Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Đôi Lời Vể Quyển Tuyển Trạch Tập

Thích Giác Quả

Lời Nói Đầu

Quyển “ Tuyển Trạch Tập” nói đủ là “Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập” (Lựa chọn pháp Niệm Phật đúng Bổn nguyện đức Phật Di Đà) mà quý vị đang cầm trên tay là tác phẩm quan trọng nhất của Pháp Nhiên thượng nhân nói riêng và tông Tịnh Độ nói chung, do Pháp sư Huệ Tịnh biên đính. Thượng nhân là vị sơ Tổ khai sáng tông Tịnh Độ Phật giáo Nhật Bản vào thế kỷ XII TL.

Ý nghĩa tên sách đã hàm ẩn nội dung của tác phẩm. Đại để, tác phẩm giới thiệu con đường tu tập nương vào tha lực duy nhất trong Phật giáo, hành giả cần phải tin tưởng tuyệt đối vào Bổn nguyện của đức Phật Di Đà, và thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu của đức Phật, ngoài ra không tu thêm bất cứ một pháp nào, mới khế hợp Bổn nguyện của Ngài, thực hiện được như thế thì chắc chắn được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thoát ly sanh tử, chứng Bất thối chuyển. Đây là con đường tất yếu ra khỏi sanh tử trong thời đại hiện nay cho những ai muốn thoát ly đau khổ tam giới.

Để xác minh pháp tu thuần nhất chủ yếu này, Thượng nhân đã căn cứ vào một số Kinh Luận căn bản của tông Tịnh Độ, đó là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà; một số tác phẩm của Đại sư Thiện Đạo như Quán Kinh Sớ, Quán Niệm Pháp Môn, Vãng Sanh Lễ Tán và An Lạc Tập của Đại sư Đạo Xước,v.v… Với những tài liệu này, Thượng nhân đã hệ thống để phô diễn qua 16 chương, đại để với trình tự gồm các điểm chính sau:

– Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn: Toàn bộ giáo lý Phật giáo, Thượng nhân quy kết thành hai hệ, là Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn. Giáo lý chủ yếu của tông Tịnh Độ có ba Kinh, một Luận (kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà và luận Vãng Sanh); giáo lý của Thánh Đạo môn bao gồm tất cả Kinh-Luật-Luận còn lại. Tiếp đến, Thượng nhân xác định, thời Mạt pháp bây giờ tu theo giáo nghĩa của Thánh Đạo môn thì rất khó đạt được kết quả giải thoát sanh tử (Nan hành đạo); vì thế, hành giả cần buông bỏ các pháp khó tu ấy trở về tu theo Tịnh Độ môn, là pháp tu giản lược mà kết quả nhất định ra khỏi tử sanh (Dị hành đạo).

– Chánh hạnh và Tạp hạnh: Tiếp tục tuyển trạch, Thượng nhân quy kết Tịnh Độ môn thuộc Chánh hạnh, Thánh đạo môn thuộc Tạp hạnh, rồi xác định các pháp tu tập thuộc Tạp hạnh không phải giáo nghĩa của tông Tịnh Độ, và kết quả không bảo đảm được vãng sanh Cực Lạc; thế nên, hành giả cần từ bỏ Tạp hạnh, nhất hướng tu tập theo Chánh hạnh. Nội dung Chánh hạnh lại có hai mảng là Chánh nghiệp và Trợ nghiệp. Chánh nghiệp là chỉ thuần nhất trì niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà; về Trợ nghiệp là tu bốn pháp: Một là, tụng đọc ba Kinh một Luận căn bản của Tịnh độ; hai là, quán sát Chánh báo, Y báo của cõi Cực Lạc; ba là, chỉ lễ bái đức Phật A Di Đà; bốn là, chỉ tán thán, cúng dường đức Phật A Di Đà. Vẫn tuyển trạch tiếp, Thượng nhân trích dẫn các chứng cứ đưa đến xác định Trợ nghiệp không phải là Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà; thế nên, cần từ bỏ Trợ nghiệp, thuần nhất xưng niệm danh hiệu đức Phật gọi là Chánh nghiệp, có như vậy mới đích thực tương ứng với Bổn nguyện của Ngài.

Thuần nhất xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà là pháp tu hội đủ Ba tâm (Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm), hội đủ Bốn tu (Cung Kỉnh Tu, Vô Dư Tu, Vô Gián Tu, Trường Thời Tu), hội đủ Ba pháp (Tín, Nguyện, Hạnh); và có thể xác định, đây là pháp tu dung nhiếp hết thảy pháp tu của Thánh Đạo môn hay của Phật giáo; bởi lẽ, “A Di Đà Phật” là bản thể của chư Phật, là thực thể của Chánh pháp; chính thế, đức Thích Tôn mới phú chúc cho Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả A-nan bảo trì và phổ biến danh hiệu “A Di Đà Phật” cho hậu thế, Ngài còn đặc biệt lưu lại danh hiệu này 100 năm sau thời Mạt pháp, để độ thoát những người có duyên sau cùng, ra khỏi thế giới năm thứ ô trược, đầy dẫy mười điều ác dữ. Tóm lại, bất cứ hành giả nào thuần nhất niệm Phật A Di Đà, thì những hành giả ấy là người có nhiều thiện căn và luôn được hào quang của Ngài chiếu soi không gián đoạn, đến khi lâm chung sẽ được đức Phật Di Đà, Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí thân lâm tiếp dẫn về Cực Lạc. Nói cách khác, những hành giả này nhất định được vãng sanh, do vì đã được:

– Đức Phật Thích Ca xác minh,
– Đức Phật Di Đà xác minh,
– Mười phương chư Phật xác minh,
– Đại sư Thiện Đạo xác minh,
– Tín Tâm xác minh.

Với các điểm chính của nội dung vừa trình bày, đã được mười sáu chương của tác phẩm khai triển phong phú trong một cấu trúc nhất quán chặt chẽ, làm nổi bật giá trị và bản chất của pháp tu xưng niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” của tông Tịnh Độ, là thiết thực hiện tại và cao thâm. Đồng thời, qua các điểm căn bản trên cũng đủ tố chất để khẳng quyết với chúng ta rằng, đây là pháp tu duy nhất tương ứng căn cơ của hết thảy mọi người trong thời đại bây giờ, là thuyền bè sau rốt đưa người hữu duyên ra khỏi sanh tử ngay trong đời này. Tuy vậy, ở một góc độ khác, trong tác phẩm xem ra cũng có nhiều chương tác giả đi vào chi tiết quá xa, có thể gây khó khăn cho độc giả. Dù thế, người dịch vẫn giữ nguyên không dám tự ý cắt xén.

Tựu trung, để thấu suốt lời vàng ý ngọc mà Phật, Tổ đã dạy được sâu sắc hơn, để lòng tin được kiên cố hơn, kính mời quý vj hữu duyên trải bày tâm niệm không vướng mắc để đi thật chậm vào tác phẩm, từng dòng, từng chương và tinh tấn đi nhiều lần, thì chắc chắn đạt được đại lợi. Sau cùng, trong việc dịch thuật một tác phẩm quan trọng như quyển sách này, chắc chắn có nhiều sai lầm, kính xin các bậc cao minh hoan hỷ chỉ giáo và tha thứ. Nếu có chút công đức nào xin chân thành hồi hướng khắp pháp giới chúng sanh, nguyện cầu hết thảy thoát ly sanh tử, hội nhập Lạc bang, sớm thành Phật quả.
Chùa Hồng Đức – Mùa Phật Đản 2553
TK. Thích Giác Quả
Kính ghi.

LỜI TỰA

“Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập” nói gọn là “Tuyển Trạch Tập”, là nội dung được chắt lọc trong quyển thứ 83 của “Đại Chánh Đại Tạng Kinh”, tác giả là một vị Cao Tăng Nhật Bản cách đây đã 800 năm, đấy là Pháp Nhiên thượng nhân – Vị Tổ khai sáng tông Tịnh Độ (1133-1212).

Phật giáo Nhật Bản kể từ thời Pháp Nhiên thượng nhân trở về trước, dù đã có các tông phái Tiểu thừa, Đại thừa, nhưng vẫn chưa có tông Tịnh Độ, do vậy mà chẳng có giáo đồ Tịnh Độ; đồng thời, cũng vì thế mà chẳng có Kinh điển cụ thể nào xác lập về Chánh báo, Y báo của Tịnh Độ, cũng như giáo tướng chính xác để lý luận xây dựng ngôi nhà Tịnh Độ; do vậy, chẳng biết đạo lý nội dung vãng sanh như thế nào để tu tập. Tuy nhiên, bấy giờ những hành giả cầu nguyện vãng sanh về Tịnh Độ phương Tây không phải là ít, nhưng tất cả đều nương dựa vào giáo nghĩa của các tông phái và là môn hạ của các tông phái ấy, các hành giả này tu tập đan xen nhiều pháp, nhiều giáo nghĩa khác nhau, được gọi là “Ngụ tông” (Tông nương nhờ); đồng thời, mỗi tông phái dựa vào giáo lý của mình để xác lập một cõi Tịnh Độ của đức Phật Di Đà mỗi sai khác, do đây mà sự lý giải về Chánh báo, Y báo cõi Tịnh Độ và pháp tu chủ yếu để vãng sanh tùy thuộc vào giáo nghĩa của các tông đó.

Như tông Thiên Thai thành lập bốn cõi Tịnh Độ và xác định cõi Tịnh Độ Cực Lạc đã có hạng phàm phu vãng sanh, thì cõi ấy rất thấp kém, nên gọi là “Tịnh Độ Thánh Phàm đồng cư trú” (Thánh Phàm đồng cư độ). Hay như tông Pháp Tướng xác định cõi Tịnh Độ của đức Phật Di Đà rất cao diệu, nhưng cho rằng hàng phàm phu không thể vãng sanh. Những hiểu biết trên là sai lầm, không đúng với tâm nguyện của đức Phật Di Đà, Đại sư Thiện Đạo gọi những nhận biết này là : “Tự mình sai lầm và truyền sai lầm đến người khác, tai hại không phải là nhỏ”.

Pháp Nhiên thượng nhân chứng kiến thực trạng ấy, nên kiên quyết thành lập một tông Tịnh Độ độc lập với các tông đã hiện hữu, bằng cách chọn lọc và viết quyển “Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập” này, là “Quyển Kinh căn bản” để xây dựng giáo nghĩa, thành lập tông phái, chủ đích của Kinh chính là xiển dương Bổn nguyện của đức Phật Di Đà, nội dung của Kinh chính là thâu tóm toàn bộ pháp môn tu tập để hình thành một pháp tu chủ yếu chắc chắn được vãng sanh. Đại sư Thân Loan[[1]] cúi đầu kính ngưỡng quyển Kinh này và tán thán: “Lý nghĩa niệm Phật uyên áo của tông Tịnh Độ đã được thâu tóm ở quyển này, người nào đọc được thì rất dễ hiểu, thật là đường lối tu tập hy hữu tối thắng, là Kinh điển quý báu thậm thâm Vô thượng.”  Thế nên, hành giả nào muốn tu học pháp môn Tịnh Độ thì xin hãy đem tâm niệm trong sáng và tế nhị đọc quyển sách này, thực tế hơn nữa là phải cứu xét tận cùng nghĩa lý đến tận cội nguồn. Nếu chỉ đọc vài ba lần thì khó lãnh hội được tôn chỉ sâu kín của Kinh, do vậy cần được đọc nhiều lần thì chắc chắn phát khởi tín tâm sâu xa hơn.
Trong sách này, đa phần là trích dẫn những đoạn văn giải thích (Quán Kinh) của Đại sư Thiện Đạo. Đại sư Thiện Đạo chính là đức Phật A Di Đà hóa thân, Ngài đã trước tác Năm bộ[[2]] gồm Chín quyển, nghĩa lý rất phong phú, người mới học đạo thật khó nhận hiểu được. Quyển “Tuyển Trạch Tập” này đã thâu tóm những tư tưởng chủ yếu mà Đại sư Thiện Đạo đã diễn đạt trong Năm bộ Chín quyển ấy; nói cách khác, những điểm cốt tủy của Năm bộ Chín quyển đã được quy kết tại “Tuyển Trạch Tập” này; nếu đọc “Tuyển Trạch Tập” một cách tinh tế thì sẽ nhận ra tôn chỉ của Năm bộ Chín quyển rất rõ ràng, như nhìn vào chỗ có ánh sáng chiếu soi.

Từ xưa đến nay, những người đặc biệt tất nhiên sẽ có những hành hoạt phi thường. Pháp Nhiên thượng nhân chính là Bồ Tát Đại Thế Chí hóa thân, lúc tại thế cũng như sau khi thị tịch, có nhiều điềm lành linh thiêng kỳ lạ xuất hiện; nơi đây, trước khi trình bày nội dung của “Tuyển Trạch Tập”, xin được điểm qua một số sự kiện linh ứng ấy để tăng thêm niềm tin.
Thân phụ của Pháp Nhiên thượng nhân tên là Tất gián Thời Quốc, ông phụng mạng triều đình đảm nhận quản lý một bộ lạc; mẹ là Thái thị. Ông bà thường than thở, đã trên bốn mươi mà chưa có con để nối dõi tông đường; do thế, ông bà phát nguyện ăn chay, tắm rửa sạch sẽ rồi đến một ngôi chùa gần nhà, tụng Kinh niệm Phật bảy ngày đêm không biết mệt mỏi để cầu tự, đến đêm thứ bảy, trong khi nửa thức nửa ngủ, bà thấy một lão Tăng trao cho một con dao cạo đầu người xuất gia, bảo bà hãy nuốt đi, từ đó bà mang thai. Ông Thời Quốc đoán rằng, sẽ sanh con trai và lớn lên sẽ xuất gia trở thành một bậc Tông sư danh tiếng. Từ khi mang thai trở đi, bà Thái thị phát tâm ăn trường trai, quy y thâm tín Tam bảo, luôn hướng về điều thiện, thân tâm thường an lạc, hoan hỷ. Khi đản sanh Ngài, có hai lá phướn từ không trung bay xuống quấn vào cây Lương[[3]] ở trước sân nhà, và tiếng linh lảnh lót reo lên, lại có hai luồng ánh sáng chiếu soi rực rỡ, do thế nên cây này được gọi là “cây Lương hai phướn”.

Đầu Thượng nhân vuông vắn có góc, mắt trong trẻo có hai tròng màu vàng, luôn phát ra ánh sáng. Khi còn nhỏ thường hướng về phương Tây cung kỉnh đảnh lễ, lại tự xưng là “Thế Chí”; vì thế, song thân Ngài mới đặt tên là “Thế Chí Hoàng”; về kiến thức, từ nhỏ đến bốn, năm tuổi, thì tương tự như các trẻ khác.

Vào lúc chín tuổi, thân phụ của Ngài bị quân địch đả thương, trước khi lâm chung gọi Ngài đến bên cạnh bảo rằng: “Cha bị tai họa này là do nghiệp ác đời trước của cha; vì vậy, tuyệt đối không được thù hận kẻ đã giết cha, lấy oán trả oán thì oán thù không thể chấm dứt, nếu đem tâm báo thù thì đời đời kiếp kiếp oan-oan tương báo, mãi bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi không bao giờ chấm dứt. Ta đau đớn thì người khác cũng biết đau đớn, ta tiếc thương thân mạng thì người khác cũng biết tiếc thương thân mạng. Tâm lý mọi người thì tương tự như nhau, hãy suy nghĩ bản thân mình thì sẽ rõ tâm niệm kẻ khác. Con người sống trên đời này, hầu như ai cũng sát hại sinh mạng sinh vật, tất nhiên đời sau phải đón nhận sự báo ứng ấy. Do vậy, đời này hãy phát nguyện đoạn tuyệt những hành vi tội lỗi đó, bằng cách quên lãng mọi việc oán thù, nếu không quên lãng thì đời nào, kiếp nào có thể thoát khỏi sự trói buộc của tử sanh? Sau này con thành nhân hãy tu tập cầu sanh Cực Lạc, đem đến sự lợi ích bình đẳng cho tự thân và tha nhân. ” Sau khi di chúc, ông Thời Quốc hướng về phương Tây lớn tiếng niệm Phật rồi bình thản lìa trần.

Thượng nhân chính là Bồ Tát phương tiện hóa hiện, khi tuổi còn nhỏ đã mất cha, đó cũng là một sự kiện mở lối đưa đường; tức biểu thị rằng, thế gian là vô thường, đời người là đau khổ. Vậy nên, với tuổi thiếu niên đã có chí hướng cầu đạo, chán ghét sâu xa danh lợi thế gian, đồng thời cũng không quên di ngôn cuối cùng của đấng cha lành.

Còn trôi lăn trong ba cõi thì không thể cắt đứt ái ân, buông bỏ ái ân để đi vào vô vi chính là nghĩa cử báo ân chân thật. Vào năm ấy, Thượng nhân đến chùa Bồ Đề ở quê nhà cầu học với Pháp sư Quán Giác, trí tuệ của Ngài rất bén nhạy, chỉ nghe qua một lần là thông suốt gốc ngọn. Pháp sư Quán Giác không nhẫn tâm để một người tài năng mai một ở chốn biên địa này, nên dẫn Thượng nhân lên kinh đô tu học với Pháp sư Nguyên Quang ở Tỷ-duệ sơn. Đi được nửa đường, khi ngang qua chùa Pháp Tánh bỗng gặp ông Trung Thông, ông đặc biệt xuống xe tỏ vẻ rất tôn kỉnh, đoàn tùy tùng thấy vậy đều kinh ngạc; ông Trung Thông bảo rằng: “Con ngươi của thiếu niên này phóng chiếu ánh sáng như vậy, đủ biết là hạng người phi thường.” Đến trú tại Tỷ-duệ sơn chưa bao lâu, Pháp sư Nguyên Quang bảo: “Đây là bậc kỳ tài không nên lưu giữ lại!”, Pháp sư lại dẫn Ngài đến nương học với A-xà-lê Hoàng Viên, là bậc Long-Tượng của tông Thiên Thai. Vừa trông thấy Thượng nhân với thần thái xuất chúng, ngài Hoàng Viên biết là bậc đại pháp khí, rất hoan hỷ bảo rằng: “Hồi hôm mộng thấy một vầng trăng tròn chiếu vào chùa, há đây không phải điềm lành ấy hay sao!”, rồi nhận làm đệ tử, mở đàn truyền giới pháp, bấy giờ Thượng nhân vừa 15 tuổi. Từ đó, Thượng nhân ngày đêm miệt mài nghiên cứu giáo nghĩa Thiên Thai, chưa đầy ba năm, Thượng nhân triệt ngộ toàn diện yếu chỉ của Tông. Pháp sư Hoàng Viên vô cùng hân hoan và trao ngôi vị Tổ sư cho Thượng nhân thay Ngài lãnh đạo Tông pháp; dù vậy, Thượng nhân không thích địa vị danh vọng nên kiên quyết tạ từ ra đi, bấy giờ Thượng nhân 18 tuổi. Thượng nhân lại tìm đến Hắc cốc, xin tu học với Pháp sư Duệ Không, Pháp sư là vị viên mãn đại giới và là bậc Long-Tượng của Mật tông, thấy Thượng nhân dù tuổi còn nhỏ mà tâm địa siêu trần, không ai khích lệ mà tinh tấn vượt bậc, nên lại càng khen ngợi và đặt pháp hiệu cho Thượng nhân là Pháp Nhiên, nghĩa là pháp vốn như vậy; pháp danh là Nguyên Không, tức lấy chữ Nguyên của Pháp sư Nguyên Quang và chữ Không của Pháp sư Duệ Không; tại đây, Thượng nhân được thọ đại giới và được truyền thọ Du già bí pháp trở thành một pháp tử chánh thống.

Thượng nhân rất hiếu học, tất cả Kinh-Luật-Luận đều nghiên cứu đến tận cùng nghĩa lý, không bỏ sót một quyển nào, kể cả hết thảy các tác phẩm Sớ-Sao của mọi tông phái đều tìm hiểu không biết mệt mỏi. Bên cạnh, Thượng nhân còn tìm đọc tất cả các truyện ký của hai nước Nhật Bản, Trung Hoa và mọi tác phẩm của các bậc hiền triết xưa nay; đồng thời, trao đổi luận bàn nghĩa lý với các bậc uyên bác mọi tông phái, nhờ vậy mà thông suốt những yếu chỉ cao xa của các tông ấy. Thượng nhân thường nói: “Tôi đọc bất cứ Kinh sách gì vài ba lần tự nhiên hiểu rõ ý thú, không cần phải lao nhọc trầm tư.” Vì vậy, những Kinh Luận của các tông phái, không đến học hỏi bất cứ một vị nào mà tự thông suốt tôn chỉ. Thượng nhân cũng đọc Đại tạng Kinh đến năm lần, qua đây làm tăng thêm năng lực trí tuệ; không những Thượng nhân tinh thông nội điển mà các sách bác học của Bách gia Chư tử và các sách có giá trị thời bấy giờ đều thấu đạt. Chính thế, mọi người đương thời đều tôn xưng Thượng nhân là “Trí tuệ bậc nhất”.

Thượng nhân không chỉ thông hiểu giáo lý của các tông phái mà trên mặt tu tập cũng có nhiều chứng nghiệm. Chẳng hạn, khi Thượng nhân nhập thất tu Pháp Hoa Tam Muội trong ba tuần, cảm ứng đến Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài cỡi voi trắng đến chứng minh, Sơn Thần hiện hình bảo vệ. Hoặc, khi Thượng nhân đọc kinh Hoa Nghiêm, có một con rắn nhỏ màu xanh nằm khoanh tròn trên bàn, đệ tử Tín Không thấy thế rất sợ hãi, lấy cành cây bắt rắn đem ra khỏi phòng, khi trở lại vẫn thấy nó nằm nguyên chỗ cũ. Đêm ấy, Tín Không mộng thấy một con rồng rất lớn đến bảo rằng: “Tôi là Long Thần bảo vệ kinh Hoa Nghiêm, xin thầy chớ lo sợ.” Hoặc, mỗi khi Ngài nhập thất thiền quán Chân Ngôn Bí Mật thường cảm ứng các tướng tốt xuất hiện, như Hoa sen, Bảo châu, Yết-ma v.v… Hoặc, hằng đêm Ngài đọc Kinh, trong phòng không thắp đèn mà ánh sáng vẫn tỏa sáng cả phòng, các đệ tử thấy vậy rất kinh ngạc, nhìn vào phòng thì hoàn toàn không có một cây đèn mà ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào; các đệ tử chứng kiến sự kiện ấy cho là bất khả tư nghị, vừa vui mừng vừa rơi lệ. Hoặc, ban đêm Thượng nhân đọc Kinh sách không có thắp đèn, ánh sáng từ trán Ngài tỏa ra chiếu sáng cả phòng như ban ngày, các hiện tượng như thế thường hiện ra không kể xiết trong cuộc đời của Ngài.

“Kinh Quán Vô Lượng Thọ” dạy rằng: “Bồ Tát Đại Thế Chí còn có danh hiệu là Vô Biên Quang, tức là dùng ánh sáng trí tuệ soi chiếu khắp tất cả”. Thượng nhân vốn là Bồ Tát Đại Thế Chí hóa thân nên hào quang thường chiếu sáng là việc hẳn nhiên.

Dù Thượng nhân đã thông hiểu cả Tam tạng Kinh điển, nhưng vẫn cảm thấy chưa bằng lòng, đến khi được đọc “Quán Kinh Sớ” của Đại sư Thiện Đạo thì rất kính ngưỡng hân hoan, đọc đến lần thứ ba thì bỗng nhiên đại ngộ “Bổn nguyện siêu thế của đức Phật Di Đà”; nghĩa là, “Những kẻ phàm phu nghiệp chướng sâu nặng, tư tưởng mê lầm hỗn độn, nhờ vào nhân duyên cực mạnh của năng lực Bổn nguyện đức Phật Di Đà, thì nhất định được vãng sanh về báo độ Cực Lạc. ” Khi trực ngộ, Thượng nhân rất hoan hỷ phấn khích, như đêm đen có được ánh đèn, liền từ bỏ các pháp đã và đang tu tập thuộc Thánh Đạo môn, trở về chuyên tu Tịnh Độ môn là pháp Niệm Phật cầu vãng sanh làm ý thú. Vào một đêm, Thượng nhân mộng thấy Đại sư Thiện Đạo đến bảo rằng: “Tôi là sư Thiện Đạo đời nhà Đường đây! Thấy Thầy tinh chuyên niệm Phật nên Tôi đến chứng minh. Từ nay về sau, Thầy có thể truyền bá pháp môn Tịnh Độ khắp cả bốn phương” – Đại sư Thiện Đạo chính là đức Phật Di Đà hóa thân, Thượng nhân tu tập đúng Bổn nguyện của đức Phật nên Ngài đến chứng minh.

Vào năm 43 tuổi, Thượng nhân rời Hắc cốc đến lưu trú tại Đông-Các-Thủy khai sáng tông Tịnh Độ, hoằng dương pháp Niệm Phật sâu rộng ảnh hướng khắp cả Tứ chúng bốn phương ai cũng cảm phục quy đầu, như trăm sông đều chảy về biển cả.

Thiên hoàng Cao Thương nghe được đạo phong của Thượng nhân đặc biệt kính ngưỡng, liền hạ chiếu thỉnh Ngài vào cung thuyết giảng yếu chỉ tông Tịnh Độ; tại hoàng cung, hoàng hậu, cung phi, cung nữ, khanh tướng, bách quan, đều vân tập nghe pháp. Một hôm, Thái hậu ở cung Tây, thỉnh Thượng nhân đến Tây môn viện giảng thuyết bảy ngày, có con rắn khoanh tròn trên cánh cửa, cứ nằm như vậy nghe pháp cho đến ngày cuối thì bỗng nhiên chết, đầu rời khỏi thân, có người trong hội chúng thấy thần thức bay lên hư không như người cõi Trời. Đây là sự kiện nhờ công đức được nghe pháp mà thoát khỏi nghiệp báo súc sanh, hóa sanh lên cõi Trời.

Bấy giờ, tể tướng Đằng Nguyên Kiêm hết lòng kính ngưỡng Thượng nhân, hôm ấy cung thỉnh Ngài đến điện Nguyệt Luân giảng giải về yếu nghĩa tông Tịnh Độ; khi giảng xong Ngài từ tạ ra về, vừa đến chiếc cầu trước điện, tể tướng Kiêm xúc động rơi lệ hướng về Ngài đảnh lễ sát đất, giây lát đứng dậy nhìn đoàn tùy tùng đứng hai bên hỏi rằng: “Các ngươi có thấy trên đầu Thượng nhân có vòng hào quang màu vàng, hai chân bước trên các đóa hoa sen cách mặt đất mà đi, thân tướng như Bồ Tát Đại Thế Chí hay không?- Người trả lời thấy, người trả lời không.” Do sự kiện này, chiếc cầu được đặt tên là “cầu Viên Quang”; nhờ vậy, tể tướng hiểu rõ Thượng nhân chính là Bồ Tát Thế Chí hóa thân nên càng ngưỡng mộ tôn kính hơn. Và một dịp khác, ở chùa Linh Sơn tổ chức ba tuần Phật thất, đến nửa đêm ngày thứ năm, một số người thấy Bồ Tát Đại Thế Chí đang hướng dẫn đại chúng kinh hành niệm Phật, liền hướng về Bồ Tát vừa lễ bái vừa chiêm ngưỡng; hồi lâu, Bồ Tát chuyển thành hình tướng Thượng nhân, qua đây mới rõ Thượng nhân chính là Bồ Tát Thế Chí hóa thân. Lại nữa, vào đêm thứ bảy các đèn ở đạo tràng được tắt hết, nhưng trong giảng đường vẫn sáng tỏ như thường, đại chúng chứng kiến điều ấy rất hoan hỷ phấn khích cho là sự kiện không thể nghĩ bàn, nên lại càng tinh tấn tu tập hơn.

Thêm nữa, ông Dận tăng Chánh lại mộng thấy Thượng nhân trước khi thuyết pháp nói bài kệ rằng: “Bổn thân của Nguyên Không vốn là Đại Thế Chí, vì giáo hóa chúng sanh nên đến thế giới này.”

Đệ tử Thắng Pháp vẽ chân dung Thượng nhân xong, thỉnh Ngài chấp bút giới thiệu, Ngài chẳng cần suy nghĩ cầm bút viết ngay đoạn văn trong “Phẩm Thế Chí Viên Thông” rằng: “Nhân duyên của con, nhờ pháp Niệm Phật, chứng Vô sanh nhẫn, nay đến cõi này độ người Niệm Phật, sanh về Tây phương. ”

Lại nữa, thời gian Thượng nhân ở tại chùa Sanh Phước thuộc châu Tán, có chạm một tượng Bồ Tát Đại Thế Chí và đề một bài kệ trong đó có câu: “Bổn thân của Pháp Nhiên là Bồ Tát Thế Chí, vì hóa độ chúng sanh ứng hiện đạo tràng này.”

Lại thêm, đệ tử Trực Thánh, trú tại núi Hùng Dã bị bệnh, tâm tưởng luôn nhớ nghĩ đến Thượng nhân, muốn trở về kinh đô để hầu thăm, đêm đến mộng thấy một vị Thần bảo rằng: “Thọ mạng của ông sắp hết, không nên trở về, Pháp Nhiên Thượng nhân vốn là Bồ Tát Đại Thế Chí hóa thân, không có gì để ông lo nghĩ!”

Thượng nhân vốn là Bồ Tát Đại Thế Chí hóa thân, nên Ngài âm thầm tùy căn cơ của mỗi đối tượng để giáo hóa, các hiện tượng linh ứng chứng thật như trên rất nhiều, kể không xiết.

Thượng nhân thị tịch vào lúc chánh ngọ ngày 25 tháng 2 thọ 80 tuổi, trước khi vãng sanh ít ngày, Ngài bảo các đệ tử rằng: “Tiền thân của Thầy vốn là một vị Tăng Thanh văn ở Thiên Trúc thường tu hạnh đầu-đà; nay đến Nhật Bản để học giáo nghĩa tông Thiên Thai, sau cùng sẽ thành lập tông Tịnh Độ chuyên hoằng dương pháp Niệm Phật.” Đệ tử Thế Quán thưa: “Vị Tăng Thanh văn ấy là vị nào?”- Thượng nhân đáp: “Đấy là ông Xá-lợi-phất.” Một đệ tử khác thưa: “Đời này Thầy có vãng sanh thế giới Cực Lạc không?”- Thượng nhân đáp: “Thầy vốn là người của cõi Cực Lạc thì hẳn nhiên sẽ trở về Cực Lạc.” Xá-lợi-phất là vị có “Trí tuệ bậc nhất” trong mười đại đệ tử của đức Thích Tôn, khi đức Phật giảng về “kinh A Di Đà” đã gọi Ngài đến 36 lần, vì Ngài phải tường trình lại cho tất cả đại chúng. Tôn giả Xá-lợi-phất vốn là Bồ Tát Đại Thế Chí hóa thân, Bồ Tát Thế Chí lại là trí tuệ của đức Phật Di Đà biểu hiện, chính thế mới gọi là “Trí Tuệ bậc nhất”, tương ứng với thật nghĩa của pháp môn Tịnh Độ là “Pháp vốn như vậy”. Hiện tại, Pháp Nhiên Thượng nhân cũng như thế, tức là: “Bồ Tát Thế Chí tái hiện”, “Trí Tuệ bậc nhất”, “khai sáng tông Tịnh Độ”; qua đây, bậc Thánh thời kỳ trước và bậc Thánh thời kỳ sau đạo lý vẫn nhất quán.

Các đệ tử thiết trí hình tượng Phật Di Đà thỉnh Thượng nhân chiêm ngưỡng, Ngài chỉ lên hư không bảo: “Chơn thân đức Phật hiện trên kìa, các con không thấy sao?- Hơn mười năm qua, Thầy thường thấy chơn thân của đức Phật, chư vị Bồ Tát và cảnh tượng trang nghiêm của cõi Tịnh Độ, xong tuyệt đối không nói với các con, nay Thầy sắp lâm chung nên không ngại gì mà không nói cho các con rõ. ”

Vào ngày 22, các đệ tử đều giải tán đi nghỉ, chỉ một mình thầy Thế Quán ở lại hầu, bỗng thấy một phụ nữ cốt cách quý phái đi xe đến, xin được gặp riêng Thượng nhân, hai vị đàm đạo rất lâu, Thế Quán cảm thấy kỳ lạ, nên khi phụ nữ ra về thầy liền đi theo, nhưng được một đoạn đường thì bỗng nhiên người phụ nữ ấy biến đâu mất, Thế Quán trở về bạch hỏi Thượng nhân, Ngài bảo: “Phụ nữ ấy chính là phu nhân Vi-đề-hi đấy!”.

