Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

NHÂN VƯƠNG KINH SỚ

QUYỂN THƯỢNG

Tác giả: Đời Đường. Pháp sư Viên Trắc

PHẬT THUYẾT
NHÂN VƯƠNG HỘ QUỐC BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH

 

PHẨM THỨ NHẤT: TỰ

Muốn giải thích kinh nên chia làm bốn phần:

– Thuyết ý của kinh, giải thích tên kinh.
– Biện minh tông chỉ sở thuyên và thể của giáo năng thuyên.
– Hiển bày chỗ nương của giáo, chỗ vì các hữu tình.
– Thời đại phiên dịch, chánh thích theo văn.

1. Thuyết ý của kinh. Giải thích tên kinh:

Thật tướng thâm diệu, chẳng có bốn trí thì không thể chứng nguồn. Quán sát chỗ sâu xa vi tế, nhờ ba tạng mới có thể khai mở dấu vết. Do đó pháp vương đại Thánh, thuyết ba Bát-nhã để nêu tông, các bậc khai sĩ, thuyết bốn Tất-đàn mà quãng diễn nơi uyên áo. Tông chỉ Vô tướng, thật ở đây sao? Thế nhưng lắm chốn nhiều nơi, nhập lý chẳng một, vì nêu ở hai hộ, nên thuyết kinh này. Ba phần như Tự…, là lược thuyết phép tắc của các kinh, hoặc nghĩa của tám phẩm là hiển rộng tông chỉ của kinh này.

Đề nêu: “Phật thuyết Nhân vương hộ quốc Bát-nhã Ba-la-mật kinh” là tên chung của bộ kinh. “Tự phẩm đệ nhất” là tên gọi phẩm riêng bên trong. Tên thì chỉ một, nhưng nghĩa có bốn lý đều quy chơn, ý là hộ quốc: 1. “Phật thuyết”; là Pháp vương đối tượng được thỉnh, tự giác và giác tha đều đầy đủ, khai thị diệu pháp, nên nói là Phật thuyết; 2. “Nhân vương”: Là Quốc vương chủ thể thỉnh. “Nhân” là nhẫn. Thiện và ác đều nhẫn chịu. “Vương” là vãng, là chỗ quy tụ qua lại của quần chúng; 3. “Hộ quốc”: Là điều cầu xin thuyết giảng; 4. “Bát-nhã Ba-lamật kinh”; biện về pháp có khả năng bảo hộ. Bát-nhã là trí, Ba-la-mật là đáo bỉ ngạn. Nghĩa là do nhờ trí lực mà đến bờ Niết-bàn. “Kinh”; là Tố-đát-lãm; tiếng Hoa gọi là khế kinh. Khế nghĩa là khế hợp, khế đúng đạo lý, hợp với căn cơ của hữu tình. Kinh cũng có hai nghĩa: 1. Quán xuyên; 2. Nhiếp trì. Xuyên suốt pháp tướng, thâu giữ hữu tình, cho nên gọi là kinh. Căn cứ theo chủ thể thỉnh và đối tượng thỉnh, chủ thể hộ và đối tượng hộ, để nói lên nhân của kinh. “Tự” là nguyên do, nguyên do dẫn khởi chánh thuyết. “Phẩm” là phẩm loại, hay là nghĩa loại. Các nghĩa loại cùng theo nhau mà tôi nghe (ngã văn), gồm nhiều nghĩa khác nhau, gọi đó là phẩm. Trong tám phẩm, phẩm này là phẩm đầu tiên, gọi là đệ nhất. Nên nói là “Phật thuyết Nhân vương hộ quốc Bát-nhã Ba-lamật kinh Tự phẩm đệ nhất”.

2. Biện minh tông chỉ của sở thuyên và thể của giáo năng thuyên.

Gồm có hai phần: Trước là biện minh thể của giáo, sau là hiển bày tông chỉ. Về thể của giáo, thì các tông giải thích khác nhau, tông phái Tát-bà-đa (thuyết Nhất thiết hữu bộ) Tỳ đàm Câu-xá, và cựu Tỳ -bà-sa, đều có hai thuyết: 1. Thuyết âm thanh; 2. Danh cú văn. Tuy có hai thuyết, nhưng không có nhận định khác nhau, bản Câu-xá tận dịch phần thứ nhất đều có đưa ra cả hai giải thích, nhưng không có sự sai biệt. Luận Chánh lý phần thứ ba trình bày thuyết của hai sư, cũng giống như Câu-xá, nhưng có thêm phần hỏi đáp. Vì vậy, mà quyển thứ ba của Chánh lý có tụng:

Mâu ni thuyết pháp uẩn
Số có tám mươi ngàn
Thể ngữ hoặc danh kia
Sắc, hành uẩn gồm thâu.

Luận: Có thuyết nói: Ngữ của Phật giáo (giáo pháp của Phật) là tự tính, Phật thuyết pháp uẩn đều gồm thâu trong sắc uẩn; ngữ dùng âm thanh làm tự tính. Có thuyết nói: Danh của Phật giáo là tự tính. Phật thuyết pháp uẩn đều gồm thâu trong hành uẩn, danh lấy bất tương ưng hành làm tính.

Hỏi: Ngữ giáo khác với danh, giáo bao gồm cả ngữ đó, danh và giáo, thể khác nhau, giáo sao lại là danh được? Luận kia giải thích: Phải có danh, mới thuyết thành giáo, do đó thể của giáo tức là danh. Nguyên do là sao? Ý nghĩa được nêu giảng như thật, nên gọi là Phật giáo. Danh có thể giảng giải ý nghĩa, nên giáo là danh, do vậy Phật giáo định danh làm thể, nêu danh làm đầu, để gồm thâu cú văn. Phần thứ ba của luận Hiển Tông cũng đồng với luận Chánh lý.

Giải thích: Các sư phương Tây, truyền giải thích đó, Câu-xá và Chánh lý, mỗi luận đều có một mục đích. Nguyên do là sao? Khiến vạn vật sinh vui mừng, thì âm thanh là tốt nhất. Nếu để giảng giải pháp thì danh là mạnh nhất. Cho nên biết sự đối trị đều phải có chuẩn định. Do vậy, cả hai thuyết đều là chánh nghĩa. Luận Đại Bà-sa quyển thứ một trăm hai mươi sáu, đều trình bày cả hai thuyết, chánh nghĩa thì lấy âm thanh làm thể, nên luận kia nói như thế.

Hỏi: Như vậy, Phật giáo lấy gì làm thể? Là ngữ nghiệp hay là danh v.v…?

Đáp: Nên nói như vậy: Ngữ nghiệp làm thể.

Hỏi: Nếu vậy, những điều được thuyết sau này làm thế nào thông được? Như nói danh của Phật giáo là pháp gì?

Đáp: Là danh thân, cú thân, văn thân. Theo thứ lớp mà sắp xếp, thứ lớp mà an bày biện, thứ lớp mà kiến lập trả lời. Văn sau là nói về dụng của Phật giáo, không muốn khai thị tự thể của Phật giáo, nghĩa là theo thứ tự mà sắp xếp an bày, kiến lập danh, cú, văn là dụng của Phật giáo.

Có người nói: Danh v.v… của Phật giáo là thể.

Hỏi: Nếu vậy, những điều được nói trong văn đó làm thế nào để thông? Như nói Phật giáo là gì?

Đáp: Là lời nói, xướng từ, bình luận, ngữ âm, ngữ lộ, ngữ nghiệp, ngữ biểu của Phật. Đó là Phật giáo. Câu trả lời đó là dựa theo nhân được trai triển, nên nói như vậy. Như trong thế gian, con và cháu lần lượt nối tiếp sinh ra. Nghĩa là lời khởi danh, danh hiển bày nghĩa.

Các nhà phê bình giải thích: Nói như vậy là lấy ngữ nghiệp làm thể. Vì ý Phật thuyết, người khác nghe. Nói cho đủ thì phải nói như thế.

Hỏi: Chưa chắc chánh lý đúng như nghĩa của các bình gia (nhà phê bình).

Đáp: Ý của sư Chánh lý, chủ yếu lấy lý làm chánh, cho nên sinh ra lý, danh v.v… là chánh. Lại giải: Các Hiền sĩ đều nêu ra hỏi đáp của cả hai nhà, chẳng phải tự mình phán định, vì vậy không trái với chánh nghĩa của các nhà phê bình. Nếu theo Kinh bộ thì lấy âm thanh làm thể.

Ở trong tông đó thì có thuyết của ba sư: Một sư nói: trong mười hai xứ, thanh xứ là tính. Vì lìa âm thanh thì không có riêng danh, cú, tự. Một sư cho Pháp xứ tương tục nhờ vào âm thanh cho là tự tính, nhưng chỉ là tính sở duyên của Ý thức. Một sư nói: Cả hai thanh giả và thật dùng chung, vì theo cả hai nghĩa trên. Nếu theo đại thừa thì các giáo bất đồng. Có nơi chỉ là thanh; như kinh Duy-ma nói: Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sanh tùy loại đều hiểu được”. Lại kinh Đại Giới nói: Trong một lời thuyết pháp của Như Lai diễn thuyết ra vô lượng biển khế kinh. Những giáo như vậy, thật sư dẫn chứng chẳng phải một. Có nơi chỉ dùng danh… làm thể; như luận Thành Duy Thức nói: “Nếu danh cú văn không khác với thanh, thì cảnh của Pháp Từ vô ngại, lẽ ra không khác”. Có nơi hợp nói thanh và danh đều là tự tính. Như kinh Vô Cấu Xứng nói: “Hoặc lấy âm thanh, ngữ ngôn, văn tự mà làm Phật sự”. Có nơi hợp năng thuyên và sở thuyên làm thể, như luận Du-Già quyển tám mươi mốt nói; “thể của khế kinh tóm lược có hai loại; 1. Văn; 2. Nghĩa. Văn là sở y (đối tượng được dựa vào). Nghĩa là năng Y (chủ thể dựa vào). Hai loại này, gọi chung là cảnh của tất cả sở tri Luận Hiển Dương nói cũng đồng như đây. Sở dĩ các giáo khác nhau như vậy. Sư Tam Tạng thích: Thật ra danh, cú văn thân, thanh và văn nghĩa đều hợp nói làm thể. Nhưng các Thánh giáo mỗi giáo đều dựa trên một nghĩa, nên tuy khác mà không trái ngược nhau. Lý do là sao? Vì giả theo thật, dùng thanh làm thể, vì lìa âm thanh không có danh, cú văn nào riêng khác. Vì thể theo dụng, danh… làm thể năng thuyên tự tánh các pháp sai biệt, cả hai đều là chỗ nương cho nhau. Giả và thật nhờ nhau hợp nói là thể, thiếu một thứ thì thuyết không thành mà sinh ra sự hiểu cuối cùng ắt phải do văn nghĩa. Thế cho nên các thuyết vậy chư pháp không trái ngược nhau.

Theo văn kinh này chỉ có hai môn: 1. Môn pháp số lấy bốn pháp như danh cú… làm thể, nên đoạn văn sau nói: “Danh vị cú nơi kinh này, cho đến ngàn Phật vạn Phật, thuyết danh vị cú.” Lại phần sau kinh nói: “Danh, vị, cú quả của âm thanh, tất cả văn tự, ký, cú thảy đều là như.” 2. Môn quy chân: Là lấy chân như làm thể, nên phần sau kinh nói: “Pháp bổn Như, Trùng tụng Như, cho đến Luận nghị Như.” Nếu muốn phân biệt rộng thì như một kinh Giải Thâm Mật quyển một đã ghi.

Về tông của sở thuyên cũng có các thuyết khác nhau tóm lược có ba cách giải thích: 1. Ba loại Bát-nhã của kinh này, được dùng làm tông chỉ, nghĩa là: Lý “không” của sở quán, tức là thật tướng. Trí của chủ thể chứng đắc tức là quán chiếu. Thánh giáo của năng thuyên, là văn tự. Do đó, trong phẩm Quán Không, nói ba Bát-nhã; 2. Tông chỉ của kinh này nói rõ về nhị đế. Lý do là sao? Trong phẩm Quán Không, nói về hạnh tự lợi. Trong phẩm Giáo Hóa, nói về hạnh lợi tha. Môn quán của Bồ-tát, không ngoài hai hạnh đó, hai hạnh như vậy không ra ngoài hai đế. Nhờ Chơn đế nên không có chủ thể hộ và đối tượng hộ, nhờ Thế đế nên có chủ thể hộ và đối tượng hộ, hạnh tự lợi và lợi tha được thành. Nói Nhị đế tức một là Chơn đế, là lý “không” một là Thế đế, tức là môn Có. Trong phẩm Nhị đế sẽ phân biệt chi tiết; 3. Kinh này đức Thế Tôn tự phán định. Trong ba pháp luận, lấy Vô tướng làm tông. Cho nên kinh Giải Thâm Mật nói như vậy: “Ban đầu vì những người phát tâm hướng đến Thanh-văn thừa mà thuyết Tứ đế luân (như bốn kinh A-hàm). Tiếp theo là vì những người phát khởi Bồ-tát thừa mà thuyết Vô tướng luân (các Bát-nhã), sau cùng là vì những người phát khởi Nhất thiết thừa mà thuyết giáo liễu nghĩa.” (đầy đủ như Kinh kia nói).

Hỏi: Vô tướng luân này, trong ba tính thì bỏ tính nào? Ở trong ba vô tính đó thì nương vào vô tính nào?

Giải thích: Các sư phương Tây, chia làm hai giải thích: 1. Ngài Thanh Biện thì bỏ cả ba tính, để lập thành “không”, tức thuyết về lý “không”, là Vô tướng, nói đầy đủ như trong luận Chưởng Trân; 2. Ngài Hộ Pháp thì chỉ bỏ sở chấp, là Vô tướng, như trong kinh Thâm Mật. Trong ba vô tính, Ngài Thanh Biện và Ngài Hộ Pháp đều nương vào ba thứ vô tự tính, cũng thành là Vô tướng. Do vậy, Ngài Chơn đế, Ngài Từ Ân, Ngài Tam Tạng, mỗi vị đều nương vào một tông. Chơn đế và Tam Tạng, như thứ lớp của chúng đều bỏ ba tính, lập ba vô tính: 1. Bỏ phân biệt tính để lập phân biệt Vô tướng tính; 2. Bỏ y tha để lập y tha vô sinh tính; 3. Bỏ chơn thật tính, để lập chơn thật vô tính tính. Do ở một Chơn như mà bỏ ba tính, lập ba vô tính, (nói đầy đủ trong luận Tam Vô Tính). Do đó, trên điểm chung thì Ngài Chân đế giống với Ngài Thanh Biện, nhưng điểm sai khác là; Bồ-tát Thanh Biện lập mà không kết hợp, còn ý của sư Chơn đế là giữ lại cả ba vô tính, phi an lập đế. Còn hai vị Từ Ân và Tam Tạng thì chỉ bỏ sở chấp, không bỏ hai tính, tình có lý không, lý có tình không, cả hai nghĩa riêng khác. Lại nữa, ba vô tính, như nói theo thứ tự của chúng thì ba tính thành là ba vô tính, nên Duy Thức Tam Thập tụng nói: “Tức nương vào ba tính này mà lập nên ba vô tính kia.” (Nói đầy đủ như trong luận Thành Duy Thức và kinh Giải Thâm Mật). Do đó, hai vị Bồ-tát: Thanh Biện và Hộ Pháp, mỗi vị đều dựa vào tông của mình mà giải thích kinh này.

Hỏi: Sao biết được kinh này nói đủ ba loại vô tính?

Giải thích: Như kinh Giải Thâm Mật nói: Hoặc như kinh nói tất cả các pháp đều không có tự tính, vô sinh, vô diệt, bổn lai tịch tĩnh tự tính Niết-bàn. Nương vào mật ý gì đức Thế Tôn tự thuyết, tất cả các thuyết đều không có tự tính? Đó là đều nương vào mật ý ba loại vô tự tính. Nói tất cả các pháp đều không có tự tính, vô sinh, vô diệt,… là chỉ nương theo tướng tính vô tự tính mà thuyết, hoặc có thể nương theo tướng và vô tự tính thắng nghĩa mà thuyết.

Hỏi: Nếu vậy vì sao, Vô tướng thứ hai, gọi là bất liễu?

Giải thích: Thật ra nói đủ ba thứ tính vô tự tính, về lý không có sâu cạn, do tướng ẩn mất nên nói tất cả pháp không có tự tính, nhưng không kết hợp phân biệt, riêng với ba vô tính, các kinh như Giải Thâm Mật,… đã nói rất rõ về ba loại tính vô tự tính. Vì vậy trong môn của pháp luân thứ ba, thêm bốn chữ tính vô tự tính. Ý là riêng có cái lý của ba vô tính. Do vậy, gọi là liễu, bất liễu nghĩa, chứ chẳng phải lý sâu cạn mà gọi là liễu, bất liễu. Nếu phân biệt rộng thì như Quảng Bách luận quyển mười nói có ba sư giải thích: 1. Học phái Du già, lập Y tha hữu; 2. Bồ-tát Thanh Biện thuyết Y tha không; 3. Bồ-tát Hộ Pháp phá cả hai chấp kia.

1.Vì vậy trong luận kia nói: Học phái Du già, dùng lý nêu tông; thể của pháp phân biệt sở chấp là “không” thể của pháp do nhân duyên sinh khởi là “Có”. Do vậy mà cảm quả, luân hồi trong ba hữu. Hoặc tu gia hạnh chứng tam Bồ-đề,… cho đến nói rộng. Vì chứng nghĩa đó nên dẫn Kinh tụng:

– Biến kế sở chấp không, – Y tha khởi tính có.

– Vọng phân biệt mất hoại,  – Tùy tăng giảm nhị biên.

2. Thanh Biện giải thích kinh này: Danh: Là biến kế sở chấp. Nghĩa: Là Y tha khởi tính. Danh đối với nghĩa của nó thì phi hữu cho nên vô. Nghĩa; là tùy theo thế gian mà phi vô cho nên hữu không thể dẫn đây chứng minh Y tha có.

Tiếp đến học pháp Du-già phá giải thích trên. Văn có ba tiết: 1. Tổng phá là phi lý; 2. Nêu riêng bốn điều sai lầm; 3. Kết luận trái với kinh. Trong phần tổng phá nói giải thích trên không đúng, vì nghĩa trái ngược nhau. Trong phần nêu bốn điều sai lầm: 1. Nếu danh đối chẳng phải có với nghĩa phi hữu cho nên không thì nghĩa cũng đối với danh là không làm sao có; 2. Lại nữa, danh ngôn được lập do nghĩa đó, đã do nhân duyên sinh thì nghĩa phải có; 3. Nếu tánh của năng thuyên do vọng chấp không có thì tánh của sở thuyên do vọng chấp lẽ nào có; 4. Danh là tùy theo thế tục mà có công năng thuyên bày biểu hiện. Ông không chấp nhận làm tánh y tha khởi thì nghĩa cũng tùy theo tục mà giả thuyết là có công năng, sao không chấp nhận là biến kế sở chấp. Trong phần kết nói: Vì thế tục giả lập năng thuyên, sở thuyên nếu không thì đều không, có thì đều có. Như nay kinh thuyết là một hữu, một vô. Cho nên những điều ông nói không phù hợp với nghĩa của kinh.

Ngài Thanh Biện vì muốn chứng minh nghĩa của mình lại dẫn kinh nói: Do lập danh đây, đây để thuyên bày pháp kia. Pháp kia tánh đều chẳng phải có, do pháp tánh đều như vậy.

Pháp Du-già phá lời Kinh này nói: Ý kinh không nói danh đối với nghĩa là không có, chỉ nói tánh của pháp sở thuyên là chẳng phải có, làm rõ tánh các pháp đều chẳng thể thuyên bày, danh ngôn sở thuyên đều là công tướng tự tánh của các pháp đều bắt dứt danh ngôn, tự tướng chẳng phải không, công tướng chẳng phải có. Trong đây, nói tám lược vì tánh sở thuyên không có, không phải có tánh của năng thuyên là thật có. Cho nên Tượng chỉ nói “kia chẳng phải có”. Nếu không vậy thì lẽ ra nói tánh này chẳng phải có.

Ngài Thanh Biện vì để chứng minh y tha tính là không có, lại dẫn tụng tóm lược ở trong kinh:

– Không có ít pháp sinh, – Cũng không ít pháp diệt.

-Tịnh kiến, quán các pháp, – Phi hữu cũng phi vô.

Học Phái Du-già lại đả phá: Ý của tụng đây là nói về biến kế sở chấp, tự tính sai biệt. Thể của năng thuyên sở thuyên đều rỗng không, không sinh, không diệt, lìa chấp mà tịnh kiến, quán các thế gian đều sinh ra do nhân duyên, chẳng bao giờ chẳng phải không. Cho nên, đó chẳng chứng tỏ y tha là không có.

Bồ-tát Thanh Biện lại dẫn kinh để chứng thành y tha tính là rỗng không: Cho nên kinh nói: Các pháp từ duyên khởi, duyên, pháp, hai đều không, chánh tri được như vậy, là thông đạt duyên khởi. Nếu pháp từ duyên sinh, các pháp đều vô tính. Nếu pháp đều vô tính, pháp đó phi duyên sinh.

Phái Du-già lãnh hội kinh kia nói; như vậy cả hai kinh đều thuyết pháp duyên sinh, tuy không có tự tính, nhưng không trái ngược nhau. Theo duyên sinh pháp có hai loại: Một là biến kế sở chấp, hai là y tha khởi tính, trong đây ý nói rõ biến kế sở chấp, tự tính chẳng phải có, không nói về y tha. Nếu nói y tha thì đều không có tự tính, bèn bác bỏ

hai pháp nhiễm và tịnh đều không có, gọi là “ác thủ không”, tự tha đều tổn hại.

Bồ-tát Thanh Biện lại nói: Vọng phân biệt đó, ai có thể chặn đứng được? Đến khi đắc chánh kiến, tự nhiên sẽ trừ bỏ.

3. Bồ-tát Hộ Pháp, cùng phá cả hai chấp không và có, kiến lập trung đạo, y tha khởi tính, chẳng phải không chẳng phải có. Cho nên lại nói: Các loại như vậy, tùy sở kiến khác nhau, chia cách Thánh ngôn, hợp thành nhiều phần, cùng nhau tranh luận, mỗi chấp một bên, đều không thể trừ ác kiến trần cấu, thì làm sao khế hợp với diệu chỉ thanh tịnh đại thừa mà chư Phật Thế Tôn đã thuyết. Chưa hội được chơn lý, theo mình mà chấp tình, mình đúng người sai, thật đáng sợ thay! Phải xả bỏ chấp trước, hai bên không và có, lãnh ngộ trung đạo bất nhị của đại thừa,… (Nói rộng như luận kia).

Hỏi: Tông của Ngài Hộ Pháp như Thành Duy thức luận, không vứt bỏ y tha, như thế nào trong đây nói Y tha chẳng phải không, chẳng phải có?

Giải thích: Ngài Hộ pháp chính là nói như Luận Thành Duy Thức, không trái với y tha, nhưng nay muốn thành tựa ý luận Thánh Thiên nên lập trong đạo, mà không trái ngược nhau. Chánh tông của Ngài Hộ Pháp là lập trung đạo nghĩa mà Thành Duy thức, thuật về Du-già tông, cũng không trái nghịch.

3. Hiển bày đối tượng được nương tựa của giáo, đối tượng vì hữu tình.

Cũng có hai phần: 1. Hiển bày đối tượng nương tựa của giáo; 2. Đối tượng vì hữu tình. Nói đối tượng nương tựa là chỉ mười hai bộ kinh, ba tạng, hai tạng. Ba tạng là: 1. Tố-đát-lãm, tiếng Hoa gọi là Khế kinh, nghĩa như đã nói ở trên; 2. Tỳ-nại-da; tiếng Hoa gọi là Điều phục, điều phục bảy loại sai trái của thân và ngữ, hoặc điều phục ba nghiệp khiến không tạo nghiệp ác. Cũng gọi là điều phục; 3. A-tỳ-đạt-ma; tiếng Hoa gọi là Đối pháp. Thánh đạo vô lậu đối lại với với quả của cảnh, gọi là đối pháp. Hoặc gọi là Ma-đát-thi-ca: Tiếng Hoa gọi là Bổn Mẫu, do phân biệt pháp tướng, có thể sinh trí, gọi là Bổn Mẫu.

Hai tạng là: Như Nhiếp Đại thừa, ba tạng như vậy có hạ thừa và thượng thừa sai biệt nên thành hai tạng: 1. Thanh văn tạng; 2. Bồ-tát tạng. Nói “mười hai bộ” là: Như kinh Giải Thâm Mật nói: Khế kinh, ứng tụng, ký biệt, phiên tụng, tự thuyết, nhân duyên, thí dụ, bổn sinh, bổn sự, phương quảng, hy pháp, luận nghị. Đến phẩm Nhị đế sẽ nói rõ về chi tiết. Bộ kinh này là tạng khế kinh trong ba tạng. Trong hai tạng là thuộc về Bồ-tát tạng. Trong mười hai bộ thì thuộc bộ đầu tiên. Nói “đối tượng vì” có hai nghĩa: 1. Vì ba thừa, như trong ba pháp luân của kinh Giải Thâm Mật: Vì những người phát khởi Thanh văn thừa mà thuyết Tứ đế luân. Vì những người muốn phát khởi Bồ-tát thừa mà thuyết giáo Vô tướng. Vĩ những người phát khởi Nhất thiết thừa mà thuyết luân thứ ba, nên biết kinh này là vì Bồ-tát mà thuyết. Nếu theo năm tính tức vì tính Bồ-tát và những người bất định mà thuyết kinh này. Nghĩa của năm tính, sẽ nói rõ ở chương khác.

4. Thời đại phiên dịch, chánh giải thích theo văn.

Tức có hai phần: 1. Thời đại phiên dịch; 2. Chánh giải thích theo văn. Về thời đại phiên dịch: Bộ kinh này dựa theo văn của kinh nói thì có hai bản: 1. Quảng bản. (Bản lớn). Cho nên phẩm Tán Hoa ở sau nói: “Bấy giờ, mười sáu đại Quốc vương nghe Phật đã thuyết giảng kinh mười vạn ức kệ Bát-nhã Ba-la-mật, mà rải hoa cúng dường.” Vì vậy biết kinh này cũng có quảng bản; 2. Lược bản (bản tóm lược): Bản tiếng Phạm tuy chỉ có một cuốn, tùy theo dịch giả mà khác nhau, thành có ba bản dịch: 1. Thời nhà Tấn, năm thứ nhất niên hiệu Tần Thủy, Ngài Đàm ma la mật, Tam Tạng pháp sư của nước Nguyệt Chi, tiếng Tấn gọi Ngài là Pháp Hộ, dịch ra một cuốn, tên là Nhân vương Bát-nhã; 2. Thời Tần, năm thứ ba, niên hiệu Hoằng Thủy, Tam Tạng pháp sư Cưu-ma- la-thập, tiếng Tần gọi là Đồng Thọ, ở Biệt Quán, vườn Tiêu Dao, Tây Minh Các, thành Tây An, dịch ra một cuốn, tên là Nhân vương hộ quốc Bát-nhã Ba-la-mật; 3. Thời Lương, năm thứ ba, niên hiệu Thừa Thánh, Tam Tạng pháp sư Ba la mạt đà (Lương gọi là Chân đế) người nước Ưu Thiền Sai, Tây Thiên Trúc. Ở chùa Bảo Điền, Phủ Dự Chương, dịch ra một cuốn, tên là Nhân vương Bát-nhã kinh.

Phần sớ giải có sáu quyển. Tuy có ba bản, nhưng bản thời Tấn là dịch đầu tiên, e rằng không được chu tất. Bản của Ngài Chân đế thì ẩn kín, không lưu hành, cho nên nay ở đây theo một bản thời Tần. (theo Phí Trường-Phòng ở Bộ Tam bảo lục thì ba bản dịch đều là một quyển.

Nhưng Phí Học Thất nhập vào mục lục tạng thì nói là hai quyển)

Kinh: Tôi nghe như vậy:

Giải thích: Từ đây trở về sau là phần hai: Chánh thức giải thích theo văn. Trong một kinh này, gồm có tám phẩm. Có hai cách chia phần: 1. Theo Bổn ký thì chia làm bốn phần chính: 1. Phần phát khởi: Tức phẩm Tự thứ nhất; 2. Phần chánh thuyết là năm phẩm tiếp theo; 3. Phần Vua được hộ quốc tức phẩm Thọ trì; 4. Phần lưu thông tức phẩm chúc lụy. Nay chia kinh này, theo Phật Địa Luận, chia làm ba phần chính: Một phẩm đầu tiên, gọi là phần nhân duyên giáo khởi. Năm phẩm tiếp theo, gọi là phần Thánh giáo thuyết giảng. Hai phẩm sau cùng, gọi là phần theo giáo phụng hành.

Hiển bày các điều đã nghe; tức là những nhân, những duyên mà giáo khởi, nên gọi là phần nhân duyên giáo khởi. Chánh thức hiển bày những pháp môn mà Thánh giáo đã thuyết; vì phẩm loại khác nhau, nên gọi là phần Thánh giáo thuyết. Hiển bày khi ấy, chúng đã nghe Thánh giáo của Đức Phật, hoan hỷ phụng hành, nên gọi là phần theo giáo phụng hành. Tức tương đương với cựu thuyết “tự, chánh, lưu thông”. Tự là do tự; nguyên do dẫn khởi chánh thuyết. Chánh tức là chánh tông; biện về tông và nghĩa được nêu giảng. Thông; tức là lưu thông; bao gồm lợi ích lớn của đời mạt pháp.

Trong văn phần Tự, có hai phần riêng biệt: phần đầu là Tự chứng tín, Từ “bấy giờ, mười hiệu…” là tự phát khởi. Nhưng hai tự này, có ba sự khác nhau: 1. Danh khác: Một danh là chứng tín: Còn gọi là thông tự. Danh thứ hai là phát khởi; còn gọi là biệt tự. Nói “tôi nghe”, là khiến vật sinh tín, gọi là chứng tín, các kinh đều giống nhau, gọi là thông tự. Dùng “phóng quang…” để phát khởi chánh tông, gọi là phát khởi, mỗi kinh mỗi khác, gọi là biệt tự; 2. Thời khác; danh thứ nhất là tự trước kinh, khi chưa thuyết kinh thì trước tiên đã phát khởi. Danh thứ hai là tự sau kinh; sau khi thuyết kinh rồi mới bắt đầu nói các duyên cớ; 3. Nhân khác: Danh thứ nhất là Như Lai tự, ở trong các kinh, do Phật phát khởi. Danh thứ hai là A-nan tự; do A-nan thỉnh xin mới bắt đầu thuyết. Trong phần chứng tín, gồm có bốn phần: 1. Thuyết sự duyên khởi; 2. Thuyết về ý của sự; 3. Biện về sự nhiều ít; 4. Giải thích riêng theo sự.

– Nói “Duyên khởi” là như luận Trí Độ quyển thứ hai nói: Khi Phật Niết-bàn, ở nước Câu-thi-na-kiệt, giữa hai cây Tát-la, nằm đầu hướng Bắc, sắp nhập Niết-bàn. Bấy giờ Tôn giả A-nan, lòng thân ái chưa dứt, tâm chưa lìa dục, chìm trong biển buồn, không thể tự xuất, lúc ấy trưởng lão A-nậu-lâu-đậu, nói với Tôn giả A-nan: “Ông là người giữ gìn pháp tạng Phật, không nên như người phàm chìm trong biển u buồn, các pháp hữu vi đều là vô thường, ông sao lại sầu buồn, mất đi những sự đã nghe. Ông nên hỏi Phật; sau khi Phật Niết-bàn, làm thế nào để tu hành? Ai sẽ làm thầy? Ác khẩu Xa-nặc, làm sao cùng ở? (Quyển thứ tư Trường A-hàm thì nói là “Xiển-nô Tỳ khưu, làm sao cùng trú?), đầu các kinh Phật, viết những lời gì?”. Tôn giả A-nan liền hỏi Phật những việc đó, Phật bảo Tôn giả A-nan: “Hành Tứ niệm xứ, giới kinh làm thầy, Xa nặc Tỳ khưu, trị như pháp Phạm (Chánh thanh tịnh). (quyển thứ tư Trường A-hàm, quyển 3 Tăng nhất A-hàm đều nói: “Trị bằng pháp Phạm, tức là không cùng nói chuyện… chi tiết như trong kinh kia nói.). Đầu các kinh Phật, đều xưng là “tôi nghe như vậy”. Theo kinh Tập pháp và phần sau kinh Niết-bàn, đều giống với Trí Luận, e nhiều không nói ra đây. Kinh Đại Bi thì nói Tôn giả Ưu-ba-ly chỉ bày Tôn giả A-nan thưa hỏi, cho nên kinh luận nói khác. Mặc dù cả hai người cùng bày cho A-nan hỏi nhưng nghĩa cũng không trái ngược.

– Thuyết về ý của sự gồm hai loại: 1. Đoạn nghi; 2. Sinh tín.

