Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Quyển Thượng

Phẩm Thứ Nhất:

Thần Thông Trên Cung Trời Ðao Lợi

Ðây là phẩm mở đầu của Kinh Ðịa Tạng. “Ðao Lợi” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “tam thập tam”, tức là chỉ cõi trời Ba Mươi Ba. Như thế, có phải trời Ðao Lợi nằm ở tầng thứ ba mươi ba không? Không phải! Tuy gọi là cõi trời “Ba Mươi Ba”, nhưng đó không phải do đếm từ dưới lên trên theo thứ tự, như tầng trời thứ nhất, tầng trời thứ hai, rồi đến tầng trời thứ ba,… cho tới tầng trời thứ ba mươi ba. Vậy thì như thế nào? Cõi trời Ba Mươi Ba này vốn nằm chính giữa, và ở bốn phía đông tây nam bắc của cõi trời này thì mỗi phía lại có tám cõi trời. Do đó, tổng cộng có ba mươi hai cõi trời phân bố chung quanh cõi trời Ba Mươi Ba.

Thiên chủ của cõi trời Ba Mươi Ba là Ðế Thích. Trong Kinh A Di Ðà có nói đến “Thích Ðề Hoàn Nhân”, tức là vị Ðế Thích này vậy. Ngoài ra, trong Chú Lăng Nghiêm có câu “Nam Mô Nhân Ðà La Da”, thì Nhân Ðà La Da cũng chính là Thiên Chủ Ðế Thích. Ở cõi trời thì Ðế Thích là một vị Thiên Chủ; còn trong Phật Giáo thì Ngài là một vị Hộ Pháp – Ngài chẳng những không được làm chủ mà ngay cả tòa sen để ngồi cũng không có nữa, Ngài chỉ đứng ở ngưỡng cửa mà thôi!

Thiên Chủ Ðế Thích cũng chính là đấng “Thượng Ðế Vạn Năng” mà người đời thường xưng tụng. Ðúng vậy, Ðế Thích quả là một “đấng vạn năng” – Ngài cai quản tất cả mọi việc ở cõi trời cũng như ở cõi người. Tuy nhiên, giữa Ngài và người thế gian chúng ta chẳng có gì khác biệt lắm. Vì sao? Vì Ngài vẫn còn tâm dâm dục, và vẫn cần ăn uống, ngủ nghỉ; có khác chăng là ba thứ dục vọng ấy ở Ngài thì nhẹ và tinh tế, chứ không nặng nề và thô thiển như ở phàm phu chúng ta! Người thế gian chúng ta chỉ không ăn không uống vài bữa là chịu không nổi, vài ngày không dâm dục là cảm thấy khó chịu, vài hôm không ngủ nghỉ là thấy uể oải, bạc nhược. Còn Trời Ðế Thích thì một trăm ngày không ăn cũng được; thậm chí hai trăm ngày, ba trăm ngày, hoặc một năm mới ăn một lần cũng chẳng sao; suốt năm không ngủ cũng vẫn tỉnh táo như thường, và quanh năm không dâm dục cũng chẳng lấy làm phiền – tuy nhiên, Ngài vẫn chưa đoạn trừ được dục vọng.

Tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Ðao Lợi là một ngàn năm. Một trăm năm của cõi nhân gian chúng ta chỉ là một ngày một đêm ở cõi trời Ðao Lợi. Vậy, quý vị thử tính xem, so với người thế gian chúng ta thì thọ mạng của chư thiên lâu hơn được bao nhiêu năm?

Cõi trời Ðao Lợi rộng tám vạn do-tuần; tất cả tường vách của thành trì nơi đây đều được làm bằng bảy thứ báu. Thành trì của Thiên Chủ Ðao Lợi Thiên là Thiện Kiến Thành, rộng sáu vạn do-tuần; và tất cả cung điện đều được xây bằng những vật liệu quý báu nhất. Ðây cũng là lý do khiến Thiên Chủ Ðế Thích sau khi được sanh về đó rồi thì chỉ muốn ở lại làm chúa trời, chứ không muốn “dọn nhà” đi nơi khác! Mọi thứ xung quanh Ðế Thích toàn làm bằng châu báu; ngay cả nhà cửa phòng ốc cũng được kiến tạo bằng những vật liệu vô cùng quý giá.

Vì được sống ở một nơi đẹp đẽ với những cung điện tráng lệ như thế, nên Ðế Thích khó thể dứt bỏ dục tâm. Ngài lấy làm thỏa mãn, an nhiên hưởng thụ phước trời, và cho rằng đó là nơi vui sướng nhất. Chẳng những thế, Ngài còn kêu gọi tất cả chúng sanh hãy sanh về “thiên quốc” – thế giới của Ngài. Ðối với Ngài, cõi trời Ðao Lợi là một thế giới đầy vui thú; do đó, ai thích thì cứ đến ở, Ngài sẵn lòng hoan nghênh tất cả. Ngài cho rằng Ngài rất khảng khái, rộng lượng, vì lúc nào cũng hoan hỷ nghênh đón mọi người đến ở và cùng an hưởng phước lạc của cõi trời với Ngài; song le, Ngài không biết rằng sở dĩ bản thân mình chưa thoát khỏi vòng sanh tử là bởi mình còn tham đắm dục lạc!

Vì sao Ngài được làm Thiên Chủ? Có phải là trước tiên thì làm Ðịa Chủ (chúa đất), rồi sau đó được thăng chức làm Thiên Chủ (chúa trời)? (Ở Quảng Châu, Trung Hoa, hầu như nhà nào cũng có thờ Ðịa Chủ cả.) Hay là phải từ địa vị Ðịa Chủ rồi lên Nhân Chủ (chúa nhân gian), sau đó mới từ Nhân Chủ mà thăng lên làm Thiên Chủ? Không phải! Thế thì nhờ đâu mà Ngài được làm Thiên Chủ?

Vào thời Ðức Phật Ca Diếp, vị chúa trời Ðế Thích này là một người con gái từng phát tâm xây cất ngôi tháp thờ Phật Ca Diếp. Do nhân duyên gì mà cô phát tâm như thế? Thuở ấy, nhân thấy một ngôi miếu đổ nát, mất nóc, và trong miếu có pho tượng Phật đã bị mưa gió làm loang lổ lớp vàng thếp trên mặt, cô cảm thấy rất đau lòng: “Chao ôi! Tượng Phật này đã bị nhện giăng bụi bám, bây giờ lại còn phải chịu cảnh gió táp mưa sa, tôi thật không đành lòng!”. Thế là cô ta phát tâm sửa sang ngôi cổ miếu ấy lại cho trang nghiêm. Tuy nhiên, vì không có tiền, cô ta bèn tìm đến bạn bè và những người thân thuộc, nói với họ rằng: “Tôi muốn xây dựng lại ngôi cổ miếu nọ nhưng không có tiền, chẳng hay quý vị có thể giúp tôi một tay không? Quý vị ai có người thân thì kêu gọi người thân, ai có bạn bè thì kêu gọi bạn bè; chúng ta hãy hợp lực để làm một việc từ thiện, cùng nhau trùng tu ngôi cổ miếu này.”

Bạn bè và bà con quyến thuộc của cô gái này đều hăng hái hưởng ứng: “Ðược, tất cả chúng ta hãy hợp tác để trùng tu ngôi cổ miếu!”. Cô ta tìm được ba mươi hai người có cùng một tâm nguyện với mình, và có lẽ tất cả đều là nữ giới. (Ðiều này không thể kiểm chứng qua lịch sử, cũng chẳng thể tra cứu ở đâu được!) Cho dù có phái nam tham gia thì con số cũng rất ít; vì sao ư? Vì nam giới thường tự cho là mình tài giỏi, không thích việc xây chùa dựng tháp, lại còn bảo rằng họ nhường công việc đó cho phái nữ!

Sau khi cô gái khởi xướng và ba mươi hai người nữ ấy hoàn tất việc trùng tu ngôi cổ miếu, họ còn cùng nhau cất thêm một bảo tháp nữa. Họ cứ kẻ góp công người góp của, ai nấy đều tùy theo khả năng của mình mà góp phần, nhờ đó việc xây dựng ngôi bảo tháp cũng được thành tựu viên mãn. Ðến khi thọ mạng của ba mươi ba người này đã hết, tất cả đều được sanh lên cõi trời. Lên trời thì mỗi người một cõi, cho nên ba mươi ba người thì có ba mươi ba cõi trời. Vị Thiên Chủ của cõi trời trung ương Ba Mươi Ba – Ðao Lợi Thiên – là Ðế Thích, tức là cô gái khởi xướng việc trùng tu ngôi cổ miếu thuở trước. Ðó là sự tích của cung trời Ðao Lợi.

“Trời” có nghĩa là gì? Không có nghĩa gì cả; bởi nếu có nghĩa thì đã không gọi là “trời”! Vì sao không có nghĩa? “Trời” lấy “tự nhiên” làm nghĩa; “tự nhiên” là ý nghĩa của “trời”. Những cõi trời này là do nghiệp báo, nghiệp lực của ba mươi ba người ấy cảm ứng mà hóa hiện ra. Nếu không có ba mươi ba người ấy, thì ba mươi ba cõi trời này cũng chẳng hiện hữu; cho nên tôi nói “trời” không có ý nghĩa là vì vậy. Ước vọng được lên cõi trời là một điều không có ý nghĩa, do đó chúng ta không nên cầu mong được đến ba mươi ba cõi trời ấy.

“Cung” tức là cung điện với lối kiến trúc nguy nga tráng lệ, vô cùng xinh đẹp. Tại Trung Quốc cũng còn một vài cung điện, song cung điện ở cõi trời thì tráng lệ và đẹp đẽ hơn, lộng lẫy không thể nói hết.

“Thần Thông”. Thế nào gọi là “thần”? Thế nào gọi là “thông”? “Thần” là “thiên tâm”, là tâm của trời; “thông” là “huệ tánh”, tức là có trí huệ. “Thông” còn là “thông đạt vô ngại” – chẳng có gì không thông suốt; và “thần” cũng hàm ý thần kỳ bí ẩn.

Thần thông có sáu loại – sáu loại cũng là một loại, một loại mà phân làm sáu loại. Cho nên, tách riêng ra thì có tới sáu loại, song hợp lại thì chỉ là một. Thật ra, một loại cũng chẳng có nữa, bởi xưa nay vốn không có thần thông mà vốn cũng có thần thông!

Vì sao nói “vốn không có thần thông”? Vì sao lại nói “vốn cũng có thần thông”? Ðiều này rất kỳ diệu, lý thú. Bây giờ, chúng ta hãy nói về sáu loại thần thông trước, rồi sau đó sẽ bàn đến “vốn là thần thông, vốn không phải là thần thông; vốn là một loại thần thông, vốn là một loại thần thông cũng chẳng có.”

Sáu loại thần thông chính là Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông, Túc Mạng Thông, Lậu Tận Thông, và Thần Túc Thông.

1) Thiên Nhãn Thông. Người chứng được Thiên Nhãn Thông có thể nhìn thấy khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới rõ ràng như nhìn quả am-ma-la trong lòng bàn tay vậy. Trong hàng đệ tử của Phật, Tôn Giả A Na Luật là bậc đứng đầu về Thiên Nhãn Thông.

2) Thiên Nhĩ Thông. Chứng được Thiên Nhĩ Thông thì có thể nghe được mọi âm thanh từ cõi nhân gian cho đến tận ba ngàn đại thiên thế giới, luôn cả các âm thanh của cõi trời.

3) Tha Tâm Thông. Ðây là khả năng đọc được ý nghĩ của người khác. Tất cả những việc mà quý vị dự tính trong đầu, định sẽ thực hiện, thì cho dù quý vị chưa hề thổ lộ với ai cả, nhưng người đã chứng đắc Tha Tâm Thông vẫn có thể biết rõ.

4) Túc Mạng Thông. Người chứng đắc Túc Mạng Thông có khả năng biết được tất cả những việc – thiện cũng như ác – mà quý vị đã tạo tác trong các đời trước.

5) Thần Cảnh Thông (cũng gọi là Thần Túc Thông hoặc Như Ý Thông). Chữ “thần” này đồng nghĩa với chữ “thần” vừa giảng ở trên, và cũng chỉ cho một cảnh giới kỳ diệu, không thể nghĩ bàn. Ý nghĩa của chữ “thần” và chữ “diệu” có đôi chút tương đồng; cho nên có lúc nói “thần diệu khôn lường”, chính là ám chỉ một thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn.

“Cảnh” là cảnh giới; còn “thông” là thông đạt vô ngại, vốn không thông mà lại thông. Thí dụ, bức tường chắn ngang tuy có gây trở ngại, nhưng nếu quý vị khoét một lỗ hổng thì sẽ được thông lưu. Tương tự như thế, “bức tường” vô minh gây chướng ngại, ngăn che ánh sáng quang minh của tự tánh trong chúng ta; song, nếu quý vị có thể dùng “gươm” trí huệ của mình để phá vỡ bức tường đó, thì sẽ được thông suốt ngay.

6) Lậu Tận Thông. Chúng ta vì sao chưa thành Phật? Bởi vì chúng ta vẫn còn “lậu hoặc”! Chúng ta vì sao chưa thể làm Bồ Tát? Bởi vì “lậu hoặc” vẫn tồn tại trong chúng ta! Chính vì lậu hoặc mà chúng ta phải trầm luân trong Tam Giới – Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Chẳng những thế, các lậu hoặc này còn khiến cho chúng ta bị lưu lạc, nổi trôi trong chín Pháp Giới. Chín Pháp Giới là gì? Ðó là chín cõi giới của Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Thiên (Trời), Nhân (Người), A Tu La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh. Chúng sanh trong chín Pháp Giới này chưa thể thành Phật được là vì họ còn có lậu hoặc; nếu không còn lậu hoặc nữa thì nhất định sẽ thành Phật.

Lậu hoặc này do đâu mà có? Chính là do vô minh! Cho nên, hễ diệt trừ được vô minh thì lậu hoặc sẽ không còn nữa; nếu vô minh chưa bị phá hủy thì lậu hoặc vẫn còn tồn tại. Do vậy, người chứng được Lậu Tận Thông chẳng có bao nhiêu. Một khi không còn lậu hoặc thì quý vị sẽ không còn phải trôi lăn trong vòng sanh tử nữa. Tại sao chúng ta vẫn còn luẩn quẩn trong vòng sanh tử? Ðó là vì chúng ta có lậu hoặc! Người có lậu hoặc ví như cái bình bị lủng vậy – quý vị muốn đổ nước cho đầy bình, nhưng nước cứ rỉ ra ngoài theo chỗ lủng, bình không thể giữ được nước. Cho nên, dứt sạch mọi mối lậu tức là được “lậu tận thông” vậy.

Nói rằng con người “vốn không có thần thông”, là ám chỉ lúc chúng ta còn là phàm phu, chưa hiện thần thông. Lại nói rằng con người “xưa nay vốn có thần thông”, bởi y cứ vào quả vị của bậc Thánh nhân mà nói thì thần thông vốn đã có sẵn. Hạng phàm phu thì không có thần thông, bậc Thánh nhân mới có thần thông. Thần thông của Thánh nhân phải chăng là đến từ bên ngoài? Không, đó là có sẵn! Thế thì phàm phu không có thần thông, phải chăng là vì họ đã đánh mất? Cũng không phải, bởi thần thông ấy vẫn tiềm tàng trong tự tánh của phàm phu; chẳng qua là họ chưa phát hiện ra, chưa nhận thức được, nên tưởng rằng mình không có mà thôi! Cho nên, tôi nói “vốn không có thần thông” là vì lẽ ấy.

Có thần thông hay không có thần thông đều chẳng quan trọng. Quý vị chớ lầm tưởng rằng có thần thông tức là đắc Ðạo hoặc chứng được quả vị. Phải biết rằng có được thần thông rồi vẫn còn ở cách sự chứng quả và đắc Ðạo rất xa! Chúng ta không nên mới đạt được đôi chút thành tựu liền tự mãn: ” – , phen này tôi phát tài rồi!” Mới có được một lượng vàng mà đã reo mừng rối rít, cho là mình phát tài; trong khi người ta có tới hàng ngàn hàng vạn lượng vàng thì lại không hề khoe khoang, vẫn bình thản như không có gì cả vậy! So với người ta thì việc mình có được một lượng vàng có gì là to tát đâu? Có câu:

“Ðắc thiểu vi túc, trung đạo tự hoạch”.

Những kẻ chỉ mới gặt hái được một vài thành quả nhỏ nhoi mà ngỡ là nhiều lắm, thì chẳng khác nào tự vẽ sẵn mức đường giới hạn cho mình ở nửa đường, đến mức đó thì ngừng lại, không lướt tới nữa. Ðó là cảnh giới của hàng Nhị Thừa, chứ không phải là căn tánh Bồ Tát của Ðại Thừa. Cho nên, đừng nghĩ rằng có thần thông là tài giỏi. Nếu quý vị có thần thông rồi tự phụ, cho rằng mình tài giỏi hơn người, thì quý vị còn quá nông nỗi – bởi như thế là quý vị vẫn còn tâm chấp trước, còn lòng tự mãn.

Kinh văn:

Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, tại cung Trời Ðao Lợi, Ðức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết Pháp.