Từ ngày 23-25, Thượng nhân lớn tiếp niệm Phật cùng với đại chúng để kết duyên lành cuối cùng, đến chánh ngọ ngày 25 Thượng nhân đắp y Tăng-già-lê, rồi nằm nghiêng đầu hướng về phương Bắc, mặt hướng về phương Tây, tụng bài kệ: “Hào quang chiếu khắp thế giới mười phương, nhiếp thâu liên tục chúng sanh niệm Phật” (Quán Kinh), rồi an nhiên thị tịch thọ tám mươi tuổi, sáu mươi sáu Tăng lạp.

Trước khi Thượng nhân thị tịch năm ngày(tức 20 tháng 02), một đám tử vân (mây màu đỏ tía) màu sắc rực rỡ che phủ cả chùa, hình dáng như tranh Phật, trong hàng xuất gia, tại gia, người nào thấy thì xúc động rơi lệ, người nào nghe thì cho là kỳ dị. Các đệ tử nói với nhau rằng: “Đã có điềm lành tử vân xuất hiện thì Thầy sắp vãng sanh rồi!”. Thượng nhân bảo: “Tốt lành thay! người nào thấy-nghe được điều này thì tín căn sẽ tăng trưởng thêm.”

Vào ngày 23, người ta loan tin rằng: “Có điềm lành tử vân xuất hiện ở núi phía Đông.”

Vào ngày 24, đám tử vân lại xuất hiện rộng lớn che phủ cả ngọn núi phía Tây, cả nhóm tiều phu mười người đều thấy rõ.

Lại có vị Ni sư đến thăm chùa Quảng Long, giữa đường thấy đám tử vân, liền kể điềm lành kỳ dị ấy cho đại chúng nghe.

Sau khi Thượng nhân vãng sanh được 16 năm, các đệ tử khai mở tháp đá chứa thi thể của Ngài, toàn thân vẫn nguyên vẹn, sắc tướng vẫn tươi nhuận như khi còn sống, lại có mùi thơm lạ đặc biệt tỏa ra. Hơn ngàn người Tăng-Tục hộ tống di thể của Ngài về Tây Dao làm lễ trà tỳ, bấy giờ hương thơm kỳ dị ngào ngạt cả vùng, đám tử vân che phủ cả vườn tùng, do đây mà gọi vườn tùng ấy là “Tử vân tùng”; đồng thời, tại đây ngôi giảng đường được xây dựng để tiếp tục thực hiện pháp Niệm Phật dài lâu; hiện nay, chùa Quang Minh chính là di tích ấy.

Những đám mây rực rỡ kỳ dị khi Thượng nhân vãng sanh, hay sắc tướng đặc biệt của di thể trước khi trà tỳ, hoặc những điềm lành linh ứng khi tại thế hay sau khi thị tịch như đã lược thuật ở trên, thì rất nhiều khó kể hết. Những hiển thị linh dị ấy là xác thật rằng, Thượng nhân không phải là một kẻ phàm phu đang bị chi phối của nghiệp lực để trôi lăn trong dòng sanh tử; trái lại, Thượng nhân là một bậc đại quyền Bồ Tát, vì lân mẫn hàng chúng sanh mê muội trong thế giới đầy dẫy năm thứ ô trược, nên cỡi thuyền từ bởi năng lực vô biên quang, không đến mà lại đến cõi Ta Bà này, khai sáng pháp môn Tịnh Độ với yếu nghĩa “Thuần nhất tinh chuyên niệm Phật” và xác minh sự thật “Kẻ phàm phu nghiệp ác sâu nặng vẫn chắc chắn được vãng sanh về báo độ Cực Lạc”. Tương tự, cũng như đức Thích Tôn đã trải qua 80 năm ứng hóa, khi thị tịch, đầu hướng về phương Bắc, mặt hướng về phương Tây tụng bài kệ: “Hào quang chiếu khắp thế giới mười phương…” (Quang minh biến chiếu, thập phương thế giới…), không về mà lại trở về cõi Tịnh Độ.

Tóm lại, nếu bàn về vấn đề những cảm ứng linh hiển thì các tôn giáo khác, kể cả những tín ngưỡng Quỷ Thần của dân gian, các điều ấy không phải là ít; nếu môn đồ Phật giáo cũng tôn sùng những điều linh dị ấy như các tôn giáo khác và dân chúng, thì không chỉ dễ dàng dẫn dắt người khác rơi vào con đường mê tín, mà còn dễ dàng hãm hại mọi người rơi vào hố sâu tà đạo. Thế nên, đằng sau sự linh ứng, việc cần thiết là phải tu học giáo lý hướng đến đại đạo trong sáng để chứng đạt cứu cánh giải thoát. Khi đạo lý đã minh bạch, niềm tin đã sâu sắc, dù có cảm ứng hay không có cảm ứng cũng không mảy may gây trở ngại; nếu không có quan điểm đúng đắn như thế, thì các linh ứng ấy chẳng những không phải là phương tiện dẫn dắt tu tập mà còn là ác duyên đưa con người trầm luân trong sanh tử.

Đại sư Đàm Loan từ bỏ bốn bản Luận đang thuyết giảng, thuần nhất trở về với Tịnh Độ. Đại sư Đạo Xước từ bỏ sở trường giảng dạy kinh Niết Bàn để hoằng dương pháp tu Niệm Phật, vãng sanh Cực Lạc. Huệ Tịnh tôi là kẻ ngu si ám độn, thuộc hạng cùng hung cực ác, bất ngờ gặp được pháp môn tối thắng cực thiện Vô Thượng này, có thể nói rằng, ngàn đời khó gặp, ức kiếp khó tìm, Tịnh tôi quá cảm động khóc mãi không nguôi; do thế, khi trình bày tác phẩm này chắc hẳn có nhiều thiếu sót, mong quý độc giả lượng thứ và hoan hỷ chỉ giáo.

Trung Hoa Dân Quốc ngày 23 tháng 10 năm 82
(1993)
Huệ Tịnh kính ghi.

—————————

[1]] Đại sư Thân Loan (1173-1262): Đệ tử của Pháp Nhiên thượng nhân.

[[2]] Năm Bộ: Đó là Quán Kinh Sớ, Vãng Sanh Lễ Tán, Pháp Sự Tán, Quán Niệm Pháp Môn và Bát Chu Tán.

[[3]]-Cây Lương: Một loài cây cảnh xưa của Nhật Bản thuộc họ Tùng, Bách; còn có tên là Tùng Dương, Đăng Đài Thọ hay Vô Hoạn Tử.

CHƯƠNG I:  HAI MÔN (Nhị môn)

Đoạn văn diễn bày: Đại sư Đạo Xước kiến lập hai môn là Thánh Đạo và Tịnh Độ, rồi khuyên từ bỏ Thánh Đạo trở về tu tập Tịnh Độ.

Trong “An Lạc Tập” ghi: Hỏi: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, và từ vô thỉ đến nay họ đã từng hội ngộ rất nhiều đức Phật; vậy vì nguyên nhân gì, đến bây giờ chúng sanh vẫn bị sanh tử luân hồi chưa thoát khỏi nhà lửa?

Đáp: Căn cứ vào Thánh giáo Đại thừa, vấn đề ấy do vì không không liễu đạt hai loại thắng pháp để cắt đứt sanh tử, thế nên không thể thoát khỏi nhà lửa. Hai loại thắng pháp ấy là gì?- Một là Thánh Đạo, hai là vãng sanh Tịnh Độ. Hiện nay, sự tu tập theo Thánh Đạo rất khó chứng ngộ; bởi lẽ, thứ nhất vì xa cách thời đức Phật quá lâu, thứ hai vì giáo lý uyên áo khó hiểu rõ rốt ráo. Do thế, “kinh Đại Tập Nguyệt Tạng” bảo: “Trong thời Mạt pháp, hàng triệu người phát tâm tu tập giáo pháp của Ta, khó có một người chứng ngộ.”

Thời Mạt pháp bây giờ đang đầy đủ năm thứ ô trược, chỉ có pháp tu Tịnh Độ mới có thể ra khỏi sanh tử. Chính thế, “Đại Kinh” dạy: “Giả như người nào suốt đời đã làm các việc ác độc, trong giờ phút lâm chung mà niệm danh hiệu Con mười niệm liên tục, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh Giác.”

Hơn nữa, tất cả chúng sanh hầu như không tự đo lường khả năng của mình. Xét về “Chân như thật tướng”, “Đệ nhất nghĩa không” của giáo nghĩa Đại thừa, thì chưa từng lưu tâm nghiên cứu trải nghiệm, xét về giáo nghĩa Tiểu thừa, không luận tại gia hay xuất  gia, đối với vấn đề tiêu diệt “Ngũ hạ phần kiết sử”, đoạn tận “Ngũ thượng phần kiết sử” để chứng đạt những quả vị từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán, thì hầu như không ai thực hiện. Thậm chí ngay cả việc hành trì nghiêm túc “Ngũ giới, Thập thiện” để chiêu cảm những quả báo tốt đẹp cõi Trời, cõi Người cũng rất hiếm người tu tập; trái lại, xét về việc khởi ác tạo tội thì sao mà quá dễ dàng, hung bạo như “Cuồng phong đại hồng thủy”! Vì thế và chính thế, chư Phật với tâm đại từ-bi của mình, khuyến hóa mọi người trở về với pháp môn Tịnh Độ; giả như người nào suốt đời lỡ tạo nhiều tội ác, nhưng rồi thuần nhất tinh chuyên niệm Phật A Di Đà thì hết thảy tội chướng mặc nhiên tiêu diệt, chắc chắn sẽ được vãng sanh. Đây là sự kiện không thể tư duy tính toán mà hiểu được, trăm vạn lần xin chớ bỏ ngoài tâm!

Nói thêm rằng: Khi lập giáo thì quan điểm của các tông phái có sự sai khác nhau. Chẳng hạn, tông Hữu Tướng lập “Tam thời” để quy kết giáo nghĩa mà đức Phật đã tuyên thuyết 49 năm, đó là Hữu, Không và Trung; tông Vô Tướng lập “Nhị tạng”, là tạng Bồ Tát và tạng Thanh Văn; tông Hoa Nghiêm lập “Ngũ giáo”, là Tiểu thừa giáo, Thỉ giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo; tông Pháp Hoa lập “Tứ giáo, Ngũ vị”; “Tứ giáo” là Tạng, Thông, Biệt và Viên; “Ngũ vị” là Nhũ (sữa), Lạc (sữa cô), Sanh (crème), Thục (bơ) và Đề hồ (phô-mát); tông Chân Ngôn lập “Nhị giáo”, là Hiển giáo và Mật giáo. Với tông Tịnh Độ, theo ý kiến của Đại sư Đạo Xước, Ngài kiến lập “Nhị môn” để thâu nhiếp toàn bộ giáo nghĩa mà đức Phật đã dạy, đó là Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn.

Hỏi: Khi thành lập các tông phái, chỉ có tám hay chín tông, như tông Hoa Nghiêm, tông Thiên Thai v.v…, chứ không nghe đề cập đến tông Tịnh Độ; nhưng, hiện nay lại có tông Tịnh Độ thì chứng cứ từ đâu?

Đáp: Chứng cứ về tông Tịnh Độ không phải chỉ có một. Chẳng hạn: Trong “Du Tâm An Lạc Đạo” của Đại sư Nguyên Hiểu ghi: “Ý chỉ của tông Tịnh Độ căn bản là vì hàng phàm phu và cả Thánh nhân”. Trong “Tây Phương Yếu Quyết”, Đại sư Từ Ân ghi: “…Nương tựa vào một tông này”. Lại nữa, trong “Tịnh Độ Luận”, Đại sư Ca Tài bảo: “… Chỉ duy nhất tông này là đạo lộ chính yếu”. Các chứng cứ như vậy không đủ để xóa tan nghi ngờ hay sao!; hơn nữa, khi các tông phái thành lập thì tông Tịnh Độ chưa được hình thành. Tóm lại, theo quan điểm của tông Tịnh Độ, toàn bộ giáo lý được quy kết thành “Nhị môn”, một là Thánh Đạo môn, hai là Tịnh Độ môn.

Trước hết, đề cập đến Thánh Đạo môn, đại lược để nói gồm hai nội dung, một là Đại thừa, hai là Tiểu thừa. Xét về Đại thừa, đại để thì có Hiển giáo, Mật giáo, Quyền giáo, Thật giáo sai khác nhau, nhưng từ lâu chỉ còn tồn tại Hiển giáo và Quyền giáo; do vậy, trải qua nhiều thế kỷ đến bây giờ chỉ tu tập theo hai hệ Hiển giáo và Quyền giáo này mà thôi. Đây là cơ sở để chúng ta cảm nhận sự thật bây giờ của Mật giáo và Thật giáo là như thế nào rồi! Như thế cần hiểu rằng, giáo nghĩa của tám tông phái hiện tại là Chân Ngôn, Phật Tâm, Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Tam Luận, Pháp Tướng, Địa Luận và Nhiếp Luận đều nằm trong phạm vi tư tưởng ấy. Bây giờ xét về Tiểu thừa, tổng quát để nói, nội dung của Kinh-Luật-Luận Tiểu thừa là xiển dương các pháp tu tập để đoạn trừ các lậu hoặc chứng ngộ chân lý, tức hội nhập các quả vị Thánh Hiền Thanh Văn, Duyên Giác. Đây chính là tư tưởng tu tập của các tông Câu Xá, Thành Thật và các bộ Luật của Luật tông. Tóm lại, đại ý nội dung giáo lý của Thánh Đạo môn bao gồm cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, là ở trong thế giới Ta Bà này để tu tập Đạo lý Tứ thừa nhằm chứng đạt quả vị Tứ thừa. Tứ thừa là Tam thừa cọng thêm Phật thừa nữa vậy.

Thứ đến, bàn về Tịnh Độ môn, cũng có hai nội dung, một là giáo nghĩa chủ yếu vãng sanh Tịnh Độ, hai là giáo nghĩa phụ trợ vãng sanh Tịnh Độ. Xét về giáo nghĩa chủ yếu vãng sanh Tịnh Độ, gồm có ba Kinh một Luận. Ba Kinh là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà; một Luận là luận Vãng Sanh do Bồ Tát Thiên Thân tạo. Hay chỉ nói vắn tắt “Ba Bộ Kinh” với danh xưng “Tịnh Độ Tam Bộ Kinh” (Ba bộ kinh Tịnh Độ).

Hỏi: Quy ước về danh xưng “Ba Bộ Kinh” phải chăng chỉ có một?

Đáp: Quy ước về danh xưng “Ba Bộ Kinh” có rất nhiều. Chẳng hạn: Một là “Ba Bộ Kinh Pháp Hoa”, gồm kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Pháp Hoa và kinh Phổ Hiền Quán; hai là “Ba Bộ Kinh Đại Nhật”, gồm kinh Đại Nhật, kinh Kim Cang Đỉnh và kinh Tô Tất Địa; ba là “Ba Bộ Kinh Trấn Hộ Quốc Gia”, gồm kinh Pháp Hoa, kinh Nhân Vương và kinh Kim Quang Minh; bốn là “Ba Bộ Kinh Di Lặc”, gồm kinh Thượng Sanh, kinh Hạ Sanh và kinh Thành Phật. Hiện nay, duy nhất chỉ có Ba Bộ Kinh Di Đà nên gọi là “Ba Bộ Kinh Tịnh Độ”; “Ba Bộ Kinh Di Đà” là các Kinh diễn đạt về Chánh báo, Y báo cõi Tịnh Độ. Xét về giáo nghĩa phụ trợ vãng sanh Tịnh Độ có các kinh làm rõ thêm sự tu tập vãng sanh ấy, như kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Tùy Cầu, Tôn Thắng v.v… Về các Luận thì có luận Khởi Tín, Thập-Trụ Tỳ-Bà-Sa, Thật Tánh, Nhiếp Đại thừa v.v…

Ý thú tập sách này khi xiển dương “Nhị môn” (Thánh Đạo và Tịnh Độ) là nhằm khích lệ hành giả buông xả Thánh Đạo môn trở về tu tập theo Tịnh Độ môn, đại khái bởi hai lí do, thứ nhất, vì cách xa đức Phật (Chánh Pháp) quá lâu, thứ hai, vì giáo lý uyên áo khó lý giải rốt ráo. Bên cạnh, khi tông Tịnh Độ kiến lập “Nhị môn” không phải chỉ dựa vào ý kiến của một số Đại sư, như Đạo Xước, Đàm Loan, Thiên Thai, Ca Tài, Từ Ân v.v… chẳng hạn, trong “Vãng Sanh Luận Chú” Đại sư Đàm Loan ghi: “Cung kính đọc bộ luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa của Bồ Tát Long Thọ, ghi rằng: Hàng Bồ Tát cầu chứng đạt quả vị Bất thối chuyển thì có hai con đường (Nhị đạo), một là “Nan hành đạo”, hai là “Dị hành đạo”.

Gọi là “Nan hành đạo” (Con đường khó tu tập) bởi lẽ, đang ở trong thế giới đầy đủ năm thứ ô trược, lại không có đức Phật mà cầu chứng quả vị Bất thối chuyển là điều rất khó khăn. Sự khó này có nhiều phương diện, nơi đây chỉ nêu lên năm điểm làm đại biểu: Thứ nhất, hàng ngoại đạo cũng làm việc thiện gây rối loạn con đường tu hạnh Bồ tát; thứ hai, hàng Thanh Văn chỉ lo tự lợi gây chướng ngại sự tu tập hạnh đại từ bi; thứ ba, kẻ ác tự do phá hoại những công đức tốt đẹp của người hiền thiện; thứ tư, mê mờ trong phước báo làm hủy hoại phạm hạnh; thứ năm, chỉ duy nhất nương vào tự lực chứ không có tha lực gia trì. Những chướng ngại tương tợ như thế nhiễu nhương khắp mọi lúc mọi nơi trong sự tu tập, ví như du khách mà đi bộ thì sẽ gặp nhiều tai-họa hiểm nguy.

Gọi là “Dị hành đạo” (Con đường dễ tu tập) nghĩa là, chỉ thuần nhất nương vào nguyện lực của đức Phật A Di Đà để cầu được vãng sanh về cõi thanh tịnh Cực Lạc. Nhờ nguyện lực của đức Phật gia trì mà được hội nhập vào Chánh định Đại thừa, Chánh định này chính là thực tại Bất thối chuyển; trong trường hợp này tương tợ như du khách đi bằng tàu thuyền thì rất dễ dàng và an ổn.

Tóm lại, tại đây “Nan hành đạo” chính là “ Thánh Đạo môn”; “Dị hành đạo” chính là “Tịnh Độ môn”. Nan hành với Thánh đạo, Dị hành với Tịnh độ trên danh tự thì có sai khác, nhưng trên ý nghĩa thì tương đồng. Điểm này Đại sư Thiên Thai, Đại sư Ca Tài v.v… đã từng xác minh rõ.

Lại nữa, “Tây Phương Yếu Quyết” ghi rằng: “Ngưỡng vọng suy niệm về quá khứ khi đức Thích Tôn chuyển vận pháp luân đem đến sự lợi lạc lớn lao cho những chúng sanh hữu duyên, giáo pháp được khai mở tuỳ theo từng xứ sở, bất cứ ai được Ngài giáo hoá đều thấm nhuần Chánh pháp, chứng ngộ được đạo quả Tam thừa; bên cạnh, khi gặp những ai phước đức yếu kém thì Ngài khích lệ trở về với Tịnh Độ. Đã tu tập theo Tịnh Độ thì cần phải tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà và hết thảy mọi thiện căn đều hồi hướng cầu vãng sanh thế giới Cực Lạc. Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà là thề cứu độ chúng sanh ở thế giới Ta Bà này, kể từ những người trọn đời niệm Phật cho đến những người khi lâm chung chỉ niệm được mười câu, tất cả đều chắc chắn sẽ được vãng sanh”. Lại nữa, phần cuối của “Tây Phương Yếu Quyết” ghi: “Phàm sanh vào thời kỳ Tượng pháp thì đã xa rời Chánh pháp, nên sự tu tập để khế hợp và chứng đạt những quả vị trong Tam thừa khó có cơ hội thành tựu; ngay cả hai hàng Trời, Người cũng vọng động bất an, chức năng về tâm thức của họ cũng không thể bảo lưu dài lâu được. Qua đây, kiến thức thì mê mờ, tu tập thì thô thiển rất dễ rơi vào con đường tăm tối; thế nên, cần xả ly thế giới Ta Bà, nhanh chóng trở về Tịnh Độ Cực Lạc”.

Như trình bày trên, nội dung của Tam thừa chính là nội dung của Thánh Đạo môn, nội dung của Tịnh Độ chính là nội dung của Tịnh Độ môn. Tam thừa với Thánh Đạo môn, Tịnh Độ với Tịnh Độ môn mặc dầu danh xưng khác nhau, song ý nghĩa thì tương đồng. Là học giả của Tông Tịnh Độ, trước hết cần hiểu rõ tiêu chí này; đó là, giả như thời gian vừa qua đã là người học tập theo Thánh Đạo môn, nếu hiện giờ có chí hướng với Tịnh Độ, thì “cần phải buông xả Thánh Đạo trở về với Tịnh Độ”. Chẳng hạn, như Pháp sư Đàm Loan từ bỏ bốn bộ Luận[[4]] đang thuyết giảng mà nhất tâm trở về với Tịnh Độ, hay Thiền sư Đạo Xước từ bỏ sự giảng dạy và tu tập giáo nghĩa kinh Niết Bàn mà xoay lại tu tập và hoằng truyền Tịnh Độ. Các bậc hiền triết trong quá khứ có động thái tương tợ như thế rất phổ biến, những kẻ ngu tối trong thời Mạt pháp bây giờ sao chẳng chịu noi gương!

Hỏi: Các tông phái thuộc Thánh Đạo môn đều có sự kế thừa, như tông Thiên Thai, thỉ Tổ là ngài Tuệ Văn, tiếp theo là các ngài Nam Nhạc, Thiên Thai, Chương An, Trí Uy, Tuệ Uy, Huyền Lãng, Trạm Nhiên v.v…; hay tông Chân Ngôn, thỉ Tổ là Đại Nhật Như Lai, kế đến là các ngài Kim Cang Tát-Đỏa, Long Thọ, Long Trí, Kim Trí, Bất Không v.v… Các tông phái đều có sự truyền thừa tương tợ như thế, vậy tông Tịnh Độ có sự kế thừa không?

Đáp: Tương tợ như các tông phái của Thánh Đạo môn, tông Tịnh Độ vẫn có sự truyền thừa, chỉ sai khác ở điểm là có nhiều Chi phái. Chẳng hạn, như Chi phái của Pháp sư Tuệ Viễn ở Lô Sơn, Chi phái của Tam tạng Từ Mẫn, và Chi phái của Đại sư Đạo Xước, Đại sư Thiện đạo v.v… Nếu căn cứ vào thuyết của hai Đạo sư Đạo Xước và Thiện Đạo, thì tông Tịnh Độ có hai Chi phái:

– Thứ nhất, thỉ Tổ là Tam Tạng Bồ Đề  Lưu-Chi, kế tiếp là Pháp sư Huệ Sủng, Pháp sư Đạo Tràng, Pháp sư Đàm Loan, Thiền sư Đại Hải, Pháp sư Pháp Nhiên[[5]] v.v.

– Thứ hai, thỉ Tổ là Tam Tạng Bồ Đề  Lưu-Chi, kế tiếp là Pháp sư Đàm Loan, Thiền sư Đạo Xước, Thiền sư Thiện Đạo, Pháp sư Hoài Cảm, Pháp sư Thiếu Khương[[6]] v.v.

————————

[[4]] Bốn bộ Luận (Tứ Luận): Đó là, Luận Trung Quán (4 quyển, Bồ Tát Long Thọ soạn), Bách Luận (2 quyển, Ngài Đề Bà soạn),  Luận Thập Nhị Môn (1 quyển, Bồ Tát Long Thọ soạn), Luận Đại Trí Độ (100 quyển, Bồ Tát Long Thọ soạn).

[[5]] Theo “An Lạc Tập”.

[[6]] Theo “Đường Tống Lưỡng Truyện”.

CHƯƠNG II:  HAI HẠNH (Nhị Hạnh).

Đoạn văn diễn bày: Hoà thượng Thiện Đạo kiến lập Hai hạnh là Chánh hạnh và Tạp hạnh, rồi khuyên từ bỏ Tạp hạnh trở về tu tập theo Chánh hạnh.

Phần bốn của “Quán Kinh Sớ” ghi: “Tựu trung, khi tu tập phải xác lập sự thành tín; chẳng hạn, nội dung tu tập thì có hai phương diện, thứ nhất là Chánh hạnh, thứ hai là Tạp hạnh:

– Gọi là Chánh hạnh tức là, hành giả thuần nhất nương vào Kinh điển căn bản của Tịnh Độ để tu tập. Nội dung ấy như thế nào? Đó là:

+ Nhất tâm tinh chuyên đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ.

+ Nhất tâm tinh chuyên tư duy, quán tưởng, nhớ nghĩ về Chánh báo, Y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc.

+ Nếu lễ bái thì nhất tâm tinh chuyên đảnh lễ đức Phật A Di Đà.

+ Nếu miệng xưng niệm thì nhất tâm tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà.

+ Nếu tán thán, cúng dường thì nhất tâm tinh chuyên tán thán, cúng dường đức Phật A Di Đà.

Thực hiện năm điều này thì gọi là Chánh hạnh. Tuy vậy, trong Chánh hạnh lại có hai thứ:

Thứ nhất, nhất tâm tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, dù đi-đứng-nằm-ngồi không luận là thời gian, không gian nào, niệm này nối kết niệm kia không bao giờ gián đoạn, đây được gọi là “Chánh định nghiệp”, bởi lẽ thích ứng với Bổn nguyện của đức Phật.

Thứ hai, thực hiện bốn điều còn lại, như lễ bái, tụng kinh v.v… được gọi là “Trợ nghiệp”.

Gọi là Tạp hạnh, tức ngoài “Chánh định nghiệp” và “Trợ nghiệp” trên, mà tu tập các thiện pháp khác được gọi là Tạp hạnh.

Nếu tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp thì tâm niệm luôn thân gần với đức Phật A Di Đà, hằng ngày luôn nhớ nghĩ đến Ngài không quên, gọi là không gián đoạn. Ngược lại, nếu tu tập theo Tạp hạnh thì tâm niệm thường gián đoạn, dù có thể hồi hướng cầu vãng sanh, nhưng cách tu này là xa rời đức Phật và gọi là tu Tạp.

Nói thêm rằng: Đoạn văn trên chuyên chở hai ý: Thứ nhất, xiển dương “Hành tướng vãng sanh”; thứ hai, phân định “Hai hạnh Được-Mất”.

* Trước hết, luận về “Hành tướng vãng sanh”: Theo ý kiến của Hoà thượng Thiện Đạo, nội dung tu tập để được vãng sanh có nhiều pháp, đại lược để nói có hai loại, đó là Chánh hạnh và Tạp hạnh.

  • Về Chánh hạnh, tại đây có hai nghĩa, đó là khai triển và qui kết; phần trước là khai triển thành năm điều, phần sau là qui kết năm điều ấy thành hai thứ.

– Phần khai triển thành năm điều: Thứ nhất, đọc tụng Chánh hạnh; thứ hai, quán tưởng Chánh hạnh; thứ ba, lễ bái Chánh hạnh; thứ tư, xưng danh Chánh hạnh; thứ năm, tán thán, cúng dường Chánh hạnh.

Thứ nhất, đọc tụng Chánh hạnh: Tinh chuyên đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ v.v… Như đoạn văn trên đã ghi: “Nhất tâm tinh chuyên đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ”.

Thứ hai, quán tưởng Chánh hạnh: Tinh chuyên quán tưởng Chánh-Y báo của thế giới Cực Lạc”. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nhất tâm tinh chuyên tư duy, quán tưởng, nhớ nghĩ Chánh báo, Y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc”.

Thứ ba, lễ bái Chánh hạnh: Tinh chuyên lễ bái đức Phật A Di Đà. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nếu lễ bái thì nhất tâm tinh chuyên đảnh lễ đức Phật A Di Đà”.

Thứ tư, xưng danh Chánh hạnh: Tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nếu miệng xưng niệm thì nhất tâm tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”.

Thứ năm, tán thán cúng dường Chánh hạnh: Tinh chuyên tán thán cúng dường đức Phật A Di Đà. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nếu tán thán cúng dường thì nhất tâm tinh chuyên tán thán cúng dường đức Phật A Di Đà”. Nếu phân tích tán thán và cúng dường thành hai nghĩa thì có thể gọi là sáu điều Chánh hạnh. Tại đây, hợp hai nghĩa ấy lại, nên gọi là năm điều Chánh hạnh.

– Phần qui kết năm điều thành hai thứ: Thứ nhất, Chánh định nghiệp; thứ hai, Trợ nghiệp.

Thứ nhất, Chánh định nghiệp: Trong năm điều vừa trình bày, điều thứ tư là “xưng niệm danh hiệu” được gọi là Chánh định nghiệp. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nhất tâm tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, dù đi-đứng-nằm-ngồi không luận thời gian không gian nào, niệm này nối kết niệm kia không bao giờ gián đoạn, đây được gọi là Chánh định nghiệp, bởi lẽ thích ứng với Bổn nguyện của đức Phật”.

Thứ hai, Trợ nghiệp: Ngoài điều thứ tư là “Xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”, bốn điều còn lại, như đọc tụng v.v… được gọi là Trợ nghiệp. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nếu thực hiện đọc tụng  v.v… thì gọi là Trợ nghiệp”.

Hỏi: Tại sao trong năm điều, chỉ có “Xưng niệm danh hiệu đức Phật” được gọi là Chánh định nghiệp?

Đáp: Bởi vì thích ứng với Bổn nguyện của đức Phật. Nghĩa là, xưng niệm danh hiệu đức Phật là đúng với lời thệ nguyện khi đang tu tập của Ngài. Do vậy, hành giả nào xưng niệm danh hiệu đức Phật thì sẽ nương vào nguyện lực của Ngài, nên chắc chắn được vãng sanh. Nội dung của ý nghĩa Bổn nguyện đức Phật sẽ được giải thích ở sau.

  • Về Tạp hạnh, như đoạn văn trên đã ghi: “Ngoài Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp mà tu tập các thiện pháp khác thì gọi là Tạp hạnh”. Tạp hạnh thì nhiều vô số không có thể diễn tả hết được, nơi đây chỉ đối chiếu năm điều của Chánh hạnh để làm sáng tỏ năm điều Tạp hạnh mà thôi. Đó là: Thứ nhất, đọc tụng Tạp hạnh; thứ hai, quán tưởng Tạp hạnh; thứ ba, lễ bái Tạp hạnh; thứ tư, xưng niệm Tạp hạnh; thứ năm, tán thán, cúng dường Tạp hạnh.

Thứ nhất, đọc tụng Tạp hạnh: Trừ ba Kinh căn bản của Tịnh Độ như kinh Vô Lượng Thọ v.v…; ngoài ra, thọ trì đọc tụng các Kinh thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa, Hiển giáo hay Mật giáo đều gọi là đọc tụng Tạp hạnh.

Thứ hai, quán tưởng Tạp hạnh: Trừ Chánh báo, Y báo cõi Cực Lạc; ngoài ra, quán tưởng sự-lý thuộc các Kinh điển Đại thừa hay Tiểu thừa, Hiển giáo hay Mật giáo, đều gọi là quán tưởng Tạp hạnh.

Thứ ba, lễ bái Tạp hạnh: Trừ lễ bái đức Phật A Di Đà, ngoài ra, lễ bái, cung kỉnh hết thảy chư Phật, chư Bồ Tát hay các vị Trời, Thần v.v… đều gọi là lễ bái Tạp hạnh.

Thứ tư, xưng niệm Tạp hạnh: Trừ xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà; ngoài ra, xưng niệm danh hiệu hết thảy chư Phật, chư Bồ Tát hay các vị Trời, Thần v.v… đều gọi là xưng niệm Tạp hạnh.

Thứ năm, tán thán, cúng dường Tạp hạnh: Trừ tán thán cúng dường đức Phật A Di Đà; ngoài ra, tán thán, cúng dường hết thảy chư Phật, chư Bồ Tát hay các vị Trời, Thần v.v… đều gọi là tán thán cúng dường Tạp hạnh.

Bên cạnh, vô số hạnh tu khác như Bố thí, Trì Giới v.v…, tất cả đều được tóm thâu trong phạm vi của Tạp hạnh này.

* Bây giờ, phân định “Hai hạnh Được-Mất”. Như đoạn văn trên đã ghi: “Nếu tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp thì tâm niệm luôn thân gần với đức Phật A Di Đà, hằng ngày luôn nhớ đến Ngài không quên, gọi là không gián đoạn. Ngược lại, nếu tu tập theo Tạp hạnh thì tâm niệm thường gián đoạn, dù có thể hồi hướng cầu vãng sanh, nhưng cách tu này là xa rời đức Phật và gọi là tu Tạp”.

Đại ý đoạn văn này là diễn đạt về Chánh hạnh và Tạp hạnh. Trong này có năm cặp đối nghĩa nhau: Thứ nhất, “Thân” đối với “Sơ”; thứ hai, “Gần” đối với “Xa”; thứ ba, “Không gián đoạn” đối với “Có gián đoạn”; thứ tư, “Không hồi hướng” đối với “Hồi hướng”; thứ năm, “Thuần” đối với “Tạp”.

