Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐỨC BỔN SƯ

 

PHẬT LỊCH 2557

 

NGHI THỨC

TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY

của hai giới XUẤT GIA và TẠI GIA

 

HT. THÍCH THIỆN THANH

Soạn và Dịch

 

CHÙA PHẬT TỔ

905 Orange Avenue Long Beach, California 90813 http://www.chuaphatto.com

 

LỜI DẪN NHẬP‌

Phật tử Trung Hoa sáng tác cái gì, trong vườn văn học Phật giáo Việt Nam có cái nấy. Ngoài phần nhập cảng tư tưởng, kinh sách từ Trung Quốc, nhiều học giả và thiền sư Việt Nam sáng tác nhiều bài văn xuôi và văn vần rất hay, như Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông (1225-1258), Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) và nhiều kệ và thơ như bài Mộc Trung Nguyên Hữu Hỏa của Khuông Việt Thái Sư (933-1011), hay Vạn Hạnh Thiền Sư (?-1018) với bài kệ Thân Như Điện Ảnh Hữu Hoàn Vô vân vân, bài nào cũng văn hay ý đẹp, nói lên được ý đạo nhiệm mầu. Một điều được nhấn mạnh nơi đây, lời thơ đẹp văn hay, nhưng không được phổ biến rộng rãi, có lẽ các bậc tiền bối của chúng ta bị trở ngại về văn tự, cách viết, nói một nơi viết một ngả và thiếu phương tiện ấn loát. Tư tưởng Việt, âm điệu Việt, nhưng phải viết bằng chữ Hán. Hán học hay Nho học thuộc văn bác học, cũng như chữ Sankrit ở Ấn là ngôn ngữ của hàng bác học, của giới trí thức, giới bình dân hay người học ít làm sao hiểu cho nổi. Thành thử Tàng Kinh Các của Phật giáo rất lớn, nhiều sách quý, nhưng người học Phật càng ngày càng vơi đi. Lời dạy của Phật, lẽ ra, là món ăn bổ ích cho tinh thần, nhưng vì thiếu sự hiểu biết cho đúng mức, lời dạy đó trở thành “bùa hộ mạng”. Thật vậy, lời hay ý đẹp của Phật dạy để minh tâm kiến tánh, không mấy ai để ý đến, nhưng Kinh Cứu Khổ được in và ấn tống quá nhiều, nhiều đến nỗi không có chỗ để. Nói như thế để quý vị thấy rằng, càng ngày người hiểu Đạo càng ít, nhưng người cầu lợi quá nhiều, dù cái lợi đó dựa vào những lời đồn đãi vu vơ.

Từ hậu bán thế kỷ thứ XIX đến nay, chữ viết của người Việt được thay hình đổi dạng, từ gốc Hán, đổi thành gốc Hy

 

La (North semetic + Geek + Latin). Ngày xưa, Trung Hoa có tư tưởng hay danh từ nào, thì Việt Nam có danh từ đó; ngày nay Tây phương có sáng chế máy chữ, máy in, computer, thì Việt Nam sẽ dùng được máy đó, nếu cần thay đổi, chỉ cần thay đổi một bộ phận nhỏ, vì cùng một nguồn gốc chữ viết. Trong khi đó, các dân tộc không cùng một nguồn gốc chữ viết, dù có tiến bộ nhiều nhưng vẫn bị trở ngại. Hay nói một cách khác, người Việt Nam, nhất là những người ở hải ngoại có nhiều phương tiện ấn loát. Vậy thì, nhân dân Việt Nam nói chung, hay Phật tử nói riêng không nên đắm mình trong “hủ nho nhập cảng” bị rỉ sét lâu đời, từ thời Hán tộc xa xưa, thiếu dinh dưỡng để vun vén cây Bồ Đề Việt Nam. Nói cho dễ hiểu, Phật tử nên tụng kinh tiếng Việt để hiểu rõ ý nghĩa kinh mình đang tụng, lấy lời dạy quý báu đó để sửa tâm tánh cho được thanh tịnh. Muốn hiểu rõ ý kinh, không ngôn ngữ nào hơn là tiếng mẹ đẻ, là tiếng Việt. Chữ Hán khó lắm, nên cất kỹ trong viện bảo tàng.

 

Từ thuở Phật giáo du nhập vào Việt Nam đến nay, các tu sĩ cũng như cư sĩ đều tụng kinh bằng tiếng Hán Việt (1). Dĩ nhiên, trong những thời Phật giáo thịnh hành, các tăng sĩ sáng tác nhiều bài sám nguyện thật hay, nhưng bằng chữ Nôm, một thứ chữ khó hơn chữ Hán, nên không thể phổ biến sâu rộng được trong giới bình dân. Tình trạng này kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX, có ba tờ báo Phật giáo rất có giá trị ra đời – tờ Đuốc Tuệ ở Bắc, tờ Hải Triều Âm ở Trung, và tờ Từ Bi Âm ở Nam – được viết bằng Việt ngữ. Trong những số báo đó, có nhiều bài bình luận về giáo lý của Phật, thơ đạo, dĩ nhiên có nhiều đoạn kinh được dịch từ Hán văn cũng được đăng tải. Cách diễn dịch, miêu tả hay chấm phết theo tinh thần Tây phương, người đọc cảm thấy thoải mái và dễ hiểu. Đến đây được xem như khúc quanh lớn trong văn học Phật giáo Việt Nam. Từ Trung, Nam,

 

Bắc có nhiều kinh, sách, báo ra đời, viết bằng Việt ngữ. Đặc biệt về kinh tụng, chúng ta thấy: Khóa Tụng Bồ Đề do Chùa Bà Đá, Hà Nội ấn hành năm 1938, Nhị Thời Nhật Tụng do chùa Hòa Giai, Hà Nội ấn hành năm 1950, Nghi Thức Tụng Niệm Việt ngữ do Hòa thượng Thích Trí Hải biên soạn, ấn hành tại Hà Nội năm 1950. Tại miền Nam, quyển Tam Bảo, do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch âm và nghĩa, Liên Hải Phật Học Đường xuất bản năm 1949. Sau đó vài tháng, quyển Tam Bảo Thường Thức, ai soạn không đề tên, Hòa thượng Trường Thạnh chứng minh. Quyển này, chỉ có dịch âm, không có dịch nghĩa, và có nhiều bài sám nguyện bằng Việt ngữ phụ đính ở sau. Hai quyển này là căn bản kinh tụng cho các chùa ở miền Nam sau này. Đến năm 1960, Kinh Nhật Tụng do Phật Học Đường Nam Việt ấn hành, không đề tên ai soạn, có lẽ do Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Phước Huệ, và Thượng tọa Nhất Hạnh chủ trương. Các nghi thức được trình bày trong quyển nầy ngắn gọn, có phần canh tân, phần cúng hương, kỳ nguyện, và quán tưởng Phật bằng Việt ngữ, phần kinh tụng vẫn là tiếng Hán Việt, nhưng thỉnh thoảng xen vào một vài bài sám nguyện bằng Việt ngữ rất hay, như bài Sám Vu Lan, sám Phát Nguyện, và bài Sám Hối Phát Nguyện… không đề tên ai sáng tác, và bài Khuyến Tu của Thầy Trí Hiền, văn hết sức hay. Đọc xong, chả muốn làm gì cả.

Nghi thức tụng niệm của Phật Giáo Việt Nam tuy có chuyển mình từ tiếng Hán Việt ra Việt ngữ, có tiến bộ, nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp, trong một vài Phật Học đường, hay những chùa ở tỉnh thành, còn các chùa ở miền quê, hay những chùa thuộc các tông phái khác đều có nghi thức tụng niệm riêng. Nhưng nội dung kinh tụng, cầu siêu vẫn là Kinh Di Đà, cầu an vẫn là Kinh Phổ Môn, vân vân, bằng tiếng Hán Việt. Từ năm

 

1975, Phật tử di cư ra nước ngoài tụng niệm theo nghi thức nào, và như thế nào?

 

Cũng giống như trong nước vậy, mỗi chùa có mỗi nghi thức khác nhau. Nhưng có hai quyển nghi thức được nhiều chùa ở ngoại quốc dùng nhiều nhất đó là quyển Nghi Thức Tụng Niệm của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, do Hội Phật Học Nam Việt ấn hành. Nay, được Tự Viện Linh Sơn ở Pháp và Phật Học Viện Quốc Tế ở Los Angeles tái bản. Quyển thứ hai là Chư Kinh Nhật Tụng và nghi thức thông dụng, xuất xứ từ Kinh Nhật Tụng đã nói trên, được Hòa thượng Thiên Ân thêm hay bớt những phần không cần thiết, phóng lớn ra và tái bản, để đáp ứng nhu cầu cho nhiều chùa Việt Nam trên thế giới, sau năm 1975. Đến năm 1983, vì nhu cầu quá nhiều, quyển Chư Kinh Nhật Tụng được Chùa Phật Tổ tái bản, và thêm Kinh Kim Cang, Kinh Báo Hiếu, Kinh Vu Lan và nhiều bài Sám. Kỹ thuật in tốt, rõ ràng, nên được đa số Phật tử chiếu cố. Hiện nay, Chùa không còn một quyển để tụng. Cũng quyển Chư Kinh Nhật Tụng nầy, nay được Phật Học Viện Quốc Tế in lại. Nội dung cũng giống như Chùa Phật Tổ in trước đây, không có gì mới lạ (2).

Qua lời phi lộ trên đây, độc giả biết sơ qua Nghi Thức Tụng Niệm của Phật Giáo Việt Nam đã chuyển biến qua từng giai đoạn. Thành thật mà nói, có một sự hình thành đổi mới qua từng giai đoạn, nhưng đà tiến triển quá chậm chạp, không theo kịp nhịp tiến hóa của xã hội văn minh hiện nay. Trước nhu cầu thiết yếu của giới Phật tử hải ngoại, ngôn ngữ phải được rõ ràng, không có thì giờ để chơi chữ. Trước sức lớn mạnh của dân tộc, không thể nào khép mình trong cái “kẹt” của văn tự. Do đó, tôi cố gắng hết sức mình, trong khả năng học vấn thô thiển, mạo muội dịch và soạn tất cả 16 NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY của hai giới Xuất Gia và Tại Gia. Đây là quyển Nghi Thức Tụng Niệm đầu tiên đầy đủ nhất bằng Việt ngữ của Phật Giáo Việt Nam. Về nội dung quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy giống như quyển Chư Kinh Nhật Tụng và Các Nghi Thức Thông Dụng mà quý vị đã trì tụng từ trước đến nay. Có khác là quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY hoàn toàn bằng Việt ngữ, là tiếng của mẹ Việt Nam, từ đầu quyển kinh cho đến hết, từ bài Nguyện Hương cho đến Tự Quy Y, trong suốt 17 Nghi Thức, và những bài phụ đính như 12 câu nguyện của Đức Quán Thế Âm, 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, và nhiều bài Sám Nguyện của Chư Tổ đều được dịch ra Việt ngữ. Cú pháp rõ ràng, lời văn bình dị, âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát để tất cả mọi người tụng niệm lãnh hội được ý nghĩa một cách dễ dàng. Hoàn toàn không có đoạn Hán Việt, chen vào một đoạn Việt ngữ như trong một vài quyển Nghi Thức Tụng Niệm vào buổi giao thời. Dĩ nhiên, trong lãnh vực nào cũng có một số danh từ đặc biệt của lãnh vực đó. Muốn hiểu tường tận, độc giả phải làm quen một thời gian mới hiểu rõ được. Đặc biệt về Phật học, môn học có trước kỷ nguyên Dương Lịch, đồng thời với tiếng Hán Việt, đã thấm nhuần vào tư tưởng và ngôn ngữ Việt Nam. Tuy quyển Kinh nầy hoàn toàn bằng Việt ngữ, nhưng một số danh từ Hán Việt đã được Việt hóa lâu đời, nên dịch giả vẫn để nguyên như là tiếng mẹ Việt Nam nguyên chất vậy. Nếu dịch ra, khi tụng niệm, âm thanh nghe không được chỉnh.

Tôi cũng xin thưa cùng chư Tôn Đức Tăng, Ni và Phật tử bốn phương rõ, về phương pháp dịch thuật và sắp xếp. Thoạt tiên, tôi nghĩ là dịch ra văn vần hết, Phật tử tụng dễ nhớ, nhưng nghĩ lại có một vài điều không hay. Những kinh nghĩa lý sâu xa như Bát Nhã, Kim Cang, khi dịch dùng thể văn xuôi diễn đạt chưa lột hết ý nghĩa kinh, nếu dùng văn vần e khó diễn đạt hết ý nghĩa sâu xa của Phật. Do đó, kinh văn vần, tôi dịch ra văn vần, văn xuôi, tôi dịch ra văn xuôi. Vả lại, nếu dịch ra văn vần hết cả, e rằng không tránh khỏi mùi vị cải lương.

Khi dịch tôi nhớ lời dạy của chư Tổ: “y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan, ly kinh nhứt tự, tức đồng ma thuyết.” Qua bao năm trở ngại, tôi cố gắng hết sức, đôi khi muốn bỏ cuộc chỉ vì một vài câu mất cả tháng trời, dịch thì được, nhưng chả có khí văn; không phải không hiểu ý kinh, nhưng không tìm ra từ để diễn đạt. Nếu căn cứ vào nghĩa của từng câu từng chữ để dịch, như câu: “thân phi nhứt lủ” trong nghi thức Quá Đường, nếu dịch “thân mang 1 sợi chỉ”, khi phục nguyện, quý thầy chắc không khỏi bụm miệng. Có nhiều câu trong Hán văn, tác giả đi quá trớn, như đoạn: “hồi hướng Tam Bảo chúng long thiên, thủ hộ Già Lam chư Thánh chúng” – thiên là trời, trời có thể gìn giữ đất chùa, rồng là con vật của tiền sử, có ai thấy đâu, rồng được giữ đất chùa (già lam), được người tụng kinh hồi hướng công đức để đền ơn. Ngày xưa, động đất (earthquake), các cụ không biết, cho là cù dậy. Cũng theo như quan niệm xưa, tu chưa thành thì làm cù nằm trong lòng đất, khi thành rồng thì được bay lên trời. Đây không phải là bài bình luận văn chương, hay phê bình trúng trật, dịch giả chỉ đưa ra một vài điều khó khăn trong khi dịch cho có chút xíu ánh sáng khoa học. Còn nhiều chỗ nữa, không dám nói nhiều, sợ tội.

Còn về các thần chú thì sao? – Cả sự huyền bí và phức tạp. Phức tạp ở chỗ, khi Phật tử Việt Nam tụng, người Ấn Độ, Trung Hoa, ngay cả người Việt Nam có học chữ Nho, không biết quý vị tụng tiếng gì, chỉ có quý Thầy thuộc lòng chú, mới biết quý vị tụng chú mà thôi. Từ trước đến nay, Phật tử tụng chú, không theo nghĩa (đã là chú không ai dịch nghĩa, vì là mật ngôn), lại không theo âm vận của tiếng Sanskrit, mặc dầu tất cả chú đều được sáng tác bằng tiếng Sanskrit. Người Trung Hoa dịch âm ra tiếng của họ (đồng với chữ Hán hay chữ Nho của chúng ta). Họ tụng, âm vận gần tiếng Sanskrit hơn người Việt, vì người Việt tụng theo âm tiếng Hán Việt. Ngay người Trung Hoa, một chữ viết giống nhau, như chữ , nhưng phát âm lại khác nhau.

Người Quảng Đông phát âm “Sực ” không giống người Hải Nam phát âm “chía “, lại khác với tiếng Phổ Thông (Mandarin) là “sư ” và Việt Nam là “thực ” vân vân (3). Vả lại, chúng ta không biết những vị dịch ra như Ngài Nghĩa Tịnh, Ngài Huyền Trang vân vân, thuở xưa phát âm theo miền nào, chỉ biết các ngài ở Trường An mà thôi. Người Việt đọc tiếng Hán Việt có nhiều âm na ná với tiếng Trung Quốc. Do đó, sự tụng niệm kinh chú của Phật Giáo đồ Việt Nam là một vấn đề nan giải cho những người có trách nhiệm. Sau đây tôi xin nêu chú Chuẩn Đề, về cách phát âm giữa Phật tử Việt Nam và Phật tử Trung Quốc, và cách phát âm mới bằng Việt ngữ, được viết trực tiếp từ tiếng Sanskrit, không phiên âm qua tiếng Hán Việt, để quý vị có cái nhìn trung trực, đâu là trúng và đâu là sai:

Nguyên văn chữ Sanskrit:

“Namo bhagavate bhaisajyaguru-vaidurya prabhàràjàya tathàgatàya arhate samyak-sambuddhàya tadyathà. Om bhaisajye bhaisajye bhaisajya-samudgate svàhà.”

Âm của người Trung Hoa:

“Na mwo bwo chye fa di, bi sha she, jyu lu bi lyou li, bwo la pwo, he la she ye, da two jye dwo ye, e la he di, san myau san pu two ye, da jr two. Nan, bi sha shr, bi sha shr, bi sha she, san mwo jye di swo he.”

Đọc theo âm tiếng Hán Việt:

“Nam mô Bạt dà phạt đế, bệ sát xả lu lô thích lưu ly, bát lặt bà hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tá ha.”

Đọc theo âm Việt ngữ, dịch thẳng từ tiếng Sanskrit, không qua tiếng Hán Việt:

“Na mô bha ga va tê, bhai sát gia gu ru- vai đu ri da, pra bha ra gia da, ta tha ga ta da, a ra ha tê, sam dát sam bút đa da, ta dy da tha, Um, bhai sát giê, bhai sát giê, bhai sát gia, sam mu ga tê soa ha” (4).

Nghĩa của Chú Chuẩn Đề: (chỉ tạm dịch thôi, đã là chơn ngôn, mật ngữ không nên dịch, để vậy tụng có nhiều công năng hơn.)

“Con xin tỏ lòng tôn kính Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, bậc A La Hán, bậc Giác Ngộ Tối Thượng, xin cầu nguyện cho sự trị bệnh, xin cầu nguyện cho sự trị bệnh, và xin được sự trị bệnh tối thắng của Đức Dược Sư.”

Qua sự so sánh trên, độc giả thấy cách đọc theo âm Việt ngữ thật sát với âm vận của tiếng Sanskrit. Người có học Sanskrit, nghe Phật tử tụng là biết Sanskrit ngay. Tôi có tụng thử cho Thầy Lokananda, người Ấn Độ nghe. Sau khi nghe, Thầy ấy khen tiếng Việt Nam thật đầy đủ âm vận, một ngôn ngữ âm thanh uyển chuyển dễ truyền cảm. Qua những thắng điểm vừa nêu trên, cần phải có sự sửa đổi cách phát âm các Thần Chú. Tôi xin mạnh dạn đề nghị, nên có một đại hội Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam toàn thế giới để chư Tôn Đức, chư thức giả Phật giáo đồng thanh phiên âm các thần chú từ tiếng Sanskrit ra thẳng âm Việt ngữ, không phải qua tiếng Hán Việt như từ trước đến giờ, và để sửa đổi một vài chỗ không thống nhất trong kinh tụng hằng ngày, khi thì Quán Tự Tại Bồ Tát, khi thì Quán Thế Âm Bồ Tát vân vân, để đánh dấu một bước tiến mạnh, tiến đúng mức của Phật Giáo Đồ Việt Nam. Mong thay!

Còn cách tụng niệm các thần chú trong quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy thì sao? – Xin thưa, biết sở trường và sở đoản vừa nêu trên, nhưng dịch giả không dám làm, vì những lý do như sau:

  1. Không có sự đồng ý của đại đa số chư Tôn Giáo Phẩm, và Phật tử bốn phương, e rằng khổ công làm ra chỉ gây xáo trộn đức tin thiêng liêng của toàn thể quý vị.
  2. Chờ sự tán đồng của đại đa số quý vị. Tuy chưa thực hiện được trong quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy, nhưng dịch giả vẫn thao thức.

Đây không phải là một tác phẩm vĩ đại, chỉ là sự sưu tập, dịch thuật, nhưng là NGHI THỨC CĂN BẢN, sự tiến bộ phi thường để đánh dấu khúc quanh quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp – từ cách tụng niệm bằng âm tiếng Hán Việt ra cách tụng niệm bằng tiếng Việt nguyên chất – Dĩ nhiên, ở giai đoạn đầu, chắc quý vị cũng như chúng tôi cảm thấy bỡ ngỡ khi tụng niệm bằng tiếng Việt, nhưng về lâu về dài cảm thấy thích hợp hơn. Vả lại, con em của chúng ta ở hải ngoại nói tiếng Việt không rành, làm sao chúng hiểu được ý nghĩa kinh, khi vào Chùa tụng niệm.

Trên cương vị dịch giả, soạn giả, tác tạo văn hóa, để đóng góp vào vườn văn học Việt Nam, nên tôi nêu lên một vài điểm có thể đúng, và có thể sai. Ngưỡng mong các vị thức giả chỉ giáo cho, để khi tái bản được hoàn hảo hơn. Nhưng trên đường giác ngộ, giải thoát, như lời Phật dạy:

“Nếu dùng sắc thấy ta Dùng âm thinh cầu ta Người ấy tu đạo tà Chắc là không thấy ta.” Hay là :

“Tất cả các pháp hữu vi

Như là mộng huyn, khác chi bóng hình Như sấm chớp, như âm thinh

Quán xem các pháp như hình ‘không hoa’.” Có gì đâu…

Trước khi dứt lời, xin dâng lên chư Tôn Đức, Tăng Ni đã chỉ dạy, đã dịch thuật, đã sáng tác, hay các Phật tử xa gần, hoặc trực tiếp hay gián tiếp giúp tôi hoàn thành quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy. Kính dâng công đức lên quý vị hiện tiền được vạn sự an lành, và vạn duyên thắng ý.

 

Cầu nguyện hương linh Nguyễn Văn Xướng, Huỳnh Thị Thâu, và toàn thể chúng sanh, một thời đồng giác ngộ, giải thoát.

Mùa Vu Lan 2532 – 1988

Sa Môn THÍCH THIỆN THANH

Ghi Chú :

  • Trong quyển The Hindu Colonies of the Far East, theo giáo sư R.C. Majumdar (Ramesh Chandra Majumdar), vào đầu thế ký I, trước kỷ nguyên Tây lịch, có một số tu sĩ Ấn Độ giáo và Phật giáo sang Champa, miền Trung Việt Nam, dạy người Việt tụng Kinh bằng tiếng Sanskrit. Và vào đầu thế kỷ thứ VIII, quân Hồi giáo tràn ngập xứ Ấn, có một số giáo sĩ lánh nạn sang Na Khom Ba Thủm (Thái Lan), Camponsom (Cambodia), và Chân Lạp (nay là các tỉnh miền Tây Nam Phần), có dạy tiếng Sanskrit cho người địa phương. Cả hai lần đó đều không thành công, vì ngôn ngữ cũng như văn hóa của người Việt đã ảnh hưởng văn hóa người Trung Hoa rất nhiều.
  • Đây không phải là bài phê bình văn học Phật giáo vào thời chuyển tiếp, chỉ là lời dẫn nhập ngắn gọn, nguyên lũy, một vài quyển Nghi Thức Tụng Niệm có trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy mà thôi. Vả lại, thư viện di cư nghèo nàn của Chùa Phật Tổ không cho phép tôi viết gì đầy đủ hơn.
  • Xin đọc theo tiếng Việt cho dễ phát âm.
  • Xin đọc chữ « v » theo giọng của người miền Bắc. Những phụ âm ghép, như bh, pr, xin đọc liền nhau, nếu có nguyên âm ghép vào, xin đọc như Việt ngữ.

     

     

    LỢI ÍCH‌

    TỤNG KINH NIỆM PHẬT

     

    Tụng Kinh Niệm Phật (Tụng là đọc, Niệm là nhớ) là miệng đọc tâm nhớ, tâm và miệng hợp nhất, nhất tâm đọc và nhớ lời Kinh và Danh Hiệu của Phật.

    Tụng Kinh Niệm Phật của hàng xuất gia hay tại gia để tỉnh thức tâm linh, và kiến tạo cho chính mình một cuộc sống an hòa. Lợi ích của sự Tụng Kinh Niệm Phật – ngoài công đức cho kẻ còn người mất – còn nói lên NẾP SỐNG ĐẠO. Nếp sống cố hữu của tổ tiên chúng ta là Tụng Kinh Niệm Phật để tích phước cho con cháu, mai nầy chúng sẽ được phú quý vinh hoa. Hơn nữa, sự Tụng Kinh Niệm Phật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như sau :

    • Tụng Kinh Niệm Phật giữ cho tâm được an lành, để dễ cảm thông với các Đấng Thiêng Liêng. Tụng Niệm rất dễ dàng huân tập các điều suy nghĩ tốt vào tâm thức.
    • Tụng Kinh Niệm Phật để ôn lại những lời dạy của Phật. Lấy đó làm kim chỉ nam cho nếp sống đạo.
    • Tụng Kinh Niệm Phật để giữ cho thân, miệng và ý được thanh tịnh, trang nghiêm và chính đáng.
    • Tụng Kinh Niệm Phật để cầu an, thì nghiệp chướng tích lũy trong nhiều đời nhiều kiếp sẽ dứt trừ, và tránh được những tai ương hạn ách có thể xảy ra trong bất cứ lúc nào.

       

    • Tụng Kinh Niệm Phật để cầu siêu, nhờ sức chú nguyện thanh tịnh, hoán đổi tâm niệm xấu của người chết đã tạo, giúp họ xa lìa cảnh giới tối tăm, và được sanh về thế giới An Lạc.
    • Tụng Kinh Niệm Phật để tỏ lòng ăn năn sám hối trước Phật đài, và kể từ nay, tâm niệm của mình được thanh tịnh, nghiệp chướng khổ đau không còn nữa.
    • Tụng Kinh Niệm Phật để Pháp Âm ngân vang, để cảnh tỉnh trần thế mê hoặc, và cảm hóa mọi người đang sống trong cảnh u tối lầm than.

       

      Vì những lợi ích trên, người đã tin Phật phải tụng kinh niệm Phật, và tụng niệm cho đúng cách. Khi tụng niệm nên giữ cho trang nghiêm, tránh mọi sự ồn ào phức tạp, tránh mọi điều làm kích động tâm ý, đắm lợi mê danh, tham luyến trần tục. Chỉ tụng niệm trước Tam Bảo, trong Đạo Tràng thanh tịnh, hoặc nơi trang nghiêm, hoặc nơi thích hợp chính đáng, không nên tụng niệm trước chỗ thờ quỷ thần, cúng cá thịt, đốt vàng mã theo tục lệ mê tín dị đoan, không thích hợp với Phật Pháp.

       

       

       

       

      ĐỨC NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT

      NGHI THỨC‌

      CÔNG PHU KHUYA

      [Kinh Lăng Nghiêm (Sùramgama Sùtra)]

       

      GỒM CÓ :

       

      • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
      • Cúng Hương
      • Cầu Nguyện
      • Khen Ngợi Phật
      • Quán Tưởng Phật
      • Đảnh Lễ
      • Kinh Lăng Nghiêm
      • Đại Bi và Thập Chú
      • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
      • Hồi Hướng Công Đức
      • Sám Quy Mạng
      • Tán Lễ
      • Tam Quy

     

    DÙNG CHO:

    Người chân tu, trong đêm khuya vắng vẻ, trì tụng để dứt hết oan khiên, nghiệp chướng sâu dày, đã tác tạo lũy kiếp về trước. Hơn nữa người nhiều tối tăm, u mê ám chướng, trì tụng nhiều Thần Chú sẽ được sáng láng minh mẫn, đời sống được an lành hạnh phúc, không bị tà ma nhiễu hại.

     

    Nghi Thức

    CÔNG PHU KHUYA

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện dâng hương mầu nầy Cúng dường tất cả Phật

    Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề

    Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát, tác đại chứng minh.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Đệ tử chúng con nguyện thập phương thường trú Tam Bảo, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, từ bi gia hộ chúng con, bồ đề tâm

     

    kiên cố, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cùng pháp giới chúng sanh, một thời đồng chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

     

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    KINH LĂNG NGHIÊM

    NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên

    Vô minh dứt sạch, chứng liền Pháp Thân.

     

    Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng Thân, tâm nầy nát như trần (bụi)

    Hồng ân chư Phật, chút phần báo ơn.

    (1 tiếng chuông)

     

    Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước

    Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn.

     

    Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi

    Giúp con dứt sạch sân, si, buồn, phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan

    Nguyện con kiên cố không hề lung lay

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

    Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc bấy giờ, từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. Trong mỗi hoa sen, có Hóa Phật ngồi, từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích, ông bưng núi, ông cầm xử vân vân, đứng khắp cõi hư không. Đại chúng trông thấy, vừa mừng vừa sợ, đều cầu Phật thương xót che chở, và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú:

    (1 tiếng chuông)

     

    ĐỆ I

    Nam mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa. Tát đát tha Phật đà câu tri sắc ni sam. Nam mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ. Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm. Nam mô lô kê a la hán đa nẩm. Nam mô tô lô đa ba na nẩm.

     

    Nam mô ta yết rị đà già di nẩm. Nam mô lô kê tam miệu già đa nẩm, tam miệu già ba ra để ba đa na nẩm. Nam mô đề bà ly sắt nỏa. Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt nỏa. Xá ba noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm. Nam mô bạt ra ha ma ni. Nam mô nhơn đà ra da. Nam mô bà già bà đế, lô đà ra da, ô ma bát đế, ta hê dạ da. Nam mô bà già bà đế, na ra dả noa da, bàn giá ma ha tam mộ đà ra. Nam mô tất yết rị đa da. Nam mô bà già bà đế, ma ha ca ra da, địa rị bác lặc na già ra, tỳ đà ra ba noa ca ra da, a địa mục đế, thi ma xá na nê bà tất nê, ma đát rị già noa. Nam mô tất yết rị đa da. Nam mô bà già bà đế, đa tha già đa cu ra da. Nam mô bát đầu ma cu ra da. Nam mô bạt xà ra cu ra da. Nam mô ma ni cu ra da. Nam mô già xà cu ra gia. Nam mô bà già bà đế, đế rị trà du ra tây na, ba ra ha ra noa ra xà da, đa tha già đa da. Nam mô bà già bà đế, nam mô a di đa bà da, đa tha dà đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà

     

    da. Nam mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da. Nam mô bà già bà đế, bệ sa xà da, cu lô phệ trụ rị da, bát ra bà ra xà da, đa tha già đa da. Nam mô bà già bà đế, tam bổ sư bí đa tát lân nại ra lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da. Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già đa tha, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da. Nam mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da. Đế biều, nam mô tát yết rị đa, ế đàm bà già bà đa, tát đác tha già đô sắc ni sam, tát đác đa bác đác lam. Nam mô a bà ra thị đam, bác ra đế vương kỳ ra, tát ra bà bộ đa yết ra ha, ni yết ra ha yết ca ra ha ni bạc ra bí địa da sất đà nể, a ca ra mật rị trụ, bát rị đát ra da nảnh yết rị, tát ra bà bàn đà na mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra, đột tất phạp bát na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẩm. Yết ra ha ta ha tát ra nhã xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc

     

    tra băng xá đế nẩm, na xoa sát đác ra nhã xà, ba ra tát đà na yết rị, a sắc tra nẩm, ma ha yết ra ha nhã xà, tỳ đa băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà ra nhã xà, hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni, bí sa xá tất đác ra, a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bát ra thị đa cu ra ma ha bác ra chiến trì, ma ha điệp đa, ma ha đế xà, ma ha thuế đa xà bà ra, ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể a rị da đa ra, tỳ rị cu tri, thệ bà tỳ xà da, bạc xà ra ma lễ để, tỳ xá lô đa, bột đà dõng ca, bạt xà ra chế hắt na a giá, ma ra chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ xá ra giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa, tô ma lô ba, ma ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra a bác ra, bạt xà ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu lam đà rị, bạt xà ra hắc tát đa giá, tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca, khuất tô mẫu bà yết ra đa na, bệ lô giá na cu rị da, dạ ra thố sắt ni sam tỳ chiết lam bà ma ni giá, bạt xà ra ca na ca ba ra bà, lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá, thuế đa giá

     

    ca ma ra sát xa thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà ra yết noa, ta bệ ra sám, quật phạm đô, ấn thố na mạ mạ tỏa.

    (1 tiếng chuông)

     

    ĐỆ II

     

    Ô hồng, rị sắt yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng, đô lô ung chiêm bà na. Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đô lô ung ba ra sắc địa da tam bác xá noa yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, tát bà dược xoa hắt ra sát ta, yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, giả đô ra thi để nẫm, yết ra ha, ta ha tát ra nẫm, tỳ đằng băng tát na ra. Hổ hồng, đô lô ung, ra xoa, bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta ha tát ra thất rị sa, cu tri ta ha tát nê đế lệ, a tệ đề thị bà rị đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra, đế rị bồ bà na, man trà ra; ô hồng,

     

    ta tất đế bạc bà đô, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

    (1 tiếng chuông)

     

    ĐỆ III

     

    Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô đà ca bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà dạ, lặc xà đàng trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ, dược xoa yết ra ha, ra xoa tư yết ra ha, tất rị đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, bổ đơn na yết ra ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xã đa ha rị nẩm, yết bà ha rị nẩm, lô địa ra ha rị nẩm, mang ta ha rị nẩm, mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị

     

    nẩm, xà đa ha rị nữ, thị tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm, bà đa ha rị nẩm, a du giá ha ri nữ, chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha nẩm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, ba rị bạt ra giả ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, trà diễn ni hất rị đởm, ty đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha bát du bác đát dạ, lô đà ra hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra dạ noa hất ri đởm, ty đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, đát đỏa già lô trà tây hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, ca ba rị ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, xà dạ yết ra, ma độ yết ra tát bà ra tha ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nể hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị tri, nan đà kê sa ra, dà noa bác đế, sách hê dạ hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà

     

    dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, a la hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xà ra ba nể, cu hê dạ cu hê dạ, ca địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà, sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra thoa vỏng, bà dà phạm, ấn thố na mạ mạ tỏa.

