KINH ĐẠI THỪA HIỂN THỨC

Hán dịch: Đời Đường, Sa-môn Địa Bà Ha La, người Trung Thiên Trúc
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ngự tại rừng trúc Ca-lan-đà thuộc thành Vương-xá cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị hội đủ. Các vị ấy đều là những bậc A-la-hán đã dứt hết lậu hoặc, không còn phiền não, được tự tại, tâm giải thoát hoàn toàn, tuệ giải thoát hoàn toàn, đối với các pháp quá khứ, hiện tại, vị lai đều hiểu rõ, thông suốt không bị chướng ngại. Những vị A-la-hán ấy theo đúng lời Phật dạy, những việc cần làm đã làm xong, bỏ gánh nặng xuống, tự mình được lợi ích, đoạn dứt mọi khổ nơi sinh tử lưu chuyển, dùng lực của chánh trí, khéo biết chỗ hướng đến của tâm chúng sinh, Trưởng lão Xá-lợi-phất là bậc thượng thủ ở trong chúng đại Thanh văn này.

Lại có vô lượng chúng Đại Bồ-tát đều vân tập đến đông đủ.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở chỗ Đức Thế Tôn phần nhiều bị mệt mỏi, biếng nhác, mất hết sự nương tựa, không thể thọ trì. Lúc ấy, Đức Thế Tôn từ trên diện môn phóng ra hào quang như hoa sen nở, khiến cho các Tỳ-kheo đều tỉnh ngộ, mỗi người đều tự trang nghiêm, tề chỉnh và nghĩ: “Hôm nay Đức Thế Tôn dung mạo rực rỡ, hào quang từ trên diện môn tỏa sáng là muốn khai thị pháp nhãn gì đây, để tạo ra sự lợi ích lớn?”.

Lúc đó, Bồ-tát Hiền Hộ là bậc đồng chân thắng thượng, dung mạo tươi vui, đầy đủ ánh sáng và các sắc tướng, có sáu vạn thương chủ vây quanh trước sau theo hầu, tiếng vang ầm ầm như động đất, đi đến chỗ Đức Phật, thấy các công đức an ổn, tịch tĩnh của Đức Thế Tôn được tích chứa, hiển bày lồng lộng, sáng chói như cây vàng lớn, trong tâm càng tăng thêm niềm tin sâu xa, chấp tay suy nghĩ như vầy: “Mọi người đều tán thán Đức Phật là bậc Nhất thiết trí thấy khắp tất cả, đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác thật không hư dối”. Tất cả đoàn người đều cung kính đảnh lễ nơi chân Phật rồi cùng đứng lên nhìn kỹ. Đức Phật thấy Đồng chân Hiền Hộ, liền chuyển mình, phóng ra ánh sáng chiếu đến chỗ Hiền Hộ, Hiền Hộ liền được sự không sợ hãi, bèn đi quanh chỗ Đức Phật ba vòng, đảnh lễ dưới chân và bạch:

–Nguyện xin Đức Thế Tôn từ bi thương xót chỉ dạy, con vừa ở nơi chỗ Phật, nay có được tâm tin tưởng thanh tịnh, tâm mong cầu pháp vi diệu, muốn được thưa hỏi, nhưng từ lâu con chìm trong sinh tử, bị các thứ khổ, phiền não làm cho niệm luôn tán loạn, đối với các nẻo học như giới định chưa có sự tạo tác tương ưng, tuy tâm luôn mong cầu mà nay vẫn còn chưa rõ, ở trong lưới ngu tối mê lầm, nghi ngờ này làm sao vượt thoát được sinh tử? Thế Tôn là bậc Nhất thiết trí, thấy khắp tất cả. Đức Phật ra đời thật là hy hữu, rất khó gặp. Như ngọc như ý ban niềm vui cho chúng sinh. Phật là ngọc báu như ý lớn, tất cả chúng sinh nhờ được nương tựa mà đạt sự an lạc lớn, là bậc cha mẹ của chúng sinh, nhờ Phật mà chúng sinh thấy được con đường chân chánh. Nguyện xin Đức Phật từ bi thương xót mở bày chỉ rõ điều nghi ngờ tối tăm cho con.

Đức Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Ông có điều gì nghi ngờ cứ tùy ý hỏi, Ta sẽ phân biệt, thuyết giảng.

Lúc ấy, Bồ-tát Hiền Hộ được Phật cho phép chuyên tâm thưa hỏi, bèn đứng qua một bên.

Bấy giờ, Trưởng lão A-nan thấy Bồ-tát Hiền Hộ dung mạo tươi sáng, đầy đủ các sắc tướng bèn thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thật chưa từng có! Bồ-tát Hiền Hộ này có phước đức lớn, đầy đủ ánh sáng, sắc tướng khiến cho oai lực của các vua đều bị che, không thể hiện được.

Đức Phật bao Tôn giả A-nan:

–Bồ-tát Hiền Hộ phước nghiệp thắng thượng đã đạt được, tuy ở cõi người mà hưởng được quả báo thù thắng của cõi trời, an ổn, sung sướng tột bậc, tâm ý vui vẻ giống như trời Đế thích, ở cõi Diêm-phùđề chỉ trừ Bồ-tát Nguyệt Thật, ngoài ra không ai sánh bằng.

Tôn giả A-nan thưa:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Hiền Hộ nhờ đời trước gieo trồng căn lành gì mà được phước báo có nhiều của cải, vật dụng, xin Đức Phật giảng nói.

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Bồ-tát Hiền Hộ trong đời hiện tại hưởng quả báo an vui, của cải giàu có là do nhân duyên thù thắng từ đời trước, nay ông nên lắng nghe.

Này Tôn giả A-nan! Bồ-tát Hiền Hộ ấy có sáu vạn thương chủ giàu có, vàng bạc, của cải đầy dẫy, nhiều người cung kính thọ giáo thường theo hầu hạ. Trong nhà có sáu vạn giường nằm đều trải tọa cụ, mền, nệm bằng gấm vóc và những gối thêu thùa, đủ các màu sắc, anh sáng chiếu soi tăng vẻ nghiêm trang, nhiều màn, rèm bằng the lụa, vải vóc bao bọc xung quanh, đính các ngọc báu ở giữa cùng tỏa ra ánh sáng rực rỡ lần lượt nối tiếp nhau như vẽ. Có sáu vạn kỹ nữ mặc các thứ y phục đủ sắc màu, trang sức bằng vàng, ngọc, hoa tươi, những thứ tô điểm nơi mặt, mắt họ chiếu ra ánh sáng óng ánh mềm mại trông như Thiên Ca-già. Tùy theo tâm ý ưa thích, cùng nhau vui vẻ ca hát, cười nói, dạo chơi trong sự đoan nghiêm, thanh khiết, cung kính hầu hạ chủ nhân. Đối với người khác, tâm dứt tuyệt ái dục, luôn e thẹn cúi đầu hoặc che đầu làm dáng, da dẻ đầy đặn, mịn màng, các ngón tay, chân, gót chân, xương, gần đều không lộ ra ngoài, răng trắng đều, tóc đen mượt xoay về bên phải, như mũi nhọn đầu cây viết của người thợ vẽ. Giòng họ cao quý, danh tiếng vang xa. Những người kỹ nữ cúng dường thức ăn, cơm, bánh đủ các màu sắc khác nhau, hương vị thơm ngon như những món ăn của chư Thiên. Nước uống đủ tám công đức, khiến người nhìn thấy tâm luôn vui vẻ, thân an ổn, vừa ý, không mệt mỏi, nóng bức. Nhờ phước này, tùy theo tâm nghĩ mà có thức ăn khiến cho các thứ cấu uế bệnh tật không còn. Bên ngoài sân, trước hiên nơi lâu đài treo đủ sáu vạn ngọc báu ma-ni, lưu ly và các loại lưới rủ xuống, ở giữa các thứ báu, đồ trang sức nối tiếp thành hàng oai nghiêm đẹp đẽ, tơ lụa che phủ, chuông lắc treo nối nhau, theo gió lay động phát ra tiếng. Mặt đất bằng lưu ly hiện ra các hình tượng, các thứ hoa tung rải khắp nơi mát mẻ, vui thích, dạo chơi nghĩ ngợi trên lầu, tâm vui thích, vừa ý. Lại có tiếng vỗ tay, đàn sắt, ống sáo, chập chõa bằng đồng, tiếng ca hát trong trẻo, gồm có sáu vạn âm thanh hay hòa nhau, âm vang ấy nghe vọng lại từ xa, tiếng ca hát, ồn ào xen lẫn nhau khua động đánh thức khắp nước. Nhờ phước nghiệp nên luôn hưởng được sự vui vẻ, không dứt. Những tiếng ca hót của các loài chim bay lượn tụ họp, hòa cùng các âm thanh khác khiến cho tâm càng thêm vui vẻ. Các dây hoa leo vòng quanh lâu đài, hoa tươi, cành lá sum suê. Tiếng chuống, mõ, nhạc cụ, giống như cung điện nơi cõi trời; gian phòng, hành lang sáng rỡ giống như núi Tu-di chiếu ra ánh sáng vi diệu. Có sáu vạn bức thành, tường cao sừng sững, đủ các mái lầu, đường đi rộng rãi, các ngả tư, ngả ba đều thông suốt, sạch đẹp. Khắp nơi đều đến hội họp đông đảo, các thứ y phục, trang sức, ngôn ngữ, pháp luật chế ra vạn điều khác nhau, bao gồm các hình trạng sai biệt. Có trăm ngàn thương gia tự do trao đổi hàng hóa quý giá, tiếng mua bán, ca hát vang khắp nước. Vườn rừng với các cây lớn, nhỏ đều tốt tươi; dây hoa, cỏ thuốc, muôn loài hoa đua nhau sinh trưởng. Màu xanh bao bọc xung quanh xen lẫn ánh sáng rực rỡ đẹp như tấm thảm trải ra. Trăm ngàn voi ngựa, xe cộ qua lại không ngớt khắp cả thành ấp. Này Tôn giả A-nan! Trong sáu vạn thành có bậc cao đức danh tiếng. Những người giàu có và các thương chủ hằng ngày tán thán Bồtát Hiền Hộ, tuyên dương về danh xưng, oai đức, cung kính chấp tay lễ bái. Vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-la phước đức uy lực to lớn, so với Hiền Hộ vẫn thuộc hạng bần cùng.

