Bài Viết Lưu Trữ

Truyện Dài

Truyện Tích Phật Giáo
Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

1- A La Hán ăn mày

Giáo pháp của Đức Phật vô cùng bình đẳng, không có sự chênh lệch giai cấp, không có sự sai biệt giàu nghèo.

Lúc Đức Phật thuyết pháp tại Kỳ Viên tinh xá, đến bữa ăn là phải ôm bát ra ngoài hành hóa. Lúc Ngài khất thực, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, khôn ngu, đẹp xấu, Ngài xem tất cả đều bình đẳng khiến cho nhà nào cũng có được cơ hội gieo trồng hạt giống phúc đức.

Mỗi khi Đức Phật dẫn đầu đoàn đệ tử đến thành Xá Vệ khất thực, thì sau lưng Ngài có rất nhiều người ăn mày đi theo. Nhờ uy đức của Đức Phật, họ cũng được mọi người phát tâm từ bi bố thí.

Thời gian chầm chậm trôi qua, những người hành khất trong thành Xá Vệ nhờ thế mà kéo dài được mạng sống hạ tiện của họ. Có một hôm, người đầu sỏ trong đám ăn mày ấy nói với đồng bạn rằng :

– Chúng ta thuộc về hạng chúng sinh bị tội khổ, tuy nương dựa vào ánh sáng từ bi của Đức Phật để được mọi người bố thí mà kéo dài mạng sống, nhưng cứ tiếp tục như thế này mãi chẳng bao giờ đi tới đâu. Tôi thiết nghĩ rằng, hay là tất cả mọi người trong bọn chúng ta kéo nhau đến chỗ của đức người xin xuất gia, y Pháp mà tu hành, tương lai không phải là được giải thoát cả hay sao? Các bạn nghĩ như thế nào?

Tất cả mọi người trong đám ăn mày đều tán thành ý kiến này, thế là họ kéo nhau đến Kỳ Viên tinh xá , cầu xin Đđức Phật cho họ xuất gia để tiêu trừ tội khổ.

Đức Phật nói:

– Pháp của ta bình đẳng, bất kể kẻ trí hay người ngu, người sang hay kẻ hèn, ai cũng có thể được truyền trao giáo pháp, được pháp quang chiếu dọi. Pháp của ta là pháp thanh tịnh, người tốt hay xấu ai cũng có thể bỏ sự Ô uế để được trong sạch, hồi phục lại chân tính căn bản. Hôm nay cái ông xin xuất gia, đó là do thiện duyên của các ông, các ông chỉ cần tuân theo giáo pháp của ta thì ta cho phép các ông gia nhập tăng đoàn, thành những vị tỳ kheo.

Các vị hành khất nghe Đức Phật nói xong hết sức vui mừng, cạo hết râu tóc và khoác pháp y vào. Từ đó họ nỗ lực ra công, diệt trừ tham sân si trong tâm, hiểu rõ căn nguyên của sinh tử, nên có nhiều vị đã chứng được quả A La Hán.

Lúc Đức Phật cho phép đoàn người hành khất xuất gia, trong dân chúng có rất nhiều người nghi ngờ, vẫn còn ôm giữ tà kiến nên dùng lời oán than phản đối, cho rằng tăng đoàn vốn tôn quý thanh tịnh, không nên để cho bọn ăn mày ấy được phép gia nhập. Quan niệm giai cấp trong đầu những người này hãy còn rất nặng nề.

Có một hôm, thái tử Kỳ Đà làm một cỗ chay cúng dường Đức Phật và chư tăng, nhưng ông dặn rõ ràng rằng:

– Thế Tôn! Ngày mai con rất hoan hỉ mà cung thỉnh đức Phật và chư tăng đến nhà con thọ cúng, nhưng không có chỗ cho mấy ông tỳ kheo hành khất nọ, xin Thế Tôn đừng mang họ theo.

Ngày hôm sau, lúc lên đường đến nhà thái tử Kỳ Đà thọ cúng, Đức Phật nói với các vị tỳ kheo đã có thời làm hành khất nọ :

– Hôm nay ta nhận lời thỉnh của thái tử Kỳ Đà đến nhà ông ấy dùng cơm. Các ông hãy đi về phía bắc, đến nước Uất Đan Việt, hái thức ăn như lúa canh v.v… tới nhà thái tử Kỳ Đà rồi tùy ý tìm chỗ mà ngồi ăn.

Các vị tỳ kheo hành khất hiểu ý của Đức Phật, tuân lệnh lên đường. Họ dùng thần thông nên đến nước Uất ĐanViệt trong nháy mắt, hái đầy bình bát lúa canh đã chín mang về. Về tới chỗ, họ làm thành một nhóm 500 người, xếp hàng thành chữ “nhất”, từ không trung bay xuống, uy nghi, chỉnh tề, trang nghiêm, khiến ai nhìn thấy cũng phải tỏ lòng tôn kính tán thán. Khi họ đến cung điện của thái tử Kỳ Đà, 500 người theo thứ tự an nhiên ngồi xuống, mỗi người mở bát lấy lúa canh mang theo mà dùng.

Thái tử Kỳ Đà nhìn thấy các vị tỳ kheo này rất lấy làm lạ, bèn hỏi Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, các vị đại A La Hán mới từ không trung bay xuống, thái độ uy nghi lẫm lẫm khiến ai nhìn thấy cũng phải tôn kính ấy, chẳng hay từ đâu mà đến? Thỉnh Phật từ bi nói nhân duyên của họ cho con được biết.

Đức Phật nhìn đại chúng, nhìn sang thái tử Kỳ Đà rồi sau đó mới nói một cách ôn hòa:

– Thái tử Kỳ Đà! Ông hãy nghe ta nói: các vị tỳ kheo ấy chính là những vị tỳ kheo hành khất mà hôm qua ông nhất định không muốn cúng dường. Vì ông không mời họ nên hôm nay họ phải đến nước Uất ĐanViệt hái lúa canh đã chín mang về đây dùng.

Thái tử Kỳ Đà nghe thế lấy làm vô cùng xấu hổ, biết mình đã có lỗi khinh mạn và tà kiến, buồn rầu hối hận mà tự trách rằng:

– Con thật là ngu si, không biết đâu là thánh đâu là phàm, có mắt đứng trước núi Thái Sơn mà không thấy, thật là đáng tội!

Nói xong vội vàng bày bàn cỗ thức ăn, thỉnh 500 vị La Hán vào bàn rồi hỏi Đức Phật rằng:

– Bạch Thế Tôn, 500 vị La Hán được Phật giáo hóa không lâu đã chứng đắc quả vị, lìa khổ được vui. Đã được một phúc báo to lớn như thế, thì tại sao lúc ra đời lại sinh ra trong nhà hạ tiện? Thỉnh Thế Tôn từ bi khai thị cho con!

Đức Phật nắm lấy cơ hội này mà giảng giải cho đại chúng nghe:

– Ngày xưa thật là xưa, có một thế giới to lớn gấp bội lần thế giới hiện tại của chúng tạ Trong thế giới ấy có một quả núi cao, trên ấy có nhiều vị tu hành và tiên nhân tu đạo cư ngụ. Vì thế người ta bèn đặt tên cho quả núi ấy là Tiên Sơn.

Trong núi, lúc ấy có hơn 2 000 vị tu đạo sinh sống, vị nào cũng đã chứng quả thánh.

Có một năm, trời không mưa trong một thời gian rất lâu nên nạn hạn hán lan tràn, không có cách nào canh nông trồng trọt trên núi, vì thế đời sống trở nên vô cùng khó khăn. Vừa may có một nhà buôn cự phú tên là Tán Đàn Ninh, làm cỗ cúng dường hơn 2 000 vị thánh nói trên. Vị trưởng giả rất thành tâm, không hề có ý niệm lẫn tiếc nào, còn bảo mấy trăm gia nhân trong nhà phải mỗi ngày phục dịch hầu hạ các vị thánh nhân ấy. Ban đầu thì những gia nhân này làm việc hăng hái chăm chỉ, nhưng về sau họ đâm ra chán nản, thốt những lời trách oán, thái độ càng ngày càng lơ là, lười biếng. Nhưng trưởng giả Tán Đàn Ninh không hề hay biết gì về sự việc này.

Một hôm trời đổ mưa, nhà nông vui mừng như bắt được vàng. Hai ngàn vị thánh nhân lên núi trở lại lo việc làm ruộng, trưởng giả cũng bảo gia nhân bắt đầu gieo hạt. Mọi người lấy nông cụ ra, từ sáng đến tối ngoài đồng làm việc, lúa mạch, lúa mì, đậu, ngũ cốc v.v… không đâu là không có. Những gì họ khổ công gieo trồng mọc lên rất mau, chín vàng, ra quả to như quả dưa. Trưởng giả rất vui mừng, bảo họ phải cố gắng thêm, tưới tẩm thêm, bón phân thêm, đến lúc gặt hái thì thu hoạch càng thêm phong phú, kho vựa đầy ăm ắp. Chỗ còn dư thì đem chia cho mọi người và bố thí cho dân chúng trong nước.

Lúc ấy, những người đã phục dịch thánh chúng lúc trước cảm thấy ân hận, xấu hổ, biết lỗi của mình nên từ đó phát nguyện “mấy trăm người chúng ta đây, lúc trước đã tạo khẩu nghiệp, bây giờ biết sám hối sửa lỗi, từ bây giờ trở đi nguyện làm nhiều việc thiện, phụng sự người khác, cầu mong kiếp tới gặp được thánh hiền, tu hành giải thoát”.

Thái tử Kỳ Đà! Mấy trăm người làm công ấy, vì đã tạo khẩu nghiệp nên kiếp này phải chịu cái khổ sinh ra làm ăn mày. Nhưng nhờ biết hối lỗi, nên nửa quãng đời còn lại họ đã được gặp Phật. Trưởng giả Tán Đàn Ninh chính là ta trong kiếp trước. Nhờ những nhân duyên như thế nên kiếp này họ mới được độ.

Đức Phật nói xong, thái tử Kỳ Đà và những người cùng nghe đều hoan hỉ không kể xiết, tất cả đều phát tâm chuyên cần tu hành, sám hối tội lỗi, cầu được vô thượng Bồ Đề.

2- A La Hán gặp nạn

Ngày xưa ở nước Kế Tân,Tây Vực, có một vị cao tăng tên gọi là Ly Việt, lúc trẻ xuất gia, ở trong hang động trên một đỉnh núi hoang vắng học đạo, công phu tu hành thiền định rất chuyên cần, chứng được quả A La Hán và lục thần thông. Vì thế nên người người xa gần biết tiếng, tìm đến xin bái ngài làm sư phụ.

Dưới sự chỉ dẫn khéo léo và từ bi của ngài, đệ tử ngài cũng chứng quả A La Hán rất mau, chứng quả xong họ phân tán khắp nơi để lo việc hoằng pháp.

Tuy ngài Ly Việt đã chứng thánh quả nhưng vẫn không ngừng tinh cần tu trì, rất ít khi nghỉ ngơi. Một hôm có chút giờ nhàn rỗi, ngài mới nhân đó dọn dẹp hang động, chợt thấy tấm y màu xám mà ngài thường mặc đã theo thời gian mà ngả sang màu bạc trắng.

Không biết tại sao hôm ấy ngài lại nổi hứng lên núi hái rễ cỏ và vỏ cây làm thuốc nhuộm rồi đem tấm y trăm mảnh ra nhuộm lại. Bỏ tấm y trong nồi thuốc nhuộm rồi, ngài dùng một nhánh dương liễu khuấy nước để trộn thuốc nhuộm cho đều, thì quái lạ thay, tấm y bỗng dưng biến thành một tấm da trâu! Chưa hết, thuốc nhuộm trong nồi đang đen như mực, bỗng biến thành màu đỏ như máu, và mấy cái rễ cỏ vỏ cây lại biến thành những miếng thịt trâu. Quái dị hơn nữa là mùi thịt trâu còn bốc ra từ cái nồi đang sôi, khiến ngài cứ trố mắt ra nhìn một cách kinh ngạc.

Đúng lúc ấy một người nông phu từ chân núi chạy lên, thấy ngay miếng thịt trâu trong nồi, bèn la hét giận dữ:

– A, ông thật là to gan! Hôm nay ông khai giới sát nên mới đem con trâu của tôi ra giết phải không! Sáng sớm tôi dắt trâu lên núi ăn cỏ, mấy phút sau không thấy nó nữa, đi tìm khắp nơi mà tìm không ra, may mà có mùi thịt dẫn đường nên tôi mới tìm được tới đây! Thì ra là ông, một kẻ xuất gia, đã ăn trộm con trâu của tôi đem ra làm thịt! Bây giờ ông có gì nói để tự biện hộ không? Đi! Đi với tôi đến gặp vua ngay!

Người nông phu nóng nảy không chịu nghe lời phân trần, lôi Ly Việt xềnh xệch đi đến gặp vuạ Thời ấy không có toà án, không có pháp đình, dân chúng hễ có việc gì bất bình là kéo nhau đi gặp vua, nhờ vua phân xử.

Khi người nông phu kể lể hết sự tình cho vua nghe, vua bèn hỏi Ly Việt có lời nào biện bạch không? Chứng cớ đã rành rành ra đó, còn có gì để nói nữa, do đó vua xử Ly Việt ngồi tù 12 năm.

Mười hai năm, tức là bốn ngàn ba trăm tám chục ngày hơn chứ có phải ít đâu! Ly Việt La Hán trong suốt thời gian tù tội phải đảm nhiệm công việc quét dọn nhà lao và chùi rửa cầu xí cho sạch sẽ. Buổi tối, ngài dụng công chuyên cần tu thiền định, không bao giờ nằm xuống. Ngài từ bi nhẫn nại như thế nên đến cả mấy người cai ngục, người nào cũng hết sức cảm động.

Thời gian 12 năm tù đã mãn hạn, những người đệ tử ngày xưa tham thiền với ngài bỗng không hẹn mà cùng một lúc nhớ nghĩ đến sư phụ trong núi, tất cả bèn dùng thần thông quan sát, biết là sư phụ bị tù oan trong 12 năm trường.

Họ cưỡi gió bay về cung vua, trong không trung khua trống pháp để tỏ sự bất bình. Nhà vua nghe thế hết sức kinh ngạc, vội vàng tự tay phóng thích Ly Việt La Hán ra khỏi nhà giam.

Sau 12 năm tù đày, Ly Việt tóc thì dài râu thì trắng, nhưng khi ngài vừa bước chân ra khỏi cửa ngục thì râu tóc tự động rụng xuống đất, rồi còn bay lên không trung, biến hiện vô lượng hóa thân, mỗi hóa thân phóng ra ánh sáng rực rỡ. Thái độ an nhiên của ngài không giống một người mới được thả ra khỏi tù chút nào.

Lúc ấy, chư vị A La Hán muốn ra tay trừng phạt nhà vua làm việc không công minh, nhưng ngài Ly Việt ngăn lại:

– Các con không được ra tay, đây là nghiệp chướng của ta, không thể oán trách bất cứ ai khác.

Trong một kiếp quá khứ, ta là một người nông phu, có một con trâu đi lạc. Ta lên núi tìm nó, đi cùng hết núi tìm cũng không ra, mà lại gặp một vị xuất gia tu hành. Không suy nghĩ gì thêm, ta liền nghi ngờ chính vị này ăn cắp trâu của tạ Trong suốt 12 tiếng đồng hồ ngày hôm đó, trong tâm ta khởi đầy vọng niệm, ta muốn đuổi vị ấy ra khỏi núi, ta muốn bắt vị ấy đưa lên vua để vị ấy bị giam cầm vào ngục tối… Ta đã tạo nghiệp ác, khiến kiếp này phải bị 12 năm tù oan.

Giống như chuyện cho vay ăn lãi, thời gian càng lâu thì tiền lãi càng cao, quả báo ta phải bồi thường lên tới 8 000 lần số “nợ” ta đã mượn.

Ta chỉ hận tại sao lúc đó không làm gì ích lợi cho người khác, không phát tâm bố thí rộng rãi, có phải là kiếp này đã tiêu nghiệp chướng rồi không?

Các vị mới chứng quả A La Hán, nhà vua và đại thần nghe Ly Việt kể lại chuyện xưa như vậy, ai nấy đều tỉnh ngộ và đều hiểu rằng nguyên tắc nhân quả là một nguyên tắc bất di bất dịch, không một ai có thể đứng ngoài nguyên tắc này.

3- A Xà Thế sám hối

A Xà Thế đích sám hối (496)

Sau khi giết cha là vua Tần Bà Sa La rồi, một hôm A Xà Thế nằm mộng thấy cha về mỉm cười mà nói với ông rằng:

– A Xà Thế! Ta là cha của con. Tuy con đã giết ta, nhưng ta không oán hận con. Là đệ tử của Đức Phật nên ta nguyện dùng đức từ bi của Phật mà tha thứ cho con. Dầu sao con cũng đã là con của ta, nên ta chúc con một điều, chúc con sớm sám ngộ mà bước đi trên con đường ánh sáng.

A Xà Thế rất buồn, dầu sao cũng nghĩ đến lòng thương của cha, nghĩ đến việc mình đã giết cha một cách vô lý, ông cảm thấy vô cùng ân hận việc đã làm.

Có một hôm, vua A Xà Thế cùng mẹ là phu nhân Vi Đề Hi ngồi cùng bàn ăn cơm. Không thấy con trai của mình là Ưu Đà Gia vào bàn ăn, ông hỏi người thị tùng:

– Ưu Đà Gia đâu, kiếm nó về đây cùng ăn cơm…

Người hầu cận đáp rằng:

– Ưu Đà Gia đang nghịch với chó.

Khi người hầu cận gọi Ưu Đà Gia về, chú còn ôm một con chó nhỏ trong taỵ A Xà Thế hỏi con rằng:

– Tại sao con không ăn cơm?

Ưu Đà Gia nũng nịu trả lời:

– Không cho con ở chung với chó thì con không ăn cơm đâu!

A Xà Thế thành phải chìu ý con và tất cả cùng ăn cơm chung bàn. Sau một lúc, vua A Xà Thế nói với Vi Đề Hi phu nhân rằng :

– Vì thương con mà vua phải ăn cơm chung với chó, thật là khó coi!

Quốc thái phu nhân Vi Đề Hi trả lời:

– Ăn cơm chung với chó thì có chi là đặc biệt! Thiếu chi người ăn thịt chó nữa kià! Hiện nay vua thương con, chịu ngồi ăn chung với chó mà vua đã chua chát. Sự thật tiên vương, tức là phụ vương của vua, đối với vua còn làm nhiều chuyện khó làm hơn nữa, nhưng vua không biết đó thôi.

Lúc vua còn rất nhỏ, trên ngón tay có mọc nhọt, đau đớn vô cùng, làm cho vua đêm ngày không ngủ được. Tiên vương ôm vua đặt lên đầu gối, dùng miệng ngậm nhọt độc trên ngón tay cho vua bớt đau. Có khi, khí ấm trong miệng làm cho nhọt bể ra và chảy mủ, tiên vương sợ giấc ngủ của vua bị kinh động nên phải nuốt chỗ mủ ấy. Tiên vương thương vua như vậy đó, vì thương con nên đã làm những điều mà người khác không làm được.

Vua A Xà Thế nghe phu nhân Vi Đề Hi kể, yên lặng đặt chén cơm xuống, đứng dậy bước qua phòng bên cạnh. Từ đó trở đi, ông không còn cảm thấy làm vua là vinh quang và sung sướng nữa, trong tim ông dường như có một tảng đá thật lớn đang đè nặng.

Nghiệp báo của vua A Xà Thế hiện tiền, thân ông lại bị nổi mụn nhọt đầy người, tâm ông lại không lúc nào là không bị hối hận dày vò. Ông bèn nói với quần thần rằng :

– Bây giờ cả thân lẫn tâm của ta bị lâm bệnh nặng, nhất định là do cái tội mưu đồ giết hại cha mà ra, ai có thể chữa lành cho ta?

Giữa các đại thần có nhóm lục sư ngoại đạo Nguyệt Xưng, muốn an ủi vua nên dùng đủ thứ tà giáo để chứng minh rằng vì nước mà giết cha thì không có tội, nhưng vua A Xà Thế nghe họ nói không hề động tâm mà còn nặng thêm lòng hối hận. Lúc ấy có một vị danh y tên là Kỳ Bà bước lên khám bệnh cho vua, tâu rằng :

– Đại Vương, hiện giờ đại vương cảm thấy trong người như thế nào?

Vua A Xà Thế lắc đầu bảo rằng:

– Kỳ Bà! Bệnh của ta rất trầm trọng, không những thân ta mang bệnh mà bệnh khổ trong tâm cũng rất nặng. Ta nghĩ rằng ngay cả lương y, thuốc thần, chú thuật cũng đều không chữa lành cho ta được! Ngày đêm nằm trên giường ta ưu sầu khổ não, rên xiết kêu la, không tài nào nhắm mắt. Kỳ Bà! Tuy ông là bậc danh y trong thiên hạ, nhưng lần này ngay cả ông cũng sẽ phải bó tay thôi!

Kỳ Bà nói một cách trang trọng:

– Đại vương! Xin ngài đừng thất vọng bi thương như vậy. Hiện nay, trên thế giới này, ngoài Đức Phật ra, thần nghĩ rằng đúng là không có một người thứ hai có thể cứu bệnh cho đại vương.

Khi Kỳ Bà thốt lên những lời ấy, các tùy tùng của vua A Xà Thế đều biến sắc, họ rất sợ Kỳ Bà đã chọc giận vua. Nhưng lần này vua A Xà Thế không hề nổi giận, chỉ yên lặng nhắm mắt. Kỳ Bà quan sát biết được tâm của vua rồi, bèn nói tiếp:

– Đại Vương, thần là một thầy thuốc, thầy thuốc tuy có thể chữa bệnh của thân thể, nhưng tuyệt nhiên không chữa trị được bệnh của tâm. Đức Phật là vị y sĩ vô thượng, chỉ cần đại vương bằng lòng đến bái kiến Ngài, chắc chắn Ngài sẽ đón tiếp đại vương. Đức Phật giống như biển cả mênh mông, có thể dung nạp tất cả mọi dòng sông. Bệnh khổ của đại vương do tâm mà sinh, cần phải trị dứt bệnh căn của tâm, sau đó mới trị được bệnh cuả thân.

Vua A Xà Thế gật đầu nói rằng:

– Phải rồi Kỳ Bà, ông nói rất đúng. Ta cũng rất muốn bái kiến Đức Phật, song ta sợ Ngài sẽ không tiếp ta vì ta là người tội lỗi. Đó là chưa kể những gì ta đã làm với Đề Bà Đạt Đa… Ta rất có lỗi với Đức Phật…

Kỳ Bà biết được tâm của vua A Xà Thế ngay trong giờ phút ấy nên tiến thêm một bước nữa, nói rằng :

– Đại vương, thần nghe nói rằng ngay trong giây phút lâm chung, tiên vương đã tha tội cho đại vương rồi. Tiên vương là đệ tử của Đức Phật, đệ tử của Phật mà còn tha thứ cho đại vương, không lẽ một đấng đức độ viên mãn, tâm đại bi trùm khắp như Đức Phật mà lại không biết tha thứ sao?

Thần nghe Đức Phật thuyết giảng rằng, nếu có người tạo tội ác mà biết khởi tâm tàm quý, khẩn thiết chí thành sám hối trước Tam Bảo thì có thể tiêu trừ tội lỗi ấy được và nghiệp chướng cũng nhẹ đi. Tuy có một thời đại vương không hiểu luật nhân quả mà tạo nghiệp ác, nhưng nếu nhìn theo pháp môn tàm quý và sám hối của Đức Phật, thì đại vương vẫn có thể được cứu. Thần thấy nay đại vương đã có tâm tàm quý và sám hối thì đại vương đã bắt đầu bước đi trên một con đường mới rồi đó!

Thần lại đã từng nghe Đức Phật giảng rằng, người có trí huệ thì không dám tạo tội, nếu không cẩn thận mà tạo tội thì sau đó biết sám hối. Người ngu si là người tạo tội mà không hối cải, hay là tạo tội xong lại còn che dấu. Nếu đại vương đến được trước mặt Đức Phật để mà cáo bạch sám hối, nói rõ là sẽ không tái phạm nữa, thì ánh sáng từ bi của Ngài sẽ phù hộ che chở cho đại vương.

Đại vương, người trí không che dấu tội của mình. Đức Phật thường nói, làm người phải tin sâu nhân quả, tin chắc chắn rằng không ai thoát được nghiệp báo dẫu trong đường tơ kẽ tóc.

Trên thế giới này chỉ có siển đề là không thể cứu được, đại vương không phải là siển đề, thì chắc chắn là sẽ được Đức Phật cứu độ.

Lòng từ ái của Đức Phật vô lượng vô biên, tất cả chúng sinh đều được Ngài đoái hoài tới. Đức Phật không phân biệt kẻ oán người thân, kẻ thương người ghét, người giàu kẻ nghèo, kẻ sang người hèn. Ngài cứu độ tất cả mọi người một cách bình đẳng. Đức Phật cho phép ông Bạt Đề tôn quý xuất gia, thì cũng cho phép ông Ưu Ba Ly hạ tiện xuất gia. Đức Phật tiếp nhận sự cúng dường của phú ông Tu Đạt Đa trưởng giả, cũng không từ chối sự bố thí của kẻ bần cùng.

Đức Phật đã cảm hóa ngài Đại Ca Diếp vốn trốn tránh dục nhiễm gia nhập vào tăng đoàn, nhưng Ngài cũng đã dùng phương tiện khuyến hóa được một người đầy tham dục như Ngài Nan Đà và cho xuống tóc. Quỷ mẹ cùng Ương Quật Ma La, ai nghe tên cũng hãi hùng nhưng Đức Phật đã tìm đến họ để độ hóa. Đối với ai đi nữa, Đức Phật cũng coi họ như La Hầu La, xin đại vương không nên nghi ngại gì cả.

Thật ra nói lên những lời này thần rất e ngại, nhưng thần không thể không nói ra với đại vương. Bây giờ Đức Phật đang đưa các vị đệ tử của Ngài đến vườn lê của hạ thần và sẽ thuyết pháp nơi đó, xin đại vương hãy mau đến tham bái Ngài, xóa tan màn mây đen tối trong tâm và để chỗ cho bầu trời quang đãng sáng lạn. Đây là một cơ hội ngàn vàng, thần khẩn khoản xin đại vương đừng bỏ lỡ!

Vua A Xà Thế nghe xong, trong mắt phát ra những tia hy vọng lẫn hối hận, ông đáp:

– Nghe khanh nói trẫm rất vui mừng, vậy khanh hãy về chọn ngày lành tháng tốt, trẫm nhất quyết đến tham bái đức Phật để van cầu sám hối.

Kỳ Bà lắc đầu không đồng ý:

– Đại vương, trong giáo pháp của Đức Phật, không có những sự mê tín như ngày lành tháng tốt. Đức Phật thường dặn dò các vị đệ tử của Ngài rằng không nên bói toán, bốc quẻ hung kiết. Tu học chính pháp và hành động theo chính pháp thì ngày nào cũng lành và tháng nào cũng tốt cả. Tốt nhất là đại vương nên khởi hành ngay!

Vua A Xà Thế rất vui lòng, cho chuẩn bị thật nhiều phẩm vật cúng dường, và đưa một đại đội tùy tùng rầm rộ ào ạt hướng đến vườn lê của Kỳ Bà.

Nhưng trên đường đi, A Xà Thế bỗng cảm thấy lo sợ và bất an. Ông ra lệnh cho voi lớn kéo đoàn xe ngựa phải ngừng lại, nói với Kỳ Bà rằng:

– Kỳ Bà, ta nghĩ rằng Đức Phật đã lìa mọi nhiễm ô, Ngài có nhân cách thanh tịnh như trăng tròn. Tăng đoàn của Ngài toàn là những vị thánh nhân đã đoạn diệt phiền não. Một người như ta và Đề Bà Đại Đa đã phản nghịch Đức Phật, thì làm sao Ngài lại bằng lòng tiếp kiến một kẻ cực ác vô đạo như ta? Làm sao Ngài lại chịu đưa bàn tay cứu độ ra cho một kẻ tội lỗi như ta? Ta nghĩ hay là thôi vậy, chúng ta nên quay về!

Kỳ Bà nghiêm sắc mặt mà nói rằng:

– Tình của cha mẹ cho con cái vốn bình đẳng, nhưng phần lớn cha mẹ thường đặc biệt lo lắng cho những đứa con có bệnh. Từ bi của Đức Phật cũng bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, nhưng dối với người có tội, Ngài đặc biệt quan tâm hơn. Đối với siển đề Đức Phật còn thuyết chính pháp, đại vương không phải là siển đề thì lý do gì mà Đức Phật không từ bi cứu độ.

Vua A Xà Thế còn đang do dự, thì trong không trung bỗng nhiên có âm thanh vang lên:

– A Xà Thế, ta la Tần Bà Sa La phụ vương của con. Con hãy mau tin nghe theo lời của danh y Kỳ Bà, đến chỗ của Đức Phật mà van cầu sám hối. Ta muốn nói với con một điều, đèn pháp sắp tắt, thuyền pháp sắp chìm, cây pháp sắp gẫy, hoa pháp sắp tàn rồi. Mặt trời Phật có ngày lặn về Tây, Đức Phật sắp nhập Niết Bàn. Lúc ấy thì căn bệnh trầm trọng của con, ai sẽ cứu chữa? Tội nặng ngũ nghịch mà con đã phạm khiến cho trong không bao lâu nữa con sẽ đọa địa ngục. Ta thương con nên mới khuyên con hãy mau đến chỗ của Đức Phật mà cầu cứu. Trừ Đức Phật đại giác, đời đời kiếp kiếp không ai có thể độ con được!

A Xà Thế nghe được âm thanh từ ái của cha, đau khổ quá, ngã xuống đất bất tỉnh. Khi tỉnh dậy thì danh y Kỳ Bà dẫn ông xuống xe đến chỗ Đức Phật đang tĩnh tọa trong giảng đường.

Đức Phật ngồi ngay ngắn trên tòa sư tử, bốn bề có đệ tử vây quanh, ánh lửa sáng rực, hương khói cuồn cuộn bay, mọi người đang an tĩnh tọa thiền.

Vua A Xà Thế rửa chân bước vào giảng đường, Kỳ Bà đưa ông đến trước tòa của đức Phật, chắp hai tay trước ngực mà thưa rằng:

– Thế Tôn, thỉnh Ngài quán sát tâm con!

Đức Phật mở đôi mắt trong sáng ra, quay đầu lại hiền từ đáp rằng:

– Đại vương! Ông tới đúng lúc. Ta đợi ông đã lâu.

A Xà Thế kinh ngạc trước sự ưu ái của Đức Phật, vội vàng quỳ xuống, cúi đầu thật thấp nói một cách hổ thẹn:

– Thế Tôn từ bi! Con không xứng đáng, con là người cực ác vô đạo, nếu được Thế Tôn quát mắng con đã thấy vô cùng hạnh phúc, nay lại còn được Thế Tôn dùng lời từ ái như thế, con rất cảm kích!

Tâm đại bi của Thế Tôn không chừa một chúng sinh nào, hôm nay con mới được thấy tận mắt. Thế Tôn là bậc cha lành của chúng sinh chúng con, con rất hối hận đã sát hại người cha vô tội. Bây giờ thân tâm con bất an, nguyện Thế Tôn từ bi cứu vớt!

Đức Phật nhẹ nhàng nói:

– Trên thế gian có hai loại người có thể có hạnh phúc chân chính : một là người tu thiện pháp không tạo tội, hai là người tạo tội mà biết sám hối. Nay cơ duyên hối lỗi của đại vương đã thành thục. Trên đời này có ai là không phạm tội ? Biết lỗi thì sửa đổi, đó là cách cư xử của người tốt. Pháp môn của ta quảng đại vô biên, đại vương cứ luôn luôn sám hối là được.

Đại vương, tội lỗi vốn không có bản thể, vốn Không, huyễn, nếu tâm ý mà hết bám giữ thì tội lỗi cũng tiêu diệt. Hiểu rõ rằng tâm và tội bản thể là Không, không có thật, thì đó là sám hối một cách chân chính.

Từ nay đại vương hãy lấy chính pháp trị dân, đừng làm điều phi pháp nữa. Nên lấy đức cải hóa dân, đừng nên bạo tàn. Nếu đại vương nhân từ thì danh thơm tiếng tốt sẽ lan truyền bốn phương, đại vương sẽ được chúng sinh tôn kính, không muốn phục tùng cũng không được. Chuyện quá khứ đã qua rồi, chẳng còn gì để bàn cãi đến nữa. Từ nay trở đi, việc quan trọng là làm sao sửa đổi. Đại vương mà làm việc thiện thì sẽ được an ổn, sung sướng. Tiến thêm một bước nữa thì hãy học pháp môn Không trong của Phật đạo, chứng quả Không để giải thoát và được độ.

A Xà Thế nghe đức Phật giáo huấn rồi, cảm thấy đầy hy vọng và tin tưởng trong cuộc sống mới. Ông vô cùng hoan hỉ, tất cả mây đen mê vọng đã được quét sạch, quỳ trước bảo toà ông cảm động rơi nước mắt. “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán” (kẻ chơi bời phóng túng mà biết quay về thì còn quý hơn vàng), cuối cùng A Xà Thế quy y với đức Phật và đã được cứu độ.

4- Ác khẩu lưỡng thiệt

Ngày xưa có một ông trưởng giả rất giàu có, tiền muôn bạc triệu, tài sản xài suốt đời không hết, vợ lại vừa xinh đẹp vừa hiền đức, nên đã hạnh phúc ông lại càng hạnh phúc hơn. Nhưng niềm vui của ông ngắn ngủi, hạnh phúc thật vô thường, người ta chẳng thường nói “hoa không nở ba tháng, người không sướng ba năm” hay sao? Chẳng bao lâu sau, vị phú ông này từ từ bước vào hố thẳm của khổ đau. Không ai còn thấy ông với vẻ mặt hân hoan của những ngày hạnh phúc xưa nữa, tại sao vậy? Vì đứa con trai của ông mà ra cả.

Ông lập gia đình một thời gian lâu mới sinh được một đứa con trai, ngày đứa bé ra đời ông vui mừng không kể xiết. Nhưng bất hạnh thay, con ông mới oe oe chào đời là đã mắc bệnh nặng. Theo lời thầy thuốc chẩn bệnh thì đó là những mụn nhọt độc hại mọc trên da đứa bé khiến nó khóc cả ngày, thế mà danh y nào mời đến cũng đều lắc đầu chịu thuạ Vì thế mà nét mặt ông càng ngày càng ủ dột buồn rầu.

Tội nghiệp đứa bé, rất nhiều thầy thuốc đã bó tay rồi, nó chỉ còn biết đêm ngày khóc la kêu đau, cuộc sống thật là khổ sở.

Tiếng khóc gào rên rỉ của nó làm náo động tới làng xóm, nên người ta đặt tên cho nó là thằng “Khóc Gào”. Ngày qua như nước trôi, cuốn đi những năm tháng thơ ấu của Khóc Gào, chẳng bao lâu cậu đã lớn khôn, nhưng bệnh tật trên người thì vẫn chẳng hề bớt chút nào, đêm ngày cậu vẫn đau đớn, ai nghe tiếng rên khóc của cậu cũng phải buồn cho cậu. Gần nhà cậu có một ông hàng xóm già, nghe tiếng rên la đau đớn của Khóc Gào, trong lòng thấy bất nhẫn, bèn tìm đến nhà cậu thăm hỏi và nói với cậu rằng :

– Tôi nghe rất nhiều người về khen ngợi tán thán rằng tại Kỳ Viên Tinh Xá có một vị Đại Y Vương, bệnh trên thân hoặc bệnh trong tâm của chúng ta Ngài đều có thể chữa trị được hết. Ngài có phương tiện thần thông nhiệm mầu, bệnh của cậu có trầm trọng đến đâu cũng sẽ tức khắc lành, cậu nên mau mau tìm đến Ngài cầu xin chữa bệnh.

Khóc Gào nghe người hàng xóm nói thế, vui mừng vô kể, vội mang tấm thân bệnh hoạn tìm đến Kỳ Viên Tinh Xá xin được gặp Đức Phật.

Khi Khóc Gào nhìn thấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và thân của Phật uy nghi sáng chói, cậu hân hoan tán thán ngaỵ Những đau đớn khổ não của cậu giảm thiểu đi rất nhiều, lập tức gieo năm vóc xuống đất lễ bái Đức Phật.

Đức Phật từ bi chưa từng bỏ rơi bất cứ chúng sinh bệnh khổ nào, nên khi thấy Khóc Gào tới, Ngài rất hoan hỉ, bèn tuyên thuyết cho cậu những pháp môn thù thắng có năng lực diệt trừ tất cả mọi khổ não. Khóc Gào nghe Đức Phật thuyết pháp xong bèn sám hối tội lỗi. Lúc ấy nhọt độc đã hành hạ cậu trên mười năm qua lập tức tan biến, bệnh khổ của cậu hoàn toàn được tiêu trừ nên tâm cậu sinh khởi niềm cung kính hoan hỉ chân thành, cậu bèn cầu xin Đức Phật cho phép cậu được xuất gia làm tỳ kheo. Cậu tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu đắc quả A La Hán.

Các vị tỳ kheo khác thấy tình cảnh của Khóc Gào như thế, thấy đó là điều rất hy hữu, bèn thỉnh Thế Tôn nói về nhân duyên khiến cho cậu phải chịu quả báo lúc trước. Đức Phật giảng cho các đệ tử nghe rằng:

– Vô lượng kiếp về trước, ở thành Ba La Nại có hai vị phú ông nọ. Bình thường hai người đã không ưa nhau và đố kỵ nhau, nên một trong hai người đem rất nhiều vàng bạc châu báu lên dâng tặng nhà vuạ Khi nhà vua nhận những vật cống hiến của ông này rồi, thì rất quý trọng ông. Vì thế khi ông này phê bình ông kia trước mặt nhà vua, nói rằng “người ấy vô cùng hiểm ác, thường dùng mưu độc ám hại tôi, xin đại vương hãy nghiêm trị người ác để bảo vệ dân lành”, thì nhà vua vốn đã nhận vật cống hiến rồi nên không còn sáng suốt nhận định, nhất nhất tin lời ông này và ra lệnh bắt giam, không đếm xỉa tới những lời biện hộ của người kia, còn đem ra tra tấn tàn khốc. Người này phải chịu tất cả những hình phạt đau đớn nhất, thương tích đầy thân như vẩy cá, phải nhờ gia đình xuất tiền chuộc tội mới thả cho ông về nhà.

Về tới nhà ông suy nghĩ không ngừng, thấy rằng con người vì có thân cho nên mới có khổ, mới bị lắm tai nhiều họa, mình và người kia không hề có oán thù chi mà họ lại có thể hại mình đến mức thân tàn ma dại như thế này. Không lâu sau, ông bỏ vào núi tu hành và thành Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật phát tâm đại từ bi, sợ rằng người kia kiếp sau sẽ chịu quả báo đau khổ nên tới nhà người ấy thị hiện đủ loại thần thông, khiến người kia thấy những biến hóa bất khả tư nghì như thế, sinh tâm kính ngưỡng, lập tức thỉnh Bích Chi Phật lên tòa ngồi và chuẩn bị đủ loại thực phẩm đặc biệt để cúng dường và sám hối tội cũ của mình đối với Ngài.

Đức Phật nói đến đây, ngừng một lúc rồi nói tiếp:

– Các ông phải biết cái người sàm tấu với vua chính là tỳ kheo Khóc Gào đã chịu khổ trong kiếp này. Sau, nhờ ân huệ của Bích Chi Phật, sám hối tội lỗi cũ, và nhờ công đức thành kính quy y Tam Bảo nên ngày nay được Như Lai cứu độ, mau đắc quả thánh.

Đừng nghĩ rằng những lời sàm tấu nói ra mà không ai biết. Nghiệp tội không trốn được, dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng đã phạm tội như thế rồi mà biết sám hối thì có thể được cứu độ.

5- Ác khẩu và quả báo

Ngày xưa trong thành Xá Vệ có một người nhà rất giàu, tên gọi là Sư Chất, đã hơn 40 tuổi rồi mà chưa có con. Hai vợ chồng rất lo lắng, đến nhà Bà La Môn xin bốc một quẻ bói xem sau này có sinh được đứa con trai hay con gái nào không? Nhưng họ vô cùng thất vọng nghe thầy bói trả lời rằng suốt đời họ sẽ không có con.

Sư Chất nghe thế không chịu tin, lại đi tìm một ông thầy tướng số khác, cao tay ấn hơn, nhiều kinh nghiệm hơn xin bốc quẻ. Lạ thay, vị thầy tướng này vốn được mọi người tôn kính và khen ngợi là bói linh như thần, lại cũng làm cho Sư Chất thất vọng.

Sư Chất đi về mà lòng phiền muộn, bỗng sực nhớ đến bậc đại thánh Thích Ca Mâu Ni, tự nghĩ:

– Đức Phật là giáo chủ của trời và người, là bậc Nhất thiết trí, không có gì là Ngài không biết, không có gì là Ngài không hiểu, tại sao ta lại không đến gặp Ngài xin chỉ giáo?

Nghĩ đến đây ông bèn nhắm hướng Kỳ Viên tinh xá mà đi. Cung kính đảnh lễ Đức Phật xong, ông chắp tay bạch :

– Bạch Đức Thế Tôn đại bi, xin Ngài thương xót chúng sinh ngu si mà chỉ giáo: con có chút ưu tư, năm nay đã hơn 40 mà chưa có đứa con trai nối dõi, đó là do nhân duyên gì, cúi xin Đức Phật khai thị.

Đức Phật trả lời:

– Không lâu nữa ông sẽ có một đứa con trai, vừa có phúc lại vừa có đức, chỉ có điều là khi nó vừa lớn nó sẽ xin xuất gia.

Nghe tin này Sư Chất rất đỗi vui mừng, thành tâm đảnh lễ chân Phật, rồi thỉnh cầu:

– Cầu xin Thế Tôn và chư tăng cho phép chúng con được cúng dường vào trưa mai, để chúng con được kết thêm thiện duyên và trồng chủng tử vào ruộng phước của Như Lai.

Đức Phật nhận lời rồi, Sư Chất hoan hỉ quay về chuẩn bị đàn trai. Hôm sau ông dẫn đầu gia nhân, chân thành cúng dường những món ăn thức uống ngon lành đẹp mắt nhất.

Đức Phật nhận cúng dường xong, thuyết một thời pháp rồi dẫn đầu tăng chúng quay về tinh xá. Đi được nửa đường, Đức Phật và tăng chúng ngồi dưới một gốc cây bên bờ sông nghỉ ngơi. Bỗng từ trên cây, một con khỉ nhẩy xuống xin mượn bình bát của Đức Phật. Nó ôm bình bát chạy đi thật xa rồi quay về, trong bình bát chứa đầy mật ngọt. Nó dùng hai tay kính cẩn dâng bình bát lên Đức Phật, Ngài nhận lấy và chia cho chư tăng dùng để con khỉ được nhiều phúc đức. Con khỉ thấy thế mừng rỡ nhẩy nhót.

Không lâu sau nó đến ngày tận số, đầu thai làm người, sinh vào nhà của Sư Chất.

Lúc nó sinh ra, trong nhà phàm có vật dụng gì có thể chứa đựng thức ăn, thì vật dụng ấy bỗng đầy ắp mật và đường. Vợ chồng Sư Chất thấy điều quái dị, bèn do nhân duyên này đặt tên con là Mật Thắng.

Thời gian vùn vụt trôi mau như tên bắn, hơn mười năm trôi qua như trong nháy mắt, Mật Thắng nay đã lớn khôn. Chú bé chán ngán chuyện thế tục, xin phép cha mẹ cho mình được xuất gia, cha mẹ hết sức vui mừng mà trả lời:

– Lúc con chưa ra đời, Đức Phật đã biết sẽ có ngày hôm nay. Bây giờ con muốn xuất gia, cha mẹ rất hoan hỉ. Không bao giờ cha mẹ ngăn chận con một cách vô lý.

Được cha mẹ hoan hỉ cho phép rồi, Mật Thắng đến Kỳ Viên tinh xá xin xuất gia với Đ

ức Phật. Nhờ có tiền duyên, Mật Thắng chứng quả rất mau.

Một hôm, thầy đang trên đường đi độ hóa với các bạn đồng tu, cảm thấy vừa nóng vừa khát lạ thường, ai nấy đều ao ước có một cái gì uống. Tỳ kheo Mật Thắng bèn cầm bát tung lên trời rồi sau đó dùng hai tay tiếp lấy bát trở về. Bấy giờ trong bát đựng đầy mật ngọt, Mật Thắng bèn chia cho chúng tăng giải khát.

Về tới tinh xá, một vị tỳ kheo đi tìm Đức Phật xin thỉnh giáo:

– Trong quá khứ tỳ kheo Mật Thắng đã tu được phúc đức gì mà bây giờ bất cứ lúc nào, ở đâu cũng có thể có đường và mật?

Đức Phật trả lời:

– Các ông có nhớ có một lần lâu lắm rồi, có một con khỉ đem mật ngọt đến cúng dường Như Lai và chúng tăng không? Nhờ bố thí với thiện tâm, chết rồi nó được sinh ra làm người và nhờ nó chân thành cúng mật ngọt cho Phật nên kiếp này nó có thể được mật bất cứ lúc nào và ở đâu.

Đức Phật nói xong, vị tỳ kheo nọ hỏi tiếp:

– Bạch Thế Tôn! Thế thì tiền kiếp Mật Thắng do nhân duyên gì mà bị đọa xuống làm khỉ?

Lúc ấy xung quanh Đức Phật có rất nhiều đệ tử vân tập, Ngài nhìn họ một lúc rồi đáp:

– Thầy ấy bị đọa xuống làm khỉ là do một nhân duyên xẩy ra cách đây 500 kiếp trước, thời Ca Diếp Như Lai còn tại thế. Lúc đó có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, tình cờ thấy một vị tỳ kheo khác đang băng qua một con suối nhỏ, vị trẻ tuổi bèn cười chế nhạo, bảo là dáng điệu của vị tỳ kheo kia giống hệt như con khỉ. Vị tỳ kheo trẻ tuổi đã phạm tội ác khẩu nên bị đọa xuống làm khỉ, nhưng sau đó thầy ấy biết lỗi lầm của mình, đến xin sám hối với vị tỳ kheo mà mình đã chế nhạo. Nhờ thắng duyên ấy mà kiếp này mới được gặp Phật và được Phật độ, chứng quả A La Hán một cách mau chóng.

Nghe đức Phật giảng xong, các vị tỳ kheo đều nhận ra rằng một câu nói ác cũng có thể chiêu cảm nghiệp khổ, vì thế không còn ai dám ác khẩu, ngay cả đến một câu nói đùa cũng không dám nói.

Bởi vì nhân quả không nhường bất cứ một người nào.

6- Ác quỷ

Đời xưa có một người tốt bụng, thích làm việc thiện, và cũng là một vị Phật tử thuần thành. Ông thường thường lập đàn trai trong nhà để cúng dường chư tăng, cho nên thường thân cận nhiều vị thiện tri thức và các vị cao tăng.

Nhà ông ở ngay ven bờ sống Hằng, cách thành Xá Vệ chừng 30 dặm đường. Vì ông là người từ thiện, thích bố thí, nên người ở xa tới đâu cũng đến xin ông cứu giúp, và họ chưa bao giờ trở về tay không, vì thế nên người người xa gần đều tán thán ông. Nhưng ông lại có một người cha chỉ thích kiếm tiền một cách bất thiện, lão làm cái nghề táng tận lương tâm là mổ lợn bán thịt. Dầu con của lão vẫn thường hay khuyên can nhưng lão không hề có chút kiêng dè, trái lại còn trách con sao lại hay lập đàn trai cúng dường, sao lại thường cứu giúp người cùng khốn.

Bước tiến của thời gian chính là sự thử thách tốt nhất của cuộc đời, vì sau một thời gian dài, tội ác nào của con người cũng đều được phơi bày ra hết. Hành vi sát sinh của ông lão nọ đồn tới tai mọi người rất mau, ai cũng thấy rằng lão không nên tạo nghiệp sát như thế nữa. Rất nhiều vị tỳ kheo thường hay qua lại nhà lão cũng biết được việc này, cũng muốn đến khuyên can lão, nhưng vì cả nể lại muốn giữ tình giao hảo, nên không ai dám mở miệng nói câu nào.

Không lâu sau, lão sinh bệnh, và tuy mời nhiều vị thầy thuốc đến nhưng không ai chữa được, cho nên một buổi sáng sớm nọ, lão lìa đời trong một cơn đau đớn cùng cực.

Lão chết rồi, vì cái tội ác sát sinh nên đọa làm thân ác quỷ trên sông Hằng, đời có bao nhiêu thống khổ lão đều phải chịu hết.

Có một hôm, các vị tỳ kheo vẫn được con trai lão cúng dường lấy thuyền băng qua sông Hằng, ác quỷ bèn hiện ra nửa thân hình trên mặt nước đuổi theo bén gót, rồi chạy ra phía trước chận thuyền lại mà nói:

– Chúng bây là một phường tồi bại! Tao sẽ lật úp con thuyền này cho chúng bây chết chìm hết không đứa nào sống sót!

Các vị tỳ kheo ngồi trên thuyền nhìn thấy con ác quỷ quái dị như thế đã lấy làm lạ rồi, nay còn nghe hắn tuyên bố những lời trên lại càng không hiểu gì hết. Trong số các vị ấy, có một vị tuổi cao hơn hết, đứng dậy hỏi:

– Nguyên do gì mà ngươi nói chúng ta là phường tồi bại? Tại sao lại còn muốn lật úp con thuyền chúng ta đang ngồi?

Ác quỷ lớn tiếng gầm lên trả lời:

– Lúc tao còn sống, con trai tao thường thường cúng dường chúng bây. Tao mổ lợn bán thịt, chúng bây biết tao làm việc phi pháp, mà không đứa nào răn bảo tao khiến bây giờ tao phải chịu bao nhiêu thống khổ như thế này. Tao muốn đòi mệnh chúng bây để chúng bây cùng chịu khổ với tao ở đây, có thế tao mới hả niềm căm hận!

Vị tỳ kheo lớn tuổi kia rất cảm thương mà trả lời rằng:

– Bây giờ ngươi đang chịu khổ, đúng là do nghiệp sát chiêu cảm! Ngươi nói muốn đoạt mệnh của chúng ta, nhưng làm như thế có ích lợi gì? Ngươi giết người, không phải chỉ có tác dụng làm cho nghiệp tội của ngươi thêm nặng mà thôi sao? Nếu ngươi bằng lòng sám hối, chúng ta có thể giúp cho ngươi được siêu dộ.

Ác quỷ nghe ra và hiểu được những lời khuyên dạy của vị tỳ kheo, bèn ẩn thân bỏ đi. Con thuyền nhờ đó được thoát hiểm mà tiếp tục đoạn đường.

Về đến nhà, các vị tỳ kheo ấy cùng người con trai của ác quỷ làm công đức hồi hướng và cầu siêu cho hắn.

Dựa vào pháp lực của Đức Phật, con ác quỷ được siêu sinh lên cõi trời, hưởng những phúc lạc của thiên giới.

7- Bà cư sĩ ngộ đạo

Ở Ấn Độ có một ngôi chùa, bên cạnh chùa có một cây tùng thuộc giống tùng Ông Uất Bà Sa, vì thế nên người ta lấy cây đặt tên cho chùa, gọi là “chùa cây tùng”.

Trong chùa có hơn một trăm vị tăng cư ngụ, mỗi ngày tu tập chỉ quán, họ tu hành rất tinh tiến dũng mãnh, vì thế thánh nhân đã chứng quả trong chùa không phải là ít.

Cách chùa cây tùng khoảng hai, ba dặm đường, có một bà cư sĩ tu tại gia. Bà thành tâm cung kính cúng dường các vị xuất gia đến mức cùng cực. Bà phát nguyện mỗi ngày thỉnh một vị tỳ kheo đến nhà cho bà được cúng dường, vì thế chư tăng trong chùa cây tùng luân phiên nhau đến nhà bà thọ cúng. Cúng dường xong, bà còn muốn được nghe chư tăng thuyết pháp khai thị cho, nên cái vị tỳ kheo tuổi cao đức trọng, tinh thông liễu giải Phật pháp thì hoan hỉ chấp nhận, nhưng vì bà cư sĩ này cũng có thông hiểu Phật pháp đôi chút, nên các vị tỳ kheo sức tu học ít ỏi thiếu sót thì lại không mấy gì muốn đến nhà bà.

Trong chùa cây tùng có một vị tỳ kheo tên là Ma Ha Lô, cuối đời mới xuất gia, tuy tuổi rất cao nhưng sự hiểu biết về Phật pháp rất là ít ỏi, chỗ thâm sâu của pháp thì cố nhiên là mù tịt, nhưng ngay cả chỗ cơ bản tối thiểu ông cũng không biết.

Một hôm, đến phiên ông đi thọ cúng, ông dĩ nhiên không hề muốn đi chút nào vì tự biết mình không biết thuyết pháp khai thị cho ai. Ông từ chối, đẩy người khác đi thế, nhưng đẩy tới đẩy lui mà chẳng ai nhận lời đi thế ông, ai cũng bảo rằng :

– Tới phiên ông thì ông đi đi chứ, đẩy người khác đi thế là nghĩa thế nào?

Cuối cùng ông thầm nghĩ rằng:

– Ta là tăng sĩ, là phúc điền, lẽ ra phải nhận sự cúng dường của người ta, khiến cho người ta được dịp vun bồi ruộng phước và trưởng dưỡng gốc thiện. Tuy ta không biết thuyết pháp, nhưng không ai chịu đi thì tốt nhất là chính ta đi vậy.

Vị tỳ kheo già bèn chống gậy lần mò từng bước chầm chậm lên đường. Bà cư sĩ ở nhà chờ thật lâu, lòng nóng như lửa đốt vì đã đúng ngọ rồi mà vẫn chưa thấy ai tới. Khó khăn lắm lão tỳ kheo mới lại tới, bà cư sĩ ngắm ông lão từ xa dáng điệu đạo mạo nghiêm trang, da dẻ hồng hào, đầu tóc bạc phơ, trong lòng cảm thấy vô cùng tôn kính, vội vàng lễ lậy thưa hỏi:

– Ngài là bậc trưởng lão tuổi cao đức trọng, được ngài quang lâm tệ xá, đệ tử cảm thấy vô cùng vinh hạnh!

Bà một lòng nghĩ rằng vị lão tăng này nhất định phải là một vị trí huệ thâm sâu, sẽ có thể bố thí cho bà những bài pháp vi diệu vô thượng, vì thế bà hoan hỉ không kể xiết, vội vàng bày ra những món ăn tuyệt mỹ nhất cúng dường lão tỳ kheo.

Cúng dường xong, bà thỉnh lão tỳ kheo ngồi lên toà cho bà đảnh lễ, và quỳ dưới đất, bà thỉnh ngài thuyết pháp khai thị.

Vị tỳ kheo đăng bảo tòa rồi, trong lòng xấu hổ muôn phần, thấy mình thật là ngu si một cách đáng thương vì không hề biết gì về Phật pháp. Không có cách nào khác, ông thở dài một tiếng nói nhỏ:

– Cái ngu si của con người đúng là gốc rễ của muôn phiền não!

Nói xong, ông bước xuống bảo toà bỏ đi. Bà cư sĩ đang quỳ dưới đất, cảm thấy đây là bài pháp vô thượng vi diệu nhất mà bà được nghe từ trước đến naỵ Bà suy nghĩ kỹ lưỡng như sau: ngu si có nghĩa là vô minh, mà vô minh là căn bổn của mười hai nhân duyên; vì có cái căn bổn vô minh này nên con người ở mãi trong bể khổ, sinh sinh tử tử triền miên không ngừng trong luân hồi, tất cả mọi khổ não đều do đây mà phát khởi. Bà cứ mãi tinh tiến tư duy như thế không ngừng nên ngay lúc ấy chứng quả A La Hán.

Chứng được quả vị rồi, bà cư sĩ muôn phần hoan hỉ, vào kho lấy ra một tấm thảm dạ lớn màu trắng để cúng dường vị lão tỳ kheo, nhưng bà tìm khắp nơi không thấy vị này. Sự thật là vị này xuống toà xong là bỏ về chùa cây tùng ngay, nhưng bà cư sĩ tìm không thấy nên đinh ninh là ông có thần thông, vội đem lễ vật cúng dường lên chùa.

Lão tỳ kheo về chùa rồi, có người vào báo có bà cư sĩ đến tìm, ông nghĩ bà này lại muốn nghe pháp nữa nên không chịu ra tiếp. Bà cư sĩ cứ khăng khăng muốn gặp, nên người vào thông báo lúc nãy rất lấy làm khó xử, hỏi bà:

– Chẳng hay bà nhất định gặp vị ấy để làm gì vậy?

– Ngài ấy đã giúp tôi giải thoát căn bổn của khổ, vì thế tôi muốn cúng dường cảm tạ.

Khi lão tỳ kheo biết bà không đến để đòi nghe pháp mới chịu ra nhận cúng dường.

Nghe thế mới biết, một pháp hay tất cả pháp, khi nhân duyên tụ tập đầy đủ, chỉ cần một hai câu là người nghe có được lợi lạc lớn, một đời thọ dụng cũng không hết. Nhân duyên chưa đầy đủ thì dẫu lời nói như hoa sen tuôn khỏi miệng cũng chỉ phí công vô ích.

8- Bà lão bộc

Trưởng giả Tu Đạt tại thành Xá Vệ nước Ấn Độ là một vị “đại thí giả”, hễ có người nghèo khổ bần cùng đến cầu xin ông cứu giúp, ông liền làm cho người ấy được toại ý. Nhất là đối với Tam Bảo thì ông lại càng cung kính tôn thờ, thường thường cúng dường Đức Phật và chư tăng.

Trong nhà ông trưởng giả Tu Đạt có một bà lão bộc làm công, rất trung thành với chủ và làm việc rất siêng năng, nên được trưởng giả một lòng tín nhiệm. Chìa khóa nhà kho, vựa lúa đều do một tay bà nắm giữ.

Bà lão bộc này tính nết rất keo kiết, mỗi khi thấy chủ nhân lấy từ kho ra bao nhiêu là tiền bạc của cải để bố thí cho người là trong lòng bà không khỏi cảm thấy tiếc rẻ.

