BÀI GIẢNG
DUY THỨC HỌC

Cố Hòa thượng Thích Giác Khang

 

TUẦN 7
Giảng ngày 13-11-2003 âm lịch

Vô chất tánh cảnh và hữu chất tánh cảnh, bữa nay chúng ta ráng giảng xong hén, kỳ tới chúng ta bắt đầu đi vào bài Kinh Sáu Sáu, thì cái này, cái bản đồ để chúng ta đi vào bài Kinh Sáu Sáu nó dễ dàng hơn, còn nếu không thì hơi khó, mà cũng là đi vào tất cả các Kinh đấy.

Thì hôm nay tôi giảng về vô chất tánh cảnh và hữu chất tánh cảnh của alaya võ trụ, và con đường đứng lặng, con đường xao động.

Thì chư phật tử nhớ đừng ghi làm chi nữa, nghe đi, tôi thấy nhiều người ghi, rồi ghi không kịp, nói tôi nói lẹ quá, tôi thấy bây giờ tôi nói hơi chậm đấy, nói cỡ đó là vừa rồi, chậm nữa là không đủ thời giờ đó, xuống dưới than phiền với tôi là nói lẹ quá, tôi thì thấy nói vậy thì đâu có lẹ, hôm đi Sài Gòn có mở cái máy tôi thấy cỡ đó là vừa rồi đó, kỳ rồi tôi thấy giảng rõ, kỳ này tương đối rõ, tôi giảng rồi tôi không biết sao, nhưng mà nghe lại thì thấy kỳ này giảng rành hơn. Thì tôi tóm thêm một kỳ nữa kỳ nữa hén, kỳ tới chúng ta bắt đầu đi vào bài Kinh Sáu Sáu.

Thì vô chất tánh cảnh với hữu chất tánh cảnh là của võ trụ, tức là có thể nói Vô chất tánh cảnh đây là cảnh giới của Như Lai, Thường Tịch Quang Tịnh Độ đấy, tức là:

– Vô chất tánh cảnh, có thể nói đây là Báo thân, tức là cái Thể của võ trụ.

– Còn Hữu chất tánh cảnh đây là ứng hóa thân.

– Thì hai cái này gọp chung lại thì kêu là Pháp thân.

– Thì Báo thân đây có thể nói là Trí tuệ.

– Còn hữu chất tánh cảnh, kêu là ứng hóa thân, đây là Từ bi.

– Và Từ bi – Trí tuệ bao trùm hết, thì đó kêu là Pháp thân.

– Thì Vô chất tánh cảnh có thể nói cách khác là Thể.

– Hữu chất tánh cảnh là Tướng.

– Còn Pháp thân bao trùm hết vô chất và hữu chất, được kêu là Dụng, diệu dụng.

Thành ra thường thường vô chất tánh cảnh mình có thể nói đây là cảnh diệt thọ tưỏng định, khi Alahán đã tịch, chết rồi đó, thì mới trở về đây được, nhưng mà vô chất tánh cảnh của Alahán đây thì không giống với của Như Lai, mà cũng không khác của Như Lai, cũng kêu vô chất tánh cảnh vậy, nhưng mà chưa có hữu chất tánh cảnh, thành ra cái chiều trí tuệ, chiều sâu tột Không chưa có. Chúng ta phải hiểu như vậy. Nhưng mà không có danh từ, mình tạm kêu Alahán đi vào vô chất tánh cảnh, nhưng mà Alahán phải phát bồ đề tâm đi vào hữu chất tánh cảnh thì mới có thể có từng phần của Pháp thân, chớ Alahán chưa có Pháp thân, chừng nào phát bồ đề tâm đi vào hữu chất tánh cảnh nữa, tức là đi vào tướng, đi vào ứng hóa thân, thì Pháp thân mới hiện từng phần. Đó là chúng ta nói để chư phật tử có nhiều cách để nắm được, trong Kinh nhiều cách giảng lắm, thành ra đây tôi nhớ cách nào tôi giảng cách đó.

Rồi chúng ta thấy ở đây bao trùm hết, chúng ta thấy vô chất tánh cảnh là bất biến, phi không gian phi thời gian, chân như tịnh, tức là thể võ trụ, thì thật ra nó chuyển biến quá nhanh thành ra thấy làm như là hoàn toàn bất biến, bị vì nó chuyển biến nhanh một cách thần tốc, thành ra bao trùm hết tất cả mọi chuyển biến, vô lượng vô biên chuyển biến sátna, và vô lượng vô biên chuyển biến chu kỳ, chuyển biến sátna tức là chỉ có nhận thức mà không có đối tượng nhận thức, hay nói cách khác là có vô lượng đối tượng nhận thức, còn chuyển biến chu kỳ là nhận thức phải tưong ưng với đối tượng nhận thức. Thì ở đây là nó chuyển biến nhanh, cho nên cái nhìn của nó một cái nhìn của Như Lai là bao trùm vô lượng vô biên chúng sanh trong vô lượng vô biên pháp giới, thành ra Bồ tát thấy dường như bất biến, thành ra chúng ta nói là phi không gian phi thời gian, đây có nghĩa là chưa có không gian chưa có thời gian, có nghĩa là gồm tất cả mọi thời gian tuyệt đối và vô lượng vô biên không gian tương ưng với thời gian.

Chúng ta phải hiểu như vậy, phi không gian phi thời gian là không có gì hết thì không hiểu Bát nhã được, cái lối giảng của Bát nhã phải như vậy. Thì đó kêu là chân như tịnh, tức là thể võ trụ, hay là diệt thọ tưởng định, mà diệt thọ tưởng định của Alahán khác, Như Lai thì không có diệt thọ tưởng định, nhưng mà diệt thọ tưởng định bao trùm hết hữu chất tánh cảnh mới kêu là vô chất tánh cảnh của Như Lai.

Thành ra chúng ta phải hiểu vô chất tánh cảnh Alahán cũng có, thì cái đó kêu là Báo thân là thân do cái đền đáp, chữ báo là đền đáp, báo thân của nghiệp khác, còn báo thân của Bát nhã khác, báo có nghĩa là đền đáp, do sự trực nhận Phật tánh, do nhận lại chân không mà có đền đáp trở về cái yên lặng của võ trụ, nhưng mà chưa có sự chuyển biến.

Cái thứ hai là hữu chất tánh cảnh là chuyển biến đứng lặng hay là thời gian, thì ở đây chuyển biến đứng lặng chỉ có nhận thức thôi, tức là có thời gian thôi, không gian bị hóa giải vào thời gian, thành ra kêu là phi không gian, nghĩa là không gian với thời gian là một, thành ra gọi là chân như động tức là tướng võ trụ, do đó chúng ta thấy cái nhận thức này không cần đối tượng nhận thức, có nghĩa là nó có vô lượng vô biên đối tượng nhận thức nó vẫn nhận hết, thành ra nó bao trùm hết nhận thức và đối tượng nhận thức tương ưng, thì do đó mình kêu là chuyển biến đứng lặng hay thời gian mà chưa có không gian, phi không gian. Rồi do một niệm bất giác, chúng ta gọi là căn bản vô minh, hay còn gọi là câu sanh pháp chấp, cái niệm bất giác này độc đáo nhất đấy, là tất cả tôn giáo đều bế tắc trong vấn đề này.

Tại sao từ alaya võ trụ mà do một niệm bất giác lại lọt xuống alaya cá nhân để rồi chúng ta luân hồi sanh tử khổ?

Thì hôm trước tôi đã có nói Phật giáo cũng có cách trả lời, nó nhiều cách trả lời lắm, mà trong đó chúng ta thấy là tôi không có đồng ý, chỉ có một cách trả lời là chúng ta thấy rõ ràng nhất là không rõ ràng gì hết, là chúng ta thấy câu trả lời nói về người đui mà hỏi ánh sáng mặt trời đấy, tức là vô lý hóa câu hỏi căn bản vô minh, chớ không phải trả lời căn bản vô minh. Trả lời thì Đức Phật có trả lời, nhưng mà tôi thấy nó không sáng tỏ. Trả lời:

– Thí dụ một người đứng nhìn lên hư không thì do mỏi mệt quá thấy hư không có hoa đốm, đó là một niệm bất giác, tức là trên hư không thì nó trống không, nó hoàn toàn trống vắng, sáng suốt, nó không có gì hết, nhưng mà nhìn lên hư không mình tập trung vào đó mãi, vào đó một thời gian lâu, mình thấy trên đó có những đốm xanh đỏ trắng vàng, đó là bắt đầu từ không có hình tướng, biến chuyển mà thành có hình tướng. Thì cái đó từ đâu mà đến? Thì chúng ta không thể trả lời từ đâu mà đến hết. Thì câu trả lời mình thấy cũng được, nhưng mà mình thấy có một cái gì không có rõ ràng, một cái gì không có thỏa mãn cái vấn đề thắc mắc của mình, như vậy mình thành Phật rồi, lâu lâu mình mỏi mắt mệt mình trở thành hoa đốm nữa, thì tất nhiên tu để làm cái gì? Thì mình thấy câu trả lời không rõ ràng lắm.

– Còn có thứ hai nữa, Đức Phật trả lời như giấc chiêm bao, người ngủ trong lúc chiêm bao thì thấy cảnh chiêm bao tưởng là thiệt, nhưng mà thức giấc rồi biết nó là hoa đốm, nó là tuồng mộng ảo, nó là tuồng hát thôi. Thì chiêm bao từ đâu mà có? Thì có người nói do ngủ mà chiêm bao. Tại sao có lúc ngủ lại không chiêm bao? Người nói do đè cánh tay mà có chiêm bao. Nhưng tại sao có lúc không đè cánh tay mà cũng vẫn có chiêm bao? Thành ra chiêm bao này không thể nói lý do. Thì mình thấy câu trả lời cũng hay, nhưng mà mình thấy nó không thỏa mãn, nó có một cái gì mờ ám trong đó, một cái gì không sáng tỏ lắm.

Mà Đức Phật thí dụ như vàng, vàng lấy dưới đất trong quặng lên đầy đủ dơ dáy hết, nhưng mà khi rửa sạch rồi, thì vàng không bao giờ trở lại vàng trong quặng nữa. Thì mình thấy, Đức Phật đã thành Phật rồi, thì không bao giờ trở lại chúng sanh, không bao giờ trở lại bốn đường ác, bốn đường thiện nữa. Thì mình thấy trả lời cũng được rồi, nhưng mà cũng có một cái gì không sáng tỏ. Ngài trả lời rất nhiều.

Như Ngài nói ánh sáng mặt trời, rồi một người lấy nước xịt nước mà tưới cây, khi nước nó đi qua ánh sáng mặt trời nó cho 7-8 màu. Vậy là ánh sáng mặt trời nó không có màu gì hết, nhưng mà bỗng nhiên nó lại có 7-8 màu. Do đâu mà có? Phải chăng do ánh sáng mặt trời? Phải chăng do luống nước? Phải chăng do người xịt? Thì Ngài nói tất cả đều không phải, nó không có nguyên nhân, không có nguyên nhân. Thì mình thấy rằng câu trả lời cũng được, nhưng mà cũng giống mấy câu trước, là không sáng tỏ.

Trong Thủ Lăng Nghiêm có câu của chàng Diễn Nhã Đạt Đa cũng vậy đó. Khi không sáng đi soi gương, thì thấy bóng mình trong gương, thì nói ủa sao mình thấy bóng mình trong gương, mà sao con mắt không thấy được, mà phải soi gương mới thấy. Như vậy là chắc mình không có đầu! Ông mới la lối, chạy đi khắp nơi tìm đầu. Thì đó là một niệm bất giác, căn bản vô minh đấy. Thì mình thấy cũng một cái gì mờ ám, cũng không sáng tỏ được.

Nhưng mà tôi đọc trong Kinh, trong Kinh gì lâu quá tôi quên, có nói Đức Phật có nói câu hỏi này là câu hỏi vô lý, như người đui mà hỏi ánh sáng mặt trời, thì vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận câu hỏi này. Neu mà chấp nhận câu hỏi này là không bao giờ trả lời sáng tỏ cho người đui. Mình có thể trình bày đủ cách, đủ hạng người, người này không thỏa mãn, kiếm người khác lại trả lời cho cái anh đui này, thì trả lời cho tới mười mấy, 20, hay 50, 70, 100,… thì có một người trả lời tương đối sáng tỏ, người đui chấp nhận, anh giảng vậy tôi biết người kia giảng tôi không hiểu ánh sáng mặt trời là gì hết, hôm nay anh trình bày rất là khúc chiết, rất là rõ ràng, rất là sáng tỏ, như vậy tôi hiểu ánh sáng mặt trời, và tôi chấp nhận là có ánh sáng mặt trời. Như vậy thì người đui này có hiểu ánh sáng mặt trời hay không? Thì chúng ta thấy, nếu nhìn cho rõ thì người đui cũng vẫn không hiểu, mà có trình bày 100 cách cho người đui, mà khúc chiết rõ ràng cách mấy, người đui chấp nhận có ánh sáng mặt trời, thật sự người đui cũng không hiểu không biết gì về ánh sáng mặt trời hết, nếu có hiểu có biết là do sự tưởng tượng về ánh sáng mặt trời, mà tưởng tượng về ánh sáng mặt trời không phải là tự thân của ánh sáng mặt trời. Thì chỉ có một cách, Đức Phật nói: chỉ cách tu cho người đui, đi trị bệnh con mắt đui của người đui, đó là cách độc đáo nhất. Khi người đui hết đui rồi, thì câu hỏi ánh sáng mặt trời không còn có với người đui nữa, thì bây giờ mới trả lời một cách rõ ràng nhất cho người đui là bằng cách không trả lời gì hết.

Thành ra chúng ta muốn biết căn bản vô minh này, thì chúng ta tu thành Như Lai rồi, thì câu hỏi này sẽ không có nữa.