Đoạn nghi: Sư Chân đế giải thích: Theo luật vi tế mà nói thì Tỳ khưu A-nan, khi đang thăng tòa cao, xuất pháp tạng thân tức như Phật, đầy đủ tướng đẹp. Hoặc bước xuống tòa trở lại bản hình, chúng thấy điềm đó, bèn có ba nghi: 1. Nghi đại sư Thích ca Như Lai vì từ bi, từ Niết-bàn khởi tuyên lại pháp sâu xa; 2. Nghi chư Phật phương khác đến; 3. Nghi Tôn giả A-nan chuyển thân thành Phật. Nay vì muốn trừ bỏ ba loại nghi đó, nên nói “Tôi nghe như vậy” là để nói rõ chính Tôn giả Anan nghe từ Phật, chẳng liên quang gì đến Phật từ bi từ Niết-bàn khởi, cũng chẳng phải các Phật khác từ phương khác đến, cũng chẳng phải Tôn giả A-nan chuyển thân thành Phật, tự thuyết kinh.

Sinh tín; theo luận Trí Độ nói: Vì người khi thuyết giảng muốn khiến tâm chúng sanh sinh tín.

– Về sự nhiều ít, có ba thuyết: Thuyết thứ nhất là sư Chân đế trong phần chú thích về bảy sự. Chia làm bảy sự: 1. “Như vậy”; là nêu pháp được nghe, văn và lý của cả bộ kinh, chắc chắn đáng tin; 2. Nói “tôi”; là xuất ra người chủ thể văn (người nghe) tức là Tôn giã A-nan. 3. Nói “nghe”; chính mình phụng chỉ âm thanh; 4. “Một thời”; là hiển bày pháp được nghe, khéo hợp với thời cơ; 5. “Phật Thế Tôn”; xuất ra sư chủ thể thuyết; . “Trú xứ”; hiển bày việc thuyết nói có nơi chốn; 7. “Đại Tỳ khưu”; là nói về chẳng phải nghe riêng một mình. Nhưng bảy sự đó, nói chung thì chỉ có bốn ý: 1. “Như vậy” là nói về nơi đối tượng nghe pháp (pháp được nghe); 2. “Tôi nghe”; là biện về người là chủ thể nghe (người nghe); 3. Hai sự tiếp theo là chứng pháp được nghe; 4. Hai sự sau cùng là chứng cho người nghe. Thuyết thứ hai, theo luận Đại Trí Độ, Ngài Long Mãnh chia thành sáu sự: 1. Tín; 2. Văn (nghe); 3; Thời; 4. Chủ; 5. Xứ; . Chúng. Bồ-tát Thế Thân trong Đăng Luận, cũng chia sáu sự, nên tụng ở đó nói: Ba sự trước nói về đệ tử, ba sự sau chứng sư thuyết. Tất cả pháp môn Tu-Đa-la đều như vậy.

Thuyết thứ ba, theo Ngài Thân Quang trong luận Phật địa, gồm

năm sự: 1. Hiển chung sự đã nghe; 2. Thời gian giáo khởi; 3. Hiển riêng giáo chu; 4. Hiển bày nơi giáo khởi; 5. Căn cơ mà giáo mang đến.

Về giải thích riêng theo sự; tuy có bảy sự, sáu sự, năm sự khác nhau, nhưng ở đây lấy theo năm sự để giải thích kinh này. Trong đó có sự đồng và dị, đến văn sẽ đối chiếu giải thích.

“Tôi nghe như vậy”: là sự thứ nhất, hiển chung sự đã nghe có ba nghĩa giải thích: 1. Giải thích chung về tôi nghe như vậy; 2. Giải thích riêng về tôi nghe như vậy; 3. Nói về ý hợp thuyết. Giải thích chung truyền lời Phật dạy Mạn Thù Thất Lợi và A-nan đều nói lời đó. Nhưng lời như vậy, cú nghĩa thâm diệu, tôi xưa từng nghe. Nói giải thích riêng: trước giải thích chữ “như vậy”, sau giải thích chữ “tôi nghe”. Các sư ở Trung Hoa, tuy có nhiều cách giải thích. Nhưng ở đây xin nói về Tam Tạng Tây phương và luận thuyết của họ. Tam Tạng Tây phương, gồm có ba thuyết:

1. Ngài Tam Tạng Chân đế nói: Nói “Như vậy” là nghĩa quyết định hai thứ văn và lý. Văn là năng thuyên, lý là sở thuyên. A-nan đã truyền, văn và lý quyết định. Như lời Phật thuyết, nên nói là “như vậy”.

2. Ngài Tam Tạng Trường Nhĩ giải thích có có ba nghĩa: 1. Theo Phật giải thích; chư Phật ba đời, đã thuyết giảng không khác, cho nên “như”. Vì thuyết giống nhau, nên xưng là “thì”; 2. Theo Pháp giải thích: thật tướng của các pháp, cho nên là “như”, như như mà thuyết, nên xưng là “thị”; 3. Theo Tăng mà biện: Những điều Tôn giả A na truyền, không khác Phật thuyết, nên gọi là “như”, luôn lìa sai trái, xưng đó là “thị”; 3. Ngài Bồ-đề lưu-chi, gồm có bốn nghĩa: 1. Phát tâm như vậy: Nghĩa là tự nghĩ, ta sẽ phát tâm Bồ-đề như vậy tu các hạnh thiện; 2. Dạy người khác như vậy: Dạy người trước; nói ông phải phát tâm Bồ-đề như vậy, tu các hạnh thiện; 3. Thí dụ như vậy: Oai đức người ấy rực rỡ, như ánh mặt trời, trí tuệ sâu rộng, giống như biển lớn; diện mạo đoan nghiêm, giống như trăng tròn; 4. Quyết định như vậy: Tôi thấy, nghe như vậy, nay nói lại như vậy. Chỉ lấy nghĩa thứ tư, quyết định như vậy. Người truyền pháp nói: Những giáo lý tôi nghe từ Phật, nay tôi nói lại. Không nhiều không ít, không sai không lầm, quyết định chắc chắn như vậy.

Truyền lại không sai sót, cho nên nói là “như vậy”.

Theo các luận thuyết, cũng có ba giải thích:

1. Theo công đức thí, luận Bát-nhã nói: “Tôi nghe như vậy” là hiển thị kinh này là của đức Thế Tôn hiện giác mà diễn, chẳng phải tự mình làm ra.

2. Theo Ngài Long Mãnh, luận Trí Độ nói: “Như vậy” tức là tín, trong biển lớn Phật pháp, tín là khả năng hội nhập, trí tuệ là khả năng vượt qua. Người tin thuận thì nói việc đó như vậy. Người không tin thì nói việc đó không như vậy, (nói rõ trong luận kia).

3. Theo Ngài Thân Quang trong luận Phật Địa: Có bốn nghĩa: “Như thị” nói chung có bốn nghĩa chuyển: 1. Theo thí dụ: Nghĩa là sẽ nói văn, cú như vậy, như tôi xưa đã nghe. (Đây tức lấy nay dụ xưa); 2. Theo giáo dạy: Nghĩa là bảo với thời chúng. Như vậy sẽ nghe những điều tôi đã nghe xưa kia; 3. Theo vấn đáp: Nghĩa là, có người hỏi. Ông sẽ nói lại những điều xưa đã nghe sao? Cho nên đáp: Như vậy tôi nghe; 4. Theo sự chấp nhận: Là khi kết tập, các chúng Bồ-tát, đều cùng thỉnh: Như ông đã nghe, nói đúng như vậy. Bồ-tát truyền pháp bèn chấp nhận lời kia. Sẽ nói đúng như vậy, những điều tôi nghe như vậy. Lại nữa, ngôn tín như vậy đáng thẩm định, nghĩa là pháp như vậy, tôi xưa từng nghe, việc đó như vậy, sẽ nói ra hết ở đây, chắc chắn không khác.

Lại nữa, trong luận Phật Địa có ba sư giải thích: Một sư nói chỉ lấy nghĩa thứ tư. Một sư nói: Trong bốn nghĩa chỉ theo hai nghĩa sau. Một sư nói: Nương theo cả bốn nghĩa mà thuyết. (nói rõ chi tiết trong luận kia).

Giải thích riêng về “tôi nghe”; trước là giải thích về tướng của tôi (ngã tướng), sau là giải thích chữ “nghe”.

Gọi là “ngã” (tôi). Văn Thù và A-nan, truyền pháp trên thân năm uẩn, giả lập làm ngã (tôi). Nhĩ căn phát thức có thể nghe những gì nói ra, gọi là nghe. Cho nên Luận Phật địa nói: Ngã (tôi) là cái giả lập gọi năm uẩn thế tục. Nghe là nhĩ căn phát thức nghe nhận, bỏ riêng lấy chung, nên bảo là “tôi nghe”.

Hỏi: Trong pháp Phật thì vô nhân, vô ngã, sao các kinh đều nói là “tôi nghe”?

Giải thích: Nghĩa này có các thuyết giải thích khác nhau. Theo tông của Ngài Long Mãnh như trong phần thứ nhất của luận Trí Độ. Nơi phần nói về bốn Tất-đàn: Thế giới Tất-đàn nên thuyết là có ngã. Với đệ nhất nghĩa Tất-đàn nên thuyết là vô ngã.

Hỏi: Trong môn thật tướng của Trung luận nói là phi ngã phi vô ngã, sao trong luận Trí Độ lại nói là vô ngã.

Đáp: Không trái nhau, với thế giới Tất-đàn thì thuyết là ngã, trong Đệ nhất nghĩa thì thuyết là vô ngã. Mỗi một cách thuyết đều là vì người, hoặc ngã và vô ngã, bỏ cả hai chấp, cũng có thể thuyết là phi ngã phi vô ngã. Vì vậy mà Trung luận nói: Chư Phật hoặc thuyết là ngã, hoặc thuyết vô ngã, trong thật tướng của các pháp thì phi ngã phi vô ngã. Nếu nghiêng về đối trị ngã thì thuyết là vô ngã làm thật tướng. Nếu bỏ cả hai chấp thì lấy phi ngã – phi vô ngã làm thật tướng. Mỗi thứ đều có một nghĩa, cho nên chẳng trái nhau.

Theo Luận Du già, quyển thứ sáu thuộc tông Di lặc nói do bốn nguyên nhân, mà dựa vào trong các uẩn, giả nói là ngã: 1. Vì ngôn thuyết dễ dàng của thế gian; 2. Vì muốn tùy thuận các thế gian; 3. Vì để đoạn trừ chắc chắn các sợ hãi về vô ngã; 4. Vì tuyên thuyết sự được mất của mình và người, khiến tâm quyết định tín giải. Giải thích chi tiết bốn nguyên nhân như đã nói trong quyển thứ mười ba của Luận Tạp tập.

“Nghe” có hai nghĩa: 1. Theo pháp tướng; 2. Theo Duy thức.

Theo pháp tướng có các thuyết khác nhau: Tông Tát-bà-đa nói: tai nghe chẳng phải thức. Luận sư pháp giáo nói thức nghe chẳng phải tai. Luận Thành Thật cũng giống vậy. Luận Thí Dụ nói hòa hợp mới có thể nghe như quyển mười ba của luận Đại-bà-sa đã nói. Nay ở đây dựa theo Long Thọ Bồ-tát của đại thừa, có hai giải thích: 1. Tai nghe chẳng phải thức; 2. Hòa hợp mới nghe. Như luận Trí Độ tuy có hai giải thích nhưng lấy sự hòa hợp làm giải thích chính.

Theo tông Di-lặc, tự có ba thuyết: 1. Tai nghe chẳng phải thức. Tạp Tập luận nói: Nhĩ giới có tướng gì? Là có thể nghe được âm thanh. Luận Du già nói: Tính ở âm thanh đó đền chủ thể nghe; 2. Thức nghe chẳng phải tai. Luận Phật Địa nói: Nghe là nhĩ căn phát nhĩ thức, nghe nhận. Lại Luận Du già giải thích: Nghe là lắng nghe tức là nhĩ căn phát ra nhĩ thức để nghe ngôn giáo. Lại giải thích cả hai luận là tai nghe biết, chẳng phải thức. Vì nhĩ căn là thể của nghe. Cho nên luận Tạp Tập nói:

Hỏi: Là mắt thấy sắc hay là thức? Đáp: Chẳng phải mắt thấy sắc, cũng chẳng phải thức thấy sắc, vì tất cả pháp không có tác dụng. Do có hòa hợp, giả lập là thấy tai nghe… cũng vậy. Nguyên do các luận khác nhau như thế, là vì để hiển bày việc nghe âm thanh là là chỗ nương dựa tối thắng. Luận Du già nói tai là nghe vì để hiển bày nghĩa phân biệt. Còn luận Phật Địa nói thức là nghe vì để hiển bày các pháp vô tác dụng. Luận Trí Độ và luận Tạp Tập nói hòa hợp làm nghe, mỗi luận đều Y cứ một nghĩa, không trái ngược nhau. Theo lý duy thức, để giải thích về cái nghe tự có hai giải thích: Có nghĩa bổn nguyện từ bi của Như Lai, duyên lực tăng thượng, cùng sinh ra văn nghĩa trên thức của người nghe, tướng của văn nghĩa đó tuy là nương vào thiện căn của chính mình mà khởi, nhưng nhờ ở duyên mạnh là Phật nói. Do lực của nhĩ căn mà tự tâm biến hiện, nên gọi là “tôi nghe”. Có nghĩa nữa là duyên lực tăng thượng nơi bổn nguyện thiện căn của người nghe. Văn và nghĩa cùng sinh ra trên thức của Như Lai, tướng của văn nghĩa đó là do thiện căn lợi tha của Phật mà khởi, gọi là Phật thuyết. Tâm thức của người nghe tuy không thủ đắc, nhưng giống với tướng kia nên gọi là “tôi nghe”.

Giải thích: Những nghĩa của hai sư trong luận Phật Địa nói. Nghĩa thứ nhất là của Na-già-tê-na. Na già tiếng Hoa gọi là Long, Tê na là quân, tức là luận sư Long Quân. Không chấp nhận Phật quả là có sắc thanh. Nghĩa của sư thứ hai, chấp nhận trong Phật quả có đủ cả sắc thanh, các Tông thuộc Ngài Hộ Pháp… đều theo nghĩa giải thích sau.

Hỏi: Tôn giả A-nan sinh ra nhằm ngày Như Lai thành đạo, qua hai mươi năm sau mới làm thị giả cho Như Lai, thì những kinh được thuyết trước đó đều chẳng nghe được. Sao ở các kinh A-nan đều nói là “tôi nghe”?

Đáp: Theo kinh Báo Ân, có ba nghĩa giải thích: Một là A-nan nghe kể lại từ chư thiên khác và bên các Tỳ khưu. Hai là Phật nhập vào tâm thế tục, khiến Tôn giả A-nan biết những kinh đã thuyết trước. Ba là những kinh đã thuyết giảng trước, Phật thuyết lại, nhờ lực thiện xảo của Phật. Ở trong một cău pháp, diễn vô lượng pháp, có thể dùng vô lượng pháp làm thành nghĩa một câu. Phật nên bày điều đó, Tôn giả A-nan đã biết được hết, nhờ lực trì giữ mạnh mẽ nhạy bén.

Hỏi: Tôn giả A-nan có ba: 1. A-nan-đà: Trì giữ pháp Thanh văn; 2. A-nan hiền: Trì giữ pháp Duyên giác; 3. A-nan hải: Trì giữ Ma-hadiễn. A-nan thứ ba trì kinh đại thừa, nên không trái nhau. Như Kim cang Tiên luận và Ngài Chơn đế dẫn kinh Xà Vương Sám Hối đã nói.

Thứ ba là ý hợp nói: Luận Phật Địa nói: Nên biết nói là “tôi nghe như vậy” là ý muốn tránh sự sai lầmnơi phần khác tăng giảm. Nghĩa là, pháp như vậy, tôi nghe từ Phật. Chẳng phải nghe người khác nói lại. Để hiển thị người nghe có năng lực ghi nhận nổi những điều đã được nghe, đều lìa những sai lầm thêm bớt khác lạ. Chẳng như phàm phu không có khả năng ghi nhận những điều đã nghe, hoặc không thể lìa việc thêm bớt nói khác. Khi kết tập pháp, người truyền lại lời Phật dạy, theo đúng điều Như Lai đã dạy, đầu tiên nói lời này, để chúng sanh cung kính tin nhận nói; pháp như vậy, tôi nghe từ Phật. Văn nghĩa quyết định chắc chắn không có thêm bớt. Vì vậy người nghe phải lắng nghe, như lý mà suy tư, nên cố gắng tu học.

Kinh: Một thời.

Giải thích: Phần thứ hai. Thời gian khởi giáo. Các sư phương Tây,  lược có ba giải thích: 1. Ngài Bồ-đề-lưu-chi nói: Thời có nhiều loại: Ngày đêm, thọ trăm tuổi và tất cả thời. Nay chữ “một thời” là lúc mà Như Lai thuyết kinh này; 2. Ngài Trường Nhĩ nói: Thời có ba loại: 1. Cala thời: Tiếng Hoa gọi là Thời biệt tướng, là giới luật Như Lai, đại giới thời, xuất gia thời, chỉ Quốc vương nghe, các người khác không nghe chung; 2. Tam-ma-da thời: Tiếng Hoa gọi là phá tà kiến thời: Nghĩa là năm bộ A-hàm, chín phần Đạt-ma, bất kể thiện hay ác (trắng hay đen), tất cả đều được nghe. (Năm bộ A-hàm là: Trường, Tăng Nhất, Trung, Tạp, Hữu bộ. Chín phần Đạt-ma là; phân biệt thuyết giới, thế gian, nhân duyên, giới, đồng tùy đắc, danh cú văn, tập định, tập nghiệp, chư uẩn. Một phần có sáu ngàn kệ, sáu lần chín là năm mươi bốn, hợp lại có năm vạn bốn ngàn kệ, như nói trong phần thứ nhất của Chơn Luận Bộ Tập Ký.) 3. Lưu hành khắp ở đời: Như nói; một thời, Phật ở bờ sông Hằng. Một thời, ở rừng Thân Thứ. Nay nói “một thời”, là chỉ theo hai loại sau, hoặc chỉ là loại thứ ba. Ngài Tam Tạng Chân đế nói có mười thời, e nhiều không ghi lại đây. Nay theo các luận cũng có ba thuyết: 1. Công đức thí: Luận Bát-nhã nói: Nói một thời là lúc thuyết kinh này, những lúc khác thì thuyết vô số kinh; 2. Theo Ngài Long Mãnh trong luận Trí Độ nói: Thời có hai loại: Một là: Ca la thời, chung cả giả và thật, dùng chung cả trong và ngoài. Hai là: Tam-ma-da thời, chỉ có giả, không thật. Kinh nói” một thời” là theo Tam-ma-da mà nói, để phá thật thời, nên nói giả thời; 3. Theo Ngài Thân Quang trong luận Phật Địa: Thời có ba loại: 1. Nghe và nói cứu cánh, gọi chung là một thời, nên luận kia nói: Nói “một thời” là lúc thuyết và nghe, đó là căn cứ Sát-na tương tục không dứt. Nói và nghe cho đến cuối cùng, gọi chung là một thời. (Đó tức là một hội thuyết pháp, nói và nghe đến cuối cùng của hội, gọi chung là một thời). Nếu không vậy, thì danh tự văn cú của thời thuyết và thời nghe khác nhau, thì sao gọi là “một” được. (Đây là lối giải thích phản chứng. Nếu không nói và nghe một mạch đến hết, như trước thì nói tự, tiếp thì nói danh, sau thì nói cú, cho đến tụng, phẩm, bộ, thời thuyết nói và nghe, khác nhau, sao gọi là “một” được.) 2. Trong khoảnh khắc một Sát-na, vừa có thể trì, vừa có thể thuyết, lãnh, thọ nhận, nên gọi là một thời. Vì vậy luận kia nói: Hoặc người chủ thể thuyết, đắc Đà-la-ni. Ở trong một chữ, trong khoảnh khắc một Sát-na, có thể trì, có thể thuyết tất cả pháp môn. Hoặc người chủ thể nghe, đắc nhĩ căn tịnh, trong một khoảng Sát-na, khi nghe một chữ, với tất cả pháp khác, đều không chướng ngại, đều lãnh thọ được, nên gọi là một thời. (Đầu tiên. Ở trên Đà-la-ni đắc công đức nhĩ căn, một khoảng Sát-na có thể trì, thuyết, lãnh, thọ được, nên gọi là một thời) 3. Cùng nhau hội ngộ, gọi là một thời. Vì vậy luận kia nói: Hoặc cùng hội ngộ, cùng lúc không khác, gọi là một thời. Nghĩa là nghe và nói cùng hội tụ, cùng trong một lúc (cảm Thánh đến căn cơ, lại gặp gỡ nhau, gọi là một thời.

Hoặc có thể là bốn: Khai, nói, nghe khác thành là hai thời) Hỏi: Một và thời, thể của chúng là gì?

Đáp: Một là con số, thời là thời gian. Tông Tát-bà-đa và tông Kinh Bộ, không có pháp nào riêng khác tức dùng năm uẩn làm tánh. Trong xứ, giới, môn thì lấy hữu vi làm tánh. Nay theo đại thừa, tự có hai giải thích: 1. Tông của Ngài Long Mãnh số và thời đều không có thể, chẳng bao gồm trong ba khóa: Uẩn, xứ, giới. Nên luận Trí Độ nói: Các phá: số và thời… cái thật không hề có, vì không gồm thâu trong ấm nhập, trì. (Trì tức là giới, duy trì tự tánh). Lại nữa, luận kia nói: Các danh tự, ly và hợp, chung một và riêng khác, dài và ngắn của thời gian và không gian là tâm chấp trước của người phàm, cho là thật có, (nói rõ chi tiết như trong luận kia); 2. Di Lặc tông: Số và Thời là giả lập phân chia ngôi vị trên pháp hữu vi. Trong hai mươi bốn pháp bất tương ưng là số và thời. Trong môn ngũ uẩn thì gồm thâu trong hành uẩn. Nơi môn giới xứ, pháp xứ, pháp giới là cảnh của ý thức. Luận Phật Địa nói: Thời tức là giả lập phân vị trên pháp hữu vi (giải thích theo pháp tướng), hoặc là hình ảnh phân vị trên tâm (giải thích theo duy thức), nương theo sắc tâm, đều là giả lập, thuộc về hành uẩn bất tương ưng.

Hỏi: Sao không hiển bày riêng như sau, mà chỉ nói một thời?

Đáp: Thời gian đêm ngày, các nơi bất định, không thể nói riêng, lại nữa, nghĩa bất định, hoặc một Sát-na, hoặc lại tương tục, không thể nói nhất định, vì tướng chung, chỉ nói một thời.

Kinh: Phật.

Giải thích: Phần thứ ba. Hiển bày riêng về giáo chủ. Luận Trí Độ nói; người thuyết Phật pháp, có năm loại: 1. Phật tự thuyết; 2. Đệ tử thuyết; 3. Thần tiên thuyết; 4. Chư Thiên thuyết; 5. Hóa nhân thuyết. Vì để lược bớt bốn loại kia nên nêu là Phật. Tự giác giác tha, giác hạnh cùng mãn, gọi là Phật. Nói rõ chi tiết như các chỗ khác. Thế nhưng đầu các kinh thì nêu danh khác nhau. Có bốn loại: Có kinh thì nói “Phật”. Như kinh Niết-bàn… có kinh thì chỉ dùng từ “Bà-già-bà”. Như kinh Đại Phẩm… có kinh thì nêu cả hai hiệu, như kinh Vô Thượng Y… Hoặc có kinh văn, cả hai hiệu đều không có. Như kinh Đa Tâm… Nguyên do như vậy là vì các bản khác nhau. Kinh Đa Tâm… là trong một bộ, ghi chép riêng để lưu hành, nên không nêu danh. Ở phương Tây có ba thuyết:

1. Theo luận Chơn Thật: Tất cả đầu kinh, chỉ nói là Phật, cho nên luận kia nói. Hỏi: Đại sư mười hiệu, vì sao trong kinh không kể chín hiệu khác mà chỉ xưng là Phật? Đáp: Vì có mười nghĩa: 1. Giác thắng vô địch; 2. Không nhờ người khác mà ngộ; 3. Lìa hai vô tri. (Giải thoát chướng vô tri và Nhất-thiết-trí chướng vô tri.) 4. Đã vượt qua thùy miên; 5. Ví như hoa sen; 6. Tự tính vô nhiễm; 7. Đầy đủ ba nghĩa. (Ba nghĩa là: 1. Giả danh Phật, tức sáu thần thông; 2. Tịch tĩnh Phật. Vì hoặc không sinh; 3. Chơn thật Phật: Tức chơn như) 8. Đủ ở ba đức. (Pháp thân, Bátnhã, Giải thoát) 9. Đủ tính Tam bảo; 10. Tự biết khiến cho người khác biết. “Phật” đủ cả mười nghĩa, các danh hiệu khác thì không được như vậy, cho nên đầu các kinh đều xưng là “Phật”.

2. Theo luận Phật Địa: Tất cả đầu kinh đặt Bạc-già-phạm. Nghĩa là đủ sáu đức, phá bốn ma, nên luận kia nói: Tiếng Bạc-già-phạm dựa theo sáu nghĩa chuyển: 1. Nghĩa tự tại. Vì vĩnh viễn không bị trói buộc các phiền não; 2. Nghĩa xí thịnh: Vì được nung luyện do ngọn lửa trí hừng hực; 3. Nghĩa đoan nghiêm: Vì được trang sức với ba mươi hai diệu tướng đại sĩ; 4. Nghĩa danh xưng: Tất cả công đức thù thắng đều viên mãn, vì không có gì là không biết; 5. Nghĩa cát tường: Vì tất cả thế gian đều thân cận cúng dường, đều xưng tán; 6. Nghĩa tôn quý: Vì đủ tất cả đức, thường khởi phương tiện, tạo lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình, không hề bỏ phế. Như có tụng nói:

Tự tại, xí thịnh và đoan nghiêm.

Danh xưng, cát tường và tôn quý.

Sáu loại nghĩa sai biệt như vậy.

Nên biết gọi chung là Bạc già.

Bốn ma oán là: Phiền não ma, uẩn ma, tử ma, tự tại thiên ma.

Hỏi: Phật đủ mười loại danh hiệu công đức, vì sao Như Lai dạy người truyền pháp, tất cả đầu kinh chỉ viết danh Bạc-già-phạm như vậy.

Đáp: Một tên gọi đó, người đời đều tôn trọng, nên các ngoại đạo đều xưng bổn sư là Bạc-già-phạm. Lại nữa, một danh đó thâu tóm cả các đức, các tên gọi khác thì không vậy, do đó đầu kinh đều viết tên gọi này. Luận Kim cang Tiên cũng đồng với luận Phật Địa. Nói chi tiết về Bà-già-bà, như đầu kinh Niết-bàn và luận Trí Độ.

3. Theo Ngài Chơn đế: Tất cả đầu kinh đều khiến nêu cả hai Phật, Bà-già-bà. Cho nên thất Sư ký nói: Phật, Bà-già-bà có bốn trường hợp: 1. Phật chẳng phải Bà-già-bà: Tức là Thanh văn nhị thừa. Quán thế đế, chứng Niết-bàn vô dư, ở trong tự vị, đắc danh là Phật, không tu công đức hạnh, cho nên chẳng phải là Bà-già-bà; 2. Là Bà-già-bà chẳng phải Phật: Tức là Bồ-tát, vì tu công đức, nên gọi là Bà già ba. Đã tại nhân vị, trí tuệ chưa viên mãn, không được danh Phật; 3. Chẳng phải Phật, chẳng phải Bà-già-bà: Tức là phàm phu, không tu công đức, cho nên chẳng phải là Bà-già-bà, không tu trí tuệ, cho nên không gọi là Phật; 4. Là Phật cũng là Bà-già-bà: Tức là Phật Thế Tôn, vì trí tuệ đã viên mãn, gọi là Phật. Vì công đức đầy đủ, là Bà-già-bà. Nếu chỉ là Phật thì e lẫn lộn với Nhị thừa. Nếu chỉ riêng Bà-già-bà thì lẫn lộn với Bồ-tát và chuyển luân vương, nếu noí hợp lại tức là Như lai. Cho nên đầu các kinh đều nêu hai hiệu. Tuy có ba giải thích, nhưng ở đây đồng với Chơn Thật luận, chỉ gọi là Phật.

Kinh: Ở thành Vương-xá, trong núi Kỳ-Xà-Quật.

Giải thích: Phần thứ tư. Nơi thuyết kinh. Tên nước là Ma-kiệt-đề, hoặc gọi là Ma-kiệt-đà, còn gọi là Hắc-kệ-đà, còn gọi là Ma-già-đà, đều là âm Phạm chuyển lệch lạc, Chính nói là Ma-kiệt-đà, tiếng Hoa gọi là Thiện Thắng quốc. Hoặc gọi là Vô não hại quốc. Ma-già là tên sao, tiếng Hoa gọi là Bất-ác. Đà là xứ. Gọi là Xứ-quốc-bất-ác, còn gọi là Xứ-quốc-tinh-tú. Theo pháp Hoa luận, thành Vương-xá hơn các thành khác. Núi Kỳ-xà-quật hơn các núi khác. Do Phật ở thắng xứ, là hiển bày pháp môn này cũng thù thắng. Nay trước là giải thích về thành, sau là giải thích về núi.

Ngài Chơn đế nói: Luật Ty-bà-sa có ba giải thích: 1. Vương tử Bà -tẩu khi bắt đầu cùng dân chúng làm nhà, liền bị quỷ thần phá hoại hết, chỉ để lại nhà Vương-xá cứ như vậy đến lần thứ bảy. Thái tử dạy: Làm nhà đều đề tên là Vương-xá (nhà của vua), nhờ vậy mà không bị hủy. Nhân đấy mà đặt tên là thành Vương-xá; 2. Luân vương xuất thế, đều cùng nhau trú ở đó, cho nên gọi là Vương-xá; 3. Tứ thiên vương cùng Tu la đục nhũ hải, đắc cam lộ, ở trong núi đó dựng nhà, bảy ngày thì lấy, sau đó mới chia ra, nhân đấy mà đặt tên là thành Vương-xá.

Theo luận Trí Độ, cũng có ba giải thích: 1. Vua nước Ma-già-đà, sinh một con trai, một đầu hai mặt bốn tay, sau lớn thành người, có thế lực lớn, trị cả thiên hạ Diêm-phù-đề, bắt một vạn tám ngàn vua các nước, nhốt trong năm núi này, nhân đấy đặt tên là thành Vương-xá; 2. Vua Ma-già trước đã trú ở trong thành, bị hỏa hoạn, bị thiêu thì làm lại, cứ như vậy đến lần thứ bảy. Người cả nước mệt mỏi sức lực. Vua liền tìm trú xứ khác, thấy năm núi này bao quanh như thành, liền làm cung điện, trú ở trong ấy. Cho nên gọi là thành Vương-xá; 3. Thời xa xưa, nước đó có vua, tên là Quảng Xa, ra ngoài săn bắn, gặp thấy năm núi, bao quanh hùng vĩ, nhiều loại trang nghiêm đẹp đẽ, liền bỏ thành cũ, trú ở trong đó. Vì vua là người đầu tiên ở đó, nên gọi là thành Vươngxá.

Luận Thiện Kiến nói: Thành đó lớn nhất, dài rộng ba trăm do tuần, có tám ức vạn hộ, tám vạn thôn xóm. (Phân biệt chi tiết rõ ràng, như trong Tây vực truyện).

Về núi Kỳ-xà-quật: Âm bị lược bỏ bớt, nói đúng là núi Cật-túcđà-la-củ-tra, tiếng nhà Đường gọi là Thứu Phong, còn gọi là Thứu Đài. Núi đó chim Thứu thường đến ở. Hình nó lại giống đài cao, nên lấy tên chim, xưa gọi là Thứu đầu, hoặc gọi là Thứu-lãnh, hoặc gọi là Linh Thứu, đều cùng một nghĩa. The luận Trí Độ giải thích có hai nghĩa: Một là: Đỉnh núi giống chim Thứu, nên gọi là Thứu đầu. Một là: Chim thứu ở đỉnh núi, nên gọi là Thứu đầu. Nghĩa là, phía nam thành Vương-xá, trong rừng Thi-đà, nhiều xác người chết, chim Thứu thường đến ăn xác, lại ở đỉnh núi, người thời đó bèn gọi là Thứu Đầu sơn.

Lại nữa, Biệt ký ghi: Linh là Tiên linh, chim đó có linh tính, biết người sống chết, khi người nào sắp chết, bay đến đậu ở trên nhà người ấy, đợi đến khi đưa xác vào rừng thì bay xuống ăn, vì nó có thể biết trước như vậy, nên gọi là Linh thứu. Lại nữa, Chân Đế Thất Sự ký nói: Luật Tỳ-bà-sa viết: Khi đức Thích ca còn hành đạo Bồ-tát, vì hóa đô muôn vật nên thọ thân chim Thứu, cha mẹ của chim già, hai mắt đã mù, vì để báo ơn, tìm mồi cúng dường. Thành Vương-xá có một trưởng giả, vào núi thấy vậy, mới hỏi cúng dường có công đức gì ? Chim thứu như pháp mà thuyết, trưởng giả vui mừng nói: Ngươi là thiện thần trong núi, từ này về sau, đến khi ta chết, ta sẽ cúng dường ngươi. Tất cả các chim nhờ vậy đều được cúng dường. Thứu nói với các chim: Các ngươi nên báo ơn thí chủ, các chim không hiểu ý đó, hàng ngày trộm tài vật của người khác bỏ trước nhà trưởng giả, các người mất của kiện cáo lên vua. Vua hồi trưởng giả. Trưởng giả y theo chuyện phụng đáp, vua nghe kinh ngạc, bèn vào núi. Chim Thứu ấy thuyết pháp, vua rất hoan hỷ, sau đấy cho đồ cúng dường. Núi đó nhân vì là nơi ở của linh thứu, nên có tên là linh thứu sơn.