Nhưng điều làm cho bà bất mãn hơn cả là lúc bà thấy Đức Phật và chư vị đệ tử đến nhà trưởng lão thọ cúng dường. Bà thấy lúc đó trưởng giả vô cùng nhiệt thành, hoan hỉ nghênh tiếp và cúng dường Đức Phật. Tâm ganh tị như thiêu như đốt khiến bà ghét Đức Phật thậm tệ. Có một hôm bà còn lập ác nguyện rằng:

– Tôi vĩnh viễn không muốn thấy mặt Phật, không muốn nghe ông ta thuyết pháp cũng không muốn thấy mặt mấy ông tỳ kheo.

Thật là chuyện tốt không ai hay, mà chuyện xấu thì ai cũng biết, nên tin bà lão bộc phát ác nguyện chẳng mấy chốc lan truyền khắp mọi nơi.

Lúc ấy, hoàng hậu Mạt Lợi nghe kể lại, rất lấy làm phật ý. Hoàng hậu biết trưởng giả Tu Đạt là một vị Phật tử thuần thành, thì làm sao lại dung dưỡng trong nhà một bà nô bộc bất kính Tam Bảo như thế? Do đó, hoàng hậu hạ lệnh bắt trưởng giả phải cho bà mượn bà lão bộc đến hoàng cung giúp việc nhân dịp bà lập đàn trai cúng dường Đức Phật.

Trưởng giả Tu Đạt dĩ nhiên không dám trái lệnh hoàng hậu, đằng này mục đích lại là giúp cho việc cúng dường đức Phật thì ông lại càng tình nguyện hơn nữa. Trưởng giả lập tức dùng mâm vàng đựng đầy trân châu, sai bà lão bộc đem đến hoàng cung để cúng dường đức Phật. Hoàng hậu ra ý, chủ nhân truyền lệnh, bà lão bộc đâu dám không tuân! Khi Mạt Lợi phu nhân thấy bà lão bộc này, bà nghĩ phải thỉnh Đức Phật dạy dỗ con người tà kiến như thế mới được!

Bà lão bộc đem trân châu đến dâng lên hoàng hậu rồi, vừa mới quay người tính lui đi thì Đức Phật từ cửa chính bước vào, theo sau là các vị đệ tử của Ngài. Bà lão thấy Đức Phật bước vào đâm ra bối rối, cất bước lên tính trốn bằng cửa sau, thì quái lạ thay, Đức Phật cũng lại từ cửa sau bước vào. Lần này bà cuống cuồng lên, tính chạy bằng cửa bên hông nhà, nhưng cũng lại thấy Đức Phật đứng ngay ở ngưỡng cửa bên hông. Bà lão bộc thấy tứ phương tám hướng đâu đâu cũng có Đức Phật và chư vị đệ tử đứng, bà tiến hay lùi gì cũng khó khăn, đành phủ phục xuống đất. Nhưng trên mặt đất, bà vẫn thấy tôn tượng của Thế Tôn. Bà vội vàng dùng hai bay bịt kín lấy mắt, để mắt mình không gặp hình ảnh của Đức Phật nữa nhưng trong khoảnh khắc, mười ngón tay của bà đều hiện lên hình Phật. Bà không cần biết hậu quả ra sao, ba chân bốn cẳng chạy về, trốn vào một căn nhà nhỏ, những tưởng là sẽ không còn thấy Đức Phật nữa. Nhưng như trước, trong gian phòng đen tối ấy, đâu đâu cũng có Đức Phật nên bà lão bộc rất lấy làm đau khổ.

Lại nói đến Đức Phật Thích Ca Mâu ni ở hoàng cung, Ngài không nói gì về thái độ vô lễ của bà lão bộc, chờ thọ cúng xong xuôi mới nói với La Hầu La:

– Bây giờ con có thể đi hóa độ cho bà lão ban nãy. Bà ấy với con có nhân duyên lớn, bà ấy sẽ tiếp đón con nồng hậu và sẽ chấp nhận sự giáo hóa của con.

Tôn giả La Hầu La tuân lệnh Đức Phật đi ngay, ngài từ biệt Như Lai rồi đến nhà bà lão bộc nọ, đứng trước nhà kêu cửa.

Bà lão đang trốn trong nhà, chợt nghe một giọng nói hòa nhã thân thiết bèn vội vàng chạy ra mở cửa nhìn xem là ai. Có lẽ trong lòng còn hoảng hốt, lại hoa mắt nên thấy ngài La Hầu La, bà ngỡ là người từ cõi trời xuống.

Bà lễ lậy và đối xử với La Hầu La như thần thánh, tôn giả bèn dùng thái độ trang nghiêm thuyết cho bà lão nghe pháp thập thiện.

Bà lão nghe rồi, hối hận những lỗi lầm đã tạo trong quá khứ, và nói:

– Ngài là chúa tể cõi trời, ngài quả là cao cả, vì thế nhân chúng con mà thuyết thiện pháp vi diệu để lợi lạc chúng sinh, ngài thật là phi thường hơn mấy ông tỳ kheo kia nhiều!

Lúc ấy, La Hầu La biết bà đã bớt tâm ngã mạn, mới trả lời:

– Pháp của Phật mới là thanh tịnh, mới là từ bi quảng đại. Pháp mà tôi mới nói ban nãy là do thầy tôi dạy. Phận tôi nhỏ nhoi không đáng kể, làm sao so sánh với bậc đại thánh Như Lai được?

Lão bà nghe những lời ấy, định thần nhìn kỹ lại ngài La Hầu La, lúc đó mới tàm quý hổ thẹn không biết làm sao để chui xuống đất. Bà hối hận, bà tự trách, rồi bà khẩn cầu ngài La Hầu La giúp bà sám hối với Đức Phật và can thiệp cho bà được xuất gia.

Phật pháp vốn bình đẳng, giữa người cao sang như vua chúa hay người bần tiện như nô tỳ không hề có sự sai khác.

Bà lão bộc nọ, sau khi đến trước mặt Phật sám hối rồi, bèn xuống tóc xuất gia làm tỳ kheo ni.

Bà chuyên tâm tu học nên chứng được quả vị rất mau lẹ. Có người thấy thế, bèn đến xin Đức Phật thuyết giảng về nhân duyên quá khứ của bà lão bộc này.

– Xa xưa kia, thời Phật Bảo Cái Đăng Vương có một vị thái tử xuất gia học đạo với Như Lai. Thật ra, vị hoàng tử này tu hành trì giới rất tinh chuyên, nhưng lại lầm lạc theo đường tà. Về sau hoàng tử gặp một vị tỳ kheo, vị tỳ kheo này thuyết pháp dẫn đạo rất hay, nhưng hoàng tử không những không tán thán còn đem lời phỉ báng, bởi vì tuy trì giới nhưng lại rất ngã mạn tà kiến. Do đó chết rồi đọa ác đạo, chịu đủ hết mọi sự thống khổ trong địa ngục, nay tuy sinh thân người nhưng lại chịu phận nô bộc.

Vị hoàng tử thời nọ chính là bà lão bộc trong kiếp này và vị tỳ kheo bị hủy báng kia chính là ta trong quá khứ.

Các vị đệ tử của Đức Phật nghe xong, họ thấy rõ ràng là không thể tạo khẩu nghiệp, nhất là hủy báng người khác, vì quả báo xấu xa của tội này, dẫu có tu hành trì giới cũng không ngăn chận được.

9- Ba luồng ánh sáng trắng

Trong quá khứ có một người sống tại một vùng núi non hẻo lánh, nên từ nhỏ không hề được giáo dục, chưa từng nghe Phật pháp, chỉ biết cần kiệm làm bổn phận cho qua kiếp con người. Bởi vì phước báo quá ít ỏi nên cho đến già mà vẫn còn nghèo nàn cùng khổ.

Lên tới 60 tuổi, sau nửa năm bệnh hoạn, ông tiều tụy yếu ớt hẳn, biết trước sẽ không còn sống lâu trên đời nên gọi hai đứa con đến bên giường bệnh cho ông dặn dò lần cuối. Ông bảo đứa con trưởng rằng:

– Em con còn nhỏ lắm, con thì đã biết làm việc rồi, con phải cẩn thận chăm lo cho em, con phải giữ trách nhiệm của người anh cả.

Vài ngày sau, ông rời bỏ nhân thế, rời bỏ khổ não khiến hai đứa con buồn khóc một thời gian.

Ba năm sau, người anh cưới một thiếu nữ cùng thôn làm vợ. Cô này cũng không có giáo dục, không biết tình nghĩa huynh đệ. Thấy chồng hậu đãi em, cô không bằng lòng. Cô thường nói với chồng rằng:

– Hay là chúng ta cho em của anh một vài thứ trong nhà rồi bảo nó tự lập kế mưu sinh. Hiện giờ nó hãy còn nhỏ, đương nhiên không làm sao được, mai mốt nó lớn lên phiền lắm, anh muốn đuổi nó đi, chưa chắc nó đã chịu đi!

Nhưng người anh vẫn còn cái tình nghĩa chất phác của người miền núi, lại còn nhớ rõ lời di chúc của cha nên mỗi khi nghe vợ nói như thế lại bịt tai lắc đầu lia lịa.

Tục ngữ nói rất đúng, gần đèn thì sáng gần mực thì đen. Sống cả ngày gần một người vợ tâm địa xấu xa, cứ thừa mọi dịp nói đi nói lại mãi những lời độc ác, dần dà người anh bị huân tập, làm sao không biến thành ác độc? Lời nói giả dối mà cứ lập đi lập lại mãi cũng trở thành chân thật, cuối cùng người anh cũng giống như vợ, bắt đầu ghét bỏ người em.

Một hôm, người anh nghe lời vợ, đem người em tới nghĩa địa rất xa thành phố. Đó là một nơi rất ghê rợn, vì theo tập tục Ấn Độ, cứ người chết đi thì đem tử thi vứt vào đấy cho chim chóc thú vật tới mổ rỉa mà ăn.

Nghĩa địa rất u ám, xương trắng ngổn ngang, luôn luôn có tiếng chim kêu thê lương như tiếng quỷ khóc trong địa ngục. Vào bên trong thì cái khí âm u của nghĩa địa làm cho người ta lạnh run lên. Vào sâu bên trong nữa có một ngọn cây tùng bách cao lên tới từng mây, cành lá chằn chịt che trùm cả khe núi. Người anh lấy ra một sợi dây thừng đã mang theo, trói thúc người em lại rồi treo lên một cành cây to lớn, vừa trói vừa bảo em:

– Không phải anh tàn nhẫn, nhưng nói thật em làm cho anh phiền lo nhiều quá. Em hãy ở đây suy nghĩ cho kỹ anh nói có đúng không, vài bữa nữa anh tới đón em về.

Nói xong, người anh quay đầu chạy mau trở về nhà, không màng tới tiếng kêu van xin bi thảm của em. Thật ra người anh rất mâu thuẫn, lòng thương em rất mực đã bị bà vợ dùng giọng nói nét mặt nghiêm khắc đàn áp xuống. Anh ta rất đau khổ nhưng không đủ sức chống đối lại vợ.

“Thôi, để cho nó đánh cuộc với định mệnh xem sao! Nếu nó thoát được miệng hổ lang thì đó là nó có phúc báo, còn nếu không thì coi như là số của nó đã định như vậy. Ta đối với nó như thế đã là từ bi lắm rồi, thay vì nghe lời vợ cầm dao giết nó!” Trên đường về, người anh nghĩ như thế để tự trấn an mình.

Trời dần dần tối. Trong màn đêm đen kịt, tiếng chim kêu thê thảm càng ngày càng nhiều. Rồi lại có thêm những âm thanh kỳ quái hỗn tạp cũng vọng lại, như báo hiệu yêu quỷ sắp xuất hiện. Đêm sâu dần, hổ, báo, sư tử, chó sói cũng lục tục kéo đến, rống lên từng hồi như muốn bắt hết hồn phách của người tạ Những tia mắt màu xanh lè, tham lam hung ác đổ dồn về phía gốc cây cổ thụ. Trên cây, người em cố hết sức dãy dụa khóc la:

– Cứu tôi với! Trời ơi! Thần thánh ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!

Nó la hét như một người điên cho đến nỗi máu tươi từ trong miệng trào ra.

Ngay lúc ấy, tại thành Vương Xá xa xôi, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang trụ trong Kim Cương Tam Muội. Ngài nghe tiếng kêu cầu của đứa trẻ đáng thương, và nhìn thấy rõ tình cảnh nguy ngập mà nó đang lâm phải, nên Ngài dùng thần lực phóng ra một luồng ánh sáng từ giữa hai lông mày.

Trong nghĩa địa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng trắng kỳ dị chiếu tới khiến khe núi u ám rợn người ấy chợt rực sáng lên. Những con dã thú hung hăng bị luồng ánh sáng trắng chiếu tới, lùi dần từng bước, từng bước, có con quay mình chạy chí tử.

Lại có một luồng ánh sáng màu trắng khác mạnh mẽ hơn chiếu thẳng tới sợi dây thừng trên người đứa em, như thể bị chạm phải một ngọn lửa mạnh hay một lưỡi dao bén, sợi dây kêu lên răn rắc và đứt đoạn từng khúc một.

Tiếp theo lại có một luồng ánh sáng trắng thứ ba, dịu dàng chiếu lên thân đứa em. Nó như bị tê liệt rơi xuống đất, đau đớn nhức nhối ngất lịm đi. Bỗng nó cảm thấy như có người đang nhẹ nhàng vỗ về nó khiến cho nó cảm thấy thư thái lạ kỳ.

– Con thật là đáng thương, con phải làm sao đây?

Một giọng nói dịu dàng từ ái vang lên bên tai. Nó tỉnh lại và có một cảm giác lạ lùng khiến bao nhiêu đau đớn trong người tan biến hết. Ngẩng đầu lên nhìn, nó thấy một người cao lớn trang nghiêm đang đứng trước mặt nó, người ấy lại dịu dàng nhìn nó mỉm cười. Kinh ngạc quá độ, nó ấp úng không biết phải nói gì:

– Ngài là… ngài là…

– Ta là Phật!

– Uý! Phật tổ! Con nguyện sẽ làm Phật giống như Ngài để cứu mình và cứu người!

Đứa bé năm vóc gieo xuống đất khấu đầu lễ lạy. Đức Phật cho nó quy y và đưa nó về Vương Xá thành.

Từ đó, người em sống trong tăng đoàn, cùng chúng đệ tử của Đức Phật cùng nhau tu hành, nghe kinh thính Pháp, không lâu sau thì chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn.

Người em chứng đạo rồi thì rất nhớ tới anh, đến trước Đức Phật bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn! Anh con tuy đã có lòng ám hại con, nhưng nhờ thế mà con được gặp Phật và được Phật độ. Như vậy, thành tựu hôm nay của con là nhờ anh con. Nay con muốn về độ hóa anh ấy, nên con xin phép Thế Tôn cho con vắng mặt một thời gian.

– Rất tốt! Ta rất khen thưởng ý kiến của con.

Người em bèn dùng thần thông bay trở về nhà của anh, bà chị dâu thấy được, vội vàng chạy vào nhà trốn. Bà tưởng rằng người em bị hại nhưng không chết nên nay trở về báo thù.

– Anh chị Ơi, anh chị không cần chạy trốn. Em không oán hận anh chị chút nào mà còn muốn tạ Ơn anh chị nữa. Nhờ anh chị mà em gặp được ân sư là Đức Phật, chứng được quả vị, liễu thoát sinh tử. Em đặc biệt trở về đây để cám ơn anh chị.

Em cũng hy vọng anh chị có thể tu học Phật đạo để sớm thoát khổ. Tài sản, của cải cho đến tính mệnh của chúng ta trên thế giới này rất là vô thường, nếu làm đủ cách để truy cầu chúng thì dẫu có được đi nữa, cũng có ngày chúng cũng sẽ bỏ chúng ta mà đi. Anh chị nghĩ kỹ xem, có gì thật sự thuộc về chúng ta đâu? Hãy bỏ chúng đi, lấy cái tâm tưởng và tinh lực để truy cầu chúng dành cho việc truy cầu Phật pháp, vì đó mới là kho tàng chân thật. Kho tàng này mới thật sự vĩnh cửu không bao giờ mất, đem lại cho chúng ta tài bảo và niềm an vui nữa.

Những lời nói ấy làm cho vợ chồng người anh như bừng tỉnh mộng, nhất là lòng khoan hồng độ lượng của người em, đã không oán trách lỗi lầm xưa mà còn lo nghĩ tới niềm phúc lạc của họ nữa. Đó chính là sức mạnh đã giúp họ có can đảm sám hối tội đã làm.

Chỉnh đốn việc gia đình nhà cửa xong xuôi, cả ba cùng sánh vai nhau tiến về hướng Trúc Lâm Tinh Xá.

10- Bài học cho người háo sắc

Có một cặp vợ chồng kia sống tại một nơi hẻo lánh của Ấn Độ, vì muốn cầu thiện tri thức nên không ngại đường xa vạn dặm, dọn về thành Xá Vệ tìm kế sinh nhai. Hai vợ chồng đều có một cái tên rất là đẹp, chồng tên là Lạc Tu, vợ tên là Hân Kiến. Chồng thì tinh tiến tu trì Phật pháp, vợ thì xinh đẹp như thiên nữ, người nào đã từng quen biết với cặp vợ chồng này, khi nói về họ cũng đều không tiếc lời khen ngợi.

Hân Kiến không những xinh đẹp còn phúc hậu hiền lành, khiến rất nhiều người hiếu kỳ muốn được nhìn thấy mặt người tiên. Nhưng khổ thay, Hân Kiến không bao giờ bước chân ra khỏi cổng, sợ mình là nguyên nhân mang tới cái họa thị phị Chỉ khi nào các vị tỳ kheo thánh nhân đến nhà nàng mới chịu đích thân tiếp đãi và lễ kính cúng dường. Danh tiếng nhan sắc của nàng vang lừng khắp nơi, xa gần không ai là không nghe nói đến và tấm tắc khen ngợi.

“Danh thơm đưa đến sự ganh tị, nhan sắc đưa đến tai họa”. Nhan sắc mỹ lệ của Hân Kiến suýt chút nữa đã là nguyên nhân cái chết của hai vợ chồng.

Có một ông vua tên là Tự Tại, nghe đồn về nhan sắc của Hân Kiến, cũng muốn được một lần nhìn xem nàng xinh đẹp tới mức nào. Một hôm ông hỏi vị đại thần thân cận nhất:

– Có cách nào cho ta được thấy nàng không?

Vị đại thần trả lời:

– Hai vợ chồng họ đã quy y Tam Bảo, đã thọ năm giới, nghiêm trì giới luật, bình thường rất ít khi ra khỏi nhà. Phu nhân Hân Kiến bình thường không chịu tiếp một ai, nếu đại vương nhất định muốn nhìn thấy mặt phu nhân, thì chỉ có một cách là giả làm tỳ kheo, lúc ấy phu nhân Hân Kiến mới bằng lòng tiếp đãi.

Vua Tự Tại làm đúng lời khuyên của vị đại thần, giả dạng làm một người tu hành đến nhà của Hân Kiến, quả nhiên được nàng tiếp đãi một cách nhiệt thành. Về lại nhà, ông không phút giây nào là không nhớ nghĩ đến nàng, vì trong đời ông chưa từng gặp một người đẹp như thế. Ông bèn nghĩ làm cách nào để có thể sống chung với mỹ nhân mãi mãi, nhưng biết làm sao đây? Ông lại tìm đến vị đại thần nói trên để vấn kế, vị này trả lời :

– Tuy hai vợ chồng là người tu hành và lại là người từ xa đến đây sinh sống, song đã cư trú ở nước này thì đều là thần dân của đại vương. Nếu đại vương cho triệu họ đến gặp mà không đến là họ không tuân thánh chỉ, là có tội phải phạt, lẽ nào họ không sợ tội hay sao? Thần còn xin tâu thêm rằng, tại một nơi cách đây hơn ngàn dặm, có một cái hồ rất lớn, trong hồ ấy có mọc những đóa hoa sen ngũ sắc, nếu có ai muốn hái những đóa hoa sen ấy phải vượt qua ba loại tai nạn, một là rắn độc, hai là ác thú, ba là giặc cướp. Chúng ta không có lý do gì tự nhiên bắt tội người ta, nhưng nếu cứ khống chế cho là họ có tội, thì đại vương chỉ cần kêu Lạc Tu đi hái những đóa hoa sen ấy về, tự nhiên hắn sẽ táng thân mất mạng. Đại vương, nếu muốn bắt mỹ nhân Hân Kiến, thì đây là một giải pháp có thể giúp đại vương thành tựu được ý nguyện.

Vua Tự Tại lúc ấy không còn nhân tính, tâm tư đã hoàn toàn bị tham dục sai sử, không còn biết đâu là lương tâm, là lẽ trời, nên cứ đúng theo lời khuyên của vị đại thần mà thi hành. Ông lập tức cho triệu Lạc Tu vào cung, hỏi rằng:

– Khanh là thần dân của ai?

– Thần là thần dân của đại vương.

– Đã là thần dân của ta, vậy thì tại sao từ trước đến nay không đến bái kiến ta?

– Thần tự thấy mình ngu si dốt nát, từ trong bùn lầy nước đọng sinh ra nên không dám đến bái kiến đại vương.

Vua Tự Tại sa sầm nét mặt:

– Ngươi có biết không đến bái kiến vua là có tội hay không?

– Xin đại vương bớt giận, thần đã tự biết lỗi của mình rồi.

Vua Tự Tại khấp khởi mừng thầm, thấy kế hoạch của mình sắp thành công, hình bóng của mỹ nhân sắp xuất hiện trước mắt mình, bèn nói tiếp:

– Ngươi đã tự biết lỗi, ta sẽ không xử tử ngươi. Nhưng ta đang muốn một vật này, nếu như ngươi mang về được cho ta thì ta sẽ xá tội cho ngươi.

Lạc Tu hỏi:

– Thần sẵn sàng làm những gì đại vương sai bảo, nhưng không biết đại vương muốn sai thần đi đâu và mang những gì về cho đại vương, xin đại vương chỉ dạy rõ ràng.

– Cách đây hơn ngàn dặm đường có một cái hồ lớn, trong ấy có mọc những đóa sen ngũ sắc ngạt ngào hương. Ta chỉ cần ngươi hái về cho ta một đóa thôi. Nhưng ta căn dặn ngươi, ngươi phải trở lại trong vòng bẩy ngày. Qúa thời hạn bẩy ngày ta sẽ kết tội ngươi chậm trễ.

Lạc Tu về nhà, đem tất cả mọi sự kể cho vợ nghe. Hân Kiến nghe xong buồn bã nói:

– Tai nạn của chàng hôm nay là do nhan sắc của thiếp mà ra. Đức Phật đã từng nói, tam giới không phải là nơi chắc chắn, ta chỉ có thể nương tựa vào giới luật mà thôi. Khi ra đường, chàng phải niệm thầm danh hiệu Phật, không phút giây nào quên lãng. Có như thế mới có thể biến họa thành phúc được. Nhưng nếu chẳng may chàng có bề gì, thiếp sẽ xuống tóc xuất gia, quyết vì chàng thiếp sẽ không bao giờ tái giá.

Hân Kiến chuẩn bị lương khô cho chồng mang theo và hai người từ biệt nhau. Đây là một cuộc chia tay đau đớn, nhưng họ không bịn rịn khóc lóc như người thường. Lạc Tu sửa soạn đâu đó xong xuôi là lập tức lên đường, hướng thành ngoại mà ra đi.

Từ khi ra khỏi cửa đi ròng rã được bốn ngày, Lạc Tu mới gặp phải chuyện chưa từng thấy. Hôm ấy, đương trời sắp tối, trên con đường hoang vắng, bỗng có một bọn cướp kéo đến rất đông đảo, trong tay cầm nào gươm nào đao, nào thương nào kích, trông hung dữ bạo tàn rất ghê rợn. Lạc Tu thấy họ thì chỉ một lòng niệm thánh hiệu của Phật. Tướng cướp chận đường hỏi:

– Ê, mi là ai? Dám cả gan tới đây làm gì?

– Tôi tên là Lạc Tu, là đệ tử của Đức Phật, phải tới đây để hái hoa sen ngũ sắc.

Lạc Tu trả lời một cách cứng cỏi. Nghe chàng tự xưng mình là đệ tử của Đức Phật, thái độ và giọng nói của bọn cướp thay đổi hẳn, họ trở nên tử tế và hiền hòa:

– Trước vua đã gởi nhiều người tới đây hái hoa, nhưng chúng tôi căm hận vua trị nước không công minh nên chúng tôi giết hết những người ấy rồi. Huynh không phải là người có tội mà bị vua ra lệnh tới đây. Chúng tôi tuy là một lũ giặc cướp nhưng tuyệt đối không hại đệ tử của đức Phật, huống chi huynh là người vô tội? Ngay giờ phút này chúng tôi xin thả huynh đi, nhưng trên đường đi như thế, huynh sẽ phải gặp rắn độc và ác thú, chưa chắc đã tránh khỏi bị chúng làm hại. Thôi thì bây giờ huynh không cần phải đi, chúng tôi sẽ đi hái hoa thay huynh, sau đó huynh có thể bình an mà trở về. Chúng tôi làm như thế vì cũng có chút kính trọng đối với Đức Phật, và nếu chúng tôi giúp đỡ cho đệ tử của Ngài thì sau này chúng tôi có thể chia được một chút phúc đức. Xin huynh ở lại đây chờ một chút.

Không lâu sau, họ đem hoa sen ngũ sắc về, không phải chỉ một đóa hoa mà là rất nhiều hoa, Lạc Tu không thể nào khuân nổi. Bọn cướp bèn gởi người khuân giúp Lạc Tu và hộ tống chàng về tới cửa thành mới chia tay.

Khi Lạc Tu vào yết kiến vua Tự Tại, vua kinh ngạc tột độ khi thấy chàng đã về tới bình yên vô sự, bèn hỏi rằng:

– Trên đường đi khanh đã gặp những gì? Làm sao khanh lại có thể về tới mau chóng như thế?

Lạc Tu không dấu giếm, đem tất cả mọi chuyện ra kể cho vua Tự Tại nghe. Vua nghe rồi, xấu hổ mà rằng:

– Bọn cướp là cái phường không biết phải trái, vì thế ngày thường vẫn gia hại khách buôn qua lại. Vậy mà khanh được họ giúp đỡ, khanh đã cảm hóa được họ, khanh hẳn phải là người rất thiện lương. Đáng xấu hổ thay cho ta đang trên cương vị một ông vua mà không biết phân biệt thiện ác, không rõ đúng sai, bọn giặc cướp mà còn biết kính trọng khanh và khinh thường ta nữa là! Khanh là người được bọn đạo tặc tôn kính, thế mà ta lại lập kế mưu hại khanh, ta thật là sai quấy!

Lúc ấy vua Tự Tại thật sự cảm thấy xấu hổ, bèn sám hối với Lạc Tu và phát nguyện quy y Đức Phật thọ trì ngũ giới, sửa chữa sai lầm cũ, xây dựng một tương lai thiện lành, và trở thành một vị đại hộ pháp của Đức Phật.

Về sau vua Tự Tại dùng đức độ nhân từ mà trị dân, bọn cướp bỏ nghề cũ trở về với đời sống lương thiện, quốc gia vì thế mà trở nên thái bình an lạc.

Sự thật, chính là vợ chồng Lạc Tu đã chân thành tu hành Phật pháp nên mới cảm hóa được mọi người.

11- Bán thịt tự thân mua lễ vật

Cách đây rất lâu về trước, có một người tên là Thường Đề, tu hành rất tinh chuyên, đạo cao đức trọng, nên được mọi người xưng là Thường Đề Bồ Tát.

Lúc mới xuất gia, Thường Đề Bồ Tát muốn tìm minh sư, nên không ngại lặn lội đường xa cực khổ, không sợ nguy hiểm đường trường, tinh thần cầu pháp của ông là “chưa đạt mục đích thì chưa ngừng nghỉ”.

Nhưng đi khắp các danh sơn trong thiên hạ rồi mà chưa tìm ra được một vị thiện tri thức lý tưởng. Có một hôm, ông ngồi dưới bóng mát một gốc cây để nghỉ ngơi, bỗng nhìn thấy một người từ trong không trung bước xuống, nói với ông rằng:

– Hỡi vị cầu đạo kia! Tinh thần cầu pháp nhiệt tình và tâm nhẫn nại mọi lao khổ của ông khiến cho mọi người phải khâm phục. Nay tôi đến nói cho ông biết rằng, nhắm hướng đông mà đi thì ông sẽ gặp được pháp yếu vô thượng, đắc được trí huệ quý giá nhất.

Nghe thế, Thường Đề hấp tấp hỏi:

– Đại đức! Xin ngài cho tôi biết, nhắm hướng đông mà đi thì phải đi tới chỗ nào mới gặp được vị thiện tri thức cho tôi lạy làm thầy?

Vị hóa nhân trả lời:

– Cách đây xa thật là xa, có một chỗ tên gọi là Chúng Hương thành, ông đến đó tìm Bồ Tát Đàm Vô Kiệt xin học chỗ tối cao trong Phật pháp. Chúng Hương thành là một vườn hoa tuyệt đẹp và Bồ Tát Đàm Vô Kiệt là một vị chuyên môn nghiên cứu về Bát Nhã, đó chính là người thầy lý tưởng mà ông mong cầu.

Nghe thế rồi, Thường Đề mừng rỡ vô hạn, lập tức thu thập mấy thứ đang mang theo mình mà nhắm hướng đông đi như baỵ Nỗi mừng vui đã khiến ông quên hết mọi cực nhọc gian khổ dặm đường.

Thường Đề đêm ngày đi không ngừng nghỉ, chỉ hận là sao mình không mọc đôi cánh để bay một mạch tới nước Chúng Hương. Đến một thị trấn nọ, ông chợt nghĩ đến một chuyện : khi đến gặp danh sư bái tổ thì phải mang theo lễ vật nào đó cúng dường, nhưng đem cái gì được đây? Ngoài tấm áo thầy tu rách rưới trên thân, ông không hề có một vật gì khác. Cuối cùng ông nghĩ ra một cách, nghĩ rằng những bắp thịt rắn chắc của ông là một món hàng có thể bán được, vì thế ông bèn viết trên một tấm bảng dán trên mình tìm người mua thịt, nhưng ai lại muốn mua thịt người bao giờ? Một buổi sáng đã qua mà vẫn chưa ai tới mua thịt của ông, mọi người chỉ nhìn ông bằng cặp mắt kỳ dị, nhưng không ai dám tiến lại gần. Lòng cầu đạo của ông đã làm cho trời đất phải cảm động, nên thiên Đế Thích muốn thử đạo tâm của Thường Đề, bèn biến thành một ông già đến gần, nói:

– Ối! Ông bạn ơi! Sao ông lại muốn bán thịt người vậy? Mạng sống là một báu vật vô giá, và thân thể là chỗ y cứ của mạng sống, sao lại đem mạng sống quý giá ấy hủy mất đi?

– Tôi số phận hẩm hiu phước mỏng, không có tài sản. Thường Đề nước mắt nhoè nhoẹt trả lời. Bây giờ tôi muốn đến thành Chúng Hương cầu pháp, muốn lạy Bồ Tát Đàm Vô Kiệt làm thầy, nhưng tôi không có tiền mua lễ vật cúng dường, vì vậy nên đứng đây bán thịt người, nhưng chẳng ai muốn mua cho tôi.

Nghe Thường Đề nói thế, ông lão thương hại nói rằng:

– Thôi được! Thế thì tôi mua cho ông một cân thịt người, nhưng ông không sợ đau hay sao?

– Cám ơn ông lão! Cám ơn ông! Ông đã giúp cho tôi mãn nguyện, đã giúp cho tôi giải quyết mọi khốn khó, khỏi cần nói giá tiền, ông cho bao nhiêu cũng được cả!

Nói xong Thường Đề bèn đem con dao sắt, cắn răng chịu đau cắt bắp thịt trên cánh tay. Ngay lúc ấy, giữa đám người đứng nhìn có một thanh niên trẻ tuổi chạy lại hỏi Thường Đề:

– Hỡi vị tu đạo kia, ông chịu đau đớn khổ sở như thế chỉ để cúng dường Bồ Tát Đàm Vô Kiệt, xin hỏi ông rằng, ông làm như thế có ích lợi gì?

– A! Cậu không biết chứ công đức của việc này vô lượng vô biên. Cậu nghĩ xem, Cực Lạc thế giới là một khu vườn vi diệu, đức Phật đã kêu gọi chúng ta một cách chân tình như thế, không lẽ cậu không tha thiết muốn về đó hay sao?

Anh chàng thanh niên cảm động trước lời nói khẩn thiết, nhiệt tình của Thường Đề, nên khảng khái nói:

– Ngài thật là khả kính! Tiền tài mà ngài cần dùng, tôi có thể dâng tặng cho ngài. Nhưng tôi chỉ xin ngài một điều, là hãy cho phép tôi đi theo để cùng cầu pháp bảo.

– Tốt lắm! Tốt lắm! Thường Đề trả lời ngay.

Lúc ấy, hóa nhân của trời Đế Thích nói:

– Thường Đề! Không phải ta thích gì thịt của ông, ta chỉ muốn thử đạo tâm của ông đấy thôi! Ta không phải là ai xa lạ, mà chính là trời Đế Thích. Sau này, ta quyết sẽ ủng hộ pháp của ông.

Lão già nói xong, dùng cánh tay áo phất nhẹ lên vết thương của Thường Đề rồi biến mất, vết thương bèn lành lặn lại như cũ. Thường Đề lạy tạ trời Đế Thích rồi cùng anh chàng thanh niên chuẩn bị một vài lễ vật cúng dường xong, cả hai cùng nhắm hướng Chúng Hương thành mà thẳng tiến.

Tới Chúng Hương thành, nhờ Bồ Tát Đàm Vô Kiệt dìu dắt khai đạo lại nhờ Thường Đề tu hành rất tinh tiến, nên 7 năm sau, Thường Đề giác ngộ được đạo pháp vi diệu, chứng được trí huệ Bát Nhã và vĩnh viễn giải thoát được sinh tử.

Từ đó người ta gọi ông là Bồ Tát Thường Đề.

“Người có chí thì làm gì cũng thành”, câu này áp dụng ở đây rất đúng. Chỉ cần chịu nhọc, cố gắng thực hiện thì việc gì dẫu khó khăn tới đâu cũng có ngày thành công.

12- Bất thối tâm

Thuở xưa có một người, tuy không được ai giáo hóa cho, nhưng vì đụng chạm trong đời, bị chuyện thế sự dầy vò, chuyện thị phi nhân ngã làm cho khốn đốn quá nhiều nên vô cùng phiền não và đâm có những suy nghĩ như sau: một con người trầm luân trong cõi trần lao này, cuối cùng được cái gì? Trong vũ trụ mênh mông con người bé nhỏ li ti chỉ như một hạt cát của sông Hằng, thế mà suốt ngày tâm trí chỉ dùng trong việc tranh đoạt hoặc lừa gạt dối trá bên ngoài, đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời mang theo được gì? Một đời người như thế, thử hỏi có ý nghĩa nào không?

Ông lại nghĩ đến đời sống của người tu, đó là những người làm việc vì chúng sinh, đời sống như thế thì cao cả biết bao! Những người tu ít nhất không bị thế sự trần lao làm cho khốn đốn phiền não, hơn nữa, họ còn có thể đắc được thánh quả của sự giải thoát trong tương lai. Nghĩ đến đây, ông rời bỏ gia đình đi tu làm sa môn.

Vị sa môn này từ sáng sớm đến chiều tối chăm chỉ tu học, không phút nào dám giải đãi. Chỉ cần nhớ lại đời sống của ông lúc trước và cái quả vị thánh mà ông nhắm đến trong tương lai cũng đủ thôi thúc ông chuyên cần học đạo.

Nhưng năm này sang tháng khác đã trôi qua mà ông vẫn chưa chứng đắc được quả vị nào, không lẽ công phu sâu dày như thế mà vẫn không đúng đạo hay sao? Ông càng nghĩ càng lo sợ, hẳn là mình đã lầm đường lạc lối hay đang bị ma phá? Ôi! Chẳng thà trở về nhà làm kiếp phàm phu cho rồi, cần gì phải tu hành khổ sở như thế này!

Ông lấy quyết định sửa soạn bỏ về nhà rồi bỗng lại do dự. Sự thành công hay thất bại có khi được định đoạt chỉ trong một niệm: bỏ đi thì mấy năm cần khổ học đạo vừa qua coi như đổ xuống sống xuống biển, hy vọng ngộ đạo coi như mất vĩnh viễn; còn nếu lấy lại tinh thần để tiếp tục con đường tu hành, biết đâu có thể thành tựu một ngày nào đó chăng?

Trong lúc những ý nghĩ nên đi hay nên ở như thế đang quay cuồng trong đầu ông, thì có một vị thần cây trong núi thấy thế cảm thấy xúc động, vì trong kiếp trước đã từng có nhân duyên với ông. Thần cây rất lo lắng cho ông, biết rằng nếu ông trở về thì sẽ vĩnh viễn trôi nổi trong biển rộng sinh tử.

Thần cây bèn dùng chút thần thông thử thách, biết đâu xoay chuyển được ý chí của ông và giúp cho ông thành tựu đạo nghiệp? Thần cây bèn hóa thành một vị tỳ kheo ni xinh đẹp, ăn mặc diêm dúa, đeo đầy nữ trang châu báu, ưỡn ẹo làm dáng đến trước mặt vị sa môn.

Vị sa môn thấy thế không chịu được, bèn nghiêm sắc mặt lại mà mắng rằng:

– Cô là tỳ kheo ni, là người xuất gia học đạo, tại sao lại mặc quần áo của người thế tục? Tại sao lại làm bộ làm tịch để làm quáng mắt người khác?

Hóa nhân tỳ kheo ni trả lời :

– Chuyện ấy có quan hệ gì? Quần áo, nữ trang chỉ là huyễn hóa, phấn son chỉ là mầu sắc, thì có gì đáng tham luyến đâu? Tất cả đều là giả tướng, chính thân của ông bộ cũng không đồng một thể hay sao? Trước mắt thì thấy có tuổi thanh xuân, có sức khỏe dồi dào, nhưng một khi vô thường đến, đất nước lửa gió phân tán rồi, thì chủ của thân ấy ở đâu? Vô tướng, thật tướng, chân như vốn bất sinh bất diệt, biết rõ các pháp bổn lai là như thế thì chứng đạo có chi là khó khăn?

Một con người sống trên thế giới này giống như mặt trăng trên trời vậy: một mình một bóng, đến một mình và đi cũng một mình, trên thân đến không mang một thứ gì và cũng sẽ không một thứ gì trên thân mà đi, không có vật chi thuộc về mình một cách chân thật.

Chúng sinh ngu si, trong những hoàn cảnh hư huyễn không thật mà sinh tham luyến, mê say đến nỗi tự ràng buộc mình vào đó. Không phải cảnh giới mê hoặc con người, mà chính là con người tự đắm chìm vào cảnh giới ; không phải phiền não trói buộc con người mà chính là con người tự đi tìm phiền não để cột ràng mình vào. Vì mê lầm mà tham ái cảnh vật hư huyễn không thật nên suốt một đời sống như mộng, như say, như si, mà còn ngày đêm oán trời hận người. Họ không hiểu cái khổ không phải là cái gì tự có, mà là do ác nghiệp của chính họ chiêu cảm đến.

Chúng sinh thật đáng thương. Họ ngẫu nhiên tạo được vài nhân thiện, chiêu cảm được vài phúc báo, thế là dương dương tự đắc mà không hiểu rằng phúc báo cũng chỉ là giả tạm. Một khi nếm cái mùi giả tướng của thế gian rồi tham luyến nó, thì sẽ thấy cái vui sướng rất khó mà đi theo thân mình mãi mãi, ngược lại cái tai họa thì như bóng theo hình, một giây một khắc cũng không rời. Muốn cầu cái vui sướng tự tại vĩnh viễn thì phải liễu ngộ vấn đề sinh tử, phải vĩnh lìa tham dục và tạo tác.

Trong tam giới, dĩ nhiên cũng có những vị được rất nhiều phúc báo ở cõi trời, nhưng những vị này rồi cũng có lúc hưởng hết phúc và phải bị đọa lạc. Pháp Phật có nói : người ở trong gia đình như ngồi trong lao tù, mà cái tầng trời cao nhất của ba cõi cũng chỉ như lao tù. Chỉ có cái học vô lậu mà chư Phật và chư bồ tát đã tu học, tức là quán chiếu cái tướng “không” của chư pháp, và dừng bỏ cái thấy lệch lạc là có sự sai biệt giữa ta và người, mới là cái cảnh giới thường hằng an vui cứu cánh.

Hóa nhân tỳ kheo ni nói thao thao bất tuyệt một hồi, như một thùng nước sạch dội lên tâm trí của vị sa môn. Ông suy xét kỹ lưỡng ý nghĩa của từng câu nói mới nghe. Đúng thế, cái giả tướng vốn do tứ đại hòa hợp, chúng sinh vì quá ư say đắm cái giả tướng này mà tự hại lấy mình.

Khi giác ngộ được rằng pháp tính vốn là không, con người sống ở trên thế giới này như một du khách đi qua xứ khác chơi, thì nhìn chúng sinh trong mười phương thật sự không thể nói được là có thân có sơ.

Vị sa môn nhờ thế mà tâm hồn trở nên cởi mở, xả bỏ hết mọi quái ngại. Ý nguyện ban đầu kiên cố trở lại, ông chăm chỉ tu học và về sau đắc được đại tự tại.

13- Bảy năm trong chậu máu

Công chúa Tu Ba Bà Sa, vợ của vua Câu Lợi Da là một người đàn bà có tín tâm sâu dầy, bà mang thai trong 7 năm trời. Một hôm bà đau bụng từng cơn, rồi những cơn đau ấy trở nên kịch liệt, ròng rã suốt 7 ngày. Tuy đau đớn như thế, bà vẫn suy nghĩ như sau :

– Vì muốn giúp cho người ta thoát những nỗi khổ như thế này nên Đức Phật thuyết pháp, và chúng đệ tử của Ngài, cũng vì muốn thoát khỏi những khổ đau như thế này nên mới tu hành. Niết Bàn không có khổ, Niết Bàn là một nơi vô cùng an lạc.

Bà nương vào ý nghĩ trên mà nhẫn nhục chịu đựng, rồi nhờ chồng đến chỗ của Đức Phật cho bà nhắn lời thăm hỏi và cho Ngài biết tin tức của mình.

Đức Phật nghe nhắn lại lời bà thăm hỏi, bèn nói:

– Hỡi công chúa Tu Ba Bà Sa, vợ của vua Câu Lợi Da, nguyện cho bà an lành, nguyện cho bà bình an mà sinh con trai khoẻ mạnh.

Đức Phật vừa nói như thế xong, quả nhiên công chúa bình an sinh hạ được một cậu con trai mạnh khoẻ. Chồng bà trở về nhà, thấy con trai mới sinh, nói rằng thật là bất khả tư nghì! Ông cảm thấy uy thần của Như Lai thật là hy hữu, không thể nghĩ bàn được.

Công chúa Tu Ba Bà Sa sinh xong, muốn cúng dường Đức Phật và chư đệ tử của Ngài trong suốt 7 ngày, nên lại nhờ chồng đi thỉnh mời Thế Tôn.

Lúc ấy Đức Phật cùng chư đệ tử đang ở nhà một vị đồ đệ của tôn giả Đại Mục Kiền Liên thọ cúng. Muốn cho Tu Ba Bà Sa được cơ hội cúng dường, nên Thế Tôn sai người đến nhà tôn giả, nói với tôn giả hãy nhận lời mời, rồi cùng chư tỳ kheo đến nhà bà Tu Ba Bà Sa thọ cúng trong suốt 7 ngày. Đến ngày thứ bảy, Tu Ba Bà Sa chưng diện cho con trai là thái tử Tất Bà Lợi, và đem con ra lễ bái Đức Phật và chư tỳ kheo. Đảnh lễ xong, bà đem con đến chỗ của tôn giả Xá Lợi Phất. Tôn giả nhìn đứa bé gật đầu và hỏi:

– Tất Bà Lợi, ngươi có khoẻ không?

– Bạch tôn sư! Con làm sao khoẻ được? Con ở trong chậu máu suốt bảy năm trời kia mà!

Rồi cậu tiếp tục đàm luận như thế với tôn giả Xá Lợi Phất. Tu Ba Bà Sa nghe cậu nói chuyện, trong lòng hớn hở nghĩ rằng: con mình mới sinh chưa đầy 7 ngày mà đã có thể đàm luận với tôn giả Xá Lợi Phất, là vị đệ tử lớn nhất của Đức Phật!

Đức Phật hỏi:

– Tu Ba Bà Sa! Bà có còn muốn một đứa con trai như thế nữa không?

Công chúa thưa:

– Bạch Thế Tôn! Cho con 7 đứa con trai như thế này nữa con mới thấy đủ!

Đức Phật chia vui với bà, nói lời chúc mừng rồi ra đi.

Hoàng tử Tất Bà Lợi được 7 tuổi thì quy y với Đức Phật, đầy 20 tuổi thì thọ cụ túc giới, giữa những người làm việc thiện cậu là người đứng đầu, và khi cậu chứng quả A La Hán thì đại địa phát âm thanh.

Một hôm, chư tỳ kheo cùng nhau tập họp ở pháp đường đàm luận:

– Các vị pháp hữu! Trưởng giả Tất Bà Lợi thật là một người làm việc thiện đệ nhất! Chắc hẳn ngài đã lập thệ nguyện từ xa xưa, nay lại sẽ chứng quả A La Hán. Nhưng do nghiệp dĩ nào mà ngài đã phải ở trong chậu máu suốt bảy năm trời, và chịu 7 ngày đau đớn mới sinh ra đời, khiến hai mẹ con đều phải chịu tận cùng của sự thống khổ?

Vừa khéo, đúng lúc ấy Đức Phật bước vào và hỏi:

– Chư tỳ kheo, các ông tập họp ở đây để bàn luận việc gì vậy?

Các tỳ kheo nói lên vấn đề và thỉnh ý Thế Tôn. Đức Phật nói:

– Này chư tỳ kheo, Tất Bà Lợi, người làm việc thiện đệ nhất, ở trong chậu máu suốt 7 năm và chịu 7 ngày đau đớn mới sinh ra đời là do túc nghiệp của ông ấy. Tu Ba Bà Sa chịu cái khổ thai nghén trong 7 năm trường và chịu cái khổ đau đớn trong suốt 7 ngày mới lâm bồn, cũng là do chính nghiệp đời trước của bà mà ra.

Đức Phật nói tiếp:

– Ngày xưa có một ông vua thành Ba La Nại, bồ tát chọn nơi này đầu thai nên hoàng hậu sinh được một hoàng nam. Khi hoàng tử đến tuổi trưởng thành, thì đi đến thành Đắc Xoa La để học tất cả mọi ngành nghề. Lúc ấy nước Câu Tát đem đại binh đến tấn công thành Ba La Nại, giết vua, cưỡng bức hoàng hậu về làm vợ. Hoàng tử nước Ba La Nại thấy vua cha bị giết thì chạy trốn bằng đường hầm bí mật, chiêu tập binh mã, trở về thành Ba La Nại, đóng binh ở một vùng phụ cận và gởi thư đến nhà vua nói rằng “Hãy trả ngôi báu lại cho tôi, nếu không thì hãy cùng tôi giao chiến”. Nhà vua gởi thư trả lời “Sẵn sàng giao chiến”.

Mẹ của hoàng tử nghe tin này, cũng viết thư cho con nói rằng: “Giao chiến không có ích lợi, nên vây hãm thành Ba La Nại, cắt đứt mọi đường giao thông ở bốn phía, khiến cho nước, củi và lương thực không vào thành được, chờ cho dân chúng kiệt quệ và khốn đốn, thì không cần đánh thành cũng sẽ rơi!”

Hoàng tử nghe lời mẹ, trong 7 ngày cắt tuyệt mọi đường giao thông, phong tỏa các cửa thành. Dân trong thành thấy mọi đường giao thông bị cắt tuyệt, đến ngày thứ bảy thì đem thủ cấp của vua hiến cho hoàng tử. Hoàng tử tiến vào thành tiếp lấy ngôi vua, về sau y theo nghiệp báo của mình mà đầu thai vào chỗ phải sinh.

Vì trong 7 ngày cắt tuyệt mọi đường giao thông, phong tỏa kinh thành để chiếm đoạt ngôi báu, nên phải chịu quả báo 7 năm trong chậu máu, 7 ngày mới sinh ra đời. Nhưng ông đã từng quỳ dưới chân Tối Thắng Bạch Liên Như Lai mà nói mình muốn trở thành “sở đắc đệ nhất nhân”, đã từng hành đại bố thí hồi hướng cho nguyện ấy, rồi dưới thời Tỳ Bà Thi Như Lai ông lại cúng dường cho tất cả dân chúng trong thành một ngàn lượng bánh sữa cũng để hồi hướng cho nguyện ấy. Nhờ những công đức như thế nên nay ông đắc được chuyện gì cũng ở ngôi vị đệ nhất mà được.

Lại bà Tu Ba Bà Sa, vì đã viết thư khuyên con bảo lấy thành bằng cách phong tỏa các cửa, nay phải chịu 7 năm thai nghén, chịu cái đau đớn sinh sản trong suốt 7 ngày.

Đức Phật nói chuyện quá khứ ấy xong, lại nói tiếp:

– Thời ấy, người phong tỏa kinh thành để lấy ngôi báu là Tất Bà Lợi, mẹ Ông là Tu Ba Bà Sa, và cha của ông, vua nước Ba La Nại, chính là ta vậy.

Một lời nói, một hành động, nếu không cẩn trọng, thì khổ đau sẽ theo đó mà kéo đến.

14- Biết tụng kinh Kim Cang bằng tiếng Phạn

Vợ của quan đại phu Tư Nguyên Thôi Nghĩa, họ Túc, con gái của Túc Khanh. Túc Khanh là cháu của Túc Nghi Xạ.

Túc thị, vợ của Thôi Nghĩa, tuy sinh trưởng trong một gia đình phú quý, nhưng là một người hay ganh ghét, hay sân hận, thường dùng roi vọt đánh đập tỳ nữ, không tin nhân quả luân hồi.

Vào đời Đường Cao Tông Lân Đức nguyên niên, Túc thị theo chồng là Thôi Nghĩa đên sống ở Lạc Dương, tới tháng giêng năm thứ hai thì chết.

Lúc Túc thị còn sinh tiền, có đứa nô tỳ cưng tên là Nhuận Ngọc, vừa đúng 18 tuổi, tuy thuộc giòng tộc man rợ nhưng tướng mạo đoan trang xinh đẹp, mà còn rất thông minh. Chủ nhân cô, Túc phu nhân, không tin Phật Pháp nhưng cô thì lại rất tin.

Qua tháng hai, gia đình nhà họ Thôi thỉnh chư tăng đến dùng cơm chay và đồng thời cầu siêu tuần tam thất cho phu nhân.

Hôm đó, mọi người đang ngồi ăn cơm thì tỳ nữ Nhuận Ngọc bỗng thấy Túc thị trở về, cổ đeo gông, lưng đeo khóa, lại còn bị vài tên ngục tốt kéo đi, nhưng người khác thì lại không thấy gì cả, chỉ có Nhuận Ngọc là thấy được mà thôi. Hồn ma của Túc thị nhập vào người của Nhuận Ngọc, cô này tức thời mở miệng nói bằng giọng của Túc thị:

– Từ khi tôi về làm dâu nhà họ Thôi tính tình dữ dằn, vừa sân hận vừa ganh ghét, thích đánh đập tỳ nữ, không tin nhân quả, nên bây giờ chết phải đọa địa ngục, thọ tội báo vô cùng nặng nề. Tôi đã phải chịu trăm vạn nỗi thống khổ, hôm nay biết được gia đình tổ chức tuần tam thất, vì tôi mà thỉnh chư tăng và lập đàn chay tạo phúc, vì thế tôi cầu xin quan ngục cho tôi được thả ra một ngày, tạm về nhà xem việc đàn chay, đồng thời nói một vài điều với các con tôi và tất cả mọi người trong nhà, già trẻ lớn bé.

Từ trước tôi sống chung với các người, luôn luôn hung hăng dữ dằn, muốn làm chi là làm loạn làm càn, còn thích dùng roi vọt đánh đập người nhà, ghen tức với những tỳ nữ tốt của chồng tôi. Lúc còn sống tôi luôn luôn tạo nghiệp ác, nên hôm nay chịu quả báo khổ, không biết ngày nào thoát ra được.

Hôm nay tôi xin các con tôi cùng tất cả nhà, nội ngoại thân thuộc, cho tôi được sám hối với từng người một, xin mọi người tha thứ cho tôi.

Xin các con tôi niệm tình sinh dưỡng mà đem tất cả nữ trang, tiền bạc của tôi lúc sinh tiền, thay mặt tôi làm việc phúc đức, thiết lễ trai tăng, cúng dường tăng ni, cho tôi thoát được sự thống khổ.

Làm như thế 7 tuần tức là 49 ngày, trai tăng viên mãn, tôi lại có thể xin quan ngục thả cho tôi ra một ngày nữa, về gặp chồng con nói chuyện. Chồng tôi tính tình cũng nóng nảy, hay nổi giận, sau này không được đánh đập nô tỳ nữa, nên khuyến khích mọi người quy y Tam Bảo, cung kính bậc tôn trưởng, trì giới, chay tịnh, nhẫn nhục, bố thí.

Chuyện tôi muốn nói đến đây là xong, nhưng tôi muốn đem Nhuận Ngọc đi theo tôi xuống địa ngục cho nó xem cảnh tôi bị hành tội như thế nào, thống khổ ra sao, sáu bảy ngày nữa tôi sẽ thả cho nó về nhà.

Tỳ nữ Nhuận Ngọc nói bằng giọng của Túc thị vừa dứt lời bèn ngã lăn ra bất tỉnh không còn biết gì nữa, chỉ có vùng tim là có hơi ấm, ngoài ra khắp cả người đều lạnh như băng, nhưng gia nhân không dám đem cô đi mai táng.

Nhuận Ngọc vừa bất tỉnh, linh hồn cô đi theo Túc phu nhân xuống địa ngục, thấy một cái điện thật to, cửa điện có binh lính đứng canh, có vẻ như là điện của vuạ Cô không dám đứng lại xem xét, đi một mạch tới viện phía đông, lại thấy một sảnh đường, trong sảnh đường có một vị quan lớn, có vẻ như là vị quan phán tội.

Băng qua sảnh đường thì tới đông viện, nơi đây có đủ loại dụng cụ tra tấn, giống như các tranh vẽ về địa ngục mà cô đã từng trông thấy. Tới đây Túc phu nhân nói với Nhuận Ngọc rằng :

– Ngươi hãy xem ta thọ tội thống khổ tới mức nào!

Dứt lời, có ngục tốt với đủ loại hình thù quái dị cùng quỷ la sát v.v.. xông tới, ném thân của Túc phu nhân lên một phiến gỗ lớn, rồi khoa dao mổ lợn cắt bằm loạn xạ, xong lại ném bà vào vạc nước hoặc vạc dầu chiên chiên luộc luộc. Sau đó Túc phu nhân trở lại nguyên hình, họ lại đưa bà đi các chỗ trong ngục tối, dùng kềm sắt kéo lưỡi, thả quạ sắt tới mổ mắt, ném bà lên giường sắt núi dao, làm mồi cho chim sắt, lửa dữ. Bà chết đi rồi sau đó sống lại để chịu khổ nữa, những cảnh đau đớn như vậy không làm sao nói hết được!

Túc thị phu nhân chịu đủ các thứ hình phạt như thế rồi, bỗng cha bà là Túc Khanh cưỡi tòa sen bằng vàng tím từ không trung hạ xuống.

Lúc còn tại thế, trong suốt thời gian làm quan, Túc Khanh không ăn thịt uống rượu, kiên cữ cả năm loại hành tỏi, thường đọc tụng kinh Pháp Hoa, cung kính Tam Bảo, hiện thời ông đã sinh về thế giới của Phật. Biết con gái đã bị đọa địa ngục, ông bèn xuống cứu giúp.

Túc Khanh nói với con gái rằng:

– Lúc còn tại thế, ta thường thường dạy con tin Phật, dạy con đừng sân hận, nhưng con không nghe lời ta nên mới có quả báo ngày hôm nay, nhưng tại sao con lại đem tỳ nữ đến đây nữa?

Túc phu nhân trả lời:

– Cũng vì lúc sống con không tin Phật, ngày nay chịu tội, nên con đem tỳ nữ xuống đây chứng kiến cảnh con đau đớn ra sao, để nó về kể lại cho người trong nhà nghe cho họ tin Phật, thế thôi.

Túc Khanh nghe thế, gật đầu rồi nói:

– Tuy ta sinh trong cảnh giới Phật, nhưng dẫu có hết sức cũng không giúp đỡ cho con được, con hãy nương nhờ vào sự giúp đỡ nhân duyên phúc đức người nhà con, ta hy vọng ta sau này sẽ hết khổ được vui, con hãy làm thế nhé!

Túc Khanh vừa dứt lời thì trên không trung bỗng nhiên có một vị phạm tăng bay xuống, cũng nói với Túc thị:

– Bà không tin nhân quả nên thọ khổ như thế này, nhưng cô gái này thì làm sao đây? Ta muốn dạy cho cô tụng kinh, để người trên dương gian phát lòng tin.

Túc phu nhân nói:

– Nó thông minh lắm, có thể học kinh được.

Vị phạm tăng bèn dạy Nhuận Ngọc tụng kinh Kim Cang, nhưng là bằng âm phạn chứ không phải bằng tiếng Trung hoa. Dạy không bao lâu cô đã tụng được trôi chảy, âm vận thành thạo, vị phạm tăng dặn dò cô rằng:

– Cô trở về nhà rồi, gặp người ta thì cô tụng kinh nhưng người Trung quốc sẽ không hiểu là cô tụng những gì. Cô nên tìm một người từ Tây Vực biết tiếng Phạn, rồi tụng cho người ấy nghe. Người đời bây giờ phần đông tin tà giáo, không tin Phật Pháp. Nếu họ biết cô không học mà tụng được kinh bằng tiếng phạn, họ sẽ sinh lòng tin. Nếu có được một người bỏ tà quy chánh thì đó là nhờ công đức của cô đấy!

Vị phạm tăng nói xong bèn đưa Nhuận Ngọc trở về nhà. Nhuận Ngọc tỉnh lại, liền cho triệu tập người trong nhà, đem cảnh phu nhân thọ khổ dưới địa ngục kể lại tường tận.

