KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN HẬU PHẦN

Hán dịch: Đời Đại Đường, Sa-môn Nhã Na Bạt Đà La, người nước Ba Lăng ở Nam Hải
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Phẩm DƯ: KIỀU TRẦN NHƯ

Bấy giờ, Tu-bạt-đà-la theo Đức Phật để nghe nói pháp vi diệu rất sâu sắc Đại-bát-niết-bàn mà được pháp nhãn, thấy pháp thanh tịnh, ông yêu quý hộ trì chánh pháp và đã xả bỏ tà kiến. Với niềm tin sâu sắc bền vững ở trong Phật pháp, ông liền theo Đức Như Lai để muốn cầu xin xuất gia. Đức Phật dạy:

–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Tu-bạt-đà-la! Thiện lai Tỳ-kheo! Ông làm đẹp lòng tâm của bậc Thánh, khéo nhập Phật đạo.

Thế là Tu-bạt-đà-la vui mừng, hân hoan vô lượng, tức thời râu tóc tự nhiên rụng mà làm Sa-môn, nước trí tuệ pháp tánh đổ vào nguồn tâm, không có sự ràng buộc dính mắc nữa, dứt bỏ hết mọi phiền não cho nên ý được giải thoát, đắc quả La-hán. Tu-bạt-đà-la đã chứng quả xong, ông liền ở trước Đức Phật chiêm ngưỡng vẻ mặt tôn quý, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, mặc áo ca-sa để hở vai bên phải, đầu gối phải chạm đất, chắp tay quỳ xuống, mừng mừng tủi tủi, ông tự hối hận trách cứ tội lỗi của mình ở vào thuở xa xưa một cách thấm thía rồi bạch Phật: –Bạch Thế Tôn! Chỉ tiếc rằng thân độc hại của con từ kiếp lâu xa đến nay thường lừa dối mê hoặc lẫn nhau, khiến cho con ngụp lặn mãi trong sự vô minh và tà kiến, chìm đắm trong pháp ngoại đạo ở ba cõi. Đau đớn thay! Khổ sở thay! Đương lúc tai hại quá đỗi, nay con vô cùng mừng rỡ, nhờ ơn Như Lai con được vào chánh pháp. Bạch Thế Tôn! Biển cả trí tuệ, từ bi thương xót vô lượng. Con tự trộm ngẫm nghĩ, dù cho tấm thân tan nát trong bao đời kiếp chồng chất, vẫn chưa thể nào báo đền ân đức của Ngài trong chốc lát.

Tu-bạt-đà-la nói lời như thế xong, buồn rầu nức nở, nước mắt ròng ròng không thể nào ngăn được. Ông lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Tuổi tác của con đã già nua, vận mệnh không còn bao lăm nữa, con chưa thoát khỏi mọi nỗi khổ và sự khổ cứ biến chuyển thúc ép. Xin mong Thế Tôn ở lại ít lâu để răn bảo dạy dỗ, xót thương cứu hộ mà đừng vào Niết-bàn.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn im lặng không hứa, thỉnh cầu của Tu-bạtđà-la không có kết quả, ông lo buồn, bức rức phiền não, bèn lớn tiếng xướng lên:

–Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Thế gian trống rỗng! Cớ sao hiện giờ sự sợ hãi quá đỗi liền đến, nỗi phiền não bức rức lưu hành. Thương thay! Xót thay! Phước của chúng sinh hết, con mắt tuệ chân chính không còn.

Ông lại chảy nước mắt kêu gào thảm thương nghẹn ngào, máu xuất ra khắp cả thân thể, cất tiếng khóc òa. Ở trước Đức Như Lai, ông gieo xuống đất cả thân thể, tâm hỗn loạn cuống cuồng, mê man im bặt, hồi lâu ông mới tỉnh lại, nghẹn ngào trong nước mắt mà bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nay con không đành lòng trông thấy Như Lai nhập Niết-bàn, trong tâm vô cùng đau đớn, khó tùy ý dằn ép bớt, tự mình con làm sao có thể cùng với tấm thân độc ác như đồ dùng hư hỏng này ở chung. Nay trước mặt Thế Tôn, thà rằng con tự diệt độ trước một cách mau chóng, xin mong Thế Tôn sau này sẽ Niết-bàn.

Bấy giờ, Tu-bạt-đà-la nói lời như thế xong, ông nghẹn ngào xót xa bịn rịn, ngay trong phút chốc, ông liền nhập Niết-bàn.

Lúc này, các Đại Bồ-tát, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hết thảy thế gian, trời, người, A-tu-la v.v… nhiều bằng vô số ức số lượng cát của sông Hằng không thể nói, đồng thanh xướng lên:

–Khổ thay! Khổ thay! Vì sao đấng Chánh Giác bỗng lìa bỏ trong phút chốc. Chúng ta không có chủ, không có chỗ quay về, không có nơi nương tựa, không có chỗ hướng tới.

Tưởng nhớ lại, họ lưu luyến mến chuộng, cảm động xót thương, gào khóc thê thảm; họ nắm tay nhau, đấm ngực bất tỉnh tuyệt vọng, không nhận ra các phương hướng, đau thương thảm thiết vang đến ba ngàn đại thiên thế giới.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn phát ra tám thứ âm thanh bảo khắp đại chúng:

–Các người chớ khóc gào lớn tiếng giống như trẻ con, mỗi người hãy kiềm chế lẫn nhau chớ tự làm loạn tâm mình. Đối với nỗi khổ lưu chuyển trong biển cả sinh tử, các ông hãy chăm chỉ tu tập tâm thanh tịnh, chớ đánh mất niệm tuệ, chóng cầu chánh trí để mau ra khỏi sự sống chết trong các cõi. Thọ thân trong ba cõi, bánh xe khổ quay mãi không có ranh giới; ông chủ vô minh, vua quỷ ân ái sai khiến thân tâm, thúc giục làm tôi tớ người hầu. Cảnh giới duyên khắp, tạo nghiệp sống chết; tham lam, tức giận, ngông cuồng, ngu si, từng niệm từng niệm làm tổn hại, vô lượng kiếp đến nay thường chịu khổ não, sao người có trí không xét lại ngọn nguồn này?

Các ông nên biết rằng, từ thuở kiếp lâu xa đến giờ, Ta đã vào rốt ráo tịch tĩnh, không có ấm, giới, nhập, mãi mãi dứt bỏ sự sống chết trong các cõi. Kho chứa châu báu kim cương thường, lạc, ngã, tịnh; đối với điều này, nay Ta lộ rõ sự khó thể nghĩ bàn và hiển hiện lực dụng của phương tiện, vào đại Niết-bàn, tỏ rõ giống như pháp thế gian. Ta muốn khiến cho chúng sinh biết thân mạng như ánh chớp mà phát sinh lòng mến chuộng, thác nước sinh tử cuốn trôi nhanh chóng. Các pháp hữu vi do nhân duyên sinh ra thường xoay chuyển như bánh xe pháp ứng theo như thế. Như Lai Niết-bàn sâu sắc đến mức cùng cực, sâu sắc tột cùng, không thể suy nghĩ và bàn luận, mới chính là cảnh giới của chư Phật và Bồ-tát, không phải là điều mà các hàng Thanh văn và Duyên giác biết được.

Đức Phật lại bảo các đại chúng:

–Ông Tu-bạt-đà-la ấy đã từng cúng dường chư Phật nhiều như số

cát sông Hằng, trồng sâu cội rễ tốt lành ở chỗ các Đức Phật, nhờ sức mạnh thệ nguyện căn bản, nên thường ở trong pháp ngoại đạo Ni-kiền, xuất gia tu hành, đem trí tuệ phương tiện dạy dỗ khuyên bảo kẻ tà kiến tiến tu, khiến cho chúng sinh lạc đường đi vào chánh trí. Tu-bạt-đà-la nương theo sức mạnh của thệ nguyện căn bản, nay được gặp Ta Niếtbàn, được nghe chánh pháp lần cuối cùng. Ông ấy đã nghe chánh pháp thì đắc quả La-hán, đã đắc quả xong thì lại nhập Niết-bàn. Khi Ta đắc đạo, độ cho A-nhã Kiều-trần-như, sau cùng Niết-bàn, Ta độ cho Tubạt-đà-la. Sự việc của Ta rốt ráo, không còn thi hành gì nữa, giả sử Ta ở đời lâu dài, thì không có khác gì hôm nay.

Bấy giờ, nói lời ấy xong, Đức Thế Tôn liền thở dài rồi than:

–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Tu-bạt-đà-la! Để báo đền ân Phật, này đại chúng, các ông phải nên cúng dường thi thể của ông ấy và an lập tháp miếu.

Lúc này, đại chúng đè nén sự buồn bã thảm thương, che giấu nước mắt và dằn bớt nỗi đau, liền y theo lời dạy của Đức Phật, lấy gỗ thơm và dầu để thiêu xác của ông ấy. Lúc đang thiêu đốt thi thể Tubạt-đà-la, tức thời ở trong ngọn lửa tỏa ra ánh sáng rỡ ràng, thị hiện mười tám loại thần biến. Trên thân tuôn ra nước, dưới thân bốc ra lửa; hông bên phải phát ra lửa, hông bên trái tuôn ra nước; nhỏ lại hiện lớn, lớn lại hiện nhỏ đầy khắp giữa hư không.

Bấy giờ, vô lượng đại chúng cho đến những chúng sinh tà kiến ngoại đạo phát tâm Bồ-đề và được vào chánh kiến. Tu-bạt-đà-la thị hiện sự biến đổi thần diệu xong, bèn trở vào lại trong ngọn lửa. Lễ tràtỳ đã xong xuôi, lúc ấy đại chúng buồn cảm thương tiếc, họ thu lấy xálợi để dựng tháp cúng dường.

 

Phẩm 1: LỜI RĂN DẠY CỦA ĐỨC PHẬT ĐỂ LẠI

Bấy giờ, Phật bảo A-nan và khắp cả đại chúng:

–Sau khi Ta diệt độ, bốn chúng các ông hãy nên chăm chỉ hộ trì Đại Niết-bàn của Ta, Ta ở vô lượng muôn ức A-tăng-kỳ kiếp tu tập pháp Đại Niết-bàn khó được này, nay đã nói rõ ràng. Các ông nên biết, Đại Niết-bàn này mới chính là kho chứa châu báu kim cương của tất cả chư Phật trong ba đời khắp mười phương, thường, lạc, ngã, tịnh trọn vẹn không có sự thiếu sót. Hết thảy chư Phật đối với sự Niết-bàn này mà vào Niết-bàn, lý cùng cực rốt ráo sau chót không bỏ sót. Đối với điều này, chư Phật buông bỏ thân mạng, cho nên gọi là Niết-bàn. Này các ông! Muốn được sự quyết định báo đền ơn Phật một cách chân thật, mau chóng chứng đắc Bồ-đề, được chư Phật xoa đỉnh đầu, sinh ra ở đời nào cũng không mất chánh niệm, mười phương chư Phật thường hiện ra trước mặt người ấy, ngày đêm gìn giữ che chở, khiến cho tất cả mọi người được pháp môn ra khỏi thế gian, các ông hãy nên chăm chỉ tu tập theo kinh Niết-bàn.

Phật lại bảo A-nan:

–Khi chưa thành Phật, Ta thị hiện vào trong pháp ngoại đạo của vị tiên Uất-đầu-lam-phất để tu học Bốn thiền và Tám định, chịu thực hành theo sự chỉ dạy của vị ấy. Từ khi thành Phật đến nay, Ta chê bai pháp ấy, dần dần dẫn dụ lôi cuốn mọi người tiến tu, cuối cùng Tu-bạtđà-la đều vào Phật đạo. Như Lai dùng ngọn đuốc đại trí để thiêu đốt cờ phướn tà kiến, giống như lá cây và cỏ khô ném vào ngọn lửa cháy rực.

Này A-nan! Nay Ta hết sức lo nghĩ đến những người đệ tử thuộc dòng họ Thích và những người thân thích của Ta. Sau khi Ta Niết-bàn, ông hãy nên tinh tiến chuyên cần đem điều thiện để khuyên răn dạy bảo các quyến thuộc của Ta, trao cho họ giáo pháp tuyệt diệu, dạy dỗ họ bằng tấm lòng thân thiết, không được cười cợt chọc ghẹo, tâm tán loạn và buông lung, vào những cảnh giới vâng chịu thực hành tà pháp. Ai chưa thoát khỏi ba cõi và nỗi thống khổ của thế gian, thì phải sớm cầu mong lìa ra khỏi, ở trong sự ái dục của cõi đời đầy năm thứ vẩn đục này, cần phải nảy sinh tư tưởng lo âu và sợ hãi không có người cứu hộ. Một khi mất thân người thì khó có thể tìm lại nữa. Trọn một hình hài này thường cần phải cảnh tỉnh và suy xét, con quỷ dữ vô thường thực sự mong cầu khó thoát khỏi. Xót thương chúng sinh, chớ giết hại lẫn nhau, cả đến loài sâu bọ ngọ nguậy cũng phải nên bố thí cho nó sự không sợ hãi. Thân nghiệp thanh tịnh, thường sinh vào cõi thù thắng vi diệu, khẩu nghiệp thanh tịnh, xa lìa các sự lỗi lầm ác độc. Đừng ăn thịt, chớ uống rượu, điều phục tâm con rắn khiến cho nó đi vào đạo quả. Suy nghĩ sâu xa về quả báo của việc làm thiện hay ác như bóng theo hình, nhân quả ba đời, xoay vần không mất, đời này sống uổng phí, sau hối hận không kịp.

Giờ Niết-bàn đã đến, Như Lai dạy bảo rõ ràng như thế.

Bấy giờ, A-nan nghe Phật nói xong, thân tâm rung động, tình thức chả hay biết gì cả, ông đau xót nức nở nghẹn ngào, ngập sâu vào biển ưu sầu. Toàn thân hôn mê sầu muộn, tâm trí hỗn loạn lờ mờ, ông gieo mình trước Đức Như Lai dường như người chết.

Lúc này, A-nê-lâu-đậu an ủi A-nan, muốn làm giảm nhẹ lòng sầu khổ của ông ấy, mà nói với A-nan:

–Ô hay, ông buồn khổ làm gì? Giờ Niết-bàn của Như Lai sắp đến. Hôm nay tuy có, nhưng sáng sớm hôm sau thì không có. Ông y theo lời nói của ta mà thưa hỏi Như Lai bốn câu hỏi như vầy:

–Sau khi Phật Niết-bàn, Xa-nặc tính xấu ác, nhóm sáu Tỳ-kheo làm hoen ố tín đồ, làm sao ở chung để chỉ dạy tỏ rõ cho các vị ấy?

Như Lai còn ở đời thì chúng con nương Phật làm thầy. Sau khi Thế Tôn diệt độ thì chúng con nương vị nào làm thầy?

Nếu Phật còn ở đời, thì chúng con nương dựa theo Phật mà trụ, khi Như Lai đã diệt độ thì chúng con nương theo đâu mà trụ?

Việc kết tập tạng giáo pháp sau khi Như Lai diệt độ, lời mở đầu tất cả các kinh nên dùng lời lẽ nào?

Bấy giờ, A-nan như từ trong mộng nghe A-nê-lâu-đậu an ủi lòng mình, nêu ra bốn câu hỏi khiến mình hỏi Phật. Dần dần A-nan được tỉnh ngộ, nỗi thương xót tự mình không tài nào chịu nổi, bèn trình bày đầy đủ vấn đề trên mà đem bạch Phật.

Phật bảo A-nan:

–Sao ông lại bi ai buồn khổ như thế! Sự giáo hóa của chư Phật chu toàn, việc làm đã xong, các Ngài giữ đúng phép tắc trở về chỗ ấy. Quý hóa thay! Quý hóa thay! Này A-nan! Ông đưa đến bốn vấn đề để làm câu hỏi cuối cùng, có thể mang lại lợi ích lớn cho tất cả thế gian.

Các ông hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ điều đó.

–Thưa vâng! Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện ưa muốn nghe.

Phật bảo A-nan:

–Như điều ông hỏi, sau khi Phật Niết-bàn, Xa-nặc tính xấu ác,

nhóm Tỳ-kheo sáu người làm hoen ố tín đồ, thì làm sao ở chung với họ để có thể chỉ dạy tỏ rõ? Này A-nan! Tỳ-kheo Xa-nặc, tính ông ấy thô bỉ xấu ác, sau khi Ta Niết-bàn, dần dần sẽ điều phục, tâm của ông ấy nhu hòa, xả bỏ tính xấu ác sẵn có của mình. A-nan! Người em của Ta là Nan-đà có đủ sự ham muốn rất mực nặng nề, tính nết ông ấy thô bỉ xấu ác, Như Lai đem phương tiện thiện xảo lần lượt tỏ rõ, dạy bảo, lợi ích, vui mừng; biết căn tính như vậy, Ta dùng tuệ Bát nhã để nói Mười hai nhân duyên cho ông ấy. Điều đó gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức, cho đến già chết, lo buồn, khổ não, đều chính là rừng rậm vô minh, thương ghét. Hết thảy sự khổ dời đổi biến chuyển dày đặc ba cõi, trôi dạt khắp cả sáu đường. Gốc rễ nỗi khổ lớn là do vô minh trỗi dậy, dùng tuệ Bát nhã để tỏ rõ bản tính thanh tịnh, quán xét tỉ mỉ gốc rễ, liền dứt bỏ quả báo trong các cõi và lỗi lầm tai họa vô minh. Do gốc rễ diệt nên vô minh diệt, vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sự già chết, lo buồn, khổ não đều diệt. Khi được sự quán sát này, nhiếp tâm trụ vào thiền định tức là nhập Tam-muội. Nhờ năng lực Tam-muội nên được vào cõi Thiền thứ nhất, dần dần theo thứ lớp vào Thiền thứ tư. Nối tâm chánh niệm tu tập như thế, sau đó tự nhiên sẽ được chứng Thượng quả, xa lìa khổ đau trong ba cõi.