Bồ-tát Nguyệt Thật có vô lượng trăm ngàn kỹ nữ vây quanh hầu hạ, cung kính phụng sự, thương yêu, luôn đem đến những sự vui vẻ. Tuy trời Đế thích có gấp ngàn vạn lần cũng không bằng Bồ-tát Nguyệt Thật. Đồng chân Hiền Hộ dung mạo sắc tướng đẹp đẽ, phú quý, tự tại, an lạc, vui vẻ gấp trăm ngàn vạn lần vẫn không bằng Bồtát Nguyệt Thật. Đây là do phước đức từ đời chiêu cảm, chẳng phải do oai lực mà đạt được.

Này Tôn giả A-nan! Bồ-tát Hiền Hộ lại có ngọc báu như ý, xe

ngựa lớn trang hoàng bằng các ngọc báu trời, ánh sáng luôn rực rỡ như ánh sáng của ngàn vàng, kim cương, ngọc báu, nhiều đồ trang sức quý giá xen lẫn rất đẹp trông như sao, di chuyển nhanh như gió, như chim bay. Cỗ xe ngựa quý bằng ngọc ngà châu báu tùy theo tâm nhớ nghĩ mà có, thân không mệt mỏi, trái lại thường được an vui.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan đảnh lễ nơi chân Phật, thưa:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Hiền Hộ gieo trồng những căn lành gì? Tu những phước nghiệp gì mà được của cải giàu có, thọ hưởng quả báo an lạc lớn, được cung điện nhà cửa đẹp đẽ, xe ngựa bằng ngọc báu hiếm có?

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Bồ-tát Hiền Hộ nhờ đời trước ở trong pháp Phật tu tập gieo trồng phước đức, nên ngày nay được quả an vui. Về đời quá khứ, có Phật hiệu là Lạc Quang gồm đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lúc ấy, Bồ-tát Hiền Hộ ở trong pháp của Đức Phật đó xuất gia làm Tỳkheo hiệu là Pháp Kế, nhờ hành trì nhiều giới và khéo thuyết giảng Kinh, Luật, Luận đối với tam tạng thâm diệu đều thấu hiểu thông suốt, thường vì chúng sinh tuyên dương, thuyết giảng, bố thí pháp không ngừng, âm thanh vi diệu, thẳng thắn, thanh cao, phân tích rõ ràng khiến cho người được nghe thuyết pháp đều vui mừng, tư duy tu hành và người được thoát khỏi đường ác số nhiều đến vô lượng.

Này Tôn giả A-nan! Tỳ-kheo Pháp Kế nhờ công đức bố thí pháp mà ở trong chín mươi kiếp hưởng phước báo nơi cõi trời, người. Lại thấy các Tỳ-kheo trì giới thanh tịnh, thân hình ốm yếu, thường ban cho thức ăn, giày dép, nhờ tâm thanh tịnh chân thật bố thí nên ngày nay được phước báo giàu có an vui, cung điện, nhà cửa, của báu xe cộ thù diệu đặc biệt. Lại được gặp Đức Phật Ca-diếp giáo hóa chỉ dạy: Ông vào đời vị lai của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ được thọ ký. Vì thế, ngày nay gặp Ta thuyết pháp chỉ dạy khiến được thành tựu.

Tôn giả A-nan thưa:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng, của cải giàu có, vàng ngọc chất đầy, tự tại mà tâm khiêm nhường, thật là kỳ lạ.

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Bậc đại trí không vì ưa thích, ham muốn tài sản quý báu mà kiêu mạn. Bồ-tát Hiền Hộ từ lâu đã tu hạnh lành, nhờ pháp thiện này nên thường được phước báo về của cải, thức ăn.

Bồ-tát Hiền Hộ được Đức Phật và Tôn giả A-nan khen ngợi rồi, bèn cung kính chấp tay đảnh lễ thưa:

–Đức Thế Tôn thương xót che chở tất cả chúng sinh, nay con có điều muốn thưa hỏi, xin Phật từ bi chấp thuận.

Đức Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Cho phép ông có điều nghi ngờ cứ tùy ý hỏi, Ta sẽ thuyết giảng rõ ràng cho ông.

Bồ-tát Hiền Hộ thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chúng sinh tuy biết có thức nhưng như ngọc báu giấu trong rương không hiển bày nên không rõ. Bạch Thế Tôn! Chẳng hay thức này tạo ra hình dáng thế nào, vì sao gọi là thức? Chúng sinh lúc chết tay chân loạn động, mắt sắc đều biến đổi, không được tự tại, các căn hoại diệt, các đại ly tán, thức ở nơi thân biến đổi đi về đâu, tự tánh thế nào, sắc tướng ra sao, làm thế nào bỏ thân này lại thọ thân khác, vì sao đã bỏ thân này rồi vẫn còn theo các nhập chịu quả báo ở đời sau, thọ các thân khác không giống nhau? Bạch Thế Tôn! Vì sao chúng sinh thân hoại diệt rồi lại sinh ra các nhập, đời này tích tập phước nghiệp, đời sau hưởng quả báo, thân hiện tại làm phước, thân sau thọ nhận? Tại sao thức có thể tăng trưởng nơi thân, thức nhập theo thân chuyển biến?

Đức Phật dạy:

–Lành thay Bồ-tát Hiền Hộ! Lành thay khéo thưa hỏi! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ giảng nói cho ông.

Bồ-tát Hiền Hộ thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời.

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Sự chuyển biến qua lại dời, diệt của thức giống như phong đại, không màu sắc, không hình tướng, chẳng hiển hiện mà có thể làm lay động vạn vật, chỉ rõ các tướng trạng sai khác của chúng, hoặc làm rung chuyển rừng, tàn phá, bẻ gãy cây cối, phát ra tiếng động lớn, hoặc tạo lạnh, nóng xúc chạm nơi thân chúng sinh tạo ra khổ vui. Gió không có hình dáng, tay chân, mặt mũi, cũng không có các màu đen, trắng, vàng, đỏ. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức giới cũng như vậy, không hiện rõ màu sắc, hình tướng, ánh sáng, do nhân duyên nên hiện ra các hoạt dụng khác nhau. Nên biết thức thọ nhận để biết về pháp giới cũng thế, không màu sắc, không hình tướng, do nhân duyên nên phát sinh hoạt dụng. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Chúng sinh khi đã chết, sự nhận biết về pháp giới, thức giới đều xa lìa thân, thức van hành nhận biết về pháp giới để thọ thân khác. Ví như gió thổi đến các loại hoa thơm, hoa ở đấy mà hương thì bay xa. Thể của gió không giữ lại hương của hoa đẹp. Thể của hương, của gió, cùng căn thân đều không có hình sắc, nhưng không nhờ sức gió thì hương không thể bay xa được. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thân chúng sinh khi chết, thức giữ lại sự nhận biết về pháp giới để sinh đến cõi khác. Nhờ duyên nơi cha mẹ, thức gá vào. Sự nhận biết pháp giới đều tùy nơi thức cũng như vậy. Như từ sức thù thắng của hoa mà mũi có thể ngửi mùi, do sức thù thắng của ngửi mà biết được cảnh giới của hương. Lại như từ gió nơi sức thù thắng của thân mà được sự tiếp xúc nơi sắc của gió. Nhờ nơi sức thù thắng của gió nên hương được bay xa. Như vậy, từ thức có thọ, từ thọ có sự nhận biết, từ sự nhận biết mà có pháp, theo đó có thể nhận biết pháp thiện và bất thiện.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Như người thợ vẽ chuẩn bị tường, bảng, chỗ để vẽ và những cách vẽ đẹp nhất, tùy ý vẽ nên những hình tượng nơi bức tranh, thức trí của người thợ ấy đều không có hình sắc mà vẫn vẽ ra đủ loại nét đẹp kỳ lạ, đủ thứ hình tượng khác nhau. Như vậy, thức trí không hình mà sinh ra sáu sắc, nghĩa là nhân nơi mắt thấy sắc nhưng nhãn thức thì không có hình tướng. Do nơi tai nghe tiếng, nhưng tiếng không có hình sắc. Do nơi mũi ngửi hương mà hương không có hình sắc. Nhờ lưỡi biết vị nhưng vị không có hình sắc. Nhân nơi thân biết xúc chạm nhưng xúc không có hình sắc. Các pháp nhập nơi các cảnh giới đều không có hình tướng. Thức không có hình sắc cũng lại như vậy.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức bỏ thân này thọ sinh thân khác, chúng sinh khi chết, thức bị nghiệp chướng ràng buộc, quả báo hết, thân mạng chấm dứt giống như thức của A-la-hán nơi định diệt tận. Như lúc A-la-hán nhập định diệt tận, thức của A-la-hán này từ thân diệt mà biến chuyển. Như vậy, thức của người chết là bỏ thân và cảnh giới, nương theo niệm lực mà tạo tác. Biết được điều đó như vậy, thì ta cùng người khi sống đã tạo các nghiệp, lúc chết đều nhớ lại và hiện rõ, thân và tâm cả hai đều chịu sự bức bách.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức nghĩa là gì? Thức là hạt giống có thể sinh ra mầm mống của các loại báo thân xen lẫn tri giác, tưởng niệm đồng gồm nơi thức. Biết khổ, biết vui, biết thiện, biết ác và cảnh giới thiện ác nên gọi là thức. Như ông đã hỏi: Vì sao thức xa lìa thân này mà chịu quả báo khác? Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức di chuyển nơi thân như hình bóng của khuôn mặt hiện ở trong gương, như chữ nơi con dấu hiện rõ trên bùn. Ví như mặt trời mọc chiếu ra ánh sáng khiến cho những sự tối tăm đều tiêu trừ. Lúc mặt trời lặn, ánh sáng mất đi, bóng tối trở lại như cũ. Bóng tối không có thể chất, hình tướng, chẳng phải thường, vô thường, hay có thể biết được nơi chốn. Thức cũng như vậy: không thể chất, không hình tướng, do nơi thọ, tưởng mà hiện bày. Thức ở nơi thân như thể của bóng tối, nhìn không thể thấy, không thể nắm giữ. Như người mẹ mang thai con, tự mình không thể biết được là trai hay gái, sắc đen, trắng, vàng, các căn: tay, chân, tai, mắt v.v… đầy đủ hay không đầy đủ, cùng loại hay không cùng loại. Thức an uống nóng, lạnh đưa vào bào thai, đứa con ấy liền phải chịu nhận sự thống khổ. Chúng sinh đến đi, co duỗi, nhìn trông, liếc ngó, nói cười, bàn luận, phải chịu kết quả về mọi hoạt động, những nghiệp đã tạo cùng với thức hiện ra đầy đủ mà không thể biết chỗ ở của thức, dừng ở trong thân nhưng không biết tướng trạng của nó.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Tự tánh của thức nhận khắp nơi các xứ, nhưng không vì các xứ mà bị nhiễm. Sáu căn, sáu cảnh, năm ấm, phiền não, thức biến hiện khắp nhưng không bị những thứ đó làm ô nhiễm. Do đấy mà công dụng của thức hiện rõ.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Như các bộ phận của cây được buộc giữ nơi một chỗ. Thân tạo ra các thứ nghiệp dụng hoặc đi, chạy, nhảy, đùa giỡn, ca múa. Ý ông nghĩ sao? Chỗ tạo tác của các cơ quan là do năng lực của ai?