Lược giảng:

Tôi nghe như vầy. Hiện tại (1968), chúng ta khai đàn giảng Kinh Kim Cang, Kinh Ðịa Tạng và Kinh Pháp Hoa trong cùng một thời điểm, cho nên bốn chữ “Tôi nghe như vầy” sẽ được giảng đi giảng lại đến ba lần.

“Như vầy” hay “như thị”, vốn là từ “chỉ pháp”; ngụ ý rằng pháp như vậy thì tin được, còn pháp không như vậy thì không đáng tin. Hiện tại, pháp này gọi là pháp “như thị” – đây là thứ pháp đáng tin cậy. “Như thị” cũng là từ “ấn khả”, khẳng định rằng (Pháp) đích thực là như vầy, tuyệt đối không được sửa đổi.

“Tôi nghe như vầy” chính là đáp án của Ðức Phật cho một trong bốn vấn đề mà Tôn Giả A Nan đã thỉnh vấn trước khi Phật nhập Niết Bàn. Lúc bấy giờ, sau khi hay tin Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết Bàn, Tôn Giả A Nan khóc đến nỗi đầu váng mắt hoa, tâm trí bấn loạn, quên bẵng hết mọi việc. Trong khi đó, Tôn Giả A Na Luật, nhục nhãn tuy không còn song Thiên Nhãn rất sáng tỏ, thì lại hết sức trầm tĩnh; Ngài căn dặn Tôn Giả A Nan phải thỉnh vấn Phật về bốn việc:

– Thứ nhất, khi kết tập kinh điển, mở đầu văn kinh nên dùng chữ gì làm tiêu biểu cho tất cả kinh tạng;

– Thứ hai, khi Phật còn tại thế thì các đệ tử đều an trú cùng một nơi với Phật, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì họ phải sống với ai;

– Thứ ba, khi Phật còn trụ thế thì Phật là Thầy, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì nên tôn ai làm Thầy;

– Thứ tư, nên đối phó như thế nào với các Tỳ Kheo có tánh tình xấu ác?

Khi ấy, Ðức Phật trả lời rằng:

– Thứ nhất, khi kết tập kinh tạng, hãy dùng bốn chữ “Tôi nghe như vầy” (Như thị ngã văn) để mở đầu cho tất cả các bộ kinh;

– Thứ hai, hãy nương theo Tứ Niệm Xứ mà an trú. Tứ Niệm Xứ chính là Thân, Thọ, Tâm và Pháp – quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã;

– Thứ ba, khi Phật còn tại thế thì Ðức Phật là Thầy; Phật nhập Niết Bàn rồi thì lấy Ba La Ðề Mộc Xoa (Giới) làm Thầy – đây là Thầy của tất cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni;

– Thứ tư, hãy dùng phương pháp “mặc tẫn” để đối phó với các Tỳ Kheo tánh ác. “Mặc” nghĩa là làm thinh, không nói chuyện với họ; còn “tẫn” là làm lơ, không để ý đến họ nữa.

Câu “Tôi nghe như vầy” được dùng nhằm xóa tan mọi nghi vấn trong lòng đại chúng. Lúc Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng khai mạc, Tôn Giả A Nan không được mời tham dự. Sau đó, khi đã chứng được Tứ Quả A La Hán, vì không có ai mở cửa cho vào, Tôn Giả A Nan bèn đi xuyên qua cửa và tiến vào hội trường để tham gia Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng. Những người tham dự cuộc kết tập kinh tạng tuy đã chứng quả, nhưng trí nhớ của họ đều không bằng Tôn Giả A Nan. Ngài A Nan là “đại quyền thị hiện” – giấu thật hiện quyền, thị hiện thiện xảo phương tiện. Tôn Giả A Nan đã từng làm thị giả cho tất cả chư Phật xuất thế trong quá khứ, được thân cận hết thảy chư Phật. Khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật, Tôn Giả A Nan cũng xuất thế để làm thị giả cho Phật; và vị thị giả ấy chính là người được chuẩn bị cho công cuộc kết tập kinh tạng sau này.

Ðương thời, lúc Tôn Giả A Nan vừa bước lên Pháp tòa, trong đại chúng lập tức dấy khởi ba mối nghi ngờ:

– Thứ nhất, họ nghi đó là Phật Thích Ca Mâu Ni sống lại, ngờ rằng Phật chưa nhập Niết Bàn. Vì khi Tôn Giả A Nan lên Pháp tòa sư tử để kết tập kinh tạng, Ngài thị hiện tướng hảo trang nghiêm, tướng mạo giống hệt Ðức Phật, chỉ thấp thua Phật ba lóng tay mà thôi, cho nên đại chúng mới ngờ rằng đó là Phật Thích Ca Mâu Ni sống lại.

– Thứ hai, hoài nghi đó là Ðức Phật từ phương khác đến.

– Thứ ba, hoài nghi Tôn Giả A Nan đã chứng quả, thành Phật.

Tuy nhiên, khi Tôn Giả A Nan vừa thốt ra bốn tiếng “Tôi nghe như vầy” thì ba nỗi hoài nghi ấy liền tan biến, không còn vướng mắc trong tâm trí mọi người nữa.

Câu “Tôi nghe như vầy” được dùng bởi bốn nguyên do:

1) Ðoạn chúng nghi: dứt trừ mọi nghi ngờ;

2) Tuân Phật chúc: tuân theo lời dặn dò của Ðức Phật;

3) Tức tranh luận: chấm dứt mọi tranh cãi.

Khi kết tập kinh tạng, ngài A Nan tuổi vẫn còn rất trẻ. Một người trẻ tuổi mà đứng ra chủ trì việc kết tập kinh tạng thì e rằng những bậc Trưởng Lão như Tôn Giả Ca Diếp, Kiều Trần Như, Tu Bồ Ðề sẽ nói: “Ông còn trẻ người non dạ như thế thì đã có kinh nghiệm, kiến thức gì đâu mà đòi kết tập kinh điển?”

Nếu Ngài A Nan nói kinh điển là do chính Ngài tự viết ra thì sẽ không tránh khỏi sự tranh luận: “Những điều ông nói hoàn toàn không đúng, Ðức Phật không hề nói như vậy!” Nhưng khi Ngài A Nan tuyên bố “Tôi nghe như vầy,” thì mọi người đều không tranh cãi; vì sao? Vì bốn chữ ấy ngụ ý rằng tất cả những gì Ngài A Nan sắp sửa nói ra chỉ là tuyên thuyết lại những điều mà chính Ngài đã được nghe từ kim khẩu của Ðức Phật, chứ hoàn toàn không phải do Ngài bịa đặt; nhờ thế mà chấm dứt mọi tranh luận!

4) Dị ngoại đạo: để khác biệt với ngoại đạo. Lý thuyết mà các Luận Sư ngoại đạo thường dùng là: “Tất cả vạn pháp của thế gian đều không ngoài hai chữ ‘hữu (có), vô (không)’.”

Nếu nói “có,” tức là vạn pháp đều hiện hữu; còn nói “không,” tức là vạn pháp đều không hiện hữu. Bởi họ cho rằng hết thảy các pháp đều nằm trọn trong một chữ “có” và một chữ “không,” nên kinh điển ngoại đạo dùng hai chữ “A, Hạ” làm mở đầu cho văn kinh. “A” có nghĩa là “không”, và “hạ” nghĩa là “có”.

Do đó, nhằm phân biệt với ngoại đạo, Ðức Phật dạy phải dùng bốn chữ “Tôi nghe như vầy” để mở đầu cho văn kinh, ý nói rằng: “Chính tôi, A Nan, từng được nghe Phật nói Pháp như thế này”.

Phàm kinh điển do Phật thuyết đều hội đủ sáu điểm để thành tựu cho toàn Kinh, gọi là Lục Chủng Thành Tựu:

1) Tín (tin cậy). “Như vầy” biểu thị Tín thành tựu.

2) Văn (nghe). “Tôi nghe” biểu thị Văn thành tựu. Vì sao không nói “tai nghe” mà lại nói là “tôi nghe”? Vì “tôi” là từ tổng xưng cho một thân thể, cho nên dùng “tôi” để tiêu biểu cho cả sáu căn.

3) Thời (thời điểm). “Một thuở nọ” (nhất thời) biểu thị Thời thành tựu. Tại sao không nói rõ là Phật thuyết Pháp vào ngày nào, tháng nào, năm nào, mà chỉ nói chung chung là “một thuở nọ”? Bởi vì quốc tế lịch số không đồng nhất – có khi nơi này là tháng chạp thì nơi khác lại đang là tháng hai, ở nước nọ là tháng giêng thì ở nước kia lại đang là tháng ba hoặc tháng tư… – cho nên trong kinh điển của Phật chỉ nói là “một thuở nọ” mà thôi. Có một thời điểm như thế này, thì đây là Thời thành tựu.

4) Chủ. “Ðức Phật” biểu thị Chủ thành tựu. Phật thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Bởi tam giác viên mãn, vạn đức đủ đầy, nên gọi là “Phật”. “Ðức Phật” này chính là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, Giáo Chủ cõi Ta Bà.

Thật ra, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ vô lượng kiếp về trước; nhưng vì nhận thấy chúng sanh ở cõi Ta Bà – Nam Thiệm Bộ Châu – cơ duyên đã thành thục, cho nên Ngài đến thị hiện thành Phật, hầu khiến tất cả chúng sanh cũng đều thành Phật, thoát khỏi sanh tử. Giáo pháp mà Ðức Phật thuyết giảng đều là chân thật, không hư dối, tất cả chúng sanh chúng ta cần phải trân trọng thọ lãnh. Nếu chúng ta xem những lời giáo huấn của Ðức Phật như”gió thoảng qua tai,” vào tai này rồi ra tai kia, ắt sẽ không được chút lợi ích nào cả. Do đó, chúng ta cần phải thực sự áp dụng, chân chánh thực hành đúng theo giáo pháp, không được có một mảy may hư dối dù nhỏ như đường tơ kẽ tóc – nhất định phải hoàn toàn chân thật.

5) Xứ (nơi chốn). “Cung trời Ðao Lợi” biểu thị Xứ thành tựu.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lên cõi trời Ðao Lợi là để độ thân mẫu. Sau khi Phật ra đời được bảy ngày, thì thân mẫu của Phật là Ma Da Phu Nhân qua đời và sau đó được sanh lên cõi trời Ðao Lợi. “Ma Da” (Maya) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “Ðại Thuật”, và cũng là “Huyễn”. Thánh Mẫu Ma Da từng là mẹ của ngàn đức Phật trong thời quá khứ, là đấng sanh thành của tất cả chư Phật xuất thế.

Thánh Mẫu làm mẹ của Ðức Phật, đến khi Ðức Phật thành Phật lại đi thuyết pháp để độ Thánh Mẫu – đây có thể ví như một vở tuồng ở nhân gian chúng ta vậy. Thế gian này, nếu quý vị hiểu rõ thì sẽ thấy tất cả đều giống như một vở kịch, mà các tình tiết, các màn diễn trong đó đều nói lên chân đế của cuộc đời, một thứ chân lý của nhân sinh. Nếu thấu suốt được một chân lý này, thì quý vị cũng sẽ thông hiểu được chân lý kia. Cho nên, những kẻ không hiểu mà xem kịch thì chỉ thấy các tình tiết diễn tiến cùng những cảm xúc vui buồn tan hợp, hoặc vui mừng, đau đớn, xót xa, sợ sệt, yêu thương, ganh ghét, thù hận, mong cầu… của vở kịch. Còn người sáng suốt, từng trải thì sao? Họ biết rằng đó chỉ là một vở kịch và tất cả vốn như huyễn như hóa – đời người chẳng qua là như thế mà thôi! Kinh Kim Cang có dạy:

“Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng huyễn, bọt nước,

Như sương mai, điện chớp,

Nên quán tưởng như vậy.”

Thế nên, việc giáo hóa chúng sanh đối với Phật cũng là Du Hý Tam Muội, Phật không xem đó là điều đáng kể. Phật không như phàm phu chúng ta – chấp đông chấp tây, chấp nam chấp bắc, chấp trên chấp dưới, không thấy được tất cả đều là viên dung vô ngại. Kỳ thực, mọi cảnh giới chẳng qua đều là giả dối, không thật; nếu quý vị không có được cái nhìn như vậy, tức là còn chấp trước.

6) Chúng. “Vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp” biểu thị Chúng thành tựu.

Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân là mẹ của cả ngàn đức Phật; và mỗi đức Phật sau khi thành Phật đều lên cõi trời Ðao Lợi thuyết Pháp cho mẫu thân nghe.

Phật thuyết Pháp cần phải có Luân Vương (tức Chuyển Luân Thánh Vương) hoặc Ðế Thích đến thỉnh Pháp; thế thì lần này Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lên cõi trời Ðao Lợi thuyết Pháp, là do ai cung thỉnh? Ðó là do thân phụ của Phật cung thỉnh. Thân phụ của Phật, tức Luân Vương, nói với Phật rằng: “Xin Phật hãy đến cõi trời Ðao Lợi thuyết Pháp để cứu độ Phật Mẫu”. Ðây là Luân Vương thỉnh cầu Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp.

Cũng có sách chép là do Ðế Thích, thiên chủ cõi trời Ðao Lợi, thỉnh Pháp. Ngài vốn là cô gái nghèo tu sửa tháp miếu thuở xưa, và nhờ công đức ấy mà được làm Thiên Chủ Ðế Thích. Nhân biết được thân mẫu của Ðức Phật cũng ở cõi trời Ðao Lợi, Ðế Thích bèn thỉnh Phật đến đó thuyết Pháp. Có sách thì chép như vậy; song, bất luận thế nào, nói tóm lại là Phật thuyết Pháp thì phải có người thỉnh Pháp.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp gì cho Phật Mẫu nghe? Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, một giáo pháp về hiếu đạo.

Chúng ta, ai ai cũng phải hiếu thảo với cha mẹ; vì sao? Vì cha mẹ là gốc rễ của con người – chúng ta hiếu thảo với cha mẹ thì cũng giống như tự chăm bón, vun bồi cái gốc của chính mình vậy. Cho nên, kẻ bất hiếu thì tương lai chắc chắn chẳng có triển vọng gì. Người biết hiếu thảo với cha mẹ, tức là biết chăm sóc, bồi đắp gốc rễ của mình cho vững chắc, thì tiền đồ nhất định sẽ huy hoàng, xán lạn. Có câu:

“Bổn cố chi vinh, căn thâm diệp mậu.”

(Gốc vững cành nhiều, rễ sâu lá tốt.)

Nghĩa là cái gốc mà được vun phân tưới nước, chăm sóc kỹ lưỡng thì cây sẽ đâm chồi nẩy lộc; rễ mà bám sâu vào đất thì cành lá sẽ sum xuê, tươi tốt.

Như vậy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vì mẹ mà tuyên thuyết giáo pháp về hiếu đạo này. Và, phần tiếp theo sau là các đạo lý mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng cho Thánh Mẫu nghe.

Kinh văn:

Lúc ấy, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp…

Lược giảng:

“Vô lượng thế giới ở mười phương” là thuộc về Y Báo; “bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát” là Chánh Báo. “Người” là Chánh Báo, “thế giới” là Y Báo – đó gọi là “Y, Chánh Nhị Báo.”

“Lúc ấy” (nhĩ thời) tức là đương thời, lúc bấy giờ. Nay tôi dùng năm thứ thời điểm để giảng, vì có năm cách giải thích từ ngữ “lúc ấy” này:

1) Lúc muốn nói (dục thuyết thời), lúc đương nói (chánh thuyết thời), lúc nói xong (dĩ thuyết thời). “Lúc ấy” tức là chỉ cho thời điểm mà Phật bằng lòng thuyết Pháp, muốn nói Pháp. “Lúc ấy” lại là đúng ngay lúc Phật muốn thuyết thứ Pháp về hiếu đạo; và”lúc ấy” cũng chính là khi Phật đã nói xong Pháp hiếu đạo đó. Ðây là cách giải thích thứ nhất về từ “lúc ấy.”

2) Lúc phá ngoại đạo. Những pháp mà hàng ngoại đạo nói thì không có quá khứ, cũng chẳng có hiện tại hoặc vị lai; mà chỉ nói một cách chung chung, rất mơ hồ. Cho nên, bây giờ đã đến lúc Phật thuyết thứ Pháp có đủ ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai để đả phá ngoại đạo. Ðây là ý nghĩa thứ hai của từ ngữ “lúc ấy.”

3) Lúc gieo hạt (hạ chủng thời). Gieo hạt tức là vùi hạt giống xuống dưới đất. Có gieo hạt tất sẽ có lúc thu hoạch, chín muồi. Sau khi chín muồi thì thế nào? Thì đến “giải thoát thời” –  tức là lúc được giải thoát. Ðây cũng là một hàm nghĩa của từ ngữ “lúc ấy.”

“Lúc gieo hạt” cũng có nghĩa là lúc chưa trồng thiện căn, hoàn toàn không có căn lành. Như trường hợp của lão ông nọ – ông vốn muốn xuất gia nhưng khi các bậc A La Hán quán sát thấy rằng trong tám vạn đại kiếp ông ta không hề trồng được một mảy may thiện căn nào cả, bèn khước từ, không chịu thâu nạp ông ta vào hàng ngũ xuất gia. Có câu:

Mạc đạo xuất gia dung dị đắc,

Giai nhân lũy thế chủng Bồ Ðề.