A-nan! Bấy giờ, Tỳ-kheo Nan-đà phát sinh lòng tin sâu sắc, y theo giáo pháp của Ta mà đem tâm chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu ông ấy liền đắc quả A-la-hán.

A-nan! Sau khi Ta Niết-bàn, ông nên y theo giáo pháp của Ta mà tu chánh quán, hướng dẫn chỉ dạy Tỳ-kheo Xa-nặc trong nhóm sáu Tỳ-kheo, với tâm sâu sắc nương dựa theo chánh pháp thanh tịnh này, chẳng bao lâu nữa tự nhiên sẽ được chứng Thượng quả.

A-nan! Nên biết đều là do vô minh làm tăng trưởng cây lớn sống chết trong ba cõi, bồng bềnh chìm nghỉm trong dòng sông ái dục, chịu mọi khổ nạn suốt đêm dài. Dưới vách núi tối tăm, chung quanh trụ cột sống chết, sáu thức làm cành, tâm niệm hư vọng làm gốc. Làn sóng vô minh, tâm thức thúc giục sai khiến, vui chơi sáu trần, gieo mầm khổ não, không có năng lực ngăn chặn, tự tại như vua. Do đó Ta nói rằng, ông chủ vô minh làm tổn hại từng ý niệm, chúng sinh không biết sự sống chết xoay chuyển như bánh xe.

A-nan! Hết thảy chúng sinh vì sự vô minh này mà khởi lên các tham ái trói buộc. Ý kiến chấp trước có cái ta che lấp, tám vạn bốn ngàn ông chủ phiền não sai khiến thân mình, thân tâm rạn nứt, không được tự tại.

A-nan! Vô minh nếu diệt thì ba cõi đều tận, do nhân duyên ấy nên gọi là người ra khỏi thế gian.

A-nan! Nếu có thể quan sát kỹ Mười hai nhân duyên, rốt ráo không có cái ngã, đi sâu vào bản lai thanh tịnh, tức có thể xa lìa ngọn lửa lớn ở ba cõi.

A-nan! Lời chân thật ấy của Như Lai là lời nói thành thật phó chúc sau cùng, ông hãy nên tu hành!

A-nan! Như điều ông hỏi, sau khi Phật qua đời, lấy vị nào làm thầy? A-nan! Thi Ba-la-mật, giới luật chính là bậc đại sư của ông. Nương theo đó để tu hành thì có thể đạt được định tuệ rất sâu sắc ra khỏi thế gian.

A-nan! Như điều ông hỏi, sau khi Phật Niết-bàn, phải nương vào đâu mà trụ? A-nan! Các ông nên nương vào Bốn niệm xứ, nghiêm tâm mà trụ. Quán tánh tướng của thân đồng với hư không, gọi là thân niệm xứ. Quán sự thọ nhận không ở trong hay ngoài, chẳng trụ khoảng giữa, gọi là thọ niệm xứ. Quán tâm chỉ có danh dự, tính của danh tự lìa khỏi, gọi là tâm niệm xứ. Quán pháp không được pháp tốt lành, cũng chẳng được pháp không tốt lành, gọi là pháp niệm xứ. A-nan! Tất cả người tu hành cần phải nương dựa theo Bốn niệm xứ này để trụ.

A-nan! Như điều ông hỏi, sau khi Như Lai diệt độ, việc kết tập tạng giáo pháp, phần mở đầu của hết thảy các kinh nên dùng lời lẽ nào? A-nan! Sau khi Như Lai diệt độ, việc kết tập tạng giáo pháp, phần mở đầu của tất cả kinh điển hãy nên xếp đặt: “ Tôi nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nơi nào đó, xứ nào đó, cùng với các bốn chúng mà nói kinh ấy”.

Bấy giờ, A-nan lại bạch Phật:

–Nếu Phật còn ở đời, hoặc giả sau khi Niết-bàn, có người đànviệt đủ lòng tin đem vàng bạc, bảy thứ quý báu, tất cả dụng cụ âm nhạc kính dâng bố thí cho Như Lai thì làm sao sắp đặt mọi việc?

Phật bảo A-nan:

–Nếu Phật hiện còn ở đời, thì đồ vật cúng dâng Phật, Tăng chúng cần phải biết. Nếu sau khi Phật diệt độ, tất cả đồ vật của người có lòng tin cúng cho Phật, phải nên sử dụng vào việc tạc hình tượng Phật, cho đến việc tạo ra áo Phật và phướn lọng bằng bảy thứ quý báu. Mua các loại hương, dầu, hoa báu để cúng dường Phật. Trừ việc cúng dường Phật, còn lại không được dùng, nếu người nào dùng tức là phạm tội trộm đồ vật của Phật.

A-nan lại bạch Phật:

–Nếu Phật hiện còn ở đời, lại có người đem vàng bạc, bảy thứ quý báu, nhà cửa, cung điện, vợ con, tôi tớ, áo quần, đồ ăn thức uống, tất cả dụng cụ âm nhạc, với tấm lòng tha thiết, họ cung kính lễ lạy cúng dường Như Lai. Sau khi Phật Niết-bàn, nếu lại có người đem vàng bạc, bảy thứ châu báu, thê thiếp, nô tỳ, y phục, đồ ăn uống, hết thảy nhạc cụ để cúng dường hình tượng Như Lai, với tấm lòng tha thiết, họ cung kính lễ bái cúng dường.

Bạch Thế Tôn! Hai người cúng dường với tấm lòng tha thiết như thế, thì phước đức của họ có được, người nào được nhiều hơn?

Phật bảo A-nan:

–Hai người như thế, họ đều đem tấm lòng tha thiết để cúng dường, phước đức mà họ có được, không khác nhau tí nào. Vì sao? Mặc dù sau khi Phật diệt độ, song pháp thân thường còn, vì vậy sự cúng dường với tấm lòng tha thiết, phước ấy ngang đều nhau.

A-nan lại bạch Phật:

–Nếu như Phật hiện còn ở đời, giả sử lại có người vẫn còn đem tấm lòng tha thiết như trên để cúng dường và cung kính Như Lai. Sau khi Phật Niết-bàn, lại có người vẫn còn đem tấm lòng tha thiết như trên để cúng dường và cung kính toàn thân xá lợị. Bạch Thế Tôn! Như thế, phước đức của hai người có được, người nào nhiều hơn?

Phật bảo A-nan:

–Hai người như thế được phước ngang đều nhau, công đức rộng lớn vô lượng vô biên, cả đến hết khổ, phước ấy không bao giờ hết.

A-nan lại bạch Phật:

–Nếu như Phật còn ở đời, giả sử lại có người đem lòng tha thiết hết thảy như trên để cúng dường và cung kính Như Lai. Sau khi Phật Niết-bàn, lại có người đem tấm lòng tha thiết như trên để cung kính cúng dường nửa thân xá-lợi. Bạch Thế Tôn! Như thế, phước đức của hai người có được, người nào được nhiều hơn?

Phật bảo A-nan:

–Hai người cúng dường với tấm lòng tha thiết như thế, họ sẽ được phước giống hệt nhau, phước đức mà họ có được rất nhiều không thể đếm xuể và không có giới hạn.

A-nan! Nếu như sau khi Phật diệt độ, giả sử lại có người đem tâm ân cần tha thiết cúng dường một phần tư, một phần tám, một phần mười sáu, một phần trăm, một phần ngàn, một phần vạn, một phần số lượng cát sông Hằng xá-lợi của Như Lai. Thậm chí xá-lợi độ chừng như hạt cải, họ cũng đều đem tấm lòng tha thiết để cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi. Nếu như Phật hiện còn ở đời, giả sử lại có người cung kính cúng dường Như Lai với tâm niệm tha thiết ân cần, hai người như thế, phước đức họ có được thảy đều không khác nhau tí nào, phước ấy vô lượng không thể nào tính đếm cho xuể. A-nan nên biết rằng, hoặc giả Phật hiện còn, hoặc sau khi Phật Niết-bàn, nếu lại có người đem tấm lòng tha thiết ân cần để cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, khen ngợi, như thế, phước đức mà hai người sẽ được không có hai, không có khác nhau.

Phật bảo A-nan và các đại chúng:

–Sau khi Ta Niết-bàn, hết thảy chúng sinh ở trên cõi trời, chốn nhân gian được xá-lợi của Ta mà vừa mừng vừa tủi, đau buồn thương xót, hớn hở vui vẻ, rồi cung kính lễ bái, đem tâm ân cần tha thiết cúng dường, họ sẽ được công đức vô lượng vô biên.

A-nan! Nếu người nào trông thấy xá-lợi của Như Lai tức là thấy Phật, thấy Phật tức là thấy Pháp, thấy Pháp tức là thấy Tăng, thấy Tăng tức là thấy Niết-bàn. A-nan! Nên biết do nhân duyên ấy, Ba ngôi báu thường trụ, không có sự biến đổi, có thể làm chỗ quay về và nương tựa cho chúng sinh.

A-nan lại bạch Phật:

–Sau khi Phật Niết-bàn, hết thảy đại chúng dựa vào phép tắc nào để trà-tỳ Như Lai mà được xá-lợi rồi đem tấm lòng tha thiết cúng dường.

Phật bảo A-nan:

–Ta Bát-niết-bàn, đại chúng các người hãy nên y theo cách thức trà-tỳ Chuyển luân Thánh vương.

A-nan lại bạch:

–Phép tắc trà-tỳ vị Chuyển luân Thánh vương, việc ấy như thế nào?

Phật bảo A-nan:

–Sau khi vị Chuyển luân Thánh vương mạng chung, đặt yên thi thể qua bảy ngày mới liệm vào quan tài sắt. Đã liệm vào áo quan rồi, dùng dầu thơm vi diệu rót đầy trong áo quan. Đóng áo quan lại cho khít, lại trải qua bảy ngày, đem thi thể từ trong áo quan ra, dùng các thứ nước thơm để rửa ráy tắm gội, đã tắm rửa xong, thì đốt mọi thứ hương thơm nổi tiếng để cúng dường. Dùng bông Đâu-la-miên quấn khắp thân thể, sau đó liền đem một ngàn tấm vải bông trắng thuộc loại vô giá và tốt đẹp nhất, lần lượt quấn chồng lên nhau khắp thân mình vị Thánh vương. Khi đã quấn xong xuôi, đem các loại dầu thơm đổ đầy bên trong chiếc quan tài sắt, bỏ thân của vị Thánh vương vào áo quan. Đóng kín chặt áo quan xong, chở áo quan trên xe làm bằng gỗ thơm và bảy báu, bốn mặt chiếc xe ấy treo rủ xuống các chuỗi ngọc anh lạc. Xe ấy được trang nghiêm bằng tất cả dây báu xoắn vào nhau, vô số hoa, phướn và cờ lọng bằng bảy báu. Tất cả hương thơm tuyệt diệu, tất cả âm nhạc cõi trời vây chung quanh cúng dường. Đến giờ mới dùng toàn các loại gỗ thơm thù thắng vi diệu để tô điểm trang hoàng bên ngoài, lấy dầu thơm vi diệu để trà-tỳ thân của vị Chuyển luân Thánh vương. Trà-tỳ xong rồi, thu nhặt xá-lợi, dựng lên tháp bảy báu ở giữa ngã tư đường bên trong đô thành, ngôi tháp mở bốn cửa, an trí xá-lợi, để cho hết thảy thế gian cùng nhau chiêm ngưỡng.

A-nan! Nhờ chút ít phước đức, vị Chuyển luân vương ấy nối dõi ngôi vua này. Vị ấy chưa thoát khỏi luật nhân quả trong các cõi, đầy đủ năm thứ ham muốn, vợ chính và vợ hầu, gái đẹp hầu hạ, kiến giải xấu ác, ba mối ác độc, hết thảy phiền não, các sự trói buộc sai khiến v.v… vị ấy chưa dứt bỏ một chút nào. Thế mà sau khi vị ấy mạng chung, thế gian lại còn theo phép tắc như vậy, họ dựng tháp cúng dường để tất cả mọi người chiêm ngưỡng. A-nan! Huống chi là Như Lai đã mãi mãi xả bỏ năm thứ dục lạc, thê thiếp, gái hầu ở vô lượng vô biên vô số A-tăngkỳ kiếp. Đối với pháp thế gian, Ta đã làm sương giá và mưa đá, việc khó chăm chỉ mà Như Lai có thể chăm chỉ được, việc khó làm mà Như Lai có thể làm được. Tất cả sự khổ hạnh vượt ra ngoài thế tục của Bồtát, Ta đã cần cù tu tập. Đạo của hết thảy chư Phật trong ba đời mười phương thực hành là rất mực sâu xa vi diệu, thanh tịnh, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, sáu Ba-la-mật, không gì không đầy đủ. Ta tu tập mười lực, đại bi, bốn đức không e sợ của Như Lai; ba môn giải thoát, mười tám đại không, sáu loại thần thông, năm loại mắt, ba mươi bảy phẩm, mười tám pháp bất cộng, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp. Tất cả thọ mạng của chư Phật, tất cả sự việc để làm thanh tịnh cõi nước Phật, hết thảy công việc giáo hóa để thành tựu chúng sinh, tất cả lối tu khổ hạnh khó thực hành, Ta lấy việc tu hành hết thảy mọi thiện pháp làm giới luật, lấy việc làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh làm giới luật. Ta thâu nhận đủ hết thảy mọi luật nghi để gìn giữ. Tất cả công đức, hết thảy trí tuệ, tất cả sự trang nghiêm, hết thảy thệ nguyện lớn lao, tất cả phương tiện, những sự việc như thế, phước đức trí tuệ không thể nghĩ bàn, Ta đều đã thành tựu, không có sự việc nào là không đầy đủ. Ta dứt bỏ tất cả việc chẳng tốt lành, dứt bỏ hết thảy phiền não, dứt bỏ mọi thói quen còn dư của phiền não. Ta thông đạt bốn đế, mười hai nhân duyên, ở dưới cội Bồ-đề, Ta hàng phục bốn ma, thành tựu trí tuệ biết hết các loại pháp, giáo pháp tuyệt diệu như thế Ta đều tu tập xong. Khi ấy tất cả chư Phật mới xướng lên: “Quý hóa thay! Quý hóa thay!”. Chư vị cùng đem nước trí tuệ pháp tánh mà rưới lên đỉnh pháp thân, Ta mới thành A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Do nhân duyên ấy, nay Ta có danh hiệu là Thiên Nhân Sư, Thập Lực Chủng Giác, Chí Cực Thế Tôn. Trên cõi trời và chốn nhân gian không có ai sánh bằng, Ta xem chúng sinh một cách bình đẳng, đều giống như La-hầu-la, cho nên có danh hiệu là Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ta thương xót thế gian, nhân duyên giáo hóa trọn vẹn xong xuôi, vì chúng sinh nên nay Ta vào Niết-bàn, hãy làm theo pháp thế gian như vị Chuyển luân vương, để khiến cho chúng sinh được cúng dường khắp cả.

A-nan! Ta nhập Niết-bàn, giống như vị Chuyển luân vương, để yên qua bảy hôm mới liệm vào kim quan, dùng dầu thơm tuyệt diệu rót đầy bên trong áo quan rồi đậy kín nắp áo quan. Bốn mặt kim quan ấy phải lấy bảy thư báu xen lẫn vào giữa để trang hoàng, dùng hết thảy cờ phướn báu và hương hoa cúng dường. Trải qua bảy ngày xong, lại đem nhục thể ra khỏi kim quan, khi đã đem nhục thể ra khỏi kim quan thì phải dùng hết thảy các thứ nước thơm tuyệt diệu để tẩy rửa và tắm gội thân thể của Như Lai. Khi đã rửa ráy xong rồi, dùng bông Đâu-la-miên loại tốt đẹp thượng hạng quấn khắp thân thể. Thứ đến lấy một ngàn tấm vải bông trắng vi diệu vô giá, lại quấn vào thân Như Lai chồng lên trên bông rồi lại liệm vào kim quan. Lại lấy dầu thơm vi diệu đổ đầy bên trong kim quan rồi đậy nắp áo quan cho kín. Đến khi ấy mới đem toàn loại gỗ chiên-đàn mọc ở núi Ngưu-đầu, trầm thủy hương, hết thảy gỗ thơm vi diệu rồi chất đầy vào xe bảy báu. Tất cả mọi đồ quý giá dùng để trang nghiêm được chở theo kim quan quý báu đến chỗ trà-tỳ. Vô số cờ phướn báu, vô số lọng báu, vô số y báu, vô số tiếng nhạc cõi trời, vô số hương và hoa đầy khắp hư không để cúng dường một cách xót thương. Tất cả hàng trời người, vô số đại chúng, ai nấy đều nên đem gỗ chiên-đàn, trầm thủy, dầu thơm vi diệu để trà-tỳ Như Lai. Làm lễ trà-tỳ trong cảnh gào khóc và quyến luyến đã xong, hàng trời người bốn chúng thu lấy xá-lợi đựng vào bình bảy báu. Ở giữa ngã tư đường lớn bên trong đô thành, hãy dựng lên tháp bảy báu để cúng dường xálợi, có thể làm cho chúng sinh được công đức lớn, xa lìa nỗi khổ ở ba cõi mà hướng đến sự vui Niết-bàn.