Bồ-tát Hiền Hộ thưa Phật:

–Trí tuệ của con hạn hẹp chẳng thể biết rõ.

Đức Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Ông nên biết, tất cả đều là năng lực của nghiệp tạo tác. Sự tạo nghiệp không có hình tướng, nhưng từ nơi trí lưu chuyển. Như vậy, những bộ phận trên thân là do năng lực của thức tạo ra các nghiệp. Tiên đạt thần thông, Càn-thát-bà, Long, Thần, Người, Trời, A-tu-la nơi các cõi thảy đều theo nghiệp, nương vào thức có thể sinh ra thân. Thức như các cơ quan hoạt động không có hình tướng, thể chất, nhưng tồn tại khắp pháp giới, đầy đủ trí lực cho đến có thể biết được các sự việc đời trước. Ví như ánh sáng mặt trời đều soi chiếu một cách bình đẳng nơi các nghiệp ác của chúng sinh, mùi thối của tử thi, những thứ bất tịnh, nhưng không bị những thứ xấu đó làm nhiễm ô. Thức cũng như vậy, tuy thân ở nơi các nẻo ác, ăn đồ bất tịnh của loài heo, chó, nhưng thức không bị những thứ đó làm nhiễm ô. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức lìa thân này, theo nghiệp thiện ác mà thọ quả báo khác. Ví như gió từ núi cao, hang sâu thổi đến rừng hoa chiêm-bặc có nhiều hương thơm thì gió ấy thành thơm. Gió thổi qua vùng ô uế đầy xác chết hôi thối, thì gió trở thành hôi thối. Hoặc gió, hương thơm, mùi hôi cùng bay đi. Với gió thì thơm, hôi cùng gồm đầy, hiện rõ trước. Gió không có hình tướng, thể chất, hương thơm và mùi hôi cũng không có tướng trạng, nhưng bị gió mang đi xa. Thức bỏ thân này, nhưng giữ lại nghiệp thiện ác, chuyển sang thọ thân khác cũng như vậy. Như gió mang theo hương thơm và mùi hôi bay đến chỗ khác. Lại như người nằm mộng thấy những màu sắc, hình tượng và các việc mà không tự biết mình đang nằm ngủ. Người có phước đức, lúc chết, thức dời đổi cũng như vậy, được an ổn nhưng không biết. Như mộng chuyển đổi biến hóa không chỗ lo sợ, sự biến đổi rời khỏi thân của thức không phải do cổ, miệng và các lỗ tai, mũi, vì không lường chỗ từ đâu ra, chẳng biết nơi đi tới.

Lúc ấy, Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng đảnh lễ dưới chân Phật, thưa:

–Bạch Thế Tôn! Như loài gà con, ngỗng con trứng của nó chưa có hơi nóng được bao bọc lớp dày thì thức vào chỗ nào? Khi con trong trứng chết, vỏ không nứt, không vỡ, không có lỗ thủng thì thức ra từ đường nào?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Ví như ép hạt ô-ma hoa chiêm-bặc tỏa lên hương dầu của nó nổi tiếng. Dầu của hoa chiêm-bặc cùng với dầu của hạt phàm-ma tốt xấu khác nhau. Dầu trước đó không có hương, do hoa xông ướp của các dầu tạo ra hương. Hương không phá hạt ô-ma mà vào, cũng không phá hạt ấy mà ra, lại không có hình dáng thể chất giữ lại trong dầu. Nhưng do lực của nhân duyên, hương chuyển vào trong dầu, dầu biến thành nước hương. Thức của gà con, ngỗng con ra vào nơi trứng cũng lại như vậy. Như hương của hoa chiêm-bặc chuyển dời vào trong dầu. Sự chuyển vận của thức như ánh mặt trời soi chiếu khắp, như ngọc ma-ni tỏa sáng, như cây sinh ra lửa. Lại như hạt giống gieo trồng xuống đất, thể của nó biến hóa trong đất, còn mầm, cành, lá lộ ra bên ngoài, trổ hoa đủ màu sắc trắng, đỏ v.v… có những hương thơm khác nhau. Cùng một địa đại, đồng hỗ trợ cho bốn đại, đều tùy theo giống nơi mỗi loại mà sinh trưởng khác nhau. Như vậy, một thức nơi pháp giới sinh ra tất cả thân sinh tử, hoặc đen, trắng, vàng, đỏ, lành, dữ khác nhau.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức không tay chân, không có các chi phần, ngôn ngữ, do sức mạnh của ý niệm trong pháp giới, chúng sinh khi chết thức bỏ thân này, thức cùng niệm lực làm chủng tử cho đời sau. Tức lìa nơi thức thì không có pháp giới, nếu lìa pháp giới cũng không có thức. Thức cùng với phong đại ở trong cảnh giới của ý niệm vi diệu, cảnh giới của thọ và pháp giới hòa hợp mà dời chuyển.

Bồ-tát Hiền Hộ bạch Phật:

–Nếu như thế thì vì sao Đức Thế Tôn bảo thức là vô sắc?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Sắc có hai loại: Một là nội sắc, hai là ngoại sắc. Nhãn thức là nội sắc, nhãn căn là ngoại sắc. Nhĩ thức là nội sắc, nhĩ căn là ngoại sac. Tỷ thức là nội sắc, tỷ căn là ngoại sắc. Thiệt thức là nội sắc, thiệt căn là ngoại sắc. Thân thức là nội sắc, thân căn là ngoại sắc. Này Bồtát Hiền Hộ, như người mù bẩm sinh mộng thấy sắc đẹp, tay chân, mặt mày, hình dáng đều rất đẹp, liền ở trong mộng cảm thấy rất yêu thích. Đến lúc thức dậy, vẫn là tối tăm không thể thấy. Đêm đã hết, sáng ngày, mọi người tụ họp, người mù liền kể lại chuyện vui trong mộng: Tôi thấy my nhân hình dáng xinh đẹp, vườn hoa đủ loại, số người có đến trăm ngàn, ăn mặc đẹp đẽ vui đùa, da dẻ tươi thắm, vai lưng tròn đầy, tay thon dài giống như vòi voi. Tôi ở trong mộng có được sự vui thích tràn trề tâm sinh hoan hỷ.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Người mù bẩm sinh này chưa từng thấy vật, làm sao trong mộng có thể thấy sắc đẹp?

Bồ-tát Hiền Hộ bạch Phật:

–Xin Phật chỉ bày.

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Sự thấy ở trong mộng gọi là “Nội nhãn sở” (Nhãn thức) là tuệ phân biệt, chẳng phải do nhục nhãn thấy. Nội nhãn sở ấy do niệm lực, cho nên người mù ở trong mộng thấy cảnh hiện ra trong chốc lát. Lại do niệm lực nhận biết và nhớ lại việc đó. Nội sắc của thức cũng như vậy.

Lại nữa, này Bồ-tát Hiền Hộ! Khi thân chết, thức chuyển dời, cũng như hạt giống gieo vào đất bị hủy đi được bốn đại thâu giữ nên thân, cành, nhánh, lá dần dần tăng trưởng. Thức theo niệm lực thọ nhận bốn pháp thiện, bất thiện v.v… để thâu giữ, bỏ thân này chuyển hóa cũng lại như thế.

Bồ-tát Hiền Hộ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là pháp thiện và bất thiện được thâu giữ nơi thức?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Ví như ngọc pha lê đẹp đẽ, tùy theo chỗ đựng của nó đen hoặc trắng mà màu sắc của pha lê cũng theo đó mà trở thành trắng hoặc đen. Pháp thiện hay bất thiện được thâu giữ nơi thức cũng như vậy, tùy vào chỗ thâu giữ mà trở thành thiện hay bất thiện, chuyển hóa thọ quả báo.

Bồ-tát Hiền Hộ lại thưa Phật:

–Vì sao thân này lại thọ nhận nơi thức?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Thức này không tích tụ, cũng không sinh trưởng. Ví như hạt nảy mầm, chẳng phải là hạt giống không biến đổi mà sinh mầm, cũng chẳng phải là hạt giống bị hủy hoại mà sinh mầm, nhưng khi hạt nảy mầm thì hạt giống ấy biến đổi, hư hoại. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Ý ông nghĩ sao? Cái mầm đó tồn tại ở chỗ nào? Ở nơi hạt, cành, nhánh, lá hay đầu ngọn cây chăng?

Bồ-tát Hiền Hộ bạch:

–Bạch Thế Tôn! Không phải vậy! Mầm không dừng lại ở một

chỗ nào.

Như thế, này Bồ-tát Hiền Hộ! Thức tồn tại nơi thân không dừng lại một chỗ nào, chẳng phải ở nơi mắt, tai, mũi, miệng, thân. Khi hạt giống nảy mầm, như thức có sự nhận biết vi tế cho đến lúc kết hoa, như thức có sự thọ nhận. Lúc hoa mới nở cho tới lúc kết trái, như thức có thân, thức sinh ra ở thân và khắp các phần cơ thể, tìm kiếm chỗ dừng của thức chẳng có được. Nếu trừ nơi thân thức thì thức không sinh. Như quả chín mùi trên cây có thể làm hạt giống cho cây vị lai chẳng phải là không chín muồi. Như vậy quả báo hết, thân mất, chủng tử của thức liền hiện ra. Nhân nơi thức có thọ, nhân nơi thọ có ái, sự trói buộc nơi ái liền sinh ra ý niệm. Thức thâu giữ lấy ý niệm theo nghiệp thiện, ác, cùng với phong đại, nhận biết ý niệm của cha mẹ, hòa hợp các nhân duyên, thức liền nương gá vào đó. Như khuôn mặt người hiện ra trong gương, chẳng phải do mặt sạch, mặt sáng mà hình không hiện. Gương tỏ, mặt đối, hình ảnh mới hiện. Ảnh tượng trong gương không thọ nhận, không nhớ nghĩ mà chỉ lệ thuộc vào mỗi động tác co vào, duỗi ra, cúi xuống, ngước lên, há miệng nói đùa, đi đến, tiến dừng của thân. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Ảnh tượng hiện ra là từ năng lực của ai?