    (1 tiếng chuông)

     

    ĐỆ IV

     

    Bà già phạm, tát đát đa bác đác ra, nam mô tý đô đế, a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra thập Phật ra, đà ra đà ra, tần đà ra tần đà ra sân đà sân đà. Hổ hồng hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn, ba ra ba ra đà phấn, a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn, tát

     

    bà đề bệ tệ phấn, tát bà na già tệ phấn, tát bà dược xoa tệ phấn, tát bà kiền thát bà tệ phấn, tát bà bổ đơn na tệ phấn, ca tra bổ đơn na tệ phấn, tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn, tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn, tát bà thập bà lê tệ phấn, tát bà a bá tất ma lê tệ phấn, tát bà xá ra bà noa tệ phấn, tát bà địa đế kê tệ phấn, tát bà đát ma đà kê tệ phấn, tát bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ yết ra, tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn, tỳ địa dạ, giá lê tệ phấn, giả đô ra, phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà ra cu ma rị, tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương xoa tỳ rị tệ phấn, bạt xà ra thương yết ra dạ, ba ra trượng kỳ ra xà da phấn, ma ha ca ra da, ma ha mạt đát rị ca noa. Nam mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn, bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha yết rị duệ phấn, yết ra đàn trì duệ phấn, miệc đát rị duệ phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ phấn, yết la ra đát rị duệ phấn, ca bác rị duệ phấn, a địa mục chất đa ca thi ma xá na bà tư nể duệ phấn, diễn kiết chất, tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

    (1 tiếng chuông)

     

    ĐỆ V

     

    Đột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già bà ha ra, lô địa ra ha ra, ta bà ha ra, ma xà ha ra, xà đa ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, kiền đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết ra ha, ra sát ta yết ra ha, bế lệ đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền đà yết ra ha, ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, trạch khê trách trà kỳ ni yết ra ha, rị Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni yết ra ha, lao đà ra nan địa ca yết ra ha, a lam bà yết ra ha, kiền độ ba ni yết ra ha. Thập phạt ra yên ca hê ca, tri đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột thác ca, ni đề thập phạt ra, tỷ sam ma thập phạt ra, bạc để ca, tỷ để ca, thất lệ sắt mật ca, ta nể bác đế ra, tát bà thập phạt ra, thất lô kiết đế, mạt đà bệ đạt lô chế kiếm, a ỷ lô kiềm, mục khê lô kiềm, yết rị đột lô kiềm, yết ra ha yết lam, yết noa du lam, đản đa du lam, hất rị dạ du lam, mạt mạ du lam, bạt rị thất bà du lam, tỷ lật sắc tra du lam, ô đà ra du lam, yết tri du lam, bạt tất đế du lam, ô lô du lam, thường già du lam, hát tất đa du lam, bạt đà du lam, ta phòng án già bác ra trượng già du lam, bộ đa tỷ đa trà, trà kỳ ni thập bà ra, đà đột lô ca, kiến đốt lô kiết tri, bà lộ đa tỳ tát bác lô, ha lăng già, du sa đát ra, ta na yết ra, tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca, mạt ra bệ ra kiến đa ra, a ca ra mật rị đốt đát liểm bộ ca, địa lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na cu ra, tứ dẫn già tệ, yết ra rị dược xoa, đác ra sô, mạt ra thị, phệ đế sam ta bệ sam, tất đát đa, bác đát ra, ma ha bạc xà lô sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng kỳ lam, dạ ba đột đà, xá dụ xà na, biện đát lệ noa, tỳ đà da bàn đàm ca lô di, đế thù bàn đàm ca lô di, bát ra tỳ đà bàn đàm ca lô di, đác điệt tha.

    Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng đô lô ung phấn, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

    Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    THẬP CHÚ

     

    • CHÚ NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG

      Nam mô Phật Đà Da Nam mô Đạt Ma Da Nam mô Tăng Già Da.

      Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát, cụ đại bi tâm giả, đát điệt tha. Án, chiết yết ra phạt để, chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế, rô rô rô rô, để sắc tra, thước ra a yết rị, sa dạ hồng, phấn ta ha. Án, bát đạp ma, chấn đa mạt ni, thước ra hồng. Án, bát lặc đà, bát đẳng mế hồng.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG

      Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm, a bát ra để, hạ đa xá, ta nẳng nẩm, đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, ta phạ ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ CÔNG ĐỨC BẢO SƠN
    • Nam mô Phật Đà Da Nam mô Đạt Ma Da Nam mô Tăng Già Da.

      Án tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ

      Khể thủ quy y tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi, ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô

       

      tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ, Chuẩn Đề, ta bà ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG

       

      Án nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, thiệt chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp. Án tát rị ba, tang tư cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại, tang mã ngột cả đế, ta ba ngỏa, tỷ thuật đế, mã hát nại dã, bát rị ngỏa rị tá hát.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH

      Nam mô bạt dà phạt đế bệ sát xả lụ lô thích lưu ly, bát lặc bà hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà

       

      da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tá ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ QUÁN ÂM LINH CẢM

      Án ma ni bát di hồng, ma hát nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp cát, nạp bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thát ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da, tá ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI

      Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, ta bà ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

      Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô, bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di

       

      rị đa, tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÚ THIỆN THIÊN NỮ Nam mô Phật Đà Nam mô Đạt Mạ Nam mô Tăng Già

Nam mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, ba lỵ phú lầu na, giá lỵ tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể, ba ra, ba nể, tát rị phạ lạt tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt ma đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha a nậu, đà la ni.

(1 tiếng chuông)

 

KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

 

Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài

 

soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

“Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

“Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng

 

tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

(1 tiếng chuông)

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Đại chúng hiện tiền tâm thanh tịnh Phúng tụng các Chú và Lăng Nghiêm Hồi hướng công đức đến nhân, thiên

Có công gìn giữ tôn nghiêm Phật đường, Xa lìa khổ: ba đường, tám nạn

Đền ơn sâu: thầy, tổ, vua, cha Quốc gia thế giới an hòa

 

Can qua dứt sạch, cửa nhà yên vui.

(1 tiếng chuông)

 

Đại chúng gắng tu cầu giải thoát Chóng lên bờ Chánh Giác dễ dàng Ba môn dứt hết tai nàn

Người tin theo Phật phước càng thâm sâu.

 

Có thể biết sát trần tâm niệm Có thể uống nước cả đại dương Hư không có thể đo lường

Công Đức chư Phật vô phương nghĩ bàn.

 

Trong vũ trụ không ai hơn Phật

Mười phương xa không thể sánh bằng Thế gian con thấy hết rằng

Tất cả không có ai bằng Thế Tôn.

(1 tiếng chuông)

Chúng con nguyền theo đấng Đạo Sư, thầy dạy khắp trời, người, cha lành chung bốn loại, hiện trăm ngàn hóa thân, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

(1 tiếng chuông, đại chúng vừa niệm Bổn Sư vừa đi kinh hành, khi đứng lại, niệm mỗi danh hiệu Bồ Tát 3 lần, 1 tiếng chuông).

 

Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát

Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ

Tát.

 

SÁM QUY MẠNG

 

Quy mạng mười phương Vô Thượng Giác Pháp mầu vi diệu đã tuyên dương

Thánh Tăng tứ quả tam thừa độ

Hiển hiện tay vàng nguyện xót thương. Ngược dòng chơn tánh từ lâu

Chúng con trôi nổi trên đầu sông mê Biết đâu là chốn đường về

Bập bềnh sóng nước không hề đoái lui

Nguyên nhân hữu lậu gây rồi

Bao nhiêu nghiệp chướng lâu đời tạo ra

 

Biết đâu nẻo chánh đường tà

Oan khiên nghiệp chướng thật là nặng

sâu

Nay con khẩn thiết cúi đầu

Phơi bày sám hối cần cầu hồng ân Chí thành cầu đấng Năng Nhơn Từ Bi cứu vớt trầm luân mọi loài Nguyện cùng thiện hữu ra khơi Cùng lên bờ giác lìa nơi não phiền Kiếp này xin nguyện xây thêm

Cao tòa phước đức vững bền đạo tâm Chờ mong đạo nghiệp vun trồng

Từ Bi cứu độ nở mầm tốt tươi Kiếp sau xin được làm người

Sanh ra gặp Pháp sống đời chân tu

Dắt dìu nhờ bậc minh sư

Nương vào chánh tín, hạnh từ xuất gia Lục căn tam nghiệp thuận hòa

Không vương tục lụy theo đà thế nhân Một lòng tấn đạo nghiêm thân

Giữ gìn phạm hạnh nghiệp trần lánh xa Oai nghi phong độ chói lòa

 

Lòng từ hộ mạng trước là vị sanh Lại thêm đầy đủ duyên lành

Bao nhiêu tai nạn biến thành hư không Bồ Đề nguyện kết một lòng

Đài sen Bát Nhã chơn không hiện tiền Nhờ công tu tập tinh chuyên

Đại thừa liễu ngộ chứng truyền chơn tâm Thoát ngoài kiếp ải trầm luân

Hoằng khai lục độ hạnh môn cứu người Pháp tràng dựng khắp nơi nơi

Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không Tà ma hàng phục đến cùng

Truyền đăng Phật pháp nối dòng vô

chung

Vâng làm Phật sự mười phương

Không vì lao nhọc nản đường tinh chuyên Bao nhiêu diệu Pháp thâm uyên

Thảy đều thông đạt siêu nhiên độ mình Rồi đem khắp độ chúng sanh

Chứng nên Phật quả hoàn thành Pháp

thân

Tùy cơ ứng biến cõi trần

 

Phân thân vô số độ dần chúng sanh Nước từ rưới khắp nhân thiên

Mênh mông bể hận lời nguyền độ tha Khắp hòa thế giới gần xa

Diễn dương diệu Pháp trước là hiện thân Những nơi khổ thú trầm luân

Hào quang chiếu diệu hiện thân tốt lành Chỉ cần thấy dạng nghe danh

Muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau.

Phát lời nguyện ước cao siêu

(1 tiếng chuông)

Muôn ngàn khổ địa thảy đều tiêu tan

Bao nhiêu nghiệp trái hàm oan

Bao nhiêu đau khổ trong hàng súc sinh Bao nhiêu thần lực oai linh

Sương tan núi biếc bình minh rạng ngời Thuốc thang cứu cấp cho đời

Áo cơm cứu giúp cho người bần dân Bao nhiêu lợi ích hưng sùng

An vui thực hiện trong vòng trầm luân Bao nhiêu quyến thuộc thân an

Cùng nguyền vượt biển trần gian nổi chìm

 

Xa lìa ái nhiễm liên miên

Đoạn trừ những nỗi phược triền chơn

tâm

Vun trồng đạo nghiệp thiện nhân Cùng bao loài khác phát tâm hướng về Hư không dù có chuyển di

Nguyện con muôn kiếp chẳng hề lung lay Nguyện cầu vạn pháp xưa nay

Hoàn thành trí nghiệp đến nơi Bồ Đề.

(1 tiếng chuông)

 

TÁN LỄ

 

Xưng tán Đức Thế Tôn Đấng vô thượng Năng Nhơn Từng trải vô lượng kiếp

Tu nhân lành giải thoát Từ Đẩu Xuất giáng thần.

(1 tiếng chuông)

Giã từ ngôi quốc vương Ngồi gốc Đại Bồ Đề Phá hết chúng ma quân

Một sáng, sao Mai hiện Chứng nên Đạo Bồ Đề Liền chuyển bánh xe Pháp Độ muôn loài chúng sanh

Hàng Tam Thừa quy ngưỡng Đạo Vô Sanh viên thành.

Đại chúng đang quy ngưỡng Đạo Vô Sanh sẽ thành

Bốn loài, chín cõi đồng về

Mười phương cõi Phật bốn bề trang nghiêm Ba đường, tám nạn đảo điên

Nương vào “biển tuệ” vô biên sáng ngời.

(1 tiếng chuông)

 

TAM QUY

 

Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

 

 

ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

 

NGHI THỨC‌

CẦU AN

[Phẩm Phổ Môn (Avalokitesvara varga)]

 

GỒM CÓ:

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Dương Chi
  • Chú Đại Bi
  • Kệ Khai Kinh
  • Phẩm Quán Thế Âm (Phổ Môn)
  • Ngợi Khen Đức Quán Âm
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Nguyện An Lành
  • Sám Cầu An
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

    DÙNG ĐỂ:

    Cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi, gia đình bình an. Phật tử nên phân biệt, Kinh Dược Sư để cầu nguyện cho được bình an, dứt hết những tật bịnh từ thân thể mình có ra, như đau yếu, chiêm bao vân vân. Tụng Phẩm Phổ Môn để được bình an, vượt thoát những tai nạn do hoàn cảnh bên ngoài tạo nên, như đụng xe, bị cướp giựt vân vân.

     

    Nghi Thức

    CẦU AN

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

     

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Giới Hương, Định Hương, và Huệ Hương Giải Thoát, Giải Thoát, Tri Kiến Hương Sáng ngời, chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo, Năm Hương cúng dường.

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

    Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay, đệ tử chúng con, phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trì tụng Phổ Môn Kinh Chú, xưng tán Hồng Danh, tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo, từ bi gia hộ… (quý danh hay đệ tử chúng đẳng), phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, thường được an lành, xa lìa khổ ách, cùng hết thảy

     

    chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy, chỉ chủ lễ xướng)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng

    Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

     

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đại chúng đồng tụng)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại

     

    Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN DƯƠNG CHI

     

    Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian

    Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế

     

    thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra

     

    dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    PHẨM PHỔ MÔN

     

    PHẬT NÓI KINH PHÁP HOA PHẨM PHỔ MÔN THỨ HAI MƯƠI LĂM

     

    Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai mặt, chắp tay hướng Phật và bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát do nhơn duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?”

    (1 tiếng chuông)

     

    Phật bảo Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các sự khổ não, thoáng nghe Quán Thế Âm Bồ Tát, hay một lòng xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát liền được giải thoát. Nếu có người trì danh hiệu

     

    Quán Thế Âm Bồ Tát, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy đặng, nhờ sức oai thần của Bồ Tát. Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát liền đặng đến chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm các thứ châu báu, như: vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, vân vân, vào trong biển lớn. Giả sử gió bão thổi ghe thuyền của kẻ kia trôi tắp nơi nước của quỉ La Sát. Trong số đó, nếu có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời những người kia đều đặng thoát khỏi nạn quỉ La Sát. Do nhơn duyên đó, tên là Quán Thế Âm.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người kia cầm gãy từng khúc, liền đặng thoát khỏi. Nếu quỉ Dạ xoa cùng La Sát đầy trong cõi Tam Thiên Đại Thiên muốn đến hại người; nghe người xưng

     

    danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, các quỉ đó không thể dùng mắt dữ nhìn người huống lại làm hại đặng. Lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích, trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thảy đều đứt rã, liền đặng thoát khỏi.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nếu có người thương gia dắt đoàn người buôn, mang theo nhiều của báu, đi ngang qua đường hiểm trở, nhiều kẻ oán tặc. Trong số đó, có một người nói rằng: “Các thiện nam tử, chớ có sợ sệt! Các ông phải nên một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát đó, hay đem pháp Vô Úy, thí cho chúng sanh, nếu các ông xưng danh hiệu Ngài sẽ được thoát khỏi nơi oán tặc này.” Đoàn người buôn nghe xong, đều xưng niệm: “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.” Nhờ xưng danh hiệu Bồ Tát, nên họ được thoát khỏi. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm

     

    Đại Bồ Tát có sức oai thần rộng lớn như thế!

    Nếu chúng sanh nhiều tham lam, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền hết tham lam. Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền hết giận hờn. Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền hết ngu si. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần rộng lớn, nhiều sự lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ đến Ngài.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nếu có người nữ muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức trí huệ; muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, mọi người kính mến. Nếu chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, phước đức chẳng mất, cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm

     

    Bồ Tát. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần như thế!

    Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát, lại trọn đời cúng dường thức ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của thiện nam tín nữ đó có nhiều chăng?

    (1 tiếng chuông)

    Vô Tận Ý thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.”

    Phật dạy: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước đức của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận. Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.”

    Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát dạo đi

     

    trong cõi Ta Bà như thế nào? Phương tiện thuyết Pháp của Ngài ra sao?”

    (1 tiếng chuông)

     

    Phật bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật để độ thoát, Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Bích Chi Phật để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Bích Chi Phật để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Thinh Văn để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Thinh Văn để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Phạm Vương để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Phạm Vương để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Đế Thích để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Ðế Thích để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tự Tại Thiên để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Tự Tại Thiên để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên để nói

     

    pháp. Nơi đáng dùng thân Thiên Đại Tướng Quân để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tỳ Sa Môn để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Tỳ Sa Môn để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tiểu Vương để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Tiểu Vương để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Trưởng Giả để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Trưởng Giả để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Cư Sĩ để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Cư Sĩ để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tể Quan để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Tể Quan để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Bà La Môn để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Bà La Môn để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di để nói pháp. Nơi đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng Giả, Cư Sĩ, Tể Quan, Bà La Môn để độ thoát, Bồ Tát liền

     

    hiện thân phụ nữ để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Đồng Nam, Đồng Nữ để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Đồng Nam, Đồng Nữ để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhơn cùng Phi Nhơn, vân vân, để độ thoát, Bồ Tát liền hiện những thân đó để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Thần Chấp Kim Cang để độ thoát, Bồ Tát liền hiện thân Thần Chấp Kim Cang để nói pháp. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát trọn nên công đức như thế, dùng nhiều thân hình dạo đi trong các cõi nước, để độ thoát chúng sanh. Vì vậy, các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông)

     

    Ở trong chỗ tai nạn, sợ sệt, Quán Thế Âm Bồ Tát hay ban cho sự vô úy, nên trong cõi Ta Bà này, Ngài có tên là Thí Vô Úy.

    Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng:

    “Thế Tôn! Con nay xin cúng dường Quán

     

    Thế Âm Bồ Tát. Ngài liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu, giá trị trăm nghìn lượng vàng nơi cổ đem cúng dường cho Ngài Quán Thế Âm, và nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi ngọc trân bảo pháp thí này.”

    Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi.

    Ngài Vô Tận Ý lại thưa Quán Thế Âm Bồ Tát: “Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này.”

    Bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên thương Vô Tận Ý và hàng Tứ Chúng, cùng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn và Phi Nhơn vân vân, mà nhận chuỗi ngọc này.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Tức thời, Quán Thế Âm Bồ Tát thương hàng Tứ Chúng, Trời, Rồng, Nhơn và Phi Nhơn vân vân, nhận chuỗi ngọc đó và chia làm hai phần: một phần dưng cúng Đức

     

    Thích Ca Mâu Ni, một phần để vào tháp của Đức Phật Đa Bửu. “Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần tự tại hiện thân khắp cõi Ta Bà như thế.”

    Lúc đó, Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật rằng:

    (1 tiếng chuông)

     

    “Thế Tôn đủ tướng tốt! Con nay được thăm hỏi Phật tử nhơn duyên gì Tên là Quán Thế Âm?” Đức Phật trả lời rằng: “Này ông Vô Tận Ý

    Ông nghe hạnh Quán Âm Hiện thân khắp các nơi.

    Lời thề sâu như biển Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

    Hầu nhiều nghìn Đức Phật. Phát nguyện thanh tịnh lớn Ta vì Ông lược nói

    Nghe tên cùng thấy thân

     

    Tâm niệm chẳng luống qua Hay diệt khổ các nơi.

    Giả sử sanh lòng hại Xô rớt hầm lửa lớn

    Do sức niệm Quán Âm Hầm lửa biến thành ao. Hoặc trôi dạt biển lớn Các nạn quỉ, cá, rồng Do sức niệm Quán Âm

    Sóng mòi chẳng chìm đặng. Hoặc ở chót Tu Di

    Bị người xô rớt xuống Do sức niệm Quán Âm

    Như mặt nhựt treo không. Hoặc bị người dữ rượt Rớt xuống núi Kim Cang Do sức niệm Quán Âm Chẳng tổn đến mảy lông.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hoặc gặp oán tặc vây Đều cầm dao làm hại Do sức niệm Quán Âm

     

    Đều liền sanh lòng lành. Hoặc bị khổ nạn vua Khi hành hình sắp chết Do sức niệm Quán Âm Dao liền gẫy từng đoạn. Hoặc tù cấm xiềng xích Tay chơn bị gông cùm Do sức niệm Quán Âm Tháo rã đặng thoát khỏi.

    Nguyền rủa, các thuốc độc Muốn hại đến kẻ khác

    Do sức niệm Quán Âm Trở lại nơi người hại.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hoặc gặp La Sát dữ Rồng độc, các loài quỉ Do sức niệm Quán Âm Liền đều không dám hại. Hoặc thú dữ vây quanh Nanh vút nhọn đáng sợ Do sức niệm Quán Âm Vội vàng bỏ chạy thẳng.

     

    Rắn độc cùng bò cạp Hơi độc, khói lửa đốt Do sức niệm Quán Âm Nghe tiếng tự bỏ đi.

    Mây sấm nổ sét đánh Tuôn giá, xối mưa lớn Do sức niệm Quán Âm Liền được tiêu tan cả. Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán Âm sức trí diệu Hay cứu khổ thế gian.

    (1 tiếng chuông)

     

    Đầy đủ sức thần thông Rộng tu trí phương tiện Các cõi nước mười phương Không cõi nào chẳng hiện Các loài trong đường dữ Địa ngục, quỉ, súc sanh Sanh, già, bịnh, chết khổ Lần lần đều dứt hết.

    Chơn quán, thanh tịnh quán

     

    Trí huệ quán rộng lớn Bi quán và từ quán

    Thường nguyện thường chiêm ngưỡng Sánh thanh tịnh không nhơ

    Huệ nhật phá các tối Hay phục tai gió lửa Khắp soi sáng thế gian. Lòng bi răn như sấm Ý từ diệu dường mây Xối mưa Pháp Cam Lộ Dứt trừ lửa phiền não.

    (1 tiếng chuông)

     

    Cãi kiện qua chỗ quan Trong quân trận sợ sệt Do sức niệm Quán Âm Cừu oán đều lui tan.

    Diệu Âm, Quán Thế Âm Phạm Âm, Hải Triều Âm Tiếng hơn thế gian kia Cho nên thường phải niệm Niệm niệm chớ sanh nghi Quán Âm bực Tịnh Thánh

     

    Nơi khổ não nạn chết Ngài là nơi nương cậy. Đủ tất cả công đức

    Mắt lành trông chúng sanh Biển phước lớn không lường Chúng ta nên đảnh lễ.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Bấy giờ, Ngài Trì Địa Bồ Tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật và bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe đạo nghiệp và sự thị hiện thần thông tự tại của Quán Thế Âm Bồ Tát này, phải biết công đức của người đó chẳng ít.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Khi Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong hội có tám muôn bốn ngàn chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

     

    PHẬT NÓI

    KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

     

    PHẨM PHỔ MÔN

     

    CHƠN NGÔN VIẾT

    Án, đa rị đa rị, đốt đa rị, đốt đốt đa rị,

    ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN

     

    Án, ma ni bát minh hồng.

    (7 lần, 1 tiếng chuông)

     

    NGỢI KHEN ĐỨC QUÁN ÂM

     

    Phổ Môn thị hiện Cứu khổ nhân sinh Thuyền từ lướt sóng Bốn biển điêu linh

     

    Trùng dương vọng tiếng hồn kinh

    Quán Âm ứng hiện, chúng sinh thoát nàn. Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    (Muốn tụng thêm 12 đại nguyện của Đức Quán Thế Âm, xin mở trang số 461)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc,

     

    không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

     

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    NGUYỆN AN LÀNH

     

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Bổn Sư ban an lành.

    (1 tiếng chuông)

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Tam Bảo giúp an lành.

    (1 tiếng chuông)

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Hộ pháp giúp an lành.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ

    Tát.

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

     

    SÁM CẦU AN

     

    Con quỳ lạy Phật chứng minh

    Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền Cầu cho tín chủ hiện tiền

    Nội gia quyến thuộc bình yên điều hòa. Thọ trường hưởng phước nhàn ca

    Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi Quán Âm phò hộ vui chơi

    Mười hai câu niệm độ đời nên danh. Thiện nam tín nữ lòng thành

    Ăn chay niệm Phật làm lành vái van

     

    Quán Âm xem xét thế gian

    Rước người chìm nổi mười phương phiêu trầm.

    (1 tiếng chuông)

    Mau mau niệm Phật Quán Âm

    Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa Đương cơn lửa cháy đốt ta

    Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng. Gió đông đi biển chìm thuyền

    Niệm danh Bồ Tát sóng tan hết liền. Tà ma quỉ báo khùng điên

    Niệm danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan. Vào rừng cọp rắn nghinh ngang

    Niệm danh Bồ Tát nó càng chạy xa. Tội tù ngục tối khảo tra

    Quán Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng. Bị trù bị ếm mê man

    Quán Âm niệm niệm vái van tịnh bình Quán Âm thọ ký làm tin

    Tùy duyên thuyết Pháp độ mình hết mê. Nương theo Bồ Tát trở về

    Thấy mình ngồi gốc Bồ Đề giống in

     

    Tay cầm bầu nước tịnh bình

    Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng Cam lồ rưới khắp thế gian

    Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn Quán Âm cứu hết tai nàn

    Độ đời an lạc mười phương thái bình Quán Âm điểm đạo độ mình

    Quán Âm Bồ Tát chứng minh độ đời.

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Cầu an công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu.

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành

     

    Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

     

    Tam Bảo chứng minh, oai thần hộ niệm, hôm nay, đệ tử chúng con, một dạ chí thành, trì tụng Kinh Chú xưng tán Hồng Danh, cầu nguyện cho Phật tử (tên họ:… pháp danh:… tại:…), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bệnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, quyến thuộc khương ninh, pháp giới chúng sinh, trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

    ĐỨC A DI ĐÀ TIẾP DẪN

     

    NGHI THỨC‌

    CẦU SIÊU hay TỊNH ĐỘ

    [Kinh A Di Đà (Amitàyus Sùtra)]

    GỒM CÓ:

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Hương Cúng Phật
  • Chú Đại Bi
  • Xướng và đọc sớ (nếu có)
  • Quy Y Linh
  • Pháp Ngữ Sám Hối
  • Kệ Khai Kinh
  • Kinh A Di Đà
  • Thệ Nguyện Của Phật A Di Đà
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Chú Vãng Sanh
  • Niệm Phật
  • Sám Từ Vân
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cầu nguyện cho những người quá cố được siêu thoát cảnh khổ đau, sớm về nơi cõi Phật. Vì vậy, khi cha mẹ hay thân nhân qua đời, là người con hiếu nên đưa hương linh vào Chùa làm lễ cầu siêu.

    Tịnh Độ (Tịnh là trong sạch, Độ là cõi hay nước) có nghĩa là cõi Phật. Ở đây, chữ Tịnh Độ là một thời tụng kinh chỉ cầu nguyện sanh về cõi Tịnh Độ mà thôi. Thời kinh này thường tụng vào mỗi tối. Thường thì chỉ tụng Kinh Di Đà, Bát Nhã, Chú Vãng Sanh, Niệm Phật, Sám Nguyện, Hồi Hướng, và Tam Quy, các phần khác được lược bớt.

     

    Nghi Thức

    CẦU SIÊU hay TỊNH ĐỘ

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương

     

    Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

    Chóng quay về Bờ Giác.

     

    Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Nay có Phật tử tên là:…, tạ thế ngày:…, tại:…, chúng con một dạ chí thành, ngưỡng cầu Tam Bảo, Từ Bi gia hộ cho hương linh, phát tâm Bồ Đề rộng lớn, dứt sạch nghiệp chướng sâu dày, được sanh về thế giới an lành.

     

    Nam Mô Tiếp Dẫn hương linh A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

     

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ

     

    Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT

     

    Lư hương vừa ngún chiên đàn,

    Khắp xông pháp giới, đạo tràng mười phương,

    Quyện thành mây báu kiết tường,

    Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành, Pháp thân ảnh hiện rành rành,

    Chứng minh hương nguyện, tâm thành

    kính dâng.

    Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ,

     

    na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

    (2 lần, 1 tiếng chuông)

     

    (Nếu có sớ, chủ lễ xướng rồi đọc, nếu không bớt phần này)

     

    XƯỚNG SỚ

     

    Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn

    Con nay, dâng sớ cúng dàng

    (cầu an, cầu siêu…)

    Cúi xin Phật Tổ, lâm đàn chứng minh.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUY Y LINH

     

    Hương linh quy y Phật. Hương linh quy y Pháp. Hương linh quy y Tăng.

     

    Hương linh quy y Phật, Đấng phước trí vẹn toàn. Hương linh quy y Pháp, Đạo thoát ly tham dục.

    Hương linh quy y Tăng, Bậc tu hành cao tột.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hương linh quy y Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp,

    không quy y thiên, thần, quỉ, vật. Hương linh quy y Pháp,

    nguyện đời đời kiếp kiếp, không quy y ngoại đạo tà giáo. Hương linh quy y Tăng, nguyện đời đời kiếp kiếp, không quy y tổn hữu ác đảng.

     

    Hương linh đã quy y Phật. Hương linh đã quy y Pháp. Hương linh đã quy y Tăng.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hương linh vốn tạo các nghiệp ác, Đều bởi vô thỉ tham, sân, si,

    Từ thân, miệng, ý phát sinh ra, Tất cả, hương linh đều sám hối.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ nguyện)

     

    Nguyện: Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá, Hiện, Vị Lai, Thập

     

    Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Thường Trú Tam Bảo, tiếp độ hương linh.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng hòa)

     

    Vãng sanh Cực Lạc Quốc.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    Hương linh vốn tạo các nghiệp ác, Đều bởi vô thỉ tham, sân, si,

    Từ thân, miệng, ý phát sanh ra, Tất cả, hương linh đều sám hối.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ nguyện)

     

    Nguyện: Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát, tiếp độ hương linh.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng hòa)

     

    Vãng sanh Cực Lạc Quốc.

     

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    Hương linh vốn tạo các nghiệp ác, Đều bởi vô thỉ tham, sân, si,

    Từ thân, miệng, ý phát sinh ra,

    Tất cả, hương linh đều sám hối.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ nguyện)

     

    Nguyện: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát, tiếp độ hương linh.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng hòa)

     

    Vãng sanh Cực Lạc Quốc.

    (Chủ lễ, tay trái bưng bát nước Cam Lồ, tay mặt bắt ấn, và xướng)

     

    PHÁP NGỮ SÁM HỐI

     

    Hương linh hãy lắng nghe: Tội do tâm tạo bao đời,

     

    Đem tâm sám hối, tội thời diệt vong, Tội vong, tâm diệt đều không,

    Chơn tâm sám hối, tội đồng tiêu tan. Nam Mô cầu sám hối Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    (Làm phép sái tịnh cho tang chủ, chỉ chủ lễ xướng)

     

    Nguyện hương linh từ vô thỉ đến ngày nay.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng hòa)

     

    Tội tiêu diệt.

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ

     

    Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Phật ở vườn Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc nước Xá Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Đại Tỳ Kheo, đều là bậc Đại A La Hán, như là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, những vị đại đệ tử như thế, và hàng Đại Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, các vị Đại Bồ Tát như thế, với vô lượng chư thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhơn vân vân, toàn thể đều đến dự hội.

    (1 tiếng chuông)

     

    Bấy giờ, Đức Phật bảo ngài trưởng lão

    Xá Lợi Phất: “Từ đây qua phương Tây

     

    quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong thế giới đó, có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện nay đương nói pháp.” Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui,

    nên nước đó tên là Cực Lạc.

    Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.

    Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy đủ Nước Tám Công Đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Trong ao, có hoa sen lớn như bánh xe, hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng,

     

    sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sáng trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch. Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy.

    Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của Đức Phật đó, thường trỗi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa Trời Mạn Đà La. Chúng sanh trong cõi đó, sáng sớm, thường mang hoa tốt cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn, liền trở về bổn quốc, ăn cơm xong, đi kinh hành. Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy.

    (1 tiếng chuông)

    Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi đó thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cọng Mạng; những giống chim đó, ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã. Tiếng chim đó diễn nói Pháp mầu như Ngũ Căn, Ngũ Lực,

     

    Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, vân vân. Chúng sanh trong cõi đó, nghe tiếng chim xong, thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng! Xá Lợi Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của Đức Phật đó không có ba đường dữ, không có tên ba đường dữ huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó do Đức Phật A Di Đà muốn cho tiếng Pháp được tuyên lưu mà biến hóa ra.

    Xá Lợi Phất! Trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ lung lay các hàng cây báu, và mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, như trăm nghìn thứ nhạc đồng hòa một lúc. Người nghe tiếng đó, đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất! Cõi Đức Phật A Di Đà trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy!

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Ý Ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?

     

    Xá Lợi Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi sáng các nước trong mười phương không bị chướng ngại, vì thế nên hiệu là A Di Đà.

    Xá Lợi Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.

    Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà từ ngày thành Phật đến nay, đã được mười kiếp.

    Xá Lợi Phất! Lại Đức Phật đó có vô lượng vô biên Thinh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà biết được, hàng Bồ Tát cũng đông như thế. Xá Lợi Phất! Cõi nước của Đức Phật đó trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy.

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Những chúng sanh trong cõi Cực Lạc đều là bực bất thối chuyển. Trong đó, có rất nhiều vị nhứt sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a tăng kỳ để nói thôi!

     

    Xá Lợi Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phát nguyện sanh về nước đó. Vì sao? Vì được câu hội một chỗ với các bực thượng thiện nhơn. Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.

    Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam, tín nữ nghe nói Đức Phật A Di Đà, trì niệm danh hiệu của Đức Phật đó, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn, đến lúc lâm chung, Đức Phật A Di Đà cùng hàng thánh chúng hiện thân trước người đó. Lúc chết, tâm thần không điên đảo, người đó liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Xá Lợi Phất! Nếu có chúng sanh nào, nghe những lời lợi ích trên đây nên phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.