(Chớ bảo xuất gia là chuyện dễ,

Ấy do nhiều kiếp trồng Bồ Ðề.)

Vì vậy, những người đời này hiện đã xuất gia ắt hẳn trong tám vạn kiếp về trước đã có gieo trồng thiện căn rồi, nên nay mới được như thế. Chớ nên cho rằng việc xuất gia là tùy tiện, dễ dàng.

Ðối với những người đến nay vẫn chưa hề trồng thiện căn, Phật dạy họ trồng thiện căn. Ðối với những ai chưa biết niệm Phật thì Phật dạy họ niệm Phật, chưa biết trì Chú thì dạy họ trì Chú; bởi đó cũng là trồng thiện căn, gieo hạt giống tốt lành. Ðã gieo hạt, đã có trồng thiện căn rồi, thì sẽ có sự nẩy mầm, tăng trưởng; và sau đó sẽ đến giai đoạn thành thục, chín muồi. Như làm ruộng chẳng hạn, mùa xuân gieo mạ thì sang mùa thu gặt hái, tức là bước sang giai đoạn chín muồi. Tuy nhiên, nếu lúa chín rồi mà không kịp thời gặt hái, để mãi ngoài đồng ruộng, thì cũng chẳng có ích lợi gì. Thu hoạch được lúa thóc, đem hoa lợi về – đó gọi là đạt được sự giải thoát vậy.

Ðây là ngụ ý rằng những người chưa trồng thiện căn thì hãy chăm chỉ gieo trồng thiện căn; còn những người đã trồng thiện căn thì nên cố gắng tu hành, xuất gia làm Tăng, Ni. Làm Tăng, Ni thuần thục rồi thì phải thành Phật, phải chứng quả vị – chứng quả vị là được giải thoát.

Thế nên, quý vị nghe giảng kinh, chớ nên nói rằng: “Tôi nghe hai lần rồi, không cần nghe thêm nữa!” Quý vị nghe càng nhiều thì càng biết được nhiều vấn đề, nếu không nghe nhiều thì kiến thức sẽ không tăng trưởng và không lãnh hội được tri thức của Phật Học.

4) Thời điểm của chánh sư – vị Thầy chân chánh. Muốn học Phật Pháp thì cần phải có bậc Thầy chân chánh (chánh sư), với giáo pháp chân chánh (chánh giáo) và sự học tập chân chánh (chánh học). Nếu quý vị không học tập một cách chân chánh, nghiêm túc, thì dù có gặp được chánh giáo cũng chẳng ích lợi gì. Lại nữa, nếu quý vị gặp được chánh giáo và quý vị cũng có lòng muốn học hành đàng hoàng, chăm chỉ, nhưng không có một vị Thầy chân chánh hiểu rõ Phật Pháp hướng dẫn cho, thì quý vị cũng không học tập gì được. Cho nên, “lúc ấy” cũng có nghĩa là thời điểm hội đủ chánh sư, chánh giáo, chánh học.

5) “Lúc ấy” là lúc Phật bằng lòng thuyết Pháp, đồng thời cũng là lúc chúng sanh muốn nghe Pháp. Sự nghe Pháp và thuyết Pháp xảy ra cùng một lúc, cơ duyên giáo hóa tương ưng, không cao không thấp, chẳng sâu chẳng cạn. Phật thuyết pháp nào thì có chúng sanh thích hợp với giáo pháp đó đến nghe. Ðây gọi là “Phật muốn thuyết, chúng sanh muốn nghe” – thích hợp với căn cơ mỗi người, không có sự cao thấp.

Trên đây là năm ý nghĩa của từ ngữ”lúc ấy.” Tóm lại, trong bộ Kinh này:

– “như vầy” là Tín thành tựu,

– “tôi nghe” là Văn thành tựu,

– “một thuở nọ” là Thời thành tựu,

– “Phật” là Chủ thành tựu,

– “cung trời Ðao Lợi” là Xứ thành tựu,

– “vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp” là Chúng thành tựu.

Tuy nói rằng Ðức Phật vì Phật Mẫu mà thuyết pháp, nhưng trên trời cũng có thiên chúng đến nghe. Ngoài ra, còn có người ở nhân gian lên trời dự Pháp Hội nữa – riêng Ðức Phật là đã có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị đệ tử thường xuyên đi theo Ngài rồi. Như vậy, Nhân Ðà La Da, thiên chủ cõi trời Ðao Lợi, làm Hộ Pháp Chủ, tức là trai chủ thỉnh pháp. Tuy nói Ðức Phật “vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp,” nhưng thật ra cũng là thuyết pháp cho toàn thể đại chúng; do đó, câu này là tiêu biểu cho Chúng thành tựu.

Vậy, trên đây là Lục Chủng Thành Tựu.

Lúc ấy, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát… “Bất khả thuyết” tức là nói không xuể, kể không xiết, không có đủ ngôn từ để diễn đạt. “Ma Ha Tát” là bậc Ðại Bồ Tát trong hàng Bồ Tát, là những chúng sanh có Ðạo tâm rộng lớn. Lúc bấy giờ, có vô số kể chư Phật và chư Ðại Bồ Tát, đông đảo đến không thể nói được là bao nhiêu, từ trong vô lượng thế giới ở mười phương, tận cùng hư không và khắp Pháp Giới, đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi.

Quý vị xem, khi Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng, mười phương chư Phật và chư Ðại Bồ Tát đều tề tựu lắng nghe, thế thì hạng phàm phu chúng ta càng cần phải đến tụ họp để nghe Pháp hơn nữa!

Hiện nay chúng ta khai đàn giảng Kinh Ðịa Tạng tại đạo tràng này, thì mười phương chư Phật và chư Bồ Tát cũng tựu về nơi đây. Nếu có Phật Nhãn, quý vị sẽ thấy được vô lượng vô biên, không thể nào đếm xuể chư Phật và chư Ðại Bồ Tát từ khắp mười phương đến đây để hộ trì Pháp Hội giảng kinh này.

Kinh văn:

… tán thán Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác Ngũ Trược mà hiện sức Ðại Trí Huệ, Thần Thông không thể nghĩ bàn…

Lược giảng:

Tất cả chư Phật và Ðại Bồ Tát trong mười phương đều đến cung trời Ðao Lợi và tất cả các ngài cùng tán thán Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.

“Tán” là xưng tán;”thán” là thán thưởng – “tán thán” có nghĩa là tấm tắc khen ngợi, hết lời ca tụng.

“Thích Ca Mâu Ni” là tiếng Phạn.”Thích Ca Mâu Ni” là tên riêng –  “Thích Ca” là họ và”Mâu Ni” là tên – còn”Phật” là tên chung. Tất cả Ðức Phật đều được tôn xưng là”Phật,” nhưng mỗi Ðức Phật đều có một danh hiệu riêng biệt (biệt danh).”Thích Ca” có nghĩa là”năng nhân,” hàm ý rằng Ngài có năng lực dùng đức nhân từ để phổ độ tất cả chúng sanh.”Mâu Ni” tức là”tịch mặc,” ngụ ý”bất động.””Tịch” là tịch tĩnh,”mặc” là mặc nhiên – “tịch tĩnh mặc nhiên” chính là trạng thái tĩnh lặng, không có âm thanh, chẳng còn mùi vị. Trong Nho Giáo có câu:

“Chí ư tĩnh, vô dĩ phục gia hề! Vô thanh, vô khứu.”

(Ðến chỗ tột cùng của tĩnh lặng, không thêm được nữa! Không âm thanh, chẳng mùi vị.)

Âm thanh không còn, mùi vị cũng hết – đây chính là lúc con người đạt đến bản thể tịch nhiên bất động.”Tịch nhiên bất động” chính là Ðịnh;”năng nhân” chính là Huệ.

Vì sao Phật có thể dùng lòng nhân từ để tế độ chúng sanh? Bởi vì Phật có trí huệ.”Năng nhân” cũng có nghĩa là tùy duyên;”tịch mặc” cũng chính là bất biến. Ðức Phật thì thường bất biến, song cũng luôn tùy duyên; tuy luôn tùy duyên, nhưng vẫn thường bất biến. Mặc dù ở trong Ðịnh tịch nhiên bất động, Phật vẫn có thể cảm thông linh ứng. Cho nên nói:

“Nhất thiết chúng sanh nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri tất kiến.”

Mọi tâm tưởng của chúng sanh, bất luận nhiều hay ít, Phật đều có thể thấy, nghe và rõ biết tất cả. Vì sao Phật có thể thấy biết tất cả? Chính là nhờ”năng nhân, tịch mặc.” Bởi Ðức Phật có thể”năng nhân” nên Ngài thấy rõ được tất cả; và nhờ có thể”tịch mặc” nên Phật thấu suốt hết mọi sự. Do đó, quý vị đừng lầm tưởng rằng không ai hay biết những việc mình làm, bởi Phật có thể thấy biết tất cả.

Chúng ta tu Ðạo, hễ trong lòng có một phần chân thành thì sẽ được một phần cảm ứng, có mười phần chân thành thì sẽ được mười phần cảm ứng. Nếu tâm quý vị có trăm ngàn vạn ức phần chân thành, thì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dù đang ở vị trí”bổn giác tịch nhiên bất động,” cũng có thể cảm thông linh ứng mà giúp cho quý vị được toại nguyện, khiến cho quý vị được sớm thành tựu Ðạo nghiệp.

Trên đây là ý nghĩa của bốn chữ”Thích Ca Mâu Ni.”

“Phật” là gọi tắt từ chữ”Phật Ðà Da,” và vốn là tiếng Phạn. Vậy thì Phật là người như thế nào? Phật chính là một bậc Ðại Giác Ngộ. Phật có đủ Tự Giác, Giác Tha, Giác Hạnh Viên Mãn – bởi Ngài là”Tam Giác viên mãn, vạn đức đủ đầy” nên được thành Phật. Cũng có thể nói Tam Giác tức là Thủy Giác, Bổn Giác và Cứu Cánh Giác – ba loại giác ngộ này đều hoàn toàn viên mãn nên được thành Phật. Nếu chúng ta có thể y theo giáo pháp của Phật mà chân chánh tu hành, thì chúng ta cũng sẽ đạt được loại giác ngộ và quả vị này. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy:

“Nhất thiết chúng sanh giai kham tác Phật!”

(Tất cả chúng sanh đều có thể làm Phật!)

Vì sao hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật? Bởi vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh! Cho nên, chỉ cần chịu cố gắng, nỗ lực tu hành, thì chắc chắn tất cả chúng ta đều sẽ được thành Phật.

Có thể ở trong đời ác Ngũ Trược. “Ðời ác” tức là một thế giới xấu xa nhất. Ngũ Trược tức là năm thứ ô trược, dơ bẩn; đó là: Kiếp Trược (thời đại này hết sức ô uế, bất tịnh), Kiến Trược (con người có những kiến giải hết sức tà vạy, bất chánh), Phiền Não Trược (trong lòng con người chứa đầy phiền não, như thế là bất tịnh), Chúng Sanh Trược (chúng sanh cũng bất tịnh, không trong sạch), và Mạng Trược (thân mạng này của chúng ta cũng ô trược, bất tịnh).

Theo Kinh Lăng Nghiêm, nếu ta bỏ một nắm đất vào chậu nước trong, thì công năng vốn có của đất và nước sẽ bị mất đi.

Vậy công năng vốn có của đất (thổ) là gì? Là “lưu ngại” (lưu giữ, ngăn ngại)! Ðất (thổ) có tánh gây chướng ngại cho nên con người có thể đi lại trên đất. Nếu không có đất, chúng ta sẽ bị rơi vào biển cả, bởi bên dưới đất là nước, nước có thể cuốn trôi đất. Bên dưới nước lại là lửa; cho nên có lúc núi lửa bộc phát là do tác dụng của một sự biến hóa. Nếu nói rằng bên dưới nước là lửa, vậy lửa này không bị nước dập tắt sao? Vì lửa cháy quá dữ dội nên nước không dập tắt nổi! Muốn hiểu thấu đạo lý này thì quý vị phải nghiên cứu Phật Pháp thâm sâu hơn nữa mới được.

Kinh Lăng Nghiêm cũng có chép: “Thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết.” (Khi nước và đất trộn lẫn, thì đất mất tánh lưu ngại, nước mất tánh thanh khiết.)

Bởi nước bị vẩn đục, mất đi sự thanh khiết, cho nên gọi là “trược.” Cõi “Ngũ Trược ác thế” này ví như vũng bùn dơ bẩn – một hỗn hợp của nước và đất. Ðây là một thế giới không thanh tịnh bởi có sự hiện hữu của năm thứ ô trược:

1) Kiếp Trược. “Kiếp” là danh từ chỉ thời gian. Thời gian thì ô trược bởi chúng ta không thể phân định một cách rõ ràng là khi nào, thời điểm nào. Trước kia có người hỏi tôi, thế nào gọi là thời gian? Thật ra, không có cái gọi là “thời gian,” không thể nào định rõ được thời gian. Ðó là Kiếp Trược.

2) Kiến Trược. Quý vị nghĩ xem, chúng ta có thể phân biệt cái “thấy” của mình một cách rõ ràng hay không? Tất nhiên là không thể được! Chúng ta có thể phân ranh giới cho cái”thấy” của mỗi người hay không? Cũng không được! Bởi nếu quý vị nói rằng đây là cái “thấy” của quý vị, kia là cái”thấy” của tôi; thế thì quý vị lấy gì làm ranh giới để phân biệt giữa cái “thấy” của quý vị và cái “thấy” của riêng tôi? Chính vì cái “thấy” ấy là một hỗn hợp lộn xộn, không có ranh giới, không thể phân định rõ ràng, nên gọi là Kiến Trược.

3) Phiền Não Trược. Mọi người đều có phiền não – quý vị có phiền não, tôi cũng có phiền não – phiền não của chúng ta trộn lẫn, xen lộn với nhau, không cách nào phân định cho rõ được.

Có người nói: “Tôi thừa biết rằng phiền não của tôi là của tôi, phiền não của Thầy tức là của Thầy – của ai cứ nấy!” Nếu nói như thế thì tại sao quý vị lại có thể gây phiền não cho tôi được? Nếu quả thật phiền não là của tôi thì đáng lẽ không cần quý vị gây ra mới phải; còn nếu đó đích thật là của quý vị, thì tất nhiên cũng không cần tôi gây ra, không cần tôi làm cho quý vị sanh phiền não mới đúng chứ?! Như vậy, xét ra thì phiền não cũng không có ranh giới rõ rệt và cũng là một hỗn hợp ô trược, bất tịnh.

4) Chúng Sanh Trược. Có những chúng sanh đời này mang thân người, song biết đâu chừng đời sau lại phải đầu thai làm chó, làm mèo, làm chuột, hoặc làm côn trùng bò lung tung khắp nơi… – không có gì là nhất định cả. Như thế thì làm sao quý vị có thể phân biệt một cách rõ ràng được? Chúng sanh với chúng sanh cùng nhau hợp tác để mở một “đại công ty,” cũng không phân biệt nhau được rõ ràng. Trong “đại công ty” này, nếu không phải mình bị người ta đem bán, thì cũng là người ta bị mình đem bán – tất cả đều có quan hệ qua lại với nhau. Như thế không phải là “trược” sao? Vậy, đó gọi là Chúng Sanh Trược.

5) Mạng Trược. Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược, bất tịnh.

Mặc dù năm thứ ô trược này rất phức tạp, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn có thể ở trong đời ác Ngũ Trược – một thế giới xấu xa nhất – mà hiện sức Ðại Trí Huệ và Thần Thông không thể nghĩ bàn. “Không thể nghĩ bàn” tức là vô cùng vi diệu, chúng ta không tài nào nghĩ ra hoặc mường tượng ra được. Thứ gì mà vi diệu, không thể nghĩ bàn như thế? Ðó chính là năng lực từ Ðại Trí Huệ và Ðại Thần Thông của Ðức Phật.

Kinh văn:

…điều phục những chúng sanh cang cường, khiến cho họ biết được pháp khổ, pháp vui. Rồi mỗi Ngài đều sai thị giả đến vấn an Ðức Thế Tôn. Bấy giờ, Ðức Như Lai mỉm cười, phóng ra trăm ngàn muôn ức vầng mây sáng rỡ lớn…

Lược giảng:

Ðiều phục những chúng sanh cang cuờng. “Ðiều” là điều hòa,”phục” là hàng phục. Sao gọi là “điều hòa”? Chúng ta muốn cho thức ăn có hương vị ngon lành thì phải nêm nấu sao cho năm vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn được điều hòa, vừa phải. Nếu thức ăn cay quá thì người không quen ăn cay sẽ không ăn được; chua quá thì người không thích chua sẽ không đụng đến; đắng quá thì cũng có người không thích; mà ngọt quá thì cũng có người chê, chẳng muốn ăn! Cho nên các thứ gia vị phải điều hòa, mỗi loại chỉ nêm vừa phải, không nhiều không ít, để có được mùi vị thích đáng.