Bồ-tát Hiền Hộ bạch:

–Bạch Thế Tôn! Năng lực của người ấy, do có mặt nên có hình ảnh của mặt, sắc của ảnh tượng giống như sắc của mặt. Các căn đầy đủ hay không đầy đủ, đều giống như khuôn mặt.

Phật bảo:

–Mặt là nhân của ảnh, gương là duyên của ảnh, nhân duyên hòa hợp nên ảnh hiện ra. Do thức làm nhân nên có thọ, tưởng, hành và các tâm sở. Cha mẹ là duyên. Nhân duyên hòa hợp ma có thân sinh ra. Như thân và gương kia, ảnh trong gương khi thân mất thì ảnh diệt, thân giữ lại ảnh tượng hoặc riêng hiện ra trong nước v.v… Thức bỏ thân này, giữ lại nghiệp thiện ác, chuyển sang thọ thân khác cũng lại như vậy. Lại như hạt giống Ni cù đà, Ô đàm bà v.v… tuy nhỏ nhưng có thể sinh ra cây lớn, cây lại sinh ra hạt, hạt lìa cây cũ liền sinh ra cây mới. Cây cũ trải qua một thời gian sinh sống sức lực suy yếu, dịch vị cạn kiệt, thân khô mục. Những loại sinh vật nhỏ cũng lại như vậy. Thức bỏ thân mạng nhân nơi nghiệp của mình thọ những thân to lớn khác. Như cây đại mạch, tiểu mạch, cây ô-ma, đậu ma-sa và vô số loại cây đều từ hạt giống mà sinh trưởng thành mầm, nhánh, hoa. Như vậy, do có thức, nên tùy theo sự biến chuyển sinh ra nơi chủng loại liền có cảm giác. Do có cảm giác nên thọ giữ các nghiệp thiện ác và thọ các loại thân. Lại như con ong ham thích, luyến tiếc nơi hoa, hút hương vị của hoa để nuôi dưỡng mình. Ong bỏ hoa này lại đến với hoa khác. Hoặc bỏ hương thơm, hút lấy vị hôi. Hoặc bỏ vị hôi hút lấy hương thơm. Tùy chỗ hiện có mà đều yêu thích, luyến tiếc, nối kết với tham chấp. Thức cũng như vậy, nhờ phước nghiệp nên được thân của chư Thiên thọ quả báo an lạc, thù thắng. Hoặc bỏ thân chư Thiên do nghiệp ác nên bị quả báo nơi địa ngục, chịu các quả khổ, luân hồi, lưu chuyển nơi các loại thân. Thức như cây uất kim, hồng lam, cây Phân-đà-lợi, hạt giống của nó đều trắng. Bóc hạt giống ra, bên trong không thấy mầm, hoa và các màu sắc khác nhau. Hạt giống gieo vào đất, nhờ có nước thấm nhuần, hạt nảy mầm, thời tiết thuận lợi cây phát triển đâm hoa, kết quả tươi tốt, có các màu sắc trắng hoặc đỏ v.v… Màu sắc cùng mầm không ở trong hạt giống, song lìa hạt giống thì mầm không mọc được. Thức đã bỏ thân, tướng mạo của nhục thân các căn, các nhập thì trong thức không thấy có nhân duyên hòa hợp. Thức do thấy đẹp, nghe hay, âm thanh tiếp xúc với vị nơi pháp, do đó nhập vào ý niệm biết được chỗ tạo nghiệp thiện, ác của mình, nhân đấy nhận lấy quả báo của thân. Như tằm làm kén, tự quấn, tự buộc, sự chuyển hóa của thức ở đây cũng như vậy. Thức tự sinh khởi nơi thân, rồi trở lại tự trói buộc vây bọc, tự lìa bỏ thân này lại thọ quả báo khác. Do có chủng tử nên có sắc, hương, vị. Thức bỏ thân này, tùy theo chỗ chuyển đổi của nó, các căn, cảnh giới, thọ và pháp giới thảy đều tùy theo sự biến đổi của thức. Như ngọc báu như ý, tùy theo sự ưa muốn hiện có mà được đầy đủ. Như ánh sáng tùy thuộc vào mặt trời. Thức cũng như vậy đều tùy thuộc vào sự biến đổi của thọ nhận, cảm giác, tưởng và pháp giới. Thức bỏ thân, thâu giữ tất cả tánh, nhân của sắc làm thân, không có thân xương thịt, chỉ có các căn, thọ nhận sự nhớ nghĩ tốt đẹp, biết giữ lấy thiện, ác, biết quả các loại cây táo, thạch lựu, am-la, am-ma-lặc, tị-loa mọc lên ở chỗ khô cằn, hiếm nước; hoặc cay, hoặc đắng, hoặc chua, hoặc chát, hoặc ngọt, hoặc nồng, hoặc rít, mùi vị của mỗi thứ khác nhau; khi đã chín muồi đem dùng thì công dụng của nó không phải là một. Quả hoại rồi thì mùi vị của mỗi loại tùy theo hạt giống chuyển hóa mà sinh ra. Như vậy, chủng tử của thức cũng tùy theo chỗ chuyển dời của nó, thọ nhận các niệm thiện, ác, tất cả đều lệ thuộc vào sự biến đổi của thức. Biết bỏ thân này, thọ báo nơi thân khác nên gọi là thức. Biết nghiệp thiện ác, biết nghiệp theo ta, biết ta giữ lấy nghiệp, chuyển hóa thọ quả báo nên gọi là thức. Mọi hoạt động nơi thân thảy đều biết nên gọi là thức. Ví như gió thổi không có hình tướng để có thể nắm bắt, không có thể chất để có the giữ lấy, do nhân duyên nên tạo ra các sự việc, biểu hiện là có gió là giữ lại khí lạnh hay khí nóng, di chuyển hương thơm hay mùi hôi, lay chuyển làm rừng cây ngã gãy, hoặc đẩy đập vào cánh cửa tạo ra tiếng động. Như vậy, thức không có hình tướng, thể chất, chẳng thấy, nghe hay nắm bắt được, nhờ nhân duyên nên tướng của thức hiển hiện đủ. Do thức giữ lấy thân nên thân biết được khổ, vui, với đủ các màu sắc, ánh sáng đi, đến, tiến, dừng, nói, cười, vui, buồn, mọi việc đều được hiện rõ, nên biết là có thức.

********

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ-tát Nguyệt Thật thắng thượng, từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay thưa:

–Bạch Thế Tôn! Vì sao thấy nhân của sắc? Vì sao thấy nhân của dục? Vì sao thấy nhân của kiến? Vì sao thấy nhân của giới thủ?

Phật bảo Bồ-tát Nguyệt Thật:

–Trí thấy cảnh giới của trí, ngu thấy cảnh giới của ngu. Người trí thấy các sắc tinh sạch, đẹp đẽ, biết rõ dơ uế, chính là các phần thịt, gân, xương, máu mủ, động mạch, tĩnh mạch, ruột già, ruột non, sống lưng, dịch vị, não, thận, lá lách, tim, mật, lá gan, phổi, bụng, bao tử, sinh tạng, thục tạng, đờm, nước mũi, tóc, móng tay, móng chân, đại tiển, tiểu tiện, da mỏng bao bọc đều là những thứ bất tịnh, ô uế lộ ra, đáng nhàm chán, ghê sợ. Phàm các sắc hiện có đều từ bốn đại sinh. Đó là nhân của sắc.

Này Bồ-tát Nguyệt Thật! Như cha mẹ sinh ra thân ta, phần cứng chắc là địa đại, sự ướt chảy là thủy đại, hơi ấm là hỏa đại, sự chuyển động nhẹ nhàng là phong đại. Còn giác tri, suy niệm về cảnh giới của thanh, hương, vị, xúc v.v… những phần này đều là thức.

Bồ-tát Nguyệt Thật lại thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Khi sắp chết thức lìa bỏ thân như thế nào? Làm sao thức di chuyển nơi thân? Vì sao thức biết nay lìa bỏ thân này?

Phật bảo Bồ-tát Nguyệt Thật:

–Chúng sinh tùy theo nghiệp mà nhận chịu quả báo. Thức lưu chuyển liên tục giữ lấy thân không dứt, trải qua một thời hạn chịu quả báo xong, thức bỏ thân này, theo nghiệp chuyển dời thọ thân khác. Ví như sữa hòa với nước, lấy sức nóng của lửa để nấu, sữa, nước và chất béo mỗi loại đều bị phân tán.

Như vậy, này Bồ-tát Nguyệt Thật! Mạng sống của chúng sinh

kết thúc là do nghiệp lực tan nên hình hài, thức, các nhập, giới, mỗi mỗi đều bị phân tán. Thức lại làm chỗ nương tựa, vì giữ lấy pháp giới và nhớ nghĩ về pháp giới cùng nghiệp thiện, ác, thức chuyển sang thọ báo nơi thân khác. Này Bồ-tát Nguyệt Thật! Ví như thuốc đại cát thiện tô, dùng vị của các loại thuốc hay dốc công sức hòa hợp mới là đại cát thiện tô, loại bỏ tánh của loại tô thường, chỉ giữ lấy sức mạnh của thuốc hay với sáu vị cay, đắng, chua, chát, mặn, ngọt, dùng nuôi thân người, liền cùng với thân người tạo nên sắc hương vị. Thức bỏ thân này, giữ lại nghiệp thiện, ác và biến khắp pháp giới, chuyển dời thọ báo nơi thân khác cũng như vậy.

Này Bồ-tát Nguyệt Thật! Chất tô như thân, các loại thuốc hòa hợp là “Đại cát thiện”. Như các pháp cùng hòa hợp với các căn tạo ra nghiệp. Vị của các loại thuốc hòa với nhau tạo thành với chất tô. Như nghiệp hỗ trợ cho thức, uống đại cát thiện thì vui vẻ, tươi tỉnh sung mãn được hình sắc đẹp đẽ, sức lực an ổn, không còn lo lắng. Như thiện hỗ trợ cho thức thì được quả báo an vui. Uống chất tô trái cách thì dung mạo trở thành xấu xí, khô cạn huyết khí, trắng dã như kẻ chết. Như nghiệp ác hỗ trợ cho thức thì phải chịu quả báo khổ đau. Này Bồtát Nguyệt Thật! Chất liệu tốt lành của tô không tay, không chân, không mắt mà có thể giữ lại sức mạnh nơi sắc hương vị của thuốc hay. Thức cũng như vậy, giữ lấy pháp giới thọ nhận và các nghiệp thiện, bỏ thân giới này, thọ thân trung ấm được ý niệm vi diệu của cõi trời, thấy sáu tầng trời nơi cõi dục và mười sáu tầng địa ngục, thấy thân mình tay chân đoan nghiêm, các căn tốt đẹp, thấy bỏ thây chết, và biết rằng đây là thân đời trước của ta. Lại thấy tướng cao đẹp thù thắng nơi cung điện của các cõi trời với vô số các thứ trang nghiêm, hoa quả cỏ cây um tùm che phủ, chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ như vàng mới luyện thành các đồ quý báu để trang sức. Người kia thấy những thứ này rồi, tâm rất vui mừng, nhân sự vui mừng ấy, thức khởi lên sự ham thích, liền gá vào. Người ấy nhờ tạo nghiệp thiện, xả bỏ thân hay thọ thân đều được an lạc không khổ. Như người cỡi ngựa bỏ một, cỡi một. Như người tráng sĩ võ nghệ thao lược gồm đủ, thấy kẻ địch đến liền mặc áo giáp, đội mũ chắc chắn ngồi xe ngựa tốt xông len, không sợ hãi. Thức hỗ trợ các căn lành, bỏ hơi thở ra vào, lìa thân giới, nhập, dời chuyển để thọ nhận sự an lạc thù thắng cũng như vậy. Từ cõi trời Phạm thân cho đến trời Hữu đảnh đều được sinh trong ấy.