     

    Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà. Phương Đông, cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên, nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của kinh này, Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Nam, có Nhựt Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức

     

    không thể nghĩ bàn của kinh này, Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Tây, có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bửu Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của kinh này, Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Bắc, có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên, nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công

     

    đức không thể nghĩ bàn của kinh này, Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Dưới, có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên, nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của kinh này, Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

    Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Trên, có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bửu Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bửu Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, hằng hà sa số Đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm

     

    khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên, nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của kinh này Chư Phật thường hộ niệm.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Xá Lợi Phất! Ý của ông nghĩ thế nào, vì sao chư Phật thường khen ngợi kinh này? Xá Lợi Phất! Nếu có người nào nghe kinh này mà thọ trì và nghe danh hiệu của các Đức Phật, thời người ấy được chư Phật ủng hộ và được giác ngộ giải thoát. Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận

    lời của ta và của các Đức Phật nói.

    Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, và sẽ phát nguyện sanh về cõi của Đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

     

    Xá Lợi Phất! Thiện nam, tín nữ nào có lòng tin, nên phát nguyện sanh về cõi kia.

    Xá Lợi Phất! Như Ta hôm nay, ngợi khen công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật, và chư Phật cũng ngợi khen công đức không thể nghĩ bàn của Ta, như: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm được việc rất khó khăn, rất ít có ngay trong cõi Ta Bà đầy năm ác trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì các chúng sanh, Ngài nói Pháp này, tất cả thế gian đều khó tin.

    Xá Lợi Phất! Phải biết rằng, trong đời ác năm trược, thực hành việc khó này, Ta thành bậc Vô Thượng Chánh Giác. Thật khó thay! Vì tất cả thế gian, Ta nói Pháp khó tin này.

    Đức Phật nói kinh này xong, Ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ Kheo, tất cả trong đời, Trời, Người, A Tu La vân vân, nghe

     

    lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận, đảnh lễ và lui ra.

    (1 tiếng chuông)

     

    NGỢI KHEN

    CÔNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

     

    Giáo chủ cõi Tây Phương Đức Phật A Di Đà

    Phát bốn mươi tám nguyện Hướng dẫn đường chúng sanh. Đài sen rực rỡ sẵn sàng

    Quán Âm, Thế Chí, hai hàng tiếp nghinh.

     

    Nam Mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát Ma Ha

    Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    (48 lời nguyện của Ngài, xin mở Phần Phụ Đính, trang 464)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có

     

    chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ VÃNG SANH

     

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ,

    đa địa dạ tha, a di rị đô bà tì,

     

    a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lan đế,

    a di rị đa tì ca lan đa, dà di nị dà dà na,

    chỉ đa ca lệ ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

    SÁM TỪ VÂN

     

    Một lòng mỏi mệt không nài

    Cầu về Cực Lạc ngồi đài Liên Hoa. Cha lành vốn thiệt Di Đà

    Soi hào quang tịnh chói lòa thân con Thẳm sâu ơn Phật hằng còn

    Con nay chánh niệm lòng son một bề Nguyện làm nên Đạo Bồ Đề

    Chuyên lòng niệm Phật cầu về Tây Phương.

    (1 tiếng chuông)

     

    Phật xưa lời thệ tỏ tường

    Bốn mươi tám nguyện dẫn đường chúng

    sanh

    Nguyện rằng: ai phát lòng lành Nước Ta báu vật để dành các ngươi Thiện nam tín nữ mỗi người

    Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra Ta không rước ở nước Ta

    Thệ không làm Phật chắc là không sai.

    Bởi vì tin tưởng Như Lai

    Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng Lời thệ biển rộng mênh mông

    Nhờ nương Đức Phật thoát vòng trần lao. Tội mòn như đá mài dao

    Phước lành thêm lớn càng cao càng dày Cầu cho con thoát biết ngày

    Biết giờ biết khắc biết rày tánh linh

    Cầu cho bịnh khổ khỏi mình

    Lòng không trìu mến chuyện tình thế gian Cầu cho thần thức nhẹ nhàng

    Y như Thiền Định họ Bàng thuở xưa. Đài vàng tay Phật bưng chờ

     

    Các vị Bồ Tát bây giờ đứng trông Rước tôi thật đã rất đông

    Nội trong giây phút thảy đồng về Tây. Xem trong cõi Phật tốt thay

    Hoa sen đua nở tánh nay sạch trần Hồi này thấy Phật chân thân

    Đặng nghe Pháp nhiệm tâm thần sáng trưng

    Quyết tu độ hết phàm dân

    Giữ lời thệ nguyện Phật ân rộng dài Phật thệ chắc thật không sai

    Người nào niệm Phật lên ngay sen vàng. Cầu về Tịnh Độ một nhà

    Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình Hoa nở rồi biết tánh linh

    Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Cầu siêu công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu

     

    Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu. Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang Cha mẹ, sen vàng chín phẩm sanh

    Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Xe Tam Thừa lộng lẫy, Thuyền Bát Nhã thênh thang, sáu đường dốc ngược đèo ngang, ba cõi sông mê lặn hụp, thảm nỗi oan khiên lắm lúc, hương linh không đủ phước vãng sanh. Nguyện hương linh:

    … nay được an lành, nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ, vượt qua bể khổ, thoát khỏi Ta Bà, sen vàng chín phẩm nở hoa,

     

    pháp thân hiện Di Đà thọ ký. Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh

    Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

    ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT

     

    NGHI THỨC‌

    SÁM HỐI

    (Ksamà Uposatha Vidhi)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Dương Chi
  • Chú Đại Bi
  • Kệ Khai Kinh
  • Kinh Hồng Danh
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Niệm Phật
  • Sám Hối Phát Nguyện
  • Chú Thất Phật Diệt Tội
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy
  • Pháp Ngữ Sám Hối

     

    DÙNG ĐỂ:

    Dứt hết các tội lỗi đã gây ra, và ngăn ngừa các điều xấu có thể xảy ra trong tương lai.

     

    Nghi Thức

    SÁM HỐI

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương

     

    Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

    Chóng quay về Bờ Giác.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Đệ tử chúng con nguyện ngôi Tam Bảo thường trú trong mười phương, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, chứng minh cho chúng con. Chúng con lâu đời lâu kiếp, tâm tánh hôn mê, chẳng kể chánh tà, gây nhiều tội ác, tổn người hại vật, báng Phật, Pháp, Tăng, hôm nay một dạ chí thành, nguyện xin sám hối, ngưỡng mong oai đức

     

    Từ Bi, nhủ lòng lân mẫn, gia hộ cho chúng con, tội chướng tiêu trừ, căn lành thêm lớn, cùng pháp giới chúng sanh, tu Đạo Bồ Đề, trang nghiêm phước huệ, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng

     

    Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN DƯƠNG CHI

     

    Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian

    Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di

     

    hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất

     

    rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm,

     

    Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH HỒNG DANH

     

    Nam Mô Hồng Danh Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Đại Từ Đại Bi thương chúng sanh Đại Hỉ Đại Xả cứu muôn loài Thân vàng tướng tốt sáng ngời

    Chúng con đảnh lễ Phật thời chứng minh.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    Nam mô quy y Kim Cang Thượng Sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con nay phát tâm chẳng vì tự cầu phước báo nơi chốn Nhơn Thiên hay quả Thinh Văn, Duyên Giác, nhẫn đến các quả vị Bồ Tát tối cao, con chỉ phát lòng Bồ Đề rộng lớn nguyện cho chúng sanh trong pháp giới,

     

    cùng một lúc, đồng chứng ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    (1 tiếng chuông)

     

    Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả các Đức Phật.

    Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả Tôn Pháp.

    Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả Hiền Thánh Tăng.

    Nam Mô Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

    (mỗi câu, 1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Nam Mô Phổ Quang Phật. Nam Mô Phổ Minh Phật. Nam Mô Phổ Tịnh Phật.

    Nam Mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật.

    Nam Mô Chiên Đàn Quang Phật.

     

    Nam Mô Ma Ni Tràng Phật.

    Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Ma Ni Bửu Tích Phật.

    Nam Mô Nhứt Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật.

    Nam Mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật. Nam Mô Huệ Cự Chiếu Phật.

    Nam Mô Hải Đức Quang Minh Phật. Nam Mô Kim Cang Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật.

    Nam Mô Đại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Phật.

    Nam Mô Đại Bi Quang Phật. Nam Mô Từ Lực Vương Phật. Nam Mô Từ Tạng Phật.

    Nam Mô Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm Thắng Phật.

    Nam Mô Hiền Thiện Thủ Phật. Nam Mô Thiện Ý Phật.

    Nam Mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật.

    Nam Mô Kim Hoa Quang Phật.

     

    Nam Mô Bửu Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật.

    Nam Mô Hư Không Bửu Hoa Quang Phật. Nam Mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật.

    Nam Mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật. Nam Mô Bất Động Trí Quang Phật.

    Nam Mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật.

    Nam Mô Tài Quang Minh Phật. Nam Mô Trí Huệ Thắng Phật.

    Nam Mô Di Lặc Tiên Quang Phật.

    Nam Mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật.

    Nam Mô Thế Tịnh Quang Phật.

    Nam Mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.

    Nam Mô Nhựt Nguyệt Quang Phật.

    Nam Mô Nhựt Nguyệt Châu Quang Phật. Nam Mô Huệ Tràng Thắng Vương Phật. Nam Mô Sư Tử Hẩu Tự Tại Lực Vương Phật.

     

    Nam Mô Diệu Âm Thắng Phật.

    Nam Mô Thường Quang Tràng Phật. Nam Mô Quang Thế Đăng Phật.

    Nam Mô Huệ Oai Đăng Vương Phật. Nam Mô Pháp Thắng Vương Phật.

    Nam Mô Tu Di Quang Phật.

    Nam Mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật. Nam Mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật.

    Nam Mô Đại Huệ Lực Vương Phật.

    Nam Mô A Súc Tỳ Hoan Hỉ Quang Phật. Nam Mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật.

    Nam Mô Tài Quang Phật. Nam Mô Kim Hải Quang Phật.

    Nam Mô Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật.

    Nam Mô Đại Thông Quang Phật.

    Nam Mô Nhứt Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật.

    Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Kim Cang Bất Hoại Phật.

     

    Nam Mô Bửu Quang Phật.

    Nam Mô Long Tôn Vương Phật. Nam Mô Tinh Tấn Quân Phật.

    Nam Mô Tinh Tấn Hỷ Phật. Nam Mô Bửu Hỏa Phật.

    Nam Mô Bửu Nguyệt Quang Phật. Nam Mô Hiện Vô Ngu Phật.

    Nam Mô Bửu Nguyệt Phật. Nam Mô Vô Cấu Phật.

    Nam Mô Ly Cấu Phật. Nam Mô Dõng Thí Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Phật.

    Nam Mô Thanh Tịnh Thí Phật. Nam Mô Ta Lưu Na Phật.

    Nam Mô Thủy Thiên Phật. Nam Mô Kiên Đức Phật.

    Nam Mô Chiên Đàn Công Đức Phật. Nam Mô Vô Lượng Cúc Quang Phật. Nam Mô Quang Đức Phật.

    Nam Mô Vô Ưu Đức Phật. Nam Mô Na La Diên Phật. Nam Mô Công Đức Hoa Phật.

     

    Nam Mô Liên Hoa Quang Du Hí Thần Thông Phật.

    Nam Mô Tài Công Đức Phật. Nam Mô Đức Niệm Phật.

    Nam Mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật.

    Nam Mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật.

    Nam Mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật. Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật.

    Nam Mô Thiện Du Bộ Phật.

    Nam Mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công

    Đức Phật.

    Nam Mô Bửu Hoa Du Bộ Phật.

    Nam Mô Bửu Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật.

    Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật.

    (3 tiếng chuông, lạy 1 lạy, đồng tụng)

     

    Các Đức Phật, thường trụ trong đời, nên thương xót chúng con. Hoặc đời này của con, hoặc đời trước của con, con từ vô thỉ,

     

    sống chết đến nay, gây nhiều tội lỗi, hoặc tự con làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm, con vui mừng theo. Đồ vật của chùa, đồ vật của Thầy hay của các Thầy, hoặc tự con lấy, hoặc bảo người lấy, hoặc thấy người lấy, con vui mừng theo. Năm tội vô gián, hoặc tự con làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm, con vui mừng theo. Mười điều bất thiện, hoặc tự con phạm, hoặc bảo người phạm, hoặc thấy người phạm, con vui mừng theo. Bao nhiêu tội chướng của con gây ra, hoặc có che dấu, hoặc không che dấu, đáng đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh cùng các ác thú, chốn biên địa, hạng hạ tiện, kẻ khốn cùng. Những tội chướng đáng đọa vào các nơi khổ báo như thế, nay con đều sám hối.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nay, chư Phật nên chứng biết cho con. Con lại đối trước chư Phật tác bạch rằng: “Hoặc đời này của con, hoặc đời khác của

     

    con đã từng bố thí, hoặc giữ giới trong sạch, nhẫn thí cho chim muông một vắt cơm, hoặc đã tu hạnh thanh tịnh có bao nhiêu căn lành, thành tựu chúng sanh có bao nhiêu căn lành, tu hành Đạo Bồ Đề có bao nhiêu căn lành, cho đến đã từng phát tâm vô thượng Phật trí có bao nhiêu căn lành, tất cả căn lành đó, con đều hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Bao tội đều sám hối, các phước trọn vui theo, và công đức thỉnh phật, cầu nên trí vô thượng. Khứ, lai, hiện tại Phật, hơn tất cả chúng sanh, công đức không thể lường, con nay xin đảnh lễ:

     

    Trong bao nhiêu mười phương cõi nước Cả ba đời các Đức Như Lai

    Ba nghiệp thanh tịnh hôm nay

    Chúng con đảnh lễ, xin Ngài chứng minh.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Sức oai thần Phổ Hiền hạnh nguyện Trước Như Lai khắp hiện tự thân Mỗi thân lại hiện trần thân

    Thân thân lễ khắp sát trần Thế Tôn.

     

    Trong một trần có trần số Phật. Đều thật là các bậc Thượng Nhơn Khắp cùng pháp giới xa gần

    Kính tin chư Phật, muôn phần vinh hoa. Biển âm thanh đều hòa trọn vận

    Diệu ngôn từ vô tận khắp vang Vị lai muôn kiếp trăm ngàn

    Ngợi khen Phật đức, phước càng thâm sâu.

    (1 tiếng chuông)

     

    Tràng hoa đẹp rất xinh thơm ngát Cùng hương hoa, kỹ nhạc lộng tàn Bao nhiêu đồ tốt trang hoàng

    Cúng dường chư Phật, con toàn kính dâng.

    Y tối thắng cùng hương tối thắng

    Với đuốc đèn, hương phấn, hương xông Đều nhiều như Diệu Cao Phong

    Cúng dường chư Phật, con đồng dâng lên.

     

    Tâm thắng giải mênh mông con dụng Phật ba đời thảy cũng tin kiên

    Con nương hạnh nguyện Phổ Hiền

    Cúng dường chư Phật khắp miền Lạc

    Bang.

    Các tội ác xưa con lầm lỡ

    Do tham sân muôn thuở gây nên Từ thân miệng ý phát lên

    Nay con sám hối báo đền lỗi xưa.

    (1 tiếng chuông)

     

    Chúng sanh khắp mười phương các cõi Hàng Nhị Thừa “Có Học Cùng Không” Như Lai Bồ Tát rất đông

    Có bao công đức con đồng vui theo. Trong mười phương có người chứng quả Quả ban đầu là quả Bồ Đề

    Con xin cung kính thỉnh về

    Diễn dương chánh Pháp Bồ Đề cao siêu. Các Đức Phật muốn toan nhập diệt Con chí thành mải miết ân cần

    Cúi xin ở mãi kiếp trần

    Để cho lợi lạc khắp quần sanh linh.

     

    (1 tiếng chuông)

    Bao nhiêu phước cúng dường bái lạy Thỉnh Phật cùng ở tại thế gian

    Vui mừng sám hối được an

    Con cầu Phật Đạo huy hoàng nơi nơi.

     

    Nguyện đem công đức có từ lâu Pháp giới vô biên, con nguyện cầu Tánh, tướng Tam Bảo nhiệm mầu

    Hải Ấn Tam Muội dung vào Tục, Chơn. Biển công đức không sao kể xiết

    Nay, con nguyền tha thiết cầu cho: Chúng sanh nghiệp chướng quá to

    Thảy đều dứt sạch buồn lo miên trường. Trí huệ khắp sáng soi muôn cõi

    Độ chúng sanh chẳng nệ mỏi mòn Dù cho thế giới không còn

    Nguyện con vẫn giữ sắt son đời đời. Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (2 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có

     

    chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

     

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời,

     

    Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

     

    Đệ tử kính lạy

    Đức Phật Thích Ca Phật A Di Đà

    Thập phương chư Phật Vô lượng Phật Pháp Cùng Thánh Hiền Tăng. Đệ tử lâu đời lâu kiếp Nghiệp chướng nặng nề Tham giận kiêu căng

    Si mê lầm lạc

    Ngày nay nhờ Phật Biết sự lỗi lầm Thành tâm sám hối.

    (1 tiếng chuông)

     

    Thề tránh điều dữ Nguyện làm việc lành Ngửa trông ơn Phật Từ Bi gia hộ

    Thân không tật bệnh Tâm không phiền não

     

    Hằng ngày an vui tu tập Pháp Phật nhiệm mầu Để mau ra khỏi luân hồi Minh tâm kiến tánh

    Trí huệ sáng suốt Thần thông tự tại

    Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng Cha mẹ anh em

    Thân bằng quyến thuộc Cùng tất cả chúng sanh Đồng thành Phật Đạo.

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI

    Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Sám hối công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu

     

    Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu.

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát đạo, cứu đời lầm than.

     

    Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng, nơi hóa sanh

    Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Đệ tử (chúng con)… chí thành lễ Phật Hồng Danh, sám hối công đức, chuyên vì

     

    cầu nguyện, hiện tiền (chư) Phật tử, tội diệt phước sanh, căn lành thêm lớn, phước huệ trang nghiêm, nghiệp chướng oan khiên, nhiều đời nhiều kiếp, thảy đều dứt hết, trí tánh thường minh, pháp giới chúng sanh, trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (3 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    PHÁP NGỮ SÁM-HỐI

     

    Tội do tâm tạo bao đời,

    Đem tâm sám hối, tội thời diệt vong, Tội vong, tâm diệt đều không,

    Chơn tâm sám hối, tội đồng tiêu tan. Nam Mô cầu sám hối Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

     

     

    TIÊU DIỆN ĐẠI SĨ

     

    NGHI THỨC‌

    THÍ THỰC CÔ HỒN

    (Preta Àhàra Pùjà)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Án Thỉnh Cô Hồn
  • Mông Sơn Thí Thực
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Chú Vãng Sanh
  • Niệm Phật
  • Sám Cầu Siêu
  • Tán Lễ
  • Khuyến Tu
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cúng thí các cô hồn, những người chết bất đắc kỳ tử, bà con họ hàng không ai hay biết. Oan hồn vất vưởng thê lương, không nơi nương tựa. Phật tử nên phân biệt cô hồn và hương hồn hay vong hồn. Hương hồn hay hương linh, là những người sau khi chết có cha, mẹ, vợ, con hay thân bằng quyến thuộc thờ cúng tại nhà hay tại chùa. Cô hồn như vừa nói trên.

     

    Nghi Thức

    THÍ THỰC CÔ HỒN

    (Công phu chiều hằng ngày, nên tụng Di Đà, Hồng Danh và Đại Hạnh để cúng cháo. Nếu cúng vào những ngày đặc biệt, nên theo đúng nghi thức này. Đại chẩn tế cô hồn còn nghi thức khác nữa.)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương.)

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện dâng hương mầu này

    Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói

    Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề

     

    Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá, chỉ chủ lễ nguyện)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay, Phật tử chúng con…, tại…, sắm sửa hương hoa phẩm vật, cúng thí Âm Hồn Các Đảng, vất vưởng thê lương, không nhà không cửa, không nơi nương tựa, đói khát thảm thương, hoặc nơi chiến trường hoang dã, ngã gục tan thây, hoặc nơi thâm sơn cùng cốc, rắn độc gấu beo, hoặc nơi sông sâu biển rộng, cá sấu vây quanh, xé nát thân ra, từng manh miếng nhỏ. Tất cả oan hồn yểu tử, nay mời về núp bóng Từ Quang, dự đàn thí thực, nương

     

    nhờ Phật lực, câu kinh, sớm được siêu sinh Tịnh Độ. Ngưỡng mong oai đức cao dày, từ bi gia hộ.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy. Cắm hương xong, chủ lễ xướng)

     

    ÁN THỈNH CÔ HỒN

     

    Hỡi cô hồn trước sau tề tựu Nghe lời khuyên để sửa lỗi mình Quán Âm, Địa Tạng oai linh

    Thích Ca Phật Tổ, câu kinh giải nàn.

     

    Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất Noi tâm lành của Phật làm gương Ta Bà cực khổ trăm đường

    Mau tu thì được Phật thương cứu độ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hỡi hương hồn chết chìm đáy biển Và bao người ngộ độc bỏ thân Nghe chuông thức tỉnh dần dần

     

    Đừng ham danh lợi phù trần nhiễu nhương.

     

    Hỡi cô hồn chết thiêu chết chém Hổ giảo thân bị yểm bị trù

    Kíp tìm kinh kệ sớm tu

    Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

     

    Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa Chết phong ba, chết giữa núi non Khi nghe chuông giục boong boong

    Hương thơm tỏa khắp, hồn còn nghe kinh

     

    Hỡi hồn ở đầu gành cuối bãi Nương gió mây, phảng phất lời xưa Hồn ơi, hồn hỡi tránh chừa

    Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

     

    Các hồn bị gấu, beo, rắn cắn Cùng những hồn số vắn vô danh Hãy nghe Kinh Kệ ăn năn

    Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

     

    Hỡi những hồn vì lời dèm xiểm Đã hủy mình chết lụn căm gan Sớm nghe Kinh Kệ, lời vàng Phật liền dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

     

    Xin hồn tỉnh hướng về Phật Tổ Ngài từ bi cứu độ vong linh Bao hồn sinh tử tử sinh

    Hôm nay hồn được nghe Kinh Pháp mầu.

    (1 tiếng chuông, đồng tụng)

     

    MÔNG SƠN THÍ THỰC

     

    Nam Mô Diệm Nhiên Vương Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Lửa đói đốt thành sắt chảy Cô hồn đói khát than van Muốn sanh về chốn Lạc Bang

    Hoa Nghiêm phúng tụng vài hàng như sau: “Nếu muốn biết rõ:

    Ba đời chư Phật

     

    Quán ‘Pháp Giới Tánh’ Đều do tâm tạo.”

     

    CHÚ PHÁ ĐỊA NGỤC

    Án dà ra đế da ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ THỈNH CÔ HỒN

    Nam mô bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ GIẢI OAN KIẾT

    Án tam đà ra dà đà ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa

    Nghiêm Kinh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam mô thường trụ thập phương Phật, Nam mô thường trụ thập phương Pháp, Nam mô thường trụ thập phương Tăng.

     

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương Bồ Tát,

    Nam mô khải giáo A Nan Đà Tôn Giả.

    (7 câu trên, tụng 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật đấng phước trí vẹn toàn Quy y Pháp đạo thoát ly tham dục Quy y Tăng bậc tu hành cao tột.

    Quy y Phật rồi, Quy y Pháp rồi, Quy y Tăng rồi.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Phật tử đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ tham, sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả Phật tử đều sám hối.

    Chúng sanh đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ, tham, sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả chúng sanh đều sám hối.

     

    Cô hồn đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ, tham, sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả cô hồn đều sám hối.

     

    Chúng sanh không số lượng, Thệ nguyện đều độ hết, Phiền não không cùng tận, Thệ nguyện đều dứt sạch, Pháp môn không kể xiết, Thệ nguyện đều tu học, Phật Đạo không gì hơn,

    Thệ nguyện trọn viên thành.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Chúng sanh không số lượng, Con nguyện đều độ hết, Phiền não không cùng tận, Con nguyện đều dứt sạch, Pháp môn không kể xiết, Con nguyện đều tu học, Phật Đạo không gì hơn,

    Con nguyện trọn viên thành.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ DIỆT ĐỊNH NGHIỆP

    Án bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG

    Án a lổ lặc kế ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ KHAI YẾT HẦU

    Án bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ TAM MUỘI DA GIỚI

    Án tam muội da tát đỏa phạm.

    (4 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ BIẾN THỰC

    Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ CAM LỒ THỦY

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ NHỨT TỰ THỦY LUÂN

    Án noan noan noan noan noan.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ NHŨ HẢI

    Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam mô Đa Bảo Như Lai Nam mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai Nam mô Quảng Bát Thân Như Lai Nam mô Ly Bố Úy Như Lai

    Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai Nam mô A Di Đà Như Lai.

    (7 câu trên, tụng 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Oai linh thần chú phi thường, (thực phẩm) biến thành Tịnh Pháp Thực, cúng thí vô số chúng Phật tử, cầu cho no ấm hết xan tham, thoát khỏi U Minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả Phật tử Đồng Pháp Thực.

    Oai linh thần chú phi thường, (Thế Pháp) biến thành Pháp Thí Thực, cúng thí vô số loài chúng sinh, cầu cho no ấm, hết xan tham, thoát khỏi U Minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả chúng sanh Đồng Pháp Thực.

    Oai linh thần chú phi thường, (nước mát) biến thành nước cam lồ, cúng thí vô số chúng cô hồn, cầu cho no ấm, hết xan tham, thoát khỏi U Minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên

     

    bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả cô hồn Đồng Pháp Thực.

     

    Tất cả chúng Phật tử

    Tôi nay nguyện cúng dường

    Cơm này biến khắp mười phương

    Các hàng Phật tử, miên trường ấm no.

    Nguyện đem công đức này

    Hướng về khắp tất cả Tôi và các Phật tử

    Đều trọn thành Phật Đạo.

    Tất cả chúng hữu tình

    Tôi nay nguyện cúng dường

    Cơm này biến khắp mười phương Hữu tình các loại miên trường ấm no. Nguyện đem công đức này

    Hướng về khắp tất cả

    Tôi và các chúng sanh Đều trọn thành Phật Đạo. Tất cả chúng cô hồn

    Tôi nay nguyện cúng dường

    Cơm này biến khắp mười phương

     

    Cô hồn các loại miên trường ấm no. Nguyện đem công đức này

    Hướng về khắp tất cả Tôi và các cô hồn

    Đều trọn thành Phật Đạo.

     

    CHÚ THÍ VÔ GIÁ THỰC

    Án mục lực lăng ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG

    Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư

     

    Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

     

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ VÃNG SANH

     

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ,

    đa địa dạ tha, a di rị đô bà tì,

    a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lan đế,

    a di rị đa tì ca lan đa,

     

    dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha.

    (5 lần, 1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM CẦU SIÊU

     

    Trên bảo tọa khói hương nghi ngút Tấm lòng thành chí thiết từ đây Mây lành năm sắc phủ vây

    Chở che nhân loại lắm thay oan hồn. Vẫn biết chữ “tử quy sanh ký” Người trần ai ai dễ sống lâu

    Nhân vì nghĩa nặng ân sâu

    Thương tình đồng loại với nhau một giòng Sanh bất hạnh nhầm đời mạt Pháp

    Chịu trăm bề khốn khổ xiết bao Sống thời vất vả lao đao

     

    Chết không toàn thể thây giao tử thần. Nay (chúng con) hết lòng cầu khẩn Xin Phật từ cứu độ vong linh

    Ngưỡng nhờ chư Phật cao minh

    Xót thương nhân loại phù sinh vô thường. Hễ có sinh là có bi thương

    Kiếp luân hồi lắm nẻo tai ương Hữu hình hữu hoại, vô thường

    Có không không có là phường phù du. Dầu tài sắc trăm năm vẫn thế

    Kiếp phù sinh há dễ sống lâu Oan hồn trôi nổi đâu đâu

    Ráng nghe kinh kệ ngõ hầu siêu thăng. Xin kíp đến quy y Tam Bảo

    Nước nhành dương rửa sạch lòng trần Gội nhuần Phật Đức thâm ân

    Bao nhiêu tội chướng cũng lần tiêu tan. Nay hết lúc hồn vương ảo ảnh

    Kíp trở về thắng cảnh Tây Phương Oan hồn nương khói hương thơm Tiêu diêu Cực Lạc sớm hôm an nhàn.

    (1 tiếng chuông)

     

    TÁN LỄ

     

    Tán lễ Tây Phương Cực Lạc thanh lương

    Sen vàng chín phẩm ngát hương Cây báu bảy hàng

    Nhạc trời reo vang A Di Đà Phật

    Phóng ánh hào quang

    Hóa Đạo chúng sanh vô lượng Đến bờ giải thoát an vui

    Hiện tiền đệ tử xưng dương Cầu sanh An Dưỡng

    Hiện tiền đại chúng tán dương Đồng sanh An Dưỡng.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ xướng)

     

    KHUYẾN TU

     

    Ngày nay lại đã qua rồi

    Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khan Dường như cá cạn ở ao

    Khổ thêm thời có chút nào vui đâu

     

    Cần tu cứu lửa cháy đầu

    Đừng cho sái buổi như chầu đế vương Biết thân mỏng mảnh không thường Sớm còn tối mất lo phương cứu mình.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

    BÌNH BÁT

     

    NGHI THỨC‌

    CÚNG NGỌ

    (BUDDHA PÙJÀ)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Hương Cúng Phật
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Cúng Dường
  • Pháp Ngữ Cúng Phật
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cúng dường chư Phật, chư Tôn Pháp, và chư Hiền Thánh Tăng

     

    Nghi Thức

    CÚNG NGỌ

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương

     

    Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

    Chóng quay về Bờ Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

    (Cho Cầu An)

     

    Hôm nay, chúng con phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, một dạ chí thành, thiết lễ CÚNG NGỌ, ngưỡng mong Tam Bảo chứng minh và gia hộ cho chúng con, đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, mạng vị bình an, thân tâm thường lạc, và tất cả chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

     

    Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) (Cho Cầu Siêu)

    Nay có Phật tử tên là:…, tạ thế ngày:…, tại:…, chúng con một dạ chí thành, ngưỡng cầu Tam Bảo, Từ Bi gia hộ cho hương linh, phát tâm Bồ Đề rộng lớn, dứt sạch nghiệp chướng sâu dày, được sanh về thế giới an lành.

    Nam Mô Tiếp Dẫn Hương Linh A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

     

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông xá 1 xá)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT

     

    Hương trầm vừa đốt Thơm ngát mười phương Thành kính cúng dường Mười phương Tam Bảo.

     

    Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    NAM MÔ BÁT NHÃ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc,

     

    thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

    (Đại chúng đồng quỳ để tụng cúng dường)

     

    CÚNG DƯỜNG

     

    Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

    Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật

    Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát

    Nam Mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát Nam Mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát

    Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, an tam bạt ra, tam bạt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha, án tô tô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thức ăn tươi tốt này

    Trên, cúng dường chư Phật Cùng các Hiền Thánh Tăng Dưới, tất cả chúng sanh Trong sáu nẻo, ba đường Với tâm thành hiến dâng Cầu mong được bảo mãn.

    (1 tiếng chuông)

     

    Án, nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    PHÁP NGỮ CÚNG PHẬT

     

    Con nay dâng cúng Cam Lồ

    Sắc hương mỹ vị biến đầy hư không Thành tâm tha thiết ngưỡng mong Đức Từ nạp thọ tấc lòng kính dâng.

    (Đứng lên, đồng niệm, 1 tiếng chuông, đồng lạy, 3 lần)

     

    Nam Mô Phổ cúng dường Bồ Tát.

    Cúng Phật đã xong Cầu cho chúng sanh Trọn nhờ Pháp Phật Thể nhập Chân Như.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    (Nếu Cúng Ngọ, trong dịp Lễ Cầu An, nên phục nguyện Cầu An; trong dịp Lễ Cầu Siêu, nên phục nguyện cầu siêu, hay tùy mỗi trường hợp.)

     

    (Cho Cầu An)

    Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. (1 tiếng chuông)

     

    Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Kinh, Chú, niệm Phật công đức, cầu nguyện cho Phật tử (Tên:…, Pháp danh:…), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, hưởng cảnh an nhàn, thiên thượng nhân gian, đều thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (Cho Cầu Siêu)

    Xe Tam Thừa lộng lẫy, Thuyền Bát Nhã thênh thang, sáu đường dốc ngược đèo ngang, ba cõi sông mê lặn hụp, thảm nỗi oan khiên lắm lúc, hương linh không đủ phước vãng sanh. Nguyện hương linh…. nay được an lành, nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ, vượt qua bể khổ, thoát khỏi Ta Bà, sen vàng chín phẩm nở hoa, pháp thân hiện Di Đà thọ ký. Âm siêu dương thới,

     

    pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

    ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT

     

    NGHI THỨC‌

    LỄ AN VỊ PHẬT

    (Buddhapratisthavidhi)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Dương Chi
  • Tựa của Kinh Lăng Nghiêm
  • Xướng và đọc sớ (nếu có)
  • Pháp Ngữ Sái Tịnh
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Nguyện An Lành
  • Sám Phát Nguyện
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cử hành Lễ An Vị Phật ở tư gia, hay bất cứ nơi nào muốn thờ Phật.

     

    Nghi Thức

    LỄ AN VỊ PHẬT

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương

     

    Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố

    Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về Bờ Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay đệ tử chúng con nguyện ngôi Tam Bảo thường trú trong mười phương, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Tiếp Dẫn Đạo Sư Di Đà Phật, chứng minh cho Phật tử…, lâu đời lâu kiếp, tâm tánh hôn mê, chẳng kể chánh tà, gây nhiều tội ác, tổn người hại vật, báng Phật, Pháp, Tăng, hôm nay một dạ chí thành, cung thỉnh và an vị tôn tượng Đức…, ngưỡng mong đấng Từ Bi, nhủ lòng lân mẫn, gia

     

    hộ cho Phật tử…, đương đời tội chướng tiêu trừ, căn lành thêm lớn, cùng pháp giới chúng sanh, tu Đạo Bồ Đề, trang nghiêm phước huệ, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát tác đại chứng minh.