Thì Đức Phật chỉ cách tu của chúng ta, khi nào chúng ta đắc quả, phát bồ đề tâm, chúng ta đi vào trí tuệ rồi phát bồ đề tâm từ bi, thì chúng ta sẽ thấy căn bản vô minh sáng tỏ, và chúng ta không còn đặt câu hỏi: tại sao chân như võ trụ lại có một niệm bất giác, căn bản vô minh, để rồi chúng ta lọt vào alaya? Câu này là câu hỏi vô lý, phi lý hóa câu hỏi.

Thành ra chúng ta bây giờ theo lời Đức Phật chỉ dạy, chúng ta tu tập chừng nào chúng ta đắc Alahán, chúng ta phát bồ đề tâm, mà câu hỏi này không sáng tỏ thì Như Lai chịu lỗi. Còn nếu chúng ta không thực hành, không đi đến đó, mà cứ ở đây la lối hoài, phải trả lời câu hỏi này tôi mới chịu tu, thì cái đó là hỏi câu hỏi của người ngu, người đui. Thì tôi thấy câu này nó rất là hay, rất là sáng tỏ. Nhưng mà có một cái gì hơi ấm ức, ấm ức là mình chưa đắc quả.

Thành ra câu hỏi, mặc dầu mình thấy rất là sáng, rất là hay, nhưng mà sự thực hành mình chưa có, mình cũng như đứa bé biết lỗi rồi, nhưng mà tức, bởi vì mình còn là chú bé mà bắt mình làm như người lớn, mình cỏn vô minh mà Đức Phật trả lời cảnh giới của Như Lai, thì biết bao lâu mình mới đi tới đó. Thì câu hỏi này nó vẫn đau đớn, vẫn gặm nhấm mình như thường, mình biết rằng câu trả lời sẽ được sáng tỏ trong một tương lai, trong một sự tu tập nào đó, nhưng mà chắc chắn bây giờ là mình không sáng tỏ, nhưng mà sẽ được sáng tỏ, nếu mình đắc quả Alahán, và phát bồ đề tâm, thì mình vẫn thấy một cái gì ấm ức, một cái gì khổ sở cho mình, một cái gì gặm nhấm mình, trong lúc con đường đi đến Alahán chưa đạt được.

Như vậy chư phật tử hiểu rồi hen. Nói vậy có mau không? Nếu mau tôi chậm nữa, chậm chút nữa, chắc nó rè quá, tôi mọi lần tôi nói mau lắm à, bây giờ tôi nói tương đối mà có một số nói tôi nói mau, chậm nữa. Trời ơi! biết chậm cỡ nào? Chậm nữa nó hết pin á. Thì thôi, giờ căn bản vô minh hiểu rồi hen, thì chư phật tử thỏa mãn hen.

Bây giờ muốn trả lời câu hỏi căn bản vô minh thì ráng tu đi, đắc quả Alahán đi, rồi có trí tuệ phát bồ đề tâm, mà phát bồ đề tâm sơ địa, nhị địa cũng chưa đó, nghe nói tới thập địa cho tới đẳng giác thì căn bản vô minh mới tương đối sáng tỏ đấy, bởi vì Như Lai mới dứt được căn bản vô minh, chớ còn Alahán chưa dứt, mà tới thập địa cũng chưa dứt, nhưng mà thấy được lờ mờ cái căn bản vô minh này, tới đẳng giác rồi thì cũng thấy sáng tỏ nhưng mà chưa rõ lắm, tới Như Lai tức là diệu giác thì căn bản vô minh mới hoàn toàn sáng tỏ, câu hỏi không còn nữa.

Thì chúng ta thấy, bây giờ cố gắng tu thôi, chớ câu hỏi này chúng ta không nên đặt nhu vậy nữa.

Rồi do alaya võ trụ một niệm bất giác mới lọt xuống alaya cá nhân, thì ở đây bắt đầu chia hai, kêu bằng sông tương nước chảy đôi dòng:

– Thì một dòng đứng lặng tiếp tục con đường giải thoát nhưng mà nó mờ đi, cái đường này là cái đường chúng ta đi để trở về Thánh quả.

– Còn con đường thứ hai là con đường xao động để rồi đi vào cái nhiều, đi vào cái phiền toái, đi vào cái sự đau khổ, đó là con đường mà chúng ta đang sống bây giờ.

Còn con đường đứng lặng thì chúng ta không hay biết gì hết. Nhưng mà tôi xin thưa trước rằng, tuy chia như vậy, mà chư phật tử đừng nghĩ nó là hai, mà cũng đừng nghĩ nó là một. Thì hôm trước tôi thường thí dụ đó, con đường xao động là sóng, còn con đường đứng lặng thì là nước, thì chư phật tử thấy nước với sóng chúng ta đừng vội chia hai, mà cũng đừng có nhập một, mà chúng ta thấy rằng nước đứng lặng là đứng lặng trong cái sóng xao động, và sóng xao động là xao động trong cái đứng lặng của nước.

Thành ra chúng ta tạm chia theo cái thế tư tưỏng, cái thế khái niệm, thì chúng ta mới hiểu được, nhưng mà đừng có khái niệm quá, cứ khái niệm rồi chúng ta trở về, hén, thì chúng ta mới hiểu được vấn đề Bát nhã. Thành ra vấn đề Bát nhã khó giảng, có người nói với tôi ai dám giảng Bát nhã là cả gan lắm, thì tôi thấy gan thiệt đấy, nó rất khó giảng, khó trình bày, người trình bày đã khó, người nghe lại càng khó, không biết trình bày sao, nói tới phải nói lui, nói xui thì phải nói ngược, nói hai thì phải nhập một, nói một rồi phải chia hai, thì mới không dính mắc vào cái thế tư tưởng, không dính mắc vào thế luân hồi, thì chúng ta mới giải thoát được, thì hồi đó tôi cũng vậy, hen.

Thì bây giờ chúng ta đi vào cái đứng lặng trước, đứng lặng nó khó mà nó dễ, bị nó là cái một.

Còn cái xao động nó dễ mà nó khó, bởi vì nó phức tạp, còn dễ là bởi vì chúng ta sống trong đó, giảng chúng ta hiểu được, nhưng mà nó rất là phiền toái.

Cái đứng lặng thì nó có một thôi, nó tương đối dễ giảng, nhưng mà khó hiểu, bị chúng ta chưa từng biết tới nó, chúng ta chưa từng sống trong nó, thành ra chúng ta thấy rất là khó hiểu, cái gì nó có một thôi mà nó cứ xuống cấp, xuống cấp, nó cứ mờ mờ mờ, dường như có hình, mà hình gì cũng không có, thì những cái này Sư nói mà tôi chưa từng biết được, nhưng mình có sống đâu mà biết, nhưng mà từ nay mình tập biết nó, nó là con đường trở về của chúng ta.

Còn thế luân hồi của ngũ uẩn thì chúng ta biết quá rõ rồi, chúng ta không hay, nhưng mà khi tôi trình bày thấy mình có như vậy, thì đúng như vậy. Mình gặp sắc mình khoái, mình qua cái thọ cảm mình có cảm giác mình biết, biết mình có tình trong đó, chiếm hữu lấy nó. Còn qua tư tưởng thì qua thế giới của đới chất, thì tất nhiên mình phân biệt thôi, chưa có tình nhiễm. Rồi qua tới mạtna chấp ngã, thì mình thấy mấy cái này mình có thật sự, thì nó dễ hiểu, nhưng mà nó rất là phức tạp.

Bây giờ chúng ta trở lại con đường đứng lặng. Thì alaya cá nhân tôi mới nói nó là một cái xao động đó là vọng, còn một cái đứng lặng đó là chân, nhưng mà tôi xin thưa một chút xíu nhen, cái đứng lặng là chân, nhưng mà chân đối với vọng thôi, hén, nhưng mà so với alaya võ trụ thì cái chân này cũng thuộc về vọng luôn, alaya võ trụ nó không phải chân mà cũng chẳng phải vọng, mà nó siêu việt cả chân vọng, mà nó viên dung với chân vọng, chúng ta phải nói nó như vậy, thành ra alaya võ trụ mới thật là chân. Còn khi xuống cấp rồi thì phải kêu nó là vọng, nhưng mà xuống cấp nó vẫn giữ trung thực cái hình tướng của alaya võ trụ, nhưng mà mờ đi thôi, nó dường như muốn bắt đầu có hình, nhưng mà chưa có tướng, nghĩa là bắt đầu có thời gian có cái khe hở, nhưng mà chưa có không gian chưa có khoảng cách. Chúng ta phải ráng hiểu như vậy, phải ráng hiểu như vậy.

Còn alaya võ trụ không thể nói gì nó được hết, nó không là gì hết mà nó là tất cả, nó bao trùm cả vô lượng vô biên cái đứng lặng của alaya cá nhân, và vô lượng vô biên cái xao động của vô lượng vô biên alaya của cá nhân. Chúng ta phải hiểu như vậy. Thành ra không thể nói gì về alaya võ trụ, nếu có thể nói là: nó là tất cả, mà nó không là gì hết.

Thì bây giờ chúng ta đi vào alaya của cá nhân về phương diện đứng lặng. Thì trước tiên là chúng ta nói tới thức thứ 8, tức là alaya của cá nhân chúng ta đấy, trong Kinh kêu là thức thứ 8, hay là kêu là alaya thức, hay còn kêu là thần thức, mà nôm na ở ngoài đời kêu là linh hồn, thì chúng ta thấy có bốn phần hết thảy.

Phần thứ nhất là hiên lương tánh cảnh. Hiện lượng đây tức là nhận thức, lượng là nhận thức là hiểu biết, hiện là bày ra, bắt đầu có hình rồi. Thành ra hiện lượng này là một cách khác của vô chất tánh cảnh, vô chất tánh cảnh là của võ trụ, là nhận thức của võ trụ, mà võ trụ dùng chữ nhận thức thì không đúng, mà dùng không nhận thức là không đúng, nó không là nhận thức cái gì hết, mà nó là nhận thức hết tất cả, tất cả đều phát hiện ra từ đó.

Thành ra ở đây hiện lượng là bắt đầu có hình, còn alaya võ trụ nói hình cũng không đúng, mà nói tướng cũng không đúng, không có hình không có tướng mà có vô lượng hình và vô lượng tướng. Chúng ta phải hiểu cái lối nói một chút hén. Thì ở đây hiện lượng tánh là bắt đầu có hình. Thì chúng ta thấy tánh cảnh là cảnh có mang tính chất Phật tánh, tức là mang tính chất của alaya võ trụ, nhưng mà đã xuống cấp rồi, thành ra không kêu là hữu chất tánh cảnh mà kêu tánh cảnh thôi. Hữu chất tánh cảnh, hữu là có, chất là tính chất, có vô lượng tính chất; cỏn ở đây nó có một phần của tính chất thôi, thành ra tánh cảnh này nói nó giống với hữu chất tánh cảnh là không đúng, mà nói không giống thì cũng không được, nó là xuống cấp, nhưng mà nó vẫn trung thực cái hình lờ mờ của cái hoàn toàn quang minh của hữu chất tánh cảnh của võ trụ, thành ra ở đây chúng ta thấy là thường thường kêu nó là hư vô vi tế.

Hư vô là gì? Hư là không thật, vô là cùng khắp, vô là không có gì hết, vi tế tức là rất nhỏ nhiệm, nghĩa là nó là sự bàng bạc lờ mờ lù mù, bàng bạc cùng khắp võ trụ, mà nói rằng nó có hình thì không đúng, mà nói rằng nó không có hình thì không đúng, nó lờ mờ dường như muốn hiện hình, nhưng mà chưa có gì hết, còn hữu chất tánh cảnh của võ trụ là vùng hào quang sáng suốt hoàn toàn rực rõ quang minh, còn ở đây nó bắt đầu lờ mờ.

Tôi thường nói, trong các nhà văn thường nói họ thỉnh thoảng họ cũng đi vào đó, thì họ dùng: “ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, đó là câu nói của Hàn Mặc Tử đấy, thì trong lúc ông đau khổ quá, ông đi sâu vào cái đứng lặng của alaya thì ông thoáng thấy được “ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, thì kêu đó là hiện lượng tánh cảnh, tức là một trạng thái lờ mờ, một trạng thái mù mờ, dường như có hình nhưng mà chưa có gì hết, một trạng thái bàng bạc cùng khắp võ trụ.

