nói là không có lỗi lầm.

Rồi nói bài kệ rằng:

Cù-đàm như sư tử
Trong chúng nói vô úy
Thế gian không ai bằng
Làm gì có người hơn?
Cù-đàm chứng các pháp
Như thật không hư vọng
Do thấy đúng như thật
Rống tiếng sư tử chúa.
Nếu có ai nói rằng:
“Cù-đàm nói không đúng”
“Cù-đàm không thể thấy”
Là không có điều đó.
Vì người không thấy tướng
Ở trong trời và người
Sư tử rống tự tại
Phát tiếng diệu vô úy.
Cù-đàm hết lậu hoặc
Đã đắc thân vô lậu
Vượt thế gian trời người
Nên nói không ai bằng.
Cù-đàm vì chúng sinh
Nói các pháp chướng đạo
Tất cả đều như thật
Nên không nói hư vọng.
Cù-đàm nói tiến thủ
Tự chứng nói như thế
Người tu hành pháp ấy
Không có các chướng ngại.
Cù-đàm biết như vậy
Đến chỗ thắng vô úy
Đạt diệu lạc vô úy
Cù-đàm trụ an ổn.
Chuyển bánh xe chánh pháp
Chưa ai từng xoay chuyển
Thế gian không thể chuyển
Trừ Bậc Lưỡng Túc Tôn.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu pháp Bất cộng.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là pháp Bất cộng của Như Lai?

Đáp:

