Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Phần IV

  1. Ngài Phật Đà Bạt Đà La (Buddhadhadra)

Ngài Phật Đà Bạt Đà La, Tàu dịch là Giác Hiền, người nước Ca Duy La Vệ (thuộc nước Nepal), vốn là hậu duệ của dòng Thích Ca Cam Lộ Phạn Vương, sinh vào năm 359. Do nội tổ là Đạt Ma Đề Bà (Tàu dịch là Giác Thiên) thường sang bắc Thiên Trúc buôn bán, nên gia đình di cư đến trú tại nước Ca Duy La Vệ. Năm ba tuổi, thân phụ qua đời, rồi năm năm tuổi thân mẫu cũng tạ thế. Do đó, Ngài được gia đình người chú nuôi dưỡng. Sa môn Tổ Cưu Bà Lợi biết ngài Phật Đà Bạt Đà La rất mực thông minh mẫn tiệp, nên xin người chú cho Ngài xuất gia làm sa di. Đến năm mười bảy tuổi, công khóa hằng ngày của Ngài là học thuộc kinh kệ. Những bài kinh kệ mà đồng học phải học trong một tháng, đối với Ngài chỉ cần một ngày là học thuộc.

Thọ giới cụ túc xong, Ngài lại càng tinh tấn tu hành thiền định cùng giới luật, và học rộng thông đạt các kinh điển. Ngài cùng với sa môn Tăng Già Đạt Đa sang du học tại nước Kế Tân. Tuy là đồng lứa tuổi, sa môn Tăng Già Đạt Đa lại rất kính phục tài năng xuất chúng của Ngài, nhưng không biết Ngài đã đạt đến cảnh giới nào. Lần nọ, đang đóng cửa nhập thất ngồi thiền, Tăng Già Đạt Đa chợt thấy Ngài đến, rồi bèn hỏi rằng từ đâu đến. Ngài đáp:

– Tôi vừa lên cung trời Đâu Suất lễ bái Bồ Tát Di Lặc rồi trở lại nơi đây.

Nói xong, ngài Phật Đà Bạt Đà La liền biến mất. Sa môn Tăng Già Đạt Đa mới biết rằng Phật Đà Bạt Đà La là thánh nhân hóa thân, nên không thể nào biết được cảnh giới của Ngài. Sau này, vì thường thấy những hành tung thần dị của Ngài, nên Tăng Già Đạt Đa hỏi ra thì biết là Ngài đã chứng đến quả vị A La Hán ‘Bất Hoàn’ (tức quả A Na Hàm).

Ngài thường thích đi chu du khắp các nước lân cận, để hoằng dương Phật pháp, cùng quán sát phong tục nhân tình. Đương thời, sa môn người Tàu là Trí Nghiêm, sang nước Kế Tân, thấy tăng chúng nơi đó tu hành thanh tịnh, nên muốn cầu thỉnh thánh tăng sang đất Tàu. Thầy thường nói:

– Tăng chúng đất Tàu có tâm cầu Phật pháp, nhưng chưa từng gặp được các đại sư chân chánh, nên không thể lãnh hội chánh pháp.

Thầy Trí Nghiêm đi đó đây, hỏi han dân chúng ở nước Kế Tân rằng ai là người có đủ oai đức đạo hạnh để hoằng dương Phật pháp ở Đông Độ. Dân chúng bảo:

– Có một sa môn tên là Phật Đà Bạt Đà La, xuất sanh tại Thiên Trúc, gia thế đời đời tín phụng Phật pháp, ấu niên xuất gia, tinh thông kinh luật, lại đã từng thọ nghiệp với đại thiền sư Phật Đại Tiên.

Đương thời, ngài Phật Đại Tiên cũng bảo Trí Nghiêm:

– Có khả năng tuyên dương Phật pháp, cùng khiến tăng chúng miền Đông Độ được cảm hóa, chỉ có Phật Đà Bạt Đà La.

Do Trí Nghiêm thành tâm khẩn ý thỉnh cầu, Ngài ưng thuận sang hoằng pháp tại Trung Thổ. Lễ bái từ tạ ân sư Phật Đại Tiên xong, Ngài bèn vượt ngọn Thông Lĩnh, du hành qua bao núi sông sa mạc, đi ngang qua sáu quốc gia. Các quốc vương nơi đó đều cúng dường thâm hậu sau khi biết được chí nguyện hoằng dương Phật pháp của Ngài. Ba năm sau, Ngài đến Giao Châu (Việt Nam). Kế đến, Ngài lên thuyền, tiếp tục cuộc hành trình. Lần nọ, trên đường đến Thanh Châu, thuyền tới một hòn đảo. Ngài bèn bảo chủ thuyền:

– Có thể dừng lại nơi hòn đảo này.

Chủ thuyền nói:

– Thuyền đang thuận gió chạy trên biển, không thể dễ dàng dừng lại nơi đây được, vì thời giờ của hành khách rất quan trọng.

Nói xong, chủ thuyền vẫn cho thuyền chạy. Sau hai trăm dặm, chợt gặp cơn giông bão, thuyền bi thổi trở lại hòn đảo đó. Chúng nhơn trên thuyền mới biết tài năng thần dị của Ngài, bèn lễ bái cúng dường, nghe lời chỉ dẫn. Lúc gió thuận thổi đến, chủ thuyền định cho thuyền chạy. Ngài bảo:

– Không thể xuất phát !

Chủ thuyền vì biết thần dị của Ngài, nên bèn nghe theo, chẳng dám khinh xuất khởi hành. Chẳng bao lâu, có tin tức bảo rằng các chiếc thuyền xuất phát ra khơi khi trước, đều bị đắm chìm. Đêm nọ, Ngài chợt bảo chủ thuyền nên khởi hành ra khơi, nhưng ông chẳng chịu nghe lời. Không còn biện pháp nào, một mình Ngài tự trương buồm, cho thuyền chạy ra khơi. Chốc lát sau, những con thuyền trú lại hòn đảo đó đều bị hải tặc đến cướp bóc. Chẳng bao lâu, thuyền đến Thanh Châu, phía đông Lai Quận ở Trung Thổ. Nghe tin ngài Cưu Ma La Thập đã đến Trường An, Ngài bèn tức tốc đến đó bái kiến. Vừa gặp được ngài Phật Đà Bạt Đà La, ngài Cưu Ma La Thập rất vui mừng, rồi cùng nhau đàm luận. Ngài Phật Đà Bạt Đà La hỏi ngài Cưu Ma La Thập:

– Sự giải thích kinh điển của Ngài chẳng có gì là đặc sắc, mà sao lại thu hút được nhiều người, khiến thanh danh vang lừng khắp chốn ?

Ngài Cưu Ma La Thập đáp:

– Vì họ có duyên sâu dầy với tôi, nên khiến tôi được cung kính. Tuy nhiên, tài đức của tôi, thật chẳng tương xứng với thanh danh đó.

Mỗi khi có chỗ nghi ngờ nào, ngài Cưu Ma La Thập đều cùng với ngài Phật Đà Bạt Đà La thảo luận giải quyết. Tuy vậy, vì sở tu học uyên thâm sâu cạn bất đồng, và tư tưởng của hai ngài Phật Đà Bạt Đà La và Cưu Ma La Thập cũng khác nhau, khiến thường phát sanh những cuộc tranh luận. Lần nọ, thái tử Hậu Tần là Dao Hoằng thỉnh Ngài thuyết pháp. Tăng chúng hội tụ tại Đông cung để nghe kinh và thảo luận. Bấy giờ, hai ngài Phật Đà Bạt Đà La và Cưu Ma La Thập cùng thảo luận vấn đề ‘Cực Vi’. Ngài Cưu Ma La Thập hỏi:

– Tại sao thuyết rằng các pháp vốn là không ?

Ngài Phật Đà Bạt Đà La nói:

– Vật chất do vô số cực vi trần (hạt bụi vi tế) hợp thành, mà không có tự tánh, nên đều là không.

– Nếu dùng vô số cực vi trần mà hợp thành vật chất, rồi bảo nó vốn là không, thì làm sao chứng minh là một hạt cực vi trần vốn không có tồn tại ?

– Nhiều người trong chúng ta thường thuyết để phá bỏ hạt cực vi trần. Tuy nhiên, tôi không dùng bằng cách đó.

– Thế thì hạt cực vi trần có bất diệt chăng ?

– Nhìn về phương diện của một hạt cực vi trần thì thấy nhiều hạt vi trần đều sẽ bị tiêu diệt. Nhìn về phương diện của nhiều hạt cực vi trần thì thấy một hạt vi trần cũng sẽ bị tiêu diệt.

Vài ngày sau, tăng chúng tại Trường An lại thỉnh Ngài thuyết pháp. Ngài bảo:

– Muôn sự muôn vật đều không có tự tánh. Duyên đủ thì chúng mới phát sanh. Vì có một hạt cực vi trần, nên mới có nhiều hạt cực vi trần. Hạt cực vi trần vốn không có tự tánh độc lập, nên đều là không.

Vua Dao Tần thường cúng dường hơn ba ngàn tăng chúng, nên những vị đó có thế lực rất mạnh. Ngược lại, Ngài an phận tịch tĩnh, sống đạm bạc, khác với những tăng sĩ thường phan duyên ra vào nơi chốn quyền quý. Lần nọ, Ngài bảo đồ chúng:

– Ta thấy có năm chiếc thuyền, đồng xuất phát từ Thiên Trúc, mà sẽ đến đây.

Tin này được đồ chúng truyền ra ngoài, khiến tăng chúng ở Trường An đều bảo rằng Ngài nói những lời mê hoặc quần chúng. Tại Trường An, Ngài hoằng dương pháp thiền rộng rãi, khiến các thiền gia khắp nơi nghe thanh danh đều tìm đến tu học. Căn cơ tu học và sở chứng trong các đệ tử của Ngài có sự phân biệt cao thấp, sâu cạn rõ ràng; một số đệ tử dối trá, giả danh của Ngài mà làm những điều xằng bậy. Lần nọ, có một người đệ tử tự bảo rằng đã chứng quả A Na Hàm, mà chưa từng được Ngài ấn chứng. Việc này khiến cho tăng chúng tại Trường An cùng nhau hủy báng Ngài không ngừng. Do sợ tai nạn đến thân, nên đồ chúng của Ngài phải bỏ trốn, phân tán đi hết. Tuy nhiên, Ngài vẫn ung dung tự tại, không chút động tâm. Môn hạ của ngài Cưu Ma La Thập là Đạo Hằng gởi thơ đến cho Ngài, viết:

– Phật chưa từng thuyết pháp mình chứng đắc. Đầu tiên, Ngài tự bảo có năm chiếc thuyền sắp đến nơi đây; thật là điều hư vọng giả dối. Kế đến, đồ chúng lại điên đảo làm mê hoặc quần chúng. Đó là phạm giới đại vọng ngữ, nên không thể lưu lại nơi đây. Xin Ngài hãy mau đi nơi khác.

Ngài bảo:

– Thân Ta nhỏ như bọt bèo, đến đi đều tự tại dễ dàng. Tuy nhiên, chỉ tiếc rằng chí nguyện hoằng dương Phật pháp chưa hoàn thành.

Cùng với hơn bốn mươi người đệ tử là Huệ Quán, v.v…, Ngài rời Trường An, nhưng thần thái vẫn an nhiên tự tại, không chút buồn bã. Người biết tài năng của Ngài đều luyến tiếc, tiễn đưa có trên cả ngàn người.

Nghe Ngài rời khỏi Trường An, vua Dao Hưng hối tiếc không nguôi, nên bảo Đạo Hằng:

– Ngài Phật Đà Bạt Đà La vì nhận trọng trách hoằng dương Phật pháp mà đến Trung Thổ. Lời dạy bảo của Ngài khiến cho người người đều cảm kích, tán thán. Sao chỉ vì một câu nói sai lầm mà khiến quần chúng Phật tử mất đi một đấng tôn sư ?

Nói xong, vua Dao Hưng bèn sai sứ giả chạy đuổi theo Ngài, thỉnh cầu trở lại Trường An. Ngài bảo sứ giả:

– Tôi biết rõ ân tình của nhà vua, nhưng tiếc thay không thể tuân theo mạng lịnh.

Ngài bèn dẫn đồ chúng vào nam, đến núi Lô Sơn. Lâu nay đã nghe thanh danh của ngài Phật Đà Bạt Đà La, nên Huệ Viễn bèn vui mừng ra tiếp rước. Huệ Viễn biết rằng chỉ do lỗi ở các môn đệ, mà ngài Phật Đà Bạt Đà La bị bài báng. Bàn về năm chiếc thuyền sẽ đến Trung Thổ, đó chỉ là ý kiến cá nhân chứ không phạm giới luật. Vì vậy, Huệ Viễn bèn viết thơ gởi đến vua Dao Hưng cùng tăng chúng ở Trường An mà giải oan cho Phật Đà Bạt Đà La, rồi cầu thỉnh Ngài vào núi phiên dịch kinh điển thiền pháp. Vốn có chí nguyện hoằng pháp tại miền tây, và không muốn sống ẩn dật một nơi, nên chẳng bao lâu Ngài qua Giang Lăng. Trên đường gặp một chủ thuyền người ngoại quốc, đệ tử của Ngài bèn hỏi han, và biết rõ có năm chiếc thuyền từ Thiên Trúc sang Trung Thổ. Lời này tương hợp với điềm tiên đoán của Ngài khi xưa. Ngài vừa đến Giang Lăng, toàn thể tăng ni sĩ thứ đều canh cánh đua nhau đến lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, Ngài không thọ nhận bát cứ lễ vật nào, chỉ ngày ngày mang bình bát khất thực mà không phân biệt nhà sang hèn.

Lưu DụẠ mang quân chinh phạt Lưu Nghị. Quan sử của Lưu Dụ là Viên Báo ở Trần Quận cũng kéo quân đến Giang Lăng. Ngày nọ, Ngài cùng đệ tử Huệ Quán đến dinh thự của Viên Báo khất thực. Do Viên Báo chưa tín phụng Phật pháp, nên đối xử với Ngài và Huệ Quán rất tệ bạc. Ăn chưa no, Ngài và Huệ Quán bèn đứng dậy cáo từ. Viên Báo bảo:

– Các vị chưa ăn xong, sao lại cáo từ ?

Ngài bảo:

– Tâm lượng bố thí của ông có giới hạn. Tuy nhiên, Ta đã dùng hết những thức ăn mà ông dọn ra.

Viên Báo bèn sai người đem thêm cơm ra, mà quả nhiên cơm đã hết. Viên Báo cảm thấy thật xấu hổ, hỏi Huệ Quán:

– Vị sa môn đó là người như thế nào vậy ?

Huệ Quán bảo:

– Ngài là vị đức dầy cao viễn, mà người phàm phu không thể hiểu rõ được.

Viên Báo cảm kích thần dị của Ngài, nên bẩm tấu với Lưu Dụ. Lưu Dụ bèn sai người thỉnh Ngài đến để tương kiến. Vừa gặp Ngài, Lưu Dụ rất cung kính, cúng dường chu toàn. Trở về kinh sư, Lưu Dự cũng thỉnh Ngài đến Trường An, cư trú nơi chùa Đạo Tràng. Nghi dung của Ngài chân chánh đoan trực, chẳng đồng với phàm nhân, mà chí nguyện cũng thanh cao. Các pháp sư tại kinh đô thường bảo nhau:

– Thiền sư Phật Đà Bạt Đà La tại chùa Đạo Tràng đã đắc được ý trời, thật giống như một vì vua ở cõi Thiên Trúc.

Sa môn Chi Pháp tại Vu Điền thỉnh được một phần của kinh Hoa Nghiêm có ba mươi ngàn câu kệ, mà chưa được phiên dịch. Đến năm 418, nội sử Ngô Quận Mãnh Tiêu, tả vệ quân Trử Thúc Độ lại cầu thỉnh ngài Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch. Cùng với hơn một trăm tăng chúng như Pháp Nghĩa, Huệ Nghĩa, Huệ Nghiêm, v.v… Ngài phiên dịch phần đầu của kinh Hoa Nghiêm tại chùa Đạo Tràng. Bản văn dịch rất lưu loát, đạt thấu yếu chỉ của kinh, nên được mọi người tán thán. Điện đường dịch kinh Hoa Nghiêm tại chùa Đạo Tràng, được gọi là điện đường Hoa Nghiêm, để kỷ niệm cho sự dịch kinh được thành tựu.

Những kinh điển do ngài Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch như kinh Quán Phật Tam Muội Hải (6 quyển), kinh Niết Bàn, Tu Hành Phương Tiện Luận, v.v… Tổng cộng có mười lăm bộ, một trăm mười bảy quyển. Tất cả đều tương hợp với yếu chỉ của kinh điển, và lời dịch cũng rất lưu loát rõ ràng.

Năm 429, ngài Phật Đà Bạt Đà La viên tịch, thọ bảy mươi mốt tuổi.