Rồi nó xuống cấp nữa do cái vọng tưởng kiên cố nó đập vào cái tướng phần tức là tánh cảnh của alaya đấy, còn hiện lượng là kiến phần, cái này là tướng phần alaya, để nó mong cầu cái hình rõ hơn nữa, hiện hình rõ hơn nữa, thì đó kêu là vọng tưởng kiên cố, kiên là bền bỉ, cố là cứng, bền bỉ cứng ngắc, cứ đập vào tướng phần alaya tánh cảnh này để mong có cái hình rõ rệt hơn, nhưng mà chưa có hình gì hết, thì cái này kêu là chi mạt vô minh, chi mạt vô minh chưa gọi là sắc uẩn nha, mới là vọng tưởng kiên cố thôi, khi nào thức thứ 6 nó chụp mũ, nó in lên thì mới gọi là sắc uẩn, ở đây mới là vọng tưởng kiên cố thôi. Còn nó đi xuống đó kêu là hư minh le lói chiếu soi, thì bắt đầu do cái vọng tưởng kiên cố này đập vào cái tướng phần của alaya, cái tánh cảnh của hiện lượng tánh cảnh đấy, thì bắt đầu nó mờ thêm nữa, mờ thêm nữa, thành ra bây giờ chập chờn có vật hay không vật, hen, có nghe hay không nghe, có tiếng hay không tiếng, có vật hay không vật, có mùi hay không mùi. Nhưng mà mùi gì? tiếng gì? vị gì? xúc gì? thì chưa có rõ rệt, nhưng mà le lói rồi, le lói tức là hiện hình bắt đầu rõ hon, còn hư vô vi tế của alaya thì thôi hoàn toàn mờ mờ, mờ mờ chưa có gì hết, ở đây bắt đầu le lói, bắt đầu sáng tỏ chập chờn hơn, cái danh từ chúng ta thấy khó dùng, phải tạm dùng chữ le lói rất hay đó, nghĩa là nó dường như muốn tắt mà dường như không tắt, nó cứ chớp rồi tắt dường như muốn tắt rồi sáng lại, như ngọn đèn mà chúng ta thấy gần hết dầu, nhưng mà chưa hết dầu, nó phụt lên một cái nó sáng nó xuống cái, dường như tắt rồi nó phụt lên nữa, mà nó không tắt, nó cứ le lói chớp nhoáng, cứ chập chờn như vậy mãi, thì đây là tánh cảnh của 5 thức đầu, thì cái hiện lượng nó cũng khác, thành ra hiện lượng tánh cảnh của thức thứ 8 so với 5 thức đầu nói một thứ thì sai, mà nói giống nhau thì trật, nó cũng vẫn là bắt đầu hiện hình nhưng mà hơi rõ rệt hơn. Còn alaya của võ trụ, thì chúng ta thấy vô chất tánh cảnh hữu chất tánh cảnh thì cũng không khác với hiện lượng tánh cảnh này mấy, nhưng mà khác, thì nó là một vùng hào quang rực rỡ quang minh thôi, chẳng có gì hết. Thì xuống tới hiện lượng tánh cảnh của thức thứ 8 là lù mù lờ mờ bàng bạc khắp cả võ trụ, rồi do vọng tưởng kiên cố đập vào cái tướng phần này nó xuống cấp nữa, thì cái hiện lượng tánh cảnh của 5 thức đầu bắt đầu chập chờn le lói chiếu soi, tức là dường như có tiếng dường như không tiếng, dường như có vật dường như không vật, dường như có mùi dường như không mùi, tức là: mắt tai mũi lưỡi đấy, mà trong Kinh gọi là: thấy nghe ngửi nếm, tức là kiến, còn cía vọng tưởng kiên cố kêu là thị, thị là cái nhìn, nhìn thì chưa có gì hết, rồi bắt đầu mới có cái thấy, cái thấy là cái lù mù, bắt đầu lờ mờ đấy.

Còn xuống cấp một cái nữa, hiện lượng tánh cảnh của thức thứ 6, đây là mặt trăng thứ ba. Còn hiện lượng tánh cảnh của 5 thức đầu là mặt trăng thứ hai. Còn hiện lượng tánh cảnh của alaya, đó là mặt trăng thứ nhất. Còn alaya võ trụ là mặt trăng thiệt.

Nói vậy có lẹ không? Lâu lâu tôi nhớ, tôi bớt ga lại, tôi nói một hồi tôi nói hơi nhanh một chút, nhưng mà cũng không nhanh lắm đâu, hồi xưa tôi nói tía lia, còn bây giờ như vậy là bớt rồi đó.

Vậy hiện lượng tánh cảnh thức thứ 6 so với 5 thức đầu, so với thức thứ 8, so với alaya võ trụ thì không phải một, mà không phải khác, mà tôi dùng chữ xuống cấp nữa rồi, thì ở đây bắt đầu hiện hình rõ rệt hơn, nghĩa là có một cái vật rõ rệt hơn, có một cái tiếng rõ rệt hơn. Cũng như nhìn cái đó, thì hồi nãy là cái alaya võ trụ nó là một vùng hào quang thôi, tới alaya của thức thứ 8 thì nó hơi lờ mờ, tới alaya của 5 thức đầu dường như có một cái hình gì đó, nhưng mà chưa biết hình gì, còn tới alaya của thức thứ 6, tới hiện lượng tánh cảnh của thức thứ 6 bắt đầu dường như có một cái bông, nhưng mà bông gì? chưa biết, dường như có vật vuông dường như có vật tròn, thì cái hình bắt đầu hơi rõ rệt, do đó thức thứ 6 mới qua chụp mũ dung thông, cái này kêu dung thông chớ không phải chụp mũ, tới 5 thức đầu mới in lên mới chụp mũ đấy, còn thức thứ 6 là dung thông, tức là nó gần như hiện hình rõ rệt, thì cái tướng nó chụp lên một cái nữa rồi thì nó hòa nhau, cũng như nước hòa với sữa vậy, khó mà phân biệt, đó là thế giới của tứ thiền, cái thế giới của thứ tư của tứ thiền và tứ không đấy, cái đó dung thông giữa hiện lượng tánh cảnh thức thứ 6 và cái thế giới của xao động. Chút nữa tôi sẽ giảng sâu vào cái đó hen. Là thiền thứ tư của tứ thiền, tức là bất lạc bất khổ thọ và không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng, cảnh giới này cảnh giới dung thông của hiện lượng tánh cảnh của thức thứ 6 và đới chất cảnh phần xao động của thức thứ 6. Chúng ta thấy độc đáo, cái Duy thức là vấn đề này độc đáo. Đó thì tôi nói xong về phần hiện lượng tánh cảnh của alaya, của thức thứ 8, của 5 thức đầu và của thức thứ 6.

Bây giờ chúng ta qua phần ke, là phần chiếu soi và tư chiếu spi, hgỵ đứng- lăng, nháp vào đứng lăng.

Thì chúng ta thấy rằng chiếu soi và tự chiếu soi của võ trụ thì chúng ta không nói gì được hết, nó dường như không có chiếu soi tự chiếu soi, bị vì chiếu soi tự chiếu soi rất là thần tốc, thành ra chúng ta không có diễn tả gì được hết, nó thần tốc, thành ra nó vừa chiếu soi vừa mờ xuống là nó trở lại liền, vừa chuyển biến nhanh chuyển biến chậm một chút là nó trở lại liền, chúng ta không thấy được cái khe hở của nó.

Rồi tới alaya cá nhân thì bắt đầu thấy rõ, làm cho nó chuyển biến nhanh, rồi chuyển biến chậm, rồi trở lại nhanh, thành ra hai cái luôn luôn nó nhập một, thành ra nhận thức và đối tuợng nhận thức nó nhập một, thành ra trong Kinh mới nói rằng nó chỉ có nhận thức thôi, không có đối tượng nhận thức, có nghĩa là có vô lượng đối tượng nhận thức, thì nó sẽ thấy được nhận thức và đối tượng nhận thức tương ưng, nhận thức và đối tượng nhận thức đây cũng đều là nhận thức hết, vì đều là chủng tử hết, đều là thức biến mà thôi. Thì chúng ta thấy xuyên qua thế giới đới chất tức là có: người nhận thức và đối tượng nhận thức, thì nó thấy người nhận thức và đối tượng nhận thức cũng đều là thức hết, đều là pháp hết, chớ không có ngã đối với pháp nữa, đó là chiếu soi và tự chiếu soi. Chúng ta phải hiểu như vậy.

Mà đây chiếu soi và tự chiếu soi của alaya thì chúng ta thấy rằng nó cũng rất sáng suốt, bị nó từ alaya võ trụ trở xuống mà, nhưng mà khi nó xuống cấp một cái nữa, chiếu soi và tự chiếu soi của 5 thức đầu, thì chúng ta thấy là bắt đầu yếu rồi đó, bắt đầu yếu rồi đó, nghĩa là nó chiếu soi ra nó chịu trở lại, nhưng mà chuyển biến chậm lại chớ không còn giống như thức thứ 8 nữa, không còn giống thức thứ 8 nữa. Thành ra chiếu soi và tự chiếu soi này nó có một trạng thái của alaya của võ trụ đó thì chúng ta không nói được, không thể dùng danh từ gì nói được hết. Tới thức thứ 8 nếu mà chiếu soi nhập chiếu soi thì tất nhiên nó không có cảm giác, chưa có cảm giác thì đúng hơn, thành ra trong Kinh kêu là bất lạc bất khổ thọ, hay là xả thọ, xả là buông bỏ, cái cảm giác buông bỏ tức là chưa có nhận cái cảm giác gì hết, nhưng mà nó khác với cái xả thọ của 5 thức đầu, cái xả thọ này là một trạng thái hồn nhiên, mà tôi tham thiền tôi thấy một danh từ nữa mà nó rõ hơn là hỗn độn, hỗn độn, hồn nhiên mà hỗn độn, tức là nó như đứa con nít nó hỗn độn là nó không có phân biệt gì hết trơn, người ta nói trời đất lúc đầu hỗn độn là vậy đó.

Thành ra trong Kinh dịch có một câu chuyện về hỗn độn tức cười lắm, hỗn độn Kinh dịch mấy ông mấy bà không biết đâu, hỗn độn thì nó có cái trung cung, mà chung quanh nó kêu bằng ngũ hành: kim mộc thủy hỏa thổ, ở giữa cái trung cung, thì cái trung cung đó là hỗn độn. Thì giống alaya đây là tam tạng, một trạng thái hỗn độn, nghĩa là không có phân biệt được cái gì hết trơn, mờ mờ thôi, thì mấy anh kim mộc thủy hỏa thổ thì có phân biệt, cái này là vàng, cái này là mộc, cái này, cái kia, là cái nhận thức đó, thì mới thấy anh hỗn độn này thì hiền quá, giúp đỡ mình đủ thứ, mình nghèo khổ gì vô tới ảnh thì có hết, ảnh không phân biệt nghèo khổ, sang trọng gì hết, thành ra thích, trong Kinh dịch đó, thì mới thương muốn cho anh có cái biết, có nhận thức và đối tượng nhận thức, đằng này anh chỉ có nhận thức lờ mờ thôi, hỗn độn thôi, không có đối tượng gì hết, nghĩa là vô thiện ông cũng chấp nhận, mà ác ông cũng chấp nhận, người xấu ông cũng chấp nhận, người tốt ông cũng chấp nhận, ông hỗn độn không có phân biệt nào là Phật, nào là ma gì hết á, cảnh giới đó. Thành ra kim mộc thủy hỏa thổ thì có nhận thức và đối tượng nhận thức, là phần xao động đấy, nó thấy cái phần đứng lặng nó tội nghiệp, thành ra nó mới muốn khai khiu, khai khiu tức là mở mắt đó mà, thành ra mỗi ngày nó đục cái khối hỗn độn này cho nó đừng có hỗn độn nữa, thì bắt đầu ngày thứ nhất thì nó có con mắt, có nhận thức về con mắt thấy; ngày thứ hai cái lỗ tai, cho nghe; ngày thứ ba đục thêm cái lỗ mũi; ngày thứ tư đục thêm cái miệng; ngày thứ năm đục thêm cái xác thân; ngày thứ ba đục thêm cái phân biệt; tới ngày thứ bảy lại coi anh hỗn độn chết queo. Thì trong đó mới nói, chết queo là cái gì? Tức là từ nay đã khổ sở rồi, hồi đó hỗn độn là sung sướng, thì đó là trong Kinh dịch.

Còn bên Thiên chúa, thì chúng ta cũng thấy có Đức chúa trình bày cũng hay, là chúng ta nhớ lại ông Adam và bà Eva, lúc mà Đức chúa đem hai ông bà xuống dưới vườn, kêu là vườn thiên đàng, trong đó cho ăn hưởng tất cả những mùi phú quý sung sướng ở trong cảnh địa đàng này, hưởng hết cái gì cũng có thể xài, có thể ăn, có thể nhờ hết. Thì hai ông bà lúc bấy giờ là trần truồng, tức là không có quần áo mặc gì hết, mà ở trạng thái hỗn độn là không phân biệt nam nữ, không phân biệt xấu tốt gì hết. Đức chúa nói hai con sống ở đây hén, con được làm chủ cái vườn địa đàng này, các con chủ là các con muốn làm cái gì cũng được hết á, nhưng mà ở vườn địa đàng có một cây kêu là cây trái cấm, tức là cây tường tri thiện ác, tức là các con ăn cái trái này, các con sẽ biết được thiện ác, phải quấy, tốt xấu, cha cấm các con không được ăn trái cây này, kêu là ăn trái cấm, mà nếu các con ăn phạm thì các con rời khỏi vườn địa đàng này, các con sống khổ sở, cuộc đời các con phải tự làm đầu tắt mặt tối mới có ăn, còn trên vườn địa đàng này các con cứ hưởng phú quý khỏi làm gì hết, cây trái có sẵn, muốn ăn thì cứ bẻ thôi, hén. Thì hai ông bà sống sung sướng quá, thì có con quỷ sa tăng nó hiện ra, nó rủ ông Adam nói là Chúa gạt ông đó, nếu mấy ông ăn trái cấm này các ông sẽ có phép tắc quyền năng bằng Chúa, thành ra Chúa sợ Chúa mới cấm mấy ông. Thì ông Adam đâu có tin, nguời nam mà, cái niềm tin nó vững chắc, nó không phải là sống về tình, mà sống về tưởng, thành ra khuyên ông Adam 3-4 lần, 5-7 lượt ông Adam cũng vẫn không nghe, nó mới nghĩ khuyên bà Eva chắc được, nó mới qua bà Eva nó khuyên bà, lần thứ nhất bà không dám, lần thứ nhì cũng không dám, lần thứ ba thì bà nghe nói mình có quyền năng bằng Chúa, mình dại gì cứ sống dưới quyền của Chúa, mình cứ thờ Chúa mãi, mình cứ ôm chân Chúa, mình cứ ăn mày cái thần thông cái phép tắc của Chúa, thì mình ăn trái này chắc mình có thể bằng đức Chúa. Thì bà mới lén bẻ trái cấm, bà không cho ông Adam hay, bà ăn được nửa trái thì bà phân biệt được xấu tốt thiện ác, bà thấy mình ở trần ở truồng xấu hổ quá, còn nửa trái bà mới chạy kiếm ông Adam, năn nỉ ông Adam ăn cái này tiếp tục nửa trái, Adam hồi đầu từ chối không chịu, bà khóc lóc này kia, người đàn bà khóc thì độc đáo chịu không nổi, ông Adam mới ăn, ăn trái này ông biết liền thiện ác. Hai ông bà mới xấu hổ, thấy mình tội lỗi, bây giờ mới biết tội và phước, mới quỳ xuống cầu Chúa, thì Chúa mới hiện ra. Chúa nói: hai ông đã có tội rồi, bây giờ ra khỏi vườn địa đàng này. Chúng ta thấy là đó là cả một vấn đề, còn dài nữa, nhưng mà thôi, tôi nói một khúc thôi. Nhưng mà tôi nói cũng giống giống như cái bảng của chúng ta hôm nay, từ tri thiện ác, tức là chúng ta sống ở thế giới xao động.