     

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đồng niệm)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ

     

    Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN DƯƠNG CHI

     

    Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian

    Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH LĂNG NGHIÊM

     

    NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên

    Vô minh dứt sạch, chứng liền Pháp Thân Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng Thân, tâm nầy nát như trần (bụi)

    Hồng ân chư Phật, chút phần báo ơn.

     

    Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước

    Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi

    Giúp con dứt sạch sân, si, buồn, phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan

    Nguyện con kiên cố không hề lung lay

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

    Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát

    Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc bấy giờ, từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. Trong mỗi hoa sen, có Hóa Phật ngồi, từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích,

     

    ông bưng núi, ông cầm xử vân vân, đứng khắp cõi hư không. Đại chúng trông thấy, vừa mừng vừa sợ, đều cầu Phật thương xót che chở, và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú:

    (1 tiếng chuông).

     

    Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng đô lô ung phấn, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    XƯỚNG SỚ

     

    (Nếu có sớ, chủ lễ xướng và đọc, nếu không bớt phần này)

     

    Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ xướng tiếp)

     

    Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn

    Con nay dâng sớ Cầu An

     

    Cúi xin Phật tổ, lâm đàn chứng minh.

    (1 tiếng chuông, đọc sớ xong, chủ lễ xướng tiếp)

     

    PHÁP NGỮ SÁI TỊNH

     

    Cành dương nước tịnh rưới gia đường Linh thiêng thấm mát khắp mười phương Tiêu trừ cấu uế, tai ương

    Đức Từ phò hộ, tông đường bình an. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (Chủ lễ làm phép sái tịnh xong, đồng tụng)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là

     

    không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh

     

    đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

     

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    NGUYỆN AN LÀNH

     

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Bổn Sư ban an lành.

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Tam Bảo giúp an lành.

     

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Hộ Pháp giúp an lành.

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ

    Tát.

    Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

     

    SÁM PHÁT NGUYỆN

     

    Đệ tử chúng con từ vô thỉ Gây bao tội ác bởi lầm mê Đắm trong sinh tử đã bao lần

    Nay đến trước đài Vô Thượng giác Biển trần khổ lâu đời luân lạc

    Với sanh linh vô số điêu tàn

     

    Sống u hoài trong kiếp lầm than

    Con lạc lõng không nhìn phương hướng Đoàn con dại, từ lâu vất vưởng

    Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng Xin hướng về núp bóng từ quang Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước Bao tội khổ trong đường ác trược Vì tham, sân, si, mạn gây nên

    Thì hôm nay giữ trọn lời nguyền Xin sám hối để lòng thanh thoát.

    Trí huệ quang minh như nhựt nguyệt Từ bi vô lượng cứu quần sanh

    Ôi! Từ lâu ba chốn ngục hình Giam giữ mãi con nguyền ra khỏi Theo gót Ngài vượt qua khổ ải Nương thuyền từ vượt bể ái hà Nhớ tới Ngài: “Bờ Giác không xa” Hành thập thiện cho đời tươi sáng Bỏ việc ác cho đời quang đãng

    Đem phúc lành gieo rắc phàm nhân Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng Con nguyện được sống đời rộng rãi

     

    Con niệm Phật để lòng nhớ mãi

    Hình bóng người cứu khổ chúng sanh Để theo Ngài trên bước đường lành Chúng con khổ nguyện xin cứu khổ Chúng con khổ nguyện xin tự độ Ngoài tham lam, sân hận ngập trời Phá si mê trí huệ tuyệt vời

    Con nhớ Đức Di Đà Lạc quốc. Phật A Di Đà thân kim sắc

    Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào

    Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc Trong hào quang hóa vô số Phật Vô số Bồ Tát hiện ở trong

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh Chín phẩm sen vàng lên giải thoát Quy mạng lễ A Di Đà Phật

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    An vị công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong Pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ đạo mầu.

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.

     

    Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng, nơi hóa sanh

    Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Kinh, Chú, niệm Phật công đức, cầu nguyện cho Phật tử (Tên:…, Pháp danh:…), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, thiên thượng nhân gian, đều thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh

    Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA

     

    NGHI THỨC‌

    QUÁ ĐƯỜNG

    [Punnyànumodana]

     

    GỒM CÓ:

     

  • Quán niệm
  • Cúng Dường
  • Xuất sanh
  • Tống Thực
  • Xướng Tăng Bạt
  • Ba Nguyện
  • Năm Quán
  • Chú Tráng Bát, Xỉa Răng, Uống Nước
  • Chú Kiết Trai
  • Phục Nguyện
  • Kinh Hành Niệm Phật
  • Sám Phổ Hiền
  • Tam Quy

     

    DÙNG CHO:

    Chư Tăng thọ trai, theo đúng nghi qui của Thiền Môn, để cầu phước cho người tín cúng. Người tu tại gia cũng có thể dùng nghi thức này để nhiếp tâm, mỗi khi dùng cơm.

     

    Nghi Thức

    QUÁ ĐƯỜNG

    (Đại chúng đứng hai hàng, nghe tiếng chuông, xá 1 xá, ngồi vào ghế, nhiếp tâm đọc thầm những pháp ngữ sau đây:)

     

    NGỒI THẲNG

     

    Thân ngồi ngay thẳng Cầu cho chúng sanh Ngồi tòa Bồ Đề

    Tâm không đắm nhiễm.

    Án phạ tất ba ra a ni bát ra ni ấp đa da tá ha.

     

    GIỞ BÁT

     

    Bình bát của Như Lai Con nay được mở bày Cúng dường cho tất cả

     

    Xin nguyện được an vui. Án tư ma ni tá ha.

     

    BÁT KHÔNG

     

    Nếu thấy bát không Cầu cho chúng sanh Hoàn toàn trong sạch Không có buồn lo.

    (Đổ nước tráng bát, lau khô, để cơm vào.)

     

    MẶC NIỆM BÁT CƠM ĐẦY

     

    Khi thấy bát đầy Cầu cho chúng sanh Vui vẻ làm nên

    Tất cả việc lành.

     

    (tay trái bưng bát cơm, tay mặt bắt ấn, dơ ngang trán, đồng tụng bài cúng dường)

     

    CÚNG DƯỜNG

     

    Cúng dường Thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật.

    Viên mãn báo thân Lô Xá Na Phật.

    Thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật.

    Thập phương tam thế nhứt thiết chư Phật. Đại Trí VănThù Sư Lợi Bồ Tát.

    Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

     

    Thức ăn tinh khiết, cúng dường chư Phật, chư hiền thánh Tăng, pháp giới hữu tình, thảy đều cúng dường. Khi đang dùng cơm, cầu cho chúng sanh, hành “Thiền Duyệt Thực,” đầy đủ an vui.

    (1 tiếng chuông, để chén chung trong lòng bàn tay trái, tay phải gắp 7 hạt cơm để vào chung, Thầy cả niệm: )

     

    XUẤT SANH

     

    Pháp lực khó nghĩ bàn Từ Bi không chướng ngại Cơm ít hóa thành nhiều

    Thí khắp mười phương cõi Đồng không, quỉ mẹ, con Đại Bàng Kim Sí Điểu

    Tất cả đều no đủ, Án độ lợi ích ta ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, thị giả bưng chung, đi ra nơi cúng, và đọc:)

     

    TỐNG THỰC

     

    Tất cả chúng quỉ thần

    Tôi nay nguyện cúng dường

    Cơm này biến khắp mười phương

    Quỉ thần no đủ, nhờ nương Pháp mầu. Án mục lục lăng tá ha.

     

    (7 lần, 1 tiếng chuông, Thầy cả xướng:)

     

    TĂNG BẠT

     

    Phật dạy tỳ kheo (chúng tăng)

    Giữ tròn năm quán Khi ăn tâm loạn Tín thí khó tiêu Đại chúng thảy đều

    Nhất tâm niệm Phật.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng niệm:)

    Nam Mô A Di Đà Phật

    (1 tiếng chuông, đại chúng tiếp:)

    Tam Bạt Ra dà đa.

    (7 lần, 1 tiếng chuông, tay bưng bát giơ ngang trán, niệm thầm:)

     

    Tay bưng bình bát (bát cơm) Cầu cho chúng sanh

    Trọn nên Pháp khí Thọ thiên nhơn cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông, để chén xuống, ăn 3 muỗng hay đũa, mỗi đũa niệm như sau: )

     

    BA NGUYỆN

    muỗng thứ nhứt:

    Nguyện dứt tất cả điều ác.

     

    muỗng thứ hai:

    Nguyện làm tất cả điều lành.

     

    muỗng thứ ba:

    Nguyện độ tất cả chúng sanh.

     

    (1 tiếng chuông, đôi đũa gác ngang bát cơm, hay muỗng cắm giữa bình bát, niệm thầm:)

     

    NĂM QUÁN

     

    một là:

    So lường công đức tu hành

    Người kia mang đến cơm canh cúng dàng.

     

    hai là:

    Xét xem đức hạnh của mình

    Thọ dụng nhiều ít, cân phân rõ ràng.

     

    ba là:

    Ngăn ngừa tội lỗi đã làm

    Sân, si là gốc, tham lam đứng đầu.

     

    bốn là:

    Uống ăn là thuốc nhiệm mầu Chữa lành thân bịnh, ốm o gầy mòn.

     

    năm là:

    Quyết chắc Đạo nghiệp vuông tròn Cơm này thọ dụng, không còn quả, nhân.

     

    (để bát xuống, xá 1 xá rồi dùng cơm. Dùng xong, nghe 1 tiếng chuông, đại chúng đổ nước vào tráng bát, và đọc : )

     

    CHÚ TRÁNG BÁT

     

    Nước dùng tráng bát Cam lồ thơm ngát Thí các quỉ thần

     

    Đều được no đủ.

    Án ma hưu ra tất tá ha.

     

    CHÚ XỈA RĂNG

     

    Khi đang xỉa răng Cầu cho chúng sanh Thân tâm thanh tịnh Dứt hết phiền não.

     

    Án, a mộ dà di ma lê, nhĩ phạ ca ra, tăng du đà nể, bát đầu ma câu ma ra, nhĩ phạ ca ra tăng thâu đà da, đà ra dà ra, tố di ma lệ, ta phạ ha.

     

    CHÚ UỐNG NƯỚC

     

    Phật xem một bát nước Có hơn tám muôn trùng Nếu uống không niệm chú Như ăn thịt chúng sanh.

    Án phạ tất ba ra ma ni tá ha.

    (Uống nước xong, 1 tiếng chuông, đồng tụng)

     

    CHÚ KIẾT TRAI

     

    Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẩm, đát điệt tha. Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, và tiếp:)

     

    Người phát tâm cúng dường Lợi ích không thể lường Nay, vui mừng bố thí

    Sau, của báu vô phương. Dùng cơm đã xong

    Cầu cho chúng sanh Trọn nhờ Pháp Phật Thể nhập chân như.

     

    (1 tiếng chuông, chỉ thầy cả phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Chiếc áo thô do cô chức nữ Tô cơm tẻ nhờ bác nông phu

     

    Người nào thọ dụng để tu

    Nhớ ơn chức nữ, nông phu, ngày ngày.

     

    PHỔ NGUYỆN

     

    Đàn na tín cúng Lợi lạc hiện tiền Đầy đủ phúc duyên

    Chứng nên Phật quả.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông, đồng tụng)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    (Phần quá đường đến đây xong. Nếu đi kinh hành, Thầy cả xướng tiếp:)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,

     

    Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    (Vừa niệm Di Đà, vừa đi kinh hành, khi đứng lại, niệm mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM PHỔ HIỀN

     

    Đệ tử chúng con Tùy thuận tu tập

    Mười điều nguyện lớn Của Đức Phổ Hiền:

     

    (1 tiếng chuông )

     

    Một là nguyện Phật thần thông Chứng minh đệ tử thành công lâu dài. Hai là nguyện lạy Như Lai

    Cầu cho già trẻ gái trai làm lành. Ba là nguyện phát chí thành

    Cúng dường Tam Bảo tứ sanh khỏi nàn. Bốn là nguyện dứt nghiệp oan

    Vượt qua biển khổ ba đường thoát ra. Năm là nguyện học thiền na

    Bạn lành nương cậy, thầy tà lánh xa. Sáu là nguyện Phật nói ra

    Xoay vần chánh Pháp, khắp nhà đặng

    nghe.

    Bảy là nguyện Phật chở che

     

    Ở lâu dạy bảo người nghe tỏ lòng. Tám là nguyện bạn ở chung

    Mấy lời Phật dạy học cùng với nhau. Chín là nguyện trước nhớ sau Thuận theo thế tục dám đâu trái lời. Mười là nguyện khắp trong đời

    Xoay mình lướt tới thẳng dời Lạc Bang. Tôn sư diễn nghĩa ít hàng

    Cầu cho bá tánh Tây Phang mau về.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    ĐỨC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

     

    NGHI THỨC‌

    CÚNG VONG

     

    GỒM CÓ :

     

  • Hương Linh Lễ Phật (gia chủ lạy thế)
  • Thỉnh Hương Linh
  • Thỉnh Đức Quán Thế Âm Tiếp Dẫn
  • Thỉnh Đức A Di Đà Tiếp Dẫn
  • Thỉnh Đức Địa Tạng Tiếp Dẫn
  • Xướng và Đọc Điệp (nếu có)
  • Cúng Cơm và Nước
  • Niệm Phật
  • Sám Di Đà
  • Tiễn Đưa Hương Linh
  • Phục Nguyện

     

    DÙNG ĐỂ :

    Cúng các hương linh, như hương linh Ông, Bà, Cha, Mẹ, vân vân. Cúng ở nhà hay ở chùa cũng được.

     

    Nghi Thức

    CÚNG VONG

    (Đồ cúng chỉnh tề, tang chủ quỳ gối, dâng hương ngang trán, vái tên họ người chết, cắm hương xong, chủ lễ xướng:)

     

    HƯƠNG LINH LỄ PHẬT

     

    Tây Phương tiếp độ hương hồn.

     

    (1 tiếng chuông, chúng đồng niệm:)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    (1 tiếng chuông, chủ lễ xướng tiếp:)

    Vong tựu Phật tiền, đảnh lễ tam

    bái (1 tiếng chuông, chúng hòa:)

     

    (3 tiếng chuông, chờ tang chủ lạy thế cho hương linh xong, hữu ban tiếp:)

     

    Hồ quỳ. (cầm 3 cây hương, chủ lễ cử tán: )

     

    THỈNH HƯƠNG LINH

     

    Chơn ngôn thần lực dẫn hương linh Từ chốn U Minh về Dương Thế

    An tọa linh đường để nghe kinh

    Tang môn hiếu tử linh đình cúng dâng…

    Chủ lễ bái: Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông)

     

    THỈNH ĐỨC QUÁN ÂM TIẾP DẪN

     

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp Với lời nguyền tha thiết độ sanh Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành Ngài ứng hiện muôn hình tế độ.

    (1 tiếng Chuông)

     

    Cung vi:

    Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, tay

     

    cầm nhành liễu, phóng hào quang tiếp dẫn hương linh, (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …,

    chết ngày: …, tại: …) hôm nay là Lễ … (Thọ Tang, Tứ Cửu, Bách Nhật, Tiểu Tường, Đại Tường…),

    hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh (lần I), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

    [Nếu không cúng tại nhà, nên đổi chữ Gia Đường lại là… (Đàn Tràng)].

     

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh.

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông).

    Hữu Ban: Duy nguyện:

    Hồn về Dương Thế Phách ở nơi nao?

    Mau mau tỉnh ngộ Vượt thoát trần lao. Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông)

     

    THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN

     

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: Sông mê rào rạt sóng tình

    Biển đau lênh láng lệ mình khóc than Muốn mau thoát khỏi trần gian

    Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn.

    Cung vi:

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, tay bưng kim đài, tiếp dẫn hương linh (tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày:…, chết ngày:…, tại:…), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào ngạt, cung thỉnh hương linh, (lần II), trở lại gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

     

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông).

    Tả Ban: Duy Nguyện:

    Thân cử bước thênh thang

     

    Tâm tự tại an nhàn

    Tới lui không vướng mắc Vượt thoát cảnh trần gian. Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông)

     

    THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN

     

    Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: U Minh, dứt hết ngục hình

    Dương gian, độ thoát chúng sanh không

    còn.

    Bồ Đề nguyện lớn vuông tròn

    Chứng nên Phật quả không còn tử, sanh.

     

    Cung vi:

    Nam Mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, tay cầm tích trượng, phóng hào quang tiếp độ hương linh (Tên họ: …, Pháp danh: …, sinh ngày: …, chết ngày: …, tại:

    …), hôm nay là Lễ…, hương thơm ngào

     

    ngạt, cung thỉnh hương linh (lần III), trở lại

    gia đình, lễ Phật nghe Kinh.

     

    Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông) Hữu Ban: Duy nguyện:

    Được nương nhờ oai thần chư Phật Nay về đây thính Pháp văn Kinh Hồn thiêng thụ hưởng linh đình

    Nén hương, bát nước, ân (thâm) tình

    cúng dâng.

    Hữu Ban tiếp: Hương hoa thỉnh,

    (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.

    (1 tiếng chuông) Đại chúng đồng tụng:

    Ba lần cung thỉnh Hương linh đã về

    Hồn thiêng an tọa linh sàn

    Tang môn hiếu tử thiết đàn kính dâng.

    Tả Ban: Tang chủ lễ nhị

     

    Chúng hòa: bái.

     

    (2 tiếng chuông)

    Hữu ban tiếp: Hồ quỳ.

     

    XƯỚNG VÀ ĐỌC ĐIỆP (nếu có)

     

    Chủ lễ xướng:

    Âm dương đồng nhứt lý Sanh tử chia đôi đàng Điệp tang hợp thời đọc Cầu chư Phật chứng minh.

    (1 tiếng chuông)

     

    (Đọc điệp xong, cúng cơm. Tang chủ gắp thức ăn, mỗi thứ một chút, để vào bát cơm lưng, gác ngang đôi đũa, chắp tay vái cúng)

     

    CÚNG CƠM VÀ NƯỚC

     

    Đồng tụng:

    Nam Mô Đa Bảo Như Lai Nam Mô Bảo Thắng Như Lai

    Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai

     

    Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai

    Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai Nam Mô A Di Đà Như Lai.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Hôm nay, dâng cúng cơm này

    Sắc, hương, mỹ, vị biến đầy hư không Thành tâm tha thiết ngưỡng mong Hương linh nạp thọ, tấc lòng nhớ thương. Mỹ Thanh Trai Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Chủ lễ xướng: Hiến trà,

    (rót trà cúng, lần thứ nhứt) Hữu Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị Chúng hòa: bái.

    (2 tiếng chuông) Tả Ban: Hồ Quỳ.

    (1 tiếng chuông, đồng tụng: )

     

    Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông).

     

    Hữu Ban xướng:

    Ruột se thắt, âm dương xa cách Ngậm ngùi thay, hồn phách về đâu!?

     

    Chủ lễ xướng: Hiến trà, (rót nước cúng lần thứ nhì) Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái.

    (2 tiếng chuông, đồng tụng)

     

    Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Hữu Ban xướng:

    Cam lồ một giọt linh thiêng Tiêu trừ đói khát triền miên

    Mật ngôn mầu nhiệm, hồn thiêng an lành.

    Chủ lễ xướng: Hiến trà,

    (rót trà cúng, lần thứ ba)

     

    Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị

    Chúng hòa: bái.

    (2 tiếng chuông) Hữu Ban: Hồ Quỳ.

    (1 tiếng chuông, đồng tụng:)

     

    Án, nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Hữu ban xướng:

    Hồn sắp thoát dương gian Chốn U Minh mờ hiện Âm dương chia đôi đàng

    Bát hương, đôi nến gần tàn

    Cúi xin chư Phật dẫn đàng hồn đi.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời,

    Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,

     

    Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM DI ĐÀ

     

    Muốn đi có một đường này

    Nhứt tâm niệm Phật khó gì thoát ra Vậy nên phải niệm Di Đà

    Hồng danh sáu chữ thiệt là rất cao Hay trừ tám vạn trần lao

    Tham thiền quán tưởng pháp nào cũng

    thua.

    Di Đà xưa cũng làm vua.

    (1 tiếng chuông)

     

    Bỏ ngôi bỏ nước vô chùa mà tu Xét ra từ kiếp đã lâu

    Hiệu là Pháp Tạng tỳ kheo đó mà Trong khi ngài mới xuất gia

    Bốn mươi tám nguyện phát ra một lần. Nguyện nào cũng lắm oai thần

    Nguyện nào cũng trọng về phần độ sanh Vì thương thế giới bất bình

    Nên chi đầu Phật mà đành bỏ ngôi Thầy là Bảo Tạng Như Lai

     

    Bạn là Bảo Hải tức Ngài Thích Ca.

    Thích Ca nguyện độ Ta Bà

    (1 tiếng chuông)

     

    Di Đà nguyện mở cửa nhà Lạc Bang Mở Ao Chín Phẩm sen vàng

    Xây thành Bá Bửu đổ đàng thất trân Lưu ly quả đất sáng ngần

    Lầu châu cát ngọc mười phần trang

    nghiêm

    Hoa trời rưới cả ngày đêm

    Có cây rất báu, có chim rất kỳ Lạ lùng cái cảnh Phương Tây

    Mười phương cảnh Phật, cảnh nào cũng

    thua

    Phong quang vui vẻ bốn mùa

    Nước reo Pháp Phật, gió khuya nhạc trời, Di Đà có thệ một lời

    Mở ra cõi ấy tiếp người vãng sanh Mười phương ai phát lòng thành

    Nhất tâm mà niệm Hồng Danh của Ngài Hằng ngày trong lúc hôm mai

     

    Niệm từ mười tiếng đến vài ba trăm Khi đi, khi đứng, khi nằm

    Chuyên trì niệm Phật lòng chăm phát nguyền

    Nguyện sanh về chín phẩm liên

    Là nơi Cực Lạc ở miền Tây Phương Đến khi thọ mạng vô thường

    Thì Ngài phóng ngọn hào quang rước liền Biết bao phước đức nhơn duyên

    Đã về Cực Lạc còn phiền não chi Sự vui trời cũng chẳng bì

    Đêm đêm thong thả, ngày ngày vui chơi Sống lâu kiếp kiếp đời đời

    Không già không chết không dời đi đâu.

    (1 tiếng chuông)

     

    (Khi đang tụng chú Vãng Sanh, nếu có sớ nên đốt)

     

    CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ

     

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô, bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di

     

    rị đa, tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH

     

    Chỉ chủ lễ xướng:

    Hồn về Cực Lạc Tây Phương

    Ngát hương sen nở, hào quang sáng ngời Chắp tay, vĩnh biệt cõi đời

    Quán Âm, Thế Chí đón mời hồn đi.

     

    (Chủ lễ tiếp:)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Hồn siêu nơi cõi Tịnh Nghiệp dứt chốn trần ai Hoa sen chín phẩm vừa khai

    Phật bèn thọ ký cho ngay nhứt thừa Cầu xin chư Phật tiếp đưa

    Hồn về Cực Lạc say sưa Pháp mầu Nguyện cho hương linh…

     

    Sớm về cõi Phật

    Hưởng cảnh thanh bình Pháp giới chúng sinh Trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng niệm:)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    Hữu Ban xướng: Tang Chủ tựu vị lễ tứ

    Chúng hòa: bái.

    (4 tiếng chuông, tang chủ lạy 4 lạy, lui ra).

     

     

     

    BÁNH XE LUÂN HỒI

     

    NGHI THỨC‌

    LỄ PHÓNG SANH

    (Sattva abhayadàna vidhi)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Hương Cúng Phật
  • Chú Đại Bi
  • Kệ Giải Nghiệp
  • Niệm Phật
  • Chú Nguyện
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Thả các loài súc vật để chúng được tự do. Để cầu phước cho người hiện tiền được sống lâu, và người quá vãng được siêu thăng cõi Phật.

     

    Nghi Thức

    LỄ PHÓNG SANH

     

    (Ứng dụng nghi thức này, khi có nhiều người tham dự. Trong trường hợp đặc biệt, chỉ mặc niệm bài “CHÚ NGUYỆN” 3 lần, rồi thả ngay. Phúc báo cũng vô lượng vô biên.)

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Giới Hương, Định Hương, và Huệ Hương Giải Thoát, Giải Thoát, Tri Kiến Hương Sáng ngời, chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo, Năm Hương cúng dường.

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay, chúng con phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, một dạ chí thành, thiết lễ phóng sanh, ngưỡng mong Tam Bảo chứng minh và gia hộ cho: (tên người mua sinh vật), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, mạng vị bình an, thân tâm thường lạc, và tất cả chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

     

    Nam Mô Tiêu Tai Duyên Thọ Dược Sư Phật tác đại chứng minh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

     

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT

     

    Lư hương vừa ngún chiên đàn,

    Khắp xông pháp giới, đạo tràng mười phương,

    Quyện thành mây báu kiết tường,

    Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành, Pháp thân ảnh hiện rành rành,

    Chứng minh hương nguyện, tâm thành

    kính dâng.

    Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha

    Tát

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra,

     

    mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

     

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ xướng)

     

    KỆ GIẢI NGHIỆP

     

    Chúng sanh đấy có bấy nhiêu

    Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn Các ngươi trước lòng trần tục lắm Nên kiếp này chìm đắm sông mê

    Bấy lâu chẳng biết tu trì

    Gây bao tội ác lại về mình mang. Sống đọa đầy chết thường đau khổ Lông, da, sừng có đỡ được đâu

    Dù là bay trước lặn sau

    Lưới dây tên bắn lưỡi câu thả mồi

    Tát cạn bắt cùng hơi hun độc Lúc đó dù kêu khóc ai thương Nằm trên chốc thớt lạ thường

    Hồn còn phảng phất nấu rang xong rồi. Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc May sao nhờ các bậc thiện nhân

    Cứu cho ngươi được thoát thân Đến đây lại được nhờ ân Pháp mầu. Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật Cùng dốc lòng quy Pháp quy Tăng

     

    Chúng sanh quy y Phật Chúng sanh quy y Pháp Chúng sanh quy y Tăng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Chúng sanh quy y Phật, Không đọa địa ngục.

    Chúng sanh quy y Pháp

    Không đọa ngạ quỷ. Chúng sanh quy y Tăng Không đọa bàng sanh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Chúng sanh quy y Phật rồi Chúng sanh quy y Pháp rồi Chúng sanh quy y Tăng rồi.

    (1 tiếng chuông)

     

    Quy rồi tội chướng sạch băng

    Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi Phát tâm tu, sau rồi được hưởng

    Về phương Tây sung sướng đời đời Lên tòa sen hưởng thảnh thơi

     

    Không hề luân chuyển yên vui tháng ngày.

    Xin đại chúng ra tay cứu khổ Phát tâm cầu Phật độ chúng sanh Cùng nhau dốc một lòng thành

    Cầu cho thoát khỏi trong vành trầm luân.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    CHÚ NGUYỆN

     

    (Mang sinh vật ra ngoài, chủ lễ mật niệm)

     

    Nguyện cho (các) ngươi (chim, cá, rùa…), đời đời tội diệt phước sanh, bỏ thân này, đời sau gặp gỡ Ngôi Tam Bảo tu hành, chứng quả Bồ Đề. Sau khi đắc Đạo rồi, ta sẽ độ cho ngươi được giải thoát. Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát cứu thoát chúng sanh, kiếp mãn viên trần, chứng vi viên tướng, Bồ Đề Đạo độ chúng sanh.

     

    (Niệm 3 lần, chủ lễ thả sinh vật. Trở lại bàn Phật, để hồi hướng)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Phóng sinh công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ đạo mầu.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát đạo, cứu đời lầm than.

     

    Nguyện sanh Tây phương, cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng, nơi hóa sanh

    Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

     

    Nguyện đem công đức lành

     

    Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh.

    Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Kinh, Chú, niệm Phật công đức, cầu nguyện cho Phật tử (Tên:…, Pháp danh …), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, hưởng cảnh an nhàn, thiên thượng nhân gian, đều thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    ĐỨC DI LẶC

     

    NGHI THỨC‌

    LỄ THÀNH HÔN

    (Àvàha-vivàha vidhi)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tựa Kinh Lăng Nghiêm
  • Lạy Báo Ân
  • Bạch Phật
  • Pháp Ngữ Sái Tịnh
  • Lễ Trao Nhẫn
    • Năm Điều Chồng Đối Với Vợ
    • Năm Điều Vợ Đối Với Chồng
  • Nguyện An Lành
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cử hành lễ cưới, cho đúng với luật lệ hiện hành.

     

    Nghi Thức

    LỄ THÀNH HÔN

     

    (Bên trai bên gái ngồi hay đứng cân phân hai bên, cô dâu chú rể đứng giữa, chủ lễ bắt đầu:)

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật đọ hám. (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương)

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện dâng hương mầu này Cúng dường tất cả Phật

    Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề

    Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng.

     

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

    Nay có Phật tử (tên họ:…, Pháp danh:…) cung đối Phật tiền, phát nguyện kết hôn với (tên họ:…, Pháp danh:…).

     

    Chúng con một dạ chí thành, ngưỡng cầu Tam Bảo từ bi gia hộ cho hai họ được- Loan Phụng hòa minh, sắt cầm duyên hiệp, thấm nhuần Pháp Nhũ Hồng Ân, thọ hưởng Cam Lồ Cát Khánh. Ngưỡng mong Phật trí cao vời từ bi gia hộ.

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

     

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại

     

    Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    KINH LĂNG NGHIÊM

     

    NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên

     

    Vô minh dứt sạch, chứng liền Pháp Thân. Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng

    Thân, tâm nầy nát như trần (bụi) Hồng ân chư Phật, chút phần báo ơn.

    (1 tiếng chuông)

     

    Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước

    Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn

    Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi

    Giúp con dứt sạch sân, si, buồn, phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan

    Nguyện con kiên cố không hề lung lay. Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

    Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm

     

    Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc bấy giờ, từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. Trong mỗi hoa sen, có Hóa Phật ngồi, từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích, ông bưng núi, ông cầm xử vân vân, đứng khắp cõi hư không. Đại chúng trông thấy, vừa mừng vừa sợ, đều cầu Phật thương xót che chở, và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú:

    (1 tiếng chuông)

     

    Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng đô lô ung phấn, ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    LẠY BÁO ÂN

     

    (Nếu hai họ đã làm lễ tạ Song Đường ở nhà rồi, phần này nên bỏ qua, nếu không, chủ lễ xướng 4 câu sau đây cho cô dâu chú rể lạy báo ân).

     

    Chí tâm đảnh lễ, thiên địa phú tải chi ân, nhựt nguyệt chiếu lâm chi đức, nhứt bái.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ, chánh phủ ủng hộ chi ân, thủy thổ thành thục chi đức, nhứt bái.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ sư trưởng giáo huấn chi ân, phụ mẫu sanh thành chi đức, nhứt bái.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ đại thiện tri thức chi ân, bằng hữu tương giao chi nghĩa nhứt bái.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    BẠCH PHẬT

     

    Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

    (3 lần, 1 tiêng chuông, chỉ chủ lễ quỳ gối và xướng tiếp:)

     

    Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay tác bạch cầu an

    Cúi xin Phật tổ, lâm đàn chứng minh:

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, chủ lễ tiếp)

     

    Ngưỡng khải Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – nay có Phật tử (tên họ: …, Pháp danh: …), cung đối Phật tiền, phát nguyện kết hôn với (tên họ:…, Pháp danh:…), cần cầu con Tỳ kheo Thích… làm chủ lễ. Ngưỡng mong Đức Từ gia hộ cho hai họ được: Loan Phụng hòa minh, sắt cầm duyên hiệp, thấm nhuần Pháp Nhủ Hồng Ân, thọ hưởng Cam Lồ Kiết Khánh. Ngưỡng mong Phật trí cao vời từ bi gia hộ.

     

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    PHÁP NGỮ SÁI TỊNH

     

    Cành dương nước tịnh rưới gia đường Linh thiêng thấm mát khắp mười phương Tiêu trừ cấu uế, tai ương

    Đức Từ phò hộ, tông đường bình an.

    Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, chủ lễ làm phép sái tịnh cho cô dâu chú rể)

     

    LỄ TRAO NHẪN

     

    (Chủ lễ nên giảng ý nghĩa chữ “trao nhẫn.” Sau khi, cô dâu chú rể phát nguyện và trao nhẫn cho nhau xong, nên có lời khuyên của cha mẹ bên trai, gái, người giám hộ, hay lời chúc mừng của quan khách.)

     

    NĂM ĐIỀU CHỒNG ĐỐI VỚI VỢ

     

    (Chú rể tay cầm quyển kinh, hướng về Phật, và đọc lớn những điều sau đây:)

     

    Tôi (tên họ…), nguyện suốt đời, vâng giữ 5 điều sau đây, để xây dựng hạnh phúc với em (tên họ…)

    ĐIỀU I: Con nguyện luôn luôn tín cẩn và thương yêu vợ.

     

    ĐIỀU II: Con nguyện bàn thảo mọi việc với vợ trong tinh thần tôn trọng và hòa thuận.

     

    ĐIỀU III: Con nguyện chia xẻ với vợ trong

    việc săn sóc con cái, và chăm nom gia đình.

     

    ĐIỀU IV: Con nguyện đời đời sống bên nhau, bằng tình thương chân thật, bằng trí huệ sáng suốt, và bằng đức tánh kiên nhẫn.

     

    ĐIỀU V: Con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với Đạo Đức của Ông Bà và nghĩa vụ của Tổ Quốc đã đặt hy vọng vào con.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    NĂM ĐIỀU VỢ ĐỐI VỚI CHỒNG

     

    (Cô dâu tay cầm quyển kinh, hướng về Phật, và đọc lớn những điều sau đây:)

     

    Tôi (tên họ…), nguyện suốt đời, vâng giữ 5 điều sau đây, để xây dựng hạnh phúc gia đình với anh (tên họ…).

     

    ĐIỀU I: Con nguyện luôn luôn ân cần và chiều chuộng chồng.

     

    ĐIỀU II: Con nguyện luôn luôn hòa nhã thảo luận công việc với chồng.

    ĐIỀU III: Con nguyện bảo vệ, chăm lo gia đình một cách chu đáo.