A-nan nên biết! Tất cả bốn chúng dựng lên tháp bảy báu để thờ xá-lợi Phật xong, lại phải dựng thêm ba tháp để cúng dường. Đó là tháp Phật-bích-chi, tháp A-la-hán, tháp Chuyển luân vương, vì để khiến cho thế gian biết quay về và nương tựa.

A-nan bạch Phật:

–Như Lai xuất hiện ở đời, từ bi thương xót chúng sinh, biểu hiện rõ ràng mười lực đại bi, bốn đức không sợ hãi, mười hai nhân duyên, giáo pháp bốn đế, ba môn giải thoát, tám loại âm thanh sang sảng như tiếng sấm của bậc Đại Phạm Thiên vương làm chấn động ba cõi, ánh hào quang từ bi năm màu chiếu rọi khắp sáu đường. Thuận theo tâm nghiệp chúng sinh ma chuyển hóa, hoặc là được bốn quả và sở hành của ba Thừa, hoặc là chứng đạo vô lậu vô vi của hàng Duyên giác, hoặc nhập địa vị vô diệt vô sinh của hàng Bồ-tát, hoặc được vô lượng các Đà-la-ni, hoặc được năm loại mắt, hoặc được sáu loại thần thông, hoặc thoát khỏi ba đường ác, hoặc ra khỏi tám chỗ chướng nạn, hoặc xa lìa nỗi khổ trong hàng người và trời thuộc ba cõi. Từ lực của Như Lai thanh tịnh, pháp môn giải thoát của Như Lai không thể nghĩ bàn, cho đến lúc Niết-bàn, hết thảy thế gian, người, trời, bốn chúng dựng tháp bảy báu, cúng dường xá-lợi được công đức lớn, có thể khiến cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau trong ba cõi và nhập vào chánh giải thoát. Do nhân duyên ấy, Phật Bát-niết-bàn, tất cả thế gian, người, trời, đại chúng báo đáp ân đức từ bi vô lượng rất mực sâu xa của Phật, họ dựng tháp bảy báu để cúng dường xá-lợi, đúng lẽ là phải thế.

Bạch Thế Tôn! Còn ba loại tháp kia đối với các chúng sinh sẽ được những lợi ích gì, mà khiến xây dựng để cung kính cúng dường?

Phật bảo A-nan:

–Hàng Phật-bích-chi giác ngộ nhân duyên của pháp và đi sâu vào pháp tánh. Các vị ấy đã thoát khỏi tất cả lỗi lầm tai họa và quả báo trong các cõi, có thể làm ruộng phước cho hàng người và trời. Do nhân duyên đó mà dựng tháp cúng dường, phước đức mà vị ấy có được tuy kém hơn Như Lai, nhưng có năng lực khiến cho chúng sinh đều được kết quả rất mầu nhiệm.

A-nan! Bậc A-la-hán, ở trong ba cõi, đã hết sự sinh ra và phận sự, chẳng chịu quả báo ở đời sau, phạm hạnh đã đứng vững, có thể làm ruộng phước cho thế gian. Vì thế cho nên cần phải dựng tháp cúng dường, phước đức vị ấy có được đứng sau Phật-bích-chi, cũng khiến cho chúng sinh đều được giải thoát.

A-nan! Vị Chuyển luân vương mặc dù chưa giải thoát phiền não trong ba cõi, song nhờ lực dụng phước đức nên vị ấy cai quản bốn thiên hạ, rồi đem mười điều lành để cảm hóa giáo dục mọi loài chúng sinh. Đó là điều mà các chúng sinh ấy tôn trọng, vì vậy bốn chúng dựng tháp cúng dường, phước đức có được cũng lại vô lượng.

A-nan bạch Phật:

–Phật Bát-niết-bàn, tất cả bốn chúng nên trà-tỳ Như Lai ở chỗ nào để chúng con có thể thu lấy xá-lợi, xin mong Thế Tôn chỉ bày rõ ràng.

Phật bảo A-nan:

–Phật Bát-niết-bàn, nếu hết thảy bốn chúng trà-tỳ Như Lai ở bên trong thành Câu-thi, người trong thành ấy đều nối ngôi vua, thì họ sẽ đánh dẹp và kiện tụng lẫn nhau không lường, cũng khiến cho tất cả được phước theo từng bậc chênh lệch.

A-nan! Tất cả bốn chúng có thể trà-tỳ Như Lai ở bên ngoài thành, để khiến cho thế gian được phước ngang bằng nhau.

A-nan bạch Phật:

–Phật nhập Niết-bàn, công việc trà-tỳ xong xuôi, tất cả bốn chúng thu lấy xá-lợi rồi an trí vào bình báu, chúng con nên dựng tháp bảy báu ở chỗ nào để hết thảy mọi người đều được cúng dường với tấm lòng tha thiết. Xin mong Thế Tôn chỉ dạy rõ.

Phật bảo A-nan:

–Phật Bát-niết-bàn, công việc trà-tỳ đã xong, tất cả bốn chúng thu lấy xá-lợi đặt vào bình bảy báu. Các ông nên dựng tháp bảy báu ở giữa ngã tư đường, bên trong thành Câu-thi-na-già. Ngôi tháp cao mười ba tầng, bên trên có bánh xe Chuyển pháp luân, hết thảy các thứ quý báu đẹp đẽ xen kẽ trang nghiêm, dùng hết thảy phướn hoa đẹp đẽ ở thế gian để trang nghiêm tháp ấy, lan can bốn bên tháp là do bảy thứ quý báu hợp thành, hết thảy đồ trang hoàng, không có gì là không cùng khắp. Bốn mặt của ngôi tháp ấy, mỗi mặt mở một cửa, thứ tự khoảng cách giữa từng tầng tháp có cửa sổ tương đương, an trí bình báu đựng xá-lợi Như Lai để hàng trời người và bốn chúng chiêm ngưỡng cúng dường.

A-nan! Tháp của hàng Phật-bích-chi phải làm mười một tầng, cũng đem mọi đồ quý báu để trang hoàng. A-nan! Tháp của bậc A-lahán làm hoàn thành chỉ có bốn tầng, cũng đem mọi thứ quý báu để trang nghiêm. A-nan! Tháp của vị Chuyển luân vương cũng hoàn thành bằng bảy thứ quý báu, không có tầng cấp. Vì sao? Vì các vị ấy chưa thoát khỏi sự khổ não và quả báo ở ba cõi.

Bấy giờ, A-nê-lâu-đậu bạch Phật:

–Sau khi Phật Niết-bàn, việc trà-tỳ đã xong xuôi, tất cả các hàng

trời người và bốn bộ đại chúng nên phân bố xá-lợi Như Lai như thế nào rồi được cúng dường?

Bấy giờ, Phật bảo A-nê-lâu-đậu:

–Ta Bát-niết-bàn, hàng trời người các ông giữ lấy xá-lợi Phật, đem tâm bình đẳng, phân bố cho ba cõi, hết thảy thế gian trong sáu đường để cúng dường.

Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân bạch Phật:

–Nay con tuân theo Phật kính thỉnh bán thân xá-lợi của Như Lai, đem tấm lòng tha thiết của con nguyện xin cúng dường.

Phật bảo trời Đế thích:

–Như Lai xem chúng sinh một cách bình đẳng giống như La-hầula, ông không nên thỉnh bán thân xá-lợi. Vì sao? Vì sự bình đẳng lợi ích giúp đỡ cho các chúng sinh?

Phật bảo vị Thiên đế:

–Nay Ta cho ông xá-lợi một chiếc răng hàm trên bên phải, có thể dựng tháp cúng dường ở trên cõi trời, có khả năng khiến cho ông được phước đức vô tận.

Bấy giờ, hàng trời, người, tất cả đại chúng xót thương chảy nước mắt, không thể nào tự giảm bớt. Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo khắp bốn chúng:

–Phật Bát-niết-bàn, hàng trời và người các ông chớ buồn rầu quá. Vì sao? Tuy rằng Phật Niết-bàn, nhưng có xá-lợi thường còn để cúng dường. Lại có pháp bảo vô thượng, tạng Tu-đa-la, tạng Tỳ-na-da, tạng A-tỳ-đạt-ma. Do nhân duyên ấy mà Ba ngôi báu, Bốn đế thường trụ ở đời, có năng lực làm cho chúng sinh quay về nương tựa với tấm lòng tha thiết. Vì sao? Cúng dường xá-lợi tức là Phật bảo, thấy Phật tức là thấy pháp thân, thấy pháp thân tức là thấy Hiền thánh, vì thấy Hiền thánh tức là thấy Bốn đế, vì thấy Bốn đế tức là thấy Niết-bàn. Do đó, nên biết rằng, Ba ngôi báu thường trụ, không có sự biến đổi, vì có năng lực làm chỗ quay về nương tựa cho thế gian.

Phật lại bảo các đại chúng:

–Các ông chớ quá buồn rầu khổ sở, hôm nay ở đây, Ta sắp Niếtbàn. Nếu các vị có điều gì còn nghi ngờ như giới luật, như quy y, hoặc giả sự thường, vô thường, Ba ngôi báu, Bốn đế, sáu Ba-la-mật, Mười hai nhân duyên, thì các vị hãy mau nêu ra câu hỏi để hỏi tường tận, sau khi Phật Niết-bàn, các vị không có sự thắc mắc hối tiếc nữa.

Phật bảo mọi người ba lần.

Bấy giờ, bốn chúng lo buồn khổ não, nghẹn ngào chảy nước mắt, trong lòng vô cùng đau đớn, họ tưởng nhớ lại và quyến luyến, hết sức buồn phiền sầu muộn. Nhờ thần lực của Phật nên họ che giấu nước mắt lặng yên mà không nêu ra câu hỏi. Vì sao? Vì tất cả bốn chúng đã thông đạt hiểu rõ và không có sự nghi ngờ đối với giới luật, sự quy y, Ba ngôi báu, Bốn đế.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn biết mọi người trong bốn chúng không còn điều gì nghi ngờ nữa, bèn khen ngợi:

–Quý hóa thay! Quý hóa thay! Bốn chúng các ông đã có năng lực thông đạt Ba ngôi báu, Bốn đế, không có sự nghi ngờ vậy, giống như nước sạch gột rửa thân nhơ bẩn, các ông hãy nên chăm chỉ siêng năng để sớm được ra khỏi, đừng sinh ra tâm niệm tán loạn, sầu não, mê muộn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở tòa sư tử, dùng cánh tay vàng ròng sáng chói vén tấm y Tăng-già-lê đang đắp trên thân, để lộ ra ngực sư tử màu tía vàng óng, cho đại chúng thấy cùng khắp mà bảo:

–Tất cả đại chúng trời người các ông, hãy nên đem tâm tha thiết để nhìn xem sắc thân vàng tía sáng chói của Ta.

Bốn chúng lúc ấy, hết thảy đều chiêm ngưỡng sắc thân vàng óng sáng chói của đức Đại Giác Thế Tôn, mắt chẳng rời, ai nấy đều sung sướng, ví như vị Tỳ-kheo nhập cõi Thiền thứ ba cũng khó sinh khởi sự vui sướng như thế.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn đem thân vàng óng cho đại chúng thấy xong, liền phóng ra vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức ánh sáng đại Niết-bàn, chiếu khắp tất cả thế giới ở mười phương, khiến ánh sáng của mặt trời và mặt trăng soi chiếu không còn sáng rỡ nữa. Phóng ra ánh sáng như thế xong, rồi bảo đại chúng:

–Nên biết, Như Lai vì các ông mà qua bao đời kiếp chồng chất, đã cần cù tu tập hết thảy sự khổ hạnh khó làm, cắt đứt thân thể tay chân, bản nguyện đại bi ở cõi đời đầy năm thứ vẩn đục này mà thành A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Ta được sắc thân vàng tía kim cương bất hoại này, đầy đủ ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp, vô lượng ánh sáng chiếu khắp tất cả, không ai là không giải thoát khi họ nhìn thấy hình dáng hay gặp được ánh sáng của Ta.

Đức Phật lại bảo các đại chúng:

–Phật xuất hiện ở đời khó như hoa Ưu-đàm hiếm có và khó gặp. Đại chúng các ông gặp được Ta lần cuối cùng, là đối với thân này, các ông không sống cuộc đời uổng phí. Ta đem lực dụng của lời thệ nguyện căn bản mà sinh ra tại cõi nhơ nhớp này, nhân duyên giáo hóa chu tất, nay sắp sửa Niết-bàn, các ông hãy đem tâm rất mực chân thành để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta. Các vị hãy nên tu tập nghiệp thanh tịnh như thế, vào đời vị lai, các vị sẽ được quả báo này.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ân cần bảo đi bảo lại ba lần như thế. Ngài đem sắc thân vàng ròng cho các đại chúng thấy, liền từ giường lớn sư tử bằng bảy báu, bay lên ở giữa hư không cao bằng một cây Đa-la rồi một lần trở lại, bảo:

–Ta sắp sửa Niết-bàn, đại chúng các ông hãy nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Hết lần này đến lần khác như thế, Đức Thế Tôn lên cao bằng bảy cây Đa-la rồi bảy lần trở lại mà bảo:

–Ta sắp Niết-bàn, đại chúng các ông cần phải đem tấm lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Từ giữa hư không, Đức Thế Tôn hạ xuống ngồi giường sư tử, rồi lại bảo với đại chúng:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ giường sư tử lại lên hư không cao bằng một cây Đa-la, rồi lại bảo với đại chúng:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Hết lần này đến lần khác như thế, Đức Thế Tôn lên cao bằng bảy cây Đa-la rồi bảy lần trở lại mà bảo:

–Ta sắp Niết-bàn, đại chúng các ông hãy nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Từ giữa hư không, Đức Thế Tôn hạ xuống ngồi giường sư tử, rồi lại bảo với đại chúng:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ giường sư tử lại lên hư không cao bằng một cây Đa-la, lại bảo với đại chúng:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Hết lần này đến lần khác như thế, Đức Thế Tôn lên cao bằng bảy cây Đa-la rồi bảy lần trở lại mà bảo:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Từ giữa hư không, Đức Thế Tôn hạ xuống ngồi giường sư tử, rồi lại bảo với đại chúng:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lộ rõ ra sắc thân màu tía vàng óng của Như Lai, tỏ bày khắp hết đại chúng. Trở đi trở lại ba lần như thế, Đức Thế Tôn lên trên hư không cao bằng bảy cây Đa-la, rồi ba lần trở đi trở lại, từ không trung lại xuống ngồi giường sư tử. Hai mươi bốn lần trở đi trở lại, Đức Thế Tôn bảo các đại chúng một cách ân cần như vầy:

–Ta sắp Niết-bàn, các ông hãy đem tấm lòng tha thiết để nhìn xem sắc thân của Ta là thân kim cương vững chắc chẳng hoại, thân màu tía vàng óng, không có sự sợ hãi, giống như hoa Ưu-đàm khó có thể gặp gỡ. Các ông nên biết, Ta sắp sửa Niết-bàn, các ông cần phải đem lòng rất mực chân thành để nhìn xem sắc thân màu tía vàng óng của Ta, giống như người khát nước khi trời nóng bức gặp được nước mát lạnh, uống nước no nê, không còn suy nghĩ điều gì khác nữa. Đại chúng các ông cũng như thế.

Ta sắp Niết-bàn, đại chúng các ông cần phải đem lòng tha thiết ân cần để chiêm ngưỡng, vì đó là lần sau chót các người được gặp Như Lai. Gặp lần này rồi, từ đây các vị sẽ không còn gặp lại Như Lai nữa. Đại chúng các ông hãy chiêm ngưỡng cho đầy đủ, để không còn sự hối hận về sau.

Đức Phật lại bảo các đại chúng:

–Sau khi Ta Niết-bàn, đại chúng các ông phải nên mở rộng việc tu hành để sớm ra khỏi ba cõi. Đừng biếng nhác và làm cho tâm tán loạn buông lung trở lại.”

Bấy giờ, các bốn chúng, trời và người ở tất cả thế giới gặp được ánh sáng Niết-bàn và chiêm ngưỡng Đức Phật, hết thảy hàng người và trời trong thế gian, ba đường, tám chỗ chướng nạn có điều phiền não, bốn tội nặng, năm tội nghịch, tội lỗi cực ác, thì mãi mãi tiêu diệt không còn, đều được giải thoát.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn để lộ ra sắc thân màu tía vàng óng, ân cần bảo cho đại chúng đều biết rõ xong, rồi giơ tấm y Tăng-già-lê lên để đắp lại như thường.

 

Phẩm 2: SỰ TRỞ VỀ CỘI NGUỒN PHẢI LÀM TRÒN

Đức Phật lại bảo các đại chúng:

–Nay thời giờ sắp đến, toàn thân của Ta nhức nhối.

Nói lời ấy xong, Đức Thế Tôn liền nhập vào bậc thiền thứ nhất, đem ánh sáng Niết-bàn quán sát khắp thế giới, nhập vào định tịch diệt.