Kinh: Cùng chúng đại Tỳ khưu tám trăm vạn ức.

Giải thích: Từ đây là phần thứ năm: Nói về căn cơ được nhận giáo pháp đó có hai phần: Phần đầu là kể riêng, tán thán đức. Phần sau từ “phương khác…” tổng kết tập hội. Phần kể riêng, có mười hai chúng: 1.Thanh văn; 2. Duyên giác; 3. Bồ-tát; 4. Ưu-bà-tắc; 5. Ưu-bà-di; 6. Cư sĩ; 7. Sắc thiên; 8. Dục thiên; 9. Nhân vương; 10. Tạp loại; 11. Tha phương; 12. Biến hóa. Tuy có mười hai, nhưng gồm chung làm ba: Mười loại đầu là phương này. Một loại tiếp theo là phương khác. Một loại sau cùng là biến hóa.

Ở chúng Thanh văn, văn chia làm bốn phần: 1. Nêu loại, biện về số; 2. Lược nói hạnh vị; 3. Tán thán riêng về đức; 4. Tổng kết về đức. Đây là phần một: Nêu loại, biện về số.

“Cùng chúng đại Tỳ khưu chúng” là nêu phân biệt với loại khác. Loại có mười hai. Đây là loại thứ nhất, nói về chúng Thanh văn, lược bớt các thừa khác nên gọi là Thanh văn. Luận Thành thật nói: Nghe pháp đắc ngộ cho nên gọi là Thanh văn. Luận Phật Địa nói: Nghe ngôn âm của Phật mà nhập thánh đạo, nên gọi là Thanh văn. Lại nữa, luận Du già quyển tám mươi hai nói: Từ người khác nghe được ngôn âm chánh pháp, lại còn có thể khiến nghe được âm thanh chánh pháp của người khác, nên gọi là Thanh văn. Nay nói chúng Tỳ khưu là biệt danh trong bảy loại, giản lược sáu loại như Tỳ khưu ni, v.v… nên nói là Tỳ khưu.

Nêu danh Tỳ khưu để hiển chúng Thanh văn. Văn có bốn chi tiết: 1. Cùng; 2. Đại; 3. Tỳ khưu; 4. Giải thích chúng. Thân Phật gôp chung với chúng kia, gọi đó là cùng. Lại nữa, cùng là chung. Vì các chúng Tỳ khưu có bảy nghĩa chung nên gọi là cùng. Luận Trí Độ nói: Một xứ, một thời, một tâm, một giới, một kiến, một đạo, một giải thoát, là bảy nghĩa chung. Chữ “cùng” ở kinh này, tức là cùng chung kia.

Chữ “đại”: Theo luận Trí Độ: Có ba nghĩa: 1. Lớn; 2. Nhiều; 3. Thù thắng (Hơn). Vì đứng trên trong chúng. Vì đoạn dứt các chướng. Vì các vua kính trọng, gọi là lớn. Vì số rất nhiều, gọi là nhiều. Có thể phá trừ chín mươi sáu loại dị luận của ngoại đạo, nên gọi là thắng. Theo luận Phật Địa, đại có bốn giải thích: 1. Vì lợi căn nên đại; 2. Vì Vô học mà đại; 3. Vì hồi hướng lớn, mà đại; 4. Số nhiều nên đại.

“Tỳ khưu”: tiếng Hoa gọi là Khất sĩ. Luận Kim cang tiên nói: Tỳ khưu là tiếng Phạm. Tiếng Hoa dịch theo nghĩa là Phá ác hoặc gọi là Bố ma. Lại nữa, Bổn ký nói: Tại nhân thì gọi là Bố ma, Khất sĩ, Phá ác, đến quả thì chuyển Bố ma thành Sát tặc. Đổi Khất sĩ thành Ứng cúng, đổi Phá ác thành Bất sinh. Lại nữa, luận Du già quyển hai mươi chín nói : Bí sô (Tỳ khưu) có năm: 1. Khất cái Bí sô (thường đi khất thực); 2. Tự xưng Bí sô (phạm trọng mất giới mà tự xưng Ta là Tỳ khưu); 3. Danh tưởng Bí sô (tuy cạo tóc nhuộm áo nhưng chưa có giới, chỉ có danh tưởng); 4. Phá trừ phiền não Bí sô. (Đắc quả Thánh nhân); 5. Tỳ khưu bạch bốn yết ma. (Người phàm phu trì giới). Nay Tỳ khưu ở đây, là loại thứ tư và thứ năm.

“Chúng”: Tiếng Phạm gọi là Tăng-già. Tiếng Hoa gọi là Chúng hòa hợp. Nghĩa là lý và sự cả hai đều hòa, cho nên gọi là Chúng. Luận Phật Địa nói: Cùng là Tăng xuất gia, nên gọi là chúng. Luận Trí Độ nói:

Nhiều Tỳ khưu, hòa hợp một nơi, gọi là chúng. “Tám trăm vạn ức”: Biện về con số.

Hỏi: Vì sao không nói chúng Tỳ khưu ni?

Đáp: Có hai nghĩa: 1. Vì lược bớt; 2. Vì lấy phần hơn.

Kinh: Học, Vô học, đều A-la-hán.

Giải thích: Phần hai. Lược biện về hạnh vị.

“Học, Vô học” như luận Câu-xá quyển hai mươi bốn nói: Nghĩa là trong tám người, bốn hướng ba quả đều gọi là Hữu học, vì đắc lậu tận thường lạc học. Người thứ tám, A-la-hán, gọi là Vô học vì đã hoàn tất những điều phải tu học nên không còn học. Thể của học và Vô học đều là giới, định và tuệ vô lậu. Thế nào Niết-bàn chẳng phải Hữu học, Vô học ? Do với thân dị sinh (phàm phu) cũng thành tựu. Theo tông Kinh Bộ, giống với đại thừa. Theo các luận của đại thừa thì nói khác nhau. Nếu theo Tập luận thì thông cả ở dị sinh, gọi là Hữu học, nên ở cuốn thứ hai luận ấy nói: Người cầu giải thoát, toàn bộ pháp thiện là nghĩa Hữu học. Một phần của các uẩn mười giới bốn xứ, là nghĩa Hữu học. Đối với các học xứ, người đã đắc cứu cánh, toàn bộ pháp thiện là nghĩa Vô học. Nghĩa là toàn bộ các pháp thiện, bất thiện, vô ký thuộc các dị sinh và các pháp vô ký nhiễm ô của người Hữu học, các pháp vô ký của người Vô học, đều cùng là pháp vô vi, đó là nghĩa của phi học và phi Vô học. Đủ tám giới, tám xứ và sót lại một phần uẩn xứ giới, là phi học phi Vô học. (Nói chi tiết như trong luận tạp tập.) Nếu theo luận Du-già, chỉ lấy tất cả pháp thiện của Thánh nhân, gọi là Học, Vô học. Nên quyển sáu mươi sáu nói: Nghĩa là, pháp hữu vi xuất thế của hàng Dự lưu… hoặc pháp thiện thế gian, đó gọi là học. Pháp Vô học là gì? Pháp hữu vi xuất thế của A-la-hán, hoặc pháp thiện thế gian, đó gọi là Vô học. Nghĩa là ngoài các pháp thuộc học và Vô học đã nói trên, còn lại Dự lưu cho đến A-la-hán, nếu rơi vào sự tương tục dự sinh, toàn bộ các pháp tăng thượng kia đều gọi là phi học, phi Vô học. Thế nhưng hai đoạn văn kia như chưa nói hết lý. Vì học và Vô học, toàn bộ diệt định gồm thâu trong phi học phi Vô học đó. (Luận Du già quyển sáu mươi hai nói: Những đẳng chí này ấy đều gọi là phi học phi Vô học, do phi sở hạnh tựa như Niết-bàn.

“A-la-hán”: Là tên gọi chung cho hạnh vị. Tiếng Phạm là A-la-

hán, được phiên dịch bao hàm nhiều nghĩa: Tát-bà-đa tông, giải thích có bốn nghĩa: 1.Ứng cúng: Ứng thọ nhận cúng dường thù thắng của thế gian; 2. Sát tặc: Diệt giặc phiền não khiến không còn sót; 3. Bất sinh: Không còn sinh trở lại trong pháp sinh tử; 4. Viễn ác: Lìa xa các ác, các pháp bất thiện, (nói chi tiết như trong quyển 4 của luận Bà-sa). Theo tông Kinh Bộ: Đoạn dứt hết hoặc nên gọi là A-ha-hán, cũng như luận Thành Thật đã nói. Nay y theo đại thừa giải thích, có ba nghĩa. Như Luận Thành Duy Thức quyển ba nói: Trong đây nói về A-la-hán là gồm thâu chung cả quả vị Vô học thuộc ba thừa, đều đã vĩnh viễn diệt giặc phiền não, ứng thọ nhận sự cúng dường vi diệu của thế gian, và vĩnh viễn không còn thọ nhận phân đoạn sinh (tử). Luận Trí Độ nói: Cũng giống với mười lăm nghĩa đã giải thích trong luận Pháp Hoa. E nhiều quá không thuật đây.

Hỏi: Quả thứ tư đủ cả ba nghĩa, có thể gọi là A-la-hán. Các quả khác không đủ ba nghĩa, sao lại nói đều là A-la-hán?

Theo Bổn ký nói: Thanh văn hướng tịch (hướng đến Niết-bàn) thì không thọ giáo, gọi là Vô học. Còn Thanh văn hồi hướng (hồi đầu) hướng đến Bồ-đề, gọi là Hữu học. Lại giải thích: A-la-hán; có đủ bốn nghĩa: 1. Lìa phàm; 2. Sát tặc; 3. Ứng cúng; 4. Phá nhân duyên. Luận chung về bốn quả đều có bốn nghĩa, vì vậy bảo đều là A-la-hán.

Có người nói: Vì chuyển căn…, nên gọi là Hữu học. Không mong cầu quả nữa, gọi là Vô học. Nay giải thích về A-la-hán, tự có hai loại: 1. Hành A-la-hán, tức là Học nhân. Trú A-la-hán: Là quả thứ tư. Luận Thành Thật nói: Hai loại A-la-hán là trú và hành. Lại văn kinh sau nói “ngũ giới Hiền giả tức là hạng hành A-la-hán. Hoặc có thể phân ra nghĩa ứng cúng,… nên gọi là A-la-hán, vì vậy trong kinh này gọi chung là A-la-hán.

Kinh: Công đức hữu vi, công đức vô vi.

Giải thích: Từ đây là phần ba. Tán thán riêng về công đức, (trong phần chúng Thanh văn tức chia làm tám phần: 1. Đức hữu vi; 2. Đức mười trí sai biệt; 3. Đức ba căn sai biệt; 4. Đức mười sáu quán môn; 5. Đức tam giả quán môn; 6. Đức tam không quán môn; 7. Đức tứ đế quán môn; 8. Đức duyên sinh quán môn.

Đây là đức thứ nhất đức hữu vi vô vi. Tông Tát-bà-ba, tức dưới đây nói về đức của mười trí, đều là hữu vi, vì bị dời đổi trong bốn tướng. Tự tính xuất thể, tức dùng tuệ đại địa làm tự tính. Cùng hữu xuất thể tùy theo tương ứng với chúng mà bốn uẩn năm uẩn lấy làm tự tính. Công đức vô vi tức là diệt đế vô vi, hoặc là phi trạch diệt, còn gọi là đoạn đức.

Nghĩa là đoạn dứt vô tri trong tất cả sự. Luận Câu-xá nói: Các nhất thiết chủng, các minh diệt,… là tán công đức của Phật. Nay theo đại thừa, về mặt phân biệt thô tướng của công đức hữu vi phần lớn giống với tông Tát-bà-đa, với lý thì không trái. Công đức vô vi, tức chơn như trạch diệt vô vi và phi trạch diệt. Nguyên do là sao? Niết-bàn bổn lai thanh tịnh, tức trong sáu vô vi là thuộc về phi trạch diệt. Lại nữa, đại thừa tông, trạch diệt vô vi, tức là được hiển bày trên chơn như khi lìa chướng, mà không có một thể riêng biệt nào khác. Vô vi như vậy, chẳng bị tướng dời đổi, nên gọi là vô vi. Thức tâm biến đổi, theo sinh diệt thật tựa như vô vi, nên cũng là vô vi.

Kinh: Vô học, Hữu học sáu trí.

Giải thích: Phần hai. Đức của mười trí sai biệt. Nhưng trong mười trí này, các giáo bất đồng. Tông Tát-bà-đa, lấy mười chủng trí gồm thâu tất cả trí, nên luận Câu-xá quyển hai mươi sáu nói: Trí có mười loại, gồm thâu tất cả trí: 1. Thế tục trí; 2. Pháp trí; 3. Loại trí; 4. Khổ trí; 5. Tập trí; 6. Diệt trí; 7. Đạo trí; 8. Tha tâm trí; 9. Tận trí; 10. Vô sinh trí. Mười loại trí như vậy, tóm gọn thì có hai loại: Hữu lậu và vô lậu. Vì tính sai biệt. Hai loại trí như thế, về tướng thì chia ra làm ba phần: Nghĩa là thế tục trí, pháp trí và loại trí. Hữu lậu trí trước, gọi chung là thế tục, vì đa phần là cảnh thế tục. Vô lậu trí sau, chia ra là pháp và loại riêng biệt. Trong ba thế tục trí, lấy khắp tất cả hữu vi vô vi làm cảnh của đối tượng duyên. Pháp trí và loại trí, như thứ tự của chúng, lấy bốn đế thuộc cõi dục và cõi trên làm cảnh. Pháp trí, loại trí, do vì cảnh sai biệt, chia làm bốn trí: Khổ, tập, diệt, đạo. Vì có thể duyên nơi tha tâm làm cảnh giới, gọi là tha tâm trí. Nếu chánh thật tự biết Ta đã tri khổ, Ta đã đoạn tập, Ta đã chứng diệt, Ta đã tu đạo. Do tất cả những điều đó mà trí kiến minh giác, giải quán tuệ quang, đó gọi là tận trí. Ta đã biết khổ, không ứng với còn biết nữa, nói rộng ra cho đến Ta đã tu đạo, không ứng với còn tu nữa. Do toàn bộ những thứ đó, rộng thuyết cho đến đó gọi là vô sinh trí. Vô lậu trí là gì? Có thể biết như vậy. Các luận sư nước Ca thấp di la nói: xuất ra từ hai trí. Trong hậu đắc trí, biết như vậy, cho nên không sai. Do hai trí hậu đắc riêng biệt nên tỏ rõ sự sai biệt của hai trí trong quán trước. Có người nói: Trí vô lậu cũng biết như vậy. Theo phẩm Thập Trí của luận Thành Thật, tông Kinh Bộ, nói: Biết pháp hiện thế, ấy gọi là pháp trí. Biết pháp quá khứ, vị lai, gọi là tỷ trí. Các trí khác cũng vậy. Nay theo đại thừa, kinh này dựa theo vị sai biệt mà nói ba loại: 1. Tại học vị thì đầy đủ mười trí; 2. Tại tu vị: Chỉ có tám trí, trừ tận trí và vô sinh trí. Nếu tại kiến đạo thì chỉ có sáu trí. Là trí bốn đế và pháp, loại trí. Đó là dựa theo hiện khởi, nếu thành tựu chung thì cũng đắc thế tục, ba loại trí biên, là thế tục trí. Có nơi thì nói là mười, như luận Hiển Dương ý giống với Câu-Xá. Hoặc nói mười một, thêm luận Trí Độ, như như thật trí. Nghĩa là có thể như thật biết các pháp. Hoặc nói mười ba, như Tập Luận. Nhưng nay ở đây nói về nghĩa của mười trí nên dựa theo luận Hiển Dương nói về tướng mười trí: Trí là mười loại trí: 1. Pháp trí nghĩa là trí vô lậu đối với cảnh giới các nghĩa sở tri cùng hiện thấy; 2. Chủng loại trí: trí vô lậu đối với các nghĩa sở tri không cùng liễu, không hiện tiền; 3. Tha tâm trí: Nghĩa là quả tu do tu sinh ra, có thể biết tâm của người khác và trí tâm pháp. Và chư Như Lai biết các chúng sanh, tùy ý giải đó, tùy miên đó mà giáo thọ, giáo giới chuyển khởi diệu trí; 4. Thế tục trí: Nghĩa là, tuệ thế gian nương vào đó. Như Lai vì các chúng sanh, tùy theo ý giải của họ, tùy theo tùy miên đó mà diễn thuyết diệu pháp; 5. Khổ trí: Nghĩa là ở trong các hạnh hữu lậu, vô thường, khổ, không, lìa ngã tư duy, hoặc trí hoặc kiến. Giác ngộ minh liễu, tính tuệ quán sát; 6. Tập trí: Nghĩa là; ở trong nhân của các hạnh hữu lậu, nhân tập sinh duyên tư duy hoặc trí hoặc kiến. Ngoài ra như đã nói trên; 7. Diệt trí: Nghĩa là, ở trong diệt, các hạnh hữu lậu, diệt tĩnh diệu ly, tư duy hoặc trí hoặc kiến. Ngoài ra như đã nói trên; 8. Đạo trí: Nghĩa là ở trong đạo vô lậu có thể đoạn dứt các hạnh hữu lậu, đạo như hành xuất, tư duy hoặc trí hoặc kiến. Ngoài ra như đã nói trên; 9. Tận trí: Nghĩa là khổ đã biết, tập đã đoạn, diệt đã tu, hoặc dyên tận cảnh, hoặc lại là tận, hoặc trí hoặc kiến, ngoài ra như đã nói trên; 10. Vô sinh trí: Nghĩa là khổ đã biết, không còn gì đáng biết. Tập đã đoạn, không còn gì đáng đoạn, diệt đã chứng, không còn gì đáng chứng, đạo đã tu, không còn gì đáng tu, hoặc duyên cảnh vô sinh, hoặc là vô sinh, hoặc trí hoặc kiến. Ngoài ra như đã nói trên.

Kinh: Ba căn.

Giải thích: Phần thứ ba. Đức của ba căn sai biệt.

Nói “ba căn”; theo Bổn ký nói: 1. Tự tính căn: Là phàm phu; 2. Dẫn thủ căn: Là mười tín đến mười địa; 3. Đắc quả căn: Là Như Lai. Nay ở đây hiểu không phải vậy: 1. Vị tri đương tri căn; 2. Dĩ tri căn tri; 3. Cụ tri căn. Nhưng ba căn này đối với ba ngôi vị; kiến đạo, tu đạo và Vô học đạo là riêng biệt. Các tông bất đồng; tông Tát-bà-đa thì ba căn vô lậu; kiến đạo, tu đạo và Vô học đạo. Ba ngôi vị sai biệt, nghĩa là, mười lăm tâm, gọi là kiến vị, còn gọi là vị tri đương tri căn. Tâm thứ mười sáu cho đến Tam muội Kim cang, gọi là tu đạo, cũng gọi là dĩ tri căn. Sau khi đắc được tận trí, gọi là Vô học, và cụ tri căn. Sư ngoại quốc nói: Mười sáu tâm đều là kiến đạo, cũng gọi là vị tri đương tri căn, còn lại, như nói ở trên. Nếu phân biệt chi tiết thì như luận Chánh lý quyển chín đã nói. Nay theo thuyết của luận Đại trí Độ: Hoặc mười lăm tâm gọi là kiến đạo, hoặc mười sáu tâm gọi là kiến đạo. Nếu theo luận Thành Duy Thức thì kiến đạo có nhiều loại: 1. Vô tướng kiến đạo; 2. Ba tâm kiến đạo; 3. Hai loại mười sáu tâm; 4. Chín tâm kiến đạo. Vị có ba loại: 1. Vị căn bản: Nghĩa là tại kiến đạo, ngoại trừ Sát-na sau cùng, không có chỗ nào là chưa biết, đáng được biết; 2. Vị gia hạnh: Nghĩa là Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, có thể dẫn phát căn bản vị; 3. Vị tư lương: Nghĩa là từ đắc đế hiện quán phát khởi quyết định căn dục thắng thiện, cho đến chưa đắc toàn bộ thiện căn thuộc thuận phần quyết trạch, gọi là vị tư lương. Vì có thể dùng để sinh vị căn bản.

Kinh: Mười sáu tâm hành.

Giải thích: Phần bốn. Đức của mười sáu môn quán.

Theo Bổn ký nói: Mười sáu tâm là ba mươi tâm địa tiền, hợp thành bốn tâm. Đăng địa là mười, Kim cang và Phật, hợp thành mười sáu tâm. Nay hiểu không vậy. Nghĩa là, duyên với bốn đế mà khởi mười sáu hành tướng, hành tướng thì dùng tuệ làm tự tính. Nói: “Tâm hành” là cái hành của tâm, chẳng phải tâm tức hành. Mười sáu hành đó như trong luận Câu-xá quyển hươi sáu đã nói. Luận viết:

Có sư khác nói :

Mười sáu hành tướng, tuy gọi mười sáu tên n thật chỉ có bảy. Nghĩa là duyên khổ đế gọi là thật, đều có bốn. Duyên ba đế còn lại gọi là bốn, thật sự có một. Nói như thế thì thật cũng có mười sáu.

Nghĩa là: Khổ Thánh đế có bốn hành tướng: 1. Phi thường; 2. Khổ; 3. Không; 4. Phi ngã. Vì đợi duyên nên Phi thường. Vì tính bức bách cho nên Khổ. Trái với ngã sở kiến, cho nên là không. Trái với ngã kiến, cho nên là Phi ngã.

Tập Thánh đế có bốn tướng: 1. Nhân; 2. Tập; 3. Sinh; 4. Duyên. Như lý chủng (gieo giống), cho nên là nhân. Cùng hiện chủng, cho nên là Tập. Lý tương tục nên Sinh. Lý thành tựu nên Duyên. Thí như: Đất sét, bánh quay, dây thừng, nước… các duyên hòa hợp làm thành bình sứ…

Diệt Thánh đế có bốn tướng: 1. Diệt; 2. Tĩnh; 3. Diệu; 4. Ly. Vì các uẩn hết nên là Diệt. Vì ba hỏa đã tắt, nên Tĩnh. Vì không có các hoạn nạn, nên Diệu. Vì thoát các tai họa, nên là Ly.

Đạo Thánh đế có bốn tướng: 1. Đạo; 2. Như; 3. Hạnh; 4. Xuất. Vì nghĩa thông hành, nên là Đạo (con đường). Khế với chánh lý, nên là Như. Chánh hướng đến nên là Hành. Vì có thể vĩnh viễn siêu vượt nên là Xuất. Nếu phân biệt chi tiết thì như trong luận Đại Bà-sa quyển bảy mươi chín.

Kinh: “Pháp giả đến danh giả quán hư thật”.

Giải thích: Phần năm: Đức của môn quán ba giả. Theo Bổn ký: Ba loại ba giả là nhân thành tựu của biệt giáo. Tông Thành thật luận: Nhân sinh duyên thành ba giả tương tục Thông giáo gọi là thọ… Đại Phẩm nói : Pháp giả thọ giả, Danh giả. Nay giải thích không như vậy. Theo Đại Bát-nhã ba giả là: 1. Pháp giả: Nghĩa là, năng thành năm uẩn, vì từ duyên sinh; 2. Thọ giả: Nghĩa là cái giả tương tục giả được thành do uẩn, thọ nhận năm uẩn; 3. Danh giả: Nghĩa là cả hai danh kia, không có thật thể. Ba thứ đều giả dối, quán lý thật tướng, gọi là quán hư giả.

Kinh: Môn quán ba không.

Giải thích: Phần sáu: Đức của môn quán ba “không”.

Ba không là: 1. Môn Không; 2. Môn Vô tướng; 3. Môn Vô nguyện.

Theo tông Tát-bà-đa, không vô ngã hành gọi là môn không; diệt bốn hành dưới gọi là Vô tướng, mười hành còn lại gọi là Vô nguyện ba loại này cũng gọi là ba Tam muội. Nay dựa theo Đại thừa Phật Địa luận nói : Biến kế sở chấp, sinh pháp vô ngã, gọi là không. Duyên với Tamma-địa, gọi là môn giải thoát không.

Tướng: Nghĩa là mười tướng; tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, nam, nữ, sinh, lão, tử. (còn gọi là sinh, trụ, diệt) với Niết-bàn, không có các tướng này, nên gọi là Vô tướng. Duyên với Tam-ma-địa, gọi là môn giải thoát Vô tướng.

Nguyên: Là nguyện cầu, quán khổ trong tam giới, không có gì để nguyện cầu, nên gọi là vô nguyện. Duyên với Tam-ma-địa đó, gọi là môn giải thoát vô nguyện Luận Trí Độ cquyển sáu nói: Biết thật tướng của tất cả pháp, vốn gọi là Tất cánh Không, chính là Tam muội Không. Đã biết Không đó rồi, không quán các pháp không hay là bất không, hữu hay vô, đó gọi là Tam muội Vô tác. Tướng hữu vô của tất cả pháp đều không thọ, không vướng. Đó gọi là Tam muội Vô tướng. Lại nữa, mười tám không, đó gọi là Tam muội không. Tâm không cầu trong nhiều loại hữu, đó gọi là Tam muội vô tác. Tất cả các tướng tan hoại, không nhớ nghĩ, đó gọi là Tam muội Vô tướng. (Nói đầy đủ như trong luận kia).

Kinh: Bốn đế, mười hai duyên.

Giải thích: Phần bảy – Đức của môn quán Tứ đế. Phần tám – Đức

của môn quán duyên sinh.

Về bốn đế, chia làm hai phần: 1. Giải thích danh; 2. Nêu ra thể. Giải thích danh có hai: Thông, và biệt.

Nói “bốn đế”: Tức là danh thông (chung). Bốn là nêu con số. Đế là nghĩa thật, nghĩa như, nghĩa không điên đảo, nghĩa không hư dối. Đó là theo luận Đại Bà-sa. Nếu theo đại thừa thì có ý nghĩa là không lìa bỏ các tướng như đã nói. Do quán những thứ đó mà đạt đến cứu cánh. Nghĩa thanh tịnh là nghĩa của đế. Như luận Du già đã nói.

Về biệt danh (tên riêng) thì: 1. Khổ; 2. Tập; 3. Diệt; 4. Đạo. Bức bách gọi là khổ. Sinh trưởng gọi là tập. Tịch tịnh, gọi là diệt. Xuất ly, gọi là đạo. Nói chi tiết như trong Tỳ-bà-sa, Câu-xá. Chánh lý phần hai: Xuất thể: Theo tông Tát-bà-đa thì năm thủ uẩn là khổ đế. Nhân hữu lậu là tập đế. Trạch diệt kia là diệt đế. Pháp học và pháp Vô học là đạo đế. Theo tông Kinh Bộ thì các danh sắc là khổ đế. Nghiệp phiền não là tập đế. Nghiệp phiền não tận là diệt đế. Chỉ quán là đạo đế. Theo tông đại thừa thì cũng giống với tông Kinh Bộ, nên không thuật ra đây.

“Mười hai duyên” là: Vô minh, hành… cho đến… lão, tử. Ngu trong ba đời, với cảnh không hiểu, cho nên gọi là vô minh, ba nghiệp các phước dời trôi tạo tác, gọi đó là hành. Tám thức nhãn v.v… hiểu biết phân biệt cảnh giới, gọi là thức. Các sắc các tướng, tức biểu chất ngại, gọi là danh sắc. Sáu căn: Nhãn,… sinh trưởng các tâm, gọi là sáu xứ. Ba xúc như khổ v.v… xúc đối tiền cảnh, nên gọi là xúc. Ba thọ, như khổ… thuận, chống trái, gọi đó là thọ. Các tham của tự thể, tham nhiễm tự cảnh, nên gọi là ái. Bốn thủ như dục…, chấp giữ các cảnh, gọi đó là thủ. Các loại hành, thức… có thể nhận lấy sự sinh, gọi đó là hữu. Năm pháp như thức…, vốn không nay có, gọi đó là sinh. Tức năm pháp kia, suy, biến, diệt, hoại, nên gọi là lão tử.

Kinh: Vô lượng công đức đều thành tựu.

Giải thích: Phần bốn: Tổng kết về đức.

Kinh: Lại có tám trăm vạn ức đại Thiên Duyên giác.

Giải thích: Phần hai: Biện về chúng Duyên giác.

Trong đây có ba phần: 1. Nêu số biện loại; 2. Tán thán công đức; 3. Tổng kết về công đức. Đây là phần một “Tám vạn ức”; là nêu con số chung.

“Đại tiên Duyên giác” là hiển bày sai biệt.

Theo Bổn ký nói: Tự nhiên tỏ ngộ, gọi là đại tiên. Nay giải thích: Tiên là thường vui với sự tịch tĩnh, như người ở núi, là đại tiên. Vì vậy luận Du già giải thích: Thường thích tịch tĩnh, không muốn tạp cư.

Không thầy mà tự mình tỏ ngộ, gọi là Độc giác. Nhưng tiên nhân kia có ba loại: 1. Phật; 2. Độc giác; 3. Năm thông. Như đã nói trong cuốn luận Đại bà-sa quyển một trăm tám mươi ba. Nay đối năm thông mà gọi là Đại tiên.

Hỏi: Trong chúng hội Phật, có Duyên giác không? Nếu nói là có thì sao có thể giải thích trong phẩm thứ nhất của kinh Đại Nghiêm nói: Nhất sinh bổ xứ Bồ-tát sắp hạ sinh. Có thiên tử xuống Diêm phù đề bảo Phật Bích Chi: Nhân giả! Nên xả bỏ đất đó. Vì sao? Mười hai năm sau, sẽ có Bồ-tát, giáng thần nhập thai. Lúc ấy, năm trăm Phật Bích Chi, nghe vị thiên tử nói xong, từ tòa mà khởi, nhảy lên không trung, cao bảy cây Đa la, hóa lửa thiêu thân, nhập Niết-bàn. Nếu nói là không thì kinh này nói tám trăm vạn ức Đại tiên Duyên giác, sao có thể thông được?

Đáp: Các thuyết khác nhau, một thuyết nói: Bí mật tức có, hiển hiện tức không có. Cho nên luận Trí Độ nói: Phật pháp có hai loại: Bí mật và hiển hiện. Mới bắt đầu chuyển pháp luân, có những người của ba thừa, mỗi thừa đều đắc quả. Đó là chúng bí mật. Nay trong kinh này, dựa theo bí mật mà thuyết, cho nên bảo là có. Còn kinh Đại Nghiêm đã nói, là dựa theo chúng hiển hiện, nên không trái nhau. Một thuyết nói: Độc giác có hai loại: 1. Bổn tính độc xuất; 2. Trước là Thanh văn, sau thành Độc giác. Như năm trăm tiên nhân cùng một thời mà xuất. Như cuốn trong cựu Bà-sa quyển bốn mươi hai đã nói.

Giải thích: Cả hai kinh mỗi kinh đều căn cứ vào một người, cũng không trái nhau. Có thuyết nói: Độc giác tự có hai loại: 1. Dụ như sừng kỳ lân, độc nhất không hai, nên biết là như Đức Phật; 2. Bộ hành, nhiều người cùng xuất, ở đó có hai loại: Một là Duyên Giác tính, như năm trăm tiên nhân. Hai là, Thanh văn chủng tính, cũng là năm trăm tiên nhân, cho nên Tân Bà-sa quyển hai mươi nói: Năm trăm tiên nhân đa phần là chủng tính. Giải thích: Đã có nhiều thuyết, tám trăm vạn ức tiên nhân ở kinh này, hoặc là Thanh văn chủng tính, hoặc là Duyên giác chủng tính. Mà nói là xuất sanh khi đời không có Phật là nói theo đa phần. Lại nữa, luận Tạp Tập cuốn mười ba nói: Bổ đặc già la thuộc Độc giác thừa; nghĩa là trú pháp Độc giác, tính hoặc định hoặc bất định, trong đó căn tự cầu giải thoát, cho đến hoặc chưa khởi thuận phần quyết trạch, hoặc trước đã khởi, hoặc trước chưa đắc quả, hoặc trước đã đắc quả, xuất hiện khi đời không có Phật, duy chỉ nội tư duy Thánh quán hiện tiền, hoặc như sừng lân, hoặc lại Độc Thắng bộ hành. Nếu trước chưa khởi, cũng chưa đắc quả, mới thành sừng lân, ngoài ra thì gọi là bộ hành. (Nói rõ như trong luận kia).

Kinh: Phi đoạn, phi thường, bốn đế, mười hai nhân duyên đều thành tựu.