     

    ĐIỀU IV: Con nguyện đời đời sống bên nhau, bằng tình thương chân thật, bằng trí huệ sáng suốt, và bằng đức tánh kiên nhẫn.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    ĐIỀU V: Con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với Đạo Đức của Ông Bà, và tiếp nối dòng họ của Tổ Tiên đã đặt kỳ vọng vào con.

     

    (Phát nguyện xong, cô dâu và chú rể trao nhẫn cưới cho nhau.)

     

    NGUYỆN AN LÀNH

     

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Bổn Sư ban an lành.

    (1 tiếng chuông)

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Tam Bảo giúp an lành.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện ngày an lành đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian

     

    luôn an lành, ngưỡng mong Hộ Pháp giúp an lành.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ

    Tát.

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

     

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

     

    ĐỨC THÍCH CA SƠ SANH

     

    NGHI THỨC‌

    LỄ PHẬT ĐẢN

    (Buddha Jayantì)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Bài Tụng Khánh Đản
  • Xưng Tán Hồng Danh
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Tam Quy
  • Hồi Hướng

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cử hành Đại Lễ PHẬT ĐẢN hằng năm.

     

    Nghi Thức

    LỄ PHẬT ĐẢN

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ mật niệm bài cúng hương.)

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

    Chóng quay về Bờ Giác.

     

    Nam Mô Hương cúng dường, Lâm Tì Ni Thị Hiện, Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Nay chính là ngày, Đức Thích Tôn giáng thế để hóa độ chúng sanh. Chúng con một dạ vui mừng, cúng dường kỷ niệm. Kính dâng một nén tâm hương, ba nghiệp tinh cần, cúi đầu đảnh lễ, nguyện y lời Phật dạy, tụng kinh niệm Phật chuyên cần, quyết theo Phật làm lành, báo đền công ơn hóa độ, Tâm Bồ Đề kiên cố, chí tu học vững bền, cùng pháp giới chúng sanh, nghiệp chướng tiêu trừ, căn lành viên mãn, mau chứng quả Vô Thượng Bồ Đề. Ngưỡng mong Phật tổ cao vời, từ bi gia hộ.

     

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng

    Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ, liên hoa đài thượng, bá bảo quang trung, thiên bá ức hóa thân, Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ, Đẩu Xuất giáng thần, Lâm Tì Ni thị hiện, Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ, cam giá nguyên lưu, ứng thân hiện thọai, Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    BÀI TỤNG

     

    Đệ tử hôm nay

    Gặp ngày Khánh Đản Một dạ vui mừng

     

    Cúi đầu đảnh lễ

    Thập phương Tam Thế Điều ngự Như Lai

    Cùng Thánh, Hiền, Tăng.

    (1 tiếng chuông)

     

    Chúng con cùng pháp giới chúng sanh Bởi thiếu căn lành

    Thảy đều sa đọa Tham, sân chấp ngã Quên hẳn đường về Tình ái si mê

    Tù trong lục đạo Trăm dây phiền não

    Nghiệp báo không cùng.

    Nay nhờ Phật Tổ Năng Nhơn Dũ lòng lân mẫn

    Không nỡ sinh linh thiếu phước Nặng kiếp luân hồi

    Đêm dày tăm tối Đuốc tuệ rạng soi

    Nguyện cứu muôn loài Pháp dùng phương tiện

     

    Ta Bà thị hiện

    Thích chủng thọ sanh

    Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo Ba mươi hai tướng tốt

    Vừa mười chín tuổi xuân Lòng từ ái cực thuần Chí xuất trần quá mạnh Ngai vàng quyết tránh Tìm lối xuất gia

    Sáu năm khổ hạnh rừng già Bảy thất nghiêm tinh thiền tọa Chứng thành đạo quả

    Hàng phục ma binh

    Ba cõi đều dậy tiếng hoan nghênh Muôn vật thảy nhờ ơn tế độ Chúng con nguyền

    Dứt bỏ dục tình ngoan cố Học đòi đức tánh quang minh Cúi xin Phật Tổ giám thành Từ Bi gia hộ

     

    Chúng con cùng pháp giới chúng sanh Chóng thành Đạo Cả.

     

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ xướng)

     

    XƯNG TÁN HỒNG DANH

     

    Thích Ca thị hiện Ta Bà

    Trời, người hớn hở dâng hoa cúng dường Báu thân rực rỡ phi thường

    Mâu Ni là Đấng Pháp Vương cứu đời.

     

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    Nam Mô Ta Bà Thế Giới, Tam Giới Đạo Sư, Tứ Sinh Từ Phụ, Nhơn Thiên Giáo Chủ, Thiên Bá Ức Hóa Thân, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

     

    (Niệm Hồng Danh Đức Bổn Sư nhiều hay ít, tùy theo số người tắm Phật; các Hồng Danh sau đây niệm 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt,

     

    không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

     

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

     

     

    VU LAN THẮNG HỘI

    CHÙA PHẬT TỔ, LONG BEACH 2010

     

    NGHI THỨC‌

    LỄ VU LAN

    [Kinh Vu Lan Bồn (Ullambana Sùtra)]

     

    GỒM CÓ:

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Hương cúng Phật
  • Chú Đại Bi
  • Kệ Khai Kinh
  • Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu
  • Kinh Vu Lan Bồn
  • Khen Ngợi Đức Mục Kiền Liên
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Chú Vãng Sanh
  • Niệm Phật
  • Sám Vu Lan
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

    DÙNG ĐỂ:

    Tụng niệm trong mùa Vu Lan, nhớ lại công ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, và gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên. Khi tụng kinh, Phật tử nên chí thành cầu chư Phật và Hiền Thánh Tăng từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, lục thân quyến thuộc vân vân, được sớm siêu thăng Phật quốc.

     

    Nghi Thức

    LỄ VU LAN

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương)

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

    Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

    Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

    Chóng quay về Bờ Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay là ngày chư Tăng xuất hạ, đem đức lành chú nguyện chúng sanh, chúng con một dạ chí thành, thiết lễ hương hoa cúng dường và trì tụng kinh chú, xin đem công đức này, ngưỡng nguyện Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp Dẫn Đạo Sư

     

    A Di Đà Phật, cùng các vị Bồ Tát, tịnh đức chúng Tăng từ bi gia hộ cho hương linh Phật tử:…, cùng tất cả chúng sanh, sớm rõ đường lành, thoát vòng mê muội, ra khỏi u đồ, siêu thăng Lạc Quốc. Ngưỡng mong oai đức cao dày, xót thương tiếp độ.

    Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ

     

    Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT

     

    Lư hương vừa ngún chiên đàn,

    Khắp xông pháp giới, đạo tràng mười phương,

    Quyện thành mây báu kiết tường,

    Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành, Pháp thân ảnh hiện rành rành,

    Chứng minh hương nguyện, tâm thành

    kính dâng.

     

    Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha

    Tát.

    (6 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô

     

    kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    (1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

     

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    Phật Nói

    KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU

     

    Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Chư Tăng câu hội rất đông

    Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát

    Hội tại đây đủ mặt thường thường. Bây giờ, Phật lại lên đường

    Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến

    hành

     

    Đến giữa đường, rành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

    Thế Tôn bèn vội đến nơi

    Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng. Đức A Nan tủi lòng ái ngại

    Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương? Vội vàng xin Phật dạy tường

    Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy

    Cớ sao Thầy lại lạy xương khô? Phật rằng: trong các môn đồ Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong cho rõ Nên vì ngươi ta rõ đuôi đầu:

    (1 tiếng chuông)

     

    Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh Luân hồi sanh tử, tử sinh

    Lục thân đời trước thi hài còn đây Ta lễ bái kính người tiền bối

     

    Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ

    Phân làm hai, bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm

    Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết

    Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật chỉ bày

    Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt

    Cách đứng đi ăn mặc phân minh Đến khi rã xác tiêu hình

    Xương ai như nấy khó nhìn khó phân

    Phật mới bảo A Nan nên biết:

    (1 tiếng chuông)

     

    Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng hoằng Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?

    Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra

     

    Sanh con ba đấu huyết ra

    Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể

    Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai

    Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo

    Phương pháp nào báo hiếu song thân? Thế Tôn mới giảng ân cần:

    (1 tiếng chuông)

     

    Vì ngươi ta sẽ phân trần, lóng nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc

    Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu thai đậu tợ sương

    Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình

    Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ

    Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chơn lông

     

    Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình

    Mười tháng thì đến kỳ sinh

    Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn. Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung

    Làm cho cha mẹ hãi hùng

    Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân Khi sinh sản muôn phần an lạc Cũng ví như được bạc, được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan:

    (1 tiếng chuông)

     

    Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhứt – giữ gìn thai giáo Mười tháng trường châu đáo mọi bề. Thứ hai – sinh sản gớm ghê

    Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần. Điều thứ ba – thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay.

    Thứ tư – ăn đắng nuốt cay

     

    Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con. Điều thứ năm – lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.

    Thứ sáu – sú nước nhai cơm

    Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê. Điều thứ bảy – không chê ô uế

    Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. Thứ tám – chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo.

    Điều thứ chín – miễn cho con sướng

    Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm

    Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm. Điều thứ mười – chẳng ham trau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng

    Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn. Phật lại bảo, A Nan nên biết:

    (1 tiếng chuông)

     

    Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười

    Không tường ơn trọng đức dày song thân

     

    Chẳng kính mến quên ơn trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mặc giao

    Những hạng người ấy đời nào nên thân. Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai

    Cho nên thân thể hình hài kém suy. Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề Ví như thọc huyết trâu dê

    Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan. Con còn nhỏ lo toan săn sóc

    Ăn đắng, cay, bùi, ngọt phần con Phải tắm phải giặt rửa trôn

    Biết rằng dơ dáy, mẹ không ngại gì. Nằm phía ướt, con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn

    Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân

    Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương. Trọn ba năm bú nương sữa mẹ

    Thân gầy mòn nào nệ với con

     

    Khi con vừa được lớn khôn

    Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng Con đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi. Con ốm đau tức thì lo chạy

    Dầu tốn hao đến mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành

    Thì cha mẹ mới an thần định tâm. Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này

    Hoặc khi lầm lỗi bị rầy

    Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khi trưởng huynh, nộ nạt thê nhi

    Bà con chẳng kể ra chi

    Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường. Lời dạy bảo song đường không kể

    Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng

    Ra vào lui tới mắng càn người trên.

     

    Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo thói hung hăng

    Đã không nhẫn nhịn, lại càng làm hung. Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ

    Nết tập quen, làm sự trái ngang Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang

    Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người. Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân, tìm kế sinh nhai Hoặc đi buôn bán kiếm lời

    Hoặc vào quân lính với đời lập công. Vì ràng buộc đồng công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con

    Quên cha, quên mẹ tình thâm

    Quê hương xứ sở lâu năm không về. Ấy là nói những người có chí

    Chớ phần nhiều du hí mà thôi Sau khi phá hết của rồi

    Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài. Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc

    Phạm tội hình, tù rạc phải vương

     

    Hoặc khi mang bệnh giữa đường

    Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng.

    Hay tin dữ bà con cô bác

    Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu Thương con than khóc ưu sầu

    Có khi mang bịnh đui mù vấn vương Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn

    Hoặc nghe con chẳng lo lường

    Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mải miết con đường bất chính Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan

    Làm cho cha mẹ than van

    Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời. Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu

    Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều Ốm đau đói rách kêu rêu

    Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương.

    Phận con gái khi nương cha mẹ Còn có lòng hiếu để thuận hòa

     

    Cần lao phục dịch trong nhà

    Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi. Song đến lúc tùng phu xuất giá Lo bên chồng, chẳng sá bên mình Trước còn lai vãng đến thăm

    Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà. Quên dưỡng dục song thân ân trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau Chẳng lo báo bổ cù lao

    Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi. Nếu mẹ cha la rầy quở mắng

    Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên Đến khi chồng đánh liên miên

    Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than. Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ

    Nói không cùng nghiệp dữ phải mang Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng

    Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay. Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi

    Đập vào mình, vào mũi, vào hông Làm cho các lỗ chân lông

    Thảy đều rướm máu ướt dầm cả thân

     

    Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng: Bọn ta quả thật tội nhân

    Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù. Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

    Ruột gan dường như nát như tan Tội tình khó nỗi than van

    Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu. Trước Phật tiền ai cầu trấn tố

    Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân Làm sao báo đáp thâm ân

    Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình? Phật bèn dùng phạm thinh sáu món Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe

    Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề

    Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Ví có người ân sâu dốc trả

    Cõng mẹ cha tất cả hai vai

    Giáp vòng hòn núi Tu Di

    Đến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa. Ví có người gặp cơn đói rét

    Nuôi song thân dâng hết thân này

     

    Xương nghiền thịt nát phân thây

    Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng. Ví có người vì công sanh dưỡng

    Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy

    Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu. Ví có người cầm dao thiệt bén

    Mổ bụng ra rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than

    Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng. Ví có người dùng ngàn mũi nhọn

    Đâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao

    Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền Ví có người vì ân dưỡng dục

    Tự treo mình, cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm

    Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền. Ví có người xương nghiền ra mỡ

    Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan, thịt nát chẳng phiền

    Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.

     

    Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan

    Đến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn này. Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng Giọt lệ trần khó nỗi cầm ngăn

    Đồng thanh bạch với Phật rằng

    Làm sao trả đặng thâm ân song đường? Phật mới bảo các hàng Phật tử:

    (1 tiếng chuông)

     

    Phải lắng nghe ta chỉ sau này

    Chúng ngươi muốn đáp ơn dày

    Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền. Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng

    Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa

    Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi. Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ

    Mười phương Tăng đều dự lễ này

    Sắm sanh lễ vật đủ đầy

    Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng

     

    Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn

    Ấy là báo đáp thù ân

    Sanh thành dưỡng dục song thân của

    mình.

    Phật tử phải cần chuyên trì giới Pháp Tam Quy, ngũ giới giữ gìn Những lời ta dạy đinh ninh

    Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai. Được như vậy mới là khỏi tội

    Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra

    Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay. Sau khi chết, bị đày vào ngục

    Ngũ Vô gián cũng gọi A Tỳ Ngục này trong núi Thiết Vi

    Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề. Trong ngục này hằng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than

    Có lò nấu sắt cho tan

    Rót vào trong miệng tội nhân hành hình. Một vá đủ cho người thọ khổ

     

    Lột thịt da đau thấu tâm can Lại còn chó sắt cắn gang

    Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân. Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong

    Rồi cho một ngọn lửa hồng

    Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau. Móc bằng sắt thương đao gươm giáo Trên không trung đổ xuống như mưa Gặp ai chém nấy chẳng chừa

    Làm cho thân thể như dưa chín muồi. Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng

    Như là xe sắt phân thây

    Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le. Nếu chết được, chết liền cho đỡ

    Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm sống chết muôn lần

    Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một

    giây.

    Sự hành phạt tại A Tỳ ngục

    Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân

     

    Chúng ngươi đều phải ân cần

    Thừa hành lời dạy, phân trần ở trên. Nhứt là phải kinh này biên chép Truyền bá ra cho khắp Đông Tây Như ai chép một quyển này

    Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn. Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Tùy theo phước báo lưu truyền

    Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung. Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh

    Lại hóa sanh về cảnh thiên cung Nghe lời Phật giảng vừa xong

    Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng. Lại phát nguyện dù thân này nát

    Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài Dầu cho kéo lưỡi trâu cày

    Đến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên. Ví như bị trăm ngàn dao mác

    Khắp thân này bằm nát như tương Trải trăm ngàn kiếp khôn lường

    Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu.

     

    Đức A Nan âu sầu đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh Dễ bề truyền bá chúng sanh

    Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau. Phật mới bảo A Nan nên biết :

    Quyển kinh này quả thiệt cao xa Đặt tên ‘BÁO HIẾU MẸ CHA’

    Cùng là ‘ÂN TRỌNG’ thật là chơn kinh. Các ngươi phải giữ gìn châu đáo

    Để đời sau, y giáo phụng hành.

    Sau khi, Phật dạy đành rành

    Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo. Cùng một lòng vâng lời Phật dạy

    Và kính thành tin chắc vẹn truyền Đồng nhau tựu lại Phật tiền

    Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra.

     

    Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

    Ma Ha Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Phật Nói

    KINH VU LAN BỒN

     

    Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

    Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Mục Liên mới đặng sáu thông

    Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân. Công dưỡng dục thâm ân dốc trả Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền Làm con hiếu hạnh vi tiên

    Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tìm. Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỷ Không uống ăn tiều tụy hình hài

    Mục Liên thấy vậy bi ai

    Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm. Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu Thấy cơm mẹ rất lo âu

    Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn. Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt Sợ chúng ma cướp giựt của bà Cơm đưa chưa đến miệng đà

     

    Hóa thành lửa đỏ, nuốt mà được đâu. Thấy như vậy âu sầu thê thảm

    Mục Kiền Liên bi thảm xót thương Mau mau về chốn giảng đường

    Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giải nàn.

    Phật mới bảo rõ ràng căn cội

    (1 tiếng chuông)

     

    Rằng mẹ ngươi gốc tội kết sâu Dầu ngươi thần lực nhiệm mầu

    Một mình không thể khấn cầu được đâu. Lòng hiếu thảo của ngươi dầu lớn

    Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên Cùng là các bực Thần kỳ

    Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương Cộng ba cõi sáu phương tu tập

    Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi Muốn cho cứu được mạng người

    Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng. Pháp cứu tế ta toan giảng nói

    Cho mọi người thoát khỏi ách nàn Bèn kêu Mục thị đến gần

    Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi :

     

    Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ

    (1 tiếng chuông)

     

    Mười phương Tăng đều dự lễ này Phải toan sắm sửa chớ chầy

    Thức ăn trăm món, trái cây năm màu. Lại phải sắm giường nằm nệm lót Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu Món ăn trong sạch báu mầu

    Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng. Chư Đại Đức mười phương thọ thực Trong bảy đời sẽ được siêu thăng

    Lại thêm cha mẹ hiện tiền

    Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn. Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ

    Dầu ở đâu cũng tụ hội về Như người thiền định sơn khê

    Tránh điều phiền não chăm về thiền na Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả Công tu hành nguyện thỏa vô sanh Hoặc người thọ hạ kinh hành

    Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng

    Hoặc người được lục thông tấn phát

     

    Và những hàng Duyên Giác, Thinh Văn Hoặc chư Bồ Tát mười phương

    Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh Đều trì giới rất thanh, rất tịnh

    Đạo đức dày chánh định chơn tâm Tất cả các bực Thánh, Phàm

    Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa Người nào có sắm ra vật thực

    Để cúng dường Tự Tứ Tăng thời Hiện tiền phụ mẫu của người

    Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn. Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi

    Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên. Như còn cha mẹ hiện tiền

    Nhờ đó cũng được bá niên thọ trường. Như cha mẹ bảy đời quá vãng

    Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung Người thời tuấn tú hình dung

    Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu

    thân.

    Phật dạy bảo mười phương tăng chúng Phải tuân theo thể thức sau này:

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Trước khi thọ thực đàn chay

    Phải cầu chú nguyện cho người tín gia Cầu thất thế mẹ cha thí chủ

    Định tâm thần quán đủ đừng quên Cho xong định ý hành thiền

    Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng Khi thọ dụng, nên an vật thực

    Trước Phật đài hoặc tự tháp trung Chư Tăng chú nguyện viên dung Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt

    Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng Đồng nhau tỏ dạ vui mừng

    Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy

    Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan. Mục Liên bạch với Phật rằng:

    (1 tiếng chuông)

    Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn

    Lại cùng nhờ oai thần Tam Bảo Nếu không thời nạn khổ khó ra

     

    Như sau Phật tử xuất gia

    Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh Độ cha mẹ còn đương tại thế

    Hoặc bảy đời có thể được không ?

    Phật rằng: Lời hỏi rất thông

    Ta vừa muốn nói, ngươi liền hỏi theo. Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ

    Cùng Quốc vương, Thái tử, Đại thần Tam Công, Tể tướng, Bá quan

    Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần Như chí muốn đền ơn cha mẹ Hiện tại cùng thất thế tình thâm Đến rằm tháng Bảy mỗi năm

    Sau khi kiết hạ, chư Tăng tựu về Chính ngày ấy Phật đà hoan hỷ Phải sắm sanh bá vị cơm canh Đựng trong bình bát tinh anh

    Chờ giờ Tự Tứ, chúng Tăng cúng dường Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi

    Cùng cầu thất thế đồng thời

    Lìa nơi ngạ quỷ, sanh về nhơn, thiên

     

    Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp Lại xa lìa nạn khổ cực thân

    Môn sanh Phật tử ân cần

    Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên Thường cầu nguyện thung huyên an hảo Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh

    Ngày rằm tháng bảy mỗi năm

    Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền. Lễ cứu tế chí thành sắp đặt

    Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng Ấy là báo đáp thù ân

    Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu. Đệ tử Phật lo âu gìn giữ

    Mới phải là Thích tử Thiền môn. Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn

    Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan Mục Liên với bốn ban Phật tử

    Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    KHEN NGỢI ĐỨC MỤC KIỀN LIÊN

     

    Mục Liên Tôn Giả Thay Phật tuyên hành Gậy vàng vừa gõ

    Cửa ngục băng thanh Tội nhơn giải thoát Tịnh Độ hóa sinh Phúc huệ mãi an lành.

     

    Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

    Ma Ha Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài

     

    soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng

     

    tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ VÃNG SANH

     

    Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

     

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM VU LAN

     

    Đệ tử chúng con Vâng lời Phật dạy Ngày rằm tháng Bảy Gặp hội Vu Lan Phạm Vũ huy hoàng Đốt hương đảnh lễ

    Mười phương Tam thế Phật, Pháp, Thánh, Hiền

    Noi gương đức Mục Kiền Liên Nguyện làm con thảo

    (1 tiếng chuông)

    Lòng càng ảo não Nhớ nghĩa thân sanh Con đến trưởng thành Mẹ dày đau khổ

    Ba năm nhũ bộ

    Chín tháng cưu mang

     

    Không ngớt lo toan Quên ăn bỏ ngủ Ấm no đầy đủ

    Cậy có công cha Chẳng quản yếu già Sanh nhai lam lũ Quyết cùng hoàn vũ Phấn đấu nuôi con Giáo dục vuông tròn Đem đường học đạo Đệ tử ơn sâu chưa báo Hổ phận kém hèn

    Giờ này quỳ trước đài sen

    Chí thành cung kính Đạo tràng thanh tịnh Tăng Bảo trang nghiêm Hoặc thừa tự tứ

    Hoặc hiện tham thiền Đầy đủ thiện duyên Dũ lòng lân mẫn

    Hộ niệm cho:

    (1 tiếng chuông)

     

    Bảy kiếp cha mẹ chúng con Đượm nhuần mưa Pháp Còn tại thế:

    Thân tâm yên ổn Phát nguyện tu trì Đã qua đời:

    Ác đạo xa lìa

    Chóng thành Phật quả

    Ngưỡng mong các đức Như Lai Khắp cõi hư không

    Từ bi gia hộ.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Cầu siêu công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu.

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát đạo cứu đời lầm than.

     

    Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng, nơi hóa sanh

    Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông) (chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

    Tác Đại Chứng Minh.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    Xe Tam Thừa lộng lẫy, Thuyền Bát Nhã thênh thang, sáu đường dốc ngược đèo ngang, ba cõi sông mê lặn hụp, thảm nỗi oan khiên lắm lúc, hương linh không đủ phước vãng sanh. Nguyện hương linh: … nay được an lành, nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ, vượt qua bể khổ, thoát khỏi Ta Bà, sen vàng chín phẩm nở hoa, pháp thân hiện Di Đà thọ ký. Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI

     

    NGHI THỨC‌

    TỤNG KINH DƯỢC SƯ

    (Bhaisajayaguru Sùtra)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Dương Chi
  • Chú Đại Bi
  • Kệ Khai Kinh
  • Kinh Dược Sư
  • Chú Dược Sư Quán Đảnh
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Niệm Phật
  • Sám Dược Sư
  • Hồi Hướng
  • Phục Nguyện
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Cầu nguyện cho những người đau liệt giường liệt chiếu, hay những bệnh nan y, thuốc men không thể chữa trị, nếu gia đình người bệnh thành tâm tụng kinh này, và cầu nguyện Đức Dược Sư, bệnh nhân sẽ được khỏi. Hơn nữa, người hay chiêm bao thấy những cảnh tượng rùng rợn, hay bị bùa chú ếm đối vân vân, người đó thành tâm tụng Kinh Dược Sư, Ngài sẽ phò hộ cho. Vì nhiều điều lợi lạc vừa kể trên, nên kinh này thường được tụng vào mỗi đầu năm.

     

    Nghi Thức

    TỤNG KINH DƯỢC SƯ

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Giới Hương, Định Hương, và Huệ Hương Giải Thoát, Giải Thoát, Tri Kiến Hương

     

    Sáng ngời, chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo, Năm Hương cúng dường.

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CẦU NGUYỆN

     

    Hôm nay, đệ tử chúng con, phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trì tụng Dược Sư Kinh chú, xưng tán Hồng Danh, tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo, từ bi gia hộ cho (tên họ…), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, thường được an lành, xa lìa khổ ách, cùng hết thảy chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN DƯƠNG CHI

     

    Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian

    Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ ĐẠI BI

     

    Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha

     

    tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra

     

    na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    PHẬT NÓI

    KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC

     

    Ta nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa ở các nước, đến thành Quảng Nghiêm, ở nghỉ dưới cây Nhạc Âm, cùng với tám ngàn vị đại Bí Sô, ba vạn sáu ngàn vị đại Bồ Tát, các hàng Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, các hàng Cư Sĩ, Thiên Long Bát Bộ, Trời, Người, cả thảy đồng vây quanh Phật, cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp.

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc bấy giờ, ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo bên hữu và gối bên mặt quì sát đất, chắp tay hướng về Phật và bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn, cùng những công đức thù thắng của chư Phật, để cho

     

    những người đang nghe Pháp, nghiệp chướng tiêu trừ, và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau.”

    Đức Thế Tôn khen Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Hay thay, Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu ta nói danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật, vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui trong đời tượng pháp. Nay ngươi nên lóng nghe và suy nghĩ cho kỹ, Ta sẽ vì Ông mà nói.”

    Này Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Ở phương Đông, cách đây hơn mười căn dà sa, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạt Già Phạm.

     

    Này Mạn Thù Thất Lợi: “Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh Bồ Tát có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện thứ nhất: “Ta nguyện đời sau, khi chứng được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thân ta có hào quang sáng chói, chiếu khắp vô số thế giới, khiến cho chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ như thân của Ta vậy.”

     

    Nguyện thứ hai: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi U minh đều nhờ ánh sáng ấy, tâm trí

     

    được mở mang, muốn đi đến chỗ nào để làm nên sự nghiệp, sẽ được như ý.”

     

    Nguyện thứ ba: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, dùng trí huệ, và phương tiện vô lượng vô biên, độ cho chúng hữu tình, khiến mọi người có đủ các vật dụng, không ai phải chịu sự thiếu thốn.”

    Nguyện thứ tư: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, ta khiến họ quay về an trụ trong Đạo Bồ Đề. Hoặc có những người tu theo hạnh Thinh Văn, Độc Giác, dùng giáo lý Đại Thừa, ta giảng dạy cho họ.”

     

    Nguyện thứ năm: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình, tu hạnh thanh tịnh, theo giáo pháp của Ta, Ta sẽ giúp họ giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ. Nếu có người bị tội hủy phạm giới pháp, nghe được danh hiệu Ta,

     

    người đó sẽ được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.”

     

    Nguyện thứ sáu: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, điên cuồng, chịu những bịnh khổ ấy, nếu nghe danh hiệu Ta, liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa.”

     

    Nguyện thứ bảy: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, nếu nghe danh hiệu Ta một lần, tất cả những bịnh hoạn

     

    khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề.”

     

    Nguyện thứ tám: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở, buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, nếu nghe danh hiệu Ta, được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề.”

     

    Nguyện thứ chín: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, dẫn dắt chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, Ta dẫn họ trở về với chánh kiến, và dần dần dạy họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát đặng mau chứng Đạo Bồ Đề.”

     

    Nguyện thứ mười: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị nhà vua xiềng xích, đánh đập, hoặc bị lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bứt rứt, nếu nghe danh hiệu Ta, nhờ sức oai thần phước đức của Ta, đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.”

     

    Nguyện thứ mười một: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, nếu nghe danh hiệu Ta, chuyên niệm thọ trì, trước hết Ta dùng các món ăn ngon ban bố cho họ được no đủ, và sau ta đem giáo pháp nhiệm mầu kiến lập cho họ cảnh giới an lạc hoàn toàn.”

     

    Nguyện thứ mười hai: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng

     

    hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân, bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh giãi dầu, ngày đêm khổ bức, nếu nghe và trì niệm danh hiệu Ta, Ta sẽ giúp cho người đó được như ý muốn: các thứ y phục tốt đẹp, bảo vật trang nghiêm, tràng hoa, phấn sáp thơm ngát, trống nhạc ca múa, muốn thưởng thức thứ nào cũng được thỏa mãn cả.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Này Mạn Thù Thất Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh Bồ Tát.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi còn tu hạnh Bồ Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu Ta nói mãn một kiếp cũng không thể hết được. Nhưng ta có thể nói ngay rằng – cõi Phật kia một bề thanh tịnh, không có

     

    đàn bà, cũng không có đường dữ, và đến tiếng khổ cũng không.

    Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, thành quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra, chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.

    Cõi Phật ấy, có hai vị đại Bồ Tát là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu, là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ Tát, và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị này đều giữ kho báu chánh pháp của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Mạn Thù Thất Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.

    Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại bảo Đồng Tử Mạn Thù Thất Lợi rằng: “Có những chúng sanh không biết điều lành dữ, cứ ôm

     

    lòng bỏn xẻn, không biết bố thí và cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn, nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lắt thịt cho người vậy. Lại có chúng hữu tình tham lam, chỉ lo tích trữ của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến xin. Những kẻ tham lam ấy, khi chết bị đọa vào đường ngạ quỉ hay bàng sinh. Mặc dù ở trong ác thú, nhưng nhờ đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nay lại còn nhớ niệm danh hiệu của Ngài, liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỉ súc sanh, biết sợ sự đau khổ, nên người đó không ưa đắm dục

     

    lạc, muốn tự mình làm việc bố thí, không tham tiếc món gì, có thể đem cả đầu, mắt, tay, chơn hay máu thịt của thân mình, bố thí cho những kẻ đến xin.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, trong chúng hữu tình có người thọ giới của Phật để tu học mà lại phá giới hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc, hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy hoại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến mà lại bỏ sự đa văn, nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói tăng thượng mạn, do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình là phải, người khác là quấy, chê bai chánh pháp, kết đảng với ma. Những kẻ ngu si ấy tự mình đã theo tà kiến, khiến cho người khác cũng sa vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy, bị trôi lăn trong các đường địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh không khi nào cùng. Nếu nghe được danh hiệu

     

    Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, họ liền bỏ những hạnh dữ, tu theo các pháp lành, khỏi bị đọa vào ác thú nữa. Giả sử có người không thể bỏ những hạnh dữ và không tu theo những pháp lành mà phải bị đọa vào ác thú thì cũng nhờ oai lực và bổn nguyện của Đức Dược Sư, liền từ nơi ác thú đó được sanh vào cõi người, tinh tấn tu hành chân chánh, khéo điều hòa tâm ý, xuất gia tu học giáo pháp của Như Lai, hiểu rõ nghĩa lý sâu sa, lìa được thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn với ma, dần dần tu theo hạnh Bồ Tát, sẽ chứng được đạo quả Bồ Đề.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh tham lam tật đố, hay khen mình chê người, sẽ bị đọa vào ba đường dữ, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, chịu nhiều sự đau đớn khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi đã hết sự đau khổ đó, liền sanh lại cõi người phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà, thường bị

     

    người hành hạ, đánh đập và bị đói khát dày vò, đường xa chở nặng, cực nhọc muôn phần; may đặng làm thân người, lại bị sanh vào hạng hạ tiện, làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị sai sử, không khi nào được chút tự do. Nếu những người ấy đời trước đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, do nhân lành ấy, ngày nay nhớ lại, chí tâm quy y Ngài, nhờ thần lực của Ngài gia hộ, được thoát khỏi mọi khổ não, các căn thông lợi, trí huệ sáng suốt, lại thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát vỏ vô minh, tát cạn sông phiền não, được thoát khỏi sanh, lão, bịnh, tử, và những nỗi đau khổ lo buồn.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh ưa sự ngang trái chia lìa, tranh đấu, kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm ác nghiệp, xoay qua trở lại, thường làm những việc không nhiêu ích để mưu

     

    hại lẫn nhau, hoặc cáo triệu thần núi, thần cây, thần sông, vân vân, để hại người, hoặc giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỉ Dược Xoa và quỉ La Sát để cậy quỉ hại người, hoặc biên tên họ hay làm hình tượng của người cừu oán, dùng phép chú thuật tà ác trù ẻo cho chết, hoặc theo lối ếm đối hay dùng những đồ độc, chú pháp hại người, người nào bị những tai nạn ấy, nếu nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, các thứ tà ác kia không thể hại được. Nếu những kẻ ác tâm đó khởi lòng từ bi làm việc lợi ích an vui cho kẻ khác, không còn ý tổn não và hiềm giận, người đó sẽ được an vui.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu trong hàng tứ chúng: Bí Sô, Bí Sô Ni, Ô Ba Sách Ca, Ô Ba Tư Ca và những thiện nam, tín nữ đều thọ trì tám giới cấm, hoặc trong một năm, hoặc mỗi năm ba tháng, vâng giữ giới pháp làm nơi y chỉ tu học, đem căn lành này nguyện sanh về cõi Cực Lạc của

     

    Đức Phật A Di Đà, để nghe chánh pháp, nhưng nếu chưa quyết định, hễ nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi mạng chung, sẽ có tám vị đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát từ trên không trung đi đến đưa đường chỉ lối, người đó liền được sanh trong những hoa báu đủ màu. Hoặc nếu có kẻ, nhờ nguyện lực của Đức Dược Sư, được sanh lên cõi trời, và lại nhờ căn lành sẵn có, không còn sanh lại những đường ác nữa. Khi tuổi thọ ở cõi trời đã mãn, người đó lại sanh trong chốn nhân gian, hoặc làm bậc Luân Vương, thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ, oai đức tự tại, giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn chúng hữu tình theo đường thập thiện, hoặc sanh vào dòng Sát Đế Lỵ, Bà La Môn hay cư sĩ đại cô, của tiền dư dật, kho đụn tràn đầy, tướng mạo đoan

     

    trang, quyến thuộc sum vầy, lại được thông minh trí huệ, dõng mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. Còn nếu có người phụ nữ nào nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hết lòng thọ trì danh hiệu ấy, đời sau sẽ không làm thân gái nữa.