Còn bây giờ là phần đứng lặng, phần đứng lặng thì chúng ta phải trở về cái đứng lặng đầu tiên là đừng ăn trái cấm nữa, hén, thì chúng ta mới thoát luân hồi sanh tử khổ được, chúng ta đừng phân biệt: phải quấy, tốt xấu, vinh nhục, lợi hại, thịnh suy, khen chê nữa, thì chúng ta đi vào quả thảnh thứ ba tức là Bất lai. Từ đó, chủng ta mới chiếu là tất cả các cảnh giới: cỏ cây đất nước,… mình phần biệt mà chưa có tình trong đó, mới có tưởng, thì ta chiếu cái tưởng này đế thấy rằng tất cả những cái tướng, những cái nghiệp này là phi tướng, phi nghiệp, thấy cái đới chất cảnh này là tánh cảnh, chớ cái đới chất cảnh này chúng ta không thể phả bỏ được, vì nó là cái cộng biến của một so chúng sanh, thì khi thấy nó hiện hình ra là vô hình.

Còn cái mà cái biệt nghiệp của chúng sanh, cái độc ảnh cảnh, thì khi thấy nó biến mất, bị vì nó cho chúng ta thương ghét, cái tình nhiễm, cái tình ái độc đáo, chúng ta chụp mũ in lên đó của riêng cá nhân của chúng ta. Như hôm trước tôi thí dụ, thí dụ hình Đức Phật Thích Ca đây, mà chúng ta thích, chúng ta thấy đẹp, còn người khác không thích thấy xấu, thì cái xấu đẹp là từng cá nhân chụp mũ in lên đó, thì khi chúng ta thấy được cái xấu đẹp này, của tình nhiễm, của tư tưởng xuống dốc thì nó biến mất. Nhưng mà hình Phật Thích Ca này, bây giờ chúng ta thấy là hình Đức Phật Thích Ca thì với nghiệp người, 6 tỷ người cũng thấy hình Đức Phật Thích Ca chớ không thấy khác được, thì khi chúng ta thấy rõ Phật Thích Ca này là vô tướng, chỉ là điện tử, những điện tử cấu kết lại với nhau, hoặc là chỉ là thức mà thôi, thì chúng ta thấy xuyên qua hình này, chúng ta thấy như vậy, nhưng cái hình vẫn không biến mất, chỉ trừ muốn biến mất cái hình này là chúng ta phải nhập pháp giới khác, chúng ta đắc quả, hoặc chúng ta chết, chúng ta hiện sanh về cõi trời, thì cái hình Phật Thích Ca này sẽ được thấy khác, thấy với cái nhận thức của cõi trời; hay là nếu tôi đắc quả Alahán, tôi nhập pháp giới, tôi bỏ pháp giới người, tôi nhập vào pháp giới trời, thì tôi sẽ hình Phật Thích Ca dưới nhận thức của cõi trời, thì cái đó chúng ta mới phá được cái đới chất cảnh. Còn độc ảnh cảnh thì thấy là nó biến mất, nhưng mà đây là quả Thánh thứ ba thôi. Còn thấy hình Phật Thích Ca là vô tướng, thì cái đó phải Alahán mới nhìn thấy được. Thì chư phật tử phải hiểu rõ hen.

Thì bây giờ tôi đã nói qua phần thứ hai, là chiếu soi và tự chiếu soi, do đó có bất lạc bất khổ thọ của thức thứ 8 là xả thọ, tức là hồn nhiên mà lại hỗn độn nữa.

Rồi tới chiếu soi và tự chiếu soi của 5 thức đầu, thì chúng ta thấy là chiếu soi bình thường, chúng ta không dùng chữ hồn nhiên được, nhưng mà nó cũng không khác, nghĩa là nó cũng đứng lặng thôi, nhưng mà bây giờ nó có thể bị cải sửa, bị vì nó chiếu soi đã xuống dốc rồi, nó đã xuống cấp rồi, thành ra thức thứ 6 cái phần xao động mới có thể chụp mũ in lên đó được. Cỏn thức thứ 8 là nó chuyển biến quá nhanh, và nó sâu tuốt ở trong đó, thành ra thức thứ 6 không hề biết tới nó chuyển biến như thế nào, do đấng toàn giác là Thích Ca giải thích chúng ta mới biết được thôi, còn cái này chúng ta có thể tu tập chúng ta biết được, kêu là bất lạc bất khổ thọ bình thường, thì tôi thêm một cái nữa, sau này nếu mà chụp mũ vô đó, thì thức thứ 6 nó có thể sửa bất lạc bất khổ thọ đứng lặng này thành ra cái siêu thường, tức là tứ thiền là thiền thứ tư của tứ thiền và tứ không, thì cái đó chúng ta giảng sau.

Rồi kế đó nó xuống một cái bất lạc bất khổ thọ, chiếu soi và ít tự chiếu soi, thì đây tôi dùng chữ ít tự chiếu soi, tức là cũng còn chiếu soi đó, nhưng mà nó chậm quá chậm rồi, thành ra nó bắt đầu hiện hình rõ rệt hơn, thành ra thức thứ 6 mới chụp mũ nó, thành ra tôi mới kêu bất lạc bất khổ này cũng giống như 5 thức đầu là bình thường, nhưng thêm một cái là siêu thường nữa, siêu thường nữa, tức là nó sửa lại thế giới đới chất cảnh, mà trong đó thế giới đới chất với tánh cảnh nó dung thông một cách nhiệm mầu, một cách khó mà phân biệt được, còn 5 thức đầu thì nó chỉ sửa lại lạc thọ khổ thọ thôi, chớ nó không có đi tới đới chất cảnh được, bị vì nó chuyển biến quá nhanh. Đó là phần thứ hai.

Còn phần thứ ba nữa là chúng ta nói ve vô kỵ vô phú.

Vô ký là gì? Ký là ghi nhận, vô là không, tức là không còn ghi nhận được thế nào là thiện thế nào là ác nữa, thì chúng ta để ý rằng cái bất lạc bất khổ thọ với vô ký này nó gần gần giống nhau, nhưng mà khác,

– Cái bất lạc bất khổ thọ nó thuộc về phương diện cảm giác.

– Còn vô ký này nó thuộc về phương diện tư tưởng.

Cảm giác tức là tình nhiễm đấy, thì nó sửa lại lạc thọ khổ thọ để nó chiếm hữu lấy. Còn cái này phằn biệt cái nào là thiện, cái nào là ác, không thiện không ác tức là vô ký

Thành ra chúng ta thấy rằng có những cái lạc thọ khổ thọ:

– Có những cái lạc thọ thuộc về thiện, cũng có những cái lạc thọ thuộc về ác.

– Có những cái khổ thọ thuộc về thiện, cũng có những cái khổ thọ thuộc về ác.

Thường thường chúng ta lầm, chúng ta nghĩ rằng tất cả những cái lạc thọ đều thiện hết, thì lầm.

Thì hôm trước tôi có thí dụ đấy. Cái lạc thọ thiện, chẳng hạn như là chúng ta nhập vào tứ thiền. Thì sơ thiền là ly dục sanh hỷ lạc, ly sanh hỷ lạc, tức là ly dục sanh hỷ lạc đấy, thì cái lạc thọ này tức là thiện đấy. Rồi định sanh hỷ lạc, cũng là thiện đấy. Rồi ly hỷ diệu lạc, cũng là thiện đấy. Còn cái thứ tư bất lạc bất khổ thọ, nó không thiện không phải lạc khổ, nó xả thọ thôi, thành ra chúng ta thấy là thiện.

Còn thí dụ như chúng ta ghiền xì ke ma túy, hay là ghiền café, thì cái ghiền này cũng cho chúng ta cái hỷ lạc đấy, cái hỷ lạc thuộc về ác, thuộc về ác, nó là lạc thọ đấy, nhưng mà nó thuộc về ác.

Thành ra chúng ta thấy lạc thọ có khi nó là thiện, mà có khi nó là ác.

Còn cái khổ thọ cũng vậy. Cái khổ thọ có khi là thiện, mà cũng có khi là ác. Ác là thí dụ như chúng ta bị nhức đầu, hay là chúng ta ăn uống không cữ, thì chúng ta bị bệnh ung thư, hay là bệnh nặng, thì chúng ta khổ đau, thì khổ đau này là do sự ham ăn của chúng ta, do không kiên cữ, thì cái khổ thọ này thuộc về ác. Còn cái khổ thọ, mà chúng ta thấy một chúng sanh mà đau khổ mà chúng ta muốn giúp đõ người đó, mà chúng ta vì quá nghèo không giúp được, thì chúng ta thấy sự đau đớn chúng sanh, chúng ta thấy khổ, thì cái khổ này nó thuộc về thiện.

Có nhiều cách giảng, tôi nói một vài thí dụ thôi, bị thời giờ nó không có.

Thành ra chúng ta nghĩ rằng cái khổ thọ không phải luôn luôn là ác, mà có những cái khổ thọ thiện. Thí dụ chúng ta là người trời, chúng ta giàu sang, chúng ta khá, hay chúng ta nghèo, chúng ta thấy người nghèo khổ hơn nữa, chúng ta muốn giúp đỡ, giúp đỡ một phương diện nào thôi, nhưng mà trước sự đau đớn của chúng sanh đó mình thấy khổ sở, mình chưa đắc Thánh quả, thì cái khổ này là cái khổ thiện. Chúng ta phải hiểu như vậy. Thì đó là tôi nói về cái phần vô ký.

Thì vô ký của thức thứ 8 là vô phú. Vô phú là sao? Vô là không, phú là che đậy, tức là không có ai điều kiện hóa nó, không ai che đậy nó hết, nó luôn luôn không thiện mà cũng không ác. Nghĩa là sao? Nghĩa là khi mình làm việc ác vào trong đó rồi thì nó biến thành vô ký, mà khi mình làm chủng tử thiện vô đó rồi cũng biến thành vô ký, thì ra cái alaya này độc đáo đấy, thì trong Duy thức có giảng mà hơi khó hiểu.

Nhưng mà có một cái thí dụ này tôi thấy hơi khá khá, cũng hơi khó hiểu. Nó nói alaya giống như cái biển cả, khi nước trăm sông ngàn mạch chảy về đó rồi, thì nước chua vào biển cũng biến thành mặn, nước ngọt cũng biến thành mặn, mà nước lơ lớ cũng biến thành mặn, nghĩa là tất cả đi vào đó chỉ còn một chất mặn của biển mà thôi, nhưng khi nó chảy ra các dòng sông nó biến thành chua, thành ngọt, thành mặn lại.

Thì alaya này cũng vậy. Khi mà chứa vào trong alaya thì tất cả những chủng tử này biến thành năng lực, tức là biến thành thức, nhưng mà khi thức biến thành chủng tử thì chúng ta kêu là mạtna chớ không còn alaya thức nữa. Thành ra nó chứa cả chân cả vọng, khi cái đứng lặng của cái chân trở về nó thì cũng biến thành thức, nghĩa là 5 thức đầu, thức thứ 6, trở về 5 thức đầu, 5 thức đầu chạy về alaya thì cũng alaya thức thôi. Mà khi mà thức thứ 6 làm việc ác, 5 thức thứ đầu tình nhiễm, mà khi chủng tử nó rớt vào alaya thì cũng biến thành thức mà thôi, noi đó không có thiện mà cũng chẳng có ác, nhưng mà khi biến thành chủng tử đi qua mạtna thì bắt đầu có thiện có ác, thì kêu là mạtna chớ không kêu là alaya nữa. Chúng ta phải hiểu như vậy.

Thành ra kêu là vô ký vô phú, nó là một trạng thái lờ mờ, giống như ông Tam Tạng vậy đó, chúng ta có coi Tam Tạng thỉnh Kinh chúng ta biết, là giống hệt vậy đó.

Rồi bây giờ kế tới cái vô ký của 5 thức đầu. Thì chúng ta thấy 5 thức đầu cũng vô ký, nhưng mà có thể cải sửa, thì hôm trước tôi có thí dụ đó. Bây giờ thí dụ, như bây giờ mình không bệnh gì hết, mình đến đây nghe pháp, mình khỏe quá, một chút mình về nhà mình nhức cái răng, thì mình thấy nhức răng quá chịu không nổi, thì mình mới biết rằng hồi nãy không nhức răng đó là trạng thái vô ký, trạng thái lạc thọ, nhưng mà quen rồi mình thấy không có lạc gì hết trơn, trạng thái vô ký. Nhưng mà khi mình nhức răng, mình mới biết hồi nãy không nhức răng đó là lạc thọ, thì bây giờ cái đó gọi là vô ký, vô ký này có thể cải sửa. Thành ra khi chúng ta hết nhức răng, chúng ta thấy trạng thái bình thường, đó chính là lạc thọ, mà hồi nãy mình là vô ký, nhưng mình sống lâu cái lạc thọ biến mất mình trở thành vô ký, mình không nhận được nữa. Hay là tôi thí dụ, thường thường cái đám ma đi ngang, mình nghe tiếng kèn tiếng trống ngoài đó, thì chư phật tử biết cái đó là đám ma. Tôi hỏi: cái gì có kèn trống? Chư phật tử nói đám ma. Hỏi đám ma của ai? Bạch Sư không biết à. Neu biết là người quen thì cái vô ký sửa thành khổ thọ. Thành ra cái vô ký 5 thức đầu có thể bị cải sửa. Còn vô ký thức thứ 8, ông nội tôi cũng không biết nó ra làm sao nữa. Như Lai nói thôi, thức thứ 8 không đá động tới nó được, kêu là vô ký vô phú, không có gì mà che đậy, không có gì mà điều kiện hóa nó được hết.