Mọi người thường chỉ thích thưởng thức các món ăn hợp khẩu vị của mình. Tương tự như thế, về Phật Pháp thì có người thích pháp môn này, có người thích pháp môn kia. Về tín ngưỡng thì có người tin Gia Tô Giáo, có người tin Hồi Giáo, có người theo Ðạo Giáo (đạo Lão), có người theo Nho Giáo (đạo Khổng). Khổng, Lão, Phật, Gia, Hồi là năm tôn giáo lớn trên thế giới. Tuy nói là năm, nhưng trên thực tế thì chỉ là một. Vì sao lại là một? Bởi pháp mà Ðức Phật nói ra thì “mọi pháp đều là Phật Pháp,” và trong đó bao hàm tất cả các pháp môn của mọi tôn giáo. Bất luận là Gia Tô Giáo, Hồi Giáo, Ðạo Giáo, hay Nho Giáo, hết thảy đều được bao gồm trong “mọi pháp,” đều không ở ngoài “mọi pháp.” Không một tôn giáo nào có thể nói là không có giáo pháp; bởi vì nếu nói như thế tức là ở ngoài”mọi pháp,” mà ở ngoài  mọi pháp” thì hoàn toàn không có một pháp nào cả!

“Mọi pháp” đều là Phật Pháp và đều là “bất khả đắc” – đều không thể chứng đắc. Thể hội được “mọi pháp” đều không hiện hữu thì mới gọi là chân chánh “về tới nhà.” Tôi không hề nói rằng tôi có phương pháp đặc biệt này hoặc món ăn ngon lành nọ để dụ dỗ, lừa phỉnh quý vị. Bởi thực sự là không có, cái gì cũng không có cả! Xưa nay vốn không có cái gì cả! Vì sao lại biết được xưa nay cái gì cũng không có? Lục Tổ Ðại Sư từng dạy:

“Bồ Ðề vốn không thân,

Gương sáng cũng không đài,

Xưa nay không một vật,

Nơi nào bụi bám đây?”

Xưa nay vốn không có, vậy phải đến nơi nào để tìm chỗ cho bụi bám? Hoàn toàn không có! Vậy thì còn tìm bụi bặm gì nữa? Nếu quý vị có một món đồ cụ thể thì còn có chỗ cho bụi bám, nhưng vì không có đồ vật gì cả, do đó bụi bặm cũng không có chỗ để bám vào. Cho nên, người thông hiểu đạo lý thì biết rằng”mọi pháp đều là Phật Pháp.”

Tuy nhiên, “pháp” thì có pháp đúng và pháp sai; có pháp rốt ráo và pháp không rốt ráo; có pháp thiện và cũng có pháp ác. Chúng ta tu hành thì phải tu pháp rốt ráo (cứu cánh pháp).

Hãy nêu một ví dụ: Từ Châu Mỹ sang Châu Âu, nếu quý vị đi bằng máy bay thì nhất định sẽ mau chóng tới được nơi sở định; còn nếu theo đường bộ thì quý vị nghĩ phải mất bao lâu? Ngoài việc đi bộ vất vả trên đất liền, quý vị còn phải trải qua những gian khổ của đường biển nữa. Lúc gặp biển tất phải dùng thuyền để vượt biển, mà thuyền thì đi rất chậm, phải mất rất nhiều thời gian; trong khi nếu đáp máy bay thì lại rất nhanh.

Tương tự như thế, chúng ta tu pháp không rốt ráo thì phải tu trong một thời gian rất lâu mới được “về tới nhà” (thành Phật). Song, nếu tu pháp rốt ráo thì chẳng mấy chốc là chúng ta “về tới nhà” ngay, rất nhanh chóng. Như thế, pháp không rốt ráo là gì? Ðó là tất cả các pháp của ngoại đạo. Ðúng vậy, tu pháp không rốt ráo cũng có được đôi chút lợi ích, nhưng rất chậm. Tu pháp rốt ráo tức là y chiếu theo giáo pháp của Ðức Phật mà tu hành.

Ðể điều phục, cảm hóa những chúng sanh cang cường, trước hết, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni không nói thẳng với họ rằng nóng giận là không tốt; Ngài chỉ nói: “Này! Nóng tánh cũng không đến nỗi nào, vì phiền não chính là Bồ Ðề. Ngươi có tánh nóng nảy đấy, song cũng chẳng sao – phiền não là Bồ Ðề, sanh tử là Niết Bàn!”

Phật làm cho họ cảm thấy:”Mình có tánh nóng nảy nhưng không phải là người xấu. Ðành rằng mình rất nóng tánh, nhưng tâm Bồ Ðề của mình cũng đâu phải nhỏ! “Thế là họ quyết định thử tu sửa tâm tánh xem sao; và càng thử thì họ càng nhận thấy rằng hễ phiền não giảm bớt thì Bồ Ðề lại gia tăng. Phiền não càng ngày càng giảm thì Bồ Ðề càng ngày càng tăng. Giảm được phiền não, thì đó chính là Bồ Ðề vậy. Cho nên, đối với những chúng sanh tánh tình cang cường, ương ngạnh, thì Ðức Phật giảng nói thứ pháp như thế.

Còn đối với những chúng sanh nhu nhược thì sao? Những chúng sanh nhu nhược tức là những kẻ nhút nhát, từ sáng đến tối họ cứ hồi hộp sợ sệt; thậm chí tiếng mèo kêu hay tiếng chó sủa cũng làm cho họ giật mình run sợ, hồn phiêu phách tán. Bất cứ một động tĩnh gì cũng có thể làm cho họ hốt hoảng được cả; cho nên, Ðức Phật phải dùng lời dịu ngọt như dỗ dành trẻ con mà vỗ về những chúng sanh nhút nhát đó:”Con đừng sợ. Hãy bình tâm mà học Phật Pháp, Phật sẽ giúp đỡ và phù hộ cho con!” Các chúng sanh ấy nghe được liền cảm thấy an ủi phần nào, trong lòng thầm nghĩ rằng lời nói của người này thật đáng tin cậy; và thế là họ dốc lòng tin tưởng Phật Pháp. Sau khi tin và học Phật Pháp, họ càng ngày càng bớt nhút nhát, càng ngày càng mạnh dạn, can đảm thêm.

Ở Hồng Kông, tôi có một đệ tử quy y vốn tánh nhút nhát. Khi chưa quy y, anh ta rất sợ ma và sợ bóng tối. Trời vừa nhá nhem tối là anh ta không dám bước chân ra khỏi cửa, tánh rất nhát gan. Cho dù trong nhà có đông người, anh ta cũng vẫn cứ nơm nớp sợ hãi, cứ cảm thấy xung quanh mình – trái, phải, trước, sau – chỗ nào cũng có ma cả. Tuy chưa bao giờ gặp ma, nhưng anh ta lại rất sợ ma! Sau khi anh ta quy y Tam Bảo, mặc dù tôi không niệm Chú cũng chẳng làm phép thuật gì cho anh ta cả, nhưng kể từ đó thì anh ta không còn thói hay sợ sệt nữa – không sợ ma mà cũng chẳng sợ bóng tối. Ban đêm ở nhà một mình cũng không sợ, đi đâu lúc trời tối cũng không sợ. Cho nên, đối với những chúng sanh không có lòng gan dạ, thì chúng ta cần phải giúp đỡ, khiến họ có can đảm.

Ngoài ra, đối với những chúng sanh hay khóc, thì quý vị nên khuyên họ chớ khóc lóc nữa, mà hãy sanh tâm hoan hỷ, vui vẻ. Tóm lại, chúng sanh thường mang nhiều thành kiến lệch lạc, tánh tình cũng thiên vị, quá quắt; cho nên chúng ta phải tìm cách làm cho họ trở về với trung đạo, giữ được mức quân bình – như thế gọi là “điều phục” vậy.

Khiến cho họ biết được pháp khổ, pháp vui. Ðức Phật có thể điều phục các chúng sanh ương ngạnh, bướng bỉnh và làm cho họ hiểu rõ thế nào là khổ, thế nào là vui. Những chúng sanh này vì ương ngạnh cho nên khổ họ cũng bất chấp mà sướng họ cũng bất cần. Thế nào là khổ, thế nào là sướng? Họ chẳng hề để ý tới! Vì tánh ương ngạnh, khổ hay sướng họ đều không sợ; họ cứ sống một cách không lo không buồn, không khổ không sướng như thế.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có khả năng làm cho các chúng sanh ương ngạnh này biết được thế nào là “chân khổ” (đau khổ thật sự) và thế nào là “chân lạc” (an vui thật sự). Rốt cuộc, cái gì là “chân khổ”? Ðọa lạc chính là “chân khổ.” Bị đọa xuống địa ngục, bị đọa làm ngạ quỷ, súc sanh – đó đều là”chân khổ.” Cái gì là “chân lạc”? Ðược khai ngộ, chứng quả (như quả vị A La Hán chẳng hạn), thực hành Bồ Tát Ðạo – đó đều là”chân lạc” vậy. “Khổ” vốn rất nhiều loại, “vui” cũng rất nhiều thứ, song chúng ta bây giờ biết được ý nghĩa tổng quát là được rồi. Vậy, “biết được pháp khổ, pháp vui” tức là biết được “mùi vị” của đau khổ và của an vui.

Rồi mỗi Ngài đều sai thị giả đến vấn an Ðức Thế Tôn. Các vị Ðại Bồ Tát, Ma Ha Tát ở khắp mười phương quốc độ đều không đi một mình. Mỗi Bồ Tát thường dẫn theo một, hai, ba hoặc bốn thị giả; có vị lại thích dắt theo nhiều thị giả, có khi đông tới mấy trăm, mấy ngàn, mấy vạn thị giả. Lúc bấy giờ, mỗi vị Bồ Tát đều phái người thị giả theo hầu bên cạnh mình đến hỏi thăm Ðức Phật. Hỏi thăm như thế nào? Họ đồng đến trước mặt Phật và thưa hỏi rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn, chẳng hay Ngài có được ít bệnh, ít phiền não chăng? Ngài có được an vui chăng? Chúng sanh có dễ độ chăng?” Các thị giả đều hỏi han Ðức Thế Tôn như vậy.

Bấy giờ, Ðức Như Lai mỉm cười, phóng ra trăm ngàn muôn ức vầng mây sáng rỡ lớn. Khi ấy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni mỉm cười – không phải cười lớn mà là cười chúm chím – và phóng ra hàng trăm ngàn vạn ức đám mây sáng to lớn.

Kinh văn:

…như là vầng mây sáng Ðại Viên Mãn, vầng mây sáng Ðại Từ Bi, vầng mây sáng Ðại Trí Huệ, vầng mây sáng Ðại Bát Nhã, vầng mây sáng Ðại Tam Muội, vầng mây sáng Ðại Kiết Tường, vầng mây sáng Ðại Phước Ðức, vầng mây sáng Ðại Công Ðức, vầng mây sáng Ðại Quy Y, vầng mây sáng Ðại Tán Thán. Ðức Phật phóng ra bất khả thuyết vầng mây sáng rỡ như thế…

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra trăm ngàn vạn ức vầng mây sáng to lớn. Trăm ngàn vạn ức vầng mây này bao gồm rất nhiều chủng loại, song ở đây chỉ nêu ra mười loại tiêu biểu cho Thập Thừa Quán Pháp và Thập Pháp Giới mà thôi.

Vậy, lúc bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra các vầng mây sáng như là:

1) Vầng mây sáng Ðại Viên Mãn. Loại mây sáng này biểu thị Phật Ðạo chiếu soi khắp cả Pháp Giới. “Viên mãn” tức là tròn đầy, trọn vẹn – khắp mọi nơi, không một nơi nào dù nhỏ như hạt bụi mà không được áng mây quang minh này giọi ánh sáng tới. Tận hư không, khắp Pháp Giới, nơi nơi đều được bao phủ bởi đám mây sáng này. Vậy, vầng mây sáng Ðại Viên Mãn tiêu biểu cho Phật Ðạo viên mãn.

2) Vầng mây sáng Ðại Từ Bi. Ðây là tiêu biểu cho Bồ Tát Ðạo. Lòng “từ” có thể ban vui; tâm “bi” có thể diệt khổ – con đường mà các vị Bồ Tát đeo đuổi chính là ban phát niềm vui cho chúng sanh và giúp chúng sanh dứt trừ mọi khổ não. Chúng sanh thích niềm vui gì thì chư Bồ Tát ban cho niềm vui đó – thích ngọt cho ngọt, muốn chua cho chua.

Thuở xưa, Bồ Tát Phổ Hiền đã từng giữ nhiệm vụ Hành Ðường trong chùa. Hành Ðường là thế nào? Ðó là lo việc lấy thêm cơm hoặc thức ăn cho người xuất gia trong lúc họ thọ trai. Thông thường, khi người xuất gia thọ trai thì có một người túc trực bên cạnh để giúp họ bới cơm và thức ăn vào bát; ăn hết thì đưa bát cho người ấy để lấy thêm. Khi giữ nhiệm vụ này, Bồ Tát Phổ Hiền thường mang theo bên mình những chai lọ lỉnh kỉnh đựng đủ loại gia vị để nêm thêm vào thức ăn cho vừa khẩu vị của mỗi người – hễ ai muốn ngọt hơn thì Ngài cho thêm đường, thích chua hơn thì Ngài cho thêm giấm, thích cay hơn thì Ngài cho thêm ớt…

Tuy nhiên, có khi Ngài vừa rót thêm giấm cho người thích ăn chua thì người ấy lại phàn nàn: “Ô hay, tôi không thích chua quá; tại sao ông lại thêm nhiều giấm đến thế?” Hoặc có người muốn cay hơn nữa, nhưng Ngài vì ngại rằng nếu cay quá thì khó ăn nên chỉ đưa thêm một chút ớt mà thôi, thì người đó lại cằn nhằn: “Thêm một chút nữa! Sao ít quá vậy?” Ðó gọi là:

“Phổ Hiền Bồ Tát nan mãn chúng sanh nguyện!”

(Bồ Tát Phổ Hiền khó thể thỏa mãn ý muốn của chúng sanh.)

Cho nhiều thì chê dư, cho ít thì chê thiếu – quý vị xem, thật là rắc rối, phức tạp! Cho nên, làm Bồ Tát không phải là chuyện dễ!

Khổng Phu Tử của Trung Hoa có nói rằng:

“Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã.

Cận chi, tắc bất tốn; viễn chi, tắc oán.”

Người nữ và kẻ tiểu nhân đều khó đối phó. Tại sao lại khó? Vì nếu quý vị gần gũi, dễ dãi với họ, thì họ khinh lờn, không để ý đến lý lẽ và không giữ phép tắc; còn nếu quý vị xa cách, nghiêm nghị với họ thì họ lại oán ghét, hờn trách. Cho nên, ứng phó với họ không phải là chuyện dễ. Khổng Tử có lẽ đã từng trải, giàu kinh nghiệm về mặt này, cho nên mới thốt ra những lời xác đáng như thế!

Bồ Tát đối xử với chúng sanh cũng vậy – quá tốt hoặc quá tệ thì đều không hợp với Trung Ðạo. Cho nên, Phổ Hiền Bồ Tát cũng khó mà làm cho chúng sanh được vừa ý, hài lòng. Thực hành hạnh Bồ Tát là điều không phải dễ – mình sốt sắng lo cho người ta, nhưng họ lại không chịu “biết đủ”!

Tóm lại, Ðại Từ Bi Quang Minh Vân là biểu thị cho Bồ Tát Ðạo.

3) Vầng mây sáng Ðại Trí Huệ. Vầng mây này biểu thị cho Duyên Giác Ðạo. Duyên Giác là những bậc nhờ tu pháp Thập Nhị Nhân Duyên mà thành Ðạo; và như thế, cần phải có Ðại Trí Huệ. Các ngài quán sát Thập Nhị Nhân Duyên, thấu triệt đạo lý sanh diệt, biết rõ vạn vật thảy đều tự sanh tự diệt; rồi hoát nhiên được tỏ ngộ, từ Phật tánh sẵn có bèn nảy sanh một thứ trí huệ chân chánh. Do đó, đám mây sáng Ðại Trí Huệ này là tiêu biểu cho Duyên Giác Ðạo.

Thập Nhị Nhân Duyên tức là mười hai cái nhân duyên níu kéo nhau: Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão, Tử. Ðây gọi là”thuận sanh môn” (lưu chuyển môn – sự xoay vần).

Còn “hoàn diệt môn” (diệt trừ trở lại) tức là: Vô Minh diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt, Thức diệt thì Danh Sắc diệt, Danh Sắc diệt thì Lục Nhập diệt, Lục Nhập diệt thì Xúc diệt, Xúc diệt thì Thọ diệt, Thọ diệt thì Ái diệt, Ái diệt thì Thủ diệt, Thủ diệt thì Hữu diệt, Hữu diệt thì Sanh diệt, Sanh diệt thì Lão, Tử diệt.

Như vậy, nếu phá trừ được vô minh thì tất cả đều không nảy sanh. Bậc Duyên Giác quán sát đến điểm này liền phá bỏ vô minh trước nhất. Bởi tất cả đều từ vô minh mà ra, cho nên một khi vô minh đã bị phá hủy thì trí huệ chân chánh sẽ nảy sanh.