Thứ nhất, “Thân” đối với “Sơ”: Trước hết, “Thân” nghĩa là tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp, nên đối với đức Phật A Di Đà rất “Thân gần”. Chính thế, trong “Quán Kinh Sớ” ghi: “Hành giả nào khi tu tập, miệng thường xưng niệm danh hiệu đức Phật (A Di Đà), thì Ngài nghe rõ tiếng người ấy đang niệm, thân thường lễ bái đức Phật, thì Ngài thấy rõ người ấy đang lễ bái; tâm thườmg niệm Phật, thì Ngài biết rõ tâm người ấy đang niệm Phật. Qua đây, hành giả thường nhớ nghĩ đến đức Phật thì Ngài cũng nhớ nghĩ đến hành giả; ba nghiệp thân-khẩu-ý của đức Phật và hành giả không tách rời nhau”. Do thế được gọi là “Thân duyên”. Kế đến, “Sơ” chính là “Tạp hạnh”; tức là, khi hành giả tu tập, miệng không xưng niệm danh hiệu đức Phật, nên Ngài không nghe tiếng người ấy niệm, thân không lễ bái đức Phật, nên Ngài không thấy người ấy lễ bái; tâm không niệm Phật nên Ngài không biết người ấy niệm Phật. Như vậy, hành giả không nhớ nghĩ đến đức Phật thì Ngài cũng không nhớ nghĩ đến hành giả, ba nghiệp thân-khẩu-ý của đức Phật và hành giả thường tách rời nhau, do thế được gọi là “Sơ hạnh”.

Thứ hai, “Gần” đối với “Xa”: Trước hết, “Gần” nghĩa là tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp, nên đối với đức Phật A Di Đà rất “Gần gũi”; vì vậy, trong “Quán Kinh Sớ” ghi: “Hành giả nào nguyện được thấy đức Phật, thì Ngài liền đáp ứng hiện ra trước mắt”; do thế, được gọi là “Cận duyên”. Kế đến, “Xa” chính là “Tạp hạnh”; tức là, hành giả không nguyện được thấy đức Phật, thì Ngài không đáp ứng hiện ra trước mắt, do thế được gọi là “Xa”. Thật ra, nghĩa của “Thân” và “Gần” tương tợ giống nhau, nhưng Đại sư Thiện Đạo lại phân làm hai, điều này đã trích dẫn lời giải thích của Ngài trong “Quán Kinh Sớ” ở trên.

Thứ ba, “Không gián đoạn” đối với “Có gián đoạn”: Trước hết, “Không gián đoạn” nghĩa là tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp, nên thường nhớ nghĩ đến đức Phật A Di Đà không gián đoạn; do thế, được gọi là “Không gián đoạn”. Kế đến, “Có gián đoạn” chính là tu tập “Tạp hạnh”; tức là, đối với đức Phật A Di Đà nhớ nghĩ thường gián đoạn, do thế được gọi là “Tâm thường gián đoạn”.

Thứ tư, “Không hồi hướng” đối với “Hồi hướng”: Trước hết, “Không hồi hướng” nghĩa là tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp, nên không nhất thiết phải hồi hướng mà vẫn thành tựu năng lực vãng sanh. Chính thế, trong “Quán Kinh Sớ” ghi: “Xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà mười câu tức là thành tựu đầy đủ mười nguyện, mười hạnh. Đầy đủ như thế nào?- Đó là, ý nghĩa của hai chữ “Nam mô” chính là “Quy mạng” và cũng là “Phát nguyện hồi hướng”; ý nghĩa của bốn chữ “A Di Đà Phật” chính là “Động thái tu tập của hành giả”, do ý nghĩa đó “Quyết định được vãng sanh”.” Kế đến, “Hồi hướng” chính là tu tập Tạp hạnh; tức là, nếu phát tâm hồi hướng thì chỉ tạo nhân vãng sanh, còn không phát tâm hồi hướng thì không liên hệ gì đến vãng sanh; do thế được gọi là “ Có thể hồi hướng để được vãng sanh”.

Thứ năm, “Thuần” đối với “Tạp”: Trước hết, “Thuần” nghĩa là tu tập hai hạnh Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp, tức thuần nhất tu tập cầu vãng sanh về Tịnh Độ Cực Lạc. Kế đến, “Tạp” nghĩa là tu tập không thuần nhất cầu vãng sanh Cực Lạc, mà tu tập tổng quát cả Ngũ thừa và các cõi Tịnh Độ khắp mười phương; do thế được gọi là “Tạp”. Qua đây, là hành giả tông Tịnh Độ, thì cần buông bỏ Tạp hạnh mà thuần nhất tu theo Chánh hạnh.

Hỏi: Ý nghĩa của Thuần và Tạp này, có bằng chứng trong Kinh Luận không?

Đáp: Trong Kinh-Luật-Luận của Đại thừa lẫn Tiểu thừa, thành lập hai môn Thuần và Tạp này không phải chỉ có một; chẳng hạn: Trong Tám tạng Kinh của Đại thừa thì Bảy tạng là Thuần, Một tạng là Tạp. Trong Bốn bộ A Hàm của Tiểu thừa thì Ba bộ là Thuần, Một bộ là Tạp. Về Luật thì thành lập Hai mươi Kiền-độ (Chương) để xiển dương Giới hạnh, trong này Mười chín Kiền độ đầu là Thuần, Kiền độ sau cùng là Tạp. Về Luận thì thành lập Tám Kiền độ để xiển dương tánh tướng của các pháp, trong này Bảy Kiền độ đầu là Thuần, Kiền độ sau cùng là Tạp. Trong tập “Hiền Thánh Đường Tống Lưỡng Truyện” thành lập Mười loại để xiển dương đức hạnh của chư vị cao Tăng, trong này Chín loại đầu là Thuần, loại sau cùng là Tạp. Cho đến, trong “Đại thừa Nghĩa Chương” cũng thành lập Năm tụ (Mục hay Tiết), thì Bốn tụ đầu là Thuần, tụ sau cùng là Tạp. Đồng thời, không riêng gì Hiển giáo mà Mật giáo cũng vẫn phân chia Thuần-Tạp, như trong “Phật Pháp Huyết Mạch Phổ”, thì “Thai tạng giới Mạn-đà-la” và “Kim cang giới Mạn-đà-la” thuộc “Thuần”, còn “Tạp Mạn-đà-la” thuộc Tạp. Vấn đề phân chia Thuần-Tạp trong giáo điển thì rất nhiều, tại đây chỉ trích dẫn một ít làm tiêu biểu mà thôi. Bên cạnh, cần nắm rõ ý nghĩa của Thuần và Tạp là tuỳ theo từng pháp môn không mang tính cố định; qua đây, trong tập này bàn về Thuần và Tạp, là dựa vào ý kiến của Hoà thượng Thiện Đạo luận về hướng tu tập của tông Tịnh Độ. Cần nói thêm, từ ngữ Thuần và Tạp được áp dụng trong phạm vi nội điển và cả ngoại điển rất phong phú, vì sợ phức tạp nên không dám trích dẫn nhiều. Riêng về đường hướng tu tập để được vãng sanh thì phân thành “Hai hạnh”, nhưng không giới hạn chỉ tuân theo ý kiến của Hoà thượng Thiện Đạo; nếu căn cứ ý kiến của Thiền sư Đạo Xước, thì đường hướng tu tập để được vãng sanh có rất nhiều, nhưng qui kết trong hai phương diện, thứ nhất là “Niệm Phật vãng sanh”, thứ hai là “Vạn hạnh vãng sanh”. Về ý kiến của Thiền sư Hoài Cảm cũng tương tợ như thế, Ngài qui kết thành “Hai hạnh”, thứ nhất là “Niệm Phật vãng sanh”, thứ hai là “Chư hạnh vãng sanh”. Như vậy, ba vị Sư, vị nào cũng thành lập “Hai hạnh” để thống nhiếp hết thảy pháp môn tu tập vãng sanh Cực Lạc, hành giả cần tư duy điểm này!.

“Vãng Sanh Lễ Tán” ghi: “… Nếu thường niệm Phật, niệm niệm liên tục, lấy tuổi thọ của mình làm giới hạn, thì mười người sẽ được vãng sanh trọn mười người, trăm người sẽ vãng sanh trọn trăm người. Tại sao như thế?-Bởi lẽ: Vì không có tạp duyên bên ngoài xen vào chỉ thuần nhất Chánh niệm, vì tương ứng với Bổn nguyện của đức Phật (A Di Đà), vì không trái ngược với giáo nghĩa, vì thuận theo lời dạy của đức Phật.

Giả như, muốn bỏ “Chuyên” để tu “Tạp” thì trăm người hy vọng chỉ có một, hai người được vãng sanh, ngàn người hy vọng chỉ có ba, năm người được vãng sanh. Tại sao như thế?- Bởi lẽ: Vì Tạp duyên làm loạn động đánh mất Chánh niệm, vì không tương ứng với Bổn nguyện của đức Phật, vì trái ngược với giáo nghĩa, vì không thuận theo lời dạy của đức Phật, vì niệm niệm không liên tục, vì nhớ nghĩ gián đoạn, vì phát nguyện hồi hướng không khẩn thiết chân thật, vì tham lam sân hận và mọi thấy biết phiền não xen vào làm gián đoạn niệm Phật, vì không có tâm niệm tàm quí bỏ ác làm lành; lại nữa, vì không có tâm niệm liên tục báo đền ân huệ của đức Phật, tâm thường khinh lờn, dù có tu tập nhưng luôn thích ứng với lợi danh, bị đoanh vây bởi nhân ngã, vì chẳng cần thân gần với pháp hữu Thiện tri thức, lại thích thú cận kề với Tạp duyên làm chướng ngại Chánh hạnh vãng sanh cho tự thân và tha nhân.

Tại sao như thế?- Chúng ta đã từng nghe thấy rõ ràng, hàng xuất gia cũng như hàng tại gia khắp mọi xứ sở, về kiến giải và pháp tu của họ không giống nhau, vấn đề tu Chuyên, tu Tạp cũng bất đồng. Xét về những hành giả tu Chuyên thì mười người sẽ được vãng sanh trọn cả mười người; xét về hàng tu Tạp, vì tâm niệm không chí thành, nên trong một ngàn người khó có một người được vãng sanh.

Qua “Hai hạnh Được-Mất” như trên đã bàn luận, ngưỡng nguyện hết thảy hành giả tông Tịnh Độ, hãy tư duy tinh tế để ngay trong đời này nguyện sanh về thế giới Cực Lạc, bằng cách chế ngự dục vọng của tự thân, tinh tấn niệm Phật dù đi-đứng-nằm-ngồi ngày hay đêm không bao giờ bỏ quên, lấy thời gian trọn đời giới hạn cho công phu tu tập, để rồi niệm trước vừa tắt thở thì niệm sau có mặt tại thế giới Cực Lạc. Khi đã hiện hữu tại đây, hành giả sẽ trải qua thời gian rất dài lâu an trú trong pháp lạc vô vi, và không còn rơi vào sanh tử cho đến khi thành tựu quả vị Phật Đà, kết quả này há không phải hạnh phúc hay sao!- Cần ghi nhận!

Nói thêm rằng: Như chúng ta đã thấy rõ sự lợi ích của đoạn văn trên; thế nên, cần “Buông bỏ Tạp, tu tập Chuyên”. Nếu buông bỏ trở về tu Chuyên – Chánh hạnh, thì trăm người sẽ vãng sanh trọn cả trăm người; ngược lại, kiên trì chấp thủ tu Tạp – Tạp hạnh, thì ngàn người khó có một người được vãng sanh, hành giả cần tư duy kỹ điểm này!

CHƯƠNG III: BỔN NGUYỆN.

Đoạn văn diễn bày: Đức Như Lai Di Đà không chọn các pháp tu khác làm Bổn nguyện, mà chỉ duy nhất chọn pháp Niệm Phật làm Bổn nguyện vãng sanh.

 “Kinh Vô Lượng Thọ” ghi: “Giả như khi Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương chí tâm tin tưởng vui thích muốn sanh về thế giới của Con, dù chỉ niệm mười niệm mà không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh giác”.

Trong “Quán Niệm Pháp Môn” trích dẫn đoạn văn trên như sau: “Nếu Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương nguyện sanh về thế giới của Con, nên xưng niệm danh hiệu của Con tối thiểu mười niệm, nương vào nguyện lực của Con, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh Giác”.

Tương tợ, trong “Vãng Sanh Lễ Tán” cũng trích dẫn đoạn văn trên như sau: “Nếu Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương xưng niệm danh hiệu của Con tối thiểu chỉ mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh Giác”.

Hiện giờ, đức Phật ấy đã thành Phật, do thế chúng ta cần hiểu rõ rằng, Bổn nguyện – lời thề vĩ đại ấy, không một chút dối trá; tức là, bất cứ chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu của Ngài, tất nhiên sẽ được vãng sanh.

Nói thêm rằng: Hết thảy chư Phật, mỗi vị đều có nguyện chung và nguyện riêng. Nguyện chung chính là “Tứ hoằng thệ nguyện”, về nguyện riêng, như đức Phật Thích Ca có Năm trăm đại nguyện, đức Phật Dược Sư có Mười hai thượng nguyện; hiện tại, Bốn mươi tám Đại nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ chính là nguyện riêng của đức Phật A Di Đà vậy.

Hỏi: Đức Như Lai Di Đà phát thệ nguyện này vào thời gian nào, vào thời đức Phật nào?

Đáp: “Kinh Vô Lượng Thọ” ghi: “Đức Phật bảo A Nan rằng, vào thời quá khứ thật quá lâu xa, không thể tính toán là bao nhiêu kiếp, thời ấy có đức Như Lai Đỉnh Quang thị hiện ra đời, giáo hoá độ thoát vô lượng chúng sanh đều chứng đạt đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Kế đến, có đức Như Lai danh hiệu Quang Viễn… Kế đến có đức Như Lai danh hiệu Xử Thế, các đức Phật tuần tự như thế đến Năm mươi ba vị, và các Ngài đều đã tịch diệt. Bấy giờ, đức Như Lai danh hiệu Thế Tự Tại Vương ứng hiện, trong thời gian này có vị quốc vương được nghe đức Phật thuyết pháp, tâm tư khai mở, hỷ lạc dâng trào liền phát tâm Vô thượng Bồ Đề, lìa bỏ ngôi vua xa lánh trần tục xuất gia làm Sa-môn, đạo hiệu là Pháp Tạng. Ngài vốn là bậc trí đức siêu phàm, sau khi tu học một thời gian, Ngài đến hầu đức Như Lai Thế Tự Tại Vương… Đức Phật Thế Tự Tại Vương vì Tỷ-kheo Pháp Tạng mà giảng rộng về Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật, mọi sự kiện thiện ác của hàng Trời, Người; mọi sự tốt đẹp, thô xấu của các thế giới ấy theo tâm nguyện của Tỷ-kheo Pháp Tạng đều được hiện bày rất rõ ràng. Bấy giờ, Tỷ-kheo Pháp Tạng được nghe đức Phật thuyết minh các thế giới trang nghiêm thanh tịnh, sau khi đã thấy rõ, Tỷ-kheo liền phát tâm nguyện thù thắng Vô Thượng. Kể từ đây, tâm niệm của Tỷ-kheo hoàn toàn thanh tịnh, ý thức không chấp thủ vướng mắc bất cứ điều gì, trong thế gian không ai có thể sánh bằng. Với hạnh nguyện thanh tịnh ấy, Tỷ-kheo Pháp Tạng tinh tấn trải qua Năm kiếp tu quán kiến lập một cõi Phật trang nghiêm thù thắng. A Nan bạch đức Phật rằng: Đức Phật ở thế giới ấy có thọ mạng dài bao lâu?- Đức Phật bảo: Thọ mạng của đức Phật ấy dài lâu đến Bốn mươi hai kiếp. Bấy giờ, Tỷ-kheo Pháp Tạng thâu nhiếp những pháp tu thanh tịnh của Hai trăm mười ức thế giới vi diệu của chư Phật”.

Lại nữa, “kinh Đại A Di Đà”[[7]] ghi: “Khi đức Phật Lâu-Di-Cắng-La[[8]] thuyết giảng Kinh xong, tâm niệm Tỷ-kheo Đàm-Ma-Ca[[9]] được thanh tịnh, chứng đắc thiên nhãn, tự mình thấy rõ mọi sự kiện thiện ác của hàng Trời-Người và mọi sự tốt đẹp thô xấu của Hai trăm mười ức thế giới ấy, liền theo sở nguyện lựa chọn một thế giới theo như kinh Nhị Thập Tứ Nguyện[[10]] diễn tả”.

Ở trên, hai từ “Lựa-chọn” chính là ý nghĩa “Chọn lấy và Buông bỏ”. Tức là, trong Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật, buông bỏ hàng Trời-Người ác độc mà chọn lấy hàng Trời-Người hiền thiện; đồng thời, buông bỏ mọi sự thô xấu của các thế giới mà chọn lấy mọi sự tốt đẹp trong các thế giới ấy. Ý nghĩa hai từ “Lựa-chọn” trong Kinh Đại A Di Đà cũng như hai Kinh[[11]] kia là như thế. Nghĩa là “Sử-dụng” các pháp tu thanh tịnh và các sự tốt đẹp trong Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật. “Lựa-chọn” và “Sử-dụng” trên âm thanh thì sai khác, nhưng trên ý nghĩa thì giống nhau, chúng ta cứ dựa theo đây để hiểu.

Dưới đây sẽ luận bàn về ý nghĩa “Lựa chọn” và “Sử dụng” các Đại nguyện tiêu biểu cho 48 Đại nguyện:

– Nguyện thứ nhất, “Nguyện không có ba đường ác dữ”: Tức là, khi được thấy rõ trong Hai trăm mười ức thế giới, mà trong các thế giới ấy, hoặc có ba đường ác dữ hay không có ba đường ác dữ, thì chọn bỏ các thế giới có ba đường ác dữ và thô xấu, mà chọn lấy các thế giới không có ba đường ác dữ và tốt đẹp; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ hai, “Nguyện không tái sanh vào ba đường ác dữ”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, dù các thế giới ấy không có ba đường ác dữ, nhưng khi thọ mạng của hàng Trời-Người chấm dứt, có thể tái sanh vào các thế giới có ba đường ác dữ, hay không có ba đường ác dữ, thì chọn bỏ tái sanh vào các thế giới có ba đường ác dữ và thô xấu, mà chọn lấy tái sanh vào các thế giới không có ba đường ác dữ và tốt đẹp; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ ba, “Nguyện tất cả sắc thân màu vàng ròng”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có một thế giới mà thân thể của hàng Trời – Người có hai màu vàng-trắng sai khác; hoặc có một thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người chỉ thuần màu vàng ròng, thì chọn bỏ thế giới mà thân thể hàng Trời-Người có hai màu vàng-trắng thô xấu sai khác, mà chọn lấy thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người chỉ một màu vàng ròng tốt đẹp mà thôi; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ tư, “Nguyện không có đẹp-xấu sai khác”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có một số thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người đẹp-xấu khác nhau, hoặc có một số thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người hoàn toàn giống nhau, không có sự đẹp-xấu sai khác, thì chọn bỏ các thế giới có hàng Trời-Người đẹp-xấu khác nhau, mà chọn lấy thế giới có hàng Trời-Người hoàn toàn tốt đẹp giống nhau; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Cho đến nguyện thứ mười tám, “Nguyện niệm Phật được vãng sanh”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có thế giới lấy tu Bố thí để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Trì Giới để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Nhẫn nhục để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Tinh tấn để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Thiền định để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Trí tuệ để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy phát tâm Bồ Đề  để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy xưng niệm sáu chữ (Nam mô A Di Đà Phật) để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy trì Kinh để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy trì Chú để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy việc xây dựng chùa tháp tạc tượng, cúng dường thực phẩm cho hàng Sa-môn, cho đến các việc phụng sự Sư trưởng, hiếu dưỡng cha mẹ v.v… để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới chỉ xưng niệm danh hiệu đức Phật của thế giới ấy để cầu vãng sanh, hoặc tu tập một hạnh tương xứng với đức Phật của thế giới ấy để cầu vãng sanh, hoặc trong thế giới ấy chỉ có một đức Phật lấy tu tập nhiều hạnh của Ngài để cầu vãng sanh, hoặc trong thế giới ấy có nhiều đức Phật lấy tu tập một hạnh mà dung thông với chư Phật ấy để cầu vãng sanh; tóm lại, các pháp tu tập để cầu vãng sanh Tương tợ như thế có rất nhiều phương diện, không thể nói hết được. Bây giờ, chọn bỏ các hạnh từ Bố thí, Trì Giới cho đến hiếu dưỡng Cha mẹ mà chỉ chọn lấy “Chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”; như thế được gọi là “Lựa chọn”. Tựu trung, ở trên vừa luận bàn về ý nghĩa “Lựa chọn” của năm Đại nguyện tiêu biểu, các Đại nguyện còn lại dựa theo đây để hiểu.

Hỏi: Tổng quát để nói, trong các Đại nguyện thì chọn bỏ sự thô xấu mà chọn lấy sự tốt đẹp, điều này khá rõ rồi. Còn, tại sao trong Đại nguyện thứ mười tám lại chọn bỏ hết thảy các pháp, mà chỉ duy nhất chọn lấy pháp Niệm Phật làm Bổn nguyện vãng sanh?

Đáp: Ý của đức Phật thì khó hiểu rõ được, không có thể tự ý giải thích; tuy nhiên, tại đây thử dùng ý nghĩa của hai cặp thuật ngữ này để giải bày, một là “Thắng-Liệt”, hai là “Nan-Dị”.

Trước hết, bàn về ý nghĩa “Hơn-Kém” (Thắng-Liệt): Niệm Phật là “Hơn”, các hạnh khác là “Kém”, tại sao như thế?- Bởi Danh hiệu là chỗ quy tụ vô lượng công đức; nghĩa là, hết thảy những công đức nội-chứng như: Bốn trí, Ba thân, Mười lực, Bốn Vô-uý v.v… và, tất cả các công đức ngoại-dụng như: Tướng hảo, Hào quang, Thuyết pháp, Lợi ích chúng sanh v.v… đều quy tụ trong Danh hiệu đức Phật A Di Đà; vì vậy, công đức của danh hiệu rất tối ưu, nên gọi là “Hơn”. Ngược lai, các hạnh khác chỉ chiếm một phần các công đức trên, chính thế được gọi là “Kém”. Tương tợ, như các tên gọi trong phạm vi nhà cửa thì hết thảy đồ dùng trong nhà đều được thâu nhiếp dưới đòn dong và hai mái nhà, nếu xét riêng từng cái, như đòn dong, cột nhà v.v… thì không có khả năng thấu nhiếp hết thảy đồ đạc trong nhà. Qua trên để thấy rằng, công đức danh hiệu đức Phật A Di Đà là thù thắng vượt trội công đức của hết thảy pháp tu khác; chính thế, cần “Bỏ Kém-Lấy Hơn” làm Bổn nguyện.

Kế đến, bàn về ý nghĩa “Khó-Dễ” (Nan-Dị): Niệm Phật (A Di Đà) là pháp tu “Dễ”, tu các pháp khác là “Khó”, vì thế trong “Vãng Sanh Lễ Tán” ghi:

Hỏi: Tại sao không khuyến khích tu Quán mà khẳng định phải tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật, là bởi ý nghĩa gì?

Đáp: Bởi lẽ, chúng sanh vốn có nghiệp chướng quá sâu nặng, đối tượng để Quán thì rất vi tế, tâm thức thì luôn vọng động và nông cạn, nên tu Quán khó có kết quả. Do thế, bậc Đại Thánh (Phật) với lòng bi mẫn của mình, khẳng định và khích lệ hành giả hãy tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật, chính vì niệm danh hiệu là “Dễ”, và nếu niệm liên tục thì sẽ được vãng sanh”.

Lại nữa ”Vãng Sanh Yếu Tập” ghi:

Hỏi: Hết thảy các pháp tu thiện, pháp nào cũng có lợi ích, pháp nào cũng có thể cầu vãng sanh, tại sao chỉ khích lệ duy nhất pháp Niệm Phật?

Đáp:Vấn đề khích lệ pháp môn Niệm Phật không hẳn phủ nhận mọi pháp tu vi diệu khác; chỉ vì pháp Niệm Phật không phân biệt nam-nữ, giàu-nghèo; không luận là thời gian, không gian hay duyên sự gì; không kể là đang đi-đứng-nằm-ngồi, tất cả mọi trường hợp đều tu tập được không trở ngại; kể cả đến giờ phút lâm chung, pháp tu thuận tiện nhất cho việc cầu nguyện vãng sanh thì không có pháp nào bằng pháp Niệm Phật.”

Thế nên, cần hiểu rằng Niệm Phật là “Dễ”, vì thích ứng với mọi căn cơ; còn các pháp tu khác là “Khó”, vì không dung nhiếp mọi căn cơ. Qua đây, để giúp hết thảy chúng sanh  “Bình đẳng vãng sanh” thì phải “Bỏ Khó-Lấy Dễ” làm Bổn nguyện.

Giả như lấy việc “Tạo tượng, xây dựng chùa tháp” làm Bổn nguyện, thì hạng bần cùng nghèo khó tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người giàu sang thì rất ít mà kẻ nghèo hèn thì chiếm đa phần.

Giả như lấy “Trí tuệ tài cao” làm Bổn nguyện, thì hạn trí hèn ngu độn tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người trí thì rất ít mà kẻ ngu si thì chiếm đa phần.

Giả như lấy việc “Nghe nhiều thấy rộng” làm Bổn nguyện, thì hạng nghe ít thấy ít tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người nghe nhiều thì ít mà kẻ nghe ít thì chiếm đa phần.

Giả như lấy việc “Trì Giới, trì Luật” làm Bổn nguyện, thì hạng phá giới, không thọ giới tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người trì Giới thì rất ít mà kẻ phá giới, không thọ giới thì chiếm đa phần.

Qua trên, các pháp tu tập khác theo đây để hiểu. Tóm lại, chúng ta cần hiểu rằng, lấy các pháp tu vừa kể trên làm Bổn nguyện, hy vọng được vãng sanh thì rất hạn hữu, mà nhất định không được vãng sanh thì chiếm đa phần.

Thế nên, xưa kia Tỷ-kheo Pháp Tạng – Như Lai Di Đà, với tâm từ bi bình đẳng thúc đẩy, muốn hoá độ hết thảy chúng sanh, nên Ngài không dạy lấy các pháp tu Tạo tượng, xây dựng chùa tháp v.v… làm Bổn nguyện tu tập, mà chỉ dạy lấy một pháp “Xưng niệm danh hiệu đức Phật” làm Bổn nguyện tu tập. Chính thế, trong “Ngũ Hội Pháp Sự Tán” Thiền sư  Pháp Chiếu ghi:

“Đức Phật ấy vốn lập nguyện rộng:
Ai niệm tên Tôi, Tôi đến đón,
Không kể bần cùng hay phú quý,
Không kể trí hèn hay thông thái,
Không kể đa văn, giữ tịnh giới,
Không kể phá giới tội nặng sâu,
Chỉ cần hồi tâm chuyên niệm Phật,
Sỏi đá có thể biến thành vàng”.

Hỏi: Sự lập nguyện của hết thảy chư vị Bồ Tát, thì có những vị đã thành tựu, cũng có những vị chưa thành tựu; tuy vậy, chưa cứu xét Bốn mươi tám Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng là đã thành tựu hay chưa?

Đáp: Tất cả Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng, nguyện nào cũng đã thành tựu, sao vậy?- Bởi lẽ, tại thế giới Cực Lạc không có ba đường ác dữ, nên biết rằng, “Nguyện không có ba đường ác dữ” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Cũng không có các tai nạn của ba đường Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh”. Lại nữa, sau khi thọ mạng của hàng Trời-Người trong thế giới ấy kết thúc cũng không tái sanh vào ba đường ác dữ, nên biết rằng, “Nguyện không tái sanh vào ba đường ác dữ” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Hơn nữa, các vị Bồ Tát ấy cho đến khi thành Phật cũng không còn tái sanh vào con đường ác dữ”. Lại nữa, hàng Trời-Người ở thế giới Cực Lạc không có một vị nào là không đầy đủ Ba mươi hai tướng tốt, nên biết rằng, “Nguyện đủ Ba mươi hai tướng tốt” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Ai vãng sanh về thế giới ấy thì tất cả đều đầy đủ Ba mươi hai tướng tốt”. Như thế, từ Đại nguyện đầu tiên – “Nguyện không có ba đường ác dữ” đến nguyện cuối cùng – “Nguyện chứng Ba pháp nhẫn”, tất cả thệ nguyện ấy đều đã thành tựu. Do vậy, Đại nguyện thứ mười tám – “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh” há độc nhất không được thành tựu hay sao?- Qua đây, hết thảy người niệm Phật đều được vãng sanh. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi về “Nguyện người niệm Phật được vãng sanh” ấy đã thành tựu rằng: “Có những chúng sanh được nghe danh hiệu đức Phật ấy, khởi tâm tin tưởng hoan hỷ, dù chỉ niệm một niệm rồi chân thành hồi hướng nguyện cầu vãng sanh về thế giới của đức Phật đó, liền được vãng sanh chứng quả Bất thối chuyển”. Phàm trong Bốn mươi tám Đại nguyện để trang nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc, như hồ sen báu, lầu gác báu v.v… không có sự kiện gì là không do nguyện lực, sao lại có thể nghi ngờ độc nhất “Nguyện người niệm Phật được vãng sanh”? Hơn nữa, khi kết thúc mỗi thệ nguyện đều có lời này: “…Nếu không như thế thì Con không giữ ngôi Chánh giác”, và đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp (Đại kiếp); như vậy, thệ nguyện thành Phật của Ngài đã thành tựu viên mãn, và mỗi mỗi câu thệ nguyện của Ngài không thể là hư dối. Chính thế, Đại sư Thiện Đạo bảo: “Đức Phật ấy hiện nay đã thành Phật tại thế giới ấy, cho nên biết rằng Bổn nguyện thâm trọng đó không chút hư dối, nếu chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Ngài thì tất nhiên được vãng sanh”.

Hỏi: Kinh gọi là “Thập Niệm”, giải thích là “Thập Thanh”, ý nghĩa của NiệmThanh là như thế nào?

Đáp: NiệmThanh là giống nhau. Tại sao biết được? – Vì đoạn văn trong Hạ phẩm Hạ sanh của “Quán Kinh” ghi: “Khiến tiếng niệm, xưng “Nam mô A Di Đà Phật” không gián đoạn đầy đủ trong mười niệm; nhờ xưng danh hiệu đức Phật nên trong từng niệm trừ diệt được những tội nặng trong đường sanh tử tám mươi ức kiếp”. Căn cứ vào đoạn văn này, thì ý nghĩa của ThanhNiệm đã quá rõ; tức là, Thanh chính là Niệm, Niệm chính là Thanh. Thêm nữa, “kinh Đại Tập Nguyệt Tạng” ghi: “Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”. Pháp sư Hoài Cảm chú thích: “Niệm lớn tức lớn tiếng niệm Phật, niệm nhỏ tức nhỏ tiếng niệm Phật”. Thế nên, “Niệm” là xướng lên, cất tiếng lên vậy.

Hỏi: Kinh gọi là “Nãi chí” (Cho đến), giải thích là “Hạ chí” (Dưới đến), ý nghĩa đó như thế nào?

Đáp: Ý nghĩa của Nãi chíHạ chí là giống nhau. Khế Kinh bảo: “Nãi chí” là ý nghĩa từ Nhiều giảm xuống Ít; Nhiều là trên từ suốt đời, Ít là dưới đến mười tiếng (niệm) hay một tiếng v.v…

Giải thích rằng: “Hạ chí” là ý nghĩa Dưới đối với Trên; Dưới là dưới đến mười tiếng hay một tiếng v.v… Trên là trên từ suốt đời; chữ Trên và Dưới được sử dụng đối nhau trong Kinh khá nhiều. Như ở “Nguyện Túc Mạng Thông” ghi: “Giả như Con được thành Phật mà hàng Trời-Người trong thế giới của Con không chứng Túc mạng thông, “Cho đến” không biết rõ nhân quả trong trăm ngàn ức vô số kiếp, thì Con không giữ ngôi Chánh giác”. Tương tợ, trong các Đại nguyện về “Ngũ thần thông”, “Hào quang”, “Thọ mạng” v.v… nguyện nào cũng dùng thuật ngữ “Hạ chí”, là ý nghĩa từ Nhiều giảm đến Ít, lấy Dưới đối nghĩa với Trên. Qua trích dẫn tám Đại nguyện trên cho chúng ta thấy rằng, ý nghĩa “Nãi chí” và “Hạ chí” chỉ là một; do vậy, tại đây Đại sư Thiện Đạo sử dụng thuật ngữ “Hạ chí” thì không có sự trái nghĩa.