Bấy giờ, chưa dứt lời, Đức Thế Tôn liền nhập vào bậc thiền thứ nhất. Từ cõi thiền thứ nhất, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ hai. Từ cõi thiền thứ hai, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ ba. Từ cõi thiền thứ ba, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ tư. Từ cõi thiền thứ tư, xuất định rồi nhập vào Hư không xứ. Từ Không xứ xuất định rồi nhập vào Vô biên thức xứ. Từ Thức xứ, xuất định rồi nhập vào Bất dụng xứ. Từ Bất dụng, xuất định rồi nhập vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Từ Phi phi tưởng xứ, xuất định rồi nhập vào Diệt tận định. Từ Diệt tận định, xuất định rồi nhập vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Từ Phi phi tưởng xứ, xuất định rồi nhập vào Bất dụng xứ. Tứ Bất dụng xứ, xuất định rồi nhập vào Vô biên thức xứ. Từ Vô biên thức xứ, xuất định rồi nhập vào Hư không xứ. Từ Không xứ, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ tư. Từ cõi thiền thứ tư, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ ba. Từ cõi thiền thứ ba, xuất định rồi nhập vào cõi thiền thứ hai. Từ cõi thiền thứ hai, xuất định rồi nhập vào cõi thiền đầu tiên.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập các cõi thiền định tuần tự ngược và xuôi như thế xong, rồi bảo khắp đại chúng:

–Ta đem Bát nhã rất mực sâu xa quán sát khắp tất cả sáu nẻo đường, các núi non, biển cả, quả đất, các loài có mạng sống trong ba cõi. Tính căn bản của ba cõi như thế là xa rời, rốt cuộc tịch diệt giống như tướng hư không. Không có danh, không có thức, mãi mãi dứt bỏ quả báo trong các cõi, xưa nay vốn dĩ bình đẳng, không có ý tưởng cao thấp. Không thấy, không nghe, không hay, không biết; không thể trói buộc, không thể giải thoát; không có chúng sinh, không có thọ mạng; không sinh cũng chẳng khởi, không tận cũng chẳng diệt; không phải thế gian, cũng chẳng phải phi thế gian. Niết-bàn, sinh tử đều không thể nắm bắt được, vì hai cõi bình đẳng với các pháp. Ở nơi yên tĩnh, xa lánh chỗ ồn ào, không có làm điều gì, rốt ráo an định không thể nắm bắt được. Từ trước đến nay không có pháp để trụ thì pháp tánh làm gì thì thi hành được. Cắt đứt tất cả tướng, không có gì để nắm bắt cả. Pháp tướng như thế, nếu ai biết được điều ấy thì gọi là người ra khỏi thế gian, sự việc này nếu ai chẳng biết thì gọi là bắt đầu sự sống chết. Đại chúng các ông cần phải dứt bỏ sự vô minh và diệt trừ sự mở đầu sống chết.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lời này xong, lại nhập thiền định siêu việt. Từ cõi thiền đầu tiên, xuất định rồi vào cõi thiền thứ ba. Từ cõi thiền thứ ba, xuất định rồi đi vào Hư không xứ. Từ Hư không, xuất định rồi nhập vào cõi Vô sở hữu xứ. Từ Vô sở hữu, xuất định rồi nhập vào Diệt tận tưởng định. Từ Diệt tận định, xuất định rồi theo thứ tự nhập vào thiền định trở lại, đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Từ Phi phi tưởng, xuất định rồi nhập vào Vô biên thức xứ. Từ Thức xứ, xuất định rồi đi vào cõi thiền thứ tư. Từ cõi thiền thứ tư, xuất định rồi đi vào cõi thiền thứ hai. Từ cõi thiền thứ hai, xuất định rồi nhập vào bậc thiền đầu tiên. Đức Thế Tôn nhập vào thiền định siêu việt theo lối ngược và xuôi như thế xong, rồi lại bảo đại chúng:

–Ta đem Ma-ha Bát-nhã quán sát khắp các loài có tình thức và loài không có tình thức trong ba cõi, tất cả nhân và pháp thảy đều rốt ráo, không có sự trói buộc, không có sự giải thoát, không có chủ, không có sự nương tựa, không thể nắm giữ. Chẳng ra khỏi ba cõi, không đi vào các cõi, xưa nay vốn thanh tịnh, không có nhơ bẩn, không có phiền não, cùng sánh ngang với hư không, không bình đẳng, không phải không bình đẳng, hết các sự động niệm, tâm suy nghĩ dứt hẳn, pháp tướng như thế gọi là Đại Niết-bàn, thấy pháp này một cách chân thật thì gọi là giải thoát. Hạng phàm phu không biết thì gọi là vô minh.

Nói lời ấy xong, Đức Phật lại nhập thiền định siêu việt. Từ cõi thiền đầu tiên xuất định cho đến nhập vào Diệt tận định. Từ Diệt tận định xuất định cho đến nhập vào cõi thiền thứ nhất. Đức Thế Tôn nhập vào thiền định siêu việt theo lối ngược và xuôi như thế xong, rồi lại bảo với đại chúng:

–Ta dùng mắt Phật xem khắp tất cả các pháp trong ba cõi, sự vô minh từ đầu cho đến cùng cực, tính vốn giải thoát. Mong cầu ở mười phương, hoàn toàn không thể được. Bởi vì gốc rễ không có, nên cành lá nương theo thảy đều giải thoát. Vì sự vô minh được giải thoát, cho đến sự già chết đều được giải thoát. Do nhân duyên ấy, nay Ta an trụ ở ánh sáng thường tịch diệt gọi là Đại Niết-bàn.

Bấy giờ, nỗi buồn rầu, âu sầu thống khổ của A-nan không có chỗ cùng tột, lòng dạ hoảng hốt cuống cuồng, tình thức hôn mê. Như người say khướt thì hoàn toàn không hay biết gì cả, A-nan không trông thấy bốn chúng và chẳng biết Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn hay là chưa Niết-bàn.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn nhập vào các thiền định siêu việt, trải qua ba lần như thế, lại quán xét khắp cả pháp giới, rồi ba lần nói pháp cho đại chúng. Như Lai nhập vào các thiền định hết lần này đến lần khác, trải qua hai mươi bảy lần như thế. Vì A-nan không biết, cho nên khi Đức Phật đi vào một cõi thiền, ông liền nêu một câu hỏi. Hai mươi bảy lần trở đi trở lại như thế, A-nan hỏi A-nê-lâu-đậu:

–Đức Phật đã Niết-bàn hay là chưa Niết-bàn?

A-nê-lâu-đậu biết rất rõ Đức Như Lai nhập các thiền định, trở đi trở lại hai mươi bảy lần nên trả lời A-nan:

–Đức Phật chưa Niết-bàn.

Bấy giờ, tất cả đại chúng thảy đều hoảng loạn, hoàn toàn chẳng hay biết gì, rằng Đức Như Lai đã Niết-bàn hay là chưa Niết-bàn.

Lúc ấy, ba lần Đức Thế Tôn nhập các thiền định, ba lần dạy bảo rõ cho mọi người xong, bèn nằm nghiêng hông về bên phải ở chiếc giường làm bằng bảy thứ quý báu, gối đầu về phương Bắc, chân chỉ phương Nam, mặt hướng về phương Tây, lưng quay về phương Đông. Chiếc giường bằng bảu thứ quý báu ấy dùng chuỗi ngọc anh lạc vi diệu để trang nghiêm. Khu rừng cây Ta-la có tám cây mọc thành bốn đôi, phương Tây có một cây mọc sóng đôi ở trước mặt Đức Như Lai, phương Đông có một cây mọc sóng đôi ở đằng sau Đức Như Lai, phương Bắc có một cây mọc sóng đôi ở phía trên đầu của Đức Phật, phương Nam có một cây mọc sóng đôi ở phía chân của Đức Phật.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nằm ngủ tại giường báu ở dưới rừng Ta-la, vào giữa đêm hôm ấy, Ngài nhập cõi thiền thứ tư, im lìm không một tiếng động, vào đúng giây phút đó, Phật Bát-niết-bàn. Đấng Đại Giác Thế Tôn nhập Niết-bàn rồi, tại khu rừng Ta-la ấy, hai cây mọc sóng đôi ở phương Đông và phương Tây hợp lại thành một cây; hai cây mọc sóng đôi ở phương Nam và phương Bắc hợp lại thành một cây, các cây rủ xuống bao phủ giường báu che Đức Như Lai. Cây Ta-la ấy tức thời thảm thương biến đổi thành màu trắng giống như con hạc trắng; cành, lá, hoa, quả, vỏ cây, thân cây thảy đều nứt toác và rơi xuống, dần dần khô héo gãy đổ không để sót lại gì.

Lúc ấy, tất cả mặt đất khắp thế giới của chư Phật bằng vô số muôn ức số lượng cát sông Hằng trong mười phương, đều chấn động dữ dội, phát ra đủ mọi thứ âm thanh mà xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay! Thế giới trống rỗng!”. Rồi xuất ra tiếng buồn than về sự vô thường, khổ, không.

Bấy giờ, tất cả các núi non ở thế giới mười phương, núi Mụcchân-lân-đà, núi Ma-ha Mục-chân-lân-đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu-di, núi Hương, núi có nhiều châu ngọc quý báu, núi vàng, núi Đen, hết thảy các ngọn núi có trong đại địa, cùng một lúc chấn động rạn nứt, toàn bộ đều sụp đổ, phát ra âm thanh lớn gầm vang thế giới mà xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay! Cớ sao trong một sớm, thế gian trơ trọi không ai che chở, mặt trời trí tuệ lặn mất sau núi Đại Niếtbàn, tất cả chúng sinh mất đấng cha lành chân thật, mất vị trời được mọi người cung kính, không có ai để chiêm ngưỡng.

Lúc ấy, tất cả biển lớn ở thế giới khắp mười phương thảy đều vẩn đục, sóng cả sôi sục trào dâng, phát ra đủ mọi thứ âm thanh mà xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay! Đấng Chánh Giác đã diệt độ, chúng sinh chịu tội lỗi khổ đau, đêm dài tăm tối, trôi lăn mãi trong biển cả sống chết, lạc mất con đường chính, thì làm thế nào để được giải thoát?

Bấy giờ, tất cả sông ngòi, suối nước, khe núi, dòng sông, nguồn suối, giếng lạch, ao tắm thảy đều nghiêng đổ, hết nước, khô cạn. Khi ấy, hư không và mặt đất ở thế giới khắp mười phương im lìm và rất mực tối tăm, ánh sáng mặt trời và mặt trăng hết sạch đều không có sự sáng soi nữa, tối tăm sầu não giăng bủa đầy cả thế giới. Vào đúng thời gian ấy, bỗng dưng ngọn gió đen giận dữ nổi lên gây chấn động kinh hồn, thổi tung cát bụi đầy cả thế giới tối tăm.

Lúc này, tất cả cây cỏ, cỏ thuốc, cành lá hoa quả của những cây cối ở mặt đất thảy đều gãy vụn rơi xuống không bỏ sót. Vào đúng giây phút đó, tất cả chư Thiên ở thế giới trong mười phương đầy khắp hư không, họ đau xót kêu gào, buồn rầu than thở làm chấn động ba ngàn đại thiên thế giới. Trời mưa xuống vô số trăm ngàn đủ các thứ hoa trời và hương trời đẹp đẽ thượng hạng, đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, chất cao như núi Tu-di để cúng dường Đức Như Lai. Ở trên không trung lại mưa xuống vô số cờ cõi trời, phướn cõi trời, chuỗi ngọc anh lạc cõi trời, lọng che cõi trời, châu báu cõi trời đầy khắp cả hư không rồi biến thành đài báu, bốn mặt thắt quấn đá quý châu ngọc và đồ làm bằng bảy thứ quý báu, ánh sáng lộng lẫy rực rỡ, để cúng dường Đức Như Lai. Ở trên không trung lại tấu lên vô số khúc nhạc cõi trời vi diệu, trống đánh, sáo thổi, đàn dây, ca khúc phát ra đủ mọi thứ âm thanh mà xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay! Đức Phật đã Niết-bàn, thế giới trống rỗng, con mắt của mọi loài chúng sinh đã diệt mất; phiền não, quỷ La-sát, lòng tham muốn tột cùng lưu hành; hành khổ nối tiếp nhau, bánh xe đau thương không ngừng”.

Bấy giờ, tâm của A-nan hoảng hốt mê muội, hoàn toàn không hay biết gì cả, chẳng nhận biết Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn hay là chưa nhập Niết-bàn, ông chỉ thấy cảnh giới không bình thường, rồi lại hỏi Lâu-đậu:

–Đức Phật Niết-bàn rồi chăng?

Lậu-đậu trả lời:

–Đức Đại Giác Thế Tôn đã nhập Niết-bàn.

Lúc ấy, nghe lời nói đó rồi, A-nan sầu muộn tuyệt vọng, ngã nhào xuống đất dường như người chết, lặng yên không còn hơi thở, mịt mịt mờ mờ không hiểu rõ. Bấy giờ, Lâu-đậu lấy nước mát lạnh vẩy vào mặt A-nan rồi dìu đỡ đứng dậy. Lâu-đậu dùng phương tiện khéo léo, an ủi và nói lời giải thích cho A-nan hiểu:

–Thương thay! Thương thay! Nỗi thống khổ biết làm thế nào, biết làm thế nào, ông chớ quá sầu khổ, bứt rứt loạn tâm. Nhân duyên hóa độ của Như Lai đã chu tất, hết thảy hàng trời và người không ai có thể giữ Đức Thế Tôn lại được. Khổ thay! Khổ thay! Biết làm thế nào, biết làm thế nào! Tại sao lại đến hôm nay, bậc Thầy của hàng trời và người đã làm công việc rốt ráo, không ai có thể giữ lại được. Biết làm thế nào, ta và các ông hãy tạm cùng đè nén bớt”.

Lâu-đậu lại an ủi và nói lời giải thích:

–Này A-nan! Mặc dù Đức Phật Niết-bàn, nhưng đã có xá-lợi và Pháp bảo vô thượng thường trụ ở đời, có thể làm chỗ quay về và nương tựa cho chúng sinh. Ta và các ông hãy nên chăm chỉ siêng năng, đem giáo pháp quý báu của Đức Phật đe trao cho chúng sinh, khiến họ thoát mọi nỗi khổ, ngõ hầu đền trả ân đức của Như Lai.

Bấy giờ, A-nan nghe lời an ủi và dẫn dụ xong, dần dần được tỉnh ngộ. Ông nghẹn ngào đầm đìa nước mắt, nỗi buồn rầu tự mình không chịu nổi. Giữa rừng Ta-la thuộc thành Câu-thi-na ấy, chiều rộng và bề dọc ba mươi hai do-tuần, đại chúng trời người thảy đều đầy khắp, trên đầu nhọn mũi kim thu nhận vô lượng chúng, không có chỗ trống xen lẫn, chẳng che khuất lẫn nhau.

Lúc này, vô số ức Bồ-tát, tất cả đại chúng thảy đều mê mờ, sầu muộn, tâm trí hỗn loạn u mê, họ hoàn toàn không hay biết, rằng Đức Như Lai Niết-bàn hay chưa Niết-bàn, chỉ thấy sự biến động không bình thường, ngay cùng một lúc họ hỏi Lâu-đậu:

–Đức Phật Niết-bàn chăng?

Bấy giờ, Lâu-đậu bảo các đại chúng và tất cả hàng trời và người:

–Đấng Đại Giác Thế Tôn đã nhập Niết-bàn.

Lúc ấy, vô số hết thảy đại chúng nghe lời nói ấy xong, ngay một

lúc họ hôn mê, sầu muộn tuyệt vọng rồi ngã xuống đất. Nỗi khổ đau đớn khắc vào lòng, tiếng tai ách không vượt ra.

Trong số đó, hoặc có người diệt độ theo Đức Phật, hoặc có người thất thần, hoặc có người thân tâm run rẩy, có người nắm tay nhau nghẹn ngào chảy nước mắt, hoặc có người thường xuyên đấm ngực kêu to, hoặc có người giơ tay vỗ đầu tự bứt tóc mình. Hoặc có người xướng lên: “Đau đớn thay! Đau đớn thay! Đày đọa khổ thay!”. Hoặc có người xướng lên: “Như Lai Niết-bàn, sao mà nhanh quá vậy!”. Hoặc có người xướng lên: “Vị trời mà chúng ta tôn kính đã mất”. Hoặc có người than: “Thế giới trống rỗng, con mắt của chúng sinh diệt mất”. Hoặc có người than: “Con quỷ lớn phiền não đã lưu hành”. Hoặc có người than: “Mầm non hạt giống tốt lành của chúng sinh đã diệt”. Hoặc có người than: “Ma vương vui mừng cởi bỏ mũ và áo giáp”. Hoặc có kẻ tự quở trách và quán thân tâm vô thường. Hoặc có người chánh quán được giải thoát. Hoặc có người thương cảm thở than, rằng không có chỗ quay về nương tựa. Trong số đó có người khắp than thể máu xuất ra rồi chảy rơi vãi trên mặt đất. Chủng loại khác nhau và tiếng nói khác nhau, tiếng đau thương của tất cả đại chúng làm chấn động khắp hết thảy thế giới.

Bấy giờ, vị chủ quản thế giới Ta-bà là Đại Phạm Thiên vương Thi Khí biết Đức Phật đã nhập Niết-bàn, nên cùng với các chúng cõi trời lập tức từ cõi thiền thứ nhất bay giữa hư không mà xuống, cất tiếng khóc lớn, đau xót nghẹn ngào, đầm đìa nước mắt, gieo mình trước Đức Như Lai, sầu muộn tuyệt vọng và ngã nhào xuống đất, hồi lâu mới tỉnh lại, nỗi buồn thương tự mình không chịu nổi, họ liền trở trước Đức Phật dùng kệ buồn than:

Xưa kia Thế Tôn vốn thệ nguyện
Vì chúng con nên ở cõi Nhẫn
Bèn giấu vô lượng sức tự tại
Độ những chúng sinh ít ưa pháp.
Phương tiện hợp dần tiện nên nói
Chúng sinh đều nhận sự an vui
Dẫn dụ khiến thoát khổ ba cõi
Rốt ráo đều đến đạo Niết-bàn.
Mẹ hiền Như Lai nuôi chúng sinh
Khắp chúng sinh uống sữa đại bi
Sao chỉ một sớm chợt lìa bỏ
Người trời côi cút không chỗ dựa.
Thương thay mầm giống tốt chúng sinh
Không cam lộ trời khiến tăng trưởng
Mầm thiện dần dần suy diệt rồi
Tội nghiệp dắt nhau đọa đường ác.
Làm sao thế giới đều rỗng không
Mắt chính tuệ chúng sinh đã diệt
Đã đi trong đen tối vô minh
Đọa lạc ba cõi khổ chìm đắm.
Làm sao không cứu tội chúng sinh
Nguyện nương xá-lợi được giải thoát
Khuyến thỉnh đại bi lực Như Lai
Cứu hộ khiến con thoát nỗi khổ.
Xót thay sao hẹn đời ác này
Như Lai bỏ con nhập Niết-bàn.

Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân cùng với các đại chúng từ hư không mà xuống rồi xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay!”. Họ phát ra tiếng khóc òa, nức nở thương đau, đầm đìa nước mắt. Họ gieo mình trước Đức Như Lai, sầu muộn tuyệt vọng, ngã nhào xuống đất, hồi lâu mới tỉnh lại, buồn thương nghẹn ngào, quỳ đầu gối sát đất ở trước Đức Phật rồi nói bài kệ than vãn:

Bao kiếp Như Lai hành khổ hạnh
Khắp vì quần sinh chúng con nên
Đắc thành đạo Chánh giác Vô thượng
Nuôi chúng sinh sánh như con một.
Pháp thí là thuốc hay bậc nhất
Chữa bệnh là thầy thuốc tuyệt vời
Mây đại từ bi che chúng sinh
Mưa tuệ cam lộ đổ xuống khắp.
Ánh vầng tuệ soi tối vô minh
Chúng sinh vô minh thấy Thánh Đạo
Ánh từ trăng Thánh rọi sáu đường
Ba cõi nhờ ánh sáng thoát khổ.
Sao hẹn giờ đây bỏ Đại từ
Đã nhập Niết-bàn chúng chẳng thấy
Đại bi bản thệ nay ở đâu
Vứt bỏ chúng sinh như nhổ bọt.
Hết hảy các chúng sinh chúng con
Như nghé mất mẹ ắt phải chết
Bốn chúng nắm tay nhau khóc lóc
Đau xót đấm ngực động ba cõi.
Khổ thay khổ thay người các cõi
Cớ sao một sớm đều côi cút
Phước chúng con hết thật khổ đau
Mầm thiện cháy than không tươi nữa.
Chỉ nguyên ánh xá-lợi Pháp bảo
Chiếu con khiến thoát khổ ba cõi
Thương thay xót thay lũ chúng con
Chừng nào được thấy lại Như Lai!

Bấy giờ, Lâu-đậu bi ai gào khóc, nỗi thương xót không lường. Ông quỳ gối trước Đức Phật, than buồn bằng bài kệ:

Pháp vương Chánh giác nuôi chúng con
Cho uống sữa pháp lớn pháp thân
Pháp thân chúng sinh chưa thành lập
Lại còn tuệ mạng ít tư lương.
Cần dùng tám âm thường diễn sướng
Khiến chúng nghe xong đều ngộ đạo
Thường phóng ánh đại từ năm màu
Khiến chúng nhờ sáng đều giải thoát.
Cớ sao hôm nay Niết-bàn mãi
Chúng sinh hành khổ dựa hướng đâu
Khổ thay Thế Tôn bỏ đại bi
Chúng con trơ trọi ắt phải chết.
Tuy biết Thế Tôn hiện phương tiện
Chúng con không thể không bi ai
Bốn chúng lòng hôn mê sầu muộn
Buồn động trời đất rung ba cõi.
Thế Tôn ở riêng rất an vui
Chúng sinh rất khổ muốn đi đâu
Xưa kia Thế Tôn vì chúng con
Bao kiếp bỏ đầu cắt tay chân.
Được thành đạo Chánh giác Vô thượng
Ở đời không lâu liền Niết-bàn
Con và bốn chúng ở vô minh
Ma vương vui mừng bỏ mũ giáp.
Xót thay Thế Tôn nguyện đại bi
Ánh từ xá-lợi thâu chúng con
Cúi xin Thế Tôn thương bốn chúng
Pháp bảo chảy thấm nguyện không cùng.
Chúng con không thể chết ngay được
Nếu mạng còn dư đặng bao lâu
Khổ thay thống thiết khó chịu đựng
Không hẹn kỳ gặp lại Thế Tôn.

Lúc ấy, sự sầu muộn tuyệt vọng của A-nan dần dần được tỉnh ngộ; ông giơ tay, vỗ đầu, đấm ngực, nghẹn ngào buồn khóc, nước mắt ròng ròng, nỗi xót thương tự mình không chịu nổi, quỳ gối trước Đức Phật, buồn than bằng bài kệ:

Xưa con và Phật cùng thệ nguyện
May cùng sinh trong dòng họ Thích
Như Lai được thành đạo Chánh giác
Con làm người hầu hai mươi năm.
Thâm tâm kính dưỡng tình chưa đủ
Một sớm thấy bỏ nhập Niết-bàn
Đau thay xót thay khổ tàn hại
Đêm dài vô cực lòng thống thiết.
Thân con chưa thoát lưới các cõi
Mạng trứng vô minh chưa ra khỏi
Mỏm tuệ Thế Tôn chưa mổ phá
Cớ sao được bỏ chóng Niết-bàn.
Con như đứa trẻ mới sinh ra
Mất mẹ không lâu ắt sẽ chết
Cớ sao Thế Tôn buông bỏ được
Riêng ra ba cõi hưởng yên vui.
Nay con sám hối với Thế Tôn
Hầu Phật đến nay hai chục năm
Trong bốn uy nghi nhiều biếng nhác
Chẳng thể làm đại Thánh vui lòng.
Nguyện đấng Chánh giác đại từ bi
Cho con cam lộ khiến an vui
Con nguyện cùng tận mé vị lai
Thường làm thị giả hầu Thế Tôn.
Xin nguyện ánh đại từ Thế Tôn
Tất cả thế giới nhiếp thụ con
Đau thay xót thay không thể nói
Sụt sùi sao thể kể ân Thánh.

Bấy giờ, vô số ức Hằng hà sa Bồ-tát, hết thảy hàng trời người và đại chúng trong thế gian, họ nắm tay lẫn nhau, buồn rầu khóc lóc, nước mắt ròng ròng, nỗi đau xót không tài nào tự chịu nổi, mỗi người đè nén nhau, tức thời ai nấy đều tự mình bày biện vô số hương hoa vi diệu, hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha

Mạn-thù-sa, vô số Hải ngạn chiên đàn và trầm thủy ở trên cõi trời và nhân gian, trăm ngàn vạn loại bột hương hòa trộn, vô số hương sáp, nước thơm, lọng báu, cờ báu, phướn báu, chân châu, ngọc anh lạc đầy khắp cả hư không, các vị rải vào trước Đức Như Lai để cúng dường một cách buồn thảm.

Lúc này, hết thảy mọi người, trai gái lớn bé ở bên trong thành Câu-thi đều thương xót chảy nước mắt, mỗi người đều sắm sửa vô số hương, hoa, lọng báu vi diệu v.v… đẹp đẽ hơn trước gấp bội, họ rải vào chỗ Đức Như Lai để cúng dường một cách buồn thảm.

Lúc ấy, bốn vị Thiên vương cùng với các chúng cõi trời buồn thảm tuôn rơi nước mắt, mỗi người đều sắm sửa vô số hương và hoa, hết thảy mọi thứ bằng gấp ba lần hơn trước, họ buồn khóc rơi nước mắt đi đến chỗ Đức Phật, rải các thứ vào trước Đức Như Lai để cúng dường một cách đau xót thảm thương. Cũng như thế, đồ cúng dường của năm cõi trời Tịnh Cư đẹp đẽ hơn trước gấp bội phần. chư Thiên ở cõi Sắc và cõi Vô sắc cũng cúng dường như thế gấp bội phần hơn trước.

 

QUYỂN HẠ

Phẩm 3: CƠ CẢM TRÀ TỲ

Bấy giờ, tất cả trai gái ở bên trong thành Câu-thi buồn khóc rơi nước mắt, họ không biết phép tắc trà-tỳ thế nào, bèn hỏi A-nan:

–Đức Như Lai Niết-bàn, nên theo phép tắc như thế nào để có thể trà-tỳ?

Lúc này, vị trời Đế thích biết đầy đủ sự việc trên nên trả lời:

–Như điều Đức Phật nói, y theo phép của Luân vương.

Lúc này, tất cả dân chúng ở bên trong thành Câu-thi buồn khóc rơi lệ, hết thảy đều vào trong thành, lập tức làm kim quan được trang hoàng bằng bảy thứ quý báu. Họ liền sắm sửa một ngàn tấm vải bông màu trắng vi diệu vô giá, vô số bông Đâu-la đẹp đẽ mịn màng. Họ sắm sửa vô số trầm thủy, chiên-đàn vi diệu, trăm ngàn vạn thứ bột hương hòa trộn, hương sáp, nước thơm; hết thảy hàng tơ lụa, lọng, phướn, hoa v.v… giống như đám mây đầy khắp ở giữa hư không chất cao như núi Tu-di. Khi đã sắm sửa xong xuôi, họ buồn thảm, nước mắt ròng ròng, đem đến chỗ Đức Phật rồi rải vào ở trước Đức Như Lai, đau xót nghẹn ngào không kể xiết mà tỏ ý cúng dường.

Bấy giờ, tất cả dân chúng và các đại chúng ở bên trong thành Câu-thi, một lần nữa họ lại buồn thảm nghẹn ngào, tuôn trào nước mắt. Họ lại cầm vô lượng hương hoa, phướn lọng, tất cả vật dụng cúng dường, giống như đám mây đầy khắp không trung. Họ nắm tay lẫn nhau đấm ngực nghẹn ngào, nước mắt ràn rụa, nỗi đau xót làm chấn động Đại thiên thế giới, họ rải các thứ vào trước Đức Như Lai để cúng dường một cách buồn thảm.

Lúc ấy, đại chúng buồn bã nức nở nghẹn ngào, tâm cung kính sâu nặng, mỗi người lấy vải bông màu trắng mịn màng đẹp đẽ để bao che tay mình, rồi đỡ Đức Như Lai vào trong kim quan, họ rót đầy dầu thơm, liền đóng nắp áo quan lại.

Bấy giờ, tất cả nam và nữ ở trong thành Câu-thi có lòng lành, tham phước đức, họ cứ muốn giữ lấy công đức đối với Như Lai, không để cho tất cả đại chúng, trời và người cùng nâng kim quan Đức Phật. Họ liền cùng nhau bàn bạc cặn kẽ, sai bốn người lực sĩ khỏe mạnh vạm vỡ không ai bằng, họ cởi chuỗi ngọc và y phục mà mình đang mang, mong mỏi trong lòng xin nâng Thánh quan Đức Như Lai, muốn đưa vào bên trong thành. Họ tự tỏ ý cúng dường, bèn dốc hết thần lực của mình, song hoàn toàn không thể nào nâng nổi.

Lúc này, mọi người ở bên trong thành lại sai tám vị đại lực sĩ đến chỗ quàn Thánh quan, họ cởi áo mà mình đang mặc, cùng chung nâng kim quan Đức Phật lên, ai nấy đều dốc hết thần lực của mình, song cũng hoàn toàn không thể nâng được.

Mọi người trong thành Câu-thi lại sai mười sáu vị đại lực sĩ tột bực đi đến chỗ quàn kim quan, họ cởi áo mà mình đang mặc, cùng chung nâng kim quan Đức Phật lên, song cũng không thể nào nâng nổi.

Bấy giờ, Lâu-đậu nói với những vị lực sĩ:

–Cho dù hết cả mọi người trong thành, nam, nữ, người lớn, kẻ nhỏ, họ cùng nâng kim quan Như Lai, muốn đưa vào trong thành, cũng không thể nào được, huống gì là các ông mà có thể nâng nổi hay chăng? Các ông hãy nên thỉnh cầu đại chúng và chư Thiên giúp sức các ông để nâng kim quan, thì mới đưa được vào thành.

Lời của Lâu-đậu nói chưa xong, bấy giờ Đế thích liền cầm chiếc lọng lớn bằng bảy báu vi diệu, vô số hương và hoa cờ phướn, âm nhạc, cùng với các chúng cõi trời buồn thảm nức nở, nước mắt ròng ròng, họ buông các thứ ở giữa hư không để cúng dường Thánh quan. Cả đến tầng trời thứ sáu và cõi trời thuộc sắc giới đều cúng dường Thánh quan giống như Đế thích.

Lúc ấy, lòng đại bi của Đức Thế Tôn bao trùm khắp cả, khiến cho các thế gian được tâm bình đẳng và được phước giống hệt nhau. Ở rừng Ta-la, tức thời chiếc kim quan tự nhiên nâng lên, lên giữa hư không cao bằng một cây Đa-la. Tất cả dân chúng ở bên trong thành Câu-thi và các thế gian, đại chúng trời người, họ không được cùng nâng Thánh quan Đức Phật.

Lúc này, Đế thích và các chúng cõi trời liền cầm chiếc lọng lớn bằng bảy thứ quý báu và đài báu bốn trụ, bốn phía trang nghiêm, chuỗi ngọc anh lạc bảy báu treo rủ xuống giữa hư không che phủ Thánh quan Đức Phật; vô số hương hoa, cờ phướn, chuỗi ngọc, âm nhạc vi diệu lẫn lộn nhiều màu sặc sỡ ở giữa hư không để cúng dường. Cả đến chư Thiên ở tầng trời thứ sáu và Sắc giới bày biện đồ gấp bội Đế thích ở trước, để che phủ Thánh quan Đức Phật và tỏ ý cúng dường.

Bấy giờ, tất cả dân chúng ở trong thành Câu-thi thấy Thánh quan Đức Phật lên ở giữa hư không, họ đấm ngực khóc òa, đau thương nghẹn ngào áo não. Khi ấy, tất cả hàng trời người ở phía trước quan tài quý báu của đức Đại Thánh tôn quý, họ rải khắp chân châu bảy báu, hương hoa, chuỗi ngọc anh lạc vi diệu sặc sỡ, bay lả tả như mây, mặt đất và hư không thảy đều đầy khắp. Họ khóc một cách thảm thương, nước mắt ròng ròng, cúng dường linh quan bảy báu của Đức Như Lai, mọi người đồng thanh xướng lên:

–Khổ thay! Khổ thay! Chúng ta không có phước, cho nên không thể nào nâng Thánh quan Đức Phật được. Chúng ta trơ trọi côi cút, gốc rễ tốt lành có ăn thua gì đâu?

Lúc này, kim quan đức Đại Thánh Thế Tôn ở giữa hư không ngay khu rừng Ta-la từ từ đáp hư không vào theo cửa phía Tây thành Câuthi. Khi ấy, tất cả nam và nữ trong thành Câu-thi, vô số hàng Bồ-tát, Thanh văn, đại chúng trời người, thảy đều đầy khắp mặt đất và hư không, họ đi theo linh quan Đại Thánh Như Lai, nắm tay lẫn nhau khóc òa gào thét, họ đấm ngực kêu la, nức nở chảy nước mắt. Mỗi người cầm vô số hương và hoa, cờ phướn lọng tàn quý báu, mặt đất và hư không thảy đều đầy khắp, họ đau xót than vãn cúng dường linh quan. Thành Câu-thi-na ấy một phía rộng dọc bốn mươi tám do-tuần. Bấy giờ, kim quan bảy báu của Đức Như Lai từ từ đáp hư không ra theo cửa phía Đông thành Câu-thi, rồi đáp hư không vòng quanh bên phải để vào cửa phía Nam của thành. Dần dần đi giữa hư không, ra từ cửa phía Bắc. Kim quan đáp hư không vòng quanh bên trái trở lại vào từ cửa phía Tây thành Câu-thi. Hết lần này đến lần khác như thế, đi quanh ba vòng xong, kim quan đáp hư không từ từ trở lại vào cửa phía Tây, rồi đáp hư không mà đi từ cửa phía Đông để ra. Kim quan đi giữa hư không vòng quanh bên trái rồi vào cửa phía Bắc của thành. Dần dần đi giữa hư không, ra từ cửa phía Nam. Kim quan đáp hư không vòng quanh bên phải rồi trở lại vào cửa phía Tây. Hết lần này đến lần khác như thế, trải qua bốn vòng quanh. Kim quan đi vòng quanh bên trái và bên phải thành Câu-thi như thế trải qua được bảy vòng.

Bấy giờ, khi Thánh quan bảy báu đang vào thành, tất cả đại chúng nghẹn ngào, gào khóc thảm thiết, mỗi người cầm vô số gỗ thơm vi diệu, chiên-đàn, trầm thủy, hết thảy hương thơm quý báu, vân cây và thớ gỗ thơm tho sạch sẽ xông khắp thế giới. Họ lại cầm vô số cờ phướn báu, lọng báu, hương hoa, chuỗi ngọc anh lạc đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách đau xót buồn rầu.