  1. Ngài Phất Nhã Đa La ( Punyatara)  

Phất Nhã Đa La (dịch là Công Đức Hoa) người nước Kế Tân, xuất gia từ thuở nhỏ, giới hạnh thanh cao, khiến người người đều xưng tán. Ngài thông suốt ba tạng kinh luật luận, và chuyên trì tụng bộ Thập Tụng Luật. Ngài vốn là bậc thầy của tăng chúng trong và ngoài nước. Người đương thời đều bảo rằng Ngài đã chứng thánh quả.

Vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy (399-415), Ngài chống tích trượng đến Trường An. Vua Dao Hưng lấy lễ thượng khách mà hậu đãi. Ngài Cưu Ma La Thập cũng tôn sùng giới đức của ngài Phất Nhã Đa La. Bấy giờ, kinh điển đã được truyền dịch rất nhiều, nhưng luật tạng lại chưa được xiển dương, nên vừa nghe tin ngài Phất Nhã Đa La đến Trường An, ai ai cũng đều ngưỡng mộ. Ngài Cưu Ma La Thập bèn vân tập các danh tăng trong kinh thành đồng đến cung thỉnh ngài Phất Nhã Đa La tụng bộ Thập Tụng luật. Ngày mười bảy tháng mười năm 404, tại chùa Trường An Đại Tự, ngài Phất Nhã Đa La tụng lại bộ Thập Tụng Luật; ngài Cưu Ma La Thập dịch sang chữ Tàu. Trong ba phần, vừa dịch được hai phần thì ngài Phất Nhã Đa La nhiễm bịnh mà nhập tịch. Đại nghiệp chưa thành mà bậc thánh nhân đã thị tịch, khiến đại chúng thương tiếc vô ngần.

  1. Ngài Đàm Ma Lưu Chi (Dharmaruci)  

Đàm Ma Lưu Chi, dịch là Pháp Lạc. Ngài vốn là người Tây Vực, bỏ tục xuất gia nhập đạo, nổi danh vì thường trì tạng luật.

Mùa thu năm 404, Ngài đến Trường An. Lúc trước, ngài Phất Nhã Đa La chưa dịch xong quyển Thập Tụng Luật thì nhập tịch. Ngài Huệ Viễn tại Lô Sơn, nghe danh ngài Đàm Ma Lưu Chi chuyên tụng bộ Tỳ Ni, đắc được nơi cứu cánh của luật tạng, bèn viết thơ gởi đến: “Phật pháp đầu tiên hưng khởi nơi thượng quốc, rồi từ từ lưu truyền sang Tây Vực hơn bốn trăm năm. Hiện tại giới luật của chư sa môn khiếm khuyết rất nhiều. Lúc trước, sa môn Phất Nhã Đa La từ nước Kế Tân sang đây tụng đọc quyển Thập Tụng Luật bằng tiếng Phạn; pháp sư bác học Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Tàu. Dịch được chỉ quá phân nửa thì ngài Phất Nhã Đa La thị tịch, khiến đại nghiệp chưa được hoàn thành. Thật tiếc lắm thay ! Nay nghe tin Nhân Giả có đem theo bộ kinh luật này, khiến tôi vui mừng mong muốn được gặp”.

Được thơ của ngài Huệ Viễn và được vua Dao Hưng khẩn thỉnh, ngài Đàm Ma Lưu Chi bèn cùng với ngài Cưu Ma La Thập dịch trọn bộ Thập Tụng Luật. Sau đó, bộ luật này được chư tăng nghiên cứu tường tận, rồi kiểm duyệt hiệu đính. Tiếc rằng chưa trau chuốt lại văn nghĩa thì ngài Cưu Ma La Thập đã nhập tịch.

Lúc trú tại Trường An Đại Tự, được Huệ Quán thỉnh mời xuống kinh sư (Nam Kinh), ngài Đàm Ma Lưu Chi bèn đáp:

– Nơi đây đã có các bậc danh đức truyền pháp lợi sanh. Ta phải đến những nơi chưa có luật giáo.

Do đó, Ngài du hóa sang phương khác, mà không ai biết nhập tịch tại nơi nào.

  1. Ngài Đàm Vô Sấm (Dharmaraksa)

Ngài Đàm Vô Sấm cũng được gọi là Đàm Ma Sấm, người trung Thiên Trúc. Sáu tuổi đã để tang cha, rồi từ đó theo mẹ đi dệt vải khắp nơi để sinh sống. Đương thời, sa môn Đạt Ma Da Xá (Pháp Minh) rất được tăng chúng kính trọng. Bà mẹ bần khổ hâm mộ sa môn Đạt Ma Da Xá nên cúng dường thâm hậu, cùng cho ngài Đàm Vô Sấm đi theo học đạo. Năm mười tuổi, Ngài cùng chúng bạn đồng học tụng kinh chú. Từ đó, hiển xuất thiên tánh minh mẫn siêu quần; trong một ngày tụng kinh có thể nhớ hơn mười ngàn chữ, nên giữa nhóm môn đồ, Ngài được sa môn Đạt Ma Da Xá khen ngợi vô ngần.

Đầu tiên, Ngài học pháp Tiểu Thừa, cùng luận thư ngũ minh và học thuyết ở nước Thiên Trúc. Ngài lại có tài giảng thuyết, cùng khả năng biện luận với người, mà không ai có thể khuất phục được. Sau này, Ngài tranh luận với thiền sư Bạch Đầu cả một trăm ngày. Cuối cùng, Ngài đành phải bội phục thiền sư Bạch Đầu, và hỏi:

– Thiền Sư còn có kinh điển gì, có thể cho tôi xem chăng ?

Thiền sư Bạch Đầu bèn lấy kinh Niết Bàn được viết trên vỏ cây, đưa cho Ngài. Xem qua bộ kinh này, Ngài lại càng tự hổ thẹn:

– Mình thật quá hàm hồ. Đã từ lâu chưa từng biết đến chánh đạo Đại Thừa.

Do đó, Ngài thỉnh cầu đại chúng vân tập để sám hối, và phát nguyện chuyển hướng sang học Đại Thừa. Năm hai mươi tuổi, Ngài đã tụng thuộc hơn hai triệu chữ.

Người anh của ngài Đàm Vô Sấm vốn là chuyên viên huấn luyện voi của quốc vương. Ngày nọ, con voi tai trắng của quốc vương đột nhiên bị chết, khiến quốc vương nổi giận lôi đình, ra lịnh giết chết, rồi ban chiếu chỉ:

– Nếu ai dám đến nhìn thi thể của hắn, Ta sẽ tru di tam tộc !

Vì vậy, trong thân tộc, không có ai dám trái lịnh nhà vua, chỉ có Ngài là dám đến nhận thi thể. Quốc vương biết được bèn sai quân bắt Ngài vào cung chất vấn. Với thần sắc điềm đạm tự nhiên, không lộ chút vẻ sợ sệt, Ngài bảo:

– Đại Vương y chiếu theo pháp luật mà giết anh tôi. Tôi cũng y chiếu theo mối quan hệ cốt nhục mà thâu lượm thi thể của anh tôi. Hành động của hai chúng ta, đều hợp với luân lý mà làm, chẳng có gì là sai trái ! Sao lại còn sanh tâm bực tức ?

Thấy chí khí thanh cao của Ngài, quốc vương không những tha tội chết, mà còn giữ ở lại hoàng cung để cúng dường.

Giống như ngài Phật Đồ Trừng, ngài Đàm Vô Sấm thông thạo chú thuật, thường hiển hiện năng lực thần dị rất linh nghiệm, nên khiến người Tây Vực đều xưng tán là ‘Đại Chú Sư’.

Lần nọ, Ngài cùng với quốc vương đi vào núi. Quốc vương khát nước, sai các vệ sĩ đi tìm nước mà chẳng được. Thấy bên vệ đường có một tảng đá lớn, Ngài bèn tụng thần chú khiến nước vọt ra từ nơi tảng đá đó. Ngài tán thán ân đức của quốc vương:

– Do ân đức của Đại Vương mà cảm ứng đến dòng nước trong vụt ra từ tảng đá cuội này.

Thấy đạo thuật vi diệu phi thường của Ngài, quốc vương rất hoan hỷ, nên lại càng hậu đãi. Chẳng bao lâu, quốc vương từ từ xa lánh và đối xử tệ bạc với Ngài. Thấy vậy, Ngài bèn cáo từ quốc vương, rồi mang mười hai quyển kinh Đại Niết Bàn, kinh Bồ Tát Giới, v.v… hướng đến nước Kế Tân và Quy Từ (Kuchar). Vì dân chúng nơi đó vốn tín phụng giáo lý Tiểu Thừa, nên không tin tưởng kinh điển Đại Thừa. Ngài phải lại sang Đôn Hoàng, rồi đến Lương Châu. Trên đường sang Cô Tạng, lúc trú tại một quán trọ, vì sợ kinh bị thất lạc, Ngài bỏ các quyển kinh vào trong gối nằm. Tối đến, dường như có người xô Ngài xuống đất. Tỉnh dậy, Ngài nghĩ rằng đó là bọn ăn trộm. Tuy nhiên, việc này xảy ra ba đêm liền. Đêm thứ tư, trong hư không chợt có tiếng bảo:

– Đây là kinh điển giải thoát của Như Lai, sao lại lót đầu mà nằm ?

Nghe lời này, Ngài liền tỉnh ngộ, khởi tâm sám hối, cung kính lễ bái, và đặt kinh điển lên chỗ cao. Đêm hôm đó, có ăn trộm đến, định đánh cắp kinh điển, nhưng không tài nào khiêng nổi vì kinh điển quá nặng. Sáng hôm sau, vừa tỉnh dậy, Ngài mang kinh điển rời khỏi nơi đó. Thấy Ngài ung dung mang kinh điển, bọn trộm cướp sửng sốt, xưng tán Ngài là bậc thánh nhân, nên chạy đến cầu sám hối.

Đương thời, Hà Tây Vương là Mông Tốn đã bình định xong Đôn Hoàng. Hà Tây Vương vốn tín phụng Phật pháp, và có chí muốn hoằng dương chánh giáo. Nghe tin Ngài đến Đôn Hoàng, Hà Tây Vương bèn cung thỉnh vào trú nơi vườn thượng uyển ở Lương Châu, và cúng dường thâm hậu, cùng cầu thỉnh Ngài phiên dịch kinh điển. Tuy nhiên, vì chưa thông thạo tiếng Tàu, lại cũng không có ai giúp đỡ, nên Ngài không thể đáp ứng lời thỉnh cầu dịch kinh, mà trú nơi đó để học tiếng Tàu trong ba năm.

Được Mông Tốn tôn sùng vì Ngài là một vị thường hiển hiện đạo thuật linh dị, giống như ngài Phật Đồ Trừng được Thạch Lặc và Thạch Hổ cung kính. Lần nọ, Ngài bảo Mông Tốn:

– Quỷ quái đã vào hoàng cung, thì chẳng bao lâu sẽ có tai họa phát sanh trong nước.

Vì chưa từng thấy quỷ, nên Mông Tốn không tin. Song, nhờ Ngài tụng thần chú gia trì, khiến quỷ hiển hiện, nên Mông Tốn rất kinh hoàng sửng sốt. Ngài bảo:

– Phải thành tâm chuyên trì trai giới, rồi tụng thần chú, thì quỷ quái sẽ bỏ đi.

Kế đến, Ngài thi thiết thần chú trong ba ngày liên tiếp, khiến loài quỷ quái đều bỏ đi, nên trong nước được bình an. Tận mắt thấy việc này, Mông Tốn biết đó đều nhờ năng lực đạo thuật của Ngài, nên lại càng tôn sùng hậu đãi.

Năm 429, Mông Tốn vượt sông Hoàng Hà, chinh phạt nước của Tần Vương và Khuất Phục Mộ Mạt. Mông Tôn sai thái tử Hưng Quốc đi tiền phong. Khuất Phục Mộ Mạt sau này phản công phá thành, và bắt được Hưng Quốc. Năm 430, Hách Liên của nước Hạ công hạ được Khuất Phục Mộ Mạt, và khiến cho Tây Tần bị diệt vong. Tuy nhiên, trong chiến loạn thái tử Hưng Quốc bị tử trận. Tiếp được hung tin, Mông Tốn phẫn uất tức giận, bảo:

– Phụng sự Phật pháp, mà không được quả báo lành !

Do đó, Mông Tôn bắt những sa môn dưới năm mươi tuổi đều phải hoàn tục. Lịnh này được ban ra thì tượng đá mẹ của Mông Tốn (cao mười sáu thước) chợt rơi nước mắt. Lại nữa, nhờ Ngài ra sức khuyên nhủ, nên Mông Tốn từ từ chuyển tâm sám hối, bãi bỏ lịnh trên. Vì vậy, Phật pháp ở vùng Bắc Lương được tiếp tục phát triển.

Thác Bạt Đảo ở Bắc Ngụy (tức Thái Võ Đế, 424-451) nghe chú thuật của Ngài rất thù thắng, nên phái sứ giả sang cung thỉnh Ngài về triều, và bảo Mông Tốn:

– Nếu không cho thỉnh ngài Đàm Vô Sấm, thì sẽ khởi binh sang công phá Bắc Lương.

Bắc Lương là một nước nhược tiểu, nên đối với Bắc Ngụy, Mông Tốn rất nể sợ. Song, Mông Tốn lại chẳng đành lòng để cho ngài Đàm Vô Sấm đi. Bắc Ngụy Thái Võ Đế lại sai sứ Công Bình Công, Quý Thuận mang chín mâm lễ vật sang Bắc Lương, quyết tâm ngưỡng thỉnh ngài Đàm Vô Sấm:

– Nghe nói pháp sư Đàm Vô Sấm đang trú tại quý quốc. Bổn quốc muốn thỉnh Pháp Sư về triều để thuyết giảng Phật pháp. Xin Đại Vương hãy thuận lòng mà nghinh tống pháp sư Đàm Vô Sấm đi.

Trong buổi yến tiệc đãi sứ giả Quý Thuận, Mông Tốn nói:

– Lão thần Tây Phiên Mông Tốn phụng sắc triều đình Bắc Ngụy, tuyệt chẳng dám trái nghịch, mà Thiên Tử lại nghe lời sai lầm của người khác, khiến bức bách tôi giao Đàm Vô Sấm. Trước kia, quan thượng thư của Bắc Ngụy đã đến nơi đây thỉnh cầu, và bây giờ lại phái tôn sứ giả sang tương cầu nữa. Đàm Vô Sấm vốn là bậc thầy, nên chúng tôi quyết sống chết với nhau.

Quý Thuận bảo:

– Triều đình Bắc Ngụy đã đem nhiều phẩm vật sang tặng vua Bắc Lương. Sao Đại Vương lại vì một vị tăng người Thiên Trúc mà bỏ đi công nghiệp bấy lâu nay ! Xin Đại Vương hãy suy nghĩ cho kỹ. Vua Bắc Ngụy thật thành tâm tận ý.

Vì vẫn kiên quyết không chịu nhượng ngài Đàm Vô Sấm nên Mông Tốn bảo:

– Lời của ông thật xảo diệu, giống như Tô Tần đời Chiến Quốc. E rằng chẳng phải là lời chân thật.

Mông Tốn bảo với sứ giả rằng vì ngài Đàm Vô Sấm là bậc thầy, nên quyết cùng sống chết. Thật ra, Mông Tốn chỉ muốn lợi dụng chú thuật của ngài Đàm Vô Sấm để giữ vững ngai vàng, nên không muốn cho Ngài sang Bắc Ngụy.

Năm 433, vì muốn trở lại Tây Vực để cầu thỉnh phần cuối của kinh Niết Bàn, nên Ngài cáo biệt với Mông Tốn. Hoài nghi rằng Ngài bỏ Bắc Lương mà sang Bắc Ngụy, nên Mông Tốn mật sai người giả trang mang châu báu và lương thực đến tặng, rồi lập mưu kế giết Ngài. Trước ngày lên đường, Ngài rơi lệ cáo từ đại chúng:

– Nghiệp báo của tôi sắp đến, mà thánh nhân cũng không thể cứu được. Tuy nhiên, tôi đã quyết định làm theo lời nguyện, tức là sẽ trở về Tây Vực để thỉnh phần cuối của kinh Niết Bàn, nên không thể tiếp tục ở lại nơi đây !

Đi được khoảng bốn mươi dặm, quả nhiên Mông Tốn phái thích khách giết ngài Đàm Vô Sấm trên đường. Bấy giờ ngài Đàm Vô Sấm được bốn mươi chín tuổi.

Tin tức vừa lan truyền, thì tăng tục xa gần đều mến tiếc thương xót cho Ngài. Sau này, các quan triều tả hữu, ban ngày thấy rõ rất nhiều quỷ thần mang gươm kiếm đến chém Mông Tốn. Vào tháng tư năm 433, Mông Tốn bị bịnh mà chết.

Ngài Đàm Vô Sấm thông suốt giới luật, lại có tài năng phiên dịch kinh điển, cùng có năng lực thần dị phi phàm.

Theo quyển ‘Cao Tăng Truyện’, lúc trú tại Cô Tạng, có rất nhiều người chân thành thỉnh cầu ngài Đàm Vô Sấm truyền giới Bồ Tát. Lúc sa môn Đạo Tấn tại Trường Dịch muốn cầu giới Bồ Tát, Ngài bảo:

– Tạm thời hãy sám hối tội chướng, rồi sẽ bàn luận sau !