Giải thích: Phần hai: Tán thán riêng công đức. “Phi đoạn phi thường”; trong bốn đế thì tập đế là nhân, khổ đế là quả, mười hai nhân duyên sinh lần lượt cùng sinh. Nhân quả như vậy đều lìa đoạn thường. Lại có giải thích: Nhân và quả tương tục nhau không dứt, như trong luận thành Duy Thức. Nhân diệt, nên chẳng phải thường. Quả sinh, nên chẳng phải đoạn. Phi đoạn phi thường tức nhân quả trung đạo. Còn tứ đế duyên sinh thì nghĩa như đã nói trên.

Kinh: Vô lượng công đức đều thành tựu.

Giải thích: Phần ba Tổng kết về đức.

Kinh: Lại còn có… Ma-ha-tát.

Giải thích: Phần ba: Hiển bày chúng Bồ-tát. Văn có bốn phần: 1. Nêu số biện loại; 2. Lược biện về vị địa; 3. Tán thán riêng về công đức; 4. Tổng kết về công đức. Đây là phần một. Thế nhưng chư Bồ-tát có hai loại: Một là: Thông danh: Có mười sáu loại: 1. Gọi là Bồ-tát; 2. Gọi là Ma-ha-tát… 1. Gọi là Pháp sư. Hai là: Biệt danh: Là Mạn Thù Thất Lợi và Di Lặc,… Nay nói “Bồ-tát Ma-ha-tát” là hai danh đầu trong mười sáu danh gọi. Hai danh gọi đó, theo âm Phạm thì phải nói là Bồ-đề Tát-đỏa Ma-ha-tát-đỏa, vì lược bớt, chỉ nói là Bồ-tát Ma-ha-tát. Bồ-đề là giác, Tát-đỏa; là hữu tình hoặc có nghĩa là tinh tiến. Cho nên luận Nhiếp Đại thừa, Vô tánh giải thích, nói: Bồ-tát; là Bồ-đề Tát-đỏa làm cảnh của đối tượng duyên, nên gọi là Bồ-tát, theo cảnh mà đặt tên như quán bất tịnh,… hoặc vì tâm kia cầu Bồ-đề, có chí có năng lực nên gọi là Bồ-tát. Luận Phật Địa nói: Gọi là Bồ-tát, nghĩa là các Tát-đỏa cầu Bồ-đề. Đây là chung cho cả ba thừa, vì giản lược bớt lấy cái lớn nên lại cần nói thêm chữ Ma-ha-tát. Đầy đủ đại nguyện tự lợi lợi tha, cầu Bồđề để tạo lợi ích cho hữu tình. Lại nữa, Tát-đỏa, nghĩa là dũng mãnh. Tinh tiến dũng mãnh cầu đại Bồ-đề, nên gọi là Bồ-tát. Đó là chung cho cả các ngôi vị, ở đây là lấy theo các vị đại Bồ-tát trên địa, vì vậy mà nói là Ma-ha-tát.

Kinh: Đều hành A-la-hán.

Giải thích: Phần hai: Lược biện về hành vị.

Giải thích về nghĩa của A-la-hán như trên đã nói. Nhưng chư Bồtát gọi là A-la-hán thì có ba nghĩa: 1. A-la-hán hồi tâm hướng đại, vẫn gọi là A-la-hán; 2. Chư Bồ-tát mười địa đều thọ nhận ứng cúng; 3. Phật quả gọi là A-la-hán. Bồ-tát đại địa hành A-la-hán, cũng gọi là A-lahán. Ý nghĩa này như nói trong luận Thành Duy Thức.

Kinh: Thật trí công đức… Kim cang diệt định.

Giải thích: Phần ba: Tán thán riêng về công đức. Chia làm mười: 1. Công đức của hai trí phương tiện, và chơn thật; 2. Công đức chỉ hành đại thừa; 3. Công đức bốn nhãn; 4. Công đức năm thông; 5. Công đức ba đạt; . Công đức mười lực; 7. Công đức bốn vô lượng; . Công đức bốn biện; . Công đức bốn nhiếp; 10. Công đức Kim cang diệt định. Hoặc có thể chia thành mười một công đức, vì hai trí: Phương tiện trí và thật trí riêng biệt. Hoặc chia thành mười hai công đức, vì Kim cang và diệt định, hai loại riêng biệt. Tuy có ba thuyết, nhưng tạm dựa theo thuyết đầu.

Đây là phần một: Môn công đức của hai trí. Về hai trí này thì các thuyết bất đồng. Một thuyết nói: Chánh thể trí gọi là thật trí, vì duyên với thật cảnh, hận sở đắc trí là phương tiện, do phương tiện thiện xảo Quốc độ chúng sanh. Một thuyết nói: Chánh thể hậu đắc gọi là thật trí. Vì có thể duyên với hai cảnh thật chơn và tục. Lấy gia hạnh trí gọi là phương tiện, vì có thể dẫn sinh chánh thể trí. Nói: “Hành chỉ riêng đại thừa” là tán thán đức thứ hai. Bổn ký nói: Xuất khỏi nhị thừa. Đại thừa có hai: 1. Từ thập tín đến Thập giải là bất định, còn thối chuyển thành nhị thừa; 2. Từ Thập hạnh đến Thập địa là định, nên nói là hành riêng đại thừa. Nay giải không vậy: Bốn đế duyên khởi, đại tiểu cùng hành, sáu Ba-la-mật chỉ có Bồ-tát hành, nên bảo là hành riêng đại thừa. Hoặc có thể Bát-nhã có hai: 1. Đại và tiểu cùng hành; 2. Chỉ có Bồ-tát hành, nên bảo là hành riêng đại thừa.

Nói: “Bốn nhãn”: Là tán thán đức thứ ba. Trong năm nhãn, nhục, thiên, pháp, tuệ, chỉ trừ Phật nhãn, vì chưa thành Phật. Hình hài da dẻ gọi là nhục, chiếu soi gọi là nhãn, nhục tức là nhãn nên gọi là nhục nhãn. Thiên nhãn có ba loại: 1. Báo đắc: Nghĩa là như các Tứ Thiên vương, và Sắc giới nhãn, nhãn của cõi trời. Nên gọi là thiên nhãn; 2. Phật, Bồ-tát báo đắc nhãn căn, vì nhãn của người tịnh, cũng gọi là thiên nhãn; 3. Nhãn căn sinh ra do bốn loại tĩnh lự, cũng gọi là thiên nhãn, đó là tu đắc.

Quán các pháp môn gọi là pháp nhãn. Thông đạ tướng không, gọi là tuệ nhãn. Bốn nhãn đó ở tại Phật thân, chuyển gọi là Phật nhãn. Trong năm nhãn: Nhục nhãn lấy sắc làm thể. Thiên nhãn thì thông cả sắc và tâm, thấy sắc hiện tại, tức là nhãn căn. Vì biết vị lai thì chỉ có tâm. Hai nhãn pháp và tuệ, dùng tuệ làm thể. Phật nhãn thì dùng bốn nhãn làm thể, hoặc có thể là tuệ, quán Như Lai tạng. Đó là dụng của tuệ nhãn. Nghĩa chi tiết của năm nhãn đó như ở chương khác.

Nói “năm thông”: Là tán thán đức thứ tư, trong sáu thông chỉ trừ lậu tận, vì Bồ-tát chưa đoạn dứt hết phiền não. Ở trong đối tượng duyên không bị ngừng trệ, gọi đó là thông. Luận đại bà-sa nói: Ở tự đối tượng duyên, không bị đảo mà thông đạt, diệu dụng vô ngại, nên gọi là thông.

1. Thần cảnh trí chứng thông. Nghĩa là đẳng trì, do vậy có thể làm các việc thần biến. Các việc thần biến, gọi là cảnh.

2. Thiên nhãn trí chứng thông: Thù thắng gọi là thiên, nhãn này thù thắng, nên gọi là thiên, Sắc giới đại tạo, thuộc căn tịnh sắc, thấy xa không ngại, gọi là thiên nhãn.

3. Thiên nhĩ trí chứng thông: Thiên, đồng nghĩa với trên. Sắc giới đại tạo, thuộc về nhĩ tịnh sắc, nghe xa không ngại, gọi là thiên nhĩ.

4. Tha tâm trí chứng thông: Biết tâm người khác, gọi là tha tâm trí. Các sư Du già, ý vui gia hạnh, muốn biết tâm của người khác, nhưng chẳng biết tâm sở của người khác, vì vậy mà chỉ gọi là “tha tâm trí” ba chữ. Phải dùng tâm làm tiên quyết, cũng nhận biết cả tâm sở.

5. Túc trụ tùy niệm trí chứng thông: Các năm uẩn hữu lậu đời quá khứ, gọi là túc trụ. Tùy uy lực của niệm mà biết những thân năm uẩn trước kia, nên gọi là tùy niệm. Nghĩa là trong những tụ đó, tuy có nhiều pháp, nhưng niệm lực tăng thượng cho nên nói là tùy niệm.

6. Lậu tận trí chứng thông: Lậu nghĩa là phiền não, tận; tức là diệt tận, nên gọi là lậu tận. Hoặc có thể lậu tận trong thân khởi, gọi là lậu tận. Hoặc có thể duyên lậu tận, gọi là lậu tận thông về thể thì theo tông Tát-bà-đa: Sáu thông đều dùng trí tuệ làm thể. Luận Bà-sa cũng nói vậy. Nay theo đại thừa, sáu thông đều lấy định tuệ và pháp tương ưng, làm thể.

Nói “ba đạt” là tán thán đức thứ năm. Tức là ba minh, đạt và hiểu vô ngại, nên bảo là minh. Luận Bà-sa quyển một trăm lẻ hai nói: Thông đạt hiểu rõ, gọi là minh.

1. Túc trụ tùy niệm trí chứng minh: Vì thông đạt hiểu rõ pháp đời trước; 2. Tử sinh trí chứng minh: Vì thông đạt hiểu rõ pháp đời sau; 3. Lậu tận trí chứng minh: Thông đạt hiểu rõ tính Niết-bàn, đếu gọi là minh. Nếu nêu ra thể thì tông Tát-bà-đa lấy tuệ làm thể, ở trong sáu thông, túc trú, thiên nhãn lậu tận làm tính. Như tiếp đối trị ba loại ngu trong đời trước sau và giữa.

Luận Câu-xá nói: Ba minh không tăng không giảm, chơn và giả phân biệt rõ ràng, lậu tận minh, thông cả giả và chơn, còn hai minh khác là giả, vì chỉ hữu lậu. Trí hữu lậu và trí vô lậu đều gọi là lậu tận. Vì đều sinh ra từ trong thân lậu tận. Chơn gọi là vô lậu. Giả; gọi là hữu lậu. Vì hình tướng hơn kém, nên nói là chơn, giả; 4. Phân biệt Học và Vô học, chỉ có ở tại Vô học vì Hữu học còn ám tối. Theo luận Bà-sa lập ba ý có hơi khác luận Câu-xá. Như Bà-sa quyển một trăm lẻ hai nói. Nay ở đây theo đại thừa luận Phật Địa giống với Câu-xá. Luận Phật Địa nói: Vô học lợi căn đắc được ba thông, trừ nhiễm và bất nhiễm ngu trong ba đời, gọi là tam minh. Có người nói: Minh, lấy tâm tuệ làm tính, tuệ có thể trừ ám nên gọi là minh. Có người nói: Thiện căn vô ngại làm tính.

Vì lật ngược vô minh.

Hỏi: Thông và minh khác nhau như thế nào?

Đáp: Trí Độ luận quyển hai nói : Chơn thật biết sự việc bổn mạng mệnh kiếp trước gọi là thông. Biết nhân duyên hành nghiệp của quá khứ gọi là minh. Biết một cách chơn thật chết ở đây sinh ở kia, đó là thiên nhãn thông. Biết nhân duyên của các hành, chứng hiểu không sai lầm, đó là minh. Biết đúng thật đã tận hết kiết sử, không biết còn sinh nữa hay không sinh nữa, đó là lậu tận thông. Nếu biết lậu tận không còn sinh lại nữa, đó gọi là minh. Ba minh này là chỗ chứng đắc của Đại Ala-hán, đại Phật Bích Chi, cho nên biết sự sai biệt giữa thông và minh, hơn và kém.

Nói “mười lực”: Là tán thán đức thứ sáu. Có hai giải thích: Có thuyết nói: Chỉ có Phật mới có mười lực, ngoài ra chẳng ai có, nghĩa là; xứ, phi xứ, cho đến lậu tận. Có thuyết nói: Bồ-tát cũng có mười lực. Như luận Trí Độ quyển hai mươi tám nói: Phật có mười lực, bốn vô sở úy. Bồ-tát có hay không?

Đáp: Có. Là những gì? 1. Lực phát khởi Nhất-thiết-trí, tâm bền vững sâu xa; 2. Lực đại từ; 3. Lực đại bi; 4. Lực đầy đủ tinh tiến; 5. Lực thiền định viên mãn; . Lực trí tuệ đầy đủ; 7. Lực không chán sinh tử; . Lực vô sinh nhẫn; . Lực giải thoát đầy đủ; 10. Lực đầy đủ trí vô ngại.

Nói “Bốn vô lượng” đó là tên gọi chung. Theo tông Tát-bà-đa. Như luận đại Bà-sa quyển tám mươi mốt nói: Hỏi: Vì sao gọi là vô lượng? Vô lượng là nghĩa gì?

Đáp: Bốn loại như vậy là xứ hiển bày rộng diệu dụng của chư hiền thánh, nên gọi là vô lượng. Lại nữa, bốn loại như vậy, có thể duyên với vô lượng hữu tình làm cảnh, sinh ra vô lượng phước, dẫn đến vô lượng quả, cho nên gọi là vô lượng. Theo tông đại thừa thì lấy ba nghĩa để giải thích danh từ vô lượng. 1. Rộng; 2. Lớn; 3. Vô lượng. Rộng: Là tác ý do kiến hiện hành. Lớn là tác ý ở văn. Vô lượng; là chốn hành tác ý ở giác tri. Ba nghĩa như vậy, duyên khắp một phương, cho đến mười phương vô biên khí thế gian và hữu tình thế gian, nên gọi là vô lượng. Về biệt danh là: 1. Từ; 2. Bi; 3. Hỷ; 4. Xả. Như luận Câu-xá quyển hai mươi chín nói: Từ là cho niềm vui. Bi là nhổ dứt nỗi khổ. Hỷ là vui vẻ, an lạc. Xả là bình đẳng. Theo tông Kinh Bộ, như luận Thành Thật, phẩm Tứ vô lượng. Từ là tâm thiện trái ngược với sân. Bi là tâm thiện trái ngược với não, hỷ là tâm thiện trái ngược với ganh tị. Cả ba tâm đó đều là sự sai biệt của tâm từ, có thể khiến cho cả ba tâm ấy bình đẳng gọi là xả. Nay theo đại thừa, như luận Hiển Dương đã nói: Từ vô lượng: Đối với chúng sanh không khổ, không lạc, muốn thí các thứ an lạc. Bi: Với chúng sanh có khổ, muốn nhổ dứt các thứ khổ. Hỷ: Với chúng sanh có lạc, thì tùy hỷ với lạc kia. Xả: Xả bỏ các tâm, không nhiễm ý lạc.

Nêu ra thể: Theo tông Tát-bà-đa, từ bi vô lượng tự có hai thuyết: Một thuyết nói đều lấy thiện căn vô sân làm thể tính, nhưng sai biệt nhau là; từ thì để trị với sân đoạn dứt mạng sống, bi là đối trị với sân đánh đập. Một thuyết nói: Từ lấy thiện căn vô sân làm thể tính.bi lấy thiện căn bất hại là tính, vì để đối trị với hại. Hỷ thì vô lượng tính. Xả thì thiện căn vô tham làm tính. Theo tông Kinh Bộ, như luận Thành Thật nói: Cả bốn đều là tuệ. Bốn vô lượng đó đều là tuệ tính. Nay ở đây theo đại thừa Tập Luận Tạp Tập: Bốn loại đều lấy hoặc định hoặc tuệ và các tâm, tâm pháp tương ưng với cả hai làm tự tính. Luận Hiển Dương quyển bốn: Từ lấy thiện căn vô sân làm thể. Bi lấy thiện căn bất hại làm thể. Hỷ lấy thiện căn không đố kỵ làm thể. Xả lấy thiện căn không tham, không sân làm thể. Vì đều là pháp thương xót chúng sanh. Trong bốn tâm đó, từ duy chỉ là không sân. Hai vô lượng tiếp theo là một phần vô sân. Xả là vô tham vô sân một phần. Lại còn tương ưng với đẳng trì nơi các tâm tâm pháp. Đều cùng là quyến thuộc của chúng, đều là thể của bốn vô lượng.

Nói “bốn biện” là tán thán đức thứ tám. Còn gọi là bốn vô ngại giải: Là pháp, nghĩa, từ, biện. Với pháp đã nêu giảng, với nghĩa đã nêu giảng, với từ ngữ của các vùng, với lý của chánh đạo, trong mỗi một pháp, đều thông đạt không ngừng trệ. Như thứ tự, gọi là pháp, nghĩa, từ, biện, bốn loại vô ngại. Nói chi tiết như trong luận Bà-sa, luận Câu-xá. Nếu theo đại thừa, luận Du già quyển bốn mươi lăm; ở trong chư pháp, tất cả dị môn, tất cả dị tướng, tất cả phẩm biệt, trong mỗi một pháp, tận tất cả tính. Như tất cả tính, nương theo tu mà thành, không bị trở ngại, không thối chuyển trí. Luận Nhiếp Đại thừa, Vô tánh giải thích: Do pháp vô ngại, tự tại liễu tri tất cả pháp cú. Do nghĩa vô ngại, tự tại thông đạt tất cả nghĩa lý. Do từ vô ngại, tự tại phân biệt tất cả ngôn từ.

Do biện vô ngại, khắp ở mười phương, tùy theo chỗ ứng hợp, tự tại biện thuyết. Nói chi tiết như trong luận Tạp Tập quyển mười bốn. Nêu ra thể tính; theo tông Tát-bà-đa thì bốn biện đều dùng tuệ làm tự tính. Nay theo đại thừa, dụng chung định tuệ và các pháp tâm, tâm sở tương ưng với cả hai làm tự tính, như luận Tạp Tập đã nói.

“Bốn nhiếp” là giải thích đức thứ chín, chia làm hai phần: 1. Giải thích danh; 2. Biện minh nghiệp. Phần giải thích danh có hai: Trước tổng, sau biệt. Nói bốn nhiếp là tên chung, lấy bốn loại pháp để thâu giữ lấy chúng sanh. Nên gọi là bốn nhiếp. Tên gọi riêng thì có bốn: 1. Bố thí; 2. Ái ngữ; 3. Lợi hành; 4. Đồng lợi. Theo luận Thành Thật. Phẩm tứ pháp, nói: Bố thí là dùng các đồ vật ăn, mặc,… để thâu nhiếp chúng sanh. Ái ngữ: Là theo ý mà nói, vì để lấy lòng họ. Lợi hành: Cầu lợi vì họ, giúp họ thành sự. Đồng lợi: Như cùng một thuyền, vui buồn giống nhau. Kinh Đại Phẩm nói: Hai loại tài, pháp, thâu lấy chúng sinh, gọi là bố thí. Dùng sáu Ba-la-mật, vì chúng sanh mà thuyết giảng gọi là ái ngữ. Giáo hóa chúng sanh, khiến hành sáu độ, gọi là lợi hành. Dùng lực thần thông, nhiều loại biến hóa, nhập vào trong năm đạo, đồng sự với chúng sanh, gọi là đồng sự. Nói đủ như kinh kia.

Nếu phân biệt chi tiết, như đại Bát-nhã và luận đại Trí Độ quyển bảy mươi mốt. Phần hai: Giải thích về nghiệp. Như luận Trang Nghiêm quyển thứ tám nói: Hỏi: bốn nhiếp nghiệp là gì? Kệ:

Khiến khí và khiến tin,

Khiến hành và khiến hiểu,

Như vậy làm bốn việc,

Thứ tự bốn nghiệp nhiếp.

Giải thích: Bố thí là có thể khiến với pháp mà thành khí. Do tùy thuận với tiền tài thì chịu thọ nhận pháp. Ái ngữ là: Có thể khiến khởi tín với pháp. Do dạy ý nghĩa của pháp mà mối nghi của họ được đoạn dứt. Lợi hành là có thể khiến cho khởi hành với pháp, do như pháp theo hành. Đồng lợi là có thể khiến họ đắc giải thoát, do hạnh tịnh lâu ngày mà được lợi ích. Chi tiết như trong luận kia (hoặc có bản nói thuyết bốn hoằng nguyện, các chúng sanh biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Vì nhiều bản không có nói như vậy, cho nên không nương theo).

Nói “Kim cang diệt định” là giải thích đức thứ mười, là một niệm sau cùng của địa thứ mười. Có thể diệt hai chướng, nên bảo là diệt định. Nói là Kim cang diệt dịnh, có hai nghĩa:

1. Định là chủ thể đoạn trừ: Không có vật gì mà không phá tan được, giống như Kim cang.

2. Đối tượng diệt là phiền não kiên cố khó đoạn dứt. Giống như Kim cang, định này có thể diệt, nên bảo là Kim cang diệt định. Do đó bản kinh đời Đường đặt tên là Năng đoạn Kim cang. Lại nữa, kinh Thập Luận, tụng thứ hai viết:

Phá tương tục là gì,

Như Kim cang phiền não.

Trường hàng viết: Phá diệt tất cả phiền não tương tục của các loại chúng sanh, cứng như Kim cang. Có người nói: Diệt định tức là định diệt tận. Tám địa trở lên và chư Như Lai đều đắc diệt định. Bảy địa trở xuống, hoặc đắc, hoặc chưa đắc, chế phục hoặc phi tưởng, vì chưa quyết định.

Kinh: Tất cả công đức đều thành tựu.

Giải thích: Phần thứ tư. Tổng kết công đức. Đã rõ.

Kinh: Còn có ngàn vạn ức hiền giả năm giới.

Giải thích: Từ đây là phần bốn. Nói về chúng Ưu-bà-tắc. Văn có bốn phần: 1. Nêu số biện loại; 2. Biện về hạnh vị; 3. Tán thán riêng về đức; 4. Tổng kết về đức. Đây là phần một.

Nói hiền giả năm giới là cử pháp nêu người. Do trì năm giới nên bảo là hiền giả năm giới. Luận Bà-sa nói: Ô-ba-sách-ca có năm học xứ; lìa sát sanh, lìa không cho mà lấy, lìa dục tà hạnh, lìa lời hư dối va lìa uống các rượu. Kinh cũ phần nhiều ghi là Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nếu theo kinh Chư pháp tối thượng vương thì gọi là gọi Ưu-bà-tắc-ca, Ưu-bà-tư-ca. Tam Tạng Từ Ân dịch các kinh, đều gọi là Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca. Tiếng Hoa gọi là Cận sự nam, Cận sự nữ. Luận Chánh lý quyển ba mươi bảy nói: Theo nghĩa gì mà nói là Ô-bà-tắc-ca? họ trước tiên phải quy Phật pháp tăng bảo. Thân cận phụng sự các bậc sư được tôn trọng, bền được Thi la. Nên gọi là cận sự, hoặc có thể tập gần với những việc làm như lý, hoại các nghiệp ác, nên gọi là cận sự. Hoặc được thân cận phụng sự Phật làm thầy, nên gọi là cận sự, phần đồng chư Phật, vì đắc Thi la tịnh ý lạc thiện. Lại nữa, luận đại Bà-sa quyển một trăm hai mươi ba nói:

Hỏi: Vì sao gọi là Ô-ba-sách-ca?

Đáp: Vì thân cận tu sự chư pháp thiện, có người nói: Thân cận thừa sự các thiện sĩ. Có người nói: Thân cận tu sự hạnh tinh tiến. Có người nói: Cận thừa sự chư pháp Phật. Năm giới này, ba giới đầu là hộ thân nghiệp, một giới tiếp theo là hộ ngữ nghiệp. Một giới sau cùng là hộ chung cả hai nghiệp thân và ngữ. Lý thật thì không bao gồm thân nghiệp, như Câu-xá đã nói, nay biện về cái dụng của hộ, vì vậy mà hộ chung cả hai nghiệp. Đối với lý hì không sai trái. Nghiệp thân và ngữ đó, mỗi một thứ đều dùng biểu và vô biểu làm tự tính. Theo tông Tátbà-đa, biểu thì được thu trong hai xứ sắc và thanh. Vô biểu đều gồm thâu do pháp xứ. Không thấy thì không có đối sắc vì thuộc cảnh giới của ý thức. Kinh bộ thì biểu nghiệp lấy tư làm thể, vô biểu tức là phi sắc phi tâm bất tương ưng hành, như luận Thành Thật. Nay theo đại thừa: Biểu tức thâu tóm hai xứ sắc và thanh, còn vô biểu là giả lập ở trên nghiệp năng phát, chủng tử tư. Vô biểu được gồm thâu do sắc xứ và pháp xứ. Tông Tát-bà-đa thì phải đủ năm giới. Còn kinh bộ, đại thừa thì một phần, hai phần, cho đến đủ cả năm. Tông Tát-bà-đa duy chỉ bao gồm cõi người. Đại thừa, kinh bộ thì thông cả với quỷ,…

——

Kinh: Đều hành A-la-hán mười địa.

Giải thích: Phần 2 – Biện về hạnh vị.

Hành A-la-hán: đã nói chi tiết như trên.

Mười địa: Các thuyết bất đồng. Một thuyết nói: Thập giải ở đây, gọi là thập trụ, tức nói thập trụ là thập địa. Một thuyết nói: Câu văn này là theo cộng thập địa mà thuyết. Như luận Trí Độ. Địa có hai loại: 1. Bất cộng: Như các địa Cực hỷ… 2. Cộng thập địa: Là địa Càn tuệ,… nói chung cho địa của ba thừa thành là mười địa, nên gọi là cộng. Kinh Đại Phẩm nói: Nếu Bồ-tát đủ cả mười địa: Càn tuệ,… thì mau chứng Bồ-đề. Mười địa là: Càn tuệ địa, Tính địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa, Dĩ tác địa, Bích chi Phật địa, Bồ-tát địa, Phật địa. Luận Trí Độ quyển bảy mươi tám nói: Càn tuệ địa có hai loại: 1. Thanh văn; 2. Bồtát. Người Thanh văn chỉ vì Niết-bàn, siêng năng tinh tiến trì giới, tâm thanh tịnh, gắn sức học đạo, hoặc tập quán Phật Tam muội, quán bất tịnh, hoặc hành các quán từ bi, vô thường, phân biệt tập các pháp thiện. Tuy có trí tuệ nhưng không đạt được nước thiền định thì không thể đắc đạo, nên gọi Càn-tuệ-địa (căn là khô). Bồ-tát thì sơ phát tâm, cho đến chưa đắc thuận nhẫn.

Tính địa: Người Thanh văn thì từ Noãn pháp cho đến Thế gian đệ nhất pháp. Bồ-tát thì từ đắc thuận nhẫn, ái chấp thật tướng của các pháp, cũng không sinh tà kiến, đạt được nước thiền định.

Bát nhân địa: Từ khổ pháp nhẫn, cho đến đạo tỷ nhẫn. Với Bồ-tát thì pháp vô sinh nhẫn, nhập vào ngôi vị Bồ-tát.

Kiến địa: Đắc Thánh quả đầu tiên, còn gọi là quả Tu-đà-hoàn. Với Bồ-tát thì là địa A-tỳ-bạt-trí.

Bạc địa: Hoặc là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm. Vì đoạn dứt một phần nơi chín loại phiền não thuộc Dục giới. Với Bồ-tát thì vượt qua địa Atỳ-bạt-trí, cho đến chưa đoạn dứt các phiền não để thành Phật, các tập khí còn lại cũng mỏng.

Ly dục địa: Lìa các phiền não tham dục thuộc Dục giới. Đó gọi là A-na-hàm. Với Bồ-tát thì lìa các nhân duyên dục. Cho nên đắc năm thần thông.

Dĩ tác địa: Người Thanh văn thì đắc Tận trí, Vô sinh trí, A-la-hán vô trước. Với Bồ-tát thì thành tựu Phật địa.

Bích chi Phật địa: Kiếp trước trồng nhân của Bích chi Phật đạo, kiếp này đắc một ít nhân duyên, mới xuất gia, cũng quán pháp nhân duyên sâu xa mà thành đạo, gọi là Bích chi Phật.

Bồ-tát địa Từ Càn tuệ địa cho đến Ly dục địa. Như đã nói trên. Lại nữa, Bồ-tát địa: Từ Hoan hỷ địa cho đến Pháp vân địa, đều gọi là Bồ-tát địa. Có người nói: Từ mới phát tâm, cho đến Tam muội Kim cang, gọi là Bồ-tát địa.

Phật địa: Nhất-thiết-chủng-trí, chư Bồ-tát Phật pháp, đầy đủ hạnh ở tự địa, đầy đủ trung quán ở địa khác, cả hai sự đều đầy đủ, cho nên gọi là Cụ túc.

Theo văn của kinh này thì có ba điều nghi vấn:

  1. Ở Dĩ Biện địa, cũng đắc thành Phật, sao kinh này nói thập địa, mau chứng Bồ-đề?
  2. Bồ-tát không thực hành hạnh Bích chi Phật, sao kinh lại nói đầy đủ Bích chi Phật địa.
  3. Đã đắc Phật địa, không còn đắc thêm, sao kinh lại nói đầy đủ Phật địa, cho đến đắc Bồ-đề?

Giải đáp: Thật ra Dĩ Biện địa, sắp đắc thành Phật, ý kinh muốn nói rõ về thập địa, nên thuyết chung, mà không giải thích riêng. Về nghi vấn thứ hai, Bồ-tát Long Thọ, tự làm hai giải thích: Một là: Bồ-tát hành đầy đủ ở trong tự địa, quán đầy đủ ở trong địa khác, cả hai sự đều đầy đủ, nên gọi là đầy đủ. Nghĩa là với địa nhị thừa, quán biết pháp của địa nhị thừa nhưng không thực hành địa nhị thừa. Đầy đủ hạnh ở Bồ-tát địa, thực hành Bồ-tát địa, nên bảo là thập địa. Một giải thích nữa là: Bồ-tát có thể phân biệt biết chúng sanh, có thể dùng những nhân duyên của Bích chi Phật để độ. Do đó, Bồ-tát dùng trí tuệ, thực hành những sự việc của Phật Bích Chi. Như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Văn Thù Sư Lợi, bảy mươi hai ức lần trở lại làm Bích chi Phật, Bồ-tát cũng như vậy. Về nghi vấn thứ ba; đầy đủ chín địa, tu tập pháp Phật, mười lực, bốn vô sở úy, tuy chưa đầy đủ, nhưng vì tu tập Phật địa, nên gọi là đầy đủ, do vậy mà bảo là thập địa đắc đạo vô thượng.

Nay giải thích về môn cộng và bất cộng trong thập địa: Về cộng thập địa, hoặc có thể nói chung cả cộng và bất cộng hai loại thập địa, không trái với lý vì đều là địa mà A-la-hán thực hành.

Kinh chứng khế nói, có bốn loại thập địa:

1. Thanh văn thập địa: Là trụ nơi địa tam quy hành, địa tùy tín hạnh, địa tùy pháp hành, địa thiện phàm phu, địa học giới, địa đệ bát nhân, địa Tu-đà-hoàn, địa Tư-đà-hàm, địa A-na-hàm, địa A-la-hán.

2. Độc giác thập địa: Là chúng thiện tư lương địa, tự giác thâm duyên khởi địa, tứ thánh đế địa, thắng thân lợi trí địa, bát Thánh chi đạo địa, trí pháp giới hư không giới chúng sanh giới địa, chứng diệt địa, lục thông tính địa, nhập vi diệu dịa, tập khí chuyển địa.

3. Bồ-tát thập địa: Là hoan hỷ địa, vô cấu địa, minh địa, diệm địa, cực nan thắng địa, hiện tiền địa, viễn hành địa, bất động địa, thiện tuệ địa, pháp vân địa.

4. Như Lai thập địa: Sẽ nói chi tiết ở đoạn sau.

Nay ý của kinh này là chung cả ba loại thập địa trên. Nguyên do là sao? Hai chữ “hiền giả” ở đây, theo bản tính mà nói, tức là Thanh văn, hồi tâm hướng đại thừa, đó là Bồ-tát. Tu tập cho đến mục đích cuối cùng, tất sẽ viên mãn, hoặc như nói trên, độ Duyên giác, cả bốn đều không sai.

Kinh: Hồi hướng năm phần pháp thân đầy đủ.

Giải thích: Phần ba: Tán thán riêng công đức. Xả hạnh tiểu thừa, hồi hướng đại thừa năm phần pháp thân. Còn gọi là năm thứ: 1. Giới; 2. Định; 3. Tuệ; 4. Giải thoát; 5. Giải thoát tri kiến. Cho nên luận đại Bàsa quyển ba mươi ba nói: Vô học thân, ngữ, luật nghi và chánh mệnh, gọi là giới uẩn. Vô học không, Vô tướng, vô nguyện, ba Tam-ma-địa, gọi là định uẩn. Vô học chánh kiến trí, gọi là tuệ uẩn. Vô học Tận, Vô sinh, chánh kiến tương ưng với Thánh giải, gọi là giải thoát uẩn. Giải thoát thuộc hữu vi, vì tự tại với cảnh mà đặt tên, chẳng phải là trạch diệt vô vi giải thoát. Vô học Tận trí, Vô sinh trí, gọi là giải thoát tri kiến uẩn.