–Đại vương! Pháp Bất cộng của Sa-môn Cù-đàm nghĩa là Ngài không có những lỗi lầm, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì thân nghiệp của Sa-môn Cù-đàm không sai trái, không có các lỗi lầm nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì khẩu nghiệp của Sa-môn Cù-đàm không sai trái, không có những hư dối nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì ý nghiệp của Sa-môn Cù-đàm không sai trái, không có các tưởng, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm khi được cúng dường không sinh tâm tự cao; hoặc bị hủy nhục cũng không sinh tâm thấp hèn, luôn luôn định tâm nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm hoặc đi, đứng, nằm, ngồi; hoặc nói hoặc im lặng thường ở trong định, luôn trú trụ tâm, xả tâm nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm tu thân, tu giới, tu tâm và tu tuệ, đoạn ngu si nên gọi là bậc Thánh, xả bỏ dục không dừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đại Từ, đại Bi, thuyết pháp độ người, an trụ nơi vắng lặng, không tăng, không giảm, siêng năng không ngừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì tất cả chúng sinh, mà Sa-môn Cù-đàm ở trong vô số kiếp chịu khổ đau rất lớn mà vẫn không sinh nhàm chán mệt mỏi, niệm không dừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm khi vừa mới thành đạo, Ngài quán sát khắp tâm của tất cả chúng sinh ở quá khứ, vị lai và hiện tại, sau đó thuyết pháp không cần quán lại mà vẫn không đánh mất niệm ban đầu, trí tuệ không ngừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì đối với trong ba đời; Sa-môn Cù-đàm nhớ nghĩ không quên, giải thoát không ngừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm không học từ Thầy mà giác ngộ tự nhiên; không như Nhị thừa phải nghe từ người khác, do quán nhân duyên sinh mà giải thoát tri kiến không ngừng nghỉ, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đạt được trí vô ngại, biết tất cả nghĩa, tất cả chữ, tất cả câu. Đối với một câu pháp trải qua vô so kiếp Ngài nói nghĩa không cùng tận. Tất cả trí của thân nghiệp, nhờ bản trí biến chuyển, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Thân nghiệp của Sa-môn Cù-đàm đều hành động theo trí. Tất cả trí khẩu nghiệp triển chuyển theo căn bản trí, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì khẩu nghiệp của Sa-môn Cù-đàm hành động theo trí. Tất cả trí ý nghiep vì triển chuyển theo căn bản trí, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì ý nghiệp của Sa-môn Cù-đàm thực hành theo trí, biết đời quá khứ không chướng, không ngại, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đầy đủ Túc mạng minh mà biết đời tương lai không chướng ngại, nên gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm đạt được Thiên nhãn minh nên biết đời hiện tại không chướng ngại, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cu-đàm đạt được Lậu tận minh, người không ác thấy được đảnh đầu, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Thân Sa-môn Cù-đàm vô biên nên người không thể hơn được, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm vượt hẳn các trời, người, Thanh văn, Bích-chi-phật nên chúng sinh mỗi người đều thấy Ngài ở trước mình, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Thân Sa-môn Cù-đàm chẳng thể nghĩ bàn nên lời nói của Ngài, người nghe sinh thiện, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thành tựu tất cả các công đức, nên tiếng thuyết pháp tùy theo người nghe, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm khéo biết người khác nghĩ điều mà không lợi ích gì nên lời nói phát ra thanh tịnh, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Miệng Sa-môn Cù-đàm thường không nói lời phi nghĩa, nên khi phát ra giọng nói nhẹ nhàng, khiến cho người nghe ưa thích, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Tâm của Sa-môn Cù-đàm bình đẳng, lìa bỏ oán thân, nên Ngài nói ra âm thanh khiến người nghe không nhàm chán, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm nói vi diệu, nên ở trong chúng không sợ, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thanh tịnh tất cả các trí chướng, nên những lời nói của Ngài không sinh sự sợ hãi, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu bốn Vô úy, nên tùy ý nói năng, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm khéo biết tâm tất cả chúng sinh nên đệ tử tịch tịnh, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Đồ chúng của Sa-môn Cù-đàm đều tùy thuận theo lời dạy nên tự lìa bỏ bực bội, trừ các pháp bất thiện, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thường nguyện thân mình như cây thuốc chúa, nên thấy không nhàm chán, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm có khả năng khiến người thấy biết rõ tất cả pháp, nên khi cử động thân quay lại như voi chúa, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm nhìn như rồng chúa, oai nghi thanh tịnh, nên ở trong bốn chúng có thể rống lên tiếng rống sư tử, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm đầy đủ mười Lực, khéo quyết định những điều nghi ngờ của đại chúng, nên thường nhận sự cúng dường của bậc trên, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm là ruộng phước vô thượng, nên công đức vô tận, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm tu tập các hạnh không cầu quả báo, nên tất cả Trời, Người, Ma vương, Phạm vương không phá hoại được, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Trong mỗi mỗi thời đều có Na-la-diên hộ vệ nên ghi nhớ mọi việc không sai lầm, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì khéo biết tất cả các căn nên biết được các hạnh, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm biết rõ tất cả các pháp nên trí tuệ của Ngài không trở ngại, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm biết rõ ba đời, trí tuệ thanh tịnh, nên tập khí phiền não đã tận diệt hết, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm khéo thanh tịnh nhân phiền não, nên

ở trong thế gian làm Thầy Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-lamôn, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thông đạt tất cả pháp tướng, nên đạt được Pháp thân, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thọ mạng vô tận, nên ai được thấy nghe, gần gũi thì được lợi ích lớn, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thành tựu pháp thiện, ba nghiệp bất không, nên người nào làm thân là chảy máu thì phạm tội nghịch ác, gọi là pháp Bất cộng.

Vì sao? Sa-môn Cù-đàm thành tựu thiện căn Vô thượng thù thắng.

Đại vương nên biết! Sa-môn Cù-đàm hoàn toàn thành tựu pháp Bất cộng như thế, cho nên ta nói Ngài không có lỗi lầm.