Nghe lời này, trong bảy ngày đêm, Đạo Tấn tinh cần sám hối. Qua ngày thứ tám, Đạo Tấn bèn đến cầu giới. Vừa thấy Đạo Tấn, Ngài phát nộ dữ dội. Thấy nghiệp chướng của mình chưa được tiêu trừ, Đạo Tấn lại dốc toàn tâm lực chuyên tu thiền định suốt ba năm liền, rồi ân cần sám hối. Đêm nọ, Đạo Tấn mộng thấy Phật Thích Ca cùng chư Bồ Tát đến ban giới pháp. Ngày hôm sau, Đạo Tấn lại đến cầu thọ giới. Thấy Đạo Tấn xa xa đi đến, ngài Đàm Vô Sấm bảo:

– Lành thay ! Ngươi đã được cảm ứng mà thọ giới pháp, tức đã đắc được giới thể ! Hôm nay, Ta sẽ chứng minh cho ngươi !

Nói xong, trước tượng Phật, Ngài giảng giải giới tướng cho Đạo Tấn nghe. Đạo Lãng, người soạn viết bài tựa về kinh Đại Niết Bàn, vào đêm hôm ấy cũng thấy rõ giấc mộng đó. Tuy hạ lạp cao, nhưng cảm thấy giới hạnh vẫn còn khiếm khuyết, nên Đạo Lãng phát nguyện làm sư đệ của Đạo Tấn. Trước và sau Đạo Tấn, có hơn một ngàn người y theo Ngài để thọ giới Bồ Tát.

Theo quyển ‘Xuất Tam Tạng Ký Tập’, những kinh điển do ngài Đàm Vô Sấm phiên dịch như sau: Kinh Đại Bát Niết Bàn (36 quyển), kinh Phương Đẳng Đại Tập (29 quyển), kinh Phuơng Đẳng Vương Hư Không Tạng (5 quyển), kinh Phương Đẳng Đại Vân (4 quyển), kinh Bi Hoa (10 quyển), kinh Kim Quang Minh (4 quyển), kinh Hải Long Vương (4 quyển), kinh Bồ Tát Địa Trì (8 quyển), Bồ Tát Giới Bổn (1 quyển), kinh Ưu Bà Tắc Giới Bổn (7 quyển), kinh Bồ Tát Giới (8 quyển), Bồ Tát Giới Ưu Bà Tắc Giới Đàn Văn (1 quyển).

Vào giữa thế kỷ thứ tư, ngài Cưu Ma La Thập đang tu học tại nước Kế Tân, kinh Niết Bàn vẫn chưa được truyền sang nơi đó. Lúc trở về nước Quy Từ, ngài Cưu Ma La Thập cũng chưa thấy qua kinh Niết Bàn. Từ năm 350 đến năm 400, có rất nhiều bản kinh Niết Bàn khác nhau. Ngài Pháp Hiển đã từng mang về một quyển kinh Niết Bàn. Năm 417, Phật Đà Bạt Đà La cùng thầy Bảo Vân phiên dịch ra sáu quyển kinh Niết Bàn.

Năm 433, nghe pháp sư Đàm Vô Phát bảo rằng bộ kinh Niết Bàn chưa được dịch hoàn tất, nên ngài Đàm Vô Sấm mới phát tâm trở về Tây Vực để cầu phần sau của kinh Niết Bàn, nhưng chẳng may gặp nạn mà chết.

Kế thừa chí nguyện tầm cầu phần sau của kinh Niết Bàn có thầy Đạo Phổ (vốn người nước Cao Xương, tinh thông ngôn ngữ của sáu nước) ở chùa Đạo Tràng. Thể theo sắc lịnh của Tống Văn Đế, thầy Đạo Phổ dẫn đoàn sứ giả mười người, theo thuyền để qua Tây Vức. Tuy nhiên, giữa đường gặp sóng gió nên thuyền bị trôi dạt đến Quảng Quận. Thầy Đạo Phổ vì bị thương nơi bàn chân, rồi nhiễm bịnh mà thị tịch. Trước lúc lâm chung thầy Đạo Phổ bảo:

– Đất Tống không có duyên với phần sau của kinh Niết Bàn.

Đến đời Đường Lân Đức (664-665), luật sư Hội Ninh ở Thành Đô, thuộc Ích-châu, theo thuyền đi cầu pháp từ Nam Hải đến nước Ha Lăng Châu (Java); lưu trú nơi đó qua ba năm, rồi cùng sa môn Nhã Na Bạt Đà La (Trí Hiền) phiên dịch phần sau của kinh Niết Bàn. Đệ tử của sa môn Nhã Na Bạt Đà La là Vận Kỳ mang phần kinh Niết Bàn này đến Trường An. Phần cuối của kinh Niết Bàn gồm có: Kiều Trần Như Phẩm dư phần, Di Giáo Phẩm, Ứng Tận Hoàn Nguyên Phẩm, Cơ Cảm Trà Tỳ Phẩm, Thánh Khu Khuếch Nhuận Phẩm.

Sau khi kinh Niết Bàn được phiên dịch, tư tưởng ‘tất cả chúng sanh đều có Phật’ phát triển mạnh mẽ, khiến cho Đạo Sanh phát khởi chủ trương ‘đốn ngộ thành Phật’, và thuyết tiệm tu của Huệ Quán ra đời.

Mông Tốn không những thỉnh ngài Đàm Vô Sấm dịch kinh Niết Bàn và những bộ kinh khác, mà ông còn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma (Buddhavarman) người Thiên Trúc dịch Đại Tỳ Bà Sa. Sa môn Phù Đà Bạt Ma (dịch là Đạo Thái) tài năng kiệt xuất, tánh tình khí khái, điềm đạm, thông minh kiệt xuất hơn người, thường học nhiều ngôn ngữ. Thấy kinh Bát Nhã đã được phiên dịch và phổ biến ở Trung Thổ, nhưng ba tạng chín bộ A Tỳ Đàm của Tiểu Thừa vẫn chưa được phiên dịch đầy đủ, nên sa môn Phù Đà Bạt Ma không quản ngại đuờng sá xa xôi hiểm nguy mà vượt ngọn Thông Lĩnh, qua nước Kế Tân, thỉnh lấy kinh tiếng Phạn hơn một trăm ngàn câu kệ, rồi sang Lương Châu. Mông Tốn nghe tiếng bèn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma tiến hành phiên dịch kinh điển. Vì sự phòng ngự ở chung quanh thành Lương Châu không được kiên cố, nên Mông Tốn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma vào trong chùa Nhàn Dự Cung (nơi đây, ngài Đàm Vô Sấm đã từng phiên dịch kinh Đại Niết Bàn và các kinh điển khác). Từ trung tuần tháng tư năm 425 đến thượng tuần tháng bảy năm 427 thì dịch xong kinh Đại Tỳ Bà Sa ra một trăm quyển. Đương thời, có hơn ba trăm người như sa môn Đạo Lãng, Trí Sung, v.v… nhận trọng trách kiểm thảo kinh văn.

Mông Tốn lại thường thỉnh các sa môn người Thiên Trúc, Tây Vực, v.v… đến Lương Châu phiên dịch kinh điển. Ông ta thường cùng các vị tu tiên và sa môn đàm luận về nghĩa lý huyền học. Đối với tôn giáo, một bên ông ta lợi dụng, và một bên lại ủng hộ.

Mông Tốn có một người em, tên là An Dương Hầu. Ông ta tụng đọc rất nhiều kinh điển, và thường giữ năm giới cẩn mật. Vì có chí cầu pháp, nên Ông sang nước Vu Điền, đến chùa Cù Ma Đế Đại Tự, theo học với sa môn Phật Đà Tư Na (Buddhasena) người Thiên Trúc. Sau này, Ông đến nước Cao Xương, thỉnh được kinh Quán Thế Âm và Quán Di Lặc, rồi phiên dịch hai quyển kinh này. Ông lại trở về Lương Châu. Năm 439, lúc Bắc Ngụy công phá Lương Châu, Ông lánh nạn sang miền Giang Nam, và không giao tiếp với ai, chỉ thường đi tham quan các cảnh chùa chiền tự tháp. Thể theo lời cầu thỉnh của sư cô Huệ Tuấn ở chùa Trúc Viên, Ông dịch kinh Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh, vào năm 455. Vì thông thạo tiếng Phạn và tiếng Tàu, nên Ông dịch rất nhiều kinh như: Phật Thuyết Bát Trai Giới, Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên, Phật Thuyết Tịnh Phạn Vương Bát Niết Bàn, Phật Thuyết Mạt La Vương, Phật Thuyết Chiên Đà Việt Quốc Vương, Phật Thuyết Ma Đạt Quốc Vương, Phật Thuyết Phật Đại Tăng Đại Kinh, Phật Thuyết Da Kỳ, Phật Thuyết Ngũ Vô Phản Phục, Phật Thuyết Tấn Học, Đệ Tử Tử Phục Sanh, Phật Thuyết Ca Diếp Cấm Giới, Phật Thuyết Ngũ Khủng Bố Thế, Thiền Yếu Bí Mật Trị Bịnh.

  1. Ngài Tăng Già Bạt Trừng (Sanghabhata, dịch là Chúng Hiện) 

Ngài là người nước Kế Tân (là nơi thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ rất được thạnh hành). Ngài thường tham phương tầm cầu danh sư, uyên bác kinh điển. Ngài tinh tường quán thông yếu chỉ của bộ A Tỳ Đàm, Tỳ Bà Sa. Năm 381, khi đến Trường An, ngài Tăng Già Bạt Trừng cùng với các sa môn như Đàm Ma Nan Đề, Tăng Già Đề Bà, Phật Đồ La Sát dịch bộ luận A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa (hay Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận).

  1. Ngài Đàm Ma Da Xá (Dharmayasas)

Ngài Đàm Ma Da Xá (dịch là Pháp Minh) người nước Kế Tân, hiếu học từ thuở nhỏ. Năm mười bốn tuổi, theo tu học với ngài Phất Nhã Đa La. Lúc trưởng thành, khí khái cao vợi, thần huệ minh mẫn; xem qua kinh luật liền hiểu rõ thâm sâu hơn người; hun đúc tư tưởng, nhập cửa thiền, để tâm nơi bảy phần giác. Người đương thời thường gọi Ngài là Phù Đầu Bà Đà. Ngài thường đến khe núi rừng hoang, mà chẳng sợ hổ sói, để đơn độc quán xét tâm niệm vọng tưởng. Bấy giờ, mỗi lần ngồi dưới các gốc cây, Ngài luôn tự trách rằng đã ba mươi tuổi mà vẫn chưa chứng quả, thì sao lại giải đãi ! Do đó, không ăn không ngủ, ngày đêm chuyên cần khắc khổ sám hối nghiệp tội. Đêm nọ, Ngài mơ thấy Bác Xoa Thiên Vương bảo:

– Sa môn thường phải có chí nguyện hoằng dương Phật pháp, rộng độ quần sinh. Sao Ngài lại chấp nê tiểu tiết, chỉ đơn độc tự tu tự độ. Các duyên nếu đầy đủ thì sẽ thành thục, chẳng nên ép tâm cần cầu, khiến không thể chứng quả.

Tỉnh dậy, Ngài bèn phát tâm đi khắp các lân quốc mà truyền đạo. Vào những năm đầu đời Tấn Long An (397-401), Ngài đến Quảng Châu, trú tại chùa Bạch Sa. Ngài thường tụng bộ luật Tỳ Bà Sa, khiến quần chúng Phật tử cảm kích mà gọi Ngài là Đại Tỳ Bà Sa. Bấy giờ, Ngài đã được tám mươi lăm tuổi, và có khoảng tám mươi lăm đồ chúng. Do các thiện tín như thanh tín nữ Trương Phổ Minh thỉnh cầu, Ngài thuyết về pháp duyên khởi. Lúc ấy, Ngài cũng dịch được một quyển kinh.

Trong niên hiệu Nghĩa Hi (405-418), Ngài đến Trường An, và gặp sa môn người Thiên Trúc là Đàm Ma Quật Đa cũng vừa đến đó. Bấy giờ vua Dao Hưng rất tôn sùng Phật pháp, nên thấy Ngài đến bèn ân cần hậu đãi cúng dường. Ngài lại cùng với Đàm Ma Quật Đa dịch bộ Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, từ năm 407 đến năm 414 thì hoàn tất, được hai mươi hai quyển. Thái tử Dao Hoằng đích thân duyệt xem. Thầy Đạo Tiêu viết lời tựa.

Sau này, Ngài xuôi vào miền nam, đến Giang Lăng, trú tại chùa Tân Tự, hoằng pháp thiền mạnh mẽ. Bấy giờ, có ba trăm sĩ thứ đến nghe Ngài giảng kinh pháp. Mới đầu họ không tin tưởng, nhưng vừa gặp mặt Ngài thì đều hân hoan cảm kích. Ngài thường bảo rằng một thầy một đệ tử, tu đạo đắc được quả A La Hán. Lần nọ, đang đóng cửa chùa để tọa thiền, Ngài chợt thấy năm sáu vị sa môn từ ngoài đi vào, rồi bay qua lại, tới dưới gốc cây mà tọa thiền. Ngài thường giao tiếp với các thần minh, tuy có dấu chân mà không thấy hình, nên người đương thời đều bảo rằng Ngài đã chứng quả thánh.

Đến đời Tống Nguyên Gia (424-453), Ngài từ biệt trở về Tây Vực, rồi không ai biết chung cuộc ra sao.

Ngài Đàm Ma Da Xá có đệ tử là Pháp Độ. Pháp Độ vốn là con của Trúc Bà Lặc. Trúc Bà Lặc thường qua Quảng Châu buôn bán. Trên đường đến Nam Khang, sinh hạ đứa con trai, nên Trúc Bà Lặc đặt tên là Nam Khang. Lớn lên đổi tên là Kim Già. Sau khi xuất gia được pháp danh là Pháp Độ. Pháp Độ tinh tường tiếng Phạn và tiếng Tàu, nên thường giúp ngài Đàm Ma Da Xá chuyển ngữ dịch kinh. Pháp Độ là đệ tử thừa thọ pháp với ngài Đàm Ma Da Xá đầu tiên nhất. Lúc ngài Đàm Ma Da Xá trở về Tây Vực, Pháp Độ chủ xướng chuyên học giáo lý Tiểu Thừa, mà không đọc tụng kinh điển Phương Đẳng; chỉ lễ Phật Thích Ca, chứ không lạy mười phương chư Phật; thường mang bình bát bằng đồng để dùng cơm chứ không dùng vật nào khác, rồi lại bắt ni chúng phải thường hành sám hối nghiệp tội. Đương thời, ni chúng ở Đông Độ và Giao Châu như Pháp Hoằng (con gái của quan Y Nhan Thuân ở Đơn Dương) và Phổ Minh (con gái của thứ sử Trương Mục ở Giao Châu), v.v… thường đến thọ pháp nơi Pháp Độ.

  1. Ngài Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman)  

Cầu Na Bạt Ma (dịch là Công Đức Khải) người dòng Sát Lợi, gia thế làm vua trị nước Kế Tân. Ông nội tên là Ha Lê Bạt Đà, (dịch là Sư Tử Hiền), tánh tình cương trực. Cha là Tăng Già A Nan, (dịch là Chúng Thiện). Nhờ thường ẩn cư tại rừng núi suối ngòi, năm mười bốn tuổi căn cơ kiến thức của ngài Cầu Na Bạt Ma thâm sâu xuất chúng. Tánh tình của Ngài nhân hậu, tôn sùng đạo đức, thường hành việc thiện. Người mẹ thường làm thịt những con dã thú, rồi bảo Ngài ăn. Ngài nói:

– Phàm loài vật có mạng sống thì không nên ăn.

Người mẹ tức giận bảo:

– Con cứ ăn đi. Mẹ sẽ chịu tội thế cho.

Ngày nọ, đang chiên dầu sôi, Ngài chợt làm đổ, khiến phỏng ngón tay, nên nói với người mẹ:

– Xin mẹ hãy chịu đau cho con.

Người mẹ bảo:

– Thân của con bị đau, làm sao mẹ thay thế cho được.

– Khổ trước mắt mà không thay thế cho con được, huống hồ là khổ trong ba đường ác !

Bà mẹ nghe lời này, bèn tỉnh ngộ, sám hối, suốt đời không còn sát sanh.

Năm mười tám tuổi, Ngài gặp một ông thầy xem tướng bảo:

– Năm ba mươi tuổi, Ngài sẽ đến một đại quốc ở phương nam, và được xưng tôn là bậc thầy. Nếu không thọ hưởng vinh hoa phú quý ở thế gian, thì sẽ chứng đạt thánh quả.

Năm hai mươi tuổi, Ngài xuất gia thọ giới cụ túc, thông suốt chín bộ kinh, hiểu thấu bốn bộ kinh A Hàm, thường tụng đọc kinh điển hơn triệu lời, thâm đạt luật phẩm, diệu nhập vào yếu chỉ thiền môn, khiến người đương thời đều xưng tán là Tam Tạng Pháp Sư.