Tuy nhiên, ý kiến của Đại sư Thiện Đạo và các Đại sư khác có sự bất đồng; sự giải thích của các Đại sư thì mang tính riêng biệt, đó là: “Nguyện người niệm mười niệm được vãng sanh”; chỉ riêng ý kiến của Đại sư Thiện Đạo thì mang tính tổng quát, đó là: “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh”. Xét về “Nguyện người niệm mười niệm được vãng sanh” mang tính riêng biệt của các Đại sư, thì ý nghĩa không rốt ráo; bởi lẽ, vì Trên thì bỏ mất suốt đời niệm Phật, Dưới thì bỏ mất niệm Phật một niệm. Xét về “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh” mang tính tổng quát của Đại sư Thiện Đạo, thì ý nghĩa thật rốt ráo; bởi lẽ, vì Trên thì lấy cả suốt đời niệm Phật, Dưới thì lấy cả chỉ niệm Phật một niệm.

————————–

[7] Kinh Đại A Di Đà: Tức kinh Phật thuyết A Di Đà, 2 quyển,  do Chi Khiêm đời Ngô dịch. Nói đủ là kinh Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo. Ngoài ra, lại có kinh Đại A Di Đà, 2 quyển, do Vương Nhật Hựu soạn vào đời Triệu Tống.

[8]]Đức Phật Lâu-Di-Cắng-La: Tức đức Phật Thế Tự Tại Vương.

[9] Tỷ-kheo Đà-Ma-Ca: Tức Tỷ-kheo Pháp Tạng.

[10] Kinh Nhị Thập Tứ Nguyện: Tương đương với kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác,  4 quyển, do Chi Lâu Ca Sấm dịch đời Hậu Hán (gọi tắt là kinh Bình Đẳng Giác). Hai Kinh này với kinh Đại A Di Đà được dịch trước kinh Vô Lượng Thọ, trong ba Kinh này chỉ lược ghi 24 lời nguyện của Tỷ-kheo Pháp Tạng mà thôi.

[11] Hai Kinh: Tức kinh Nhị Thập Tứ Nguyện và kinh Bình Đẳng Giác.

CHƯƠNG IV: BA BẬC (Tam Bối).

Đoạn văn diễn bày: Ba bậc Vãng sanh của pháp Niệm Phật.

Quyển hạ, “kinh Vô Lượng Thọ” ghi: “Đức Phật bảo A-nan  rằng: Hết thảy hàng Trời-Người trong tất cả các thế giới ở khắp mười phương, nếu ai chí thành nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì sẽ sanh vào một trong Ba bậc như sau”:

Hạng bậc Thượng là những người lìa bỏ gia đình, cắt đứt dục vọng, xuất gia làm Sa-môn, phát tâm Bồ Đề, thuần nhất chuyên niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ và tu tập mọi công đức khác để nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Những người thuộc hạng này đến giờ phút lâm chung sẽ được đức Phật Vô Lượng Thọ cùng chư vị trong đại chúng hiện ra trước mắt, liền theo sau đức Phật và đại chúng vãng sanh về thế giới ấy. Tại đây, hành giả từ trong hoa sen bảy báu tự hoá sanh ra, liền chứng đắc quả vị Bất thối chuyển với thần thông tự tại, trí tuệ rộng sâu. Thế nên, A-nan! Nếu chúng sanh nào mong cầu được thấy đức Phật Vô Lượng Thọ ngay trong đời này, thì cần phải phát tâm Vô thượng Bồ Đề, tu tập mọi công đức để nguyện vãng sanh về thế giới ấy.

Đức Phật bảo A-nan: Hạng bậc Trung là các hàng Trời-Người trong tất cả thế giới ở khắp mười phương, nếu ai chí thành nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, dù không thể xuất gia làm Sa-môn và tu tập các công đức to lớn, nhưng họ phát tâm Vô thượng Bồ Đề, thuần nhất tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ và tu tập ít nhiều công đức phước thiện, như giữ gìn trai giới, xây dựng chùa tháp, tạo tượng, cúng dường thực phẩm cho hàng Sa-môn, treo cờ dâng hoa, đốt đèn thắp hương; rồi đem những công đức này hồi hướng để nguyện sanh về thế giới Cực Lạc. Những người thuộc hạng này đến giờ phút lâm chung sẽ được đức Phật Vô Lượng Thọ hoá thân với thân tướng đầy đủ tướng tốt, hào quang rực rỡ như thân tướng chân thật của Ngài, cùng chư vị trong đại chúng hiện ra trước mắt, liền theo sau đức hoá Phật và đại chúng vãng sanh về thế giới ấy, chứng đắc quả vị Bất thối chuyển, về công đức và trí tuệ thì kém thua các vị ở hạng bậc Thượng.

Đức Phật bảo A-nan: Hạng bậc Hạ là các hàng Trời-Người trong tất cả thế giới ở khắp mười phương, nếu ai chí thành muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, dù không thể làm được các công đức phước thiện, nhưng họ phát tâm Vô thượng Bồ Đề, thuần nhất chuyên ý niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ, cho đến chỉ mười niệm để nguyện sanh về thế giới Cực Lạc. Hoặc trường hợp, được nghe Kinh pháp sâu xa hoan hỷ tin tưởng ưa thích, không khởi nghi ngờ, cho đến chỉ niệm một niệm danh hiệu đức Phật, rồi chân thành nguyện sanh về thế giới ấy. Những người thuộc hạng này, đến giờ phút lâm chung sẽ được mộng thấy đức Phật Di Đà và được vãng sanh, về công đức và trí tuệ thì kém thua các vị ở hạng bậc Trung.

Hỏi thêm rằng: Trong đoạn văn hạng bậc Thượng, ngoài pháp tu Niệm Phật vẫn thực hiện các pháp khác, như lìa bỏ gia đình, cắt đứt dục vọng…; trong đoạn văn hạng bậc Trung cũng tu tập các công đức khác như xây dựng chùa tháp, tạo tượng v.v…; trong đoạn văn hạng bậc Hạ cũng tu tập các hạnh khác, như phát tâm Vô thượng Bồ Đề v.v…; như thế, tại sao chỉ xác định: “Do niệm Phật mà được vãng sanh”?.

Đáp: Trong “Quán Niệm Pháp Môn”, Hoà thượng Thịên Đạo ghi: “Hơn nữa, trong quyển Hạ Kinh này dạy rằng: Đức Phật bảo: Căn tánh của tất cả chúng sanh thì không giống nhau, có Ba bậc là Thượng, Trung và Hạ; tuỳ theo các căn tánh ấy, đức Phật đều khích lệ họ tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ; nhờ vậy, những người này đến giờ phút lâm chung sẽ được đức Phật và Thánh chúng đến nghinh tiếp để tất cả họ đều được vãng sanh”– Căn cứ vào ý nghĩa vừa giải thích, nên xác định Ba bậc đều do niệm Phật mà được vãng sanh.

Hỏi: Giải thích trên, đâu có phủ nhận tu các hạnh khác, vậy tại sao phải buông bỏ các hạnh tu đó mà chỉ tu pháp Niệm Phật?

Đáp: Điều ấy có ba ý: Thứ nhất, vì để buông bỏ Các Hạnh trở về tu pháp Niệm Phật mà trình bày về các hạnh đó; thứ hai, vì để trợ hạnh sự thành tựu pháp Niệm Phật mà trình bày về các hạnh đó; thứ ba, vì để qui ước “Pháp Niệm Phật” và “Các Hạnh” là “Hai Môn” sai khác và mỗi Môn kiến lập Ba bậc mà trình bày các hạnh đó.

– Thứ nhất, “Vì để buông bỏ Các Hạnh trở về tu pháp Niệm Phật” mà trình bày về các hạnh đó: Căn cứ theo Hoà thượng Thiện Đạo ghi trong “Quán Kinh Sớ” rằng: “Phần trên, tuy có nói về sự lợi ích của hai pháp tu Định và Tán, nếu căn cứ tâm ý của chúng sanh hướng về Bổn nguyện của đức Phật, thì chỉ thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”, đây là ý nghĩa giải thích cho câu trên. Trong bậc Thượng, tuy có nói về phát tâm Bồ Đề và tu các hạnh khác, nhưng đúng ý nghĩa qui hướng về Bổn nguyện đức Phật, thì chúng sanh chỉ thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà mà thôi, vì trong Bổn nguyện không có bất cứ một pháp tu nào khác. Ba bậc đều căn cứ trên Bổn nguyện này, nên được gọi là “Thuần nhất tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ”. Thuần nhất là cặp từ đối nghĩa với thuần nhị, thuần tam; tương tợ như “Năm ngọn núi ở Thiên Trúc”[[12]]( Ấn Độ) gồm có ba loại Tự viện: Thứ nhất, Tự viện thuần nhất Đại thừa – là tự viện hoàn toàn không tu học giáo lý Tiểu Thừa; thứ hai, Tự viện thuần nhất Tiểu thừa – là tự viện hoàn toàn không tu học giáo lý Đại Thừa; thứ ba, Tự viện kiêm tu cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa – là tự viện kiêm tu học giáo lý cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, nên gọi là “Tự viện kiêm tu”. Tại đây, chúng ta cần hiểu rằng, ý nghĩa của hai Tự viện Đại thừa và Tiểu thừa là thuần nhất, Tự viện kiêm tu là không Thuần nhất; do vậy, ý nghĩa từ “Thuần nhất” được sử dụng ở trên cũng như thế, nghĩa là, nếu đã tu pháp Niệm Phật mà tu thêm các hạnh khác thì không phải thuần nhất, tương tợ như Tự viện kiêm tu trên. Mặt khác, đã gọi là thuần nhất thì không thể kiêm tu các hạnh khác! Tóm lại, trước hết nói về các hạnh khác, sau đó lại nói “Thuần nhất tinh chuyên niệm Phật”, thì cần hiểu rõ là để buông bỏ các hạnh mà chỉ duy nhất niệm Phật mà thôi, ấy thế mới gọi là Thuần nhất, nếu không như vậy thì từ Thuần nhất không thể tiêu hoá được!

– Thứ hai, “Vì để trợ hạnh sự thành tựu pháp Niệm Phật” mà trình bày các hạnh đó: Điểm này cũng có hai ý: Thứ nhất, Trợ hạnh sự thành tựu pháp Niệm Phật cho hạng có thiện căn giống nhau; thứ hai, Trợ hạnh sự thành tựu pháp Niệm Phật cho hạng có thiện căn khác nhau.

Trước hết, bàn về “Trợ hạnh sự thành tựu cho hạng có thiện căn giống nhau” :Như trong “Quán Kinh Sớ”, Hòa thượng Thiện Đạo đã nêu lên năm loại hạnh tu để Trợ hạnh cho sự thành tựu pháp Niệm Phật, điều này đã trình bày đầy đủ tại “Hai hạnh Chánh-Tạp” ở trên. Kế đến, bàn về “Trợ hạnh sự thành tựu cho hạng có thiện căn khác nhau”: Như căn cứ vào bậc Thượng đã trình bày ở trước mà luận về Chánh và Trợ, thì  “Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ” là “Chánh hạnh” và cũng là “Sở trợ”. Lìa bỏ gia đình, cắt đứt dục vọng, xuất gia làm Sa-môn, phát tâm Bồ Đề v.v… là “Trợ hạnh” cũng là “Năng trợ”. Nghĩa là, “Kết quả sự vãng sanh căn bản do niệm Phật”; chính thế, thuần nhất tinh chuyên niệm Phật, mà lìa bỏ gia đình, cắt đứt dục vọng, xuất gia làm Sa-môn, lại phát tâm Bồ Đề v.v… Tựu trung, xuất gia, phát tâm Bồ Đề v.v… là ý hướng để thực hiện pháp tu Niệm Phật suốt đời không thối tâm; như thế, đâu có trở ngại cho pháp Niệm Phật! Trong bậc Trung cũng có các hạnh, như xây dựng chùa tháp, tạo tượng, treo cờ dâng hoa, đốt đèn thắp hương v.v… đó là trợ hạnh sự thành tựu pháp môn Niệm Phật, ý nghĩa này tham khảo thêm ở “Vãng Sanh Yếu Tập”; nghĩa là, trong phương pháp trợ hạnh cho Niệm Phật cần thực hiện các phương diện ấy. Trong bậc Hạ cũng có phát tâm Bồ Đề, cũng có Niệm Phật, ý nghĩa Chánh hạnh, Trợ hạnh dựa theo nguyên tắc ở trên để hiểu.

– Thứ ba, “Vì để quy ước pháp Niệm Phật và Các Hạnh là Hai Môn sai khác, và mỗi Môn kiến lập Ba bậc” mà trình bày các hạnh đó; Trước hết, tóm lược “Môn Niệm Phật” mà kiến lập Ba bậc, tức là trong Ba bậc nói trên đều nhất thống: “ Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ”, chính đây là tóm lược pháp Niệm Phật mà kiến lập Ba bậc. Vì thế, hai quyển “Vãng Sanh Yếu Tập” và “Niệm Phật Chứng Cứ Môn” đều đồng nhất rằng: “Kết quả của Ba bậc tuy có Cạn-Sâu, nhưng đều nhất thống pháp tu là: Thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ”. Kế đến, tóm lược “Môn Các Hạnh” mà kiến lập Ba bậc, tức là trong Ba bậc nói trên đều có phát tâm Bồ Đề và Các Hạnh…, chính đây là tóm lược Các Hạnh mà kiến lập Ba bậc. Vì thế, hai quyển “Vãng Sanh Yếu Tập” và “Chư Hạnh Vãng Sanh Môn” đều đồng nhất rằng: “Ba bậc cũng không ngoài pháp Niệm Phật ấy”.

Ba ý được trình bày trên tuy có sự sai khác, nhưng đều quy kết về “Thuần Nhất Niệm Phật”. Ý thứ nhất: “Vì buông bỏ mà trình bày”; nghĩa là, vì buông bỏ Các Hạnh để kiến lập Pháp Niệm Phật mà trình bày. Ý thứ hai: “Vì Chánh hạnh, Trợ hạnh mà trình bày”; nghĩa là, vì trợ giúp Chánh hạnh Niệm Phật mà trình bày Trợ hạnh của các hạnh đó. Ý thứ ba: “Vì Chánh, Phụ mà trình bày”; nghĩa là, tuy nói Niệm Phật và Các Hạnh là Hai Môn nhưng chọn Niệm Phật là Chánh, Các Hạnh là Phụ, vì thế mới gọi là: “Ba bậc đều là nhất thống Niệm Phật”.

Thật ra, ba ý trình bày trên, xét kỹ thì rất khó hiểu; do vậy, xin quý học giả tuỳ tiện hoặc ghi nhớ hoặc bỏ qua. Nếu căn cứ ý kiến của Hoà thượng Thiện Đạo thì chọn lấy Chánh hạnh là đủ.

Hỏi: “Tu tập trong Ba bậc đều là Niệm Phật”, vấn đề này thì hẳn nhiên rồi; nhưng xét về chín Phẩm trong “Quán Kinh”[[13]] và Ba bậc trong “Thọ Kinh”[[14]] có sự trình bày sai khác nhau. Tại sao Ba bậc trong “Thọ Kinh” đều là Niệm Phật? Mà, chín Phẩm trong “Quán Kinh” thì sáu phẩm của bậc Thượng và bậc Trung không nói đến Niệm Phật, mãi đến ba phẩm của bậc Hạ mới nói?

Đáp: Vấn đề ấy có hai ý:

– Thứ nhất, theo câu hỏi: Tại sao lại trình bày sai khác về Ba bậc trong “Thọ Kinh” và chín Phẩm trong “Quán Kinh”?- Điều này chúng ta nên biết rằng, trong chín Phẩm đều hành trì Niệm Phật. Tại sao biết được?- Bởi lẽ, trong Ba bậc đều có Niệm Phật thì tại sao trong chín Phẩm lại không có sự Niệm Phật! Thế nên, trong “Vãng Sanh Yếu Tập” ghi rằng: “Hỏi: Vấn đề hành trì Niệm Phật thông nhiếp cả chín Phẩm như thế nào?- Đáp: Nếu nói đúng tiêu chuẩn Pháp Niệm Phật thì cứu cánh là phẩm Thượng bậc Thượng; như vậy, tuỳ theo sự Hơn-Kém (Thắng-Liệt) để chia thành chín Phẩm. Như Kinh đã dạy, sự tu tập trong chín phẩm đều biểu hiện một hướng, cái lý này thật là vô lượng”. Qua đây, chúng ta nên biết rằng, pháp tu Niệm Phật là thông nhiếp cả chín Phẩm.

– Thứ hai, theo tư tưởng của “Quán Kinh”: Trước hết trình bày rộng về hai pháp Định và Tán để thích ứng với mọi căn cơ của chúng sanh; sau đó, phế bỏ hai pháp thiện của Định và Tán để trở về Niệm Phật mà thôi, vì thế mới có câu văn: “Các ông hãy khéo léo bảo trì lời nói ấy”. Với ý nghĩa này, dưới đây sẽ trình bày đầy đủ hơn; tóm lại, chúng ta cần hiểu rằng: “Tu tập trong chín Phẩm chủ yếu chỉ là Niệm Phật”.

————————————-

[12] Năm ngọn núi ở Thiên Trúc (Thiên Trúc ngũ sơn): Là năm ngọn núi có nhiều Tịnh xá để tọa thiền, đó là Bề-ba-la-bạt-thứ, Tát-đa-bát-na-cầu-ha (Nam sơn thạch thất), Nhân-đà-la-thế-la-cầu-ha, Tát-pha-thứ-hồn-trực-ca-bát-bà-la và Kỳ-xà-quật.

[13] Quán Kinh: Tức kinh Quán Vô Lượng Thọ.

[14]]Thọ Kinh: Tức kinh Vô Lượng Thọ.

CHƯƠNG V: LỢI ÍCH.

Đoạn văn diễn bày: Lợi ích của pháp Niệm Phật.

Quyển Hạ, “kinh Vô Lượng Thọ” ghi rằng:

“Phật bảo Di Lặc:
Người nào được nghe,
Danh hiệu Phật ấy,
Mừng vui phấn khích,
Dù niệm một niệm,
Nên biết người ấy,
Được đại lợi ích,
Đó là tròn đầy,
Công đức Vô Thượng”.

Trong “Lễ Tán”, Đại sư Thiện Đạo ghi:

“Người nào được nghe đến,
Danh hiệu Phật Di Đà,
Mừng vui niệm một niệm,
Vẫn sanh về cõi Ngài”.

Hỏi thêm rằng: Theo đoạn văn trình bày về nội dung Ba bậc ở trên, ngoài pháp Niệm Phật còn giới thiệu tu thêm các công đức khác, như phát tâm Bồ Đề v.v…Vậy, tại sao không tán thán công đức tu tập các pháp khác mà chỉ duy nhất tán thán công đức Niệm Phật?

Đáp: Mật ý của đức Phật thì khó mà hiểu rõ; tuy nhiên, để ước định thâm ý đó, chúng ta có thể căn cứ vào ý kiến của Đại sư Thiện Đạo để hiểu một phần nào. – Theo Đại sư, ý của đức Phật, mặc dầu chỉ muốn xác định pháp tu chủ yếu là pháp Niệm Phật, nhưng do tuỳ thuận nhiều căn cơ chúng sanh mà phải dạy thêm các pháp tu khác, như phát tâm Bồ Đề v.v… để có sự phân định Ba bậc Sâu-Cạn sai khác. Dù vậy, các pháp ấy cần được buông bỏ nên không tán thán, mà chỉ lựa chọn duy nhất pháp Niệm Phật, do đây mà được tán thán; chúng ta nên ghi nhận rõ như thế! Riêng về pháp Niệm Phật thì chia thành Ba bậc, điều này có hai ý: Thứ nhất, tuỳ theo “Quán Niệm Sâu-Cạn” để chia; thứ hai, căn cứ “Niệm Phật Nhiều-Ít” để chia.

Trước hết, bàn về “Sâu-Cạn”, như ở trước đã trích dẫn, đó là: “Nếu nói đúng tiêu chuẩn pháp Niệm Phật thì cứu cánh là phẩm Thượng bậc Thượng”.

Kế đến, bàn về “Nhiều-Ít”, thì trong đoạn văn trình bày về bậc Hạ đã nói đến con số mười niệm cho đến một niệm; hai bậc Thượng và Trung căn cứ theo đây để tăng thêm. Trong “Quán Niệm Pháp Môn” ghi rằng: “Mỗi ngày niệm Phật một vạn câu và cũng nên có thời khoá cố định để lễ bái tán thán sự trang nghiêm của cõi Tịnh Độ. Nếu tinh tấn hơn thì có thể niệm Phật ba vạn hoặc sáu vạn hay mười vạn câu, đây là những người Vãng sanh vào phẩm Thượng bậc Thượng”. Tại đây cần lưu ý rằng, niệm Phật từ ba vạn câu trở lên là nội dung tu tập để được vãng sanh vào phẩm Thượng bậc Thượng; niệm Phật từ ba vạn câu trở xuống là nội dung tu tập để vãng sanh từ phẩm Thượng bậc Thượng xuống đến phẩm Hạ bậc Hạ. Qua đây, cứ theo sự niệm Phật nhiều hay ít để có thể hiểu là sẽ vãng sanh vào phẩm nào.

Tại đây, cặp từ “Một Niệm” (Nhất Niệm) chính là “Một Niệm” trong thành tựu Đại nguyện niệm Phật đã nói ở trước và “Một Niệm” đã nói rõ trong bậc Hạ. Một Niệm trong câu văn thành tựu Đại nguyện chưa xác định là công đức đại lợi; và, Một Niệm trong câu văn bậc Hạ cũng chưa xác định là công đức đại lợi; đến bây giờ, Một Niệm mới được gọi là “Đại Lợi”, mới được tán thán là “Vô Thượng”; do thế, chúng ta cần hiểu rằng, cặp từ “Một Niệm” được sử dụng là hàm ẩn công đức Đại Lợi và Vô Thượng.

Dùng cặp từ “Đại Lợi” này là để đối nghĩa với cặp từ “Tiểu Lợi”, nhằm xác định rằng, tu các hạnh như phát tâm Bồ Đề  v.v… là Tiểu Lợi, còn tu pháp Niệm Phật dù chỉ Một Niệm là Đại Lợi.

Lại nữa, dùng “Công Đức Vô Thượng” là nhóm từ đối nghĩa với “Công Đức Hữu Thượng” (Có công đức cao hơn), nhằm xác định rằng, tu các pháp khác là Hữu Thượng, còn tu pháp Niệm Phật là Vô Thượng. Qua đây, chúng ta cần ghi nhận rằng, Một Niệm là Một Vô Thượng, Mười Niệm là Mười Vô Thượng, Trăm Niệm là Trăm Vô Thượng, Ngàn Niệm là Ngàn Vô Thượng; niệm Phật tương tợ như thế từ ít đến nhiều, nhiều như số cát của sông Hằng (Hằng sa) thì gọi là hằng hà sa số công đức Vô Thượng.

Như thế, những người cầu nguyện vãng sanh thế giới Cực Lạc, sao lại buông bỏ pháp Niệm Phật với Đại Lợi Vô Thượng, mà gượng ép tu các hạnh với Tiểu Lợi Hữu Thượng!

CHƯƠNG VI: ĐẶC CÁCH LƯU LẠI.

Đoạn văn diễn bày: Sau thời Mạt pháp một vạn năm, hết thảy các pháp tu khác đều tận diệt, chỉ pháp Niệm Phật được đặc cách lưu lại.

Quyển Hạ, “kinh Vô Lượng Thọ” ghi rằng:

“Vào thời vị lai,
Hết thảy Kinh pháp,
Đều bị tận diệt,
Với lòng từ bi,
Thương xót chúng sanh,
Ta sẽ đặc cách,
Lưu lại Kinh này,
Trong một trăm năm.
Nếu chúng sanh nào,
Gặp được Kinh này,
 Tuỳ theo ước nguyện,
Đều được vãng sanh”.

Hỏi thêm rằng: Trong Kinh chỉ nói: “Đặc cách lưu lại Kinh này” trong một trăm năm, chứ hoàn toàn không nói: “Đặc cách lưu lại pháp Niệm Phật” trong một trăm năm; vậy, tại sao nơi đây lại nói: “Đặc cách lưu lại pháp Niệm Phật”?

Đáp: Kinh này đã trình bày rõ ràng toàn bộ về pháp Niệm Phật, ý chỉ này đã đề cập ở trước, tại đây không cần lặp lại; đồng thời, các Đại sư như Thiện Đạo, Hoài Cảm v.v… đều nhất quán như thế. Qua đây, “Kinh này lưu lại” chính là “Pháp Niệm Phật lưu lại”. Hơn nữa, Kinh này tuy có nói về tâm Bồ Đề, nhưng không nói về hành tướng tâm Bồ Đề; tuy có nói trì Giới nhưng không nói về hành tướng của trì Giới…- Về hành tướng của tâm Bồ Đề  đã được đề cập rộng rãi ở kinh Bồ Đề Tâm v.v… Khi các Kinh này tận diệt thì căn cứ vào đâu để tu tập tâm Bồ Đề ?- Về hành tướng trì Giới đã được đề cập rộng rãi ở các bộ Luật của Đại Thừa, Tiểu Thừa; khi các bộ Luật này tận diệt thì căn cứ vào đâu để trì Giới? Các pháp tu khác chúng ta dựa theo ý nghĩa này để hiểu. Vì thế, trong “Vãng Sanh Lễ Tán” Đại sư Thiện Đạo đã giải thích đoạn văn trên như sau:

“Vạn năm sau Tam Bảo tận diệt,
Chỉ Kinh này lưu lại trăm năm,
Bấy giờ ai nghe niệm một câu,
Đều được vãng sanh về nước ấy”.

Đồng thời, giải thích đoạn văn này, tổng quát có bốn ý: Thứ nhất, giữa hai giáo nghĩa của Thánh đạo và Tịnh Độ có sự tồn tại và tận diệt trước-sau; thứ hai, giữa hai giáo nghĩa của Thập Phương và Tây Phương có sự tồn tại và tận diệt trước-sau; thứ ba, giữa hai giáo nghĩa của Đâu Suất và Tây Phương có sự tồn tại và tận diệt trước-sau; thứ tư, giữa hai hạnh tu là Niệm Phật và Các Hạnh khác có sự tồn tại và tận diệt trước-sau.

Thứ nhất, giữa hai giáo nghĩa của Thánh ĐạoTịnh Độ có sự tồn tại và tận diệt trước-sau: Nghĩa là, các Kinh điển của Thánh Đạo môn sẽ tận diệt trước, nên gọi là “Kinh pháp tận diệt”; Kinh này của Tịnh Độ môn đặc cách được lưu lại, nên gọi là “Lưu lại trăm năm”. Qua đây, chúng ta biết rằng, cơ duyên của Thánh Đạo thì cạn mỏng mà cơ duyên của Tịnh Độ lại sâu dày.

Thứ hai, giữa hai giáo nghĩa của Thập PhươngTây Phương có sự tồn tại và tận diệt trước-sau: Nghĩa là, các giáo nghĩa tu tập để vãng sanh các cõi Tịnh Độ trong mười phương sẽ tận diệt trước, nên gọi là “Kinh pháp tận diệt”; Kinh này đặc cách được lưu lại để tu tập vãng sanh Tịnh Độ Tây Phương, nên gọi là “Lưu lại trăm năm”. Qua đây, chúng ta biết rằng, cơ duyên của các Tịnh Độ Thập Phương thì cạn mỏng mà cơ duyên của Tịnh Độ Tây Phương lại sâu dày.

Thứ ba, giữa hai giáo nghĩa của Đâu-SuấtTây Phương có sự tồn tại và tận diệt trước-sau: Nghĩa là, giáo nghĩa của các kinh Di Lặc Thượng Sanh, kinh Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán v.v… để tu tập sanh lên Đâu-Suất sẽ tận diệt trước, nên gọi là “Kinh pháp tận diệt”; Kinh này đặc cách được lưu lại để tu tập vãng sanh Tây phương, nên gọi là “Lưu lại trăm năm”. Qua đây, chúng ta biết rằng, cõi Đâu-Suất tuy gần mà cơ duyên cạn mỏng, cõi Cực Lạc tuy xa nhưng cơ duyên lại sâu dày.

Thứ tư, giữa hai hạnh tu là Niệm Phật Các Hạnh có sự tồn tại và tận diệt trước-sau: Nghĩa là, các giáo nghĩa vãng sanh của Các Hạnh ấy sẽ tận diệt trước, nên gọi là “Kinh pháp tận diệt”; Kinh này đặc cách được lưu lại để niệm Phật vãng sanh, nên gọi là “Lưu lại trăm năm”. Qua đây, chúng ta biết rằng, tu tập Các Hạnh để được vãng sanh thì cơ duyên rất cạn mỏng mà Niệm Phật được vãng sanh lại rất sâu dày. Nói thêm rằng, tu Các Hạnh để được vãng sanh thì cơ duyên ít, mà tu Niệm Phật để được vãng sanh thì cơ duyên rất nhiều; hơn nữa, tu Các Hạnh để vãng sanh thì đến thời điểm một vạn năm của thời Mạt pháp sẽ chấm dứt, còn tu Niệm Phật để vãng sanh thì sẽ được kéo dài thêm trăm năm nữa.

Hỏi: Ở trước ghi rằng: “Với lòng từ bi, thương xót chúng sanh, Ta sẽ đặc cách, lưu lại Kinh này, trong một trăm năm”. Như thế, đức Thích Tôn vì lòng từ bi mà lưu lại Kinh pháp; vậy, tại sao không lưu lại các Kinh khác mà chỉ lưu lại Kinh này?

Đáp: Đức Thích Tôn không lưu lại một Kinh nào khác mà chỉ đặc cách lưu lại Kinh này, là hàm ẩn một ý nghĩa rất sâu xa. Nếu căn cứ vào ý kiến của Đại sư Thiện Đạo, thì nội dung Kinh này đã trình bày về Bổn nguyện Niệm Phật vãng sanh của đức Như Lai Di Đà, đức Thích Ca vì lòng từ bi muốn lưu lại pháp Niệm Phật nên đặc cách lưu lại Kinh này. Xét về nội dung của các Kinh khác không trình bày về Bổn nguyện Niệm Phật vãng sanh của đức Như Lai Di Đà, do thế, vì lòng từ bi mà đức Thích Tôn không lưu lại các Kinh ấy. Thậm chí, Bốn mươi tám Đại nguyện tuy đều là Bổn nguyện, nhưng đặc thù chỉ chọn “Niệm Phật là tiêu chuẩn vãng sanh”. Chính vậy, Đại sư Thiện Đạo giải thích rằng:

“Bốn tám nguyện rộng có nhiều môn,
Riêng nêu Niệm Phật lắm thiết thân,
Ai hay niệm Phật, Phật ghi nhớ,
Ai chuyên tưởng Phật, Phật tri tường”.

Qua đây, chúng ta nên ghi nhận rằng, trong Bốn mươi tám Đại nguyện đã chọn Đại nguyện Niệm Phật Vãng Sanh là “Vua trong Bổn Nguyện”. Chính thế, đức Thích Ca từ bi đặc cách lưu lại Kinh này một trăm năm, tương tợ như trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ”, Ngài không phú chúc các hạnh tu Định, Tán, mà chỉ duy nhất phú chúc pháp tu Niệm Phật, đây là do thuận theo lời thệ nguyện của đức Phật A Di Đà, nên chỉ phú chúc một pháp Niệm Phật mà thôi.

Hỏi: Đặc cách lưu lại pháp Niệm Phật thời gian một trăm năm, điều này rõ ràng rồi; nhưng pháp Niệm Phật này có thông dụng với các căn cơ chúng sanh trong ba thời Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp không?

Đáp: Rất thông dụng cho cả ba thời Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Tại đây, đề cập pháp Niệm Phật được lưu lại sau cùng là để khích lệ chúng sanh trong thời hiện tại, chúng ta cần ghi nhận tiêu chí chương này là như thế.

CHƯƠNG VII: THÂU NHIẾP.

Đoạn văn diễn bày: Hào quang đức Phật A Di Đà không soi chiếu các hành giả khác, mà chỉ duy nhất soi chiếu thâu nhiếp những hành giả niệm Phật.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ” ghi rằng: “Đức Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng tốt, trong mỗi tướng tốt lại có tám vạn bốn ngàn vẻ đẹp, trong mỗi vẻ đẹp lại có tám vạn bốn ngàn thứ hào quang, mỗi hào quang này chiếu khắp tất cả các thế giới trong mười phương để thâu nhiếp không bỏ sót những hành giả niệm Phật”.

Trong “Quán Kinh Sớ” ghi rằng: “Từ: “Đức Phật Vô Lượng Thọ” đến cuối câu: “Thâu nhiếp không bỏ sót những hành giả niệm Phật”, ý câu này muốn nói rằng, những người có duyên Niệm Phật sẽ được thấy thân tướng và hào quang riêng biệt của Ngài để được lợi lạc. Vấn đề này có năm điểm: Thứ nhất, thấy tướng tốt nhiều hay ít; thứ hai, thấy vẻ đẹp nhiều hay ít; thứ ba, thấy hào quang nhiều hay ít; thứ tư, thấy hào quang gần hay xa; thứ năm, thấy hào quang soi chiếu khắp nơi đem lợi lạc riêng cho người niệm Phật”.