Hỏi: Vì sao cả hai trí đó gọi là giải thoát tri kiến uẩn?

Đáp: Vì trong thân giải thoát, độc chỉ có cái đó. Nó có thể thẩm định quyết đoán về sự giải thoát.

Hỏi: Vô học tuệ uẩn và giải thoáttri kiến uẩn, khác nhau như thế nào?

Đáp: Vô học khổ tập trí, là tuệ uẩn. Vô học diệt đạo trí là giải thoát tri kiến uẩn. Lại nữa, Vô học khổ tập đạo trí, gọi là tuệ uẩn. Vô học diệt trí, là giải thoát tri kiến uẩn.

Trên là giải thích theo luận kia. Nay theo đại thừa, luận Phật địa quyển bốn có ba giải thích về tự tại. Luận đó nói: Tịnh giới vô lậu, gọi là giới uẩn. Định tuệ vô lậu, gọi là định tuệ uẩn. Thắng giải Vô học, gọi là giải thoát uẩn. Chánh kiến Vô học, gọi là giải thoát tri kiến uẩn. Ba pháp trước là nhân, hai pháp sau là quả. Ba pháp trước là pháp thuộc ngôi vị Hữu học, hai pháp sau là pháp thuộc ngôi vị Vô học. Có thuyết nói: Tất cả đều là pháp thuộc ngôi vị Vô học. Duyên với giải thoát tuệ, gọi là giải thoát tri kiến, các tuệ còn lại thì gọi là tuệ. (Năm loại đều là pháp Vô học vị, duyên với diệt đế trí, gọi là giải thoát tri kiến, các trí duyên với ba đế khác thì gọi là tuệ uẩn.) Có thuyết nói: Tất cả đều chung cả học và Vô học, Hữu học vị thì đắc một phần, còn Vô học thì viên mãn. Chư Phật Bồ-tát đều có đủ năm loại. Tông Tát-bà-đa thì cho: Hai pháp: sắc và tâm sở làm thể. Nếu nói riêng thì định, tuệ, giải thoát, sắc vô biểu, bốn pháp đó làm thể. Trong học và Vô học chỉ ở tại Vô học. Nay theo đại thừa, giống với tông Tát-bà-đa nhưng có điều khác là: Trong vị Hữu học cũng có đủ cả năm loại.

Kinh: Vô lượng công đức đều thành tựu.

Thích: Phần bốn: Tổng kết công đức. Đã rõ.

Kinh: Còn có mười ngàn tịnh tín nữ năm giới.

Thích: Phần năm: Nói về chúng Ưu-bà-di. Văn có bốn phần: 1. Nêu số biện loại; 2. Lược biện hạnh vị; 3. Tán thán riêng công đức; 4. Tổng kết công đức. Đây là phần một.

Tịnh tín nữ là Ưu-bà-di, đúng âm Phạm là Ô-ba-tư-ca, tiếng Hoa gọi là Cận sự nữ. Giải thích chi tiết như trên.

Kinh: Đều hành A-la-hán mười địa. Thích: Phần hai: Lược biện hạnh vị.

Kinh: Đều thành tựu cho đến: Cuối cùng sinh công đức.

Thích: Đây là phần ba: Tán thán riêng công đức.

Theo Bổn ký nói: Trong ngôi vị mười trụ, mỗi một trụ đều có: Đầu tiên là phần nhập, tiếp đến là phần trụ, sau cùng là phần xuất, cho nên nói là “đầu là trụ, cuối cùng là sinh công đức”.

Kinh: Ba mươi sinh công đức đều thành tựu.

Thích: Phần bốn Tổng kết. Mười địa, mỗi địa đều có đầu tiên là trụ, cuối cùng thì sinh ra ba loại công đức, cho nên bảo là ba mươi sinh công đức. Có thuyết nói: Trong hai chúng trên mười địa tức là vị mười giải.

Kinh: Còn có mười ức cư sĩ bảy hiền.

Thích: Phần sáu Chúng cư sĩ bảy hiền. Có bốn phần: 1. Nêu số biện loại; 2. Tổng nêu đủ đức; 3.Tán thán riêng công đức; 4. Tổng kết công đức. Đây là phần một.

Bổn ký nói: Có bảy hiền tài, không được pháp nhãn, thường thích tại gia, cho nên bảo là cư sĩ bảy hiền. (Kinh bổn nghiệp nói: Tín, thí, giới, văn, tuệ, tàm (hổ), quý (thẹn) gọi là bảy hiền tài.)

Nay giải thích: Bảy hiền ở tại bảy phương tiện, hiền nhưng chẳng phải Thánh, vì không có Thánh đạo. Cho nên gọi là cư sĩ bảy hiền. Bảy phương tiện là: 1. Ngũ đình tâm quán; 2. Biệt tướng niệm xứ; 3. Tổng tướng niệm xứ. 4. Noãn; 5. Đảnh; 6. Nhẫn; 7. Thế đệ nhất pháp. Ý nghĩa của chúng sẽ nói ở chương khác.

Kinh: Đức hạnh đầy đủ.

Thích: Phần hai: Tổng nêu đầy đủ. Phần sau sẽ nói.

Kinh: Hai mươi hai phẩm… đắc chín mươi nhẫn.

Thích: Phần ba: Tán thán riêng công đức. Gồm có chín môn: 1. Môn đạo phẩm; 2. Mười biến xứ; 3. Tám thắng xứ; 4. Tám giải thoát; 5. Ba tuệ; . Mười sáu đe; 7. Quán bốn đế; . Bốn quán hạnh; . Mười nhẫn.

“Hai mươi hai phẩm”: Bổn ký nói: Thánh đăng địa trở lên đến Phật quả, có mười một địa, mỗi địa đều có định và tuệ, hợp thành hai mươi hai phẩm, chỉ đắc bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực: Hai mươi hai phẩm. Nhưng chưa thể đắc bảy loại giác phần, tám chi Thánh đạo, nên bảo là hai mươi hai phẩm.

Hỏi: Đã chưa đắc Thánh, sao nói là có đắc tám giải thoát?

Đáp: Đắc bảy trong tám, nên nói chung là đắc tám giải thoát.

Theo thật thì chưa đắc giải thoát diệt tận.

Hỏi: Nếu vậy thì trong đức của Bồ-tát, phải đắc năm nhãn?

Đáp: Kia thì theo nghĩa thật, đây thì theo số nhiều, mỗi thứ đều mang một ý nghĩa riêng, nên không trái nhau.

Ý nghĩa của đạo phẩm, sẽ nói rõ ở chương khác.

“Mười nhất thiết nhập”: Là đức biến xứ thứ hai, là: Xanh, vàng, đỏ, trắng, địa, thủy, hỏa, phong, không vô biên xứ, thức vô biên xứ. Theo tông Tát-bà-đa, cũng như luận đại Bà-sa; thì tám biến xứ, lấy vô tham làm tính, vì để đối trị với tham. Kiêm luôn với tương ưng tùy chuyển. Hữu Dục giới thì bốn uẩn làm tính. Nếu Sắc giới thì năm uẩn làm tính. Hai biến xứ sau, đều lấy bốn uẩn làm tính. Theo tông kinh bộ thì định và tuệ làm thể, như luận Thành Thật. Nay theo đại thừa: Như luận Tạp Tập, định tuệ làm tính.

Giải: Tương ưng tùy chuyển, giống với luận đại Bà-sa, lý cũng không trái.

Hỏi: Vì sao gọi là biến xứ?

Luận Tỳ-bà-sa nói: Do hai duyên: 1. Do vô gián; nghĩa là thuần xanh,… Thắng giải tác ý, vì không gián đoạn xen tạp nhau; 2. Do quảng đại; Đại đức nói: Đối tượng duyên rộng lớn, không có khe hởnên gọi là biến xứ. Luận nói: Lượng của nó rộng lớn, hiện khắp vô biên, gọi là biến xứ.

“Tám trừ nhập”; là đức thứ ba tức tám thắng xứ. Tám là:

  1. Nội có sắc tưởng, quán ngoại sắc ít.
  2. Nội có sắc tưởng, quán ngoại sắc nhiều.
  3. Nội không sắc tưởng, quán ngoại sắc ít.
  4. Nội không sắc tưởng, quán ngoại sắc nhiều.
  5. 6,7,8: Nội vô sắc tưởng, quán ngoại các sắc: Xanh, vàng, đỏ, trắng. Lại thành bốn loại. (Cộng lại là tám).

Về nêu thể thì các tông giống với phần biến xứ nói trên.

Hỏi: Vì sao gọi là thắng xứ.

Đáp: Như luận Bà-sa; vì cảnh của đối tượng duyên là thù thắng, nên gọi là thắng xứ. Lại nữa, vì thắng các phiền não, nên gọi là thắng xứ. Tuy là hành quán, chẳng phải tất cả đều có cảnh nơi đối tượng duyên, là thù thắng nhưng không khởi phiền não với cảnh nơi đối tượng duyên, cũng gọi là thắng. Như khế kinh nói: Thắng ở xứ đó, nên gọi là thắng xứ. Luận Tạp Tập cũng nói vậy, vì thắng nơi đối tượng duyên, gọi là thắng xứ, đều là Sắc giới. Bốn thắng xứ trước, hai thắng xứ đều là tĩnh lự vị chí, trung gian. Bốn thắng xứ sau ở tại định thứ tư, cho đến những thứ đối tượng duyên, đều duyên nơi tất cả sắc xứ thuộc Dục giới.

Hỏi: Nếu vậy, kinh thuyết phải thông hiểu ra sao? Kinh nói: Tôn giả Vô Diệt, tại Thất la phiệt, ở một tinh xá, bấy giờ có bốn thiên nữ Ý vui mừng, đến chỗ Tôn giả, đứng ở trước tòa, bạch: Chúng tôi ở bốn sắc xứ, chuyển biến tự tại, tùy sắc mình thích, đều hóa tác được, cho đến: Tôn giả Vô Diệt, nhập sơ tĩnh lự, rồi đến đệ tứ, cũng không thể khởi tưởng bất tịnh.

Đáp: Tôn giả Vô Diệt, tuy không thể thắng. Nhưng Tôn giả Xá lợi tử… đều có thể thắng.

Hỏi: Duyên Phật thân, có khởi quán bất tịnh không?… Nói rõ như luận đại Bà-sa quyển tám mươi lăm.

Nói “tám giải thoát”: Là đức của giải thoát thứ tư.

1. Nội có sắc quán các sắc; 2. Nội không sắc quán ngoại sắc; 3. Tịnh giải thoát trú đầy đủ; 4. Nhập không vô biên xứ; 5. Nhập vô biên thức xứ; 6. Nhập vô sở hữu xứ; 7. Nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ; 8. Nhập tưởng thọ diệt giải thoát.

Nhưng tám loại đó, các thuyết bất đồng: Theo tông Tát-bà-đa, luận Bà-sa nói: Ba loại đầu vô tham, vì đối trị với tham, kiêm tùy chuyển theo với những thứ tương ưng. Nếu Dục giới thì bốn uẩn làm tính. Nếu Sắc giới tức đủ năm uẩn. Bốn giải thoát vô sắc xứ, bốn uẩn làm tính, giải thoát thứ tám là gồm thâu do hành uẩn bất tương ưng. Theo tông Kinh Bộ thì có hai thuyết; một thuyết là đều dùng trí tuệ làm thể. Một thuyết là; bảy loại giải thoát trước là tuệ, loại giải thoát thứ dùng hai loại Niết-bàn hữu dư và vô dư làm tự tính. Nay ở đây thì theo đại thừa; ba loại trước thì bốn uẩn, năm uẩn làm tự tính, bốn loại tiếp theo là bốn uẩn làm tự tính, loại giải thoát thứ tám là hành bất tương ưng phi sắc phi tâm làm tự tính.

Hỏi: Vì sao gọi là giải thoát?

Đáp: Như luận Bà-sa, từ bỏ là nghĩa của giải thoát. Hai giải thoát đầu là từ bỏ tâm sắc tham. Giải thoát thứ ba là từ bỏ tâm bất tịnh quán, bốn giải thoát vô sắc là bỏ tâm hạ địa, giải thoát tưởng thọ diệt, là từ bỏ tất cả tâm có sở duyên.

Hỏi: Giải thoát, thắng xứ, biến xứ, có sai biệt gì?

Đáp: Có thể có sự từ bỏ, gọi là giải thoát. Có thể có cảnh thắng phục, gọi là thắng xứ, có thể mở rộng đối tượng duyên, gọi là biến xứ. Chi tiết như nói trong luận Bà-sa quyển tám mươi bốn, tám mươi lăm.

Nói “ba tuệ” là phần năm: Đức của ba tuệ. Chia làm ba phần: 1. Giải thích danh; 2. Nêu ra thể; 3. Dựa theo giới. Trong phần giải thích danh trước chung, sau riêng. Nói “ba tuệ” là tên chung. Ba là nêu con số. Tuệ; tức là giản trạch. Tên riêng thì có ba: 1. Tuệ do Văn tuệ thành; 2. Tuệ do tư tạo thành; 3. Tuệ do tu tuệ thành. Thắng tuệ sinh ra do nương vào nghe giáo, gọi là văn tuệ thành. Nương vào suy tư chánh lý sinh ra thắng tuệ, gọi là tư tạo thành. Nương vào tu đẳng trì sinh ra thắng tuệ gọi là tu tuệ thành, như trong luận Câu-xá. Lại còn giải thích: Văn là nghe nhận, tức là nhĩ thức, từ văn nghe mà sinh ra tuệ hiểu đượcnghiã của câu văn, gọi là văn tuệ thành. Tư; nghĩa là tư duy, tức là xét tính, từ tư sinh ra tuệ hiểu pháp tướng, gọi là tư tuệ thành. Tu: nghĩa là tập, tức là thắng định, từ tu sinh ra tuệ, hiểu lý sự, gọi là tu tạo thành. Như Du già đã giải thích.

Nêu thể theo tông Tát-bà-đa thì tự tính chỉ là tuệ, nên luận đại Bà-sa quyển bốn mươi hai nói: Hai tuệ; Văn và Tư, chỉ là trí của thế tục, còn tu tuệ thành thì thông cả mười trí tính, như cùng quyến thuộc, thông cả tâm sở. Kinh bộ cũng nói tương tự. Như theo đại thừa, Du già thích luận: Tuệ và các tâm, tâm sở tương ưng làm tự tính, cũng giống tông Tát-bà-đa.

Về dựa theo giới: Tư tuệ duy chỉ Dục giới, Văn tuệ thông cả Dục và Sắc giới. Tu tuệ thì thông cả sắc và Vô Sắc giới. Như luận Bà-sa đã nói. Theo tông kinh bộ thì Dục giới và Sắc giới có đủ cả ba tuệ. Vô sắc chỉ có tu tuệ, như luận Thành Thật. Nay theo đại thừa, các luận Du già, giống với Tát-bà-đa. Theo luận Trí Độ thì Dục giới cũng có định điện quang, giống với kinh bộ, nghĩa cũng không trái.

Hỏi: Ba tuệ đó, Như Lai, Độc giác và Thanh văn, mỗi thứ có mấy loại?

Đáp: Phật đủ cả ba loại. Nhưng Tu Tuệ là hơn cả, vì tự nhiên giác, và đủ cả các lực, vô úy, nhờ tu công đức. Độc giác cũng có đủ cả ba tuệ, nhưng Tư Tuệ là hơn cả, vì tự tư duy mà giác, nhưng không có các lực vô úy, do tu công đức. Thanh văn cũng có đủ ba tuệ, nhưng Văn tuệ là hơn cả, nhờ từ nghe âm thanh của người khác mà nhập Thánh đạo.

Nói “mười sáu đế”: Là phần sáu – Đức của môn quán mười sáu đế. Như đã giải thích trên.

Nói “bốn đế”: Là phần bảy – Đức của môn quán tứ đế. Cũng như trên đã nói.

Nói “bốn, ba, hai, một phẩm quán”: Là phần tám – Đức của quán bốn hạnh môn. Nghĩa là trung nhẫn vị, quán sát trong lý, thượng hạ tám đế. Tự có hai môn: 1. Bảy vòng giảm duyên môn; 2. Ba vòng giảm hạnh môn. Bảy vòng giảm duyên môn là khi mới bắt đầu thì đủ cả duyên thượng hạ tám đế, tức thuộc hạ nhẫn. Tiếp đó là quán hạnh, đầu tiên là quán sát bốn đế; khổ, tập… thuộc Dục giới, cho đến quán ba đế; khổ, tập, diệt thuộc hai giới trên, nhưng không quán đạo, như vậy là vòng thứ nhất giảm một đối tượng duyên, cứ như vậy từ ba đế Dục giới, cho đến giới trên giảm đế, trừ đạo thuộc Dục giới đó là vòng thứ hai, giảm hai đối tượng duyên. Cứ như vậy cho đến trừ khổ đế giới trên, thành là giảm duyên lần thứ bảy. Bảy vòng như vậy, giảm các đế nơi đối tượng duyên. Với khổ đế, có bốn hạnh: Khổ, không, vô thường, vô ngã. Mới bắt đầu thì quán đủ, tiếp đó trong bốn hạnh, lần lượt trừ hạnh, duy chỉ lưu lại một hạnh, cứ như vậy gọi là ba vòng giảm hạnh. Ở trong một hạnh; nhẫn tăng thượng, thế đệ nhất pháp, khổ nhẫn, khổ trí, đều cùng một Sát-na, cùng nương một địa, cùng nương một hạnh, mỗi cùng một Sát-na. Nay theo nhẫn vị, ba vòng giảm hạnh. Nương một hạnh quán. Nên bảo là “bốn, ba, hai, một phẩm quán”. Vì vậy mà luận

Thuận Chánh lý quyển sáu mươi nói: Làm thế nào phân biệt hạ, trung, thượng của nhẫn. Hạ phẩm nhẫn đủ cả tám loại tâm. Nghĩa là, sư Du già dùng bốn hành tướng để quán Dục giới khổ, gọi là một loại tâm, cứ theo thứ tự như thế mà quán sắc, vô sắc khổ tập diệt đạo đế, cũng quán như vậy, thành tám loại tâm, gọi là hạ phẩm nhẫn. Trong phẩm thì giảm bớt hành tướng nơi đối tượng duyên. Nghĩa là sư Du già, dùng bốn hành tướng, quán khổ Dục giới, cho đến đầy đủ, dùng bốn hành tướng quán đạo Dục giới. Ở đạo Dục giới, giảm một hành tướng, từ đó gọi là trung phẩm nhẫn sơ. Cứ theo thứ tự như vậy, lần lần giảm bớt hành tướng nơi đối tượng duyên, cho đến cực ít, chỉ dùng hai tâm, quán khổ Dục giới, như khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí vị, đủ những thứ đó, gọi là trung phẩm nhẫn mãn. Thượng nhẫn thì chỉ quán khổ đế Dục giới, tu một hành tướng, chỉ một Sát-na, đó là thiện căn khởi không tương tục. Thượng nhẫn vô gián, sinh ra Thế đệ nhất pháp. Như thượng phẩm nhẫn, duyên với khổ đế Dục giới, tu một hành tướng, duy chỉ một Sát-na.

Nói “đắc chín mươi nhẫn”: Là đức thứ chín. Ở trên là giải thích về quán môn tiểu thừa, nay là hướng đại thừa, bèn thành chín mươi. Nghĩa là mới bắt đầu nhập mười tín, đều có chín phẩm, nên bảo là “chín mươi nhẫn”. Lại giải thích: Học ba mươi tâm thuộc mười giải trở lên, mỗi tâm đều có ba vị; thủy, trụ, chung. Trong ba vị đó, mỗi một vị đều có ba phẩm, nên bảo là chín mươi. Một thuyết nói: Bốn, ba, hai, một, gồm chung làm hai phần, phần đầu bốn, ba, hai, cộng lại là chín, gia thêm một số, tức thành mười số, nên bảo là chín mươi, (Tịnh công nói). Một thuyết nói: Bốn, ba, hai, một, cộng lại là mười, đều có chín phẩm, nên bảo là chín mươi. Một thuyết nói: Đế quán hai mươi; nghĩa là mười sáu đế và bốn đế, phẩm quán có mười; nghĩa là bốn, ba, hai, một, cộng lại thành ba mươi, đều có ba phẩm, cho nên bảo là chín mươi.

Kinh: Tất cả công đức đều thành tựu.

Thích: Phần bốn: Tổng kết công đức, đã rõ.

Kinh: Còn có vạn vạn ức mười tám Phạm đến Hỷ lạc thiên.

Thích: Phần bảy: Nêu thiên chúng Sắc giới. Văn có ba phần: 1. Nêu số biện đức; 2.Tán thán riêng đức; 3. Tổng kết đức. Đây là phần một.

Nhưng văn của kinh này có ba bản khác nhau. Một bản thì như trên. Một bản thì bỏ bốn chữ “mười tám Phạm thiên”. Một bản thì bỏ “mười tám Phạm thiên”, còn gia thêm một chữ “Phạm”. Nghĩa là “ba Phạm, năm Hỷ lạc thiên”. Tuy có ba bản, nhưng theo bản đầu. Đo đó, Bổn ký trước tiên là nêu tổng số, nên nói là “lại còn có vạn vạn ức mười tám phạm thiên. Ba tĩnh lự, mỗi tĩnh lự có ba thiên, tĩnh lự thứ tư có chín thiên, hợp thành mười tám. Luận Du già quyển bốn nói: Sắc giới có mười tám xứ; là Phạm chúng, Phạm phụ, Đại phạm, Tiểu quang, Vô lượng quang, Cực quang tịnh, Tiểu tịnh, Vô lượng tịnh, biến tịnh, vô vân, phúc sinh, quảng quả, Vô tưởng thiên, tức Quảng quả gồm thâu, không có xứ riêng. Lại có cung chư Thánh năm Tịnh cư, là Vô phồn, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu cánh. Lại có vượt qua đi cung năm Tịnh cư, là đại Tự tại trú xứ, Bồ-tát thập địa được sinh ở trong đó. Các chư thiên kia, như luận Thuận Chánh lý quyển hai mươi mốt chú thích nói; quảng thiện sinh ra, nên gọi là phạm. Phạm đó tức là đại, nên gọi là Đại phạm, do đắc được định trung gian. Sinh ra đầu tiên, chết đi cuối cùng, các oai đức thù thắng, nên gọi là đại…

Nói “chín phạm”: Là chín loại cõi Trời thuộc tĩnh lự thứ tư. Đây tức là kể theo thứ tự từ trên xuống dưới.

“Ba tịnh”: Là ba loại cõi trời tĩnh lự thứ ba.

“Ba quang”: Là ba loại cõi trời tĩnh lự thứ hai.

“Ba Phạm, năm hỷ lạc thiên” ba phạm là ba cõi trời sơ định, năm Hỷ lạc là năm chi đầy đủ, nên gọi là năm. Nói hỷ lạc là nói tóm lược. Tĩnh lự thứ hai, có hỷ không có lạc, tĩnh lự thứ ba có lạc không có hỷ. Trong cõi trời sơ định, có đủ cả năm chi, có cả hỷ và lạc, nên bảo là năm hỷ lạc thiên. Hỷ lạc này có hai nghĩa: 1. Tương ưng với nhãn, nhĩ, thân thức gọi đó là lạc. Tương ưng với ý thức, gọi đó là hỷ; 2. Ý thức tương ưng với hỷ thọ, có hai dụng: 1. Khiến cho thân vui, gọi đó là lạc; 2. Khiến cho tâm vui, gọi đó là hỷ. Như trong luận Hiển Dương đã nói.

Kinh: Thiên định, công đức định vị, thường lạc thần thông.

Giải thích: Phần hai: Tán thán riêng công đức.

“Thiên định”: Là công đức do báo đắc.

“Công đức định”: Là công đức do tu sinh ra.

“Vị”: Là tham định vị, theo nhau mà nói, chẳng phải là chính công đức, một thuyết nói; thuộc phần trên, nghĩa là “công đức định vị”, là thọ nhận công đức định vị.

“Thường lạc thần thông”: Là bốn loại tĩnh lự, đều có năm thông, hoặc có thể có sáu thông.

Kinh: Mười tám sinh xứ công đức đều thành tựu.

Giải thích: Phần ba. Tổng kết công đức, đã rõ.

Kinh: Lại có ức ức chư thiên tử Lục dục.

Giải thích: Phần tám – Nêu thiên chúng Lục dục. Văn có hai phần: 1. Nêu số biện minh loại; 2. Tán thán riêng công đức. Đây là phần một.

Lục-dục-thiên: như luận thuận Chánh lý quyển ba mươi mốt nói:

  1. Tứ đại vương chúng thiên. nghĩa là ở đó có bốn đại vương và chúng dưới quyền, hoặc thiên chúng đó phụng sự bốn đại vương. Bốn đại vương đó lãnh đạo.
  2. Tam-thập-tam-thiên: Cõi trời đó, là chỗ trú ở của ba mươi ba bộ chư Thiên.
  3. Da-ma-thiên: Cõi trời đó, luôn luôn đa phần đều xưng là vui thú thay! Luận Du già gọi đó là thời phần thiên, tức giống với đây.
  4. Đổ-sử-thiên: Cõi trời đó, phần nhiều với sự thọ nhận được của mình mà sinh tâm vui đủ.
  5. Lạc-hóa-thiên: Là cõi trời đó lạc, thường hóa cảnh dục, ở trong ấy thọ lạc.
  6. Tha-hóa-tự-tại-thiên: Cõi trời đó, tự tại thọ lạc cảnh dục được hóa ra người khác.

Luận Trí Độ nói: Tự hóa năm trần mà tự vui chơi thỏa thích, nên gọi là Hóa tự tại thiên. Đoạt những thứ hóa ra của kẻ khác mà vui chơi thỏa thích, gọi là Tha-hóa-tự-tại-thiên (bốn cõi trời trước, chỉ kể tên không giaỉ thích).

Kinh: Quả báo mười thiện… đều thành tựu.

Giải thích: Phần hai: Tán thán riêng công đức. Là thắng xứ, do mười thiện mà thành, chung thì có hai loại; báo đắc và tu đắc. Thần thông ở đây là báo đắc, vì chư thiên Dục giới không tu định, hoặc có thể chung cả hai, nghĩa cũng không sai.

Kinh: Lại có mười sáu đến mười vạn quyến thuộc.

Giải thích: Phần chín: Nói về mười sáu vương chúng. Trong đó có hai phần: 1. Nêu số biện minh loại; 2. Tán thán riêng công đức. Đây tức là nêu số biện loại.

Kinh: Năm giới, mười thiện… tín hạnh đầy đủ.

Giải thích: Phần hai: Tán thán riêng công đức. Đức có ba loại: 1. Đức của năm giới; 2. Đức mười thiện; 3. Đức ba đế. Phần sau “Tín hạnh đầy đủ” là tổng kết có đủ đức.

Kinh: Lại có tất cả chúng sanh nơi năm đường.

Giải thích: Phần mười. Biện minh về chúng năm đường, còn gọi là chúng tạp loại.

Hỏi: Địa ngục có đến không? Nếu đến thì theo Du già nói làm sao đúng? Luận kia nói: Địa ngục một mực thuần là khổ, bàng sinh, quỷ giới, một phần cũng vậy. Nếu không đến, sao kinh này nói có chúng nơi năm đường.

Đáp: Có hai giải thích: Một nói: Không đến, vì là nơi thuần là khổ như thuyết của luận Du già, nhưng kinh này nói chúng năm đường là nói theo đa phần. Một nói: Cũng đến. Vì kinh này thuyết có chúng năm đường, vì trong kinh Đà-la-ni, có chúng địa ngục. Du già nói: Khổ suốt một mực, là nói theo đa phần. Căn cứ theo thuyết tự lực, kinh Đại Phẩm nói: Phật quang chiếu chỉnh, khổ được dứt tắt.

Kinh: Lại có chúng tha phương không thể lường.

Giải thích: Phần mười một. Chúng tha phương.

Hỏi: Trong chúng phương khác, chỉ có những Bồ-tát đắc thần túc hay là kể luôn cảc các chúng khác chưa đắc thần thông?

Đáp: Đúng theo kinh Đại Phẩm và luận Trí Độ thì chung cả bảy bộ chúng, cùng đồng nam đồng nữ chưa đắc thần thông.

Hỏi: Nếu vậy, làm sao đến được?

Đáp: Đúng theo luận Trí Độ, những vị có thần túc, tự lực đến được, những vị lực thần túc mỏng kém, và những vị không có thần thông thì nhờ Phật lực của nước đó, cũng vừa nhờ lực của các đại Bồ-tát mà theo, cũng vừa nhờ lực hào quang của Phật Thích ca. Một lực còn đến được, huống chi là cả ba lực. Như khi Chuyển luân Thánh vương bay lên trời, bốn binh cung quán, cho để súc vật, thú vật, tất cả đều bay, vì nhờ công lực lớn của Chuyển luân Thánh vương có thể làm cho tất cả bay theo. Đây cũng vậy, tuy không có tự lực, nhờ tha lực mà đến được, nên không có sai, nói chi tiết như trong luận Trí Độ quyển mười ba.

Kinh: Lại có hiện bày khắp mười phương… Tu di Bảo Hoa.

Giải thích: Đây là phần mười hai: Chúng biến hóa. Văn có hai phần: . Đơn hóa; 2.Từ “Trên hoa đều có…” là trùng hóa. Phần đơn hóa có hai phần: 1. Chỗ nương tựa; 2. Chúng là chủ thể nương tựa. Đây là phần chỗ nương tựa. Có ba loại: 1. Quốc độ; 2. Hóa hư; 3. Hóa hoa.

Tiếng Phạm gọi là Tu di Bảo Hoa, tiếng Hoa gọi là Diệu Cao hoa.

Kinh: Mỗi mỗi trước tòa trên hoa… ngồi Bảo Liên Hoa.

Giải thích: Phần hai: Nêu chúng là chủ thể nương tựa. Có bốn loại: 1. Vô lượng Phật; 2. Vô lượng Bồ-tát; 3. Vô lượng Tỳ khưu; 4. Vô lượng tám bộ chúng. Tám bộ chúng, lược có ba loại: 1. Các trời, rồng tám bộ, như các kinh thuyết; 2. Tương truyền nói: Bốn thiên vương, mỗi vị lãnh đạo hai bộ. Lại nữa, tám bộ là như kinh Trường A-hàm quyển ba nói: Thế có tám bộ chúng: 1. Chúng Sát-lợi; 2. Chúng Bà-la-môn; 3. Chúng cư sĩ; 4. Chúng Sa môn; 5. Chúng Tứ thiên vương; . Chúng Đao lợi thiên; 7. Chúng ma; . Chúng Phạm. Luận Du già giải thích; tám chúng hội đến, gọi là tám chúng. Giống với A-hàm và luận Trí Độ.

Hỏi: Người và trời, mỗi loại có bốn chúng, có nguyên nhân gì?

Đáp: Như luận Du già quyển mười lăm nói: Có bảy nhân duyên kiến lập tám chúng; do bốn nhân duyên màở trong cõi người, kiến lập bốn chúng. Ba nhân duyên mà ở trong cõi người, kiến lập bốn chúng. Vì tối tăng thượng, vì thế gian cùng chấp nhận là phước điền, vì thọ dùng tư tàitiền của không do từ người khác, vì từ bỏ tất cả tiền tài của cải ở thế gian. Do bốn duyên đó, ở trong cõi người, kiến lập bốn chúng. Do biên vực y tha, biên vực Dục giới, biên vực các hạnh, do ba duyên đó, ở trong cõi trời, kiến lập bốn chúng. Nếu theo luận Trí Độ quyển mười, giải thích về nguyên nhân, e nhiều nên không nói ra đây.

Kinh: Trên hoa đều có… Như nay không khác.

Giải thích: Từ đây là phần hai – Trùng hóa. Văn có hai tiết: 1 Nói về chúng tập; 2. Nói về chúng thuyết kinh. Đây là phần một.

Kinh: Mỗi một quốc độ đến Ba-la-mật.

Giải thích: Nói về chúng thuyết kinh.

Kinh: Đại chúng phương khác… đều đến tập hội.

Giải thích: Phần văn nêu giáo pháp gồm đủ cơ duyên. Văn có hai phần: 1. Tán thán đức; 2. Từ “phương khác…” tổng kết tập hội. Ở trên kể về chúng đã xong, đây là phần tổng kết tập hội. Văn có ba phần: 1. Mười hai đại chúng tập hội; 2. Tọa xứ sai biệt; 3. Tọa nghi. Đây là phần một.

Kinh: Ngồi hoa sen chín kiếp,… an nhiên mà ngồi.

Giải thích: Phần nói tọa xứ sai biệt. Phần tọa nghi. Như kinh đã rõ.

Kinh: Bấy giờ mười phương… Phật Thích ca Mâu ni.

Giải thích: Từ đây là phần hai nêu rõ Tự khởi phát. Văn có năm phần: 1. Như Lai hiện điềm lành; 2. Đại chúng sinh nghi; 3. Giác ngộ Như Lai; 4. Phật thăng tòa hoa; 5. Đại chúng hoan hỷ. Trong phần hiện điềm, văn có năm phần: 1. Tán thán đức Như Lai; 2. Thời gian hiện điềm lành; 3. Chánh trụ mười địa; 4. Nhập đại tịch thất; 5. Suy tư duyên hiện điềm lành. Đây tức phần 1.