Năm Ngài được ba mươi tuổi. Vua nước Kế Tân băng hà mà không có con nối dõi. Quần thần hội nghị bảo nhau:

– Ngài Cầu Na Bạt Ma vốn là dòng dõi đế vương, lại có tài trí thâm sâu, đức cao trọng vọng. Chúng ta nên thỉnh Ngài hoàn tục mà lên ngôi vương vị.

Bàn luận xong, hơn cả trăm quần thần đến khẩn thỉnh ba lần, mà Ngài không chấp thuận. Sau đó, Ngài rời kinh đô, xa lánh thế tục, trú trong rừng núi hoang dã, đơn độc tu hành. Kế đến, Ngài tới nước Sư Tử hoằng hóa Phật pháp, khiến chánh giáo được hưng thịnh. Người có kiến thức thường bảo rằng Ngài đã chứng thánh quả. Oai nghi đoan chánh của Ngài khiến thú vật cũng phát tâm tu đạo.

Sau này, Ngài đến nước Xà Bà. Một ngày trước đó, hoàng thái hậu mơ thấy một đạo sĩ theo thuyền bay vào vương quốc. Hôm sau, quả nhiên bà ta thấy Ngài đến. Hoàng thái hậu cung kính thánh thể, rồi xin quy y thọ năm giới cấm. Hoàng thái hậu khuyên quốc vương:

– Do nhân duyên tiền kiếp mà làm mẹ con. Mẹ đã thọ giới rồi mà con vẫn chưa tín phụng Phật pháp. E rằng vì nhân đời này khác nhau, nên quả đời sau sẽ khiến tình mẫu tử bị đoạn tuyệt.

Vì bị hoàng thái hậu ép buộc, nên quốc vương đành phải nghe lời của bà mẹ mà thọ giới, rồi dần dần tín phụng Phật pháp, tinh tấn tu hành. Lần nọ, nước lân bang cử quân xâm chiếm biên cảnh. Quốc vương bèn hỏi Ngài:

– Bọn giặc bên ngoài ỷ có thế lực mà xâm chiếm đất đai. Nếu cùng với chúng nghinh chiến thì ắt sẽ tổn thương sanh mạng rất nhiều. Nếu không chống cự thì họa mất nước sẽ đến. Nay chỉ quy mạng nơi Tôn Sư. Không biết Ngài có kế gì chăng.

– Bạo khấu hung hản khởi binh xâm lăng. Vậy thì Đại Vương hãy dẫn binh đi thảo trừ để cứu muôn dân. Tuy nhiên, xin Đại Vương hãy khởi tâm từ bi, chớ khởi niệm muốn sát hại.

Quốc vương bèn thống lãnh quân sĩ an bài trận địa, nổi trống cờ để giao chiến với quân địch, khiến chúng đều thua chạy. Song, quốc vương bị giáo đâm vào đùi. Ngài bèn gia trì thần chú vào nước, rồi đưa cho quốc vương uống. Qua hôm sau thì quốc vương bình phục hẳn, nên càng thâm tín, và rất tri ân Ngài. Quốc vương lại muốn xuất gia tu đạo, nên bảo với quần thần:

– Trẫm muốn xuất gia làm sa môn. Các khanh hãy tự tìm một vị minh quân khác.

Vì quần thần khẩn thỉnh van nài ba lần, nên quốc vương không nỡ bỏ đi, nhưng lại bảo họ:

– Trẫm có ba lời nguyện. Nếu các khanh hành được thì Trẫm sẽ ở lại trị quốc. Nguyện thứ nhất, ở trong vương quốc, mọi người phải tín phụng chư sa môn. Nguyện thứ hai, mọi người trong nước phải đoạn trừ tất cả việc giết hại. Nguyện thứ ba, tất cả tài sản trong nước đều chẩn cấp cho người nghèo hèn, bịnh tật.

Quần thần nghe lời này đều hân hoan vui mừng mà tín phụng y theo. Vì vậy, cả nước đều thọ giới quy y. Để tỏ lòng tôn kính, quốc vương đích thân xây tịnh xá cho Ngài cư trú. Đang xây cất tịnh xá, quốc vương chợt bị thương cánh tay, nên Ngài phải tụng chú gia trì, khiến hôm sau được bình phục.

Danh đức hóa đạo của Ngài vang xa khắp nơi, khiến các quốc vương lân bang đều gởi sứ giả sang cầu thỉnh Ngài qua những nơi đó mà hoằng dương Phật pháp.

Bấy giờ tại kinh sư (Nam Kinh), Huệ Quán, Huệ Thông, v.v… nghe danh đức của ngài Cầu Na Bạt Ma, bèn viết sớ dâng lên triều đình. Vào tháng chín niên hiệu Nguyên Gia nguyên niên (424), họ dâng sớ lên Tống Văn Đế, yêu cầu triều đình thỉnh ngài Cầu Na Bạt Ma sang Trung Thổ để hoằng dương chánh pháp. Tống Văn Đế phê chuẩn, rồi ra lịnh cho thứ sử ở Giao Châu sắm sửa tàu thuyền, cùng với sa môn Pháp Trường, Đạo Sung, v.v… đem thơ của nhà vua đến nước Xà Bà, thỉnh cầu ngài Cầu Na Bạt Ma tới nước Tống để xiển dương chánh giáo. Vì muốn tuyên dương thánh giáo, nên ngài Cầu Na Bạt Ma chấp thuận lời cầu thỉnh này, và không quản đường sá xa xôi mà đến đất Tống. Thế nên, Ngài theo thuyền của thương nhân Trúc Nan Đề, hướng đến một tiểu quốc, rồi thuận theo gió mà tới Quảng Châu. Đến nơi, Ngài viết thư cho Tống Văn Đế:

– Gió nghiệp thổi đến đất Tống. Nay xin báo tin.

Tống Văn Đế nhận được lá thư đó, biết là Ngài đã đến Nam Hải, nên lại ra lịnh cho thứ sử Châu Quận, nghinh tống Ngài về kinh sư. Trên đường đi, Ngài dừng lại lưu trú tại Thủy Hưng, nơi đầy cả hổ sói. Thấy hình thế của dãy núi đó cao chót vót, Ngài cho đổi tên núi là Linh Thứu. Cách ngôi chùa trên núi khoảng vài dặm, Ngài cất thêm một thiền thất, mà âm thanh từ chùa không thể vang đến đó. Tuy nhiên, mỗi lần có tiếng kiểng đánh thì Ngài đều nghe, và trở về chùa. Chư tăng kẻ tục đều cung kính. Trong chùa có điện Bảo Nguyệt. Nơi phía tây của điện đó, Ngài tự tay vẽ hình tôn giả La Hầu La cùng tượng Phật Định Quang. Vẽ xong, vào mỗi buổi tối, tượng đều phóng ánh sáng không dứt, khiến thái thú Thái Mậu ở Thủy Hưng lại càng thêm kính trọng, ngưỡng mộ Ngài. Sau này, Thái Mậu chết. Ngài tự thân đến dinh phủ an ủi. Vài ngày sau, gia nhân mộng thấy Thái Mậu cùng tăng chúng thuyết pháp trong chùa. Song, tất cả đều do thần lực của Ngài gia hộ cả.

Dân chúng trong vùng núi Thủy Hưng vốn thuờng bị tai họa hổ sói. Từ khi cư trú nơi đó, ngày đêm kinh hành, vào những lúc gặp hổ sói, Ngài dùng tích trượng mà vỗ lên đầu của chúng, khiến chúng bỏ đi hết. Từ đó, khách vãng lai đến không còn bị trở ngại. Nhờ oai đức của Ngài, cứ trong mười người là có bảy tám người được cảm hóa tín phụng Phật pháp.

Lần nọ, Ngài nhập thiền định đã bao ngày mà chưa xả, nên tăng chúng trong chùa bèn sai một chú sa di đến am thất để hầu cận. Chú tiểu vừa đến thì thấy một con sư tử trắng đang đứng trên nóc am thất, và trên hư không hoa sen xanh bay đầy khắp. Lúc chú tiểu kinh hoàng la hoảng, thì mọi hiện cảnh đều biến mất. Những điềm linh dị thật vô phương tính kể, nhưng phần nhiều là như thế. Sau này, Tống Văn Đế lại ban sắc lịnh, đôn đốc cầu thỉnh Ngài trở về kinh đô. Ngài theo thuyền về kinh đô Kiến Nghiệp vào tháng giêng năm 441. Đích thân Tống Văn Đế ra nghinh đón, vấn an. Bấy giờ Tống Văn Đế hỏi:

– Đệ tử thường trì giới không giết hại. Pháp Sư từ phương xa đến giáo hóa cõi này, vậy Ngài dùng pháp gì để huấn dụ ?

– Đạo tại tâm chớ chẳng tại vật. Pháp do mình chớ không do người. Sự tu trì trai giới của Hoàng Thượng khác với kẻ phàm dân. Họ thân kém danh liệt, ngôn từ mạng lịnh không oai. Nếu họ không tự khắc kỷ khổ tu thì làm sao trở thành người hiền lương được ? Đối với Hoàng Thượng, bốn biển là nhà, muôn dân là con. Một lời nói hiền lành của Ngài xuất ra liền khiến dân chúng hân hoan vui vẻ. Nếu Ngài thường ban bố chánh giáo lành thiện thì khiến quỷ thần hoan hỷ. Nếu Ngài không thường gia lực hình phạt lương dân vô tội, thì sẽ khiến mưa thuận gió hòa, và khí trời lạnh nóng đều thuận theo thời tiết, cùng trăm thứ lúa thóc và cỏ cây đều được tốt tươi. Trì trai giới như thế mới là rộng lớn, và đức độ trì giới không giết hại cũng bao trùm khắp nơi. Sao lại cho rằng trong nửa ngày không giết sanh mạng của một con vật nào, mới gọi đó là trì trai !

– Tâm của tục nhân mê mờ xa cách đạo lý muôn trùng, nên thường bảo rằng giáo lý của đạo Phật là lời hư vọng. Ngược lại, chư sa môn thường chấp nê nơi chương cú câu kệ. Những lời của Pháp Sư thật làm khai ngộ sáng tâm, và hợp với lời lẽ của trời người!

Tống Văn Đế lại đưa Ngài về trú tại chùa Kỳ Hoàn, cúng dường thâm hậu. Vương công danh sĩ đều tôn sùng. Nơi đó, Ngài khai giảng kinh Pháp Hoa cùng Thập Địa. Người người kéo đến nghe pháp đông đầy.

Do thầy Huệ Nghĩa ở trong chùa cung thỉnh, Ngài dịch quyển Bồ Tát Giới, có hai mươi tám phẩm. Sau này, đệ tử dịch thêm hai phẩm nữa. Tổng cộng là ba mươi phẩm, được gọi là Bồ Tát Giới Địa.

Thứ sử Vương Trung Đức ở Bành Thành thỉnh sa môn ngoại quốc là Y Diệp Ba La dịch kinh Tạp Tâm. Vì nhân duyên trở ngại nên Y Diệp Ba La dịch đến Trạch Phẩm thì ngưng. Do đó Vương Trung Đức thỉnh Ngài dịch Hậu Phẩm, khiến bộ kinh Tạp Tâm được dịch ra mười ba quyển. Ngài lại dịch quyển Tứ Phần Luật Yết Ma, Ưu Bà Tắc Ngũ Giới, Lược Luận Ưu Bà Tắc Nhị Thập Tứ Giới. Tổng cộng là hai mươi sáu quyển. Văn nghĩa tinh tường, và Phạn-Hán không sai sót.

Ni chúng như Huệ Quả, Tịnh Âm, v.v… từ chùa Ảnh Phước đến bạch với Ngài:

– Sáu năm trước, tám sư cô từ nước Sư Tử qua đến kinh sư bảo rằng ở đất Tống, ni chúng chưa có. Thế nên, khi ni chúng đăng đàn thọ giới, thì e rằng giới phẩm không được đắc trọn vẹn.

Ngài bảo:

– Giới pháp phát xuất từ chư đại tăngẠ. Nếu không theo bổn sự mà hành pháp Yết Ma thì vô phương đắc giới. Hãy xem lại duyên xuất gia của bà Đại Ái Đạo thì biết rõ.

Chư ni sợ giới phẩm chưa được vẹn toàn nên ân cần cầu thỉnh Ngài ban giới pháp. Ngài bèn tùy hỷ chấp thuận. Tuy nhiên, vì ni chúng ở đất Tống chưa đủ niên lạp, nên phải thỉnh thêm các ni sư ngoại quốc đến theo chư tăng truyền giới.

Mùa hạ năm đó, Ngài an cư kiết hạ tại chùa Bổn Lâm Hạ Tự. Đương thời, có một đàn việt đem hoa cúng dường. Những cánh hoa cạnh tòa ngồi của Ngài, trải qua bao ngày vẫn còn tươi, khiến đại chúng ai ai cũng tôn sùng thánh thể.

Sau mùa hạ, Ngài trở về chùa Kỳ Hoàn. Ngày hai mươi tám tháng chín năm đó, dùng trai chưa xong, thì Ngài trở vào điện các. Sau này, có người đệ tử đến, thấy Ngài an nhiên thị tịch. Ngài thọ sáu mươi lăm tuổi. Trước khi nhập tịch, Ngài có viết ba mươi sáu bài kệ, và tự bảo rằng đã chứng nhị quả A La Hán (Tư Đà Hàm), rồi đưa thơ cho đệ tử A Sa La, bảo:

– Sau khi Ta mất, có thể đưa thư này cho tăng chúng người Thiên Trúc và tăng chúng tại nơi đây xem qua.

Lúc nhập tịch, Ngài ngồi xếp bằng đoan tọa trên sàng thiền, gương mặt vẫn hồng hào như nhập định. Hàng ngàn tăng chúng và cư sĩ đến dự lễ an táng. Họ lại ngửi thấy mùi hương lạ xông lên, và thấy một con rồng dài bốn mươi thước từ nơi nhục thân của Ngài mà bay lên hư không. Bấy giờ bốn con lân, phượng, long, quy đồng xuất hiện. Trước Nam Lâm Giới Đàn, y theo phong tục Thiên Trúc mà làm lễ trà tỳ nhục thân của Ngài. Lúc ấy mây ngũ sắc chợt hiện trên bầu trời xanh trong, khiến đạo tục ai nấy đều tán thán điềm lạ. Nơi đó, tăng chúng lập tháp thờ xá lợi của ngài Cầu Na Bạt Ma.

Lúc đến kinh sư, Tống Văn Đế muốn theo Ngài thọ giới Bồ Tát. Vì phải lo chống giặc ngoại xâm, nên Tống Văn Đế chưa kịp cầu thỉnh, thì ngài Cầu Na Bạt Ma đã nhập tịch, khiến ông ta đau lòng nuối tiếc. Tống Văn Đế bèn ra lịnh cho chư tăng đọc bài kệ di chúc của ngài Cầu Na Bạt Ma để lại. Kệ viết:”

Trước đảnh lễ Tam Bảo, tịnh giới chư thượng tọa.

Người cõi trược xiểm khúc, hư ngụy không tín thành,

Mê hoặc không hiểu chơn, khinh chê người đức hạnh.

Vì vậy chư hiền thánh, hiện thân mà ẩn tích.

Ta Cầu Na Bạt Ma, vận mạng thời đã đến,

Được gặt thiện công đức, nay thuyết lời chân thật,

Chẳng dùng tâm cong vạy, hy vọng kẻ cầu danh,

Và khuyên người giải đãi, tăng trưởng hiểu Phật pháp;

Đại pháp lực như thế, nhân giả hãy lắng nghe.

Xưa trú nơi rừng hoang, thấy được các tử thi,

Ruột gan trùng ăn hoại, máu mũ chảy hôi hám.

Tâm thành duyên nơi đó, biết thân vốn như thế;

Thường thấy thân tướng này, tham sân không sợ lửa,

Vô số loại như thế; tu tập quán tử thi,

Xả bỏ cái nghe biết, y chỉ trong rừng rậm,

Ngày đêm chuyên tinh tấn, chánh quán thường không quên,

Cảnh giới hiện trước mắt, giống như xem mặt gương,

Ngưòi và ta đồng nhau; do đó tâm tịch tĩnh,

Thân nhẹ rất tịnh minh, trong sáng tâm an lạc,

Tăng trưởng đại hoan hỷ, tức không sanh chấp trước;

Biến thành tướng xương trắng; xương trắng hiện trước mắt;

Chân tay rụng hư hoại, xương trắng tất cũng diệt;

Vô cấu trí sáng ngời, điều phục tâm pháp tướng;

Bấy giờ đắc như thế, thân an rất nhu nhuyễn;

Phương tiện tu như thế, tiến đến chuyển tăng trưởng;

Vi trần niệm niệm diệt, hoại sắc chánh niệm pháp,

Đó là thân cứu cánh, sao khởi duyên tham dục !