Bấy giờ, trong chúng hội, có vương tử Đại Dược từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thức bỏ thân này tạo ra hình sắc gì?

Đức Phật bảo:

–Lành thay, vương tử Đại Dược! Chỗ ông vừa hỏi rất là sâu xa nơi cảnh giới của Phật, chỉ có Như Lai mới có thể hiểu được.

Lúc này, Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng thưa Phật:

–Vương tử Đại Dược đã thưa hỏi về điều rất sâu xa, trí của vị ấy thật thông tuệ, sáng suốt, vi diệu.

Đức Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Vương tử Đại Dược này đã ở chỗ Đức Phật Tỳ-bà-thi gieo trồng các căn lành, từng trải qua năm trăm đời sinh trong nhà ngoại đạo. Lúc làm ngoại đạo thường suy nghĩ về ý nghĩa của thức. Thức là thế nào? Vì sao gọi là thức? Trong năm trăm đời ấy không thể hiểu rõ, chẳng biết được đầu mối, sự đến, đi của thức. Ngày nay, Ta vì muốn phá trừ lưới nghi cho vị ấy khiến được hiểu rõ.

Lúc đó, Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng nói với vương tử Đại Dược:

–Lành thay! Lành thay! Nay Nhân giả thưa hỏi về chỗ thật sâu xa vi diệu. Điều Bồ-tát Nguyệt Thật thưa hỏi, nghĩa đó còn cạn hẹp giống như đứa trẻ, tâm còn giong ruổi theo cảnh bên ngoài, không biết được bên trong. Chánh pháp khó được nghe, chư Phật khó gặp. Trí Phật rộng lớn trọn vẹn, tuệ sâu xa khó suy lường, đối với lý vi diệu tột bậc nên chuyên tâm cầu thỉnh giải bày.

Khi ấy, vương tử Đại Dược thấy Đức Phật dung mạo tươi sáng, hoan hỷ, rạng rỡ như hoa sen nở vào mùa thu, liền vui mừng hết mực, nhất tâm chấp tay thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con rất mến mộ, khát ngưỡng pháp thâm diệu, thường sợ Như Lai nhập Niết-bàn, không nghe được chánh pháp. Đối với chúng sinh ở trong đời ác gồm đủ năm thứ ô trược, ngu tối không biết nơi pháp thiện, bất thiện, thuần thục cùng không thuần thục, đều không thể hiểu rõ nên me lầm, mãi lưu chuyển trong sinh tử khổ nơi các cõi.

Phật bảo Bồ-tát Vương tử Đại Dược:

–Chánh pháp của Như Lai khó gặp, khó được. Ta về thời xa xưa, vì nửa bài kệ phải lên núi tự rơi xuống, xả bỏ thân mạng để cầu chánh pháp, trải qua vô lượng trăm ngàn vạn ức năm, chịu vô số khổ nạn. Này Vương tử Đại Dược, ông có điều mong cầu, nên tùy ý hỏi, Ta sẽ phân biệt giảng nói cho ông thấu tỏ.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là hình tướng của thức, xin Phật chỉ bày?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Như hình bóng của người hiện ra trong nước, hình tướng này không thể nắm giữ, chẳng phải có hay không có. Như hình tướng Sôlạc-ca, như hình tượng khát ái.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Thế nào là khát ái?

Phật dạy:

–Như người đối với sắc hợp ý nên nhãn căn hướng về sắc. Đó gọi là khát ái. Như cầm gương sáng soi thấy mặt mình, nếu cất gương đi thì không thấy mặt. Sự chuyển biến của thức cũng như vậy. Nghiệp thiện, ác cùng với hình sắc của thức đều không thể thấy. Như người mù bẩm sinh đối với mặt trời mọc, mặt trời lặn, đêm ngày, sáng tối đều không thể thấy. Thức không thể thấy cũng như vậy. Khát ái, thọ, tưởng ở trong thân không thể thấy. Các đại, các nhập, các ấm của thân đều là thức. Các thể hữu sắc như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… Cùng với thể vô sắc gồm: tâm thọ nhận khổ, vui, cũng đều là thức. Này vương tử Đại Dược! Như người dùng lưỡi nếm thức ăn, biết được sáu mùi vị: mặn, ngọt, đắng, cay, chua, chát. Lưỡi cùng thức ăn đều có hình sắc, nhưng các vị ấy thì vô hình. Lại nhân nơi thân, xương tủy, da thịt, máu huyết-mà biết được các thọ. Các thứ nơi thân như xương v.v… có hình tướng mà thọ thì không có hình sắc. Thức biết phước hay chẳng phải phước quả cũng như vậy.

Bấy giờ, Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng đảnh lễ dưới chân Phật, thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thức này có thể biết về phước hay chẳng phải phước chăng?

Phật dạy:

–Hãy lắng nghe, chẳng phải chưa kiến đế mà có thể thấy được thức. Thức không thể nhìn thấy được. Chẳng phải như quả A-ma-lặc trong lòng bàn tay. Thức không ở trong tai, mắt, mũi v.v… Nếu thức ở trong mắt, tai, mũi thì khi phá vỡ mắt, tai, mũi thì sẽ thấy thức.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Hằng sa chư Phật thấy thức là vô sắc, Ta cũng như vậy, thấy thức là vô sắc. Hàng phàm phu ngu tối không thể thấy được, nhưng nhờ ví dụ mà mở bày hiển hiện. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Muốn biết tội phước của thức, ông nay nên lắng nghe. Ví như có người tham chấp làm chư Thiên thần, Càn-thát-bà, quỷ thần Tắc kiền đà. Này Bồ-tát Hiền Hộ! Ý ông nghĩ sao? Người ấy vì tham chấp làm thân trời, quỷ thần v.v… Do tâm tham chấp mà cầu đạt thân thì có thể thấy được khong?

Bồ-tát Hiền Hộ đáp:

–Bạch Thế Tôn! Không thấy được. Sự tham chấp làm thân trời, rồng, quỷ thần không sắc, không hình, thân bên trong, bên ngoài đều không thể thấy được.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Người muốn được phước thù thắng của chư Thiên phải đem các thứ hương hoa tốt đẹp, thức ăn thơm ngon, nước uống tinh sạch, tất cả vật cúng dường đều phải tinh khiết, những việc làm này là do thức tạo, phước báo sẽ được quả hoặc làm vua, hoặc làm tể tướng, hoặc làm người giàu có, sang trọng, hoặc làm trưởng giả, đại thương chủ, hoặc được thân chư Thiên thọ nhận phước báo thù thắng của cõi trời, do thức làm phước mà thân đạt được quả báo an vui. Người đó đạt phước báo thù thắng của cõi trời được hương hoa tốt đẹp, thức ăn thơm ngon, sức khỏe không bệnh, an ổn, đời nay được giàu có, tôn quý, tự tại. Nên biết tất cả đều nhờ phước hỗ trợ cho thức mà thân được quả báo an vui.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Người ấy vì tâm tham đắm nên phải làm Phú-đan-na là loại quỷ thần ác, ưa thích những thứ bất tịnh, phân dơ, đờm giải, do những việc như vậy mất đi sự an vui, bệnh hoạn càng tăng thêm, người ấy theo sự ham muốn mà ưa thích những mùi hôi bất tịnh, phân dơ uế. Thức do tội tạo nên cũng như vậy. Hoặc sinh trong các nẻo ác, nhà bần cùng, hoặc sinh làm loài ngạ quỷ, súc sinh, ăn đồ dơ uế. Do tội hỗ trợ cho thức nên nhận chịu quả khổ.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Chư Thiên không có hình tướng mà lãnh

thọ được các thứ hương thơm cúng dường. Phước của thức không hình tướng, thọ nhận quả báo an lạc, thù thắng cũng như vậy. Phú-đan-na v.v… là loài quỷ thần xấu ác, vì tham đắm liền thọ nhận đồ ăn uống bất tịnh, dơ uế, thức tạo nghiệp tội phải nhận khổ báo cũng như vậy.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Nên biết, thức không hình tướng, thể chất, như quỷ thần, chư Thiên thể chất hiện rõ, đạt được các vật dụng cúng như thức ăn uống tốt, xấu, như thức tạo tội phước được quả báo khổ vui.

Vương tử Đại Dược thưa Phật:

–Làm thế nào thấy được nhân của dục?

Phật bảo Bồ-tát Đại Dược:

–Sự hỗ trợ cho nhân sinh ra dục cũng như do nơi đồ dùng lấy lửa cộng với sức người mà sinh ra lửa. Như vậy, nhân nơi thức và nam, nữ, sắc, thanh, hương, vị, xúc mà có dục sinh. Ví như nhờ hoa sinh quả, trong hoa không có quả, quả sinh thì hoa diệt. Như vậy, nhân nơi thân mà thức hiển bày. Theo thân tìm thức thì không thể thấy thức, nghiệp quả của thức lúc sinh thì thân liền diệt. Xương tủy nơi thân và các thứ bất tịnh đều bị tiêu tán. Lại như hạt giống giữ lấy quả của vị lai với sắc, thanh, hương, vị, xúc theo sự gieo trồng mà sinh. Thức bỏ thân này, giữ lại nghiệp thiện, ác, thọ, tưởng, tác ý chịu quả báo của đời sau cũng như vậy. Lại như nam, nữ ái dục hoan lạc, rồi xa lìa nhau mà đi. Thức với thân hòa hợp, lưu luyến, tham chấp, say đắm, khi quả báo hết thức ly tán theo nghiệp thọ quả báo khác. Thưc của thân trung ấm nhờ duyên nơi cha mẹ, do nghiệp lực sinh thức mà được quả báo thọ thân. Ái tình và nghiệp đều không có hình chất, nhân nơi tướng của sắc dục mà sinh ra dục. Đó là nhân của dục.