Rồi nói bài kệ rằng:

Cù-đàm không lỗi lầm
Cũng không có tập khí
Các niệm đều thanh tịnh
Bậc trí ấy không lỗi.
Tất cả tướng không khác
Nhưng tâm không quên mất
Xả bỏ tâm tạo tác
Các dục đều không giảm.
Tinh tấn không lười biếng
Có niệm chưa từng quên
Không thoái tuệ giải thoát
Chánh kiến không mất giảm.
Trí tuệ không dao động
Nghiệp thân khẩu cũng vậy
Lấy trí làm căn bản
Thường triển chuyển như thế.
Trí thường không lỗi lầm
Đời quá khứ cũng vậy
Vị lai và hiện tại
Các nơi không chướng ngại.
Cù-đàm là người trí
Các công đức như thế
Lại có pháp thắng khác
Làm chủ rất nhiều nơi.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Như Lai thành tựu thân trang nghiem bằng công đức như thế là thường hay là vô thường? Công đức như thế là có giới hạn hay không có giới hạn?

Đáp:

–Đại vương! Sa-môn Cù-đàm trụ ở công đức ấy, chấm dứt ngọn nguồn sinh tử. Thân sau cùng là thân thường trụ, chẳng phải vô thường. Đại vương! Ngài chớ quán sát thân Cù-đàm đồng với vô thường.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thân thường trụ như vậy, nên quán như thế nào? Đáp:

–Đại vương! Như tự quán chiếu thân pháp tánh của mình, quán thân Cù-đàm cũng như thế. Thân ấy là sắc, vì không giống như sắc thấy được. Thân ấy là tâm, vì không giống như tâm biết được. Thân ấy là cây đuốc, vì tánh không tối tăm. Thân ấy cường tráng, vì thu phục các điều ác. Thân ấy có sức mạnh, vì không thể bị hàng phục. Thân ấy không trái ngược, vì tánh bình đẳng. Thân ấy là không, vì lìa thấy nghe. Thân ấy là vô tướng, vì lìa giác quán. Thân ấy là vô nguyện, vì ra khỏi ba cõi. Thân ấy là một tướng, vì không có tướng khác. Thân ấy như hư không, vì không giống nhau. Thân ấy chẳng phải sinh, bởi vì từ duyên sinh. Thân ấy chẳng diệt, vì nó vốn không sinh. Thân ấy chẳng trụ, vì không có ba đời. Thân ấy chẳng có phương hướng, nên không lìa phương hướng. Thân ấy chẳng phải chúng sinh nên không lìa tất cả chúng sinh.

Đại vương nên biết! Người nào quán như thế gọi là quán thân thường trụ, gọi là thấy Pháp thân. Người nào quán như thế gọi là chánh quán. Người nào quán khác gọi là quán tà.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là chẳng phải sinh mà từ duyên sinh?

Đáp:

–Đại vương! Pháp thân chẳng phải sinh mà từ duyên sinh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là từ duyên sinh?

Đáp:

–Đại vương nên biết! Nói từ duyên sinh tức là sinh từ công đức trí tuệ ở vô số kiếp; sinh từ Giới, sinh từ Định, sinh từ Tuệ, sinh từ Giải thoát, sinh từ Giải thoát trí kiến; sinh từ Từ, Bi, Hỷ, Xả; sinh từ Bố thí, sinh từ Trì giới, sinh từ Nhẫn nhục, sinh từ Tinh tấn, sinh từ Thiền định, sinh từ Trí tuệ, sinh từ Giải thoát Tam-muội, sinh từ các Phương tiện ba-la-mật, sinh từ sáu phep thần thông, sinh từ ba Minh, sinh từ bốn Vô ngại; sinh từ mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng; sinh từ đoạn dứt các pháp bất thiện, tích tập các pháp thiện, sinh từ trí tuệ chân thật, sinh từ không phóng dật.

Đại vương nên biết! Sinh pháp vô lượng công đức thanh tịnh như thế, nên thân của Cù-đàm có công đức vô tận, Pháp thân vô tận.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Pháp sinh có cùng tận. Như vậy, thế nào là có sinh mà không tận?

Đáp:

–Đại vương! Vì vốn không sinh nên không có tận.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là vốn không sinh?

Đáp:

–Pháp thân chẳng sinh, vì bản thân nó có, vì duyên sinh nên gọi là sinh.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Pháp thân sinh từ duyên vô lượng, vô biên như thế. Nếu muốn thực hành nó thì lấy gì làm gốc và bắt đầu làm từ đâu?