Lại sợ con cái của phu nhân không tin, cô kể tiếp việc Túc Khanh đến để cứu giúp phu nhân, và việc phạm tăng dạy cô tụng kinh ra sao, nhất nhất kể hết. Cô còn tụng kinh Kim Cang bằng tiếng phạn, âm thanh rất rành rọt. Cả nhà già trẻ lớn bé thấy câu chuyện chưa từng thấy chưa từng nghe này, không ai là không hồi tâm hướng thiện, tin Phật và chay tịnh.

Rồi cũng tại năm ấy, có bốn vị phạm tăng từ Tây Vực đến Trung quốc, đem theo một mảnh xá lợi xương đỉnh đầu của Phật. Tướng quân Tiết Nhân Quỹ bèn thiết trai cúng dường trong nhà. Người trong quyến thuộc của tướng quân cùng rất nhiều quan viên cùng đến dự tiệc chaỵ Một vị quan nói:

– Nhà của đại phu Thôi Tư Nguyên có đứa tỳ nữ Nhuận Ngọc biết tụng kinh Kim Cang bằng âm phạn, chúng ta nghe không ai hiểu, hay là mời cô ta đến đây tụng cho các vị phạm tăng này nghe?

Tiết tướng quan bèn sai người mời Nhuận Ngọc đến, cô tụng kinh cho bốn vị phạm tăng nghe, họ nghe rồi tỏ vẻ kinh ngạc và chắp tay khen ngợi cô, tấm tắc cho là chuyện hy hữu, hỏi rằng:

– Làm sao người nhà Đường có thể tụng kinh bằng âm phạn?

Người thông dịch viên đem chuyện của Nhuận Ngọc ra kể hết cho các vị phạm tăng nghe.

Nghe xong, họ vô cùng kinh dị và tán thán. Các vị quan cùng người tăng kẻ tục trong bàn tiệc, không ai là không sinh tâm hy hữu. Tiết Tướng quan đem sự việc này tâu lên vua Cao Tông, vua tức thời hạ chiếu thư khuyến khích quân quan thần dân đều nên tin Phật pháp, vì thấy rằng trong tất cả các vị thánh hiền, Phật và Bồ Tát là những bậc cao tột nhất.

Do đó, các quan văn võ cùng trăm họ trong dân gian không ai là không tin Phật pháp.

15- Bộ Tri Ca tỉnh ngộ

Lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Xá Vệ có một người rất giàu tên là Bộ Tri Ca, cha mẹ qua đời sớm, vì thế thuở ấu thời không được giáo dục đàng hoàng.

Bộ Tri Ca tính tình lì lợm cứng đầu, động một tí là nổi cơn tam bành. Ông không có một người bạn thân nào vì không ai dám lại gần ông.

Bộ Tri Ca không tin Đức Phật, nhưng đối với lục sư ngoại đạo thì lại cung kính lễ bái. Về sau ông mắc phải một cơn bệnh rất ngặt nghèo.

Ông đau đớn không kể xiết, nhưng không có lấy một người đến chăm sóc cho ông. Cả những vị ngoại đạo vốn được ông lễ kính, cũng chả có một người nào đến thăm hỏi.

Trong phút hấp hối, Bộ Tri Ca mới tỉnh ngộ ra rằng tính tình của mình quá ư thô bạo, suốt đời chưa từng kết giao với một người bạn nào, nên hôm nay lâm bệnh nặng không ai đến hỏi han chăm sóc. Ông bèn nguyện rằng, giá như có một người nào có thể cứu ông khỏi bệnh, ông thề sẽ suốt đời phụng sự người ấy để đền ơn. Ông lại nghĩ tiếp:

– Tính tình của ta không tốt như thế nên đã bị tất cả mọi người bỏ rơi từ lâu, bây giờ sẽ không ai thèm đối xử tử tế với ta cả đâu! Chỉ có Đức Phật mới từ bi bình đẳng, cứu khổ tất cả mọi người, không bỏ một chúng sinh đau khổ nào. Bây giờ ta muốn đi gặp Ngài quá, nhưng Ngài ở xa tít mù khơi, làm sao ta đi gặp Ngài được?

Bộ Tri Ca cứ một lòng suy nghĩ như thế mãi. Lúc bấy giờ ở ngoài thành Xá Vệ xa xôi trong Kỳ Viên tinh xá, Đức Phật biết Bộ Tri Ca đã tỉnh ngộ và hối cải, cơ duyên được độ đã thành thục, bèn phóng một luồng ánh sáng từ bi chiếu đến thân Bộ Tri Ca, khiến ông lập tức cảm thấy mát mẻ. Được nhìn thấy hình ảnh Đức Phật trong ánh viên quang ấy, ông cũng cảm thấy tinh thần tỉnh táo hẳn. Ông biết rất rõ đây là ân huệ của Đức Phật ban cho mình, mừng rỡ không cùng, vội năm vóc gieo đất lễ bái Đức Phật từ xa.

Đức Phật dùng thần thông hiện trước mặt Bộ Tri Ca, ông thấy Thế Tôn thân hành giáng lâm, vừa kinh sợ vừa vui mừng, chắp tay đảnh lễ. Đức Phật hỏi:

– Ông thấy cái khổ nào là khó chịu nhất?

– Bạch Thế Tôn! Cái khổ của thân bệnh rất là khó chịu, nhưng con thấy cái khổ của tâm bệnh càng khó chịu hơn. Nay cả thân lẫn tâm của con bị lâm trọng bệnh, thân và tâm của con đều khổ và đều khó chịu!

Bộ Tri Ca trả lời.

Đức Phật bèn dùng thần thông vô biên quảng đại, chọn một phương thuốc thần diệu tên là Bạch Khổng đưa cho Bộ Tri Ca uống. Uống xong, bệnh khổ liền dứt trừ, thân tâm ông sảng khoái dị thường.

Bộ Tri Ca lành bệnh rồi nên vô cùng tin kính Đức Phật, ông mở một cuộc trai tăng với các phẩm vật thượng diệu nhất dâng lên Như Lai và chư tăng, rồi còn dùng quần áo giá trị cả triệu lượng vàng để cúng dường nữa.

Bộ Tri Ca lại còn phát thệ nguyện rộng lớn, nguyện đời đời kiếp kiếp về sau sẽ phụng hành đại bi, cứu chữa thân bệnh và tâm bệnh cho chúng sinh, khiến chúng sinh được an lạc.

Đức Phật nghe Bộ Tri Ca thề nguyện như thế bèn mỉm cười. A Nan tôn giả chắp tay thỉnh Đức Phật cho biết nguyên nhân nụ cười này, Đức Phật trả lời:

– Trưởng giả Bộ Tri Ca lành bệnh rồi là bèn lập đàn trai cúng dường, lại còn phát nguyện Bồ Đề, tương lai sẽ thành Phật, rộng độ chúng sinh không có hạn lượng, vì thế ta hoan hỉ mà cười.

Đức Phật không bao giờ bỏ rơi chúng sinh, cho dầu chúng sinh ấy là người như thế nào đi nữa. Chỉ cần người ấy tỉnh ngộ sám hối là có nhân duyên được độ, và được Đức Phật cứu giúp.

16- Bốn đứa con

Đức Phật A Di Đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc đã phát nguyện sẽ cứu độ chúng sinh trong biển khổ, chúng ta chỉ cần muốn siêu sinh thì Đức Phật A Di Đà chắc chắn sẽ đến tiếp dẫn, nguyện lực của Ngài to lớn thù thắng, không thể nghĩ bàn được.

Cách đây chừng hơn 2 000 năm, cũng chính là lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp ở thế gian, có một vị nữ cư sĩ tại gia học Phật, rất chí thành tin tưởng và cung kính Như Lai. Mỗi buổi sáng bà đều đến gặp Đức Phật cung kính lễ bái, chưa bao giờ quên, chưa bao giờ lười biếng trễ nãi.

Một hôm, bà thỉnh Đức Phật đến nhà thọ cúng; Đức Phật biết tâm ý của bà nên cố ý hỏi:

– Bà thiết đàn lập trai cúng dường Phật, là vì muốn có được phúc báo gì?

Bà cư sĩ cung kính trả lời:

– Nếu được phúc báo, con xin sinh được 4 đứa con.

– Tại sao lại muốn có 4 đứa con?

Đức Phật từ bi hỏi.

– Bạch Thế Tôn, nếu con có 4 đứa con, thì khi chúng nó khôn lớn, đứa đầu sẽ buôn bán làm ăn, kiếm thật nhiều tiền. Đứa thứ hai sẽ cày ruộng làm rẫy, mỗi năm gặt hái được nhiều thóc lúa; đứa thứ ba, con sẽ dạy nó cố gắng chăm chỉ, tương lai làm quan vinh hiển tông môn, và đứa thứ tư thì con sẽ cho nó xuất gia học đạo, tu hành chứng thánh quả để tiếp độ cha mẹ cùng tất cả mọi người, lúc ấy con sẽ hoàn toàn mãn nguyện.

Đức Phật nghe bà kể những nguyện ước của mình xong, chấp thuận:

– Được, bà sẽ được như ý.

Bà cư sĩ mừng rỡ cúng dường Đức Phật xong, không bao lâu sau quả nhiên thọ thai, sinh được một cậu con trai. Đứa bé từ nhỏ đã thông minh lanh lợi, không giống với những đứa bé thường tình khác, nên được cha mẹ thương yêu như hòn ngọc trong tay.

Đứa bé theo thời gian mà lớn lên, tuy mẹ nó cầu xin có bốn đứa con nhưng không cho nó được đứa em nào hết. Bao nhiêu tình thương đáng lẽ phải chia cho bốn, bà đều đổ dồn hết lên đứa con duy nhất ấy.

Có một hôm trong câu chuyện, người mẹ kể cho con nghe chuyện mình cúng Phật cùng nguyện ước bốn đứa con của mình, và tại sao mình lại muốn như thế. Người con nghe mẹ kể xong thì khắc ghi lời của mẹ trong lòng. Lớn lên, cậu học làm ăn buôn bán. Nhờ thông minh lanh lợi nên không đầy một năm sau, kiếm được vô số tiền bạc tài sản, làm cho cha mẹ rất vui mừng. Sau đó, cậu không buôn bán nữa mà xoay qua làm nghề canh nông. Nhờ cậu chịu khó cần lao cầy cấy tưới tẩm, mức thu hoạch vô cùng dồi dào phong phú, hàng xóm láng giềng ai nấy đều khâm phục. Trong nhà nay đã có tài sản lại vừa có thóc gạo, họ đã trở thành một nhà đại phú hộ. Lúc ấy, cậu muốn hoàn thành nguyện vọng thứ ba của mẹ, tức là có một đứa con làm quan để rạng rỡ tông môn. Vốn là một người tài hoa nên xin ra làm quan không phải là việc khó, cậu làm quan lớn nên gia đình càng giàu sang thêm. Bây giờ có gì đáng buồn tiếc nữa đâu? Nhưng nguyện vọng lớn nhất của cậu vẫn chưa thành tựu. Sau một năm làm quan, cậu thưa với mẹ rằng :

– Mẹ à, bốn điều mà mẹ cầu nguyện, con đã hoàn thành được bạ Bây giờ chỉ còn lời nguyện cuối cùng, nếu hôm nay con xuất gia thì có phải là mẹ hoàn toàn mãn nguyện không?

Người mẹ biết con mình muốn xin xuất gia, thật ra đây cũng là ý của bà lúc đầu nên bà vui lòng ưng thuận. Người con mừng rỡ từ biệt cha mẹ, đến chỗ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xin xuất gia làm sa môn.

Nương nhờ công đức của Phật, cùngvới thiện duyên của mình, thêm sự gia công tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu cậu chứng quả, thành một vị đại A La Hán. Đắc đạo xong, cậu về nhà độ hóa cha mẹ cùng tất cả người nhà.

Từ đó về sau, cậu bước trên đường hoằng dương chính pháp, làm lợi lạc và thành tựu chúng sinh.

17- Bốn loại phước đức

Lúc Đức Phật còn tại thế, có một vị trưởng giả tên là Âm Duyệt, nhà rất giàu có, không có điểm nào đáng phàn nàn trừ một điều là tuổi đã cao mà chưa có đứa con trai nào, nên từ sáng đến tối ông cứ rầu rầu nét mặt.

Nhưng nhờ thiện căn đời trước nên một hôm, liên tiếp bốn loại phúc đức cùng đến với ông trong một lúc. Đó là : thứ nhất vợ Ông sinh được một cậu con trai kháu khỉnh xinh xắn không ai bì kịp ; thứ hai trong chuồng ngựa có vô số ngựa trắng đều đồng thời sinh sản rất nhiều ngựa con khoẻ mạnh ; thứ ba, ông được vua phái người tới tận nhà phong thưởng chức tước ; thứ tư, những chiếc tàu buôn ông gởi ra nước ngoài tìm kho tàng đều về tới bến, thành công mỹ mãn.

Vị trưởng giả hoan hỉ vô cùng, ông nghĩ rằng đó là do chư thiên ban phúc cho mình nên phải tập họp gia tộc lại, làm một bữa tiệc cỗ cao lương mỹ vị cúng tế, tạ Ơn lòng tốt của chư thiên.

Lúc ấy đương nhiên rất nhiều thiên vương cùng bát bộ thiên long và người cõi trời rải rác trong hư không, thấy vị trưởng giả phúc đức đầy đủ như thế, đều âm thầm tán thán. Đức Phật Thích Ca, cũng vì đời trước có chút nhân duyên nên cũng đến trước cửa nhà trưởng giả nói kệ cát tường:

Phúc đức trổ mạnh mẽ
Niềm vui tới một lúc
Do phúc đức đời trước
Nay đến lúc thành thục.

Âm Duyệt trưởng giả nghe pháp âm vi diệu của đức Phật Thích Ca, mừng rỡ chạy ra ngoài cửa cung kính lễ bái mà nói :

– Ngài là vị xuất gia được cả pháp giới này tôn kính bậc nhất, phúc tuệ song toàn nên độ hóa được chúng sinh trong cả mười phương thế giới! Hôm nay biết trước nhà tôi có may mắn vô hạn nên Ngài tới tận đây mà tán dương, lòng tôi thật vô cùng cảm kích!

Nói xong, bèn đem ra những tấm thảm nhung trắng loại thượng hảo hạng ra cúng dường Phật. Đức Phật tiếp nhận rồi bèn chú nguyện cho ông và còn từ bi khai thị rằng:

– Trên thế gian này, ngay trong bản thể của tiền tài vốn đã bị năm loại tai nạn nguy hiểm chi phối, nhưng người ta không biết cái đạo lý này nên cứ mong cầu không chịu biết đủ, tính toán chi li, đến khi chết đồng xu nhỏ cũng không mang theo được. Tiền tài như thế chỉ đem lại phiền não cho chúng ta mà thôi. Hôm nay nếu trưởng giả dùng cái tiền tài bất an ấy để bố thí cúng dường thì sau này phúc đức và chuyện vui nào cũng sẽ theo nhân duyên đó mà đến với ông.

Trưởng giả hỏi:

– Năm tai nạn nguy hiểm ấy là gì?

Đức Phật trả lời:

– Thứ nhất là không biết trước sẽ bị lửa thiêu cháy lúc nào; thứ hai là đề phòng nạn bão lụt không kịp; thứ ba là bị quan quyền dùng áp lực tịch thu mà không làm sao kháng cự; thứ tư là sinh con bất hiếu tiêu phí khánh tận gia sản ; thứ năm là đạo tặc vô tình cướp đoạt. Trong số năm tai nạn trên, bất cứ tai nạn nào xẩy ra, gia sản cũng sẽ bị tổn thất ngaỵ. Thí dụ nếu có một người phạm tội với quan quyền, thì không những bất cứ của cải nào của họ cũng bị tịch thu mà có thể còn bị giam cầm trong lao tù, cho đến cả bị xử tử nữa cũng không chừng! Lúc ấy, người đó làm cách nào để chống chọi hay bảo vệ tài sản cho được an toàn đây? Lại nói, kiếp trước có một người đã từng bố thí 7 lần, nhưng mỗi lần bố thí xong là đều vô cùng hối hận tiếc rẻ. Do không bố thí với tâm chí thành nên sau đó, người ấy tuy có vô số tiền của, nhưng cũng bị phá sản 7 lần.

Trưởng giả nghe thế, sinh tâm chí thành bố thí một cách hoan hỉ. Đức Phật nói xong cũng tức khắc quay trở về núi Kỳ Xà Quật.

Đồng một lúc ấy có một vị ngoại đạo tên là Bất Lan Ca Diếp, nghe nói đức Phật chỉ thuyết có một câu kệ cát tường mà được vô số thảm nhung trắng, bèn sinh tâm ganh tị, tìm cách bắt chước làm thử. Nhưng ông không biết nói kệ nên đến xin Đức Phật dạy chọ. Đức Phật biết trước trưởng giả Âm Duyệt trong tương lai sẽ mất hết tài sản lẫn phúc đức trong cùng một lúc, nên dùng lời khéo léo để khuyên can ngoại đạo, nhưng người này cho rằng đức Phật không chịu dạy cho mình nên cứ theo kèo nài năn nỉ mãi. Đức Phật có đại thần thông, thấy nhân duyên kiếp trước của Bất Lan Ca Diếp, biết nghiệp chướng không thể tránh được, nên nói với đại chúng tại chỗ rằng: “Tội không tránh được, có nợ phải trả”. Rồi Ngài nói lên bốn câu kệ cát tường dạy cho Bất Lan Ca Diếp.

Không lâu sau, trưởng giả Âm Duyệt đã mất hết tài sản trong một trận hỏa thiêu, rất nhiều ngựa con cũng chết cháy trong cùng một lúc, đứa con trai quý bất hạnh yểu mệnh, đồng thời có người ganh ghét sàm tấu ông với vua, nên bao nhiêu chức vị được phong thưởng ngày nào nay đều bị tước lại. Chưa hết, những con tàu ông gởi đi kiếm kho tàng đều bị bão tố lật úp, cả vốn lẫn lời đều chìm sâu trong biển cả.

Đúng lúc ấy Bất Lan Ca Diếp hồ hỡi phấn khởi đến trước nhà trưởng giả, mạnh miệng đọc to lên những câu kệ cát tường. Trưởng giả đang phiền não không có chỗ để phát tiết, đột nhiên nghe những câu kệ cát tường, ngỡ rằng Bất Lan Ca Diếp cố ý chọc tức mình, nổi giận mặt mày đổi màu từ trắng ra xanh, bất chấp hết thảy, thuận tay tóm lấy cây gậy dựng ngay bên cửa đánh Bất Lan Ca Diếp một trận túi bụi. Đáng thương cho Bất Lan Ca Diếp, trong thoáng chốc bị đòn nên thân, cả người bầm tím mang đầy thương tích, bò lê bò càng đau đớn trở về nhà. Nhưng tuy vậy vẫn chưa tỉnh ngộ, cứ ngỡ rằng tại đức Phật không chịu dạy kệ cho rõ ràng!

Lúc ấy đức Phật đang ở vườn trúc La Duyệt Tri thuyết pháp, ngài nói với đại chúng rằng:

– Bất Lan Ca Diếp hôm trước tới đây đòi ta dạy cho kệ cát tường, ta khuyên can mà không nghe, hôm nay lại đằng đó bị đả thương rồi !

A Nan hỏi Đức Phật:

– Bất Lan Ca Diếp và vị trưởng giả kia có nhân duyên gì với nhau mà bị quả báo ấy?

Đức Phật nói:

– Đó là tại có một nhân duyên rất lâu xa về trước, thời ấy có một ông vua tên là Âm Duyệt. Một hôm vua đang ngủ trưa, thì có một con chim anh vũ bay lên trên mái cung đình mà hót, tiếng hót nghe rất cảm động. Vua nghe nó hót vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, bèn hỏi người xung quanh rằng :”Đó là loại chim gì, sao nó hót nghe cảm động đến thế ?” Người xung quanh đáp “Có một con chim kỳ diệu, mới bay tới hót ở trên mái cung đình”. Vua nghe thế, sai rất nhiều người đi lùng kiếm nó ở khắp mọi nơi. Lùng mãi rồi cuối cùng cũng bắt được, vua vui mừng không kể xiết, bèn dùng ngọc châu cơ, thủy tinh, lưu ly, trân châu, san hô, anh lạc v.v… rất nhiều châu báu như thế làm lồng cho nó ở, từ sáng tới tối giữ nó mãi bên mình không chịu lìa xạ Về sau có một con chim khác tên là mộc điểu, thấy thế bèn hỏi chim anh vũ rằng:

– Làm sao mà bạn được sung sướng tột cùng như thế?

Anh vũ đáp :

– Tôi tình cờ hót chơi giải buồn trên mái cung đình, vua nghe được cho rằng nghe cảm động, nên sủng ái tôi như thế.

Chim mộc ganh tức nói:

– Tôi có thể hót hay hơn bạn!

Lúc vua sắp ngủ trưa, chim mộc bèn bay trước cung đình hót rầm rĩ, vua giật mình tỉnh giấc, rởn tóc gáy, nổi giận hỏi người xung quanh :”Tiếng gì nghe rùng rợn như thế?” Người xung quanh đáp: ” Đó là con chim mộc đang hót trước cửa”. Vua chưa nguôi giận, lập tức ra lệnh bắt nó vặt lông và đánh cho một trận rồi mới thả về. Chim mộc bò ngả bò nghiêng trở về tổ, có rất nhiều chim khác thấy tình trạng của nó như thế thì kinh hoàng hỏi nguyên do, chim mộc không những không chịu nhận sự thật mà còn oán trách chim anh vũ mà nói với đồng loại rằng:

– Tại con chim anh vũ tôi mới ra nông nỗi này!

Đức Phật ngừng một lúc rồi lại nói tiếp:

– Âm thanh hay có thể đem lại phúc đức, âm thanh dở thì đem đến tai hoạ. Chim mộc tự làm hại lấy mình mà còn giận lây chim anh vũ. Vị vua thuở ấy chính là trưởng giả Âm Duyệt ngày nay, chim mộc là Bất Lan Ca Diếp trong quá khứ đã ganh tị với chim anh vũ nên bị đánh đập đau đớn, kiếp này cũng lại ganh tức với Phật, cũng lại bị nạn gậy gộc, chính vì cái tâm ganh tị thiêu đốt mà không chịu hối cải!

A Nan hỏi Đức Phật:

– Trưởng giả Âm Duyệt đời trước làm công đức gì mà lại được bốn loại phúc báo, và tại sao bây giờ phúc đức ấy lại bị tiêu mất?

Đức Phật trả lời:

– Trong đời trước, lúc còn trẻ, Âm Duyệt tin phụng Phật Pháp, chí thành cúng dường thánh chúng nguyện xin cho được giàu có. Quả nhiên về sau được như nguyện, nhưng khi cưới vợ rồi thì bất hạnh đâm ra đam mê tửu sắc, khinh mạn Tam Bảo. Đã thế còn không có tâm từ bi, không gieo trồng thiện căn, vì thế phúc báo của ông ta tan đi như bóng trăng đáy nước, hoa đốm trong không, biến mất trong nháy mắt.

Sau đó, thật đáng thương, sẽ bị vô hạn thống khổ bức bách, chịu tận cùng khổ báo rồi mới tiêu trừ nghiệp chướng được.

18- Ca Chiên Diên nghị luận

Vâng theo lời dạy của Đức Phật, tôn giả Ca Chiên Diên, vị “luận nghị đệ nhất” trong hàng tăng chúng đã tuyên dương chủ trương “bốn tính bình đẳng”. Nhưng rất đông Bà La Môn biết được, không ai tin phục tôn giả. Hễ có cơ hội là họ tìm đến Ca Chiên Diên để bài bác, vấn nạn ngài. Họ nghĩ rằng, nếu không đánh ngã những biện luận của tôn giả thì từ đây về sau, Bà La Môn sẽ có hy vọng không ngước đầu lên được nữa. Tuy nhiên, ngài Ca Chiên Diên rất giỏi biện luận, khi gặp một vị Bà La Môn, dẫu quyền uy tới đâu đến vấn nạn ngài, ngài chỉ cần dùng một vài câu ngắn gọn và đơn giản, thế là vị Bà La Môn nọ cuối cùng cũng phải vui vẻ mà thuần phục.

Có một hôm, tôn giả cùng các vị tỳ kheo bạn đồng tu, sắp bước vào trai đường bên cạnh hồ Ô Nê nước Ba La Nại dùng cơm, thì có một vị Bà La Môn lớn tuổi tìm đến khiêu chiến với ngài. Vị Bà La Môn già chống cây gậy, im lặng đứng bên cạnh tôn giả Ca Chiên Diên, những tưởng rằng khi nào Ca Chiên Diên nhìn thấy ông thì nhất định sẽ đứng dậy nhường chỗ cho ông ngồi. Nhưng nào có ngờ đâu, Ca Chiên Diên chẳng thèm ném cho ông một cái nhìn nữa. Ông kiên nhẫn đứng một hồi lâu, cuối cùng lớn tiếng trách mắng rằng:

– Mấy ông nghĩ sao mà thấy một vị trưởng giả lớn tuổi như tôi đến, lại không biết đứng lên mà nhường chỗ ngồi?

Các vị tỳ kheo nghe thế thì giật mình, nhiều người còn vội vàng đứng dậy nhường chỗ ngồi cho vị Bà La Môn già, duy chỉ có Ca Chiên Diên là chẳng chút động lòng, còn hỏi lại rằng:

– Ông là ai mà tới đây la hét ầm ĩ như vậy? Chúng tôi ở đây tôn kính phụng hành giáo pháp, nhưng tại chỗ này không có ai là trưởng giả hay là tiền bối của chúng tôi cả.

Vị Bà La Môn già nọ giận dữ đưa cây gậy đang cầm trong tay lên chỉ vào đầu tóc bạc phơ của mình mà hỏi:

– Số tuổi đã cao của ta không đủ cho ông tôn làm trưởng giả hay sao? Không đủ cho các ông cung kính tôn trọng hay sao?

– Ông? Ông không thể tự xưng là trưởng giả, cũng không được chờ đợi chúng tôi cung kính tôn trọng.

Ca Chiên Diên trả lời bằng một giọng nói nhẹ nhàng nhưng cương quyết. Vị Bà La Môn già giận dữ đến cực điểm, dùng cây gậy chỉ vào mặt Ca Chiên Diên mà mắng:

– Tại sao ông lại khinh người đến thế?

Ca Chiên Diên điềm nhiên trả lời rằng:

– Qua âm thanh, giọng nói của ông, và qua những cử chỉ thô bạo của ông, tôi nhận thấy rằng ông không xứng đáng được tôn làm trưởng giả, cũng không xứng đáng được người khác cung kính. Bởi vì cho dầu ông có là một vị Bà La Môn 8, 90 tuổi, tóc bạc răng long, nhưng nếu không hề tu hành một cách chân chính, còn đam mê sắc thanh hương vị xúc, chưa xả bỏ được những phiền não như tham, sân và ganh ghét, thì ông vẫn bị coi như trẻ nít. Còn giả sử ông là một thanh niên 20 tuổi, da dẻ chưa nhăn, đầu tóc đen nhánh, mà đã giải thoát được sự trói buộc của ái dục, đối với thế gian không có sự tham cầu, không có chút niệm tưởng bất bình nào, thì chúng tôi có thể xưng tán ông là trưởng giả, xem ông là người già dặn, xứng đáng cho chúng tôi thân tâm cung kính.

Vị Bà La Môn già nghe Ca Chiên Diên nói thế, không có lời lẽ nào để đối đáp, bèn lặng lẽ bỏ đi.

19- Chết vì việc nghĩa

Ngày xưa Ấn Độ có một khu rừng rậm to lớn, rậm rạp, có hằng ngàn hằng vạn chim chóc, thú rừng sống ở trong ấy. Đây là thế giới của loài động vật, từ đời này sang đời khác, chúng sinh sôi nẩy nở trong khu rừng này. Mùa xuân, mầm lá non mềm mại xuất hiện trên mỗi cành cây, trăm hoa tỏa hương ngào ngạt, chim con theo mẹ tập bay, thú con theo bố tập chạy, giống như một cảnh thiên đường, hài hòa và tràn ngập hạnh phúc.

Có một hôm, khu rừng bỗng nhiên bốc lửa. Chim chóc, thú rừng nào bay nào chạy tìm đường thoát trong cảnh hỗn loạn, trong tiếng khóc than thảm thiết.

Những ngọn lửa không khác gì những chiếc lưỡi rắn cuộn tròn bay lượn khắp mọi nơi thiêu đốt, ánh lửa rực trời, sức nóng mãnh liệt.

Lúc ấy trong rừng có một con chim trĩ, cứ bay tới rồi bay về từ khu rừng cháy tới giòng nước sông, thì ra nó nhúng mình trong nước sông thấm ướt lông cánh rồi bay về rừng, hy vọng dùng những giọt nước ấy để dập tắt lửa.

Nhưng biển lữa dữ dội mêng mông ấy, làm sao có thể bị dập tắt được với một số lượng nước nhỏ bé như thế? Thế mà chim trĩ vẫn cứ bay đi bay về, như thể không hề thấy đó là một điều mệt mỏi khổ nhọc.

Trời Đế Thích thấy được việc ấy bèn hỏi:

– Này chim trĩ, ngươi đang làm gì thế?

– Thôi đang cứu lửa trong khu rừng cháy!

– Thôi ngừng lại đi, đừng có ngu si như thế, với cái sức bé nhỏ yếu ớt của ngươi, thì làm sao dập tắt được ngọn lửa kia để mà cứu rừng được chứ! Ngươi có thể bay ra khỏi đây mà thoát thân, như thế chưa đủ cảm thấy mình may mắn lắm rồi sao?

Chim trĩ không đồng ý, trả lời rằng:

– Khu rừng này đã nuôi nấng tôi, có rất nhiều bà con thân hữu của tôi sống trong đó, nhà cửa của họ, con cái của họ, tất cả đều nương dựa vào khu rừng này mà sinh sống an lạc, tôi có sức khoẻ, làm sao tôi có thể thấy nạn mà không cứu? Làm sao tôi có thể khoanh tay mà đứng nhìn được? Tôi không thể ích kỷ và lười biếng! Tôi phải cứu hỏa!

– Vậy thì với cái sức bé nhỏ yếu ớt của ngươi, ngươi tính chừng nào thì dập tắt được lửa?

– Tới chết mới thôi!

Con chim trĩ trả lời không chút do dự.

Trời Đế Thích nghe thế, hết sức kinh ngạc lại cũng hết sức bội phục. Vua của trời Tịnh Cư biết chim trĩ có thệ nguyện và tâm từ bi rộng lớn như thế bèn dập tắt lửa trong rừng giùm nó.

Về sau, khu rừng ấy vĩnh viễn xanh tươi, rậm rạp, dầu mùa thu gió có thổi hay mùa đông trời có tuyết, nhưng sinh khí trong rừng vẫn tràn trề như thể đang giữa một mùa xuân trường cửu.

Các loại chim bay, thú chạy vẫn từng đời, từng đời sinh sôi nẩy nở, và nạn cháy rừng không bao giờ xẩy ra nữa.

Con chim trĩ có tinh thần Bồ Tát ấy được các loài cầm thú trong rừng tưởng niệm muôn đời.

Biết trước rằng có những việc mình không thể làm được nhưng vẫn quyết tâm làm tới chết mới thôi, đó thật là một tinh thần cao cả!

Với cái tinh thần cúc cung tận tụy, tới chết mới thôi ấy, thì ai cũng có thể thành tựu được Phật đạo!

20- Chuyện kiếp xưa

Bẩy trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, tại nước Kệ Tân ở miền Bắc Ấn Độ có một long vương hung ác tên là A Lợi Na xuất hiện, thường nổi gió to sóng lớn nhiễu hại dân chúng, gây ra những tai họa rung trời chuyển đất. Lúc đó có hai ngàn vị A La Hán phát tâm vận dụng tất cả thần lực của mình để đuổi long vương A Lợi Na ra khỏi bờ cõi.

Một ngàn vị La Hán xử dụng thần lực cao nhất của mình làm cho đại địa chấn động, năm trăm vị phóng ra những tia ánh sáng cực kỳ mãnh liệt, năm trăm vị còn lại thì nhập định, vận dụng thiền lực mạnh mẽ. Các vị này hợp tác với một sức mạnh vĩ đại như thế mà chả làm cho long vương nhúc nhích chút xíu nào.

Trong lúc mọi người đang khổ não, có một vị tôn giả tên là Kỳ Dạ Đa bước đến. Ngài tiến đến ven bờ hồ, búng ngón tay ba lần chỉ long vương mà la to:

– Này con rồng kia! Ta truyền lệnh cho mi phải đi chỗ khác ngay, không được phép ở lại chốn này!

Long vương A Lợi Na nghe thế, không dám trì trệ, lập tức bay bổng đi mất.

Hai ngàn vị La Hán không hiểu được tại sao lại có một sự kiện lạ lùng như thế, làm sao lại có thể đuổi rồng đi một cách dễ dàng giản dị đến dường ấy. Một vài vị La Hán đến hỏi tôn giả Kỳ Dạ Đa:

– Chúng tôi cũng chứng đắc một quả vị như ngài, cùng đoạn tận phiền não, cùng giải thoát sinh tử không có gì sai khác, chúng ta nhất loạt bình đẳng, thế mà sao chúng tôi cùng nhau hợp sức dùng tận cùng năng lực mà không làm cho con rồng nhúc nhích, còn tôn giả làm sao chỉ búng ngón tay ba lần mà nó riu ríu ngoan ngoãn phục tòng rời khỏi đất này như thế?

Tôn giả đáp:

– Từ khi tôi còn là phàm phu, luôn luôn nghiêm trì cấm giới, thân khẩu ý không bao giờ dám tạo ác nghiệp nào, dùng tâm bình đẳng vô sai biệt để tu trì tất cả các pháp. Các vị không làm cho rồng lay chuyển là vì công đức tích tập không đồng với tôi vậy.

Hàng phục long vương A Lợi Na rồi, tôn giả Kỳ Dạ Đa dẫn đoàn đệ tử tiếp tục con đường vân du về phía bắc.

Con đường dài hun hút, có khi chàay ngang những miền đồng bằng rộng lớn, có khi thì đi vòng qua những sườn núi chập chùng, hai bên đường có những ngọn cây cao vút nghênh đón gió nam lay động cành lá. Tôn giả một mình đi bộ dưới tàn cây bóng mát, bỗng nhiên dừng bước, ngước đầu nhìn lên cành cây nơi có một con quạ đen đang đậu. Tôn giả nhìn kỹ nó rồi nhẹ mỉm cười, gật gật đầu.

Các vị đệ tử đi theo sau mấy bước, thấy thế không khỏi ngạc nhiên, hỏi ngài:

– Bạch tôn giả, vì sao ngài lại mỉm cười với con quạ đen?

Tôn giả đáp:

– Đứng lúc đúng thời ta sẽ nói.

Đoàn người lại tiếp tục hướng về phía trước mà đi, tới một toà thành bằng đá. Vừa mới bước qua cổng thành, tôn giả bỗng biến sắc mặt, lộ vẻ vô cùng buồn rầu. Mọi người đều lo lắng nhưng không ai dám hỏi. Lúc ấy là giờ cơm trưa, họ vào thành khất thực. Dùng cơm xong họ ra khỏi thành, tới cửa thành, tôn giả lại biến sắc mặt, buồn rầu như lúc mới tiến vào cửa thành ban nãy. Các vị đệ tử không chờ được nữa, họ quỳ xuống khẩn khoản hỏi:

– Bạch tôn giả, thỉnh ngài giải nghi cho chúng con, tại sao ngài lại cười với con quạ đen, và tại sao ngài lại hai lần biến sắc mặt tại nơi này?

Tôn giả thở dài một tiếng, lộ vẻ âu sầu mà trả lời rằng:

– Chín mươi mốt kiếp trước, lúc Phật Tỳ Bà Thi nhập Niết Bàn rồi, ta sinh làm con một vị trưởng giả. Khi ta phát biểu chí nguyện xuất gia học đạo, cha mẹ già ngăn lại:

– Khoan đã, con phải biết là trong đời người, không có con nối dõi là tội bất hiếu lớn nhất. Con đi rồi, ai sẽ là người nối dõi tông đường nhà ta đây? Con hãy cưới vợ trước đã rồi nói chuyện sau.

Ta bận bịu chuyện gia đình một thời gian, cưới vợ xong xuôi ta lại đem chuyện xuất gia ra thưa với cha mẹ, nhưng cha mẹ lại nói:

– Nếu con sinh được một đứa con thì ta sẽ không ngăn cản con nữa.

Không lâu sau, ta sinh được một đứa con trai. Khi đứa bé bập bẹ biết nói, ta lại không chờ được nữa, xin với cha mẹ rằng:

– Bây giờ thì cha mẹ có thể để cho con thành đạt nguyện vọng xuất gia của con rồi chứ?

Cha mẹ ta không nghĩ ra lý do nào để ngăn trở ta được, bèn lén xúi con ta đến kêu khóc van nài như sau:

– Cha ơi cha không thể đi, nếu không hãy mang mẹ con con đi theo, cha không thể bỏ mẹ con con được, ôi…

Làm cha, nghe con khóc kể van xin như thế, ý chí xuất gia bị rung chuyển, ta sinh lòng quyến luyến cốt nhục thân tình, nên vỗ về con mà nói một cách thương yêu:

– Cha sẽ không đi đâu cả, cha sẽ ở mãi với con!

Nhân duyên này đã khiến ta phải tiếp tục lưu lạc trong đường sinh tử. Hôm nay ta dùng thần thông nhìn lại họ hàng thân thích trong quá khứ, thấy rằng lúc sống thì cùng nhau thương thương mến mến, nhưng một khi chết rồi thì đường ai nấy đi, rất khó mà gặp lại nhau tuy vẫn cùng nhau luân lạc trong lục đạo. Con quạ đen ban nãy trên ngọn cây chính là con trai ta trong đời quá khứ, không ngờ nó lại đến nỗi này. Coi như còn có duyên nên hơn mười kiếp qua rồi mà còn gặp mặt nhau.

Tôn giả nói tới đây thì ngừng lại, có vẻ như vô cùng xúc động.

– Và chuyện gì đã xẩy ra ngoài toà thành?

Một vị đệ tử xen vào hỏi.

– Ta biến sắc mặt ở ngoài cửa thành là vì ta thấy một đứa bé ngạ quỷ thân thể yếu mòn, cầu cứu với ta rằng:

– Thỉnh tôn giả vào thành nói với mẹ con rằng con ở ngoài ngày trông ngóng mẹ đi kiếm thức ăn, đợi đã 70 năm rồi mà vẫn chưa về, con nay quá đói khát không chịu đựng được nữa!

Ta vào thành chuyển lời đứa con đến ngạ quỷ mẹ. Quỷ mẹ khóc lóc mà rằng:

– Thưa tôn giả, con cũng biết thế, dã vào thành 70 năm rồi, không lúc nào là không lo nghĩ tới nó, nhưng con không còn cách nào cả. Lúc còn sống không biết kết duyên lành với người khác, lại không gieo trồng phúc đức nào, nên bây giờ xin ăn rất khó. Tuy chỉ kiếm được những món ăn bất tịnh cấu uế như máu mủ, nước mắt nước dãi, phân và nước tiểu các thứ, nhưng vì con mới sinh xong còn yếu ớt, nên hễ mới kiếm được vật chi là bị quỷ bạn mạnh hơn cướp mất. Lần này khó khăn lăm con mới kiếm được thức ăn, giấu giấu diếmdiếm đến được cửa thành, thì bị bọn lính quỷ giữ cửa cản lại không cho ra. Tôn giả! Xin ngài thương xót hai mẹ con chúng con, giúp cho chúng con gặp lại nhau, chia nhau mấy món ăn bất tịnh này!

Ta đem quỷ mẹ ra ngoài thành, nhìn thấy hai mẹ con mừng mừng tủi tủi chia nhau thức ăn, lòng ta rất buồn, không tự chủ được nên hỏi:

– Ngươi ở đây bao lâu rồi?

Quỷ mẹ đáp:

– Con không biết ở đây được bao lâu rồi, chỉ biết rằng toà thành trước mắt đã được dựng lên rồi đổ xuống, đổ xuống rồi lại được dựng lên tổng cộng là 7 lần rồi!

Ôi! Ta thở dài. Thời gian sung sướng thì luôn luôn ngắn ngủi, còn lúc gặp khổ đau thì lâu dài vô cùng. Không ngờ thọ mệnh của ngạ quỷ lại lâu dài đến dường ấy!

Tôn giả nói xong, các vị đệ tử đứng nghe đều kinh hoàng, ai nấy không lạnh mà run. Ai cũng có thể làm một chuyện gì đó đưa đến một hậu quả ghê rợn như vậy. Nếu không tinh cần tu hành, nếu không dùng Phật pháp làm quỹ đạo, chỉ một lần sơ xuất là khổ hận thiên thu!

Đến đây đoàn người lại hướng về phía trước mà đi, bước đi vô cùng vững chải. Mọi người cảm thấy phấn chấn, tinh thần sung mãn, họ quyết nhắm hướng con đường ánh sáng đằng trước mà đi tới.

Pages: 1 2 3 4 5

 ÔNG TRƯỞNG GIẢ KÉN RỂ

Soạn giả: HUYÊN

Thuở xưa có gia đình ông trưởng giả giàu có và sang trọng hơn người. Tuy giàu có sang trọng mà đối với đám dân nghèo hai ông bà chẳng hề giúp đỡ, làm ơn làm phước cho ai.

Ông bà sanh hạ được bốn người con, ba trai và một gái. Mặc dù của nhiều con có, mà hai ông bà thường lo buồn than thở vì cậu con trai đầu lớn lên thì cờ bạc rượu chè ăn chơi phung phí, hao tốn không biết bao nhiêu tiền của; còn cậu thứ hai thì thân thể vốn suy nhược, từ khi sanh ra đến lớn lên bịnh hoạn triền miên, tiền thầy, tiền thuốc tốn kém rất nhiều mà bịnh vẫn còn nguyên. Không một cậu nào biết hiếu để hoặc biết lo gia nghiệp. Duy có thằng thứ ba và cô út, tánh tình hiền từ, thảo thuận và biết lam lũ làm ăn. Hai ông bà nhờ cậy hơn hết chỉ có một mình cô gái út, nhưng khốn nỗi cô là phận gái, làm sao nối được sự nghiệp của Tổ Tiên! Vì thế mà hai ông bà mỗi đêm, không khỏi gác tay lên trán, lo rầu than thở!

Một hôm, bà bảo ông rằng:

– Nhà mình có tiếng là giàu sang chẳng kém thua ai, gia tài sự nghiệp kinh doanh to lớn, đáng lẽ là hạnh phúc lắm, nhưng sao lại vô phúc thế nầy, đã sanh đặng mấy đứa con trai mà thằng cả với thằng thứ hai không một đứa nào biết hiếu đạo, lo nối giỏi gia phong. Có cũng như không, vậy biết làm sao? Duy có thằng thứ ba và con út biết lo làm ăn thạnh lợi cho gia đình. Sách nói: “Vi phúc bất nhân”. Có lẽ hai vợ chồng chúng ta cứ lo làm giàu, từ hồi nào đến giờ không biết làm những điều nhân đức, nên Trời Phật khiến cho hai con ta hung hoang phá của như thế để phạt chúng ta chăng? Bây giờ tôi nghĩ như thế nầy, may ra con ta có hồi tâm hướng thiện chăng? Chúng ta nên sắm hương hoa trà quả đến chùa cúng Phật, quy y để nương dựa theo bóng từ bi, nhờ thần lực Tam bảo gia hộ cho chút phước duyên, khiến cho con chúng ta tánh tình trở nên hiền từ biết lo hiếu dưỡng phụ mẫu, duy trì gia nghiệp đặng mong cầu hành phúc tương lai. Vậy ông nghĩ sao?

– Bà nói nghe hữu lý, vậy thì bà lo sắm sửa hương hoa trà nếp, để chúng ta cùng đi …

Sáng hôm sau hai ông bà đem lễ vật lên chùa quy y và giải bày tâm sự cho Hòa thượng nghe. Nghe xong, Hòa thượng cảm động, thương người biết ăn năn hối lỗi, nên hoan hỷ truyền trao quy giới và dùng những lời hòa nhã đạo đức khuyên nhủ ông bà, giảng nói thuyết luân hồi nhân quả. Hòa thượng lại dạy phải kính thờ Tam Bảo, y theo lời Phật dạy, giữ gìn năm giới, mỗi tháng ăn chay 4 ngày và tụng kinh niệm chú, đem của cải chuẩn bần bố thí. Làm được như thế thì hai đứa con ông bà sẽ hồi tâm hướng thiện lo phụng sự gia nghiệp.

Hai ông bà nghe lời thầy khuyên dạy như vậy, hết lòng kính phục. Sau khi trở về nhà, hai ông bà y như lời thầy dạy, siêng năng niệm Phật tu hành. Nhưng chưa đầy một tháng, thì ôi thôi, cậu cả lâm phải bịnh nặng, ông bà cầu đảo các chùa miễu, chạy đủ thuốc hay, thầy giỏi, mà bịnh tình của cậu lại càng ngày càng thêm nguy ngập! Thế rồi cậu chỉ để lại cho ông bà một sự thất vọng quá ư sầu thảm mà một mình riêng về cõi hư vô.

Sau khi mai táng cậu cả rồi, ông bà lên chùa khóc than tha thiết, kể lại tình cảnh cho thầy nghe. Thầy động lòng cảm thương, khuyên dạy rằng:

– “Con người có sanh phải có tử, đó là lẽ cố nhiên, từ vua chúa đến quan dân, không một ai tránh khỏi. Dù cho có ngọc ngà châu báu đầy kho cũng không thể đổi được cái chết, tôi tớ đầy nhà cũng không sao thay thế đặng. Cha mẹ vợ chồng con cái, dù tình thương có mặn nồng bao nhiêu rồi cũng phải phân ly. Tình chồng vợ, cha con sống trong một nhà, cũng như bầy chim chung ngủ trong một cụm rừng, hễ cơn giông tố ào đến, thì mạnh con nào nấy bay!

Cổ nhân đã dạy:

Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt
Phu thê nghĩa trọng giã phân ly
Nhơn tình tợ điều đồng lâm túc
Đại hạn lai thời các tự phi.

Dịch nghĩa:

Cha mẹ ơn sâu còn có biệt
Vợ chồng nghĩa nặng cũng phân ly
Nhơn tình nào khác chim chung ngủ
Sáng lại, con nào nấy bay đi.

Hòa thượng lại nói tiếp:

– “Ông Bà nghĩ coi, ai lại không muốn sống, sống để hưởng cuộc phú quí vinh hoa. Kia như vua chúa là bực giàu sang phú quí nhất trên đời, họ còn muốn sống gấp trăm lần dân chúng, đặng hưởng hạnh phúc, nhưng không tránh khỏi số mạng đã định.

Sách nói:

Diêm Vương chủ định tam canh tử
Định bất lưu nhơn đáo ngũ canh

Nghĩa là:

Diêm Vương nhất định canh ba chết
Quyết chẳng để người đến canh năm.

Cuộc đời của cậu cả hưởng thọ chỉ có bấy nhiêu, bởi kiếp trước cậu không tu nhơn trường thọ. Vậy ông bà cũng nên khuây khỏa, chớ nên buồn rầu lắm mà thêm hao tổn tinh thần. Bây giờ ông bà có thương yêu sầu thảm cho mấy, cậu cũng không sống lại được, tốt hơn là ông bà lo tụng kinh cầu nguyện cho hương hồn của cậu cả, được tiêu diêu về miền Cực-Lạc, thì ích lợi hơn. Từ nay ông bà nên dũng mãnh phát nguyện ăn chay mỗi tháng 6 ngày và thọ trì Kinh Phổ-Môn, thì tai họa sẽ tiêu tan, gia đình yên ổn, và hương hồn cậu cả được siêu thăng.

Hai vợ chồng ông trưởng giả được nghe lời thầy khuyên dạy, nên trong lòng cũng tạm khuây. Hai ông bà từ tạ thầy về nhà tinh tấn tu hành. Chưa đầy ba tháng, thì kế tiếp người con thứ hai kỳ này chỉ lâm bịnh sơ sài, rồi cũng theo anh Cả mà thả hồn về nơi chín suối.

Ôi thôi! Lúc bấy giờ hai ông bà biết bao sầu thảm, oán Trời trách Đất, khinh miệt Thánh Thần, nghi Phật Trời không linh thiêng, bảo vì tu theo Phật mà ra nông nỗi nầy!

Sau khi tống táng người con thứ hai xong rồi, hai vợ chồng lên chùa, sắc mặt chứa chan những nét âu sầu và tức giận.

Bà nức nở khóc, nói:

– Tôi cũng tưởng quy y theo Phật để mong nhờ Phật phù hộ cho con tôi được lành mạnh, nào ngờ đâu, mới vừa quy y làm phước, mà con tôi lại chết luôn cả hai thằng! … Vậy nay, chúng tôi xin trả phái điệp, chuông mõ và Phật tượng lại Thầy, từ đây thôi không tu nữa! …

Thầy ôn tồn khuyên bảo:

– “Con người ta sanh ra ở đời, sự chết sống đều do số mạng. Sách nói: Nhứt ẩm, nhứt trác giai do tiền định (một hớp nước hay một miếng ăn cũng đều do tiền định) Có người được phước giàu sang mà không trường thọ. Có người được trường thọ mà không có phước giàu sang, đó là do nghiệp nhơn đời trước, chớ không phải muốn mà được đâu. Người chết yểu hay sống lâu là đều do nghiệp trước đã gây tạo cả. Như trong kinh Pháp Cú Phật có dạy rằng: “Dục tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả thị, yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị” Nghĩa là: Người muốn biết nhơn đời trước thì cứ theo quả báo đời nay mà suy nghiệm; còn muốn biết quả báo đời sau, thì nên xem chỗ tạo nhơn của mình ngày nay vậy.

Suy đó thì biết hai cậu đời trước tuy có bố thí làm phước chút ít, nên đời nay mới được đầu thai làm con ông bà để hưởng phước giàu sang; còn cậu chết yểu là do đời trước cậu không tu nhơn trường thọ. Bởi hai cậu đời trước tạo nhơn ngắn ngủi, nên nay chỉ sống được chừng ấy thôi. Nè! Vậy xin khuyên Ông Bà chớ vì chỗ thấy biết hẹp hòi của mình mà thối tâm Bồ Đề, vùi lấp giống Phật tử, oán hờn Phật Tổ, trách móc quỉ thần, gây thêm tội lỗi. Ông Bà nên nhớ rằng: “Nhứt nhựt hành thiện, thiện du bất túc; nhứt nhựt hành ác, ác tự hữu dư

Ông Bà cũng nên tinh tấn ăn chay thêm, mỗi tháng 10 ngày và nguyện thọ trì Kinh Kim-Cang đi, để cầu nguyện cho hương hồn của hai cậu được siêu thoát, và gia đình từ đây chắc được bình an, để vun trồng cội phúc về sau.”

Hai vợ chồng ông trưởng giả nhờ thầy lấy nước từ bi rưới tắt lửa sân hận, nên không oán Phật, sầu con nữa, mà lại còn thêm kính Tam Bảo, vâng lời thầy dạy. Ông bà tinh tấn tu hành, vừa lúc đúng một năm thì ôi thôi, người con thứ ba của ông bà cũng từ biệt ông bà hồn dạo nơi âm cảnh.

Lúc bấy giờ tình thầy trò đã không còn thương mến, mà lại trở nên kẻ thù của ông bà. Ác tâm của ông bà nổi lên cực điểm, nào phái điệp, kinh sách, Phật tượng trên bàn thờ, đều bị ông tuôn xuống đất một lượt, không còn một mảy may nào kính trọng cả. Từ đây, hễ ông thấy đến ông thầy hay cô ni nào đi ngang qua ngõ, nếu ông không đánh đập thì cũng mắng chưởi tồi tàn.

Trải qua hai ba năm trời, mà ông vẫn còn ôm lòng oán Phật ghét Tăng, hủy báng người tu hành.

Các việc buồn dồn dập làm cho bà trưởng giả không ăn không ngủ, khóc luôn cả ngày đêm, nên hai con mắt sưng vù và ra máu, không bao lâu bà cũng theo 3 con trai của bà, hồn về chín suối!

Thế là ông trưởng giả chỉ còn một cô gái út tên là Lan Phương. Lan Phương tuổi vừa đôi chín, nhan sắc lộng lẫy tuyệt vời, công dung ngôn hạnh đều đặng vẹn toàn. Ông trưởng giả cưng nàng như trứng mỏng.

Nàng thôi học, từ khi anh thứ Ba nàng từ biệt cõi trần, để trở về an ủi cha già và thế cho các anh chăm nom săn sóc gia đình. Nàng là một cô gái rất hiếu hạnh, cả ngày chỉ lo việc nữ công, và chăm nom từ bữa ăn cho cha già, nên cha nàng quí nàng như ngọc.
Đã nhiều lần, Ông ngồi nghĩ đến việc gia đình và tương lai của con… Ông đầy những nỗi lo buồn, vì không có con trai để nối nghiệp, chỉ còn một đứa con út, song phận nó là gái rồi đây sẽ phải theo chồng.

Sau mấy đêm nghĩ ngợi, ông tính ra được một kế là kén chọn một chàng rể, không cần con nhà giàu có quan quyền, mà chỉ cần văn chương lỗi lạc để nối gia phong. Sau mấy lần suy tính, ông tuyên bố lên rằng: Nếu ai thi được đậu, thì sẽ được một phần thưởng vô giá là: một cô gái yêu quí của ông và một gia nghiệp triệu phú nầy. Trái lại, nếu người nào bị rớt, sẽ bị đánh 100 roi đuổi ra.

Lời tuyên bố được truyền khắp mọi nơi, từ già đến trẻ, ai nấy cũng đều biết gia tài triệu phú và cô gái nhà ông trưởng giả, nên không biết bao nhiêu văn nhơn thi sĩ tài ba lỗi lạc đều hy vọng chứa chan mong sẽ lãnh được phần thưởng quí giá của đời họ. Nhưng đã bao nhiêu người rồi, khi đến thi chẳng những thất vọng không lãnh được phần thưởng quí báu ấy, trái lại còn bị đánh 100 roi và đuổi ra khỏi cửa. Bởi cuộc khảo thí quá khó khăn và nghiêm khắc, nên trải qua trên một năm trường mà ông trưởng giả chưa kén chọn được một chú rể nào cả, gần đến khúc đường bế tắc, và thất vọng.

Bỗng một hôm có một người phong độ giống tu sĩ, điệu bộ khoan thai và nhàn nhã, mặc đồ nâu sòng, đến xin dự thí.

Người gác cổng hỏi:

– Thầy đi đâu đó?

– Tôi nghe ông trưởng giả có mở cuộc thi để chọn rể tài nên tôi xin đến dự thí.

– Bấy lâu nay biết bao bực văn nhân tài tử đến dự thi, song rốt cuộc đều bị đánh đòn và đuổi ra, huống chi ông, tôi xem bộ tịch thiệt thà như thế nầy, chắc không tránh khỏi bị đòn 100 roi, rồi bị đuổi ra đấy.

– Không, không hề chi đâu miễn anh vui lòng cho tôi vào, may ra thi được đậu, thì ơn ấy tôi chẳng dám quên.

– Thôi được, ông hãy đi theo tôi. Nói xong anh gác cửa liền dẫn chàng đi vào nhà.

Khi vào tận nơi, trưởng giả vừa thấy liền quát to bảo anh gác cửa rằng:

– Người không biết sao, đã lâu rồi, ta nghiêm cấm không cho ông thầy, cô vãi lai vãng đến đây, nay người còn dẫn vào! Đè lão ấy xuống, đánh 100 roi rồi đuổi ra lập tức cho ta!

Thí sinh ôn tồn đáp rằng:

– Thưa Cụ, cháu không phải nhà Sư, Cụ ạ.

– Không phải nhà Sư à? Không phải nhà Sư sao lại cạo đầu?

– Cháu muốn cho mát mẻ giản tiện khi tắm rửa và khỏi mất thì giờ chải gở.

– Ngươi còn giấu gì nữa chớ? Nếu không phải nhà Sư sao mặc đồ nâu sòng.

– Thưa Cụ vì cháu ở gần chùa, nhà cháu nghèo khó, không tiền mua sắm, chỉ nhờ các Sư bố thí y phục, nên cháu mới mặc đồ như thế nầy.

– Ngươi nói ngươi nghèo khổ, nếu quả thật như thế thì ngươi làm sao biết chữ để thi?

– Thưa Cụ, khi cha mẹ cháu còn sanh tiền, có cho cháu đi học, nhưng rủi thay, cha mẹ cháu khuất núi sớm, nên cháu phải côi cút và vất vả đến thế nầy! … Hiện nay hằng ngày cháu chỉ nhờ miếng cơm thừa của cô bác, nuôi sống qua ngày, để theo đòi việc học tập. Nay nghe Cụ mở cuộc thi chọn rể, cháu cũng xin đem chút tài mọn dự thí, mong rằng: “bỉ cực thới lai” gặp lúc “thời lai phong tống Đằng Vương các”, cháu sẽ được thỏa mãn lòng hoài vọng bấy lâu.

– Thôi được, ngươi hãy ngồi đó, để ta ra đề cho thi, nếu đậu thì ta sẽ làm đúng theo lời hứa, còn không thì ngươi phải bị đánh 100 roi đuổi ra. Song lối thi nầy không phải như cách thi Hương hay thi Hội, nghĩa là không cần có bài vỡ chi cả, miễn ta chỉ đâu ngươi lập tức ứng khẩu làm thi theo đó, nếu hay và thích hợp với ý ta thì được đậu.

– Dạ vâng!

Lúc bấy giờ, ông trưởng giả ngó ra trước ngõ, thấy hai cánh cửa, một cánh mở và một cánh khép, tòng bá trang hoàng hai bên đường đi; ông liền chỉ tay vào cảnh đó và bảo chàng làm một bài thơ.