Nói “bấy giờ”: Là lúc Như Lai Thích ca tọa mười địa.

Nói “mười hiệu,…”: Là người đã thành đức. Đức có bốn loại: 1. Đức mười hiệu; 2. Đức ba minh; 3. Đoạn đức; 4. Trí đức. Nhưng đó là hiệu chung, các giáo bất đồng. Nếu theo kinh Bổn Nghiệp Anh Lạc quyển hai thì Thế Tôn không nhập vào số của mười hiệu, kinh kia nói: Chư Phật đạo đồng, quả và pháp không khác.

Gọi là mười hiệu: 1. Như Lai; 2. Ứng cúng; 3. Chánh biến tri; 4.

Minh hạnh túc; 5. Thiện thệ; . Thế gian giải; 7. Vô thượng sĩ; . Điều ngự trượng phu; . Thiên nhân sư; 10. Phật đà. Nếu theo kinh Niết-bàn, phẩm Phạm Hạnh, thì ngoài hiệu thứ mười, có riêng một hiệu là Bàgià-bà. Tức giống vói thuyết của Anh Lạc. Nếu theo luận Du già quyển ba mươi tám, luận Thành Thật, phẩm Thập hiệu thì Thế Tôn tức là danh hiệu thứ mười. Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu hợp thành một hiệu là hiệu thứ bảy. Thiên nhân sư là hiệu thứ tám, Phật là hiệu thứ chín. Thế Tôn là hiệu thứ mười. Còn sáu hiệu trước là giống trên. Cho nên nay theo tạm dựa thuyết của Du già. Luận đó nói: Lại chư Như Lai, lược có mười công đức danh hiệu, tùy niệm công đức. Những gì là mười? Là Bạc-già-phạm. Hiệu là Như Lai, Ứng chánh đẳng giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải. Vô thượng trượng phu, Điều ngự sư, Thiên nhân sư, Phật, Bạc-già-phạm.

Lời không hư vọng, cho nên gọi là Như Lai. Đã đắc tất cả những nghĩa đáng phải đắc; đáng nương theo, là thế gian vô thượng phước điền, đáng được tất cả cung kính cúng dường, vì vậy mà gọi là Ứng. Với thắng nghĩa đó mà giác các pháp gọi là Chánh đẳng giác.

Minh là ba minh. Hành như kinh thuyết, hai phẩm chỉ và quán cực thiện viên mãn, vì vậy gọi là Minh hành viên mãn.

Thăng lên tối cực, mãi không lùi lại, nên gọi là Thiện thệ.

Khéo biết thế giới và hữu tình giới, tất cả phẩm loại, tướng của nhiễm tịnh, gọi là Thế gian giải.

Trượng phu duy nhất, khéo biết phương tiện điều tâm tối thắng, do đó, gọi là Vô-thượng-trượng-phu, Điều-ngư-sư.

Vì là thật nhãn, vì là thật trí, vì là thật nghĩa, vì là thật pháp, cho nghĩa hiển rõ, vì khai đạo mà cho Nhất-thiết-nghĩa. Vì chỗ dựa mà cho bất liễu nghĩa. Vì chủ thể liễu biệt mà cho chỗ sinh nghi. Vì chủ thể đoạn trừ mà cho xứ thâm diệu. Vì chủ thể hiển, khiến cho minh tịnh mà cho Nhất-thiết-pháp. Vì căn bản, vì khai đạo, vì chỗ dựa mà có thể chánh dạy bảo, truyền thụ cho trời, người, khiến họ xuất lìa tất cả chúng khổ, vì vậy nói Phật là Thiên nhân sư.

Với khả năng dẫn thâu pháp tụ nghĩa lợi, với khả năng dẫn thâu phi pháp tụ nghĩa lợi, pháp tụ phi phi nghĩa lợi, với khả năng dẫn pháp tụ; phi nghĩa lợi, phi bất nghĩa lợi, hiện bày khắp Nhất-thiết-chủng, hiện tiền đẳng giác, nên gọi là Phật.

Có thể phá trừ các ma quân chúng đại lực, có đủ nhiều công đức, gọi là Bạc-già-phạm.

Nếu phân biệt chi tiết, như trong luận Du già quyển tám mươi ba,

kinh Niết-bàn quyển mười tám phẩm Phạm Hạnh, luận Thành Thật phẩm thập hiệu. Luận đại Trí Độ quyển thứ hai.

Nói “ba minh”: Là túc mệnh, sinh tử, lậu tận, nghĩa như đã nói trên.

Nói “đại diệt trí Kim cang”: Là hai môn đức trí đức và đoạn đức. Đoạn: là Niết-bàn, chơn như làm tính. Trí: tức là Bồ-đề. Bốn trí làm tính.

Nói “Phật Thích ca Mâu ni”: Là người, đức đã thành. Thích ca là họ, Mâu ni là tên. Về giòng họ Như Lai thì các thuyết bất đồng. Giòng là như giòng Sát-đế-lợi, giòng Bà-la-môn. Họ là như họ Kiều-đáp-ma, Ca-diếp-ba,… Như luận Thuận Chánh lý quyển bảy mươi lăm: Nay gọi là Thích ca, tiếng Hoa là Năng nhân. Như kinh Trường A-hàm nói: Xưa, con trai thứ tư của Phạm ma Cổ vương, có lỗi, bị đưa vào núi tuyết trong rừng cây, tự mình sinh sống, người con thứ tư đến đó. Có thể tự giữ được cuộc sống. Vua khen con trai thứ tư, đúng chính là Thích tử, có thể tự mình sống còn. Nhân vậy mà họ là Thích. Từ đó Tổ thứ tư của Phật đến nay là họ Thích. Lại giải: Thích là tên của loài cây, người con trai sống dưới cây Thích, từ cây mà đặt tên, nên gọi là Thích. Vì vậy vốn họ là Cù-đàm, nay đổi là Thích ca. Nói “Cù Đàm” là sai, chính âm là Kiều-đáp-ma, tiếng Hoa phiên dịch là Cam Giá Chủng. Hoặc gọi là Nhật Thiên Chủng, hoặc gọi là Ngưu Phẩn Chủng. Đó là kiếp sơ, có vua Chiên-đà-la, giết các giòng họ Thích, đến lúc sắp bị giết hết, thì có một tiên nhân ở trong núi sâu, tu đắc thiên nhãn, thấy giòng họ Thích, bị tru diệt sắp hết, ý muốn lưu giữ lại giòng họ Thích, bèn cất giấu một đứa con trai giòng họ ấy để nối ngôi vua. Bấy giờ vị vua Chiên-đà-la kia, sai người xem thiên văn, xem sao biết được, có một người giòng họ Thích chưa bị diệt hết, vào núi tìm kiếm, gặp lúc Tiên nhân không có ở nhà, bắt đứa bé đem đi, phơi dưới ánh nắng mặt trời, khi đứa bé mệnh chung, tiên nhân thấy không thể cứu vãn, bên ở trong không vì nó mà thuyết pháp, hóa làm mỹ nữ, khiến sinh thế tâm, rồi có phần thân, vứt ở trên đất, Tiên nhân lấy đặt ở trong đống phân bò, để ở trong vườn mía, đầy đủ mấy tháng, từ trong đống phân bò, có đôi đồng tử hóa sinh, nhờ vậy mà nối dõi giòng giống Thích, giòng họ Thích hiện nay, đều từ đó sinh ra. Nếu người hảo tâm khen thì nói là giòng giống mặt trời ban ngày (Nhật Thiên Chủng), hoặc nói là giòng giống mía (Cam giá chủng). Nếu người tâm xấu hủy báng thì nói là giòng giống đất bùn, hoặc nói là giòng giống phân bò (Ngưu phẩn chủng).

Nói “Mâu ni” tức là tên, tiếng Hoa gọi là Tịch Mặc. Cho nên luận Bà-sa quyển một trăm mười bảy nói: Tam tịch mặc, nghĩa là thân, ngữ, ý. Và nói: Vô học trong thân. Ý phiền não rốt ráo diệt, tịch mặc viên mãn, cho nên gọi là tịch mặc, chi tiết như luận Câu-xá đã nói.

Kinh: Sơ niên nguyệt bát nhật.

Thích: Phần hai: Thời gian hiện điềm. Sau khi Như Lai thành đạo, năm thứ ba mươi, tháng giêng, ngày mùng tám, tức là thời thuyết kinh. Có người nói: Ý Tam Tạng Chơn đế, Như Lai tại thế bốn mươi lăm năm, thuyết tam thừa pháp luân, vừa chuyển chuyển pháp luân, thuyết về tiểu thừa, nhưng chuyển thì có hiển và mật. Mật thì bắt đầu từ đêm đắc đạo, đến đêm Niết-bàn, chuyển đủ cả ba pháp luân. Hiển thì từ sơ thành đạo năm thứ bảy, chỉ chuyển chuyển pháp luân, bảy năm tiếp theo và trong ba mươi mốt năm sau cùng, gồm chuyển chiếu pháp luân, từ sau năm thứ ba mươi tám, trong bảy năm, chuyển chủng pháp luân, từ sơ chiếu đến chuyển trị, hợp lại có ba mươi mốt năm, hai mươi chín năm trước, đã thuyết các Bát-nhã khác, nay đến năm thứ ba mươi tháng giêng ngày mùng tám, mới thuyết Nhân vương Bát-nhã. Cho nên bảo là “Sơ niên nguyệt bát nhật”. Nên nay Bổn ký nói: Nêu rõ là sơ niên nguyệt bát nhật là mùng tám tháng giêng. Như Lai thành đạo năm thứ bảy, thuyết Bát-nhã. Dựa theo văn của kinh này thì đã là năm thứ hai mươi chín, đến thời đó, đúng là sau khi thành đạo, ba mươi sáu năm đó là ý của Bổn ký, nghĩa như ghi trên.

Kinh: Phương tọa mười địa.

Giải thích: Phần ba: Nêu chánh trụ thập địa. “Phương”; là chánh, chính. Nghĩa là chư Như Lai muốn hiện đoan tướng, phải chánh trụ mười địa. Nhưng mười địa đó, tự có hai giải thích: Một là nói các Bồ-tát mười địa như Cực hỷ,… Một giải thích nói là; kinh đại thừa đồng tính đã thuyết, là Như Lai mười địa trong bốn loại mười địa, như đã dẫn ở trên. Kinh Chứng Khế và kinh Đồng Tính là cùng một bản, nhưng hai người dịch khác nhau. Ba loại thập địa trước thì văn ý giống nhau, cho nên không ghi lại đây, còn loại Như Lai thập địa thì kinh Đồng Tính nói: Tên gọi thứ nhất là: Thậm thâm nan tri Quảng Minh Trí đức địa (minh chứng khế gọi là tỳ phú La Quang Minh Trí tác địa). Trừ tất cả tập khí vi tế, với tất cả pháp đều đắc tự tại.

Tên gọi thứ hai là: Thanh tịnh thân phân oai nghiêm bất tư nghị minh đức địa. Chuyển chánh pháp luân, hiển nghĩa thâm diệu.

Tên gọi thứ ba là: Thiện minh nhân tràng bảo tướng địa. (Kinh chứng khế gọi là Bảo Xí Hải Tạng địa). Thuyết Thanh văn giới, hiển ba thừa.

Tên gọi thứ bốn là: Tinh diệu kim quang công đức thần thông trí đức địa: Thuyết tám vạn bốn ngàn pháp môn, hàng phục bốn ma.

Tên gọi thứ năm là: Đại luân oai tạng minh đức địa: Bẻ gãy các dị luận và pháp tà của chúng, điều phục tất cả những người hành cõi ác. (Kinh chứng khế dịch là: Quang Minh Muội Trường).

Tên gọi thứ sáu là: Hư không nội thanh tịnh vô cấu diệm quang khai tướng địa. (Kinh Chứng Khế dịch là: Không trung thắng tịnh cầm đuốc khai bày tướng địa.) Thị hiện sáu thần thông, hiện bày sáu đại thần thông, là hiện vô biên thanh tịnh cõi Phật công đức trang nghiêm, hiển hiện vô biên Bồ-tát đại chúng vây quanh. Hiển hiện vô biên quảng đại cõi Phật. Hiển hiện vô biên cõi Phật tự thể. Hiển hiện vô biên cõi Phật tự thể. Hiển hiện vô biên trong các cõi Phật. Từ cõi trời Đâu Suất xuống đầu thai, cho đến pháp diệt, thị hiện vô biên nhiều loại thần thông.

Tên gọi thứ bảy là: Quảng thắng pháp giới tạng minh giới địa. (Kinh chứng khế nói: Quang Minh khởi tác). Vì chư Bồ-tát, khai hiển như thật về bảy Bồ-đề pháp. Tự tính vô hữu, không chấp trước.

Tên gọi thứ tám là: Tối thắng phổ giác trí hải tạng, năng tịnh vô cấu, biến vô ngại trí thông địa. (Kinh Chứng Khế nói là: Tối thắng diệu hải Phật trí tạng quang minh biến chiếu thanh tịnh chư chướng trí biến địa), truyền thụ cho tất cả Bồ-tát đạo quả Bồ-đề vô thượng, bốn loại ký. (Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: 1. Vị phát tâm ký; 2. Biến phát tâm ký; 3. Mật thọ ký; 4. Đã đắc vô sinh nhẫn ký. Kinh Bảo Vân cũng nói giống vậy.)

Tên gọi thứ chín là: Vô biên ức trang nghiêm hồi hướng năng chiếu minh địa. (Kinh chứng khế thì: Vô biên trang nghiêm câu na nguyện Tỳ-lô-giá-na quang tác địa.) vì chư Bồ-tát mà hiện phương tiện thiện.

Tên gọi thứ mười là: Tỳ-lô-giá-na-trí hải tạng địa. (Kinh chứng khế nói là: Trí hải ttín Lô giá na.) vì chư Bồ-tát mà thuyết tất cả pháp vô sở hữu bổn lai tịch diệt, đại bát Niết-bàn.

Tuy có hai thuyết, nhưng ý của Bổn ký là Bồ-tát mười địa, ký kia nói: Nay nói mười địa, là chung cả pháp môn của mười địa, nếu chỉ nhập địa thứ mười thì chín địa kia sẽ không hiểu, do hóa thân nên có xuất nhập, ứng thân thì thường tại định, pháp thân thì phi định, phi bất định.

Kinh: Nhập Tam muội đại tịch thất.

Giải thích: Phần bốn – Nhập đại tịch thất.

Nói “Tam muội”: Là sai, lược bớt, theo đụng Phạm âm là Tamma-địa. Tiếng Hoa gọi là Đẳng trì. Lìa ở trầm, trạo gọi là đẳng, trì giữ tâm khiến trụ một cảnh tính. Gọi là trì, đó thông cả định và tán, tức trong biệt cảnh định luôn làm thể, mà có Tam muội đại tịch thất, tự có hai giải thích: Một giải thích là; Chơn như “không” tính là chỗ nương của chỉ và quán, gọi là đại tịch thất, từ cảnh mà đắc danh, nên gọi là Tam muội đại tịch thất., là giải thích theo Y chủ. Một giải thích là: Định cực tịch tĩnh, là chỗ nương của trí tuệ, gọi là Tam muội đại tịch thất. Tức giải thích theo Trì nghiệp. Hai loại trên là thắng duyên để hiện bày sự việc. Nhưng giải thích định này, có ba sai biệt: Danh thứ nhất là: Tamma-địa, như đã nói trên. Danh thứ hai là: Tam-ma-bát-để: Tiếng Hoa gọi là đẳng chí, nghĩa của đẳng như trên. Chí; nghĩa là chí cực nghĩa là chỗ tịch tĩnh chí cực kia. Danh thứ ba là: Tam-ma-sất-đa địa: Tiếng Hoa gọi là đẳng dẫn. Đẳng; nghĩa như đã nói trên. Dẫn có ba nghĩa: 1. Bình đẳng năng dẫn; 2. Hoặc là dẫn bình đẳng; 3. Hoặc là do bình bình đẳng mà dẫn phát. Ba định này mỗi định đều có rộng hẹp, danh Tam-ma-địa là tự trong tâm số, đẳng trì một pháp, gồm thâu chung tất cả hữu tâm, vô tâm trong các ngôi vị định, toàn bộ định thể, gọi là địa đẳng dẫn, tên chung cho tất cả hữu tâm vô tâm định vị công đức.

Kinh: Tư duy duyên phóng đại quang minh chiếu chúng sanh nơi tam giới. (hoặc có bản nói là: Chiếu trong tam giới.)

Giải thích: Phần năm – Tư duy duyên hiện tướng. Văn có năm phần: 1. Tư duyên phóng đại quang minh; 2. Trên đảnh xuất hoa; 3. Chư thiên mưa hoa; 4. Hoa Phật tự sinh; 5. Đại địa sáu động. Đây là phần một. Nghĩa là: Nay Thế Tôn, tư duy duyên phóng quang. Chiếu trong ba cõi. Tư duy duyên thuộc đoạn trên.

Hỏi: Hai cõi có sắc, đúng là chỗ chiếu, trong Vô Sắc giới đều không có sắc, sao nói là chiếu ba cõi?

Đáp: Các tông bất đồng; Tông Tát-bà-đa và Kinh Bộ nói chỉ có bốn uẩn, nên không có pháp chủ thể chiếu và đối tượng chiếu còn bộ Ma-ha-tăng-kỳ thì có đủ cả mười tám giới, nên có chiếu và chủ thể chiếu. Nay theo đại thừa, kinh Trung Ấn nói: Như Lai đến Vô Sắc giới, chúng sanh vô sắc lễ bái Thế Tôn. Lại nữa, kinh Bổn Nghiệp nói: Như Lai thuyết pháp trong hội, chư thiên vô sắc đến trong hội. Cho nên biết; Vô sắc giới có đủ cả chủ thể chiếu và đối tượng chiếu. Lại nữa, phần sau kinh này nói: Trên hoa báu ở cõi trời phi tưởng phi phi tưởng, thời, Vô Sắc giới mưa vô lượng hoa hương, như mây hạ xuống. Nếu theo luận Du già thì trong Vô Sắc giới, duy chỉ có định pháp xứ sinh ra sắc. Giải thích: Theo luận Du già, theo những thuyết như vậy, như ở trên đã dẫn 41 các kinh, đều dựa theo pháp xứ mà nói, còn hiểu được.

Kinh: Lại ở trên đảnh… quốc độ chư Phật.

Giải thích: Phần hai: Trên đảnh xuất hoa. Văn có ba phần: 1. Xuất hiện trên đảnh; 2. Hoa đến phi tưởng; 3. Đến các quốc độ Phật.

Hỏi: Trên kia thì phóng quang, sau là xuất hoa, là có ý gì? Theo Bổn ký nói: Phóng quang là nói về đoạn dứt cái ngu của chúng sinh, xuất hoa ý là tu nhân đắc quả, như hoa hiển quả.

Kinh: Lúc ấy, Vô Sắc giới… như mây hạ xuống.

Giải thích: Chư thiên mưa hoa. Văn có ba phần: 1.. Vô sắc mưa hoa; 2. Hoa Sắc giới; 3. Hoa Dục giới. Đây là phần một.

Kinh: Mười tám phạm thiên… Hoa sắc lạ.

Giải thích: Hoa Dục giới.

Kinh: Phật… Phi phi tưởng thiên.

Giải thích: Phần bốn: Tự nhiên sinh hoa. Nhờ oai lực của Phật (kiếp; là tằng kiếp).

Kinh: Lúc ấy… sáu loại chấn động.

Giải thích: Phần nói về sáu loại chấn động. Lược có bốn nghĩa: 1. Tướng động; 2. Nhân động; 3. Cảnh động; 4. Ý động.

Nói “tướng động” là: Theo cựu Hoa Nghiêm quyển hai. Biến động, cùng biến động, khởi, giác, chấn, hống (gầm), dũng, vọt lên đều có đủ cả ba tướng. Tướng truyện giải thích: Lay động không yên là động. Từ dưới thăng lên cao là khởi. Khiến sinh giác ngộ là giác. Đi ngấm ngầm có tiếng là chấn. Phát tiếng ầm ầm là hống (gầm). Lung linh lồi lõm là dũng (vọt lên).

Nói “nhân động” là: Trường A-hàm nói: Động có tám nhân duyên: 1. Động khi đại thủy động; 2. Khi tôn thần thử sức; 3. Khi Như Lai nhập thai; 4. Khi Như Lai xuất thai; 5. Khi thành đạo; . Khi chuyển pháp luân; 7. Khi tắt giáo; . Khi nhập Niết-bàn.

Tăng Nhất A-hàm thuyết có tám nhân: 1. Diêm phù đề phong luân, từ trên xuống dưới. Có địa, hỏa, thủy, phong, từ dưới lên trên. Theo thứ tự mà động; 2. Bồ-tát nhập thai; 3. Xuất thai; 4. Xuất gia học đạo thành chánh giác; 5. Nhập Niết-bàn; . Tỳ khưu thần thông, tâm đắc tự tại; 7. Chư thiên mệnh chung. Sinh trở lại thắng xứ; . Chúng sanh mệnh chung, phước tận tướng xấu. Mà không có chuyển pháp luân.

Nói “cảnh động” là: Theo kinh Pháp Hoa, có hai nghĩa: 1. Động nhỏ: Sáu loại chấn động ở thế giới này; 2. Động lớn: Văn Thù nói kệ: Tất cả chư Phật độ, tức thời đại chấn động. Theo luận đại Trí Độ quyển mười nói: Nhân duyên địa động có lớn có nhỏ. 1. Diêm-phù-đề có động, tứ thiên hạ có động, tiểu thiên quốc độ, tam thiên đại thiên quốc độ, ít động vì ít nhân duyên. Nếu người phước đức, hoặc sinh hoặc tử, một quốc độ địa động, đó là động nhỏ. Động lớn là vì nhân duyên lớn, như khi Phật mới sinh, khi thành Phật, khi sắp diệt dộ, tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động, lúc đó là đại động.

Nói “ý động” là tự có hai thuyết: Một thuyết là: Theo luận Thập Địa: Động địa trị bốn loại phiền não: 1. Chúng sanh tín sinh thiên. Tín hiện thiên báo, chấn động thiên cung. Liền sinh chán bỏ, khởi cầu tâm pháp; 2. Chúng sanh tạo ác, không biết vô thường, buông tâm thả thức, khiến nhân động địa, bỏ ác theo thiện; 3. Chúng sanh ngã mạn, hoặc nhân chú lực, hàm động địa nhỏ; 4. Khởi tâm cao ngạo, khiến nương đại động, biết mình còn kém.

Thuyết thứ hai là: Theo Luận – Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên: Ý động có bảy: 1. Khiến các ma ác kinh sợ; 2. Khiến khi thuyết pháp, đại chúng không khởi tâm loạn; 3. Khiến người phóng dật sinh ra giác tri; 4. Khiến chúng sanh niệm nhớ tướng pháp; 5. Khiến chúng sanh quán về chỗ thuyết; . Khiến người thành tựu đắc giải thoát; 7. Khiến tùy thuận hỏi về chánh nghĩa.

Kinh: Bấy giờ, chư đại chúng… sinh nghi.

Giải thích: Phần hai – Chúng nghi. Văn có ba phần: . Chúng nghi; 2. Tướng nghi; 3. Hỏi chúng không quyết. Đây là phần một. Nghĩa là khi phóng quang, chúng cùng sinh nghi.

Kinh: Nói với nhau… đây là sự gì?

Giải thích: Phần hai Tướng chúng nghi. Văn có ba tiết: 1. Tán thán Phật đức; 2. Lãnh về sự việc trước; 3. Nói về nghi. Trong phần tán thán Phật đức, đầu tiên là nói về đức của người thành. Còn biện về bốn loại:

1. Bốn vô sở úy: Là Nhất thiết tri vô úy, lậu tận vô úy, tận khổ đạo vô úy, thuyết chướng đạo vô úy. Bốn vô úy này trong phẩm Thọ trì sau, đến đó sẽ nói.

2. Mười tám pháp bất cộng: Tự có hai loại: Một là: Mười tám pháp bất cộng trong tạng Thanh văn: Là mười lực, bốn vô úy, ba niệm xứ và đại bi, như luận Câu-xá. Nay đại thừa, mười tám pháp bất cộng là: 1. Thân không lỗi; 2. Khẩu không lỗi; 3. Ý không lỗi; 4. Không dị tướng; 5. Không bất định; 6. Đều biết đã bỏ; 7. Dục không giảm; 8. Tinh tiến không giảm; 9. Niệm không giảm; 10. Tuệ không giảm; 11. Giải thoát không giảm; 12. Giải thoát tri kiến không giảm; 13. Tất cả thân nghiệp hành theo trí tuệ; 14. Khẩu nghiệp hành theo trí tuệ; 15. Ý nghiệp hành theo trí tuệ; 16. Trí tuệ biết quá khứ vô ngại; 17. Biết vị lai vô ngại; 1. Biết hiện tại vô ngại. Không cùng chung với nhị thừa, gọi là pháp bất cộng.

3. Đức năm nhãn: Bốn nhãn như trên, thêm Phật nhãn. Phật nhãn dùng bốn nhãn làm thể, ở cùng một thân Phật, gọi chung là Phật nhãn.

“Pháp thân”: Có ba loại: 1. Gọi chung pháp thân: Gồm thâu chung Phật đức; 2. Năm phần pháp thân: Như đã nói ở phần trên; 3. Chơn như pháp thân: Dùng “như” làm thể.

Nói “Đại giác Thế Tôn”: Người thành tựu do đức. Cái giả của năm uẩn. Nói “trước đã vì chúng ta: Nghĩa là, trước đây đã vì đại chúng chúng ta, sau khi mới thành đạo, đã hai mươi chín năm thuyết bốn Bátnhã: 1. Ma ha Bát-nhã; 2. Kim cang; 3. Thiên vương vấn; 4. Quang tán. Giải thích: Bổn ký nói: Nay theo kinh này thì phải là năm bộ. Cựu tướng truyện nói: Có hai loại tám bộ: Một loại là: Lưu hành ở Trung Hoa; tám bộ gồm: 1. Đại phẩm Bát-nhã; 2. Tiểu phẩm Bát-nhã; 3. Văn Thù Bátnhã; 4. Kim cang Bát-nhã; 5. Quang tán Bát-nha; 6. Đạo hành Bát-nhã; 7. Thắng thiên vương Bát-nha; 8. Nhân vương Bát-nhã. Loại thứ hai là: Theo Bồ-đề-lưu-chi, Kim cang Tiên luận đã nói về tám bộ: 1. Bộ mười vạn kệ; 2. Bộ hai vạn năm ngàn kệ. Hai bộ này Trung Hoa chưa có. 3. Bộ một vạn tám ngàn kệ tức kinh Đại Phẩm; 4. Bộ tám ngàn kệ, tức Tiểu phẩm Bát-nhã; 5. Bộ bốn ngàn kệ. Trung Hoa chưa có; 6. Bộ hai ngàn năm trăm kệ, tức Thiên vương vấn Bát-nhã; 7. Bộ sáu trăm kệ. Tức Văn Thù vấn; . Bộ ba trăm kệ. Tức Kim cang Bát-nhã. Nếu theo Ngài Chơn đế trong cuốn Kim cang Bát-nhã ký, nói về tám bộ Bát-nhã, cũng giống với Ngài Lưu-chi, nhưng khác là bộ thứ sáu không nói là ở Trung Hoa chưa có.

Nay hỏi: Ngài Tam Tạng Nhật Chiếu và Ngài Vu Điền Tam Tạng đều nói: Xứ kia chưa nghe đến tên của tám bộ. Nay theo đại Bát-nhã thì có bốn xứ mười sáu hội, nhưng không bao gồm Nhân vương Bát-nhã. Lại nữa, Ngài Tam Tạng Từ Ân nói: Tây phương không giới hạn ở tám bộ.

Hỏi: Theo đại Bát-nhã, trong mười sáu hội, Ma ha Bát-nhã là hội thứ nhất, Kim cang Bát-nhã là hội thứ chín. Thiên vương vấn là hội thứ sáu. Quang tán cũng là hội thứ hai, sao kinh này lại không theo thứ tự mười sáu hội kia?

Đáp: Kinh này đúng lý thì phải nương theo thứ tự kia, cũng phải nói chung với các bộ khác, nhưng vì người phiên dịch theo với những điều họ đã được nghe tạm chỉ nói về bốn bộ.

Nói “bốn xứ” là: 1. Tại núi Linh Thứu thuộc Vương-xá thành; 2. Vườn Cấp-cô-độc, rừng thành Thệ-đa-thất-la-phiệt; 3. Tại cung điện Ma ni bảo tạng ở cung trời Tha hóa tự tại; 4. Tại vườn Trúc Lâm bên hồ Bạch Lộ ở thành Vương-xá, thuyết tuệ độ.

Nói “Mười sáu hội” là: Như biệt ký đã nói. Nhưng nay chia mười sáu hội, có ba tiết: Năm hội đầu, từ rộng đến lược, đều thuyết về sáu độ, văn tuy có rộng và lược nhưng nghĩa không có rộng hẹp. Vì vậy mà Bồ-tát Long Mãnh theo phần thứ hai tạo ra luận Trí Độ. Tiếp theo là có năm hội, rất khó phân biệt rõ. Sáu hội sau cùng, như thứ tự của chúng thuyết rộng sáu độ. Nhưng mười sáu hội đó không bao gồm bộ kinh này, vì Như Lai thuyết giáo, tùy theo cơ mà khác.

Kinh: Ngày nay Như Lai… Đây là sự gì?

Giải thích: Phần ba – Tỏ bày nghi tình.

Nghĩa là: Trước đây phóng quang thuyết Bát-nhã. Nay phóng quang là làm việc gì?

Kinh: Lúc ấy, mười sáu… Tên là Nguyệt Quang.

Giải thích: Phần ba: Hỏi chúng chẳng quyết. Văn có hai phần: 1. Vương hỏi chúng, để nói rõ chúng không thể quyết nghi. Trong phần này có ba phần: 1. Biện về trú xứ; 2. Nêu tên riêng; 3. Tán thán đức.

Nói “Quốc chủ Xá-vệ” là: Nêu nước để hiển bày người. Theo luận Trí Độ; tên nước là Kiều-tát-la. Chủ tên là vua Ba-tư-nặc, nay gọi là nước Xá-vệ, hoặc gọi là thành Xá-bà-đề, hoặc gọi là thành Xá-labà-tất-đế-dạ, đều sai cả, chính gọi là thành Thất la bà tất để, tiếng Hoa dịch là thành Văn Giả. Kinh Pháp Kính nói: Nước Văn Vật. Kinh Thập Nhị Du nói là: Nước Vô Vật Bất Hữu. Luật Thiện-Kiến nói: Xá-vệ là tên người, người xưa ở thành đó. Xưa kia, có vị vua thấy đất ấy tốt đẹp mà lập tành nước, lấy tên người đó đặt tên nước là Xá-vệ. Còn có một tên nữa là nước Đa Hữu, các châu báu quý lạ nơi các nước, đều quy tụ về nước đó. Lại nữa, các điển ngữ phương Tây, gọi là Thất la phiệt, tiếng Hoa gọi là “trẻ nhỏ không thể hại”. Do kiếp sơ có hai tiên nhân anh em, tu đạo ở đó, em tên là Thất la, tiếng Hoa gọi là ấu thiếu (trẻ nhỏ). Anh tên là A la phiệt. Tu đạo ở đó, nhân đấy đặt tên đất, dùng đất đặt tên nước, lấy tên nước để gọi tên thành. Gọi là nước Thất-la-phiệt, và thành Thất la phiệt. Trước đây dịch sai lược, nên gọi là thành Xá-vệ. Tên nước là Kiều-tát-la, tên thành là Xá-vệ. Trước đây người phiên dịch lấy tên của thành, gọi thành tên nước.

Nói “Vua Ba tư nặc”: Tên là Nguyệt Quang. Là nêu tên riêng. Âm

tiếng Phạm là Ba tư nặc, tiếng Hoa là Thắng Quân, tên tục là Nguyệt Quang. Bổn ký nói: Quốc vương họ Nguyệt, sau khi nghe pháp, lại đặt tên là Quang.

Kinh: Đức hạnh mười địa… Ma-ha-diễn hóa.

Giải thích: Phần ba. Tán thán đức. Nghĩa là ngôi vị đăng lên mười địa như Cực Hỷ,… hành sáu độ như thí,… và ba mươi bảy pháp như niệm trú,… như đã nói trên.

“Bốn tịnh bất hoại”: Theo tông Tát-bà-đa; tín Tam bảo và tín giới bất hoại, thành bốn. Theo luận Thành Thật: tín Tam bảo và tín giới, bốn tín làm thể. Nay tông đại thừa, giống luận Thành Thật, nghĩa cũng không trái.

“Hành Ma-ha-diễn hóa”: Âm tiếng Phạm là Ma-ha-diễn, tiếng Hoa là Đại thừa, hành tự lợi, lợi tha, hai hạnh bình đẳng nên gọi là Maha-diễn hóa.

Kinh: Theo thứ tự mà hỏi… Không thể đáp được.