Đáp:

–Đại vương! Tất cả những công đức là hạnh trợ giúp đạo. Nói tóm lại là lấy giới làm căn bản và bắt đầu bằng trì giới. Nếu không trì giới, thậm chí đến thân dã can cũng không được, huống gì được thân công đức.

Đại vương! Vì giới thanh tịnh nên không đoạn giống Phật, thành Đẳng chánh giác không đoạn giống Pháp, phân biệt pháp tánh không đoạn giống Tăng, tu đạo vô biên. Vì trì giới thanh tịnh liên tục không gián đoạn nên công đức vô tận.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Tất cả giới thiện đều không cùng tận và cũng có cùng tận chăng?

Đáp:

–Đại vương! Tất cả không có cùng tận mà cũng có cùng tận. Vì sao? Vì sự liên tục gián đoạn nên có cùng tận, vì không gián đoạn nên vô tận.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Thế nào là liên tục gián đoạn? Thế nào là liên tục không gián đoạn?

Đáp:

–Đại vương! Giới thanh tịnh liên tục không gián đoạn nên công đức không cùng tận. Vì sao? Giới của người phạm ở chỗ thọ sinh gián đoạn nên có chấm dứt. Người ở trong giới thập thiện đạt được quả báo gián đoạn nên có chấm dứt. Công đức phước báo của các trời ở cõi Dục gián đoạn nên có sự chấm dứt. Chư Thiên cõi Sắc đi vào các định mà tâm còn gián đoạn nên có chấm dứt. Chư Thiên cõi Vô sắc đi vào các thiền định có gián đoạn nên có chấm dứt. Tất cả các Thanh văn giới Học, Vô học đi vào cõi Niết-bàn có gián đoạn nên có chấm dứt. Giới Bích-chi-phật không có tâm đại Bi có gián đoạn nên có chấm dứt. Các giới Bồ-tát đạt đến Bồ-đề, thành tựu tâm đại Bi nên công đức không cùng tận. Vì sao? Vì ở trong giới đó phát sinh ra tất cả các giới phàm tục, nhị thừa. Như vậy, hạt giống vô tận nên quả cũng vô cùng.

Nhà vua hỏi:

–Thưa Đại sư! Pháp thân này, nên nương vào pháp gì để khởi lên sự quán chiếu như thế?

Đáp:

–Đại vương! Nên nương vào tất cả thân phiền não của chúng sinh để quán chiếu; nên nương vào trong tham dục, sân hận, ngu si của chúng sinh để quán chiếu; nên nương vào bốn cái thấy điên đảo của chúng sinh để quán chiếu; nên nương vào trong ấm, giới, các nhập của chúng sinh để quán chiếu; nên nương vào các thân trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cho đến A-tu-la để quán chiếu. Vì sao? Vì những thân này tức là Như Lai tạng. Ở trong tất cả tạng phiền não, các cấu nhiễm đều có tánh Như Lai hiển nhiên đầy đủ, như vàng ở trong đá, như lửa ở trong cây, như nước ở trong đất, như bơ ở trong dừa, như dầu ở trong mè, như mầm ở trong hạt, như báu ở trong kho, như tượng ở trong khuôn, như thai ở trong bào thai, như mặt trời trong mây, cho nên, ta nói trong thân phiền não có Như Lai tạng.

Bấy giờ, Tát-già Ni-kiền Tử nói kệ:

Cù-đàm thân Pháp tánh
Sắc diệu thường sáng ngời
Thanh tịnh thường vắng lặng
Thân ấy như hư không,
Cho nên thân pháp tánh
Chúng sinh không gì khác
Cảnh giới này thậm thâm
Nhị thừa làm sao biết?