Hỏi: Tu tập các hạnh khác một cách đầy đủ rồi hồi hướng cầu vãng sanh, thì đều được vãng sanh; vậy, tại sao hào quang của đức Phật không soi chiếu khắp tất cả những người tu các pháp khác, mà chỉ thâu nhiếp riêng những người niệm Phật, là có ý nghĩa gì?

Đáp: Vấn đề này có ba ý:

– Thứ nhất, do “Thân duyên”: Nghĩa là, hành giả tu tập, miệng thường xưng niệm danh hiệu đức Phật, thì đức Phật nghe rõ tiếng niệm Phật ấy; thân thường cung kỉnh lễ lạy đức Phật thì đức Phật thấy rõ sự lễ lạy ấy; ý thường nhớ nghĩ đến đức Phật, thì đức Phật biết rõ sự việc ấy; tóm lại, hành giả luôn tưởng nhớ đức Phật thì đức Phật cũng luôn tưởng nhớ hành giả. Với ba nghiệp thân-khẩu-ý không bao giờ rời xa đức Phật như thế, nên gọi là “Thân Duyên”.

– Thứ hai, do “Cận duyên”: Nghĩa là, hành giả ước nguyện được thấy đức Phật thì đức Phật liền đáp ứng hiện ra trước mắt, nên gọi là “Cận duyên”.

– Thứ ba, do “Tăng thượng duyên”: Nghĩa là, hành giả xưng niệm danh hiệu đức Phật là trừ diệt được tội chướng của nhiều kiếp; đến khi lâm chung đức Phật và Thánh chúng tự đến đón tiếp; các tà đạo và sự trói buộc của nghiệp không thể ngăn cản được, nên gọi là “Tăng thượng duyên”.

Xét rằng, tu tập Các Hạnh khác, thực chất đều là thiện hạnh, nhưng so với pháp Niệm Phật thì hoàn toàn không thể so sánh được. Vì vậy, trong nội dung các Kinh đều tán thán rộng sâu về công năng niệm Phật. Như Bốn mươi tám Đại nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, vẫn xiển dương duy nhất sự tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để được vãng sanh. Hoặc, như trong kinh Di Đà, cũng xiển dương sự niệm Phật tinh chuyên ấy từ một ngày đến bảy ngày để được vãng sanh. Hay, vô số chư Phật khắp các thế giới mười phương đều chứng minh “Pháp Niệm Phật Vãng Sanh” là chân thật không hư dối. Thêm nữa, trong nội dung trình bày về Định thiện, Tán thiện của kinh Quán Vô Lượng Thọ, cũng duy nhất nêu lên sự tinh chuyên xưng niệm danh hiệu để được vãng sanh, điều này không phải chỉ được trình bày một lần, với ý thú là: Nhằm hiển bày rộng rãi sự rốt ráo “Pháp Niệm Phật Tam Muội”.

Trong “Quán Niệm Pháp Môn” ghi: “Lại như các thân tướng và hào quang của đức Phật nói ở trước, mỗi hào quang này chiếu khắp các thế giới trong mười phương, chỉ có những hành giả tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, mới được hào quang của Ngài soi chiếu nhiếp hộ không bỏ sót, chứ hoàn toàn không hề đề cập đến việc soi chiếu thâu nhiếp những hành giả tu tập các pháp khác.

Hỏi thêm rằng: Hào quang đức Phật “Chỉ soi chiếu những hành giả niệm Phật” mà “Không soi chiếu những hành giả tu các pháp khác” là có ý nghĩa gì?

Đáp: Vấn đề này có hai ý: Thứ nhất, do ba duyên là “Thân duyên”… đã nói ở trên; thứ hai, do Bổn nguyện – nghĩa là, tu các pháp khác không phải Bổn nguyện của đức Phật nên không được soi chiếu thâu nhiếp, mà tu pháp Niệm Phật chính là Bổn nguyện của đức Phật, nên hẳn nhiên được soi chiếu thâu nhiếp. Chính thế, Đại sư Thiện Đạo đã ghi trong “Lục Thời Lễ Tán” rằng:

“Sắc thân Di Đà tợ vàng ròng,
Hào quang tướng hảo chiếu mười phương,
Riêng người niệm Phật được soi chiếu,
Nên biết Bổn nguyện rất hùng cường”.

Hơn nữa, đoạn văn đã trích dẫn trên rằng: “Tu tập Các Hạnh khác thực chất đều là thiện hạnh, nhưng so sánh với pháp Niệm Phật thì hoàn toàn không thể so sánh được”, đây là ý nghĩa so sánh giữa Tịnh Độ môn và Thánh Đạo môn (Các Hạnh khác). Pháp Niệm Phật là “Diệu hạnh” đã được chọn lấy trong tất cả pháp tu của Hai trăm mười ức thế giới chư Phật; bên cạnh, Các Pháp tu khác là “Thô hạnh” của Hai trăm mười ức thế giới chư Phật đã được buông bỏ; bởi thế, mới gọi là “hoàn toàn không thể so sánh được”; hơn nữa, Niệm Phật là Bổn nguyện của đức Phật, còn Các Pháp tu khác không phải Bổn nguyện của Ngài, cũng bởi thế mới gọi là “hoàn toàn không thể so sánh được”.

CHƯƠNG VIII: BA TÂM (Tam Tâm).

Đoạn văn diễn bày: Hành giả niệm Phật hẳn nhiên trọn đủ Ba Tâm.

“Kinh Quán Vô Lượng Thọ” ghi rằng: “Nếu chúng sanh nào, nguyện sanh về thế giới ấy thì phải phát Ba thứ tâm mới được vãng sanh, Ba Tâm ấy là gì?- Đó là: Thứ nhất, Chí thành tâm; thứ hai, Thâm tâm; thứ ba, Hồi hướng phát nguyện tâm; trọn đủ Ba Tâm này tất nhiên được vãng sanh về thế giới ấy”.

Kinh này và “Quán Kinh Sớ” ghi rằng:

“Thứ nhất, Chí thành tâm: “Chí” là Chân, “Thành” là Thật. Tức muốn xác minh rằng, sự biểu hiện thân-khẩu-ý trong hai vấn đề tu-học của hết thảy hành giả phải được phát xuất từ tâm niệm chân thật, không được bên ngoài thì phô bày sự tinh tấn hiền thiện, mà trong lòng lại giả dối chứa đầy chất liệu tham sân tà ngụy, gian xảo trăm chiều, tánh ác dữ mỗi ngày mỗi tăng, hành động độc hại như rắn, rết, bò cạp, dù xuất xử của ba nghiệp có bóng dáng của thiện, nhưng thiện ấy được gọi là hành động hư dối, cũng được gọi là thiện pha tạp độc ác, đây không thể là hành động tu tập chân thật. Nếu hành giả bằng lòng với sự tu tập như thế, đêm ngày trọn đủ mười hai thời, khổ công gắng sức cả thân lẫn tâm, cấp tốc nhanh nhẹn không dừng nghỉ như đầu mình đang bị đốt cháy, thì tất cả hành động ấy gọi là thiện pha tạp độc ác. Muốn hồi hướng hành động tu tập pha tạp độc ác này để cầu sanh về Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, thì điều này hẳn nhiên không bao giờ có kết quả. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, khi đức Phật A Di Đà đang tu tập hạnh Bồ Tát, cho dù chỉ trong một giây, một sát na, hành động ba nghiệp của Ngài đều phát xuất từ tâm niệm chân thật để xuất xử, bất cứ làm gì tất cả đều chân thật.

Lại nữa, sự chân thật có hai loại, một là chân thật tự lợi, hai là chân thật lợi tha.

Chân thật tự lợi có hai thứ:

– Thứ nhất, trong tâm chân thật tự mình và giúp người luôn chế ngự, buông bỏ các điều bất thiện cùng tất cả mọi sự xấu xa trong xã hội, đất nước; khi đi-đứng-nằm-ngồi đều có tư tưởng tương đồng với hết thảy chư vị Bồ Tát đang chế ngự và buông bỏ các điều bất thiện.

– Thứ hai, trong tâm chân thật tự mình và giúp người luôn nỗ lực tu tập các pháp hiền thiện của hàng Phàm Thánh; trong tâm chân thật luôn phát xuất lời nói (khẩu nghiệp) tán thán đức Phật A Di Đà và Chánh báo, Y báo của cõi Cực Lạc.

Lại nữa, trong tâm chân thật luôn phát xuất lời nói phỉ báng, chán ghét hiện tượng của sáu đường ba cõi và mọi sự khổ đau ác dữ về Chánh báo, Y báo của mình và người; đồng thời, tán thán mọi việc hiền thiện  mà ba nghiệp thân-khẩu-ý của tất cả chúng sanh đã thực hiện; nếu là những hành động bất  thiện thì xa lánh và không tùy hỷ chúng.

Lại nữa, trong tâm chân thật luôn phát xuất hành động của thân (thân nghiệp) như chắp tay lễ lạy, cung kỉnh cúng dường tứ sự (nhà cửa, y phục, thực phẩm, thuốc thang)… lên đức Phật A Di Đà và Chánh báo, Y báo cõi Cực Lạc.

Lại nữa, trong tâm chân thật luôn phát xuất hành động của thân biểu hiện sự khinh khi, chán ghét, buông bỏ việc sanh tử trong sáu đường ba cõi, và Chánh báo, Y báo của mình, của người.

Lại nữa, trong tâm chân thật luôn phát xuất hành động của ý (ý nghiệp), như tư duy, quán sát, nhớ nghĩ về đức Phật A Di Đà và Chánh báo, Y báo cõi Cực Lạc như hiện ra trước mắt.

Lại nữa, trong tâm chân thật luôn phát xuất hành động của ý biểu hiện sự khinh khi, chán ghét, buông bỏ việc sanh tử trong sáu đường, ba cõi, và Chánh báo, Y báo của mình, của người.

Ba nghiệp bất thiện phát khởi thì trong tâm chân thật cần buông bỏ, nếu ba nghiệp thiện phát khởi thì trong tâm chân thật cần thực hiện. Tóm lại, không phân biệt hành động của nội tâm hay thân-khẩu, tất cả mọi xuất xử đều chân thật thì được gọi là Chí thành tâm.

– Thứ hai, Thâm tâm: Gọi là: “Thâm tâm” chính là “Tâm thâm tín”. Thâm tâm cũng có hai loại:

– Thứ nhất, Thâm tín kiên định rằng: Bản thân hiện là kẻ phàm phu đang chứa đựng  những tội ác của hiện tượng sinh tử, từ vô thỉ đến nay mãi bị chìm đắm, trôi lăn trong vòng sanh tử ấy, không có cơ hội thoát khỏi.

– Thứ hai, Thâm tín kiên định rằng: Bốn mươi tám Đại nguyện của đức Phật A Di Đà luôn nhiếp thọ hết thảy chúng  sanh, nên chẳng lo nghĩ chẳng nghi ngờ, mà chỉ nương vào nguyện lực của Ngài thì chắc chắn được vãng sanh.

Lại nữa, Thâm tín kiên định rằng: Đức Phật Thích Ca thuyết giảng về Định thiện, Tán thiện và chín Phẩm trong Ba bậc của “kinh Quán Vô Lượng Thọ”, nhằm chứng thật và tán thán về Chánh báo, Y  báo cõi Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, giúp mọi người mừng vui luyến mộ.

Lại nữa, Thâm tín kiên định rằng: Trong “kinh Di Đà”, vô số chư Phật trong mười phương đều xác minh lời thuyết giảng của đức Thích Ca là sự thật, và khích lệ hết thảy phàm phu hãy tin tưởng tu tập thì nhất định sẽ được vãng sanh.

Lại nữa, Thâm tín tức là ước nguyện hết thảy hành giả v.v… hãy tin tưởng duy nhất vào lời đức Phật dạy, không tiếc thân mạng mà chỉ kiên định căn cứ theo lời dạy ấy để tu tập. Đức Phật dạy, hãy buông bỏ liền buông bỏ, đức Phật dạy hãy thực hành liền thực hành, đức Phật dạy hãy đi chỗ khác liền đi chỗ khác; như thế, gọi là tùy thuận lời đức Phật dạy, tùy thuận tâm ý của đức Phật, tùy thuận thệ nguyện của đức Phật; chính thế mới được gọi là đệ tử chân chánh của đức Phật.

Lại nữa, hết thảy hành giả chỉ có thể căn cứ vào Kinh này để “Thâm tín” tu tập, thì không phải là hạng phàm phu mê lầm. Tại sao như thế?- Bởi vì, đức Phật là vị đã hoàn thiện trọn vẹn tâm đại từ bi, nên lời dạy của Ngài hoàn toàn chân thật; do vậy, trong hiện tại chỉ có trường hợp đức Phật ứng hiện trở lại, còn những vị đang tu học xét về trí tuệ và công hạnh vẫn chưa viên mãn, do vì hai chướng đã huân tập từ xưa đến nay chưa đoạn trừ, nên quả vị và thệ nguyện vẫn chưa hoàn mãn. Qua đây, những vị Phàm-Thánh đang tu học muốn đo lường ý thú lời dạy của chư Phật thì cũng không thể đoán định chính xác được; chính thế, dù một đoạn Kinh văn nào, cốt yếu phải được chư Phật chứng minh xác định. Nếu đoạn văn nào đúng ý chư Phật tức chư Phật ấn chứng lời nói ấy là: Như vậy! Như vậy! Nếu đoạn văn nào không đúng ý chư Phật thì lời nói ấy chính do các vị nói; và ý nghĩa là: Không như vậy!- Đã không có ấn chứng thì lời nói ấy tương đồng “vô ký”, “vô lợi”, “vô ích”. Chúng ta tuân theo ấn chứng của đức Phật chính là tùy thuận Chánh giáo của Ngài; nghĩa là, những gì đức Phật đã dạy chính đó là Chánh giáo, là Chánh nghĩa, là Chánh hạnh, là Chánh giải, là Chánh nghiệp, là Chánh trí… Do thế, dù nhiều hay ít, nhất thiết không nên thưa hỏi hàng Người, Trời, Bồ Tát v.v… đoán định sự đúng sai về pháp Niệm Phật này; bởi lẽ, đã do đức Phật chỉ dạy tức là “Liễu giáo”, còn hàng Bồ Tát v.v… thuyết giảng thì nhất định đều là “Bất liễu giáo”. Chúng ta cần được ghi nhận minh bạch như thế!

Qua trình bày trên, giờ đây ngưỡng cầu hết thảy những người… có duyên vãng sanh, chỉ nên duy nhất thâm tín lời đức Phật dạy rồi chuyên chú, trân trọng tu tập; đồng thời, không nên tin dùng những giáo nghĩa không tương ứng với vấn đề vãng sanh do các hàng Bồ Tát v.v… giảng dạy, vì sẽ gây nghi ngờ, nắm lấy sự mê hoặc, bỏ mất kết quả đại lợi của việc vãng sanh.

Lại nữa, Tâm thâm tín nghĩa là, kiên định xây dựng tư tưởng của mình thuận theo Chánh giáo mà tu tập, vĩnh viễn chấm dứt sự nghi hoặc, không vì mọi giải thích khác, mọi tu tập khác, mọi học thuật khác, mọi kiến giải khác, mọi chấp thủ khác mà bị thối thất quên lãng.

Hỏi: Hạng phàm phu kiến thức cạn cợt[[15]], mê hoặc sâu dày, nếu gặp những người có sở kiến, sở tu các pháp môn khác, trích dẫn nhiều điểm trong Kinh, Luận làm chứng cứ để vấn nạn rằng: Tất cả hàng phàm phu đang còn tội chướng nhất định không được vãng sanh, thì làm sao trả lời câu vấn nạn ấy để giữ trọn vẹn tín tâm, kiên định thẳng tiến không sợ hãi thối lui?

Đáp: Nếu có người trích dẫn nhiều điểm trong Kinh, Luận làm chứng cứ là: “Còn tội chướng nhất định không được vãng sanh”, hành giả (niệm Phật) cần trả lời rằng: Nhân giả dù trích dẫn trong Kinh, Luận làm chứng cứ để kết luận như thế, nhưng quan điểm của tôi khẳng quyết không chấp nhận lời đả phá của ông. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, kiến giải của tôi chẳng phải như thế, nên không tin tưởng các Kinh, Luận ấy, tuyệt đối tôi vẫn giữ niềm tin của tôi; hơn nữa, khi đức Phật giảng thuyết về các Kinh ấy thuộc trú xứ khác, thuộc thời gian khác, đáp ứng căn cơ khác và có lợi ích khác. Thêm nữa, khi đức Phật giảng thuyết các Kinh ấy, chẳng phải thời điểm Ngài giảng về “kinh Quán Vô Lượng Thọ”, “kinh Di Đà” v.v… Đồng thời, khi thuyết giảng giáo pháp, đức Phật đã chọn lựa từng căn cơ của thính chúng, và thời gian thuyết giảng sai khác nhau. Tóm lại, các Kinh ấy, diễn bày về giáo nghĩa và pháp tu chung cho hàng Người, Trời, Bồ Tát; còn khi đức Phật giảng về Định thiện, Tán thiện của “Quán Kinh”, là dành riêng cho Hoàng hậu Vi-đề-hy và hết thảy phàm phu ở giai đoạn đầy đủ năm thứ ô trược, năm thứ khổ đau v.v…, sau khi đức Phật diệt độ, đây chính là chứng cứ “Những người trí cạn chướng sâu vẫn được vãng sanh”. Qua sự kiện này, giờ đây tôi tuyệt đối căn cứ vào lời đức Phật dạy mà kiên định tu tập, giả như các ông trải qua trăm-ngàn-vạn-ức lần nói rằng, những phàm phu trí cạn chướng sâu chắc chắn không được vãng sanh, thì kết quả lời nói ấy chỉ làm tăng thêm sức mạnh cho niềm tin, là tôi chắc chắn được vãng sanh mà thôi.

Lại nữa, hành giả tiếp tục nói với họ rằng: Xin Nhân giả vui lòng lắng nghe! Bây giờ tôi sẽ nói về thái độ niềm tin kiên định của tôi: Giả như hàng Bồ Tát của bậc Trụ, bậc Hạnh, bậc Hướng hay bậc A-la-hán, Bích chi Phật, hoặc một vị hay nhiều vị cho đến hết thảy các vị khắp mười phương, đều trích dẫn Kinh, Luận để làm chứng cứ cho vấn đề “Hàng phàm phu trí cạn chướng sâu không được vãng sanh”, thì tôi cũng không khởi lên một tơ hào nghi ngờ; trái lại, chỉ tăng thêm sức mạnh cho niềm tin trong sáng của tôi mà thôi. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, lời đức Phật dạy thì ý nghĩa tuyệt đối rốt ráo (Liễu nghĩa), không bị bất cứ điều gì phá hoại được.

Lại nữa, xin Nhân giả vui lòng lắng nghe! Giả sử từ quả vị Sơ địa đến Thập địa, hoặc một vị hay nhiều vị cho đến hết thảy các vị khắp mười phương, khác miệng cùng lời tuyên bố rằng: Đức Phật Thích Ca tán thán cõi Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà và hủy báng sáu đường trong ba cõi của cõi Ta Bà; đồng thời, khích lệ tất cả chúng sanh hãy nỗ lực tinh chuyên niệm Phật và tu tập các thiện pháp khác, khi lâm chung tất nhiên sẽ được vãng sanh về Tịnh Độ ấy – tất cả điều này là hư dối, không thể tin tưởng được. Mặc dù tôi nghe rõ các lập luận đó, nhưng chẳng khởi lên một tơ hào nghi ngờ; trái lại, chỉ làm niềm tin của tôi càng kiên định vượt bậc mà thôi. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, lời do đức Phật dạy thì hoàn toàn chân thật, ý nghĩa thì luôn tuyệt đối rốt ráo (Liễu nghĩa). Đức Phật là vị hiểu biết chân thật, lý giải chân thật, thấy nghe chân thật, chứng ngộ chân thật, nên lời dạy của Ngài hoàn toàn không phải phát xuất từ tâm niệm nghi ngờ mê hoặc; chính thế, không thể bị những thấy biết khác, nhưng lý giải khác của chư vị Bồ Tát phá hoại được. Hơn nữa, nếu là một vị Bồ Tát chân chính thì tuyệt đối không bao giờ nói ngược lại lời đức Phật đã dạy.

Lại nữa, qua các điểm vừa trình bày, hành giả cần ghi nhận rằng, giả như các đức Phật hóa thân, các đức Phật báo thân, hoặc một vị hay nhiều vị cho đến hết thảy các vị khắp mười phương. Mỗi vị đều phóng quang chiếu sang hiện ra tướng lưỡi rộng dài phủ che cả thế giới trong mười phương, đồng thời mỗi vị đều tuyên bố rằng, điều mà đức Thích Ca đã giảng, đã tán thán và khích lệ tất cả phàm phu hãy tinh chuyên niệm Phật, cùng tu tập các thiện pháp khác nhằm hồi hướng để vãng sanh về Tịnh Độ ấy; đây là sự hư dối, nhất định không có sự thật đó. Mặc dầu tôi nghe rõ những lời tuyên bố của chư Phật như thế, nhưng hoàn toàn không khởi lên một tơ hào nghi ngờ, thối chí và lo sợ không được vãng sanh về Tịnh Độ của đức Phật ấy. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, dù một đức Phật hay hết thảy đức Phật, xét về các mặt công đức như sự thấy biết, lý giải, tu tập, chứng ngộ, quả vị, từ bi v.v… hoàn toàn giống hệt nhau không có một điểm sai khác; do thế, điều gì do một đức Phật chế định chính là hết thảy đức Phật cùng chế định. Tương tợ, như một đức Phật ra đời trước, Ngài chế định rằng, người tu tập thì phải đoạn trừ tội Sát sanh, Thập ác v.v…; tuyệt đối không làm, không phạm, được như thế gọi là Thập thiện, Thập hạnh thuận theo ý nghĩa của Lục độ. Nếu một đức Phật ra đời sau, há có thể bãi bỏ Thập thiện do đức Phật trước chế định, để khiến người tu tập thực hành Thập ác hay sao! Do thế, chúng ta cần hiểu rõ rằng, đã là Đạo lý (Chân lý) thì không bao giờ thay đổi – lời nói và hành động của chư Phật không bao giờ có sự trái ngược nhau. Ví như đức Thích Ca khích lệ tất cả phàm phu hãy tinh tấn suốt đời tinh chuyên tu tập, tinh chuyên niệm Phật đến khi lâm chung nhất định sẽ được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì hết thảy chư Phật trong mười phương đều cùng tán thán, cùng khích lệ, cùng chứng tri. Tại sao như thế?- Bởi lẽ, chư Phật cùng một thực thể Đại bi vậy. Một đức Phật giáo hóa chúng sanh chính là tất cả chư Phật giáo hóa, tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh chính là một đức Phật giáo hóa; như trong “kinh Di Đà” trình bày rằng: Đức Phật Thích Ca tán thán mọi thứ trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, lại khích lệ tất cả phàm phu hãy thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, tối thiểu từ một ngày đến bảy ngày thì nhất định sẽ được vãng sanh. Đoạn văn ở sau lại ghi rằng: Có vô số chư Phật ở khắp mười phương, mỗi vị đều tán thán đức Phật Thích Ca có thể ở trong thế giới đầy năm thứ ô trược rất sung mãn, đó là thời đại ô trược, thế giới ô trược, chúng sanh ô trược, thấy biết ô trược, tà kiến ô trược mà vẫn có ý thú tán thán danh hiệu đức Phật A Di Đà và khích lệ chúng sanh hãy nỗ lực xưng niệm thì nhất định vãng sanh, tức là chư Phật đã xác minh “Pháp Niệm Phật được vãng sanh” là sự thật.

Lại nữa, chư Phật trong mười phương sợ rằng, chúng sanh không tin tưởng lời thuyết giảng, vì lời ấy chỉ do một đức Phật Thích Ca trình bày, nên hết thảy chư Phật cùng thời gian ấy, mỗi vị đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ (Tam thiên đại thiên thế giới), rồi tuyên bố lời chân thật rằng: Này tất cả chúng sanh! Hãy tin tưởng những điều đức Thích Ca đã thuyết giảng, đã tán thán, đã xác minh là: “Tất cả phàm phu không kể tội nhiều hay ít, phước ít hay nhiều; không kể thời điểm gần hay xa, mà trọn đời hay thậm chỉ bảy ngày hoặc một ngày, thuần nhất tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì nhất định được vãng sanh”; tất cả các điểm ấy không nên nghi ngờ. Tóm lại, một đức Phật thuyết giảng điều gì, thì hết thảy chư Phật cùng xác minh lời giảng ấy là chân thật, không hư dối.

– Thứ ba, Hồi hướng phát nguyện tâm: Gọi là “Hồi hướng phát nguyện tâm”, nghĩa là, từ quá khứ cho đến hiện tại, tam nghiệp thân-khẩu-ý của mình đã tu tập được các pháp thiện thuộc thế gian, xuất thế gian, và đã tùy hỷ tam nghiệp thân-khẩu-ý của hết thảy chư vị Phàm Thánh đã tu tập được các pháp thiện thế gian, xuất thế gian, rồi với tâm thuần nhất chân thật, thâm tín đem tất cả sự tu tập ấy hồi hướng nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, hành động này được gọi là “Hồi hướng phát nguyện tâm”. Lại nữa, Hồi hướng phát nguyện nguyện vãng sanh tất phải nhất định từ trong tâm chân thật phát nguyện hồi hướng và khởi lên tư tưởng mình được vãng sanh; với tâm thâm tín kiên định như kim cang này, thì sẽ không bị các thấy biết khác, học thuật khác, lý giải khác, tu tập khác của tha nhân phá hoại làm thối chí, mà chỉ nhất hướng tinh chuyên theo Chánh đạo thẳng tiến, không cần chú tâm đến lời nói của kẻ khác để khỏi rơi vào tình huống tiến-thối khó phân, tâm sinh nhu nhược, lạc hướng đường tu, đánh mất đại lợi của sự vãng sanh.

Hỏi: Nếu có người với kiến giải và hạnh tu tào tạp đến gây phiền nhiễu, như nói nhiều về vấn đề tạo sự nghi ngờ dẫn đến kết luận là không được vãng sanh; hoặc nói rằng, các ông và tất cả chúng sanh từ vô thỉ cho đến tận hôm nay, ba nghiệp thân-khẩu-ý đối với hết thảy hàng phàm phu và Thánh nhân đã tạo đầy những tội lỗi như: Thập ác, Ngũ nghịch, Tứ trọng, Nhất-xiển-đề, Hủy báng Chánh pháp, Phá giới, Phá kiến v.v… vẫn chưa đoạn tận; và, những tội chướng này đang trói buộc các ông và chúng sanh vào những con đường xấu ác của ba cõi; như thế, tại sao chỉ một đời niệm Phật tu phước mà được hội nhập vào thế giới vô sanh, vô lậu, vĩnh viễn được chứng ngộ quả vị Bất thối?

Đáp: Giáo nghĩa và pháp tu của chư Phật về số lượng còn vượt trên số lượng của cát bụi, cơ duyên của chúng sanh đối với giáo pháp ấy chẳng phải chỉ có một pháp. Chẳng hạn, như mọi người trong thế gian, mắt họ có thể thấy điều này, có thể tin điều kia, ví dụ như ánh sáng có thể phá hủy sự tối tăm, không gian có thể chứa đựng mọi vật có hình tướng, đất có thể nâng đỡ và nuôi dưỡng mọi loài vật, nước có thể tạo sự nhuận mát, lửa có thể phá hủy mọi vật đang hiện hữu. Tất cả những sự kiện tương tợ như thế đều được gọi là hiện tượng đối đãi, và đôi mắt con người có thể trông thấy ngàn vạn sự kiện sai khác, huống gì Phật pháp vốn có hiệu lực không thể nghĩ bàn, há không có một lợi ích nào hay sao! Tùy theo duyên, nếu vượt qua một pháp chính là vượt qua một pháp phiền não, nếu hội nhập một pháp chính là hội nhập một pháp trí tuệ giải thoát. Như vậy, mỗi người tùy theo duyên của mình để tu tập mong cầu giải thoát; thế thì, tại sao các ông lại đem các pháp tu tập mà chúng tôi không có duyên để gây chướng ngại cho chúng tôi!- Bởi lẽ, pháp mà chúng tôi ưa thích chính là pháp tu có duyên với chúng tôi, lại là pháp mà các ông không mong muốn; trái lại, pháp mà các ông ưa thích chính là pháp tu có duyên với các ông, lại là pháp chúng tôi không mong muốn. Qua đó, mỗi người tùy theo sở thích của mình để chọn hạnh tu thích hợp thì sẽ đạt được giải thoát nhanh hơn. Hành giả cần ghi nhận rằng, nếu muốn thông suốt hết thảy sở học từ hàng Phàm phu đến quả vị Phật Đà không có trở ngại, thì nhờ vào sự học tập thích đáng; nếu muốn hạnh nguyện tu tập có kết quả cao thì phải nhờ vào pháp tu có duyên, công phu hành trì ít mà đạt được lợi ích lớn.

Thêm nữa, nay lại vì hành giả mà trình bày rõ về những vị được vãng sanh qua một thí dụ, để tăng trưởng tín tâm nhằm đề phòng những kiến giải sai khác của hàng ngoại đạo tà kiến gây nghi ngờ. Thí dụ ấy như thế nào?- Đó là: Giả như có một người đi về hướng Tây, khi đi được mười vạn dặm, bỗng giữa đường hiện hai con sông, một là sông lửa ở phía Nam, hai là sông nước tại phái Bắc. Sông nào cũng rộng trăm bước và sâu vô đáy, trải dài về hai phía Nam-Bắc vô tận. Giữa hai dòng sông lửa-nước ấy có một con đường sáng sủa (Bạch đạo) rộng khoảng bốn năm tấc, đường ấy từ bờ Đông đến bờ Tây cũng dài khoảng trăm bước. Trên con đường ấy vừa bị từng đợt sóng tràn ướt, vừa bị từng khối lửa đốt cháy, nước và lửa cứ đan xen hoành hành mãi như thế không bao giờ dừng nghỉ. Người ấy đã đến chỗ xa xôi vắng vẻ không một bóng người, những kẻ đạo tặc, ác thú thấy một người đơn độc, tranh nhau đến giết hại. Sợ chết, người ấy chạy thẳng về hướng Tây, bỗng thấy hai dòng sông lớn, nghĩ thầm: “Hai con sông ở phía Nam-Bắc thì không thấy bờ mé, ở giữa chỉ có một con đường sáng sủa nhưng nhỏ hẹp, hai bờ từ Đông sang Tây thì khá gần; song, bây giờ làm sao để đi, chắc phải chết!” Bấy giờ muốn trở về, thì những đạo tặc, ác thú chạy đến vây hảm; chạy trốn về phía Nam, phía Bắc ác thú, độc trùng vẫn tranh nhau vây đuổi; lại muốn xoay về hướng Tây tìm đường mà chạy, lại sợ rơi vào hai sông lửa-nước ấy. Quá sợ hãi, không thể phát ra lời, người ấy suy nghĩ: “Tình hình bây giờ, mình trở về cũng chết, đứng lại cũng chết, mà đi cũng chết, chỉ có một cách duy nhất thoát chết; đó là, mình cứ hướng về con đường phía trước mà đi, đã có con đường hẳn nhiên sẽ được thoát nạn.” Vừa suy nghĩ xong, bỗng ở bờ Đông có tiếng người khuyên rằng: “Nhân giả! Hãy kiên định tìm đường để đi tất nhiên sẽ thoát nạn chết, nếu dừng lại thì sẽ chết.” Lại trên bờ Tây có tiếng người bảo rằng: “Ông hãy kiên định Chánh niệm tiến thẳng về phía trước, tôi sẵn sàng bảo vệ ông, đừng lo sợ rơi vào sông lửa hay sông nước.” Được nghe lời này, người ấy rất tin tưởng, ổn định thân tâm, tìm đường thẳng tiến, không nghi ngờ, sợ hãi, thối chí; đi được một phần đoạn đường, rồi hai phần đoạn đường, thì bọn đạo tặc ở phía Đông lên tiếng rằng: “Nhân giả! Hãy trở lui, đường ấy rất nguy hiểm không nên đi, nếu vẫn đi chắc chắn sẽ bị chết. Chúng tôi nói như vậy không có ác ý gì đâu!” Dù nghe rõ lời nói, người ấy vẫn không nhìn lại, cứ kiên định thẳng tiến, chú ý vào con đường tuần tự tiến bước, không bao lâu đến bờ Tây, vĩnh viễn thoát ly hết thảy tai họa, được gặp chư vị Thiện hữu, hân hoan an lạc vô bờ.