Lúc này, bốn vị Thiên vương và các chúng cõi trời xót thương nức nở, nước mắt ròng ròng. Mỗi vị đều cầm cây chiên-đàn, trầm thủy thượng diệu trên cõi trời, bên trong tỏa ra mùi thơm tinh khiết ngào ngạt cùng khắp, mỗi vị cầm năm trăm gốc lớn như bánh xe. Họ lại cầm tất cả hương thơm quý báu, cờ phướn báu, lọng báu, hoa đẹp, chuỗi ngọc, đi đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách buồn thảm. Tầng trời thứ hai mỗi vị cầm một ngàn gốc. Tầng trời thứ ba, mỗi vị cầm hai ngàn gốc. Tầng trời thứ tư, mỗi vị cầm ba ngàn gốc. Tầng trời thứ năm, mỗi vị cầm bốn ngàn gốc. Tầng trời thứ sáu, mỗi vị cầm năm ngàn gốc và phướn, hoa, họ đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách buồn thảm.

Bấy giờ, chư Thiên cõi Sắc và cõi Vô sắc chỉ có hương và hoa, họ mang đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách đau xót.

Lúc ấy, hết thảy đại chúng trong thế gian, mỗi người cầm chiênđàn, trầm thủy, hương, hoa, cờ phướn, lọng vi diệu, đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách đau buồn.

Bấy giờ, Lâu-đậu sụt sùi, nước mắt ràn rụa, nỗi thương tiếc tột cùng. Ông đến theo các hàng trời và người để xin đủ sáu ngàn gốc gỗ thơm, chiên-đàn, trầm thủy vi diệu, vân cây và thớ gỗ thơm tho tinh khiết ngào ngạt cùng khắp, ông đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách xót thương.

Ao A-nậu-đạt bốn mặt dọc ngang hai trăm do-tuần, phát ra bốn con sông lớn. Khi Đức Phật mới thành đạo bên bờ phía Bắc sông Hằng, có một cây chiên-đàn theo Đức Phật mà mọc lên, cây lớn giống như bánh xe, cao bằng bảy cây Đa-la, mùi thơm lan tỏa khắp để cúng dường Đức Như Lai. Vị thần cây và cây thơm ấy cùng sinh ra một lần, vị ấy thường lấy hương thơm này để cúng dường cho Đức Phật. Đức Phật nhập Niết-bàn, cây chiên-đàn này liền diệt mất theo Đức Phật; vỏ và lá cây đều rụng, vị thần cũng chết theo luôn. Có các vị thần khác lấy cây thơm này đưa đến chỗ trà-tỳ để cúng dường một cách xót thương. Vùng đất ấy chính là chỗ trà-tỳ của chư Phật trong ba đời, đấng Đại Giác Thế Tôn nương theo lực bản nguyện cũng trà-tỳ ở chỗ này. Chỗ ấy có vô lượng ngôi tháp báu của chư Phật và các vị thuở xưa, đó là nơi vững chắc kim cương không thể hoại.

Lúc này, kim quan quý báu của đức Đại Thánh Như Lai dần dần bay đi giữa hư không đến chỗ trà-tỳ. Kim quan từ hư không hạ xuống an trí trên giường bằng bảy báu. Giường ấy dùng tất cả mọi thứ chuỗi ngọc anh lạc vô giá đẹp đẽ và đủ màu sắc sặc sỡ để trang nghiêm. Vào lúc ấy kim quan lại được quàn trải qua bảy ngày.

Bấy giờ, tất cả nam và nữ bên trong thành Câu-thi, vô số Bồ-tát, Thanh văn, hết thảy đại chúng ở Ba mươi ba cảnh trời, họ đau xót nghẹn ngào cầm các phướn lọng, cờ báu, hương và hoa đi theo kim quan Đức Phật trải qua bảy ngày. Nhờ sức thần thông của Đức Phật, tất cả hàng trời người không có ý tưởng đói khát, không suy nghĩ đến sự ăn uống gì cả, chỉ thấy họ nức nở buồn thương và quyến luyến Đức Như Lai. Đã trọn vẹn bảy ngày, đức Đại Thánh Như Lai sắp được thỉnh ra khỏi kim quan.

Lúc ấy, tất cả nam và nữ ở trong thành Câu-thi và vô số đại chúng lại hết sức đau xót nức nở làm chấn động thế giới. Họ lại cầm hương hoa, vô số cờ phướn, lọng, âm nhạc cõi trời vi diệu, đặt vào trước kim quan Đức Phật để cúng dường một cách buồn thảm nghẹn ngào. Khi ấy đại chúng đau xót cùng tận, nước mắt ròng ròng, mỗi người lấy vải bông màu trắng mịn màng để tự bao tay của mình với lòng tôn kính sâu nặng, từ trong kim quan báu, họ đỡ thân Như Lai sắc tía vàng óng, đủ ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp, là thân kim cương vững chắc không thể hoại, họ thỉnh Ngài ra một cách ung dung, rồi an trí trên giường bảy báu.

Bấy giờ, lại một lần nữa đại chúng vô cùng buồn thảm, tiếng kêu làm chấn động mười phương, cùng khắp thế giới của Phật. Tất cả cầm hương hoa, tơ lụa, lọng tàn, âm nhạc để cúng dường với tấm lòng thâm thiết. Họ đặt các thứ trước Đức Như Lai với nỗi sầu muộn tuyệt vọng, nghẹn ngào.

Khi ấy đại chúng lại buồn thảm nức nở, nước mắt ràn rụa, mỗi người cầm vô số nước thơm, hương sáp, với lòng cung kính sâu sắc, họ tưới rửa từ đầu đến chân của Đức Như Lai đủ ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp, vô lượng phước đức và trí tuệ trang nghiêm, là sắc thân kim cương kiên cố, màu tía vàng óng, không thể hủy hoại. Họ lại rửa áo quan quý báu, vi diệu thanh tịnh. Việc tưới rửa đã xong xuôi, khi ấy đại chúng lại gào khóc òa, buồn thảm nghẹn ngào. Họ đốt hương thơm vi diệu và rải hoa bảy báu, vô số cờ phướn và lọng báu thảy đều đầy khắp mặt đất và hư không, để cúng dường Như Lai với vẻ buồn thảm và gào khóc. Khi ấy, đại chúng đều buồn bã nức nở, họ liền cầm vô số tơ lụa, bông Đâu-la đẹp đẽ quấn bọc sắc thân kim cương Như Lai từ đầu đến chân. Khi đã quấn thân thể xong, họ lại lấy một ngàn tấm vải bông màu trắng vô giá đẹp đẽ hạng nhất, rồi lần lượt dùng lụa quấn thân Như Lai từng lớp, từng lớp. Quấn vải vào thân xong xuôi, khi ấy đại chúng một lần nữa lại hết sức buồn thảm, gào khóc, sầu muộn và tuyệt vọng. Họ lại cầm hương, hoa, cờ, lọng, phướn báu, âm nhạc để cúng dường trong vẻ nghẹn ngào. Khi ấy, đại chúng buồn khóc, nước mắt tuôn trào, lòng cung kính sâu nặng. Mỗi người lấy vải bông màu trắng bao che tay, sụt sùi đau xót nghẹn ngào, họ cùng đỡ Đức Như Lai vào trong kim quan quý báu, rồi rót đầy dầu thơm, chẳng bao lâu đóng nắp kim quan lại.

Bấy giờ, đại chúng hết sức buồn thảm một lần nữa, tiếng gào làm rung chuyển thế giới. Họ lại cầm hương hoa, phướn, lọng, âm nhạc, khóc gào thảm thiết, xót đau nức nở, để cúng dường kim quan quý báu.

Lúc ấy, hết thảy gỗ thơm vi diệu mà đại chúng góp lại chất cao như núi Tu-di, mùi thơm ngào ngạt xông tỏa khắp thế giới, gỗ được xếp chi chít với nhau theo thứ lớp làm thành lầu hương thơm to lớn, bốn mặt được trang nghiêm bằng bảy báu, cờ, lọng, phướn, hoa, chuỗi ngọc anh lạc tơ lụa lẫn lộn nhiều màu sặc sỡ, đầy khắp hư không như mây dùng để trang nghiêm, âm nhạc của nhân gian và cõi trời cúng dường một cách buồn thảm. Khi ấy, đại chúng trời người sắp sửa nâng đỡ kim quan an trí trên lầu hương thơm, họ lại vô cùng đau xót, đấm ngực kêu lớn, tiếng gào làm chấn động đại thiên. Họ lại cầm phướn, lọng, hương, hoa, âm nhạc để cúng dường một cách buồn thảm. Lúc ấy, đại chúng thương tiếc, nỗi buồn se thắt, lòng cung kính sâu nặng, mỗi người lấy vải bông trắng để bao che tay, rồi cùng nhau nâng đỡ kim quan quý báu của đức Đại Thánh Như Lai, an trí lên trên lầu hương thơm đẹp đẽ trang nghiêm. Họ lại gào khóc òa, ngất đi rồi tỉnh lại, bèn xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay, sao mà chúng ta phải chịu trơ trọi và không có chỗ nương dựa cậy trông vậy!”. Với vẻ đau xót nghẹn ngào, đầm đìa nước mắt, họ lại rải hương hoa, cờ phướn và lọng báu, âm nhạc, tơ lụa lẫn lộn nhiều màu sặc sỡ, tất cả hết lòng cúng dường một cách bi ai.

Bấy giờ, kim quan quý báu của Đức Như Lai Đại Thánh đã ở trên lầu hương thơm quý báu vi diệu xong, định châm lửa trà-tỳ Như Lai. Khi ấy, đại chúng lại gào khóc lớn làm kinh động đại thiên thế giới. Họ lại cúng dường kim quan quý báu của đức Đại Thánh và lầu hương thơm vi diệu một cách đau xót sâu nặng.

Lúc này, hết thảy đại chúng khóc lóc thương xót, nước mắt ràn rụa; mỗi người cầm đuốc thơm bảy báu lớn như bánh xe, ánh lửa sáng ngời chiếu khắp thế giới. Cùng lúc, mọi người khóc òa khi mây sầu bao phủ trên lầu trà-tỳ, tiếng bi ai làm chấn động tất cả thế giới thuộc đại thiên. Họ lại đem hương và hoa để cúng dường đầy khắp.

Khi đuốc báu bén lửa đến chỗ lầu hương thơm thì tự nhiên tắt ngấm. Tất cả chư Thiên lại cầm đuốc lớn bằng bảy báu vô thượng, ánh lửa ngời sáng chiếu rọi khắp nơi, họ buồn thảm chảy nước mắt, ném đuốc vào chỗ lầu hương thơm song thảy đều tắt ngấm.

Bấy giờ, tất cả thần biển cầm đuốc lớn bảy báu thắp lửa trong biển với vô số ánh sáng cháy rực ném vào chỗ lầu hương thơm, song cũng đều tắt ngấm. Khi ấy đại chúng gào khóc một thời gian lâu và cúng dường tất cả, họ chẳng biết Đức Như Lai có duyên cớ gì chưa thành, mà khi quăng lửa vào lầu hương thơm để trà-tỳ nhưng không cháy. Bấy giờ, lòng đại bi của Đức Thế Tôn thấm nhuần khắp cả, chờ đợi chúng của Ca-diếp đến mới cháy ngọn lửa trà-tỳ. Khi ấy, Đại Cadiếp cùng với năm trăm người đệ tử ở tại núi Kỳ-xà-quật, cách thành Câu-thi năm mươi do-tuần, thân tâm vắng lặng nhập vào Tam-muội. Ở trong chánh thọ, bỗng nhiên trong lòng Tôn giả hốt hoảng, toàn thân run rẩy, xuất thiền định, thấy những núi non và mặt đất đều rung động mạnh, lập tức Tôn giả biết Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn, bèn bảo các đệ tử:

–Đức Phật của chúng ta là bậc Đại sư đã nhập Niết-bàn, hiện thời đã nhập liệm trong kim quan, trải qua bảy hôm rồi. Khổ thay! Khổ thay! Chúng ta hãy nên mau chóng đi đến chỗ Đức Như Lai, ta e rằng đã trà-tỳ, không thấy được sắc thân chân tịnh ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp của Đức Phật.

Do sự cung kính Đức Phật, cho nên Ca-diếp không dám bay giữa hư không để đến chỗ Đức Như Lai, liền dắt theo đệ tử tìm quãng đường đi nhanh. Họ đi nhanh với vẻ buồn thảm đúng bảy ngày, đến đầu đường khu vực thành phía Đông của thành Câu-thi, Ca-diếp gặp một người Bà-la-môn cầm một đóa hoa trời đi đến, Ca-diếp hỏi:

–Thưa nhân giả, ông từ đâu đến đây?

Người Bà-la-môn trả lời:

–Đức Phật Bát-niết-bàn, tôi ở chỗ trà-tỳ đến đây.

Ca-diếp lại hỏi:

–Đây là hoa gì?

Người Bà-la-môn trả lời:

–Tôi được đóa hoa trời này ở chỗ trà-tỳ.

Ca-diếp bèn xin hoa, song người Bà-la-môn trả lời:

–Không được, tôi mong mỏi mang hoa về, dự định bày tỏ cho sáu hạng thân thuộc họ hàng trong nhà cúng dường.

Ca-diếp bèn mượn hoa để cài lên đỉnh đầu của mình, lập tức lòng sầu muộn tuyệt vọng, hôn mê ngã nhào xuống đất, sụt sùi buồn tủi nghẹn ngào, một hồi lâu mới tỉnh lại, liền tự ngẫm nghĩ: “Ta gào khóc ở đây, chẳng thấy sắc thân màu tía và tám mươi vẻ đẹp của Đức Như Lai, thì truy tìm sự lợi ích chỗ nào?”. Tức thời, Tôn giả và đệ tử nhanh chóng cùng nhau tiến tới, họ đến cửa phía Bắc thành Câu-thi rồi đi vào. Ở trong thành ấy, họ đi vào một phố phường của sư Tăng, thấy các Tỳ-kheo tụ họp một chỗ, những người kia nói với Ca-diếp:

–Các ông từ phương xa đến khó nhọc lắm chăng? Xin ổn định chỗ ngồi để đợi dùng cơm.

Ca-diếp trả lời:

–Bậc Đại sư của tôi đã nhập Niết-bàn, tôi có tình ý nào mà yên ổn đợi chờ dùng cơm ở chỗ này.

Các vị Tỳ-kheo nói:

–Thầy của ông là ai?

Ca-diếp trả lời:

–Các ông chẳng biết chăng? Thảm thương thay! Đau đớn thay! Đức Đại Giác Thế Tôn nay đã Niết-bàn.

Các Tỳ-kheo nghe xong, ai nấy đều rất vui mừng mà nói lời thế này:

–Vui thay! Sướng thay! Như Lai ở đời ngăn cấm chúng ta bằng giới luật nghiêm ngặt, chúng ta không chịu đựng nổi, không thể y theo mà thực hành. Nay Như Lai đã Niết-bàn, giới cấm nghiêm ngặt theo đó hãy nên buông bỏ. Ông tạm chờ ăn cơm, có chuyện gì đâu mà gấp gáp.

Nhờ thần lực của Đức Phật, nên tai của chư Thiên và các đệ tử của Đại Ca-diếp bị bưng bít, các vị ấy thảy đều không nghe lời nói của Tỳ-kheo xấu ác, chỉ có một mình Ca-diếp nghe lời nói ấy. Ngay sau đó, Ca-diếp liền đem đệ tử vội vàng đi đến chỗ Đức Phật, họ buồn khóc nức nở, nước mắt đầm đìa. Lúc ấy, Ca-diếp và các đệ tử có chung sự suy nghĩ: “Làm thế nào chúng ta có được các lễ vật cúng dường, đem đến chỗ Đức Phật để cúng dường Như Lai”. Ca-diếp lại nói:

–Từ khi sinh ra và lớn lên ở trong thành này, ta xin đồ vật cúng dường cũng đều được đáp ứng.

Ca-diếp dắt các đệ tử lập tức đi vào trong thành lần lượt nói với mọi người để xin. Các vị xin được đầy đủ một ngàn tấm vải bông màu trắng đẹp đẽ, họ lại xin được vô số tơ lụa tinh xảo, lại được vô lượng hoa báu, hương nến, nước thơm, dầu thơm, cờ phướn và lọng báu, âm nhạc, đàn dây, chuỗi ngọc anh lạc, hàng tơ lụa lẫn lộn nhiều màu sặc sỡ, toàn bộ đều đầy đủ.

Ca-diếp và các đệ tử đau xót chảy nước mắt, lập tức họ mang các lễ vật đi mau ra khỏi cửa phía Tây của thành.

Bấy giờ, Ca-diếp liền nghe tiếng gào khóc nức nở buồn thảm của

tất cả đại chúng tại chỗ trà-tỳ, mọi người cùng hỏi Đế thích, rằng đã cúng dường Như Lai xong rồi, làm sao được ngọn lửa để đốt lầu hương thơm này mà trà-tỳ Đức Như Lai? Đế thích trả lời:

–Mọi người hãy tạm chờ đợi, Ma-ha Ca-diếp sẽ đến ngay bây giờ.

Đế thích nói chưa dứt lời, tất cả đại chúng đang ở trong nỗi đau thương liền trông thấy Ca-diếp cùng với các đệ tử tìm đường đến với vẻ buồn rầu. Mọi người liền ngừng buồn khóc, mở đường cho chúng Ca-diếp thuận tiện tiến bước vào, nhác trông kim quan Đức Phật từ xa, Ca-diếp và các đệ tử lễ bái cùng một lúc, họ gào khóc nghẹn ngào, sầu muộn ngất xỉu, ngã nhào xuống đất, tâm tán loạn mê man hồi lâu mới tỉnh lại, nước mắt ròng ròng không sao chịu nổi, Ca-diếp đi dần dần về phía trước, rồi hỏi đại chúng:

–Làm sao mở được kim quan của đấng Đại Thánh?

Đại chúng trả lời:

–Đức Phật nhập Niết-bàn đã trải qua mười bốn ngày, e rằng có sự tổn hoại thì làm sao mở được.