Chàng thí sinh liền ứng khẩu ngâm:

Môn tiền nhứt phiến khai
Tòng bá lưỡng biên bày
Nhược nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

Dịch nghĩa:

Cửa ngoài một cánh mở
Tòng bá hai hàng dài
Nếu người theo đạo quấy
Chẳng thấy đặng Như Lai

Nghe xong, ông trưởng giả giận mừng lẫn lộn: vì đã trên một năm rồi, không biết bao nhiêu người đến thi, mà chưa có ai tài đặc biệt hay lỗi lạc như trò nầy, nhưng lòng ông đang thù oán Phật, mà ông nghe đến câu “Nhược nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” là hai câu kệ trong Kinh Kim Cang mà ông đã thường đọc tụng hơn một năm, nên lòng thêm tức giận và quát to lên rằng:

– Người làm thi thì hay và bặt thiệp lắm! Nhưng người không biết ta sao? Ta rất oán Phật. Vì theo đạo Phật mà ba đứa con trai ta đã chết nên Ta không muốn nghe đến tên Như Lai hay Phật nữa. Lỡ lần đầu Ta tha thứ, nếu sau người còn dùng đến danh từ Như Lai hay Phật thì sẽ bị đánh trăm roi đuổi ra lập tức nhé!

– Dạ vâng! Những danh từ nào Cụ cấm, cháu không dám tái phạm.

Ông Trưởng giả êm dịu cơn nóng giận, lại nhìn ra trước sân thấy có một con gà trống cồ, màu lông năm sắc, đang đập cánh gáy lên. Ông ôn tồn đưa tay chỉ và bảo làm thi.

Chàng liền ứng khẩu ngâm:

Đình tiền hữu nhứt kê
Thân phi ngũ sắc ê
Ngũ canh thường báo hiệu
Tam miệu tam Bồ Đề

Dịch nghĩa:

Trước sân con gà trống
Mập mạp năm sắc lông
Năm canh thường báo hiệu
Tam miệu tam Bồ Đề

Nghe xong, ông trưởng giả quát to lên: Rằng hay thì thật là hay, nhưng ta không ưa Phật pháp, oán ghét tăng, ni, chẳng thích Bồ-Tát, không chịu Bồ-Đề. Sao người cứ dùng những danh từ ấy mãi? Lại nữa người nói người không phải nhà Sư, sao rất thuộc những danh từ Phật pháp?

– Thưa Cụ, vì cháu ở gần chùa thường nghe chư Tăng đọc kinh tự nhiên thấm nhiễm thôi, chớ thật không phải nhà Sư. Nếu cháu thật nhà Sư thì đâu có dự thi như thế nầy.

– Thôi người đừng nói chi nhiều lời hãy nằm xuống đây chịu đánh 30 roi, rồi ta sẽ cho làm bài khác.

– Thưa Cụ, xin Cụ hãy xét kỹ mà dung thứ cho cháu. Cụ chỉ cấm không cho nói tới Phật và Như Lai, thì cháu không nói đến hai danh từ đó chớ Cụ đâu có cấm dùng danh từ Bồ-Tát hay Bồ-Đề. Lại nữa, Cụ bảo làm thi trong tức khắc, chỉ đâu phải đọc liền đó, không cho cháu được một phút suy nghĩ, trong lúc cấp bách lựa lời chẳng kịp, vì túng vãn nên cháu nói lỡ như thế, xin Cụ mở lượng khoan hồng mà dung thứ cho.

Ông trưởng giả nghe chàng phân trần cũng phải, nên cơn nóng giận dịu xuống, bèn tha thứ cho chàng. Lúc bấy giờ ông chỉ ngay bức tranh vẽ hình con cọp treo trên vách và bảo làm thi.

Chàng liền ứng khẩu ngâm rằng:

Bích trung hữu nhứt hổ
Thân ly tam xích thổ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ.

Dịch nghĩa:

Trên tường có con hổ
Thân cách đất ba thước
Trên báo bốn ơn dày
Dưới cứu ba đường khổ.

Kinh Kim-Cang Bát-Nhã là một quyển kinh mà ông Trưởng giả đã thuộc làu. Trong bài thi nầy chàng dùng hai câu “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” là hai câu kệ trong kinh Kim-Cang, vì chàng muốn thức tỉnh cho ông trưởng giả luôn luôn nhớ lại Phật pháp. Nhưng trái lại, khi nghe đến hai câu kinh làm cho ông trưởng giả thêm khêu gợi lại lửa hờn xưa, vì ông nhớ bởi tụng kinh nầy mà ba đứa con trai của ông bị chết!

Lúc bấy giờ ông nổi giận lôi đình, la quát om sòm, lần nầy quyết định không tha. Ông bảo: “Nằm xuống! Nằm xuống! Đã ba lần rồi, lần nào ngươi cũng dùng đến danh từ trong kinh Phật, khêu gợi sự tức giận của ta.”

Tay ông vừa đánh và miệng vừa la mắng, đập một hơi không biết mấy chục roi. Thấy thế, động mối từ tâm, nên Lan Phương là con gái ông bước đến khuyên rằng:

– Thôi cha! … Thôi cha! … Vì người ta ở gần chùa chiền thấm nhiễm đạo Phật đã lâu, hôm nay chỉ trong tức khắc, Cha bảo họ phải bỏ hết những cái gì mà người ta đã thấm nhiễm, thì không thể được, để sau về ở nhà mình, lần hồi dạy dỗ, chàng sẽ làm được vừa lòng cha. Cha không nhớ Cổ nhân dạy: “Cận châu giã xích, cận mặc giã hắc” hay sao? (gần son thì đỏ, gần mực thì đen). Hơn nữa đã hơn một năm rồi, không biết bao nhiêu nhà thi sĩ văn nhân vào thi, song rốt cuộc đều bị đòn đi ra, không có một người nào tài hay lỗi lạc như anh nầy. Cha chỉ đâu thì anh ứng khẩu ngâm thi liền đến đó, không cần suy nghĩ, rất bặt thiệp, làm thi trong chớp nhoáng, nếu cha còn chê nữa thì con chắc chắn cha không tìm được một người nào hơn nữa.

Nói xong cô bèn trở vào phòng.

Sau mấy lời can gián, cơn nóng giận dịu lần, ông trưởng giả nghĩ thầm có lẽ con mình đã thương chàng nầy nên ông cũng chìu theo ý muốn của con, tha đánh và bảo chàng đứng dậy.

Khi đó ông trưởng giả ngồi suy nghĩ: Con mình nói cũng phải, đã hơn một năm rồi, không biết bao nhiêu tài sĩ văn nhân vào thi, nhưng không có một người nào tài hay bặt thiệp và văn chương hay tuyệt như chàng nầy. Đã ba bài rồi, bài nào cũng xuất sắc, chỉ có một điều, chàng thấm nhiễm đạo Phật đã lâu, nên từ ngôn ngữ cho đến điệu bộ cũng đều nhuộm màu sắc Phật giáo. Nhưng nếu ta cố chấp và gắt gao thế nầy mãi thì chắc không có một người nào được hoàn toàn theo ý muốn, rốt cuộc rồi con ta phải côi cút và lạnh lẽo suốt đời! Thôi ta hãy châm chế và dễ dãi bớt đi, để cho con ta được vui lòng.

Khi đó Lan Phương ở trong phòng phía đông, vừa khoát màn bước ra, diện mạo sáng rỡ như mặt nhựt, điệu bộ khoan thai và thùy mị. Ông liền chỉ ngay vào Lan Phương và bảo chàng làm thi.

Chàng kính cẩn khép nép và ứng khẩu ngâm:

Nhựt xuất hướng đông phương
Diện như minh kính trương
Dung nhan thậm kỳ diệu
Phổ chiếu biến thập phương

Dịch nghĩa:

Mặt nhựt mọc hướng Đông
Diện mạo tợ gương trong
Dung nhan thật kỳ diệu
Soi sáng khắp mười phương.

Lần nầy có phần êm dịu hơn các lần trước. Ông trưởng giả nghe xong có hơi tức giận, nhưng vẫn còn giữ được thái độ điềm tĩnh vì ông nghĩ thầm rằng: “Do ở gần chùa, chàng bị thấm nhiễm lâu ngày, nên mỗi bài thi đều bị ảnh hưởng đến Phật giáo chớ có lý nào chàng muốn chọc ta mãi như thế?”

Ông ôn tồn hỏi tiếp:

– Nầy cháu! Bác hỏi thật cháu: Vậy thân thế cháu có phải là nhà Sư chăng?

– Không, thưa Cụ.

– Nếu không phải nhà Sư, sao cháu biết kinh Phật, và trong mỗi bài thi cháu đều dùng những câu kinh, tỏ ra người rất thông Đạo Phật?

– Thưa Cụ, cháu đã thưa: Nhà cháu ở gần chùa Phật, sớm chiều cháu thường được nghe các thầy tụng kinh bái sám, với những giọng hòa huởn êm dịu và thanh thoát, khi bỗng khi trầm, lúc khoan lúc nhặt; thỉnh thoảng điểm một vài tiếng chuông, ngân nga trong cõi không gian tịch mịch, để đánh thức người say mê trong cảnh mộng, một vài tiếng mõ kêu sương trong đêm khuya thanh vắng, để gọi ai còn say ngủ trong đêm trường. Vì quá thích thú với mùi Thiền, nên cháu để ý thuộc được các bài kinh ấy. Thú thật, cháu không phải là tu sĩ.

Ông Trưởng giả yên lặng và nghĩ thầm: “Có lẽ, vì tập nhiễm lâu ngày nên phong độ của chàng nầy giống hệt nhà tu. Nếu sau khi chàng về làm con rể nhà ta, lần hồi huấn luyện, chắc cũng được vừa theo ý muốn.”

Lúc bấy giờ ông hứa sẽ gả Lan Phương cho chàng, và định ngày làm lễ thành hôn cho hai trẻ.

Suốt cả ngày, vì bận việc thi cử quá mệt mỏi, nên đêm nay ông Trưởng giả ngủ sớm. Đang mê man trong giấc điệp, ông bỗng thấy chàng thí sinh đến gọi:

– Thưa Cụ, Cụ có muốn tìm các con của Cụ không? Cháu xin tình nguyện dẫn Cụ đi.

Ông Trưởng giả vui mừng hớn hở đáp:

– Còn gì quí bằng! Bác cám ơn cháu lắm.

Hai người dẫn đi một hồi… Ông Trưởng giả bỗng thấy một cảnh giới khác thường, rùn rợn!

Ông hỏi:

– Có phải đây là âm phủ không?

– Thưa Cụ, âm phủ thì cháu chẳng biết, cháu chỉ biết chỗ nầy người ta gọi là chốn “Huỳnh Tuyền” hay gọi là chốn “Suối Vàng”.

– Suối vàng à! Suối vàng à! Bác nghe nói người chết rồi thả hồn xuống “Suối Vàng”. Hôm nay ta xuống đến Suối vàng, thế thì ta đã chết rồi sao?

– Không! Cụ chưa chết ạ. Vì Cụ muốn tìm vợ con nên cháu dẫn đến chốn nầy.

Nói xong chàng dẫn ông đi một đỗi nữa… Xa xa thấy dạng cậu Cả, ông mừng quá giục tốc chạy đến, ôm con và khóc kể:

– Con ơi! Sao con đành bỏ cha mẹ ra đi, làm cho cha ngày khóc đêm sầu! …

– “Thôi đi ông, tôi đâu phải con cái gì của ông. Nhà ông thiếu nợ tôi. Tôi đến đòi lại. Đòi xong tôi đi, chớ tôi đâu có phải con cái gì của ông.

Ông còn nhớ không? Trên 30 năm về trước tôi là người tá điền của ông, vì ông buộc phải đem thế vợ con trừ nợ, chúng tôi không thể làm theo ý muốn của ông được, nên ông dùng quyền thế ép chế và phá tan gia đình sự nghiệp của tôi. Tức giận quá nên tôi phải tự tử. Cái oan thù nầy chưa rửa sạch, tôi thề theo báo thù ông.

Bởi thế nên tôi sanh vào nhà ông, trong mấy chục năm, chỉ phá hại gia sản, làm cho ông phải hao tài tốn của. May nhờ ông biết hối hận tu hành nên tôi vui lòng hủy bỏ nợ cũ. Bằng không thì tôi quyết theo báo ông đến tiêu tan sự nghiệp mới thôi.”

Nói xong cậu bỏ đi không chút gì quyến luyến. Thấy con nói thế, ông tuôn rơi nước mắt, tức tưởi khóc một hồi. Chàng thí sinh nói:

– Thôi Cụ, con của Cụ đã nói như vậy, Cụ còn bịn rịn chi nữa cho vô ích! Để cháu dẫn Cụ đi tìm cậu Hai.

Đi một đoạn đường, ông lại thấy người con thứ Hai của ông đang đi ngang qua. Ông vội vã chạy theo, mừng rỡ và kêu vang:

– Con ơi! Con! Sao con đành bỏ cha đi biệt mất, làm cho cha đêm ngày sầu thảm, ốm o gầy mòn đến thế nầy!

Cậu gạt ngang nói:

-Ai cha con gì với ông. Ông thiếu nợ tôi đến đòi; đòi xong rồi đi, chớ tôi đâu có phải con cái gì của ông. Ông còn nhớ không: trên 20 năm về trước, nhà ông bị mất mấy lượng vàng. Ông nghi cho tôi, nên bắt ra tra khảo. Vì chịu không nổi sự đánh đập tàn nhẫn của người tra, nên tôi phải bỏ mạng. Rồi tiền tài của tôi ông tịch thâu hết. Mặc dù vợ con tôi bị đói rách mà ông cũng chẳng trả lại phần nào. Cái oán thù nầy tràn ngập, nên tôi thề trở lại nhà ông để báo thù. Khi nhà ông sanh tôi ra, cho đến ngày khôn lớn thì tôi đau ốm liên miên, làm cho hai ông bà có khi lo chạy gần hết tiền của cải, không làm một chút gì lợi cho nhà ông. May thay! Ông biết hối hận, sớm lo tu hành, nên tôi vui lòng xóa bỏ oán thù trước, chỉ đòi ông bấy nhiêu năm thôi.

Nói xong cậu bỏ đi một nước. Ông Trưởng giả gạt nước mắt, tức tưởi khóc, chàng thí sinh khuyên:

– Thôi Cụ, thế tình như thế… Cụ còn luyến ái nữa làm chi. Cụ nên đi tìm cậu Ba, thử xem nào.

Chàng dẫn ông Trưởng giả đi một khoảng đường nữa, ông thấy đứa con thứ Ba của ông đang đứng nói chuyện với một người bạn ở bên đường. Mừng quá! Ông hấp tấp chạy đến ôm con mà khóc.

– Con ơi! Con! Sao con đành bỏ cha mẹ ra đi, làm cho cha mẹ rầu buồn suốt cả ngày đêm. Mẹ con cũng vì rầu buồn quá, khóc cả ngày đêm không ăn bỏ ngủ, trong mấy tháng trường, nên phải bỏ mình, thả hồn về Âm cảnh.

– “Thưa ông! Tôi thiếu nợ ông, tôi phải đến trả, trả xong tôi đi; chớ tôi không phải con cái gì của nhà ông. Ông còn nhớ không? Trên 20 năm về trước, ở trong bọn tá điền của ông, có một gia đình rất nghèo, nhà dột cột xiêu, thiếu trước hụt sau, làm suốt cả năm, bị ông thâu góp hết. Nào lúa vốn lúa lời, lúa quần lúa áo, đến mùa rồi chỉ phủi hai bàn tay không. Cả gia đình suốt năm nầy đến năm nọ, phải mặc rách ăn hèn, tai bùn chân lấm, tóc rám môi chì, da đen mặt nám, cực khổ suốt đời, ấy là gia đình của tôi.

Khi cha tôi chết đã 3 ngày mà không có hòm chôn, đến xin ông chẳng được, mà vay tiền thì ông bảo phải trả lời 20. Chao ôi! Của đâu mà trả! Túng thế, tôi phải lẻn vào nhà ông, trộm lấy 5 lượng vàng để đem về chôn cất cha tôi.

Chôn cất xong tôi có thề với Phật Trời rằng: “Kiếp nầy trả không được, xin nguyện kiếp sau”.

Vì lao tâm cùng lao lực, bởi gia đình nghèo khổ nhiều năm, nên trong vài năm sau tôi phải lâm bịnh nặng, rồi từ biệt cõi đời! …

Sau khi chết, tôi đầu thai vào nhà ông, để thanh toán số nợ nần mà tôi đã thiếu ông ngày trước.

Ông sanh tôi ra, đến khi khôn lớn thì tôi vẫn lam lụ làm ăn, làm cho cửa nhà ông tiền vô như nước. Nợ ông thanh toán đã dứt khoát rồi, nên tôi đi nơi khác. Hôm nay ông còn tìm kiếm tôi làm gì?”

Nói xong, cậu bỏ đi. Ông trưởng giả lấy hai tay bụm mặt, nức nở khóc và than:

– Chao ôi! Vậy cảnh trần gian nầy có phải là một bãi trường để vay trả, trả vay nợ nần cho nhau chăng?

Chàng thí sinh khuyên lơn một hồi, rồi dẫn ông đi tìm bà trưởng giả. Hai người cùng đi được một khoảng đường, đến một cảnh âm u tịch mịch, ông trưởng giả thấy một người mình gầy vóc ốm chỉ còn da bọc xương, in như đã bị đói khát nhiều ngày. Đầu người bạc trắng phới, má hóp, đôi mắt sưng vù, đang ngồi rên khóc dưới một gốc cây. Ông bước gần đến mới nhận ra là bà trưởng giả. Ông gọi:

– Bà ơi! … Bà!

– Ai đó?

– Tôi là ông Trưởng giả đây. Vậy chớ tại sao thân hình bà tiều tụy, khổ sở đến thế nầy?

– Ông ôi! Ông ngồi xuống đây để tôi kể chuyện cho mà nghe. Vì tôi quá tham lam độc ác, muốn cho gia đình mình giàu có muôn hộ, mà tôi phải tạo nhiều tội lỗi. Tôi có ngờ đâu: Làm ra thì cả chồng con chung hưởng, mà bây giờ đây một mình tôi phải chịu tội khổ đến thế nầy! Ngày đêm đói khát, đã mấy tháng rồi không ăn được một chút cháo hay một miếng cơm. Thân hình tôi chỉ còn da bọc xương, lại còn bị hành phạt khổ sở lắm điều.

– Vậy chớ bà làm tội gì?

– “Ông không nhớ sao? Một lần nhà mình bị mất 5 lượng vàng, nghi cho thằng ở, bắt ra tra tấn, nó chịu không nỗi phải bỏ mình. Khi nó chết rồi, bỏ lại một ít tiền của. Ông bảo trả về cho gia quyến nó. Tôi lại giấu đi chẳng chịu trả. Đến khi vợ con nó kiện ra đến quan làng, tôi lại thề rằng: “Nếu tôi có nói ngược, thì cho hai con mắt của tôi chảy máu, đui và chết.”

Tưởng rằng không Trời không Phật, không ai hay biết, nào hay đâu: “Lưới Trời lồng lộng, thưa mà chẳng lọt”. Tôi vẫn tưởng thề càn cho qua buổi; không ngờ nhơn nào quả nấy. Khi các con chết rồi, tôi rầu khóc luôn mấy ngày đêm, bỏ ăn bỏ ngủ, nên đôi mắt chảy máu, sưng vù và đui mù đến thế nầy. Khổ sở lắm ông ơi! Ngoài ra còn nhiều tội ác không sao kể hết.

Hôm nay ông đến đây thăm tôi, nếu ông còn nghĩ chút nghĩa tào khang tình xưa bạn cũ, thì sau khi trở về dương thế, ông nên vì tôi mà chuẩn bần bố thí làm các việc từ thiện và cầu siêu độ cho vong hồn của tôi. Một điều ông phải nhớ là nên lo tu tâm dưỡng tánh, làm những điều hiền đức để nhờ kiếp sau.”

Đến đó, ông tỉnh giấc mộng trường, mồ hôi vả ra như tắm, trong lòng còn hoang mang sợ hãi vô cùng, ông Trưởng giả bỗng nghe trên không trung có tiếng gọi:

– “Trưởng giả! Ông trưởng giả! Ta đây là Quan-Thế-Âm Bồ-Tát. Vì thấy nhà ngươi là kẻ trần gian mê muội, chạnh lòng thương xót, cho nên ta hóa hiện làm chàng thí sinh để đến nhắc thức nhà ngươi.

Bởi nhà ngươi ngày trước tạo nhiều điều tội ác, nên ngày nay bị oan gia nghiệp báo đến báo lại ngươi. Ngươi hãy nhớ lại kỹ: Từ khi nhà ngươi sanh con trai đầu lòng, đến khôn lớn, nó chỉ phá hại gia tài sự sản của ngươi, đôi khi nó còn muốn giết cả vợ chồng ngươi để tự do phá của. Bởi mấy mươi năm về trước, ngươi có làm một việc tội ác, là buộc một người tá điền đem vợ con đến thế nợ. Chúng không làm theo ý muốn của ngươi. Lúc bấy giờ nhà ngươi dùng quyền thế ép chế, vì chịu không nổi nên chúng phải tự tử. Việc đó nhà ngươi còn nhớ chăng? Bởi thế nên chúng đầu thai lại nhà ngươi để báo thù cho đến ngày cuối cùng. Nhờ ngươi biết ăn năn hối ngộ, lo tu hành, nên nó chỉ đòi bấy nhiêu đó thôi.

Thằng thứ Hai là đứa ở của nhà ngươi. Ngươi nghi nó ăn cắp vàng, đem ra tra tấn đến chết. Cái oan hồn ấy trở lại nhà ngươi để báo thù, nên khi sanh ra cho đến lớn, nó cứ đau mãi, để hai vợ chồng ngươi phải lo chạy thuốc men, hao tốn gần hết tiền của. Và nó còn phá tán gia tài sự sản của ngươi. Nhờ người có tu hành, nên nó mới thôi đòi nợ.

Thằng thứ Ba, vì ăn trộm của ngươi năm lượng vàng, để đem về chôn cất cha nó, nên phải đến trả lại cho ngươi. Vì thế nên khi ngươi sanh ra nó, nó làm cho gia đình ngươi tiền vô như nước. Khi trả nợ xong rồi, nó đi nơi khác. Nhơn nào quả nấy, không có sai chạy.

Nhà ngươi nên biết: Do oan trái kiếp trước, nên kiếp nầy phải trở lại, kẻ làm vợ, người làm chồng và làm con cái v.v… để đền trả cho nhau đó thôi. Sách nói: “Vô oan trái bất thành phu phụ”. Nay chúng nó chết đi, là oan gia ngươi đã trả xong. Thế mà nhà ngươi mê muội không biết, lại hờn Trời oán Phật, tạo thêm tội lỗi, thật đáng thương xót!

Bởi trước kia người tạo cái nhơn tội ác, nên nay phải trả. Còn người mới tu hành vài ba năm nay, vì cái nhơn nầy chưa hoàn bị, nên người chưa được quả lành.

Thí như người năm nay làm 100 công ruộng, mà vẫn bị thiếu trước hụt sau, là vì năm rồi họ chỉ cờ bạc ăn chơi nợ nần ấp lút, nên năm nay phải chịu thiếu hụt. Còn ruộng làm năm nay tuy nhiều, xong sang năm họ mới hưởng được.

Một thí dụ thứ hai: Như chú Xoài trộm cướp sát nhơn, chú mới vừa buông cái dao vào chùa tu niệm; ít ngày bị lính đến bắt bỏ tù. Không phải vì tu mà bị lính bắt, mà chính vì chú gây cái nhơn trộm cướp trước kia, nên nay bị cái quả ở tù. Còn sự tu hành làm phước hiện nay, phải thời gian sau mới hưởng quả.

Người đời không thấy xa, chỉ nhìn hiện tại, rồi vội vàng trách móc Phật Trời: “Tôi tu hành lo làm lành làm phước, sao lại gặp tai nạn thế nầy!”

Nhà ngươi là người có học thức, sao lại chẳng nhớ câu: “Thiệc ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lại tảo dữ lai trì” nghĩa là: làm lành hay làm dữ, rốt cuộc rồi đều có quả báo, chẳng qua đến sớm hay đến muộn mà thôi .

Trong kinh nói: “Dã sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhơn duyên hội ngộ thời quả báo hoàn tự thọ” nghĩa là: người tạo ra một nghiệp gì, dầu trải qua trăm ngàn muôn kiếp cũng không mất, khi nhơn duyên đến rồi, quả báo nầy phải chịu.

Vậy nhà ngươi từ đây nên ăn năn hối ngộ lo tu tâm dưỡng tánh, để nhờ kiếp sau…”

Nhờ mấy lời giáo hóa của đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, mà ông phú trưởng giả kia được giác ngộ, hồi tâm hướng thiện, tinh tấn tu hành.

Tòa lâu đài nguy nga đồ sộ của ông trước kia, lúc bấy giờ biến thành chốn thiền lâm tu niệm, là nơi lễ Phật đi chùa của khách hành hương rộn rịp…

 Sầu Vương Mớ Tóc

Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Mưa thu rả rích, trời thu ảm đạm một màu, thỉnh thoảng một trận gió ào ào lùa qua khóm lá.

Con đường mòn dẫn đến đỉnh núi gập ghềnh, khúc khuỷu, nằm im lìm giữa những lùm cây rậm rạp. Một người lữ hành, đầu đội chiếc nón lá, đang lủi thủi bước những bước nặng nề đi lên. Bốn bề vắng lặng, những hạt mưa đập vào nón chàng, phát ra những tiếng lộp độp buồn tẻ.

Vóc người chàng cao và gầy, chiếc nón trùm lên đầu chàng và che luôn cả tuổi tác, nên người ta không nhận ra chàng là một ông già hay một người trẻ tuổi. Người ta chỉ biết chàng đang dầm mưa nhắm thẳng ngôi chùa trên đỉnh núi tiến lên. Ròng rã hai mươi năm qua, chàng đã đặt chân đến nhiều cảnh chùa, ai ngờ một người kép hát lại có thể là một tín đồ Phật giáo kiền thành, song vẫn chưa ai hiểu được nguyên nhân thầm kín khác.

Chàng bỏ chiếc nón xuống, để lộ ra một mái tóc ngắn, mượt và đã gần trở thành mầu hoa râm. Chàng kính cẩn đến quỳ trước Phật đài, chắp tay nhìn lên Đức Từ Tôn và đôi môi chàng khẽ rung rung.

Khoảng năm phút sau, chàng từ từ đứng dậy, đi đến chỗ để quyển sổ ghi công đức và nâng cây bút lên, chàng đề tên mình vào cuốn sổ. Buông cây bút xuống, chàng đưa mắt nhìn lơ đãng, cặp mắt sáng đẹp như có sức thu hút người ta, nhưng cũng chứa đựng một nỗi u buồn khó tả.

Rồi như không để ý đến mưa gió, chàng nhấc chiếc nón lên, nhưng bỗng mắt chàng dừng lại trên hình tượng Đức Phật một lần nữa. Chàng tiến đến Ngài, đăm đăm nhìn Ngài và đưa ngón tay dài nhỏ sờ vào bàn tay của Ngài. Một lát sau, chàng từ từ rút tay ra. Khi quay lại, chàng thấy một ni cô đang đứng sau chờ chàng lui ra để vào thắp hương. Chàng vừa đi được mấy bước thì bỗng nhiên như có sức gì lôi chàng ngoảnh lại : Hai cặp mắt nhìn nhau kinh ngạc, chiếc nón rơi khỏi tay chàng, chàng xăm xăm bước tới quỳ xuống bên chân ni cô :

– Lan Hương ! Lan Hương ! Đã hai mươi năm rồi, bây giờ anh mới tìm thấy em.

Ni cô lùi lại mấy bước, cau mặt nhíu mày và cố trấn tĩnh. Một hồi lâu, với giọng chìm và nặng, ni cô khẽ nói :

– Con người tất cả đều do duyên nghiệp định đoạt, chúng ta hãy vui vẻ nhận lấy. Anh … đi mau đi !

– Không ! Không ! Sao em tàn nhẫn thế ? Em có thể đuổi anh đi ? Anh tìm em đã hai mươi năm trời, thời gian hai mươi năm ngắn ngủi lắm sao ? Lan Hương, em còn nhớ rặng tre năm xưa không ? Em quên phiến đá ấy rồi à ? Không biết bao nhiêu lần chúng ta đã ngồi và nô đùa trên phiến đá ấy. Và cũng bên cạnh phiến đá ấy, chúng ta đã nguyện ước trăm năm …

– Tôi đã hiến thân cho Phật pháp, đã hiểu rõ lý duyên sinh. Tôi đã phát nguyện noi theo tinh thần đại từ đại bi của Đức Phật, làm việc cứu độ mọi người, mở rộng lòng thương yêu tất cả … Hai mươi năm qua, tôi vẫn còn cất giữ một vật nhỏ, hôm nay có thể đưa cho anh mang về và coi như mối trần duyên của chúng ta đến đây là chấm dứt !
Nói xong, ni cô phủi áo và nhẹ nhàng lướt vào hậu cung. Chừng mười phút sau, ni cô trở ra, tay cầm một gói giấy, phía ngoài buộc bằng một sợi băng lụa màu lam. Ni cô trao cho chàng :

– Đây là vật ngày trước anh muốn và tôi cũng đã bằng lòng cho anh. Bao nhiêu năm qua, tôi vẫn giữ bên mình. Hôm nay, điều ước mong duy nhất của tôi đã đến, đó cũng là nhờ sức giúp đỡ của các vị bồ tát. Song tôi xin anh về đến chỗ trọ hãy mở ra xem. Anh có bằng lòng thế không ?
Giọng ni cô bình tĩnh và nghiêm trang. Chàng gật đầu và run rẩy, lòng chàng se lại. Chàng đưa tay ra đỡ lấy gói giấy :
– Lan Hương, hãy về với anh ! Chúng ta không nên chối bỏ hạnh phúc để rước lấy khổ đau. Chúng ta còn có hy vọng, có tình yêu và tương lai của chúng ta còn dài. Em đừng vội chán nản cuộc đời.

– Tôi đã tin chư Phật và Bồ tát, tin luật nhân quả. Tôi sẽ vui lòng nhận tất cả những gì rủi ro và đau khổ. Trước kia, tôi cũng như anh, thường phán đoán một cách nông nổi và chủ quan. Tôi cũng đã cho rằng những người “ đem mình gởi chốn am mây ” là những người ru hồn trong cõi mộng, là những kẻ chán đời và trốn tránh thực tế. Nhưng nhờ sự học hỏi, tìm hiểu và sống theo giáo lý trong hai mươi năm qua, tôi thấy rằng đạo Phật không phải là đạo chán đời như người ta thường lầm tưởng, mà trái lại những người tu theo Phật giáo Đại Thừa là những người yêu đời vô cùng ! Nếu nói đạo Phật chán đời thì chưa đủ. Phải nói rằng đạo Phật chán cuộc đời nhơ nhớp xấu xa, cuộc đời ích kỷ đê hèn và tham lam ngu dại; song đối với cuộc đời trong sạch sáng suốt, cuộc đời vị tha cao cả thì đạo Phật rất thiết tha yêu mến. Thôi đến giờ rồi, xin phép anh tôi đi vào.

Dứt lời, ni cô chắp tay chào chàng, rồi cúi đầu đi vào phía sau Phật điện. Chàng bước theo :

– Đừng ! Lan Hương ! Anh van em, hãy về với anh !

– Tuấn Khanh ! Tôi đã nói duyên phận của chúng ta đã hết, tất cả đều qua rồi !

– Không thể qua được ! Em hãy nghe anh nói đây …

– Nói gì ? Thôi, sáng mai anh trở lại vậy, lúc đó hãy nói ! Giọng ni cô lạnh nhạt.

– Anh không thể đợi đến ngày mai, anh đã sống trong đau khổ và sầu muộn qua bao nhiêu cái ngày mai rồi ! Lan Hương ! Giọng chàng cảm động. Ròng rã hai mươi năm trời, có lúc nào em nghĩ đến cuộc sống của anh ra sao không ? Anh cũng chỉ tin tưởng ở Phật và Bồ tát, tin ở nghiệp duyên. Anh đã theo gánh hát đi khắp các thành thị. Anh chú ý đến từng người qua lại, song không có em, lúc đó em ở đâu ? Lan Hương, cuối cùng anh chỉ còn biết đến các chùa lễ bái, xin chư Phật và Bồ tát chứng giám tấm lòng thành khẩn của anh. Giờ đây, anh đã tìm được em, sao em nỡ hắt hủi anh như thế ?

Ni cô mím chặt đôi môi khô héo và đứng lặng người dưới bóng hình tượng Đức Phật.

– Lan Hương, hãy theo anh về, anh chỉ muốn lúc nào cũng được sống bên em, thế là đủ rồi ! Hiện giờ, không còn ai ngăn trở chúng ta nữa. Anh sẽ đưa em đi lễ Phật, đi du ngoạn các nơi. Chúng ta sẽ ngồi trên phiến đá nhẵn bóng ấy để nói chuyện và cười đùa như những năm xưa. Lan Hương, hãy nói đi, tại sao em cứ yên lặng ?

Đứng trước mặt người yêu đã xa cách hai mươi năm trường, tình cảm trong lòng chàng dào dạt như sóng biển.

Cõi lòng của ni cô như một quả núi, không một sức gì của người đời có thể làm rung động. Ni cô khẽ đáp :

– Độ mười giờ sáng mai, anh trở lên đây, chúng ta sẽ nói chuyện nhiều. Giờ xin lỗi anh cho tôi đi vào.

Dứt lời, ni cô chuyển bước, lách mình qua cửa nách phía sau Phật điện để xuống nhà dưới. Chàng vội đi theo, nhưng vừa đến cửa thì một vị sư ni già bỗng xuất hiện.

– Đàng sau không tiện vào, xin ông dừng lại ! Giọng vị ni già nghiêm nghị và như ra lệnh.

– Tôi vào tìm Lan Hương. Lan Hương là em họ của tôi.

– Người tu hành có bổn phận riêng. Mời ông hãy ra ngồi phía ngoài uống nước.

Vị sư già gầy guộc đứng chắn ngang lối đi của chàng như một bức tường sắt. Chàng đành nén tình cảm xúc động và ôm niềm hy vọng chờ đến ngày mai. Chàng nắm chặt lấy gói giấy, lặng lẽ bước ra khỏi Phật điện và thất thểu đi xuống núi. Chàng quên cả chiếc nón, quên cả mưa dầm. Tâm hồn chàng lúc ấy đã hoàn toàn bị hình ảnh của người mặc chiếc áo mầu khói hương ngự trị, hình ảnh trang nghiêm và lãnh đạm làm sao !

Về đến nhà trọ, chàng vào thẳng phòng, đóng chặt cửa lại rồi hồi hộp cởi dải băng lụa buộc ngoài gói giấy. Chàng dần dần nhận ra đó là vật mà hai mươi năm về trước chàng đã tặng nàng nhân dịp sinh nhật mười tám tuổi. Tim chàng bắt đầu đập mạnh, bàn tay chàng run rẩy mở từng vòng băng lụa mầu lam cũ kỹ, những vòng lụa xổ ra đến đâu thì chàng có cảm tưởng như từng khúc ruột của chàng cũng đang đứt theo. Cuối cùng, gói giấy được mở tung ra, trong đó có một lọn tóc dài cuộn tròn kèm theo một hàng chữ nhỏ : “ Đây là mái tóc của em, nếu có ngày nào được giao đến tận tay anh thì coi đó là chút duyên phận cuối cùng của chúng ta ”. Chàng bùi ngùi đau đớn nhìn lọn tóc và hàng chữ. Những việc quá khứ lại lần lượt diễn ra trong ký ức của chàng.

Hồi ấy, chàng mới mười hai tuổi và vẫn còn học tiểu học. Một lần hết niên học, nhà trường tổ chức một buổi kịch nghệ. Lan Hương, bạn cùng lớp và cũng là em con cô con cậu của chàng, kéo chàng đi để cùng đóng vai tiên nữ với nàng, vì đến giờ trình diễn thì trong số nữ diễn viên thiếu một người bạn gái của nàng. Song một việc không ngờ đã xảy ra là chàng cải trang trông rất đẹp. Trên sân khấu, chàng nhảy múa mềm mại, uyển chuyển giống hệt như một cô con gái. Từ thầy giáo và phụ huynh cho đến các học sinh trong trường đều vỗ tay hoan hô khen ngợi chàng, chàng cảm thấy niềm sung sướng tràn ngập lòng. Từ đó, đối với những động tác và phục sức của phái đẹp, chàng càng ngày càng có hứng thú. Ai có ngờ đâu buổi biểu diễn tình cờ ấy đã quyết định lẽ sống và nghề nghiệp của đời chàng. Hai năm sau, cha mẹ chàng kế tiếp nhau qua đời. Một mình côi cút, không nơi nương tựa, chàng được đưa đến một đoàn hát lưu động để chính thức xin học nghề. Nhờ thông minh và có biệt tài, thêm vào đó là nhờ có cảm hứng và sức cố gắng nên chỉ trong vòng năm năm, chàng đã trở thành một nghệ sĩ rường cột của đoàn và đi trình diễn khắp nơi.

Song tính tình chàng trở nên trầm mặc. Mỗi khi tan buổi hát, chàng thường ngồi một mình suy nghĩ đăm chiêu như thả hồn vào cõi mộng. Trong những giờ phút ấy, cõi lòng chàng là một bãi sa mạc hoang vu trống lạnh. Người duy nhất có thể mang sinh thú đến cho chàng là Lan Hương. Nàng yêu chàng, hiểu chàng, an ủi chàng và sẵn sàng trở thành người bạn đồng hành trên con đường đời của chàng sau này, nhưng liệu chàng có xứng đáng không ? Một anh kép hát có thể nào kết hôn với một nữ sinh trung học con nhà giàu có ? Tuy cha mẹ Lan Hương là cậu mợ của chàng, song từ khi chàng gia nhập đoàn hát để kiếm miếng ăn, họ đã khinh rẻ chàng, thậm chí còn tỏ ra không muốn cho chàng đi lại với Lan Hương, nhưng chàng và nàng không thể chịu đựng được ! Trái lại, nếu có cơ hội gặp gỡ, họ không bao giờ bỏ qua. Do đó, họ càng lén lút hẹn hò nhau. Nỗi khổ tâm của họ càng sâu xa thấm thía, càng đau khổ bao nhiêu thì tình cảm của họ càng trở nên chân thành bấy nhiêu ! Họ yêu đương trong một hoàn cảnh cực kỳ tàn ác.

Một buổi chiều mùa hạ, chàng vừa vượt qua hai trăm cây số từ một thành thị nọ trở về. Chàng không đi đâu, chỉ đến thẳng rặng tre xanh bên bờ sông, ngồi trên phiến đá để đợi chờ. Chàng không dám về nhà cậu mợ. “ Con gái tôi đâu có thể lấy một thằng kép hát ”, câu nói ấy đã như một mũi kim xuyên vào trái tim chàng từ lâu và hiện giờ vẫn còn đau nhói. Chàng ngồi trên phiến đá, hy vọng được gặp Lan Hương để trao tận tay nàng một vật mà chàng mang về tặng nàng nhân dịp sinh nhật, rồi lại lên đường trở về đoàn hát, trở về với ánh đèn mầu trên sân khấu.
Chàng hồi hộp phóng tầm mắt nhìn đám nữ sinh đang từ xa tiến tới. Chàng thấy Lan Hương khoác tay bạn nàng, nói cười vui vẻ. Ánh chiều tà còn rớt lại rọi vào mặt nàng, làm cho cặp má tròn trĩnh của nàng ửng hồng như trái dâu mọng đỏ; mái tóc dài, óng mượt, đen huyền chảy xuống hai bờ vai; chiếc mũi cao, thẳng; đôi mắt trong sáng và thân hình uyển chuyển. Tất cả đã tạo nên cho nàng một vẻ đẹp dịu dàng và quyến rũ. Chàng nhìn Lan Hương chằm chặp, nhìn ý trung nhân của nàng; chàng có cảm tưởng như tình yêu và hạnh phúc đã tuột khỏi tay chàng, đã rời xa chàng và người nắm bắt được Lan Hương, hình ảnh của hạnh phúc, nhất định sẽ không phải là chàng. Chàng, một anh kép hát chỉ mơ ước viển vông mà thôi !

Tà áo thướt tha và cặp mắt đen láy đã hiện ra gần trước mặt chàng, lòng chàng rạo rực, không che dấu được niềm hân hoan vui sướng, chàng khẽ cất tiếng gọi một cách bẽn lẽn :

– Lan Hương !

– Ai gọi ? A , Tuấn Khanh ! Lan Hương buông tay bạn ra, rồi vừa ngạc nhiên vừa sung sướng, chạy đến trước chàng : Sao anh lại về vào giờ này ? Sao không viết thơ cho em biết trước ?

– Anh không kịp viết thơ, nhưng thế này không thích hơn à ?

Chàng nhoẻn miệng cười, duyên dáng như một cô con gái. Song khi chàng vừa ngẩng đầu nhìn lên thì vẻ tươi vui trên khuôn mặt chàng vụt biến mất. Chàng thấy các bạn của Lan Hương đứng xa xa cười cợt và chế giễu. Chàng nghe thấy tiếng họ văng vằng :

– Anh kép hát, bạn trai thân nhất của con Lan Hương đó !

– Nghe đâu tụi nó có họ hàng với nhau mà! Từ nhỏ đến lớn, hai đứa vẫn sống chung với nhau thôi !

– Con Lan Hương thật vớ vẩn ! Sao lại đi làm bạn với một anh kép hát thế không biết, hay là mê anh ta rồi ?

– Anh sao vậy, Tuấn Khanh ?

Lan Hương thấy vẻ buồn hiện lên nét mặt chàng, nhưng khi nàng quay lại nhìn về phía các bạn, nàng mới hiểu rõ nguyên nhân, liền mỉm cười âu yếm :

– Đi, chúng ta đến ngồi trên phiến đá !

– Lan Hương, anh thấy khó chịu lắm ! Chàng có ý đi sau nàng mấy bước, chứ không dám đi song song với nàng.

– Sao mà khó chịu ? Chúng nó nói đùa cho vui đấy mà ! Em vẫn thường chẳng nói đùa với chúng nó là gì ?

– Anh phải về ngay tối nay.

Lan Hương trố mắt nhìn chàng :

– Chiều nay anh về gặp em với mục đích là báo cho em biết anh phải trở về ngay tối nay?

Chàng ấp úng đáp :

– Anh … anh … Lan Hương, em hiểu cho lòng anh là đủ rồi !

Nàng cười :

– Vậy anh không hiểu lòng em à ? Thôi đi! Đến ngồi trên phiến đá nói chuyện cho mát.

Nàng cầm lấy tay chàng kéo đi.

Chẳng ai biết là người nào đã đưa phiến đá ấy đặt bên rặng tre xanh, mà cũng không biết nó đã nằm đấy từ đời kiếp nào. Nó đã sáng bóng và nhẵn thín vì bao nhiêu người qua lại đều ngồi trên phiến đá ấy để nghỉ chân. Nhất là bọn trẻ con, lúc thì chúng ngồi, lúc chúng nằm, có lúc chúng lại lấy nó làm nơi ẩn nấp trong khi chơi trò “ ẩn bắt ”. Bọn trẻ ấy đều lớn khôn cả rồi, nhưng phiến đá thì vẫn thế, cứ nằm trơ trơ ở chỗ cũ, không hề xê dịch. Tuấn Khanh và Lan Hương cũng đã từng qua những ngày ấu thơ bên cạnh phiến đá ấy, họ ngồi trên phiến đá nô đùa vui vẻ; cũng có khi họ hờn dỗi, giận dữ; lại có lúc họ mơ màng tưởng tượng họ đang ngồi trên một con thuyền nhỏ, lặng lẽ theo dòng nước biếc đi đến một cõi thần tiên nào … Nhưng thời gian qua, họ đã lớn khôn, họ không còn mơ tưởng thế nữa mà mơ ước một cảnh giới yêu đương, trong đó họ sẽ hoạch định cuộc sống tương lai.

– Bây giờ em hỏi anh, anh có thể ở lại đây được mấy ngày ?

Lan Hương ngồi xuống phiến đá trước, đặt chiếc cặp sách một bên, đó là cử động quen thuộc của nàng đã bao năm qua.

Tuấn Khanh cũng ngồi theo nàng :

– Có thể ở lại ba ngày, nhưng …

Lan Hương sung sướng nắm lấy tay chàng:

– Thế thì được rồi, ngày mai là thứ bảy, chỉ học có nửa buổi; ngày kia là chủ nhật, thứ hai em xin nghỉ, thế là được chơi với anh ba hôm, có được không nào ?

– Anh rất tiếc vì hoàn cảnh mà phải bỏ học để đi làm cái nghề hát xướng này, không được mở mặt với đời !

– Cần gì phải mở mặt với đời ? Hãy mở mặt với chính mình đi, mở mặt với em mà không đủ à ?
Nàng siết chặt tay chàng, tỏ dấu hiệu an ủi, khích lệ và cũng để bày tỏ lòng nàng.

– Còn cậu mợ …

Nói đến cậu mợ, chàng phát run.

– Cậu mợ cũng sẽ bằng lòng, vì người thương em lắm ! Chỉ cần …

Nàng nhìn chàng bằng cặp mắt tràn đầy tình cảm và bỏ lửng câu nói.

– Chỉ cần sao ? Em nói đi !

Tay chàng cũng nằm chặt trong tay nàng và chàng có cảm giác hồi hộp.

– Chỉ cần anh cố gắng hơn nữa trong nghề nghiệp, đừng tưởng thế đã là hoàn toàn rồi !

Chàng trút một hơi thở nhẹ nhõm :

– Chỉ cần có em, anh sẽ hết sức cố gắng là một ngôi sao chói rạng nhất trong đám tài tử. Hát xướng không phải là một nghề hèn hạ !

– Tối nay, anh về nhà em ngủ ?

– Không được ! Anh đã có chỗ ngủ. Ngày mai, anh sẽ đến chúc mừng em.

– Chúc mừng ? Lan Hương mở to cặp mắt, hỏi.

– Mai là sinh nhật của em, em quên à ?

– À, nàng cười, thế mà chẳng thấy má nhắc gì đến cả !

– Nhất định mợ đã sắp đặt rồi. Sinh nhật thứ mười tám của em mà mợ quên sao được ?

Vừa nói, chàng vừa móc trong túi ra một cái hộp nhỏ bằng nhung trông rất xinh xắn và trao cho nàng :

– Anh tặng em cái này !

– Ái chà ! Anh còn mang quà về cho em kia à ? Cái gì đây ? Nàng hớn hở đỡ lấy cái hộp.

– Em mở ra coi !

Nàng sung sướng mở chiếc hộp ra, thấy trong đựng một chiếc nhẫn và một dải băng lụa màu lam để buộc tóc.

– A, chiếc nhẫn đẹp quá ! Nàng thích thú ướm chiếc nhẫn vào ngón tay.

– Em hãy buộc thử dải băng xem nào !

– Được !

Rồi như một cô bé, nàng xỏa mái tóc xuống và cầm lấy dải băng.

– Thong thả. Chàng không thể tự nén được tình cảm, đưa tay vuốt mái tóc đen dài và mềm mại như nhung tơ của nàng. Để tóc dài xuống trông thướt tha và mơ mộng lắm !

– Anh thích để dài xuống ? Nàng ngả đầu vào chàng.

Chàng đưa tay véo yêu trên má nàng :

– Lan Hương, anh xin em đừng bao giờ uốn tóc cả.

Nàng cười :

– Không uốn để nó dài quét đất thì sao ?

– Quét đất trông càng đẹp. Em cứ để dài đi !

– Được rồi ! Nhưng giả sử có ngày em cắt đi thì sao ?

– Thì cất để dành cho anh.

– Thế hả ? Cho anh, song em nhất định cứ nuôi cho thật dài, dài đến chừng nào anh ghét thì thôi !

Nàng nũng nịu ngả đầu sát vào má chàng. Mùi thơm phưng phức từ mái tóc nàng toát ra, chàng thì thầm bên tai nàng :

– Với em, không bao giờ anh biết ghét là cái gì ! Anh chỉ tự ghét cái phận nghèo của anh.

– Anh biết em ghét ai nhất không ?

– Ghét anh ?

– Đúng rồi, em ghét anh lắm ! Ghét người hay có tính tự ti mặc cảm, không dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào mặt ai.

– Lan Hương ! Chàng cúi đầu.

Nàng quay đi và hạ giọng nói :

– Ghét anh, nhưng em vẫn cứ yêu anh.

Chàng ngẩng đầu lên và mắt rướm lệ :

– Em cứ yêu anh ?

Nàng gật đầu.

– Cậu mợ không cho thì sao ?

– Thì em đi !

– Đi theo anh ?

– Không ! Em muốn sống cuộc đời tự lập, làm bất cứ việc gì cũng được và sẽ không bao giờ trở về.

– Em nhẫn tâm bỏ cậu mợ ?

– Trừ khi nào ba má bằng lòng thì lúc đó em mới về.

– Em cũng không cho anh biết ?

– Không ! Em không muốn người ta cho là em đi theo trai. Em muốn anh không mang tiếng và em cũng không mang tiếng.

– Thế em sẽ không nghĩ gì đến anh ? Tay chàng lại siết chặt lấy tay nàng.

– Mà sao cứ nói những chuyện hão huyền vậy ? Em biết ba má thương em lắm mà !

Nàng nhoẻn miệng cười, rồi đưa tay lên tết nút băng lụa trên đầu thành hình con bướm. Dải băng mầu lam càng làm cho mái tóc mềm mại và óng ả của nàng thêm vẻ khả ái. Nàng hỏi :

– Thế nào ?

– Trông thật thướt tha và đẹp lắm ! Chàng ngây ngất nhìn nàng và suối tóc mơ mộng của nàng.

– Ai mượn anh khen ? Nàng nở một nụ cười quyến rũ.

– Lan Hương, thật em có định … ?

– Định gì ?

– Kết hôn với anh ?

– Trừ khi em đi tu thì thôi !

– Lan Hương, thật anh cảm động vô cùng!

Nàng rũ tóc một cái rồi cầm lấy cặp sách đứng dậy :

– Thôi, ta đi về đi !

Chàng cũng đứng dậy theo :

– Anh đưa em đến gốc cây kia.

– Thật anh không về nhà em à ?

Chàng đau khổ lắc đầu :

– Em vẫn chưa hiểu rõ hoàn cảnh ? Ngày mai, anh đến mừng em.

– Thôi được, mai em đợi anh, nhưng phải đến sớm kia đấy !

Lan Hương sửa lại mái tóc, vuốt lại tà áo, rồi xua tay cười :

– Vậy khỏi phải tiễn chân em nữa !

Chàng đứng nhìn theo cho đến khi hình ảnh lả lướt của nàng đã khuất sau lũy tre trong ngõ vắng ngập bóng hoàng hôn, lúc ấy chàng mới thơ thẩn ra về.

Thật ra, cha mẹ Lan Hương đã ngầm chuẩn bị bữa tiệc sinh nhật của nàng rất lớn. Tại sao lại làm lớn ? Chắc cũng có lý do gì trong đó ! Thôi thì mua thứ này, sắm thứ nọ và cho phép Lan

Hương được tự do mời các bạn bè đến dự tiệc.

Cặp mắt nàng sáng lên :

– Má cho phép con được tự do mời các bạn con, hả má ?

Mẹ nàng cười :

– Ai nói dối con ?

– Vậy con sẽ mời Phương Thảo và Tuyết Anh, có được không ạ ?

– Dĩ nhiên !

– Lại còn anh Phác và … và …

Nàng ngần ngừ một lát rồi nói :

– Và anh Tuấn Khanh

Đôi má của mẹ nàng xị xuống, song bà vẫn mỉm cười :

– Những người kép hát nay đây mai đó, biết đâu mà tìm mà bảo ?

Lan Hương dò xét :

– Nếu anh ấy về kịp ?

– Thì cũng được chớ sao ! Nhưng chắc nó không muốn đến đâu. Thôi, con vào mặc thử bộ đồ mới xem, má còn nhiều việc khác.

Mẹ nàng dắt nàng đến cửa phòng, bà nở một nụ cười bí ẩn :

– Lan Hương, hôm nay là ngày tốt lành của con, hãy vào trang điểm đi !

Lan Hương bắt đầu lục soát trong ký ức của nàng, nàng nhận thấy chưa có sinh nhật nào mẹ nàng đã nói với nàng câu ấy. Bởi thế, nàng ngạc nhiên hỏi :

– Năm nào cũng có sinh nhật, chứ có gì mà là ngày tốt lành ạ ?

– Lát nữa, tự nhiên con sẽ rõ !

Mẹ nàng nói xong, liền quay trở ra. Lan Hương vẫn cứ thắc mắc, song nàng cũng vào phòng mặc thử áo mới.

Đặc biệt năm nay khách đến dự lễ sinh nhật của nàng đông hơn mọi năm. Điều đó làm nàng cảm thấy thích thú và hãnh diện.

Nàng mặc bộ đồ mới, mầu hồng nhạt, rồi đeo chiếc nhẫn của Tuấn Khanh tặng và buộc dải lụa mầu lam trên đầu. Nàng cười tươi tắn, nhìn những quà tặng và đi cảm ơn từng người. Nhưng người khách mà nàng trông mong nhất vẫn chưa thấy đến, điều đó khiến nàng có cảm giác ray rứt. Chốc chốc nàng lại ngó ra ngoài cửa sổ để lắng nghe bước đi quen thuộc và tiếng gọi hiền dịu ấy. Song đến đúng giờ bữa tiệc được bắt đầu, nàng vẫn chưa thấy chàng tới. Nàng thấy nóng ruột, bồn chồn và hồi hộp; nhưng nàng cố che giấu để tiếp đãi bè bạn niềm nở.

Sau mấy tuần rượu, thực khách nói cười vui vẻ, cha nàng coi bộ cũng đã ngà ngà, ông ngỏ lời cảm tạ mọi người, rồi ông vui miệng tuyên bố luôn :

– Hôm nay cũng là ngày đại sự trăm năm của con cháu bé …

Đôi đũa rơi khỏi tay Lan Hương, nàng hoàn toàn kinh ngạc.

Ông thân nàng lại nói tiếp :

– Ba thay con chọn ngày hôm nay làm ngày vui mừng nhất trong đời con. Như thế, ba cũng được
trọn bổn phận làm cha.

– Thưa ba, con còn ít tuổi, hơn nữa học hành còn dở dang. Việc đính hôn, xin ba hãy để một vài năm nữa cũng được !

Lan Hương rưng rưng ngấn lệ và dùng hết sức can đảm để khẩn cầu cha nàng.

Cha nàng mỉm cười :

– Ba nghĩ trước thế cho chu đáo thôi ! Còn việc cưới xin thì dĩ nhiên là phải đợi sau khi con học hết trung học.

Khách khứa đều hoan hô :

– Hai tin mừng đến một lúc ! Xin mời các ngài cạn ly.

Lan Hương đứng dậy giữa những tiếng hoan hô, nàng nghẹn ngào van xin cha nàng một lần nữa :

– Thưa ba, vậy xin ba để con học xong trung học, rồi đính hôn cũng chưa muộn.

Mặt cha nàng bỗng biến sắc :

– Con phải vâng lời cha mẹ. Cha mẹ đặt đâu thì phải ngồi đấy, không được lôi thôi chi hết !

– Song đây là việc của con kia mà !

– Mầy dám bảo là việc của mầy hả ? Mỗi đốt xương, mỗi sợi tóc của mầy đều là của cha mẹ.

Mầy dám chống lời cha mẹ hả ?

Cha nàng bất chấp cả bạn bè thân hữu, ông hầm hầm nổi nóng :

– Tất cả các việc khác, con xin vâng theo lời ba má. Nhưng việc này …

– Việc này lại càng phải vâng lời ba má mới được. Con hãy xin lỗi ba con đi !

Mẹ nàng thấy tình hình bất ổn, liền vội dàn xếp. Bà không muốn chồng bà nóng giận trước mặt tân khách và cũng không muốn con gái bị mắng trước nhiều người.

Lan Hương đỏ mặt và tức khí bốc lên trong lòng nàng :

– Con không thể chịu được việc đó !

– Không chịu thì cút đi ! Đồ bất hiếu ! Cha nàng thét lên.

Thế là như một trận gió, Lan Hương lướt ra khỏi cửa và chạy mất hút.

Mẹ nàng kinh hãi, gọi giật lại :

– Lan Hương ! Lan Hương ! Con điên à ?

Lan Hương vừa mở cánh cổng thì thấy Tuấn Khanh đang đứng phía ngoài, chàng dang tay cản nàng lại.

– Anh …

Nàng chỉ thốt được có thế ! Hai người đều xúc động, không biết xử trí ra sao khi vận mệnh đã đến. Nhưng không còn thì giờ để nói gì hơn, nên nàng vùng vẫy đẩy chàng ra, rồi phóng đi như một mũi tên.

Không ai đuổi theo nàng, kể cả Tuấn Khanh.

***************************

Từ đấy, người ta không còn thấy hình bóng Lan Hương nữa. Trên phiến đá nhẵn bóng ấy, vẫn có trẻ con ngồi, nằm và nô đùa cười cợt.

Tuấn Khanh theo đoàn hát đi khắp đó đây. Hy vọng duy nhất của đời chàng là tìm nàng. Nhưng nàng ở đâu, biết tìm đâu ?

Thời gian lặng lẽ trôi qua, đã hai mươi năm trời xa vắng, không một tin tức gì về nàng! Hiện giờ, chàng chỉ còn biết nhờ vào sức ủng hộ của chư vị Bồ tát.

Tuấn Khanh, một chàng nghệ sĩ trẻ tuổi và đẹp trai, là thần tượng của khách mộ điệu và là túi tiền của đoàn hát; song riêng chàng vẫn mang nặng một tâm tư sầu muộn. Trên sân khấu, chàng đã làm cho bao nhiêu người sống những giờ phút say sưa, thích thú và vui tươi. Người ta không thể quên được giọng hát và điệu cười của chàng. Nhưng khi tan buổi hát, chàng lại vẫn ôm mối sầu hoài vạn cổ, cất bước ra đi và đặt chân đến khắp các cảnh chùa, nguyện cầu và khẩn đảo.

Song hai mươi năm qua, chàng vẫn sống trong trống lạnh và thương đau.

– Đây cũng thật là sự an bài của các vị Bồ tát ! Nhờ sức giúp đỡ của các ngài, cuối cùng mình đã … cuối cùng …

Tay Tuấn Khanh run run nâng niu lọn tóc dài mềm mại rồi khẽ đặt lên môi. Hai hàng lệ ứa ra và tràn xuống hai gò má xanh xao của chàng. Chàng cố nén tình cảm xúc động, chờ đợi đến ngày mai. Ngày mai, chàng sẽ ai cầu ni cô đi với chàng đến một nơi thâm sơn cùng cốc nào để sống cho qua những ngày còn lại.