Còn vô ký hữu phú có bị che đậy, tức là nó nhận biết được cái thiện cái ác đấy, nhưng mà nó cứ lấy alaya làm chủ, bây giờ cái này ác mà giết người xuống địa ngục cũng không sao, bị vì có ông chủ che chở, có một đấng chí tôn giúp đỡ mình, mình có giết người bây giờ nhân danh đấng chí tôn, thì chí tôn, thì cái vô ký nhưng mà có hiểu biết, mà chúng ta ở ngoài thường kêu vấn đề cuồng tín, cuồng tín ghê lắm à. Thành ra người ta nói chiến tranh thế giới ít sọ, mà sợ cái chiến tranh tôn giáo, chiến tranh ở ngoài, con người đánh giặc, đánh giặc vì sợ mà đánh giặc thôi.

Thí dụ hồi trước, hai bên đánh nhau, thì trốn quân dịch, đa số sọ cái chiến tranh, nhưng mà bắt buộc phải đánh giặc, thành ra bị bắt buộc này, con người không có hăng say, làm là làm cho có, rồi lơ mơ là trốn, đi đánh mà thấy hai bên đánh nhau quá sợ chết, trốn lính, hồi đó đa số trốn lính, cái này đánh mà không có hăng say.

Còn chiến tranh tôn giáo là chiến tranh cái chết à, không ai kêu hết, tự mình thấy là mình phải làm, bảo vệ cho Chúa, bảo vệ cái tôn giáo của mình một cách cuồng tín, bây giờ ai nói mình sai vẫn giết, giết để rồi về với Chúa, tử đạo, Thánh tử đạo, giết rồi được tôn vinh thành ra thánh, thành ra chúng ta cứ nhào vô đó mà chết, không có ai cản được hết. Thì cái chiến tranh này độc đáo, người ta kêu là niềm tin cuồng nhiệt, cuồng tín. Thì đây là cái mạtna, thức thứ 7.

Thành ra chúng ta coi chừng, cái ngã chấp chúng ta khi mê vào một cái gì rồi là chúng ta dám hy sinh cả mạng sống mình.

Như là nghe nói toàn ngũ giác đài gì đó cũng vậy, cái ông mà bay máy bay vô đó là cuồng tín đấy, biết chết rồi nhưng mà nhứt định giành nhau để mà đi chết, thì chết rồi được phong làm thánh, thì chúng ta thấy là cả một vấn đề cuồng tín trong đó, thành ra kêu là vô ký mà hữu phú.

Cỏn 5 thức đầu vô ký mà bình thường, tức là có thể cải sửa được, mình chưa biết. Cũng như bây giờ ai nói rằng Đức Phật là không có, hay là nói chết rồi là hết, không có linh hồn gì hết, thì mình sinh ra trong cái xã hội như vậy, dạy vậy thì mình biết vậy thôi, thì trạng thái đó gọi là vô ký. Nhưng khi nghe một nhà sư giảng là có linh hồn, chứng minh một cách rõ ràng, thì bây giờ cái vô ký bị sửa thành ra là cái hiểu biết. Hồi xưa mình chưa biết, không biết con người chết rồi còn linh hồn hay là mất, rồi nghe duy vật nói chết là hết, không cỏn cái gì hết, thì với cái non nớt mình hiểu vậy thôi. Mai mốt có nguời giảng rõ ràng cái thấy, nghe, hiểu biết của mình, không phải là con mắt, không phải con mắt thấy, không phải lỗ tai thấy, mà chính cái linh hồn thấy, thì mình thấy sáng tỏ, mình biết là có linh hồn, từ nay cải sửa lại, thành ra không cỏn vô ký nữa. Thì chúng ta thấy 5 thức này kêu là vô ký bình thường.

Còn thức thứ 6 cũng vô ký bình thường, giống như như 5 thức đầu, nhưng mà sáng tỏ hon, đây nó sống về tưởng, còn bây giờ 5 thức đầu nó sống về tình. Nhưng mà thức thứ 6 còn thêm một cái nữa là vô ký nó thuộc về siêu thường, nó đi vượt khỏi vấn đề thiện ác.

Đó là tôi trình bày xong về cái phần đứng lặng. Có ai hỏi gì không? Không có thì chúng ta qua phần xao động đấy. Đây là tôi lặp lại kỳ trước thôi, hén, để chư phật tử có cái nắm toàn diện thôi, rồi chúng ta sẽ so sánh qua cái xao động, để chúng ta thấy rằng cái đứng lặng và xao động không phải một mà cũng chẳng phải hai, để chúng ta thấy rằng hiện giờ chúng ta đang sống về phương diện xao động, bây giờ chúng ta phải trở lại đứng lặng.

Mà trở lại đâu? Kiếm đứng lặng ở đâu? Thì chúng ta phải nên nhớ, kiếm đứng lặng ngay trong cái xao động, chúng ta đừng chạy đi đâu hết á.

Chúng ta muốn giải thoát luân hồi sanh tử thì giải thoát ngay trong ngũ uẩn, ngay trong 6 căn, chính ngũ uan ỉà luân hồi sanh tử khổ, mà chính nhận được ngũ uẩn có cái đứng lặng trong đó là Niết Bàn.

Chính luân hồi sanh tử khổ là lục tặc: mẳt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Nhưng mà giải thoát luân hồi sanh tử cũng tại 6 lục tặc này biến thành 6 cái diệu dụng của thần thông. Đó là con đường đi của chúng ta.

Bây giờ ngưng một chút để cho phật tử nào có hỏi gì thì hỏi, còn không thì tôi giảng tiếp. Giảng vậy có nhanh không? Chậm một chút nữa không? Hay là nhanh một chút nữa? Tôi hồi quên quên tôi cũng lẹ lẹ một chút.

Tức là phần cuộc sống hàng ngày của chúng ta, nhưng mà chúng ta cũng không hay biết gì hết, nhưng mà khi giải thích chúng ta biết, chúng ta có sống trong đó, cái này là cái phức tạp đấy.

Bây giờ chúng ta cũng đi từ thức thứ 8 xuống, xao động xuống hen, kêu là cái phần hiện hành, tức là trong thức thứ 8 nó đưa ra, rồi thức thứ 6 nó tiếp thu, rồi nó bắt đầu bắt 5 thức đầu phải hiểu để tạo nghiệp, tạo nghiệp xong rồi nó mới chứa trở vô nữa, đó là cái cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Thì sau khi mà có sự giao cấu của cha mẹ, có tinh cha huyết mẹ rồi thì cái thần thức này, tức là thức thứ 8 đấy, nó bàng bạc trên không gian, bây giờ nó mới chui vào đó nó phát hiện, thức thứ 8 nên nhớ nó không phải là cục tròn tròn nhen, thì người ta kêu linh hồn là cái cục tròn tròn nhập vào bào thai, thì Đạo Phật không chấp nhận vấn đề đó, nhưng mà nó bàng bạc trên không gian giống như làn sóng điện thì Đạo Phật chấp nhận cái vấn đề đó, thì cái làn sóng điện này đó nó có alaya của cá nhân, thì thật sự nếu mà chân chính của võ trụ nó cùng khắp, còn nếu mà có chủng tử thì nó có giới hạn, thành ra cái alaya này khó nói, nếu đừng về phưong diện đứng lặng thì nó bàng bạc trùm khắp cả võ trụ vô lượng vô biên, còn khi nó chuyển qua chủng tử mạtna rồi thì nó lại hữu biên, chúng ta phải hiểu, hiểu cái chỗ hoi khó hiểu đó. Thành ra khi có tinh cha huyết mẹ rồi thì cái thần thức này mới phát hiện vào trong cái huyết, vào cái cục thịt đỏ đầu tiên đó, thì alaya mới bây giờ có phát hiện chủng tử đấy, thì chủng tử đó tức là mạtna, mạtna mới cung cấp chất liệu từ trong thức uẩn này, tức là những kinh nghiệm kiến thức ký ức kỷ niệm và những cái chủng tử thiện ác mà

chúng ta đã làm trong cuộc sống của chúng ta trong quá khứ, nhiều quá khứ, thì vẫn tồn chứa trong đó không một mảy may xót lọt, thì bây giờ thức thứ 7 mới lấy trong đó ra, nếu mà chúng ta thiện nhiều thì chúng ta sẽ đầu thai làm trời hoặc là cõi người, và thức thứ 6 mới lấy chất liệu tạo ra cái hình hài, tức là đứa bé đầy đủ căn lành thông minh sáng suốt, và cái cảnh giới bên ngoài là cảnh giới tương ưng với nó. Thì chúng ta thấy rằng Đạo Phật rất là hay, không có một vị trời nào, không có một ông Phật nào, không có một ông quỷ nào, không có một ông thánh thần nào, để xen vào trong cái nghiệp lực của chúng ta, chúng ta tạo cái gì thì chúng ta hướng lấy cái quả đó. Thì đó, chúng ta thấy rằng rất là công bằng, rất là sáng tỏ.

Thành ra do đó, chúng ta thấy sự tu tập của chúng ta rất là quan trọng, chúng ta tạo cái gì chúng ta phải hưởng cái đó, chúng ta trồng cam trồng mít trồng xoài thì chúng ta sẽ hưởng quả cam quả mít quả xoài; chúng ta trồng chanh trồng ớt chúng ta phải hưởng quả chanh ớt. Nhưng mà Đạo Phật còn độc đáo nữa, nhân quả nhưng mà còn có nghiệp nữa.

Nghiệp là gì? Tôi thường giảng nghiệp là sự cải sửa nhân quả.

Thì cái đó theo trong Đạo Phật chỉ có tâm người, tôi nói tâm nha, còn thân thì chúng ta không nói được, tâm người trở lên, tâm trời dục giới, sắc giới, vô sắc giới thì mới có thể chuyển được cái nhân quả này, thì chuyển nhân quả kêu là nghiệp.

Còn cái tâm thú trở xuống là chịu thôi, không thể cải sửa nhân quả được, thành ra loài thú không thể thành Phật được.

Mà nếu cải sửa nhân quả ác thành nhân quả thiện, chuyển làm yếu thế lực của nhân quả ác, làm tiêu diệt nhân quả ác, chuyển nhân quả ác thành nhân quả thiện, thì con người có thể đi tới chỗ siêu việt nhân quả, tức là diệt thọ tưởng định đắc Alahán. Thành ra từ cái tâm thú trở xuống là không thể thành Phật. Từ tâm người tới trời dục giới, sắc giới, vô sắc giới thì mới có đủ cơ duyên để thành Phật mà thôi.

Thành ra cái thức uẩn này như tôi nói hồi nãy, khi mà nó là cái năng lực thôi, tức là thức thôi, nhưng mà khi nó chuyển thành chủng tử, rồi nó lại biến mất, rồi nó thành chủng tử, thì cái đó kêu là mạtna. Thì mạtna chúng ta thấy rằng nó cũng có phần chiếu soi tự chiếu soi nữa, nhưng mà nó xao động, thành ra khi nó chiếu soi ra đó, chiếu soi trở lại, chúng ta kêu là nửa tự chiếu soi. Nửa là sao? Là không có đứng lặng nữa, chiếu soi mà qua xao động, qua lắc lư, mà qua lắc lư như vậy nó chiếu, nó phát hiện từ alaya, chúng ta nên nhớ alaya khi mà có chủng tử thì kêu là mạtna, thành ra mạtna này được phát hiện từ alaya, cũng như vọng tưởng kiên cố cũng vậy cũng phát hiện từ alaya, và cái vọng tưởng hư minh le lói chiếu soi cũng từ alaya nhưng mà phần đứng lặng của alaya, còn đây là phần xao động của alaya, đứng lặng thì chưa có chủng tử, mà khi có chủng tử rồi thì kêu là xao động. Mà đầu tiên của xao động tức là mạtna, mà xao động đầu tiên là mạtna, vậy mạtna là cái ngã chấp đầu tiên hết thảy, hễ dứt được mạtna chúng ta hoàn toàn đứng lặng, tức là đắc quả Alahán. Thành ra mạtna kêu là vọng tưởng u ẩn, ẩn là núp là trốn, u là thâm sâu, là nó trốn một cách rất là thâm sâu, nó xao động rất là ít, bị vì ở đây nó còn trực giác, nó có thể chiếu soi rồi hồi quang phản chiếu, nhưng mà hồi quang phản chiếu có phân nửa thôi, hồi quang phản chiếu mà lắc lư, rồi từ đây về xuống không thể hồi quang phản nữa đấy, chỉ có thức thứ 7 có thể hồi quang, nhưng mà ác nghiệt thay lại là xao động, thành ra cái lăng kính nó bị méo mó, sự vật bị méo mó, không còn trung thực là đứng lặng nữa, thành ra bắt đầu có không gian, thì không gian tức là ngã vậy, một cái danh từ khác của ngã, một cái trá hình của ngã, còn nếu không có không gian thì chưa có ngã, chưa có không gian là chưa có ngã.

Thành ra bên phần đứng lặng chúng ta thấy rằng chưa có không gian, thành ra đứng lặng chỉ có thời gian, chỉ có pháp chấp tuyệt đối thôi.