Ca-diếp đáp:

–Thân của Đức Như Lai là thân kim cương kiên cố, thường, lạc, ngã, tịnh, không thể tan nát hư hoại, hương đức hạnh thơm ngào ngạt dường như núi chiên-đàn.

Nói lời đó xong, Ca-diếp đến chỗ kim quan Đức Phật, nước mắt nước mũi tuôn ròng ròng.

Lúc này, lòng đại bi của Đức Như Lai bình đẳng, vì Ca-diếp nên kim quan tự nhiên mở ra, một ngàn tấm vải bông trắng và bông tơ Đâula đều mở bung ra ngay, lộ rõ sắc thân kiên cố màu tía vàng thật, đủ ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp. Ca-diếp và các đệ tử trông thấy rồi, lòng sầu muộn ngất xỉu ngã nhào xuống đất, nghẹn ngào thương tiếc, hồi lâu mới tỉnh lại, nước mắt đầm đìa. Ca-diếp cùng các đệ tử từ từ bước lên lầu Hương đến gần bên kim quan Đức Phật, lại nghẹn ngào, khóc lóc, bi thương. Tôn giả liền kết hoa thơm, cờ phướn, lọng báu, chuỗi ngọc cúng dường; trỗi các khúc nhạc bi ai khóc thương, quyến luyến. Tôn giả liền dùng hương bột, nước thơm tắm rửa thân sắc vàng ròng của Đức Như Lai, sau đó đốt hương, rải hoa cúng dường mà trong lòng không sao tránh khỏi xót thương rơi lệ. Tắm rửa xong, Cadiếp cùng các đệ tử dùng loại vải lụa mỏng quấn lấy thân sắc vàng ròng của Đức Như Lai. Tiếp đến, Tôn giả đặt lụa cũ ở bên ngoài lớp lụa mới. Quấn buộc lụa xong rồi, lại dùng vải trắng ngàn xấp, theo thứ tự chồng lên lớp vải lụa, bông mà quấn lấy thân Đức Như Lai. Sau đó, Tôn giả dùng vải trắng cũ đặt lên trên lớp vải trắng mới, theo thứ tự mà buộc lại. Buộc xong, nắp kim quan liền đóng lại, trang nghiêm bằng tất cả chuỗi ngọc bảy báu.

Bấy giờ, Tôn giả Ca-diếp lại một lần nữa cùng các đệ tử nhiễu quanh về bên phải bảy vòng, trong lòng đau buồn, lệ rơi đầm đìa, quỳ gối chắp tay buồn thương đọc kệ:

Buồn thay! Buồn thay! Đại Thánh Tôn!
Con nay trà-tỳ lòng đau xót
Thế Tôn diệt độ sao quá nhanh?
Thị tịch, không thể chờ con đến.
Ở nơi hang sâu ngồi thiền định
Quán khắp mọi nơi chẳng thấy Phật
Hồ nghi Phật đã vào Niết-bàn
Toàn thân chuyển động, lòng kinh hãi.
Mây đen vây bủa khắp thế gian
Sông núi, đất trời chấn động mạnh
Rõ biết Như Lai đã Niết-bàn
Con liền vội đến nhưng chẳng thấy.
Thế Tôn thương con nên chẳng nói
Khiến con chẳng thấy Phật diệt độ
Chẳng ban một lời dạy bảo con
Con nay cô độc, không chỗ nương?
Con nay đau khổ, thưa Thế Tôn!
Tâm trí rối bời, lòng đau xót
Cung kính đảnh lễ đầu Thế Tôn
Xót xa cúi lễ nơi phần ngực.
Cúi đầu lễ lạy tay của Ngài
Buồn đau làm lễ lưng Đại Thánh
Thành kính bái lạy rốn Đức Phật
Thành tâm chiêm bái chân của Ngài.
Buồn đau, chẳng thấy Phật Niết-bàn!
Xin nguyện dạy con chỗ kính lễ!
Như Lai tại thế chúng vui yên
Ngài vào Niết-bàn, chúng con khổ.
Thương thay! Thương thay! Khổ lớn thay!
Từ bi dạy bày chỗ kính lễ!

Bấy giờ, Ca-diếp nghẹn ngào bi ai nói bài kệ đó rồi, đức Đại Bi Thế Tôn liền hiện tướng “thiên bức luân” của đôi chân ló ra ngoài kim quan để Ca-diếp được nhìn thấy như trông thấy kim thân của Phật. Từ nơi tướng thiên bức luân phóng ra ngàn ánh sáng soi khắp tất cả thế giới mười phương. Khi ấy, Ca-diếp cùng các đệ tử đều nhìn thấy chân Đức Phật, cùng nhau đảnh lễ tướng thiên bức luân. Vì quá đau xót, Cadiếp té xỉu xuống đất, hôn mê bất tỉnh. Hồi lâu mới tỉnh lại, Tôn giả cùng các đệ tử buồn tủi, nghẹn ngào khóc lóc, nhiễu quanh bên phải bảy vòng. Sau khi nhiễu xong, lại đảnh lễ chân Đức Phật, tiếng khóc than thảm thiết chấn động cả thế giới. Tôn giả lại quỳ dưới chân Đức Phật nói kệ xót thương:

Đức Như Lai lòng từ cao cả
Tâm bình đẳng đối với chúng sinh
Chúng sinh có cảm ắt có ứng
Thị hiện ra tướng Thiên bức luân.
Nay con dốc lòng quy mạng lễ
Tướng Thiên bức luân của đôi chân
Tướng ấy phóng ra ngàn ánh sáng
Soi khắp các cõi Phật mười phương.
Nay con quy y, cúi đầu lễ
Ánh sáng tướng ấy chói sáng rực.
Chúng sinh trông thấy đều giải thoát
Ra khỏi tám nạn, cùng ba đường.
Con lại quy y, cúi đầu lễ
Đường ác được cứu nhờ Luân Quang
Thế Tôn, thuở xưa vô số kiếp
Đã vì chúng con tu khổ hạnh.
Nay chứng được thân sắc vàng ròng
Dưới chân phóng ngàn ánh hào quang
Bi ai cúi đầu quy mạng lễ
Chúng sinh an trụ nơi Thiên luân.
Phật tu mọi đức vì tất cả
Dưới cội Bồ-đề ngồi tu đạo
Hàng phục bốn ma và ngoại đạo
Chúng sinh nhân đây chánh kiến thành.
Cúi đầu lễ, ánh sáng nơi chân
Chúng sinh chánh kiến quy y Ngài
Phật là cha lành của tất cả
Ánh sáng bình đẳng độ chúng sinh.
Con lại quy y, cúi đầu lễ
Bình đẳng lìa khổ “Luân túc quang”
Con được nhìn thấy luân túc quang
Buồn vui lẫn lộn lòng đau xót.
Con lại bi ai cúi đầu lễ
Cảm tướng ánh sáng “Thiên bức luân”
Cúi đầu quy y ánh luân túc
Tu đạo cứu cánh, xuất thế gian.
Kính lễ chân người trời nương cậy
Ánh luân quang chiếu khắp ba cõi
Chúng sinh chưa được thoát cửa khổ
Đều quy mạng ánh luân túc quang.
Chúng con còn chìm trong luân hồi
Mà sao Như Lai đành Niết-bàn
Thương thay! Thương thay, những chúng sinh
Đêm dài không thấy “Luân túc quang”!
Thế Tôn từ bi, con hối lỗi!
Hiện ra ánh sáng Thiên bức luân
Thương thay, nay gặp “Luân quang tướng”
Từ đây bao giờ lại được nhìn?

Bấy giờ, Ca-diếp cùng các đệ tử nói bài kệ này rồi, lại một lần nữa đau buồn té xỉu xuống đất, hôn mê bất tỉnh, hồi lâu tỉnh lại, bi ai nghẹn ngào, chẳng thể kềm chế. Đôi chân kim cương với tướng thiên bức luân của đấng Đại Giác Thế Tôn tự thu trở vào kim quan và đóng kín lại như cũ.

Lúc ấy, tất cả nam nữ trong thành, đại chúng người trời thấy Đại Ca-diếp lại một lần nữa gào khóc, đấm ngực, kêu lớn bi thương chấn động vô lượng thế giới trong cõi đại thiên. Họ cung kính cúng dường với lòng xót xa vô hạn.

Bấy giờ, có bốn vị lực sĩ trong thành Câu-thi, trang nghiêm thân bằng chuỗi ngọc, cầm đuốc bảy báu lớn như bánh xe, ánh sáng rực rỡ soi khắp, đem đốt lầu hương trà-tỳ Như Lai. Đuốc ném vào lầu hương thì tự nhiên tắt ngấm. Tôn giả Ca-diếp bảo:

–Lửa của ba cõi chẳng thể đốt cháy được quan tài báu của đức Đại Thánh, huống gì sức của các ông mà có thể đốt được sao?

Trong thành có tám lực sĩ lại cầm đuốc lớn bằng bảy báu, ánh sáng rực rỡ, tất cả đem ném vào chỗ kim quan thì cũng đều tắt ngấm. Bên trong thành có mười sáu vị cực đại lực sĩ, họ đều cầm đuốc lớn bảy báu đến ném vào lầu hương thì cũng đều tắt ngấm. Bên trong thành cũng lại có ba mươi sáu vị cực đại lực sĩ, họ đều cầm đuốc lớn bằng bảy báu ném vào cũng đều tắt cả.

Lúc ấy, Ca-diếp bảo các lực sĩ và tất cả đại chúng:

–Các ông phải biết rằng, giả sử có đem lửa đuốc vốn cỏ của tất cả trời người cũng chẳng thể trà-tỳ được quan tài báu của Đức Như Lai. Các ông chẳng cần phải lao khổ, cố công làm gì?

Bấy giờ, nam nữ trong thành, đại chúng người trời lại một lần nữa bi ai gào khóc, họ đến cúng dường với tâm trạng đau buồn vô hạn, cùng nhau lễ bái, nhiễu quanh bên phải bảy vòng, tiếng gào khóc bi thương chấn động ba ngàn cõi. Khi ấy, Đức Như Lai dùng sức đại bi phát lửa từ trong buồng tim trào ra ngoài kim quan, dần dần trà-tỳ, trải qua bảy ngày đốt lầu hương vi diệu mới cháy hết.

Lúc này, nam nữ nội thành, đại chúng trời người, ở trong thời gian bảy ngày bi ai gào khóc, tiếng bi thương chẳng dứt. Họ đều đến cúng dường với tâm trạng đau buồn. Khi ấy, Tứ Thiên vương đều nghĩ: “Ta đem nước thơm rót vào lửa cho tắt để nhặt lấy xá-lợi đem lên trời cúng dường”. Nghĩ thế rồi họ liền mang bình vàng làm bằng bảy báu đựng đầy nước thơm, lại đem bốn cây hương tinh khiết tiết ra sữa ngọt ở ven bốn gốc núi Tu-di. Mỗi cây chu vi ngàn vòng, cao một trăm dotuần theo Tứ Thiên vương, đồng lúc hạ xuống chỗ trà-tỳ. Cây tuôn chảy sữa ngọt vào bình thơm. Sau đó, họ mang những bình thơm cùng một lúc tưới vào lửa. Tưới xong nhưng thế lửa càng bốc cao, không tắt. Khi ấy, thần biển Ta-già-la Long vương và các thần sông thấy lửa chẳng tắt đều nghĩ: “Ta đem nước thơm tưới vào lửa cho tắt, nhặt lấy xá-lợi đem về trụ xứ cúng dường”. Nghĩ thế rồi, họ đều mang bình bát đựng nước thơm nhiều không lường đến chỗ trà-tỳ, cùng một lúc tưới vào lửa. Tưới xong, lửa vẫn như cũ, đều cũng chẳng tắt.

Lúc ấy, Tôn giả Lâu-đậu nói với Tứ Thiên vương và thần biển v.v…:

–Các ông tưới nước thơm cho lửa tắt, phải chăng muốn lấy xá-lợi đem về chỗ ở của mình mà cúng dường?

Họ đáp:

–Thật vậy!

Tôn giả Lâu-đậu nói với Tứ Thiên vương:

–Lòng của các ông quá tham, các ông, người sống trên thiên cung, kẻ sống ở long cung, nếu xá-lợi do các ông cất giữ thì người sống tại nhân gian này làm sao lên trời hay xuống biển mà chiêm bái cúng dường?

Tôn giả lại nói với vị thần biển:

–Các ông ở tại biển cả, sông ngòi, nếu các ông thu lấy xá-lợi của Như Lai thì người ở trên mặt đất làm sao đến được mà cúng dường?

Bấy giờ, Tứ Thiên vương liền cùng nhau sám hối. Sau khi sám hối rồi, họ đều trở về Thiên cung. Khi ấy thần biển, thần sông, thần hồ ao v.v… đều cũng sám hối, đúng như lời nói vị Thánh. Sám hối rồi, họ đều trở về.

 

Phẩm 4: THÂN MÌNH ĐỨC THÁNH THẤM NHUẦN RỘNG LỚN

Bấy giờ, Đế thích đem bình bảy báu và các vật cúng dường đến

chỗ trà-tỳ thì lửa ấy, cùng một lúc tự nhiên tắt hết. Đế thích liền mở quan tài báu của Đức Như Lai, muốn thỉnh răng của Đức Phật. Tôn giả Lâu-đậu liền hỏi:

–Ông làm gì vậy?

Đế thích đáp:

–Muốn thỉnh răng Đức Phật đem về trời cúng dường!

Tôn giả Lâu-đậu nói:

–Chớ vội tự lấy! Hãy đợi đại chúng tụ tập đông đủ rồi cùng phân chia.

Đế thích nói:

–Đức Phật trước đã hứa cho tôi một cái xá-lợi răng, do đó khi tôi đến lửa liền tự tắt.

Đế thích nói lời đó xong liền mở quan tài, lấy xá-lợi răng ở hàm trên bên phải trong miệng Đức Phật, rồi liền trở về trên trời dựng tháp cúng dường. Lúc ấy, có hai La-sát nhanh chóng ẩn thân theo Đế thích mà mọi người đều chẳng thấy, trộm lấy xá-lợi một đôi răng của Đức Phật. Bấy giờ, bên trong thành, tất cả nam nữ, tất cả đại chúng cùng một lúc ai ai cũng muốn giành lấy xá-lợi. Tôn giả Lâu-đậu bảo:

–Đại chúng phải biết, hãy đợi thong thả, như Đức Phật đã nói, nên phải theo đúng như pháp mà cùng nhau phân chia cúng dường.

Bấy giờ, nam nữ trong thành, tất cả đại chúng chẳng nghe lời nói của Tôn giả Lâu-đậu, họ đều cầm lấy mâu giáo, cung tên, dao, kiếm, lưới, dây tơ v.v… tất cả đều tự trang bị khí cụ, muốn lấy xá-lợi. Khi ấy, mọi người trong thành liền mở kim quan Đức Phật thì lụa, vải trắng còn y nguyên chẳng cháy. Đại chúng thấy rồi, lại gào khóc lớn, rơi lệ đầm đìa, đem đồ cúng mang theo bi ai cúng dường, hết lòng lễ bái, rơi nước mắt, quỳ dài, đồng nói kệ khen:

Như Lai dùng sức đại tự tại
Tự tại trong các pháp thế gian
Bản nguyện đại bi ở Ta-bà
Châu toàn biển khổ độ chúng sinh.
Vô lượng trí tuệ, lực thần thông
Ra khỏi sinh tử không ngăn ngại
Thường dùng một thể phân nhiều thân
Phân thân biến hóa nhiều không lường.
Hiện thần biến tướng khắp mọi nơi
Mãn duyên thị hiện tướng Niết-bàn
Chúng con phước mọn không được gặp
Như Lai kim sắc vào Niết-bàn.
Tại rừng Ta-la trong bảo quan
Dù đại lực sĩ khiêng chẳng nổi
Phật vận bi tâm nâng bổng lên
Bay vút trên không cao vời vợi.
Trụ ở trên không thành Câu-thi
Bảy ngày Đại Thánh đi bảy vòng
Nhiễu quanh xong, đến nơi trà-tỳ
Sức thần vời vợi của riêng Phật
Tất cả trời người không thể sánh.
Phật nay an trụ trong Niết-bàn.
Sức tự tại Kim cương bất hoại
Mọi lửa trà-tỳ chẳng thiêu cháy.
Tự ở trong tim phát lửa từ
Cháy suốt bảy ngày mới thiêu hết.
Lửa này người trời dập chẳng tắt
Do sức đại bi Thế Tôn hiện.
Khi Đế thích đến lửa liền tắt
Lụa Đâu-la mịn mỏng quấn thân
Mọi lửa thế gian đều chẳng cháy
Vải trắng liệm theo trong bảo quan.
Vẫn còn nguyên vẹn chẳng cháy xém
Mới biết sức tự tại Thế Tôn
Các pháp thế gian chẳng chi phối
Bậc tôn quý nhất trong ba cõi.
Kính lễ Đấng Vô úy trong Thánh,
Kính lễ Đại từ che khắp cùng
Kính lễ đấng Tự Tại thần biến
Chúng con từ nay xa Thế Tôn.
Chết khổ không thấy người cứu hộ
Thương thay! Thương thay! Đại Thánh Tôn
Hôm nay vĩnh biệt bao giờ gặp!