Chàng cứ nắm chặt lấy lọn tóc trong suốt đêm. Đợi khi trời vừa hừng hừng sáng, chàng đã vội lên đường. Chàng không thể giữ đúng lời ni cô hẹn là mười giờ sáng. Chàng phải đi sớm, gặp ni cô sớm và đưa ni cô đi ngay.

Chàng theo con đường mòn lên núi hãy còn ngập trong sương đêm. Chàng thấy tim đập nhanh hơn, xúc động, phấn khởi, sung sướng, hồi hộp và bao nhiêu tình cảm lẫn lộn. Bất giác, chàng lại thấy mấy giọt lệ lăn theo sống mũi. Hoài vọng hai mươi năm qua chắc chắn sẽ được thỏa mãn trong buổi sớm mờ sương này. Khi chàng lên tới đỉnh núi, tính ra còn sớm hơn giờ đã định ba tiếng đồng hồ.

Người ra tiếp chàng vẫn lại là vị sư ni già gầy guộc và nghiêm khắc đã chặn ngang đường tiến của chàng hôm qua. Vị sư già lạnh lùng nói với chàng :

– Tối hôm qua, ni cô đã rời khỏi nơi này.

– Đi đâu ? Lan Hương đi đâu ? Chàng quỳ phục xuống bên chân vị sư ni già.

– Ni cô đi vân du.

– Vân du ! Vân du ! Lan Hương đi vân du rồi !

Chàng ngửa mặt lên trời, nước mắt lại trào ra ràn rụa. Từng trận gió thu đưa những áng mây mù buổi sáng đang vèo vèo lướt qua. Giọng chàng yếu ớt :

Vân du … Vân du … Lan Hương ! Lan Hương đi vân du …

 Tan Loãng Theo Mây

Huỳnh Trung Chánh

Sừng sững trên cánh đồng lúa chiêm vùng bắc ngạn sông Đuống, thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, tụ hội năm ngọn núi khôi vĩ Ma Khám, Nguyệt Hằng, Đông Sơn, Bát Vạn và Lạn Kha. Lạn Kha dịch nghĩa là rìu nát, địa danh bắt nguồn từ sự tích người tiều phu lên núi đốn củi, tình cờ theo dòi một ván cờ tiên, cho đến khi cờ tàn, tiên đi mất, người tiều phu nhặt lại chiếc rìu mới khám phá cán rìu mục nát, còn mình thì cũng biến thành cụ già, lạc bước cô đơn về làng cũ. Núi Lạn Kha vì vậy còn có tên là Tiên Du, nổi tiếng với ngôi cổ tự Phật Tích, một tổ đình đã đào tạo bao đắc đạo cao tăng khắp các triều đại, nên quanh năm suốt tháng dập dìu tài tử giai nhân đăng sơn viếng chùa, ngoạn cảnh. Nguyệt Hằng đối diện với Lạn Kha, đường đi trắc trở cheo leo, phong cảnh xinh tươi hùng vĩ, cũng hiện hữu ngôi thiền viện cổ xưa, nhưng sơn môn nầy lại vắng vẻ tiêu điều. Nguyệt Hằng chỉ nổi tiếng về trà, trà “hoàng tước thiệt” do Thanh Hư thiền viện sản xuất được giới trà gia “cao thủ” xếp vào hạng lừng danh, chính vì vậy mà Nguyệt Hằng còn mang tên nôm na là núi chè. Giống trà nầy, như tên tự miêu tả, lá thon nhỏ như lưỡi chim sẻ, màu mạ non phơn phớt lớp lông tơ mịn óng ánh vàng. Trà “hoàng tước thiệt”, phát xuất từ vùng núi non trùng điệp của tỉnh Triết Giang, Trung Hoa, mà theo truyền thuyết đã do vị cơ tổ, trong chuyến chiêm bái ngôi chùa Từ Thọ mang hạt giống về gieo trồng. Giống trà quý lại được chư sư chăm sóc cẩn trọng, tuyển lựa từng đọt trà, chỉ hái thuần búp non và một lá nhỏ, nên phẩm chất phải thanh cao đặc biệt. Trà cho nước màu xanh nhạt, thoang thoảng hương thanh nhẹ, vị hơi chát đắng mà tươi tỉnh, hậu dịu ngọt, khiến người uống trà cảm giác lâng lâng sảng khoái. Khoảng năm mươi năm về trước, thiền viện giữ tục lệ tổ chức hội trà vào tiết Thanh Minh, để chư Thiền sư thân hữu thưởng thức chung trà đầu mùa quý giá. Hình ảnh mấy mươi vị lão sư trang nghiêm nâng chung trà nghi ngút khói lên đỉnh sương mù mây trắng lửng lơ, vẫn còn được nhắc nhở.

“Khói trà quyện với ngàn mây…

Chung trà tỉnh thức đong đầy tam thiên…”

Theo đúng thanh qui của tổ Bách Trượng “nhất nhựt bất tác, nhất nhựt bất thực”, ngoài hoa lợi vườn trà, thiền viện còn trồng vài loại màu phụ để có thể tự túc kinh tế. Do đó, chư tăng phải chấp tác không ngừng, nhứt là vào mùa xuân, tất cả nỗ lực đều phải tập trung vào việc sản xuất trà. Trà được hái từ sáng tinh sương, rồi mang về cho vào sàng xấy sơ, đoạn trộn đều và đánh cho mềm ra, kế đó, lại phải xấy khô ráo thì mới hoàn tất. Dù bận rộn như thế nào, chư tăng vẫn chuyên cần tọa thiền, và tụng niệm hai thời công phu đều đặn. Sơn môn tuy là một chi phái thiền, nhưng lại có truyền thống quan tâm đặc biệt đến lễ nhạc, phầm mà vài giới tu sĩ chê bai là “thanh âm sắc tướng”. Theo sơ tổ, rung động của âm thanh có thể tạo nên những sự rung động sâu xa nơi tâm thức. Âm điệu tán tụng đúng mức có diệu dụng thức tỉnh kẻ mê đắm dục lạc, hóa giải tham sân si, trao truyền an lạc. Nhịp mõ khoan thai phá tan loạn động, hồi trống dồn dập triển khai tinh tấn, và tiếng chuông thanh thoát nhiệm mầu.

Âm ba đặc thù của tiếng chuông : ngân nga, bàng bạc, trầm sâu, xoáy chuyển, có công năng thẩm thấu tận đáy nguồn tâm thức, vừa cao vút thông suốt tam thiên, vừa xuyên thủng cõi u minh địa ngục. Điều đó đã giải thích tại sao, tiếng thác đổ ầm ỉ, tiếng trời long đất lở, tiếng trống kèn rầm rập của ba quân… không lay chuyển chư thiền sư trong cơn đại định, nhưng một tiếng chuông nhỏ lại có diệu dụng thức tỉnh vị ấy. Tiếng chuông gắn liền với sự nghiệp giải thoát, phản ảnh trình độ tu tập của hành giả. Đạo đức càng cao thì tiếng chuông càng thâm trầm đạo vị. Lặng lẽ lắng nghe tiếng chuông của bậc giác ngộ, đôi khi người hành giả gặt hái được lợi ích hơn cả mấy năm chuyên cần tu tập. Do đó, tuy thiền tông tuyên bố là “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” và phủ nhận mọi hình thức lễ bái, mà tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khác, tiếng tụng niệm, tiếng hét… của chư thiền tổ đều hàm chứa một diệu dụng vô song.

Đặc biệt quan tâm đến âm thanh, nên sư Viên Thắng đã đảm trách hai thời thỉnh đại hồng chung vô cùng thận trọng. Sư thong thả thỉnh một trăm lẻ tám tiếng chuông khuya. Vừa thỉnh chuông, sư vừa ngâm kệ phục nguyện “âm siêu, dương thới” cho pháp giới chúng sanh. Từ lầu chuông chót vót đỉnh núi, sư cất tiếng ngân cao vút thiết tha, thành khẩn mong hạnh nguyện mình nương theo tiếng chuông trôi xuống thôn xóm xa xôi dưới chân núi phổ độ dân làng. Sư Viên Thắng thường được các vị sư thúc khen ngợi có năng khiếu thiên phú về lễ nhạc. Khí cụ nào, dù là chuông, mõ, khánh… hay trống, trong đôi tay sư cũng chuyển biến thành những âm thanh nhịp nhàng, điêu luyện và tràn đầy đạo vị. Giọng của sư lại ấm và truyền cảm, nên khi xướng, tán hay tụng kinh âm điệu thoát tục cũng khiến người nghe lắng lòng nương tiếng kệ, mà thơi thới rủ bỏ hết mọi hệ lụy triền phược của cuộc đời. Sư thúc khuyến dụ sư mang sở trường xuống núi làm phương tiện hữu hiệu hoằng hóa chúng sanh, nhưng sư một mực chối từ. Sơn môn đơn chiếc, thương thầy già yếu và sư đệ dại khờ, sư Viên Thắng không mảy may nghĩ đến việc ra đi. Đêm nay, nhìn sang núi Lạn Kha, thấy hàng ngàn bó đuốc của khách hành hương sáng rực góc trời, hốt nhiên sư cảm thấy niềm hối tiếc vương vấn trong lòng. Sư bỗng ước mơ ngày sư có cơ hội thi thố tài năng tụng niệm của mình. Giây phút huy hoàng ấy, thỉnh thoảng vẫn được sư phát họa trong tâm, là cảnh tượng sư đang lẫm liệt uy nghi cử hành nghi lễ trọng thể cho những bậc vua chúa tại ngôi chùa vĩ đại chốn đế đô. Giấc mơ tương lai cứ vẩn vơ ám ảnh khiến sư trằn trọc bất an suốt đêm và thời tọa thiền cũng lơ mơ loạn động.

Sau thời công phu sáng, sư cụ Tịnh Chiếu nghiêm trọng gọi hai đệ tử vào tăng phòng dạy việc. Sự kiện bất bình thường khiến hai đệ tử Viên Thắng, Viên Thông lo lắng, căng thẳng chấp tay chờ đợi thầy quở trách. Bất ngờ, sư cụ biểu lộ vẻ tươi vui, rồi ngọt ngào lên tiếng :

– Thắng con ! Con hầu thầy hai mươi năm kể ra là quá đầy đủ ! Thầy dự định đến ngày rằm sẽ làm lễ hạ sơn cho con xuống núi đem sở học để hoằng dương chánh pháp !

Sư Viên Thắng nghĩ đến vọng tưởng hư đốn của mình vừa qua, vội vã dập đầu thành khẩn thưa:

– Bẩm thầy, con xin sám hối đã loạn tưởng buông lung khi hành thiền. Xin thầy thứ tha cho con được tiếp tục ở lại tu tập !

– Thắng con ! Hễ rời vọng tưởng chấp trước là chứng được chân tâm. Các pháp môn Phật giáo sai khác đều qui về một mối là chỉ bày hành giả phương pháp diệt trừ vọng tưởng mà thôi. Phương pháp thẳng, gọn của lục tổ là : “Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh”, nói khác, nếu biết buông bỏ toàn thân như người chết : căn trần thức tan biến, tham sân si diệt sạch, họa phước vinh nhục danh lợi chẳng màn, thì sao chẳng xa lìa được vọng tưởng, chân tâm chẳng hiển bày…

Lặng yên giây phút cho đệ tử lắng tâm suy gẫm, sư cụ ôn tồn tiếp lời:

– Thắng ạ ! Con vốn có duyên hoằng pháp chốn đế đô, thầy nghĩ đã đến lúc con nên tùy thuận ra đi gánh vác Phật sự. Sư cụ chùa Trấn Quốc (1), sư thúc tổ của con, bấy lâu nay khẩn thiết yêu cầu thầy giới thiệu một môn sinh tín nhiệm đỡ đần Phật sự, và thầy đã hứa cử con về hầu người. Nay mùa chè đã hoàn mãn, đến lúc con có thể lên đường nên thầy thông báo con chuẩn bị hành trang. Ngoài ra, nhân dịp nầy thầy cũng muốn cho hai con biết vài điều bí ẩn trọng đại của sơn môn ta. Sơ tổ, trong thời gian du phương cầu đạo tại Ngũ Đài Sơn đã được một vị thánh tăng vô danh tặng viên ngọc ma ni vô giá…

Sư cụ mở cái hộp gỗ lim để dưới bộ kinh Đại Bát Nhã, chỉ hai đệ tử xem viên kim cương lớn bằng trứng chim sâu long lanh sáng chói, rồi nói tiếp :

– Ngọc có đặc điểm là tùy tâm người cầm giữ mà ảnh hiện màu sắc. Tâm trong sáng thì ngọc trong sáng, tâm nhơ bẩn xấu xa thì ngọc cũng đen đủi xấu xa. Vì vậy, nên mới được gọi là như ý châu tức ma ni châu. Đây là tín vật chưởng môn, dành trao truyền cho người tiếp nối trụ trì ngôi Thanh Hư thiền viện.

Xây qua Viên Thắng, sư cụ dặn dò :

Con là đại đệ tử là người kế vị thầy tiếp nhận viên ngọc nầy, nhưng con còn duyên hoằng hóa chốn đế đô, nên ta đành đình hoãn mười năm, chờ ngày con trở về mới chuyển giao trách nhiệm môn phái.

Viên Thắng bùi ngùi :

Thầy hứa với sư thúc tổ thì con phải vâng lời đến chùa Trấn Quốc một thời gian. Tuy nhiên, con hy vọng trong vài năm, khi sư thúc tổ có người khác đỡ đần thì con xin về, chớ xa thầy đến mười năm thì lâu quá !…

Viên Thông cũng cất tiếng năn nỉ:

Thầy can thiệp với sư thúc tổ cho sư huynh trở về sớm thầy nhé !

Ơ ! Việc đó tùy duyên mà thu xếp, đề cập lúc nầy có phần quá sớm. Vả chăng, thầy muốn dành thời giờ kể hai con hiểu rõ nguyên nhân tục lệ lên xuống núi khắc khe của sơn môn ta, để mà suy gẫm. Truyền thống này liên hệ đến câu chuyện thầm kín từ năm mươi năm trước. Ngày đó, Thanh Hư đang thời hưng thịnh, tăng chúng hàng trăm vị, do tổ thứ tám, pháp danh Từ Nhẫn làm viện chủ. Tổ cao đức trọng, tuổi đã bảy mươi mà vẫn không ngừng phát triển sơn môn, đào luyện tăng tài. Một hôm, tổ khẩn cấp truyền gọi các đệ tử vân tập đến rồi long trọng cử người đại đệ tử kế vị viện chủ, sau đó tổ tường thuật họ nghe câu chuyện bí mật trọng đại của mình. Tổ tham thiền nhập định tự biết mình sắp nhập diệt, nên hai ngày trước, nhân đêm trăng sáng đã đi dạo quanh tu viện để giả từ. Vô tình tổ đi lần xuống chân núi, rồi dừng chân bên bờ suối, ngắm bóng trăng in trên mặt nước. Thình lình có cô bé, tuổi chừng đôi tám, te te đến bên giòng suối, yên chí đó là chốn không người, nên cổi phăng chiếc váy, thản nhiên xuống tắm. Diễn tiến xảy ra thật bất ngờ, không cách gì ngăn chận kịp, khiến tổ phải giữ yên lặng, cho cô bé đỡ thẹn thùng. Tổ nhắm mắt lại, nhưng không biết do oan nghiệp tự kiếp nào, trong một thoáng tổ bỗng mống niệm ý nghĩ hiếu kỳ là muốn nhìn cho rõ. Vọng niệm phát khởi từ sự tò mò tưởng chừng vô hại mà hậu quả nguy hiểm không phương cứu vãn. Trở về hậu liêu tọa thiền nhập định, tổ khám phá mình sẽ sớm lìa đời với cận tử nghiệp ác hại đeo đuổi khiến tổ phải đọa sanh làm thân con rận, sông trong chiếc váy cô bé để thỏa mãn vọng niệm nhìn cho rõ trước kia. Kết luận tổ khẩn thiết yêu cầu chúng đệ tử hoàn thành hai điều tâm nguyện giúp tổ sớm được siêu thoát (2). Trước hết, tổ ủy thác người đại đệ tử, chờ đợi đúng ba ngày sau khi tổ mệnh chung, phải đích thân tìm đến nhà người tiều phu ngụ dưới chân núi mua chuộc chiếc váy cô bé đang mặc, đem về đặt bên cạnh thi thể tổ, luân phiên tụng kinh nghiệp báo bốn ngày, đoạn đem hỏa thiêu chung với nhục thân người. Thứ đến, tổ dặn dò chôn bình hài cốt tổ trên lối đi duy nhất lên xuống núi, hầu mỗi khi dẫm chân lên đó, chúng đệ tử sẽ nhớ đến oan nghiệp của tổ mà xa lìa vọng niệm sàm sỡ. Chúng đệ tử nghe thầy kể chuyện vừa kinh dị, vừa thương cảm, mà chỉ biết răm rắp tuân lời. Thương thầy, các đệ tử nghĩ đến việc hạn chế đi lại dẫm trên bình hài cốt thầy. Lệ không tiếp khác tăng lẫn tục và lệ ngăn cấm đệ tử chưa làm lễ hạ sơn chánh thức lên xuống núi được đặt ra.

– Thưa thầy ! chú Viên Thông bức rức lên tiếng, tổ Từ Nhẫn trọn đời tu hành chân chính, chỉ mống tí vọng niệm tò mò mà rơi vào ác đạo thật là khó hiểu?

Các con ạ ! Cận tử nghiệp là yếu tố quyết định hướng dẫn thân trung ấm trôi nổi theo lục đạo luân hồi. Giới tu hành thường nhắc nhở chuyện một vị lão hòa thượng, trọn đời tu hành chơn chất, nhưng khi sắp chết lại mống niệm tiếc rẽ bụi mía tươi tốt trồng mà chưa ăn được, nên đã đọa lạc làm thân con sâu mía để thỏa mãn nguyện vọng lúc lâm chung. Vào thời Đức Phật tại thế, có vị Tỳ kheo vừa được thí chủ cúng dường bộ y mới, chưa kịp mặc thì trúng gió chết, nên luyến tiếc chẳng rời. Cận tử nghiệp đó đã lôi kéo vị tỳ kheo nầy thác sanh thành ngạ quỷ lẩn quẩn bám giữ của. Biết rõ sự kiện trên, Đức Phật dạy chư tỳ kheo phải chờ đến bảy ngày, sau khi kẻ mạng chung nguôi ngoai lòng tham tiếc, thiện căn phục hồi thoát kiếp ngạ quỷ, thác sanh lên cõi trời, mới được phân chia tài sản người chết.

Viên Thông chống chế :

Thưa thầy ! Trường hợp của tổ không thể kể là cận tử nghiệp, vì sau đó tổ vẫn còn giữ vững chánh niệm để tọa thiền, để họp chúng kia mà !

Viên Thắng cũng góp ý :

Con lại tin tưởng câu chuyện nầy chỉ là một phương tiện, một khế cơ, mà tổ nhằm sử dụng để giáo huấn đệ tử !

Quan niệm của con rất hợp ý thầy. Đúng vậy ! ngay thời Đức Phật còn tại thế, chư thánh tăng đôi khi đã cố tình tạo điều lầm lỗi, hầu Đức Phật có cơ hội nhắc nhở, khuyên dạy và đặt giới luật ngăn ngừa kẻ phàm nhân vấp phải. Thuở ấy, đệ tử bản môn thường bị nữ sắc quyến rủ, do đó, có lẽ tổ đã cố tình tạo ra biến cố này, như một phương pháp “khổ nhục” để giáo hóa đệ tử tinh tấn tu tập, xa lìa vọng niệm mà thôi. Có điều tự phỉ báng thanh danh mình để làm bài học sống động cho kẻ hậu sinh, thì chỉ có tâm nguyện của bậc Bồ tát không còn chút ngã chấp mới hành xử nỗi !

Tuy vẫn ước mơ ngày hạ sơn vùng vẫy ngang dọc một phen, nhưng khi sắp ra đi, sư Viên Thắng vẫn cảm thấy bùi ngùi tấc dạ. Sư thương thầy, mến sư đệ chẳng rời. Sư quyến luyến tự viện, đỉnh núi, đồi thông. Sư tần ngần ngắm từng khóm đá, gốc trà, gốc đào, cội mai… tất cả đều chứa chan bao kỷ niệm ấm êm. Thời giờ trôi nhanh quá, lật bật đã đến ngày rằm, sư cụ Tịnh Chiếu cử hành lễ hạ sơn cho đệ tử, rồi đích thân tiễn đưa đệ tử thương yêu lên đường. Khi sắp chia tay nhau bên giòng suối Tiền Định, Viên Thắng bịn rịn thỉnh cầu thầy ban cho một lời ẩn ngữ làm hành trang tu tập sau cùng. Sư cụ lơ đảng nhìn cuộn mây trắng đong đưa bay đến, thò tay hí hoáy thảo vài nét vô nghĩa trong không khí, rồi khoác tay giã biệt. Sư Viên Thắng ngẩn ngơ quán sát thông điệp lạ lùng đó. Sư biết thầy vừa trao truyền cho mình một thứ công án thâm sâu, nhưng trong cơn xúc động xa thầy xa bạn, lòng dạ rối ren, tạm thnời sư chưa nghĩ ra được. Sư đành rưng rưng nước mắt, lặng lẽ quì lạy từ tạ thầy, rồi lấy hết can đảm, theo đúng tục lệ bản môn, khắc khoải lê gót dẫm lên bình hành cốt của tổ Từ Nhẫn mà ra đi.

Sư cụ chùa Trấn Quốc có lẽ thiếu duyên lành nuôi đệ tử. Sư cụ dễ dãi thâu nhận đệ tử xuất gia khá đông, nhưng những kẻ tạm có tư cách, tinh tấn tu hành lại cứ rơi rớt lưới tình hoàn tục. Người đệ tử duy nhất mà sư cụ đặt trọn niềm tin, thì bất ngờ lại yểu mệnh. Sư Viên Thắng được thầy cho xuống núi về với sư thúc tổ thật đúng lúc. Sư cụ tuổi trên bảy mươi, bệnh hoạn yếu đuối, mà bấy lâu phải vất vả với bao Phật sự đa đoan nên sức lực mỏi mòn như ngọn đèn cạn dầu. Viên Thắng chững chạc đạo đức, mà kỹ thuật tụng kinh, sử dụng chuông mõ lại siêu việt, nên sớm thu phục cảm tình Phật tử các giới. Sư cụ liền chuyển giao lần lần công việc trụ trì cho sư Viên Thắng, để dành thời giờ lo phát họa kế hoạc tái thiết ngôi chùa thêm khang trang đẹp đẽ. Ngờ đâu, công tác xây cất chưa kịp khởi công, thì sư cụ trở bệnh nặng, nên chỉ biết ủy thác tất cả mọi việc cho Viên Thắng rồi lìa trần.

Chùa Trấn Quốc là ngôi chùa cổ kính, dính liền với sự thịnh suy của đất nước. Chùa đã được xây dựng từ đời Lý Nam Đế, với danh hiệu Khai Quốc, tọa lạc tại bãi An Hoa, giáp sông Hồng Hà. Đến triều đại Hậu Lý, công nghiệp khai quốc, – dựng nước -, thuộc về chùa Cổ Pháp, nên ngôi chùa nầy được đổi tên là Trấn Quốc. Khi đất nước lâm cảnh ly loạn huynh đệ tương tàn, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, bờ sông Hồng lở khuyết làm sụp đổ chánh điện, chùa phải di tản về một giải đất nổi trong hồ Tây, tức Hồ Lăng Bạc, thuộc xã Yên Phụ, phía Bắc ngoại thành Thăng Long. Ngôi chùa tạm, mái tranh vách đất sơ sài, tọa lạc giữa vùng trời nước mông mênh, thanh nhã núp sau hàng cây anh đào, cội mai, khóm trúc… hiện hữu mờ ảo như cảnh mộng. Sư thúc tổ đã trụ trì vào thời điểm chùa suy sụp, nên bao nhiêu năm trời hành đạo, đã bền bĩ quyên góp, cân nhắc chi tiêu, tiện tặn từng đồng xu một, để tích lũy thành một số tiền to, hầu hoàn thành tâm nguyện phục hưng ngôi chùa cổ. Tiền của nầy đã gây phiền nhiễu cho sư cụ không ít. Sư cụ khổ sở lo lắng đám đệ tử thâm lạm, phí lạm của tam bảo nên không thích gần gũi ai. Sư cứ nghi ngờ đánh giá mãi nên không bao giờ tìm được một kẻ kế thừa vừa ý. Trường hợp sư Viên Thắng là một ngoại lệ đặc biệt. Có thể vì sư cụ không còn cách chọn lựa nào khác, mà cũng có thể vì Viên Thắng là một sơn tăng, quen nếp sống đạm bạc, lại là hậu bối bản môn, có căn bản tu học vững chắc, xứng đáng được tín nhiệm.

Thế là chỉ xuống núi trong một thời gian ngắn sư Viên Thắng đã nghiễm nhiên thừa hưởng trọn vẹn cơ nghiệp cả đời của sư thúc tổ. Không phụ lời ủy thác của sư thúc tổ, sau khi lo tang ma cho người, sư Viên Thắng liền nghĩ đến công cuộc trùng tu toàn diện ngôi chùa. Thoạt đầu, sư âm thầm tiến hành việc xây dựng cổng tam quan uy nghi, lộng lẫy nên danh hiệu Trấn Quốc tự màu hoàng kim, với những câu đối hàm súc ý đạo. Mái tam quan ba từng uốn cong phơn phớt, lợp ngói âm dương sơn đỏ au, trên có cặp rồng xanh biếc tranh ngọc, vừa cổ kính vừa đẹp xinh. Cổng tam quan nổi bật giữa vùng trời nước Hồ Tây tạo tiếng vang khá sâu rộng. Phật tử khắp huyện Thọ Xương đồng tán thán công đức vị sư trẻ, rồi đua nhau tận lực yểm trợ công của cho chùa. Từ đó, bao năm trời liên tiếp sư chỉ cần cù lo kiến thiết chùa. Vừa hoàn thành chánh điện khang trang, mái ngói, vách gạch, cột gỗ chạm trổ công phu, sư đã nghĩ đến việc tu bổ hậu đường, tòa thiên hương, bảo tạng, gác chuông, gác trống… Âm vang bàng bạc của chuông chùa Trấn Quốc đi sâu vào lòng người, thoát thành tiếng hát dân gian :

“Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Quốc, canh gà Thọ Xương” (3)

Để tạo thêm nét trang nhã, sư cũng sắp xếp lại khu vườn cây kiểng phía trước, tô điểm vài cụm lan, trồng hàng cây si lá xanh mướt dọc bờ hồ, thả sen mọc chen chúc, hoa trắng, hoa đỏ nở nhởn nhơ tỏa hương thoang thoảng. Chùa càng xinh đẹp thì khác hành hương càng rộn rịp. Phật tử của chùa không còn thu hẹp trong phạm vi Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch nữa, mà còn lan rộng đến nội thành. Rồi giới danh gia vọng tộc cũng lục tục hướng về qui ngưỡng. Khi Chúa Trịnh Sâm thích cảnh chùa, hàng tháng tổ chức du ngoạn hồ, sư liền cho xây cất ngôi thủy đình rộng rãi để Chúa có nơi đón gió mát trăng thanh. Để thỏa mãn nghệ thuật thưởng thức trà Tàu của Chúa, sư cũng nhờ bọn lái buôn tìm cho được loại ấm Nghi Hưng vô giá, tuyển mua loại trà Long Tĩnh thượng hảo hạng giá mắc hơn vàng, mà cung phụng. Sư cũng lo thủ sẵn loại rượu “mai quế lộ” đặc biệt để tươm tất hầu Chúa. Nhờ gần gũi với Chúa mà uy danh của sư Viên Thắng và chùa Trấn Quốc lấn áp các ngôi tự viện đồ sộ trong nội thành. Chùa sung túc, tiền cúng dường thu được tràn ngập, mà việc tái thiết chùa đã hoàn mãn, khiến sư Viên Thắng không tìm phương pháp gì tiêu xài cho hết. Sư ăn xài phong lưu, chỗ xây cất nào không vừa ý thì đập phá làm lại, nếu phải đập phá nhiều lần cũng chẳng ngại ngùng. Từ lâu, sư đã chuyển giao mọi công tác Phật sự cho đám đệ tử phụ trách, sư tiêu dao nhàn nhã tháng ngày. Sư chỉ phải bận bịu tíu tít một cách thích thú khi tiếp đãi giới cao sang quyền quí. Gần gũi họ sư cảm thấy cũng phải tự sửa sang, tô điểm hình tướng đôi chút. Sư tung tiền cho đám thương gia qua tận Trung Hoa thỉnh cho sư một xâu chuỗi cẩm thạch màu thiên thanh to tướng, mấy bộ y hậu gấm nhung trang bị khoen móc y hậu vàng chạm trổ tinh vi, mũ hiệp chưỡng gấm thêu, cùng với chiếc chăn vô giá thêu trọn bài “Tâm kinh bát nhã”… Ngoài ra, tuy mới hơn bốn mươi tuổi, sư tự chăm sóc sẵn sàng phần hậu sự : tích trữ tấm đà la ni và trầm hương dược liệu lẫn liệm đắc giá, đồng thời cũng xây dựng một bảo tháp nguy nga cho chính mình. Một hôm nhìn thấy viên kim cương đính trên mũ chúa Trịnh lóng lánh, bất giác lòng sư rúng động. Sư bỗng ao ước trên mũ hiệp chưỡng của mình cũng hiện hữu viên ngọc tương tợ. Điều nan giải là tuy sư đã vận dụng đủ mọi cách nói úp úp mờ mờ mong đệ tử tại gia cúng dường ngọc mà đợi hoài vẫn chưa tìm ra được thí chủ đáp ứng. Sư dự định nhờ bọn lái buôn mua giúp, nhưng lại lo sợ tiếng xấu đồn xa là sư mua nữ trang cho gái nên đành thao thức thèm thuồng. Sư đang buồn rười rượi thất vọng, thì bỗng vụt nhớ đến viên ngọn ma ni trấn sơn của Thanh Hư thiền viện ngày trước. Sư mừng khấp khởi thầm nhủ : “Bản sư Tịnh Chiếu đã hứa khả trao truyền viên ngọc chưởng môn cho ta kia mà !. Viên ngọc ma ni đó “chễm chệ ngự” trên mũ hiệp chưỡng thật danh chánh ngôn thuận, nó tạo nên nét quyền quí cao sang của hàng vương giả mà cũng phô trương được đạo đức ngất trời của bậc tôn sư”.

Sư Viên Thắng rộn ràng, tiền hô hậu ủng, thẳng đường quay trở về núi Nguyệt Hằng. Mười lăm năm trước, dưới chân núi chỉ lấp ló vài chiếc lều tranh xệch xạc của bọn tiều phu, không ngờ ngày nay quanh chân núi lại là một thôn xóm trù mật, với những căn nhà xinh xinh ngăn nắp xúm xích bên nương khoai, nương sắn. Điểm lạ lùng nhất là nhà nào cũng trồng trà, những vườn trà xanh um thẳng tắp trải dài lên tận sườn núi, đỉnh đồi. Tần ngần trước một ngã ba vắng vẻ, sư Viên Thắng đảo mắt tìm người hỏi thăm đường, chợt nghe tiếng trẻ con văng vẳng hát ca :

“Ta có thần châu một hạt

Lâu nay bụi mờ che khuất

Giờ đây sạch bụi sáng trưng

Soi thấy nghìn trùng non nước” (4)

Nhìn qua hàng dậu thưa, sư khám phá ra cảnh vui nhộn của đám trẻ con đang cười giỡn, ca hát với một thanh niên áo nâu, đầu trọc. Thanh niên cũng chợt nhìn thấy đoàn người xa lạ vội chấp tay kính cẩn chào. Bất ngờ, sư Viên Thắng nhận diện ngay được người quen, vội vàng lên tiếng :

– Phải chú Viên Thông đó không ?

– Ô ! không ngờ lại là sư huynh ? sư huynh hồng hào và sang trọng quá ! nên em nhìn không ra…

Mấy ngày đi đường, hồi tưởng thuở hàn vi, Viên Thắng chợt nảy sinh chút tình huynh đệ, thầm dự định sẽ đua sư đệ về thành đô mà an hưởng giàu sang, nay diện kiến cảnh sự đệ quê mùa, ăn mặc lôi thôi lếch thếch, chẳng lộ chút uy nghi đức độ của giới tu hành, nên đại sư ngao ngán đổi ý…, tuy vậy, người vẫn vui vẻ lên tiếng :

– Ta về thăm sư phụ và sư đệ đây !

– Sư huynh ơi ! Thầy đã thị tịch gần hai năm rồi ! Em có nhờ người đưa tin cho sư huynh mà !

Thật ra, thì Viên Thắng cũng được báo tin, nhưng thời gian đó Chúa Trịnh thường tổ chức du ngoạn Tây Hồ, sư cần phải chầu chực đón rước Vương gia đâu rảnh rang rời thành đô về lo tang ma thầy được. Sư dửng dưng đáp :

– Thế à ! Ta co hay biết gì đâu ! Thôi lỡ rồi thì ta đành lên núi, lạy mộ thầy sám hối vậy… Đệ hướng dẫn huynh lên đường nhé !

Viên Thông ngại ngùng nhìn phái đoàn hành hương, rồi ấp úng đáp :

– Vâng ạ ! nhưng chắc sư huynh vẫn nhớ truyền thống dè dặt tiếp đón khác của sơn môn…

Thiếu thốn kẻ hầu hạ thật khó chịu, nhưng về đến chốn nầy, Viên Thắng không thể bất chấp tục lệ xưa, đành phải sắp xếp cho đám tùy tùng chờ đợi dưới chân núi, rồi uể oải bước theo chân sư đệ.

Trên đường đi, Viên Thắng thuật cho pháp đệ sự nghiệp của mình tại Thăng Long thành, đồng thời cũng hỏi han tìm hiểu những diễn biến của sơn môn sau ngày sư giã biệt :

– Lạ nhỉ ! Chỉ mười mấy năm mà vùng núi đồi nầy đã biến thành vườn chè xanh tốt !

– Gia chủ những vườn chè đó nguyên là những gia đình nghèo lam lủ dưới chân núi ngày trước. Thời gian sau khi huynh rời núi, sư phụ ốm yếu liên miên, nên đệ thường xuống núi lo thang thuốc nhờ vậy mời tiếp xúc với họ. Nhận thấy đời sống họ kham khổ, tăm tối, chỉ biết an phận với nghề đốn củi hoặc bẫy thú rừng sống qua ngày, đệ khuyên họ phá rừng núi làm rẫy, thỉnh cầu thầy ban cấp cho họ hạt giống, rồi hướng dẫn họ phương pháp trồng chè, hái và xấy ướp chè… Thoạt tiên, mỗi gia đình trồng vài khoảnh chè nho nhỏ làm thí điểm, gặt hái được hoa lợi khả quan nên họ thi đua nhau bành trướng thêm mãi. Dân chúng vùng khác cũng lục tục kéo đến lập nghiệp, nên chẳng bao lâu vùng nầy đã biến thành xóm làng thịnh vượng… Vào những ngày mà dân làng đổ xô lo vụ mùa, đệ thường xuống núi trông nom dùm con cái họ, và nhờ vậy hôm nay mới may mắn đón gặp sư huynh…

Ai đời thiền viện chỉ độc quyền về trà, mà thằng bé vô dụng bày vẽ hết cho người ngoài thật là quá đổi khờ khạo. Bực bội người pháp đệ ngu xuẩn Viên Thắng im lặng chẳng thèm hỏi han gì nữa. Vả chăng, đường núi cheo leo, đại sư lại quá đẫy đà và bẵng một thời gian không vận động, nên chỉ đi một phần ba đoạn đường là kiệt sức. Sư thở chẳng ra hơi nên đâu còn bụng dạ nói năng đối đáp nữa. Mệt quá, sư muốn bỏ cuộc, quay xuống núi ngay, nhưng nghĩ đến viên ngọc vô giá, sư đành gắng sức lê lết. Nhờ Viên Thông hết lòng nâng dắt và cuối cùn cõng vác một đoạn đường dài, khi vầng thái dương vàng ửng trời tây thì ngôi Thanh Hư thiền viện bắt đầu xuất hiện. Viên Thắng được sư đệ đưa vào tăng phòng của sư phụ ngày trước nghỉ ngơi. Sư vừa đó vừa mệt, nằm lả người rên rỉ. Bỗng Viên Thông mang vào một khay nhỏ chỉ có vài củ khoai mì gầy guộc, rồi lên tiếng :

– Mời sư huynh sơi sắn đỡ đói !

Tưởng không thể ngóc dậy nỗi, không ngờ mấy củ khoai mì lại có giá trị như loại sâm thượng hạng, khiến sư cảm thấy khỏa khoắn trở lại. Đúng lúc đó, sư đệ lại mang vào chung trà nghi ngút khói.

– Sư huynh sơi chè nhé !

– Sư đệ cứ tự nhiên. Ta nào phải là người lạ mà phải khách sáo ! Đệ ạ ! Trời sắp tối mà huynh cũng nhọc mệt, có lẽ ngày mai mình mới ra thăm mộ sư phụ được !

– Vâng ạ !

– Nầy sư đệ ! bỗng dưng sư huynh muốn nhìn lại những kỷ vật của thầy ! Ơ! viên ngọc chưởng môn cất nơi nào vậy đệ !

– Sư phụ vẫn giữ trong hộp gỗ dưới bộ Đại Bát Nhã đó huynh !

Chờ Viên Thông bước ra ngoài, Viên Thắng bồn chồn mở hộp lấy ngọc. Viên ngọc biến mất, và bị thay thế bằng hòn sỏi nhỏ đen đen. Liên tưởng đến lời ca khoe ngọc mà đám trẻ ca hát, Viên Thắng tin chắc rằng sư đệ đã tráo ngọc, tuy vậy sư chẳng chút bối rối. Sư sớm tiên liệu trường hợp nầy, nên đã chuẩn bị kế hoạch vẹn toàn đối phó mọi bất trắc. Sư vốn bon chen chốn phồn hoa đô hội, nắm vững uy lực của đồng tiền, nên đã mang sẵn một số tiền khá to nhằm lung lạc sự đệ, mua chuộc ngọc. Ngoài ra, trong trường hợp không sử dụng được phương thức mềm mỏng, sư cũng dự phòng phong thơ gởi gấm của Chúa cho viên Tri Phủ địa phương. Do đó, nếu cần đến biện pháp mạnh, nhờ thế lực của triều đình hỗ trợ, sư vẫn vận dụng được. Điểm Viên Thắng hơn khó chịu là cảm giác bị sư đệ lường gạt, “hắn” giả dạng khù khờ quá tài tình khiến sư lầm lạc tin là kẻ thật thà chân thật. Sư vội đóng hô?lại, nhỏ nhẹ mà lạnh lùng, cất tiếng :

– Nầy sư đệ ! dường như viên ngọc nầy có điểm gì khác lạ phải không đệ ?

Viên Thông trở vào phòng, mở hộp gỗ, chỉ cho Viên Thắng thấy viên kim cương sáng chói lóng lánh màu sắc, lễ phép thưa :

– Em chẳng thấy điểm nào khác lạ cả ! Vẫn viên ngọc ngày xưa mà huynh !

Viên Thắng sửng sờ nhìn viên ngọc long lanh, gượng gạo đáp :

– Ờ ! Ờ !

Chờ cho sư đệ bước ra ngoài, Viên Thắng mới dám cầm hộp gỗ xăm xoi viên ngọc lần nữa, và đúng như sư lo sợ, viên ngọc lại biến đổi thành viên sỏi đen như trước… Viên Thắng choáng váng chết lặng người. Sư không muốn tin mắt mình, không tin viên ngọc ma ni kỳ quái lại ảnh hiện tâm sư tối đen như vậy ? Bấy lâu nay sư luôn luôn được mọi người tranh đua nhau cung thỉnh, tán tụng sư là bậc chân tu, đạo cao đức trọng. Sư cũng yên chí mình đạo đức ngất trời, dẫu đi, đứng, nằm, ngồi, hay phán dạy điều gì cũng không ra ngoại đạo, nên chẳng hề thấy có nhu cầu tu sửa tâm gì nữa. Sư bối rối ngồi bệt xuống giường, hồi tưởng lại những hành vi của mình trong mười mấy năm qua. Ngày mới về chùa Trấn Quốc, sư luôn thực hành lời dạy của chư tổ là đề cao cảnh giác không để tâm buông lung theo trần cảnh, một niệm tham sân si vừa khởi là sư đã thấy rõ chân tướng nên không bị cuốn lôi theo vọng niệm thường tình. Thấm nhuần gia phong thiền viện, sư sống khiêm cung đạm bạc, một mảnh cơm vụn dính vào chén còn không dám phí phạm, huống chi hoang phí của tín thí. Sự tận tụy chăm lo hoằng dương đạo pháp, đào tạo tăng tài, đồng thời, cũng kiên trì tiến hành công cuộc đại trùng tu ngôi cổ tự. Sư đã tha thiết tu tập đến thế, nhưng chẳng biết lý do gì, nếp sống tu hành của sư lại rẽ sang hướng khác ? Sư phân vân tìm hiểu nhưng mù mịt chẳng hiểu rõ nguồn cơn ? Làn gió nhẹ xua đuổi chùm mây trắng len vào khe cửa, nhắc nhở sư áng mây tan loãng bởi nét chữ vô nghĩa của thầy trong buổi chia tay ngày trước. Hốt nhiên, một tia sáng vụt lóe lên xóa tan trọn vẹn mối hoài nghi trĩu nặng. Sư thầm thở than : “Ôi ! Thầy dạy mình nghệ thuật buông bỏ như người viết chữ trên nước, trên mây… mà ta, lại ôm ấp, dính mắc như kẻ khắc chữ vào đá (5). Mới bước đầu thuận duyên, được chút danh vọng hư ảo thì ta bám chặt vào, để rồi tự cao, tự mãn mà lơ là quán sát tâm tánh, nên tam độc tham, sân, si… có điều kiện âm thầm bành trướng. Tham, sân, si dấy lên đó, lúc đầu ta cũng thoáng tự phát hiện được, nhưng ta lại lấp liếm viện dẫn chiêu bài “vì đạo pháp” bao che, hầu được an tâm “say men chiến thắng”, đến nỗi buông lung như người thế tục…

Càng suy tư, càng hổ thẹn, về những hành vi lố bịch ngày trước. Sư bức rức bồn chồn, thao thức suốt đêm không chợp mắt được. Gần sáng, vừa thiêu thiêu ngủ bỗng sư cảm giác như có điều gì đang biến chuyển lạ lùng tại chánh điện, nên vội choàng dậy rón rén mò ra tìm hiểu.

Sư đệ Viên Thông đang long trọng lễ Phật. Thời công phu sáng diễn ra tại Thanh Hư thiền viện là thông lệ bình thường, nhưng lần đầu tiên trên đời, Viên Thắng bỗng chứng kiến được khóa lễ tụng sống động nhiệm mầu. Viên Thông chỉ chấp tay cung kính rồi lễ xuống nhẹ nhàng vậy thôi, thế nhưng Viên Thắng lại trực nhận được sự tươi mát, an lạc tỏa rộng ra từ động tác chân thành tha thiết đó. Lạ lùng hơn nữa, là dường như cả thế giới cũng chuyển mình đổi khác. Đồi núi cỏ cây trở nên lung linh sống động, tiếp xúc cảm thông với hành giả trong từng nhịp thở. Và tượng Phật bỗng sáng rực hào quang, mỉm cười từ ái đáp ứng lòng dạ trong sáng của người hành lễ. Đọc truyện một vị tổ xưa, thuyết pháp cho đá nghe mà lòng dạ chân thành cũng khiến những viên đá cảm ứng đối đáp vang rền, Viên Thắng không cho là thật, không ngờ ngày nay, sự tương ưng “tình dữ vô tình” lại hiện hữu rõ ràng trước mắt.

Sư nín thở theo dõi từng tiếng chuông, từng tiếng mõ, từng lời tụng niệm của sư đệ. Càng lúc sư càng tiếp xúc sâu xa với trạng thái thần bí nhiệm mầu, đến nỗi nước mắt sư ràn rụa.

Chờ cho sư đệ chấm dứt phần công phu, Viên Thắng chấp tay vái sư đệ, rồi nói : Xin cảm tạ sư đệ đã trao cho huynh kinh nghiệm an lạc ngày hôm nay. Chẳng hay, đệ có bí quyết tu hành đặc biệt nào mà đạt được những thần thông cái thế như vậy ? Đệ chỉ biết sông với tâm bình thường rỗng rang không dính mắc, lấy việc gánh nước, bửa củi làm thần thông diệu dụng vậy thôi…

Trong trạng thái ray rức vì đã buông lung đánh mất công án “nét vẽ tan loãng theo mây” của sư phụ, kế đó lại bàng hoàng chứng kiến thời khóa tụng niệm nhiệm mầu, Viên Thắng cực kỳ xúc động tìm hỏi sư đệ với tất cả nỗi khẩn thiết trong lòng. Câu trả lời giản dị bất ngờ cũng xoáy quanh mấu chốt buông bỏ và dính mắc khiến Viên Thắng sửng sờ. Đúng thời điểm đó, Viên Thông lại ngâm nga :

“Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.

Báu sẵn trong mình thôn chạy kiếm !

Lặng lòng đối cảnh chẳng tham thiền…” (6)

Sư Viên Thắng mỉm cười. Bao ngày qua, sư giống như người cùng tử trong kinh Pháp Hoa, lăn lộn ganh đua tranh dành báu vật bên ngoài, mà quên mất viên kim cương trong nhà. Khám phá ra kho tàng của mình, sư tràn ngập niềm vui, cất tiếng ca hát mênh mang :

“Ta có thần châu một hạt

Lâu nay bụi mờ che khuất

Giờ đây sạch bụi sáng trưng

Soi thấy nghìn trùng non nước.”

Tháng 4 năm 1992

Ghi chú

1. Chùa Trấn Quốc khởi dựng từ triều Lý Nam Đếm tại bãi An Hoa, giáp sông Hồng Hà, với tên Khai Quốc. Chùa phải đổi danh hiệu là Trấn Quốc vào thời Hậu Lý. Năm 1615, đất chùa bị lở sụp nên phải dời về địa điểm ngày nay. Vào triều Nguyễn, Hà thành không còn là kinh đô, danh hiệu Trấn Quốc ngấm ngầm gợi đến triều đại cũ, nên lại bị dèm siểm. Vua Thiệu Trị ra lệnh đổi tên chùa là Trấn Bắc, bảng hiệu chánh thức sửa đổi, nhưng dân chúng vẫn thích gọi tên chùa là Trấn Quốc như cũ. Chùa Trấn Quốc phong cảnh thanh lịch, nên đôi khi bị các vị Vua Chúa sử dụng làm chốn ăn chơi tiêu khiển; lầu chuông, nhà thủy tạ trở thành địa điểm đờn địch xướng ca, và những vị tu sĩ đôi khi cũng phải chạy theo kẻ quyền thế bợ đỡ để sống còn… Có lẽ đó là lý do mà Bà Huyện Thanh Quan, nhân khi viếng cảnh chùa Trấn Quốc, đề thơ vịnh cảnh đã buông lời mỉa mai giới tu sĩ. Chùa Trấn Quốc

Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu

Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau

Một tòa sen tỏa mùi hương ngự

Năm thức mây phong, nếp áo chầu.

Lớp sóng phế hưng coi đã rộng

Hồi chuông kim cổ, lắng càng mau.

Người xưa cảnh cũ đâu đâu tá !

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu !

2. Tại Huế, cũng có một trường hợp tương tự xảy ra cách nay vài mươi năm trước. Vị lão hòa thượng, trụ trì chùa TT, là một tu sĩ giới hạnh nghiêm minh, khi lâm chung, lại dặn dò đệ tử tìm đến nhà gia đình nông dân nghèo ngụ cách chùa không xa, để xin mảnh quần đen của cô bé 15 tuổi về đấp mặt Ôn khi liệm, hầu giúp Ôn siêu thoát !!!…. Tác giả tin tưởng rằng câu chuyện nầy chỉ là một phương tiện mà tổ sử dụng nhằm răn dạy chư đệ tử xa lìa nữ sắc mà thôi.

3. Câu ca dao tương tợ cũng xuất hiện tại Huế, chỉ có khác tên chùa mà thôi :

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

4. Kệ của ngài Úc sơn chủ tại Đồ Lăng. Nguyên văn :

Ngã hữu thần châu nhất lõa

Cửu bị trần lao cơ tỏa

Kim triêu trần lận quang sinh

Chiếu kiến sơn hà vạn đóa.

Bài kệ đắc đạo của sơn chủ phát xuất từ câu chuyện như sau :

Một hôm sơn chủ hỏi một thầy tăng về lời dạy của tổ sư Dương Kỳ, vị tăng đó đáp : – Tổ sư tôi thường hỏi môn đệ : “Có một thầy tăng hỏi Pháp Đăng : Trăm thước đầu gậy làm sao bước tới ? Pháp Đăng chỉ đáp : Á… ”

(Trăm thước đầu gậy phát xuất từ bài kệ của Tổ Trường Sơn Cảnh Sầm:

Gậy đầu nghìn thước chẳng lung lay

đã lên đây chưa thật đây

Chót gậy nghìn tầm còn bước nữa

Mười phương thế giới thiệt thân nầy)

Người đã lên đến chót vót đầu gậy làm sao bước tới nữa, đó là một nghi vấn ám ảnh Úc sơn chủ ngày đêm.

Một hôm, sơn chủ cỡi lừa đi ngang qua cầu, lừa kẹt chân vào một cái lỗ, hất sơn chủ té nhào. Sơn chủ bất giác la lên “Á”, rồi hốt nhiên ngộ đạo, nhân đó đã làm bài kệ ghi trên.

5. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật dạy có ba hạng người :

– Hạng người như chữ khắc trên đá

– Hạng người như chữ viết trên đất

– Hạng người như chữ viết trên nước

(trích từ Nhặt Lá Bồ Đề, Hòa thượng Thanh Từ)

6. Kệ của Sơ Tổ Trúc Lâm (Vua Trần Nhân Tông), nguyên văn chữ Hán:

“Cư Trần Lạc Đạo thả tùy duyên.

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hư tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”

 Theo Dấu Chân Xưa

Hùyh Trung Chánh

Phùng Lư Châu trang trọng quì trước tượng Bồ Tát Phổ Hiền trong điện Vĩnh Minh Hoa Tạng thành tâm phát nguyện. Lễ xong chàng thong thả bước ra ngoài ngắm cảnh. Mặt trời đúng ngọ cao vút chiếu ánh nắng rạng rỡ trên đỉnh núi cao tỏa thành vòng hào quang bảy màu lung linh kỳ diệu. Hiện tượng Phật Quang vô cùng mầu nhiệm, Châu chiêm ngưỡng với niềm an lạc vô biên, chàng cảm giác như Bồ Tát đã chứng giám lòng thành của mình. Châu thanh thản bước đến “vách đá xả thân” cheo leo, chàng mĩm cười tung nắm đá vụn xuống vực thẩm. Lơ đễnh nhìn theo mớ đá long lanh rơi xuống đáy sâu hun hút, Châu bỗng mơ màng nhớ lại quãng đời qua…

Lư Châu vốn là con trai duy nhất của một gia đình khá giả tại huyện Phật Đô, thị xã Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Cha mất sớm, Châu là cháu đích tôn được nội tổ thương yêu đùm bọc. Bà nội cưng cháu thường dẫn đi lễ chùa, Châu lễ lạy thuần thục và thuộc kinh rất nhanh, nên ai cũng khen thằng bé có tâm đạo. Một hôm, bà cháu đi lễ chùa Chiêu Giác tại Thành Đô, bỗng có vị sư tu hạnh khổ đầu đà, dáng dấp khật khùng bất thần vỗ nhẹ trán thằng bé rồi lên tiếng : “Hà ! hà ! Thằng bé Phùng lư Châu nầy quả có tên tiền định ! Nè dầu ở châu nào thì cũng phải nhớ tu tập con nhé ! Con không xuất gia đầu Phật thì thiệt thòi cả đời đó !”. Nghe lời nói kỳ dị nầy, nội lo sợ nên nghiêm cấm Châu lai vãng đến cửa chùa, dù là đến chùa để học chữ nghĩa. Thời bấy giờ, việc đào luyện nhân tài được giao cho chùa, chùa biến thành chốn học đường chuyên dạy cả tam giáo : Phật, Nho và Đạo. Thế nhưng nội nhất quyết rước thầy đồ về nhà dạy Châu học, nội chủ trương chàng chỉ cần có chút ít vốn liếng chữ nghĩa để bảo quản cơ nghiệp tổ tiên, chớ đâu có mộng đỗ đạt ra làm quan mà phải chánh thức đến chùa đi học. Đang hồn nhiên vui sống, bất ngờ nội tổ bạo bệnh qua đời, chúc thư của người lại biến mất. Chú ruột của Châu, xưa nay thương yêu cháu như con đẻ, bỗngï nhiên lại ra vẻ xa vắng khác thường. Một hôm, viện cớ không đâu, chú giận dữ xua đuổi mẹ con Châu ra khỏi ngôi nhà hương hỏa, ngôi nhà mà đáng lý ra thì Châu, cháu đích tôn đương nhiên được thừa hưởng. Mẹ Châu dẫn con thơ lên huyện đường khóc lóc khẩn cầu cứu xét, nhưng viên quan, chẳng biết vì lý do mờ ám gì, lại về phe với người chú, phủ nhận tư cách thừa kế của Châu. Thua buồn, mẹ Châu dẫn con về quê ngoại tại bến Tào ngư Than, huyện Hồng Nhã, tỉnh Tứ Xuyên nương náo. Bà bán mớ tư trang còn lại, tạo được ngôi nhà khiêm tốn cùng với thửa vườn trồng lê hai mẫu. Không quen nếp sống chân lấm tay bùn đồng quê, bà giao vườn đất cho Triệu Ngũ, cháu trai con của người anh thứ hai, coi sóc để chia một phần hoa lợi, nhờ vậy cũng tạm đủ sống đắp đổi qua ngày. Tai họa nầy lại tiếp theo tai họa khác. Niềm phẩn uất khôn nguôi khiến bà mẹ lâm trọng bệnh, rồi chỉ trong vòng hai năm sau thì qua đời. Khổ đau chán nản tột cùng, Châu lẩn quẩn trong đầu ước vọng được chết, vì chỉ có chết thì họa may cái thân bèo bọt nầy mới không còn bầm dập. Thế nhưng, chàng vẫn phải gắng gượng sống, sống để báo hiếu, cư tang chăm sóc mồ mả mẹ ba năm, rồi sẽ “thả trôi đời mình ra sao thì ra”. Từ nhỏ Châu vốn không gần gũi bên ngoại, nên khi về sống địa phương nầy, chàng cảm thấy rất cô đơn, không ai thân thiết để bày tỏ nỗi niềm riêng. Châu chỉ biết tiêu sầu bằng cách thả thuyền trôi trên giòng Thanh Y lơ lửng, hay lang thang khắp các đỉnh núi Hồng Nhã, mơ mộng gởi hồn mình theo gió theo mây chập chờn trôi vào chốn không gian vô tận. Trên non cao, mở rộng tầm mắt hướng về bốn phương trời xa tít, Châu thường bị thôi thúc bởi ước mơ làm kẻ phiêu lưu lang bạt giang hồ, chớ không muốn chôn chặt cuộc đời mình ở xó quê hương hẹp té nầy. Đó là lý do khiến Châu thỉnh thoảng trèo lên đồi Thanh Mục viếng Tiên Thiên các, tham kiến chư vị đạo sĩ để thưa hỏi về pháp tu trường sanh bất tử, về cảnh Bồng Lai và thú tiêu dao sơn thủy của đạo gia. Rất tiếc, chư đạo sĩ quá bận rộn với việc cúng tế cầu đảo nên chẳng ai phí phạm thời giờ giải đáp những câu hỏi vớ vẩn của kẻ vô danh tiểu tốt như chàng.
Vừa mãn tang mẹ, để chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến viễn du, Châu đi một vòng từ giã thân nhân thì bỗng khám phá rằng mẹ và người dì thứ tư đã có lời kết ước xuôi gia ngay khi chàng và cô em Hồng Ngọc còn tấm bé. Điều cực kỳ hứng thú là “tiểu Ngọc”, năm năm về trước chỉ là con bé đen đủi tong teo như cây sậy, mà nay lại biến thành một thiếu nữ xinh đẹp mặn mà, khiến chàng vừa thoáng thấy dung nhan thì đã điên đảo tâm thần… Dì Tư ngọt ngào nói :

– Mấy năm qua, dì dượng luôn canh cánh nhớ lời nguyện ước năm xưa, muốn sớm tác hợp lương duyên cho hai con để thỏa lòng chị ba nơi suối vàng, nhưng chờ mãi đến nay mới đề cập tới vì phải chờ con mãn tang mẹ!

Niềm hạnh phúc vô biên đột ngột tràn ngập khiến Châu ràn rụa nước mắt, chàng ấp a ấp úng thật lâu mới thốt nên lời :

– Tạ ơn dì dượng thương con, nhưng khổ nỗi ngoài chiếc kiềng và đôi bông vàng mẹ để lại, con đâu dư tiền để tiến tới hôn nhân…

– Tiền bạc đã có dì dượng bù đắp, con hãy yên chí ! Vã chăng chuyện hôn lễ đâu có vội vàng gì, chuyện mà dì dượng quan tâm là tương lai sự nghiệp của con. Dượng con thường buôn bán đi lại Lạc Sơn nên nghe tin viên huyện quan Phật Đô cũ đã bị cất chức. Quan huyện mới đang truy cứu những chuyện mờ ám ngày trước, một cơ hội thuận tiện để con có thể kiện đòi lại tài sản của nội tổ con. Đây mới là chuyện cấp bách phải giải quyết ngay, con biết không?

Đang là kẻ cô đơn sống dở chết dở, tương lai đen tối mù mịt mà bỗng dưng được dì dượng đề ra phương cách phục hồi tài sản, rồi lại ưu ái hứa gả con, Châu xúc động nước mắt ràn rụa lắp bắp :

– Dạ ! dạ !…

– Ơ ! dượng con sẽ đi Phật Đô dò la manh mối ! kiện thưa thì phải chấp nhận “chi tiền”, chi bao nhiêu cũng được, miễn là được việc cho mình thì thôi !… Ơ ! chi phí hao tốn thế nào, dì dượng cũng ứng trước cho con được màø!

– Con khờ dại chẳng hiểu biết gì cả ! con xin dì dượng thương mà thu xếp mọi việc cho con !