Biết nhân của thọ sanh, như cá tham mồi câu,

Nó thọ vô lượng khổ; niệm quán sát na diệt,

Biết rõ chỗ nương kia, từ tâm vượn khỉ khởi;

Nghiệp thêm nghiệp quả báo, theo duyên niệm niệm diệt;

Tâm sở biết bao loại, gọi là pháp sai biệt,

Tức là niệm tư huệ; từng bước tu trọn vẹn,

Quán bao loại pháp tướng, tâm này chuyển rõ ràng;

Ta ngay trong ngọn lửa, thấy rõ bốn niệm xứ;

Luật hạnh từ đó khởi, nhiếp tâm duyên trụ lại;

Khổ như kiếm lửa nóng, vì do khát ái chuyển;

Ái tận đạt Niết Bàn; thấy rõ khắp ba cõi,

Lửa cháy thiêu tử thi, hình thể thật nhỏ nhoi;

Vui nghỉ nơi phương tiện, thân từ từ sung mãn;

Thắng diệu tướng chúng sanh, đảnh nhẫn cũng như thế,

Là do tâm mình khởi; chân thật chánh phương tiện,

Từ từ đắc thánh cảnh, tịch diệt lạc tăng trưởng,

Đắc pháp thế đệ nhất; một niệm duyên chân đế,

Từng bậc pháp nhẫn sanh, gọi là đạo vô lậu;

Vọng tưởng cùng trần cảnh, danh tự tất xa rời;

Cảnh giới nghĩa chân đế, trừ não được trong sáng,

Thành tựu quả tam muội; rời cấu duyên trong sạch,

Không hiện cũng không mất, huệ tịnh như trăng sáng,

Lặng lẽ chánh an trụ, thuần nhất tướng tịch diệt,

Chẳng phải nơi tuyên thuyết, chỉ Phật mới chứng biết;

Na Ba A Tỳ Đàm, thuyết năm quả nhân duyên,

Thật nghĩa biết tu hành, chấp danh không thể thấy,

Chư luận bao loại khác; tu hành lý không hai,

Thiên chấp có thị phi, người đạt không tranh đua;

Tu hành các diệu tướng, nay Ta không tuyên thuyết,

Sợ người khởi vọng tưởng, cuồng hoặc mê thế gian;

Nơi kia tu lợi tướng, Ta đã thuyết ít phần;

Nếu người có trí sáng, biết rằng do duyên khởi;

Nơi nước Ma La Bà, đắc được sơ quả thánh;

A Lan Nhã sơn tự, ẩn tích tu viễn ly;

Sau nơi nước Sư Tử, thôn tên Kiếp Ba Lợi,

Tiến tu đắc nhị quả, gọi là Tư Đà Hàm;

Đó là danh rời nạn, chướng tu đạo ly dục;

Thấy Ta tu viễn ly, biết là nơi không nhàn,

Đều sanh tâm hy hữu; lợi dưỡng liên tiếp đến,

Ta thấy như lửa độc, tâm sanh thật nhàm chán;

Lánh loạn biển phù du, Xà Bà cùng Lâm Ấp,

Nghiệp hành gió đẩy đưa, tùy duyên nơi nước Tống;

Vì vậy trong các nước, tùy lực hưng Phật pháp;

Chẳng hỏi phải nên hỏi, hãy thật chân thật quán,

Nay thân này diệt tận, tịch như ngọn lửa tàn !

  1. Ngài Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) 

Cầu Na Bạt Đà La (dịch là Công Đức Hiền) người trung Thiên Trúc. Lúc về già do tu học Đại Thừa nên được hiển danh, khiến người người đều xưng gọi là Ma Ha Diễn. Ngài vốn thuộc dòng Bà La Môn. Đối với thiên văn, ngôn ngữ, toán thuật, y học, chú thuật, v.v… các loại học vấn đều uyên bác tinh tường. Lần nọ, xem duyệt tường tận quyển ‘A Tỳ Đàm Tạp Tâm Luận’, Ngài bèn khâm phục yếu chỉ đại đạo, nên bắt đầu nghiên cứu Phật pháp. Tuy nhiên, vì gia đình tin theo ngoại đạo, nên cấm chỉ việc học Phật pháp. Vì tranh luận với người nhà không được, nên Ngài đành phải bỏ nhà ra đi khắp nơi, để tham tầm minh sư học Phật pháp. Sau này, Ngài xuống tóc xuất gia, chuyên tâm quyết chí nghiên cứu tu học Phật pháp. Lúc thọ giới cụ túc vào năm hai mươi tuổi, Ngài đã thông suốt ba tạng kinh, luật, luận. Khi đối xử với người, Ngài luôn có tâm từ bi nhu hòa, kính cẩn. Đối với thầy bổn sư, Ngài thường tự khởi tâm chân thành hầu hạ. Chẳng bao lâu, Ngài từ biệt thầy bổn sư dạy pháp Tiểu Thừa, và tiếp tục học tập giáo pháp Đại Thừa.

Lần nọ, thầy bổn sư bảo Ngài vào rương chứa kinh để mang kinh điển ra. Ngài bèn đến lấy ra kinh ‘Đại Phẩm Hoa Nghiêm’, rồi đem đến cho vị thầy. Thầy bổn sư bảo:

– Con cùng pháp Đại Thừa thật có duyên thâm sâu !

Nói xong, bèn khuyến khích Ngài duyệt xem bộ kinh đó. Tụng thuộc xong, Ngài bèn tuyên giảng bộ kinh này, mà không ai có thể chất vấn được.

Thọ giới Bồ Tát xong, Ngài trở về nhà khuyên nhủ cha mẹ quy y Phật pháp:

– Cha mẹ cứ khăng khăng giữ theo ngoại đạo thì Thầy sẽ không trở về nữa, vì chẳng làm được lợi ích gì. Ngược lại, cha mẹ nếu quy y Tam Bảo thì Thầy sẽ thường thường trở về nhà.

Nghe lời này, cha mẹ của Ngài cảm động, mà chấp thuận bỏ tín ngưỡng ngoại đạo để quy y Tam Bảo.

Ngài thường qua các nước như Sư Tử, v.v…, nhưng sau này tự cảm thấy có duyên với đông phương, nên theo thương thuyền đi về hướng đông. Ngày nọ, gió đột nhiên ngừng thổi, khiến thuyền ngưng chạy. Người trên thuyền ưu sầu lo lắng vì nước dự trữ đã hết. Ngài bảo:

– Chúng ta hãy đồng tâm hiệp lực mà chí thành xưng niệm danh hiệu mười phương chư Phật, thì chắc sẽ được cảm ứng.

Nói xong, Ngài cùng người trên thuyền đọc tụng kinh cú không ngừng. Chẳng bao lâu, gió chợt thổi đến, mây đen bay vần vũ kín trên nền trời, rồi mưa đổ xuống ào ạt, khiến mọi người đều có nước uống. Nhờ tâm chân thành của Ngài mới có sự linh ứng như thế.

Năm 435, Ngài đến Quảng Châu. Được sớ do thứ sử Xa Lãng dâng trình, Tống Văn Đế bèn cho sứ giả đến nghinh đón Ngài tới Kiến Khang (tức Nam Kinh). Ngài vừa đến kinh sư, Tống Văn Đế lập tức bảo các danh tăng đương thời như Huệ Quán, Huệ Nghiêm, v.v… tới lui vấn đáp, cùng truyền đạt lời vấn an của ông ta. Thấy tinh thần thanh thoát của Ngài, Huệ Quán và Huệ Nghiêm đều chân thành kính ngưỡng, đến dướI tòa học hỏi. Đến kinh sư, Ngài trú tại chùa Đề Hoàn, rồi bắt tay ngay vào việc hoằng dương Phật pháp, khiến Tống Văn Đế lại càng khâm phục. Đương thời, lãnh tụ văn học là Nhan Duyên Chi, một danh sĩ tài ba, cũng tự thân đến lễ bái Ngài. Tin này vừa lan truyền, thì các danh sĩ ở kinh sư đồng tới tham bái Ngài tấp nập. Đại tướng quân ở Bành Thành là Vương Lưu Nghĩa Khang, và thừa tướng Nam Tiếu Vương Lưu Nghĩa Tuyên đồng tôn Ngài làm bậc thầy. Chẳng bao lâu, tăng chúng thỉnh cầu Ngài phiên dịch kinh điển. Vì vậy, Ngài vân tập các danh tăng bác học dịch kinh Tạp A Hàm tại chùa Đề Hoàn, và kinh Pháp Cổ tại chùa Đông An, cùng kinh Thắng Man Lăng Già tại quận Đan Dương. Ngài vân tập hơn bảy trăm người phụ trợ trong công tác phiên dịch. Bảo Vân chuyên dịch; Huệ Quán chấp bút. Văn nghĩa kinh dịch đều thâm sâu nhưng rất lưu loát, hiển rõ tông chỉ.

Khi Nam Tiếu Vương Lưu Nghĩa Tuyên thuyên chuyển sang trấn nhậm tại Kinh Châu, ông thỉnh mời Ngài đi theo. Đến nơi, ông hỗ trợ Ngài trong việc xây cất tăng phòng, đắp tô tượng Phật, v.v… tại Tân Tự. Nơi đó, Ngài dịch kinh Vô Ưu Vương, kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Nê Hoàn, Uông Ác Ma, Tương Tích Giải Thoát, Ba La Mật Liễu Nghĩa, Hiện Tại Phật Danh, Đệ Nhất Nghĩa Ngũ Tướng Lược, Bát Kiết Tường, v.v… Tổng cộng, Ngài dịch hơn một trăm quyển kinh.

Lúc hóa độ dân chúng, Ngài thường nhờ đệ tử là Pháp Dũng phiên dịch. Nam Tiếu Vương lại muốn thỉnh Ngài giảng kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, Ngài tự nghĩ tiếng Tàu chưa thành thục, khiến hổ thẹn vô ngần, nên ngày đêm lễ bái sám hối, cầu Bồ Tát Quán Âm gia hộ. Đêm nọ, Ngài mơ thấy một vị mặc y phục trắng, lưng đeo kiếm, tay cầm một cái đầu người. Người đó đến trước mặt Ngài hỏi:

– Sao Thầy lại quá ưu sầu ?

Trong giấc mộng, Ngài bèn thuật lại việc được thỉnh giảng kinh mà chưa thông thạo tiếng Tàu. Người đó bảo:

– Chẳng có gì phải ưu sầu !

Nói xong, người đó bèn rút gươm ra, chặt đứt đầu của Ngài, rồi thay cái đầu đang cầm trong tay vào cổ. Cái đầu mới bèn tự nhiên chuyển động như thường, rồi hỏi:

– Có đau không ?

Ngài đáp:

– Không đau !

Chốc lát sau, Ngài bừng tỉnh dậy, tâm vui mừng vô ngần. Ngày thứ hai, Ngài có thể thông thạo tiếng Tàu, nên thể theo lời thỉnh cầu khi trước của ông Nam Tiếu Vương Lưu mà đăng đàn giảng kinh Pháp Hoa.

Cuối niên hiệu Nguyên Gia, Nam Tiếu Vương Lưu thường thấy những điềm mộng quái dị, nên đến hỏi han. Ngài bảo:

– Kinh sư chắc sẽ có họa loạn phát sanh.

Chưa đầy một năm, quả nhiên thái tử Lưu Thiệu phản loạn, giết Tống Văn Đế. Tống Hiếu Đế (457-464) lên ngôi. Lúc ấy, biết Nam Tiếu Vương Lưu có âm mưu phản loạn, nên Ngài rất lo lắng ưu sầu. Tuy nhiên, Ngài không tìm được cơ hội để cản trở ông ta. Thấy Ngài lộ vẻ ưu sầu khác thường, ông ta bèn đến hỏi nguyên nhân. Ngài trịnh trọng ân cần khuyên nhủ, nhưng Nam Tiếu Vương Lưu vẫn không bỏ mưu đồ phản loạn. Cuối cùng, biết không còn cách nào để cản trở Nam Tiếu Vương Lưu, Ngài rơi lệ, bảo:

– Nếu Ngài không hồi tâm chuyển ý, thì tôi sẽ không ở lại nơi đây nữa.

Nói xong, Ngài định rời nơi đó. Tuy nhiên, thấy có mặt của ngài Cầu Na Bạt Đà La thì việc xuất binh mới danh chánh ngôn thuận, nên Nam Tiếu Vương Lưu bức bách Ngài phải theo quân binh mà phản loạn. Sau này, tại núi Lương Sơn, quân của Nam Tiếu Vương Lưu bị đại bại, và thuyền của Ngài cũng bị cháy rụi. Bấy giờ, thuyền ở giữa dòng sông, rất cách xa bờ, nên Ngài tưởng chắc là khó thoát khỏi đại kiếp. Ngài chỉ một lòng nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm, và cầm một cây trúc, nhảy xuống dòng sông, rồi trôi theo dòng nước. Bấy giờ, Ngài chợt xoay lại, thấy một đứa bé đang kéo mình vào bờ. Ngài bảo:

– Ngươi chỉ là một đứa bé, sao giúp Ta vượt sông được !

Nói vừa dứt lời thì thấy thân mình đã đến bờ sông, Ngài bèn cởi áo choàng tặng cho đứa bé đó, để đền ơn cứu mạng. Tuy nhiên, xoay qua lại bốn bên, Ngài chẳng thấy ai cả, nên biết rằng mình được thần linh cứu mạng.

Sau trận chiến tại núi Lương Sơn, Tống Hiếu Đế ra lịnh cho Vương Huyền Mô (đại tướng giết được Nam Tiếu Vương Lưu tại núi Lương Sơn) rằng nếu bắt được Ma Ha Diễn, thì phải dâng chiếu báo tin, rồi giải về kinh đô lập tức. Tìm bắt được Ngài, Vương Huyền Mô bèn y theo lịnh mà giải về kinh sư. Vừa vào triều, Tống Hiếu Đế liền đến vấn an, ân cần hỏi han, biểu lộ tâm tình ngưỡng mộ, bảo:

– Trẫm ngưỡng mộ đã lâu, nay mới được tương kiến.

Ngài nói:

– Thân tôi bị nạn binh đao. Đáng lẽ đã bị phanh thây nát tủy, mà Điện Hạ lại không hiềm nghi, lại còn ân cần tiếp đón. Thật là ân tái tạo.

– Vậy thì ai là tham mưu phản loạn ?

– Người xuất gia vốn không thể tham dự vào những cuộc binh biến, nên tôi không biết những người đồng mưu phản loạn. Song, tôi và Trương Sương, Tống Linh Tú, v.v… đều bị ép bức tham gia phản loạn. Thật không ngờ do túc duyên chủ định, nên mới gặp nạn này.

– Chớ có lo sợ. Trẫm không bắt tội Ngài đâu.

Hôm đó, Tống Hiếu Đế sai người đưa Ngài trú ở tại hậu đường, rồi cung cấp y phục thức ăn, cùng người ngựa hầu hạ.

Sau khi quân của Nam Tiếu Vương Lưu bị đại bại, quân của Tống Hiếu Đế tìm được một lá thơ của Ngài gởi đến Nam Tiếu Vương Lưu khi trước. Mở ra xem, Tống Hiếu Đế chẳng thấy có lời nào dính dấp với việc quân binh, nên lại càng tin tưởng Ngài. Sau này, trong lúc đàm luận, Tống Hiếu Đế hỏi đùa:

– Ngài có nhớ đến Nam Tiếu Vương Lưu chăng ?

Ngài đáp:

– Tôi thọ sự cúng dường của ông ta trong mười năm, sao lại quên được ân đức đó ? Xin Điện Hạ cho phép tôi được dâng hương cầu siêu độ cho ông ta trong ba năm.

Nghe lời này, Tống Hiếu Đế bèn ưng thuận.

Chùa Trung Hưng vừa được xây xong, Tống Hiếu Đế bèn cho vời Ngài sang nơi đó cư trú.

Lần nọ, Tống Hiếu Đế mở một buổi yến tiệc, và thỉnh Ngài đến. Bấy giờ, trong buổi tiệc, các vương công, đại thần đều hội tụ đầy đủ. Lúc ấy, Ngài chưa kịp cạo tóc, nên vẫn còn để tóc trắng y nhiên mà đến. Tống Hiếu Đế ngước nhìn xa xa rồi xoay lại bảo quan thượng thơ Tạ Trang:

– Vị Ma Ha Diễn này thật là thông minh tài trí. Tuy nhiên, việc sanh tử của Ngài không xa. Trẫm sẽ thử thách. Nhất định Ngài sẽ biết ý Trẫm.

Ngài vừa bước lên các bậc thang của cung điện thì Tống Hiếu Đế bèn bước ra nghinh đón, bảo:

– Ngài Ma Ha Diễn không cô phụ phí sức từ xa đến, nhưng còn một việc chưa làm xong.

Ngài nói:

– Tôi từ xa đến kinh đô của đất Tàu đã gần ba mươi năm. Thiên Tử đối đãi với tôi thật rất ân cần thâm hậu. Tôi thật xấu hổ không đáng để thọ ân trọng. Hiện nay tôi đã bảy mươi tuổi, lại có bịnh tật. Bây giờ chỉ còn có cái chết, chính là việc chưa làm xong !