4) Vầng mây sáng Ðại Bát Nhã. “Bát Nhã” tức là trí huệ, và gồm có ba loại là Văn Tự Bát Nhã, Thực Tướng Bát Nhã và Quán Chiếu Bát Nhã. Bậc Thanh Văn dựa vào Văn Tự Bát Nhã mà sanh khởi Quán Chiếu Bát Nhã, rồi do Quán Chiếu Bát Nhã mà đạt đến Thực Tướng Bát Nhã, và vì đã đạt đến Thực Tướng Bát Nhã cho nên chứng được quả vị A La Hán.

Vậy, đám mây sáng Ðại Bát Nhã là tiêu biểu cho Thanh Văn Thừa.

5) Vầng mây sáng Ðại Tam Muội. “Tam Muội” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ðịnh. Thiên nhân (người ở cõi trời) tu hành bậc thượng phẩm của Thập Thiện thì có được thứ định lực này, chứng đắc Tứ Thiền Bát Ðịnh (bốn Thiền, tám Ðịnh).

Tứ Thiền là bao gồm Tứ Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, Nhị Thiền Thiên và Sơ Thiền Thiên. Sơ Thiền gọi là Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa, Nhị Thiền gọi là Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa, Tam Thiền gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa (“ly hỷ” tức là rời bỏ sự vui vẻ, sung sướng), và Tứ Thiền gọi là Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa.

Lại còn có Tứ Không Xứ – Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên. Như vậy, hợp lại gọi chung là Tứ Thiền Bát Ðịnh. Chư thiên ở đây đều có Ðịnh lực, và đều tu bậc thượng phẩm của Thập Thiện. (Thập Thiện gồm có thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.) Họ nhờ thọ Tam Quy và trì Ngũ Giới cho nên được sanh lên cõi trời.

6) Vầng mây sáng Ðại Kiết Tường. Vầng mây này tiêu biểu cho Nhân Ðạo (cõi người). Con người, ai ai cũng muốn mọi sự được kiết tường. Người Trung Hoa thường dùng hai chữ này đi đôi với nhau –  “kiết” là may mắn thuận lợi,”tường” là điềm lành – nói chung là chỉ sự tốt đẹp. Những chúng sanh tu bậc trung phẩm của Thập Thiện, thọ Tam Quy, trì Ngũ Giới, thì được sanh vào cõi người.

7) Vầng mây sáng Ðại Phước Ðức. Ðây là biểu thị Tu-La Ðạo (cõi A-tu-la). A-tu-la có lúc ở cõi trời, có lúc ở nhân gian, trong loài súc sanh hoặc trong đường ngạ quỷ. Nói chung thì A-tu-la cũng có phước đức lớn; cho nên vầng mây sáng này soi chiếu cõi A-tu-la.

8) Vầng mây sáng Ðại Công Ðức. Ðây là biểu thị Súc Sanh Ðạo (cõi súc sanh). Ðức Phật phóng vầng mây sáng Ðại Công Ðức này khiến cho tất cả nghiệp tội của loài súc sanh đều tiêu trừ, và tương lai có thể lìa khổ, được vui.

9) Vầng mây sáng Ðại Quy Y. Ðây là biểu thị cho Ngạ Quỷ Ðạo (cõi quỷ đói). Ðức Phật phóng vầng mây sáng này khiến cho tất cả ngạ quỷ đều bỏ ác theo thiện, sửa đổi lại chính mình cho tốt, và cùng nhau phát tâm quy y Tam Bảo. Quỷ cũng có thể được quy y Tam Bảo.

10) Vầng mây sáng Ðại Tán Thán. Ðây là biểu thị cho Ðịa Ngục Ðạo. Ðức Phật phóng vầng mây sáng này với lòng khen ngợi. Những chúng sanh ở chốn địa ngục trông thấy vầng mây sáng này thì đều lìa khổ được vui, sửa sai hướng thiện, phát Bồ Ðề tâm.

Mười vầng mây sáng này tiêu biểu cho cơ nghi của chúng sanh trong Thập Ðạo, tức là mười nẻo đường hoặc mười cõi giới. Ðức Phật Thích Ca Nâu Ni phóng ra nhiều đám mây sáng như vậy, khiến cho chúng sanh trong mười Pháp Giới đều phát tâm tu hành để sớm thành Phật Ðạo.

Ðức Phật phóng ra bất khả thuyết vầng mây sáng rỡ như thế – sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã phóng ra những vầng mây sáng kỳ diệu không tả xiết này, thì thế nào?

Kinh văn:

…rồi lại phát ra các âm thanh vi diệu, như là tiếng Ðàn Ba La Mật, tiếng Thi Ba La Mật, tiếng Sằn Ðề Ba La Mật, tiếng Tỳ Ly Da Ba La Mật, tiếng Thiền Ba La Mật, tiếng Bát Nhã Ba La Mật, tiếng Từ Bi, tiếng Hỷ Xả, tiếng Giải Thoát, tiếng Vô Lậu…

Lược giảng:

Rồi Ðức Thế Tôn lại phát ra các âm thanh vi diệu. Phật phát ra không phải chỉ một loại mà là vô số loại âm thanh. “Vi” là êm dịu, nhỏ nhẹ – âm thanh không ầm ĩ chói tai, mà rất là hài hòa, dịu dàng.”Diệu” là thánh thót, trong và rõ – giọng nói của Phật rất thánh thót, vi diệu.

Phật chỉ dùng một thứ âm thanh để thuyết pháp, nhưng bất cứ loại chúng sanh nào nghe thấy cũng đều hiểu được cả; thậm chí những người tuy khác quốc gia, bất đồng ngôn ngữ, cũng có thể hiểu được như nhau. Mặc dù Phật chỉ nói bằng một thứ tiếng, nhưng người Nhật nghe thì hiểu đó là tiếng Nhật, người Anh nghe thì hiểu đó là tiếng Anh, người Pháp nghe thì hiểu đó là tiếng Pháp, người Tây Ban Nha nghe thì hiểu đó là tiếng Tây Ban Nha… Tuy rằng ngôn ngữ mỗi nước mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều hiểu được tiếng của Phật mà không cần phải phiên dịch. Cảnh giới của Phật vốn không thể nghĩ bàn; cho nên nói:

Phật dĩ nhất âm diễn thuyết Pháp,

Chúng sanh tùy loại các đắc giải.

(Phật chỉ dùng một loại âm thanh để thuyết pháp

nhưng mọi loài chúng sanh đều hiểu được.)

“Âm” nghĩa là gì? Chữ”âm” ở đây có thể giảng là đồng nghĩa với chữ”ẩm,” tức là”uống.” Vì sao gọi là”uống”? Bởi âm thanh ấy”rót” thẳng vào lòng quý vị, khiến quý vị nghe và hiểu thông suốt, chẳng khác nào”uống” từng lời vậy.

Chữ “âm” này lại cũng có thể giảng theo nghĩa của chữ “ẩn,” tức là “ẩn giấu.” Bởi âm thanh thì có lớn có nhỏ, khi vang khi bặt, chẳng khác nào lúc ẩn lúc hiện, cho nên gọi là “ẩn.” Ðức Phật có cảnh giới không thể nghĩ bàn – Pháp âm của Ngài, chúng sanh nghe nhận đều không giống nhau. Người này nghe ra là thứ tiếng này, người khác nghe ra là thứ tiếng khác. Thật ra thì vốn chỉ là một loại âm thanh mà thôi, nhưng chúng sanh vì chủng loại bất đồng, nên cái “nghe” cũng có sự khác biệt.

Âm thanh của Phật có thể truyền đi bao xa? Tôn Giả Mục Kiền Liên, vị đệ tử thần thông bậc nhất của Phật, đã thí nghiệm bằng cách dùng thần thông hướng về Hằng hà sa số thế giới ở phía đông để nghe xem âm thanh của Phật truyền đi được bao xa. Vượt qua Hằng hà sa số thế giới như thế mà Tôn Giả vẫn nghe được âm thanh của Phật rõ mồn một như đang đối diện với Ðức Phật vậy; cho nên âm thanh của Phật thật không thể nghĩ bàn.

Lúc bấy giờ Ðức Phật phát ra rất nhiều loại âm thanh chứ không phải chỉ có một loại; vậy thì tổng cộng có bao nhiêu loại?

Như là tiếng Ðàn Ba La Mật. “Ðàn” là Ðàn-na (Dana), và vốn là tiếng Phạn; Trung Hoa dịch là “bố thí.” Bố thí, trước kia giảng nhiều lần rồi. Bố thí thì gồm có tài thí, pháp thí và vô úy thí. Mặc dù mọi người đều hiểu rồi, nhưng nay giải thích cặn kẽ hơn về ý nghĩa của”bố thí.”

Bố thí mà không chấp trước ở tướng bố thí thì mới là sự bố thí chân chánh. Bố thí mà có sự chấp tướng thì quả báo sẽ là sanh về cõi trời; còn bố thí mà không chấp tướng thì được quả báo thuộc loại vô lậu. “Không chấp tướng” tức là tuy có hành động song trong lòng không so đo, nhớ nghĩ đến. Ví dụ như mình bố thí cho ai đó một số tiền, thâm tâm liền nghĩ: “A! Thế là phen này mình làm được một việc thiện, tương lai mình sẽ được hưởng phước báo!” Luôn suy nghĩ, tính toán như vậy thì rốt cuộc lại không được phước báo; cho dù có được phước báo đi chăng nữa thì cũng chỉ là sanh lên cõi trời mà thôi, chứ không thể hưởng được thứ phước báo vô lậu.

Phải như thế nào mới gọi là bố thí không chấp tướng? Phải đạt đến cảnh giới “tam luân thể không” – không có năng thí (người cho), không có sở thí (vật đem cho) và cũng không có thọ giả (người nhận).

Thế nào gọi là “năng thí”? Thế nào gọi là “sở thí”?” Năng thí” tức là bố thí mà còn có cái “ngã,” không quên được cái”tôi.” Ví dụ cứ nhớ rằng: “Mình đã cúng dường một số tiền để xây chùa, đúc tượng Phật, in kinh điển”; rồi sanh tâm chấp trước. Chấp trước như thế nào? Cứ nghĩ rằng mình là người có khả năng bố thí, cứ thấy mình là người đã dám xuất ra năm vạn đồng để cúng dường! Ðó là “năng thí.”

“Sở thí” tức là những thứ được mang ra bố thí. Như nghĩ rằng: “Mình đã bỏ ra năm vạn đồng để làm việc bố thí. Mình đã cúng dường tiền bạc để cất chùa, in kinh, tạc tượng. Mình đã làm công quả, tạo được công đức. Mình có góp phần bố thí. Mình là kẻ có công bố thí, có đem của cải ra bố thí.”

Có năng thí và sở thí rồi, tất phải có “thọ giả,” tức là người thọ nhận của đem cho, thì mới hoàn tất sự bố thí.

“Thọ giả” thì có năng thọ và sở thọ. Thế nào gọi là “năng thọ”? Chẳng hạn có một người xuất ra năm vạn đồng bố thí cho tôi, thì tôi chính là “năng thọ” – kẻ thọ nhận; còn số tiền mà tôi thọ nhận từ người ấy chính là”sở thọ.”

Không có năng thí thì cũng không có sở thí. Ðã không có năng thí, sở thí, thì cũng không có năng thọ, sở thọ – tức là không có thọ giả  – đó gọi là “tam luân thể không.” Cho nên, bố thí mà không chấp trước vào tướng bố thí thì mới gọi là sự bố thí “tam luân thể không.”

“Ba La Mật (paramita)” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “đáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia), và cũng là “bỉ ngạn đáo.” “Ðáo bỉ ngạn” là nói theo ngữ pháp của tiếng Trung Hoa; còn “bỉ ngạn đáo” là nói theo ngữ pháp của tiếng Phạn (Ấn Ðộ) và tiếng Anh, có hơi khác với văn phạm của Trung văn. Vậy, “đáo bỉ ngạn” và “bỉ ngạn đáo,” nói tóm lại là “đáo” cái “bỉ ngạn” nào?

“Ðáo bỉ ngạn” ngụ ý rằng tất cả những việc mà chúng ta làm đã thành công rồi, chúng ta đã đạt mục đích, đã thực hiện được điều mình hằng mong muốn. Ví dụ, hiện nay chúng ta muốn chấm dứt sự sanh tử, thì đối với chúng ta, sanh tử là “thử ngạn” (bờ bên này), còn Niết Bàn là “bỉ ngạn” (bờ bên kia). Như thế, từ bờ sanh tử bên này mà vượt qua được con sông phiền não, tới được bờ Niết Bàn bên kia, gọi là “đáo bỉ ngạn.”

Chúng ta từ thế giới này muốn đến thế giới Thường Tịch Quang của Phật, nếu bây giờ khởi hành thì đến khi tới nơi, cũng gọi là “đáo bỉ ngạn.” Từ bờ bên này của phàm phu mà sang đến bờ bên kia của Thánh nhân, chứng được Thánh quả, cũng gọi là “đáo bỉ ngạn.” Trước kia chúng ta chưa thông hiểu Phật Pháp, nay lại hiểu rõ Phật Pháp, tức là chúng ta cũng”đáo bỉ ngạn” vậy.

Tuy nhiên, “đáo bỉ ngạn” thì có “bỉ ngạn rốt ráo” và “bỉ ngạn không rốt ráo.” Thế nào là “bỉ ngạn rốt ráo”? Thế nào là “bỉ ngạn không rốt ráo”? Phàm phu chúng ta nếu chứng đắc Sơ Quả tức là đến được “bờ bên kia” của Sơ Quả chứ chưa đến được “bờ bên kia” của Nhị Quả. Chứng đắc Nhị Quả tức là đến “bờ bên kia” của Nhị Quả, chứ chưa đến được “bờ bên kia” của Tam Quả. Chứng đắc Tam Quả tức là đến được “bờ bên kia” của Tam Quả. Chứng đắc Tứ Quả tức là đến được”bờ bên kia” của Tứ Quả, chứ vẫn chưa đến được “bờ bên kia” của Bồ Tát. Chứng đắc tri kiến và trí huệ của Bồ Tát tức là đến được”bờ bên kia” của Bồ Tát, chứ chưa phải là của chư Phật. Phải chứng được Phật Quả thì mới là đạt đến cái “bỉ ngạn rốt ráo,” và đó cũng chính là cái “bỉ ngạn” cuối cùng.

Cho nên, ý nghĩa của ba chữ “đáo bỉ ngạn” vô cùng thâm áo. Nay tôi chỉ giảng sơ lược đạo lý này, sau khi hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ “đáo bỉ ngạn” rồi, quý vị hãy suy rộng ra, bổ sung thêm, để đạt đến chỗ rốt ráo của “bờ bên kia.” Nói như vậy cũng có nghĩa là tuy tôi giảng rất ít, song quý vị có thể dựa vào những đạo lý tôi giảng mà suy rộng, bổ túc, triển khai vấn đề cho bao quát hơn; như thế thì tôi chỉ giảng một mà quý vị có thể lãnh hội được mười hoặc trăm.

Ngoài ra, như bây giờ bắt đầu giảng kinh, hai tiếng đồng hồ sau thì giảng xong, đó là “đáo bỉ ngạn,” là “Ba La Mật” – buổi giảng kinh đã”đáo bỉ ngạn” vậy. Lại nữa, từ lúc bắt đầu giảng câu”như thị ngã văn,” có thể nói là chúng ta còn ở”thử ngạn” (bờ bên này); đến khi giảng xong câu “giai đại hoan hỷ, tín thọ nhi khứ,” là chúng ta đã “đáo bỉ ngạn” – sang đến bờ bên kia rồi. Tóm lại, làm việc gì mà thành công, đạt mục đích rồi, thì đó là “đáo bỉ ngạn.” Quý vị hiểu thấu suốt từ ngữ “đáo bỉ ngạn” này, tức là quý vị cũng “đáo bỉ ngạn” vậy. Mục đích tối hậu của chúng ta là thành Phật, chứng được A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề, đắc quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thì mục đích đó cũng chính là “bỉ ngạn” của chúng ta vậy.

Tiếng Thi Ba La Mật. “Thi” là tiếng Phạn, nói đầy đủ là “Thi La” (Sila); Trung Hoa dịch là “thanh lương.” “Thanh” là thanh tịnh, trong sạch; “lương” là lương sảng, mát mẻ. Vậy, “thanh lương” có nghĩa là vừa sạch sẽ vừa mát mẻ; ngụ ý rằng chẳng những không có phiền não mà còn được thoải mái, thanh thản nữa.

“Thi La” còn được dịch là “phòng chỉ” (ngăn dứt). Mỗi quốc gia đều có dự bị quân đội, để phòng khi nước khác không giữ quy củ, xâm lấn đất nước mình, thì mình có binh lính sẵn sàng để chống cự; đó gọi là “quốc phòng” – sự phòng bị của quốc gia. Gia đình có sự phòng bị của gia đình, mỗi cá nhân đều có sự phòng bị của riêng mình. Ở đây là nói về sự phòng bị của mình đối với chính mình.