Lúc bấy giờ, vua Nghiêm Sí nghe Đại Tát-già Ni-kiền Tử nói về Pháp thân công đức chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai, sinh tâm vui mừng, thích thú, hớn hở và tâm vô cùng hoan hỷ; sinh tâm kính ngưỡng vô lượng, sinh tâm ái niem vô lượng và sinh tâm vui mừng vô lượng. Đối với Đại Tát-già Ni-kiền Tử, nhà vua lại sinh tâm chẳng thể nghĩ bàn, sinh tâm không thể lường, sinh tâm tôn kính, sinh tâm tôn trọng, sinh tâm cung kính, sinh tâm biết rõ đạo Bồ-đề, sinh tâm Nhất thiết trí, sinh tâm đến bờ kia, sinh tâm như ngủ say thức dậy, sinh tâm khởi niệm, sinh tâm trụ Bồ-đề giải thoát chẳng thể nghĩ bàn.

Khi sinh những tâm chẳng thể nghĩ bàn như thế rồi, nhà vua lấy trăm ngàn vạn a-tăng-kỳ anh lạc có giá trị và vô số y phục đẹp có giá trị tự tay dâng lên cúng dường Đại Tát-già Ni-kiền Tử.

Nhà vua lại thưa:

–Lành thay, thưa Đại sư Tát-già! Đại sư có khả năng nói pháp môn khéo léo đại thắng phương tiện.

Thưa Đại sư Tát-già! Pháp ngài nói rất khéo léo, tùy thuận trí Nhất thiết trí. Pháp này có khả năng đến địa vị Nhất thiết trí. Pháp thầy nói có thể vượt qua các dòng thế gian. Pháp của Đại sư nói co thể rửa sạch tất cả cấu nhiễm phiền não. Pháp của Đại sư nói có khả năng phá vỡ cánh cửa tật đố. Pháp của Đại sư nói có khả năng nhổ sạch những khổ đau trong đường ác. Pháp của Đại sư nói là phương tiện rất tốt phá hoại tất cả các núi lớn kiêu mạn. Pháp của Đại sư nói đều có thể làm khô cạn tất cả biển lớn ái dục trong thế gian. Pháp của Đại sư nói có khả năng chiếu đến những khu rừng rậm vô trí. Pháp của Đại sư nói khong mất thời gian, không mất khi tiếp nhận.

Bấy giờ, Tát-già Ni-kiền Tử bảo với vua Nghiêm Sí:

–Đại vương! Đúng như vậy. Các Đại Bồ-tát không có oai nghi thì không giáo hóa chúng sinh; không có một pháp thì không thể tùy thuận theo pháp môn Đại thừa; không có một pháp thì không thể đến được địa vị Nhất thiết trí; không có một pháp thì không thể đoạn tất cả phiền não; không có một pháp thì không thấy các lỗi lầm thế gian; không có một pháp thì không thấy công đức vô thượng của Niết-bàn; không có một pháp thì không thấy hạnh thù thắng vô thượng của Bồ-tát.

Đại vương! Tất cả hạnh mà các Đại Bồ-tát thực hành đều vì tự lợi và lợi tha, phải có đầy đủ hai sự lợi ích ấy.

Khi Tát-già Ni-kiền Tử nói pháp môn này, vua Nghiêm Sí đạt được tâm kiên cố, không thoái chuyển nơi đạo Bồ-đề.

Mười sáu người con của vua đạt được chỗ gọi là cảnh giới tín tâm vui mừng, hớn hở. Tám ngàn Thiên tử được gọi là quán Phật Tam-muội trang nghiêm.

Bấy giờ, mười ba ngàn quyến thuộc của vua Nghiêm Sí và quyến thuộc của Đại Tát-già Ni-kiền Tử phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những chúng sinh ấy, mỗi người tự cởi y ngoài trên thân mình mang đến cúng dường Tát-già Ni-kiền Tử và thưa rằng:

–Hôm nay chúng con được lợi ích rất lớn, vì chúng con được thấy Tát-già Ni-kiền Tử, được nghe nói pháp môn thắng diệu Nhất thiết trí tuệ này.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.