Còn bên đây là có pháp tương ưng với ngã, nhận thức là ngã, còn đối tượng nhận thức là pháp, nhưng hai cái phải tương ưng. Thành ra không gian là một cái trá hình, là một cái kêu khác của ngã. Thì dứt ngã rồi thì chúng ta đắc quả Alahán, tức là nơi cảnh giới của Alahán là phi không gian, mà phi không gian thì không còn nhân quả khác thời nữa, chỉ còn nhân quả đồng thời thôi, tức là sanh trụ dị diệt cùng một lúc.

Còn ở đây có không gian, thì sanh trụ dị diệt có khoảng cách, có khoảng cách.

Nghe vậy hiểu phải không? Có lẹ lắm không? Tôi cũng hay quên đấy.

Thì ở đây chiếu soi và tự chiếu soi có phân nửa thôi, tức là lắc lư, thành ra bắt đầu có không gian. Thì chúng ta thấy rằng, nó có thể tự chiếu soi thì tất nhiên kêu nó là trực giác, chớ không phải là gián tiếp nữa, mà nó đi thẳng vào sự vật, nhưng mà vì nó lắc lư, vì nó xao động, cho nên bị méo mó, thành ra không thể kêu nó là tỷ lượng được, lượng là nhận thức, tỷ là so sánh phân biệt, nhưng mà ở đây nó không có so sánh, không có phân biệt, nó là trực giác mà, nhưng mà nếu là trực giác thì phải đúng đắn đứng lặng, cái này trực giác mà lại hơi méo mó, hơi xao động, thành ra kêu nó là tương tợ như trực giác, thành ra kêu là tợ hiện lượng chớ không phải là chân.

Thành ra thức thứ 8 kêu là chân hiện lượng, 5 thức đầu cũng chân hiện lượng, thức thứ 6 cũng là chân hiện lượng, tức là cái trực giác đứng lặng hoàn toàn. Nhưng mà 5 thức đầu bị xuống cấp, thức thứ 6 xuống cấp hơn nữa. Thành ra chúng ta nói là ở đây có ba cái mặt trăng: Thức thứ 8 là bóng dáng của mặt trăng thứ nhất; 5 thức đầu là bóng dáng của mặt trăng thứ hai; còn mặt trăng thứ ba là thức thứ 6, đứng lặng của thức thứ 6.

Còn bên đây nếu mà nói thức thứ 7 đứng lặng thì không đúng, mà nói nó xao động cũng không đúng, mà nó là nửa xao động nửa đứng lặng, nó có thể hồi quang nhung mà hồi quang một cách méo mó, từ đây trở xuống là không thể hồi quang phản chiếu nữa, chỉ có chiếu soi thôi mà không tự chiếu soi đuợc, cỏn thức thứ 7 vẫn tự chiếu soi được nhưng mà có phân nửa thôi, đi có nửa đường là lung lay lúc lắc rồi, thành ra kêu nó là méo mó, thành ra kêu nó là tợ hiện lượng chớ không phải là chân hiện lượng, thì cảnh của nó không gọi là tánh cảnh được, không phải cảnh vô tướng nữa, mà nó bắt đầu có hình tướng, có hình mà có tướng nữa. Nhưng mà tướng gì? Chưa rõ rệt, thành ra nó lờ mờ thôi, thành ra nó chưa có cải sửa thành cái tướng gì hết, thành ra kêu nó là đới chất cảnh, nhưng mà đới chất một cách chân thật, bị vì không có sự phân biệt trong đó, chưa có sự chia chẻ, chưa có sự khái niệm hóa, thành ra kêu là chân đới chất, chớ không phải là tợ đới chất.

Còn cái vô ký hữu phú, thì nó vô ký hữu phú, tôi đã giảng rồi. Tức là nó không phải vô ký là không biết thiện ác, nó biết thiện ác, nhung mà bị thức thứ 8 điều kiện hóa, nó chấp nhận ông thức thứ 8 là ông tối thuợng, ông thượng đế, tất cả cái gì thì thức thứ 8 cũng che chở cho nó hết, thành ra có lợi cho thức thứ 8, mà bây giờ bị xuống địa ngục cũng vẫn làm, miễn làm sao có lợi cho thức thứ 8 mà thôi, thành ra mới kêu là hữu phú, là bị thức thứ 8 che đậy, bị thức thứ 8 điều kiện hóa, mà thức thứ 8 gọi là vô minh, thành ra bị vô minh điều kiện hóa. Như vậy là xong thức thứ 7.

Bây giờ xuống tới thức thứ 6, đây mới là phức tạp đấy, anh chàng này là anh chàng giải thoát mà cũng là anh chàng luân hồi đấy, tất cả sự luân hồi này do ảnh, anh Te Thiên này, mà tất cả sự giải thoát luân hồi này cũng là anh Tề Thiên này. Còn anh thức thứ 7 thuộc về Sa Tăng. Còn 5 thức đầu là Trư Bát Giái, đó là anh sống về tình nhiễm nhiều nhất, tất cả ngũ dục ảnh đều nắm hết, ôm chầm hết, không bỏ cái nào hết, từ sắc đẹp, cho tới miếng ngon, cho tới ham ngủ, ham ăn gì anh Trư Bát Giái này đủ hết, nhìn sắc đẹp anh cũng khoái, ăn đồ ngon anh cũng khoái, uống cả bụng, mà ngửi mùi ngon anh vẫn thích, ôm sự vật mà cái cảm giác về xác thân anh cũng khoái, cái gì anh cũng thích hết. cỏn anh Te Thiên này anh độc đáo đó, ảnh thuộc về thế giới đới chất cảnh, mặc dù anh nhìn thế giới đới chất, nhưng mà anh không có nhiễm tình, thành ra ảnh ít có bị ngũ dục che đậy, hén, thành ra nếu mà anh chạy bắt tay với Trư Bát Giái thì luân hồi sanh tử đấy, thành ra có lúc ảnh bắt tay với Trư Bát Giái, có lúc ảnh đả phá Trư Bát Giái, thì chúng ta thấy. Còn anh Sa Tăng, thức thứ 7 luôn luôn đi theo Tam Tạng, ôm lấy Tam Tạng làm thầy, thì chúng ta thấy hay.

Thành ra cái tiến trình của ngũ uẩn tức là tiến trình của đi thỉnh Kinh của mỗi người chúng ta, trong đó Tam Tạng cũng là ta, mà Sa Tăng cũng là ta là thức thứ 7, Tam Tạng là alaya cũng là ta, cỏn Tôn Ngộ Không là con khỉ cũng là ta, còn Bát Giái cũng là ta, còn con ngựa tức là vọng tưởng kiên cố cũng là ta, con ngựa là cái thây để cưỡi đấy, thì cái này ông Tam Tạng ông cưỡi lên vọng tưởng kiên cố này, vọng tưởng kiên cố mới đánh vào cái tướng phần Tam Tạng để mong có hình, thì chúng ta thấy rất là hay, Duy thức chúng ta thấy trong đó đủ hết, từ 5 thầy trò, từ con ngựa, cho tới Bát Giái, cho tới Te Thiên, cho tới Sa Tăng, cho tới Tam Tạng, đều nằm trong chúng ta. Hiện giờ chúng ta đang đi thỉnh Kinh, thì bây giờ chúng ta tiếp tục con đường thỉnh Kinh của chúng ta vậy. Mô Phật!

Bây giờ xuống tới anh Tôn Ngộ Không, tức là con khỉ đấy, thì chúng ta thấy ở đây bắt đầu nó xuống là nó chiếu soi chớ không thể tự chiếu soi nữa, nghĩa là phân nửa tự chiếu soi thôi bên đứng lặng đấy, còn bên xao động thì không thể tự chiếu soi nữa, thành ra cái nhìn của nó là cái nhìn đới chất cảnh, tức là bị sửa theo cái nghiệp lực của nó, nếu mà nghiệp người thì nó thấy nước là nước, cỏn nếu nghiệp của cõi trời thì thấy nước là lưu ly, còn nếu nghiệp của loài thủy tộc thì nước là nhà ở, không khí, … thì đó gọi là thế giới của đới chất, thế giới của cộng nghiệp.

Thành ra từ nước. Nước là cái gì? Thực tướng của nước là gì? Là hào quang, tức là không có hình tướng, nhưng mà bị cái nghiệp người đã cải sửa, bị cái nghiệp cõi người đã cải sửa thành ra nước, bị cái nghiệp cõi trời sửa thành ra lưu ly, bị cái nghiệp ngạ quỷ sửa thành ra máu, … thì cái này do mạtna cung cấp chất liệu từ trong chủng tử của alaya cho nó, và nó cải sửa hoàn toàn. Thành ra anh chàng này là anh chàng cải sửa, anh chàng con khỉ, thành ra kêu nó là tợ đới chất, đới chất mà không còn chân nữa, mượn của người ta không hình tướng mà sửa thành hình tướng hoàn toàn khuôn khổ, hoàn toàn có khuôn khổ, thành ra kêu nó là giống như đới chất nhưng mà tọ thôi, thật sự là không còn vay mượn nữa, thành ra kêu là tợ đới chất. Nhưng mà nếu tợ đới chất mà không có xen tình cảm vô đó, thấy nước là nước, thì cái đó kêu là chân tỷ lượng, nghĩa là sự so sánh phân biệt một cách chân thật theo cái nghiệp người, không có xen tình cảm vào đó, không có xen thương ghét vào đó, thành ra thấy sự vật đúng như sự vật theo cái nghiệp của cộng nghiệp. Còn nếu xen tình cảm vào đó rồi, có thương ghét thì sự vật bị méo mó, thành ra không kêu là tợ đới chất nữa, mà kêu là độc ảnh cảnh, là cái cảnh, độc là một mình, là cái hình ảnh một mình của tư tưởng của mình mà thôi, chớ không phải là cái cộng biến của một chúng sanh đó, thì bây giờ kêu là tợ tỷ lượng, tợ là tương tợ giống giống như là so sánh, nhưng mà so sánh sai lầm.

Thì chúng ta thấy tợ tỷ lượng và cái tợ hiện lượng, hai cái này kêu chung là phi lượng.

Đúng ra có ba cách nhận thức, nhưng mà thật sự có hai thôi: một là hiện lượng, hai là tỷ lượng.

– Hiện lượng là cái nhận thức nhìn thẳng vào, hiện bày vào sự vật, không qua trung gian của tư tưởng phân biệt, thì kêu là hiện lượng, hay khoa học kêu là trực giác.

– Còn cái thứ hai là tỷ lượng, là không thể nhìn thấy cái cảnh thật sự vô tướng của sự vật nữa, mà qua cái nghiệp lực của từng chúng sanh, từng loài chúng sanh, thì cái này kêu là tỷ lượng. Mà nếu tỷ lượng đúng là cái nhìn cộng nghiệp của chúng sanh mà chưa có xen tình cảm vào đó, thì kêu là chân tỷ lượng, thì cái cảnh của nó là tợ đới chất, đới chất mà bị cải sửa hoàn toàn rồi, thành ra kêu là tọ đới chất. Còn nếu mà có xen tình vào đó thì kêu là tợ tỷ lượng, tương tợ như so sánh nhưng mà có xen tình cảm riêng tư vô đó, thành ra sự vật bị méo mó, thành ra không kêu là tợ đới chất nữa, mà kêu là độc ảnh cảnh.

Thế có rõ chưa?

Còn hiện lượng ở trên cũng vậy nếu mà hiện lượng mà đúng đắn đứng lặng hoàn toàn đó, thì kêu là chân hiện lượng, thì cảnh nó là cảnh thật, tánh cảnh, tức là không có hình tướng, phi tướng, chỉ là thức thôi, chỉ là chủng tử thôi, chỉ là thức biến thôi. Còn nếu mà xen cái tình vào đó, xen cái không gian vào đó, xen cái ngã vào đó, thì cảnh đó không còn là hiện lượng nữa, mà giống giống như là hiện lượng, kêu là tọ hiện lượng, thì cảnh không phải cảnh vô tướng nữa, mà bắt đầu có hình tướng, nhưng hình tướng rất là mơ màng, chưa có khái niệm, chưa có khuôn khổ rõ rệt, thành ra kêu nó là đới chất mà chân, kêu là chân đới chất.

Như vậy thì có ba nhận thức, nhưng mà tóm lại có hai thôi.

Cái tợ hiện lượng với tợ tỷ lượng thì trong Duy thức kêu là phi lượng, tức là chẳng phải nhận thức. Vì sao? Vì nó không đưa tới giải thoát, mà nó đưa tới luân hồi đau khổ. Thành ra hai cái này trong Duy thức tóm lại kêu là phi lượng, là chẳng phải nhận thức.

Chỉ có chân hiện lượng và chân tỷ lượng, tức là chân hiện lượng đi với tánh cảnh, là cảnh thật chưa có hình tướng gì hết; còn chân tỷ lượng đi với cảnh của cộng nghiệp của chúng sanh trong 6 tỷ người, trong một cái cộng nghiệp đó, đã chụp mũ như đó, mà chưa có xen tình cảm vào đó, xen tình cảm vô đó kêu là tợ đới chất. Thì chính hai cái này mới đưa tới giải thoát.

Thành ra chúng ta nhờ cái chân tỷ ỉượng này, cái tợ đới chất này để rồi chúng ta biết rằng có một cảnh giới là chân hiện lượng và không có hình tướng là tánh cảnh, thì chúng ta đi tới Niết Bàn giải thoát vậy

Thì chính anh chân tỷ lượng này tợ đới chất này tức là Te Thiên vậy, nhờ ảnh mà chúng ta mới giải thoát luân hồi sanh tử. Nhưng mà cũng chính ảnh, ảnh đi tới độc ảnh cảnh có xen tình cảm rồi, chúng ta mới luân hồi sanh tử.

Thì bây giờ chúng ta tập đi vầo chân tỷ lượng, tợ đới chất để rồi chúng ta nhận ra tánh cảnh vậy. Nam Mô Phật!