Thấy Ngài biện tài vô ngại, Tống Hiếu Đế lại thêm khâm phục, và ra lịnh cho Ngài ngồi kế ông ta. Quần thần trong cung đều ghé mắt trông nhìn.

Chùa Tây Khởi ở lầu Phụng Hoàng tại Mạt Lăng, vào mỗi giữa đêm, cánh cửa chùa thường phát ra âm thanh, mà không có thấy hình bóng người nào. Vài tăng sĩ cũng thường bị giựt mình thức dậy, khiến họ bất an, nên đến cầu Ngài. Ngài bèn dâng hương khấn nguyện:

– Túc duyên của quý vị vốn ở nơi đây. Hôm nay chúng tôi xây cất chùa tại nơi này, cũng thường thay mặt quý vị mà hành đạo lễ bái. Quý vị nếu muốn trụ nơi đây, thì phải trở thành thiện thần hộ pháp. Nếu không trụ được ở đây, thì xin hãy mau đi nơi khác.

Tối hôm đó đạo tục hơn mười người đồng mộng thấy quỷ thần đều bay mất lên trời. Từ đó, tăng chúng không còn bị quỷ thần quấy nhiễu nữa.

Niên hiệu Đại Minh thứ sáu (462), khắp nơi đều bị nạn hạn hán. Tuy trải qua vài tháng mà cầu không được một giọt mưa nào. Tống Hiếu Đế bèn thỉnh Ngài cầu mưa, và ra lịnh rằng nếu cầu không được mưa thì đừng gặp mặt ông ta. Ngài bảo:

– Nương tựa Phật pháp, lại nhờ oai thần của Điện Hạ, thì nhất định trời sẽ tuôn nước cam lồ. Nếu không thành công, thì tôi cũng không còn mặt mũi nào để gặp Điện Hạ !

Ngài bèn đến Điếu Đài ở Bắc Hồ, chẳng màng ăn uống, dâng hương cầu mưa, âm thầm tụng kinh, đọc thần chú không ngừng. Sáng ngày thứ hai, vào giờ thân, từ phía tây bắc, quả nhiên có mây hội tụ, rồi trong khoảnh khắc gió thổi đến, khiến mưa đổ ào ạt. Hôm sau, các công khanh đại quan đều đến chúc mừng. Tống Hiếu Đế cũng triệu Ngài vào cung tưởng thưởng không ngừng.

Từ nhỏ đến cuối đời Ngài đều trường chay. Tay thường cầm theo bình hương. Mỗi lần dùng trai xong, bèn lấy thức ăn dư thừa phân phát cho chim chóc. Chim chóc cũng thường đậu trên tay của Ngài, không có chút gì là sợ hãi.

Vào tháng giêng năm 468, cảm thấy thân thể bất an, nên Ngài bèn cáo từ Tống Minh Đế và chư đại quan công khanh. Ngày lâm chung, Ngài đứng ngắm nhìn thánh tượng thiên hoa. Gần đến giờ ngọ thì thị tịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. Tống Minh Đế đau lòng vô ngần, nên phúng điếu thâm hậu. Các đại quan công khanh cũng buồn thương ai điếu.

  1. Ngài Tăng Già Bạt Ma (Sanghavarman) 

Tăng Già Bạt Ma (dịch là Chúng Khải) người nước Thiên Trúc, xuất gia từ thuở nhỏ, anh tuấn có giới đức, hiểu rõ ba tạng kinh luật luận, lại tinh thông luận Tạp Tâm.

Đời Tống, niên hiệu Nguyên Gia thứ hai mươi (443), Ngài vượt các bãi sa mạc mà đến Kiến Nghiệp. Tánh khí nghiêm nghị, ngôn hạnh đều y theo giới luật, khiến chư tăng và kẻ tục đồng tôn kính, xưng gọi là ‘Tam Tạng Pháp Sư’. Lúc đầu, Ngài trú tại chùa Bình Lăng. Nghe danh đạo hạnh tinh thuần của Ngài, Huệ Quán bèn cung thỉnh về chùa Đạo Tràng, và tôn sùng cúng dường để biểu thị sự kính trọng giới đức.

Ngày đêm, Ngài hành đạo đọc tụng kinh điển không mệt mỏi. Tăng chúng hội tụ dưới tòa, và lưu bố chánh giáo khắp nơi. Đầu tiên, Ngài thuyết giới phẩm cho ni chúng chùa Ảnh Phước như ni sư Huệ Quả, v.v… để học thọ giới cụ túc. Bấy giờ chưa đủ hai chúng tỳ kheo và tỳ kheo ni để truyền giới pháp tỳ kheo ni; nhờ Ngài ban truyền mà giới pháp mới được đầy đủ. Các ni chúng từ nước Sư Tử đến kinh đô nhà Tống, cầu giới pháp nơi Ngài. Đại chúng đồng tôn Ngài làm bậc thầy Tam Tạng. Huệ Nghĩa ở chùa Kỳ Hoàn đến Kinh Ấp, cùng Ngài tranh luận. Ngài dùng tông giáo để hiển bày lý pháp. Lúc trở về, Huệ Nghĩa mới bội phục đức hạnh của Ngài, bèn sai đệ tử Huệ Cơ đem lễ vật đến cúng dường.

Tăng ni theo Ngài tu học có hàng trăm người. Tống Bành Thành, Vương Nghĩa Khang sùng kính giới đức của Ngài nên thường thiết lễ trai tăng cúng dường. Bốn chúng đều đổ dồn về Kinh Ấp.

Ngài đọc tụng thông suốt diệu kinh Tạp Tâm. Ba tạng kinh điển tuy đã được dịch rất nhiều mà phần nhiều chưa nhuận sắc hiệu đính lại. Thế nên, tháng chín năm đó, tại chùa Trường Thiên, Huệ Quán triệu tập các học giả, đồng đến cung thỉnh ngài Tăng Già Bạt Ma dịch kinh Tạp Tâm. Bảo Vân chuyển ngữ. Quán Tự ghi chép, kiểm thảo chu toàn. Kế đến, Ngài dịch quyển Ma Đắc Lặc Già Phân Biệt Nghiệp Báo, Lược Khuyến Chư Vương Yếu Kệ, và Thỉnh Thánh Tăng Tục văn, v.v…

Chí nguyện giáo hóa của Ngài không nhất định ở một phương. Dịch kinh, truyền pháp xong, Ngài từ biệt trở về bổn quốc. Đại chúng đều cố nài thỉnh Ngài lưu lại, nhưng vẫn không được. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), Ngài theo thương thuyền trở về Tây Vực. Không ai biết Ngài nhập tịch tại nơi nào.

  1. Ngài Đàm Ma Mật Đa (Pháp Tú) 

Ngài Đàm Ma Mật Đa (Dharmamitra) vốn là người nước Kế Tân. Lúc bảy tuổi thần minh trong sáng, thân hình đoan chánh. Mỗi lần thấy chư tăng hành pháp sự đều tự nhiên vui mừng vô hạn. Cha mẹ tuy rất thương mến, nhưng cảm thấy con mình thật kỳ lạ nên cho phép xuất gia. Đương thời, tại nước Kế Tân có rất nhiều vị thánh giả đạt đạo. Do đó, Ngài tham phương tầm cầu minh sư, quán thông hết tất cả kinh điển, và đặc biệt thâm nhập vào cửa thiền, nơi vi diệu cùng tột.

Tánh tình trầm ngâm, huệ giải thâm sâu, nghi dung đoan chánh. Lúc sanh ra, hai đôi mi liền với nhau. Vì vậy ngườI đương thời xưng gọi Ngài là Liên Mi Thiền Sư. Ngài thích đi du lịch chư phương vì có chí nguyện hoằng dương chánh giáo. Ngài đi chu du các nước rồi đến nước Quy Từ. Trước ngày đó, quốc vương nước Quy Từ mộng thấy thần nhân bảo:

– Ngày mai sẽ có một vị đại phước đức vào nước. Đại Vương nên cúng dường hậu đãi vị này.

Hôm sau, quốc vương ban lịnh cho quan đồn trú ở biên ải rằng nếu gặp dị nhân thì phải tức tốc bẩm tấu về triều ngay. Quả nhiên, hôm đó ngài Đàm Ma Mật Đa đến, nên quốc vương ra tận biên thùy mà tiếp đón, cung nghinh về hoàng cung. Kế đến, quốc vương y theo Ngài mà thọ giới, và tận tâm tứ sự cúng dường. Tuy an cư, nhưng Ngài không màng lợi dưỡng. Trú nơi đó ít lâu sau, Ngài định đi sang các nước khác. Thần nhân lại báo mộng cho quốc vương, bảo:

– Vị phước đức sắp bỏ Đại Vương rồi !

Tỉnh dậy, quốc vương kinh hoàng, buồn thương, rồi cùng quần thần cố nài thỉnh Ngài lưu lại, nhưng không được. Kế đến, Ngài vượt lưu sa (những bãi sa mạc), tới Đôn Hoàng, rồi kiến lập tịnh xá nơi vùng đất hoang vu, trồng cây, khai khẩn vườn tược cả trăm mẫu, xây phòng xá thật rất trang nghiêm. Thứ đến, Ngài tới Lương Châu. Nơi công phủ cũ, Ngài xây thiền đường, cùng thu nhận đồ chúng theo học thiền pháp. Học chúng tu thiền lũ lượt kéo đến.

Niên hiệu Nguyên Gia nguyên niên (424), Ngài thường muốn đến Giang Tả để truyền pháp. Từ Lương Châu, Ngài đến đất Thục, rồi ngừng tại Kinh Châu, cất thiền đường tại chùa Trường Sa. Nơi đó, do lòng thành khẩn thỉnh cầu của Ngài, qua vài ngày thì được xá lợi, tỏa ánh sáng chiếu đầy cả am thất, khiến môn đồ đạo tục đều phát tâm dõng mãnh tu hành. Sau này, Ngài lại theo thuyền đến kinh sư. Mới đầu, Ngài trú tại chùa Trung Hưng, rồi sau này sang chùa Kỳ Hoàn. Đạo phong của Ngài lan rộng khắp vùng lân cận, rồi truyền vào kinh đô, khiến ai ai cũng đều sùng kính. Từ hoàng thái hậu, thái tử, đến công chúa đều đua nhau tới thỉnh cầu giới pháp, và tứ sự cúng dường lên Ngài. Do lời thỉnh cầu, tại chùa Kỳ Hoàn, Ngài dịch thiền kinh và thiền pháp bí yếu như Phổ Hiền Quán, Hư Không Tạng Quán, v.v… Ngài thường dùng đạo thiền để giáo hóa kẻ tăng người tục đổ xô về từ ngàn dặm đường xa xôi. Người người đều xưng gọi Ngài là ‘Đại Thiền Sư’.

Thái thú Bình Xương Mãnh Nghị ở Hội Kê thâm tín Tam Bảo, xem Phật sự là nhiệm vụ của mình. Nhờ nếm được mùi vị thiền định, nên tâm càng thêm cung kính, nhớ ân trọng của Ngài. Lần nọ, Ngài cùng ông Mãng Nghị đi du hóa đến Ngân Huyện ở Triết Giang, rồi kiến lập chùa tháp. Tại vùng đó, dân chúng có phong tục là tin bùa chú đồng cốt. Ngài đến đó giáo hóa, khiến họ sửa đổi tín ngưỡng, quy y Tam Bảo.

Từ đông sang tây, người người đều kính phục, và thường đến dưới tòa Ngài mà quy chánh. Sau này, Ngài trở về kinh đô, trú tại chùa Định Lâm ở núi Chung Sơn.

Tánh tình của Ngài điềm đạm, trầm tĩnh, thích cảnh non nước. Vì vậy, Ngài chọn nơi vùng đất cao, trên núi Chung Sơn, kiến lập chùa Kiến Thượng. Sĩ thứ nghe tin Ngài xây chùa, bèn cúng dường tịnh thí. Sau khi điện đường phòng thiền được xây cất xong, tăng chúng từ ngàn muôn dặm hội tụ về để tu thiền định, tụng đọc kinh điển, khiến gia phong của Ngài càng thêm vang xa. Đệ tử nhập thất của Ngài là Đạt Thiền Sư, cũng hoằng hóa gia phong của Ngài, khiến thanh âm vang khắp nơi.

Xưa kia, trên đường đi từ nước Kế Tân đến nước Quy Từ, Ngài được thần vương Ca Tỳ La (Capila) hộ vệ. Khi đến nước Quy Từ, thần vương hiện nguyên hình ngay tại giữa đường để cáo từ trở về, thưa:

– Thần lực của Ngài biến thông tự tại ở mọi nơi, nên không cần phải có con đi theo về phương nam.

Nói xong thần vương biến mất. Do đó, khi lập xong ngôi chùa trên núi Chung Sơn, Ngài bèn họa lại tượng của thần vương Ca Tỳ La, treo ở trên vách tường. Tượng này hiển hiện rất nhiều điềm linh dị. Những ai chí thành cầu phước đều được như sở nguyện.

Vào mồng sáu tháng bảy, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), ngài Đàm Ma Mật Đa nhập tịch, thọ tám mươi bảy tuổi. Chư tăng kẻ tục, bốn chúng đệ tử đều thương tiếc. Phần mộ của Ngài được xây trước chùa Tống Hi trên núi Chung Sơn. Ngài dịch kinh Quán Âm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh (1 quyển), kinh Hư Không Tạng Quán (1 quyển), Thiền Bí Yếu (3 quyển), Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu Dụng Pháp (1 quyển), kinh Chuyển Nữ Thân (1 quyển), kinh Chư Pháp Dũng Vương (1 quyển), kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Thần Chú (1 quyển), kinh Tượng Dịch (1 quyển).

  1. Ngài Phật Đà La (Buddhajiva, dịch là Giác Thọ)  

Ngài là người nước Kế Tân. Lúc nhỏ đã từng thọ nghiệp nơi thuyết Di Sa Tắc Bộ Tăng, tinh chuyên luật phẩm, thâm đạt yếu chỉ thiền pháp. Năm 423, Ngài đến Dương Châu. Xưa kia, ngài Pháp Hiển đã từng thỉnh bộ luật Di Sa Tắc bằng tiếng Phạn tại nước Sư Tử. Chưa dịch xong, thì ngài Pháp Hiển đã thị tịch. Tại Kinh Ấp, chư tăng nghe Ngài tinh chuyên về bộ luật này nên cầu thỉnh phiên dịch. Vào tháng mười một năm đó tại chùa Long Quang, Ngài dịch ra thành ba mươi bốn quyển, gọi là Ngũ Phần Luật, đến tháng tư năm kế thành hoàn tất.

  1. Ngài Phù Đà Bạt Ma (Buddhavarman, dịch là Giác Khải)  

Ngài là người ở Tây Vực, thông suốt tam tạng kinh điển, tinh chuyên và thường tụng đọc luận Tỳ Bà Sa, lấy đó là chỗ tâm yếu. Năm 437, Ngài đến Tây Lương. Xưa kia, Đạo Thái đi qua Tây Vức, thỉnh được quyển Tỳ Sa, lại nghe Ngài tinh thông bộ luận này, nên cung thỉnh phiên dịch. Trong một năm, Ngài dịch quyển luận này ra thành một trăm quyển. Hiện nay chỉ còn tồn tại tám mươi quyển.

  1. Ngài Cương Lương Da Xá (Kalayasas) 

Cương Lương Da Xá (dịch là Thời Xưng) người nước Tây Vực, tánh tình cang cường chất trực. Ngài thường đọc tụng A Tỳ Đàm, tinh tường luật tạng, thông suốt kinh điển. Tuy thấu suốt ba tạng kinh điển, mà Ngài thường chuyên về pháp thiền. Mỗi lần nhập thiền, Ngài ngồi suốt cả tuần mà vẫn chưa đứng dậy. Ngài thường dùng chánh thọ tam muội để đi giáo hóa dân chúng ở các nước lân cận.

Đầu niên hiệu Nguyên Gia (424), Ngài vượt bao sa mạc núi non đến Kinh Ấp (Kiến Khang, hay Nam Kinh). Tống Văn Đế nghe tin rất mực vui mừng. Đầu tiên, Ngài dừng lại tại tịnh xá Đạo Lâm ở núi Chung Sơn. Sa môn Bảo Chí hết lòng tín phụng tôn sùng pháp thiền của Ngài. Do chư sa môn khẩn thỉnh, Ngài dịch kinh Dược Vương, Dược Thượng Quán và kinh Vô Lượng Thọ Quán. Hai bộ kinh này xiển dương bí quyết dẹp trừ phiền não để đạt đến cõi Tịnh Độ. Đương thời vừa dịch ra thì được lưu truyền khắp nước Tống. Thừa tướng Bình Xương Mãnh Nghị nghe tiếng của Ngài, nên rất khâm phục và thường gởi lễ vật đến cúng dường. Thái Thú Nghị Xuất ở Hội Kê thỉnh cầu xuống núi mà Ngài không đi. Sau này, Ngài sang Giang Lăng. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), Ngài đi về hướng tây đến đất Thục. Nơi nơi đều hoằng tuyên pháp thiền. Sau này, ngài Cương Lương Na Xá thị tịch tại Giang Lăng, thọ sáu mươi tuổi.