Thế nào gọi là “phòng chỉ”? Ðó là “phòng bị” mà”đình chỉ.” Phòng bị việc gì? Tức là đề phòng tất cả điều ác, đình chỉ tất cả việc ác, tuyệt đối không làm điều ác. Và, đó chính là:

Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành.

(Chớ làm các việc ác,

Vâng làm mọi việc lành.)

Khi xưa có một cư sĩ đến xin một vị Hòa Thượng giải thích cho ông biết Phật Pháp là gì. Hòa Thượng đáp: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.”

Vị cư sĩ liền nói: “Bạch Hòa Thượng, điều tôi muốn biết là Phật Pháp. Còn chuyện ‘chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành,’ thì đứa bé lên ba cũng biết được, sao Ngài lại bảo đó là Phật Pháp?”

Hòa Thượng đáp: “Tuy đứa bé ba tuổi hiểu được, nhưng ông già tám mươi không làm được!”

“Chư ác mạc tác.” “Chư ác” tức là tất cả mọi cái ác, mà cũng là một trong những việc ác. Chữ “chư” này là chỉ số nhiều, mà cũng có thể hiểu là một. Ví dụ, quý vị làm được một việc ác thứ nhất tất sẽ làm được việc ác thứ hai, làm việc ác thứ hai rồi quý vị sẽ làm việc ác thứ ba, làm việc ác thứ ba rồi tất quý vị sẽ không ngần ngại mà làm việc ác thứ tư, cho đến cả trăm ngàn vạn điều ác – như thế, tất cả đều khởi sự từ con số một, từ một việc ác ban đầu mà sinh sôi nảy nở rồi tích lũy dần dần. Giống như trái núi, quý vị thấy to lớn như vậy, nhưng thực tế nó được kết thành từ những hạt bụi nhỏ, vô số hạt bụi kết tụ lại hình thành một hòn núi. Cho nên quý vị nói “nhiều,” nhưng “nhiều” rốt cuộc là bao nhiêu? Không có số lượng nhất định! Thế thì chi bằng cứ nói là “một,” như vậy còn dễ hiểu hơn!

Vì thế, ngay cả một việc ác cỏn con cũng không nên làm; đó chính là “chớ làm các việc ác” vậy. Nếu như nói “chớ làm các việc ác,” e rằng có người lại nghĩ: “Ðó là nói không nên làm nhiều việc ác, còn một việc ác này thôi thì đâu phải là nhiều, mình có làm cũng chẳng sao!” Cho nên, ở đây tôi nhấn mạnh là một việc ác còn không nên làm, huống hồ là nhiều việc ác! Nhiều thì càng không nên làm. Vậy, điều trọng yếu nhất, vi diệu nhất là một việc ác cũng không làm!

“Chúng thiện phụng hành.” “Chúng” là nhiều; đồng nghĩa với chữ “chư.” “Chúng thiện phụng hành” nghĩa là tất cả mọi việc thiện, bất kể là lớn hay nhỏ, chúng ta đều nên làm, chẳng nên bỏ sót một việc nào. Cho dù là chuyện nhỏ nhặt, nhưng miễn là việc tốt thì cũng nên làm. Bằng không, nếu bỏ qua, thì sẽ bị thiếu một việc thiện nhỏ đó, mà như thế thì không thể gọi là “chúng thiện” được! “Chúng” là toàn thể đại dụng, trọn vẹn, không thiếu một chút gì. Do đó, không thể nói rằng: “Tôi chỉ làm việc thiện này thôi; tôi không thích làm việc thiện kia!” Làm thiện sự thì dù nhiều hay ít, dù lớn hay nhỏ, chúng ta cũng đều nên làm tất cả.

Còn đối với việc ác thì hoàn toàn trái ngược – việc ác, bất kể là lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, chúng ta đều tuyệt đối không nên phạm. Nếu quý vị làm điều ác bất chấp lớn nhỏ, như thế là điên đảo đấy! Cho nên, sở dĩ vị Hòa Thượng này nói: “Tuy đứa bé ba tuổi hiểu được, nhưng ông già tám mươi không làm được,” là vì chúng ta làm mà chưa đạt tới chỗ viên mãn.

“Thi La” còn có nghĩa là Giới – Giới Luật. Khi Ðức Phật sắp nhập Niết Bàn, ngài A Nan thỉnh vấn bốn điều, và một trong bốn điều ấy là khi Phật còn tại thế thì chúng đệ tử thờ Phật làm Thầy, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn rồi thì phải tôn ai làm Thầy. Bấy giờ, Ðức Phật dạy rằng: “Chúng đệ tử xuất gia phải lấy Giới làm Thầy!” Những giới luật ấy chính là “chớ làm các việc ác, vâng làm mọi việc lành,” và cũng chính là “chỉ ác, phòng phi” – ngăn dứt điều ác, đề phòng việc quấy. Cho nên Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Thi La Ba La Mật.

“Giới” là tối trọng yếu, là quan trọng nhất. Bố thí là vấn đề quan trọng nhất trong việc tu hành, mà trì Giới lại cũng là vấn đề quan trọng nhất. Sao có nhiều vấn đề “quan trọng nhất” vậy? Trong Phật Pháp không có thứ nhì, mà toàn là thứ nhất, bất cứ pháp nào cũng đều là thứ nhất cả!

Có người hỏi tôi: “Phật Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, vậy pháp môn nào là đệ nhất, cao nhất, vi diệu nhất?” Quý vị đoán tôi trả lời như thế nào? Tôi nói: “Phật Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, thì có tám vạn bốn ngàn pháp môn là đệ nhất, là số một, không có pháp môn nào là hạng nhì cả!” Vì sao tôi nói như vậy? Tám vạn bốn ngàn pháp môn là để đối trị tám vạn bốn ngàn tật bệnh của chúng sanh. Mỗi chúng sanh đều mắc một chứng bệnh khác nhau, thế thì, pháp môn nào trị lành được bệnh của người nào, thì pháp môn ấy là hạng nhất đối với người đó vậy!

Thí dụ như các dược phẩm, có thứ thì trị nhức đầu, có thứ thì trị đau cổ, hoặc đau mắt, đau tai, nhức răng, sổ mũi…, có thứ thì trị các chứng bệnh khác trong cơ thể; vậy quý vị nói thứ thuốc nào là hay nhất, là số một? Nếu nói rằng thuốc nhức đầu là số một còn thuốc đau mắt là số hai, tức là sai lầm! Quý vị mắc chứng nhức đầu, uống thuốc đau đầu vào thì hết nhức, thì thuốc ấy là số một; quý vị bị bệnh đau mắt, uống thuốc đau mắt rồi thì hết đau, thì thuốc này cũng là số một vậy.

Loài người chúng ta đều có “bệnh” tham, sân, si; nếu quý vị hiểu Phật Pháp rồi trị được “bệnh” tham trong tâm mình, thì pháp môn trị tâm tham ấy là đệ nhất; nếu quý vị hiểu Phật Pháp rồi trị được “bệnh” sân, thì pháp môn trị tâm sân ấy là đệ nhất; và nếu quý vị hiểu Phật Pháp rồi dứt trừ được lòng si mê, thì pháp môn trị tâm si ấy là đệ nhất. Chúng sanh có tám vạn bốn ngàn thói hư tật xấu, Phật bèn giảng nói tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị những thói hư tật xấu ấy. Hễ pháp môn nào trị dứt được bệnh của quý vị thì pháp môn ấy là số một; bằng không thì không gọi là số một được. Do đó, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là tám vạn bốn ngàn pháp môn thuộc loại số một cả!

Kinh Kim Cang dạy:”Pháp đây bình đẳng, không có cao thấp.” Ðã không có cao thấp cho nên tôi nói cả tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là số một, là đệ nhất, quý vị bảo như thế có phải là Phật Pháp không?

Tôi giảng kinh không giống như các người khác – như “chư ác mạc tác,” thì chữ “chư” phải giảng là “nhiều,” không thể nào là “một” được! Tôi thì khác! Tôi áp dụng ngữ pháp của tiếng Anh, đảo ngược lại để truy tìm từ đầu. Bởi tôi không biết về số học, con số nhiều quá làm tôi không biết đâu vào đâu nữa. Liệu mình không theo kịp, tôi bèn quày trở lại để đón đầu. Thí dụ có người chạy rất nhanh, người đó quẹo, tôi cũng quẹo, cứ thế mà chạy theo người ấy. Song người ấy chạy quá nhanh, biết mình không thể nào bắt kịp được, tôi bèn quay đầu chạy ngược hướng lại tức thì đón được anh ta! Quý vị xem, tôi giảng Kinh cũng theo phương thức ấy – số mục quá nhiều, đếm không nổi, do vậy tôi nói là”một” cho đơn giản. Như thế, chẳng những tôi mà ngay cả đứa trẻ con cũng có thể hiểu được! Ðó là cách giảng của tôi!

“Thi La Ba La Mật.” “Thi La” là trì Giới. Người trì Giới thì rất nhiều, nhưng người mà tôi muốn nói đến chính là Ðạo Tuyên Luật Sư. Ðạo Tuyên Luật Sư là một vị Pháp Sư trì Giới nghiêm minh bậc nhất và nghiên cứu Giới Luật cao thâm nhất ở Trung Hoa. Ngài do trì Giới tinh nghiêm mà khiến cho chư thiên cảm động và hằng ngày đến dâng cơm cúng dường; vì thế Ngài thọ dụng thức ăn của cõi trời chứ không phải của nhân gian. Trong các Tổ Sư ở Trung Hoa từ trước đến nay, chỉ có Ðạo Tuyên Luật Sư được thọ hưởng sự cúng dường của chư thiên, và việc này ai ai cũng rõ biết.

Giới Luật thì chuyên nói về giới tướng, giới pháp và oai nghi – ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Ba ngàn oai nghi này từ đâu mà có? Từ Tứ Ðại Oai Nghi – đi, đứng, nằm, ngồi – đi cũng phải có oai nghi, ngồi cũng phải có oai nghi, đứng cũng phải có oai nghi, và nằm cũng phải có oai nghi:

Hành như phong,

Lập như tùng,

Tọa như chung,

Ngọa như cung.

“Hành như phong” tức là đi như làn gió. Gió này hoàn toàn không phải là gió lốc, cũng chẳng phải là cuồng phong. Ði mà hấp tấp như chạy, tất không là gió lốc thì cũng thành cuồng phong. Người xuất gia khi cất bước phải khoan thai như làn gió nhẹ, chỉ dịu dàng thổi lướt qua, không làm xao động mặt nước; tuy rằng có gió song không làm dậy sóng.

“Lập như tùng” tức là đứng thì thân phải thẳng như cây tùng, không nên ngoẹo đầu ngoẹo cổ, dáng vẻ ủ rủ chẳng có chút tinh thần, giống như chưa tỉnh ngủ vậy. Phải đứng cho ngay, thẳng người lên; khi đi thì đừng lúi húi khom lưng còng cổ, cũng đừng gằm đầu cúi mặt! Tuy nhiên, không nên cúi đầu tức là phải ngẩng đầu, nhưng ngẩng lên quá cũng không đúng, mà phải ngẩng một cách tự nhiên. Ðây là nói về cách đứng, một trong bốn đại oai nghi.

Ngoài ra, khi đi thì không nên nhìn đông nhìn tây, cũng đừng dáo dác trông trước trông sau! Quý vị lơ láo nhìn ngó như thế mà cảnh sát trông thấy thì sẽ nghĩ: ” A! Tên này khả nghi quá, hắn định dở trò trộm cướp gì đây. Hắn rình xem có ai ở nhà không để đột nhập đấy mà!” và liền chú ý đến quý vị. Cho nên, đừng nhìn ngang liếc dọc, chớ dáo dác dòm ngó!

“Tọa như chung” tức là ngồi ngay ngắn, vững chãi như cái chuông úp vậy.

“Ngọa như cung” tức là nằm như cái cung. Ðó là tư thế “thác tai đáp khác,” còn gọi là dáng nằm kiết tường. “Thác tai” là nằm nghiêng về bên tay phải, bàn tay lật ngửa ra kê dưới má phải; “đáp khác” là tay trái duỗi ra và bàn tay úp lại để trên bắp đùi trái; hai chân hơi co lên một chút, tư thế tựa như cây cung.

Về bốn đại oai nghi đi đứng nằm ngồi, thì mỗi oai nghi có hai trăm năm mươi điều lệ –  hai trăm năm mươi điều về đi, hai trăm năm mươi điều về ngồi, hai trăm năm mươi điều về đứng, hai trăm năm mươi điều về nằm. Ði sâu vào chi tiết thì mỗi một oai nghi đều có tới hai trăm năm mươi điều lệ, chứ chẳng phải là chuyện đơn giản! Như thế, bốn đại oai nghi thì tổng cộng là một ngàn điều lệ. Một ngàn điều lệ cho mỗi thời – quá khứ một ngàn, hiện tại một ngàn và vị lai một ngàn – nên tổng cộng là ba ngàn oai nghi.

Ðạo Tuyên Luật Sư trì giới tinh nghiêm, đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, cho nên người cõi trời cảm động mà dâng cơm cúng dường Ngài. Lúc tu hành, Ngài không tùy tiện nói cười. Nói chuyện với Ngài phải nói hợp với Giới Luật thì Ngài mới đáp lại; bằng không, Ngài không trả lời. Ngài không tùy tiện cười đùa, cũng chẳng khóc than, nóng giận, mà luôn luôn có vẻ điềm tĩnh, bình thản vốn sẵn – không mừng, không giận, chẳng buồn, chẳng vui. Không có mừng giận buồn vui, thế thì đó là người gì? Phải chăng là người gỗ – người gỗ thì chẳng biết mừng vui, chẳng biết nổi nóng, chẳng biết khóc than, cũng chẳng biết cười đùa? Thật ra, con người, khi những trạng thái mừng giận buồn vui không còn phát khởi, thì đó chính là lúc họ đạt đến Trung Ðạo. Người trì Giới, nhất cử nhất động đều phải giữ Trung Ðạo. Ðạo Tuyên Luật Sư nhờ giữ Trung Ðạo, cho nên người cõi trời cảm động mà ngày ngày mang vật thực tới cúng dường Ngài. Hằng ngày, cứ vào giữa trưa, Tiên Lục Huyền Sướng lại đến dâng cúng Ngài những đồ ăn thức uống của cõi trời.

Ðạo Tuyên Luật Sư vốn tu hành trên núi Chung Nam (Trung Quốc). Núi Chung Nam nối liền với rặng Hy Mã Lạp Sơn, dãy núi thông nhau liên tiếp, không đứt đoạn. Nghe nói có rất nhiều người đến núi Chung Nam tu hành và được ngộ Ðạo. Trên núi này cũng có rất nhiều cọp beo, nhưng chúng không hề gây trở ngại cho những vị xuất gia tu Ðạo, lại còn hộ pháp cho họ nữa.

Ðạo Tuyên Luật Sư bấy giờ sống trong một am tranh trên núi Chung Nam để tu hành, và ngày ngày đều được thiên nhân đến cúng dường vật thực. Biết được chuyện ấy, Khuy Cơ Pháp Sư liền sanh vọng tưởng; vọng tưởng gì? Ngài nghĩ: “Tất cả đồ ăn thức uống của nhân gian, chay cũng như mặn, ta đều đã nếm qua; duy có thức ăn của cõi trời là ta chưa được thưởng thức mà thôi. Nay Ðạo Tuyên Luật Sư được người trời cúng dường, ta phải đến chỗ ông ấy thọ trai một bữa cho biết mới được!” Thế là Ngài liền đến núi Chung Nam để gặp Ðạo Tuyên Luật Sư.

Ðương thời, Khuy Cơ Pháp Sư là Quốc Sư trong nước. Ngài vốn là đệ tử của Huyền Trang Pháp Sư và chuyên giảng về Duy Thức. Khuy Cơ Pháp Sư vô cùng thông minh; Ngài là một nhân vật chủ yếu trong số tám, chín trăm Hòa Thượng cùng hợp tác phiên dịch kinh điển tại chùa Bạch Mã.

Khuy Cơ Pháp Sư đến am tranh rất sớm để đợi bữa cơm trưa, vì Ðạo Tuyên Luật Sư chỉ thọ trai vào giờ ngọ. Nhưng đợi mãi, tới quá trưa, rồi xế chiều, cho đến tối mịt cũng không có ai đến dâng cúng thức ăn cả; cho nên cả ngày hôm đó Ðạo Tuyên Luật Sư không có gì để dùng qua bữa, Khuy Cơ Pháp Sư cũng đành phải ôm bụng chịu đói!

Pháp Sư Khuy Cơ thường nhật quen dùng những thức ăn ngon, bây giờ suốt một ngày phải nhịn đói, chịu không nổi – mối phiền não này thật tình là không phải nhỏ – bèn chất vấn ngài Ðạo Tuyên: “Nghe nói chỗ Ngài có người trời dâng cơm cúng dường, thế sao hôm nay tôi đến lại chẳng thấy có động tịnh gì cả? Hay là Ngài nói khoác? Có phải là Ngài vọng ngữ, dối người?”

Ðạo Tuyên Luật Sư nói: “Tùy Ngài, muốn nói sao cũng được! Ngài nói tôi lừa dối mọi người thì cũng mặc Ngài, song chỉ có tôi biết là tôi có dối gạt người khác hay không mà thôi!”