Này vương tử Đại Dược! Thế nào là thấy nhân của giới thủ? Giới là những điều răn dạy được chế ra của bậc thầy, như không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Thủ là chấp thủ. Giới này chế ra với nhan thức như vậy, nhờ trì giới này mà đạt được các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, Ala-hán. Nhờ nhân này nên đạt được nơi cõi thù thắng, nghĩa là được thọ thân nơi hàng trời, người. Đây đều là pháp thiện hữu lậu, chẳng phải là pháp thiện vô lậu. Thiện vô lậu không có quả dị thục của ấm. Nay giới thủ này là gieo hạt giống hữu lậu. Đối với thức giữ lấy nghiệp thiện ác thì thức không thuần tịnh, là nhân của phiền não nên phải nhận quả khổ bức bách. Đó là nhân của giới chấp thủ.

Vương tử Đại Dược thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là thức nhận lấy thân chư Thiên cho đến thân địa ngục?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Thức cùng với pháp giới giữ lấy sự nhìn biết vi diệu, chẳng phải là chỗ nương của nhục nhãn để thấy được nhân. Sự nhìn thấy vi diệu này cùng với cảnh giới của phước hòa hợp, vừa thấy sự dục lạc vui thích nơi cung trời, thức liền bị đắm nhiễm. Nghĩ rằng: “Ta nên đến đó”. Do có niệm ái nhiễm, luyến tiếc là có nhân, thấy rồi bỏ thân, nghĩ như vầy: Thây chết này là đại thiện tri thức của Ta, do đã tích tập các căn lành, nên nay Ta được quả báo nơi cõi trời.

Vương tử Đại Dược thưa Phật:

–Thức này đối với thây chết đã có nhiều tham ái, sao không gắn bó vào đấy?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Ví như râu tóc đã cắt bỏ, tuy thấy tóc đen, óng mượt nhưng không thể đem tóc đó trồng lại nơi thân, khiến chúng mọc lại được. Như vậy, này vương tử Đại Dược! Thây chết bỏ đi rồi, thức cũng không thể nương gá vào để thọ nhận quả báo.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thức này rỗng lặng, vi diệu, không hình chất, không tướng trạng, không thể giữ lấy, tìm kiếm, vì sao có thể nắm giữ được những chúng sinh thân lớn như voi v.v…, dù thân vững chắc như kim cương mà có thể xuyên suốt vào. Hoặc như thân trượng phu tráng kiện, sức địch nổi chín voi vẫn có thể nắm giữ được?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Ví như gió thổi không chất, không hình, ở trong hang sâu, lỗ hổng, giữa vách đá, gió ấy thổi cực mạnh làm nghiêng đổ núi Tu-di, làm vỡ ra thành những hạt bụi.

Này vương tử Đại Dược! Gió cực mạnh thổi tan núi Tu-di có sắc tướng thế nào?

Vương tử Đại Dược bạch:

–Bạch Thế Tôn! Gió ấy vi diệu, không thể chất, không hình tướng.

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Gió ấy vi diệu không chất, không hình. Thức cũng như vậy, vi diệu, không chất, không hình. Đối với thân lớn, thân nhỏ đều có thể nắm giữ. Hoặc thọ thân muỗi, hoặc thọ thân voi. Ví như ngọn đèn sáng, ánh đèn vi diệu đặt trong căn nhà tối, tùy theo căn nhà lớn hay nhỏ mà các bóng tối liền được dứt trừ. Thức cũng như vậy, tùy theo nhân của các nghiệp mà sự nắm giữ ấy là lớn nhỏ.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Các tướng tánh của nghiệp đó như thế nào, do nhân duyên gì mà có thể hiện rõ?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Được sinh trong các cõi trời, ăn các món ngon, hưởng sự vui vẻ, an lạc, đây đều là do nghiệp quả đưa đến. Như người khát nước đi qua đồng trống vắng mênh mông, một người được nước trong lành mát mẻ thì vui mừng, một người không được nước phải chịu mọi khổ về khát mệt. Người được nước không có người để đem cho. Người phải chịu khát, khổ cũng không bị ai ngăn ngại, chẳng hứa cho nước. Cả hai đều do nghiệp nhân nên thọ nhận quả báo khổ, vui khác nhau.

Vương tử Đại Dược nên biết! Thấy nghiệp thiện ác như ánh trăng giữa hư không gồm hai phần sáng, tối, như trái cây sống, do hỏa đại tăng làm quả chín chuyển sang màu sắc khác nhau. Cũng vậy, thân này do phước tăng nên sinh vào dòng họ giàu có, cao quý, tài sản, vàng bạc đầy khắp. Hoặc sinh vào các cõi trời thọ báo sung sướng, tự tại. Đây đều là tướng phước của nghiệp thiện hiện rõ. Ví như hạt giống gieo nơi đất mà quả hiện ra trên cây. Nhưng hạt giống đó không từ nơi cành nhập vào cành để đến ngọn cây được. Chat, tách thân cây ra cũng không thấy hạt. Không có người đem hạt đặt trên cành. Cây lớn dần, rễ chắc chắn, tìm cũng không thấy hạt giống. Như vậy các nghiệp thiện, ác đều nương nơi thân, nhưng tìm nơi thân cũng không thấy nghiệp. Như nhờ nơi hạt giống mà có hoa, nhưng trong hạt giống không có hoa. Nhờ hoa có quả, nhưng trong hoa không có quả. Hoa quả tăng trưởng dần cũng không thấy. Nhân nơi thân có nghiệp, nhân nơi nghiệp có thân, trong than không có nghiệp, trong nghiệp không có thân cũng như vậy. Như hoa rụng hết thì quả mới hiện ra.

Thân đã hoại diệt, nghiệp quả mới xuất bày. Như có hạt giống, thì nhân của hoa quả mới có đủ. Như vậy, có thân, thì nhân của nghiệp thiện ác mới gồm đủ. Nghiệp ấy không hình cũng không hiện rõ tướng. Như bóng của thân người không thể chất, không bị ngăn ngại, không thể nắm giữ, ràng buộc nơi người, tiến, dừng, qua, lại tùy thân vận động. Cũng không thấy bóng từ thân mà ra. Nghiệp nơi thân cũng vậy. Có thân, có nghiệp nhưng không thấy nghiệp trói buộc nơi thân, cũng không lìa thân mà có thể có nghiệp. Như các thứ thuốc uống với các vị đắng, cay, mặn, nhạt khác nhau, có thể chữa trị tất cả bệnh, khiến thân được khỏe mạnh, dung mạo tươi tốt, người trông thấy biết ngay là đã uống loại thuốc hay. Vị thuốc ấy có công hiệu, nhưng không có hình tướng nhìn không thể thấy, khong thể nắm bắt, nhưng nhờ đó mà người uống được khỏe mạnh, da dẻ hồng hào. Nghiệp không có hình tướng, thể chất nhưng có thể hỗ trợ cho thân cũng như vậy. Người tích tập nghiệp thiện thì được phước hưởng các thứ thức an, y phục đầy đủ, tay chân hình dáng đẹp đẽ, nhà cửa sang trọng, của báu chất đầy, an vui, vừa ý. Nên biết, đây là tướng của nghiệp thiện. Trái lại, sinh ra ở nơi biên địa, hạ tiện, bần cùng, đồ dùng thiếu hụt, ăn uống sút kém, hoặc không được ăn, tướng mạo xấu xí, hèn hạ. Nên biết đây là tướng của nghiệp ác. Giống như gương sáng, soi thấy vẻ mặt tốt xấu, hình bóng trong gương không thể chất, giữ lại không được. Thức tích tập nghiệp thiện hay bất thiện cũng như vậy, có thể sinh trong hàng trời, người, hoặc sinh trong các cõi địa ngục, súc sinh.

Này vương tử Đại Dược! Nên nhận thấy nghiệp cùng thức hòa hợp, chuyển hóa như vậy.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Làm sao thức vi tế có thể nắm giữ các căn, giữ lấy thân to lớn?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Ví như người thợ săn vào chốn núi rừng, cầm cung bắn mũi tên độc trúng con voi quý. Tên độc thấm vào máu, chất độc truyền khắp thân voi, các bộ phận trên thân voi đều bị tan hoại, chất độc lan nhanh làm cho thân chuyển thành các màu sắc xanh, đỏ giống như huyết đọng. Chất độc giết voi rồi liền chuyển hóa. Ý ông nghĩ sao? Chất độc cùng với thân voi nhiều ít lớn nhỏ có thể so sánh được chăng?

Vương tử Đại Dược bạch:

–Bạch Thế Tôn! Chất độc cùng với thân voi, nhiều ít lớn nhỏ, lượng ấy rất khác xa, không thể đối chiếu. Như đem hạt cải so vơi núi Tu-di.

–Này vương tử Đại Dược! Như vậy, thức bỏ thân này do giữ lấy các căn, bỏ các cảnh giới ấy tùy theo nghiệp chuyển hóa.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Vì sao thức vi tế lại có thể nắm giữ thân to lớn mà không mệt mỏi?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Núi chúa Tu-di cao tám vạn bốn ngàn do-tuần. Hai vị đại Long vương là Nan-đà và Ô-ba Nan-đà nhiễu quanh núi ba vòng. Khi hai đại Long vương này dừng lại, làm chấn động nui Tu-di, khiến nước trong biển biến thành độc. Hai đại Long vương Hòa-tu-cát và Đứcxoa-ca cũng có sức mạnh như vậy. Ý ông nghĩ sao? Thức của bốn rồng chúa cùng với thức của con muỗi, con ve có khác nhau không?

–Bạch Thế Tôn! Thức của bốn con rồng chúa và con muỗi, con ve đều không khác nhau.

–Này vương tử Đại Dược! Như đưa một ít giọt chất độc Bạt-thốna-bà vào miệng bốn con rồng, bốn con rồng liền chết. Ý ông nghĩ sao? Giọt nhỏ thuốc độc Bạt thố na bà và chất độc trong miệng rồng kia, chất độc nào lớn?

Vương tử Đại Dược bạch:

–Bạch Thế Tôn! Chất độc trong miệng rồng là lớn, còn chất độc nơi giọt thuốc độc kia thật là nhỏ.