Bây giờ giải thích thí dụ trên: “Bờ Đông” là dụ cho nhà lửa thế giới Ta Bà này; “bờ Tây” là dụ cho thế giới Cực Lạc quý báu; “đạo tặc, ác thú giả hiện thân thuộc” là dụ cho Lục căn, Lục thức, Lục trần, Ngũ ấm, Tứ đại của chúng sanh; “đến chỗ xa xôi vắng vẻ không có một bóng người” là dụ cho chúng sanh thường thân cận và phụ thuộc vào bạn bè xấu ác mà không thân cận các Thiện hữu tri thức chân thật; “sông nước, sông lửa” là dụ cho chúng sanh tham ái như nước, sân hận như lửa; “giữa hai dòng sông ấy có một con đường sáng sủa rộng khoảng bốn năm tấc” là dụ cho tâm tham lam, sân hận, phiền não của chúng sanh có thể phát khởi tâm niệm thanh tịnh nguyện cầu vãng sanh; chỉ vì tâm tham-sân… quá mạnh mẽ nên dụ như nước-lửa; bên cạnh, tâm thiện thì rất yếu nhỏ nên dụ như con đường sáng sủa. Lại nữa, “từng đợt sóng thường tràn ướt đường” là dụ cho tâm tham ái thường sinh khởi làm ô-nhiễm tâm thiện; “từng khối lửa thường đốt cháy đường” là dụ cho tâm sân hận thường đốt cháy các công đức của pháp tài; người ấy đi trên đường “thẳng tiến về phía Tây” là dụ sự hồi hướng các công hạnh tu tập  để thẳng tiến về Cực Lạc phương Tây; “bờ Đông có tiếng người khuyên rằng, hãy tìm đường thẳng tiến về phía Tây” là dụ cho đức Phật Thích Ca đã diệt độ, con người các thời đại sau không thể thấy Ngài được, nhưng Phật pháp thì có thể tìm được, dụ cho tiếng người nói ở trên; đi được một phần đoạn đường, hai phần đoạn đường “thì bọn đạo tặc v.v… kêu gọi trở lui” là dụ những lý giải khác, những pháp tu khác của những người thấy biết độc hại, rồi tuyên truyền bậy bạ làm người nghe bị mê lầm, đưa đến gây ra tội lỗi, thối chí tu tập; “trên bờ Tây có tiếng người bảo” là dụ ý nghĩa Đại nguyện đức Phật A Di Đà; “không bao lâu đến bờ Tây được thấy Thiện hữu rất hân hoan” là dụ cho chúng sanh từ vô thỉ đến nay đã chìm đắm quá lâu trong sanh tử luận hồi, do bởi tự mê lầm điên đảo trói buộc không có cơ hội thoát khỏi; ngưỡng nhờ đức Phật Thích Ca chỉ bày con đường quy hướng phương Tây, lại được nương nhờ tâm đại bi mời gọi của đức Phật A Di Đà, nay tin tưởng và thuận theo tâm ý của hai đức Từ Tôn, không còn nhìn lại hai sông Nước-Lửa, ý niệm này nối tiếp ý niệm kia liên tục nương vào nguyện lực của đức Phật A Di Đà để tu tập, đến khi lâm chung sẽ được vãng sanh về thế giới Cực Lạc diện kiến đức Phật, thật là hân hoan an lạc cùng cực!

 Lại nữa, hành giả trong mọi sinh hoạt đi-đứng-nằm-ngồi, sự tu tập của ba nghiệp thân-khẩu-ý không kể thời gian là ngày hay đêm thường tu-tập minh bạch như thế, thường tác ý nghĩ tưởng như thế, thì được gọi là “Hồi hướng phát nguyện tâm”. Lại nữa, gọi là hồi hướng tức khi đã vãng sang về thế giới Cực Lạc, lại phát tâm đại bi trở về thế giới sanh tử để giáo hóa chúng sanh cũng gọi là Hồi hướng.

Ba Tâm đã đầy đủ thì không có hạnh nguyện nào là không thành tựu. Khi hạnh nguyện đã thành tựu nếu không được vãng sanh vấn đề này không thể xảy ra.

Lại nữa, Ba Tâm này cũng tương thông và dung nhiếp ý nghĩa của Định thiện và Tán thiện (Trong Quán Kinh) chúng ta cần ghi nhận rõ như vậy.

Trong “Vãng Sanh Lễ Tán” ghi rằng: Hỏi: Nay muốn khuyến khích người tu tập vãng sanh mà chưa biết chọn lựa cách an tâm nào, cách phát khởi hạnh tu nào và cách tu tập nào để chắc chắn được vãng sanh về thế giới Cực Lạc?- Đáp: muốn chắc chắn được vãng sanh về thế giới ấy, theo “Quán Kinh” bảo, cần phải đầy đủ Ba Tâm mới chắc chắn được vãng sanh. Ba Tâm ấy là gì?

– Thứ nhất, Chí thành tâm: Nghĩa là, thân lễ lạy đức Phật A Di Đà, miệng tán thán xưng niệm danh hiệu đức Phật ấy, ý thuần nhất quán tưởng, nghĩ nhớ đức Phật ấy. Tất cả hành động tu tập của ba nghiệp thuần túy chân thật thì được gọi là Chí thành tâm.

– Thứ hai, Thâm tâm: Chính là tín tâm chân thật. Tức tin hiểu rằng, bản thân là một kẻ phàm phu chứa đầy những lậu hoặc phiền não, thiện căn thì yếu mỏng mãi bị trôi lăn trong ba cõi không ra khỏi nhà lửa; bây giờ tin hiểu vào Bổn thệ nguyện rộng sâu của đức Phật A Di Đà mà xưng niệm danh hiệu của Ngài, tối thiểu mười niệm thậm chí một niệm vẫn chắc chắn được vãng sanh; bên cạnh, cho đến chỉ một niệm không khởi tâm nghi ngờ cũng được gọi là Thâm tâm.

– Thứ ba, Hồi hướng phát nguyện tâm: Nghĩa là hết thảy các pháp thiện tu tập đều đem hồi hướng để cầu nguyện vãng sanh, như thế được gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm.

Đầy đủ trọn vẹn Ba Tâm này thì nhất định được vãng sanh, nếu thiếu một Tâm thì sẽ không được vãng sanh, điều này “Quán Kinh” đã trình bày rõ ràng, chúng ta cần ghi nhận rõ như thế.

Nói thêm rằng: Tại sao ở trên khẳng định “Ba Tâm” là rất cấp thiết đối với hành giả?- Như “Quán Kinh” đã ghi rằng: “Đầy đủ Ba Tâm thì nhất định vãng sanh về thế giới ấy”; qua đây, chúng ta cần hiểu rõ rằng, đầy đủ Ba Tâm là điều kiện để vãng sanh. Lại nữa, “Quán Kinh Sớ” giải thích rằng: “Nếu thiếu một Tâm sẽ không được vãng sanh”; như thế, thiếu bất cứ một Tâm nào thì sẽ không được vãng sanh. Do vậy, ai muốn vãng sanh về Cực Lạc thì phải hoàn thiện trọn vẹn cả Ba Tâm.

Ở trên, “Chí thành tâm” chính là tâm chân thật, ý nghĩa đã được trình bày; riêng về “bên ngoài thì phô bày sự tinh tấn hiền thiện mà trong lòng chứa đầy sự giả dối”; tại đây, từ “Ngoài” là đối nghĩa với từ “Trong”, tức tướng trạng bên ngoài và tâm niệm bên trong mâu thuẫn lẫn nhau – bên ngoài cố tình phô bày Trí tuệ mà bên trong lại Ngu muội; từ “Hiền” là đối nghĩa với từ “Ngu”, tức bên ngoài Hiền mà bên trong lại Ngu; từ “Thiện” là đối nghĩa với từ “Ác”, tức bên ngoài Thiện mà bên trong lại Ác, từ “Tinh tấn” là đối nghĩa với từ “Giải đãi”, tức bên ngoài cố tình phô bày tướng trạng Tinh tấn mà bên trong lại chứa đầy sự Giải đãi. Nếu chuyển đổi tướng trạng bên ngoài thành tâm địa bên trong thì trở thành một tâm địa hoàn mỹ. Lại xét về “trong lòng lại chứa đầy sự giả dối”; tại đây, từ “Trong” là đối nghĩa với từ “Ngoài”, tức tâm niệm bên Trong và tướng trạng bên Ngoài mâu thuẫn lẫn nhau – bên trong giả dối mà bên ngoài lại chân thật; từ “Giả” là đối nghĩa với từ “Thật”, tức bên trong Giả mà bên ngoài lại Thật; từ “Dối” là đối nghĩa với từ “Chân”, tức bên trong Dối mà bên ngoài lại Chân. Nếu chuyển đổi tướng trạng bên ngoài thành tâm địa bên trong thì cũng trở thành một tâm địa hoàn mỹ.

Kế đến, “Thâm tâm” chính là “Tâm Thâm tín”, nên biết:

Nhà sanh tử do Nghi bị lưu giữ,
Cõi Niết bàn nhờ Tín được quay về.

Do thế, tại đây thành lập hai loại tín tâm để nhất định vãng sanh trong Chín phẩm. Lại nữa, trong bản văn này nói về hết thảy các lý giải khác, các pháp tu khác, các học thuật khác, các thấy biết khác v.v… thì đấy chính là lý giải, pháp tu, học thuật, thấy biết… của Thánh Đạo môn; ngoài ra, những pháp còn lại là nội dung của Tịnh Độ môn như những đoạn văn ở trên đã trình bày. Bên cạnh, ý nghía về “Hai môn” đã được Đại sư Thiện Đạo phô diễn ở trên, tại đây không cần lặp lại nữa.

Ý nghĩa của “Hồi hướng phát nguyện tâm” thì không cần giải thích thêm nữa, hành giả nên ghi nhận như thế.

Tóm lại, với ý nghĩa của Ba Tâm này, nếu nói rộng là dung thông hết thảy pháp tu; nếu nói riêng biệt là thích ứng cho hạnh tu tập vãng sanh. Tại đây, nêu lên cái dung thông để quay về cái riêng biệt thì ý nghĩa thật hoàn chỉnh. Quý hành giả hãy tinh tấn dụng công thật dõng mãnh chớ đánh mất sự nghiệp của mình!

———————-

[15]-Hạng phàm phu…: Tức những hành giả tu pháp Niệm Phật trong thời Mạt pháp.

CHƯƠNG IX: BỐN TU (Tứ Tu).

Đoạn văn diễn bày: Hành giả niệm Phật cần ứng dụng pháp môn Bốn Tu.

Trong “Vãng Sanh Lễ Tán” Đại sư Thiện Đạo ghi rằng: “Lại nữa, khuyến khích tu tập pháp môn Bốn Tu”, Bốn Tu là gì?

Thứ nhất, “Cung kỉnh tu”: Nghĩa là, cung kỉnh lễ lạy đức Phật A Di Đà và hết thảy Thánh chúng của Ngài thì được gọi là Cung kỉnh tu. Lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, trong thời gian ấy thệ nguyện không dừng nghỉ thì gọi là “Trường thời tu”.

– Thứ hai, “Vô dư tu”: Nghĩa là, thuần nhất xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thuần nhất tưởng nhớ, thuần nhất lễ lạy, thuần nhất tán thán Ngài và hết thảy Thánh chúng của Ngài, không xen tu bất cứ một pháp nào nữa thì gọi là Vô dư tu. Lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, trong thời gian ấy thệ nguyện không dừng nghỉ thì gọi là “Trường thời tu”.

– Thứ ba, “Vô gián tu”: Nghĩa là, luôn luôn cung kỉnh, lễ lạy, xưng niệm danh hiệu, tán thán, tưởng nhớ, hồi hướng phát nguyện, tâm niệm này nối tiếp tâm niệm khác không để một pháp tu nào xen vào làm gián đoạn, thì gọi là Vô gián tu. Lại nữa, không để cho tâm niệm tham lam, sân hận, phiền não xen vào làm gián đoạn, vừa bị lầm lỗi, tức khắc sám hối đừng để cách niệm, cách giờ, cách ngày, mà phải luôn luôn giúp tâm niệm thanh tịnh cũng được gọi là Vô gián tu. Lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, trong thời gian ấy thệ nguyện không dừng nghỉ thì gọi là “Trường thời tu”.

Trong “Tây Phương Yếu Quyết” ghi rằng: Chỉ cần tu tập Bốn Tu, thì sự tu này là Chánh nghiệp:

– Thứ nhất, “Trường thời tu”: Nghĩa là, từ khi phát tâm cho đến khi thành tựu quả vị Bồ Đề  luôn luôn xây dựng nhân duyên thanh tịnh, hoàn toàn không thối tâm.

– Thứ hai, “Cung kỉnh tu”: Có năm phương diện:

+ Một, cung kỉnh những bậc Thánh nhân có duyên với hành giả: Nghĩa là, khi đi-đứng-nằm-ngồi không được xoay lưng về phương Tây; khi khạc nhổ, tiểu tiện, đại tiện, cũng không được hướng về phương Tây.

+ Hai, cung kỉnh Hình tượng, Kinh điển có duyên với hành giả: Nghĩa là, khi tạo vẽ hình ảnh đức Phật A Di Đà biểu tượng cảnh phương Tây thì không nên quá rộng, chỉ cần một hình đức Phật và hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí là được; về Kinh điển thì gồm các Kinh căn bản như kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ v.v…; hãy tự mình đọc tụng và trợ duyên cho người khác đọc tụng. Các Kinh, Tượng ấy hãy tôn trí nơi trang nghiêm trong nhà, mỗi ngày sáu thời tụng Kinh, lễ lạy, sám hối, và dùng hương hoa cúng dường với tâm niệm tôn trọng.

+ Ba, Cung kỉnh các vị Thiện tri thức có duyên với hành giả: Nghĩa là, những vị xiển dương giáo nghĩa Tịnh Độ trong phạm vi cách xa mười do-tuần[[16]] đến một ngàn do-tuần, thì cần phải thân cận, tôn trọng, cúng dường; những vị có sở học riêng (về Tịnh Độ) đều khởi tâm cung kỉnh, những vị có tư tưởng bất đồng vẫn phải cung kỉnh; nếu sanh tâm khinh chê thì mang tội vô cùng. Thế nên, tất cả Thiện tri thức cần được cung kỉnh thì sẽ đoạn trừ được những hành động gây nên phiền não.

+ Bốn, Cung kỉnh các Đạo bạn cùng duyên: Nghĩa là, những người cùng tu pháp môn Tịnh Độ, xét về tự thân, người nào cũng nghiệp chướng sâu dày, nếu tu tập một mình thì khó thành đạt, điều cốt yếu là cần phải nương nhờ Đạo bạn tốt mới có thể tu hành thành tựu; gặp khi ách nạn chướng duyên thì giúp đỡ lẫn nhau, tinh thần Đạo bạn thiện duyên này rất sâu sắc cần được tôn trọng và bảo vệ.

+ Năm, Cung kỉnh Tam Bảo: Nghĩa là, dù Tam Bảo Đồng thể, Tam Bảo xuất thế, hay Tam Bảo trú trì thế gian đều phải cung kỉnh sâu sắc. Tại đây, chỉ trình bày khái lược về Tam Bảo trú trì thế gian:

  •  Được gọi “Phật Bảo”: Nghĩa là, những hình tượng chư Phật được khắc chạm bằng gỗ thơm, bằng đá quý, bằng ngọc quý, hoặc được đúc bằng đất, bằng kim loại, hay được thêu một màu, nhiều màu v.v…những hình tượng ấy đặc biệt phải được tôn trọng và duy trì. Nếu đem tâm chân thành chiêm ngưỡng những hình tượng ấy thì tội chướng được tiêu dần, phước đức sẽ tăng thêm. Trái lại, khởi tâm khinh mạn thì tội ác sẽ lớn mạnh, phước thiện sẽ biến mất; hành giả cần tôn trọng hình tượng chư Phật như đang được diện kiến với chư Phật chân thật.
  •  Được gọi “Pháp Bảo”: Nghĩa là, toàn bộ giáo nghĩa của Tam thừa được phổ biến khắp pháp giới, ý nghĩa từng câu từng phẩm đã được diễn bày minh bạch có thể tiếp nhận dễ dàng; do thế, cần tôn trọng cung kỉnh để tạo duyên phát sinh trí tuệ. Nếu thường sao chép Kinh điển thì trú xứ ấy luôn được thanh tịnh an lạc. Nếu lưu giữ Kinh điển trong rương, trong tủ thì phải nghiêm trang kỉnh trọng, trước khi tụng đọc, thì thân thể phải tắm rửa sạch sẽ.
  • Được gọi “Tăng Bảo”: Nghĩa là, hết thảy chư vị Thánh Tăng, Bồ Tát Tăng, cho đến hàng phàm phu Tăng phóng túng, phá Giới, phạm Trai v.v… đều khởi tâm cung kỉnh không nên có tư tưởng khinh khi.

– Thứ ba, “Vô gián tu”: Nghĩa là, luôn luôn niệm Phật và nghĩ đến việc vãng sanh, bất cứ lúc nào cũng khéo léo tưởng niệm. Thí dụ, như một lữ khách bị kẻ cướp chiếm đoạt hết tài sản nên rơi vào hoàn cảnh khốn khổ đắng cay; bỗng nhiên, nhớ đến cha mẹ muốn trở về cố hương nhưng tiền bạc không có, ngày đêm nhớ nghĩ lòng dạ quặn thắt, không lúc nào không nghĩ đến mẹ cha. Do vậy, ngày đêm tính toán sớm có điều kiện hồi hương sum họp với cha mẹ để được trọn đầy hạnh phúc. Hành giả cũng tương tợ như thế, những mầm mống phiền não xưa nay đã não loạn phá hoại thân tâm làm nguồn phước đức trí tuệ trân quý đều bị tiêu mất; vì thế, mãi bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi không chút tự do, thường làm nô lệ cho Ma Vương, rong ruổi qua lại trong sáu loài, thân tâm chịu đủ khổ đau thống thiết. Giờ đây, may mắn gặp được thiện duyên nghe về đức Từ phụ A Di Đà,là vị không bao giờ quên Đại nguyện cứu độ quần sanh, nên ngày đêm nôn nóng phát nguyện sanh về thế giới Cực Lạc. Do vậy, tinh cần không biết mỏi mệt, thường nhớ nghĩ đến ân đức của đức Phật, muốn báo đền cũng không bao giờ trọn vẹn nên đêm ngày tính toán nghĩ suy.

– Thứ tư, “Vô dư tu”: Nghĩa là thuần nhất niệm danh hiệu và lễ lạy đức Phật A Di Đà để nguyện cầu được vãng sanh thế giới Cực Lạc, chứ không khởi lên tạp niệm tu tập các pháp khác; tức là, các thời khóa hằng ngày chỉ niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà và tụng các Kinh của Tịnh Độ, chứ không xen kẻ niệm danh hiệu các đức Phật khác và tụng các Kinh khác.

Nói thêm rằng: Đoạn văn vừa trình bày Bốn Tu ở trên, vì sợ dài dòng nên không giải thích nhiều; tuy nhiên, có một điểm cần nói ở đây; đó là, dù đề cập đến Bốn Tu nhưng thực tế chỉ có Ba Tu mà thôi. Vì sao bảo như thế?- Bởi lẽ, trong Bốn Tu là Trường thời tu, Cung kỉnh tu, Vô dư tu và Vô gián tu, thì Trường thời tu vốn nằm trong nội dung của Ba Tu kia, nghĩa là, xét về “Cung kỉnh”, nếu tu tập mà yếu kém tâm niệm cung kỉnh thì sự tu tập sẽ không thành tựu; xét về “Vô-dư”, nếu tu tập mà yếu kém tinh thần thuần nhất thì sự tu tập sẽ không thành tựu; xét về “Vô gián” nếu tu tập mà yếu kém tính liên tục thì sự tu tập sẽ không thành tựu. Qua đó, để thành tựu sự tu tập Ba Tu này, đòi hỏi phải Trường thời tu, nên Trường thời tu hẵn nhiên nằm trong nội dung của Ba Tu ấy, do đây có thể gọi Trường thời tu là “Thông tu”. Cũng chính thế, câu kết mỗi đoạn văn trình bày về Ba Tu ấy mới ghi rằng: “Lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, trong thời gian ấy thệ nguyện không dừng nghỉ thì gọi là Trường thời tu”.

——————–

[16]-Do-tuần: Còn gọi là Du-thiện na. Một do-tuần có 30 dặm.

CHƯƠNG X: HÓA THÂN VÀ TÁN THÁN.

Đoạn văn diễn bày: Đức hóa Phật A Di Đà đến tiếp dẫn, và không tán thán người có duyên lành được nghe Kinh, mà chỉ tán thán những hành giả niệm Phật mà thôi.

Trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ” ghi rằng: Hoặc chúng sanh nào tạo nhiều tội ác, nhưng không phỉ báng các Kinh điển thuộc thời kỳ Phương đẳng[[17]]; những người này dù đã tạo nhiều tội ác song chẳng biết tàm quý, đến khi lâm chung gặp được Thiện tri thức vì họ mà tán thán đề Kinh của Mười hai bộ Đại thừa, nhờ được nghe tên Kinh như thế mà diệt trừ được những tội ác rất nặng của một ngàn kiếp về trước. Vị Thiện tri thức lại bảo họ chấp tay xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, nhờ niệm danh hiệu đức Phật mà trừ diệt được tội chướng của năm mươi ức kiếp sanh tử trong quá khứ. Bấy giờ, đức Phật A Di Đà cắt cử vị hóa Phật, hóa Bồ Tát Quan Âm, hóa Bồ Tát Thế Chí đến trước người ấy khen rằng: Thiện nam tử! Vì ông xưng niệm danh hiệu đức Phật nên các tội chướng tiêu trừ, Ta đến nghênh đón ông đây. Trong “Quán Kinh Sớ” ghi rằng: Chỉ nghe đức hóa Phật (A Di Đà) tán thán do công đức niệm Phật mà Ngài đến tiếp dẫn, chứ không nói đến do công đức nghe Kinh. Đúng vậy, dựa theo tâm nguyện chủ yếu của đức Phật, Ngài chỉ khích lệ xưng niệm danh hiệu để sớm được vãng sanh, điểm này không tương đồng với Tạp tu của Định thiện, Tán thiện. Tóm lại, trong Kinh này và các Kinh Tịnh Độ, chỗ nào cũng khích kệ sự xưng niệm danh hiệu đức Phật, đây là điểm chủ yếu để đạt kết quả đại lợi ích, hành giả cần được ghi nhận rõ như thế.

Nói thêm rằng, công đức lành được nghe Kinh chẳng phải là Bổn nguyện, mà thuộc về Tạp tu nên đức hóa Phật không tán thán. Hạnh tu Niệm Phật chính là Bổn nguyện thuộc về Chánh nghiệp nên đức hóa Phật mới tán thán; thêm nữa, công đức nghe Kinh và niệm Phật có kết quả tiêu diệt tội ác nhiều ít cũng sai khác nhau. “Quán Kinh Sớ” ghi rằng:

Hỏi: Tại sao được nghe Mười hai bộ Kinh chỉ diệt trừ tội ác một ngàn kiếp, trong khi niệm Phật có một câu lại trừ diệt tội ác đến năm trăm vạn kiếp, là bởi lý do gì?

Đáp: Người tạo tội thì nghiệp chướng nặng sâu, cộng thêm sự bức bách của cơn đau khi sắp chết, dù Thiện tri thức có giới thiệu nhiều tên Kinh, nhưng khi ấy tâm niệm của đương sự đang bị tán loạn nổi trôi, nên tội lỗi được trừ diệt ít kiếp hơn. Còn, chỉ niệm một lần danh hiệu đức Phật nhưng có năng lực làm tâm tán loạn an trú, để Chánh niệm xưng danh hiệu đức Phật, do tâm Chánh niệm nên có khả năng trừ diệt tội ác nhiều kiếp.

————————–

[17] -Kinh điển Phương đẳng: Tức Kinh điển thuộc hệ Bắc tông.

CHƯƠNG XI: TÁN THÁN NIỆM PHẬT.

Đoạn văn diễn bày: Đối chiếu các pháp tu Tạp thiện để tán thán pháp Niệm Phật.

Trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ” ghi rằng: “Nếu người nào niệm Phật nên biết người ấy là hoa Phân-đà-lợi (Hoa sen trắng trăm cánh quý hiếm) trong loài người; Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí là những thân hữu tối thắng, đến khi xả bỏ thân mạng được sanh vào nhà chư Phật (Cực Lạc), hội nhập đạo tràng Tịnh Độ”.

Trong “Quán Kinh Sớ” ghi rằng: Từ thời điểm niệm Phật cho đến khi được sanh vào nhà chư Phật đến nay, người ấy đã biểu hiện Niệm Phật Tam-muội với công đức siêu tuyệt, chẳng phải những công đức tu tập Tạp thiện mà có thể so sánh được. Ý nghĩa này xác minh năm điểm:

– Thứ nhất, xác minh về sự tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà.

– Thứ hai,  xác minh rằng, chỉ tán thán người nào tinh chuyên niệm Phật.

– Thứ ba, xác minh người nào niệm Phật không gián đoạn, thì người ấy rất hy hữu không có đối tượng để so sánh, nên dùng hoa Phân-đà-lợi để ví dụ. Được gọi “Phân-đà-lợi” là “Hoa đẹp” nổi tiếng trong cõi người, cũng là “Hoa hy hữu, Hoa đẹp hạng thượng thượng, Hoa đẹp tuyệt diệu” trong cõi người. Tương truyền hoa này được gọi là “Thái Hoa”. Qua đây, “Người nào niệm Phật” chính là người “Hiền thiện” trong cõi Người, cũng là “Người hiền thiện hạng thượng thượng, Người hiền thiện tuyệt diệu, Người hy hữu, Người tối thắng” trong cõi Người.

– Thứ tư, xác minh rằng, người nào tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí thường thân cận bảo hộ giống như Bạn hữu tri thức.

– Thứ năm, xác minh rằng, khi đang sống hành giả niệm Phật đã được lợi ích như thế, đến khi xả bỏ thân mạng lại được sanh về nhà chư Phật – tức cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Khi đã về đây, hành giả luôn được nghe pháp và đi cúng dường chư Phật khắp cả mười phương; cứ như thế cho đến thời điểm nhân quả tròn đầy, an trú đạo tràng Tịnh Độ dài lâu.

Hỏi thêm rằng: Trong “Quán Kinh” ghi: “Nếu người nào niệm Phật thì nên biết người ấy v.v…” đây là câu tóm tắt nói về người niệm Phật để tán thán họ; vậy, ý người giải thích như thế nào, khi nói: “Chẳng phải những công đức tu tập Tạp thiện mà có thể so sánh được”, tức nêu lên các “Pháp Tạp Thiện” để đối chiếu, rồi chỉ tán thán “Pháp Niệm Phật”?

Đáp: Ngôn từ đoạn văn ấy tuy súc tích nhưng ý nghĩa thì đã quá rõ. Bởi lẽ, trong nội dung của “Quán Kinh” đã trình bày về Định thiện, Tán thiện và pháp Niệm Phật, trong nội dung này, tiêu đích duy nhất vẫn chỉ là pháp Niệm Phật và được ví dụ như hoa Phân-đà-lợi. Do thế, đâu cần phải đem Tạp thiện để đối chiếu nhằm xiển dương công đức Niệm Phật là siêu tuyệt so với các pháp tu thiện khác! Nhưng mà, “Người niệm Phật chính là Người hiền thiện trong cõi Người”, là đối chiếu với người ác nhằm xiển dương người thiện; được gọi “Người hiền thiện hạng thượng thượng trong cõi Người” là đối chiếu với hạng hạ hạ để tán thán; được gọi “Người hiền thiện tuyệt diệu trong cõi Người” là đối chiếu với hạng thô ác để khen ngợi; được gọi “Người hy hữu trong cõi Người” là đối chiếu với hạng tầm thường để xưng tụng; được gọi “Người tối thắng trong cõi Người” là đối chiếu với hạng tối hạ liệt để tôn xưng.

Hỏi: Đã gọi Niệm Phật là “Hạng thượng thượng”, tại sao không nói người niệm Phật chỉ vãng sanh về phẩm Thượng Thượng mà còn nói vãng sanh về phẩm Hạ Hạ?

Đáp: Há ở trước không nói: “Người tu pháp Niệm Phật thì sẽ sanh về trong phạm vi Chín phẩm” hay sao?- Nghĩa là, ở trước đã trích dẫn trong “Vãng sanh Yếu Tập” rằng: “Tùy sự tu tập của mỗi người hoặc thù thắng hay hạ liệt thì sẽ sanh về một trong Chín phẩm tương xứng”. Thêm nữa, người phạm tội rất nặng là Ngũ nghịch, có thể nhờ Niệm Phật để diệt tội mà sanh vào phẩm Hạ bậc Hạ, còn các pháp tu khác thì không có năng lực ấy; bởi lẽ, duy nhất chỉ có năng lực Niệm Phật mới trừ diệt được các tội lỗi rất nặng; do vậy, vì đối chiếu với người cực ác tối hạ nên mới nói có pháp tu cực thiện tối thượng. Tương tợ, như cơn bệnh vô minh cội rễ kia ngoài kho thuốc “Trung đạo” ra, không có bất cứ một loại thuốc nào có thể chữa trị được; giờ đây, cơn bệnh cực nặng Ngũ nghịch cội rễ này cũng chỉ nhờ kho thuốc Niệm Phật, ngoài kho thuốc Niệm Phật ra, chẳng có một loại thuốc nào chữa trị bệnh ấy được. Do thế,  trong “Nhị Giáo Luận”, Đại sư Hoằng Pháp đã trích dẫn “kinh Lục Ba La Mật” rằng: “Thứ ba là Pháp Bảo, nghĩa là, trong quá khứ vô lượng chư Phật đã thuyết giảng Chánh pháp, hôm nay Ta tiếp tục giảng gồm tám vạn bốn ngàn các pháp nhiệm mầu uẩn áo, giúp những chúng sanh có duyên điều phục và thuần thục tâm tánh của mình, trong đó kể cả các đại Đệ tử của Ta như A-nan-đà v.v… các vị này chỉ được nghe qua một lần là ghi nhớ và hành trì không sai sót. Nội dung được thuyết giảng ấy gồm Năm tạng: Thứ nhất, Tố-đát-lãm[[18]]; thứ hai, Tỳ-nại-da[[19]]; thứ ba, A-tỳ-đạt-ma[[20]]; thứ tư, Bát-nhã Ba-la-mật[[21]]; thứ năm, Đà-la-ni[[22]]. Năm loại tạng này để giáo hóa chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng hạng để thuyết giảng cho họ. Nếu hạng người nào thích chốn núi rừng sống cuộc đời yên tĩnh để tu Thiền định, thì thuyết giảng cho họ về tạng Tố-đát-lãm. Nếu hạng người nào thích tu luyện Oai nghi, hộ trì Chánh pháp, tạo sự hòa hợp nhất quán trong chúng Tăng để Phật pháp trú thế lâu dài, thì thuyết giảng cho họ về tạng Tỳ-nại-da. Nếu hạng người nào thích thuyết giảng Chánh pháp và tìm hiểu tánh tướng đến chỗ rốt ráo sâu xa, thì thuyết giảng cho họ về tạng A-tỳ-đạt-ma. Nếu hạng người nào thích tu tập trí tuệ chân thật Đại thừa, lìa xa chấp thủ phân biệt Ngã-Pháp, thì thuyết giảng cho họ về tạng Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Nếu hạng người nào không thể thọ trì khế Kinh, Giới-Luật, Luận, Bát-nhã; hoặc hạng người tạo nhiều ác nghiệp, như Tứ trọng, Bát trọng, Ngũ Vô gián, phỉ báng Kinh điển Đại thừa, Nhất-xiển-đề v.v… muốn đoạn tận các tội lỗi sâu nặng ấy, để sớm được giải thoát an trú Niết-bàn, thì thuyết giảng cho họ về tạng Đà-la-ni. Năm tạng Phật pháp này dụ như Sữa (Nhủ), Sữa cô (Lạc), Cờ-rem (Sanh tô), Bơ (Thục tô) và Phô-mát ngon bổ (Đề-hồ). Khế Kinh như Sữa, Giới-Luật như Sữa-cô, Luận như Cờ-rem, Bát-Nhã như Bơ, Mật giáo như Đề-hồ. Mùi vị của Đề-hồ xuất phát từ Sữa, Sữa cô,… chứa mùi vị vi diệu bậc nhất có thể đoạn trừ tất cả bệnh tật, giúp thân tâm con người được an lạc. Mật giáo xuất phát từ khế Kinh, Giới-Luật v.v… là giáo pháp tối thượng bậc nhất, có thể đoạn tận các tội lỗi sâu dày giúp chúng sanh giải thoát sanh tử, sớm chứng Niết-bàn đạt Pháp thân an lạc.” Trong này, tội Ngũ Vô gián chính là tội Ngũ nghịch, nếu không có vị thuốc vi diệu Đề-hồ thì bệnh Ngũ vô gián rất khó trị liệu. Pháp Niệm Phật cũng tương tợ như thế, trong giáo nghĩa tu tập vãng sanh thì Niệm Phật Tam-muội giống như Đà-la-ni (Mật giáo), cũng giống như Đề-hồ, nếu không nhờ vị thuốc Đề-hồ Niệm Phật Tam-muội, thì bệnh tình sâu dày của Ngũ nghịch rất khó trị liệu. Hành giả cần hiểu rõ như thế.