Mặc dù Khuy Cơ Pháp Sư nói oan cho Ðạo Tuyên Luật Sư là lừa dối người, nhưng Luật Sư vẫn không buồn biện luận lôi thôi. Khuy Cơ Pháp Sư đợi mãi đến chiều tối; rồi vì trời tối mịt nên về không được, phải ở lại am tranh. Hai ngài – Khuy Cơ Pháp Sư thì to béo, còn Ðạo Tuyên Luật Sư thì gầy ốm. Ðạo Tuyên Luật Sư mặc dù thọ dụng thức ăn của chư thiên cúng dường, nhưng lại không được mập; Khuy Cơ Pháp Sư thì tuy không có thực phẩm của nhà trời để dùng, mà lại phốp pháp, mập mạp – một phần cũng vì Pháp Sư ngon miệng, nên suốt ngày cứ khuyến khích đầu bếp ráng nấu những món chay thật ngon lành!

Thế là đêm hôm ấy, Khuy Cơ Pháp Sư phải ở lại am tranh; Ngài không tham Thiền, kê đầu là ngủ, lại còn ngáy vang như sấm.

Trong khi đó, Ðạo Tuyên Luật Sư ngồi Thiền, nhưng bị tiếng ngáy ồn ào của Khuy Cơ Pháp Sư quấy rầy, lại thêm lũ rận không ngớt làm Ngài khó chịu (khí hậu ở vùng núi Chung Nam rất lạnh, người tu Ðạo lại bận dụng công, rất ít tắm rửa, nên trong mình thường có rận); khiến cho Ngài không tài nào nhập Ðịnh được. Do đó, Ngài đành phải ngồi bắt rận; nhưng vì trì Giới, không dám sát sanh, nên Ngài bắt từng con rồi từ từ thả nhẹ xuống đất cho chúng tự bò đi nơi khác. Lúc bấy giờ trong am không đốt đèn, mà Khuy Cơ Pháp Sư cũng đã ngủ say, chẳng thể hay biết chuyện gì được. Sau đó, Ðạo Tuyên Luật Sư lại tiếp tục tọa Thiền.

Sáng hôm sau, Ðạo Tuyên Luật Sư trách Khuy Cơ Pháp Sư: “Sao Ngài chẳng tu hành gì cả vậy? Không tọa Thiền, không dụng công, tối đến đặt lưng xuống là ngủ vùi, lại còn ngáy ầm ĩ và mớ nữa, khiến tôi đây không thể tọa Thiền, cũng chẳng nhập Ðịnh được!”

Khuy Cơ Pháp Sư nói: “Ngài nói tôi không tu hành ư? Tôi lại thấy Ngài mới là kẻ chẳng tu hành đấy! Ngài nói có thiên nhân đến cúng dường cho Ngài, song tôi chờ mãi mà chẳng thấy bóng một thiên nhân nào tới cả. Ðã thế, đêm qua Ngài không chuyên chú dụng công mà lại ngồi bắt rận. Ngài bắt được hai con, nếu Ngài lỡ tay gí chết chúng thì cũng được đi, đằng này Ngài lại thả xuống đất, khiến một con thì bị té chết, một con thì bị gãy mất hai chân. Con rận bị chết đó bèn tố cáo Ngài với Diêm La Vương, cho nên Diêm La Vương định phái loài quỷ đến bắt Ngài về tra hỏi. Tôi phải nói tốt cho Ngài, rằng Ngài là một người tu Ðạo, mong Diêm Vương lượng thứ cho Ngài, và xin cho hai con rận kia đi đầu thai; nhờ vậy Ngài mới không bị liên lụy. Thế mà nay Ngài lại nói ngược là tôi quấy rầy Ngài, không để yên cho Ngài tu hành! Xem ra, Ngài mới thật là kẻ không biết tu hành đấy!”

Ðạo Tuyên Luật Sư thắc mắc tự hỏi: “Ông ta làm sao mà biết chuyện mình thả hai con rận xuống đất được nhỉ? Ðêm qua lại không đốt đèn, sao ông ta lại biết rõ sự việc đến thế?” Tuy nghĩ như thế, Ðạo Tuyên Luật Sư vẫn không dám biện hộ; bởi Ngài nghiêm trì Giới Luật, không lời qua tiếng lại tranh cãi với người khác. Người ta nói Ngài thế nào Ngài cũng nhẫn chịu, không hề tranh biện.

Sau đó, Khuy Cơ Pháp Sư chào từ biệt Ðạo Tuyên Luật Sư: “Chào Ngài, tôi đi đây! Ngài cứ ở đây mà làm ra vẻ tu hành. Tôi không muốn chờ đến trưa để thọ trai nữa!”

Trưa hôm đó, Tiên Lục Huyền Sướng lại đến cúng dường Ðạo Tuyên Luật Sư như thường lệ. Ðạo Tuyên Luật Sư nói với vẻ không vui: “Hôm qua sao ông không đến?”

Tiên Lục Huyền Sướng lập tức quỳ xuống thưa:”Thưa Luật Sư! Hôm qua không phải là tôi không đến dâng cúng. Chẳng qua là tôi đã đến đây rồi, song không cách nào vào trong am của Ngài được cả. Lúc tôi đến, chung quanh am tranh này trong vòng bốn mươi dặm, đều tràn ngập một thứ ánh sáng sắc vàng chói ngời, rực rỡ. Tôi bị chóa mắt, không thể nào nhìn thấy con đường trước mặt được nữa. Tôi bèn hỏi Thổ Ðịa Bồ Tát là vì sao phía trước lại có hào quang chói vàng rực rỡ, khiến tôi không thể đi tới được như thế; thì Thổ Ðịa Bồ Tát đáp rằng: ‘Bởi vì trong nhà tranh đó có một người vốn là nhục thân Bồ Tát – một vị Bồ Tát sống.’ Hôm qua tôi đi lui đi lại đến mấy lần, nhưng đều không có cách nào vào được, cho nên không thể cúng dường cho Ngài, cúi mong Ngài lượng thứ cho!”

Ðạo Tuyên Luật Sư bấy giờ mới vỡ lẽ: “Thảo nào Khuy Cơ Pháp Sư được Hoàng Ðế hết lòng tin tưởng và tôn làm Quốc Sư! Thì ra Ngài chính là nhục thân Bồ Tát!”

Từ đó về sau, Ðạo Tuyên Luật Sư không dám coi thường Khuy Cơ Pháp Sư nữa. Thật cảnh giới của Bồ Tát, chúng ta không thể nào suy đoán được

Tiếng Sằn Ðề Ba La Mật. Trong sáu Ðộ (Lục Ba La Mật) thì tôi đã giảng xong hai Ðộ, như thế là còn bốn Ðộ nữa. Vậy, Ðộ thứ ba là “Sằn Ðề”; đây cũng là tiếng Phạn (Ksanti); Trung Hoa dịch là “nhẫn nhục.”

“Nhẫn nhục” thì gồm có Sanh Nhẫn, Pháp Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vô Sanh Pháp Nhẫn là một cảnh giới vô cùng thâm áo, vi diệu, luôn tràn ngập một niềm Pháp hỷ. Phải chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, thì quý vị mới thực sự nếm được mùi vị của Phật Pháp, thực sự hiểu rõ được sự áo diệu và không thể nghĩ bàn của Phật Pháp.

Quý vị phải có thể nhẫn nhục thì mới mong đạt được “Ba La Mật”; không nhẫn nhục được thì không thể nào đạt được “Ba La Mật” – không đến được “bờ bên kia” vậy!

Tiếng Tỳ Ly Da Ba La Mật. “Tỳ Ly Da” cũng là Phạn ngữ (Virya); Trung Hoa dịch là “tinh tấn”; và đây là Ðộ thứ tư trong Lục Ðộ. Có người hiểu lầm đức tinh tấn này là tinh tấn hướng theo ngoại đạo; nhưng kỳ thực, người chân chánh hiểu rõ tinh tấn thì phải tinh tấn hướng về Phật Pháp. Nếu hướng theo ngoại đạo mà tinh tấn, thì đó chỉ là tu khổ hạnh một cách vô ích mà thôi.

Ở Ấn Ðộ có rất nhiều tà phái ngoại đạo. Có phái ngoại đạo chủ trương không ăn cơm mà chỉ ăn cỏ, bắt chước các hành vi của loài trâu, trì giữ “ngưu giới” (giới trâu). Có phái ngoại đạo thì đề xướng học theo những hành vi, động tác của chó và trì “cẩu giới” (giới chó) – việc gì chó không làm thì họ không làm; thức nào chó không ăn thì họ cũng chẳng đụng đến; chỉ những thức nào chó chịu ăn thì họ mới ăn mà thôi. Ðó gọi là “ngưu cẩu giới” (giới trâu, giới chó).

Lại có phái ngoại đạo thì đề xướng việc ngủ trong đống tro. Thân thể con người vốn đã không được sạch sẽ rồi, thế mà họ thì sao? Họ lại còn bôi tro lên khắp mình mẩy cho dơ dáy thêm, cứ vùi thân trong tro trong bụi mà bảo đó là tu hành!!!

Ngoài ra, còn có phái ngoại đạo đưa ra chủ thuyết rằng tu hành thì phải chịu khổ – chịu khổ như thế nào? Phải nằm ngủ trên giường đinh để chứng tỏ rằng mình có khả năng chịu đựng sự đau đớn về thể xác, có thể thực hành mọi khổ hạnh.

Trên đây là một vài thí dụ điển hình trong vô số khổ hạnh tự hành hạ thân xác một cách phi lý và vô ích của các phái ngoại đạo. Những kẻ ấy tự cho rằng họ rất tinh tấn dụng công; kỳ thực, đó chỉ là một thứ tinh tấn của tà tri tà kiến chứ không phải của chánh tri chánh kiến, cho nên thứ tinh tấn ấy chẳng có ích lợi gì cả!

Chúng ta hãy tinh tấn về mặt thiện pháp, chứ đừng nên tinh tấn về mặt ác pháp. Nếu quý vị áp dụng sự tinh tấn vào ác pháp, thì đó là đi ngược với Ðạo, là quay lưng lại với Ðạo vậy.

Ðối với thiện pháp, tinh tấn tức là chăm chỉ lạy Phật, tụng kinh, lễ sám, niệm Phật – đó là nói về “thân tinh tấn” (sự tinh tấn của thân). Rồi kế đến là “tâm tinh tấn” (sự tinh tấn của tâm); thế nào gọi là “tâm tinh tấn”? Tức là trong lòng thời thời khắc khắc đều nhớ đến việc tu hành, niệm niệm không quên siêng năng tu tập thiện pháp, lúc nào cũng hăng hái tu hạnh Tinh Tấn Ba La Mật, chẳng quản mệt nhọc.

Nếu quý vị chân chánh tu học Phật Pháp, tất quý vị sẽ không cảm thấy mệt mỏi, cũng chẳng thấy đói bụng hay khô cổ, và cũng không phải chịu đựng những phiền nhiễu ngoài ý muốn. Vì sao vậy? Vì hễ quý vị tinh tấn thì sẽ không thấy có thứ cảm giác uể oải, chán nản đó nữa. Nếu quý vị biếng nhác, thiếu tinh tấn, thì rất dễ sanh nhiều tật xấu, lại thường cảm thấy mệt mỏi, xuống tinh thần, chỉ muốn đi ngủ cho khỏe thân mà thôi! Tinh tấn là thước đo chủ yếu xem mình như thế nào. Vậy, ở mọi nơi mọi lúc chúng ta đều phải siêng năng tu hành thiện pháp, như thế mới gọi là “Tinh Tấn Ba La Mật.”

Trong khóa tu học vào mùa hè năm ngoái, lúc giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi có đề cập đến bốn câu kệ mà người xuất gia cần phải khắc cốt ghi tâm. Khi Ðức Phật còn trụ thế, các đệ tử xuất gia của Phật hằng ngày đều phải trì tụng bài kệ ấy, tuyệt đối không được xao lãng; vì thế mà trong khóa hè năm ngoái tôi đã đặc biệt đem ra giảng cho quý vị nghe. Tôi thậm chí nhận thấy rằng những người có ý định muốn xuất gia cũng cần phải thuộc nằm lòng bốn câu đó, huống hồ là những kẻ đã xuất gia – quý vị lại càng không được quên! Bốn câu kệ ấy như sau:

Thủ khẩu nhiếp ý thân mạc phạm,

Mạc não nhất thiết chư hữu tình,

Vô ích khổ hạnh đương viễn ly,

Như thị hành giả khả độ thế.

“Thủ khẩu nhiếp ý thân mạc phạm” (gìn lời giữ ý, thân chớ phạm). “Thủ khẩu” có nghĩa là không nói năng một cách tùy tiện, cũng không tùy tiện phê đúng phê sai, nói cái này tốt, bảo cái kia xấu, khen món nọ ngon, chê thức kia dở …; mà phải “giữ mồm giữ miệng,” thận trọng từng lời ăn tiếng nói.

“Nhiếp ý,” tức là thâu nhiếp ý niệm lại, không để cho nó chạy đông chạy tây, không vọng tưởng viễn vông, không nghĩ ngợi lăng xăng.

“Thân mạc phạm,” có nghĩa là thân không phạm Giới.

Từng giây từng khắc, chúng ta nhất định phải luôn luôn tự nhắc nhở chính mình rằng mình là người xuất gia, dứt khoát không được vi phạm Giới Luật, quy củ – đó gọi là “thủ khẩu, nhiếp ý, thân mạc phạm” vậy.

“Mạc não nhất thiết chư hữu tình” (chớ gây phiền não hại chúng sanh.) Chúng ta không nên quấy nhiễu, não loạn chúng hữu tình. Chẳng riêng gì đối với con người, mà ngay cả đối với một con vật cũng vậy, nếu quý vị làm cho nó giận dữ tức là quý vị không đúng rồi. Phàm là người xuất gia thì chớ nên gây phiền não cho mọi chúng sanh.

“Vô ích khổ hạnh đương viễn ly” (vô ích khổ hạnh cần xa lánh). Ðối với mười hai hạnh Ðầu Ðà thì chúng ta nên thực hành; nhưng đối với những khổ hạnh không có ích và không khế hợp với Phật Pháp thì chúng ta cần phải tránh xa, chớ nên theo. Thậm chí có phái ngoại đạo tuyên bố là có phương pháp tu hành thành Phật ngay trong đời này, thì quý vị cũng chớ nên học theo! Chúng ta chỉ nên y chiếu giáo pháp của Ðức Phật để tu hành, chứ đừng chạy theo những kẻ tu “ngưu cẩu giới,” bắt chước lối sống của loài trâu, loài chó. Do đâu mà nảy sinh hiện tượng “ngưu cẩu giới”?

Hàng ngoại đạo thực hành khổ hạnh, tự hành hạ thân xác, làm những việc rất khổ cực, và cũng có người được mở Thiên Nhãn. Sau khi có Thiên Nhãn, họ tình cờ trông thấy một con chó được thác sanh lên cõi trời. Thế là họ kết luận ngay rằng loài chó được thăng thiên, vậy nếu họ học theo loài chó, thì họ cũng sẽ được thăng thiên như thế; cho nên họ bèn trì “cẩu giới,” bắt chước sống theo loài chó.

Lại có những kẻ ngoại đạo khác cũng được Thiên Nhãn Thông, thì trông thấy một con trâu sau khi chết được sanh lên cõi trời; cho nên họ bèn học theo cách của loài trâu, trì giữ “ngưu giới.”

Những kẻ ngoại đạo này vì không có trí huệ, cho nên tuy khó nhọc tu tập nhiều loại khổ hạnh nhưng đều không được ích lợi gì cả; do đó nói “vô ích khổ hạnh đương viễn ly.”

“Như thị hành giả khả độ thế” (hành giả như thế khéo độ đời). Người hành Ðạo cần phải như vậy – thủ khẩu, nhiếp ý, trì Giới, không não loạn chúng sanh, không hành xác một cách vô ích – thì mới có thể cứu đời và giáo hóa chúng sanh.

“Tinh tấn,” thật ra, vốn không hiện hữu. Sở dĩ nói có tinh tấn, chẳng qua là để nói pháp với phàm phu chúng ta mà thôi; chứ căn bản thì không có cái gọi là “tinh tấn.” Do đó, có thể nói rằng cả sáu Ðộ trong Lục Ðộ đều là Tinh Tấn, mà đồng thời cũng đều không phải là Tinh Tấn.

Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục là thuộc về sự tinh tấn của thân; còn Thiền Ðịnh, Bát Nhã (Trí Huệ) là thuộc về sự tinh tấn của tâm. Như vậy, tinh tấn hoàn toàn không hiện hữu vì nó đã hợp nhất với năm Ðộ kia và được biến thành thứ khác. Thí dụ, quý vị chăm chỉ tu hạnh bố thí, thì đó là sự tinh tấn của Bố Thí; quý vị nghiêm trì Giới Luật, thì đó là sự tinh tấn của Trì Giới; quý vị kiên trì nhẫn nhục chịu đựng, thì đó là sự tinh tấn của Nhẫn Nhục. Nếu quý vị chuyên cần tinh tấn thêm nữa, thì đó là sự tinh tấn của Tinh Tấn, tức là bản thân của tinh tấn đang tinh tấn, nỗ lực. Lại nữa, nếu quý vị siêng năng tọa Thiền, không nghỉ ngơi, chẳng nề mỏi mệt, thì đó là sự tinh tấn của Thiền Ðịnh; quý vị chuyên cần tu tập Trí Huệ Bát Nhã, thì đó là sự tinh tấn của Trí Huệ; quý vị học tập pháp môn Bát Nhã, thì đó là sự tinh tấn của Bát Nhã.