Phó thác cả đời mình cho dì dượng thì đâu còn gì phải lo lắng nữa, Châu an tâm thụ hưởng tối đa cái hạnh phúc trên trời vừa rớt xuống. Suốt ngày, Châu chỉ có “trách vụ” duy nhất là kề cận bên tiểu Ngọc để săn sóc, nâng niu, chiều chuộng nàng mà thôi. Dì cũng dễ dãi để Châu tùy tiện đưa tiểu Ngọc dạo chơi đây đó. Hai người tự do tay nắm tay tung tăng dìu nhau trên đỉnh đồi vắng vẻ tỉ tê tâm sự, bơi thuyền đùa giỡn trên giòng Thanh Y hay tham gia hát hò trong các vụ hội hè đình đám vui nhộn. Phiên chợ Tết huyện Hồng Nhã ồn ào náo nhiệt, đôi trẻ tíu tít theo làn sóng người say sưa ngắm nhìn những gian hàng hoa trái chưng bày sặc sỡ, Châu chọn được một cành đào xinh xắn, trà và vài loại bánh mứt cho nhà vợ. Khi viếng gian hàng tơ lụa, tiểu Ngọc hớn hở ướm thử từng bộ quần áo đắt giá. Nhận thấy nàng tỏ vẻ thèm thuồng chẳng muốn rời chiếc áo gấm màu mạ non thêu những đoá phù dung màu hồng sắc sảo, vượt quá xa túi tiền của mình, Châu ngượng ngập khẽ nói : “Em ráng chờ một thời gian nữa, anh mà đòi được gia tài thì một chục bộ anh cũng thừa sức mua cho em mà !”. Tiểu Ngọc chán nản dợm rời bước, thì bỗng nhiên có tên công tử ăn mặc diêm dúa đứng cạnh đó chận nàng lại, vênh váo lên tiếng :

– Hà hà ! tên đó không tậu nỗi cho cô em áo gấm đó, thì đã có ta đây sẵn sàng lo cho cô em mà !

Thấy tên công tử giở giọng sàm sỡ, Châu giận tím gan, nhưng vì cạnh hắn còn có hai tên thuộc hạ “bặm trợn”, nên chàng đành nhịn nhục kéo tiểu Ngọc đi ra. Nào ngờ, tiểu Ngọc khờ dại tưởng kẻ lạ là người tốt bụng nên ngây thơ đối đáp :

– Xin cảm tạ lòng tốt của công tử ! Nhưng em và công tử chưa quen biết nhau thì làm sao em dám nhận quà !

– Trước lạ sau quen ! cớ sao cô em lại ngại ngùng?

– Không! em không nhận đâu !

Châu lôi Hồng Ngọc đi một quãng rồi, mà tên công tử vẫn bám theo, lải nhải tán tỉnh :

– Cô em dễ thương làm sao ! Xin cô em cho tôi biết quí danh và quê quán, nội ngày mai gia nhân của tôi sẽ mang quà đến cho cô !

– Ơ ! em họ Trần, tên Hồng Ngọc ở Tào ngư Than. Em không nhận quà của công tử đâu ! xin công tử chớ bận lòng !

Trên đường đưa người yêu về nhà, Châu cằn nhằn thái độ dễ dãi của nàng đối với hạng người vô lại, và do đó hai người đã gay gắt to tiếng với nhau. Ngọc cứ ngoan cố cho rằng tên công tử là hạng hào hoa phong nhã và trách ngược lại là Châu đã thô lỗ nổi máu ghen tuông vớ vẩn. Châu giải thích thế nào nàng cũng không chịu hiểu. Giận dỗi, Châu tự dặn lòng rằng sẽ chẳng bao giờ tìm gặp nàng nữa. Thế nhưng, chỉ ngay ngày hôm sau, cơn giận tan biến, niềm nhớ nhung đã ngùn ngụt dày dò, Châu muốn gặp người yêu tức khắc nhưng vì tự ái, chàng cố gắng cắn răng chịu đựng, hi vọng nàng sẽ nhượng bộ trước. Chờ mãi mà nàng vẫn im hơi lặng tiếng, nên đến ngày thứ ba Châu đành chịu phép qui hàng lò dò tìm đến nhà nàng. Chàng đang rụt rè trước ngõ bỗng bị dượng ngăn chận lại, lạnh lùng lên tiếng :

– Mi còn đến đây làm gì? Đi ngay ! ta chẳng muốn thấy bản mặt mi nữa !

Không ngờ chuyện cãi vã của mình khiến người lớn nổi giận, Châu cuống quít van nài :

– Con xin lỗi dượng ! Con và em Ngọc chỉ có chuyện hiểu lầm nhỏ. Con xin gặp em để giải thích ngọn ngành.

– Không có điều gì để giải thích ! không có điều gì để nói nữa! Mi đừng vác bản mặt đến nhà nầy là đủ !

Bị dượng xô đuổi trắng trợn, Châu chết điếng người tự hỏi tại sao chỉ mới mấy ngày trước dượng vồn vã thương yêu mà hôm nay lại đối xử phũ phàng tàn nhẫn như vậy? Châu không tin chuyện Hồng Ngọc giận hờn lại có thể sanh ra hậu quả kinh khủng nầy. Lòng dạ hoang mang cùng cực, Châu lủi thủi thối lui nhưng không ra về ngay. Chàng lẩn quẩn quanh đó hi vọng dì hoặc tiểu Ngọc xuất hiện thình lình cứu gỡ cho chàng cơn bối rối nầy. Bỗng nhiên, Châu nghe tiếng vó ngựa vọng lại, rồi có ba người kỵ sĩ xuất hiện dẫn đầu bởi tên công tử đáng ghét hôm trước. Không cần ai giải thích Châu hiểu ngay chính tên nầy là đầu giây mối nhợ gây ra biến cố đau thương cho chàng. Cơn ghen tức bùng nổ không kềm hãm được, Châu phóng tới thộp ngực hắn. Châu chưa kịp ra tay thì những cú đấm đá thi đua nhau nện trên thân thể của chàng, Châu ngã gục xuống, tai còn văng vẳng nghe tiếng can ngăn của dì :

– Công tử dạy cho hắn bài học như thế cũng đủ rồi. Xin tha cho hắn phen nầy đi !

– Công tử đừng nghe lời bả ! Đập rắn thì đập cho chết, nương tay hậu hoạn khó lường công tử ạ !, dượng cao giọng.

Châu đang buông xuôi bất động, bỗng nghe lời xúi ác độc của dượng, cơn hận thù trong lòng bùng nổ thúc đẩy chàng cắn răng chịu đựng, nhỏm dậy lê lết từng bước đến được nhà của người anh họ Triệu Ngũ thì mới lăn quay bất tỉnh. Cả nhà họ Triệu xúm xít săn sóc Châu. Sau khi nghe chàng thổ lộ nguồn cơn, chị Triệu nhanh nhẩu đi ngay đến nhà Ngọc mong sưu tầm thêm những tin tức nóng sốt khác. Vừa trở về, chị Triệu tuôn ra một hơi :

– Oái chà ! chú đụng với đám trọc phú họ Ngô thật là nguy hiểm ! Bọn nó thanh thế lớn, hại người như bỡn. Chú nên tránh nó thật xa mới được!

– Chị có nói chuyện được với tiểu Ngọc không? Ngọc có hiểu vì sao mà em ra nông nỗi như thế nầy không?, Châu thều thào hỏi.

– Ơ ! chị có tiếp xúc với con Ngọc, nó cho biết cô dượng tư đã nhận lời gả nó về làm dâu nhà họ Ngô rồi. Nó nhắn với chú là “kiếp nầy lỡ làng, thôi thì đành hẹn nhau kiếp lai sinh” và khuyên chú nên bỏ đi thật xa, kẻo tánh mạng khó vẹn toàn !

– Oâi ! thật không ngờ dì dượng có thể nhẫn tâm phản bội lời hứa hôn năm xưa dễ dàng như vậy?, Châu than thở.

– Em Châu à ! – Triệu Ngũ ôn tồn lên tiếng -, Chỉ riêng em thật thà tin tưởng dì dượng tư, chớ bà con cô bác ai chẳng nghi ngờ rằng họ đã bịa đặt vụ hứa hôn để ngắm nghía tài sản của nội em. Nay tình cờ họ ôm chặt được cái hũ vàng nhà họ Ngô trên tay rồi, thì họ còn dại gì mà phải bám vào em để theo đuổi cái gia tài bất trắc làm chi nữa? Họ trở mặt đá đít em là chuyện đương nhiên mà !

Đêm hôm đó, căn nhà của Châu bị bọn vô lại đốt phá tan tành, may mà Châu còn nằm dưỡng thương tại nhà Triệu Ngũ nên mới không bị hãm hại. Tình thế hung hiểm quá, Triệu Ngũ vét tiền dành dụm đưa hết cho Châu để phòng thân, rồi âm thầm chèo thuyền đưa Châu trốn khỏi Tào ngư Than trong đêm đen.

Ra đi mang theo niềm sầu đau thù hận, Châu thề sẽ khổ công tầm sư học đạo, tập luyện một môn võ công thượng thặng để có ngày trở lại tầm cừu. Trước đây, Châu thường nghe những khách giang hồ tán tụng võ thuật siêu tuyệt của các phái Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi(1). Thiếu Lâm và Võ Đang xa xôi, nên chàng quyết định tìm đường đến Nga Mi, vùng núi thiêng tọa lạc tại thị xã Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên.

Ngắm nhìn tòa Nga Mi sơn hùng vĩ, cao ngất trời xanh lòng Châu rộn rã tin chắc rằng nơi nầy đúng là chốn dung thân lý tưởng của mình. Thế nhưng khi thật sự đến nơi, thăm hỏi đủ mọi hạng người Châu chẳng thu thập được một dữ kiện nào chứng tỏ có sự hiện hữu về một môn phái võ thuật tại đây. Có người còn cho rằng huyền thoại về Nga Mi hoa quyền, Nga Mi tuyệt chiêu, Nga Mi kiếm pháp… đều toàn là những chuyện tưởng tượng. Châu thoạt viếng Chùa Báo Quốc, cửa ngõ lên núi, rồi tìm đến động Cữu Lão nay là chùa Tiên Phong – đạo tràng của đạo sĩ Triệu minh Công, nổi tiếng về thuật đi mây về gió – và chùa Phục Hổ, – ngôi chùa mà theo truyền thuyết thì vị sơ tổ võ công rất thâm hậu đã từng hàng phục loài mãnh hổ – mà dấu vết võ học của người xưa vẫn biệt tăm. Không nãn lòng Châu tiếp tục lục soát khắp nơi từø các ngôi chùa am dưới chân núi rồi lần lên đến lưng núi, viếng chùa Vạn Niên(2). Chùa Vạn Niên tựa mình trên vách đá hùng vĩ, có những cây đại thụ tàn bóng dị kỳ đong đưa mớ giây leo chằng chịt, cây lá chen chúc khoe tươi trổ đủ loại hoa rực rỡ, lại có ao nước tinh khiết trong xanh do giòng suối từ Long Môn động đổ xuống mang theo những mảnh đá nhỏ long lanh như ngọc, nên xưa kia chùa còn có tên là Bạch Thủy tự. Tương truyền Phổ Hiền Bồ Tát, trên bước đường hành đạo đã từng dừng chân chốn nầy nên ngôi chùa còn có tên là Phổ Hiền tự, và kể từ đó Nga Mi sơn được tôn kính là một thánh địa và là đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền. Điện đá nung tức chuyên điện, có lối kiến trúc rất đặc biệt : toàn điện được tạo toàn bằng đá nung, kể cả nóc điện hình cái vòm, giống như một nắp vung bằng đồng vĩ đại úp chụp xuống. Vách điện kiến trúc thành tầng bậc, ba tầng trên trang trí hàng ngàn tượng Phật, Bồ Tát, La Hán nhỏ, và đặc biệt nhất, ở giữa điện là pho tượng đồng vĩ đại tạc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát an tọa trên thớt voi sáu ngà. Đây là địa điểm được ca tụng là linh thiêng bậc nhất tại núi Nga Mi. Khách hành hương tin tưởng rằng khi thành tâm lễ Bồ Tát rồi đi nhiễu quanh tượng bảy lần thì tâm nguyện chánh đáng của hành giả sẽ được thành tựu. Châu chiêm ngưỡng tượng Bồ Tát thật lâu. Trong một phút xuất thần, Châu cảm thấy tượng Bồ Tát sống động như hiện thực đang tỏa ánh mắt từ bi an ủi chở che, chàng nức nở : “Xin Bồ Tát cứu con! Xin Bồ Tát cứu con”. Rời bảo điện, Châu bỗng thấy hai tên thuộc hạ họ Ngô lù lù ở cổng ngoài, mắt dáo dác nhận diện từng khách hành hương. Từ dạo sống lang thang bụi đời, Châu lân mẫn thương kẻ đầu đường xó chợ, nên khi gặp lão ăn xin già Phổ Đức chí thành hành hương, chịu khó leo trèo vất vả, chàng kết thân làm bạn đường để dắt dẫn đỡ đần và chia xẻ cơm nước. Gần gũi nhau đôi ngày thì Châu đã thân thiết tâm sự với lão tất cả nỗi niềm đau khổ của mình. Vì vậy, vừa thấy nguy Châu hội ý với lão để lão cà rà xin tiền cản trở chúng, hầu chàng có thể len lỏi vào đám đông lẫn tránh, rồi băng rừng mà đi, không theo lối mòn bình thường nữa. Tưởng đã thoát thân, bảy ngày sau Châu lần mò leo lên Kim Đỉnh, địa điểm cao nhất của Nga Mi sơn, thì đã thấy hai tên chó săn đó đã chờ sẵn tự bao giờ. Biết chúng phải đợiø đến đêm mới ra tay hành động, Châu ung dung khoác tay lão hành khất già đưa nhau lên Phổ Quang điện đảnh lễ Bồ Tát. Hành lễ xong, Châu vét số tiền tùy thân còn lại dúi hết cho lão, rồi thoan thoát bỏ đi. Chàng muốn có được những giây phút cô đơn, để trầm ngâm nhớ lại quãng đời qua, và cũng muốn thanh thản ngắm những cụm mây trắng bồng bềnh trong bầu trời mờ sương. Châu thầm than : “Oâi ! sao ta phải mang kiếp người khổ nhục nầy? Oâi ! sao ta chẳng là mây trắng mong manh thong dong trên đỉnh núi?”. Châu thờ thẩn hướng tầm mắt về bờ vực sâu hun hút. Vực thẩm muôn trùng nầy được gọi là Xả Thân nhai hoặc Đoạt Hồn nham, tuy mang nghĩa là vách đá đoạt hồn tán mạng, nhưng lại được giới tình si tôn xưng là vực thẩm của tình yêu. Niềm tin nầy đã phát xuất từ truyền thuyết rất xa xôi. Ngày xưa đó có chàng thư sinh tên Trang Thanh và công nương La Uyển Thu yêu nhau qua thi phú, nguyện kết nghĩa phu thê, nhưng phụ thân cô gái, một vị Tiết độ sứ quyền uy, cương quyết ngăn cản. Hai người dẫn nhau trốn đi và đã bị quân lính truy nã ráo riết. Đã quyết tâm sống chết bên nhau, nên khi lên đến Kim Đỉnh Nga Mi sơn, đôi tình nhân xiềng tay nhau khóa chặt, nguyện đời đời kiếp kiếp dù làm ma, làm quỉ, làm người, cũng là vợ chồng. Thế rồi, họ ôm nhau nhảy xuống vực sâu tự tử. Chết thành quỉ thần, hai người thường hiển linh phù trợ cho những lứa đôi thủy chung gắn bó. Vì vậy, sau nầy những kẻ yêu nhau khắn khít mặn nồng đã đưa nhau đến đây thệ nguyện và cầu xin phù hộ cho được ăn đời ở kiếp. Họ cũng long trọng mang theo xích sắt và khóa, nhưng dĩ nhiên họ không buộc tay nhau lao xuống vực sâu, mà chỉ tượng trưng xiềng chặt xích và hai khóa vào hai sợi giây giăng dọc theo các bậc thang đá lên Kim Đỉnh. Câu chuyện người xưa gợi Châu nhớ mối tình chua chát của mình, chàng nghĩ nếu mình được cùng người yêu nắm tay nhảy xuống chết chung thì hạnh phúc biết là bao. Châu đã quyết định chọn cái chết ngay từ khi đặt chân tới đỉnh; chàng nghĩ chuyện tầm cừu đã hoàn toàn vô vọng thì sống để làm gì? huống chi kẻ địch dễ gì buông tha chàng. Tuy nhiên, khi mon men đến bờ vực, chuẩn bị gieo mình xuống, thì chút hối tiếc đó bám sát tâm trí khiến chàng đứng khựng lại, đầu óc trống rỗng như sỏi đá vô tri. Châu hồi tỉnh lại khi tiếng hồng chung thanh thoát bên tai, tiếng chuông nhắc nhở chàng hạnh nguyện bao la của Phổ Hiền Bồ Tát, rồi bao nhiêu tâm ý của chàng đều tập trung vào việc tưởng niệm tượng Ngài cỡi voi, thế rồi, bao nỗi ưu tư dằng dặc : sống chết, thương yêu, thù hận trong giây phút đã lặng lẽ tan biến tất cả. Trời sụp tối, bỗng Châu nghe có tiếng bước chân rất nhẹ tới gần. “Chúng nó sắp ra tay”, ý nghĩ đó vừa lóe lên thì vai chàng đã bị hai bàn tay chụp cứng lại. Không chần chờ gì nữa, Châu vận dụng hết sức lực phóng ra hố thẩm, và vì vậy, đã vô tình lôi “tên gian ác” đi theo số phận hẩm hiu của chàng.

Châu nhắm tít mắt lại, nghe tiếng gió rít lên theo độ rơi vùn vụt của thân xác chàng. Trong giây phút chờ chết, Châu tiếp tục tưởng niệm Bồ Tát. Niệm hằng lâu mà sao thân xác vẫn còn rơi, rơi mãi… Lạ thật, đáng lẽ, thân xác chàng đã tan nát dưới đáy vực lâu rồi, có thể nào hố nầy không đáy và chàng cứ rơi mãi đến xuống tận mấy tầng địa ngục chăng? Độ rơi càng lúc càng nhanh bỗng chậm dần vì có luồn gió dõng mãnh từ dưới thốc ngược lên, thế rồi, thay vì rơi thẳng xuống thông thường, chàng bị cơn gió xoay nên rơi vòng vòng theo hình trôn ốc. Thân thể chàng dường như nhẹ hẳn ra, sức rơi chậm lại nên khi Châu dang hai cánh tay chàng có cảm giác mình như con chim bay lượn đang là đà đáp xuống. Aùnh sáng lờ mờ, tầm nhìn lại bị đám mây trắng dầy đặc che khuất, Châu không thấy gì ngoài cái bóng của “kẻ gian ác” bay cách chàng không xa. Châu tò mò nhìn kỹ mặt mũi kẻ gian như thế nào, rồi bỗng nhiên chàng xúc động reo lên : “Uả ! té ra là ông ! Trời ơi ! con đã hại ông rồi!”. Thì ra lão hành khất Phổ Đức tốt bụng thấy chàng đứng ngẩn ngơ cạnh hố thẩm nguy hiểm nên kéo chàng lại, vô tình bị chàng lôi theo. Có lẽ, ôâng lão biết chàng ái ngại nên mĩm cười trấn an, rồi phất tay như ngầm bảo chàng tiếp tục an vui cái trò chơi bay lượn, đừng bận tâm chi cả.

Lớp mây dầy đặc loãng dần, Châu không còn bay lượn được nữa mà bị rơi nhanh xuống nghe tiếng “ùm” thật lớn. Trồi đầøu lên, Châu thấy lão hành khất cũng rơi xuống hồ nước, và thoát nạn như chàng. Cả hai cất tiếng cười vang, rồi đưa nhau lội vào bờ. Phong cảnh ở đây đẹp tuyệt trần : hồ nước trong mát xinh tươi, hoa lá muôn màu rực rỡ, cây trái xum xuê, chim đủ loài sắc lông sặc sỡ, ca hót vang lừng.

Châu nhìn quanh, rồi cất tiếng :

– Oâng ơi ! Có lẽ mình đã lạc vào chốn thần tiên rồi ông à!

– Ơ ! cũng có thể coi là cảnh non bồng ! Chốn nầy gọi là Bắc Câu Lư châu(3), nhân dân cõi nầy có nhiều phước báu hơn nhân dân cõi Nam Thiệm bộ châu, nơi mà loài người sinh sống nên cảnh vật cũng thù thắng hơn !

Thấy ông lão trả lời rành rọt, Châu rối rít hỏi :

– Cõi nầy xa lắt xa lơ hở ông? sao từ thuở giờ không một ai thấy biết vậy ông ?

– Trong thế giới Ta Bà nầy, các cảnh giới nằm chập chồng trên nhau nên có thể nói là các cõi cũng không gần mà cũng chẳng xa nhau. Chỉ có điều là căn nghiệp của loài người chỉ tương ưng với không gian ba chiều của cõi Diêm phù Đề nên loài người chỉ thấy biết cõi nầy mà thôi ! Mấy ai có nhân duyên đặc biệt bị đẩy lệch sang chiều không gian khác như chuyện chúng mình?

– Thế người ở đây tánh tình có ác độc không? nếu bắt gặp ta họ có giam cầm hành hạ không?

– Nhân dân ở đây vốn chỉ thích ca vui hợp đoàn chớ không có dạ quanh co ác độc…, vã lại, họ nào có thấy nghe chúng ta mà sanh tâm nầy nọ…

– Uả ! sao lạ như vậy ông ?

– Vì nghiệp căn khác nhau nên dù cùng sống chung cũng không thấy nhau. Vật chất chốn nầy không tương ưng với con nên cũng không ngăn ngại con, do đó, con có thể đi xuyên qua thành quách mà không hề hấn gì. Nầy hãy theo ta đi một vòng cho biết sự tình.

Thế rồi, lão hành khất nắm tay Châu lướt đi như bay, xuyên qua cây cỏ, tường vách, thân thể dân bản xứ, để quan sát sinh hoạt nơi đây. Dân chúng trẻ đẹp, vóc dáng như nhau, vầy thành đoàn nam nữ chung sống, cùng bơi thuyền, tắm gội, ca hát, đùa giỡn…; nảy ý hành dâm dục thì chọn kẻ đồng tình đưa nhau dưới tàn cây “khúc cung” rậm rập vui thú, xong cuộc vui thì chia tay, không có liên hệ gia đình ràng buộc; thức ăn thức uống, y phục dư sẵn, chẳng ai phải gia công khổ cực làm lụng và mọi người cứ thế mà vui chơi suốt ngày.
– Nếp sống ở đây sung sướng thật, nhưng trong cõi nầyï mình chỉ là bóng ma, có thọ dụng được gì đâu ! Con chẳng thích làm ma chút nào hết !

Châu đang càm ràm chợt trông thấy hàng cây đơm đầy trái chín màu đỏ sẫm có vẻ ngon lành, cơn đói cồn cào bỗng dưng nổi dậy giục chàng thò tay hái mớ trái để ăn đỡ dạ, nhưng chẳng biết sao tay chàng cứ chụp trật vuột mãi. Cây trái đối với chàng có lẽ chỉ là thứ ảo ảnh nên chàng chẳng có cách nào đụng chạm được. Lão hành khất cười ngất, lên tiếng :
– Ta đã bảo vật chất ở đây không tương ưng, không ngăn ngại với ngươi thì làm sao ngươi có thể cầm giữ ăn uống chứ ! Nếu ngươi cảm thấy đói, thì chịu khó đến cây “hương thọ” đàng kia, ngửi chút hương thơm cho đỡ dạ, hương thơm nầy cũng giúp cho thân thể ngươi nhẹ nhàng, ngũ căn linh mẫn hơn…

Theo sự chỉ dẫn đó, Châu tìm đến cây “hương thọ” đón nhận mùi hương. Hương nầy chẳng những trị được “bệnh đói” mà còn giúp thân thể chàng nhẹ hửng, lâng lâng bay bổng như gió như mây. Hứng chí Châu lông bông bay lượïn ngắm cảnh khắp nơi. Rừng cây, hồ nước thanh tú nhiều không kể xiết, nhưng núi non hang động lại hiếm hoi. Châu săm soi mãi mới chọn được một động đá xinh xắn nằm trên một triền đồi đầy hoa tím thơ mộng. Chàng vội vã trở về báo cáo với lão hành khất :
– Hay quá Oâng ơi ! con tìm được một hang động rất dễ thương. Mình có nơi trú ẩn an toàn rồi ông ạ !

Lão già mĩm cười hiền hòa :
– Sống ở dây mình hiện hữu cũng như không, thân xác chẳng bị nắng mưa hành hạ, tiền của không tích lủy,… thì nơi chốn nào chẳng an toàn, con bận tâm chuyện ăn ở mà chi ? Ơ ! góp ý với con cho vui vậy thôi, chứ con muốn chọn nơi trú ẩn nào tùy thích, đừng lo nghĩ đến ta vì ta sắp từ giã chốn nầy rồi.
– Oâng đi đâu? Oâng đi đâu con theo đó, chớ ở một mình buồn chết đi…
– Ta trở về chốn cũù! Con nặng nề quá, làm sao ta có thể cưu mang chuyển đưa con sang chiều không gian của loài người cho được !
– Con nhẹ hửng mà ! con bay được mà ông !, Châu reo to.
-Thân con tạm thời nhẹ nhờ “hương thọ”, nhưng tâm con thì sao? nó có thanh thoát chăng hay vẫn trĩu nặng bởi dục vọng, bởi tham sân si, bởi thương ghét ân oán mừng lo…, huống chi, về đó thì con lại than thân trách phận… thì có ích lợi gì !

Trong cơn hiểm nguy, tâm ý Châu hướng vào việc tưởng niệm Bồ Tát Phổ Hiền, sau đó chàng lại bị cảnh giới lạ lùng nầy thu hút, nên đã quên khuấy cơn sầu tình đang cưu mang. Chừng nghe lão hành khất hỏi, bao nhiêu nỗi yêu thương thù hận đột ngột quay về đảo lộn đầu óc chàng, khiến thân chàng đang lơ lửng trên không bỗng rơi tòm xuống đất. Đi về thì chịu trăm ngàn cay đắng và mất mạng như chơi, còn ở lại sống tẻ nhạt với cảnh làm con ma cô đơn vô tích sự kéo lê cả đời thì bi đát quá. Châu bối rối nhận thấy giải pháp nào cũng tệ cả, nhưng sau những giây phút dằn co, chàng quyết định thà rằng chết cho ra chết, chớ không sống như ma vất vưởng chốn nầy. Chàng năn nỉ :
– Xin ông thương con ! tìm cách đưa con về với loài người. Sống chết đói khổ gì con cũng cam tâm cả !
– Con đường về là con đường thanh tịnh tâm, tâm thanh tịnh nhẹ nhàng thì trong một niệm có thể dạo khắp cõi Ta Bà thế giới, lúc đó muốn đến với chiều không gian nào chẳng được. Không ai có thể chuyển hóa tâm mình, mà mình phải tự cứu độ bằng cách tu tập hằng giữ tâm trong chánh niệm, nghĩa là tập quán sát từng giờ từng phút không để tạp niệm sinh khởi, thì tịnh tâm sẽ hiện bày. Nếu con thực hành tiến bộ, thì ta có thể gia bị thêm cho con đủ dũng lực để trở về.
– Sao thì con cũng đồng ý hết ! Xin ông dạy con thể thức tu tập ngay đi !

Thế là lão hành khất bắt đầu dạy Châu ngồi kiết già thực tập mười sáu pháp quán niệm hơi thở trong mười sáu ngày ông vắng mặt, ngoài ra, ông cũng cẩn thận giảng giải pháp quáùn thân bất tịnh để dự phòng cho chàng đối trị trong trường hợp cơn bệnh tình si trầm kha bộc phát. Sau khi ông lão rời bước, Châu liền ngồi dưới gốc cây hương thọ thực tập pháp quán niệm hơi thở thứ nhất : “Thở vào một hơi dài hành giả biết mình đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài hành giả biết mình đang thở ra một hơi dài”. Thể thức tu tập thoạt nghe qua rất giản dị, nhưng khi thực sự bắt đầu thì lại lắm gian nan. Châu chỉ theo dõi hơi thở chừng mười hơi, thì bao nhiêu chuyện xưa tích cũ bỗng nối tiếp nhau hiện ra, rồi bao nỗi vui buồn hờn giận theo đó mà xôn xao. Khi sực tỉnh, Châu xấu hỗ gạt bỏ vọng niệm và bắt đầu theo dõi hơi thở trở lại. Gay go nhất là những khi chàng bị hình dáng tiểu Ngọc ám ảnh, Châu điêu đứng bỏ dở công phu thiền tọa vì dẫu chàng xua đuổi thế nào bóng nàng vẫn lỳ ra đó, thì làm sao tiếp tục theo dõi hơi thở cho được. Châu sực nhớ pháp quán thân bất tịnh, chàng quán nàng như là một bọc da chứa đầy những chất dơ bẩn : đờm dãi, máu me, phân, nước tiểu…, bọc da đó mấy năm nữa thì sẽ nhăn nheo hư hoại, rồi sẽ nằm bất động, bầy nhầy, sình thúi gớm ghiếc… Phép quán bất tịnh tuy không trị dứt nỗi bệnh tình si nhưng cũng giúp chàng tạm nguôi ngoai, hầu có thể tiếp tục tu quán niệm. Tình trạng vọng tâm sinh khởi nầy cứ tái diễn mãi, nhưng cũng may là mỗi ngày mỗi thưa thớt lần. Tu tập chốn nầy được mùi hương trợ lực thân tâm thơi thới nhẹ nhàng lại không bị ngoại cảnh kể cả ấm no đói lạnh chi phối, nên Châu tu tập tinh tấn suốt ngày đêm. Nhờ vậy, khi thực hành đến thức quán niệm thứ 6 : “Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc; ta đang thở ra và cảm thấy an lạc” thì chàng đạt đến trạng thái hỷ lạc trong thiền định, từ đó những vọng niệm không còn đột ngột xuất hiện nữa. Khi chàng hoàn thành thức thứ 16 : “Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ; ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ”, Châu cảm thấy thân tâm thanh thản an vui, chuyện đời không có chi ràng buộc, về hay ở cũng vậy thôi. Đúng lúc đó, thì lão hành khất trở lại. Ông khảo sát Châu, khen chàng khá tiến bộ, đưa chàng 5 đề tài mới để quán niệm và hẹn sẽ trở lại khi chàng hoàn tất. Chàng khởi sự quán “sắc bất dị không” nửa ngày, kế đó quán “không bất dị sắc”. Những viên đá vụn ảo ảnh trước kia chàng không thể rờ mó, nay qua quán niệm Châu có thể cầm nắm cất giữ được. Bốn ngày kế chàng tiếp tục quán các đề tài thọ, tưởng, hành, thức. Vừa hoàn tất, thì lão hành khất cũng xuất hiện sẵn sàng đưa chàng rời Bắc Câu Lư châu. Oâng đặt hai bàn tay trên vai Châu, bảo chàng đứng thẳng người nhắm mắt quán “ngũ ấm giai không”. Châu lắng lòng quán niệm cho đến khi cảm giác tay ông lão đã rời vai chàng thì mới mở mắt. Thật là kỳ lạ, Châu tưởng chàng vẫn đứng yên chỗ cũ, không ngờ lại thấy mình đang cô đơn đứng trên Xả Thân nhai, tại Kim Đỉnh núi Nga Mi. Mặt trời vừa lóe ánh hồng, đồi núi vắng lặng chìm trong mù sương mờ mịt, ông lão mất dạng và cũng chưa có bóng người lui tới. Khi hồi tưởng lại những biến cố dồn dập lạ lùng vừa qua, Châu cực kỳ bối rối chẳng biết mình đang mơ hay tỉnh. Chàng dụi mắt đôi lần rồi thử véo mạnh gò má. “Ui cha !” Chàng gật gù tạm tin hiện đang tỉnh, nhưng còn chuyện lạc đến Bắc Câu Lư châu thì thực hư vẫn chưa rõ được. Có lẽ, chàng đã đứng ngẩn ngơ tại đây từ đêm qua cho đến sáng nay và đã đi vào giấc mơ kỳ diệu thấy rơi xuống hố thẩm, rồi lạc bước đến chốn thần tiên. “Thế còn chuyện xảy ra trước đó : kết bạn hành hương với lão hành khất Phổ Đức, bị kẻ địch rượt đuổi, chuyện tình với nàng tiểu Ngọc thì sao?”, Châu phân vân tự hỏi. Trừ hình bóng ông lão vẫn còn sống động trong tâm, những hình ảnh khác đối với chàng xa xôi mù mờ đứt khoảng, nên Châu cũng không thể đoan chắc đó là thực hay mộng nữa? Châu bỗng nhận thấy túi áo hơi cộïm, chàng thò tay móc ra được một vốc đá nhỏ màu trắng long lanh chiếu sáng. Trố mắt nhìn sửng những vật kỳ lạ nầy khá lâu, Vinh mới mường tượng nhớ ra là trong khi tọa thiền quán đề tài “không bất dị sắc” thành công, chàng thửù hốt một vốc đá vụn bỏ vào túi. Không lẽ đó là những viên đá trắng lóng lánh nầy? và không lẽ chuyện tu tập tại Bắc Câu Lư châu là thực ?

Châu quyết tâm tìm cho ra lão hành khất, tìm được lão thì sẽ giải tỏa được mọi nghi vấn. Châu đi lần xuống chùa Vạn Niên. Chàng ngạc nhiên thấy các điện Kim Cang, điện Thiên Vương và điện Thất Phật đã bị hỏa tai thiêu hủy; dấu vết tàn tạ đã cũ kỹ trong khi khoảng tháng trước khi Châu ghé vào chiêm bái vẫn còn nguyên vẹn. Châu tò mò dọ hỏi thì mới biết hỏa hoạn xảy ra từ bốn năm trước, tức năm Gia Tĩnh thứ 18, và vì vua Thế Tông nhà Minh tôn sùng Đạo giáo, nghiêm khắc với Phật giáo nên việc trùng tu bị đình trệ. Châu sửng sốt nhẩm tính rằng chàng đã lên Nga Mi sơn vào cuối mùa đông Gia Tĩnh nguyên niên, giờ thì đã vào thu Gia Tĩnh năm thứ 22, như vậy thời gian hơn 21 ngày tại Bắc Câu Lư châu tương đương với 21 năm 6 tháng cõi thế. “Mình già mất rồi!”, Châu thầm than. Chàng vội vã đến ao Bạch Thủy soi mặt, nhận thấy dáng dấp chàng vẫn trong lứa tuổi đôi mươi, thì ra, chàng chẳng già yếu tí nào mà còn khỏe mạnh ra. Có thể do sự tác động kỳ diệu của chất “hương thọ” nên thân thể chàng trở nên thoan thoắt nhẹ nhàng, không cảm thấy mệt nhọc, rét lạnh, đói khát… chi cả. Châu quanh lên quẩn xuống núi Nga Mi hàng mấy mươi lần, cố công dọ hỏi đủ mọi nơi mà vẫn không tìm ra tông tích lão hành khất. Bấy lâu, thân cận với lão hành khất, Châu thương kính ông như người cha già, yên chí rằng mình sẽ sống bên ông mãi mãi, nên không có nhu cầu nào gấp để hỏi han. Nay ông biệt dạng, hồi tưởng lại từng lời dạy dỗ, từng cử chỉ của ông, Châu mới hối tiếc và tự trách đã có cơ hội gần gũi bậc Thánh mà lơ là không biết tận hưởng, không tham học đạo lý cao sâu, không dò hỏi cẩn thận trú sở để tìm cầu. Châu tiếp tục lặn lội sang Trung Nga và Tiểu Nga, rồi đi khắp dãy Côn Luân dò la mà người xưa vẫn biệt dạng.

Trên đường đi ngang phố chợ huyện Cảnh Khuyển, thấy có hiệu kim hoàn, Châu tò mò mang một hạt đá thăm dò giá trị. Bất ngờ hạt đá vụn vặt đó lại chính là viên kim cương to sắc nước xanh tím trị giá đến 300 lượng vàng. Trong khoảnh khắc, từ một kẻ cùng đinh biến ngay thành một đại phú ông, Châu bối rối không nghĩ ra nỗi phương cách nào để tiêu pha cho hết sự nghiệp trên trời rớt xuống nầy. Mặc dầu, mối tình xưa hầu như đã chìm trong quên lãng, hốt nhiên, Châu bỗng nảy sanh ý định trở về thăm lại quê hương theo tư cách của kẻ “mặc áo gấm về làng”. Châu tung tiền ra thuê một đoàn tùy tùng ngựa xe sang trọng tiến về huyện Hồng Nhã. Cảnh vật đổi thay, đám thuộc hạ phải dò la khá lâu mới khám phá ra căn nhà tranh vách đất xệu xạo của Triệu Ngũ. Triệu Ngũ chưa đầy 50 tuổi mà nom lụ khụ lắm rồi. Biết anh ta không nhận dạng được mình nên chàng nhất quyết dấu nhẹm lai lịch và tự xưng là thân tộc của Phùng Lư Châu đi tìm Châu. Nghe nhắc đến tên chàng, Triệu Ngũ bù lu bù loa khóc lóc thương số phận của người em họ không biết hiện nay đang trôi giạt phương trời nào, rồi anh xúc động cà kê kể lể câu chuyện xưa, với đầy đủ tình tiết mà ngay chính chàng là người trong cuộc lại quên tuốt luốt. Rồi anh kết luận : “Trời cao có mắt ông ạ ! cô dượng tôi trăm mưu nghìn kế bắt sống cho được thằng rể giàu sang, ngờ đâu gặp thứ rể dỡm. Cha con họ Ngô phung phí tài sản, thua bài bạc gia tài đã khánh kiệt mà cố giữ bề ngoài hào hoa để dễ vay mượn. Khi con Ngọc về làm dâu chưa đầy sáu tháng, ông già chồng bạo bệnh chết, thằng con là Ngô Đại không đủ uy tín để vay đầu nầy đắp đầu kia, nên tình trạngï nợ nần “tứ giăng” bị đổ bể. Thế rồi đám chủ nợ phát hoảng, xúm nhau kiện thưa đòi của, cuối cùng trọn sản nghiệp bịïï xâu xé sạch nhẵn. Hai vợ chồng nó đành khăn gói về nhà cô dượng nương náo. Thằng rể quen thói ăn hại, khi lên cơn nghiện ngập chỉ biết đánh đập vợ khảo tiền, nên dù cho con Ngọc có tảo tần làm lụng cực nhọc mà cuộc sống ngày càng bi đát. Đám con nó cũng chẳng ra gì : trai lêu lỏng theo phường trộm cắp đang bị tập nã, gái đi bụi đời bạt mạng biệt tăm biệt tích”. Châu dúi cho ông anh tình nghĩa 30 lượng vàng, rồi theo chỉ dẫn của anh ta, tìm đường đến nhà Ngọc. Ngồi vắt vẻo trên lưng ngựa, Châu hờ hửng ngắm ngôi nhà trống trải đổ nát, nơi mà chàng đã từng có những phút giây hạnh phúc tuyệt vời lẫn lộn với nỗi đớn đau ê chề nhục nhã. Một mụ đàn bà bề xề, đần độn, bẩn thỉu, rách rưới đang tẩn mẩn ngồi xắt chuối cây cho heo ăn trước cửa. Thật khó tưởng tượng nỗi người đàn xấu xí nầy lại là nàng ! Thật khó tưởng tượng nỗi ngày xưa mình có thể sống chết vì người người đàn bà nầy ! Châu ngoắc mụ tới. Mụ hoảng hốt bật dậy đứng khoanh tay khúm núm cúi đầu như kẻ tội phạm. Châu lạnh nhạt trao cho mụ 20 lượng vàng, rồi trước sự ngạc nhiên tột độ của mọi người, chàng thúc ngựa phóng nhanh như chạy trốn. Đang cho ngựa phi nhanh, bỗng Châu ghìm cương lại tránh gã say sưa bệ rạc té chổng gọng dưới lộ. Gã quều quào vận sức để lồm cồm bò dậy nhưng cứ trợt ngã mãi, nên cất giọng tru tréo chửi bới Trời Đất cho hả giận. Vượt qua hắn mươi thước, Châu chợt dừng lại cất tiếng hỏi : “Ngươi tên họ là gì?”. Gã còn đang ngẩn ngơ, thì tên tùy tùng lanh lợi đã lôi hắn dậy nạt lớn : “Quan hỏi ngươi tên họ gì?”. Gả tỉnh rượu tức khắc, ấp úng thưa : “Dạ ! con tên là Ngô Đại ạ!”. Châu vét mớ bạc vụn vất xuống lộ, lạt lẽo nói : “Nầy! Cầm tí tiền lẻ uống rượu!”, rồi tiếp tục ra đi.

Rời Hồng Nhã, Châu cảm thấy lòng lâng lâng nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng lớn. Châu thoạt cảm thấy có niềm vui tràn ngập, một sự thỏa mãn bâng quơ kèm với chút tự hào thích thú, nhất là khi nhớ cảnh Ngô Đại bò lê lết thu lượm mớ tiền còm. Đúng theo chương trình vạch sẵn đoàn ngựa xe tiếp tục tiến về huyện Phật Đô, quê nội chàng. Khi đi ngang địa phận núi Lăng Vân tình cờ nghe có cảnh chùa cổ và tượng Phật vĩ đại trên ngọn Thê Loan, Châu tò mò ghé vào chiêm bái. Lăng Vân là ngọn núi nhỏ, xinh xắn, hoa lá xanh tươi và lúc nào cũng có mây trắng vờn quanh nên càng thêm thơ mộng. Chỉ mất một thời gian gian ngắn, Châu đã lên tới chánh điện lễ Phật, rồi bước ra Thiên Ninh các nhìn xuống triền núi chiêm bái tượng Phật Di Lạc(4) vĩ đại thoải mái ngồi, bề cao từ chân đến đỉnh núi, một công trình xây cất to tát tưởng như sức người không thể nào hoàn thành nỗi, nếu không có những vị bồ tát như Ngài Hải Thông xuất hiện. Tương truyền vào thời nhà Đường, có nhà sư pháp danh Hải Thông đến đây chọn một hang động trên đỉnh để tĩnh tu. Dưới chân núi là một con sông rộng, đúng ra là nơi tiếp giáp của ba con sông : Mân, Thanh Y và Đại Độ, ba giòng nước chảy siết đối nghịch nhau đã tạo nên những con xoáy ngầm hung bạo bất ngờ nhận chìm thuyền bè qua lại. Ngày ngày nhìn xuống núi, phải chứng kiến thường xuyên tai họa thảm khốc của đồng bào, sư cực kỳ xúc động nên phát nguyện tạc pho tượng Từ Thị Di Lạc vĩ đại nhìn ra giòng sông, ngưỡng mong Bồ Tát ban phát lòng TỪ vô lượng của người cho thuyền nhân. Thế rồi sư bỏ ra mấy mươi năm trời lặn lội khắp nơi khổ công quyên hóa. Khi đã hội đủ số tiền cần thiết, sư quay về Lăng Vân, thỉnh nguyện với viên huyện quan sở tại cho phép xây cất. Viên quan biết sư đang giữ số tiền to, máu tham ô nổi dậy đùng đùng. Hắn viện lẽ chuyện dựng tượng Phật để cứu khổ cứu nạn là huyền hoặc nên ngăn cấm và ra lệnh sư phải trao tất cả số tiền lạc quyên cho hắn. Sư thưa : “Xin Ngài hiểu cho. Tiền của quyên giáo là chỉ để tạc tượng nên dẫu có phải chết bần tăng cũng nhất quyết không làm khác được. Còn những gì là của riêng của bần tăng thì bần tăng lúc nào cũng hoan hỉ cả”. Viên quan nổi giận : “Hừ ! ngươi nói cái gì của ngươi thì ngươi hoan hỷ, vậy ngươi hãy cho ta đôi mắt của ngươi đi !”. Sư trầm tĩnh đáp : “Xin vâng ạ!”, rồi sư móc đôi mắt, máu me đổ ròng ròng dâng lên : “Xin Ngài nhận cho !”. Viên quan sợ hải không dám hoạnh họe tiền bạc nữa. Mấy tháng sau thì hắn bị cách chức đột ngột. Từ đó, sư bắt đầu ngày đêm thực hiện công trình tạc tượng cho đến khi lìa đời, các thế hệ đệä tử tiếp nối sự nghiệp của sư, cuối cùng sau 90 năm gian khổ tượng đã hoàn thành bởiø cư sĩ Vĩ Cử , Tiết độ sứ Kiếm Nam Tây Xuyên. Điều nhiệm mầu kỳ diệu là ngay từ ngày khởi công, tai nạn chết người trên giòng sông không còn xảy ra nữa. Châu lần theo những nấc thang đẽo quanh co theo vách đá dựng đứng xuống chân núi. Trong niềm cảm xúc vô biên trước hành hoạt vị pháp xả thân của người xưa, Châu chân thành lễ tượng Bồ Tát Di Lạc. Tượng vĩ đại, cao ngang đỉnh núi, chàng phải ngẩn đầu ngả người ra sau mới có thể chiêm ngưỡng trọn vẹn. Châu thành khẩn lẩm nhẩm tán : “Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng. Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn…” và chàng cảm thấy có sự giao cảm nhiệm mầu truyền đến, dường như chàng đã tiếp xúc được với Ngài. Đúng thời điểm ánh mắt Châu vừa chạm đến mặt tượng, thì hốt nhiên toàn thân chàng rúng động : chàng rùng mình rởn gai ốc, tóc tai dựng đứng, nước mắt tuôn trào… Chàng vừa nhận chân rất rõ là : thân tâm của chư Bồ Tát vô cùng vô tận bao la không ngằn mé, lòng từ bi hỷ xả của chư Bồ Tát vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn… Liên tưởng đến thân tâm mình, Châu than thầm : “Oâi ! còn thân tâm con thì nhỏ nhoi ti tiện chẳng ra gì !”. Vừa than thở Châu vừa chân thành quán sát con người thực của mình trong mấy ngày vừa qua và cảm thấy xấu hỗ tột cùng. Chàng đã từng thực tập quán niệm theo dõi tâm trong từng nhịp thở để giữ tâm trong chánh niệm, thế mà vừa nhất thời giàu sang, được người người quy lụy, thì đã biến đổi tức khắc thành kẻ ngông cuồng tự cao tự đại, tham sân si do đó mà liên miên sinh khởi. Chàng về quê ngoại không vì tình thâm nghĩa trọng, mà thực tâm chỉ muốn “tác oai tác phúc”, nên chi, chàng đã đối xử với họ Ngô bằng dạ hẹp hòi thù hận, còn với Triệu Ngũ và Ngọc thì cũng đầy vẻ khinh miệt kiêu căng… Châu thành tâm cầu xin sám hối lỗi lầm, chàng thầm nguyện : “Thân con nhỏ nhoi như con trùng, con dế, tâm con xấu xa hèn mọn như quỷ như ma, nhưng từ nay con xin học theo hạnh nguyện của chư Bồ Tát, nguyện đời đời kiếp kiếp xả bỏ thân mạng mình để cứu khổ chúng sanh. Xin chư Bồ Tát chứng giám lòng thành của con. Xin chư Bồ Tát gia bị cho con…”.

Châu quyết định hủy bỏ chuyến về thăm quê nội. Chàng giải tán toán tùy tùng, mặc áo thô, đầu trần chân đất, kiểm soát tâm theo từng nhịp thở, từng bước từng bước trở lại núi Nga Mi. Châu lặng lẽ lên Kim Đỉnh, vào điện Phật Quang đảnh lễ. Chàng phát nguyện sẽ xin xuất gia, nghiêm trì tu tập giới đức, hầu có ngày hội đủ điền kiện theo dấu chân người xưa, một mình một bóng làm kẻ ăn xin nghèo khó lưu lạc khắp nơi tùy cơ giáo hóa chúng sanh. Có lẽ Bồ Tát đã chứng giám lòng thành của chàng, nên ban cho chàng diễm phúc được chiêm ngưỡng cầu vòng Phật quang kỳ diệu. Sau khi gởi trả nắm đá kim cương về với vực thẩm Xả Thân nhai, Châu thư thái đi lần xuống chùa Vạn Niên yết kiến lão hòa thượng Ưùng Hiệp. Châu đảnh lễ hòa thượng, tường thuật đầy đủ chi tiết của đời mình, rồi thỉnh cầu xin được xuất gia đầu Phật. Hòa thượng lắng nghe câu chuyện lạ lùng của chàng cho đến khi kết thúc rồi nghiêm trọng lên tiếng : “Thí chủ quả có đại phước đức, đại nhân duyên nên được Bồ Tát ra tay cứu độ. Thí chủ ước nguyện muốn gần gũi Ngài mãi mãi chăng? Xin hãy tùy tiện đến Chuyên điện tầm cầu…”. Châu háo hức bước nhanh đến Chuyên điện. Điện vắng vẻ không một bóng người. Châu chiêm ngưỡng tượng Bồ Tát Phổ Hiền cỡi voi sáu ngà, rồi bỗng nhiên thân tâm chàng rúng động, chàng quì sụp xuống nước mắt tuôn tràn. Chàng chợt hiểu. Chàng thấy rất tỏ tường. Lão khất sĩ, vị cha già thân thương, không một giây một phút nào xa rời chàng, và ngay trong giờ phút hiện tại nầy Ngài vẫn đang hiển hiện hào quang sáng ngời trong biển tâm của chàng.

 

 

Ghi Chú :

  1. Nga Mi sơn : Nga Mi nghĩa đen là mày chim nga, là một tòa núi cao tọa lạc tại huyện Nga Mi thị xã Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Sở dĩ, tòa núi mang địa danh nầy vì hình thế núi quanh co tợ như “đầu cò mày nga, nhỏ mà dài, đẹp mà tươi” (như tần thủ nga mi, tế như trường, mỹ như diễm). Nga Mi là ngọn núi nổi tiếng đẹp nhất Trung Quốc, với núi rừng chập chùng, thác nước tuôn chảy như thảm lụa trắng ngoạn mục, suối trong róc rách, vách đá dị dạng, mây trắng vờn quanh, thông reo vi vút… Toàn núi phân làm đại Nga, nhị Nga và tam Nga; đại Nga là nơi du lãm tập trung, có nhiều danh tự cổ kính như Vạn Niên, Hoa Tạng, Báo Quốc, Phục Hổ, Tiên Phong. Kim Đỉnh Phổ Quang, tọa lạc trên đỉnh cao nhất (3099 thước), làø nơi mà vào những ngày nắng tốt, du khách có thể chiêm bái hiện tượng ánh cầu vòng Phật Quang kỳ diệu.
  2. Chùa Vạn Niên tọa lạc ở độ cao 1020 thước, nằm giữa rừng cổ thụ thâm u và vách đá rêu phong, được khởi dựng từ đời nhà Tấn với tên Bạch Thủy tự, là ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm, hùng vĩ bậc nhất tại Nga Mi sơn. Vào mùa Xuân, muôn loài hoa : sơn lựu, thược dược, mẫu đơn, Nga Mi tuyết… đua nhau nở rộ, bên cạnh lại có ao Bạch Thủy (còn có tên là Minh Nguyệt), nước trong xanh từ động Long Môn đổ xuống mang theo những hòn đá tí teo long lanh như ngọc, tăng thêm phần thanh tú mỹ lệ cho chốn tôn nghiêm. Tương truyền thì Bồ Tát Phổ Hiền, trong bước đường hoằng hóa đã từng dừng chân chốn nầy, nên chùa còn có tên là Phổ Hiền tự, và chính vì vậy mà Nga Mi sơn được tôn xưng là đạo tràng của Bồ Tát Phổ Hiền. Giữa điện đá nung (Chuyên điện) có tượng Ngài Phổ Hiền cỡi voi sáu ngà bằng đồng đúc vào thời Bắc Tống cao 7.3 thước, nặng 62 tấn, ngoài ra, trên bảy từng kệ quanh vách điện còn tôn trí khoảng ba ngàn tượng Phật, Bồ Tát nhỏ bằng đồng. Đây là một địa điểm cổ kính, uy nghi và linh thiêng nhất của Nga Mi, nên khách hành hương thường thành tâm đi nhiễu nhiều vòng để phát nguyện hay cầu xin Bồ Tát gia hộ. Ngoài điện Phổ Hiền, chùa còn có những cơ sở vĩ đại khác như bảo điện Đại Hùng, điện Tỳ Lô, điện Quán Âm, điện Di Lặc, Bát Nhã đường, lầu kinh các, lầu trống, u minh chung… Chùa bảo quản được ba pho tượng tam thế Phật và pho tượng Phật A Di Đa bằng đồng từ thời nhà Minh, ngoài ra còn có xá lợi răng, bộ bối diệp kinh (do Vua Tích Lan tặng cho vua Minh Jia Qing), bảo tháp đựng hai viên xá lợi (do phái đoàn Phật Giáo Miến Điện tặng).
  3. Bắc Câu Lư châu là một trong 4 cõi nhân gian của Thế giới Ta Bà. Theo thế giới quan Phật giáo thì Thế giới Ta Bà được phân chia thành ba cảnh giới : cõi vô sắc, cõi sắc và cõi dục. Cõi vô sắc và cõi sắc đều là thế giới của chư Thiên, riêng cõi dục lại được phân thành 20 cõi, gồm cóù có 6 cảnh trời cõi dục (lục dục thiên), 4 cõi nhân gian (1. Đông Thắng thần châu, 2.Nam Thiệm bộ châu, cũng còn gọi là Diêm Phù Đề, tức là thế giới mà loài người đang sinh sống 3.Tây Ngưu hóa châu và 4. Bắc Câu Lư châu), 1 cõi Súc sanh, 1 cõi Ngạ quỷ và8 cõi Địa Ngục.
  4. Lạc Sơn Đại Phật còn gọi là Lăng Vân đại Phật tọa lạc trên ngọn Thê Loan, núi Lăng Vân. Đại Phật dựa vào núi, nhìn ra sông, nơi nhập lưu của 3 con sông Mân, Thanh Y và Đại Độ. Tượng Phật Di Lạc, cao 71 thước, mắt dài 3.3 thước, mặt cao 14.7 thước rộng 10 thước, tai dài 7 thước, vai rộng 24 thước. Tượng Phật ngồi an nhiên tự tại, khí phách hùng vĩ là tượng đá khắc lớn nhất thế giới. Tượng do cao tăng Hải Thông khởi tạo vào thời Đường, Khai Nguyên thứ nhất (năm 713) và đã hoàn thành 90 năm sau đó bởi cư sĩ Vĩ Cử, Tiết Độ sứ Kiếm Nam, Tây Xuyên.

 Như Thế Mà Thôi

Huỳnh Trung Chánh

      Chú Năm di cư vào Nam từ thuở lên sáu tuổi, nên hình ảnh chốn chôn nhau cắt rún, xã Thư Lang, tỉnh Hà Nam hoàn toàn xa vắng trong ký ức của chú. Trái lại, miền Nam, khắp bốn vùng chiến thuật, nơi nào cũng có vết chân của chú, nơi nào cũng đậm đà giăng mắc bao kỷ niệm khó phai. Do đó, tuy thân thích bên chú không còn ai trong nước, tất cả đều nhanh chân chạy ra nước ngoài trong cơn biến động năm 1975 – chú vẫn nôn nóng đưa vợ trở về thăm lại miền Nam, sau mười tám năm trời xa cách.

Chú Năm bỡ ngỡ bước xuống sân bay, xúc động nghẹn ngào. Có cái gì khô héo, tàn tạ phủ giăng trên phi trường loang lỗ, thành phố lở lói tiêu điều. Có nỗi niềm bâng khuâng, chua xót triền miên đè nặng trên ánh mắt của thân nhân bè bạn… chuyển biến nụ cười gượng gạo của họ thành những cái mếu máo ngỡ ngàng. Hình ảnh Saigon thơ mộng năm xưa mà tháng ngày xa xứ chú vẫn mường tượng, vẽ vời bỗng tả tơi tan biến. Niềm háo hức được nhìn, được thấy quê hương chợt chùn nhụt rã rời. Chú vồn vã hội nhập với phái đoàn đón rước của gia đình bên vợ, nói nói, cười cười không ngừng, mà nỗi niềm khắc khoải thương đau vẫn mang mang vương vấn. Ôi! Saigon giờ đây chẳng còn gì để nhớ! họa chăng chỉ còn tình người, tình đồng bào, tình gia đình tha thiết đậm đà. Chú Năm đón nhận tình họ hàng đó, qua hình ảnh của thím đang rộn ràng chào đón từng người, mừng mừng tủi tủi, nước mắt lưng tròng. Vợ chồng chú được đưa về ngôi nhà người anh vợ tại xóm Cây Quéo, Gia Định. Tại đây, bao nhiêu món ngon quí giá, bao trái cây hấp dẫn đã chuẩn bị sẵn sàng cho khách phương xa, nhưng thím Năm lại thèm những thứ tầm thường như trái cóc, chùm ruột, mắm sặc, mắm còng…, những thứ không ai ngờ tới. Vả chăng, chú thím đâu còn bụng dạ nào để an nhiên thưởng thức, khi phải liên tục trong mấy ngày, bận rộn tiếp đón thân hữu gần xa, viếng thăm nườm nượp. Mỗi người là một bầu tâm sự, mỗi tâm sự là một chuỗi đắng cay não nề. Chú thím xốn xang nhận thấy mớ tiền bạc mang về, phân manh mún ra thành những món quà nhỏ nhoi chẳng thấm tháp gì đối với nhu cầu của họ. Chú thím chỉ biết nhẫn nại lắng nghe kể lể. Lắng nghe với tất cả lòng thành, với tất cả lòng thương yêu san sẻ… để hi vọng nỗi khổ đau trĩu nặng của người đối thoại được vơi chút nào chăng?