Như vậy là chúng ta tiếp tục. Như vậy là chúng ta hiểu cái chân tỷ lượng tợ đới chất, với tợ tỷ lượng độc ảnh cảnh rồi hen. Thì bây giờ chúng ta đi tới cái vô ký.

Chúng ta thấy ở đây, cái vô ký này thì nó bị cải sửa thành ra thiện ác, bên xao động đó. Còn nếu bên đứng lặng, thì cái vô ký nó thuộc về bình thường thôi, nó không thiện mà không ác, nhưng mà khi có xao động này qua rồi thì nó có thiện ác, nó sửa thành thiện ác.

Còn cái bất lạc bất khổ thọ, thì bên đứng lặng của thức thứ 6 thuộc về bình thường, nhưng mà nó sửa lại thành ra siêu thường, sửa lại thành ra siêu thường, hoặc lạc thọ khổ thọ, thành ra nó có thiện ác mà có vô ký luôn.

Thành ra một tứ thiền của sắc giới, tôi nói tức là tứ thiền trong tứ thiền đấy, là cái thiền thứ tư của sắc giới, và bốn vô sắc giới, thì thuộc thế giới của đới chất và trộn lẫn dung thông với thế giới của tánh cảnh một cách rất là viên dung mà không chướng ngại, chữ không là không chướng ngại, chữ dung là trộn lẫn, trộn lẫn một cách không chướng ngại, tức là khó mà biết cái bất lạc bất khổ thọ của tứ thiền, hư không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng là thế giới thật hay là thế giới tợ đới chất, bởi vì nó vừa tợ mà nó vừa thật.

Bây giờ tôi nói về cái tiến trình để chư phật tử biết.

Thì chúng ta thấy cái tiến trình của xao động là tiến trình của tiến hóa, tiến hóa tức là bỏ cái ác lên cái thiện, bỏ cái xấu lên cái tốt, bỏ từ từ, rồi nhận thấy cái bỏ này lên cái tốt thì còn cái tốt cao hơn nữa, thì bỏ cái này lên cái nữa, cứ như vậy, đó là kêu thế giới của xao động, nhưng mà cái cốt lõi của nó là xao động, thì nó bỏ càng ngày càng bót xao động, nhưng mà cuối cùng cũng ở trong cái cốt lõi của xao động, cái lầm của ngoại đạo là vậy.

Thành ra nếu chúng ta tu theo con đường xao động, thì đi tới cái vi tế của xao động nhất là phi tưởng phi phi tưởng, cũng là một hình thức của xao động, xao động trá hình. Chúng ta phải hiểu như vậy.

Thành ra chúng ta phải đi ngay từ cái đứng lặng, thì cuối cùng chúng ta mới được cái đứng lặng hoàn toàn, tức là cảnh giới thật sự là cảnh vô tướng.

Còn nếu chúng ta đi cái xao động của hình tướng, thì đỉ tới một hình tướng vỉ tế, thì đó vẫn là một hình tướng mà thôi.

Chư phật tử phải biết ngoại đạo với Đạo Phật khác nhau chỗ đó.

Thì chúng ta thấy, như:

Địa ngục là một cảnh giới, nói về cái tâm nha, cho nó dễ hiểu, là nặng về si mê. Si mê là gì? Là một trạng thái điên đảo, lấy thiện làm ác, lấy phải làm quấy, lấy tốt làm xấu, thì chúng ta thấy là mất luôn cái biết.

Rồi từ đó mới bò lên, bắt đầu có cái tham, cái tham là cái chiếm hữu tất cả ngũ dục, tất cả về cho mình, mà chúng ta lại thấy càng tham chừng nào chúng ta càng điên đảo chừng nấy, mà bớt tham thì chúng ta bớt điên đảo, rồi chúng ta bỏ cái điên đảo để chúng ta đi với cái tham, bớt đi cái điên đảo.

Rồi chúng ta thấy cái tham này nó nặng, còn cái sân nó nhẹ hon, thành ra chúng ta bỏ tham, chúng ta đi vào cái sân, tức là giận dỗi một chút thôi, rồi biết rằng cái chiếm hữu mình là sai, thành ra cái giận dỗi nó nhẹ hơn cái tham.

Thành ra chúng ta mới thấy cái tham dục, tứ thiền mới trừ đuợc; còn cái sân mới nhị thiền, hỷ là đè nén được cái sân rồi.

Còn ở đây chúng ta thấy rồi tới loài súc sanh, thì chúng ta thấy sống về cái sân, cái sân nó nhẹ hơn ngạ quỷ, ngạ quỷ là cỏ cây nó chưa có biết giận, loài thú thì sống về cái giận, cái lì lợm nhiều hơn.

Tới atula thì bớt giận, nhưng mà còn cái nóng nảy, cái tranh đua.

Tới loài người 5 thiện 5 ác.

Thì tới cõi trời chiếm hữu nó nhẹ đi, tức là chiếm hữu bên ngoài, nhưng mà không có sự giao cấu mà bầy hầy như cõi người và bốn đường ác.

Rồi tới cõi trời sắc giới, chúng ta thấy là không có chiếm hữu bên ngoài nữa, mà chiếm hữu bên trong của xác thân mình, không ai giành được hết. Tôi nhập vào so thiền, thì bây giờ ai muốn giành sơ thiền tôi là giành không được. Cỏn nếu tôi có vợ, thì tất nhiên vợ tôi có thể lấy trai, hoặc người khác chiếm hữu, tôi có cái nhà, cái nhà có thể bị người khác chiếm hữu. Còn bây giờ cái sơ thiền của tôi thì không ai xen vào trong đó được hết, một mình tôi cảm giác, một mình tôi hưởng lạc trong đó. Nhưng mà tôi thấy sơ thiền là cái ly dục sanh hỷ lạc, ly sanh hỷ lạc thì tôi thấy thô tháo quá, bây giờ mình tiến thêm một cái nữa, cho định sanh hỷ lạc cho khỏe hơn, không cần phải chăn trâu mà phải cầm cái vàm giựt với con trâu, tranh giành nó, hoặc thảy cái vàm còn phải theo dõi, bây giờ không cần phải theo dõi, luôn luôn nó đi sát với mình, thành ra định sanh hỷ lạc là cao hơn. Rồi định sanh hỷ lạc tôi thấy có hỷ có lạc còn kẹt quá, bây giờ bỏ cái hỷ đi, ly hỷ diệu lạc, chìm đắm trong trạng thái đó, mà mất đỉ con người chỉ còn trạng thái lạc thôi.

Mà tôi thấy nếu cỏn lạc thì tất nhiên còn tham đắm, bây giờ bỏ luôn cái lạc, ở trong trạng thái bất lạc bất khổ thọ, bất lạc bất khổ thọ thì trạng thái này quá cao, gần như là không có thân, đã mất luôn hơi thở, mất luôn con người nữa, thì dường như không thân, nhưng mà mới vừa giai đoạn chớm nở để chuyển qua không thân. Thì không thân ỉà cái gì? Là hư không. Chúng ta thấy hư không là rộng hết, không có gì ra ngoài hư không hết, tất cả sự vật gì cũng nằm trong hư không, không có hư không là không có gì hết, thành ra chúng ta thấy hư không là cao nhất, không có xác thân nữa, mà lấy cái hư không làm xác thân, lấy cái hư không làm cái tâm, lấy cái hư không làm cảnh giới, thành ra nhận thức cũng là hư không, mà đối tượng nhận thức cũng là hư không, mà sống với hoàn cảnh xung quanh cũng là hư không, thì chúng ta thấy nó quá cao, nhưng nên nhớ hư không này không phải là hư không của võ trụ, nó thoáng thấy hư không võ trụ, rồi nó bắt đầu in lên chụp mũ lên đó tạo ra một cái hư không của nội chế, của sản phẩm nội chế chớ không phải sản phẩm của võ trụ nữa. Rồi nó thấy cái hư không này, khi mà nó thăng hoa cái nhận thức lên cao, tập trung kỹ tập trung lâu và tập trung sâu nữa thì nó thấy được cái không có hư không, hư không bị hóa giải vào thời gian, không gian bị hóa giải vào thời gian, chỉ còn cái khe hở chớ không có khoảng cách nữa, thì nó thấy cái này cao quá, nó mới đi qua thức vô biên, thức vô biên noi đó chẳng có hư không, mà hư không bị hóa giải vào thời gian, tức là thức vô biên xứ, đó là thức alaya của võ trụ thoáng thấy được cái đó thì bắt đầu chụp mũ lên đó tạo ra cái thức vô biên của nội chế, để rồi lấy cái thức vô biên nội chế, để rồi lấy thức vô biên nội chế làm đối tượng của mình, để mình chìm đắm trong đó.

Thành ra chúng ta thấy anh Te Thiên này độc đáo, ảnh thấy được cái gì là tất nhiên ảnh cải sửa, ảnh nội chế liền, giống hệt như cái đó để anh nương vào đó, trạng thái này chúng ta thường có mà chúng ta không hay biết.

Hôm trước tôi đã nói, thí dụ mình đi Đà Lạt hồi đó tới giờ mình chưa thấy Đà Lạt, mình thấy suối, thác Pongour đẹp quá, thì mình thấy nó là thế giới tánh cảnh đấy, thì mình thoáng thấy thế giới tánh cảnh, mình thấy nó chuyển biến mới lạ, mình thấy một niềm vui lâng lâng vô cùng, nhưng mà sau đó tùy theo định lực, có người 5 phút, 1-2 tiếng, nếu định lực yếu, có người 1-2 ngày là bắt đầu là alaya thức nó có cảnh đó rồi, nó mới bắt đầu cung cấp chất liệu cho thức thứ 6, thức thứ 6 mới chụp mũ in lên trên cái hình ảnh giống hệt như hình ảnh đó, đây là cai thác Pongour nội chế, chớ không phải là thác Pongour của võ trụ nữa, không phải là cộng nghiệp của loài người nữa, nhưng mà bắt đầu cái biệt nghiệp riêng của cá nhân đã xen vào đó, nhưng mà chưa có tình cảm thôi, nhưng mà cái này là thế giới của đới chất chớ không còn là thế giới tánh cảnh nữa, thế giới của cộng nghiệp của 6-7 tỷ người của loài người trên quả địa cầu này, chớ không còn thế giới mới lạ hồi đầu của tánh cảnh chớp nhoáng nữa. Thành ra chúng ta sống với hàng hóa nội chế mà chúng ta không hay, cái độc đáo của nó vậy đó.

Rồi khi mà thức thứ 6 như vậy nó tập trung kỹ, tập trung lâu, tập trung sâu vào trong đó nữa, nó nâng cái nhận thức lên cao nữa, nó thấy được cái bất biến, thoáng thấy đưọc một cái vùng hào quang mà không có chớp nhoáng, đứng lặng hoàn toàn bất biến, thì nó cho cái này là vô sở hữu xứ, tức là vô sở hữu xứ của võ trụ, thì lập tức sau đó nó lại chụp mũ, nó in lên trên đó theo cái tư tưởng của nó nữa, thì vô sở hữu xứ của cá nhân, của alaya cá nhân của chúng ta. Rồi nó trung kỹ tập tập trung lâu tập trung sâu vào đó nữa, thì nó thoáng thấy rằng cái vùng hào quang này chuyển biến chậm lại, tức là phi tưởng, có lúc dường như không có tư tưỏng, mà có lúc dường như có tư tưởng, xin thưa cái này tôi tham thiền thôi, chớ tôi không có chứng nhập, cái này tứ thiền tôi có đi qua, nhưng mà tứ không này tôi tưởng tượng, tôi cũng suy nghĩ thôi, theo tôi thấy phải giải thích như vậy, chớ không có cách giải thích nào hết. Thì nó thấy rằng có lúc vùng hào quang này đứng lặng, có lúc nó chuyển biến chậm lại, mà đứng lặng thì dường như không có tư tưởng, nhưng mà chuyển biến chậm lại dường như có tư tưởng, thành ra gọi là phi tưởng, là chẳng có tư tưởng, đứng lặng hoàn toàn, nhưng mà phi phi tưởng chẳng phải là không có tư tưởng đâu, vẫn có hiện hình.

Thành ra chúng ta thường nói cảnh giới: cái thứ nhất đó là hư không vô biên, cái thứ hai thức vô biên là alaya thức, cái thứ ba vô sở hữu xứ tức là chân như, cái thứ tư phi tưởng phi phi tưởng tức là chân như, chân không mà diệu hữu, nhưng mà cái này là do sản phẩm của tư tưởng tạo ra, nó thoáng thấy loáng nhoáng cái thực tướng của võ trụ, rồi nó tạo ra cái cảnh giới đó để in vào đó.

Thì chúng ta học Duy thức chúng ta thỉnh thoảng đi vào cảnh mới lạ, chúng ta để ý, chúng ta thấy có như vậy, chúng ta sống đó 1-2 ngày chúng ta thấy cũng cỏn thích thú lắm, nhưng mà 5-7 bữa chúng ta bắt đầu nhàm chán, cảnh này không còn gì đẹp, không cỏn gì mới lạ nữa, nhất là khi đặt chân vừa tới đó là chúng ta thấy hoàn toàn một cảnh mới lạ, hoàn toàn là tánh cảnh, nhưng mà khi cái tánh cảnh lọt vào trong alaya rồi, alaya cung cấp chất liệu, thì cỏn là đới chất thôi, không còn là tánh cảnh nữa.

Chúng ta phải hiểu như vậy, chúng ta có trạng thái đó mà chúng ta không hay biết gì hết, nếu không học Duy thức.