–Này vương tử Đại Dược! Chúng sinh với thân to lớn, sức mạnh địch cả chín voi. Còn thức thì vi diệu, không sắc, không hình, không phân biệt về lượng, tùy theo nghiệp lực mà nắm giữ cũng lại như vậy. Như hạt Ni-cù-đà là rất nhỏ, hạt giống sinh ra cây phát triển rộng lớn, cành nhánh có tới hàng trăm ngàn. Ý ông nghĩ sao? Hạt ấy cùng với cây lớn, nhỏ giống nhau chăng?

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Hạt đó cùng với cây hình tướng lớn nhỏ thật khác xa, như lỗ hổng nhỏ trong ngó sen so với cõi hư không.

–Như vậy, này vương tử Đại Dược! Cây ở trong hạt tìm không thể được, nhưng nếu không do nơi hạt thì cây không thể sinh. Hạt Nicù-đà rất nhỏ, có thể sinh ra cây lớn. Thức vi tế có thể sinh ra thân to lớn. Trong thức cầu tìm thân, thân không thể có được, nhưng nếu bỏ thức đi thì thân không thể có.

Vương tử Đại Dược lại bạch Phật:

–Vì sao chất kim cang kiên cố không thể hủy hoại thức, mà chỉ hoại những nơi nguy hại, chóng suy yếu trong thân?

Phật bảo:

–Này vương tử Đại Dược! Ví như người nghèo cùng được ngọc báu như ý, nhờ uy lực của ngọc báu nen có nhà cửa, cung điện cao rộng đẹp đẽ, vườn rừng cây cối tốt tươi, hoa quả sum suê, voi ngựa, người hầu, vật dụng tự nhiên đưa đến đầy đủ. Người đó về sau mất ngọc báu như ý, thì các thứ vật dụng tạo của cải giàu có an lạc cũng không còn. Ngọc báu thần như ý bền chắc cho dù ngàn chất kim cương cũng không thể hủy hoại, nhưng chỗ sinh ra vật dụng của cải thì hư giả, vô thường, mau chóng tan diệt. Thức cũng như vậy, bền chắc không hoại, nhưng thân được thức sinh ra thì chóng hoại diệt.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thức mềm mại vi diệu làm sao xuyên vào các loại hình sắc thô cứng?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Như thể của nước hết sức mềm mại, nhưng chảy làm xói mòn, suối nước từ cao có thể chảy xuyên qua núi đá, ý ông nghĩ sao? Tính chất của nước và đá cứng, mềm như thế nào?

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chất đá rắn chắc giống như kim cương, chất nước mềm mại như các tiếp xúc êm mát.

–Này vương tử Đại Dược! Thức cũng như vậy, hết sức vi diệu, rất là mềm, nhưng có thể xuyên qua hình sắc nơi thân tướng to lớn, cứng chắc như kim cang để chuyển nhận thọ quả báo.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chúng sinh bỏ thân này làm sao sinh trong các cõi trời, cho đến sinh nơi địa ngục?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Chúng sinh khi sắp chết người tạo nghiệp nơi phước, bỏ sự thấy

của mình đạt được sự thấy vi diệu của chư Thiên, nhờ vậy mà thấy được sáu cõi trời nơi dục giới và sáu đường, thấy thân dao động, thấy cung điện nơi cõi trời, vườn hoan hỷ, các loại vườn hoa. Lại thấy cung điện hoa sen của chư Thiên có các kỹ nữ xinh đẹp hầu hạ vây quanh, cười nói đùa giỡn, tai đeo các hoa, mặc áo kiều-xa-da, cổ tay mang vòng xuyến, đủ các thứ trang sức. Hoa thường nở rộ, các thứ vật dụng được bày biện đầy đủ. Nhìn thấy các thiên nữ tâm liền tham đắm, hoan hỷ vừa ý, mặt mày vui vẻ, rạng rỡ như hoa sen, nhìn không lẫn lộn, mũi không cong gãy, hơi miệng không hôi, mắt trong sáng như cánh sen xanh. Các phần trên thân không bị thống khổ. Mắt, tai, mũi, miệng không bị ra máu, không mất đại tiểu tiện, không kinh sợ khiến các lỗ chân lông hiện rõ, lòng bàn tay không chết, lớp da dày màu vàng không bị xanh đen. Tay chân không rối loạn cũng không bị co rút. Các tướng tốt hiện rõ, thấy ở trong hư không có cung điện lớn, hàng trăm ngàn cột chạm trổ rất đẹp, các chuông treo, lưới rủ xuống hòa cùng tiếng gió thổi, âm thanh phát ra nghe vui thích, đủ thứ hương hoa để trang hoàng bảo điện, các đồng tử cõi trời, thân trang sức các thứ báu dạo chơi trong cung điện, nhìn thấy mỉm cười, răng lộ ra như hoa quân đồ, mắt không mở to, cũng chẳng nhắm lại, lời nói dịu dàng, thân không quá lạnh cũng không quá nóng, quyến thuộc vây quanh, không có sự buồn khổ. Lúc mặt trời mới mọc sẽ bỏ thân mạng, được thấy rõ ràng không bị tối tăm, những mùi hương lạ thơm lừng từ bốn phương bay vào, thấy oai nghi của Phật thì hoan hỷ kính trọng. Thấy rồi thì mọi sự ham thích đều từ bỏ, giống như đang đi bỗng dừng lại, nhận biết sự gần gũi an ổn, không bị chuyển theo, ưu sầu khổ não. Pháp như vậy sinh ắt sẽ chết, chớ vì phân biệt mà sinh khổ đau. Này vương tử Đại Dược! Người tạo nghiệp thiện đến lúc sắp chết, thường thích bố thí, thích các thứ kệ tán, đủ thứ ánh sáng, tuyên dương chánh pháp, như ngủ hoặc không ngủ, xả bỏ thân mạng đều an ổn. Khi sắp lìa bỏ thân cũ, Thiên phu Thiên mẫu cùng ngồi một tòa, trong tay Thiên mẫu tự nhiên hoa nở. Thiên mẫu thấy hoa bảo với Thiên phụ: “Thật là phước lành, quả tốt hiếm có. Hôm nay, nên biết sự vui mừng của các con thời gian không còn lâu nữa”.

Thiên mẫu bèn dùng hai tay mân mê, lay động nơi hoa, lúc đang mân mê cánh hoa, mạng sống liền chấm dứt. Thức vô tướng kia xả bỏ các căn, nắm giữ các nghiệp cảnh, xả bỏ các cõi, giữ lấy sự việc nơi cõi để dời chuyển thọ nhận quả báo khác. Giống như cỡi ngựa, bỏ một con cỡi một con. Như mặt trời thích phát ra ánh sáng, như cây sinh lửa, như ánh trăng hiện rõ mặt nước lắng trong. Thức tích tập nghiệp thiện chuyển đổi được hưởng quả báo nơi cõi trời. Như luồng gió thổi nhanh gởi vào trong hoa. Thiên phụ và Thiên mẫu cùng trên tòa ngồi nhìn rõ. Gió dục của cam lồ thổi vào trong hoa bảy ngày. Ngọc báu trang sức trên thân phát ra ánh sáng rực rỡ, thiên đồng trong lành hiện rõ nơi tay Thiên mẫu.

Vương tử Đại Dược thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thức không có hình tướng làm sao nhờ vào năng lực của nhân duyên mà sinh ra hữu hình? Làm sao vật hữu hình lại ở trong nhân duyên?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Như cây hòa hợp cùng chạm nhau sinh ra lửa, lửa ấy tìm kiến trong cây không thể có được. Nhưng nếu bỏ cây thì cũng không được lửa. Do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra lửa. Nhân duyên không đầy đủ tức lửa không sinh. Tìm sắc tướng của lửa trong cây thì hoàn toàn không thể thấy. Nhưng đều thấy lửa từ trong cây phát ra. Như vậy, này vương tử Đại Dược! Thức nhờ nơi nhân duyên của cha mẹ hòa hợp sinh ra thân hữu hình. Trong thân hữu hình tìm cầu không thấy thức, nhưng lìa thân hữu hình thì cũng không có thức. Này vương tử Đại Dược! Như lửa chưa phát ra thì tướng của lửa không hiện bày, cũng không xúc chạm hơi ấm, các tướng đều không. Như vậy, này vương tử Đại Dược! Nếu chưa có thân thì thức, thọ, tưởng, hành thảy đều không hiện được. Này vương tử Đại Dược! Như thấy ánh mặt trời tỏa chiếu sáng rực, các hàng phàm phu không thấy được thể tánh của mặt trơi, thể ấy là màu đen, trắng hay vàng, đỏ đều không thể nhận biết, nhưng do ánh sáng chuyển biến, lúc mặt trời mọc, lặn, nhờ các tác dụng đó mà biết là có mặt trời. Thức cũng như vậy, nhờ vào các tác dụng mà biết có thức.

Vương tử Đại Dược bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là tác dụng của thức?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Thọ giác tưởng, hành, suy xét lo buồn, khổ não, đều là tác

dụng của thức. Lại có nghiệp thiện và bất thiện huân tập thành chủng tử, tác dụng của nó hiện rõ nơi thức.

Vương tử Đại Dược bạch Phật:

–Thế nào là thức lìa thân liền mau chóng thọ thân? Thức bỏ thân cũ, chưa thọ thân mới, lúc ấy thức tạo ra hình tướng gì?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Như có bậc trượng phu tráng kiện dũng mãnh, cánh tay dài mặc áo giáp kiên cố, cỡi ngựa chạy như gió xông vào trận, binh khí đã chạm nhau thì tâm tán loạn té xuống ngựa, thế võ luyện tập nhanh nhẹn nên liền nhảy lên. Thức bỏ thân liền nhanh chóng thọ nhận thân khác cũng lại như vậy. Lại như người yếu kém thấy địch thì sợ hãi cưỡi ngựa chạy lui. Thức tích tụ nghiệp thiện, thấy Thiên phụ, Thiên mẫu cùng ngồi một tòa thì nhanh chóng thác sinh vào đó cũng lại như vậy.

Này vương tử Đại Dược! Như chỗ ông hỏi, thức bỏ thân cũ, chưa thọ thân mới, bấy giờ, thức tạo ra hình tướng gì? Này vương tử Đại Dược, ví như bóng người hiện ở trong nước, không có thể chất, chẳng nắm bắt được, tay chân, mặt mũi và các hình trạng kia thì cùng với người không khác. Trong hình bóng thì thể chất nơi chỗ tạo nghiệp đều không. Chẳng lạnh, không nóng, không chạm xúc, cũng không mệt mỏi, các đại phân tán, không có âm thanh của ngôn ngữ, âm thanh của thân, âm thanh khổ vui. Thức bỏ thân cũ, chưa thọ thân mới, tướng trạng cũng lại như vậy. Này vương tử Đại Dược! Người tích tụ nghiệp thiện được sinh vào hàng chư Thiên.