Chú thím đã chọn lối phục sức tầm thường giản dị để dễ hòa hợp với mọi người, nhưng vẫn cảm thấy mình kỳ cục chẳng giống ai. Điểm khác đó có lẽ đã phát xuất từ môi trường sống, nên thân nhân bên nhà ai cũng có nét chịu đựng pha lẫn vẻ ngơ ngác, khô cằn. Ngay như anh Hai, gia đình có con ở nước ngoài chu cấp, không phải bương chải ngày đêm tìm sống, mà con người bặt thiệp, hiếu động trước kia đã trở nên lẩm cẩm, rụt rè, sợ sệt bâng quơ. Lắng nghe và quán sát tùng người để thấy tình thương tràn ngập, chú thím lại bồi hồi tự trách mình, đã ung dung sống trong lãng quên nơi xứ người, mà làm ngơ, bưng tai, bịt mắt trước những niềm đau tại quê nhà…

Bốn ngày sau, anh Hai thuê được chiếc xe “lô” đưa vợ chồng cô em về Bình Điền viếng thăm mộ song thân. Xe đi trên quốc lộ số 4 giữa những cánh ruộng đồng rồi tẽ vào con đường làng lồi lõm đưa về chốn cũ. Chú thím say mê ngắm nhìn lại hình ảnh quen thuộc ngày xưa, với tất cả lòng thương nhớ ấp ủ bao năm xứ người. Những mái nhà lá tiều tụy, đồng lúa hàng hàng lớp lớp, rặng dừa lêu nghêu, buồng chuối mập ú, ao bông sún lơ thơ,… cho đến bụi mắc cỡ, vầng chầu, cỏ may, cỏ cú hoang dại, tất cả đều hiển hiện thành những bài thơ mộc mạc, giản dị mà đậm đà tình nước. Thím Năm lặng lẽ nhìn vào khu vườn cây ăn trái và ngôi nhà ngói của cha mẹ ngày xưa, nay do người ngoài chiếm giữ. Thím thầm nhủ: “Ai chiếm cũng được, không bỏ hoang là quí rồi.” Thím không mảy may phiền giận, tiếc rẻ, nếu tiếc chẳng qua chỉ ước mơ được đứng tựa vào gốc mận, vú sữa…, những cây mà thuở ấu thời thím leo trèo hà rầm trên đó. Phần mộ gia đình tuy phải thu hẹp nhưng may mắn không bị xâm phạm. Thím Năm quét dọn, dẩy cỏ, rồi đốt nhang, đảnh lễ từng ngôi mộ ông bà, cha mẹ. Thím vẹt giây nhãn lồng mọc lang qua nền xi măng, chợt khám phá một trái con con vừa “hườm,” vội ngắt bỏ vào miệng. Vị cũng chua chua ngọt ngọt, nhưng cái hương vị tuyệt vời mà thuở lên năm thím nếm, để rồi mường tượng nhớ nhung cả đời không còn nữa. Tất cả đều tan biến, đều qua đi, thì làm sao thím có thể tìm lại được vòng tay ấp ủ tình thương của mẹ ngày trước. Thím trầm ngâm thật lâu bên mộ mẹ, nghẹn ngào tủi phận mình bất hiếu không ở cạnh bà trong phút lâm chung. Mẹ ra đi trơ trọi bên cạnh con trai và dâu, dẫu bà rất hả dạ về hoàn cảnh đó nên đã yên tâm nhắm mắt nhẹ nhàng sau khi đón nhận tin đám cháu nội cưng đã an toàn trên đường vượt biên hiểm nghèo.

Xa trở về Gia Định. Chú thím Năm yêu cầu được “thả” tại chợ Bà Chiểu, để hai người có thể tự do tung tăng trên đoạn đường phố quen thuộc. Thím rẽ về ngõ hẻm xéo rạp Cao đồng hưng tìm lại tổ ấm hai vợ chồng ngày trước, hi vọng nhìn lại cây mận hồng đào mà thím đã đích thân lấy giống từ ngã ba Trung Lương về trồng. Đầu hẻm là quán cà phê “ôm” mới mọc, cạnh đó là xửng lẩu đồ lòng, gánh chè, rổ chuối nấu… Con bé chuối nấu gầy gò, đói rách quá gợi thím hình ảnh trơ xương của trẻ con Ethiopia và Somalia thường chiếu trên màn ảnh truyền hình, khiếm thím sửng sờ đau nhói cả tim. Thím nhét vội cho em mớ tiền rồi níu tay chồng quày quã trở ra. Thím không còn nhu cầu nhìn lại tổ ấm, và cây mận nữa. Những mất mát của thím, dầu là thứ kỷ niệm vô giá, đều nhỏ nhoi vô nghĩa so sánh với những mất mát của người khác, những mất mát của “tuổi nhãn lồng” hồn nhiên thơ dại.

Lửng thửng trở về hướng Lãng Ông, không hội ý mà hai vợ chồng đồng rảo bước về tiệm cơm ngang Tòa Hành Chánh, nơi một thời là điểm hò hẹn của cặp tình nhân. Vào quán, trong khi chờ đợi món ăn, thím nhận thấy mươi người ăn xin lố nhố bên ngoài, phần lớn là trẻ em đang hau háu nhìn thực khách ăn xong, để nhào vô sớt miếng ăn thừa, trước sự đuổi xô hung hăng của những người bán quán. Cảnh tượng đó khiến lòng thím nao nao, nhớ lại quãng đời bất hạnh của mình thuở trước. Năm xưa đó, thân phụ thím tham gia vụ trí thức Caravelle rồi lâm cảnh tù tội, nhà cửa bị tịch thâu. Mẹ con bơ vơ về nương náu tại một chái lá, che bên vỉa hè nhà người bà con xa tại một hẻm lầy lội sát chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng, Saigon. Mẹ suốt ngày bận bịu thăm nuôi và dò la chạy chọt tìm phương giải cứu chồng, bỏ mặc con bé Mít lang thang nô đùa với đám trẻ con bụi đời ở đầu đường xó chợ. Trong đám trẻ đó, Mít thân thiết với “thằng Bắc kỳ,” thằng bé danh lợi, nói giọng Bắc, sáng dẫn bà già mù đi lòng vòng ăn xin tại chợ, tối ngủ lây lất trên các sạp. Xế chiều, chợ tan dần, thằng Bắc kỳ rảnh rang tìm đám con gái trong xóm rủ rê chơi các trò nhảy giây, đánh đũa, cò cò…

Điều lạ, là hắn rất giỏi các trò chơi con gái. Nhảy cò cò thì hắn ác ôn cất nhà liên tiếp cho thiên hạ phải phóng xa trối chết. Mít không nhảy nổi, phụng phịu thì hắn xẻ cho một “cái chái,” rồi dỗ dành: “Ờ hay! sao lại hờn mát rồi! tớ cất nhà thì cũng dành cho đằng ấy ở chung kia mà!.” Chỉ một thời gian ngắn, thân phụ thím được phóng thích, tài sản phục hồi, và do đó hoàn cảnh cơ cực của gia đình thím sớm chấm dứt. Dù vậy, kỷ niệm tháng ngày bụi đời đó không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm thím. Thím luôn luôn giữ tình thương đặc biệt, lân mẫn với những kẻ khốn cùng, và sau nầy, gặp gỡ chú, “cảm” chú như bị tiếng sét ái tình, có lẽ vì chú đã có đôi mắt láu lĩnh của thằng bé Bắc kỳ năm xưa. Mê miết thả hồn về dĩ vãng, thím mới ăn được một góc nhỏ dĩa cơm tấm bì, thì chú đã vét sạch sành sanh phần chú rồi. Một thằng bé ăn xin chờn vờn chờ chú buông đũa thì a vào chuẩn bị sớt cơm thừa, khiến người bồi bàn hét vang:

– Để yên cho khách ăn uống mầy! Láng cháng tao đá cho dập mật bi giờ!

Miếng cơm đang nuốt bỗng nghẹn ngang, thím lên tiếng can thiệp:

– Tôi ăn xong rồi!

Ngoắc thằng bé vào, đưa dĩa cơm của mình cho nó, thím dịu dàng tiếp lời:

– Ngồi đây ăn dĩa cơm nầy đi cháu!

Thằng bé thoạt ngần ngại, lấm lét ngước mặt nhìn thím Năm dò xem phản ứng thế nào, rồi mới rụt rè nhích tới, vồ lấy dĩa cơm lùa nuốt ngấu nghiến ngon lành. Đang ăn ngon trớn bỗng thằng bé ngưng ngang, rồi cẩn thận sớt phần cơm còn lại vào một túi ny lông bẩn thỉu đã có chút đỉnh cơm thừa cá cặn xà bần trong đó.

Thím Năm sốt ruột ngăn cản:

– Nè cháu! cứ từ từ mà ăn! dì chờ cháu ăn xong mới đi, không ai đuổi xô cháu đâu!

Dạ! con ăn xong rồi! phần nầy con đem về cho em của con!

Cảm thấy đôi mắt cay cay, thím mang vội cặp kiếng mát che đậy, nhét cho thằng bé mớ tiền, căn dặn nho nhỏ:

– Con mang tiền nầy về cho má mua gạo!

      Thím Năm thờ thẩn ra về, nhưng vừa ra khỏi cửa liền bị vây quanh bởi hơn mười người ăn mày xòe tay van xin rên rỉ. Chẳng chút đắn đo, thím Năm ưu ái mở ví trao tặng tiền cho những kẻ khốn cùng thật rộng rãi. Điểm bất ngờ là số lượng người ăn xin cứ tăng lên mãi. Kẻ may mắn thông báo người đồng cảnh ngộ tìm đến, và có người nhận tiền rồi lại bôi mặt quanh lại mong kiếm chác đợt hai. Do đó, dù đã chuẩn bị mang theo số tiền khá to, cuối cùng thím Năm cũng nhẵn túi.

– Tôi hết tiền mang theo rồi! hẹn dịp khác nghen! thím Năm lúng túng giải thích và cũng chìa cái bốp trống không ra để minh chứng.

Thế nhưng coi bộ không ai tin tưởng thím, người ta vẫn tiếp tục xòe tay van nài than thỉ, khiến thím bối rối chẳng biết xoay trở cách nào. Đến khi biết chắc chẳng còn chút hi vọng gì, tiếng rên rỉ van xin bỗng biến thành tiếng xỉa xói chửi thề. Có kẻ còn hung hăng níu cả tay thím Năm dục dặc đòi tiền, kẻ quơ tay múa chân làm dữ, khiến thím hốt hoảng mặt mũi xanh xao, cơ hồ sắp ngã xỉu.

Chú Năm chứng kiến cảnh vợ bị xô đẩy dằn kéo không chịu đựng lâu hơn nữa. Máu “du côn” của chú nổi dậy, chú hét lên một tiếng, vẹt đám người ăn xin qua bên, lôi vợ đi một bước.

Lên xe về tới xóm Cây Quéo rồi mà mặt mày thím vẫn ủ rủ khiến chú Năm xốn xang, cất tiếng vỗ về.

– Em à! bỏ qua chuyện hồi nãy đi em! buồn giận những kẻ bất hạnh đó làm chi cho nhọc xác vậy em!

– Không! em chẳng buồn phiền hờn giận họ đâu! Những người khốn khổ đó trọn đời đã phải hứng chịu bao nỗi bất công, bị khinh khi, chửi mắng…; họ thường bị lường gạt, nghe hứa “cụi” hoài nên mất niềm tin… vậy nếu họ thô lỗ cũng đáng thương hơn đáng trách. Em buồn vì khả năng mình hạn hẹp không giúp đỡ họ nhiều hơn mà thôi!

– Khó thật là khó! nhưng em nghĩ còn điểm khác khó hơn là phương thức bố thí phải làm sao cho người nhận cảm thấy được niềm an ủi và tình thương chân thật ngập tràn. Chớ xem ra dường như em đã không an ủi gì họ! họ túng cùng thì phải nhận tiền, nhưng lòng họ chắc khổ đau khó chịu vô cùng, họ vừa cảm thấy tự ái thương tổn, vừa tủi thân, ganh tị… với kẻ may mắn hơn họ, và như vậy thì kết quả hành động của em rất đáng nghi ngờ!

– Chính vì vậy nên Phật giáo mình chủ trương tứ nhiếp pháp. Bố thí phải được thi hành kèm với ái ngữ, lợi hành và đồng sự thì tình thương mới đủ chất liệu ngọt ngào, xoa dịu được niềm đau của kẻ khác! Ngày xưa, quốc sư Đại Đăng (1), đang được vua và toàn dân sủng ái cung kính cúng dường, mà bỗng bỏ đi làm kẻ ăn mày sống lam lủ dưới gầm cầu, thực sự chung đụng với giới ăn mày để cảm hóa họ, sự bố thí của người mới thật là toàn vẹn…

– Ôi! chỉ có bậc bồ tát hành hạnh từ bi mới có đủ dõng mãnh để làm việc phi thường, chớ tuy tu sĩ nào cũng tự coi mình là khất sĩ, nhưng khất sĩ theo kiểu nhận cúng dường thì dễ, chớ dám đi ăn xin để gánh chịu sự khổ nhục, khinh khi rẻ rúng của người đời thì mấy ai làm nỗi!

– Ở nước mình cũng có những tu sĩ hành hạnh nguyện đó. Gần nhất, vào thời chúa Nguyễn, có “ông ba bị” (2), là vị khất sĩ vô danh đi ăn xin thực sự, người luôn luôn mang ba bị: một bị đựng đồ chay để Ngài dùng, một bị đựng đồ mặn để chia cho bè bạn ăn xin khác và một bị lớn để treo trên mái đình mà ngồi ngủ; do đó Ngài còn được người đời tôn xưng là Trung Đình hòa thượng. Ngài sống lang thang lây lất đầu đường xó chợ, đầu bù tóc rối, quần áo không có phải đóng khố che thân, nhơ nhớp hôi hám, đến nỗi người đời ghê tởm mượn bí danh “ông ba bị” để dọa nạt trẻ con… Còn xưa hơn nữa, vào cuối đời nhà Trần có vị tu sĩ khác, cũng hòa mình chung sống với những kẻ ăn mày để tu dưỡng thân tâm và cũng để cảm hóa họ nữa…

Từ gác chuông, chùa Vân Yên, núi Yên Tử, sư Trí Lâm bâng khuâng nhìn xuống cánh đồng mênh mông trải dài tận chân trời rồi ngâm nga hai câu thơ của thi hào Tô Đông Pha:

“Ca sa vị trước hiềm đa sự

Trước dĩ ca sa, sự cánh đa!” (3)

Sư tấm tắc cảm phục người xưa, tuy không xuất gia mà có thể thấu rõ những bí ẩn nghịch thường tại tự viện, điều mà chỉ riêng giới tu sĩ mới thấm thía khám phá. Sư thở dài tự hỏi lòng mình, không hiểu mình còn gượng gạo bám víu vô vọng vào nếp sống đa sự nầy mãi đến bao giờ?

Sư lăn lóc bon chen chốn quan trường đã chán ngắt cảnh xâu xé tranh dành mùi danh lợi tanh hôi, những tưởng nương cửa Phật cho tâm hồn thanh tịnh, ngờ đâu khi chánh thức xuất gia sư lại khám phá rằng nơi nầy cũng đa sự chẳng kém chốn trần tục là bao. Sư tục danh Phạm Ngũ Thư, người làng Phù Ủng, Hải Dương là cháu ba đời của tướng Phạm Ngũ Lão, bậc đại công thần tài kiêm văn võ tiền triều. Thân phụ Thư mất sớm, nhưng người đã gởi gấm con côi cho bạn đồng liêu là Thái Bảo Trần Nguyên Hảng nâng đỡ. Nhờ vậy, mới vừa tròn hai mươi tuổi, đỗ kỳ thi hội, Thư đã được thụ bổ làm Lĩnh úy (4), huyện Mỹ Đức, Hà Đông, rồi chỉ trong vòng ba năm, đã được thăng chức chánh An phủ sứ (5), trấn Thiên Hưng. Vị phụ tá của Thư, Ngô Văn Liễu, tuổi hơn tứ tuần, cả đời lận đận học hành thi cử, tận tụy theo đuổi công danh mà chỉ mới được thăng chức phó An phủ sứ, thường bày tỏ lòng khâm phục thanh thế của Thư và thiết tha mong Thư nâng đỡ, giới thiệu mình gần gũi chư đại quan tại chốn kinh sư, hầu dễ thăng quan tiến chức.

Thời bấy giờ, vua Trần Nghệ Tông mù quáng tin yêu Hồ Quí Ly, nghe lời dèm siễm của y mà giết hại và xa lánh trung thần. Do đó. Hồ Quí Ly ngày càng lộng quyền, công khai gài kẻ thân cận giữ các chức vụ có quyền lực để mưu sự thoán đoạt mà chẳng úy kỵ gì cả. Bản chất cương trực và trung thành, dĩ nhiên, Thư oán ghét hành vi của Hồ Quí Ly và hằng nôn nóng mong các bậc trung thần tại kinh đô ra tay trừ khử kẻ gian manh. Thư thường mang tâm sự mình giải bày cho viên phụ tá, và được người nầy nhiệt liệt tán dương coi như kẻ đồng tâm đồng chí. Trái với niềm ước mơ của Thư, Thái Bảo Trần Nguyên Hảng, Thượng tướng quân Trần Khát Chân, mới vừa liên kết được một số trung thần âm mưu khôi phục uy quyền vua Trần thì công việc bị bại lộ. Hồ Quí Ly liền ra tay tàn sát nhóm trung thần, kể cả đàn bà, trẻ con…, số người bị giết lên đến 370 mạng người. Vừa khổ đau đón nhận tin dữ. Thư đã điên đầu với tình trạng nội bộ bất thường. Viên phụ tá Ngô Văn Liễu, xưa nay vốn tùng phục, nịnh bợ Thư… bỗng trở chứng ngang ngạnh lấn áp kẻ chỉ huy.

      Hắn hiu hiu đắc chí bật mí là đã móc nối được phe cánh họ Hồ, và bóng gió dọa nạt sẽ thẳng tay trừng trị những kẻ dại khờ không biết xoay sở theo thời thế. Thư hiểu địa vị mình đã lung lay, ngay mạng sống cũng khó bảo toàn, vì chắc chắn tên thuộc hạ phản trắc đã báo cáo cho đám Hồ Quí Ly thái độ bất mãn của chàng. Sau mấy ngày ăn ngủ không yên, Thư quyết định viện cớ bịnh tim di truyền, để xin từ quan dưỡng bịnh. Thỉnh nguyện của Thư được nhanh chóng chuẩn chấp, và không ngoài sự tiên liệu của chàng, tên Ngô Văn Liễu được thăng chức chánh An phủ sứ. Thư rời quan trường âm thầm không kèn không trống, bên mình chỉ có tên gia nhân trung thành lủi thủi quảy túi đồ quí giá theo sau. Trĩu nặng lòng tận trung với Vua, Thư đắn đo suy nghĩ những phương kế nhằm phục hưng cơ nghiệp nhà Trần, mà mãi chưa tìm được đáp số thỏa đáng. Bước đầu là phải tổ chức và kết hợp, nhưng mấy ai là kẻ có lòng?

Thư ngổn ngang suy tính, rồi vô tình lần về huyện Mỹ Đức, Hà Đông, địa phương chàng trấn nhậm đầu tiên, từng thi ân bổ đức cho bao người, để dọ xét dân tình. Từ bến Vân Đình, Thư xuôi đò về bến Đục, đoạn đổi đò ở bến Suối để viếng thăm chùa Long Vân, ngôi chùa xinh xắn cạnh giòng suối, nổi tiếng với động thạch nhủ óng ánh màu sắc tuyệt vời. Thuở ấy, Thư yểm trợ việc trùng tu ngôi chùa đắc lực, được hòa thượng Hoằng Khai thương quí đặc biệt. Sư thường cầm giữ chàng ở lại để thọ trai, uống trà đàm đạo tương đắc. Lòng dạ đang rối ren, Thư định thỉnh ý thầy về giải pháp cứu nước, vừa mong được gần gũi vị thầy đạo cao đức trọng để an hưởng lần nữa giờ phút thanh thản như ngày xưa ấy… Người thị giả vẫn nhớ mặt vị huyện quan ngày trước, reo vang chào đón rồi hấp tấp chạy biến vào phòng hòa thượng để thông báo. Bỗng y trở ra, khép kín cửa liêu phòng, rồi bẻn lẻn lên tiếng:

– Xin lỗi thượng quan! hòa thượng con đang bận tiếp chuyện với khách quí! Xin thượng quan hoan hỉ chờ một lúc!

Dĩ nhiên là Thư rất hoan hỉ, nhưng sự hoan hỉ của chàng đã tan biến hết cả rồi mà vẫn chẳng thấy hòa thượng mở cửa tiếp đón. Thư hối thúc chú tiểu mấy lần thì chú lại trốn biệt. Thư tức tối điên người, thắc mắc chẳng biết khách quí là nhân vật tối quan trọng như thế nào, nên bực bội mà gắng gượng nhẫn nại chờ xem khách lạ là ai. Chờ đợi cả giờ, bụng dạ đói meo, Thư mới thấy cửa liêu phòng rộng mở. Bất ngờ kẻ bước ra lại là tên lý trưởng làng Yến Vỹ, viên xã quan nầy vốn là tên lính hầu cận của chàng ngày xưa, hắn cúc cung phục vụ nên được chàng thương yêu nâng đỡ cho làm lý trưởng. Thư vẫn yên chí hắn là “tên đệ tử suốt đời trung thành” sẵn sàng sống chết với mình, nên dự tính sẽ liên lạc với hắn… Tình cờ gặp nhau tại chùa, Thư vừa chớm mừng rỡ, chợt sượng sùng ngay khi thấy người thuộc hạ xưa lại vênh váo ngoảnh mặt làm ngơ như người xa lạ. Thư thất vọng não nề trước sự thật quá ư phũ phàng đó! chàng buồn cho tình đời đen bạc vừa khám phá rằng việc dấn thân đi kết nạp kẻ đồng chí hướng chỉ việc không tưởng xa rời. Giờ đây, quê nội chàng tại Hải Dương, cũng như bất cứ quê quán nào của các bậc công thần xưa, có lẽ đều bị bọn tai sai họ Hồ kềm kẹp. Chúng cũng theo dõi chàng từng bước, dò dẫm, dọa nạt những kẻ quen biết xưa để không ai chứa chấp chàng. Ôi! tìm đâu ra chốn dung thân bây giờ? Suy cùng nghĩ cạn, Thư dặn dò người gia nhân mang tín vật, tài sản của chàng về Hải Dương cho mẹ, biên thơ vắn tắt cho bà biết mình sẽ ẩn tu lánh nạn và khuyên bà cũng nên về quê ngoại sinh sống qua ngày.

Thế rồi, Thư giả trang thành kẻ thư sinh tầm thường, len lỏi về huyện Yên Hưng, Quảng Yên leo lên đỉnh núi Yên Tử, tìm đến chùa Vân Yên, yết kiến Vô Trước quốc sư thuật rõ chuyện mình và thỉnh cầu xuất gia đầu Phật. Thư biết rõ sư cụ là đệ tử đời thứ sáu của phái Trúc Lâm (6), một phái thiền liên hệ với tiền triều, nên chẳng hề dấu diếm tâm tư hoài bảo của mình. Thế nhưng, tuy sư cụ tiếp đãi Thư ân cần, hứa cho chàng nương náu, mà lại rất do dự về ý định xuất gia của chàng. Thư năn nỉ vặn hỏi mãi mới được giải thích:

– Con ạ! truyền thống Yên Tử chỉ nhận kẻ xuất gia vì lý tưởng, tu hành giải thoát để cứu độ chúng sanh, chớ không nhận kẻ xuất gia vì “chán ngàn tình đời.” Kẻ chán đời vào chùa sẽ khám phá rằng nếp sống của chùa chẳng gì hấp dẫn, để rồi họ sẽ tiếc rẻ mơ tưởng lộn về đời sống thế tục mà thôi. Ngoài ra, kẻ đã từng đỗ đạt, từng có địa vị cao…, tuy có lợi điểm là học hỏi kinh luận nhanh chóng, mà chướng ngại cũng vô cùng. Họ quen được trọng vọng đề cao nên ngã chấp to, đức nhẫn nhục kém. Họ lại khư khư ôm ấp bám chặt vào ngôn ngữ, văn tự, thành kiến hay dựa lề lối suy tư khuôn mẫu cứng ngắt thì khó mà đón nhận được suối nguồn sống động của đạo pháp…

Lãnh hội thâm ý sư cụ, Thư suy tư nhiều ngày nhưng cuối cùng cương quyết giữ vững ý hướng xuất gia. Lần nầy, chàng phát nguyện dấn thân cho lý tưởng đạo pháp và đồng thời cũng nguyện xin được “huấn nhục,” chấp nhận chịu đựng những thử thách nhằm phá vỡ chấp kiến thủ kiên cố của hạng trí thức khoa bảng…

Thỉnh nguyện của chàng, lần nầy mới được thầy vui vẻ chấp nhận. Thế rồi, buổi lễ thí phát giản dị mà trang nghiêm được sớm tổ chức. Thư quì xuống lắng nghe thầy ban đạo từ, truyền giới, rồi thầy cũng đích thân cạo mái tóc trần tục của chàng, và ban cho chàng pháp danh Trí Lâm. Trong giây phút đó, Thư cảm giác như mình đã trút bỏ được bộ áo quan lại phiền toái, dứt khoát với danh lợi, thương yêu, thù hận… của thế tục, để biến thành con người mới, trong trắng, tinh nguyên,… dõng mãnh tiến bước trên con đường tầm đạo giải thoát. Niềm hoan hỉ tràn ngập, tâm bồ đề cao ngất, người tu sĩ sơ cơ thành khẩn phát bổn lời đại nguyện:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành…

Lễ xuất gia vừa chấm dứt thì niềm xúc cảm lâng lâng của người tu sĩ tập sự cũng hao mòn nhanh chóng khi phải đối diện với nếp sống tu tập thực sự tại chùa. Từ uy thế thượng khách của sư cụ viện chủ, thân mật tiếp xúc đàm đạo, ăn uống chung mâm với người, bỗng tuột xuống thành chú sa di tập tễnh tu, địa vị thấp nhất trong chúng, nên dù đã chuẩn bị tinh thần, và được đại chúng hoan hỉ tiếp nhận, chàng cũng cảm thấy chới với ngỡ ngàng. Vả chăng, từ bé đến nay, chàng quen “chỉ tay năm ngón” ra lệnh cho người hầu hạ, chớ chưa hề lâm vào hoàn cảnh bị những kẻ kém cỏi hơn chỉ dẫn, sai bảo đâu? Chàng khao khát học giáo lý thượng thặng Phật giáo thì không được sở nguyện, trong khi chàng ngượng ngập vụng về tay chân thì cứ bị buộc chấp tác những thứ vặt vãnh tầm thường! Đã bối rối về việc tu học trì trệ, chấp tác trơ trẽn vô tích sự, chàng lại điên đầu với nhóm đại chúng xô bồ đa sự nữa. Đại chúng mỗi người mỗi vẻ, kẻ thô lỗ cộc cằn, người khờ khạo chậm lụt, lại cũng có hạng ba hoa chích chòe… mà chẳng ai có thể hạp nhãn chàng

. Hai bà già công quả bếp núc, thuộc thứ già sanh tật, lầm bầm, cau có suốt ngày. Điển hình nhứt là anh chàng chuyên cóp chép, xào nấu thơ xưa làm của mình để khoe khoang khoác lác. Ông khác chuyên thêu dệt chuyện trời ơi, đất hởi!

Còn cái ông “lang băm thuốc xổ” mới đặc biệt. Ông đắc ý một điểm giáo lý mới học, thế là gặp ai ông cũng bám riết để thuyết pháp, nhất định phải nhét vào lỗ tai người, bất kể người đối thoại muốn nghe hay không?

Tuy học đòi làm y vương, nhưng ông là thứ lang băm chuyên xài thuốc xổ để trị bá bệnh. Gặp ai ông cũng đè bắt uống hết, nên đại chúng thấy ông ai cũng tránh xa để khỏi mang họa lỗ tai… Đại chúng đã xô bồ, mà những vị đại sư huynh được thầy tín cẩn giao trách nhiệm điều hành tự viện cũng không khá! Thầy giáo thọ đạo mạo mà thâm hiểm, âm thầm dìm những kẻ có khả năng. Thầy tri sự sân si gây gỗ suốt ngày. Thầy tri khách cười nói ngọt ngào, mà thiếu chân thật…

Tóm lại, chàng chẳng cảm tình được với ai, mà có lẽ cũng không mấy ai mến chàng. Trong chùa, ngoài sư phụ, Trí Lâm chỉ ưa được sư muội Trí Duyên. Sư muội khởi tu tại ni viện Hổ Sơn, gặp việc bất như ý trong chúng, nên thỉnh cầu sư phụ cho về tu tại Vân Yên, hầu tiếp tay với bà Bảy, bà Năm lo việc ẩm thực tại đây. Sư cô từng bị hất hủi tại ni viện, nên đối xử với kẻ khoa bản trí thức bất đắc chí như Trí Lâm, sư cô có phần cảm thông, nhờ vậy chàng cũng còn có chỗ an ủi trong lòng.

Ban ngày bất như ý, đến đêm chàng lại bị những giấc chiêm bao hành hạ. Chàng thường thấy mình, trong tư cách quan lại cũ, đang bùng nổ ra uy với đám huynh đệ trong tự viện hoặc đang say sưa rượu thịt linh đình, thì tỉnh dậy. Chàng nghĩ có lẽ những ẩn ức ban ngày mà chàng dụng công đè nén – bất mãn huynh đệ và chán ngán chai lạt, đã tự tìm cách thoát ra ngoài bằng mộng mị, nên vẫn âm thầm xấu hổ. Tuy nhiên, giấc mộng ám ảnh chàng không nguôi là cảnh chàng thấy mình trong vai một công tử mê mệt cô gái thanh lâu xinh đẹp. Chàng quyến rủ người đẹp theo mình, khiến mấy gã đã ứng tiền thuê bao nàng bực bội đòi tiền lại. Tức giận, chàng hạ lệnh cho thuộc hạ đập mấy tên vỡ mặt, một tên què chân… để trừng trị. Thức giấc, nhớ lại từng chi tiết nhỏ, chàng bối rối về hình dạng giống nhau kỳ lạ giữa người trong mộng và sư cô Trí Duyên. Chàng tuy có cảm tình với sư cô nhưng nào có tư tưởng dâm đảng tồi bại đâu, mà giấc mơ quái gở đó lại xuất hiện?

      Tình trạng thường trực bất an dai dẳng chỉ vơi nhẹ khi Trí Lâm, vận động với thầy tri sự để được đi chăn bò với chú Trí Lạc. Chú Trí Lạc sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, quen cực khổ nên một mình đã thừa sức đảm trách tất cả mọi việc liên quan đến bầy bò. Chàng đi theo “hụ hợ” lấy lệ mà ung dung tiêu hao ngày tháng. Bù lại, chàng cũng tận tình hướng dẫn sư đệ học đọc và viết những phẩm kinh nhật tụng thông thường, ngoài ra, thỉnh thoảng lại kể cho sư đệ nghe những mẫu truyện hấp dẫn của Trung Hoa như Tam Quốc, Đông Châu Liệt Quốc, Tây Du… Trí Lạc bội phục sư huynh học rộng tài cao, còn vị sư huynh cũng tìm được người để phô trương sở học bao la dồn chứa đầy nhóc trong đầu. Dó đó, tuy tuổi tác chênh lệch, gốc gác cách biệt mà huynh đệ rất hòa hợp nhau. Thời giờ chăn bò hóa ra là những giờ phút nhàn nhã và thoải mái nhất trong nếp sống tu tập của Trí Lâm. Đến giờ ngọ, chú Trí Lạc chạy nhanh về chùa mang cơm ra để anh em thong dong ăn uống dưới bóng tùng râm mát.

Chú dễ thương, nên sư cô Trí Duyên thường “dúi” cho chú thêm vài trái chuối, bánh, kẹo… để làm quà, và đặc biệt hôm nay, chú lại lo le hai củ khoai lang sống. Thế là hai anh em rộn ràng quơ quào cành cây, lá khô để đốt lửa bừng lên, đoạn vùi khoai dưới lớp tro đầy cho đến khi vỏ khoai cháy thành than. Hai anh em lụp chụp khều củ khoai đen đúa ra thanh toán ngay tức khắc, ăn khoai “lùi tro” phải ăn khi “nóng hổi, vừa thổi vừa ăn” thì mới thưởng thức trọn vẹn hương vị thơm tho, dịu ngọt của nó. Sư đệ háo ăn thế nào mà để trên mép chút khoai trắng trắng, còn mặt mũi thì vằn vện lọ nghẹ như một chú hề con, khiến Trí Lâm buộc miệng cười vang rền. Trí Lạc không biết gì cũng ngô nghê rộn rã “cười hùn,” rồi chú mang mặt lem luốc hề chạy tìm đàn bò đang tản mát đây đó. Trí Lâm leo xuống suối rửa mặt. Tự ngắm dung nhan mình ảnh hiện trên mặt nước bất chợt chàng cảm thấy ngượng ngùng. Mặt chàng cũng hề, cũng tèm lem lọ nghe như chú Trí Lạc có khác gì đâu, vậy mà chàng cứ tưởng mặt mày mình sạch sẽ nên mới cười chê chú.

Trí Lâm bỗng nhiên tưởng đến ẩn ngữ thiền: “như nhau, dọc mũi ngang mày” mà rúng động cả toàn thân. Té ra là như vậy. Ai cũng như ai, mũi cũng nằm dọc, chân mày cũng nằm ngang cả. Đứng trên bình diện thuần lý, thì ai chẳng có Phật tánh, ai chẳng có khả năng giác ngộ, bình đẳng không khác, vậy thì mọi người đồng đáng tôn quý như nhau. Còn luận trong vòng sanh diệt thì ai cũng tham, sân, si chất ngất, cũng hư hèn chứa đầy thói hư tật xấu, dù rằng có kẻ thô người tế, kẻ khéo che dấu, người vụng về lộ liễu mà thôi. Trí Lâm biết rõ con người mình hơn ai hết. Thời làm quan, tuy chàng cũng biết thương dân, nhưng chàng đâu phải thánh thiện. Chàng cũng ham danh, ham lợi, ham tiền, ham được tâng bốc, ham sắc dục như ai…, thế mà chàng cao ngạo, tự hào mình là bậc chính nhân quân tử, đáng tôn kính. Vào chùa, mình tu tập có tiến bộ gì đâu, tham sân si chỉ đổi hướng xoay chiều mà thôi. Giờ thì mình ham làm tổ sư, ham danh đắc đạo cao tăng, ham chùa to, ham được đệ tử tôn thờ, tự cao tự đại về sở học Phật pháp, mà còn ngấm ngầm ganh tị bới lông tìm vết bạn đồng tu dìm đạo đức họ xuống. Trừ mình ra thì ai cũng xấu xa, hư hèn cả. Thào nào mình chẳng cô đơn, chẳng hòa hợp được với đại chúng.

Từ ngày khám phá được gương mặt lọ lem của mình, con đường tu tập của Trí Lâm chuyển sang khúc quanh khác hẳn. Chàng chỉ còn thấy lỗi mình, không còn thấy lỗi người nữa. Nhờ thường trực quán sát vọng niệm mình không chút lơ đểnh, nên chàng lần lần tự kiểm soát được thân tâm, tiếp xúc với chánh niệm trong từng nhịp thở. Tiếp xúc được chánh niệm, chàng bắt đầu biết thấy biết lắng nghe và biết chiêm ngưỡng thế giới sinh động mầu nhiệm quanh mình bằng tình thương tràn ngập… Giờ chàng mới để ý đến nỗi nhọc nhằn thức khuya dậy sớm, lưng còng, tay chân run rẫy cùng những giọt mồ hôi của dì Bảy… trong những tháng năm dài bền bỉ lo cơm nước cho đại chúng. Dì Bảy không còn mang hình ảnh một mụ già nhà quê dốt nát, lãi nhãi than phiền suốt ngày nữa, mà là vị bồ tát trải thân nấu bếp để hộ trì tam bảo. Chàng cũng không phải tránh né chú Trí Danh tức “nhà lang băm thuốc xổ” nữa. Chàng bình tỉnh, thương yêu ngồi nghe chú thuyết pháp. Lắng nghe là học hạnh nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, lắng nghe là tạo cho người có nhu cầu nói cơ hội được giải bày những điều dồn nén sôi sục trong lòng. Chỉ lắng nghe mà tạo cho người niềm vui, sao mình không làm được nhất là đối với kẻ có lòng, thiết tha hoằng dương chánh pháp như chú Trí Danh. Tóm lại, bất cứ huynh đệ nào chàng cũng khám phá được nét thánh thiện, để noi theo hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát, mà tùy hỉ tán thán công đức của họ. Từ đó, dưới nhãn quan mới của chàng, ngôi tự viện trước kia chất chứa phiền não, đa sự nay đã chuyển biến thành chốn đạo tràng thanh tịnh, và đại chúng ai ai cũng là những bậc thiện tri thức, thuận hành hay nghịch hành, dẫn dắt Trí Lâm trên con đường tu học.

Bảy năm thắm thoát trôi qua, Trí Lâm tu hành tinh tấn, nên thường được thầy cho phép nhập thất tĩnh tu một thời gian dài tại Long Động, một hang đá thiên nhiên cách Vân Yên nửa giờ leo núi. Mỗi lần chuẩn bị nhập thất đều có chú Trí Lạc kề cận đưa tận nơi, mãn hạn thì chú cũng hân hoan chờ đón. Hằng ngày, cũng chính chú đảm trách việc tiếp tế cơm nước, nhưng chú chỉ mang đến cửa động chớ không hề tiếp chuyện. Lần nhập thất nầy sư phụ ấn định là một năm, để chàng giải quyết công án “Phật là ai?.” Trái lệ thường, mãn hạn tĩnh tu, ra khỏi động, Trí Lâm không thấy sư đệ, mà lại có sự hiện diện của sư cô Trí Duyên đang đăm chiêu nét mặt.

– Có điều chi hung hiểm cho sư đệ, mà trông sư muội tỏ vẻ lo âu như vậy?

– Sư huynh ạ! thời gian sư huynh tĩnh tu thì bọn nhà Minh đã đem quân tiêu diệt nhà Hồ, xâm chiếm trọn vẹn đất nước ta rồi. Chúng chủ trương đồng hóa dân ta, nên một mặt chúng cưỡng ép người mình phải sống theo phong tục họ, mặt khác chúng ra tay tịch thu sách vở do người xưa sáng tác để tiêu diệt văn hóa nước Nam nữa. Ba hôm trước, sư phụ được tin chúng sẽ chiếm giữ hệ thống chùa chiền thiền phái Trúc Lâm, đốt hết kinh sách của chư tổ biên soạn, nhằm tiêu diệt thiền phái đặc thù của dân tộc. Vì vậy, sư phụ đã ra lệnh cho chôn dấu kinh sách, giải tán môn đồ và khuyên mọi người nên tùy phương tiện riêng mà lánh về những ngôi chùa làng nho nhỏ ẩn thân qua cơn ách nạn. Đại chúng náo loạn, mạnh ai nấy lo thân, chỉ có sư để Trí Lạc và muội còn nhớ đến sư huynh ẩn tu nơi nầy. Sư đệ còn phải lo nâng đỡ sư phụ xuống núi, nên sư muội mới lãnh phần lên đây thông báo tin cho sư huynh. Sư huynh chỉ còn có ba ngày là hoàn mãn thời tĩnh tu, nên dù rất nôn nóng, muội vẫn cố gắng không dám khinh động…

– Đa tạ sư muội! sư muội đã hi sinh chờ đợi huynh hoàn mãn khóa tu. Tình thế xem ra khá nghiêm trọng, có lẽ chúng ta cũng phải nhanh chân thoát khỏi chốn nầy ngay. Sư muội đã có dự định chọn chốn nào dung thân chưa?

– Muội bối rối quá chẳng biết đi về đâu? Sư huynh liệu định cho muội được không?

– Như thế nầy nhé! huynh sẽ đưa sư muội về Nộn Sơn. Chùa ấy tương đối nhỏ bé, chắc không bị quân Minh gây phiền nhiễu. Sau đó, huynh sẽ về quê mẹ, nương náu một thời gian rồi tùy cơ mà tu tập…

Trí Lâm chụp lấy tay nải mang vài vật dụng cần thiết rồi hối hả đưa sư cô đi con đường tắt, tuy gian nan nhưng may ra tránh được quân Minh. Đường đi cheo leo, sư cô lại đủng đỉnh, thành thử khi hai người đang lội qua giòng suối Giải Oan, thì đã bị toán tiền sát của quân Minh phát giác. Không thể thoát thân một mình, Trí Lâm đành theo lệnh chúng quay trở lên bờ nạp mạng. Tên trưởng toán, lúc đầu dùng lời lẽ ôn hòa dò hỏi chàng về tung tích của hòa thượng Vô Trước, sau đó, hò hét nộ nạt chàng mà vẫn không thấy kết quả, bèn nổi cơn thịnh nộ ra lệnh cho thủ hạ dã man tra tấn chàng. Sư cô khóc van lạy chúng tha sư huynh một cách vô vọng, cô chạy đến cạnh sư huynh thì chúng lôi trở lại. Sự lôi kéo vùng vẫy vô tình khiến vạt áo nâu sòng rách một mảnh lớn, làm lộ làn da trắng nõn, khiến cho bọn lính hung hản khoái trá hô hố cười dâm loạn. Tên chỉ huy xé toạt áo quần sư cô để làm hổn, trước sự vỗ tay hoan hô của đồng bọn. Trí Lâm vốn hành hạnh nguyện nhẫn nhục, bị tra tấn vẫn vui vẻ chịu đựng lòng không oán hận, nhưng trước hoàn cảnh của sư cô, chàng không thể an nhiên bất động nữa. Chàng vùng dậy toan giải cứu sư cô thì bị bọn chúng vây quanh dùng gậy đánh đập chàng túi bụi, đến khi chàng gục ngã bất động mới thôi. Hoàn cảnh sư cô càng bi đát hơn. Sư cô bị bọn chúng thay phiên nhau cưỡng hiếp liên tục, khi chúng bỏ đi, thì sư cô cũng chỉ còn là một cái xác không hồn.

Đêm khuya vắng lặng. Tiếng suối Giải Oan thều thào hòa lẫn với tiếng côn trùng nỉ non, tạo thành điệu nhạc não nùng ai oán. Vầng trăng lưỡi liềm nhợt nhạt trốn biệt trong cụm mây thưa để khỏi phải soi rọi cảnh tang thương dưới trần thế. Thầy Trí Lâm lần lần hồi tỉnh. Thầy nghe đau nhức rã rời, tay chân rũ riệt mà không biết mình đang ở đâu và việc gì đã xảy ra. Trí óc khôi phục dần, nhớ lại nội vụ, thầy hốt hoảng đảo mắt tìm Trí Duyên thì thấy thân xác bất động của sư cô co quắp không xa. Thầy chồm dậy nhưng sụm xuống tức khắc, đau đớn đến độ muốn ngất xỉu, chân trái chàng có lẽ đã gãy, không thể lay động nỗi. Thầy nghiến răng lết từng li một, khoảng cách mấy thước mà tưởng chừng như cả dậm trường. Cuối cùng thầy cũng lết đến cạnh sư cô. Thầy thấy sư cô nằm nhắm mắt im lìm, da xanh mét như một xác chết, vội vã lay gọi:

– Sư muội ơi! sư muội!

Sư cô bỗng nấc một tiếng, rồi khóc òa lên:

– Muội muốn chết sư huynh à!

– Không nên có ý nghĩ như vậy! sư muội ạ!

– Khổ đau nhơ nhuốc quá sức như thế nầy, muội làm sao sống nỗi hả sư huynh!

Chờ một chút không thấy thầy Trí Lâm lên tiếng, sư cô mở mắt ra nhìn mới biết thầy đã ngất xỉu tự bao giờ. Thầy đã vận dụng hết sức bình sanh lê thân xác bê bết máu đến bên sư cô là kiệt quệ. Sư cô thân thể cũng tê dại rã rời, tưởng không nhúc nhích nỗi, nhưng vừa thấy tình trạng thê thảm của sư huynh đã lồm cồm dậy. Sư cô quên đau đớn, quên giá lạnh buốt xương, tìm được mảnh bình bát bể, bò xuống suối múc nước lau mặt mày cho sư huynh, rồi nâng đầu bón từng ngụm nước.

      Trí Lâm tỉnh dậy, thân thể đau nhức mà trí óc rất sáng suốt. Chàng xúc động nghẹn ngào trước sự lo lắng và chăm sóc tận tình của sư cô. Chàng thầm nghĩ, sau hoạn nạn khủng khiếp nầy, chắc sự gần gũi của hai người khó dừng lại trong tình pháp huynh pháp muội. Ta và nàng ắt hẳn đã có giây buộc ràng từ kiếp trước, cùng tạo chung cộng nghiệp, để rồi ngày nay còn chung gánh vác tai ương; giấc mộng từng ám ảnh ta năm xưa có lẽ không phải là huyễn hoặc. Ta nguyện chia xẻ khổ đau với nàng, không nỡ để nàng thui thủi gậm nhấm đắng cay nầy suốt cả cuộc đời.

Nghĩ suy chín chắn rồi, Trí Lâm thều thào từng tiếng, nhỏ mà rõ rệt:

– Nầy sư muội! sự thể xảy ra như thế nầy huynh nghĩ chúng mình khó lòng tiếp tục tu hành. Thời buổi loạn lạc như vầy tìm chốn nương thân an toàn cho muội cũng không phải đơn giản. Hay là muội theo sư huynh về quê thưa với mẫn thân thành hôn với muội.

Sư cô không lên tiếng, chỉ khẽ gật đầu, nhưng trên gương mặt thảm sầu đã lộ được niềm tin yêu hi vọng.

Trong tay nải may mắn còn bộ y khác cho sư cô tạm che thân. Sư cô băng bó cấp thời những vết thương cho Trí Lâm, rồi nâng đỡ sư huynh lần từng bước về Hà Nam. Đường đi vất vả nhọc nhằn, nhưng đã trải qua ách nạn khủng khiếp rồi thì trở lại nào cũng tầm thường vô nghĩa. Chỉ tiếc là chân trái Trí Lâm bị gãy, không được chạy chữa kịp thời, xương nối liền nhau không đúng khớp nên phải chịu khập khiểng suốt đời. Thời bấy giờ, Hà Nam được đặt dưới quyền cai trị của viên huyện quan họ Nguyễn, là cựu quan lại của nhà Hồ ra hàng giặc. Tuy làm quan cho quân Minh, nhưng Nguyễn đại phu lại hết lòng bảo vệ lo lắng cho dân, do đó, trong khi các địa phương lân cận bị bọn cướp nước sách nhiễu hãm hại dân lành, thì Hà Nam lại được an cư lạc nghiệp. Phạm Ngũ Thư đi tu biệt tích, nay trở về cưới vợ khiến bà mẹ hoan hỉ vô tận. Nàng dâu đảm đương và hiếu thảo lại sanh cho bà ba đứa cháu nội, khiến bà thêm hỉ hả. Trong thời gian mười hai năm trời an vui hạnh phúc gia đình, Ngũ Thư vẫn không quên nghĩa vụ người trai thời loạn.

Chàng gia nhập lực lượng khởi nghĩa chống quân Minh của nhóm miêu duệ nhà Trần, hoạt động không được bao lâu thì tân vương ra tay sát hại trung thần, khiến lực lượng tan nát và Ngũ Thư đành rã ngũ quay về nhà. Mấy năm sau, người anh hùng áo vải đất Lam Sơn trương cờ khởi nghĩa, tạo dựng thanh thế khá vững vàng. Lực lượng nghĩa quân tuy dũng cảm có thừa, chiến thắng nhiều trận gay go, nhưng quân số kém cõi không đủ sức đương đầu với giặc trong thế trận địa chiến. Bình Định Vương phải rút quân về Chí Linh ẩn náu mấy lần. Ngũ Thư tìm đến Bình Định Vương, tình nguyện thành lập hệ thống tình báo để nắm vững địch tình. Chân sẵn tàn tật, chàng giả trang thành kẻ ăn xin để đi lại khắp nơi thu lượm tin tức mà địch chẳng nghi ngờ. Tai mắt chàng phần lớn là những đồng chí ăn xin tồi tàn. Họ càng dơ dáy, cùi hủi ghẻ lở, thì lại càng được việc, họ có thể ngang nhiên “liều mạng cùi” xông bừa vào chỗ đóng quân, kho lương của địch để quan sát, và la cà khắp nơi để chuyển tin nhanh chóng mà an toàn. Nhờ tổ chức tình báo của Thư hoạt động đắc lực, am tường tình trạng suy yếu của địch tại Nghệ An, Bình Định Vương quyết định kéo quân vào Nam vây đánh nơi nầy. Sau Nghệ An, quân ta tiếp tục cuộc tổng phản công trên khắp trận địa, rồi chỉ trong vòng ba năm đã hoàn toàn đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà.

Nền độc lập vừa vãn hồi thì Phạm Ngũ Thư đã viện cớ tàn tật để khước từ quan chức. Bị Vua ép, chàng chỉ nhận tước làm là Đại Trí Tự và phần thưởng hai trăm mẫu ruộng hương hỏa tượng trưng mà thôi.

Rời được chốn quan trường “đa sự” để về quê nhà, sống đạm bạc mà thanh thản trong hạnh phúc gia đình, quả thích hợp với người hằng thiết tha với nếp sống tu dưỡng thân tâm. Tuy tình nghĩa vợ chồng mặn nồng, tuy hạnh phúc tràn đầy, mà lòng Thư vẫn mang niềm xao xuyến, ước muốn ra đi vẫn thôi thúc trong lòng. Cả năm rồi, Thư định giải bày cho vợ ý nguyện của mình nhưng cứ ngại ngùng. Thương nàng quá! khổ thân nàng quá! cả đời nàng chỉ biết tận tụy hi sinh cho chồng. Chàng bôn ba việc nước, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ già, quán xuyến tề gia, nuôi dạy con thơ. Nay nàng vừa mừng đoàn tựu thì mình đã tính chuyện ra đi! tội nghiệp làm sao? Thư khẽ vuốt những sợi tóc bạc lòa xòa trên trán vợ, âu yếm lên tiếng:

– Phu nhân ạ! ta muốn bàn với em việc nầy!

– Vâng! xin phu quân dạy!

– Thời lang thang lo việc nước, ta đã chung sống với giới ăn xin, cảm thông được nỗi đau thương chua xót vô biên của những con người khốn khổ bị xã hội khinh khi ruồng rẫy. Ta hằng phát nguyện sẽ chia xẻ, cứu giúp xoa dịu thương đau cho họ…

– Sư huynh yên tâm! Tài sản chúng ta không nhiều, nhưng nếu bán đi hết thì cũng đủ cho sư huynh hoàn thành phần nào tâm nguyện cứu giúp người nghèo mà!

Thư được vợ gọi là sư huynh thật là đẹp ý. Khi bàn bạc đạo lý, hai người thường xưng hô huynh muội như thời tu tập trên núi Yên Tử, đàm luận thoải mái hơn cương vị vợ chồng. Chàng vội tiếp lời:

– Huynh xin nhiệt liệt tán thán lượng “Quán Âm” của sư muội. Phần huynh, huynh rất hiểu những kẻ khốn cùng, họ thù hận, chửi bới, oán ghét loài người; dẫu buộc lòng nhận của bố thí để ấm no trong chốc lát, họ lại bị dày dò trong mặc cảm, nghi kỵ, oán hờn. Bố thí cho họ một cách bình thường nghĩ có lẽ mình nên hành tứ nhiếp pháp, chung sống ăn mày, ngọt ngào tâm sự, đồng san sẻ ấm no, vui buồn, nhiên hậu tạo niềm cảm thông thật sự nơi họ, và như vậy, mới chân thực an ủi họ. Nầy sư muội! sư muội có tán đồng hạnh nguyện của huynh không?

Trên cương vị sư muội thì bà có thể gượng gạo tán đồng, còn trên cương vị người vợ đã quen tôn kính chồng, bà chỉ biết cắn răng, gạt nước mắt tiễn chồng ra đi.

Như người ăn mày chân chính. Ngũ Thư chống gậy trúc, áo quần rách rưới, ăn xin sống qua ngày. Chàng tùy thuận theo nếp sống của giới ăn mày, rày đây mai đó, nơi nào có hội hè, đình đám… làm ăn được thì quy tụ đến. Bậu bạn với họ, người mới hiểu hết nỗi đau thương của họ, để san sẻ, khuyên lơn, an ủi họ. Trong đêm lạnh run rẫy bên nhau chuyền hơi ấm, lúc đói lòng chia chác chút cơm thừa, khi bắt chí vần công, rửa ghẻ lau máu mủ tanh hôi cho nhau…, người lựa lời nhắc nhở họ về lý nghiệp báo hay khuyên họ xả bỏ thù hằn, nghi kị…, khơi nguồn cho tình người tuôn chảy…

Phạm phu nhân ở nhà, thương chồng thương cả hạnh nguyện của chồng, bà phát tâm “Quán Thế Âm,” nghe tiếng kêu thương của thế gian liền hiện để cứu giúp. Bà giúp cô nhi quả phụ, kẻ già yếu tàn tật, bà lo tang ma cho kẻ chết đầu đường xó chợ. Chồng ra đi biền biệt, nhớ thương chồng chất, phu nhân nghĩ đến giải pháp xây cất ngôi chùa riêng cho chồng tu, rồi thuê người dò la tin tức rước ông về. Cuối cùng bà cũng tìm được chồng trong dịp trẩy hội chùa thầy (7) tại làng Láng. Chứng kiến cảnh người chồng già nua trong nếp sống tồi tàn, rách rưới, phu nhân xúc động nghẹn ngào, cất tiếng van nài:

– Phu quân lao khổ thiếp rất đau lòng! Thiếp đã dựng chùa sẵn để rước phu quân về trụ trì, phát triển đạo tràng độ chúng. Mong phu quân chấp thuận!

      – Sư muội! ta tùy thuận mà đi, trôi nổi như mây như gió, không ràng buộc đã quen! vả lại, với ta nơi nào chẳng là đạo tràng tu tập…

đắn đo nhìn chồng, hiểu ý người, nhưng thương quá, bà vẫn cố gắng lung lạc lần chót:

– Đành vậy, nhưng theo thời gian phu quân đã già rồi…, phu quân cần phải tịnh dưỡng…

Lão ăn mày già, mỉm cười:

– Thời gian trôi thì ta cứ như thế mà bồng bềnh trôi, chớ ta nào có già!

Phu nhân giựt mình, ngắm nhìn lang quân. Trong dáng dấp tồi tàn của người hành khất, bà thấy hiển hiện sáng ngời nguồn sống rạt rào của kẻ thong dong không chướng ngại, nhậm vận mà đi, tùy duyên mà hóa đạo. Bà nghĩ mình không có quyền bận bịu ông nữa. Bà điềm tỉnh cất tiếng:

– Cảm tạ sư huynh đã nhắc nhở muội “tánh không già không chết, không nhơ không sạch, không thêm bớt” đó. Sư huynh không già thì muội cũng chẳng hề già. Sư huynh có hạnh nguyện của sư huynh thì muội cũng có hạnh nguyện của muội. Muội chỉ mong sư huynh, khi thấy sắp gởi xác thân lại, thì cũng nên về nhà cho con cháu thấy hành trạng của sư huynh mà quy ngưỡng để tu dưỡng thân tâm.

Người ăn mày già khẽ gật đầu.

Từ dạo đó, phu nhân an nhiên và thanh thản xa chồng. Bà cứ dõng mãnh tiếp tục hạnh nguyện ban vui cứu khổ, và người ăn mày già thì cứ tiếp tục ăn mày.

Ba năm sau, tự nhận thấy thân xác sắp trả về cho cát bụi, người ăn mày già quay trở về Hà Nam. Đúng giờ tí, ngày rằm tháng ba, người lần đến sân đình làng Thư Lang, nằm nghiêng bên phải, đầu hướng Bắc, mặt nhìn phương Tây, hai chân tréo nhau, mà lìa đời.

Như thường lệ, khi phát giác một xác chết vô thừa nhận, xóm làng cầu cứu vị phu nhân hiền đức gánh vác phí tổn chôn cất. Thoáng nhìn dáng nằm kiết tường (8) của người hành khất, phu nhân biết ngay là ai. Bà trang trọng mang xác về nhà, theo đúng di chí của chồng mà làm lễ tang ma. Người ăn mày chỉ muốn chôn cất theo cương vị ăn mày nên mẹ con bà lặng lẽ quấn chiếu người đem chôn, trên mộ bia chỉ ghi năm chữ đơn giản: Phạm khất sĩ chi mộ – mộ của người ăn mày họ Phạm.

Từ ngày người ăn mày chết tại sân đình, làng Thư Lang sung túc hẳn lên: mưa thuận gió hòa, ruộng lúa trúng mùa, sĩ tử đỗ đạt… Cảm ân đức phù hộ của người, dân chúng đồng tôn thờ người làm thành hoàng xã Thư Lang.

Vào ngày kỵ của người ăn mày, con cháu họ Phạm và người dân sùng mộ, giữ tục lệ đặc biệt; theo đó, họ mặc tang phục chia nhau đến các vùng lân cận hành nghề ăn mày, xin tượng trưng mỗi nơi một nhúm gạo nhỏ đem về nấu nắm cơm, giỗ cúng người xưa.

Lệ nầy đối với giòng trưởng lại nghiêm nhặt hơn. Người chánh thức hưởng của hương hỏa phải thực sự hành nghề ăn mày một tuần trăng, họ phải thấm thía khổ nhục của kẻ ăn mày, để thương yêu được giới bần cùng thì mới được coi là vuông tròn chữ hiếu.

* * *

– Eo ơi! chuyện lạ lùng quá! viết ở sách nào em chả thấy vậy anh? thím Năm chăm chú nghe chồng kể chuyện xong, tò mò hỏi.

– Dĩ nhiên là chưa có sách nào viết chuyện nấy, vì nó chi ghi và giữ kín trong gia phả họ Phạm ở Hà Nam mà thôi.