Đó là tôi nói về cái thế giới của thức thứ 6 đấy, đó là nó như vậy. Thành ra nói là cái một của tứ thiền sắc giới, và bốn vô sắc giới là chỗ đó, cái cảnh này với cái tánh cảnh của bất lạc bất khổ thọ bình thường này nó đưa tới cái siêu thường, nhưng sửa lại cái bình thường này tức là cái bất lạc bất khổ thọ thật sự của tánh cảnh sửa lại thành ra siêu thường, siêu thường tức là một trạng thái lạc thọ mà chúng ta không hề biết của tứ thiền tứ không, nhưng mà nó thuộc về bất lạc bất khổ thọ, nó giống giống như là cái bất lạc bất khổ thọ bình thường của đứng lặng, nhưng mà thật sự nó không phải đứng lặng, nó đã xao động rồi, nhưng xao động rất vi tế, thành ra tôi kêu là siêu thường. Cái này tôi thêm nha, chư phật tử coi chừng, nếu không thêm là chúng ta giảng không chạy, còn trong Duy thức chỉ đề là trạng thái đứng lặng bất lạc bất khổ thọ thôi, là xả thọ thôi. Thì alaya cũng xả thọ, mà 5 thức đầu cũng xả thọ, mà thức thứ 6 cũng xả thọ, nhưng mà tôi thấy giảng vậy nó kẹt, nếu mà xả thọ mấy cái này một thứ thì làm sao giảng được, còn nếu nói khác không lẽ có nhiều cái xả thọ sao. Thành ra chúng ta thấy thức thứ 8 nó xả thọ khác, nó khác mà không khác với 5 thức đầu, còn 5 thức đầu cái xả thọ nó khác mà không khác với thức thứ 6, thành ra ba cái này không khác mà cũng không phải là không khác, nó xuống cấp thôi. Còn qua xả thọ của tứ thiền là cái xao động thì nó cũng không khác, nhưng mà khác với ba cái kia, nhưng mà khác nhiều á, bị vì ba cái kia mặc dù nó xuống cấp nhưng mà nó vẫn đứng lặng, còn cái bất lạc bất khổ thọ của tứ thiền và tứ vô sắc giới này thì nó thuộc về bất lạc bất khổ thọ nhưng mà xao động, tức là nó là một cái trá hình của lạc thọ, còn cái kia thật sự là bất lạc, cái này là cái trá hình, nó vi tế quá đến đỗi chúng ta không biết nó là xao động, bị vì nó vừa thấy được tánh cảnh là nó chế hàng nội hóa giống hệt như vậy, chúng ta bây giờ kêu là hàng giả đấy. Thí dụ dầu xanh, thì tôi thấy dầu xanh bán chạy quá, tôi muốn chế ra dầu xanh, thì nhãn hiệu y hệt, nếu ai không từng xài qua dầu xanh thì không nhận ra đồ giả, nó giống hệt như vậy, nhưng mà thật sự nó là giả, tức là chất liệu nó không phải là dầu xanh, nhưng mà cái nhãn bên ngoài, cái chai giống hệt, chúng ta không phân biệt được, hay là nếu lấy chai cũ, dầu xanh mà tôi xài hết rồi, giờ tôi để dầu khác vô, thì chúng ta nhìn không phân biệt ra, nhưng mà thật sự nó không phải dầu xanh, nếu mà nhìn ở ngoài thì nó giống hệt như vậy, thành ra khó mà phân biệt, kêu là dung thông, thông là không chướng ngại dung là trộn lẫn, trộn lẫn một cách không chướng ngại gì hết, mà nếu chúng ta không qua cái đứng lặng thì chúng ta không nhận ra được nó. Thành ra thường thường cõi tứ thiền với tứ không này nhận mình là Alahán, Alahán, mà thật sự nó tương đương với Alahán đấy, tương tợ với Alahán, đừng có đụng nó thôi, đừng đụng tới nó, đụng tới nó thì tương chao đổ tùm lum, cỏn để yên lặng vậy nó không khác với Alahán, cái định lực cái trong trẻo cái yên lặng của nó cái bình an của nó y hệt như Alahán, nhưng mà khi qua đụng cảnh thì mới biết, thì nó khác vậy thôi, giống như hai ly nước mà tôi nói hôm trước.

Rồi bây giờ cái thức thứ 6 này đó nó mới sửa cái đứng lặng của thức thứ 6, như tôi nói hồi nãy là bất lạc bất khổ thọ bình thường thành ra thêm một cái siêu thường nữa, rồi bây giờ nó mới chạy xuống, bởi vì nó dung thông mà, nó mới đi xuống 5 thức đầu, thì bây giờ mới sửa cái hư minh le lói chiếu soi, còn kêu là phóng dật trong 10 kiết sử đấy, để rồi chúng ta biết qua Kinh Sáu Sáu, sửa ra thành thọ uẩn, hư minh le lói chiếu soi cỏn hay là phóng dật thành ra thọ uẩn, tức là có lạc thọ và khổ thọ, có lạc thọ và khổ thọ. Thì chúng ta để ý cái chỗ này hén, cái này tôi thêm thôi, là cái lạc thọ khổ thọ của thức thứ 6 mà bên xao động thì tôi đề: lạc thọ, khổ thọ, có hỷ, có ưu, tức là bốn thọ hết thảy, thêm cái bất lạc nữa là năm thọ. Còn bên lạc thọ khổ thọ của 5 thức đầu thì không có hỷ uu, mà chỉ có lạc thọ khổ thọ thôi.

Cái này trong Duy thức ghi lờ mờ, trong Duy thức thì thức thứ 6 thì không có ghi lạc thọ khổ thọ hỷ ưu gì hết, nhưng mà tôi thêm vô, tôi thấy nó phải đủ bốn cái.

Còn 5 thức đầu thì nó chỉ có lạc thọ khổ thọ thôi, tự nó thì nó chỉ là bất lạc bất khổ thọ thôi, nhưng mà khi thức thứ 6 chụp mũ xuống thành ra thọ uẩn, hồi nãy nó là hư minh le lói chiếu soi, nó đứng lặng làm gì có lạc có thọ, nhưng mà khi thành ra thọ uẩn rồi thì nó có lạc và có khổ, chớ còn không có hỷ không có ưu. Tại sao vậy? Đố chư phật tử biết?

Cái này tôi tham thiền cũng muốn chết đấy. Thì trong Duy thức chỉ có nói: 5 thức đầu có lạc thọ có khổ thọ, nhưng mà không có nói tới hỷ ưu. Còn thức thứ 6 không có lạc thọ khổ thọ mà cũng không hỷ ưu nữa. Nhưng mà tôi thấy thức thứ 6 nó bốn cái.

Tại sao vậy chư phật tử biết không? Cái này phải tham thiền cho kỹ thì chúng ta mới biết, là bởi vì cái thức thứ 6, cái mặt trăng thứ ba này đó nó đứng lặng mà nó đã chậm quá rồi, nó đã muốn hiện hình rồi, thành ra thức thứ 6 xao động có thể sửa nó thành ra hỷ ưu, thêm hai cái nữa.

Còn 5 thức đầu, xin thưa nó chuyển biến còn quá nhanh, nó là mặt trăng thứ hai thôi, thành ra thức thứ 6 xao động này không thể cải sửa được, mà chỉ có thể cải sửa được lạc thọ với khổ thọ thôi, bởi vì hỷ ưu là đi xuống cấp nữa rồi.

Chúng ta nên nhớ, cái lạc thọ đó là chìm đắm trong trạng thái chỉ có cái lạc thọ mà không có người lạc thọ, thì kêu đó là thọ lạc, tức là trạng thái tam thiền đấy; còn hỷ đây đã vọng hóa nữa rồi, là có người hỷ và có đối tượng được hỷ; cỏn cái lạc thì người lạc biến mất chỉ còn trạng thái lạc thôi.

Thành ra chúng ta thấy rằng thức thứ 6 này nó xao động nhưng mà nó cải sửa 5 thức đầu không được, chỉ cải sửa được phân nửa thôi, tức là cải sửa thành ra chụp mũ in lên cái lạc thọ thôi; còn cái hỷ là không in được, cái hỷ nó đã quá tệ, chỉ có in vào cái hiện lượng tánh cảnh, cái đứng lặng của thức thứ 6 thôi, còn cái đứng lặng của 5 thức đầu nó chuyển biến quá nhanh, bị vì nó là mặt trăng thứ hai mà, thành ra nơi đây nó chỉ có lạc thọ khổ thọ chớ không có hỷ ưu. Cái này là cái đề nghị riêng của tôi, chư phật tử tham thiền, nếu thấy đúng thì nhận, còn không đúng thì bác bỏ, thì cứ tu tập rồi chúng ta sẽ thấy trong đó, hén. Là chúng ta hiểu rồi hen.

Thành ra thức thứ 6 phần xao động nó có lạc khổ hỷ ưu.

Còn qua phần 5 thức đầu nó chỉ chụp mũ được có lạc thọ khổ thọ thôi. Lý do tôi đã giải thích rồi. Sau này chúng ta đi vào Kinh Sáu Sáu nó mới sáng tỏ hơn, hén. Thì đó, bây giờ hư minh le lói chiếu soi phóng dật bị chụp mũ có lạc thọ khổ thọ thì mới kêu là thọ uẩn, kêu là thọ uẩn.

Rồi bây giờ nó mới chụp mũ xuống nữa. Mà chúng ta nhớ thức thứ 6 càng vọng hóa càng xuống thấp thì lại càng thô tháo, thành ra ở thức thứ 6 thô tháo rồi, 5 thức đầu thô tháo thêm nữa, thành ra bắt đầu nó xuống về tình nhiều hơn, nhưng mà tới sắc uẩn nó mất luôn cảm giác, quá thô tháo thì nó biến cái vọng tưởng kiên cố này là thành sắc uẩn, vọng tưởng kiên cố là muốn làm sao cho có hình, bây giờ nó chụp mũ thành có tướng luôn, nhưng mà mất luôn cái biết, mất luôn cái cảm giác, thành ra kêu đó là sắc uẩn, tức là chỉ có vật lý và phân nửa sinh lý mà thôi, cỏn cái thọ uẩn là sinh lý, mà bắt đầu đi qua phân nửa tâm lý. Còn thức thứ 6 là tâm lý rặc ròng và bắt đầu qua tánh cảnh. Thì cái sự liên kết nó chặt chẽ như vậy.

Tôi nói lại. Cái sắc uẩn là hoàn toàn vật lý, nhưng mà bắt đầu tiến hóa một phần nào của sinh lý. Chúng ta phân biệt vật lý với sinh lý không, hôm trước tôi có giảng rồi, phải không? Vật lý là hoàn toàn chưa có cái biết, sinh lý tức là những cảm giác dây thần kinh bắt đầu muốn có cảm giác, nhưng mà chưa có, chẳng hạn như dây thần kinh thị giác nó thuộc sinh lý, còn cục đá khúc cây cái nhà này thuộc vật lý, dây thần kinh cảm giác thì nó chưa có cái biết, nhưng mà nó phát hiện ra cảm giác, nó là cơ quan để phát hiện ra cảm giác, chúng ta học Duy thức phải cho rành đấy, thành ra sinh lý không phải là vật lý, nhưng mà nó phân nửa vật lý phân nửa tâm lý, thành ra nó giữa vật lý giữa tâm lý nói nó là cái biết là không đúng, mà nó là cơ quan để phát hiện cái biết mà chưa phân biệt, coi chừng nhen, học cái này nó khó à. Rồi bây giờ chúng ta thấy: có sắc uẩn, có thọ uẩn, có tưởng uẩn, có hành uẩn, có thức uẩn, thì đây trên phương diện xao động mà thôi.

Thành ra thức uẩn, thì mạtna mới chui vào đó, moi trong đó để cung cấp cho thức thứ 6 những cái chất liệu, thì chất liệu này thức thứ 6 mới chụp mũ in lên cái đứng lặng của 5 thức đầu, và cái vọng tuởng kiên cố để điều khiển tạo nghiệp trong cuộc sống của chúng ta, thì khi 5 thức đầu và cái đứng lặng này tạo nghiệp rồi thì mới đưa qua tưởng uẩn, tưởng uẩn mới đưa qua thức thứ 7 là mạtna, mạtna mới chứa vào trong kho alaya là thức uẩn, thì kêu đó là huân tập, rồi từ đó chúng ta mới hiện hành rồi tới huân tập, mà chúng ta không hề hay rằng có phần đứng lặng nằm ở trên đó làm cái nền tảng cho tất cả cái xao động này phát hiện.

Nói thế có hiểu không? Có lẹ quá không?

Thì bây giờ trước khi đi vào đó, chúng ta lấy cái bản thứ hai nữa, tôi giảng luôn. Cái bản thứ hai là bản về 5 thức đầu, thức thứ 6, thức thứ 7 và thức thứ 8 đấy. Hết giờ rồi, thôi kỳ tới đi, hết giờ rồi, tôi mệt quá, tôi giảng không nỗi nữa. Cái này kỳ tới tôi giảng một cái nữa rồi chúng ta qua bài Kinh Sáu Sáu, cái này giải thích cho rõ thêm cái bản đồ vô chất tánh và hữu chất tánh thôi, nhưng mà cái này tôi tóm lại thôi, nhưng mà có nhiều cái chúng ta thêm, để chúng ta cần phải biết. Thì về nhà coi trước coi hén, coi 5 thức đầu, thức thứ 6, thức thứ 7 và thức thứ 8. Chư phật tử có hết phải không? về nhà coi trước, nó liên can tới vô chất tánh và hữu chất tánh, cái này nó giải thích rõ thêm, nó đúc kết lại cho nó rõ ràng hon, hai cái bản này, thì xong hai cái bản này chúng ta mới đi vào bài Kinh Sáu Sáu một cách dễ dàng thôi. Tôi giảng dễ, mà chư phật tử cũng dễ hiểu nữa, rồi chúng ta tu tập theo đó, chúng ta đắc quả Alahán ngay trong kiếp này. Mà tôi mong cầu chỉ đắc quả Nhập lưu thôi.

Thì thôi, đến đây xin tạm ngưng. Có ai hỏi gì không? Còn 15-20 phút nữa.