Đương thời, có hai vị sa môn người Thiên Trúc là Tăng Già Đạt Đa và Tăng Già Đa La, cũng thâm nhập pháp thiền, và sang đất Tống hoằng hóa. Ngày nọ, ngồi thiền đến giờ ngọ, thì ngài Tăng Già Đạt Đa bèn xả thiền để dùng cơm trưa, chợt có một đàn chim mang trái cây đến để trước mặt. Ngài Tăng Già Đạt Đa tự suy nghĩ:

– Xưa kia, khỉ vượn dâng cúng mật ong, đức Phật vẫn thọ nhận mà dùng. Hôm nay, đàn chim mang trái cây đến cúng dường, sao Ta lại không thọ nhận !

Suy nghĩ xong, bèn thọ lấy trái cây mà ăn. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), thọ lời thỉnh cầu của Vương Khang ở Lâm Tuyền, ngài Tăng Già Đạt Đa qua Giang Lăng kết hạ an cư. Cuối cùng, ngài Tăng Già Đạt Đa thị tịch tại Kiến Nghiệp.

  1. Ngài Tăng Già Đa La (Chúng Tế)

Cuối đời Tống Cảnh Bình, Ngài đến kinh sư (Kiến Nghiệp), thường đi khất thực trong nhân gian, và vào rừng núi tọa thiền, cách xa thế tục. Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434), ngài Tăng Già Đa La đến Chung Trác an cư, rồi chặt cỏ gai mà xây tịnh xá, tức là tịnh xá Tống Hi.

Vào đời Bắc Ngụy, niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ bảy (446), Thái Võ Đế ra lịnh phá hoại Phật giáo. Vào tháng ba, niên hiệu Thừa Bình (452), Thái Võ Đế mất, Văn Thành Đế lên ngôi, hạ lịnh phục hưng Phật giáo. Đệ nhị Sa Môn Thống (chức tăng quan) là Đàm Dực, lãnh trọng trách phục hưng giáo lý Phật đà, nên cùng với sa môn người Thiên Trúc là Thường Na Nhã Xá, v.v… phiên dịch ra mười bốn quyển kinh. Đàm Dực cũng cùng sa môn người Thiên Trúc là Kiết Ca Dạ dịch Phó Pháp Tạng Truyện, kinh Tịnh Độ, kinh Tịnh Độ Tam Muội, kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức, kinh Đại Phương Quảng Bồ Tát Thập Địa.

  1. Ngài Mạn Đà La Tiên (Mandra, dịch là Hoằng Nhược)  

Mạn Đà La Tiên người Phù Nam, mang rất nhiều kinh điển bằng chữ Phạn sang Trung Thổ. Theo sắc lịnh của triều đình, Mạn Đà La Tiên cùng với sa môn Tăng Già Bà La dịch kinh Bảo Vân, kinh Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt, kinh Văn Thù Sư Lợi Bát Nhã.

  1. Ngài Tu Bồ Đề (Subhuti, dịch là Thiện Kiết)  

Ngài vốn là người nước Phù Nam, đã từng dịch kinh Đại Thừa Đại Bảo Tích.

  1. Ngài Tăng Già Bà La (Sanghabhadra) 

Ngài Tăng Già Bà La (dịch là Tăng Khải) vốn là người Phù Nam, xuất sanh vào năm 460, thông minh đỉnh ngộ từ thuở nhỏ, sớm đã thân cận học Phật pháp, xuất gia từ lúc còn trẻ, chú trọng nơi luận A Tỳ Đàm, thanh danh đã vang khắp vùng Nam Hải. Thọ giới cụ túc xong, y theo giới luật mà tu tập tròn vẹn. Ngài có ý chí đi khắp nơi để hoằng dương chánh pháp. Nghe nước Tề tôn sùng Phật pháp, nên Ngài lên thuyền đến kinh đô Kiến Khang, trụ tại chùa Chánh Quán, làm đệ tử của sa môn Cầu Na Bạt Đà (người Thiên Trúc). Sau này theo ngài Cầu Na Bạt Đà nghiên cứu tinh tường kinh Phương Đẳng. Chưa đọc xong hết mà đã tinh thông yếu chỉ. Ngài lại thông thạo rất nhiều ngôn ngữ. Sau khi nhà Tề bị diệt vong, Ngài đoạn hết tất cả thế duyên, ẩn tu trong rừng núi, để tu dưỡng đạo nghiệp.

Niên hiệu Thiên Giám thứ năm (506), được sắc lịnh của Lương Võ Đế, tại năm nơi như Chiêm Vân Quán, chùa Chánh Quán, trụ quán Phù Nam, vườn Hoa Lâm, cung điện Thọ Quang ở Dương Đô trong suốt mười bảy năm trường, Ngài chuyên ròng phiên dịch kinh điển, tổng cộng được 11 bộ, và 48 quyển, như kinh Đại A Dục, luận Giải Thoát Đạo, v.v… Lúc Ngài mới bắt tay vào công việc phiên dịch tại cung điện Thọ Quang, Lương Võ Đế đích thân đến pháp tọa, ghi chép văn dịch, cùng duyệt thảo lại hết văn kinh dịch. Nhà vua lại ra lịnh cho sa môn Bảo Xướng, Huệ SIêu, Tăng Trí, Pháp Vân, v.v… trợ giúp việc phiên dịch, như kiểm thảo lời kinh, khiến kinh văn được lưu loát. Nhà vua thường tiếp lễ Ngài rất thâm hậu. Song, Ngài không tự giữ tài vật riêng tư. Thái úy Lâm Xuyên Vương Hoằng tiếp đãi Ngài rất trọng hậu.

Niên hiệu Phổ Thông thứ năm (524), ngài Tăng Già Bà La nhập tịch tại chùa chánh quán, thọ sáu mươi lăm tuổi.

  1. Ngài Nguyệt Bà Thủ Na (Udasunya, dịch là Cao Không)

Ngài vốn là dòng dõi vương gia Ưu Thiền Ni (Vjjayani) ở trung Thiên Trúc. Ngài sang Đông Ngụy hoằng hóa. Niên hiệu Nguyên Tượng nguyên niên (538), tại dinh phủ quan tư đồ Tôn Thắng, Ngài dịch kinh Tăng Già Trá, do sa môn Tăng Phưởng ghi chép. Sau đời Đông Ngụy, đến đời Hậu Tề, niên hiệu Thái Thanh thứ tư (550), Ngài qua Kim Lăng ở Giang Nam, dịch bộ kinh Đại Thừa Đảnh Vương. Trước kia, phụng mạng Lương Võ Đế, Ngài đi ra nước ngoài, đến năm 548, gặp sa môn Cầu Na Bạt Đà tại nước Vu Điền, thỉnh được kinh Thắng Vương Bát Nhã bằng tiếng Phạn. Chẳng may, vì loạn Hầu Cảnh, khiến xã hội bất an, nên Ngài không có cách gì để phiên dịch. Đến niên hiệu Thiên Gia (565) đời Trần, tại chùa Hưng Nghiệp ở Giang Châu, Ngài mới phiên dịch được quyển kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã, và do sa môn Trí Hân ở chùa A Dục Vương (Dương Châu) ghi chép. Ngoài ra, Ngài còn dịch được kinh Đại Ca Diếp, kinh Tần Bà Bà La Môn Vương Vấn Phật Cúng Dường. Không ai biết Ngài tịch vào năm nào.

  1. Ngài Đàm Ma Lưu Chi (Dharmaruci) 

Đàm Ma Lưu Chi, (dịch là Pháp Hy), vốn là vị tam tạng pháp sư ở nam Thiên Trúc. Lúc đến Lạc Dương, Ngài được Tuyên Võ Đế (499-515), thỉnh cầu phiên dịch kinh điển. Niên hiệu Cảnh Minh thứ hai (501), tại chùa Bạch Mã, do sa môn Đạo Bảo ghi chép, ngài Đàm Ma Lưu Chi dịch kinh Như Lai Nhập Nhất Thiết Phật Cảnh Giới và kinh Như Lai Trang Nghiêm Trí Huệ Quang Minh Nhập Nhất Thiết Chư Phật Cảnh Giới. Vào năm 504 và năm 507, Ngài dịch được kinh Tín Lực Nhập Ấn Pháp Môn, cùng kinh Kim Sắc Vương. Năm 542, tại chùa Dịch Hoa, Ngài dịch kinh Bát Phật. Không biết Ngài nhập tịch vào năm nào.

  1. Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci)  

Ngài Bồ Đề Lưu Chi (dịch là Đạo Hỷ) vốn là người bắc Thiên Trúc, thông suốt ba tạng kinh điển, diệu nhập tổng trì, có ý chí hoằng pháp. Vào đời Bắc Ngụy, đầu niên hiệu Vĩnh Bình (508), Ngài vượt ngọn Thông Lĩnh, đến Đông Hạ. Nghe tin này, Tuyên Võ Đế bèn hạ lịnh nghinh đón Ngài về Vĩnh Ninh Đại Tự, ân cần tứ sự cúng dường. Ông lại sai bảy trăm vị Phạn tăngẠ hỗ trợ Ngài phiên dịch kinh điển.

Lúc đầu, y theo sắc lịnh, Ngài dịch kinh Thập Địa. Tuyên Võ Đế đích thân ghi chép. Các sa môn như Tăng Biện, v.v… thảo duyệt văn dịch. Phật pháp được hưng thạnh, và các bậc anh tài xuất hiện từ khi truyền bá những kinh điển này. Tuyên Võ Đế lại ra lịnh cho thanh tín sĩ Lý Khuếch soạn viết mục lục các bộ kinh vừa được ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch. Thanh tín sĩ Lý Khuếch vốn đã học thông huyền nghĩa, quán suốt kinh luận. Thanh tín sĩ Lý Khuếch viết rằng tam tạng pháp sư Bồ Đề Lưu Chi tại Lạc Dương và Nghiệp Đô, hơn hai mươi năm dịch được ba mươi chín bộ kinh, và một trăm hai mươi bảy quyển như kinh Phật Danh, Lăng Già, Pháp Tập, Thâm Mật, v.v… và luận Thắng Tư Duy, Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v… Sa môn Tăng Lãng, Đạo Trạm, v.v… ghi chép.

Trong quyển ‘Nội Điển Lục’ đời Đường Trinh Quán, Lý Khuếch viết rằng trong gian phòng của tam tạng pháp sư Bồ Đề Lưu Chi có cả muôn bộ kinh chữ Phạn, và các quyển kinh được phiên dịch, đầy cả gian phòng. Huệ giải của tam tạng pháp sư Bồ Đề Lưu Chi tương đồng với sa môn Lặc Na Ma Đề, và thần ngộ minh mẫn, lại tinh thông chú thuật, mà không ai sánh bằng.

Lần nọ, Ngài định tắm mà nước trong giếng lại khô cạn. Các đệ tử cũng chưa kịp mang nước đến. Ngài bèn lấy một nhánh cây liễu, gia trì vài biến, rồi bỏ vào trong giếng. Một hồi sau, nước từ dưới đáy giếng vụt phun lên đầy khắp. Chư tăng ở nơi đó thấy chú thuật thần dị của Ngài như thế, đều kính phục, nên xưng tán Ngài là ‘Đại Thánh Nhân’. Ngài liền bảo:

– Chớ vọng khen những lời như thế. Chỉ có phương này là không thường hành, còn tăng nhân ngoại quốc thường hành pháp thuật này. Sao dám gọi là bậc thánh !

Ngài sợ làm mê hoặc người đời nên không truyền pháp chú thuật. Những bộ kinh luận do ngài Bồ Đề Lưu Chi phiên dịch như sau: Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (1 quyển), luận kinh Kim Cang Bát Nhã (3 quyển), kinh Nhập Lăng Già (10 quyển), kinh Chúng Mật Giải Thoát (5 quyển), kinh Pháp Tập (8 quyển), kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn (6 quyển), kinh Đại Tát Giá Ni Kiền Tử Thọ Ký (10 quyển), kinh Phật Danh (12 quyển), kinh Bất Tăng Bất Diệt (2 quyển), kinh Sai Ma Ba Đế Thọ Ký (10 quyển), luận kinh Vô Lượng Thọ Ưu Ba Đề Xá (1 quyển), luận kinh Già Da Đảnh (2 quyển).

Ngài tịch vào năm 527.

  1. Tam tạng pháp sư Lặc Na Ma Đề (Ratnamati, dịch là Bảo Hỷ) 

Ngài là người trung Thiên Trúc, văn chương lý sự đều khiêm thông, học vấn uyên bác, kiến thức rộng sâu, tụng hơn một ức bài kệ (mỗi bài kệ có ba mươi hai chữ), lại thấu suốt và thường hoằng hóa pháp thiền. Đời Bắc Ngụy, niên hiệu Chánh Thủy thứ nhất (504), ngài Lặc Na Ma Đề đến Lạc Dương, dịch kinh tại trong cung điện. Lúc đầu, ngài Lặc Na Ma Đề hỗ trợ ngài Bồ Đề Lưu Chi phiên dịch. Vì có những điểm bất đồng trong cách phiên dịch, nên sau này tự dịch riêng. Sa môn Tăng Lãng, Giác Ý, v.v… ghi chép. Ngài Lặc Na Ma Đề dịch những quyển kinh luận như sau: Kinh Tỳ Da Bà Vấn (2 quyển), Long Thọ Bồ Tát Hòa Hương Phương (1 quyển), luận kinh Thập Địa (12 quyển), luận kinh Bảo Tích (4 quyển), luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh (4 quyển), luận kinh Pháp Hoa (1 quyển).

  1. Tam tạng pháp sư Phật Đà Phiến Đa

Phật Đà Phiến Đa (dịch là Giác Định) người bắc Thiên Trúc; từ năm 525 đến năm 539, tại chùa Bạch Mã ở Lạc Dương và chùa Kim Hoa ở Nghiệp Đô, Ngài dịch được mười bộ kinh luận như: Kinh Kim Cang Thượng Vị Đà La Ni (1 quyển), kinh Như Lai Sư Tử Hống (1 quyển), kinh Chuyển Hữu (1 quyển), kinh Thập Pháp (1 quyển), kinh Ngân Sắc Nữ (1 quyển), kinh Chánh Pháp Cung Kính (1 quyển), kinh Vô Úy Đức Nữ (1 quyển), kinh Vô Tự Bảo Khiếp (1 quyển), kinh A Nan Đa Mục Khư Ni Ha Ly Đà La Ny (1 quyển), luận Nhiếp Đại Thừa (2 quyển).

  1. Ngài Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi  

Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi (dịch là Trí Hy) người nam Thiên Trúc, xuất thân từ dòng Bà La Môn, ở thành Ba La Nại (Baranasi), đến Trung Thổ vào niên hiệu Hy Bình (516) đời Bắc Ngụy. Từ niên hiệu Nguyên Tượng nguyên niên (538) đến cuối niên hiệu Hưng Hòa (542), tại Đô Thành, Ngài dịch: Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ (70 quyển), kinh Thánh Thiện Trụ Ý Sở Vấn (3 quyển), kinh Vô Cấu Thế (1 quyển), kinh Vô Cấu Ưu Bà Di (1 quyển), luận Hồi Tranh (1 quyển), luận Nghiệp Thành Tựu (1 quyển), Giải Thoát Giới Bổn (1 quyển).

  1. Ngài Chân Đế (Paramatha) 

Ngài Chân Đế tiếng Phạn gọi là Ba La Mạt Đà, và biệt danh là Câu La Na Tha (dịch là Thân Y). Ngài xuất sanh tại tây Thiên Trúc, tức nước Ưu Thiền Ni (Ujjaini). Bản tánh thông minh lanh lợi, khí chất phi phàm, thiên phú dị bẩm, tinh thông Phật pháp, hiểu rõ ngoại điển, có đầy đủ năng lực thần dị, và là vị danh tăng học giả tài đức kiêm toàn.

Lương Võ Đế (502-549) sùng kính Tam Bảo, nên Phật giáo nghiễm nhiên được hưng thạnh. Các vương quốc ở vùng Nam Hải thường đến triều cống rất nhiều. Lúc tiếp kiến với sứ giả nước Phù Nam (Cam Bốt), Lương Võ Đế yêu cầu nước Phù Nam gởi các vị tam tạng pháp sư, cao tăng danh đức, các kinh luận Đại Thừa, v.v…, sang Trung Thổ.

Ngài Chân Đế từ trung Thiên Trúc du hóa sang các vương quốc lân cận, và thường lui tới nước Phù Nam. Nhà Lương cùng nước Phù Nam giao hảo rất thân mật. Thuận lời yêu cầu của Lương Võ Đế, vua nước Phù Nam ra lịnh cho ngài Chân Đế mang kinh luận qua Tàu.

Ngài Chân Đế theo đường biển đến Quảng Châu vào rằm tháng tám năm 546, niên hiệu Đại Đồng, rồi tới Kiến Khang vào tháng tám năm 548. Lương Võ Đế ân cần hậu đãi, thỉnh ngài Chân Đế vào điện Bảo Vân cúng dường thâm hậu.