Bấy giờ, đại chúng nói kệ đó rồi, lại một lần nữa buồn khóc, cùng nhau đến cúng dường với tâm trạng đau buồn vô hạn. Khi ấy, Tôn giả Lâu-đậu vì khắp tất cả đại chúng trời, người cùng với người trong thành đều tụ tập tại chỗ kim quan Đức Phật, từ từ bóc dỡ vải trắng và lụa Đâu-la. Vải trắng ngàn thếp của Tôn giả Ca-diếp và đệ tử, lửa chẳng đốt cháy. Vải trắng ngàn thếp của người trong thành thì trừ một lớp bên ngoài ra, phần còn lại là tàn tro. Lụa Đâu-la thì y nguyên như cũ. Lúc ấy, Tôn giả Lâu-đậu lấy vải trắng và lụa Đâu-la xé nhỏ phân chia cho đại chúng khiến họ dựng tháp mà cúng dường. Tôn giả Lâu-đậu lại lấy tro vải trắng chia đều cho mọi người, khiến xây tháp cúng dường. Còn những thứ tro tàn khác không được phan chia nữa, mọi người đều tự lấy và xây tháp cúng dường. Người trong thành ấy, trước tiên sai thợ làm tám cái lọ bằng vàng, tám tòa ngồi sư tử. Tất cả đều dùng bảy báu mà trang nghiêm. Trong lọ bảy báu ấy chưá được một hộc, đều đặt trên tòa sư tử bảy báu. Tám tòa sư tử bảy báu ấy, mỗi tòa đều có ba mươi hai lực sĩ. Trên thân của họ trang nghiêm bằng chuỗi ngọc bảy báu và lụa đủ màu. Họ cùng nhau nâng đỡ tám tòa sư tử bảy báu. Trên mỗi tòa lại có tám thể nữ, thân trang nghiêm bằng chuỗi ngọc cầm lọng bảy báu che trên lọ vàng. Trên mỗi tòa lại đều có tám thể nữ, thân trang nghiêm bằng chuỗi ngọc, mang kiếm bảy báu hộ vệ lọ bảy báu. Trên mỗi tòa lại có tám thể nữ, thân trang nghiêm bằng chuỗi ngọc cầm cờ tiết bằng lông trĩ dựng bốn mặt của lọ vàng. Mỗi tòa đều có dân chúng nhiều không lường, mang âm nhạc cực hay, cờ báu, phướn báu, lọng báu, hoa thơm, chuỗi ngọc v.v… vây quanh cúng dường. Mỗi tòa lại có vô số dân chúng, họ đều mang cung tên, mâu giáo, lưới trận, câu liêm dài v.v… tất cả dụng cụ chiến tranh mà vây quanh, từ thành Câu-thi vây quanh hướng về chỗ trà-tỳ. Tám tòa sư tử bảy báu ấy ra khỏi thành, họ đi theo sau. Dân chúng trong thành liền mang vô số đất thơm, nước thơm theo sau lực sĩ sửa sang đường đi bằng phẳng, tạo thành con đường đất thơm rộng rãi, trang nghiêm hướng tới chỗ trà-tỳ. Hai bên lề con đường ấy được trang nghiêm bằng vô số cờ phướn, lọng báu, hoa thơm, trân châu, chuỗi ngọc và mọi thứ lụa cực tốt đủ màu và âm nhạc, đàn ca v.v… Họ bày tỏ lòng cúng dường, đón chờ xem xá-lợi của đấng Đại Thánh trở về. Những lực sĩ ấy mang tám tòa sư tử bảy báu vây quanh, đi đến chỗ trà-tỳ, liền bi ai gào khóc nghẹn ngào, tiếng chấn động cõi đại thiên. Họ đều đem đồ mang theo hết lòng cúng dường.

Lúc này, Đức Thế Tôn do sức đại bi nên làm vỡ nát thân thể kim cương thành vụn xá-lợi, chỉ lưu lại bốn cái răng chẳng hề vỡ nát. Khi ấy, đại chúng đã nhìn thấy xá-lợi, lại một lần nữa bi ai, đem những đồ mang theo, rơi nước mắt cúng dường. Lúc ấy, Tôn giả Lâu-đậu cùng người trong thành than khóc nước mắt dầm dề, nhặt lấy xá-lợi để vào trong lọ bảy báu, đặt trên tòa sư tử. Mọi người đựng đầy tám lọ vàng thì xá-lợi cũng vừa hết. Khi ấy, tất cả đại chúng trời người thấy xá-lợi Đức Phật trong lọ vàng, lại một lần nữa khóc lóc, bi thương, rơi lệ. Họ đến cúng dường với tâm trạng đau buồn vô hạn. Lúc ấy, các đại lực sĩ và nam nữ trong thành muốn đem những lọ vàng đựng xá-lợi Đức Phật hướng đến thành Câu-thi, đại chúng lại một lần nữa bi ai, đều đem đồ mang theo rơi nước mắt cúng dường. Bấy giờ, các đại lực sĩ và dân chúng vây quanh, cùng dân chúng nội thành buồn nghẹn ngào rơi nước mắt, nâng tám tòa sư tử bảy báu theo con đường đất thơm trở về thành Câu-thi. Tất cả đại chúng trời, người lại rất bi thương, than khóc chấn động đến cả thế giới. Họ đi đến chỗ thờ xá-lợi mà khóc thương cúng dường. Xá-lợi của Đức Như Lai khi đưa vào thành, được đặt ở ngã tư đường cái. Bấy giờ, mọi người của thành Câu-thi chuẩn bị binh mã chỉnh tề cùng với vô số quần thần, thân mặc giáp đồng, tay cầm chiến cụ, tuần nhiễu giáp vòng bốn mặt của thành Câu-thi. Binh sĩ lớp lớp nhiều vô số đứng gác ngoài cửa, đề phòng người ngoài đến cướp lấy xá-lợi. Tuy ngoài hình thức là như vậy, nhưng lòng không hề khởi ý niệm chiến tranh. Lại có năm trăm đại chú thuật sư giữ bốn cửa thành ngăn chặn hoạn nạn. Lại có vô số cờ phướn, lọng báu, cờ tiết lớn bằng lông trĩ vi diệu trang nghiêm ở bốn góc thành, thanh tịnh cúng dường, làm nghi thức tiêu biểu vậy. Khi ấy, tất cả nam nữ trong thành, đại chúng trời, người lại rất bi ai, đều đem đồ mang theo hết lòng cúng dường. Lọ báu xá-lợi đặt trên tòa sư tử trải qua bảy ngày. Trong suốt bảy ngày, tất cả đại chúng đêm ngày, tiếng bi ai gào khóc thảm thiết, đem hết đồ mang theo hết lòng cúng dường. Tám tòa sư tử bảy báu ấy, mỗi tòa có năm trăm đại chú thuật sư cùng nhau gìn giữ, ngăn chặn trời, rồng, Dạ-xoa, quỷ thần đến lừa đoạt lấy. Trong thời gian bảy ngày, bấy giờ, quyến thuộc cùng chung huyết thống của Đức Như Lai, những người dòng họ Thích, vua nước Ca-tỳ-la, do thần lực Đức Phật nên họ đều chẳng biết Đức Phật vào Niết-bàn. Đức Phật Niết-bàn sau hai mươi mốt ngày rồi, họ mới biết. Những người dòng họ Thích vua nước ấy khóc lóc bi thương liền cùng nhau mau chóng đi đến thành Câu-thi. Nhìn thấy những binh chúng vô số trăm ngàn người vây quanh bên ngoài thành, lại thấy cờ phướn, lọng báu bày la liệt bốn phía thành, ánh sáng bao trùm khắp cõi nước, lại thấy đại chú thuật sư giữ bốn cửa thành, vua và những người dòng họ Thích hỏi vị Chú sư:

–Đức Phật Niết-bàn rồi sao?

Họ đáp:

–Đức Phật Niết-bàn đến nay đã qua hai mươi tám ngày rồi! Tràtỳ đã xong, sắp phân chia xá-lợi!

Nhà vua nói:

–Chúng ta là bà con của Đức Phật. Do thần lực Đức Phật nên khiến cho chúng ta chẳng biết Đức Như Lai Niết-bàn. Chúng ta nay muốn thấy xá-lợi của Đức Như Lai, các ông nên mở đường cho chúng ta được vào!

Các vị Chú sư và binh chúng nghe rồi, liền cho phép vào thành. Vua và những người họ Thích được vào thành rồi, thấy xá-lợi Đức Phật ở trên tòa sư tử thì nghẹn ngào khóc thương, nước mắt đầm đìa, nhiễu quanh bên phải bảy vòng. Nhiễu quanh bảy vòng rồi, họ lau nước mắt mà nói:

–Chúng ta, hôm nay muốn thỉnh một phần xá-lợi của Đức Như Lai đem về nước cúng dường!

Đại chúng đáp:

–Tuy biết các ông là quyến thuộc dòng họ Thích, nhưng Đức Phật Thế Tôn trước đã có nói về việc phân bố xá-lợi mà chưa thấy đề cập đến các ông. Xá-lợi đều có chủ thỉnh cả rồi, các ông làm sao thỉnh được? Nên trở về vậy.

Khi ấy, Vua và những người dòng họ Thích thỉnh xá-lợi chẳng kết quả, gào khóc bi ai, đau buồn ngất đi, ngã lăn ra đất, hồi lâu mới tỉnh lại, bi ai chẳng kềm chế được, nói với mọi người:

–Đức Như Lai Thế Tôn là dòng họ Thích của ta, thương xót các ông nên đến đây vào Niết-bàn. Các on g thấy có sự lấn lướt như thế nào mới chẳng chia cho ta một phần xá-lợi?

Nói lời đó xong, họ đều làm lễ xá-lợi, nhiễu quanh về bên phải bảy vòng, buồn khóc rơi lệ, rất phẫn hận, bùi ngùi thương tiếc trở về nhà.

Bấy giờ, vua A-xà-thế, chúa nước Ma-ca-đà. Sau khi sát hại phụ vương, sinh lòng hối hận sâu sắc, thân phát sinh ghẻ dữ. Ông đã gặp ánh sáng trăng từ ái của Đức Thế Tôn chạm vào thân, ghẻ dần dần lành. Ông đi đến chỗ Đức Phật ai cầu sám hối. Đức Thế Tôn đại bi liền dùng pháp dược cam lồ vi diệu rửa sạch ghẻ lở trên thân, tội rất nặng tiêu diệt, ông liền trở về bản cung, chẳng hay biết gì Đức Như Lai vào Niết-bàn. Vào đêm Đức Phật Niết-bàn, ông nằm mơ thấy mặt trăng lặn, từ dưới đất mặt trời mọc lên, tinh tú, mây mưa rối loạn mà rơi xuống. Lại có hơi khói từ đất bốc lên, thấy bảy sao chổi hiện lên ở trên trời. Lại mơ thấy ở trên trời có lửa lớn cháy rực khắp hư không, rồi cùng một lúc rơi xuống đất. Mơ rồi liền tỉnh dậy, lòng rất kinh hãi run sợ, vua liền triệu các bề tôi đến, nói đầy đủ giấc mơ ấy và hỏi giấc mơ này có tốt lành không. Bề tôi tâu:

–Đó là tướng điềm chẳng lành báo Đức Phật vào Niết-bàn. Sau khi Đức Phật diệt độ thì chúng sinh ba cõi, loài có thức trong sáu đường bị phiền não hoành hành khởi lên nên bệ hạ thấy lửa lớn từ trên trời rơi xuống đất. Đức Phật vào diệt độ thì ánh sáng từ ái của trăng, mây tuệ thấm nhuần khắp đều diệt mất hết, tức là bệ hạ mơ thấy trăng lặn. Sao rơi xuống đất là sau khi Đức Phật Niết-bàn, tám vạn luật nghi, tất cả giới pháp bị chúng sinh làm trái, chẳng y theo lời dạy Đức Phật, làm theo tà pháp, bị đọa vào địa ngục. Mặt trời mọc từ đất là sau khi Đức Phật Niết-bàn, cõi ác nơi ba đường khổ tụ lại như ánh mặt trời xuất hiện thế gian, nên bệ hạ ứng cảm giấc mơ ấy.

Nhà vua nghe lời nói đó, liền đem các bề tôi, ngay lúc nửa đêm, đi đến thành Câu-thi. Thấy vô số bốn binh chúng phòng vệ thành Câuthi nhiều không lường, lại thấy ở cửa thành có chú thuật sư phòng hoạn nạn bên ngoài, nhà vua liền hỏi vị Chú sư:

–Đức Phật vào Niết-bàn rồi sao?

Vị Chú sư đáp:

–Đức Phật vào Niết-bàn đã trải qua hai mươi mốt ngày. Hôm nay đại chúng sẽ đem xá-lợi phân chia.

Nhà vua nói:

–Đức Phật vào Niết-bàn, chúng ta đều chẳng biết. Ta ở trong mơ thấy việc chẳng lành, rồi đem hỏi các bề tôi thì mới biết Đức Như Lai vào Đại Niết-bàn. Ta muốn vào thành lễ bái xá-lợi kim cương của Đức Như Lai. Các ông hãy cho thông đường!

Các vị Chú sư nghe rồi liền cho phép tiến vào phía trước. Khi đến bên trong thành, giữa ngã tư đường lớn, thấy lọ vàng xá-lợi ở trên tòa sư tử, lại nhìn thấy đại chúng bi ai cúng dường, nhà vua cùng với đồ chúng cùng lễ lạy một lúc, buồn khóc, rơi lệ, nhiễu quanh bên phải bảy vòng, buồn thảm cúng dường. Bấy giờ, nhà vua đến chỗ đại chúng cầu xin một phần xá-lợi của Đức Như Lai để trở về nước cúng dường. Đại chúng đáp:

–Sao đến muộn vậy? Đức Phật trước đã nói phép phân bố. Xá-lợi đều đã có chủ thỉnh cả rồi, không có phần của đại vương! Đại vương nên trở về cung.

Vua A-xà-thế thỉnh xá-lợi không được kết quả, ưu sầu chẳng vui liền làm lễ xá-lợi, rồi buồn bã trở về.

Bấy giờ, vua danh tiếng Tỳ-ly ngoại đạo, Đức Phật Niết-bàn sau hai mươi mốt ngày qua, khi ấy mới biết, liền đem theo bề tôi vội vàng đi đến thành Câu-thi. Đến thành Câu-thi, nhà vua thấy vô số binh chúng vây quanh lớp lớp nhiều không lường để phòng vệ thành Câuthi. Bấy giờ, vua A-lặc-già-la, Đức Phật Niết-bàn sau hai mươi mốt ngày qua, khi ấy mới biết, liền cùng bề tôi vội vàng đi đến thành Câuthi. Đã đến thành Câu-thi, nhà vua thấy vô số bốn binh chúng vây quanh lớp lớp nhiều không lường để phòng vệ thành Câu-thi. Lúc ấy, vua Tỳ-nậu-đội-bất-úy, Đức Phật vào Niết-bàn hai mươi mốt ngày qua mới biết v.v… Bấy giờ, quốc vương Giá-la-già-la, Đức Phật vào Niếtbàn qua hai mươi mốt ngày rồi mới biết v.v… Vua Sư-già-na, Đức Phật vào Niết-bàn qua hai mươi mốt ngày rồi, khi ấy mới biết v.v… Lúc ấy, vua danh tiếng ngoại đạo Ba-mi-la, Đức Phật vào Niết-bàn qua hai mươi mốt ngày rồi mới biết, liền đem theo bề tôi vội vàng đi đến thành Câu-thi. Đã đến thành Câu-thi, thấy vô số bốn binh chúng vây quanh lớp lớp nhiều không lường để phòng vệ thành Câu-thi, lại thấy cửa thành có Đại Chú sư phòng ngừa nạn bên ngoài, nhà vua hỏi Chú sư:

–Đức Phật vào Niết-bàn rồi sao?

Chú sư đáp:

–Đức Phật Niết-bàn đến nay đã qua hai mươi tám ngày rồi! Hôm nay đại chúng sắp đem xá-lợi phân chia.

Nhà vua nói với Chú sư:

–Đức Phật vào Niết-bàn, chúng ta đều chẳng biết nên nay đến trễ. Ta muốn vào thành lễ bái cúng dường xá-lợi của Đức Như Lai, xin các ông hãy mở đường cho.

Vị Chú sư nghe xong liền cho phép đoàn của vua tiến vào phía trước. Đến ngã tư đường lớn, thấy trên tòa sư tử bảy báu trang nghiêm, an trí lọ vàng bảy báu đựng xá-lợi, lại thấy đại chúng bi ai cúng dường, nhà vua dẫn chúng tùy tùng đến, đồng loạt lễ bái, bi ai, rơi lệ, nhiễu quanh bên phải bảy vòng, đảnh lễ cúng dường mà lòng buồn đau vô hạn. Nhà vua nói với đại chúng:

–Đức Phật vào Niết-bàn, chúng ta đều chẳng biết. Khổ thay, sao chỉ một lần mà chẳng được thấy Đức Phật! Xin đại chúng cho ta một phần xá-lợi đem về nước cúng dường.

Đại chúng nói:

–Sao nhà vua đến trễ thế? Đức Phật trước đã nói ra phép tắc phân bố xá-lợi rồi. Xá-lợi hiện nay đều đã có chủ thỉnh rồi! Không có phần của bệ hạ! Bệ hạ nên trở về cung.

Nhà vua và thần dân không thỉnh được xá-lợi, ưu sầu chẳng vui, liền làm lễ xá-lợi, trong lòng lưu luyến mà trở về. Bấy giờ, các vị Bồtát, chúng Thanh văn, trời, người, rồng, quỷ, quốc vương, trưởng giả, đại thần, dân chúng v.v… tất cả đại chúng bi thương khóc lóc, đấm ngực gào to, năm vóc gieo xuống đất làm lễ mà lui ra.