Vương tử Đại Dược thưa:

–Bạch Thế Tôn! Vì sao thức sinh vào địa ngục?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Người tạo nghiệp ác phải vào địa ngục. Này vương tử Đại Dược! Ông nên lắng nghe! Chúng sinh do tích tập căn bất thiện, lúc sắp chết suy nghĩ: Nay ta nơi thân này chết rồi, lìa bỏ cha mẹ là chỗ yêu thương của sự thân quen thật vô cùng buồn khổ. Thấy cảnh các địa ngục và thấy thân mình ứng hợp để vào trong đó, thấy chân ở trên, đầu ngược xuống dưới, lại thấy một chỗ đất thuần là máu, thấy máu đó rồi tâm sinh vướng chấp vào vị, duyên nơi vị ấy, tâm khởi tham đắm liền bị sinh vào địa ngục. Do sức mạnh nơi nhân của nước thối rửa, mùi hôi, thức thác sinh vào trong đấy. Ví như chỗ có phân ô uế, mùi sữa, rượu thối là lực nơi nhân của các mùi khiến cho loài trùng sinh vào trong đó. Người bị đọa vào địa ngục gá vào mùi hôi thối của vật để sinh cũng như vậy.

Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng chấp tay bạch Phật:

–Chúng sinh bị đọa vào địa ngục tạo ra sắc tướng như thế nào?

Thân lại ra sao?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Ho:

–Sự ham thích chỗ đất có máu sinh vào địa ngục, khắp thân máu tỏa sáng thân như sắc máu. Sinh nơi ngục Ao nước sôi thân như mây đen. Sinh nơi ngục Sông sữa sôi thân hiện ra những chấm loang lổ xen lẫn tạo thành các sắc thể, hết sức mềm dòn, giống như thân đứa trẻ cao lớn hơn tám khuỷu tay, râu, tóc, lông nơi thân hình dài rủ xuống, tay chân mặt mày đều bị cong khuyết. Người cõi Diêm-phù-đề từ xa trông thấy liền chết.

Vương tử Đại Dược bạch Phật:

–Chúng sinh ở địa ngục lấy gì làm thức ăn?

Phật bảo vương tử Đại Dược:

–Chúng sinh ở địa ngục không có một chút an vui, lo sợ luôn theo đuổi, từ xa trông thấy nước đồng sôi đỏ sệt, ý cho là máu nên cùng chạy tới. Lại có tiếng kêu gọi, những kẻ bị đói khát có thể mau đến để ăn, nên họ vội chạy tới đó lấy tay bốc bỏ vào miệng, bị ngục tốt dùng nước đồng sôi đổ vào nơi hai bàn tay, bức ép khiến họ phải uống nước ay vào bụng, xương cốt đứt đoạn, toàn thân phát ra lửa.

Này vương tử Đại Dược! Thức ăn của chúng sinh ở địa ngục chỉ làm tăng thêm sự thống khổ, không được một chút an lạc. Sự thống khổ của chúng sinh nơi địa ngục là như vậy, thức không bỏ, cũng không hủy hoại. Thân như đống xương, thức gắn bó theo đấy không lìa. Nghiệp báo chưa dứt thì thân thọ khổ không rời. Bị đói khát bức bách, nên thấy vườn cây hoa quả rộng lớn tốt tươi, thấy rồi thì vui mừng, cùng nhau bảo: Vườn này xanh tốt, gió mát, chúng ta mau vào đó để tạm vui chơi trong chốc lát. Lúc ấy, cây lá, hoa quả liền biến thành đao kiếm cắt, chém những tội nhân, hoặc chặt thân làm hai đoạn, hoặc có tiếng gào thét lớn, bốn phía đuổi chạy, đám ngục tốt đứng cầm chày kim cang, gậy sắt, búa sắt, trượng sắt, cắn môi giận dữ, thân phát ra lửa, dùng gậy đánh đập người tội, giữ lại không cho ra. Đây đều do nghiệp cua mình mà thấy những việc như vậy. Chủ ngục dắt người tội theo sau, bảo: Ông từ chỗ nào đến? Có thể ở tại đây chớ nên chạy trốn giong ruổi đây đó. Nay nơi vườn này nghiệp của ông đã tạo nên có thể xa lìa được chăng? Như vậy, này vương tử Đại Dược! Do nghiệp lực nên chúng sinh ở địa ngục chịu vô số các thứ khổ, bảy ngày thì chết, sinh trở lại vào địa ngục. Như ong bay đi hút nhụy hoa rồi trở lại chỗ cũ. Chúng sinh tạo nghiệp tội nên phải vào địa ngục. Lúc mới chết thấy thần chết tới buộc cổ lôi đi, thân tâm khốn khổ, vào chỗ tối tăm, như bị giặc cướp bắt trói đem đi, nên nói: Ôi thôi tai họa. Thật khổ thay, nay ta bỏ các người thân thích, bằng hữu ở cõi Diêm-phù-đề để vào địa ngục, không thấy đường lên cõi trời, chỉ thấy toàn sự khổ, như tằm làm kén tự buộc lấy cái chết. Ta tự tạo tội bị nghiệp trói buộc mình, dùng dây thừng buộc vào cổ, kéo đuổi, bức ép dan dắt vào địa ngục.

Này Bồ-tát Hiền Hộ! Chúng sinh tạo nghiệp tội sinh vào địa ngục, với các tướng khổ như vậy.

Bấy giờ, Bồ-tát Hiền Hộ cùng với vương tử Đại Dược nghe nói như vậy, thân run sợ, lông tóc dựng ngược, cùng đứng dậy chấp tay thưa:

–Nay chúng con cùng muốn quy y nơi Phật. Xin Thế Tôn thương xót cứu giúp, nguyện nhờ công đức nghe pháp này khiến cho những chúng sinh chưa được giải thoát, còn lưu chuyển trong chốn sinh tử, không còn bị đọa lạc nơi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Bồ-tát Hiền Hộ lại thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con có điều muon thưa hỏi, xin Phật chấp thuận.

Phật bảo:

–Tùy ý ông hỏi.

Bồ-tát Hiền Hộ thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là tích, thế nào là tụ, thế nào là ấm?

Thế nào là thân không dời đổi?

Phật bảo Bồ-tát Hiền Hộ:

–Trí giới, kiến giới, ý giới, minh giới, do bốn cảnh giới này hòa hợp thành thân. Bốn giới cùng với cảnh và thức gọi là tích. Tụ nghĩa là sáu giới, sáu nhập. Nhân của hai nhập, nhân của ba cõi và cảnh của sáu nhập, tức là râu tóc, lông, móng tay, da thịt, máu mủ, nước mắt, nước mũi, đàm dãi, mỡ, sống lưng, tủy, dịch thể, tay chân, mặt, mắt và các chi phần lớn nhỏ trong cơ thể, hòa hợp, tích chứa đầy đủ gọi là tụ. Giống như lúa, đậu, mè, tích chứa dần thành đống lớn gọi là tụ. Địa, thủy, hỏa, phong, không và thức gọi là sáu giới. Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý gọi là sáu nhập. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gọi là cảnh của sáu nhập (sáu trần). Tham, sân, si là nhân của ba cõi. Nhân của hai nhập là giới và tín. Lại có hai nhân là xả và thí, tấn và định, thiện và bất thiện. Thọ, tưởng, hành, thức, bốn thứ này gọi là vô sắc ấm. Thọ nghĩa là lãnh thọ các tướng khổ vui, tướng không khổ không vui, tưởng nghĩa là nhận biết tướng khổ vui, hành là niệm về hiện tại, tác ý và xúc, thức là chủ tể của thân, hành biến khắp nơi các thân thể có sự tạo tác đều do thức dời chuyển. Nghĩa là thân, miệng, ý thanh tịnh thì chứng được đạo quả. Người này chết rồi, thức từ bỏ hữu ấm, không thọ nhận lại, không lưu chuyển nơi các cõi, hướng đến nơi an lạc bậc nhất không dời đổi nữa, gọi là không chuyển đổi.

Lúc này, Bồ-tát Hiền Hộ cùng vương tử Đại Dược đảnh lễ dưới chân Phật thưa:

–Bạch Thế Tôn! Phật là bậc Nhất thiết trí, thuyết giảng về pháp tụ này, nên ở đời vị lai có thể tạo lợi ích an lạc lớn cho chúng sinh.

Đức Phật dạy:

–Pháp tụ của Như Lai thường trụ, chẳng đoạn dứt, Nhất thiết trí là sự nhận biết mà không tạo tác. Ta đã trải qua vô lượng sự khổ cực siêng năng tích tập ánh sáng của trí tuệ, nay vì các chúng sinh thuyết giảng kinh này là mặt trời chánh pháp chiếu tỏa ánh sáng rộng lớn, khen ngợi biển Nhất thiết trí với công đức lưu truyền khắp nơi, có thể điều phục tâm một cách trọn vẹn. Ở chỗ thuyết giảng kinh này, hoặc đọc tụng, giảng nói đều có các hàng trời, quỷ thần, A-tu-la, Ma-hầula-già cùng đến lễ bái ủng hộ. Các nạn đáng sợ về nước, lửa, vua, giặc đều không thể làm hại. Các Tỳ-kheo từ nay trở đi, đối với những người không tin chớ nên thuyết giảng kinh này. Người tìm lỗi của kinh chớ chỉ bày. Đối với các bộ phái Ni-kiền-tử nơi hàng ngoại đạo cũng chớ nên thuyết giảng. Người không cung kính, không khát ngưỡng cầu thỉnh, chớ nên giảng nói kinh này. Nếu trái lời dạy của Ta thì sẽ gây tổn hại cho chánh pháp. Người ấy cùng làm tổn hại đến Như Lai. Này các Tỳ-kheo! Nếu có người lễ bái, cúng dường kinh này thì phải nên cung kính, cúng dường người ấy. Đây chính là người giữ gìn tạng pháp của Như Lai.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Phải vượt qua phiền não
Siêng tu chánh pháp Phật
Diệt trừ quân ma chết
Như voi giẫm cỏ lau.
Hành pháp giữ giới cấm
Tinh tấn chớ biếng trễ
Bỏ sinh tử lưu chuyển
Dứt mọi biên vực khổ.

Phật thuyết giảng kinh này rồi, Bồ-tát Hiền Hộ thắng thượng và vương tử Đại Dược cùng các Tỳ-kheo, chúng Đại Bồ-tát, tám bộ chúng, trời, người, A-tu-la, Càn-thát-bà v.v… cùng cả chúng hội nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.