Hỏi: Nếu như vậy, những người tạo tội nhẹ hơn, như Thập ác… tại sao phải khuyên họ niệm Phật?

Đáp: Niệm Phật Tam-muội vốn đã tận diệt tội nặng, huống gì tội nhẹ! Tu tập các pháp khác thì không như thế, có thể diệt trừ tội nhẹ mà không thể diệt trừ tội nặng, có thể chỉ diệt trừ một tội mà không thể diệt trừ hai tội. Còn pháp Niệm Phật dù tội nhẹ hay tội nặng đều bị diệt trừ; nghĩa là, tất cả tội lỗi không có tội nào là không được đoạn trừ, tương tợ như vị thuốc A-già-đà[[23]] luôn trị lành hết thảy bệnh tật. Do thế, pháp Niệm Phật là vua của hết thảy Tam-muội (Chánh định). Qua đây, phối xét từng trường hợp vãng sanh với Chín phẩm, thì hạng Ngũ nghịch hồi tâm niệm Phật sẽ có thể vãng sanh lên phẩm Thượng bậc Thượng; hạng tu tập các diệu hạnh cũng có thể vãng sanh xuống phẩm Hạ bậc Hạ; hạng phạm tội nhẹ như Thập ác…, hay phá Giới nhẹ đều có thể vãng sanh từ bậc Hạ lên bậc Thượng; hạng phát tâm Bồ Đề, thông hiểu Nghĩa đệ nhất cũng có thể vãng sanh từ bậc Thượng xuống bậc Hạ. Nghĩa là, một pháp vãng sanh đều sẵn đủ Chín phẩm, nên phẩm vãng sanh nếu nói tóm tắt thì có đến 91 phẩm. Với ý nghĩa này, Đại sư Ca Tài bảo: “Sự tu tập của chúng sanh thì có ngàn pháp, hành giả vãng sanh cũng có vạn phẩm”. Do thế, khi gặp một đoạn văn nói về vãng sanh thì đừng cố chấp.

Như thế, pháp Niệm Phật chính là hạnh tu tối thắng. Vì thế, mới dùng hoa Phân-đà-lợi làm tỷ dụ, với dụ này hành giả cần ghi nhận kỹ ý nghĩa sâu kín ấy. Thêm nữa, hành giả niệm Phật lại được hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí luôn thân cận bảo hộ như bóng theo hình, không giây phút rời xa, còn tu tập các pháp khác thì không được như thế. Thêm nữa, người niệm Phật sau khi xả bỏ thân mạng nhất định được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, còn tu tập các pháp khác thì không nhất định.

Xét về năm điểm phước đức tốt đẹp vừa trình bày ở trên, trong đó luôn được sự bảo hộ của hai vị Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí, đây là “Sự lợi ích trong hiện tại”; bên cạnh, khi được vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc, đến khi thành tựu quả vị Phật Đà, đây là “Sự  lợi ích trong tương lai”.

Lại nữa, Thiền sư Đạo Xước đã kiến lập “Hai sự lợi ích đầu và cuối” của hạnh tu Niệm Phật. Trong “An Lạc Tập”ghi rằng: Những người tinh chuyên niệm Phật không gián đoạn, khi thọ mạng kết thúc, chắc chắn được vãng sanh, đây gọi là “Sự lợi ích đầu”. Được gọi là “Sự lợi ích cuối” theo “kinh Quán Âm Thọ Ký” bảo rằng: Đức Phật A Di Đà trú thế rất dài lâu, trải qua vô số kiếp; tuy vậy, cũng có thời điểm Ngài diệt độ-Bát Niết-Bàn; duy chỉ hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí vẫn trú thế cõi An Lạc để tiếp dẫn tất cả chúng sanh trong mười phương, sự trú thế của hai Bồ Tát có thời gian tương đương với đức Di Đà. Dù vậy, hết thảy chúng sanh trong thế giới Ta Bà hầu hết không ai thấy được đức Phật Di Đà, duy nhất chỉ có một hướng, đó là thuần nhất xưng niệm danh hiệu của Ngài để được vãng sanh, thì luôn được thấy Ngài; vì rằng, hiện nay Ngài chưa diệt độ, đây chính là “Sự lợi ích cuối vậy”.

Tóm lại, chúng ta nên ghi nhận rõ, hành giả niệm Phật thì “Đời hiện tại và tương lai” sẽ đón nhận “Hai sự lợi ích đầu và cuối” như đã trình bày trên.

————————-

[18]-Tố-đát- lãm: Còn gọi là Tô-đát-lãm, phiên âm mới là Tu-đa-la, tức Tạng Kinh.

[19]-Tỳ-nại-da: Tức Tạng Luật.

[20]-A-tỳ-đạt-ma: Tức Tạng Luận.

[21]-Bát-nhã Ba-la-mật: Trí tuệ siêu việt, tức Tạng Bát-nhã.

[22]-Đà-la-ni: Tức Tạng Mật.

[23]- A-già-đà: Còn gọi là A-yết-đà, dịch là Vô giá, Vô bệnh, Bất tử dược – là thuốc trị mọi bệnh tật.

CHƯƠNG XII: PHÚ CHÚC NIỆM PHẬT.

Đoạn văn diễn bày: Đức Thích Tôn không phú chúc các hạnh tu Định thiện, Tán thiện mà chỉ phú chúc pháp tu Niệm Phật cho Tôn giả A-nan.

Trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ” ghi rằng: Đức Phật bảo A-nan, Thầy hãy khéo léo bảo trì lời căn dặn này; bảo trì lời căn dặn chính là bảo trì danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ.

Trong “Quán Kinh Sớ” ghi rằng: Từ khi đức Phật bảo A-nan, Thầy hãy khéo léo bảo trì lời căn dặn này, kế đến những câu tiếp theo, chính là xác minh sự phú chúc bảo trì danh hiệu đức Phật A Di Đà mãi được lưu thông lâu xa trong tương lai. Ở trên, khi trình bày về lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng hướng vọng về Bổn nguyện đức Phật A Di Đà, thì tâm ý chúng sanh chỉ thuần nhất chuyên niệm danh hiệu của Ngài mà thôi.

Nói thêm rằng: Bản văn Sớ giải nói về hai hạnh tu, một là hạnh tu Định-Tán, hai là hạnh tu Niệm Phật. Trước hết, trình bày hạnh tu Định-Tán, hạnh tu này lại chia hai loại: Một là, hạnh tu Định thiện; hai là, hạnh tu Tán thiện.

Về hạnh tu Định thiện có mười ba đối tượng quán tưởng: Một là, quán tưởng mặt trời; hai là, quán tưởng nước; ba là, quán tưởng đất; bốn là, quán tưởng hàng cây báu; năm là, quán tưởng hồ báu; sáu là, quán tưởng lầu gác báu; bảy là, quán tưởng tòa sen; tám là, quán tưởng tượng Phật, Bồ Tát; chín là, quán tưởng đức Phật A Di Đà; mười là, quán tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm, mười một là, quán tưởng Bồ Tát Đại Thế Chí; mười hai là, quán tưởng chung về sự vãng sanh; mười ba là, quán tưởng xen tạp. Nội dung quán tưởng mười ba đối tượng này đã được trình bày đầy đủ trong Kinh, nếu một hành giả không tu tập một pháp nào khác mà tùy theo khả năng để quán tưởng một hay nhiều đối tượng, tu tập mười ba quán tưởng này thì có thể được vãng sanh, ý chỉ này Kinh đã xác định rõ, chớ có lo nghĩ, nghi ngờ.

– Về hạnh tu Tán thiện, có hai phương diện: Một là, tu Ba phước đức; hai là, vãng sanh Chín phẩm.

+ Xét về tu Ba phước đức, “Quán Kinh” ghi rằng: “Một là, hiếu dưỡng cha mẹ; phụng sự Thầy-Tổ, các bậc Tôn đức; tâm từ không sát hại chúng sanh, tu tập Mười thiện nghiệp. Hai là, thọ trì Tam quy; hành trì đầy đủ các Giới; không phạm Oai nghi. Ba là, phát tâm Bồ Đề;, tin sâu Nhân quả; đọc tụng Kinh điển Đại thừa; khuyến khích tinh tấn tu tập”.

  • “Hiếu dưỡng cha mẹ” : Nói gọn, có hai loại: Một là, hiếu dưỡng theo quan điểm thế gian; hai là, hiếu dưỡng theo quan điểm xuất thế gian. Hiếu dưỡng theo thế gian như “kinh Hiếu” v.v…đã trình bày. Hiếu dưỡng xuất thế gian như các xuất xử mà trong Luật đã trình bày.
  • “Phụng sự Thầy-Tổ”: Nói gọn, cũng có hai loại: Một là, Thầy-Tổ thế gian; hai là, Thầy-Tổ xuất thế gian. Thầy-Tổ thế gian là những vị thầy dạy về Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín v.v…; Thầy-Tổ xuất thế gian là những vị Thầy dạy về Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn. Không phụng sự các Thầy-Tổ dạy bảo các pháp tu khác mà chỉ phụng sự các vị dạy bảo pháp tu để được vãng sanh.
  • “Tâm từ không sát hại chúng sanh, tu Mười thiện nghiệp”: Nói gọn, có hai loại. Thứ nhất, trước hết “Tâm từ không sát hại chúng sanh”, đó là tâm từ vô lượng trong “Tứ vô lượng tâm”, tại đây chỉ nêu lên tâm đầu tiên làm tiêu biểu cho cả Bốn tâm. Không tu tập các hạnh khác mà tu tập Tứ vô lượng tâm là pháp tu cho sự vãng sanh. Kế đến “Tu Mười thiện nghiệp”, đó là: Thứ nhất, không được sát sanh; thứ hai, không được trộm cướp; thứ ba, không được tà dâm; thứ tư, không được nói dối; thứ năm, không được nói thêu dệt; thứ sáu, không được nói thô ác; thứ bảy, không được nói hai lưỡi; thứ tám, không được tham lam; thứ chín, không được sân hận; thứ mười, không được tà kiến. Thứ hai, nếu hợp hai câu “Tâm từ không sát hại chúng sanh” và “Tu Mười thiện nghiệp” thành một câu, thì “Tâm từ” trong câu “Tâm từ không sát hại chúng sanh” không phải tâm từ vô lượng của Tứ vô lượng tâm, mà là điều thiện “không được sát sanh”, đứng vị trí thứ nhất trong Mười thiện nghiệp; do thế, “Tu Mười thiện nghiệp” là một câu riêng. Không tu tập các pháp khác mà tu tập Mười thiện nghiệp, để làm pháp tu cho sự vãng sanh.
  • “Thọ trì Tam quy”: Đó là quy y Phật-Pháp-Tăng: Nói gọn, cũng có hai loại: Một là, Tam quy thuộc Đại thừa; hai là, Tam quy thuộc Tiểu thừa.
  • “Hành trì đầy đủ các Giới”: Nội dung này cũng có hai loại: Một là, Giới-Luật  Đại thừa; hai là, Giới-Luật Tiểu thừa.
  • “Không phạm Oai nghi”: Nội dung này cũng có hai loại: Một là, Oai nghi Đại thừa gồm có tám vạn; hai là, Oai nghi Tiểu thừa gồm có ba ngàn.
  • “Phát tâm Bồ Đề”: Nội dung này, mỗi Đại sư có mỗi ý kiến sai khác. Tông Thiên Thai có Bốn giáo tâm Bồ Đề, đó là Tạng, Thông, Biệt, Viên như đã trình bày đầy đủ trong luận Chỉ Quán. Tông Chân Ngôn có Ba loại tâm Bồ Đề, đó là Hạnh nguyện, Thắng nghĩa và Tam-ma-địa (Chánh định), như đã trình bày đầy đủ trong luận Bồ Đề Tâm. Tông Hoa Nghiêm cũng có tâm Bồ Đề, ý nghĩa tâm Bồ Đề này đã được trình bày trong “Du Tâm An Lạc Đạo” v.v… Tông Tam Luận, tông Pháp Tướng đều có tâm Bồ Đề, như trong các tập sớ của mỗi tông đã trình bày đầy đủ. Lại nữa, Đại sư Thiện Đạo cũng có giải thích về tâm Bồ Đề, như đã thuật đầy đủ trong tập Sớ. Phát tâm Bồ Đề trên ngôn ngữ chỉ có một, nhưng tùy theo sở kiến của mỗi tông phái nên ý nghĩa có sự sai khác. Tuy nhiên, thuật ngữ “Tâm Bồ Đề” luôn được đề cập khắp các Kinh điển, bao gồm cả Hiển giáo lẫn Mật giáo, ý thú uyên bác sâu xa đã được giải thích tường tận đầy đủ, rất mong các hành giả không nên cố chấp một ý kiến mà bỏ quên ngàn vạn ý nghĩa; riêng về những hành giả mong cầu vãng sanh thì hãy phát tâm Bồ Đề theo ý nghĩa của tông Tịnh Độ, chứ không tuân theo ý nghĩa của các Tông khác; tức là, phát tâm Bồ Đề theo Tịnh Độ để làm sự nghiệp vãng sanh theo tiêu chí của mình.
  • “Tin sâu Nhân quả”: Nói gọn, cũng có hai loại: Một là, Nhân quả thế gian; hai là, Nhân quả xuất thế gian. Nhân quả thế gian chính là nhân quả trong sáu đường(Sáu loài), như “kinh Chánh Pháp Niệm” đã trình bày. Nhân quả xuất thế gian chính là nhân quả của Bốn quả Thánh (Tứ Thánh), như các Kinh của Đại thừa, Tiểu thừa đã trình bày. Nếu căn cứ vào hai loại Nhân quả này để đối chiếu khắp các Kinh điển, thì các Đại sư có nhiều ý kiến sai khác. Chẳng hạn, theo Đại sư Thiên Thai, kinh Hoa Nghiêm trình bày hai loại Nhân quả, đó là Nhân quả Phật Đà và Nhân quả Bồ Tát; kinh A-Hàm trình bày Nhân quả nhị thừa, đó là Nhân quả Thanh Văn và Nhân quả Duyên Giác; các Kinh Phương Đẳng trình bày Nhân quả của Bốn Thừa; các kinh Bát-Nhã trình bày Nhân quả của Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo; Kinh Pháp Hoa trình bày nhân Phật, quả Phật; kinh Niết-Bàn cũng trình bày Nhân quả của Bốn thừa. Qua đó, câu “Tin sâu Nhân quả” được phổ biến xuyên suốt cả đời hành giả. Tuy nhiên, là những hành giả cầu nguyện vãng sanh thì không nên tu tập theo các hệ Nhân quả khác, mà chỉ tin sâu Nhân quả Tịnh Độ làm sự nghiệp vãng sanh cho mình.
  • “Đọc tụng Kinh điển Đại thừa”: Sự kiện này chia làm hai loại: Một là Đọc tụng; hai là Đại thừa. Xét về “Đọc tụng”: Tức nói đến Năm thứ Pháp sư: Pháp sư đọc Kinh, Pháp sư tụng Kinh, Pháp sư giải thuyết v.v… Hoặc là nói đến Mười thứ Pháp sư: Pháp sư cúng dường, Pháp sư thọ trì, Pháp sư viết chép v.v… Xét về “Đại thừa”: Không giản đơn như Tiểu thừa, nghĩa là, chẳng phải chỉ có một bộ Kinh mà hết thảy Kinh điển Đại thừa, tức toàn bộ kinh Đại thừa mà đức Phật đã thuyết giảng. Những Kinh ấy hoặc đã được kết tập, hoặc chưa được kết tập, hoặc đang lưu trữ tại Long cung, hoặc còn lưu giữ tại Ấn Độ chưa truyền sang Trung Quốc…; hết thảy những Kinh điển ấy đều được thâu nhiếp trong một câu “Đọc tụng Kinh điển Đại thừa”. Mong rằng các hành giả tu tập Tịnh Độ tùy theo ý muốn của mình, hoặc tụng đọc Kinh Pháp Hoa làm sự nghiệp vãng sanh, hoặc tụng đọc kinh Hoa Nghiêm làm sự nghiệp vãng sanh, hoặc thọ trì, đọc tụng các Kinh điển của Mật tông làm sự nghiệp vãng sanh, hoặc giải thuyết viết chép các kinh Bát-Nhã, kinh Niết-Bàn… làm sự nghiệp vãng sanh; đây là ý kiến “kinh Quán Vô Lượng Thọ” của tông Tịnh Độ đã chỉ dạy.

Hỏi: Tôn chỉ của Hiển giáo, Mật giáo sai khác nhau, vì sao tại đây lại trình bày Hiển giáo dung nhiếp cả Mật giáo?

Đáp: Tại đây, chẳng phải dung nhiếp tôn chỉ của Hiển giáo và Mật giáo thành một, mà trong sách Mục lục Trinh Nguyên[[24]] đã ghi như thế; nghĩa là, Mật giáo cũng thuộc Kinh điển Đại thừa; do vậy, đều được thâu nhiếp trong một câu “Đọc tụng Kinh điển Đại thừa”.

  •  “Khuyến khích tinh tấn tu tập”: Nghĩa là, khuyến khích Đạo bạn tinh tấn tu tập các pháp Định thiện, Tán thiện và Niệm Phật Tam-muội v.v…

+ Xét về vãng sanh Chín phẩm, chính là khai triển “Tu Ba phước đức” ở trước thành Chín phẩm vãng sanh, Chín phẩm ấy là:

  •  Thượng phẩm Thượng sanh (Sanh vào phẩm Thượng bậc Thượng): Tương ưng với câu “Tâm từ không sát hại chúng sanh”, là ý nghĩa câu thứ ba thuộc phước đức thứ nhất. Kế đến tương ưng với câu “Hành trì đầy đủ các Giới”, là ý nghĩa câu thứ hai thuộc phước đức thứ hai. Kế đến, tương ưng với câu “Đọc tụng Kinh điển Đại thừa”, là ý nghĩa câu thứ ba thuộc phước đức thứ ba. Kế đến, tương ưng với câu “Tu tập Lục niệm”, ý nghĩa tương tợ như ý nghĩa câu thứ ba thuộc phước đức thứ ba.
  •  Thượng phẩm Trung sanh: Tương ưng với câu “Khéo hiểu rõ nghĩa lý”, ý nghĩa tương tợ như ý nghĩa câu thứ hai, câu thứ ba thuộc phước đức thứ ba.
  •  Thượng phẩm Hạ sanh: Tương ưng với câu “Phát tâm Bồ Đề” và “Tin sâu Nhân quả”, là ý nghĩa câu thứ nhất và câu thứ hai thuộc phước đức thứ ba.
  • Trung phẩm Thượng sanh: Tương ưng với câu “Thọ trì Năm giới v.v...”, là ý nghĩa câu thứ hai thuộc phước đức thứ hai.
  • Trung phẩm Trung sanh: Tương ưng với câu “Một ngày đêm thọ trì Bát Quan trai giới”, ý nghĩa tương tợ với nội dung phước đức thứ hai.
  • Trung phẩm Hạ sanh: Tương ưng với câu “Hiếu dưỡng cha mẹ” và “Phụng sự Thầy-Tổ, các bậc Tôn đức”, là ý nghĩa câu thứ nhất và câu thứ hai thuộc phước đức thứ nhất.
  •  Hạ phẩm Thượng sanh: Là những người phạm Mười tội ác, khi lâm chung niệm được một niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, tội nghiệp liền tiêu diệt và được vãng sanh.
  •  Hạ phẩm Trung sanh: Là những người phạm tội, phá Giới, khi lâm chung được nghe công đức Chánh báo, Y báo của đức Phật A Di Đà, tội nghiệp liền tiêu diệt và được vãng sanh.
  •  Hạ phẩm Hạ sanh: Là những người phạm tội Ngũ nghịch, khi lâm chung niệm được mười niệm, tội nghiệp liền tiêu diệt và được vãng sanh.

Ba hạng người trong Ba phẩm bậc Hạ này, suốt đời chỉ tạo tội ác, dù không có ý niệm cầu vãng sanh, khi lâm chung mới gặp Thiện tri thức khuyên bảo mà được vãng sanh. Nếu đối chiếu với ba phước đức nói ở trước thì Ba phẩm này tương ưng với câu thứ ba thuộc phước đức thứ ba.

Tóm lại, Định thiện và Tán thiện được trình bày đại lược như đoạn văn ở trước đã ghi: “Ở trên tuy có trình bày về lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện.” 

Về Niệm Phật: Ý nghĩa của Niệm Phật như thường dùng; tức là, “Tinh chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”. Nhưng tại đây lại nói rằng, “Chính là xác minh sự phú chúc bảo trì danh hiệu đức Phật A Di Đà mãi được lưu truyền lâu xa trong tương lai.”- Mặc dù, trong Kinh này đã trình bày khá phong phú các pháp tu tập của Định thiện, Tán thiện, nhưng đức Phật không phú chúc các pháp Định thiện, Tán thiện này cho A-nan để lưu truyền hậu thế; mà chỉ phú chúc một pháp “Niệm Phật Tam-muội” cho A-nan khiến lưu truyền lâu xa trong tương lai.

Hỏi: Tại sao không phú chúc các pháp tu tập Định thiện, Tán thiện để được lưu truyền trong tương lai? Nếu căn cứ vào sự tu cao, tu thấp mà tỵ hiềm không phú chúc, thì trong Ba phước đức vẫn có sự cao-thấp sai khác. Tu thấp, như hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Thầy-Tổ, các bậc Tôn đức; tu cao, như hành trì các Giới, phát tâm Bồ Đề, tin sâu Nhân quả, đọc tụng Kinh điển Đại thừa; như thế cần loại bỏ sự tu thấp mà phú chúc sự tu cao chứ? Nếu căn cứ vào sự tu quán cạn-sâu mà tỵ hiềm không phú chúc, thì trong Mười ba pháp quán tưởng vẫn có quán cạn-sâu sai khác. Quán cạn, như quán mặt trời, quán nước; quán sâu, từ quán đất đến quán xen tạp gồm Mười một pháp quán; như thế, cần loại bỏ các pháp tu quán cạn mà phú chúc các pháp tu quán sâu chứ? Cuối cùng, pháp quán tưởng thứ chín – quán tưởng đức Phật A Di Đà chính là pháp Quán Phật Tam-muội. Như thế, cần loại bỏ Mười hai pháp quán kia và phú chúc pháp Quán Phật Tam-muội chứ? Tựu trung, trong Sớ giải Kinh này, ở “Phần Huyền Nghĩa” ghi rằng: “Kinh này lấy Quán Phật Tam-muội làm tôn chỉ, cũng lấy Niệm Phật Tam-muội làm tôn chỉ”. Như thế, đã lấy hai pháp làm tôn chỉ của một Kinh, thì tại sao lại phế bỏ pháp Quán Phật Tam-muội mà chỉ phú chúc pháp Niệm Phật Tam-muội?

Đáp: Ở trước đã ghi rằng: “…Nhưng hướng về Bổn nguyện đức Phật A Di Đà, thì tâm ý chúng sanh chỉ thuần nhất chuyên niệm danh hiệu của Ngài mà thôi. ” Các pháp tu Định thiện, Tán thiện không phải Bổn nguyện của đức Phật, nên không được phú chúc. Đồng thời, pháp Quán Phật Tam-muội mặc dù là hạnh tu thù thắng nhưng không phải Bổn nguyện của đức Phật nên cũng không được phú chúc. Về câu “Hướng về Bổn nguyện đức Phật A Di Đà” là chỉ Đại nguyện thứ mười tám trong Bốn mươi tám Đại nguyện của hai Kinh. Còn câu “Thuần nhất chuyên niệm” là chỉ Ba bậc vãng sanh trong Kinh phải “Thuần nhất chuyên niệm”. Về ý nghĩa của Bổn nguyện thì đã được giải thích đầy đủ ở trước rồi.

Hỏi: Nếu như vậy, tại sao không xác định thẳng pháp Niệm Phật là đúng Bổn nguyện của đức Phật, mà phải phiền phức trình bày các pháp Định thiện, Tán thiện vốn không phải Bổn nguyện?

Đáp: Pháp Niệm Phật là đúng Bổn nguyện đức Phật thì hai Kinh đã trình bày đầy đủ, tại đây không nói lại nữa. Còn pháp Định thiện, Tán thiện vẫn được trình bày, mục đích để xiển dương pháp Niệm Phật là siêu việt so với các pháp thiện khác. Nếu không đề cập đến Định thiện, Tán thiện thì làm sao xiển dương pháp Niệm Phật là ưu việt, đặc thù! Tương tợ, như kinh Pháp Hoa trình bày Tam thừa (Tam Xa), nếu không thuyết minh Tam thừa thì lấy gì để xiển dương kinh Pháp Hoa là Bậc nhất! (vua trong các Kinh). Thế nên, tại đây thuyết minh Định thiện, Tán thiện là để phế bỏ nhằm tôn vinh pháp Niệm Phật Tam-muội; hơn nữa, các pháp tu Định thiện, Tán thiện rất khó mà thẩm định hiệu quả; giả như, xét về Định thiện, nếu tu quán Chánh báo, Y báo khi đối tượng quán chiếu hiện tiền, thì tâm nguyện vãng sanh sớm được thành tựu. Hoặc là, công đức tu quán một pháp có thể trừ diệt tội nghiệp nhiều kiếp; hoặc là, do tích chứa công đức đầy đủ, cuối cùng đạt được Tam-muội có lợi lạc thù thắng.

Qua đây, hành giả tu tập cầu vãng sanh cũng nên tu quán các pháp Định thiện; chẳng hạn, quán chơn thân thứ chín, tức pháp Quán Phật Tam-muội. Nếu tu quán thành tựu hành gỉa sẽ thấy được thân tướng đức Phật Di Đà, khi thấy đức Phật Di Đà là thấy hết thảy chư Phật, khi thấy hết thảy chư Phật thì hiện tại được thọ ký, sự tu quán này có lợi ích tuyệt diệu cao xa như thế đấy! Tuy nhiên, tại phần Lưu thông của kinh Quán Vô Lượng Thọ, khi đức Như lai Thích Ca phú chúc cho A-nan lưu truyền pháp vãng sanh chủ yếu cho hậu thế, thì Ngài phế bỏ pháp Quán Phật Tam-muội mà chỉ lựa chọn pháp Niệm Phật mà thôi; như thế, pháp Quán Phật Tam-muội vẫn không được phú chúc, huống gì các pháp quán mặt trời, quán nước v.v…! Thế là, Mười ba pháp quán của Định thiện đều không được phú chúc để tu tập, nếu ai thích tu quán các pháp Định thiện như Quán Phật Tam-muội v.v… mà không tu pháp Niệm Phật, thì sự tu tập ấy vừa xa rời, vừa trái chống Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà. Đồng thời, cụ thể nhất là trái ngược với sự phú chúc của đức Thích Tôn, hành giả nên tư duy cẩn trọng điều này.

Xét về các pháp tu thuộc Tán thiện thì có tu tập “Trì Giới” của Tiểu thừa và Đại thừa. Nếu hành giả nào trì Giới thì sẽ hội nhập được sự thật tinh túy của Đạo; trái lại, người phá giới thì không thể vãng sanh.

Về tu tập “Phát tâm Bồ Đề”, nếu hành giả nào phát tâm Bồ Đề là hội nhập được cương yếu của Tịnh Độ; trái lại, không phát tâm Bồ Đề thì không thể vãng sanh.

Về tu tập “Hiểu rõ nghĩa Đệ nhất[[25]] (Hiểu nghĩa như thật), đây là tu quán về lý; người tu tập phải dựa vào lý, lý là nguồn cội của Phật, nên không thể lìa lý mà cầu về cõi Phật, nếu tu quán không dựa vào lý thì không thể vãng sanh.

Về tu tập “Đọc tụng Kinh điển Đại thừa”, mọi người tu tập đều nhờ đọc tụng Kinh điển Đại thừa mà có thể vãng sanh, nếu hành giả nào không đọc tụng thì không thể vãng sanh. Vấn đề đọc tụng có hai loại: Một là, trì đọc Kinh; hai là, trì đọc Chú. Trì đọc Kinh là trì đọc các kinh Đại thừa, như kinh Pháp Hoa, Bát-Nhã v.v…; trì đọc Chú là trì đọc các Thần chú, như Tùy cầu, Tôn thắng, Quang minh, A Di Đà.

Mười một pháp tu của Tán thiện, các hành giả đều trân quý, nhưng trong này, “Bốn pháp tu” vừa kể trên được hành giả đương thời ưa thích tu tập – Lấy Bốn pháp tu này mà che lấp pháp Niệm Phật. Nhưng, khách quan tìm hiểu ý chỉ trong Kinh, thì Bốn pháp tu này không được phú chúc lưu lại, chỉ duy nhất một pháp Niệm Phật là được phú chúc lưu truyền cho hậu thế – cần ghi nhận rõ như vậy. Sở dĩ, đức Thích Tôn không phú chúc các pháp tu khác, bởi vì, các pháp ấy không phải Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà; và, sở dĩ pháp Niệm Phật được phú chúc bởi vì pháp này chính là Bổn nguyện của đức Phật. Thêm nữa, hiện nay sở dĩ Đại sư Thiện Đạo buông bỏ các pháp tu khác trở về tu pháp Niệm Phật, bởi lẽ, các pháp ấy không phải Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà; đồng thời, cũng không phải là pháp mà đức Thích Tôn phú chúc. Qua đây, chúng ta cần hiểu rằng, các pháp ấy không còn thích ứng với căn cơ con người thời đại bây giờ, về pháp Niệm Phật cầu vãng sanh chính là pháp thích hợp với căn cơ con người hiện giờ, pháp tu tương ứng giữa hành giả và đức Phật, há lếu láo vứt bỏ hay sao! Tóm lại, cần hiểu rằng, tùy theo căn cơ của đại chúng, trước tiên tạm thuyết minh về hai môn Định thiện, Tán thiện; nhưng sau đó, vì lợi ích thiết thực của tự thân mỗi hành giả Tịnh Độ, nên phế bỏ hai môn Định-Tán này; chỉ duy nhất pháp Niệm Phật, một lần xiển dương là mãi đến tương lai vĩnh viễn không bị phế bỏ. Ý thú chủ yếu mà đức Thích Tôn phú chúc Bổn nguyện đức Phật Di Đà là ở điểm này đây, hành giả Tịnh Độ cần ghi rõ điều này. Đồng thời, trong này câu “lâu xa trong tương lai” là căn cứ ý nghĩa của hai Kinh – Lâu xa là chỉ thời gian một trăm năm sau một vạn năm của thời Mạt pháp, tức là “Nêu lên cái xa để nói cái gần” . Qua đây, sau thời Pháp diệt, pháp Niệm Phật vẫn hiện hữu huống gì thời Mạt pháp! Thời Mạt pháp, pháp Niệm Phật vẫn hiện hữu huống gì thời Tượng pháp, Chánh pháp! Thế nên, chúng ta cần hiểu rằng, pháp Niệm Phật cầu vãng sanh là đạo lý xuyên suốt cả ba thời Chánh-Tượng-Mạt pháp, kể cả một trăm năm của thời Pháp diệt.

—————————-

[24]-Sách Mục Lục Trinh Nguyên: Tức Trinh Nguyên Lục, hay nói đủ là Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục, còn gọi Viên Chiếu Lục v.v…

[25]-Là ý nghĩa của câu: “Tin sâu Nhân quả”.

CHƯƠNG XIII: NHIỀU CĂN LÀNH.

Đoạn văn diễn bày: Chọn pháp Niệm Phật làm nhiều căn lành, chọn Tạp thiện làm ít căn lành.

“Kinh A Di Đà” ghi rằng: Không thể dựa vào một ít nhân duyên phước đức căn lành mà được vãng sanh về thế giới ấy. Nếu thiện nam, thiện nữ nào nghe nói về đức Phật A Di Đà rồi trì niệm danh hiệu Ngài, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày cho đến bảy ngày mà tâm niệm thuần nhất không tán loạn, thì người này khi lâm chung sẽ được thấy đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng hiện ra trước mắt. Trong khi lâm chung tâm niệm người này không bị điên đảo, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.

Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn văn trên như sau:

Cõi Cực Lạc – Niết-bàn vô vi,
Khó vãng sanh với duyên Tạp thiện,
Nên đức Như Lai chọn pháp gốc,
Dạy chuyên niệm hiệu Phật Di Đà,
Bảy ngày đêm tâm không gián đoạn,
Nếu niệm dài lâu ích gấp bội,
Lâm chung Thánh chúng nâng hoa đến,
Thân tâm hoan hỷ ngồi sen vàng,
Vừa ngồi liền chứng Vô sanh nhẫn,
Đón đưa một niệm về trước Phật,
Pháp hữu đem y tranh nhau mặc,
Chứng Bất thối, hội nhập Tam hiền.