– Vậy té ra…

      – Đúng vậy! bố là con giòng trưởng. Năm mười tám tuổi bố phải lặn lội đến vùng Nghệ An, trốn lánh thật xa bè bạn, để ăn mày trọn tháng ba cho đúng với truyền thống tổ tiên. Gia đình di cư vào Nam, bố vẫn bo bo chủ trương giữ lệ cũ. Em cũng biết đó! u sanh liên tục bốn cô con gái rồi mới được đứa con trai, bà cưng giữ rất kỹ. Anh chỉ lẩn quẩn trong nhà chơi đùa với mấy chị, chưa bao giờ ra khỏi nhà, nghe dự tính của bố sợ sệt, khóc sướt mướt. U thương quá, phản đối lệ ăn mày quyết liệt, viện lẽ hương hỏa đâu còn mà giữ gìn. Bố khăng khăng cho rằng nếu vừa mất hương hỏa bỏ lệ ngay thì hóa ra giòng trưởng xưa nay tham lam hương hỏa mà theo truyền thống chớ không thật lòng. Thế rồi, vào mùa bãi trường năm anh học lớp bốn, bố tìm đâu được bà già mù người Nam, trả công cho bà dẫn anh đi ăn xin một tháng trời khắp các chợ đô thành Saigon. Lúc đầu anh buồn khổ khóc lóc liên miên, nhưng sau quen dần dần, thì cũng vui lắm…

Thím Năm trố mắt nhìn chồng, không biết thực hư thế nào! Chẳng lẽ “thằng bé Bắc Kỳ” chơi cò cò với mình tại hẻm chợ Vườn Chuối năm xưa lại là chàng! Chắc đúng anh chàng chẳng sai! Chàng cứ lẩn quẩn chơi với bốn bà chị, thảo nào sành sõi đủ mọi trò chơi con gái. Ngày mới quen nhau mình đã ngờ ngợ rồi mà! Thím cười thật vui “rắn mắc” (9) hỏi chồng:

– Nầy anh! chừng nào thì anh mới cất nhà cho em đây! Chú Năm đâu thể ngờ bà vợ nhớ đến trò chơi cò cò thuở bé, chú nghe vợ hỏi lạc đề sang chuyện khác hơi ngạc nhiên, nhưng lại nghĩ bà đang tơ tưởng mộng cất nhà bên sông Cửu Long để về hưu, nên đáp hụ hợ cho qua:

– Ờ! chưa tìm được sở đất vừa ý, lo chi chuyện xây cất vậy bà!

– Khổng biết đâu! cất nhà thì phải cho em ở chung đó!, thím trổi giọng nhỏng nhẽo như cô gái nhỏ.

Chú cũng cười khà khà:

– Tui đâu có mình đồng xương sắt mà dám làm chuyện động trời đó! Không cho bà ở thì bà đốt nhà, bà “cạo đầu khô” tui, chớ chịu để yên sao?

Ghi Chú:

1. Hưng Thiền Đại Đăng quốc sư (Doto, 1282- 1337), tổ khai sáng Đại Đức tự ở Nhật, thuộc dòng thiền Lâm Tế, pháp tự là Tôn Phong Diệu Siêu. Tương truyền tổ dành một phần ba cuộc đời, sống chung với những người nghèo hèn ăn xin trú tại gầm cầu Gojo. Tổ cũng đi ăn xin và làm những công việc hèn hạ, hầu tạo sự gần gũi và niềm cảm thông nơi kẻ bần cùng mà tế độ họ, bất chấp những cái nhìn miệt thị của giới phong lưu, giới tu sĩ hưởng thụ đương thời. (Trích theo Thiền Luận, bộ thượng, bản dịch Trúc Thiên).

2. Trung Đình Hòa Thượng: Ngài là nhân vật lịch sử không lưu lại tên họ, xuất hiện vào thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765- 1777). Ngài mang ba bị, khất thực trong làng được đồ chay đựng một bị cho Ngài dùng, bị thứ hai đựng đồ mặn dành cho kẻ ăn xin khác và bị lớn, dùng để treo lên mái đình mà ngồi. Vì vậy Ngài mang hai bí danh là Ông Ba Bị và Trung Đình Hòa Thượng. Tu hành đắc đạo, Ngài quyết định tự thiêu trên hỏa đàn dựng tại chùa Thiên Mụ. Tín thí thỉnh cầu Ngài lưu lại chút di thể, Ngài đưa lên một ngón tay. Khi lửa bừng lên, gió thổi lệch mũ Quan Âm, Ngài lấy tay sửa lại cho ngay ngắn, rồi chấp tay niệm kinh cho đến khi tịch. Ngón tay nguyên vẹn lưu lại, tro và xá lợi đặt trong tháp thờ bên chùa Thiên Mụ. (Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, T. T. Mật Thể).

3. Dịch nghĩa:

Ca sa chưa mặc than nhiều việc Được mặc ca sa việc lại nhiều.

4. tri huyện thời mạt Trần

5. Tổng trấn

6. Đệ nhất tổ phái Trúc Lâm là Điều- Ngự Giác- Hoàng, tức vua Trần Nhân Tông.

7. Chùa Thầy tức chùa thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh. Tương truyền thiền sư Từ Đạo Hạnh dựng am Bổ Đà trước cửa hang Cắc Cớ, núi Sài Sơn tu hành đắc quả và thác hóa chốn nầy. Vua Lý Nhân Tông sắc đổi tên hang là Thanh Hóa, dựng am thành chùa Phật Tích. Tại làng Láng tức làng Yên Lãng, ngoại thành Hà Nội, cũng có chùa Thầy, thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh. Hội chùa Thầy, tức giỗ tổ Từ Đạo Hạnh, nhằm ngày mùng 7 tháng ba, từ làng Láng kéo dài đền Sài Sơn, theo như câu ca dao:

Nhớ ngày mùng bẩy tháng ba Trở vào hội Làng, trở ra hội Thầy.

8. dáng nằm của Đức Phật khi tịch diệt.

9. Tinh nghịch.

 Mở Toang Cửa Ngục

Huỳnh Trung Chánh

Không hẹn mà ba người bạn nối khố, sanh sống ở ba tiểu bang khác nhau, sau hai mươi lăm năm xa cách, đã trùng phùng trong chuyến hành hương Trung Quốc. Cả ba là bạn đồng khóa sĩ quan Đà Lạt và cùng mang cấp bậc trung tá, và tuy cùng định cư tại Hoa Kỳ, nhưng thể thức ra đi của họ có những duyên nghiệp khác hẳn nhau. Phương may mắn di tản kịp thời sang Mỹ từ năm 1975, và đã tạo nên sự nghiệp vững vàng tại tiểu bang Virginia. Thanh học tập cải tạo 5 năm, vừa về nhà thì vợ chồng liền được đám con bảo lãnh sang Houston, Texas. Luân kém may mắn hơn, chịu đựng đến 8 năm cải tạo, rồi phải mòn mỏi chờ đến khi chương trình ra đi theo diện tù cải tạo (H.O.) ra đời thì mới đưa được gia đình sang miền Nam California sinh sống. Kẻ trước người sau đến xứ người lập nghiệp, cơ hội khác nhau, tiền bạc tích lủy nhiều ít cách biệt… nhưng tựu trung thì ai cũng an cư lạc nghiệp, nhà cửa ấm cúng và cũng thừa tiền an hưởng lúc tuổi già. Sau khi tay bắt mặt mừng, rối rít thăm hỏi chuyện gia đình, nhà cửa… , họ hào hứng nhắc nhớ lại quãng thời ngang dọc xa xưa, rồi bùi ngùi hồi tưởng đám bạn bè kẻ còn người mất, kẻ bệnh tật ngặt nghèo, người tình duyên lỡ dở… Cả ba tự nhận họ thuộc vào hạng có phước có phần, bản thân mạnh khỏe, gia đình yên ổn, con cái nên người… , ngoài ra, họ còn may mắn ý thức được việc tu dưỡng thân tâm và nhân đó mới tham dự chuyến hành hương nầy để vừa thưởng thức cảnh đẹp xứ người, vừa đáp ứng được lòng tôn kính đối với chư Bồ Tát. Cả ba hân hoan theo phái đoàn lần lượt chiêm bái Ngũ Đài, Nga Mi, Cửu Hoa và sau cùng vượt biển đến Phổ Đà sơn. Cả bốn đại danh sơn đều được mọi người quy ngưỡng, nhưng địa điểm nào được chấm là đặc biệt nhất, là điều mà ai cũng phân vân và đó cũng là câu hỏi mà ban tổ chức đã yêu cầu Phật tử góp ý. Trong suốt chuyến đi, sáng dậy sớm lên đường, tối mịt mới nghỉ ngơi, ba lão già oải gân ráng sức theo cho kịp phái đoàn lại vừa phải phân tâm lo lắng cho mụ vợ hom hem cũng đã hụt hơi nên dù gặp nhau hằng ngày, mà chẳng mấy khi họ có thời giờ rảnh rổi hàn huyên tâm sự. Mãi đến khi lên máy bay về Mỹ, ba người bạn già mới có dịp ngồi xúm xít bên nhau tán gẫu chuyện đời, rồi vô tình câu hỏi của ban tổ chức bỗng được nhắc lại.

Thanh khơi mào :

-Bốn đại danh sơn đều linh thiêng mầu nhiệm, phong cảnh mỗi nơi mỗi khác mà đều hùng vĩ tuyệt vời, chiêm bái nơi nào tôi cũng cảm thấy xúc động vô bờ, nên khi phải chọn lựa xếp hạng là một quyết định rất gian nan. Suy đi nghĩ lại, tôi đã chọn Cửu Hoa sơn, còn hai anh thì thế nào?- Tôi cũng nhận thấy có duyên đặc biệt với Ngài Địa Tạng., Luân đáp.- Lạ quá! tôi cũng giống y chang như hai anh. Đúng là tư tưởng lớn gặp nhau rồi! Chúng mình đều hướng về Cửu Hoa sơn, nhưng lý do thầm kín thì có lẽ mỗi người mỗi khác. Ừ nhỉ! sao mình không trình bày nỗi niềm riêng của mình cho bạn bè cùng chia xẻ cho vuỉ, Phương góp ý.Luân cũng lên tiếng :- Hì ! hì ! Nên lắm! phải lắm! Thế nhưng ai là người phải kể trước đây? Phương đã đề nghị thì phải xung phong làm gương sáng cho anh em noi theo mới đúng?Phương biết tranh cãi với hai bạn cũng vô ích, nên cười hì hì nhận chịu. Anh mơ màng đưa hồn quay về với chuỗi ngày niên thiếu xa xưa, rồi bắt đầu vào chuyện :- Tôi sanh ra tại cù lao Phố, nay là xã Hiệp Hòa, Biên Hòa. Đây là một địa điểm lịch sử và làø một trong những cơ sở tiên khởi của ông cha ta trên con đường khai phá miền Nam, nhờ vậy đã có những ngôi cổ tự xây dựng lâu đời như chùa Đại Giác và Chúc Thọ. Thuở nhỏ tôi thường theo bà nội đi chùa Chúc Thọ tụng kinh Địa Tạng, và tại đây, hơn một lần tôi đã nghe cô bác nhắc nhở đến giai thoại Thủ Huồng một giai thoại đã tạo ảnh hưởng sâu đậm cho niềm tin kính của tôi đối với Ngài Địa Tạng. Theo truyền thuyết thì Oâng Thủ Huồng, tên thật là Võ thủ Hoằng, nguyên là một viên thơ lại tại dinh Trấn Biên vào buổi giao thời Gia Long phục quốc. Nương vào thời kỳ chánh trị bất ổn, kinh tế xáo trộn, Thủ Huồng mặc sức làm giàu bằng đủ mọi hình thức. Ông lạm dụng quyền thế, gian lận của công, hối lộ, sách nhiễu tiền bạc, cướp đoạt tài sản của dân chúng, ngoài ra, ông cũng không từ nan những thủ đoạn kiếm tiền khác như đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, lường công bóc lột tá điền, tổ chức bài bạc lấy xâu… Sau 20 năm cần cù làm việc, gầy dựng nên một tài sản kếch sù, ruộng đất cò bay thẳng cánh, Thủ Huồng mới từ dịch an hưởng đời sống phong lưu của bậc đại trưởng giả. Thủ Huồng không con nối dõi, chỉ có người vợ yêu tâm đồng ý hiệp, sớm hôm bàn kế hoạch làm giàu và lấy chuyện tích lủy tiền của làm niềm vui. Thế nhưng, bỗng dưng ngưòi vợ yêu lâm bạo bệnh rồi từ trần. Thủ Huồng cực kỳ đau khổ, nhưng thương vợ thì y chỉ có phương cách là tổ chức đám tang linh đình, đốt giấy tiền vàng bạc, lầu kho thật nhiều với hi vọng người vợ yêu có thừa tiền của để hối lộ và tiêu pha tại chốn âm tỵ Vợ chết được mấy tuần thì Thủ Huồng bỗng chiêm bao nghe tiếng vợ kêu gào rùng rợn khóc la, như đang bị ngục tốt dùng cực hình tra khảo. Thủ Huồng thoạt nghĩ chỉ vì quá thương tưởng vợ nên sanh mộng mị, và mộng mị sẽ biến dạng lần theo thời gian. Không ngờ tiếng kêu la của vợ cứ tái diễn hằng đêm, khiến Thủ Huồng lo sợ thất thần ăn ngủ không yên. Thủ Huồng hoảng hốt tìm lương y chạy chữa bệnh tâm thần, mặt khác, ông ta cũng nghĩ đến việc cầu cạnh đám thầy cúng và đồng cốt, hạng người tự nhận có khả năng liên lạc với cõi âm để nhờ họ dùng lễ lộc cúng vái quỷ thần chuộc tội cho vợ. Do đó, nghe ai chỉ bày đồng cốt hay thầy cúng nào cao tay ấn, ông ta liền ân cần triệu thỉnh, tiền bạc chẳng nệ hà tốn kém, nhưng thời gian kéo dài cả năm, lễ lộc liên miên mà những cơn ác mộng hằng đêm vẫn không thay đổi. Nguyên trước kia Thủ Huồng cũng có đến chùa đôi lần, nhưng nhận thấy chốn nầy chẳng sanh lợi lộc chi cả – bị kêu gọi cúng dường tốn hao thì có – chưa kể còn bị nghe dạy dỗ “ăn hiền ở lành” chán phèo, nên ông ta tránh né chùa chiền. Mãi đến khi lâm vào bước đường cùng, Thủ Huồng buộc lòng phải tìm đến chùa Từ Ân, Gia Định lạy lục khẩn cầu hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc cứu giúp. Sau khi nghe Thủ Huồng thuật lại cơn ác mộng, hòa thượng ôn tồn phán dạy : “Vợ chồng con mang tâm địa giống nhau lại thương yêu quấn quít chẳng rời, đồng vợ đồng chồng tạo tác ác nghiệp chung, do đó tâm ý tương thông nhau khiến con cảm ứng được tiếng kêu than của vợ vọng lên từ cõi địa ngục. Trường hợp nầy chỉ là một trong những hình thức của thần giao cách cảm, tuy hiếm hoi nhưng vẫn xảy ra”. Hòa thượng hướng dẫn Thủ Huồng đến chiêm bái tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát, rồi phán dạy tiếp : “Đây là tượng Bồ Tát Địa Tạng. Ngài là vị Bồ Tát mang đại nguyện là đời đời kiếp kiếp cứu độ hết thảy chúng sanh cho đến khi địa ngục trống không thì mới thành Phật, vì lẽ đó, Ngài được tôn xưng là vị Giáo chủ cõi U Minh, ai muốn thoát cái khổ địa ngục thì phải chiêm bái Ngài, hành hạnh nguyện của Ngài. Con hãy quan sát kỹ tượng Bồ Tát, tay trái Ngài nâng hạt minh châu, tay phải Ngài cầm tích trượng. Minh châu tượng trưng cho trí tuệ, dùng minh châu soi sáng cõi u minh cũng có nghĩa là phát triển trí tuệ sáng suốt hầu thấy rõ con đường chánh đạo để tu tập mà xa lìa địa ngục. Tích trượng có gắn mười hai khoen tượng trưng cho giáo lý 12 nhân duyên. Tích trượng là cây gậy dùng để phá tan địa ngục, phá địa ngục không phải bằng vũ lực mà là dựa trên giáo lý nhân duyên tu tập. Cách phá hay nhất là không tạo nhân địa ngục thì sẽ không sanh quả địa ngục. Còn nhược bằng đã lỡ gieo nhân địa ngục, thì phải thành tâm sám hối, bố thí, trì giới… tạo nhân lành, để giũa mài cho mỏng dần cái quả địa ngục… rồi cứ thế mà liên tục thực hành thì cái quả địa ngục mới có ngày hoàn toàn biến dạng. Giờ đây nhà chùa có thể giúp đỡ con bằng cách hướng dẫn con lễ bái, cúng dường, tụng niệm kinh Địa Tạng bổn nguyện… hoặc giả nếu như con phát tâm từ bi nhà chùa cũng sẵn sàng thiết lập đại thủy đàn chẩn tế để con hành hạnh bố thí hồi hướng cho vợ con thì càng tốt. Tuy vậy, con nên nhớ rõ rằng chính con phải tự cầm tích trượng phát tâm dõng mãnh sám hối, bố thí, trì giới, nhẫn nhục… để phá địa ngục thì địa ngục mới thực sự tiêu tan. Con và vợ con đã có thần giao cách cảm, con phát tâm thì vợ con cảm ứng, nên cái khổ địa ngục của vợ con chắc chắn sẽ vơi lần… ”. Nghe hòa thượng nhắc nhở lý nhân duyên nghiệp báo, Thủ Huồng lo sợ cuống cuồng. Oâng ta thừa hiểu tội ác của mình ngập đầu ngập cổ, như vậy nếu rơi vào chốn địa ngục thì chắc chắn sẽ bị cực hình đau đớn gấp trăm, gấp ngàn lần cái khổ mà vợ đang gánh chịu nữa. Thủ Huồng vội vã thỉnh cầu hòa thượng thương xót tổ chức hướng dẫn tụng niệm cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và thiết lập trai đàn thủy lục để bố thí cầu nguyện cho vợ, ngoài ra, ông ta cũng kính thỉnh tượng Địa Tạng về nhà, ngày đêm lễ bái, thành tâm sám hối thề không tái phạm lỗi lầm nữa. Trong chiêm bao, tiếng rên la kêu gào của vợ bắt đầu giảm lần, hai tháng sau, thì dường như đã dứt hẳn khiến Thủ Huồng cảm thấy có thể ăn ngon ngủ yên được rồi. Một hôm Thủ Huồng chiêm bao thấy vợ thân thể bèo nhèo tiều tụy hiện về cho biết nhờ chồng lễ bái, cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và lập đàn phát chẩn tế hồi hướng nên tội nghiệp giảm thiểu dần, giờ đây nàng không còn bị hành hạ Ôm trụ đồng lửa tại ngục Bảo Trụ hay bị cày lưỡi tại ngục Canh Thiệt nữa. Nàng đang được quỷ tốt dẫn giải sang ngục gông cùm để chịu tội tiếp, nàng năn nỉ quỉ tốt cho ghé nhà một phút thông báo tin mừng cho chồng rồi chạy đi ngaỵ Thương vợ quá, hồn Thủ Huồng tức tốc chạy theo. Ông thấy vợ bị hai con quỷ hung dữ nanh dài lôi kéo, tuy run sợ nhưng cũng lẽo đẽo theo sau dù phải giữ một khoảng cách khá xa, chớ chẳng dám đến gần. Thủ Huồng cứ thế mà len lỏi đi theo xuyên qua bao địa ngục khủng khiếp, thấy cảnh tội nhân bị móc mắt, cắt lưỡi, phanh thây, kẻ bị bỏ vào vạc dầu sôi, ôm trụ đồng lửa… đang đau đớn kêu gào kinh rợn. Đến địa ngục gông cùm, Thủ Huồng đang đứng xa xa lấm lét nhìn cảnh vợ mang gông, bỗng bị viên cai ngục khám phá, chỉ mặt hét lớn : “Thằng kia! ngươi là tội nhân địa ngục nào sao dám lảng vảng ở đây?”. Thủ Huồng sợ hãi run lẩy bẩy, tuy vậy, nhờ hơn hai tháng qua, ngày đêm lễ bái Bồ Tát Địa Tạng, lúc lâm nguy bèn nhớ ngay đến Ngài nên còn giữ chút bình tĩnh. Thủ Huồng lên tiếng : “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tôi không phải là tội nhân ở cõi địa ngục nào cả. Tôi tới đây vì lòng tò mò mà thôi!”. Tên cai ngục bỗng đổi giọng nhỏ nhẹ : “Anh biết nương về với Bồ Tát thì rõ ràng không phải là tội nhân ở đây rồi. Anh có điều chi thắc mắc mà muốn tìm hiểu chốn nầy?”. Thủ Huồng lanh trí nhìn quanh quất thấy có chiếc gông vĩ đại, to gấp ngàn lần cái gông bình thường, liền đáp : “Cái gông bự tổ bố kia dùng vào việc gì vậy ông?”. Viên cai ngục tra xét quyển sổ tội phạm dày cộm, rồi trả lời : “Gông nầy dành riêng cho tên Võ thủ Hoằøng. Hắn là kẻ đại gian ác hiện đang sanh sống tại dinh Trấn Biên, xứ Đại Nam. Sau khi mãn số, hắn sẽ bị hành hình dài dài ở khắp các địa ngục tên lửa, xe sắt, giường sắt, nước đồng sôi, cày lưỡi, móc mắt, cắt lưỡi, cưa răng… rồi mới tới đây”. Thủ Huồng cám ơn viên cai ngục, rồi phóng chạy một mạch về nhà thì tỉnh mộng, mà nỗi kinh hoàng vẫn còn đeo đẳng đến độ tay chân rụng rời không xê dịch được. Nhờ hằng ngày nghiền ngẫm pháp từ của hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, Thủ Huồng đã hiểu rõ rằng chính mình phải dõng mãnh cầm tích trượng nhân duyên để phá tan địa ngục của chính mình bằng cách phát lồ sám hối, bố thí trì giới và xả thân phục vụ pháp giới chúng sanh. Thế rồi, Thủ Huồng truy tầm những nạn nhân trước kia đã bị Ông ta cưởng đoạt, lường gạt, bóc lột… để đền bù lại những gì có thể bồi hoàn được. Mặt khác, ông cũng mở lòng nhân từ giúp đỡ những gia đình nghèo đói, dưỡng nuôi kẻ già nua cô quạnh, rước thầy hốt thuốc cho kẻ bệnh tật, lo ma chay tống táng cho kẻ chết bờ chết bụi… Oâng tận tụy phục vụ cho mọi người, ở đâu mà nghe tiếng kêu than khóc lóc, thì ông liền tìm đến an ủi cứu giúp. Sau hai năm hành hạnh nguyện bố thí, chi phí hơn nửa gia sản, một hôm, Thủ Huồng lại chiêm bao thấy vợ. Lần nầy bà tươi vui cho biết nhờ chồng thức tỉnh tu tập rồi hồi hướng công đức mà bà đã thoát khỏi cảnh địa ngục, nay sắp đi đào thai nên vội lẻn về báo tin rồi từ giã ngaỵ Thủ Huồng thương vợ bịn rịn chẳng muốn rời nên lốc cốc chạy theo. Bà vợ nhanh chân quá, mới thấy đó đã biến mất đằng nào. Thủ Huồng len lỏi theo con đường cũ tìm kiếm. Oâng cũng xuyên qua bao địa ngục rùng rợn, rồi cuối cùng lang thang đến đúng địa ngục gông cùm năm xưa. Lần nầy Thủ Huồng rất bình tĩnh, ông chào viên cai ngục rồi vui vẻ lên tiếng : “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát! Xin chào Oâng. Oâng còn nhớ tôi không?”. Viên cai ngục đáp : “Dĩ nhiên là nhớ. Anh còn thắc mắc điều chi mà lò dò đến đây?”. Thủ Huồng trả lời : “Tôi muốn xem lại cái gông to lớn năm xưa để biết hình dạng nó giờ đây đã thay đổi như thế nào?”. Viên cai ngục lắc đầu ra vẻ ngạc nhiên : “Lạ quá anh ạ! Chẳng biết thằng cha Võ thủ Hoằøng đó đã ăn năn sám hối ăn hiền ở lành như thế nào, mà cái gông đó teo nhỏ dần. Anh hãy nhìn xem kià! Nó nhỏ xíu, và có lẽ sắp biến dạng đến nơi rồi… ”. Thủ Huồng mĩm cười đáp : “Thú thật với ông cai, Võ thủ Hoằøng chính là tôi đây. Từ ngày quy ngưỡng Bồ Tát Địa Tạng, tỏ tường lý nhân duyên, tôi đã phát lồ sám hối, thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành… chỉ mong chuộc lại lỗi lầm năm xưa mà thôi. Tôi hi vọng sẽ không phải theo nghiệp dữ mà đến đây mang gông mang cùm làm bận rộn cho quí ông. Xin cám ơn ông và xin chào ông.” Trở về trần thế, Thủ Huồng bền bĩ tiếp tục hạnh nguyện cứu giúp kẻ bần cùng. Ngoài ra, ông còn bỏ tiền ra đắp đường, vét sông rạch, xây cầu, dựng bè xây nhà ngay ngã ba sông Đồng Nai và Saigon cho thuyền nhân qua lại có chỗ tạm trú chờ con nước thuận. Những năm cuối cùng của cuộc đời, ông gom hết tài sản còn lại, xây dựng ngôi chùa Chúc Thọ dâng lên hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, rồi thanh thản từ giã cõi đời, ra đi không vướng bận một đồng xu ten dính túi. Tuy vậy, sự nghiệp của ông : ngôi chùa Chúc Thọ, con rạch, cầu đá, con đường lô… vẫn còn tồn tại cho người đời sau hưởng dụng, riêng cái “nhà bè” dầu dấu vết đã biến mất mà địa danh Nhà Bè vẫn còn phảng phất trong câu hát điệu hò : “Nhà Bè nước chảy chia đôi. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về… ” Trong khi làm lễ tống táng Thủ Huồng, hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc muốn lưu lại sự tích đặc biệt của người Phật tử nầy nên có biên mấy chữ son trên lòng bàn tay phải của ông tạ Mười mấy năm sau, vua Đạo Quang nhà Thanh cho sứ giả sang Việt Nam yêu cầu triều đình Huế dò la tung tích Thủ Hoằng, vì trên lòng bàn tay của một hoàng tử khi sanh ra có hàng chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Sau khi truy tầm được, vua Đạo Quang có gởi tặng chùa Chúc Thọ ba tượng Phật bằng gỗ trầm hương và bia đá ghi lại sự tích, mà đến ngày nay vẫn còn lưu giữ tại chùa. Từ thuở thiếu thời, sự tích nầy đã gây ảnh hưởng rất sâu đậm trong lòng tôi. Tôi thành tâm ngưỡng mộ Bồ Tát Địa Tạng, vẫn dặn lòng phải luôn luôn tự soi sáng hành động mình bằng lý nhân duyên, nhờ vậy đến từng tuổi nầy, khi có dịp nhìn lại quãng đời qua, tôi rất mừng rằng mình đã không đến nỗi gây ra những ác nghiệp nặng nề.Phương vừa chấm dứt câu chuyện, thì Luân liền lên tiếng :- Tôi phục vụ tại tiểu khu Biên Hòa đến sáu năm, vậy mà không có duyên để biết câu chuyện Thủ Huồng. Tiếc thật! Không may mắn như anh Phương, nhân duyên hướng dẫn tôi đến với Bồ Tát Địa Tạng trễ lắm. Nguyên tôi vốn chẳng quan tâm mấy đến những vấn đề liên hệ tôn giáo, mãi đến khi đi học tập cải tạo mỏi mòn hơn bảy năm trời, nổi khổ đau chất ngất đến độ muốn quyên sinh cho nhẹ nợ trần thì bất ngờ tôi nhận được quyển kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện. Trong một chuyến thăm nuôi, bỗng dưng bà xã liều lĩnh mang quyển kinh dấu trong giỏ thực phẩm trao cho tôi, dặn dò nhớ tụng niệm để được Bồ Tát gia hộ mà thoát khổ. Như hai anh cũng biết, họ kiểm soát cẩn mật lắm, kinh sách là loại cấm kỵ, họ mà khám phá thì bị tống vào chuồng cọp chớ chẳng chơi, vậy mà qua hai lần lục lạo móc moi không sót chỗ nào, họ vẫn không thấy được quyển kinh. Sự kiện nhiệm mầu đó là động cơ thúc đẩy tôi đọc tụng tìm hiểu từng lời kinh, và chỉ trong thời gian ngắn đã chuyển biến con người không có niềm tin Trời Phật như tôi, thành kẻ biết quy kính Tam Bảo chân thành học Phật tu thân. Thật vậy, ngay khi vừa mới đọc tụng kệ khai kinh, xướng lên hạnh nguyện của Bồ Tát : “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ Đề” thì tôi đã xúc động run rẩy, nước mắt ngập tràn. Thân phận tội tù của chúng mình là đối tượng cho người ta hành hạ thể xác lẫn tinh thần, mình bơ vơ, lạc lõng chẳng còn chút niềm tin. Bây giờ, mình được trao cho niềm tin, mình có nơi nương tựa, mình hiểu rõ rằng, dù có bị đọa đầy ở chốn địa ngục tàn khốc như thế nào, thì Bồ Tát Địa Tạng cũng đến tận nơi để cứu độ mình. Ý nghĩ Bồ Tát luôn luôn kề cận bên mình thật là kỳ diệu. Từ đó, dù là lúc lên rừng đốn cây hay làm tạp dịch quanh trại, mỗi khi nghe tiếng chim hót, thấy con bướm nhởn nhơ, một đóa hoa dại hé nở, một cụm mây bay… tôi đều có cảm giác như Bồ Tát đang hiện hữu dưới hình dáng đó để an ủi tôi, để chở che đùm bọc tôi. Nhờ vậy, tôi cảm thấy lòng mình an vui thanh thản lạ thường, nỗi niềm khổ đau, thù hận không còn dày dò nữa, có thể nói, tuy thân xác vẫn ở tù mà tâm thì đã thơi thới không bị buộc ràng. Hằng ngày tôi âm thầm tụng kinh, đi đứng làm lụng tôi niệm danh hiệu của Ngài, nên không có thời giờ trống trải để vớ vẩn âu lo, thậm chí tôi cũng không quan tâm đến chuyện về hay ở nữa. Càng tụng kinh tôi càng ý thức rằng cái quả khổ đau ngày nay tôi gánh chịu là do cái nhân bất thiện mà tôi đã gây ra, nên tôi chân thành sám hối, nguyện sửa đổi lỗi lầm, tránh làm điều ác, siêng làm việc lành. Đúng ba tháng sau thì tôi được trả tự dọ Trước khi rời trại tôi bàn giao quyển kinh cho Thiếu Tá Cử, nguyên trưởng Phòng ba, tiểu khu Bình Dương và anh Cử cũng được về nhà trong vòng 6 tháng. Người ngoài có thể cho sự kiện trên chỉ là một sự trùng hợp, nhưng riêng tôi, tôi tin tưởng là có sự cảm ứng nhiệm mầu, và Bồ Tát Địa Tạng đã gia hộ cho tôi. Từ đó đến nay, lòng tôi lúc nào cũng hướng về Ngài để thành tâm quy ngưỡng, và nương tựa Ngài mà tinh tấn tu sửa thân tâm. Khi tham gia chuyến hành hương tứ đại danh sơn, dĩ nhiên ưu tiên của tôi là chiêm bái thánh địa của Ngài. Tôi thao thức mong đợi từng giây từng phút nên ngày đầu tiên đến thánh địa trời sụp tối không chiêm bái liền được, tôi trằn trọc suốt đêm không ngủ. Liên tiếp hai ngày sau, tôi theo phái đoàn chân thành chiêm bái khắp nơi : Hồi Hương Các, Vạn Niên tự, Kỳ Viên tự, Đại Nguyện tự, Địa Tạng thiền tự, và Nhục Thân bảo điện, nơi nào cũng trang nghiêm hùng vĩ, và nơi nào tôi cũng xúc động với cảm giác là Bồ Tát Địa Tạng vẫn hằng hiện hữu đâu đây. Điểm đặc biệt là trong khi chiêm ngưỡng nhục thân bất hoại của Ngài Vô Hàø tại chùa Vạn Niên và Ngài Từ Minh tại chùa Địa Tạng, tôi cảm thấy vừa hân hoan vừa thương cảm, nước mắt ràn rụa như trẻ thơ gặp mẹ vì tôi tin tưởng chắc chắn rằng nếu như tôi dõng mãnh tinh tấn tu tập thì tôi cũng sẽ gần gũi với Bồ Tát Địa Tạng như những vị nầy.Thanh gật gù ra vẻ tán đồng, rồi chậm rãi lên tiếng :- Hai anh đều sẵn có nhân duyên lớn với Bồ Tát Địa Tạng, còn phần tôi, thú thiệt rằng phải nhờ chuyến hành hương nầy tôi mới am hiểu sơ lược về Ngài, dầu vậy, tôi cũng cảm thấy mình được chuyển hóa nhiều lắm. Tuy nhiên, chuyện của tôi là chuyện tình cảm riêng tư vụn vặt, chẳng cao sâu hay hào hứng đặc biệt gì cả, nên tôi xin hai anh cho được miễn trình bày nhé?Luân phản đối tức khắc :- Đâu có chuyện kỳ cục vậy Thanh! Tụi mình đã hẹn với nhau thì phải làm theo đúng lời hứa chứ. Vả lại, mình là dân nhà binh mà, phải thi hành trước rồi mới được khiếu nại sau, anh đâu thể viện lý do nầy kia để tránh né như vậy được!Phương cũng kỳ kèo :- Đối với anh em mình thì đâu có chuyện riêng tư nào phải giữ kín anh Thanh! Vả chăng chuyện đạo mà đem áp dụng vào cuộïc đời mới có giá trị thực tiển để học hỏi chớ. Xin anh trình bày cái suy tư hay tâm tình của anh về Bồ Tát Địa Tạng hầu anh em tùy nghi rút tỉa kinh nghiệm mà tu tập. Tôi tin chắc câu chuyện sống thực của anh sẽ mang lợi lạc cho tôi nhiều lắm!- Hai anh nhứt quyết đòi nghe thì tôi đành phải vâng lời thôi! Thú thật với hai anh là vợ chồng tôi tuy bề ngoài sống rất ư là hạnh phúc, nhưng thật ra thì tôi cũng có nỗi khổ tâm riêng, thậm chí đôi khi tôi có cảm giác bứt rứt như mình bị tù hãm vậy, đây chính là lý do đã đưa tôi tìm về suối nguồn Phật giáo làm nơi nương tựa.Thanh ngừng lại, buồn hiu buông tiếng thở dài, khiến cho Phương và Luân đâm ra ái ngại. Họ thật lòng chỉ muốn nài ép Thanh kể chuyện cho vui không ngờ vô tình lại khơi dậy nổi khổ thầm kín trong lòng bạn, nên vội vã lựa lời an ủi. Luân lên tiếng :- Đừng buồn Thanh ạ! trời đất còn có khi mưa khi nắng, thì tình vợ chồng sao chẳng có lúc mặn nồng khi lại đắng caỵ Hoàn cảnh tôi nào có khác chi hoàn cảnh anh. Tuổi đời chồng chất, thân thể bệnh hoạn, bà xã tôi dễ sanh cau có, quạu quọ ngay cả với những chuyện vu vợ Con cái đều ra riêng, quanh đi quẩn lại trong nhà chỉ có hai vợ chồng già hủ hỉ, nên dĩ nhiên tôi phải lãnh trọn vẹn những tiếng cằn nhằn của bả. Hai anh nghĩ coi, suốt ngày tôi cứ bị cái âm điệu khàn khàn dai dẳng xoáy vào lỗ nhĩ hoài nhức nhối buốt óc, buốt tim thì làm sao chịu đựng nỗi, có lúc, tôi muốn phát điên lên được. Lần đó bả gọi tôi ra ăn cơm, tôi mê đọc sách ra trễ chừng năm phút thì thấy mặt mày bả đã chầm dầm, rồi bả lại bắt đầu mở máy nói khiến tôi nóng mặt nuốt cơm chẳng trôi. Bỗng nhiên tôi nhớ lại thuở ban đầu xa xưa ấy, tôi thường ham vui với bè bạn về trễ, có khi để người vợ trẻ phải chờ cơm đói meo cả mấy tiếng đồng hồ, thế mà nàng chỉ buồn buồn chớ không trách tôi một lời. Lúc đó tôi chỉ cần nựng nàng rồi an ủi một câu : “Tội nghiệp em cưng! anh về trễ làm cho em phải chờ cơm! thương quá là thương!”, thì nàng đã đổi buồn thành vui, ríu rít bên tôi như con chim sơn ca rồi. Tôi liền tự hỏi còn bây giờ thì sao? Tôi nhìn kỹ bả. Oâi, người con gái duyên dáng tràn đầy nhựa sống năm xưa đã biến thành già nua lụm cụm, bả tàn tạ thảm thương, bả bệnh hoạn mệt mỏi rã rời, thảo nào bả chẳng dễ sanh phiền muộn. Phần tôi, tôi cũng khô cằn còm cõi, tôi đâu còn tươi mát tán tỉnh cợt nhã với bả ngọt ngào như xưa, thành thử đời sống vợ chồng đâm ra lê thê buồn nãn. Bỗng dưng tôi nghĩ không phải chỉ cái thời gian mà chính tôi và lũ con tôi cũng là những nguyên nhân lớn đã tàn phá con người bả. Cả đời bả ăn không no ngủ không yên, dành hết thời giờ tẩn mẩn chăm sóc chồng con từng miếng ăn, từ cái mặc, rồi đến khi tôi lâm cảnh lao lung, một mình bả phải tảo tần ngược xuôi trăm cay ngàn đắng kiếm sống, lại còn phải gian nan lặn lội thăm nuôi chồng tại những trại tập trung heo hút. Tình thương vợ bỗng dâng tràn, tôi vuốt mấy sợi tóc bạc lòa xòa trên trán bả, âu yếm nói : “Oâi! thương làm sao á! em suốt đời chăm lo săn sóc chồng, mà anh hư quá để em chờ đợi cơm canh nguội lạnh! tội nghiệp em cưng quá!” Đang hờn giận nhau, chúng tôi cảm thấy thương nhau hơn bao giờ hết, vì vậy, từ dạo đó, tôi thường lưu ý bả, chăm sóc đùa giỡn với bả như thời trẻ trung nhờ vậy chuỗi ngày già đỡ tẻ nhạt, và tình nghĩa vợ chồng lại dào dạt đầm ấm như xưa.Phương cũng góp ý :- Đúng như anh Luân nhận xét. Bọn đàn ông chúng mình, thời trẻ trung thường hào hoa phong nhã, biết săn sóc tán tỉnh vợ, thỏ thẻ những lời âu yếm nồng nàn, nhưng đến khi lớn tuổi rồi thì lại “quá đứng đắn” thành thử đời sống vợ chồng lợt lạt dần, đến nỗi khi chuyện gối chăn thưa thớt, con cái có đời sống riêng tư thì hai vợ chồng già lủi thủi chán chường, trơ mắt nhìn nhau khô khan tình cảm. Họ gượng gạo sống bên nhau mà chẳng chút niềm vui, thì có khác gì là đang sống trong địa ngục. Tại sao những người già không có thể nói những lời thiết tha âu yếm với nhau như thời trẻ để làm gia vị thêm cho đời sống vợ chồng, tôi nghĩ “mụ vợ già” cũng có nhu cầu và có quyền được chồng tán tỉnh, cợt nhã như thời còn là người vợ trẻ phải không hai anh?Thanh bỗng tũm tĩm mĩm cười lên tiếng :- Khâm phục! khâm phục lắm! Ý kiến của hai anh thực tiển vô cùng, tôi sẽ lưu ý áp dụng để có thêm lợi lạc, ngặt một điều là trường hợp vợ chồng tôi lại không giống hoàn cảnh kẻ khác. Lý do là chuyện trục trặc của chúng tôi xảy ra chẳng qua chỉ vì bà xã tôi thương tôi quá mức, săn sóc tôi kỹ quá nên tôi cảm thấy tù túng mà thôi… Luân cướp lời :- Vậy mà anh làm người ta tưởng anh bị vợ hành hạ chớ! Anh làm tụi tôi lo lắng tìm lời phân giải để anh cười chơi phải không?Phương cũng trách :- Đúng là gừøng càng già càng cay, anh càng già càng độc, tôi bị anh giăng bẫy sụp hoài, mà lần nầy vẫn hấp tấp nên lại rơi vào tròng.- Hì! hì! coi kìa! tự hai anh hiểu lầm chớ tôi nào mở miệng oán trách bà xã câu nào đâu? Còn chuyện được thương quá mức, được săn sóc quá mức thì cũng bị ngột ngạt tù túng chứ! Người ta nói bị nhốt trong nhà đá, lò giam sắt, trong tháp ngà hay trong vòng tay âu yếm cũng đều là ở tù kia mà! Đúng ra, phải nói tình thương của bả mang tính chất chiếm hữu nên dính mắc và độc tài. Bả quá sức thương tôi mà độc tài thành thử tôi bị ràng buộc mất hết tự do, ngay việc tu tập cũng bị ngăn trở nữa. Phần bả tuy phát nguyện Niệm Phật để vãng sanh cõi Tây Phương Tịnh Độ mà vướng mắc bi lụy thì làm sao thành công cho được. Tôi nghĩ vợ chồng chúng tôi phải học lối thương yêu theo tinh thần từ bi hỷ xả của chư Bồ Tát thì mới không gây phiền não cho nhau, và đó là lý do chúng tôi tham gia chuyến hành hương nầy. Tôi chỉ nhập đề thôi mà… Phương cười xuề xòa lên tiếng :- Thôi anh khỏi ngụy biện nữa, tôi đồng ý là anh chỉ mới nhập đề thôi, vậy xin anh hãy đi thẳng vào chuyện Cửu Hoa sơn cho rồi, kẻo hai đứa tôi ngóng chờ hoài, cái cổ đã dài nhằng mà vẫn còn được nghe được đây nè!- Hì hì! Chuyện như thế nầy đây : Trước ngày hành hương, tôi có nghiên cứu sử liệu về bốn đại danh sơn, thì được biết tại ba đại danh sơn kia, Bồ Tát Văn Thù đã hiển thánh xuất hiện tại Ngũ Đài, Bồ Tát Phổ Hiền tại Nga Mi và Bồ Tát Quán Thế Âm tại Phổ Đà, sự tích rất rõ ràng, nhưng riêng Cửu Hoa sơn thì không điển tích nào kể lại sự xuất hiện của Ngài Địa Tạng cả. Cửu Hoa sơn, đúng ra chỉ là đạo tràng của vị thánh tăng tục danh Kim kiều Giác. Ngài nguyên là hoàng tử nước Cao Ly, xuất gia rồi vượt biển sang Trung Quốc ẩn tu tại một ngôi am cổ trên ngọn Phù Dung. Đức hạnh của Ngài không lâu đã vang lừng khắp huyện Thanh Dương, rồi lan rộng đến kinh độ Vua Đường hâm mộ Ngài nên đã truyền xuất công quỷ lập ngôi chùa “Hóa Thành” để Ngài có nơi rộng rãi hoằng dương Phật Pháp. Ngài an nhiên thị tịch năm 99 tuổi, đệ tử theo di huấn đặt nhục thân Ngài trong chum. Ba năm sau mở chum, nhục thân Ngài không hư rữa mà vẫn tươi như lúc sống, lại thoang thoảng mùi hương. Khi nhấc nhục thân ra khỏi chum, thì bỗng nghe phát ra tiếng khua tợ như chuỗi xích vàng rung chuyển. Do hiện tượng nầy, người đời sau tin tưởng Ngài là một ứng hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng và tôn xưng Ngài là Kim Địa Tạng. Tóm lại, tôi thầm nghĩ dù sao Cửu Hoa cũng không có sự hiển thánh nên tôi khó tin tưởng đây là một linh địa ngang hàng với Ngũ Đài, Nga Mi và Phổ Đà. Thế nhưng ngay đêm đầu tiên tại đây, vừa chợp mắt tôi chiêm bao thấy mình phủ phục lễ lạy tượng Bồ Tát Địa Tạng, khi tôi đứng dậy thì lạ lùng thay, trước mắt tôi không là một pho tượng đơn độc nữa, mà là một pháp hội vĩ đại có vô số Bồ Tát Địa Tạng tề tựu. Tôi đang ngây ngất chiêm ngưỡng pháp hội kỳ diệu đó thì giật mình tỉnh dậy trong niềm an lạc vô biên tràn ngập. Trạng thái kỳ diệu nầy vẫn tiếp tục miên man trong lòng tôi trong suốt hai ngày hành hương chiêm bái, nhất là trong khi nghe thầy giảng giải về sự tích Ngài Vô Hà tại cung Bách Tuế, chùa Vạn Niên. Nguyên sư Vô Hà đã tìm đến Cửu Hoa với hoài bảo chiêm bái chân thân Ngài Kim Địa Tạng nhưng vào thời buổi loạn lạc, cảnh Phật điêu tàn, sư không thể truy tầm dấu vết chân thân Ngài Kim Địa Tạng được. Thế rồi sư ở lại ẩn tu cho đến khi viên tịch năm vào năm 110 tuổi và cũng để lại một nhục thân bất hoại như người xưa. Lúc đó, tôi bỗng rung động ràn rụa nước mắt nghĩ rằng Ngài Vô Hà không gặp mà đã gặp. Ngài không thấy chân thân người xưa nhưng đã thực sự gặp Bồ Tát Địa Tạng bằng chính hạnh nguyện tu tập của Ngài. Thế rồi, tôi bỗng liên tưởng đến giấc chiêm bao về pháp hội hiện diện vô số Bồ Tát Địa Tạng, và trực nhận ra một điều là bất cứ ai mà có đồng hạnh nguyện với Địa Tạng Vương Bồ Tát, thì cũng đều là hiện thân của Bồ Tát Địa Tạng cả. Tôi thầm nhủ : “Vậy thì, các vị thánh tăng Kim kiều Giác, Vô Hà, Từ Minh… không phải đều là những Bồ tát Địa Tạng sao? hà huống mình phải nhọc lòng sưu tầm sự tích hiển thánh khác chi nữa?” Trong giây phút xuất thần đó, tôi bỗng xúc động quì xuống, chấp tay phát nguyện : “Kính lạy Đức Bồ Tát Địa Tạng. Con xin học hạnh nguyện của Ngài. Con nguyện sẽ tinh tấn tu tập để làm sáng tỏ tâm Địa Tạng nơi con, hầu con có thể hội đủ dũng lực để mang ánh sáng của Đạo Pháp đến với những kẻ đang sống trong tăm tối của tội lỗi, trong tù ngục của ngu dốt, hận thù, kỳ thi… Kính xin Bồ Tát gia bị cho con”… Phương nức nở khen ngợi :- Suy tư của anh về tự tánh Địa Tạng thật là đặc biệt! nếu ai mà quay về với tự tánh Địa Tạng thì tự thân người đó là một Địa Tạng, tự thân người đó đã “Vung tích trượng mở toang cửa địa ngục” mà chính họ đã xây rồi.Luân cũng vỗ tay tán thưởng : – Hoan hô Thanh! Tôi cũng xin bắt chước anh, nguyện sẽ tinh tấn tu tập để làm sáng tỏ tâm Địa Tạng trong tôi!

Chú thích:

(1) Sự tích Thủ Huồng và chùa Chúc Thọ được truyền tụng trong dân gian và có ghi lại trong Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí của Trịnh hoài Đức và nhiều sử liệu khác. Các giai thoại Thủ Huồng về đại cương tương đối giống nhau, nhưng về cách thức mà Thủ Huồng đã viếng địa ngục thì có ít nhất là ba thuyết khác biệt : ạ Thủ Huồng được Hà Bá sông Đồng Nai đưa đi b. Thủ Huồng được đồng cốt tại chợ Mãnh Ma, Phan Rang đưa đi gặp vợ đã chết. Vợ Thủ Huồng đang làm thị nữ cung Diêm Vương, vận động xin cho chồng giấy phép thăm viếng các địa ngục và c. thuyết đã ghi trong tập truyện nầy.(2) Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (1725-1821) : sư là đệ tử xuất sắc của hòa thượng Thành Đẳng Minh Lượng, chùa Đại Giác, dinh Trấn Biên. Sư đã tiên phong đi theo di dân vào huyện Tân Bình, Gia Định, lập chùa Từ Ân hoằng hóa, sau đó, đã kiêm nhiệm trụ trì luôn cả chùa Khải Tường, Gia Định và chùa Đại Giác, Đồng Nai. Sư là vị đạo đức cao tăng bực nhất miền Nam vào cuối thế kỹ thứ 18, đã đào tạo nhiều bậc tăng tài xuất chúng như : 1. Thiền sư Tổ Aán Mật Hoàng(1735-1835), trụ trì chùa Đại Giác, được vua Gia Long triệu thỉnh làm tăng cang chùa Thiên Mụ, sau trụ trì chùa Quốc Ân, Huế 2. Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, được vua triệu thỉnh làm tăng cang chùa Thiên Mụ 3. Thiền sư Tổ Tông Viên Quang(?-1828), trụ trì chùa Giác Lâm, khai sơn chùa Giác Viên 4. Thiền sư Tổ Đạt Trí Tâm, trụ trì các chùa chùa Khải Tường, Gia Định, chùa Long Thạnh, Bà Hom và chùa Chúc Thọ, Đồng Nai.(3) Tượng Bồ Tát Địa Tạng phổ biến nhất là tượng Bồ Tát trong dáng xuất gia, cạo đầu, mặc áo ca sa, tay mặt cầm tích trượng có mười hai khoen, tay trái nâng hạt minh châu, ngồi trên lưng bạch khuyển tên Đế Thính (cũng còn gọi là linh khuyển tên Thiện Thính hoặc Đề Thính). Tượng Bồ Tát Địa Tạng tạc phảng phất theo hình dáng của Ngài Kim kiều Giác (giống như trường hợp tượng Bồ Tát Di Lạc tạc theo Ngài Bố Đại hòa thượng), với những thâm nghĩa như sau :- đầu tròn áo vuông là hình ảnh giải thoát, muốn giải thoát khỏi địa ngục thì phải dấn thân tu tập như một tu sĩ.- hạt minh châu tượng trưng cho trí huệ. Trí huệ bừng nở thì vô minh tan biến, cũng như ánh sáng chói rọi thì bóng tối không còn nữa. Do phát triển trí huệ hành giả mới đón nhận được chánh pháp để dấn thân tu tập.- tích trượng có 12 khoen tượng trưng cho giáo lý 12 nhân duyên. Giáo lý căn bản để phá địa ngục là giáo lý nhân duyên, thâm nhập giáo lý nầy thì không còn gieo ác nghiệp nữa thì làm sao bị đọa xuống địa ngục.- Bạch khuyển (con chó trắng tức trung tín nơi thiện pháp) Đế Thính (nghe chân thật) : tượng trưng lòng trung kiên thấy nghe pháp chân thật để phát triển thiện nghiệp.Tinh thần tự lực thể hiện rất rõ rệt qua hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, theo đó thì chính hành giả phải tự mình nâng hạt minh châu trí tuệ, vung tích trượng mười hai nhân duyên để phá tan cái địa ngục do chính mình đã xây cho mình.(4) Địa ngục chưa trống không, quyết chẳng thành phật. Độ hết thảy chúng sanh, mới chứng quả Bồ Đề.(5) Vạn niên tự (Bách Tuế cung) : Ngài Vô Hà, pháp danh Hải Ngọc, sanh năm 1513, xuất gia năm 24 tuổi tại Ngũ Đài, sau đó đến Nga Mi tu tập cho đến năm 1573, Ngài đến Ma Không Lãnh, Cửu Hoa sơn dựng am tu tập, dân chúng gọi đó là am Trích Tinh. Ngài chỉ dùng trái cây, uống nước suối (không dùng thức ăn nấu nướng) và không xuống núi. Hòa thượng nghiêm trì tu tập, hàng ngày tự cắt đầu ngón tay lấy máu sao chép bộ Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm kinh liên tục trong 28 năm, mới hoàn tất. (Bộ huyết kinh nầy vẫn còn tồn tại và được lưu giữ tại Nội Quán Văn Vật Lịch Sử Cửu Hoa sơn). Ngài viên tịch năm 1623 (110 tuổi), ba năm sau, đệ tử theo di huấn của Ngài mở hàng ra thấy di thể của Ngài vẫn nguyên vẹn như xưa. Nhục thân Ngài được tôn trí lên điện thờ, được tô vàng phủ lên, nên gọi làm Kim tượng. Để đáp ứng nhu cầu lễ bái cho số lượng đông đảo Phật tử, một ngôi chùa khang trang, mang danh hiệu Vạn Niên tự đã được xây dựng thay cho ngôi am nhỏ. Sau đó, vua Minh Sùng Trinh sắc phong Ngài Ưùng Thân Bồ Tát, ban hiệu Bách Tuế cung thay cho tên am Trích Tinh cũ.(6) Phỏng dịch từ câu : “Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn”, trong bài tựa Xưng tán Bồ Tát Địa Tạng.

Nam mô A Di Đà Phật

v/v Lời Kêu Gọi Ủng Hộ, Trợ Duyên Ấn Tống Máy Nghe Pháp Âm Tịnh Độ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

- Kính thưa quý Phật tử, thiện hữu tri thức!

"Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài; tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể dự vào trong số ấy. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được thoát khỏi luân hồi; ngay trong một đời này chắc chắn lên cõi Phật. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, bỏ pháp môn này làm sao yên được?"

Lời dạy trên của tổ Ấn Quang quả thật là kim chỉ nam là chỗ nương tựa cho hàng hậu học chúng ta. Ở thời buổi mạt pháp nếu không nương vào Pháp môn Niệm Phật Đới Nghiệp Vãng Sanh thì lấy gì để ra ngoài sanh tử? Trong Đại Tạng Kinh có rất nhiều Kinh Tạng và Luận Tạng đã nói về sự lợi ích của Pháp niệm Phật, là phương tiện thuyền từ qua sông sanh tử. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng thích hợp, bởi vì sao? Vì chưa gieo trồng được thiện căn nên không những không phát lòng Tin tuyệt đối vào Pháp môn phương tiện này của Chư Phật. Nghiệp thì dầy phước mỏng hầu hết ưa chuộng theo những thứ tà thuyết sai trái, không hiểu và nhận được rõ ràng đối với Pháp môn Tịnh Độ. Dù có thực hành nhưng không hiểu cốt lỗi, tôn chỉ của pháp môn nên thực hành không đúng như lời Phật, Tổ dạy. Còn hơn thế, vì không hiểu rõ ràng để có đủ lòng tin nơi pháp môn của mình đang tu học, sanh tâm thối lui đối với phát tâm ban đầu, trước những lời bày xích ở một nhóm người.

Một pháp môn mà ngay cả từ miệng vàng của Đức Thế Tôn còn phải bảo rằng: "Ta có thể ở trong đời đủ năm món trược thực hành tu tập để thành Bậc Vô Thượng Chánh Giác còn dễ hơn là nói ra pháp môn khó tin này (nan tín chi pháp)" (trích lược ý Kinh A Di Đà).

Chúng tôi với tâm nguyện hoằng truyền những lời dạy của Phật, Tổ để lợi ích cho mọi người nên tuyển tập hết tất cả những lời dạy, khai thị, thiển giải vô vàng quý giá, thành một tập để Ấn tống trong chương trình Ấn Tống Pháp Âm Tịnh Độ trước là để gieo duyên đến với những ai chưa có đủ duyên lành biết đến pháp môn này, và khai sáng trên bước đường tu học theo tông chỉ của bổn môn qua những Kinh Tạng nói về Pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là chúng tôi trích tất cả những lá thư gởi, trả lời của tổ Ấn Quang dạy, khai thị cho người hậu học đang trên đường tu học.

Nhận thấy những nơi vùng sâu vùng xa không hội đủ phương tiện, truyền thông, internet để có thể nghe được lời vàng của bậc tổ sư trong bổn môn, được quý thầy ở những nơi vùng sâu vùng xa khuyến tấn và số đông Phật tử ngỏ ý là nên làm gì đó tạo duyên lớn cho hàng Phật tử ở nơi đây được nghe đến những lời quý báu của bậc chân tu thạc đức, hầu vững bước trên đường tu học, nương vào đại nguyện, đủ ba thứ tư lương, Tín-Hạnh-Nguyện mà thoát vòng sanh tử triền miên. Nên chúng tôi xin tha thiết kêu gọi chư thiện hữu, Phật tử đạo hữu gần xa, những ai có tâm hoan hỷ cùng chung chí hướng lợi mình hữu ích cho người cùng chung tay trợ duyên cho việc ấn tống máy nghe Pháp Âm Tịnh Độ.

Pháp Âm Tịnh Độ gồm có những Kinh và sách về pháp môn này, và những bộ luận nói về Nhân Quả, mà nổi bật nhất là quyển Pháp Uyển Châu Lâm của pháp sư Đạo Thế, sách này được tổ Ấn Quang nhiều lần khuyên nên đọc*. Chúng tôi cũng trích ghi âm hết tất cả các Thư Gởi và Thư Đáp ** của tổ Ấn Quang để làm kim chỉ nam trong đường tu qua lời khai thị, dạy của tổ trong tông môn.

Mong quý đạo hữu hoan hỷ giúp chúng tôi tạo duyên lành, gieo trồng thiện căn với Pháp môn mà chư Phật trong ba đời khắp mười Phương đều hộ niệm, hầu lợi ích cho mỗi chúng sanh, bằng cách khuyên tấn, giải thích cho con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, bạn bè v.v.... hoan hỷ cùng chung đóng góp vào việc làm đầy ý nghĩa này, Bằng cách đóng góp đôi chút tịnh tài, 5 hoặc 10 ngàn cũng là trân quý vô cùng. Nếu bản thân của mỗi người có thể hiểu ý nghĩa qua việc làm này phát tâm hoan hỷ, cùng chung tay lăn chuyển bánh xe Pháp với tâm không nhiễm trước, trên tinh thần lợi mình lợi người tam luân thể không (tam luân không tịch ***) thì phước báu của việc làm này không thể so sánh được.

Nguyện do công đức này, tiêu trừ túc hiện nghiệp, tăng trưởng các phước huệ, viên thành thắng thiện căn, tất cả kiếp đao binh, các nạn như đói kém, thảy đều tiêu trừ sạch, ai nấy tập lễ, nhượng. Hết thảy người nghe kẻ thấy đồng sanh tâm hoan hỷ cùng người trợ duyên mỗi người đều gieo trồng dầy thiện căn trong pháp môn Tịnh Độ, thấm nhuần chánh pháp đồng trang nghiêm cõi Phật, đồng vãng sanh Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật!

Trân trọng,

Ban biên tập Tạng Thư Phật Học
https://tangthuphathoc.net

Ngày 14 tháng 09 năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 (nhằm ngày 22 tháng 10 năm 2018)

https://tangthuphathoc.net/thu-van-dong-tro-duyen-an-tong-may-nghe-phap-am-tinh-do/

Thanks for signing up. You must confirm your email address before we can send you. Please check your email and follow the instructions.
Chúng tôi tôn trọng sự riêng tư của bạn. Thông tin của bạn được an toàn và sẽ không bao giờ được chia sẻ.
Nam mô A Di Đà Phật!
×
×