Giải thích: Phần nói rõ chúng chẳng quyết nghi. Văn có hai phần: 1. Hỏi cư sĩ; 2. Hỏi nhị thừa; 3. Hỏi Bồ-tát.

Bảo: Là Bảo Tích. Cái: Là Nguyệt Cái. Pháp: Là Pháp Tài. Tịnh Danh: Tức là Duy-ma-cật. Các vị đó đều tại gia, nên gọi là cư sĩ. Có người nói: Bảo Cái là trưởng giả Bảo Cái. Pháp là trưởng giả Hộ Pháp. Tịnh danh là Duy ma cật. Có người nói: Bảo là trưởng giả Bảo Tích, lấy lọng hiến dâng Phật, nên gọi là Bảo Cái. Pháp, Tịnh danh là Duy ma cật. Pháp; là quỹ tắc, tức những pháp đã giải, hiểu. Tịnh; là vô cấu, danh; là tên gọi, danh xưng. Nghĩa là cư sĩ rộng hiểu các pháp, không có phiền não cấu uế, danh tiếng mười phương.

“Tu-Bồ-đề”: Tiếng Hoa gọi là Không Sinh. Hoặc Thiện Cát,

Thiện Hiện,…

“Xá-lợi-phất”: Tiếng Phạm là Xá-lợi-cục-đa-la, hoặc là Xá-lợiphất đa la. Xá-lợi là tên mẹ, con ngươi mắt xanh gọi là Xá lợi. Lại nữa, mắt mẹ tựa như mắt Bồ câu. Trong kinh hoặc gọi là Thu Lộ, tử tức một cách phiên dịch khác.

Đây nói rõ Như Lai phóng quang, diệu ý khó biết, nên luận Trí Độ quyển mười một nói: Lực trí tuệ Phật, phương tiện thần thông. Những đại A-la-hán như Xá-lợi-phất, đại Bồ-tát như Di-lặc còn không biết huống là phàm phu.

Kinh: Bấy giờ… có duyên ấy hiện.

Giải thích: Phần Giác ngộ Như Lai. Văn có ba phần: 1. Phương này bày nhạc để giác ngộ Như Lai; 2. Phương khác bày nhạc; 3. Cùng bày nhạc để giác ngộ Như Lai. Đây là phần một. Văn có hai phần: 1. Ba loại nhạc được trình bày, nghĩa là; đầu tiên là vua Nguyệt Quang, tiếp đó là mười tám Phạm thiên, sau nữa là chư thiên nơi lục dục; 2. Âm thanh động cả tam thiên; hiển bày uy lực của âm thanh. Như kinh đã rõ.

Kinh: Những thân phương khác kia nhập đại hội này.

Giải thích: Phần hai: phương khác bày nhạc. Văn có hai phần: 1. Đến tập hội; 2. Bày nhạc. Trong phần đến tập hội, văn có hai phần: 1 Giải thích riêng bốn phương; 2. Giải thích tương tự sáu phương. Đây là bốn phương, như kinh đã rõ.

Kinh: Sáu phương cũng lại như vậy.

Giải thích: Phần giải thích tương tự sáu phương.

Kinh: Tạo nhạc cũng vậy.

Giải thích: Phần Giải thích tạo nhạc tương tự.

Kinh: Cũng lại cùng tạo… giác ngộ Như Lai.

Giải thích: Phần ba – cùng bày âm nhạc để giác ngộ Như Lai.

Kinh: Phật liền biết thời… như Kim cang sơn vương.

Giải thích: Phần Phật thăng tòa hoa. Nghĩa là biết căn đã thuần thục, ngồi tòa sư tử.

Kinh: Đại chúng hoan hỷ… Đại chúng mà trụ.

Giải thích: Phần Đại chúng hoan hỷ, hiện thần thông mà trú. Để hiển bày chúng nhiều và lực thần thông, nương nơi hư không và đất, mong đợi Phật thuyết.

Hỏi: Chúng sinh hạng nào, nương hư không nương đất mà trú?

Đáp: Phương khác nương vào không trung, phương này nương vào đất. Hoặc có thể là chúng thật thì nương ở đất, chúng hóa thì nương vào hư không. Hoặc Thánh thì nương hư không, phàm thì nương đất. Hoặc có thể là tha lực tiếp đón phàm cũng tại hư không, tùy nhạc tùy thông, nên chia thành hai nơi.

 

PHẨM THỨ HAI: QUÁN KHÔNG

Chú thích phẩm này, có hai nghĩa:

  1. Giải thích tên phẩm.
  2. Chánh giải thích văn.

Nói “quán không”: Xưa nay các thuyết bất đồng, vô phân biệt trí, trong chứng chúng sinh, pháp cả hai đều không. Trừ được hai chướng, nên gọi là phẩm Quán Không. Ngài Từ Ân Tam Tạng luận rộng về “không”, lược chia bốn loại: 1. Nói vô là không: Vì vậy, luận Du già, địa Bồ-tát nói; hữu vi vô vi, gọi là hữu. Không có ngã, ngã sở, gọi là vô; 2. Biệt không vô ngã: Nghĩa là, trên năm ấm hữu lậu, không có ngã, ngã sở. Tức nói năm uẩn là không, cho nên luận Thành Thật nói: Biệt không phi ngã, vì thuộc khổ đế; 3. Thông “không” làm ngã: Như Thế Tôn thuyết; tất cả pháp đều “không”. “Không” không có thể ngã, thông cả tất cả pháp. Sinh và pháp cả hai đều không, chơn như hiển bày. Nói đó là “không”, đó là tính của không.

Gọi tên là “Không”, nếu theo âm Phạm, “không” có hai nghĩa: 1. Thuấn nhã, tiếng Hoa dịch là “không”, nghĩa thứ nhất trong bốn nghĩa hiển bày nghĩa vô; (Không có) 2. Thuấn nhã đa: Tiếng Hoa gọi không tính. Tức là chỗ hiển chơn tính thứ tư. Nay luận Thuần nhã đa tuy nói là Thuấn nhã nhưng không phải như trước đây đã nói. Không tức là lý. Quán; là quán sát, tức quán trí. Không là tính “không”. Là cảnh của đối tượng quán. Vô phân biệt, trí quán chơn như, không cảnh và trí hợp lại mà nói, gọi là quán “không”.

Kinh: Bấy giờ, Phật bảo… Quốc vương nhân duyên.

Giải thích: Phần hai – Chánh giải thích theo văn. Từ phẩm này và năm phẩm sau là phần chánh thuyết. Tổng chia làm ba phần: Ba phẩm đầu là nội hộ, tiếp đến phẩm Hộ Quốc, là ngoại hộ. Phẩm Tán Hoa, mang ơn cúng dường. Hoặc phẩm Thọ Trì cũng là chánh tông; mang ơn mà rải hoa và thọ trì. Tuy có hai thuyết, nhưng nay tạm theo thuyết trước mà giải thích. Trong phần nội hộ, lại chia làm hai phần: 1. Lược triển khai hai hộ; 2. Từ “bấy giờ, đại vương…” hỏi đáp. Trong phần lược triển khai hai hộ lại có bốn phần: 1. Biết ý vua hỏi; 2. Lược triển khai hai hộ; 3. Khuyên phát ba tuệ; 4. Hoan hỷ cúng dường. Đây là phần một: Biết ý của vương.

Kinh: Ta nay trước tiên vì… thập địa hạnh nhân duyên.

Giải thích: Phần hai: Lược triển khai hai hộ. 1. Nhân duyên hộ

Phật quả; 2. Nhân duyên hộ Phật địa hạnh. Trong đó, Phật quả làm đối tượng hộ, lấy thập địa Bát-nhã làm chủ thể hộ nhân duyên, do sinh ra Phật quả. Lại nữa, thập địa Bồ-tát làm sở hộ. Lấy địa tiền Bát-nhã làm hộ nhân duyên, vì có thể sinh ra hạnh Bồ-tát thập địa. Hoặc có thể hộ hạnh, cũng thông cả mười địa. Do bắt đầu từ sơ địa sinh ra địa thứ hai nên. Vì các địa lần lượt, địa trước sinh ra địa sau.

Hỏi: Vua hỏi cách hộ quốc, Phật lại thuyết hai hộ, thế không trái nhau sao?

Đáp: Lực hộ trì quốc độ, phải nương theo hai hộ. Vì vậy mà Như Lai, trước tiên thuyết về hai hộ.

Kinh: Lắng nghe! Lắng nghe!… Như pháp tu hành.

Giải thích: Phần ba Khuyên phát ba tuệ.

Nói “lắng nghe!”: Là phát sinh Văn Tuệ, vì nhờ nghe mà sinh. “Khéo tư niệm nó”: Là phát sinh tư tuệ, nhờ suy tư mà sinh. “Như pháp tu hành”: Là hiển bày Tu Tuệ, nhờ tu thiền định mà sinh ra tuệ.

Kinh: Bấy giờ Ba tư nặc… che các đại chúng.

Giải thích: Phần tư Hoan hỷ cúng dường.

Nói “đại sự nhân duyên” là: như luận Trí Độ quyển chín nói: Phật thuyết Bát-nhã, vô số chúng sanh sẽ nối tiếp giòng giống Phật, ấy là đại sự nhân duyên. Lại nữa, quyển bảy mươi ba nói: Tu-Bồ-đề bạch Phật: Thế Tôn! Bát-nhã vì đại sự mà khởi. Ngài Long Thọ chú thích là: Có thể phá trừ các đại phiền não của chúng sanh, có thể cho đại pháp vô lượng của chư Phật, gọi là đại sự.

Nói “liền rải trăm ức hoa nhiều sắc” là thành hạnh hộ, dẫn đến sinh ra thắng quả.

“Biến thành trăm ức trướng báu che các đại chúng” là: Quả của đối tượng hộ trì đã viên mãn, trở lại nuôi nấng quần sinh.

Kinh: Bấy giờ, đại vương… nhân duyên hành mười địa.

Giải thích: Phần hai – Hỏi đáp. Trong đó có hai phần: Trước hỏi, sau đáp. Đây tức là Nguyệt Quang theo trước khởi hỏi. Hỏi có hai ý: 1.

Hỏi nhân duyên hộ Phật quả; 2. Hỏi về nhân duyên hộ thập địa.

Kinh: Phật nói: Bồ-tát hóa bốn sinh.

Giải thích: Từ đây là phần hai – Như Lai chánh thuyết. Văn có ba phần: 1. Phẩm Quán Không, nói về hạnh tự lợi, đáp câu hỏi trước; 2. Phẩm Giáo Hóa, nói về hạnh lợi tha. Đáp câu hỏi thứ hai. 3. Phẩm Nhị Đế. Nói về lý mà hai hộ nương vào. Ở phần đáp câu hỏi đầu, văn có hai phần: 1. Chánh giải thích về quán “không”; 2. Từ “Đại vương! Bồ-tát…” giải thích xong, tổng kết. Phần một lại có hai: 1. Nêu tông, chánh giải thích; 2. Từ “bạch Phật…” hỏi đáp giải thích lại. Đây là phần nêu tông, chánh giải thích.

Nhưng giải thích đoạn văn này, tự có hai thuyết: Theo Bổn ký thì văn chia làm ba phần: 1. Cảnh của đối tượng giáo hóa; 2. Trí của chủ thể giáo hóa; 3. Từ “ấy là…” kết thành thể của hóa.

Nói: “Bồ-tát hóa bốn sinh” là: Cảnh của đối tượng giáo hóa. Bốn sinh có ba nghĩa: Một là Hình sắc bốn sinh: Là thai, noãn thấp, hóa. Hai là Tiểu thừa tâm thần bốn sinh: 1. Nhất xiển đề; 2. Ngã kiến; 3. Thanh văn sợ hãi sinh tử; 4. Duyên giác hạnh tự lợi. Ba là: Đại thừa tâm thần bốn sinh: Có hai loại người vui thú với ba hữu: 1. Nhất xiển đề vui thích đại thừa; 2. Chấp trước ngã kiến, đại thừa ngoại đạo. Có hai loại người không vui thích ba hữu: Một loại người tức là nhị thừa, không vui nơi sinh tử, không thích Niết-bàn. Một loại người tức là Bồ-tát. Ba, bốn sinh đó tức là cảnh của đối tượng giáo hóa. Nên bảo là Bồ-tát hóa bốn sinh.

Nói: “Chẳng quán sắc như… nhị đế”: Từ đây là phần hai – Nêu trí của chủ thể Quốc độ. Thấy các pháp như như, đồng một Vô tướng. Văn có ba phần: 1. Theo pháp; 2. Giải thích; 3. Kết thành.

1. Theo pháp: Nêu năm điều: 1. Năm ấm; 2. Chúng sinh; 3. Quả Phật; 4. Bồ-tát; 5. Chơn và vọng. Năm ấm là chỗ nương tựa của sinh tử người giả tạo trong sinh tử chúng sinh ngã nhân là chủ thể nương dựa. Bốn đức Phật quả là chỗ nương tựa của hàng xuất thế. Giải thích: Bốn đức quả Phật là chỗ nương tựa của Bồ-tát chủ thể giáo hóa. Vì vậy kinh nói: Bồ-tát hóa sinh, bất luận là với Phật tri kiến, thọ giả, Bồ-tát là chủ thể nương tựa. Bồ-tát có ba: 1. Vị; 2. Nhân; 3. Pháp. Ngôi vị có ba loại: 1. Chưa biết muốn biết; là mười tín, gọi là tri; 2. Mười giải, mười hạnh gọi là kiến; 3. Hộ tri tức là thọ giả. Từ mười hồi hướng đến Kim cang, gọi là thọ giả. Có thể hộ vệ thọ mệnh của trí tuệ, khiến không bị đứt đoạn, mất mát. Nhân; văn nói là Bồ-tát. Pháp: Văn gọi là sáu độ. Người muốn pháp. Chơn và vọng; là nhị đế. Như sinh tử là tục, xuất thế là chơn. Có hai giải thích: 1. Tổng; 2. Biệt. Tổng là: Văn nói “vì vậy, tất cả pháp tính chơn thật “không”: Chia làm năm nghĩa: 1. Là lập danh chơn thật “không”, (tên gọi thứ 12 của đại Bát-nhã), chơn như thật tế,… 2. Là tướng bất định: Hữu và vô… 3. Là nghĩa chủ thể nhận biết, có thể nhận biết không có thể riêng biệt nào khác. Giải thích: Bổn giác phản chiếu bổn thể nơi thức thứ chín. Tức đệ nhất nghĩa Tất-đàn trong luận Trí Độ; 4. Là lược phân tích; đạo tiền bất tịnh, đạo hậu tịnh. Hữu cấu và vô cấu; 5. Là rộng phân tích: Nghĩa là mười sáu “không”, mười tám “không”…

Riêng biệt thì có năm: 1. Văn nói: “Bất lai bất khứ” (không đến không đi) là sinh tử “không”; 2. Là văn nói: “Vô sinh vô diệt”: là Niếtbàn “không”. Sinh tử là đến, Niết-bàn là diệt. Vô khứ tức vô lai, nên là sinh tử “không”. Vô sinh thì vô diệt, cho nên Niết-bàn “không”; 3. Là văn nói: “Đồng chơn tế” là Đạo tiền như; 4. Là văn nói: “Đẳng pháp tính”: Là Đạo hậu như. Thật tế không cùng, pháp tính không đoạn, không cùng thì không có trước, không đoạn thì không có sau; 5. Là kết, có ba: Một là: Nêu không có ngã nhân và ngã pháp, nhân và pháp đều vô ngã; văn nói: “Vô nhị, vô biệt”. Vô nhị là nhân vô nhã, vô biệt là pháp vô ngã. Ngã đối lại với ngã sở, cho nên thành là hai (nhị), vạn pháp bất đồng, cho nên thành biệt. Hai là: Tổng kết. Văn nói: “Như hư không” là tổng kết hai vô nhã. Ba là: biệt kết. Văn nói: “Không có ngã, ngã sở” là biệt kết về pháp không.

Phần thứ ba là kết thành. Quán giải như trên, tức là Bát-nhã mười địa, nên kinh Kim cang nói: “Pháp vô vi mà có sai biệt”, tức là dùng vô vi, làm thể của Bồ-tát. Nay giải thích không vậy. Bồ-tát hóa sinh, văn có bốn phần: 1. Tổng nêu về chủ thể giáo hóa và và đối tượng giáo hóa; 2. Từ “không quán sắc…” là giải thích riêng về chủ thể giáo hóa đối tượng giáo hóa “không”; 3. Từ “do đó tất cả…” kết thành về nghĩa “không”; 4. Từ “ấy là Bồ-tát…” kết thành thể của hộ. Đây là phần một.

Nói: “Bốn sinh” là: Như luận Du già quyển hai nói: Noãn (trứng) sinh là gì? Nghĩa là chư hữu tình, phá bể vỏ mà sinh ra. Như vịt, nhạn… Thai sinh là gì? Là chư hữu tình, bị thai bao bọc, cắt thai mà sinh, như voi, ngựa… Thấp sinh là gì? Là chư hữu tình, tùy nhân một loại khí ẩm thấp mà sinh, như loài mọt v.v… Hóa sinh là gì? Là chư hữu tình do tăng thượng nghiệp, có đầy đủ sáu xứ mà sinh, hoặc lại không có dủ, như thiên, Na-lạc-ca có hoàn toàn, và người quỷ, bàng sinh có một phần.

Kinh: Chẳng quán sắc như, thọ tưởng hành thức như.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Giải thích riêng về chủ thể, đối tượng giáo hóa “không”. Văn có hai phần: 1. Đối tượng hóa sinh và pháp cả hai đều “không”; 2. Từ “Bồ-tát như…” chủ thể hóa sinh và pháp cả hai đều “không”. Trong phần một, có hai phần: 1. Pháp của đối tượng hóa là “không”; 2. Sinh của đối tượng hóa là “không”. Đây là phần một.

Nói: “Chẳng quán sắc như”: Chữ “Chẳng quán” là thông luôn với các câu sau. Riêng về “chẳng quán sắc như” thì các thuyết bất đồng: Theo Bổn ký; nếu hóa thì chẳng quán như, quán như thì bất hóa. Nay nói hóa sinh, nên bảo là chẳng quán như. Những lời văn chẳng quán tiếp theo đều chuẩn như vậy. Một thuyết nói: Chẳng quán sắc như, vì chấp như thì không có đối tượng quán. (đó là giải thích theo Y chủ). Một thuyết nói: Chẳng quán sắc và như đều là chỗ chấp, không có đối tượng quán. (Đó là giải thích theo Tương vi), còn lại đều vậy. Một thuyết nói: Thấy cái như của sắc, như tức là “không”, “không” thì không có gì cả, nên nói là “chẳng quán sắc như”. (Theo các tông: Như Thanh Biện…). Một thuyết nói: Lý thật thì khi Bồ-tát giáo hóa hữu tình. Thấy năm ấm kia và chơn như, mà không phân biệt là sắc, là như. Nên nói là “chẳng quán”. Vì vậy, luận Du già, địa Bồ-tát nói: Bồ-tát quán hạnh, tùy chỗ sự, tùy chỗ như, chẳng tạo sự đó, như đó. Do vậy, Bồ-tát, dụng mà thường tịch, tịch mà thường dụng, bốn uẩn; thọ… cũng luận như sắc vậy.

Kinh: Chúng sinh, ngã, nhân… Thọ giả như.

Giải thích: Phần hai: Sinh của đối tượng hóa là “không”. Nghĩa là, trong năm uẩn, cho là ngã, cho là chúng sanh, ngã và nhân…. Vì tình có lý không, nên nói là “không”. Hoặc ở trong uẩn, cho là ngã là thường, lạc, ngã, tịnh. Hoặc ở trong uẩn, như những thứ ứng với chúng tưởng cho thức uẩn là cái trí; một phần sắc uẩn, mắt làm thành cái thấy. Một phần hành uẩn, mệnh v.v… làm ra cái thọ giả, cũng là tình thì có mà lý thì không, vì chấp ở cái tình. Nói là sinh không. Các tông đồng dị, như trong tông đã nói.

Kinh: Bồ-tát như… Nhị đế như.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Chủ thể giáo hóa; sinh và pháp cả hai đều “không”. Nói “Bồ-tát như” là; sinh của chủ thể hóa “không”. Vì cái chấp về Bồ-tát, theo lý thì chẳng phải có.

“Sáu độ, bốn nhiếp, tất cả hạnh như” là: pháp của chủ thể giáo hóa là “không”. Các pháp sáu độ thành Bồ-tát, theo lý thì chẳng phải có.

“Nhị đế như” là: Nêu chẳng những chủ thể quán, mà đối tượng quán cũng “không”, nên nói là nhị đế như.

Kinh: “Do đó, tất cả… không có tướng gì cả.

Giải thích: Phần ba: Kết thành nghĩa “không”. Văn có hai: 1. Kết tất cả pháp “không”; 2. Từ “do đó, ấm nhập…” kết thành hai khóa nghĩa “không”. Nghĩa tướng, không trên đây như Bổn ký, cho nên không thuật nữa.

Kinh: Đó là Bồ-tát… Bát-nhã Ba-la-mật.

Giải thích: Phần bốn: Kết thành thể của hộ.

Kinh: Bạch Phật nói… là hóa chúng sanh chăng?

Giải thích: Phần hai: Hỏi đáp, giải thích lại. Trước hỏi, sau đáp. Đây là hỏi.

Hỏi có ba ý: 1. Lãnh hội được ý đã thuyết trên nghĩa là: “Nếu các pháp đều “không”; 2. Nêu hóa sự: Là hộ hóa chúng sanh; 3. Chánh thức trình bày thắc mắc: Nghĩa là, nếu đều không, thì làm sao có Bồ-tát để giáo hoá chúng sanh? Như theo Bổn ký, thì ý giải đáp hỏi là: Nếu quán “không” thì không thể hóa. Nếu hóa thì chẳng quán “không”. Hai nghĩa trái nhau hóa sao thành được?

Kinh: Đại vương! Pháp tính sắc v.v… thường lạc ngã tịnh.

Giải thích: Từ đây là phần hai. Như Lai chánh thức đáp. Văn chia làm hai phần: 1. Nương theo chơn để quán “không”, thì không hóa; 2. Nương theo tục thì có thể giáo hóa chúng sanh. Trong phần: Một có bốn phần: 1. Nêu cảnh; 2. Biện minh quán; 3. Hỏi; 4. Giải thích “không”. Đây là phần nêu cảnh.

Nếu theo Bổn ký thì cảnh có hai loại: 1. Là năm uẩn, là cảnh trước địa; 2. Là thường lạc ngã tịnh: Là cảnh trong địa.

Nay giải thích không vậy: Năm uẩn là cảnh của đối tượng nương tựa. Thường, lạc là cảnh của chủ thể nương tựa. Hai loại cảnh như vậy, thông chung cả trước địa và trong địa.

Kinh: Chẳng trụ sắc… Chẳng trụ phi phi sắc.

Giải thích: Phần hai: Biện minh quán. Văn có hai phần: 1. Quán sắc ấm; 2. Giải thích riêng về bốn ấm. Đây là phần một: Nhưng giải thích văn này, các thuyết bất đồng.

Một thuyết nói: Theo Bổn ký; “chẳng trụ sắc”, là câu thứ nhất, ngăn chặn sắc; sắc là sắc uẩn. Tức là vật chất ngăn ngại. “Phi sắc” là câu thứ hai. Ngăn chặn bốn uẩn; tức tâm liễu biệt. “Phi phi sắc” là câu thứ ba, lại ngăn chặn thêm về sắc tâm. Nếu nói cho đủ thì phải nói là: “Bất trú phi sắc phi phi sắc”, vì lược bỏ bớt chỉ nói là phi phi sắc. Đây giải thích ý này nói: Trí của chủ thể duyên, quán chơn như kia; lìa sắc, lìa phi sắc, lìa cả hai sắc và phi sắc.

Một thuyết nói: Nói “chẳng trụ” là vì bên trong chứng trí không chấp trước, gọi là chẳng trụ. Như luận Nhiếp Đại thừa, sắc có ba loại: 1. Sắc phân biệt; tức là biến kế sở chấp; 2. Sắc chủng loại: Là y tha khởi; 3. Sắc pháp tính; là viên thành thật. Do ba vô tính mà bỏ ba sắc tính. Nên nói là chẳng trụ sắc. Cho đến chẳng trụ phi phi sắc.

Một thuyết nói: Pháp tính chơn như, lìa bốn câu, tuyệt trăm phi. Nói “chẳng trụ sắc…” là; nếu nói đầy đủ phải nói là: Chẳng trụ sắc; chẳng trụ phi sắc; chẳng trụ vừa sắc vừa phi sắc; chẳng trụ phi sắc phi phi sắc. Vì lược bớt nên bỏ câu thứ ba và hai chữ phi sắc trong câu thứ tư.

Kinh: Cho đến phi phi trụ.

Giải thích: Phần hai: Giải thích tương tự bốn uẩn. Nhưng nói: “Chẳng trụ phi phi trú” là nói lược bớt. Nêu sau để gồm thâu trước.

Kinh: Vì sao?

Giải thích: Phần ba: Nêu hỏi ngược lại. Đây có hai giải thích:

Một giải thích nói: Chẳng lẽ chơn như đều chẳng cùng là một thể, sao lại còn giải thích riêng các uẩn là như?

Một giải thích nói: Đã có Chơn đế, tại sao chẳng trụ?

Kinh: Phi sắc, phi phi sắc như.

Giải thích: Phần bốn: Giải thích chung. Cũng có hai giải thích:

  1. Giải thích Ý hỏi trên. Nói: phi sắc như tức là phi phi sắc như. Lẽ ra nói ba câu, vì lược bớt nên nói hai câu.
  2. Giải thích Ý hỏi sau: Nói: Như nghĩa là “không”, tức là chân tính, rỗng không vô sở trụ, nên nói là “chẳng trụ”.

Kinh: Vì thế đế… cho nên tất cả sinh tính thật.

Giải thích: Đây là phần theo tục có thể giáo hóa chúng sanh. Trong đó có hai phần: 1. Do hai duyên nên thấy chúng sanh là đối tượng giáo hóa; 2. Từ “cho đến…” nói có thể giáo hóa chúng sanh. Phần một có ba phần: Nói: “Thế đế cho nên ba giả.”: Là xuất hai nhân, nói “vì thế đế”; thế đế có ba loại: 1. Là sắc đế: Bốn đại làm tính; 2. Là tâm đế: Thức giới làm tính; 3. Là không đế: Nói: “Ba giả”: là pháp giả, thọ giả, danh giả. Tiếp đó là nói: “Gọi là thấy chúng sanh”; là nêu tông. Nương theo hai nhân mà có người là đối tượng giáo hóa. Sau là nói: “Tất cả sinh tính thật” lại xuất nhân. Bổn ký nói: Là trong phi thắng nghĩa, thật tính có thể đắc. Mà trong tục đế, tất cả bốn sinh cũng có nghĩa của thật tính. Đó là nương theo thọ giả. Hoặc có bản nói: “Do tất cả pháp tính thật”.

Dựa chung cả ba giả.

Kinh: Cho đến… cũng gọi là kiến.

Giải thích: Từ đây là phần hai Có khả năng giáo hóa. Trong đó có hai phần: 1. Dựa theo thọ giả để nói về hữu nơi chủ thể hóa; 2. Từ “Đại vương!…” lấy danh giả để nói khả năng giáo hóa. Trong phần một. Có hai phần: 1. Lấy theo chánh kiến, chứng minh là có khả năng giáo hóa; 2. Ngoại đạo tà kiến để chứng minh nghĩa kiến đó.

“Thất hiền”: Là bảy phương tiện, hoặc là; tín hạnh, pháp hạnh, tín giải thoát, kiến chí, thân chứng, tuệ giải thoát, câu giải thoát.

“Tám Thánh”: bốn hướng, bốn quả, gọi là tám Thánh.

“Sáu mươi hai kiến”; nghĩa như ở chương khác.

Kinh: Đại vương! Đến phi phi kiến tất cả pháp.

Giải thích: Đây là theo danh giả chứng minh có khả năng giáo hóa. Như kinh đã rõ.

Kinh: Bạch Phật nói: Đến làm sao chiếu?

Giải thích: Từ đây là phần hai: Hỏi đáp để phân biệt quán chiếu Bát-nhã: Trước hỏi, sau đáp.

“Hữu pháp”: Là cảnh thế tục.

“Phi phi pháp”: Là cảnh của Chơn đế. Chấp các pháp có: là hủy báng về tăng thêm. Các pháp chẳng có (phi hữu) là là hủy báng về tổn giảm. Chặn đứng cả hai hủy báng, vì vậy mà lặp lại nói: “Phi phi pháp”.

Ý nghi vấn: Vì như tục đế có pháp mà chiếu, vì như Chơn đếphi phi pháp chiếu. Hoặc có thể là; chư pháp đồng chơn tế, đẳng pháp tính, ly bốn câu, tuyệt trăm phi, tức là cảnh không, làm sao Bát-nhã lại có chiếu dụng phi?

Kinh: Đại vương!… Kiến phi phi pháp.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Như Lai chánh đáp. Trong đó có hai phần: 1. Nêu tông lược đáp; 2. Từ “Nếu pháp…”: Theo tông rộng thích. Đây là phần lược đáp. Nghĩa là: Ma-ha-diễn thấy phi phi pháp vì chứng “không”.

Kinh: Pháp nếu phi phi pháp. Đó gọi là phi phi pháp “không”.

Giải thích: Từ đây là phần nêu tông rộng thích. Trong đó có hai: 1. Giải thích rộng về phi phi pháp; 2. Từ “vì Bát-nhã Ba-la-mật không…” là giải thích về trí của chủ thể quán, chiếu “không” và “Có”. Trong phần 1. Có hai phần: 1. Phi phi pháp thuộc cảnh đương không; 2. Nêu môn biện minh “không”. Đây là phần một.

Nghĩa là: Pháp nơi đối tượng duyên nếu phi phi pháp thì ở trong các “không”, gọi là phi phi pháp không.

Kinh: Pháp tính “không”… mười hai duyên “không”.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Nêu môn biện minh “không”. Trong đó có hai: 1. Trải qua môn biện minh “không”; 2. Từ “pháp đó…” lấy các tướng sinh… để thích thành nghĩa của “không”. Đây là phần một.

Nghĩa là: phi phi pháp không, qua các pháp sai biệt, liền thành bảy không.

“Bảy không” là: Thật tính của chư pháp, bổn tính tự không, chẳng do trí lực, gọi là pháp tính không, chung luôn cả sáu môn. Hai là: Năm uẩn, ba là mười hai xứ, bốn là mười tám giới, ba khóa môn này nghĩa như nói trên. Năm là: sáu đại. Là bốn đại và không, thức. Sáu là bốn đế. Bảy la: Mười hai duyên sinh. Bảy môn trên đều là phi phi pháp, nên gọi là không.

Kinh: Pháp đó tức sinh… tức không.

Giải thích: Đây là phần hai: Do tướng sinh, v.v… để giải thích thành nghĩa “không”. Văn có hai phần: 1. Lấy thức uẩn để giải thích nghĩa “không”; 2. Từ “cho đến…” giải thích tương tự bốn uẩn và tất cả pháp. Trong phần một. Có bốn: 1. Nêu tông; 2. Giải thích tương tự; 3. Trưng hỏi; 4. Giải thích “không”. Đây là phần nêu tông.

Nghĩa là: Vì trong năm uẩn có năm tướng, gọi là “không”. Nói “tức sinh…”; tự có hai nghĩa: 1. Dựa theo thể mà nói: Tức là tông Đại thừa thì khi thức sinh ra, theo từ nơi nhân mà khởi, giả nói làsinh, được gồm thâu do hành uẩn bất tương ưng, vì đó là giả. Khác với tông Tátbà-đa: Thật mà phi giả, vì không tương ưng. Khác với tông Kinh Bộ thì nói các sắc v.v… gọi là sinh v.v… 2. Dựa theo thời danh mà nói thì các thuyết bất đồng; tông Tát-bà-đa thì; sinh ở vị lai, hai tướng trụ và diệt đều ở hiện tại. Ở trong hiện tại; tự có hai thuyết: Một thuyết nói là hai tướng có trước có sau. Một thuyết nói là hai tướng không có trước sau. Luận đại Tỳ Bà-sa nêu có đủ cả hai thuyết. Sư của luận Thuận Chánh lý thì nói là không có trước sau. Nay theo đại thừa; hai tướng sinh và trụ, đều có hiện tại. Tự có hai thuyết: 1. Sư Thắng Quân nói: Hai tướng trước sau, trước sinh sau trụ. 2. Ngài Hộ Pháp nói: Không có trước sau, cho nên luận Thành Duy Thức phá Thượng tọa bộ, làm sao một niệm lại có hai thời, vì vậy dựa theo thời, cũng gọi là tức. Vì các pháp như vậy không thành thật, nên tức có tức không.

Kinh: Sát-na, Sát-na… pháp diệt.

Giải thích: Phần hai giải thích tương tự.

Nghĩa là: Như Sát-na đầu tiên, các Sát-na khác cũng vậy. Pháp sinh, pháp trụ, pháp diệt. Âm Phạm là Sát-na. Tiếng Hoa gọi là thời gian cực ngắn. Nói đầy đủ thì phải nói là “tức không”. Theo đó, có thể biết, lược bớt không nói.