Nói thêm rằng: “Không thể dựa vào một ít nhân duyên phước đức căn lành mà được vãng sanh về thế giới ấy” tức là, các Tạp hạnh khác khó có thể vãng sanh về thế giới ấy, chính thế mới nói “Khó vãng sanh với duyên Tạp thiện”;  “ít căn lành” là câu đối nghĩa với “nhiều căn lành”. Qua đây, Tạp thiện chính là ít căn lành mà Niệm Phật chính là nhiều căn lành vậy. Do thế, trong “Long Thư Tịnh Độ Văn” nói rằng: “kinh A Di Đà” ở động đá tại Tương Dương, do Trần Nhân Lăng đời nhà Tùy chạm với nét chữ thanh nhã đẹp đẽ được nhiều người ngưỡng mộ tán thưởng. Từ “Tâm niệm thuần nhất không tán loạn” (Nhất tâm bất loạn) trở xuống là nói rằng: Vì chuyên nắm giữ và xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà mà tội chướng tiêu diệt, chính đây là nhiều nhân duyên phước đức căn lành”. Đời này truyền bá Hai mươi mốt chữ này làm nguồn cội giải thoát.

Chẳng những chỉ có nghĩa “Nhiều và Ít” mà còn có nghĩa “Lớn và Nhỏ”; nghĩa là, Tạp thiện là căn lành Nhỏ, Niệm Phật là căn lành Lớn; đồng thời, cũng có nghĩa “Hơn và Kém ” nữa; nghĩa là Tạp thiện là căn lành Kém, Niệm Phật là căn lành Hơn. Ý nghĩa là như thế cần ghi nhận rõ.

CHƯƠNG XIV: CHƯ PHẬT CHỨNG THẬT.

Đoạn văn diễn bày: Vô lượng chư Phật trong sáu phương không chứng thật các pháp tu khác, mà duy nhất chứng thật pháp tu Niệm Phật.

Trong “Quán Niệm Pháp Môn”, Đại sư Thiện Đạo nói rằng: “Lại như trong “kinh Di Đà” bảo rằng: Trong sáu phương, phương nào cũng có vô lượng, vô số (hằng hà sa số) chư Phật, đức Phật nào cũng hiện tướng lưỡi rộng dài che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ (Tam thiên đại thiên thế giới) nói lời chân thật: “Hoặc đức Phật tại thế hay sau khi đức Phật diệt độ, mọi phàm phu đã tạo tội, nếu hồi tâm niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà nguyện sanh Tịnh Độ, nhiều là niệm trọn đời, ít là niệm bảy ngày hay một ngày, thậm chí là niệm mười câu, ba câu hay chỉ một câu v.v… đến khi sắp lâm chung, đức Phật và Thánh chúng tự đến nghinh đón liền được vãng sanh.” Qua đây, vô lượng vô số chư Phật trong sáu phương đều hiện tướng lưỡi là hành động chứng thật rằng, tội chướng của hàng phàm phu được tiêu diệt để được vãng sanh. Nếu không nhờ chứng thật ấy mà được vãng sanh, thì chư Phật hiện tướng lưỡi trong sáu phương, sau khi thè lưỡi khỏi miệng thì không bao giờ co lại vào miệng được, và tự nhiên sẽ bị đốt cháy tiêu mất.

Đồng thời, trong “Vãng Sanh Lễ Tán” cũng trích dẫn “kinh A Di Đà” rằng: Như vô lượng vô số chư Phật ở phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, cho đến phương Trên, phương Dưới; vô lượng vô số chư Phật, mỗi đức Phật ở tại thế giới của mình của các phương trên đều hiện tướng lưỡi rộng dài che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ nói lời chân thật rằng: Chúng sanh các ngươi! Tất cả nên tin tưởng sự chứng thật ấy và tin tưởng Kinh được hết thảy chư Phật hộ niệm. Sao gọi là “Hộ niệm”?- “Giả như có chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà hoặc bảy ngày hay một ngày, cho đến mười câu thậm chí chỉ một câu hay một niệm v.v… thì nhất định được vãng sanh; do chứng thật sự kiện này nên được gọi là “kinh Được Hộ Niệm”.”

Lại nói rằng:

Như Lai sáu phương thè lưỡi chứng,
Chuyên niệm danh hiệu đến phương Tây,
Đến rồi hoa nở nghe pháp mầu,
Hạnh nguyện Mười địa[[26]]tự nhiên thành.

 

Tương tợ, trong “Quán Kinh Sớ” cũng trích dẫn “kinh A Di Đà” rằng: Lại nữa, chư Phật trong Mười phương lo sợ chúng sanh không tin tưởng lời thuyết giảng chỉ do một mình đức Thích Ca, nên vào thời điểm ấy chư Phật đồng tâm đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ, nói lời chân thật rằng: “Chúng sanh các ngươi! Tất cả nên tin tưởng lời đức Phật Thích Ca đang thuyết giảng, đang tán thán, đang chứng thật là: Hết thảy phàm phu không kể có tội, có phước nhiều hay ít, đã tạo tác lâu xa hay hiện tại, chỉ cần hoặc là trọn đời cho đến bảy ngày hay một ngày, thuần nhất chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì nhất định vãng sanh, chắc chắn không có nghi ngờ.”

Thuần nhất niệm Phật chớ nghi ngờ,
Chư Phật sáu phương đã chứng thật,
Ba nghiệp tinh chuyên không tạp nhiễm,
Hoa sen trăm báu hiện tức thời.

Trong “Tịnh Độ Ngũ Hội Pháp Sự Tán”, Thiền sư Pháp Chiếu nói rằng:

Hạnh tu nhanh nhất trong vạn pháp,
Chẳng thể sánh bằng pháp Tịnh Độ,
Lời vàng không chỉ Thích Tôn dạy,
Chư Phật mười phương cũng ấn chứng.

Hỏi thêm rằng: Tại sao chư Phật trong sáu phương chỉ chứng thật pháp Niệm Phật?

Đáp: Nếu căn cứ vào ý kiến của Đại sư Thiện Đạo, pháp Niệm Phật chính là Bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, do thế mới chứng thật pháp ấy; xét về các pháp khác thì không phải Bổn nguyện, nên không chứng thật là điều hẳn nhiên.

Hỏi: Nếu căn cứ vào Bổn nguyện của đức Phật mà chứng thật pháp Niệm Phật, thì hai Kinh và “kinh Quán Vô Lượng Thọ” đều có trình bày pháp Niệm Phật, tại sao không chứng thật?

Đáp: Giải thích vấn đề này có hai nghĩa – Thứ nhất: Trong hai Kinh và “kinh Quán Vô Lượng Thọ” v.v… dù có trình bày về Niệm Phật là Bổn nguyện, nhưng có trình bày thêm về các pháp tu khác, vì thế mà không chứng thật, riêng Kinh này (kinh A Di Đà), chỉ thuần nhất trình bày pháp Niệm Phật nên được chứng thật. Thứ hai: Trong hai Kinh và kinh Quán Vô Lượng Thọ”, dù không có lời chứng thật, nhưng Kinh này đã chứng thật, thì căn cứ Kinh này để liên hệ đến các Kinh kia; nghĩa là, nội dung các Kinh ấy có trình bày Niệm Phật là Bổn nguyện của đức Phật, thì vẫn chuyên chở ý nghĩa đã được chứng thật; tức là, chứng thật ở Kinh này thì ý nghĩa ấy xuyên suốt các Kinh kia. Do thế, Đại sư Thiên Thai ghi trong “Thập Nghi Luận” rằng:

Lại nữa, “kinh A Di Đà”, “kinh Đại Vô Lượng Thọ”, “kinh Cổ Âm Thanh Đà La Ni”[[27]] v.v… đều dạy: Khi đức Phật Thích Ca thuyết giảng Kinh này thì có vô lượng vô số chư Phật khắp thế giới trong mười phương, mỗi vị đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ, để chứng thật cho lời đức Thích Ca là: Hết thảy chúng sanh niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, vì nhờ vào năng lực thệ nguyện Đại bi Bổn nguyện của Phật, mà nhất định vãng sanh thế giới Cực Lạc.

—————————-

[26]-Mười địa (Thập địa): Tức hàng Thập địa Bồ Tát, còn gọi là Thập Thánh v.v…

[27]-Kinh Cổ Âm Thanh Đà-La-Ni: Gọi đủ là kinh A Di Đà Cổ Âm Thanh Đà-La-Ni.

CHƯƠNG XV: HỘ NIỆM.

Đoạn văn diễn bày: Chư Phật trong sáu phương hộ niệm những hành giả niệm Phật.

Trong “Quán Niệm Pháp Môn” nói rằng: Lại nữa, như “kinh Di Đà” dạy rằng, nếu nam tử, nữ nhân nào, hoặc bảy ngày đêm cho đến suốt đời, thuần nhất chuyên niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để nguyện cầu vãng sanh, thì những người này thường được vô lượng vô số chư Phật trong sáu phương đến hộ niệm, chính thế mới gọi là “kinh Hộ Niệm”. Một ý nghĩa khác của kinh Hộ Niệm, là không để cho các Thần-Quỷ ác dữ có cơ hội làm hại, cũng có nghĩa, là không gặp các bệnh tật bất ngờ, tai nạn bất ngờ, hoặc chết oan, chết yểu – tất cả mọi tai chướng ấy tự nhiên tiêu mất, trừ trường hợp niệm Phật không chí thành.

Trong “Vãng Sanh Lễ Tán” nói rằng: Nếu người nào xưng niệm danh hiệu đức Phật để cầu nguyện vãng sanh, thì luôn được vô lượng vô số chư Phật trong sáu phương hộ niệm. Giờ đây, đã có “Thệ nguyện tăng thượng” làm bảo chứng; vậy, cớ sao các Phật tử không có tư tưởng dõng mãnh tiến tu!

Hỏi thêm rằng: Phải chăng chỉ có chư Phật trong sáu phương hộ niệm hành giả?

Đáp: Không chỉ giới hạn chư Phật trong sáu phương mà đức Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm v.v… cũng cùng đến hộ niệm. Do thế, trong “Vãng Sanh Lễ Tán”  nói rằng:

“Kinh Thập Vãng Sanh” bảo rằng: Nếu chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để nguyện cầu vãng sanh, thì đức Phật A Di Đà liền cử Hai mươi lăm vị Bồ Tát đến bảo hộ hành giả; hoặc đi-đứng-nằm-ngồi, hoặc ngày hay đêm, bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào không để cho các Thần-Quỷ ác dữ làm hại. “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” cũng dạy rằng: Nếu người nào lễ lạy, xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để nguyện cầu vãng sanh thế giới ấy, thì đức Phật Di Đà liền cử vô số đức hóa Phật, vô số hóa Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Thế Chí đến hộ niệm hành giả; lại phối hợp với Hai mươi lăm vị Bồ Tát nói trên v.v… bao quanh hành giả hàng trăm hàng ngàn vòng, không kể là đi-đứng-nằm-ngồi,  bất cứ chỗ nào, lúc nào, ngày hay đêm không bao giờ lìa xa hành giả. Giờ đây, đã có sự lợi ích thù thắng làm bảo chứng, mong rằng các hành giả, mỗi người nên thành thật chí tâm cầu nguyện vãng sanh. Lại nữa, trong “Quán Niệm Pháp Môn” ghi rằng:

Lại như đoạn văn phần sau của “kinh Vô Lượng Thọ”dạy: Nếu người nào chí tâm thường xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát Thế Chí; đồng thời, cùng những người đồng tu kết thành đạo bạn tri thức hiền thiện, thì các Ngài thường đi theo bảo hộ.

Lại nói rằng, tương tợ như trong “Phẩm Hạnh”, “kinh Bát Chu Tam-Muội” cũng ghi rằng: Đức Phật dạy: Nếu người nào tinh chuyên thực hành niệm Phật Di Đà Tam-muội, thì thường được hết thảy các vị Trời, vua bốn cõi Trời, tám bộ Long-Thần luôn đi theo bảo hộ, ưu ái hoan hỷ cho thấy thân tướng, để giúp hành giả vĩnh viễn không bị các Thần-Quỷ ác dữ, tùy tiện gieo rắc thêm những tai chướng ách nạn bất ngờ. Điều này trong “Phẩm Hộ trì” đã trình bày đầy đủ.

Lại nói rằng: Trừ khi tu tập đạo tràng Tam-muội, mỗi ngày đặc biệt niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà một vạn lần, trọn đời liên tục như thế, thì được đức Phật A Di Đà gia tăng sự hộ niệm, giúp hành giả trừ được các tội chướng. Đồng thời, sẽ được đức Phật và Thánh chúng thường đến hộ niệm, làm tuổi thọ của hành giả sẽ được dài lâu hơn.

CHƯƠNG XVI: THA THIẾT PHÚ CHÚC.

Đoạn văn diễn bày: Đức Như Lai Thích Ca chọn danh hiệu đức Phật A Di Đà, tha thiết phú chúc cho các đệ tử, như Tôn giả Xá-lợi-phất v.v…

“Kinh A Di Đà” dạy rằng: Khi đức Phật thuyết giảng Kinh này xong, Tôn giả Xá-lợi-phất cùng các vị Tỷ-kheo, hết thảy Trời, Người, A-tu-la v.v… được nghe đức Phật giảng dạy, đều rất hoan hỷ tin tưởng thọ trì, rồi đảnh lễ đức Phật ra về.

Trong “Pháp Lễ Tán” Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn văn trên như sau:

Thời pháp, Thế Tôn sắp kết thúc,
Tha thiết phú chúc hiệu Di Đà,
Thời năm trược tăng nhiều nghi báng,
Đạo đời đều ghét chẳng cần nghe,
Thấy người tu, khởi tâm sân dữ,
Tìm cách phá, tranh nhau trút hận,
Hạng người mù – Nhất-xiển-đề kia,
Diệt đốn-giáo mãi bị trầm luân,
Kinh qua số kiếp hơn các bụi,
Ba đường ác chẳng thể thoát ly,
Thành tâm đại chúng đồng sám hối,
Xưa nay đã phá hoại pháp mầu.

Nói thêm rằng: Theo ý tứ trong ba Kinh, khi xét về các pháp tu tập, thì pháp Niệm Phật được chọn lựa làm tông chỉ.

Trước hết, trong “Hai quyển Kinh” có ba cách lựa chọn: Thứ nhất, lựa chọn theo Bổn nguyện; thứ hai, lựa chọn theo sự Tán thán; thứ ba, lựa chọn theo pháp tu được Lưu lại.

  •  Thứ nhất, “Lựa chọn theo Bổn nguyện”: Pháp Niệm Phật là pháp tu để vãng sanh được Tỷ-kheo Pháp Tạng lựa chọn trong hết thảy pháp tu của Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật. Ý thú vi tế này đã được trình bày ở trước – Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo Bổn nguyện”.
  •  Thứ hai “Lựa chọn theo sự Tán thán”: Trong Ba bậc vãng sanh đã trình bày ở trước, dù có trưng dẫn pháp tu khác như phát Bồ Đề tâm v.v… nhưng đức Phật Thích Ca không tán thán các pháp tu khác, chỉ duy nhất chọn pháp Niệm Phật mà tán thán rằng: “Nên ghi nhận rõ, chỉ niệm Phật một niệm sẽ có công đức Vô Thượng” – Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo sự Tán thán”.
  •  Thứ ba, “Lựa chọn theo pháp tu được Lưu lại”: Như trước có trình bày các pháp tu Định thiện, Tán thiện; nhưng đức Phật Thích Ca chỉ lựa chọn một pháp Niệm Phật để lưu lại – Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo pháp tu được Lưu lại”.

Kế đến, trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ” cũng có ba cách lựa chọn: Thứ nhất, lựa chọn theo sự Thâu nhiếp; thứ hai, lựa chọn theo sự Hóa thân và Tán thán; thứ ba, lựa chọn theo sự Phú chúc.

  • Thứ nhất: “Lựa chọn theo sự Thâu nhiếp” : Trong “kinh Quán Vô Lượng Thọ” tuy có xiển dương Định thiện, Tán thiện; nhưng hào quang của đức Phật A Di Đà chỉ soi chiếu những hành giả niệm Phật, thâu nhiếp liên tục không gián đoạn – Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo sự Thâu nhiếp” .
  • Thứ hai, “Lựa chọn theo sự Hóa thân và Tán thán”: Những người vãng sanh vào Hạ phẩm Thượng sanh (Sanh vào phẩm Thượng bậc Hạ), dù có thực hiện hai pháp là nghe Kinh và niệm danh hiệu đức Phật; nhưng đức hóa Phật Di Đà chỉ lựa chọn pháp Niệm Phật như đã ghi ở trước là: “Vì ông xưng niệm danh hiệu đức Phật nên các tội chướng được tiêu trừ, Ta đến nghinh đón ông đây.”- Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo sự Hóa thân và Tán thán”.
  • Thứ ba, “Lựa chọn theo sự Phú chúc”: Lại nữa, tuy có xiển dương các pháp Định thiện, Tán thiện; nhưng đức Phật Thích Ca chỉ duy nhất phú chúc một pháp Niệm Phật-Do thế mưới bảo là Lựa chọn theo sự Phú chúc”.
  •  Lại nữa, trong “kinh A Di Đà” cũng có một cách lựa chọn; đó là, “Lựa chọn theo Chứng thật”. Trong nhiều Kinh đã trình bày rất nhiều các pháp tu tập để vãng sanh, nhưng chư Phật trong sáu phương không chứng thật các pháp ấy. Khi Kinh này trình bày pháp tu Niệm Phật để vãng sanh, thì vô lượng vô số chư Phật trong sáu phương, vị nào cũng hiện tướng lưỡi rộng dài, che phủ cả một ngàn triệu thái dương hệ, nói lời thành thật để chứng thật pháp Niệm Phật – Do thế mới bảo là “Lựa chọn theo Chứng thật”.
  •  Nói thêm rằng: Trong “kinh Bát Chu Tam Muội” cũng có một cách lựa chọn; đó là,  “Lựa chọn niệm Danh hiệu”. Đức Phật A Di Đà tự dạy rằng: “Muốn vãng sanh về thế giới của Ta, thì phải thường xuyên xưng niệm danh hiệu của Ta, chớ để gián đoạn” – Do thế mới bảo là “Lựa chọn niệm Danh hiệu”.

Như vậy:

  • Lựa chọn theo Bổn nguyện, lựa chọn theo sự Thâu nhiếp, lựa chọn theo sự Hóa thân và Tán thán và lựa chọn niệm Danh hiệu” là bốn sự lựa chọn của đức Phật A Di Đà.
  • Lựa chọn theo sự Tán thán, lựa chọn theo pháp tu được Lưu lại, lựa chọn theo sự Phú chúc” là ba sự lựa chọn của đức Phật Thích Ca.
  •  “Lựa chọn theo sự Chứng thật” là sự lựa chọn của vô số chư Phật trong sáu phương.

Qua đây, đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Đà và vô lượng vô số chư Phật trong mười phương đều nhất quán chỉ lựa chọn một pháp Niệm Phật, còn các pháp tu khác không lựa chọn; chính thế, hành giả cần hiểu rằng, ba Kinh đều lựa chọn pháp Niệm Phật để làm tông chỉ.

Tựu trung:

Muốn sớm lìa sanh tử,
Trong hai pháp ưu việt,
Nên buông Thánh Đạo môn,
Chọn tu Tịnh Độ môn.
Muốn tu Tịnh Độ môn,
Trong hai hạnh Chánh-Tạp,
Nên rời các Tạp hạnh,
Chọn quay về Chánh hạnh.
Muốn tu theo Chánh hạnh,
Trong hai nghiệp Chánh-Trợ,
Nên xem nhẹ Trợ nghiệp,
Chọn chuyên Chánh định nghiệp.
Gọi là Chánh định nghiệp,
Chính là niệm hiệu Phật,
Niệm Phật hẳn vãng sanh,
Vì đúng Bổn nguyện Phật.

Hỏi: Các Đại sư của những tông phái, như Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân Ngôn, Thiền Môn, Tam Luận, Pháp Tướng v.v… đều có viết các tập sớ trình bày về pháp môn Tịnh Độ, tại sao không y cứ vào các Đại sư ấy mà chỉ nương tựa một mình Đại sư Thiện Đạo?

Đáp: Các Đại sư ấy mặc dù có viết các tập sớ về Tịnh Độ, nhưng không dùng giáo nghĩa Tịnh Độ để lập tông; do thế, không thể y cứ vào các Đại sư ấy. Riêng Đại sư Thiện Đạo, Ngài lấy giáo nghĩa Tịnh Độ để lập tông mà không dùng giáo nghĩa của Thánh Đạo môn; chính thế, cần phải nương tựa Đại sư.

Hỏi: Tổ sư của Tịnh Độ tông rất nhiều, như Đại sư Ca Tài ở chùa Hoằng Pháp, Tam tạng Từ Mẫn v.v…, tại sao không y cứ các Đại sư ấy mà chỉ ngưỡng mộ một mình Đại sư Thiện Đạo?

Đáp: Các Đại sư ấy dù là các bậc Tôn sư trong Tịnh Độ, nhưng chưa chứng đắc Tam-muội, riêng Đại sư Thiện Đạo vốn là vị đã chứng đắc; thế nên, cần được ngưỡng mộ nương tựa.

Hỏi: Nếu căn cứ vào sự chứng đắc Tam-muội, thì Đại sư Hoài Cảm là vị đã chứng đắc, tại sao không y cứ nương tựa?

Đáp: Đại sư Thiện Đạo là bậc Thầy,  Đại sư Hoài Cảm là Đệ tử, nên y cứ vào Thầy chứ không y cứ vào Đệ tử. Hơn nữa, sự giải thích của Đại sư Hoài Cảm về Tịnh Độ có nhiều sự trái ngược bất đồng; chính thế, không thể ngưỡng mộ y cứ Đại sư được.

Hỏi: Nếu y cứ vào Thầy mà không y cứ vào Đệ tử, thì Đại sư Đạo Xước là Thầy của Đại sư Thiện Đạo; hơn nữa, ngài Đạo Xước vốn là một vị Tổ sư của tông Tịnh Độ; vậy, tại sao không y vào Ngài?

Đáp: Dù rằng Đại sư Đạo Xước là bậc Thầy, nhưng chưa chứng đắc Tam-muội; thế nên, không biết có được vãng sanh hay không! Đại sư Đạo Xước từng hỏi ngài Thiện Đạo rằng: “Đạo Xước đã tu pháp Niệm Phật, không biết có được vãng sanh chăng?” Đại sư Thiện Đạo thưa rằng, Thầy lấy một hoa sen để trước tượng đức Phật rồi niệm Phật bảy ngày liên tục, nếu đóa hoa không héo tàn, thì có thể được vãng sanh. Đại sư Đạo Xước thực hiện đúng như thế, sau bảy ngày thì đóa hoa vẫn không vàng úa, Đại sư rất mừng rỡ về tương lai của mình; kế tiếp, Đại sư mời ngài Thiện Đạo nhập định để quán sát xem mình chắc chắn sẽ vãng sanh hay không! Ngài Thiện Đạo nhập định giây lát và thưa: Thầy nên sám hối ba tội mới có thể vãng sanh – Thứ nhất, Thầy thường tôn trí tượng ảnh đức Phật ở ngoài hiên nhà dưới cửa sổ, trong khi Thầy lại ở trong phòng sạch sẽ; thứ hai, Thầy thường sai khiến người xuất gia làm việc quá nhiều; thứ ba, Thầy tạo dựng phòng xá làm tổn thương nhiều loại côn trùng. Thầy nên hướng về trước mười phương chư Phật để sám hối tội thứ nhất, hướng về chư Tăng trong bốn phương để sám hối tội thứ hai, hướng về hết thảy chúng sanh để sám hối tội thứ ba. Đại sư Đạo Xước tư duy về hành động quá khứ của mình và xác nhận thực sự đã gây lỗi lầm như thế, rồi theo cách thức ấy mà thành tâm sám hối; sau đó, đến thăm ngài Thiện Đạo, bảo rằng, tội chướng của Thầy đã tiêu trừ rồi! Đến khi Đại sư Đạo Xước thị tịch, có một vầng hào quang trắng soi chiếu, đó là hành tướng biểu hiện sự vãng sanh của Đại sư.[[28]] Qua đây, chứng tỏ rằng, Đại sư Thiện Đạo đã thành tựu Niệm Phật Tam-muội, kiến giải và sở chứng thật siêu việt, xứng đáng là một bậc Thầy của mọi người! Hơn nữa, người thời bấy giờ truyền tụng rằng: “Pháp của đức Phật từ khi truyền vào Trung Hoa đến nay, chưa từng có một vị Thiền sư hoàn mãn công đức như thế.”- Thật là một câu ca ngợi tuyệt luân, nếu không có thật chất mà được tôn xưng như thế ư! Thêm nữa, sau khi chạm khắc bài văn nói về quan điểm trước khi giải thích nghĩa lý của “Quán Kinh”, thì có nhiều điềm lành Thánh-Phật cảm ứng hóa hiện. Đã được Thánh-Phật âm thầm gia hộ, mới trước tác “Quán Kinh Sớ”, nên hết thảy mọi người mới gọi điều ấy là “Chứng cứ xác định tập sớ”, và ai cũng quý trọng tập sớ này xem như Kinh-Pháp do đức Phật dạy. Sự kiện huyền nhiệm ấy,  trong quyển thứ tư của tập sớ ghi rằng:

Kính bạch tất cả quý vị Thiện tri thức… có duyên; tôi là kẻ phàm phu đang nằm trong vòng sinh tử, trí tuệ thì quá thô thiển yếu kém mà giáo pháp của đức Phật  thì cực kỳ cao thâm, không dám tự ý giải thích tùy tiện, nên lập nguyện cầu sự linh ứng để xác định mục đích mới có thể khởi tâm giải trình. Chí tâm đem cả thân mạng quy y và đảnh lễ hết thảy Tam bảo khắp cả mười phương cùng tận không gian, đức Phật  Thích Ca Mâu Ni, đức Phật  A Di Đà, Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí, chư Bồ Tát và đại chúng cõi Cực Lạc, cùng hết thảy sắc tướng trang nghiêm thế giới ấy. Giờ đây, con muốn giải thích những tư tưởng trọng yếu của “kinh Quán Vô Lượng Thọ”, để làm khuôn mẫu cho đời, nếu đúng với thệ nguyện đại bi của chư Phật  trong ba thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai, và đức Phật  Thích Ca, đức Phật Di Đà v.v… thì trong giấc mộng cho con được thấy hết thảy các sắc tướng của thế Cực Lạc như con đã phát nguyện trên. Sau khi lập nguyện trước hình tượng đức Phật, chính trong ngày ấy, tôi chí tâm  phát nguyện tụng ba biến kinh A Di Đà và niệm ba vạn câu danh hiệu đức Phật Di Đà. Ngay trong đêm ấy, tôi  bỗng thấy giữa bầu trời phía tây, tất cả các sắc tướng của thế giới Cực Lạc hiện ra đầy đủ như đã nguyện cầu. Chẳng hạn, núi báu với nhiều sắc màu hàng trăm hàng ngàn tầng, chiếu xuống mặt đất đủ vô số thứ ánh sáng, đất giống như vàng. Trên mặt đất có vô lượng chư Phật,  chư Bồ Tát, hoặc ngồi hay đứng, hoặc đang trò chuyện hay im lặng, hoặc đang thao tác thân tay hay đang Thiền định. Khi thấy các sắc tướng ấy, tôi liền chắp tay đứng nghiêm trang chiêm ngưỡng, cân nhắc một hồi lâu mới thông hiểu, hiểu rồi không kềm chế được sự hân hoan đối với đường hướng sớ giải ý nghĩa kinh Quán Vô Lượng Thọ. Từ đây về sau, cứ mỗi đêm tôi thường mộng thấy một vị Tăng đến truyền dạy ý nghĩa sâu mầu của Quán Kinh, khi truyền dạy xong, hằng đêm không còn mộng thấy nữa.

Sau khi sớ giải hoàn tất, tôi lại phát tâm quy định thời gian bảy ngày, mỗi ngày tụng mười biến kinh A Di Đà và niệm ba vạn câu danh hiệu đức Phật Di Đà. Đầu đêm, cuối đêm tôi đều quán tưởng các sắc tướng trang nghiêm… của thế giới đức Phật Di Đà, thành tâm đem cả tánh mạng quy y Chánh pháp Vô Thượng nhất như, vào đêm ấy tôi lại mộng thấy ba cổ cối xay bằng đá[[29]] đang chạy trên đường vắng vẻ. Bỗng nhiên, một người cưỡi lạc đà trắng đến trước mặt khuyên rằng: “Thầy hãy nỗ lực thì nhất định được vãng sanh, đừng bao giờ thối tâm; bởi lẽ, thế giới này chứa đầy ô-uế, độc ác, lắm chuyện khổ đau, không cần phải khổ công tham đắm níu kéo chúng”- Đáp rằng: “Nhờ ân đức của Hiền giả đã có thiện tâm dạy bảo minh bạch, con nguyện lấy thời gian trọn đời làm giới hạn, không bao giờ dám khởi lên tâm nguyện giải đãi thối lui v.v…” Đến đêm thứ hai, tôi lại mộng thấy chơn thân với sắc tướng như vàng ròng của đức Phật A Di Đà, đang thiền tọa trên đài hoa sen vàng dưới bảy hàng cây báu, xung quanh đức Phật có mười vị Thánh Tăng, mỗi vị đang tọa thiền dưới một cây báu, trên các cây báu mà đức Phật đang an tọa, xung quanh treo vô số vải trời; đức Phật và mười vị Thánh Tăng hướng về chánh Tây mà thiền quán. Đến đêm thứ ba, tôi lại mộng thấy hai cây cờ rất cao và to rộng, cờ có năm màu đang tung bay xuôi ngược giữa đường, ai ai cũng trong thấy rõ ràng. Sau khi mộng thấy ba sự kiện này, từ đây đến đêm thứ bảy không còn thấy nữa.

Sở dĩ có được những điềm lành linh hiển nói trên, vốn do tâm mà biểu đạt ra. Nhờ ân được thấy các hiện tướng ấy, tôi chẳng dám không thực hiện, nên trang trọng sớ giải ý nghĩa kinh Quán Vô Lượng Thọ trao đến cho thời Mạt pháp. Mong cầu bất cứ những ai được nghe biết đều khởi niềm tin, có đủ Chánh kiến quy hướng về Tịnh Độ. Nguyện đem công đức này, hồi hướng đến hết thảy chúng sanh, đều phát tâm Bồ Đề, đem tâm từ bi đối xử với nhau thì đức Phật sẽ thấy rõ; lấy Bồ Đề làm quyến thuộc, làm Thiện tri thức chân chính, đều vãng sanh về Cực Lạc, đều thành tựu Phật quả. Đây là ý nghĩa thỉnh cầu chư Thánh Phật hóa hiện để chứng thật cho tập sớ này.  Qua đây, người viết sẽ trình bày nhất như với Kinh pháp, không dám thêm hay bớt một câu, một chữ nào. Mong độc giả tri tường.

Nghiêm túc để nhận xét, “Quán Kinh Sớ” của Đại sư Thiện Đạo là Chỉ nam để vãng sanh Cực Lạc, là mắt là chân của hành giả. Thế nên, là hành giả Tịnh Độ, hẳn nhiên cần tôn trọng trân quý! Tóm lại, mỗi đêm đều mộng thấy một vị Tăng đến truyền dạy ý nghĩa sâu mầu, vị Tăng này có thể là đức Phật Di Đà hóa hiện. Như thế, có thể nói tập sớ này là do “Đức Phật Di Đà lưu truyền”; thêm nữa, thời Đại Đường cũng truyền rằng: “Đại sư Thiện Đạo chính là đức Phật Di Đà hóa thân”. Qua đây, có thể khẳng định rằng, tập sớ giải này chính do “Đức Phật Di Đà thuyết giảng”, tương ứng như trên đã nói: “Sẽ trình bày nhất như với Kinh pháp”, đây là câu chứng thật điều ấy vậy.

Tựu trung, xét về bản thân bần đạo[30] khi nghiên cứu về tập sớ giải “kinh Quán Vô Lượng Thọ”, với sự hiểu biết thì quá thô thiển, nhưng tâm niệm thì rất tha thiết chân thành để xác lập một lần nữa về hướng tu, là buông bỏ các pháp tu khác, trở về tu tập pháp Niệm Phật. Từ thời điểm ấy đến bây giờ, bần đạo tinh chuyên thực hiện và hướng dẫn mọi người cùng tu tập duy nhất chỉ là pháp Niệm Phật, và khi tu tập pháp Niệm Phật ít ai thắc mắc bến về là đâu; bởi lẽ, pháp Niệm Phật đã biểu thị bến về là Cực Lạc rồi!

——————————-

[28]] Theo “Tân Tu Vãng Sanh Truyện”.

[[29]]– Ba cỗ cối xay bằng đá (Tam cụ ngại luân): Là biểu tượng xác định rằng, có thể thành tựu Ba tâm, là Chí thành tâm, Thâm tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.

[30]-Bần đạo: Tức Đại sư Pháp Nhiên.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.