    Này Mạn Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi đã chứng đạo Bồ Đề, do sức Bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối, đồ độc, hoặc bị hoạnh tử, hoặc bị chết non. Muốn những chứng bệnh ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Ngài liền nhập định để: “diệt trừ tất cả khổ não của chúng sanh.” Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn, trong luồng ánh sáng ấy nói đại đà la ni:

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô bạt già phạt đế, bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặt bà hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế xoa hoa.

    Lúc đó, luồng ánh sáng diễn chú này rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang minh làm cho tất cả chúng sanh, dứt hết bịnh khổ, hưởng được an vui.

    Này Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nào đang mắc bịnh, khuyên họ tắm gội sạch sẽ, và vì họ nhứt tâm tụng chú này một trăm lẻ tám biến, chú nguyện trong thức ăn, trong thuốc uống, hay trong nước không vi trùng, cho họ uống, những bệnh khổ ấy đều dứt hết.

    Nếu có người mong cầu việc gì, chỉ nhất tâm tụng chú này, đều được như ý muốn, đã không bệnh lại được sống lâu, sau khi mạng chung, người đó được sanh về thế

     

    giới Tịnh Lưu Ly, không còn thối chuyển, rồi dần dần chứng quả Bồ Đề.

    Vậy nên, Mạn Thù Thất Lợi! Chúng hữu tình hết lòng ân cần tôn trọng, cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và thường trì tụng chú này đừng lãng quên.

    Lại nữa, nếu có thiện nam tín nữ nào được thấy hình tượng Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, mỗi sớm mai, súc miệng, đánh răng, tắm gội sạch sẽ, xong lại thắp hương, rải dầu thơm, các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng; với kinh này, nên dạy người khác hay tự mình biên chép ra, một lòng thọ trì để thấu rõ nghĩa lý; với vị pháp sư giảng nói kinh pháp, nên cúng dường tất cả những vật dụng cần thiết, hễ hết lòng như vậy, chư Phật sẽ phò hộ người đó được mãn nguyện mọi sự mong cầu.

    Lúc bấy giờ, Mạn Thù Thất Lợi đồng tử bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, qua

     

    thời kỳ tượng pháp, tôi sẽ dùng đủ chước phương tiện, khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng tin trong sạch, được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả đến trong giấc ngủ của họ, tôi cũng dùng danh hiệu của Đức Phật này, thức tỉnh nơi tai cho họ rõ biết.”

    “Bạch Đức Thế Tôn, nếu ai thọ trì đọc tụng kinh này, hoặc đem giảng nói, bày tỏ cho người khác, hoặc tự mình hay dạy người biên chép kinh này, hết lòng cung kính tôn trọng, dùng bông thơm, dầu thơm, các thứ hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướng lọng, cùng âm nhạc hát múa để cúng dường, hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này, quét dọn một nơi sạch sẽ, thiết lập một cái đài cao để lên, liền có bốn vị Thiên Vương quyến thuộc, và vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi Trời khác đều đến đó cúng dường và thủ hộ.”

     

    “Bạch Đức Thế Tôn, nếu kinh này lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ công đức bổn nguyện của Ngài, chỗ ấy không bị bịnh hoạnh tử, cũng không bị những ác quỉ, ác thần đoạt lấy tinh khí, dầu có bị đoạt lấy, cũng được hoàn lại, thân tâm khỏe mạnh như thường.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: Thật đúng như lời ngươi nói, nếu có thiện nam tín nữ nào muốn cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, trước phải tạo lập hình tượng Ngài, để trên tòa cao sạch sẽ, rải bông, đốt các thứ hương, dùng các thứ tràng phan trang nghiêm, thờ như thế trong bảy ngày bảy đêm. Người đó phải thọ tám giới, ăn đồ thanh tịnh, tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề, giữ lòng thanh tịnh, không giận dữ, không sát hại, đối với tất cả loài hữu tình phải khởi tâm bình

     

    đẳng, đủ cả tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả, làm cho họ được lợi ích an vui, đánh nhạc ca hát ngợi khen, đi nhiễu quanh tượng Phật, nghĩ nhớ công đức bổn nguyện đọc tụng kinh này, suy nghiệm nghĩa lý, khai thị cho người khác biết. Làm như vậy, người đó được toại ý việc mong cầu – như cầu sống lâu, được sống lâu, cầu giàu sang, được giàu sang, cầu quan vị, được quan vị, cầu sanh con trai, con gái, thì được sanh con trai, con gái.

    Nếu có người nào trong giấc ngủ thấy những điềm chiêm bao dữ, khi thức thấy những ác tướng, như chim đậu gần nhà, hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị, người ấy nên dùng của báu cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, những ác mộng, ác tướng và những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết, không còn phải lo sợ.

    Nếu người nào gặp tai nạn nguy hiểm như nạn nước, lửa, gươm, đao, thuốc độc và các cầm thú dữ gây sự sợ hãi như: Voi,

     

    sư tử, cọp, sói, gấu, rắn độc, bò cạp, rít, sên, lằn muỗi, hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó được thoát khỏi những sự sợ hãi ấy; hoặc nếu bị các nước khác xâm lăng, nhiễu hại, trộm cướp rối loạn, nhớ niệm và cung kính Đức Dược Sư, người đó cũng được thoát khỏi những nạn ấy.

    Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu có thiện nam tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến ngày chết, không thờ những vị Trời nào, chỉ một lòng nương theo Phật, Pháp, Tăng, giữ gìn năm giới, mười giới, Bồ Tát mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, Tỳ kheo Tăng hai trăm năm mươi giới, Tỳ kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới, nếu có hủy phạm những giới pháp đã thọ, sợ đọa vào ác thú, nếu chuyên niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó quyết định không thọ sanh trong ba đường ác.

     

    Lại nếu có người nữ nào đương lúc sanh sản phải chịu sự cực khổ đau đớn, xưng danh hiệu, lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó sẽ khỏi những sự đau khổ ấy, khi sanh con ra được vuông tròn, tướng mạo đoan nghiêm, lợi căn thông minh, an ổn ít bịnh hoạn, ai thấy cũng vui mừng và không bị quỉ cướp đoạt tinh khí.

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc ấy, Đức Thích Ca bảo A Nan: “Như Ta đã khen ngợi công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đó là công hạnh rất sâu xa của chư Phật, khó hiểu thấu được, vậy ngươi có tin chăng?” A Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, đối với Khế Kinh của Như Lai nói, không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu, ý của Như Lai đều thanh tịnh. Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống, núi Diệu Cao có thể lay động, nhưng những lời của

     

    chư Phật nói ra không bao giờ sai được. Bạch Đức Thế Tôn nếu có chúng sanh nào tín căn không đầy đủ, nghe nói đến những công hạnh sâu xa của chư Phật, thì nghĩ rằng: “Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy?” Vì sự không tin đó, trở sanh lòng hủy báng, nên họ phải mất nhiều điều lợi ích, mãi ở trong cảnh đêm dài tăm tối, lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú, lưu chuyển không cùng.”

    Phật lại bảo A Nan: “Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, không sanh lòng nghi hoặc, mà đọa vào ác thú, thì thật vô lý vậy.”

    “Này A Nan, đó là công hạnh rất mầu nhiệm của chư Phật, khó tin, khó hiểu, nay ngươi lãnh thọ được, đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy.”

    (1 tiếng chuông)

     

    “Này A Nan, tất cả các hàng Thinh Văn, Độc Giác và các bậc Bồ Tát chưa lên đến bậc Sơ Địa đều không thể tin đúng như thật, chỉ trừ những bậc Nhất Sanh Sở Hệ Bồ Tát mới tin hiểu được mà thôi.”

    “Này A Nan, thân người khó đặng, nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam Bảo còn khó hơn, huống chi nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại còn khó hơn nữa.”

    “Này A Nan, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát, dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo, phát không biết bao nhiêu nguyện rộng lớn, nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp, thì kiếp số đó có thể mau hết, chớ những hạnh nguyện và những phương tiện khéo léo của Đức Dược Sư, không khi nào nói cho hết được.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Lúc bây giờ trong chúng hội có một vị Đại Bồ Tát tên là Cứu Thoát Bồ Tát liền từ

     

    chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối bên mặt quì sát đất, cúi đầu chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đến thời kỳ Tượng Pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn nạn, khốn khổ, tật bịnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô ran, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bạn bè quen biết, vây quanh khóc lóc. Thân bịnh nằm đó, đã thấy quỉ sứ đến dẫn thần thức, đem lại trước vua Diêm Ma. Liền khi ấy, thần Cu Sanh ghi tội phước của người đó, dâng lên vua Diêm Ma.” Lúc bấy giờ, vua phán hỏi và kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu trong lúc đó, bà con quen biết, vì người bịnh ấy, quy y với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh này, đốt đèn bảy từng, treo thần phang tục mạng năm sắc, hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm ngày, bốn mươi chín ngày, thần

     

    thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và quả báo đã thọ. Chính đã thấy rõ những nghiệp báo như vậy, dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng, người đó cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên, những thiện nam tín nữ phải một lòng trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.”

    Lúc bấy giờ, A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Nên cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly như thế nào, còn đèn và phang tục mạng phải làm sao?”

    (1 tiếng chuông)

     

    Cứu Thoát Bồ Tát nói: “Nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ, bà con của họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày, bảy đêm, tùy theo sức mình sắm sửa thức ăn uống và các thứ cần dùng để cúng dường chư Tăng, ngày đêm sáu thời, kính lễ Đức Dược Sư Lưu Ly

     

    Quang Như Lai, đọc tụng Kinh này bốn mươi chín biến và thắp bốn mươi chín ngọn đèn, lại tạo bảy hình tượng Đức Dược Sư, trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt; thần phang được làm bằng hàng ngũ sắc, bề dài bốn mươi chín gang tay, phải phóng sinh bốn mươi chín loài vật khác nhau, người bịnh ấy sẽ qua khỏi ách nạn, không còn bị hoạnh tử và các loài quỉ nhiễu hại.”

    “Lại nữa A Nan, nếu trong giòng Sát Đế Lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh mà gặp lúc có nạn, nhân dân bị bịnh dịch, bị nước khác xâm lăng, bị nội loạn, hay bị nạn tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị: Như nhựt thực, nguyệt thực, mưa gió trái mùa, hạn hán, động đất vân vân, khi đó, các vị quốc vương phải đem lòng từ bi, thương xót tất cả nhân dân, ân xá cho tội nhơn bị giam

     

    cầm, cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ căn lành này và nhờ thần lực của Ngài, khiến trong nước được an ổn, mưa hòa gió thuận, lúa thóc được mùa, tất cả nhân dân đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không có thần Dược Xoa bạo ác, não hại lê dân. Tất cả ác tướng ấy đều ẩn mất và các vị quốc vương được sống lâu khỏe mạnh”.

    Này A Nan, nếu các hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, thái tử, vương tử, đại thần phụ tướng, thể nữ trong cung, bá quan và thứ dân mà bị bịnh khổ cùng những tai nạn, nên tạo lập thần phang năm sắc, đèn Dược Sư được thắp sáng luôn, phóng sanh các loài vật, rải hoa đủ sắc, đốt các thứ danh hương để cúng dường đức Dược Sư, những người đó sẽ được lành bịnh và thoát khỏi các tai nạn”.

    Ngài A Nan lại hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Tại sao cái mạng đã hết mà còn sống thêm được?” Cứu Thoát Bồ Tát nói:

     

    “Như Lai nói có chín thứ hoạnh tử, Đại Đức không nghe hay sao? Vậy nên, Cứu Thoát khuyên người làm phang và đèn tục mạng, tu các phước đức và nhờ đó nên suốt đời không bị khổ sở hoạn nạn”.

    (1 tiếng chuông)

     

    Ngài A Nan lại hỏi: “Chín thứ hoạnh tử là gì?” Cứu Thoát Bồ Tát trả lời: “Một là nếu có người nào bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, không người săn sóc, hay có gặp thầy lại cho uống lầm thuốc, bịnh không đáng chết mà lại chết oan. Trong khi đang bịnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng run sợ, không còn tự chủ, phân biệt chánh tà, bói khoa chú thuật, gây thêm tội lỗi, giết hại sanh linh, tấu với thần minh, vái van vọng lượng, để xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng không thể được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến, điên đảo quỉ mị, nên bị hoạnh tử,

     

    đọa vào địa ngục, đời đời không ra khỏi. Hai là bị phép vua tru lục. Ba là chơi bời trụy lạc, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỉ đoạt mất tinh khí. Bốn là bị chết thiêu. Năm là bị chết đắm. Sáu là bị các thú dữ ăn thịt. Bảy là bị sa từ trên cao xuống. Tám là bị chết vì thuốc độc, ếm đối, chửi rủa, trù ẻo và bị quỉ Tử Thi làm hại. Chín là bị chết vì đói khát khốn khổ. Đó là chín hoạnh tử, Như Lai nói ra. Còn những hoạnh tử khác, nhiều vô lượng, không thể nói hết được.”

    (1 tiếng chuông)

     

    “Lại nữa A Nan, vua Diêm Ma kia là thủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi, tội phước trong thế gian. Nếu có người nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục Ngôi Tam Bảo, phá hoại phép vua tôi, hủy phạm giới cấm, vua Diêm Ma theo tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế Ta khuyên mọi người nên thắp đèn làm

     

    phang, phóng sanh, tu phước để khỏi các khổ ách, chỉ gặp những điều vui.”

     

    Lúc bấy giờ, trong chúng hội có mười hai vị Dược Xoa đại tướng:

    Cung Tì La đại tướng, Phạt Chiếc La đại tướng, Mê Súy La đại tướng, An Để La đại tướng,

    Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Bi Da La đại tướng,

    Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đỗ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng,

    (1 tiếng chuông)

     

    mười hai vị đại tướng này, mỗi vị đều có bảy ngàn quyến thuộc Dược Xoa đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay, chúng tôi nhờ oai lực của Phật,

     

    được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn sợ sệt các đường ác thú nữa. Chúng tôi đồng một lòng trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Trong làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh này lưu bố đến, hay có người thọ trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ cầu việc chi cũng được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi, nên đọc tụng kinh này và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mới mở gút ra.”

    Lúc ấy, Đức Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại Tướng Dược Xoa, các ngươi muốn báo đáp công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly

     

    Quang Như Lai nên phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như vậy.”

     

    Đồng thời, A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, pháp môn này gọi tên là gì? Và chúng tôi phải phụng trì như thế nào?”

    (1 tiếng chuông)

     

    Phật bảo A Nan: “Pháp môn này gọi là Bổn Nguyện và Công Hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cũng gọi là Kiết Nguyện Thần Chú của mười hai Thần Tướng, và cũng gọi là Con Đường Dứt Trừ Tất Cả Nghiệp Chướng. Nên đúng như vậy mà thọ trì.”

     

    Khi Phật nói lời ấy rồi, các hàng Đại Bồ Tát, Thinh Văn, Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, Cư Sĩ, Thiên, Long, Dược Xoa, Kiền Thát Bà, A Tố Lạc, Yết Lộ Trà, Khẫn Nại Lạc, Mạc Hô Lạc Dà, Người

     

    cùng các loài quỉ thần, tất cả đại chúng đều hết sức vui mừng và đồng tin giữ vâng làm.

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH

     

    Nam Mô bạt dà phạt đế, bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặc bà hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế xoa ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết, Nghiệp chướng bao đời đều giải hết,

    Rửa sạch lòng trần, phát tâm thành kính, Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết, Dược Sư Phật, Dược Sư Phật,

    Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, Tùy Tâm Mãn Nguyện Dược Sư Phật.

    Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có

     

    chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,

     

    Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM DƯỢC SƯ

     

    Cúi đầu trước mười phương chư Phật Chúng con nguyền chân thật kính tin Phát lời thệ nguyện độ sinh

    Y theo Giáo Pháp, Luật, Kinh chỉ bày: Ngày nào cũng lắm thay công việc

    Vì ngu mê mải miết ân cần Ngày đêm lo tảo bán tần

    Trăm mưu ngàn kế, vô ngần thảm

    thương.

    Lạc một bước sa đường xuống hố Bị vô minh lắm độ truân chuyên Vào ra sáu cõi triền miên

    Mang thân tứ đại thảm phiền biết bao! Vậy nhân thế hãy mau xét kỹ

    Kiếp phù sinh chớ nghĩ lẳng lơ Khuyên đừng đem dạ tưởng mơ Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây. Rút gươm huệ dứt dây tham ái Kíp tìm thầy thọ phái quy y

    Giữ gìn ngũ giới tam quy

     

    Mở lòng từ mẫn, sân si quyết chừa. Rèn lòng kinh kệ sớm trưa

    Nguyện con ra khỏi nắng mưa cõi trần. Ngưỡng cầu chư Phật thi ân

    Đệ tử phát nguyện ân cần thiết tha:

     

    Một là: Nguyện Đức Di Đà

    (1 tiếng chuông)

     

    Cầu xin bá tánh trẻ già khắp nơi Làm lành lánh dữ kịp thời

    Nhà nhà an lạc, nơi nơi thái hòa.

     

    Hai là: Nguyện Đức Thích Ca Trở đời ly loạn hóa ra thái bình Mở mang vận hội văn minh

    Tâm thần thơ thới, nhơn tình trung lương.

     

    Ba là: Nguyện Chuẩn Đề Vương

    Thần thông dẹp hết bốn phương chiến trường

    Độ người ngỗ nghịch bạo cường

     

    Bỏ tà quy chánh, theo đường thiện tâm.

     

    Bốn là: Nguyện Đức Quán Âm

    Độ người thù oán cừu thâm thuận hòa Giúp bao tai nạn xảy ra

    Cùng người tật bịnh đều hòa an thuyên.

     

    Năm là: Nguyện Đức Phổ Hiền

    Độ người chân chánh, giữ quyền an dân Bốn phương tương ái tương thân

    Đồng tuân pháp nước, nhân dân kính nhường.

     

    Sáu là: Nguyện Địa Tạng Vương

    Độ người xiêu lạc bốn phương được về Cùng là người chết thảm thê

    Hồn linh độ hết đưa về Tây Phương.

    Kìa, Cực Lạc là nơi an dưỡng

    (1 tiếng chuông)

     

    Đất lưu ly vô lượng khiết tinh Có Ao Thất Bảo quang minh

    Có Sen Chín Phẩm như hình bánh xe.

     

    Ao Thất Bảo ngỏa nguê đẹp đẽ Nước Bát Công sạch sẽ tinh vi Bảy hàng cây báu lưu ly

    Lan can bảy lớp ma ni sáng ngời. Chim nói Pháp hôm mai êm dịu

    Hoa trên không lểu nhểu cúng dường. Bồ Đề nảy búp ngát hương

    Cúi xin chư Phật, đoái thương cứu độ.

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Cầu an công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu.

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.

     

    Nguyện đem công đức lành

     

    Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

     

    PHỤC NGUYỆN

     

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh.

    (1 tiếng chuông)

     

    Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Dược Sư Kinh, Chú, niệm Phật công đức, cầu nguyện cho Phật tử (tên họ:…, Pháp danh:…), đương đời phiền não dứt sạch,

    nghiệp chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, hưởng cảnh an nhàn, thiên thượng nhân gian, đều trọn thành Phật quả.

    (1 tiếng chuông, đồng niệm)

     

    Nam Mô A Di Đà Phật.

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    THẦN KIM CANG

     

    NGHI THỨC‌

    TỤNG KINH KIM CANG

    (Vajracchedikà – Pràjnàpàramità – Sùtra)

     

    GỒM CÓ:

     

  • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
  • Cúng Hương
  • Cầu Nguyện
  • Khen Ngợi Phật
  • Quán Tưởng Phật
  • Đảnh Lễ
  • Tán Hương Cúng Phật
  • Chú Tịnh Khẩu Nghiệp và Tịnh Tam Nghiệp
  • Chú An Thổ Địa, và Phổ Cúng Dường
  • Phụng Thỉnh Tám Vị Thần Kim Cang
  • Phụng Thỉnh Bốn Vị Đại Bồ Tát
  • Văn Phát Nguyện
  • Thỉnh Phật Thuyết Pháp
  • Kinh Kim Cang
  • Chú Kim Cang
  • Kệ Khen Ngợi
  • Kinh Bát Nhã Ba La Mật
  • Niệm Phật
  • Sám Ngã Niệm
  • Hồi Hướng
  • Tam Quy

     

    DÙNG ĐỂ:

    Phá ngã chấp, Tụng Kinh Kim Cang, hiểu được nghĩa lý rốt ráo, dứt hết phiền não mau lẹ, và đạt đến bờ Giác Ngộ dễ dàng. Vì đặc tính đó, có người tụng để trị bịnh tà ma, và nhờ đó gia đình không bị xào xáo. Hơn nữa, người thọ trì Kinh này, đương đời trí tuệ sáng suốt, khi thân hoại mạng chung, lưỡi không bị hư rã.

     

    Nghi Thức

    TỤNG KINH KIM CANG

     

    (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

     

    CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

    Án lam xoa ha.

    (3 lần)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần)

     

    (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

     

    CÚNG HƯƠNG

     

    Giới Hương, Định Hương, và Huệ Hương Giải Thoát, Giải Thoát, Tri Kiến Hương Sáng ngời, chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo, Năm Hương cúng dường.

    Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma

    Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    CẦU NGUYỆN

    (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ nguyện)

     

    Hôm nay, đệ tử chúng con, phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trì tụng Kim Cang Kinh Chú, xưng tán Hồng Danh, tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo, từ bi gia hộ: (tên họ…), phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, xa lìa khổ ách, thường được an lành, vạn sự đắc thành như ý.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    KHEN NGỢI PHẬT

     

    Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

    Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

    Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    QUÁN TƯỞNG PHẬT

     

    Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

    Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

    Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

    (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

     

    ĐẢNH LỄ

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT

     

    Hương trầm vừa đốt Thơm ngát mười phương Thành kính cúng dường Mười phương Tam Bảo.

    Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ TỊNH KHẨU NGHIỆP

    Tu rị tu rị, ma ha tu rị tu tu rị, tát bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

    Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ AN THỔ ĐỊA

    Nam mô tam mãn đa một đà nẵm, án độ rô độ rô, địa vỷ ta bà ha.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG

    Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    PHỤNG THỈNH

    TÁM VỊ THẦN KIM CANG

     

    Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang. Phụng thỉnh Bích Độc Kim Cang.

    Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang. Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang. Phụng thỉnh Xích Thinh Hỏa Kim Cang. Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang.

    Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang. Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang.

    (1 tiếng chuông)

     

    PHỤNG THỈNH

    BỐN VỊ ĐẠI BỒ TÁT

     

    Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ Tát. Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ Tát.

     

    Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ Tát. Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ Tát.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    VĂN PHÁT NGUYỆN

     

    Đảnh lễ đấng Trung Tôn

    Quy mạng mười phương Phật Con nay phát hoằng nguyện Trì tụng Kinh Kim Cang Trên đền đáp bốn ân

    Dưới cứu khổ ba đường Nếu có kẻ thấy nghe Xin phát lòng Bồ Đề Khi mãn báo thân này Đồng sanh về cõi Phật.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    THỈNH PHẬT THUYẾT PHÁP

     

    Tụng Kinh này thế nào Được giác ngộ giải thoát? Tu sao được sống lâu

    Thân Kim Cang không hoại? Lại tu như thế nào

    Được sức mạnh vô biên? Xin Phật vì đại chúng Diễn nói Pháp nhiệm mầu.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHAI KINH

     

    Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

    Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ

    Tát.

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    PHẬT NÓI

    KINH KIM CANG

    BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    • CHỖ PHẬT NÓI KINH

       

      Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ, cùng với chúng đại Tỳ Kheo, một nghìn hai trăm năm mươi vị. Lúc đó, gần đến giờ ăn, Đức Thế Tôn đắp y bưng bát vào thành Xá Vệ khất thực. Theo thứ tự ghé từng nhà khất thực rồi, Đức Phật trở về Tịnh Xá. Dùng cơm xong, cất y bát và rửa chơn, Đức Phật trải tòa ngồi.

      (1 tiếng chuông)

       

    • ÔNG TU BỒ ĐỀ HỎI PHẬT

       

      Bấy giờ, ông Trưởng Lão Tu Bồ Đề, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai hữu và gối bên hữu quỳ sát đất, cung kính chắp tay, bạch Phật rằng:

       

      “Hi hữu thay Đức Thế Tôn, Đức Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát và khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát. Bạch Đức Thế Tôn, nếu có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thời phải trụ tâm như thế nào, và hàng phục tâm như thế nào?”

       

      Đức Phật dạy: “Hay thay! Hay thay! Này Tu Bồ Đề, đúng như lời của ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát và khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát. Nay, ông nên lóng nghe, ta sẽ vì ông mà nói. Nếu có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải trụ tâm như thế này phải hàng phục tâm như thế này.”

       

      Bạch Đức Thế Tôn, Con vui mừng muốn nghe.

      (1 tiếng chuông)

       

    • ĐẠI THỪA CHÁNH TÔN

       

      Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: “Các vị đại Bồ Tát phải hàng phục tâm mình như thế này: Nhiều loài chúng sanh, hoặc là noãn sanh, hoặc thai sanh, hoặc thấp sanh, hoặc hóa sanh, hoặc loài có hình sắc, hoặc loài không hình sắc, hoặc loài có tư tưởng, hoặc loài không tư tưởng, hoặc loài chẳng phải có tư tưởng mà cũng chẳng phải không tư tưởng. Ta đều độ chúng chứng được Vô Dư Niết Bàn. Độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, mà không có chúng sanh là kẻ được độ. Tại sao vậy? Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát còn có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thời chẳng phải là Bồ Tát.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

       

      Lại nữa, Tu Bồ Đề, vị Bồ Tát, đúng nơi Pháp, không có chỗ trụ trước để bố thí,

       

      nghĩa là không trụ trước nơi hình sắc mà bố thí, không trụ trước nơi thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên bố thí như thế, chẳng trụ trước nơi tướng. Vì sao? Vì Bồ Tát không trụ trước nơi tướng để bố thí, thời phước đức nhiều không thể suy lường.

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ sao? Có thể suy lường được cõi hư không ở phương Đông chăng?

      Bạch Đức Thế Tôn, không thể suy lường được.

      Tu Bồ Đề, có thể suy lường được cõi hư không ở phương Nam, Tây, Bắc, cõi hư không ở bốn hướng cạnh và cõi hư không ở Trên, Dưới chăng?

       

      Bạch Đức Thế Tôn, không thể suy lường được.

      Tu Bồ Đề, Bồ Tát không trụ trước nơi tướng để bố thí, thời phước đức cũng lại như thế, không thể suy lường được.

       

      Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên đúng như lời Ta dạy mà trụ.

      (1 tiếng chuông)

       

    • THẤY CHƠN THẬT ĐÚNG LÝ

       

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ sao? Căn cứ trên thân tướng có thể thấy Như Lai không?

      Bạch Đức Thế Tôn, không thể căn cứ trên thân tướng thấy được Đức Như Lai. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói thân tướng mà chẳng phải thân tướng.

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Phàm có tướng đều là hư vọng cả; nếu thấy các tướng đều không phải là tướng, chính là thấy Như Lai.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHÁNH TÍN RẤT HI HỮU

       

      Ông Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, như có chúng sanh nào được

       

      nghe những câu, bài giảng như vậy, có sanh lòng tin thật chăng?”

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Ông chớ nói lời ấy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người trì giới tu phước có thể sanh lòng tin nơi những câu trong bài này mà cho đó là thật; phải biết rằng người ấy chẳng phải vun trồng căn lành nơi một Đức Phật, hai Đức Phật, ba, bốn, năm Đức Phật, mà người đó đã vun trồng căn lành từ nơi vô lượng nghìn muôn ức Đức Phật rồi.

      Như có ai nghe những câu trong bài này, sanh lòng tin trong sạch, trong khoảng một niệm, Tu Bồ Đề, Như Lai đều thấy đều biết những chúng sanh đó đặng phước đức vô lượng. Vì sao? Vì những chúng sanh đó không còn có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, không có pháp tướng, cũng không có phi pháp tướng. Vì sao? Vì những chúng sanh đó nếu trong lòng chấp tướng thời chính là

       

      chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp pháp tướng thời chính là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả và vì nếu chấp phi pháp tướng thời cũng chính là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, vì thế cho nên chẳng nên chấp Pháp và chẳng nên chấp phi Pháp.

      Cùng ý nghĩa đó, nên Như Lai thường dạy rằng: “Này các Tỳ Kheo, các ông phải biết Pháp của Ta nói ra, cũng như thuyền bè, Pháp còn phải xả bỏ, huống nữa là phi Pháp.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT

       

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có chứng được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không? Như Lai có nói Pháp không?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Như con hiểu ý nghĩa của Đức Phật nói, thời không có

       

      Pháp nào nhứt định gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng không có Pháp nào nhứt định, Đức Như Lai có thể nói được. Vì sao? Vì Pháp của Đức Như Lai nói đều không thể vin lấy, không thể nói được, chẳng phải Pháp, chẳng phải không phải Pháp. Vì sao? Vì tất cả Hiền Thánh đều do nơi “Pháp vô vi” mà có khác nhau.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • Y PHÁP XUẤT SANH CÔNG ĐỨC

       

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi Tam Thiên Đại Thiên để làm việc bố thí, phước đức của người đó có nhiều không?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Vì phước đức đó, không phải thật phước đức cho nên Đức Như Lai nói là phước đức nhiều.”

      Còn như có người thọ trì kinh này nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân, lại giảng

       

      nói cho người khác, thời phước đức này nhiều hơn phước đức trước. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, tất cả các Đức Phật và Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của các Ngài đều từ kinh này có ra.

      Này Tu Bồ Đề, Phật Pháp nói đó chính chẳng phải là Phật Pháp.

      (1 tiếng chuông)

       

    • NHỨT TƯỚNG KHÔNG CÓ TƯỚNG

       

      Tu Bồ Đề, vị Tu Đà Hoàn có thể tự nghĩ là mình chứng quả Tu Đà Hoàn không?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, không thể được.” Vì sao? Vì vị Tu Đà Hoàn gọi là bực Nhập Lưu, mà thật không nhập vào nơi đâu, không vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên gọi là Tu Đà Hoàn.”

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Vị Tư Đà Hàm có thể tự nghĩ rằng mình chứng quả Tư Đà Hàm không?

       

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, không thể được. Vì sao? Vì vị Tư Đà Hàm gọi là bực Nhứt Vãng Lai, mà thật không có vãng lai, nên gọi là Tư Đà Hàm.” Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ thế nào? Vị A Na Hàm có thể tự nghĩ rằng mình chứng quả

      A Na Hàm không?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn không thể được. Vì sao? Vì vị A Na Hàm gọi là bực Bất Lai, mà thật không có tướng bất lai, nên gọi là A Na Hàm.”

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Vị A La Hán có thể tự nghĩ rằng mình đắc đạo A La Hán không?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn không thể được. Vì sao? Vì thật không có Pháp chi gọi là A La Hán.

      Bạch Đức Thế Tôn, nếu vị A La Hán nghĩ thế này: Ta đắc đạo A La Hán, thời chính là chấp trước tướng: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

       

      Bạch Đức Thế Tôn, Đức Phật dạy rằng con được Vô Tránh Tam Muội, là bực nhứt trong mọi người, là bực A La Hán ly dục thứ nhứt.

      Bạch Đức Thế Tôn, con không tự nghĩ rằng mình đắc đạo A La Hán, chắc Đức Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề là người ưa hạnh tịch tịnh. Vì Tu Bồ Đề thật không mống niệm, nên gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh tịch tịnh.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

       

      Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: “Ý của ông nghĩ thế nào? Thuở Đức Phật Nhiên Đăng, Như Lai có chứng được Pháp không?”

      Bạch Đức Thế Tôn: Không. Thuở Phật Nhiên Đăng, Đức Như Lai thật không chứng được Pháp.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ chăng?

       

      Bạch Đức Thế Tôn: Không. Vì sao? Vì trang nghiêm Phật độ, chính chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm.

      Này Tu Bồ Đề, vì thế các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như vầy: chẳng nên trụ trước nơi sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ trước nơi thinh, hương, vị, xúc, và pháp mà sanh tâm, nên không chỗ trụ trước mà sanh tâm thanh tịnh.

      Này Tu Bồ Đề, ví như có người thân lớn như núi Tu Di, ý ông nghĩ thế nào? Thân của người đó có lớn chăng?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất lớn. Vì sao? Vì Đức Phật nói chẳng phải thân, nên gọi là thân lớn.

      (1 tiếng chuông)

       

    • PHƯỚC ĐỨC VÔ VI THÙ THẮNG

       

      Tu Bồ Đề, như trong sông Hằng có bao nhiêu cát, số sông Hằng lại nhiều như số cát đó. Ý của ông nghĩ thế nào? Số cát

       

      trong những sông Hằng đó có nhiều

      không?

       

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất nhiều. Số sông Hằng đã nhiều rồi, huống nữa là số cát trong sông.”

       

      Này Tu Bồ Đề, nay Ta bảo ông: nếu có thiện nam hay tín nữ nào đem bảy thứ báu đầy cả ngần ấy sông Hằng để làm việc bố thí, người đó được phước có nhiều không?

       

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất nhiều.”

       

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu có thiện nam hay tín nữ nào thọ trì kinh này nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân, và giảng nói cho người khác nghe, thời phước đức này hơn phước đức trước kia.”