Kinh: Vì sao?

Giải thích: Phần ba: Ngoại nhân hỏi văn. Sinh và diệt trái nhau, như đã nói trên, không cùng một lúc. Vì sao lại nói là tức sinh tức diệt?

Hoặc lại nữa, hữu và vô ngược nhau, sao lại nói là tức hữu tức không?

Kinh: Chín mươi Sát-na… chín trăm sinh diệt.

Giải thích: Phần bốn: Đức Thế Tôn giải thích chung.

Lấy chín mươi Sát-na nhỏ, thành một niệm lớn, một Sát-na nhỏ trong một niệm lớn, lại có chín trăm sinh diệt. Vì vậy trước đó nói, lúc sinh ra thì đã có diệt. Hoặc lại nữa, nhiều Sát-na thành một niệm. Do đó, lúc niệm là giả có, chẳng thật. Vì chẳng thật, cho nên tức “có” tức không, cũng không trái nhau. Lại nữa, lúc niệm lớn, chia làm ba phần. Một phần có ba mươi, ba phần thì thành chín mươi, trong một đại niệm có chín mươi Sát-na, trong một Sát-na trải qua chín trăm lần sinh diệt, nếu xét chung cả sinh diệt thì có chín trăm sinh diệt, xét riêng thì có một ngàn tám trăm lần. (Một thuyết nói: Chín mươi Sát-na trải qua tám mươi mốt ngàn sinh diệt mới thành một niệm, xem luận Trang Nghiêm và luận đại Bà-sa.)

Kinh: Cho đến sắc, tất cả pháp cũng như vậy.

Giải thích: Đây là phần hai: Giải thích bốn uẩn và tất cả pháp.

Nghĩa là; như thức uẩn trước, tức trụ tức diệt, tức “có”, tức “không”. Cho đến thọ tưởng hành, sắc, ngoài năm uẩn, từ sau hữu của mười hai nhân duyên, các môn đều như vậy.

Kinh: Do Bát-nhã Ba-la-mật không… nhất thiết pháp không.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Biện về trí của chủ thể quán chiếu không và có. Văn có hai phần: 1. Chiếu không và hữu; 2. Từ “Này thiện nam!…” biện về được, mất, thất. Phần một có hai phần: 1. Nói về chiếu không; 2. Từ “do pháp tập…” nói về chứng có. Vì vậy mà Bổn ký chia làm hai tiết: Trước là Vô tướng, sau là hữu tướng. Nói Vô tướng là; chẳng những không có đối tượng được chiếu, cũng không có chủ thể chiếu. Chiếu mà không có đối tượng được chiếu, đó là thuyết liễu nghĩa, nên kinh Đại Chỉ gọi là chơn thật Bát-nhã.

Nói hữu tướng là: Thâu dẫn cả phàm và Thánh, vô lượng giáo môn, có mười địa để tu, có Phật quả để đắc, vô chiếu mà nói chiếu, đó là nghĩa bất liễu. Nên kinh đại nhân gọi đó là Bát-nhã tương tự.

Trong phần chứng “không”, văn chia làm hai phần: 1. Nói về Bátnhã chứng cảnh không tướng; 2. Từ “nhân không …” biện về sự sai biệt của Nhất thiết pháp không. đây là phần một.

“Bát-nhã Ba-la-mật” là trí của chủ thể quán. Do có các sinh, còn gọi là không, vì trí không. Có thể chứng được ba không: 1. Không thấy duyên; là không thấy mười hai duyên; 2. Không thấy đế; là không thấy bốn đế; 3. Cho đến tất cả là không thấy pháp sáu đại, cho đến năm ấm hữu pháp không. Đó tức là giải thích theo từ sau hướng đến trước. Nói là “không thấy chứ chẳng phải là không chứng mà gọi là không thấy.

Kinh: Nội không… không không cho nên không.

Giải thích: Phần hai: Biện về sự sai biệt của Nhất thiết pháp không. Có mười hai loại: Nội không,… Nhưng tướng không đó, như luận Trí Độ nói: Nội là nội pháp, tức nội lục xứ. Trong ấy, nhãn do nhãn không. vì sao? Vì phi thường phi hại, vì bổn tính nó là vậy. Nhĩ… cũng như thế.

Ngoại: Là ngoại pháp, tức là ngoại lục xứ.

Nội ngoại: Là nội ngoại pháp, tức mười hai xứ.

Hữu vi không: Là ba cõi như Dục giới.

Vô vi không: Là vô sinh vô trụ, vô dị vô diệt.

Vô thủy không: Là không có đầu tiên, ở giữa, cuối cùng để đắc và không có biên vực đến, đi để dắc.

Tính không: Là bổn tính không. Nghĩa là bổn tính của tất cả pháp, hoặc pháp tính hữu vi, hoặc pháp tính vô vi đều chẳng do ba thừa tạo tác.

Đệ nhất nghĩa không: Là thắng nghĩa không, nghĩa là thắng nghĩa Niết-bàn là do thắng nghĩa không đó.

Bát-nhã Ba-la-mật đa; như tên gọi đã biết.

Nhân không: Là sáu độ không.

Phật quả không: Là Bồ-đề, Niết-bàn không.

“Không không” cho nên không: Luận Trí Độ nói: Tất cả pháp không, không đó là do “không không”.

Lại nữa, luận kia viết: Hỏi: Sau các không, đều nói là phi thường phi diệt, nghĩa đó là gì?

Đáp: Nếu người không biết cái không đó, thì sẽ bị rơi vào nhị biên, hoặc là thường, hoặc là diệt. Nguyên do là sao? Nếu các pháp thật có thì không có nghĩa của diệt, bị rơi vào trong thường. Như người nói; một nhà nhập một nhà, mắt tuy không thấy, nhưng không gọi là không có. Chư pháp cũng vậy. Từ đời xưa nay nhập đời hiện tại, từ đời hiện tại nhập đời quá khứ. Cứ như vậy thì không diệt, hành giả vì có mà bị hoạn dùng không để phá có thì tâm trở lại quý không, chấp trước ở cái không thì rơi vào đoạn diệt. Vì lý do đó, thực hành cái không ấy để phá hữu cũng không chấp trước trước không, lìa hai biên ấy, dùng hành trung đạo, thực hành mười tám không, lấy tâm đại bi để độ chúng sanh. Do đấy, sau mười tám không đều bảo là phi thường, phi phi diệt, ấy gọi là Ma-ha-diễn, nếu khác với đó, tức là hý luận dối người. Ở trong pháp Phật, rỗng không, vô sở đắc, như người trong đống châu báu mà lại lấy hạt thủy tinh, mắt thấy tuy đẹp nhưng không có giá trị gì cả. Nói chi tiết như ở luận kia.

Kinh: Chỉ vì pháp tập… danh tập cho nên hữu.

Giải thích: Phần hai: Biện minh quán chiếu. Có tám hữu khác nhau.

Nếu theo Bổn ký; văn có ba tiết:

Tiết 1: Lấy theo ba giả:

Nói: “Pháp tập cho nên hữu”: Là tính chơn thật.

“Thọ tập cho nên hữu”: Là tính y tha.

“Danh tập cho nên hữu”: Là tính phân biệt.

Tiết 2: Biện minh nhân quả:

“Nhân tập cho nên hữu”: Hai loại cảnh giới; cảnh giới phân biệt và cảnh giới chơn thật, vì có thể sinh ra tâm, gọi đó là nhân.

“Quả tập cho nên hữu”: Là tính y tha, do từ cảnh mà sinh ra.

Tiết 3: Nói về ngôi bậc:

Nói: “Mười hạnh cho nên hữu”: đây tức là trong đạo bắt đầu từ mười tín đến mười địa. Là y tha khởi.

Nói “Phật cho nên hữu”: đây tức là đạo hậu, là tín chơn thật.

Nói: “Cho đến sáu đường tất cả hữu”: đây tức là đạo tiền, hai loại tính; tính phân biệt và tính y tha.

Nay giải tám hữu, chi làm ba phần: 1. Môn tam giả; 2. Môn tứ đế; 3. Giới, cõi, sinh môn. Nói tam giả là như trong bài tự phẩm trên đã dẫn kinh đại phẩm để chú thích.

Kinh: Nhân tập cho nên hữu… Phật quả cho nên hữu.

Giải thích: Phần hai: Tức là môn tứ đế.

“Nhân tập cho nên hữu”: tức tập đế này là nhân của sinh tử.

“Quả tập cho nên hữu”: tức khổ đế là quả của sinh tử.

“Mười hạnh cho nên hữu”: tức là đạo đế là nhân của Niết-bàn.

Nghĩa là từ mười tín cho đến mười địa: Năm loại mười hạnh, đều gọi là đạo đế. Khác với tông Tát-bà-đa: khổ nhẫn trở lên mới gọi là đạo đế, vì gia hạnh, tư lương, là gồm trong đạo đế.

“Phật quả cho nên hữu”: Bồ-đề Niết-bàn, Bồ-đề là một phần của đạo đế, Niết-bàn chính là thuộc về diệt đế.

Kinh: Cho đến tất cả sáu đường.

Giải thích: Phần ba: Hữu sai biệt, các sự thuộc giới, cõi, sinh.

Cho đến nói bao gồm các hữu trong tam giới, tứ sinh. Vì vậy mà kết nói là tất cả hữu.

Kinh: Này thiện nam!… không khác với thế gian.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Biện về quán được mất.

Nếu theo Bổn ký thì chia làm hai phần: 1. Biện đắc, thất; 2. Thuyết xứ. Trong đắc thất, từ phàm đến Phật. Phàm thì có bảy kiến: Kiến đầu tiên là thất, sáu kiến sau là đắc.

1. Hư vọng kiến: Là phàm phu, nhị thừa ở trước khi thập trụ thì chấp có Niết-bàn, tức là pháp ngã kiến. Chấp có chúng sinh… là nhân ngã kiến. Do đó không khác với thế gian.

2. Chơn thật kiến: Nghĩa là: Mười tín, tin chơn. Mười giải, hiểu chơn. Mười hạnh cùng thành tựu, không động. Vì vậy không động mà không đến, vì không đến thì không diệt, vì bất diệt nên Vô tướng, vì Vô tướng mà cũng vô Vô tướng. Do đó, tất cả pháp như.

3. Tối thắng kiến: Là mười hồi hướng, tức thể Vô tướng, Tam bảo một thể. Kinh Niết-bàn nói: Tam bảo cùng một thể. Lại nữa, Bồ-tát đó dẫn dắt nhị thừa nhập vào ngôi vị hồi hướng.

4. Nhập vị kiến: Từ sơ địa đến địa thứ bảy, đều thấy Đệ-nhấtnghĩa-đế, là chánh vị của Bồ-tát, một niệm có đủ cả tám vạn bốn ngàn pháp môn.

5. Thành tựu tha kiến: Địa thứ tám chứng thấy đệ nhất nghĩa. Cái thấy bắt đầu tròn đủ, nhưng chưa đủ để Quốc độ người khác, muốn thành tựu tha kiến; gọi là có thể chuyên chở, gọi là Ma-ha-diễn. Sau dùng như lý làm chủ thể vận tải. Vận là di động. Tải là thành trì. Hành do như lý, thành trì vận động, cho nên từ sinh tử xuất đến Nhất-thiết-trí, đều dùng vô đáo, vô xuất. Nói đủ như trong luận kia.

6. Thứ đệ kiến: Là đạo vô gián. Vì đạo giải thoát mà làm duyên thứ đệ, nên bảo là tức diệt, thành ra là Kim cang, liền có cái dụng của sự cứng bén, nên gọi là Kim cang, cũng còn gọi là định. Nhờ đạo vô gián phát khởi đạo giải thoát, như định phát tuệ.

7. Giải thoát kiến: Phật dùng Nhất-thiết-trí thấy tất cả pháp. Ở trong một hạnh, hành tất cả hạnh, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh.

Dưới là nói về thuyết xứ, tổng kết bảy kiến, như đã thuyết trong Quang tán Bát-nhã. Nay hiểu không như vậy: Về phần biện quán đắc thất, văn có hai phần: 1. Nói về vọng kiến, gọi đó là thất; 2. Nói về chánh quán, tức gọi là đắc. Giải thích về nghĩa của vọng kiến thì nghĩa giống với Bổn ký.

Kinh: Nơi các pháp mà bất động… cũng như.

Giải thích: Từ đây là phần hai: Nói về chánh quán. Văn có hai phần: 1. Nói về phương tiện chánh quán; 2. Nhập vị chánh quán. Đây là phần một. Nghĩa là, mười tín trở lên cho đến mười hồi hướng, đều hành quán này. Không lý được quán, ở trong các pháp, bình đẳng nhất vị, không có tướng của động chuyển. Vì không có động chuyển nên không đến, đến nghĩa là sinh. Vì không động nên không có sinh, vì không sinh nên không có tướng diệt. Vô sinh vô diệt, cũng không có tướng. Vì tướng đã không có thì đối với gì để nói là Vô tướng, nên nói là vô Vô tướng. Do những nghĩa đó, nên tất cả pháp đều như. Nếu theo giải thích trên về những bất động thì thuộc tâm của chủ thể quán thì ý nghĩa không thuận với câu văn này: “Chư pháp đều như”.

Kinh: Đó tức Bát-nhã Ba-la-mật của sơ địa.

Giải thích: Phần hai: Nhập vị chánh quán. Văn chia làm hai phần: 1. Chánh quán; 2. Thuyết xứ. Trong phần một. Có ba phần: 1. Theo vị tán đức; 2. Nêu danh tán đức; 3. Theo dụng tán đức.

Đây là phần một. Giải thích về ngôi vị thì như trên, ý đồng với Bổn ký.

Nói “tám vạn bốn ngàn” là: Theo luận Câu-xá; vì thuyết của ba sư, nên có tụng viết:

Có nói các pháp uẩn

Lượng như luận thuyết kia

Hoặc nói các tùy uẩn

Như thật hành đối trị.

Luận viết:

Có các sư nói

Mỗi một lượng đẳng

Tám vạn pháp uẩn

Pháp Uẩn Túc luận.

Nghĩa là: Mỗi một phần có sáu ngàn tụng, như luận Pháp Uẩn Túc thuyết trong đối pháp, hoặc nói các câu pháp uẩn, tùy uẩn,… mỗi một sai biệt, số có tám vạn, nghĩa là các uẩn, xứ, giới,… mỗi một giáo môn, gọi là một pháp uẩn. Như thật mà nói, có tám vạn hạnh riêng biệt khác nhau để giáo hóa các tham, sân,… của hữu tình. Vì để đối trị tám vạn hạnh, Thế Tôn tuyên thuyết tám vạn pháp uẩn. Nếu theo luận chánh lý thì có ba sư thuyết; hai sư trước thì giống với Câu-xá, sư thứ ba thì phá chánh nghĩa thứ ba của Câu-xá, nên luận nói; đó tức là thuyết theo thuận thành tùy uẩn, chứ không có các uẩn. Không vì để đối trị các hành bệnh của hữu tình. Theo luận đại Tỳ Bà-sa thì có sáu sư thuyết, chi tiết như trong sách thâm mật ký. Nếu theo kinh hiền kiếp; bắt đầu từ quang diệu độ cho đến cuối cùng phân chia ban bố xá lợi độ. Tổng cộng có ba trăm năm mươi môn công đức, mỗi một môn công đức đều tu sáu độ, tức thành là hai ngàn một trăm, đem hai ngàn một trăm đó đối mười pháp bốn đại sáu suy, mỗi một trong mười đó đều thuyết hai ngàn một trăm, tức thành là hai vạn một ngàn, lại đem hai vạn một ngàn đối bốn chúng sinh: 1. Đa tham; 2. Đa sân; 3. Đa si; 4. Một phần các tam độc. Bốn thứ đó, mỗi thứ có hai vạn một ngàn, bốn thứ hai vạn một ngàn tức 43 có tám vạn bốn ngàn.

Kinh: Tức tải gọi là Ma-ha-diễn (hoặc có bản viết: tức có thể vận chuyển gọi là Ma-ha-diễn)

Giải thích: phần hai: Lấy danh để tán thán đức. Âm Phạm là Maha-diễn. Tiếng Hoa gọi là hạnh đại thừa, đó tức là thông cả nghĩa mười địa trước cũng không sai.

Kinh: Tức diệt là Kim cang, cũng còn gọi là định.

Giải thích: Phần ba: Dựa theo dụng để tán thán đức. Văn có hai phần: 1. Tán về đẳng giác; 2. Tán về diệu giác. Đây là phần một. Nghĩa là một niệm cuối cùng của địa thứ mười, có thể phá trừ hai chướng như Kim cang phá trừ hai chướng như Kim cang phá trừ vật.

Kinh: Còn gọi là hết thảy hạnh, như thuyết trong Quang Tán Bátnhã Ba-la-mật.

Giải thích: Phần hai: Tán thán riêng về diệu giác. Ở trong tất cả hạnh có đủ tất cả hạnh, nên gọi là tất cả hạnh. Tức là đạo giải thoát. Đạo giải thoát này như đã nói trong kinh Quang Tán Bát-nhã Ba-lamật. Là nói về thuyết xứ. Đó tức là quyển thứ tám. (Xem đại Bát-nhã) Kinh: Đại vương!… thuyết danh vị cú.

Giải thích: Phần ba: Tán thán về văn tự Bát-nhã. Văn có hai phần: 1. Tán thán giáo thù thắng; 2. Từ “Đại vương! Nếu Bồ-tát…” nương giáo phát quán. Trong phần một. Nếu theo Bổn ký thì có bốn vô thượng: 1. Người thuyết vô thượng; 2. Tín vô thượng; 3. Điều được thuyết giảng vô thượng; 4. Trí tuệ vô thượng. Những điều được nói ra đây là từ bậc đại giác, cho nên phải tin nhận, lại nữa, những điều đã nói phù hợp với chánh lý, nên đắc được thắng giải.

Nay hiểu không vậy; tức chia làm ba phần: Ba vô thượng trước thì giống trên, còn vô thượng thứ tư thuộc phần vô thượng thứ ba. Đoạn văn này thuộc vô thượng thứ nhất: Người thuyết vô thượng tất cả chư Phật đều thuyết giống nhau, đó là tướng danh vị cú sai biệt. Theo tông đại thừa, trên âm thanh giả lập danh vị cú thân. Đó là do bất tương ưng hành uẩn gồm thâu. Danh là nói lên tự tính. Câu cú là để nói lên sự sai biệt. Cả hai nương vào nhau tạo thành câu văn.

Kinh: Ở trong hằng hà sa… huống gì là hiểu một câu.

Giải thích: Phần hai: Tín thọ vô thượng. Đây tức là so sánh để ca ngợi sự đặc biệt.

Nói: “Ở trong hằng hà sa tam thiên đại thiên quốc” là: Chỗ cất chứa của báu, cả một núi Diệu cao, đếm đầy cả ngàn, gọi là tiểu thiên, tức tiểu thiên đó, đếm đầy đủ cả ngàn, gọi là trung thiên, một ngàn trung thiên, gọi là đại thiên. Luận Trí Độ nói: qua hai thì trở lại ba, nên bảo là tam thiên (ba ngàn), ba ngàn là con số trùng, nên gọi là đại thiên (đại ngàn), nếu phân biệt chi tiết như trong thâm mật ký đã nói. Nghĩa là các thí bảy báu trước, khiến đắc các hạnh, tín của thất hiền. Bốn quả: Dự lưu,… vì chẳng thuyết không, cho nên phước ít. Kinh này thuyết không, khiến chư chúng sinh đắc đại Bồ-đề nên biết là thắng.

Kinh: Vì cú phi cú, phi phi cú.

Giải thích: Phần ba: Những điều thuyết ra là vô thượng. Văn có ba phần: 1. Văn không; 2. Văn và nghĩa đều không; 3. Nhân và pháp đều không. Đây là phần văn không. Có hai phần: 1. Cú phi cú: Cú ấy tính không, thể của tất cả danh cú, bổn lai vốn không có tự tính; 2. Phi phi cú; là phi hữu phi vô. Tu đắc thì bỏ hữu, vô. Không phi cú là tính đắc, phi phi cú là tu đắc, bỏ tính.

Kinh: Bát-nhã phi cú, cú phi Bát-nhã.

Giải thích: Phần hai: Văn và nghĩa đều không. Bát-nhã phi cú, là nghĩa không. Cú phi Bát-nhã, là văn không. Trong văn, cầu Bát-nhã bất khả đắc. Trong Bát-nhã, lìa văn thì không có nghĩa, lìa nghĩa thì không có văn, mới thành bình đẳng. Ý nghĩa của sự không có đó là để tỏ rõ về bình đẳng, lược nói là sự hỗ tương không có.

Kinh: Bát-nhã cũng không Bồ-tát.

Giải thích: Phần ba: Nhân và pháp đều không. Đây tức là pháp không, đúng thì phải nói là nhân không. Xem thì biết, do lược bớt không nói. Trong phần pháp không, văn có hai phần: 1. Dựa theo ngôi vị thuộc nhân để biện về pháp không; 2. Theo quả vị để giải thích pháp không. Trong phần một: Có ba phần: 1. Nêu; 2. Trưng hỏi; 3. Giải thích. Đây tức là phần một – Nêu.

Nghĩa là Bát-nhã là pháp, Bồ-tát là nhân (người) trong nhân (người) cầu pháp bất khả đắc, tức là pháp không.

Kinh: Vì sao?

Giải thích: Phần hai, Trưng hỏi.

Kinh: Mười địa… ba mươi sinh không.

Giải thích: Phần ba: Giải thích về pháp không. Nghĩa là: ở mười địa đều có mới sinh, trụ sinh, chung sinh đều bất khả đắc. Mỗi địa đều có ba sinh, thành ba mươi sinh.

Kinh: Cũng phi Nhất-thiết-trí… vì không.

Giải thích: Phần hai: Dựa theo quả để giải thích về không.

“Tát-bà-nhã”: là tiếng Phạm. Dịch là Nhất-thiết-trí. Nghĩa là:

thể của Bát-nhã chẳng những chỉ phi Bồ-tát mà còn phi Nhất-thiết-trí, chẳng phải chỉ là thể “không” mà hạnh dụng của đại thừa cũng không.

Kinh: Đại vương!… Người phàm phu.

Giải thích: Phần hai: Nương giáo phát khởi quán. Văn có hai phần: 1. Nói về quán đảo tưởng; 2. Từ “Thấy ba cõi…” nói về chánh quán. Đây tức phần một.

Nghĩa là: Nếu Bồ-tát thấy cảnh, thấy thật tướng, thấy cái trí, thấy quán chiếu, thấy thuyết nói, thấy văn tự Bát-nhã, thấy cái thọ nhận, ở trong các cảnh do có chấp trước thì chẳng phải là cái thấy của bậc thánh, đó tức là cái thấy tưởng đảo nơi người phàm phu.

Kinh: Thấy ba cõi… cái danh của quả báo.

Giải thích: Phần hai: Nói về chánh kiến. Văn có hai phần: 1. Nhân và quả nhiễm tịnh, nói về tướng không; 2. Từ “Này thiện nam!…” dựa theo không có nghe và nói để biện minh tướng không. Trong phần đầu có hai phần: 1. Sinh tử không; 2. Từ “Kim cang Bồ-tát…” giải thích về nguyên do không. Trong một phần lại có hai phần: 1. Hai sinh tử phân đoạn và biến dị không; 2. Từ “Kim cang Bồ-tát…” giải thích về nguyên do không. Trong phần một lại có hai phần: 1. Sinh tử phần đoạn; 2 Sinh tử biến dị. Phần một lại có ba phần: 1. Danh gọi của quả, nhưng không có thật thể.

Kinh: Sáu thức… Vô Sắc giới tạng không.

Giải thích: Phần hai nói về nghiệp không.

Nghĩa là: Trong Dục giới, khởi đủ cả sáu thức, khởi vô lượng dục.

phát nghiệp thọ sinh. Ý văn trong đó, tức thuyết nghiệp, gọi đó là tạng, vì nó gồm chứa quả, hoặc lấy nghiệp kia làm nghiệp quả vì phát khởi do các phiền não.

Kinh: Ba cõi không… tạng vô minh cũng không.

Giải thích: Phần ba phiền não không. Có hai giải thích:

1. Theo Bổn ký thì văn có ba tiết:

a) “Tam giới “không”: là phiền não da trong ba cõi, nghĩa là sự mê, các tham,…

b) “Tam giới căn bản “không”: là phiền não thịt trong ba cõi nghĩa là mê lý, các kiến các không. Đối với da làm gốc.

c) “Tam giới gốc tạng vô minh cũng “không”: là phiền não tim trong ba cõi. Nghĩa là sở tri chứng, toàn bộ các không, theo thắng thuyết chỉ nói là vô minh, vì nó làm căn bản cho cả da và thịt. Sáu chữ “tam giới căn bản cũng không” là nói chung cho cả hai loại phiền não da và thịt.

2. Một giải thích khác là:

“Tam giới không”: là kết hai đoạn văn nói về nghiệp quả ở trên.

“Tam giới căn bản vô minh tạng cũng không”, nghĩa là phiền não kiến, tu đoạn trong ba cõi, theo căn bản mà nói, nên chỉ nêu là vô minh.

Kinh: Ba địa, chín sinh diệt… quả báo không.

Giải thích: Phần hai sinh tử biến dị không.

Giải thích về đoạn văn này, tự có hai giải thích: Nếu theo Bổn ký thì thì bốn loại sinh tử biến dị lấy vô minh tập làm duyên, đắc quả này.

Văn nói: “Ba địa” là: 1. Kiến địa; từ hồi hướng thứ mười đến địa thứ ba. Trừ bạn là xuất quán chấp chặt do kiến hữu, nên gọi là bạn. Pháp trợ đạo cũng gọi là bạn; 2. Tu địa: từ địa thứ tư đến địa thứ bảy, trừ yếu kém xuất quán kiến hữu chấp không là yếu kém; 3. Cứu cánh địa; địa thứ tám đến địa thứ mười, trừ vi tế. Chỉ chấp do kiến hữu, không hiện tiền, gọi là vi tế.

“Chín sinh” là: hợp cả mười địa thành ba địa, một địa có ba sinh; thủy, trụ chung. Ba địa đó thành chín sinh. Đó là kết chung cả mười địa trên dưới.

“Quả báo của diệt tiền tam giới vô minh tập đều không”: là nói về đối tượng diệt của địa thứ mười, diệt không đối tượng diệt. Vô minh hoặc gọi là tam giới tập, nên bảo là vô minh tam giới tập. Quả báo của tập, tức là biến dị sinh của thập địa trí thắng sắc diệu, nên bảo là biến dị sinh.

Nay ở đây dựa theo Ngài Tam Tạng Từ Ân, giải thích ý văn này. Tự có hai thuyết:

1. “Ba địa, chín sinh diệt”: là thâu gồm địa sai biệt nghĩa là trong ba địa; tám, chín, mười đều có ba sinh diệt; thủy; trụ, chung. Gọi là chín sinh diệt. Nguyên do là sao? Trong bảy địa trước, tự có hai nghĩa: 1. Thọ phần đoạn sinh: Luận Trí Độ nói: Bồ-tát bảy địa thọ thân sâu bọ, thân xác thịt; 2. Một loại Bồ-tát, từ sơ địa trở lên thọ biến dị sinh. Do đó, luận Trí Độ nói: Chưa xả nhục thân, nhập ở sơ địa, vì tám địa trở lên, tất cả phiền não đều không hiện tiền, duy chỉ thọ biến dị. Cho nên bảo là ba địa, chín sinh diệt.

2. “Trong ba cõi, vô minh tập quả còn sót lại “không”: là đối duyên mà nói về quả. Nghĩa là, như kinh Thắng Man nói: Vô minh trụ địa làm duyên, đắc ba loại ý sinh thân, nên bảo là vô minh tập quả báo còn sót lại “không”. Phân biệt chi tiết đầy đủ, sẽ nói ở chương khác.

Nên biết, ba địa chín sinh diệt mà Bổn ký đã nói, không gồm cả mười địa, chỉ là chín sinh diệt nơi ba địa. Lại nữa, sinh kia nói; từ mười hồi hướng đến ba địa, trừ bạn phiền não, thì trái với kinh giải thâm mật. Kinh kia nói: Tùy miên có ba loại: 1. Tùy miên hại bạn; nghĩa là, ở năm địa trước, đều không sinh phiền não hiện hành, đều sinh phiền não trợ bạn hiện hành. Bấy giờ các thứ ấy mãi mãi không có hậu hữu. Do đó gọi là tùy miên hại bạn; 2. Tùy miên yếu kém, nghĩa là ở trong địa thứ sáu và địa thứ bảy. Hiện hành vi tế, như tu mà điều phục thì không hiện hành; 3. Tùy miên vi tế: Nghĩa là, ở địa thứ tám trở lên, từ đó trở đi, tất cả phiền não không còn hiện hành duy chỉ có chỗ dựa của sở tri chướng làm nơi y chỉ.

Kinh: Kim cang Bồ-tát… nhân không cho nên không.

Giải thích: Phần hai giải thích nguyên do không. Đây là nói về Kim cang Bồ-tát đắc Tam muội lý tận. Hai loại sinh tử hoặc nghiệp đều không. Cái gọi là hoặc, nghĩa là làm phát khởi quả nghiệp phiền não, tức là phát nguyện do hoặc, hoặc nghiệp như vậy đều có sinh diệt. Tổng thuyết là không.

“Hữu quả không”: hoặc nghiệp sinh ba biến dị quả không.

“Nhân không cho nên không”: là giải thích lại về nguyên do quả không. Do nhân của hoặc nghiệp đã không, nên quả cũng không.

Kinh: Nhất-thiết-trí đến hoặc trước đã không.

Giải thích: Phần hai nói về Phật quả không. Văn có hai phần: 1.

Trí đoạn không; 2. Ba vô vi không. Đây là phần một.

“Nhất-thiết-trí cũng không”: tức là trí đức không.

Nói “diệt quả không”: là đoạn đức không. Đoạn đức có hai: 1. Niết-bàn phương tiện tịnh; 2. Niết-bàn tính tịnh. Đây là phương tiện. Nói “hoặc trước đã không cho nên là Niết-bàn tịnh tính”; nghĩa là vốn từ xưa nay tự tính thanh tịnh. Nên kinh Duy Ma nói: Bất đoạn phiền não, thọ Niết-bàn là sự việc đó.

Kinh: Phật đắc ba quả vô vi… Niết-bàn không.

Giải thích: Phần hai ba vô vi không. Văn có ba phần: 1. Nêu; 2. giải thích; 3. Thuộc về.

Nói “đắc ba vô vi”: là nêu chung.

Nói “trí duyên diệt”: hoặc gọi là trạch diệt.

Nói “trí duyên diệt”: còn gọi là phi trạch diệt. Vì không do trí lực diệt, gọi là phi trí duyên diệt. Như Niết-bàn tính tịnh đã nói trên.

Nói “hư không”: tức hư không vô vi. Nghĩa là ở trên chơn như, hiện do vô sắc, nghĩa nói là hư không.

“Quả Nhất-thiết-trí không”: là thuộc về thứ ba. Nghĩa là quả Nhất-thiết-trí trên thể của vô vi, nghĩa nói về ba loại.

Kinh: Này thiện nam!… đều như.

Giải thích: Phần hai dựa theo sự không có nghe và nói để nói về tướng “không”. Văn có ba tiết: 1. Pháp; 2. Dụ; 3. Hợp.

Nói “không có người nghe người nói”: như phần sau kinh nói; như thân huyễn hóa thấy huyễn hóa: Là Bồ-tát chơn hóa. Phần dụ và hợp đã rõ.

Kinh: Đại vương! Bồ-tát… là như vậy.

Giải thích: Ở trong phần đáp đầu tiên. Chánh giải thích về quán “không”. Văn có hai phần: 1. Giải thích; 2. Kết. Trên đã giải thích xong, đây là phần kết. Văn có hai phần: 1. Kết về thể của chủ thể hộ; 2.

Từ “Bát-nhã…” là kết về dụng của chủ thể như kinh đã rõ.

Kinh: Phật thuyết pháp… Bồ-tát đại hạnh.

Giải thích: Phần hai thời chúng đắc ích. Nếu theo Bổn ký thì có hai loại ích: 1. Tiểu thừa ích: Nghĩa là đều đắc pháp nhãn tịnh, là đã kiến đế; 2. Đại thừa ích: Có bốn:

  1. Tính địa: Trước mười tín, địa thuộc hữu tính.
  2. Đắc tín địa: Tức mười tín.
  3. Mười giải trở lên: Gọi là đại không, vì mới bắt đầu đắc giải không.
  4. Mười hồi hướng trở lên: Gọi là đại hạnh, do hành Đệ-nhất-nghĩa-đế. Nay nói “pháp nhãn tịnh”: là giống với Bổn ký.

“Tính địa”: là tam hiền địa tiền, nhờ ba chủng tính; tập, tính, đạo.

“Tín địa”: Là sơ địa trở lên, do đã đắc tín bất hoại vô lậu.

“Đại không”: Bồ-tát tám địa do quán, trí hai không, thường bất thối chuyển.

“Đại hạnh”: Chín địa trở lên, do lợi tha. Các thuyết đồng dị, không thể nói hết.

 

Pages: 1 2 3
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.