Mồng mười tháng tám năm 548, Hầu Cảnh cử binh phản loạn ở Thọ Dương, rồi vượt sông Trường Giang, đem quân bao vây Kiến Khang. Lương Võ Đế không kháng cự mà chết vì đói. Thành Kiến Khang bị chiến nạn, lửa cháy khắp nơi, dân chúng chết đói la liệt. Vì vậy, ngài Chân Đế phải rời khỏi nơi đó để đến Phú Xuân. Tại dinh huyện của Lục Nguyên Triết, Ngài bắt đầu phiên dịch kinh điển. Lục Nguyên Triết cũng triệu thỉnh danh tăng Bảo Quỳnh cùng hơn hai mươi người khác hỗ trợ việc phiên dịch. Song, vì thời cuộc biến chuyển, nên dịch chỉ được năm quyển kinh là phải đình chỉ.

Năm 552, ứng theo lời triệu thỉnh của Hầu Cảnh, ngài Chân Đế trở lại Kiến Khang thọ sự cúng dường. Năm kế, Hầu Cảnh bị giết chết. Tương Đông Vương lên ngôi, lấy hiệu là Lương Nguyên Đế. Lúc ấy, ngài Chân Đế lưu lại chùa Chánh Quán ở Kiến Khang, rồi cùng Nguyên thiền sư và hơn hai mươi người khác đồng dịch kinh Kim Quang Minh. Tháng hai năm 554, ngài Chân Đế rời Kiến Khang, đến chùa Bảo Điền ở Dự Chương. Nơi đây Ngài đã từng tạm trú trên tuyến đường từ Quảng Đông đến Kiến Khang. Lúc đó, Ngài thường qua lại với tăng nhân hiệu là Cảnh Thiều (508-583); vị này vốn là bậc giới sư ở vùng Dự Chương. Ngài rất tán thán Cảnh Thiều, một vị tăng tài đức kiêm toàn. Ngài bảo:

– Ta đã từng chu du qua nhiều nước, nhưng rất ít gặp được những người như Cảnh Thiều.

Tại Dự Chương, Ngài dịch được kinh Tân Kim Quang Minh, Duy Thức Luận, kinh Niết Bàn, v.v…

Năm 554, niên hiệu Thừa Thánh thứ ba, Ngài rời Dự Chương, qua Tân Ngô trú tại chùa Mỹ Nghiệp, rồi đến Thủy Hưng trú tại chùa Kiến Hưng. Sau này, Ngài qua Quảng Đông, vào Giang Tây, rồi đến trú tại chùa Tịnh Độ ở Nam Khang. Ngài liên tục phiêu bạt vân du, trước sau không có một nơi cư trú cố định để chuyên tâm dịch kinh.

Năm 558, niên hiệu Vĩnh Định thứ hai, Ngài trở lại Dự Chương, trú tại chùa Thê-ẩn. Lúc đó, Ngài đi khắp Lâm Xuyên, vượt qua dãy núi Võ Di, rồi trải qua bao dặm đường dài khổ cực, đến được Tấn An. Tại đó, thấy đường biển thuận lợi, nên Ngài định theo thuyền mà trở về cố quốc. Nơi ấy, Ngài gặp các danh tăng như Trí Văn, Tăng Tông, Pháp Chuẩn, v.v… Trí Văn vốn tinh thông Thập Tụng Luật. Vì lánh nạn vào cuối đời Lương nên đến vùng Mân Nam, rồi được Tăng Tông, Pháp Chuẩn cung thỉnh đăng đàn thuyết pháp. Nơi đó, Trí Văn cũng cảm hóa được rất nhiều người, khiến họ quy y Tam Bảo, cúng dường chư tăng, trừ bỏ những thói hư tật xấu như hút thuốc, uống rượu, cờ bạc. Nhờ tín phụng và hiểu rõ Phật Pháp, những ngư dân đốt lưới, bỏ nghề đánh cá, giữ giới không giết hại. Khi gặp được Ngài, Trí Văn cùng theo học Phật pháp.

Hoài bão của ngài Chân Đế là muốn sang Trung Thổ để hoằng dương chánh pháp, phiên dịch kinh điển. Tuy nhiên, gặp lúc thời cuộc loạn ly, nhân tâm rối loạn, tai nạn liên miên, nên thất chí, theo thuyền trở về Thiên Trúc. Trên đường, ngài ghé qua Quảng Đông, tới quận Lương An. Thái thú Vương Phương Xa cùng nhân sĩ trong vùng khẩn thỉnh Ngài ở lại. Tuy chấp thuận lời thỉnh cầu của họ mà lưu lại nơi đó, nhưng Ngài không có ý an trú lâu dài. Từ mồng một tháng năm đến ngài hai mươi lăm tháng chín năm 562, Ngài dịch kinh Kim Cang Bát Nhã (10 quyển), và Kim Cang Bát Nhã Sớ, do ngài Thế Thân chú giải.

Cuối cùng, vào tháng chín năm 562, Ngài lên thuyền từ Lương An trở về Thiên Trúc. Trên đường gặp giông tố, nên gió thổi thuyền chạy trở lại Quảng Đông vào tháng chạp. Thái Thú Âu Dương Nguy bèn cầu thỉnh Ngài trở về lưu trú tại chùa Chế Chỉ, tiếp tục công tác phiên dịch kinh điển. Từ đó, Ngài không còn có ý niệm trở về bổn quốc. Với sự giúp đỡ của đệ tử là Huệ Khải, Ngài phiên dịch kinh Quảng Nghĩa Pháp Môn, Duy Thức Luận. Thái thú Âu Dương Nguy cũng quy y, thọ giới Bồ Tát, làm đệ tử của Ngài.

Trong năm đó, Âu Dương Nguy mất, con là Âu Dương Hột làm thỉnh chủ. Huệ Trí, trụ trì chùa Chế Chỉ, và chinh nam trường sử Viên Kính làm đàn việt hỗ trợ cho Ngài trong việc dịch kinh. Vào lúc ấy, Ngài dịch xong quyển Nhiếp Đại Thừa Luận. Các vị tăng ở Tấn An theo Ngài tu học khi xưa, lặn lội xuống vùng Lãnh Nam ở Quảng Châu để nghe Ngài giảng giải Phật pháp tân thuyết.

Tháng giêng năm 564, do lời thỉnh cầu của Huệ Khải, Pháp Nhẫn, v.v…, Ngài dịch Phẩm Hoặc trong quyển luận Câu Xá. Chưa dịch xong thì chợt có sự biến, nên Ngài tạm sang quận Nam Hải cư trú. Đến tháng mười năm đó thì Ngài dịch xong, được hai mươi hai quyển văn luận, một quyển kệ luận, và năm mươi ba quyển nghĩa sớ. Sau này, ứng theo lời cầu thỉnh của quan thứ sử, Ngài vào thành giảng kinh thuyết pháp. Thấy những bản dịch cũ có nhiều chỗ thiếu sót và sai lầm, Ngài dịch lại quyển luận Câu Xá từ tháng hai năm 565 đến tháng chạp năm 567 thì hoàn tất. Tháng giêng năm kế, Ngài dịch xong quyển Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận.

Dẫu suốt đời bỏ công sức hoằng pháp lợi sanh, nhưng Ngài lại không có nhân duyên được đạo tràng và chùa chiền thanh tịnh để an trú hành pháp, mà lại gặp bao việc không vừa ý, nên có ý định tự vẫn. Đang giảng luận Câu Xá, nghe được tin này, Huệ Khải bèn trở về chùa ngay lập tức để cản trở. Chư tăng kẻ tục đồng đến an ủi Ngài. Thứ sử Âu Dương Hột cũng phái người đến hầu cận, rồi tự thân tới săn sóc Ngài trong ba ngày liền. Ông an bài cho Ngài tạm an trú tại chùa Vương Viên. Đệ tử Tăng Tông, Tăng Khải, v.v… định đưa Ngài trở lại Kiến Khang. Song, các học giả ở nơi đó sợ rằng một khi Ngài trở về thì thanh danh và quyền thế của họ bị lu mờ, nên đồng dâng biểu lên vua Trần Văn Đế:

– Tại vùng Lãnh Nam, Chân Đế phiên dịch Duy Thức Vô Trần Thuyết. Vị tăng đó vừa tuyên dương giáo pháp, vừa rong đuổi theo quyền thế chính trị. Điều này chẳng những không hợp tình mà còn tương phản với giáo nghĩa của nước ta. Loại người này, xin nhà vua hãy đuổi ra kinh thành để đến những miền xa xăm.

Trần Văn Đế y nhiên phê chuẩn, nên Ngài không thể trở về kinh thành được. Quyển ‘Tân Duy Thức Luận’ mà Ngài phiên dịch, cũng không được lưu truyền ra ngoài.

Trước kia, Lương Võ Đế tôn sùng Đại Luận, vì chính ông ta học Thành Thật Luận. Trần Văn Đế không giống như thế. Ông ta thường nỗ lực hoằng truyền kinh Đại Phẩm Bát Nhã, và quý trọng Tam Luận.

Tuy trải qua hai triều đại Lương và Trần, phong trào tu học tại Kiến Khang vẫn ưa chuộng lý Bát Nhã, Tam Luận.

Pháp Thái, đệ tử của ngài Chân Đế, giảng Nhiếp Luận Duy Thức, mà chư tăng cùng kẻ tục không thể lãnh hội được. Do đó, mọi người đều lạnh nhạt và không có ai muốn nghiên cứu giáo lý Du Già Duy Thức.

Ngài Chân Đế bỏ ra hết tâm huyết chú trọng vào việc dịch quyển Nhiếp Đại Thừa Luận. Đương thời các đệ tử như Tăng Tống, Huệ Khải cũng dụng hết công sức để nghiên cứu và hỗ trợ.

Ngày nọ, trời lạnh rét buốt, nhưng ngài Chân Đế chỉ mặc y phục đạm bạc, dịch kinh đến suốt đêm, nên sức khỏe yếu kém. Lúc Ngài vừa định ngủ, Huệ Khải bèn nhẹ nhàng lén lấy y hậu đắp lên đôi bàn chân của Ngài để cho ấm, nhưng Ngài lại la rầy trách mắng. Việc này biểu thị cho tinh thần tri túc, chí khí chịu khổ nhọc, chuyên cần hoằng dương chánh pháp của Ngài. Do đó, các đệ tử ngày càng bội phục kính trọng.

Ngài cũng thường than rằng thời vận của mình không may, khiến nhân duyên hoằng pháp bị nhiều chướng ngại. May mắn là Ngài được các đệ tử hết lòng tôn sùng, dốc lòng hỗ trợ trong công tác phiên dịch kinh luận, nên được an ủi phần nào. Huệ Khải sợ pháp Du Già Duy Thức tương lai sẽ bị mai một. Ngài chỉ tay về hướng tây bắc, bảo:

– Nơi đó có một đại quốc, chẳng gần chẳng xa. Sau khi Ta mất đi, người ở xứ đó sẽ tuyên dương pháp này, khiến được hưng thịnh.

Lời tiên đoán của ngài Chân Đế thật không sai. Sau này tại phương bắc có ngài Đàm Tuyển hoằng dương Nhiếp Đại Thừa Luận, và dùng pháp này để làm nền tảng cho tông Nhiếp Luận.

Tại chùa Trí Huệ, Huệ Khải giảng được chín quyển luận Câu Xá, sớ Nghiệp Phẩm rồi thị tịch. Do đó, ngài Chân Đế thay thế, tiếp tục giảng thêm ba quyển. Giảng chưa hoàn tất thì Ngài viên tịch vào năm kế, tức ngày mười một tháng giêng năm 568. Ngài lại phó thác cho đệ tử là Trí Hưu và Pháp Hải ở chùa Tam Tạng lãnh thọ. Ngày thứ mười hai, chư đệ tử làm lễ trà tỳ rồi cho xây tháp thờ. Ngày thứ mười ba, Tăng Tống, Pháp Chuẩn, v.v… bàn luận định đến Lô Sơn. Đệ tử của Ngài là Trí Kiểu viết: “Ngài tam tạng Chân Đế vừa viên tịch thì các pháp lữ bèn đi tán hết. Tông tự không có người kế thừa”.

Ngài Chân Đế ở Trung Thổ phiên dịch kinh luận từ năm 546 tới năm 569. Trải qua hai mươi ba năm, ngài Chân Đế phiên dịch được sáu mươi bốn bộ, và hai trăm bảy mươi tám quyển kinh luận. Công nghiệp của ngài Chân Đế ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo sau này.

Những kinh luận do ngài Chân Đế phiên dịch như sau: Kinh Quang Minh (7 quyển), kinh Di Lặc Hạ Sanh (1 quyển), kinh Nhân Vương Bát Nhã (1 quyển), luận Thập Thất Địa (5 quyển), luận Đại Thừa Khởi Tín (1 quyển), Trung Luận (1 quyển), luận Như Thật (1 quyển), luận Bổn Hữu Kim Vô (1 quyển), luận Tam Thế Phân Biệt (1 quyển), sớ kinh Kim Quang Minh (13 quyển), sớ kinh Nhân Vương Bát Nhã (6 quyển), sớ luận Đại Thừa Khởi Tín (2 quyển), sớ Trung Luận (2 quyển), Cửu Thức Nghĩa Ký (2 quyển), Chuyển Pháp Luân Nghĩa Ký (1 quyển), kinh Phật A Tỳ Đàm (9 quyển), kinh Vô Thượng Y (2 quyển), kinh Giải Tiết (1 quyển), kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (1 quyển), kinh Quảng Nghĩa Pháp Môn (1 quyển), Tăng Xút Đa Luật 1 quyển), Tu Thiền Định Pháp (1 quyển), luận Câu Xá Thích (21 quyển), Lập Thế A Tỳ Đàm (10 quyển), luận Nhiếp Đại Thừa (15 quyển), luận Phật Tánh (4 quyển), luận Tứ Đế (4 quyển), luận Tăng Già (3 quyển), Nhiếp Đại Thừa Luận Bổn (3 quyển), luận Đại Không (3 quyển), luận Trung Biên Phân Biệt (3 quyển), luận Kim Thất Thập (2 quyển), Câu Xá Luận Kệ (1 quyển), luận Kim Cang Bát Nhã (1 quyển), luận Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu (1 quyển), luận kinh Đại Bát Niết Bàn (1 quyển), luận Di Giáo (1 quyển), luận Tam Vô Tánh (1 quyển), luận Phản Chất (1 quyển), luận Tùy Phụ (1 quyển), luận Cầu Na Ma Đề Tùy Tuớng (1 quyển), luận Thật Hạnh Vương (1 quyển), luận Thành Tựu Tam Thừa (1 quyển), luận Chánh Luân Đạo Lý (1 quyển), luận Ý Nghĩa (1 quyển), luận Chấp Bộ Dị (1 quyển), Duy Thức Luận Văn Nghĩa Hợp (1 quyển), Chánh Luân Thích Nghĩa (5 quyển), Phật Tánh Nghĩa (3 quyển), Thiền Định Nghĩa (1 quyển), sớ luận Câu Xá (16 quyển), sớ Kim Cang Bát Nhã (11 quyển), sớ Thập Bát Bộ Luận (10 quyển), sớ kinh Giải Tiết (4 quyển), sớ kinh Vô Thượng Y (4 quyển), sớ luận Như Thật (3 quyển), sớ luận Tứ Đế (3 quyển), sớ luận Phá Ngã (1 quyển), sớ Tùy Tướng Luận Trung Thập Lục Đế (1 quyển), truyện Bà Tẩu Bàn Đầu (1 quyển), Chúng Kinh Thông Tự (2 quyển), Phiên Ngoại Quốc Ngữ (7 quyển), Nhân Thọ Lục (quyển I) luận Thập Bát Không (1 quyển), luận Tư Trần (1 quyển), luận Giải Quyền (1 quyển), luận Quyết Định Tạng (2 quyển), luận Hiển Thức (1 quyển), luận Chuyển Thức (1 quyển).

Luận Du Già và Duy Thức học ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung Quốc, mà vị tam tạng pháp sư có công nhiều nhất trong việc phiên dịch và truyền bá những bộ kinh luận đó là ngài Chân Đế. Tuy có chí hoằng pháp độ sanh, nhưng cuộc đời của ngài Chân Đế gặp bao cảnh trái ngang, bi đát: Không được nhiều đại thí chủ hộ trì; không có nơi cư trú nhất định, không có đạo tràng đàng hoàng để phiên dịch, v.v… Tuy nhiên, dẫu gặp bao gian nan chán chường, nhưng chí nguyện hoằng pháp của ngài Chân Đế vẫn kiên cường. Ngài phiên dịch cùng giảng giải kinh điển cho đến phút chót của cuộc đời. Thật xứng đáng là một bậc vĩ nhân trong lịch sử Phật giáo.

Sau này, đến đời Đường, do ngài Huyền Trang tổng quy mô chủ trì dịch lại những kinh luận Duy Thức, khiến cho những tác phẩm phiên dịch khi trước của ngài Chân Đế bị lu mờ mai một. Song, sự nghiệp phiên dịch kinh điển của ngài Chân Đế mãi mãi được ghi vào lịch sử Phật giáo.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.