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

       

      Này Tu Bồ Đề, lại nữa, tùy chỗ giảng nói kinh này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân, nơi chỗ đó, tất cả Trời, Người, A Tu La, nên cúng dường như là tháp miếu thờ Phật. Huống nữa, có người thọ trì đọc tụng trọn cả kinh này. Này Tu Bồ Đề, phải biết người ấy trọn nên Pháp tối thượng hi hữu bậc nhứt. Chỗ nào có kinh này, chỗ đó có Phật hoặc có Đệ Tử của Phật đáng được tôn kính.

      (1 tiếng chuông)

       

    • THỌ TRÌ ĐÚNG NHƯ PHÁP

       

      Bấy giờ, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, tên kinh này gọi là gì? Chúng con phải phụng trì thế nào?”

      Phật bảo Tu Bồ Đề rằng: “Kinh này tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, ông nên theo danh tự này mà phụng trì. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói Bát Nhã Ba La

       

      Mật, chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, đó gọi là Bát Nhã Ba La Mật.

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như

      Lai có nói Pháp không?”

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Đức Như Lai không có nói Pháp.”

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Vi trần trong cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới có nhiều không?

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất nhiều.”

      Này Tu Bồ Đề, những vi trần ấy, Như Lai nói chẳng phải vi trần, đó gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới cũng chẳng phải thế giới, đó gọi là thế giới.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Có thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Như Lai chăng?

      Bạch Đức Thế Tôn: không. Chẳng thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Như Lai. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói ba

       

      mươi hai tướng tốt chẳng phải tướng tốt, đó gọi là ba mươi hai tướng tốt.

      Tu Bồ Đề, như có thiện nam hay tín nữ nào đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí. Nếu lại có người theo kinh này thọ trì, cho đến bài kệ bốn câu vân vân, giảng nói cho người khác nghe, thời phước của người này nhiều hơn người trên.

      (1 tiếng chuông)

       

    • VẮNG LẶNG LÌA TƯỚNG

       

      Bấy giờ, Tu Bồ Đề nghe Phật nói kinh này, hiểu thấu nghĩa của kinh, nên ông buồn khóc, và bạch Phật rằng: “Hi hữu thay Đức Thế Tôn, Phật nói kinh rất sâu xa dường ấy, từ trước ngày được huệ nhãn đến nay, con chưa từng được nghe như thế này. Bạch Đức Thế Tôn, nếu lại có người nào được nghe kinh này, có lòng tin thanh tịnh, thời chính là sanh thật tướng. Phải biết người ấy trọn nên công đức hi hữu bực

       

      nhứt. Bạch Đức Thế Tôn, thật tướng đó chính chẳng phải tướng, cho nên Đức Như Lai gọi là thật tướng.

      Bạch Đức Thế Tôn, nay được nghe kinh này, con tin hiểu thọ trì, không cảm thấy khó. Vào khoảng năm trăm năm sau, chúng sanh nào được nghe kinh này, rồi tin hiểu thọ trì, thời người ấy chính là hi hữu bực nhứt. Vì sao? Vì người ấy không có ngã tướng, không có nhơn tướng, không có chúng sanh tướng, không có thọ giả tướng. Vì sao? Vì ngã tướng không phải tướng; nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng đều cũng không phải tướng. Vì sao? Vì xa lìa tất cả tướng, chính đó gọi là chư Phật.

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Đúng thế! Đúng thế! Lại như có người được nghe kinh này mà lòng không kinh hãi, không e sợ, không nhút nhát, phải biết người đó rất là hi hữu. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói Ba La

       

      Mật thứ nhứt, chẳng phải Ba La Mật thứ nhứt, đó gọi là Ba La Mật thứ nhứt.

      Này Tu Bồ Đề, nhẫn nhục Ba La Mật, Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, đó gọi là nhẫn nhục Ba La Mật. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, thuở xưa, Ta bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể, trong lúc đó, Ta không có ngã tướng, không có nhơn tướng, không có chúng sanh tướng, không có thọ giả tướng. Vì sao? Vì lúc thân bị chặt rời rã, nếu Ta có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thời Ta mống lòng hờn giận.

      Này Tu Bồ Đề, Ta lại nhớ, thuở quá khứ, trong năm trăm đời, Ta làm vị Tiên nhẫn nhục. Trong bao nhiêu đời đó, Ta không chấp ngã tướng, không chấp nhơn tướng, không chấp chúng sanh tướng, không chấp thọ giả tướng.

      Tu Bồ Đề, vì thế nên Bồ Tát phải xa lìa tất cả tướng, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chẳng nên trụ nơi sắc

       

      mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi thinh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm. Nên sanh tâm không trụ vào đâu cả. Nếu như tâm có trụ, chính chẳng phải trụ, cho nên Đức Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc mà bố thí.

      Này Tu Bồ Đề, vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, Bồ Tát phải bố thí như thế. Như Lai nói tất cả các tướng, chính không phải tướng, lại nói tất cả chúng sanh, chính không phải chúng sanh.

      Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói lời chơn chánh, lời chắc thật, lời đúng đắn, lời không phỉnh phờ, lời không sai khác.

      Này Tu Bồ Đề, pháp của Như Lai chứng đặng, pháp ấy không thiệt không hư.

      Này Tu Bồ Đề, nếu tâm của Bồ Tát trụ nơi Pháp để làm việc bố thí, như người vào chỗ tối tăm, không thấy chi cả. Nếu tâm của Bồ Tát không trụ nơi pháp để làm việc bố thí, như người có mắt sáng lại có ánh sáng mặt trời chiếu đến, thấy đủ hình sắc.

       

      Này Tu Bồ Đề, đời sau, nếu có thiện nam hay tín nữ nào đọc tụng kinh này, Như Lai sẽ biết rõ người ấy, đều thấy rõ người ấy, sẽ được thành tựu công đức vô lượng vô biên.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CÔNG ĐỨC TRÌ KINH

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu có thiện nam hay tín nữ nào, buổi sáng, đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí, buổi trưa, lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí, buổi chiều, cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp đem thân mạng bố thí như thế, lại có người nghe kinh này, sanh lòng tin, không trái, thời phước của người này hơn phước của người trước kia, huống chi là biên chép, thọ trì, đọc tụng, nói cho người khác nghe. Này Tu Bồ Đề, tóm lại, thời kinh này có vô biên công đức không thể nghĩ bàn, không thể cân lường

       

      được. Như Lai vì người phát tâm đại thừa mà nói, vì người phát tâm tối thượng thừa mà nói.

      Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, giảng nói rộng ra cho người khác nghe, thời Như Lai đều biết rõ người ấy, đều thấy rõ người ấy, sẽ được trọn nên công đức không thể cân lường, và không thể nghĩ bàn được. Những người như thế sẽ gánh vác Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, vì người nào ham ưa pháp tiểu thừa chấp trước ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thời người ấy không thể nghe nhận, đọc tụng và giảng nói kinh này cho người khác nghe được.

      Này Tu Bồ Đề, nếu những nơi nào có kinh này, tất cả Trời, Người, A Tu La vân vân, đều nên cúng dường. Chỗ đó, chính là pháp thờ Đức Phật, nên cung kính lễ lạy, đi nhiểu chung quanh, rải các món hương hoa trên đó để cúng dường.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • TRỪ HẾT NGHIỆP CHƯỚNG

       

      Lại nữa, này Tu Bồ Đề, như thiện nam hay tín nữ nào đọc tụng kinh này, nếu bị người khinh chê, vì tội nghiệp đã gây ra trong đời trước, đáng lẽ người đó sẽ phải đọa vào ác đạo, nhưng trong đời nay, bị người khinh chê, nên không những tội nghiệp đã gây ra trong đời trước được tiêu diệt, người ấy còn được Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

      Này Tu Bồ Đề, Ta nhớ lại thuở trước, Đức Phật Nhiên Đăng ra đời, vô lượng vô số kiếp về quá khứ, Ta được hầu hạ cúng dường tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha các Đức Phật, không luống bỏ qua. Về đời sau, nếu có người thọ trì đọc tụng kinh này, thời công đức của người ấy được nhiều hơn muôn ức lần công đức cúng dường các Đức Phật của Ta trong thuở trước. Này Tu Bồ Đề, về đời sau, nếu có

       

      thiện nam hay tín nữ nào thọ trì đọc tụng kinh này, công đức của người ấy được, nếu Ta nói hết cả ra, có kẻ nghe, trong lòng sẽ cuồng loạn nghi ngờ không tin.

      Này Tu Bồ Đề, vì nghĩa lý của kinh này không thể nghĩ bàn, nên quả báo cũng không thể nghĩ bàn.

      (1 tiếng chuông)

       

    • RỐT RÁO KHÔNG NGÃ

       

      Bấy giờ, Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải trụ tâm như thế nào, phải hàng phục tâm mình như thế nào?”

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thời phải sanh tâm như vầy: Ta phải cứu độ tất cả chúng sanh, cứu độ tất cả chúng sanh xong, nhưng không có một chúng sanh nào được cứu độ. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát có ngã tướng,

       

      nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thời chẳng phải Bồ Tát. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, vì thật ra không có pháp chi phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

      Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Vào thuở Như Lai ở với Đức Phật Nhiên Đăng có Pháp chi để chứng Chánh Đẳng Chánh Giác không?”

      Bạch Đức Thế Tôn: Không, như chỗ con hiểu nghĩa của Đức Thế Tôn nói, thời Đức Thế Tôn ở với Đức Phật Nhiên Đăng không có Pháp chi để chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

      Phật dạy rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Này Tu Bồ Đề, thật không có pháp chi để Như Lai chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

      Này Tu Bồ Đề, nếu có Pháp để Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thời Đức Nhiên Đăng chẳng thọ ký

       

      cho Ta như sau: “Đời sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”

       

      Sự thật, không có Pháp chi để chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên Đức Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ta và nói lời này: “Đời sau, ông sẽ đặng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.” Vì sao? Vì Như Lai đó chính nghĩa là “Các Pháp.” Nếu có người nói: “Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này Tu Bồ Đề, thật ra không có Pháp chi để Ta chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này Tu Bồ Đề, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai chứng được không thật, không hư, vì thế Như Lai nói “Tất Cả Các Pháp Đều Là Phật Pháp.” Này Tu Bồ Đề, tất cả Pháp, Như Lai nói đó, chính chẳng phải tất cả Pháp, cho nên gọi là tất cả Pháp.

      Này Tu Bồ Đề, ví như thân người cao lớn.

       

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Đức Như Lai nói thân người cao lớn, chính chẳng phải thân người cao lớn, đó gọi là thân người cao lớn.”

       

      Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói lời như vầy: Ta sẽ cứu độ vô lượng chúng sanh, vị đó không được gọi là Bồ Tát. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, thật không có Pháp chi gọi là Bồ Tát. Vì thế, Ta nói tất cả Pháp là không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả.

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát nói như thế này: Ta phải trang nghiêm Phật độ, vị ấy không được gọi là Bồ Tát. Vì sao? Vì Như Lai nói trang nghiêm Phật độ, chính chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm. Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát thông đạt được “Pháp Vô Ngã” thời Như Lai mới gọi

      là Bồ Tát.

      (1 tiếng chuông)

       

    • XEM ĐỒNG MỘT THỂ

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Như Lai có nhục nhãn không?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có nhục nhãn.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Như Lai có thiên nhãn không?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Đức Như

      Lai có thiên nhãn.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Như Lai có huệ nhãn không?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có huệ nhãn.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Như Lai có pháp nhãn không?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Như Lai

      có pháp nhãn.

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào?

      Như Lai có Phật nhãn không?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Đức Như Lai có Phật nhãn.

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như bao nhiêu cát trong sông Hằng, Như Lai có nói là cát chăng?

      Bạch Đức Thế Tôn, đúng thế. Đức Như

      Lai nói là cát.

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như bao nhiêu cát trong một sông Hằng, trong nhiều sông Hằng, cõi Phật như số cát trong những sông Hằng đó có nhiều không?

      Bạch Đức Thế Tôn: Rất nhiều.

       

      Phật bảo Tu Bồ Đề: “Bao nhiêu tâm niệm của tất cả chúng sanh trong ngần ấy cõi nước, Như Lai đều biết rõ. Vì sao? Vì Như Lai nói các thứ tâm đều chẳng phải tâm, đó mới gọi là tâm. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không có, tâm hiện tại không có, tâm vị lai không có.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • THÔNG HÓA PHƯỚC ĐỨC

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi Tam Thiên Đại Thiên để bố thí, người ấy có phước nhiều không?

      Bạch Đức Thế Tôn, người đó được phước rất nhiều.

      Này Tu Bồ Đề, nếu phước đức có thật, Như Lai không nói phước đức ấy nhiều. Vì không có phước đức, nên Như Lai nói là phước đức nhiều.

      (1 tiếng chuông)

       

    • LÌA SẮC TƯỚNG

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do sắc thân cụ túc thấy được Phật không?

      Bạch Đức Thế Tôn: Không. Không thể do sắc thân cụ túc mà thấy được Đức Như Lai. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói sắc thân

       

      cụ túc, chẳng phải sắc thân cụ túc, đó gọi là sắc thân cụ túc.

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do các tướng cụ túc mà thấy được Phật không?

       

      Bạch Đức Thế Tôn: Không. Không thể do các tướng cụ túc mà thấy được Đức Như Lai. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói các tướng cụ túc, chẳng phải các tướng cụ túc, đó gọi là các tướng cụ túc.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHẲNG PHẢI NĂNG THUYẾT SỞ THUYẾT

       

      Này Tu Bồ Đề, ông chớ nói rằng Như Lai nghĩ thế này: Ta nên thuyết pháp, ông đừng nghĩ như thế. Vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có thuyết pháp, thời là hủy báng Như Lai, không hiểu nghĩa lý của Như Lai nói. Này Tu Bồ Đề, thuyết

       

      pháp, thật không có Pháp chi nói được, đó gọi là thuyết pháp.

       

      Bấy giờ, Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đời sau, có chúng sanh nào nghe pháp này mà sanh lòng tin chăng?”

       

      Phật dạy rằng: “Này Tu Bồ Đề, chúng sanh đó chẳng phải chúng sanh, cũng chẳng phải là không phải chúng sanh. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, những chúng sanh đó, Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, đó gọi là chúng sanh.”

      (1 tiếng chuông)

       

    • KHÔNG PHÁP CHI CÓ THỂ ĐƯỢC

       

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Phật chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là không có chỗ để chứng phải không?”

       

      Phật dạy: “Đúng thế, này Tu Bồ Đề, Ta ở nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nhẫn đến không có Pháp nhỏ nào để có thể gọi là chứng, đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • TỊNH TÂM HÀNH THIỆN

       

      Lại nữa, này Tu Bồ Đề, Pháp đó bình đẳng không có cao thấp, mới gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, lại tu tất cả Pháp lành, nên chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này Tu Bồ Đề, Pháp lành được Như Lai nói đó, chẳng phải pháp lành, đó gọi là pháp lành.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • PHƯỚC ĐỨC TRÍ HUỆ KHÔNG CHI SÁNH BẰNG

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu có người góp bảy thứ báu lại nhiều như số núi Tu Di trong cõi Tam Thiên Đại Thiên để bố thí, công đức của người này sánh với công đức của người trì tụng hay giảng nói một bài kệ bốn câu trong kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho người khác nghe, thì công đức của người sau lớn gấp trăm ngàn lần công đức của người trước.

       

    • HÓA ĐỘ KHÔNG NGƯỜI ĐƯỢC HÓA ĐỘ

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Các ông chớ cho rằng Như Lai nghĩ như vầy: Ta phải hóa độ chúng sanh. Này Tu Bồ Đề, ông đừng nghĩ như thế. Vì sao? Vì thật không có chúng sanh nào được Như Lai độ cả. Nếu có chúng sanh để Như Lai độ, thời Như Lai còn có tướng: ngã, nhơn,

       

      chúng sanh, thọ giả. Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói ngã, chính chẳng phải ngã, kẻ phàm phu lại cho có ngã. Này Tu Bồ Đề, phàm phu đó Như Lai nói chẳng phải phàm phu, đó gọi là phàm phu.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • PHÁP THÂN KHÔNG PHẢI SẮC TƯỚNG

       

      Này Tu Bồ Đề, ý của ông nghĩ thế nào? Có thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt mà cho là Như Lai chăng?

      Tu Bồ Đề bạch rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Đức Như Lai.”

       

      Phật dạy rằng: “Này Tu Bồ Đề, nếu do ba mươi hai tướng tốt mà xem là Như Lai, thời Chuyển Luân Thánh Vương là Như Lai sao?”

       

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, con hiểu nghĩa Phật muốn nói, “chẳng nên căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt mà cho là Đức Như Lai.”

       

      Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng: Nếu dùng sắc thấy Ta

      Dùng âm thinh cầu Ta Người ấy tu đạo tà Chắc là không thấy Ta.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu ông nghĩ thế này: Như Lai không do tướng cụ túc chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này Tu Bồ Đề, ông đừng nghĩ Như Lai không do tướng cụ túc, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

      Này Tu Bồ Đề, nếu ông nghĩ như vầy:

       

      Người phát tâm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nói các Pháp đều đoạn diệt. Ông đừng nghĩ như thế. Vì sao? Vì người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nói Pháp không nói tướng đoạn diệt.

       

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHẲNG NHẬN LẤY CHẲNG THAM

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát đem bảy thứ báu đầy cả những cõi nước bằng số cát sông Hằng để làm việc bố thí. Nếu lại có Bồ Tát biết “Pháp Vô Ngã” của tất cả Pháp mà được thành nhẫn trí. Vị Bồ Tát này được công đức hơn phước đức của vị Bồ Tát trước. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, vì các vị Bồ Tát không nhận lấy phước đức.

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, tại sao các vị Bồ Tát không nhận lấy phước đức?”

       

      Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát có làm việc phước đức chẳng nên tham trước, vì thế, nên nói chẳng nhận lấy phước đức.

      (1 tiếng chuông)

       

    • OAI NGHI VẮNG LẶNG

       

      Này Tu Bồ Đề, nếu có người nói: Đức Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, người ấy không hiểu nghĩa của Như Lai nói. Vì sao? Vì Như Lai không từ nơi nào lại, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai.

      (1 tiếng chuông)

       

    • NGHĨA LÝ NHỨT HIỆP TƯỚNG

       

      Này Tu Bồ Đề, như có thiện nam hay tín nữ đem cõi Tam Thiên Đại Thiên đập nát ra thành bụi, ý của ông nghĩ thế nào? Số bụi đó có nhiều không?

      Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Vì nếu số bụi

       

      đó thật có, thời Đức Phật chẳng nói là số bụi. Vì sao? Vì Đức Phật nói bụi, chẳng phải bụi, đó gọi là bụi.

      Bạch Đức Thế Tôn, cõi Tam Thiên Đại Thiên, Đức Như Lai nói chẳng phải thế giới, nên gọi là thế giới. Vì sao? Vì nếu thế giới là thật có, thời là “một hiệp tướng.” Đức Như Lai nói “một hiệp tướng,” chẳng phải “một hiệp tướng,” đó gọi là “một hiệp tướng.”

      Này Tu Bồ Đề, “một hiệp tướng” đó, không thể nói được, chỉ kẻ phàm phu tham trước việc ấy thôi.

      (1 tiếng chuông)

       

    • CHỖ THẤY BIẾT KHÔNG SANH

       

      Này Tu Bồ Đề, như có người nói: Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, ý của ông nghĩ thế nào? Người ấy hiểu nghĩa của Phật nói không?

      Bạch Đức Thế Tôn: Không. Người ấy không hiểu nghĩa của Phật nói. Vì sao? Vì

       

      Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, chẳng phải ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, đó gọi là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.

      Này Tu Bồ Đề, nơi tất cả Pháp, người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải biết như thế, thấy như thế, tin hiểu như thế, chẳng sanh pháp tướng. Này Tu Bồ Đề, Như Lai nói pháp tướng đó, không phải pháp tướng, đó gọi là pháp tướng.

      (1 tiếng chuông)

       

    • ỨNG HÓA KHÔNG PHẢI CHƠN THẬT

     

    Này Tu Bồ Đề, như có người đem bảy thứ báu đầy cả vô lượng vô số cõi nước để làm việc bố thí. Lại có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Bồ Đề thọ trì kinh này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân, tự mình thọ trì đọc tụng hay giảng cho kẻ

     

    khác nghe, thời phước đức của người này

    hơn người trước.

     

    Cách giảng nói cho người khác nghe như thế nào? Không chấp nơi tướng, như như chẳng động. Vì sao? Vì:

     

    Tất cả các “pháp hữu vi”

    Như là mộng huyễn, khác chi bóng hình Như sấm chớp, như âm thinh

    Quán xem “các pháp” như hình “không

    hoa.”

    (1 tiếng chuông)

     

    Đức Phật nói kinh này xong, Trưởng Lão Tu Bồ Đề và các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tất cả Trời, Người, A Tu La vân vân, nghe những lời của đức Phật nói, thảy đều vui mừng tin nhận và làm theo.

    (1 tiếng chuông)

     

    CHÚ KIM CANG

     

    Án, hô rô hô rô, xả duệ mục khê, xoa ha.

    ( 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KỆ KHEN NGỢI

     

    Kim Cang diệu lý khó đo lường Như Lai giác ngộ đã tuyên dương Người nghe hiểu rõ “chân thường”

    Hương, hoa, đảnh lễ cúng dường Trung

    Tôn.

     

    Nam Mô Kỳ Viên Hội Thượng Phật Bồ

    Tát Ma Ha Tát.

     

    (3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

     

    Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài

     

    soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”

     

    “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm

     

    không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.”

    Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

    (1 tiếng chuông)

     

    NIỆM PHẬT

     

    A Di Đà Phật thân sắc vàng,

    Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật,

    Vô số Bồ Tát hiện ở trong,

     

    Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật,

    Ở phương Tây thế giới an lành

    Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.

    (1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    Nam Mô A Di Đà Phật.

    (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)

     

    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

    Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ

    Tát.

     

    SÁM NGÃ NIỆM

     

    Con từ kiếp trước không lường

    Mất chơn bản tánh nên vương cõi trần

     

    Luân hồi sanh, tử chút thân

    Thay hình đổi dạng bao lần đắng cay Phước dư nhờ chút thiện này

    Thân người được gặp theo Thầy xuất gia Cạo đầu mặc áo cà sa

    Hủy trai, phá giới tạo ra tội nhiều Sát sanh hại vật đủ điều

    Ăn nhai uế tạp đắm yêu thân hình Của người riêng chiếm vào mình

    Nhờ duyên Tam Bảo dụng tình tiêu hoang

    Bôn xu cầu cạnh đủ đường

    Rượu ngon, gái đẹp lòng thường say sưa.

    (1 tiếng chuông)

     

    Khinh tăng, hủy báng Phật thừa Mẹ cha, thầy bạn u ơ bạc tình Khoe hay, dấu dốt của mình

    Sự người tốt đẹp lại sinh chê dèm Lợi danh dối trá đã quen

    Thị phi nhơn ngã đua chen với đời Tưởng rằng chẳng lúc nào ngơi Tấm lòng tán loạn suốt đời hư sinh

     

    Việc người mách lẻo thời tinh

    Việc mình lạy Phật tụng kinh thời lười Bề ngoài đạo đức lòe đời

    Mà trong ngã mạng khinh người gớm ghê Biếng lười chỉ thích ngủ nghê

    Tham lam bủn xỉn ai chê cũng liều Gốc nhơ trồng cấy đã nhiều

    Cánh bèo biển khổ theo chiều gió đưa! Đã không chút thiện nương nhờ

    Trong ba đường dữ bao giờ tránh qua?

    Ngưỡng trông Đức Phật Di Đà

    (1 tiếng chuông)

     

    Quán Âm, Thế Chí đôi tòa thần thông Từ bi lượng cả bao dong

    Cứu con tội cáu sạch không mọi màu Đời này cho chí đời sau

    Sáu căn, ba nghiệp sạch làu như gương Rỗng không tội tánh mọi đường

    Khắp trong pháp giới chẳng vương bụi trần.

    (1 tiếng chuông)

     

    HỒI HƯỚNG

     

    Tụng kinh công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện cho ba chướng tiêu tan

    Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

    Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

     

    (1 tiếng chuông)

     

    TAM QUY

     

    Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

    Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

    (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

     

     

     

    ĐỨC QUÁN ÂM GIÚP CHÚNG SANH KHỎI NHỮNG TAI ƯƠNG HẠN ÁCH VÀ XUI XẺO

     

    NGHI THỨC‌

    CÚNG SAO GIẢI HẠN

    (Duhkha vimukti)

     

    GỒM CÓ:

     

    • Chú Tịnh Pháp Giới và Tịnh Tam Nghiệp
    • Cúng Hương
    • Cầu Nguyện
    • Khen Ngợi Phật
    • Quán Tưởng Phật
    • Đảnh Lễ
    • Tán Dương Chi
    • Chú Đại Bi
    • Xướng và Đọc Sớ
    • Bài Cúng Sao Giải Hạn
    • Chú Tiêu Tai
    • Chú Dược Sư
    • Sám Tiêu Tai Giải Hạn
    • Nguyện An Lành
    • Hồi Hướng
    • Phục Nguyện
    • Tam Quy

 

DÙNG ĐỂ:

Cầu nguyện cho khỏi xui xẻo, tai nạn, và những điều xấu trong năm. Thêm vào đó, người bị sao hạn phải bố thí, phóng sanh, và làm nhiều vỉệc lành, lợi mình lợi người. Bỏ hết tham, sân, si sẽ được tai qua nạn khỏi.

 

Nghi Thức

CÚNG SAO GIẢI HẠN

 

(Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

 

CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI

Án lam xoa ha.

(3 lần)

 

CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

(3 lần)

 

(Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

 

CÚNG HƯƠNG

 

Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo

Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê

Chóng quay về Bờ Giác.

(1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

CẦU NGUYỆN

 

Đệ tử chúng con, nhân ngày… (Nguyên Đán), một dạ chí thành, thiết lễ Cầu An, Nhương Tinh Giải Hạn, ngưỡng nguyện Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chư đại Bồ Tát, cùng Thánh, Hiền, Tăng từ bi gia hộ cho Phật tử:…, đương đời phiền não

 

dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, thường được an lành, xa lìa khổ ách, và cùng pháp giới chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát tác đại chứng minh.

( 3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

KHEN NGỢI PHẬT

 

Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận

 

(1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

QUÁN TƯỞNG PHẬT

 

Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng

Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

(1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

ĐẢNH LỄ

 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ

 

Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

TÁN DƯƠNG CHI

 

Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian

Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa.

 

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

CHÚ ĐẠI BI

 

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra

 

sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Dả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

 

(1 tiếng chuông)

 

(Nếu có sớ, chủ lễ xướng rồi đọc, nếu không bớt phần này)

 

XƯỚNG SỚ

 

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay, dâng sớ cầu an

Cúi xin Phật Tổ, lâm đàn chứng minh.

(1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

BÀI CÚNG SAO GIẢI HẠN

 

Chí Tâm Quy Mạng Lễ, Nam, Bắc, Đông, Tây, Trung Ngũ Đẩu, Châu Thiên Thất Thập Nhị Cung Thần, Nhị Thập Bát Tú Liệt Phương Ngung, Cửu Diệu Thất Tinh Chư Thánh Chúng, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Phật Quang

 

Chủ Chiếu, Bổn Mạng Nguyên Thần, Đại Hạn, Tiểu Hạn Tinh Quân, Đại Vận, Tiểu Vận Tôn Thần, La, Kế, Nguyệt, Bột, Bàn Lâm Chủ Chiếu, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Đức Tinh Quân, Nguyện Tiêu Tai Chướng, Nguyện Giáng Kiết Tường, TiêuTai Xí Thạnh Quang Vương Phật.

(3 lần, mỗi lần 1 tiếng chuông)

 

CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG

 

Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm, a bát ra để, hạ đa xá, ta nẳng nẩm, đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, ta phạ ha.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

CHÚ DƯỢC SƯ

 

Nam mô bạt dà phạt đế bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặc bà hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế xoa ha.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết, Nghiệp chướng bao đời đều giải hết,

Rửa sạch lòng trần, phát tâm thành kính, Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết.

Dược Sư Phật, Dược Sư Phật. Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.

Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật. Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.

(3 lần, 1 tiếng chuông)

 

SÁM TIÊU TAI GIẢI HẠN

 

Con nay dốc hết tâm thành

Kính lạy Đức Phật Xí Thạnh Quang Vương

Nếu con sắp bị tai ương

Cúi xin chư Phật đoái thương giải nàn: La Hầu hay bị tai oan

Tháng Giêng, Tháng Bảy vô vàn điêu linh

Con nguyền học Đạo sửa mình Sân si dứt sạch, Phúc Tinh phò trì. Thổ Tú, Thủy Diệu sầu bi

Tháng Tư, Tháng Tám thiếu gì nhiễu nhương

Cúi xin Phật Tổ xót thương

(1 tiếng chuông)

 

Giúp cho con được gia đường bình yên. Thái Bạch hết sạch cửa nhà

Tháng Năm tan tác vào ra bực mình Khẩn cầu Cửu Diệu Thất Tinh

Cứu con thoát khỏi điêu linh cửa nhà.

 

Thái Dương tiền bạc kiếm ra

Tháng Mười, tháng Sáu, cửa nhà bình an. Con hằng tâm nguyện vái van

Cầu cho con được an nhàn thảnh thơi. Vân Hớn dù có nói chơi

Tháng Hai, tháng Tám bị lời thị phi Con nguyền học Đạo Từ Bi

Nhớ lời Phật dạy, khắc ghi vào lòng. Kế Đô gia thất long đong

Tháng Ba, Tháng Chín, xa chồng xa cha Khấn cầu Đức Phật Thích Ca,

Quán Âm phò hộ cửa nhà bình yên. Thái Âm, mười một truân chuyên Tháng Chín tốt đẹp, của tiền khá ra Khuyên người theo chánh bỏ tà Trau giồi đức hạnh, mới là chân tu. Mộc Đức, bổn mạng không xui

Tháng Chạp, phúc lộc, hưởng vui, thanh

bình.

(1 tiếng chuông)

 

Gắng lo bố thí, phóng sinh

 

Để cho hết thảy gia đình bình an. Nguyện cho Đại Hạn tiêu tan

Tiểu Hạn hết sạch, an nhàn thảnh thơi. Nguyện cho con được đời đời

Hành Bồ Tát đạo, cứu người lầm than.

(1 tiếng chuông)

 

NGUYỆN AN LÀNH

 

Nguyện ngày an lành, đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Bổn Sư ban an lành.

(1 tiếng chuông)

 

Nguyện ngày an lành, đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Tam-Bảo giúp an lành.

(1 tiếng chuông)

 

Nguyện ngày an lành, đêm an lành, ngày đêm sáu thời luôn an lành, tất cả thời gian luôn an lành, ngưỡng mong Hộ Pháp giúp an lành.

(1 tiếng chuông)

 

Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

 

(mỗi câu sau đây, niệm 3 lần, 1 tiếng chuông)

Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ

Tát.

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ

Tát.

 

HỒI HƯỚNG

 

Cầu an công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ đạo mầu.

 

Nguyện cho ba chướng tiêu tan

Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời

Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.

 

Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.

(1 tiếng chuông)

 

PHỤC NGUYỆN

(chỉ chủ lễ phục nguyện)

 

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

(1 tiếng chuông, xá 1 xá)

 

Tam Bảo chứng minh oai thần hộ niệm, hôm nay đệ tử chúng con, một dạ chí

 

thành, trì tụng kinh chú, xưng tán Hồng Danh, Nhương Tinh Giải Hạn, cầu nguyện cho Phật tử:…, Pháp danh:…., đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bệnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, quyến thuộc khương ninh, pháp giới chúng sanh, trọn thành Phật quả.

 

(1 tiếng chuông, đồng niệm)

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

 

TAM QUY

 

Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

ĐỨC HỘ PHÁP

 

PHẦN PHỤ ĐÍNH

 

  • 12 Đại Nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
  • 48 Lời Nguyện Của Đức Phật A Di Đà
  • Bài Tống Táng
  • Khuyến Tu
  • Các Ngày Vía
  • Những Ngày Trai

 

 

MƯỜI HAI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT‌

 

NGUYỆN THỨ NHỨT: khi thành Bồ Tát Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm

Mười hai lời nguyện cao thâm

“Nghe tiếng cứu khổ,” Quán Âm thề nguyền.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ HAI: không nài gian khổ Quyết một lòng cứu độ chúng sanh

Luôn luôn thị hiện biển Đông

Vớt người chìm đắm, khi giông gió nhiều.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ BA: Ta Bà ứng hiện Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau Oan oan tương báo hại nhau

Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ TƯ: hay trừ yêu quái

Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê Độ cho chúng hết u mê

 

Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ NĂM: tay cầm Dương liễu Nước cam lồ rưới mát nhân thiên

Chúng sanh điên đảo, đảo điên An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ SÁU: thường hành bình đẳng Lòng từ bi thương xót chúng sanh

Hỷ xả tất cả lỗi lầm

Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ BẢY: dứt ba đường dữ Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh

Cọp beo, thú dữ vây quanh

Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ TÁM: giải thoát còng la Nếu tội nhân sắp bị khảo tra

Thành tâm lễ bái thiết tha

Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ CHÍN: cứu vớt hàm linh Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh

Bốn bề biển khổ chông chênh Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ MƯỜI: Tây Phương tiếp dẫn Tràng hoa thơm, kỹ nhạc, lọng tàn

Tràng phang, bảo cái trang hoàng Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ MƯỜI MỘT: Di Đà thọ ký

Cảnh Tây Phương tuổi thọ khôn lường Chúng sanh muốn sống miên trường Quán Âm nhớ niệm, Tây Phương mau về.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

NGUYỆN THỨ MƯỜI HAI: tu hành tinh tấn

Dù thân này tan nát cũng đành Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.

(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

 

BỐN MƯƠI TÁM LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ‌

 

(Khi Ngài còn là Pháp Tạng Tỳ Kheo)

 

Nguyện Thứ Nhất – Khi tôi thành Phật Trong nước tôi, không có ngục hình Hay loài ngạ quỷ, súc sanh

Không bao giờ có sanh thành nơi đây. Tôi nguyện không được như vầy

Thề không thành Phật, lời này không sai.

 

Nguyện Thứ Hai Nhân dân trong nước Đều hóa sanh từ “Chín Phẩm Liên” Nương theo nguyện lực tinh chuyên

Đến khi thọ mạng, sen liền nở hoa.

 

Nguyện Thứ Ba – Hóa ra thực vật Nhiều thứ ngon, khỏi phải tìm cầu Dùng xong, vật dụng liền thâu

Không cần phải rửa, phải lau nhọc nhằn.

 

Nguyện Thứ Tư – Y phục mỗi ngày Muốn bao nhiêu: áo, mũ, dép, giầy Thảy đều hóa đủ trưng bày

Khỏi mua, khỏi giặt, khỏi may cực lòng.

 

Nguyện Thứ Năm – Thành trì bát ngát

Nhiều lâu đài, cung điện nguy nga Bảy hàng cây báu đơm hoa

Hương thơm ngào ngạt, tỏa ra nhẹ nhàng.

 

Nguyện Thứ Sáu – Kính mến tương giao Không sang tham, giúp đỡ lẫn nhau Không lời qua lại trước sau

Không ganh, không ghét, thương nhau vô vàn.

 

Nguyện Thứ Bảy – Nhân dân trong nước Không có lòng uế trược, dâm ô

Cũng không có tiếng tục thô

Cùng là nóng giận, hồ đồ ngu si.

 

Nguyện Thứ Tám – Chuyên trì chánh niệm Nhớ điều hay, điều dở bỏ đi

Nếu ai muốn nói chuyện gì

Người kia hiểu ý, tức thì khỏi phân.

 

Nguyện Thứ Chín – Chỉ nghe điều thiện Có hơi đâu, nghĩ chuyện dông dài Chuyên tâm tu niệm hằng ngày

Rồi ra nghiệp chướng dứt ngay không còn.

 

Nguyện Thứ Mười – Biết thân này huyễn

Thì không nên tham luyến thế gian Khổ thay trần thế không an

Xin đừng tham đắm, vô vàn điêu linh.

 

Nguyện Mười Một – Trời, người tuy khác Hình dung đồng một sắc vàng y

Người người nghiêm chỉnh phương phi Mặt mày đẹp đẽ, không chi sánh bằng.

 

Nguyện Mười Hai– Thinh Văn, Duyên Giác Nhờ chuyên cần tu tập hành thiền

Cho đến động vật… nhân, thiên

Chứng quả Duyên Giác, Thinh Văn không lường.

 

Nguyện Mười Ba – Dân số Phật Đà Không còn có số tính ra cho bằng Nhiều như số cát sông Hằng

Tại An Dưỡng Quốc, khó phân khó lường.

 

Nguyện Mười Bốn – Sống đời trường thọ Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên Không sao tính được vận niên

Sống lâu vô lượng, vô biên đời đời.

 

Nguyện Mười Lăm – Hưởng lạc an nhàn

Trọn sống đời cực lạc, cao sang Như người vượt thoát trần gian Lậu hoặc dứt hết, Lạc Bang vui vầy.

 

Nguyện Mười Sáu Thanh tịnh trang nghiêm Hẳn xa lìa vọng tưởng triền miên

Sống đời tịch tịnh an nhiên

Niết Bàn hiển hiện, Chân Nguyên tỏ bày.

 

Nguyện Mười Bảy – Thực hành Đạo Cả Suốt đêm ngày ròng rã độ sinh

Thiết tha nói Pháp tụng kinh

Hoằng khai Phật Đạo, công trình hơn ai.

 

Nguyện Mười Tám – Biết được kiếp trước Hễ vừa sanh vào cõi nước tôi

Người người rõ chuyện xa xôi

Trăm, ngàn, muôn kiếp qua rồi đều thông.

 

Nguyện Mười Chín – “Cái Thấy” thông suốt Dân chúng tôi có thể xa trông

Toàn thể vũ trụ mênh mông

Rõ ràng trước mặt, đều không trở ngại.

 

Nguyện Hai Mươi – “Cái Nghe” rõ ràng

Ở phương xa, chư Phật nói kinh Thảy đều nghe rõ âm thinh

Nghìn muôn ức cõi, như hình đâu đây.

 

Nguyện Hai Mốt – Biết rõ tâm người Cách trăm ngàn thế giới xa xăm Chúng sanh vừa mới mống tâm

Dân tôi đều biết, không nhầm mảy may.

 

Nguyện Hai Hai– Thong dong tự tại Những tận đâu, chẳng ngại đường xa Chỉ trong khoảnh khắc vượt qua Mười phương các cõi như là dạo chơi.

 

Nguyện Hai Ba – Công đức vui mừng Khen ngợi tôi, đại chúng đồng thanh Phát tâm vui vẻ hiền lành

Lâm chung sẽ được, hóa sanh Sen Vàng.

 

Nguyện Hai Bốn – Quang minh chiếu diệu Nơi đảnh tôi rực rỡ vô ngần

Sáng hơn nhật nguyệt muôn lần

Luôn luôn tỏ rạng, khó phân đêm ngày.

 

Nguyện Hăm Lăm – Hào quang chói lọi Đến tận nơi các cõi U Minh

Chư thiên cho đến bàng sinh

Thấy hào quang sáng, tự mình quy y.

 

Nguyện Hăm Sáu – Quang minh cảm hóa Khắp mười phương các cõi nhân dân Hào quang chiếu đến bản thân

Từ hòa tâm tánh hơn dân cõi Trời.

 

Nguyện Hăm Bảy – Vãng sanh tịnh độ Cho những người giữ giới, ăn chay Đến những ai thiền định, đêm ngày Khi nào mãn báo thân này

Tôi và Thánh chúng đông dầy

Phóng quang tiếp dẫn, lên ngay Sen Vàng.

 

Nguyện Hăm Tám – Trời, người các cõi Nghe danh tôi, trần thiết huy hoàng Ngày đêm tưởng niệm vái van

 

Người ấy sẽ được, Lạc Bang sanh về.

 

Nguyện Hăm Chín – Chúng sanh các cõi

Nếu dốc lòng ra khỏi bến mê Tên tôi mười niệm, không hề

Xao lãng chánh niệm, được về Tây phương. Trừ những kẻ tánh tình ngỗ nghịch

Cùng những người báng Phật, Pháp, Tăng Ra vào tập tánh hung hăng

Chắc đọa địa ngục, muôn năm thọ hình.

 

Nguyện Ba Mươi – Mọi điều như ý Kiếp trước đây tạo nghiệp không lành Hôm nay, phát nguyện tu hành

Tây Phương Cực Lạc, cầu sanh dễ dàng.

 

Nguyện Băm Mốt – Mọi người cung kính Nghe tên tôi, đảnh lễ cúng dàng

Người đó sẽ được dễ dàng

Trời, người kính nể, quy hàng, tán dương.

 

Nguyện Băm Hai – Sanh làm nam giới Những đàn bà con gái chán đời

Phát tâm tín niệm danh tôi

Thân sau sẽ khỏi luân hồi nữ nhi.

 

Nguyện Băm Ba- Chứng liền Đạo Quả Bậc “Nhất Sanh Bổ Xứ” chứng liền Lại còn những vị siêu nhiên

Muốn sanh cõi khác, tôi liền giúp cho. Giúp cho hạnh nguyện Phổ Hiền,

“Tịch Diệt,” “Phạm Hạnh” cần chuyên thi hành

Rồi ra giáo hóa chúng sanh

Chứng nên Phật quả, viên thành nguyền xưa.

 

Nguyện Băm Bốn – Nhân dân trong nước Muốn sanh về cõi khác độ sanh

Nếu không như nguyện, cũng không Đọa ba đường dữ, thoát vòng trầm luân.

 

Nguyện Băm Lăm – Các hàng Bồ Tát Muốn cúng dường chư Phật những đâu Hương, hoa, anh lạc, trân châu

Mang đi khắp cả, vừa hầu bữa ăn.

 

Nguyện Băm Sáu – Được như ý nguyện Nếu ước muốn mọi vật có liền

Đưa đi khắp cả các miền

Cúng dường chư Phật, về liền chưa trưa. Nguyện Băm Bảy – Thông minh trí tuệ

 

Hàng Bồ Tát phúng tụng các kinh Liền được trí huệ thông minh

Diễn dương Chánh Pháp, tài tình cao siêu.

 

Nguyện Băm Tám – Biện tài vô ngại Chư Tôn Bồ Tát huệ sáng ngời Giảng kinh thuyết Pháp khắp nơi

Biện tài vô ngại, không người sánh phân.

 

Nguyện Băm Chín – Nhân dân trong nước Ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm

Kim Cang thần lực vô biên

In như chư Phật, kim thân sáng ngời.

 

Nguyện Bốn Mươi – Quốc độ trang nghiêm Trong cây báu, muốn xem chư Phật

Mười phương các cõi ở xa

Hiển hiện trước mặt như là soi gương.

 

Nguyện Bốn Mốt – Mọi đường công đức Bồ Tát nào chưa được hoàn toàn

Có thể biết được Đạo Tràng

Bề cao cho đến bốn ngàn do tha.

 

Nguyện Bốn Hai – Người, vật khôn lường

 

Quốc độ tôi, đồ vật, chúng sinh… Mỗi người, mỗi vật tịnh minh

Dù chứng thiên nhãn, chẳng nhìn hết đâu.

 

Nguyện Bốn Ba – Mọi người trong nước Chí mong cầu nghe được Pháp, Kinh Tự nhiên có sẵn âm thinh

Không cần mời thỉnh, theo tình thế gian.

 

Nguyện Bốn Bốn- Bồ Tát, Thinh Văn Trong nước tôi, trí huệ oai linh

Trên đảnh có ánh quang minh

Biện tài nói Pháp, in hình Thế Tôn.

 

Nguyện Bốn Lăm – Mười phương Bồ Tát Nghe tên tôi phát nguyện quy y

Lại thêm thiền định hành trì

Liền được giải thoát không gì vướng ngăn. Nếu chí muốn cúng dường chư Phật Trong khoảnh khắc khắp cả các phương Đường xa tuy khó đo lường

Nương nhờ thần lực, trên đường thong dong.

 

Nguyện Bốn Sáu – Chư Tôn Bồ Tát Ở phương xa, tinh tấn tu hành

 

Tam muội, giải thoát chứng xong

Thường thấy chư Phật, số đông không lường.

 

Nguyện Bốn Bảy – Dân số đông dầy Hàng hàng lớp lớp về đây tu hành Người người nguyện thỏa vô sanh

Vào hàng Bất Thối, viên thành nơi đây.

 

Nguyện Bốn Tám – Hoàn thành Pháp Nhẫn Người người đều thành khẩn quy y

Hoàn thành nguyện lớn một khi

Nhất, nhị, tam nhẫn hành trì luôn luôn.

Pháp Tạng phát nguyện vừa xong

Mười phương các cõi thảy đồng hân hoan Hương, hoa, kỹ nhạc, lọng tàn

Cúng dường Giáo Chủ Lạc Bang Di Đà.

 

 

 

BÀI TỐNG TÁNG‌

 

Cuộc hồng trần xoay vần quá ngán Kiếp phù sanh tụ tán mấy luân hồi Người đời có biết chăng ôi

Thân người tuy có, có rồi hoàn không! Chiêm bao khéo khuấy lạ lùng

Mơ màng trong một giấc nồng mà chi Làm cho buồn bã thế ni

Hình dung mới đó bữa nay đâu rồi? Khi nào đứng đứng ngồi ngồi

Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô. Khi nào du lịch giang hồ

Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài. Khi nào lược giắt trâm cài

Bây giờ gởi xác ra ngoài gò hoang. Khi nào trau ngọc chuốt vàng

Bây giờ một nắm xương tàn lạnh tanh. Khi nào mắt đẹp mày thanh

Bây giờ, thấy dạng thấy hình là đâu. Khi nào lên các xuống lầu

Bây giờ một nắm cỏ sầu xanh xanh

 

Khi nào liệt liệt oanh oanh

Bây giờ một trận tan tành gió mưa.

Khi nào ngựa lọc xe lừa

Bây giờ mây rước trăng đưa mơ màng. Khi nào ra trướng vào màn

Bây giờ nhà cửa xóm làng cách xa. Khi nào mẹ mẹ cha cha

Bây giờ bóng núi cách xa muôn trùng. Khi nào vợ vợ chồng chồng

Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn.

Khi nào cháu cháu con con

Bây giờ hai ngã nước non xa vời. Khi nào cốt nhục vẹn mười

Bây giờ lá héo nhành tươi vui gì. Khi nào bạn hữu sum vầy

Bây giờ chén rượu cuộc kỳ vắng thiu. Cái thân như tấc bóng chiều

Như chùm bọt nước phập phều ngoài khơi.

Xưa ông Bành Tổ sống đời

Tám trăm tuổi thọ nay thời còn đâu! Sang mà đến bực Công Hầu

 

Giàu mà đến bực bấy lâu Thạch Sùng. Nghèo mà đói khát lạnh lùng

Khổ mà tóc cháy da phòng trần ai Phù du sớm tối một mai

Giàu sang cũng thác, xạt xài cũng vong.

Thông minh tài trí anh hùng

Si mê dại dột cũng chung một gò. Biển trần nhiều nỗi gay go

Mau mau nhẹ gót qua đò sông mê. Sự đời nên chán nên chê

Tầm nơi giải thoát mà về mới khôn Vong hồn ơi, hỡi vong hồn

Cuộc đời nay biển mai cồn tỉnh chưa? Tỉnh rồi một giấc say sưa

Sẽ xin niệm Phật mà đưa hồn về Hồn về Cực Lạc nước kia

Cho xa hang quỉ mà lìa kiếp ma Nhờ ơn Đức Phật Di Đà

Phóng ra một ngọn chói lòa hào quang Trong khi tiếp dẫn rõ ràng

Dắt hồn ra khỏi sáu đàng nghiệp nhơn. Quán Âm Bồ Tát vui mừng

 

Tay cầm nhành liễu, tay bưng kim đài Với cùng Thế Chí các ngài

Cũng đều khuyến thỉnh lên ngai sen vàng. Có bảo cái, có tràng phan

Có mùi hương lạ, có đàn ngọc xây Có Trời các cõi truy tùy

Có đờn, có trống, rước đi một đường. Rước về đến cảnh Tây Phương

Có ao Thất bảo, có hương ngũ phần Lưu ly có đất sáng ngần

Ma ni có nước trong tần chảy quanh Thất trân có bảy lớp thành

Bảy hàng cây báu, bảy vành lưới châu Có ngân các, có kim lầu

Có chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe. Nghe rồi tỏ đạo Bồ Đề

Bao nhiêu nghiệp chướng hồn mê dứt liền.

Đã sanh về chín phẩm sen

Mấy tai cũng xảy, mấy duyên cũng tròn. Phật như thể mẹ tìm con

Con mà gặp mẹ lại còn lo chi

 

Lầu vàng đài các thiếu gì

Ăn thì cơm ngọc, mặc thì áo châu Không ơn, không oán, không sầu Không già, không chết, có đâu luân hồi. Tánh xưa nay đã tỏ rồi

Gương xưa rày đã lau chùi trần ô Tu hành phải đợi kiếp mô

Nguồn tình biển ái đã khô bao giờ Lựa là phải ngộ thiền cơ

Mà đèn trí huệ dễ lờ đi đâu. Mấy lời hộ niệm trước sau

Nguyện cho thành Phật mau mau nữa mà Phân thân ra khỏi Ta Bà

Từ bi tiếp độ những là chúng sanh.

 

 

KHUYẾN TU‌

 

Vóc bào ảnh lắm người yêu tiếc, Yêu tiếc thân cho thiệt vì thân, Cuộc vui những ước vô ngần, Nào hay vui vẫn là nhân chác sầu. Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ, Chất huyễn hư giọt lệ lòng hoa, Đôi mươi trẻ, chín mươi già,

Số phần yểu thọ khó qua vô thường. Dép dưới giường lên giường vội biệt, Sống ngày nay dễ biết ngày mai, Mạng người hô hấp kinh thay?

Nghĩ cơn vĩnh biệt tiền đài mà đau. Xót duyên kiếp vì sao ngắn ngủi, Chấp thân chi để tủi cho thân,

Da bao những thịt, xương, gân,

Thân này dường thể đống phân sạch gì? Tóc, răng, móng khác chi đất bợn,

Mũi, dãi, đàm nên tởm xiết bao, Bên ngoài rệp đúc, muỗi đeo,

Bên trong sán lãi lẫn vào nhớp chưa?

 

Nỗi nóng bức ngày trưa tiết hạ, Cơn lạnh lùng đêm giá trời đông, Xét thân nhơ khổ vô cùng,

Dứt lòng tham luyến, khởi lòng thoát ly. Trách người thế mê chi lắm nhẽ,

Sánh phong lưu phô vẻ y quan, Kẻ khờ cũng học đài trang

Để lòng điên đảo theo đàng sắc thanh. Đầu xương sọ cài trâm thắt lụa,

Đãy da hôi ướp xạ xông hương, Khéo đòi nhung gấm phô trương,

Chỉ tuồng che lớp vô thường hôi tanh. Những mãn tưởng ngày xanh muôn tuổi, Lắm cơ mưu đeo đuổi yêu hoa,

Ngờ đâu tai điếc, mắt lòa,

Diêm Vương sắp ruớc đến tòa U Minh. Làn tóc bạc đưa tin quỉ sứ,

Gốc răng long điềm chỉ qui âm, Càng tài, càng sắc, càng dâm,

Càng cho đọa lạc càng lầm mà thôi. Cuộc hành lạc một thời thương tiếc, Nẻo luân hồi muôn kiếp đắng cay,

 

Đến khi sắp xuống diêm đài,

Thịt xương đau nhức, tay chân rụng rời. Vợ lưu luyến đầy vơi giọt lệ,

Con thảm thương kể lể khóc than, Dù cho quyến thuộc trăm ngàn,

Có ai thay đổi cho chàng được chăng? Kẻ sống ở nặng quằn gánh tủi,

Người chết đi dong ruổi phách hồn, Đường âm mờ tựa đêm hôm,

Trông ra quạnh quẽ bồn chồn thảm thê. Nại hà đến lạnh tê gió lốc,

Quỉ môn sang ghê gốc tiếng thương, Bảy ngày lìa quá cõi dương,

Âm ty đã trải trăm đường hỏi tra, Tào quan xử thét la chẳng vị, Ngục tốt hờn tay chùy, tay xoa, Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa,

Soi tường thiện ác chối qua được nào. Người nhân đức cho vào cửa phước, Kẻ hung hoang giải trước hình ty, Đọa đày khổ sở xiết chi,

Mới hay nhân quả mấy khi sai lầm.

 

Rừng đao kiếm bao năm hết tội, Kiếp sừng lông nhiều nỗi đa mang, Trả đền cho dứt nghiệp oan,

Mới mong thoát khỏi con đường long đong.

Dù ai có to lòng lớn mật,

Mặc chàng hay báng Phật khinh Tăng, Chẳng qua đối trước Diêm quân,

Cúi đầu co gối chịu phần xử tra. Hồn phách đã xa chơi âm giới, Thi hài còn ở cõi dương gian, Có tiền mua lớp áo quan,

Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng. Xương, da, thịt sẽ cùng tan rã,

Tấm hình hài lần hóa tanh hôi, Chỉ trong chầy sớm mà thôi,

Chầy trong bảy tháng sớm thời ít hôm. Nét kiều diễm chập chờn xuân mộng, Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân,

Khi xưa, tài, sắc mười phân,

Mà nay một nấm cô phần lạnh tanh. Thời oanh liệt hùng anh đâu tá,

 

Cuộc ái ân hư giả còn chi, Phất phơ cành liễu xanh rì,

Giấy tiền treo đó còn ghi mối sầu. Bóng chiều rũ xuống màu cỏ biếc, Bia mồ trơ một chiếc vắng không, Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng,

Đời người đến thế là xong một đời. Ví chăng biết tìm nơi giải thoát, Nương về ngôi Chánh Giác Quy Y, Luân hồi hẳn dứt có khi,

Bên trời Bát Nhã còn chi lo phiền, Lối ma quỉ đừng riêng mưu sống, Đất Từ Bi gieo giống Hoa Đàm, Giữ lòng thiện, dứt lòng tham,

Gái, trai, Tăng, tục đều ham tu hành. Rõ cảnh mộng chớ quanh đường mộng, Biết miền chơn, kiếp chóng tu chơn, Dần dà tính thiệt so hơn,

Tuổi xuân qua mất để hờn về sau. Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm, Chín phẩm đài sen chiếm ngôi vinh, Chớ nên mình phụ lấy mình,

 

Trách sao Diêm lão vô tình chẳng dung. Bỏ điều ác xin làm theo thiện,

Chừa lỗi xưa tu tiến đường sau, Lại vì quyến thuộc bảo nhau,

Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì. Khiến mỗi kẻ đồng quy bến giác, Cho mọi người đều thoát sông mê, Dù trong lao khổ dám nề,

Đài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin… Nguyền xin dốc tưởng tin lời Thánh, Dám đổ cho rảnh rỗi ưu du,

Kiếp này chẳng chịu lo tu,

Còn e kiếp khác công phu lỡ làng.

 

 

CÁC NGÀY VÍA‌

(tính theo ngày Âm Lịch)

 

THÁNG GIÊNG, ngày:

01 – Vía Đức Di Lặc.

06 – Vía Nhiên Đăng Cổ Phật.

15 – Rằm Thượng Nguyên

 

THÁNG HAI, ngày:

08 – Vía Phật Thích Ca xuất gia.

15 – Vía Phật Thích Ca nhập diệt.

19 – Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

21 – Vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát.

 

THÁNG BA, ngày:

16 – Vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát.

 

THÁNG TƯ, ngày:

04 – Vía Đức Văn Thù Bồ Tát.

15 – Vía Phật Thích Ca giáng sanh.

20 – Bồ Tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. (nhằm ngày 11-6-1963).

 

THÁNG SÁU, ngày:

19 – Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

 

THÁNG BẢY, ngày:

13 – Vía Đức Đại Thế Chí Bồ Tát.

15 – Lễ Vu Lan Bồn (Rằm tháng Bảy).

30 – Vía Đức Địa Tạng Bồ Tát.

 

THÁNG CHÍN, ngày:

19 – Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

30 – Vía Phật Dược Sư.

 

THÁNG MƯỜI, ngày:

15 – Hiệp Kỵ Chư Tổ và các vị hữu công với Phật giáo đồ.

 

THÁNG MƯỜI MỘT, ngày:

17 – Vía Phật A Di Đà.

 

THÁNG CHẠP, ngày:

08 – Vía Phật Thích Ca thành đạo.

 

 

 

NHỮNG NGÀY TRAI‌

THẬP TRAI: Mỗi tháng mười ngày: Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27).

 

LỤC TRAI: Mỗi tháng sáu ngày: Mồng 8, 14, 15, 23,

29, 30.

 

TỨ TRAI: Mỗi tháng bốn ngày: Mồng 1, 14, 15, 30. NHỊ TRAI: Mỗi tháng hai ngày: Mồng 1, 15.

TAM NGOẠT TRAI: Một năm 3 tháng: Tháng Giêng, Tháng Bảy, Tháng Mười.

 

Những ngày trai không nên dùng các món gia vị như: hành, hẹ, tỏi, nén, xa cừ (một loại gia vị ở Ấn Độ) v.v…, người tu hành ăn các món này thì tụng kinh trì chú không linh nghiệm, khêu gợi dục tình, và sanh thêm các tánh hung dữ.

 

 

Danh Sách Hình Ảnh Minh Họa‌

ĐỨC BỔN SƯ 1

ĐỨC NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT 18

ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT 54

ĐỨC A DI ĐÀ TIẾP DẪN 87

ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT 121

TIÊU DIỆN ĐẠI SĨ 150

BÌNH BÁT 172

ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT 186

TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA 205

ĐỨC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT 221

BÁNH XE LUÂN HỒI 239

ĐỨC DI LẶC 255

ĐỨC THÍCH CA SƠ SINH 272

VU LAN THẮNG HỘI CHÙA PHẬT TỔ LONG BEACH 2010 285

NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI 329

THẦN KIM CANG 382

ĐỨC QUÁN ÂM GIÚP CHÚNG SANH KHỎI NHỮNG TAI ƯƠNG HẠN ÁCH VÀ XUI XẺO 440

ĐỨC HỘ PHÁP 459

 

 

Quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY, của

2 giới, xuất gia và tại gia, do cố Hòa Thượng Thích Thiện Thanh soạn và dịch thuật.

 

Văn bản điện tử do sự yêu cầu của cô Thanh Ý và một số đệ tử chùa Phật Tổ Long Beach, thiết kế vào mùa Xuân năm 2011 tại Long Beach, Hoa Kỳ.

 

Kiểm tra đối chiếu: SC Huệ Trân, SC Như Thanh,

Phật tử Kim Hải.

 

Biên tập và kỹ thuật: Nguyễn Ngọc An & Phật tử

Thiền Uyển

 

Mọi chi tiết xin liên lạc theo địa chỉ sau đây:

 

 

CHÙA PHẬT TỔ

905 Orange Avenue Long Beach, CA 90813 Phone: (562) 599-5100

Email: GotamaTemple@gmail.com http://www.chuaphatto.com

 

Bản Mục Lục Chi Tiết‌

 

ÁN THỈNH CÔ HỒN, 154

BA NGUYỆN, 212

BẠCH PHẬT, 265

BÀI TỐNG TÁNG, 475

BÀI TỤNG, 277

BÁT KHÔNG, 208

BỐN MƯƠI TÁM LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, 464

BỐN VỊ ĐẠI BỒ TÁT, 389

CÁC NGÀY VÍA, 486

CẦU NGUYỆN, 21, 57, 90, 124,

153, 175, 189, 242, 275, 288,

332, 385, 443

CẦU SIÊU hay TỊNH ĐỘ, 88, 89

CHẲNG NHẬN LẤY CHẲNG

THAM, 427

CHẲNG PHẢI NĂNG THUYẾT SỞ THUYẾT, 421

CHÁNH TÍN RẤT HI HỮU, 396 CHỖ PHẬT NÓI KINH, 392 CHỖ THẤY BIẾT KHÔNG

SANH, 429

CHÚ AN THỔ ĐỊA, 388 CHÚ BIẾN THỰC, 160 CHÚ CAM LỒ THỦY, 161

CHÚ CÔNG ĐỨC BẢO SƠN, 40

CHÚ ĐẠI BI, 37, 60, 93, 127,

246, 292, 335, 447

CHÚ DIỆT ĐỊNH NGHIỆP, 160

CHÚ DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG, 160

CHÚ DƯỢC SƯ, 41, 372

CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH, 41, 372

CHÚ GIẢI OAN KIẾT, 157

CHÚ KHAI YẾT HẦU, 160 CHÚ KIẾT TRAI, 215 CHÚ KIM CANG, 432 CHÚ NGUYỆN, 241, 251 CHÚ NHŨ HẢI, 161

CHÚ NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG, 39

CHÚ NHỨT TỰ THỦY LUÂN, 161

CHÚ PHÁ ĐỊA NGỤC, 157

CHÚ PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ, 40

CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG, 164, 389

CHÚ QUÁN ÂM LINH CẢM, 42 CHÚ TAM MUỘI DA GIỚI, 160 CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI, 42 CHÚ THÍ VÔ GIÁ THỰC, 164 CHÚ THIỆN THIÊN NỮ, 43 CHÚ THỈNH CÔ HỒN, 157 CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG,

40, 450

CHÚ TỊNH KHẨU NGHIỆP, 388

CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI, 20, 56,

89, 123, 174, 188, 241, 287,

331, 384, 442

CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP, 20, 56, 89, 123, 174, 188, 241, 287,

331, 384, 388, 442

CHÚ TRÁNG BÁT, 213

CHÚ UỐNG NƯỚC, 214

CHÚ VÃNG SANH, 42, 114, 166,

236, 321

CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ, 42, 236

CHÚ XỈA RĂNG, 214

 

CÔNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, 112

CÔNG PHU KHUYA, 19, 20 CÚNG CƠM VÀ NƯỚC, 229 CÚNG DƯỜNG, 181, 209

CÚNG HƯƠNG, 21, 57, 89, 152,

174, 188, 242, 274, 288, 331,

385, 443

CÚNG NGỌ, 173, 174, 175

CÚNG SAO GIẢI HẠN, 441, 442, 449

CÚNG VONG, 222, 223

ĐẠI THỪA CHÁNH TÔN, 394

ĐẢNH LỄ, 23, 59, 92, 126, 177,

191, 244, 260, 277, 290, 334,

387, 445

DIỆU HẠNH VÔ TRỤ, 394

GIỞ BÁT, 207

HÓA ĐỘ KHÔNG NGƯỜI ĐƯỢC HÓA ĐỘ, 424

HỒI HƯỚNG, 45, 84, 118, 146,

202, 252, 284, 325, 379, 438,

455

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC, 45

HƯƠNG LINH LỄ PHẬT, 223

KỆ GIẢI NGHIỆP, 248

KỆ KHAI KINH, 62, 100, 129,

294, 337, 391

KỆ KHEN NGỢI, 432

KHEN NGỢI ĐỨC MỤC KIỀN

LIÊN, 319

KHEN NGỢI PHẬT, 22, 58, 91,

125, 176, 190, 243, 259, 276,

289, 333, 386, 444

KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT, 426

KHÔNG PHÁP CHI CÓ THỂ ĐƯỢC, 422

KHUYẾN TU, 170, 480

KINH A DI ĐÀ, 101

KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU, 294

KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT, 43, 79, 113, 142, 164, 179, 196,

281, 319, 373, 432

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA, 78

KINH DƯỢC SƯ, 330, 331, 338

KINH HỒNG DANH, 130

KINH KIM CANG, 383, 384,

392

KINH LĂNG NGHIÊM, 24, 193,

261

KINH PHÁP HOA, 63 KINH VU LAN BỒN, 312 LẠY BÁO ÂN, 264

LỄ AN VỊ PHẬT, 187, 188

LỄ PHẬT ĐẢN, 273, 274

LỄ PHÓNG SANH, 240, 241

LỄ THÀNH HÔN, 256, 257

LỄ TRAO NHẪN, 266

LỄ VU LAN, 286, 287

LÌA SẮC TƯỚNG, 420

LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN

NGÔN, 78

MẶC NIỆM BÁT CƠM ĐẦY, 208

MÔNG SƠN THÍ THỰC, 156

MƯỜI HAI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, 461

NĂM ĐIỀU CHỒNG ĐỐI VỚI VỢ, 266

NĂM ĐIỀU VỢ ĐỐI VỚI CHỒNG, 268

NĂM QUÁN, 212

NGHI THỨC CẦU AN, 55, 56

NGHI THỨC SÁM HỐI, 122, 123

 

NGHĨA LÝ NHỨT HIỆP TƯỚNG, 428

NGỢI KHEN ĐỨC QUÁN ÂM, 78

NGỒI THẲNG, 207

NGUYỆN AN LÀNH, 81, 198,

269, 454

NHỮNG NGÀY TRAI, 488

NHỨT TƯỚNG KHÔNG CÓ TƯỚNG, 400

NIỆM PHẬT, 16, 115, 143, 167,

216, 232, 250, 322, 374, 434

OAI NGHI VẮNG LẶNG, 428

ÔNG TU BỒ ĐỀ HỎI PHẬT, 392

PHẨM PHỔ MÔN, 63, 78 PHÁP NGỮ CÚNG PHẬT, 183 PHÁP NGỮ SÁI TỊNH, 196, 266 PHÁP NGỮ SÁM HỐI, 99 PHÁP NGỮ SÁM-HỐI, 149 PHÁP THÂN KHÔNG PHẢI

SẮC TƯỚNG, 425

PHỔ NGUYỆN, 216

PHỤC NGUYỆN, 85, 119, 147,

183, 203, 215, 237, 253, 327,

380, 456

PHƯỚC ĐỨC TRÍ HUỆ KHÔNG CHI SÁNH BẰNG, 424

PHƯỚC ĐỨC VÔ VI THÙ THẮNG, 403

QUÁ ĐƯỜNG, 206, 207

QUÁN TƯỞNG PHẬT, 22, 58,

91, 125, 177, 191, 243, 260,

276, 290, 333, 386, 445

QUY Y LINH, 96

RỐT RÁO KHÔNG NGÃ, 414

SÁM CẦU AN, 82 SÁM CẦU SIÊU, 168 SÁM DI ĐÀ, 234 SÁM DƯỢC SƯ, 376

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN, 145

SÁM NGÃ NIỆM, 435

SÁM PHÁT NGUYỆN, 199

SÁM PHỔ HIỀN, 218

SÁM QUY MẠNG, 47

SÁM TIÊU TAI GIẢI HẠN, 452

SÁM TỪ VÂN, 116

SÁM VU LAN, 323

TAM QUY, 86, 120, 148, 171,

185, 204, 219, 254, 270, 283,

328, 381, 439

TÁM VỊ THẦN KIM CANG, 389

TÁN DƯƠNG CHI, 60, 127, 192,

335, 446

TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT, 93, 178, 245, 291, 388

TÁN LỄ, 51, 170

TĂNG BẠT, 211

THẬP CHÚ, 39

THẤY CHƠN THẬT ĐÚNG LÝ, 396

THÍ THỰC CÔ HỒN, 151, 152

THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN, 226

THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN, 227

THỈNH ĐỨC QUÁN ÂM TIẾP DẪN, 224

THỈNH HƯƠNG LINH, 224

THỈNH PHẬT THUYẾT PHÁP, 391

THỌ TRÌ ĐÚNG NHƯ PHÁP, 405

THÔNG HÓA PHƯỚC ĐỨC, 420 TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH, 237 TỊNH TÂM HÀNH THIỆN, 423 TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO,

405

TỐNG THỰC, 210

 

TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ, 402

TRỪ HẾT NGHIỆP CHƯỚNG, 413

ỨNG HÓA KHÔNG PHẢI CHƠN THẬT, 430

VĂN PHÁT NGUYỆN, 390

VẮNG LẶNG LÌA TƯỚNG, 407 VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT, 398 XEM ĐỒNG MỘT THỂ, 418 XUẤT SANH, 210, 399

XƯỚNG SỚ, 96, 195, 449

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.