Cho nên, tinh tấn tự nó vốn không hiện hữu, bởi nó được biến thành một thứ “lao nhi vô công” – tuy vất vả song chẳng cậy công. Do đó, quý vị không nên chấp trước rằng mình có tinh tấn, vì như thế mới gọi là sự tinh tấn chân chánh! Nếu quý vị cứ cố chấp, khăng khăng cho rằng mình tinh tấn như thế này như thế nọ, rằng sự tinh tấn của mình là vô lượng vô biên, rằng mình rất tinh tấn tu học Lục Ðộ Ba La Mật – thì kể như quý vị chẳng tinh tấn gì cả! Bởi như thế tức là có một cái “tinh tấn” nằm chắn trong lòng và làm trở ngại tư tưởng siêu thoát của quý vị, khiến cho quý vị không có được sự tinh tấn chân chánh.

Một khi chân chánh hiểu rõ Phật Pháp, quý vị sẽ thấy rằng tất cả vốn không hiện hữu. Lúc chưa thấu triệt thì quý vị còn thấy có cái gọi là “tinh tấn,” song đến lúc hiểu rõ rồi thì sẽ không thấy có nó nữa! Nghe nói như thế thì có người sẽ bảo: “Hiện tại tôi không thấy có gì cả, vậy tôi chẳng cần phải tinh tấn!” Ðành rằng quý vị không tinh tấn thì tinh tấn cũng chẳng hiện hữu, song ở đây vẫn có điểm khác biệt. Ðó là, nếu quý vị thực sự hiểu Phật Pháp, thì sự tinh tấn chân chánh cũng không hiện hữu! Vì sao ư? Bởi vì bấy giờ quý vị không còn chấp trước nữa! Còn nếu quý vị không hiểu Phật Pháp, vẫn còn một mực chấp trước ở sự tinh tấn của mình, thì đó không thể kể là tinh tấn được. Chính vì quý vị thực tình không hiểu Phật Pháp, hoàn toàn không biết thế nào là tinh tấn, cho nên càng không thể nói là mình tinh tấn!

Về Phật Pháp, bởi quý vị chưa hiểu nên không biết, chứ khi hiểu được rồi thì còn cần phải buông bỏ luôn cả Phật Pháp nữa; bằng không, tức là quý vị vẫn còn chưa hiểu Phật Pháp! Chúng ta phải lìa bỏ tất cả các tướng, chớ nên chấp trước vào bất cứ một cái gì; bởi hễ còn có chỗ chấp trước, bám víu, tức là chưa hiểu Phật Pháp vậy!

Tiếng Thiền Ba La Mật. “Thiền” là tiếng Phạn, gọi tắt từ chữ “Thiền Na” (Dhyana); Trung Hoa dịch là “tư duy tu,” và cũng là “tịnh lự.” Về Thiền Ðịnh thì có Tứ Thiền, Bát Ðịnh, và còn có Cửu Thứ Ðệ Ðịnh nữa. Ngoài ra, Thiền lại được phân làm Thế Gian Thiền, Xuất Thế Gian Thiền, và Xuất Thế Thượng Thượng Thiền.

Phàm phu chúng ta thì tu Thế Gian Thiền; trong đó bao gồm Tứ Vô Lượng Tâm và Tứ Vô Sắc Ðịnh. Về những cảnh giới này, tôi không giải thích cặn kẽ, bởi chỉ cần quý vị dụng công tu hành và tọa Thiền thì tự nhiên sẽ thấu rõ được tất cả. Còn Xuất Thế Thiền là gì? Xuất Thế Thiền thì gồm có Tứ Thiền Bát Ðịnh, Bát Thắng Xứ, Bát Bội Xả.

Bây giờ tôi có giảng rõ những danh tướng này thì cũng chỉ làm cho quý vị thấy rối thêm mà thôi! Bởi vì ví dụ nói rằng món này ngon, nhưng nếu không ăn thử thì rốt cuộc quý vị cũng không biết được mùi vị của nó là ngon lành ra sao cả! Cho nên, bây giờ quý vị biết là có nhiều thứ khác nhau như Thế Gian Thiền, Xuất Thế Gian Thiền, Xuất Thế Gian Thượng Thượng Thiền, Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền… rồi; chỉ cần quý vị chịu siêng năng dụng công tu hành, sau này chắc chắn quý vị sẽ biết được “hương vị” của các thứ đó.

Tiếng Bát Nhã Ba La Mật. “Bát Nhã” là tiếng Phạn (Prajna); Trung Hoa dịch là “trí huệ.” Trí Huệ lại phân ra Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Trí.

Thế Gian Trí cũng gọi là Thế Trí Biện Thông. Những tiến bộ về khoa học, triết học hiện nay cùng tất cả các kiến thức, đều là học vấn của thế gian. Khả năng biện luận thông minh, nhạy bén về các việc thế gian, dù không có lý cũng có thể nói thành có lý – đó gọi là Thế Trí Biện Thông.

Xuất Thế Gian Trí tức là trí huệ của xuất thế gian. Siêng năng cầu Phật Ðạo, nghiên cứu Phật Pháp không bao giờ ngơi nghỉ, thậm chí lúc ngủ cũng tư duy đến Phật Pháp, chiêm bao cũng suy nghĩ đến Phật Pháp, và cho dù ốm đau bệnh hoạn, bất kỳ lúc nào cũng nghĩ đến Phật Pháp – đó chính là chân chánh tu tập trí huệ xuất thế vậy.

Vậy thì trí huệ xuất thế gian và trí huệ thế gian rốt cuộc là một hay là hai thứ khác nhau? Ðó vốn chỉ là một, nhưng còn phải xem quý vị sử dụng nó như thế nào – dùng vào chuyện thế gian thì nó là trí huệ thế gian, dùng ở Phật Pháp xuất thế thì nó là trí huệ xuất thế.

Trí huệ hoàn toàn không có hai, mà chỉ phân ra để giảng thôi. Ban đầu, quý vị nghiên cứu các vấn đề của thế gian và biết được tất cả mọi thứ trên cõi đời này đều là Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Rồi sau đó, nếu quý vị dùng cái trí hiểu biết về việc thế gian ấy để nghiên cứu học vấn xuất thế, thì đó cũng chính là trí huệ xuất thế vậy. Cho nên, Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Trí vốn không phải là hai.

Ða số người đời chỉ có trí huệ thế gian chứ không có trí huệ xuất thế gian; song cũng có người lại có trí huệ xuất thế gian mà không có trí huệ thế gian. Vì sao lại có sự như thế? Có nhiều người rất thông minh nhưng cứ làm toàn những việc hồ đồ – chuyện không cần thiết thì tận lực mà làm, còn việc quan trọng như vấn đề sanh tử thì lại thờ ơ, chẳng để ý đến và cũng chẳng muốn tìm hiểu. Ngoài ra, cũng có người nghiên cứu vấn đề xuất thế nhưng lại không hiểu gì về pháp thế gian cả. Chúng ta cần phải hiểu rõ cả pháp nhập thế lẫn pháp xuất thế:

“Ký nhập thế nhi xuất thế,

Ký xuất thế nhi nhập thế.”

Nhập thế mà xuất thế, xuất thế mà nhập thế – sự nhập thế và xuất thế cần phải thông đạt vô ngại. Nếu quý vị hiểu rõ thì nhập thế cũng chính là xuất thế; nhược bằng không hiểu thì cho dù là xuất thế cũng trở thành nhập thế vậy!

Cổ nhân có câu:

Thông minh nãi thị âm trắc trí,

Âm trắc dẫn nhập thông minh lộ,

Bất tín âm trắc sử thông minh,

Thông minh phản bị thông minh ngộ.

“Thông minh nãi thị âm trắc trí” (thông minh sáng dạ nhờ âm đức). Chúng ta nhờ đâu mà có được trí thông minh? Ðó là nhờ đời trước chúng ta làm được nhiều việc “âm trắc.” Việc “âm trắc” là gì? Ðó là những việc nhân đức được thực hiện một cách âm thầm với lòng hảo tâm thật sự, chứ không phải với mục đích khoe khoang, hoặc để cho người khác thấy. Chẳng hạn có người cảnh nhà đơn chiếc, chết mà không có quan tài để chôn, quý vị động lòng trắc ẩn bèn mua cho người đó một cỗ áo quan, rồi lo khâm liệm và chôn cất tử tế; tuy làm được một việc tốt, đáng khen, nhưng quý vị không khoe khoang, không tiết lộ với ai cả – như thế là có âm đức vậy.

Tóm lại, quý vị ngầm giúp đỡ hoặc làm những việc có lợi cho người khác, song quý vị không kể lể lôi thôi, không để cho ai biết cả, thì đó gọi là “âm trắc.” Ðời trước làm nhiều việc âm trắc thì đời này được thông minh; đời trước xem nhiều sách về Phật Học, tụng nhiều kinh điển Phật Giáo, như tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật được vài vạn biến, thì đời này cũng được thông minh, sáng dạ. Ngoài ra, nếu đời trước đọc sách nhiều, chịu khó nghiên cứu sách vở để học hỏi, thì đời này cũng được trí óc minh mẫn. Như vậy, trí thông minh chính là đến từ âm trắc – do đời trước đã tu nhân tích đức, tạo được nhiều âm đức, cho nên đời này mới được thông minh tài trí hơn người.

“Âm trắc dẫn nhập thông minh lộ” (âm đức dẫn lối tới thông minh). Nhờ có đức hạnh cho nên quý vị mới được thông minh; do đó có thể nói rằng chính đức hạnh đã dẫn dắt quý vị tới con đường thông minh vậy.

“Bất tín âm trắc sử thông minh,/ Thông minh phản bị thông minh ngộ” (thông minh nếu chẳng tin âm đức,/ ấy thông minh phản, thông minh hại). Nếu đời này quý vị được thông minh, nhưng vì quên lãng nên quý vị không đi theo đường ngay nẻo phải, không tin âm đức, không làm việc thiện, chỉ cậy vào trí thông minh của mình để mưu đồ việc xấu, thì chính cái trí thông minh của quý vị sẽ hại quý vị vậy. Vì sao ư? Bởi nếu không thông minh thì quý vị sẽ không làm được nhiều việc xấu! Chính vì thông minh lanh lợi cho nên quý vị mới biết được những điều mà kẻ khác không thể nào ngờ tới; do đó, cho dù quý vị làm điều mờ ám hoặc ám hại người khác, thì nhờ khôn khéo, quý vị vẫn không bị ai nghi ngờ hoặc phát giác ra được. Cho nên, sử dụng trí thông minh mà không tin là có âm đức, thì cái trí thông minh đó sẽ trở thành chướng ngại, và là thứ “thông minh có hại” vậy!

Thời Tam Quốc (Trung Hoa), Tào Tháo vốn là một người rất thông minh, có thể nói là thông minh còn hơn cả quỷ thần nữa. Ông ta cũng có một vài thành tựu nhờ thông minh, mưu trí. Tuy nhiên, những tác hại do cái trí thông minh xảo quyệt của ông ta gây ra cũng không phải là ít!

Những kẻ thích được thông minh sau khi nghe qua bài kệ trên, thì nên nỗ lực làm việc tốt, có ích cho nhân quần, chứ đừng mưu tính chuyện hãm hại người khác.

Ðể bổ sung cho phần giảng về “Trì Giới Ba La Mật,” tôi kể cho quý vị nghe một công án. Vào thuở Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn trụ thế, có hai thầy Tỳ Kheo nọ cùng nhau đi bái kiến Ðức Phật. Trải qua một lộ trình dài thì hết nước uống, cả hai vị Tỳ Kheo này đều bị kiệt sức vì khát. Giữa lúc tuyệt vọng, tưởng chừng sắp phải chết khát ấy, một vị Tỳ Kheo chợt trông thấy một cái sọ người, bên trong còn đọng chút nước, liền mừng rỡ reo lên: “Có nước rồi! Chúng ta đã khát đến nông nỗi này, thôi thì hãy uống chỗ nước trong cái sọ này vậy!”

Vị Tỳ Kheo kia can ngăn: “Không nên! Trong nước đó có côn trùng, chúng ta không thể uống được!”

Vị Tỳ Kheo thứ nhất cố thuyết phục bạn: “Chúng ta đang khát khô cả cổ như vầy, nếu uống chỗ nước này thì chúng ta sẽ thoát chết, có thể đi tiếp đến chỗ Ðức Phật. Bằng không, cả hai chúng ta đành phải bỏ xác tại đây, không thể nào gặp Phật được!”

Vị Tỳ Kheo kia vẫn cương quyết: “Tôi thà vì trì Giới mà chết! Tuy rằng không được gặp Phật, song tôi nhất định vâng theo sự dạy bảo của Ngài, dẫu có chết cũng chẳng ân hận!”

Vị Tỳ Kheo thứ nhất bèn uống cạn chỗ nước đọng trong cái sọ ấy, rồi một mình tiếp tục cuộc hành trình; còn vị Tỳ Kheo kia vì không chịu uống, quả nhiên phải chết khát.

Sau đó, thầy Tỳ Kheo có uống nước tìm đến được chỗ Phật ngự. Thầy tới đảnh lễ Ðức Phật và thưa chuyện: “Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con hai người cùng đi chung, được nửa đường thì khát nước chịu không nổi; nhân thấy trong một cái sọ người có đọng một ít nước, con liền uống để khỏi bị chết khát, hầu có thể đến gặp Ðức Thế Tôn. Còn thầy Tỳ Kheo cùng đi với con thì quá cố chấp, nhất định thà chết chứ không uống nước này; bởi trong nước có côn trùng, ông ấy bảo nếu uống tức là phạm Giới. Rốt cuộc, con nhờ uống nước này nên được sống sót và được diện kiến Ðức Thế Tôn; còn ông ấy không chịu uống, có lẽ giờ đây đã bị chết khát rồi!”

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Ông tưởng là Tỳ Kheo ấy chết khát rồi sao? Tỳ Kheo ấy nhờ trì Giới, nên đã khiến cho ông ấy đến gặp Ta trước; hiện giờ ông ấy đang ở đây nghe Ta thuyết Pháp. Trì Giới quả thật là việc rất khó, song nếu có lòng thành thì Ta liền thấu rõ cảm thông. Ông tuy được gặp Ta, nhưng tâm ông không chí thành vì ông giữ Giới không được tinh nghiêm. Do vậy, Tỳ Kheo kia nay đã khai ngộ chứng quả, còn ông thì vẫn cần phải tiếp tục tu hành thêm nữa!”

Qua công án này, chúng ta có thể thấy rằng sáu hạnh Ba La Mật – Trì Giới, Nhẫn Nhục, Bố Thí, Tinh Tấn, Thiền Ðịnh, Trí Huệ – cần phải được thực hành một cách chân thành, nghiêm túc. Nếu không thành tâm thành ý, chỉ làm qua loa cho xong chuyện, tất sẽ không tương ưng với Phật Pháp. Cho nên, người xuất gia thời thời khắc khắc đều phải ghi nhớ và noi theo bốn câu kệ này mà tu hành:

Thủ khẩu, nhiếp ý, thân mạc phạm,

Mạc não nhất thiết chư hữu tình,

Vô ích khổ hạnh đương viễn ly,

Như thị hành giả khả độ thế.

Trì Giới là điều vô cùng trọng yếu, quý vị chớ lầm tưởng rằng chỉ trì giữ lấy lệ, đại khái là được; bởi vì chỉ cần sơ hở một chút là chúng ta có thể đi sai lệch cả ngàn dặm. Cho nên, tu hành cần phải đàng hoàng nghiêm chỉnh, siêng năng cẩn thận; làm việc gì cũng phải chân thật, chu đáo, không được cẩu thả.

Tiếng Từ Bi. Lòng “từ” ban vui, lòng “bi” cứu khổ – tất cả những chúng sanh nghe được thứ âm thanh này của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, đều có thể lìa khổ được vui, thoát vòng sanh tử.

Tiếng Hỷ Xả. “Hỷ” là hoan hỷ, vui vẻ; “xả” là bố thí. Vậy, “hỷ xả” là hoan hỷ bố thí. Từ, Bi, Hỷ, Xả được gọi chung là Tứ Vô Lượng Tâm, tức là bốn cái tâm bao la vô lượng – Từ Vô Lượng Tâm, Bi Vô Lượng Tâm, Hỷ Vô Lượng Tâm và Xả Vô Lượng Tâm. Muốn tu hạnh bố thí thì cần phải sanh tâm hoan hỷ – hoan hỷ xả bỏ, vui vẻ thực hành pháp bố thí. Không nên sau khi đã xả bỏ, đã bố thí rồi, thì trong lòng lại thấy tiếc nuối, không đành; bởi như thế tức là chưa sanh tâm hoan hỷ vậy.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phát ra tiếng Hỷ Xả, khiến cho tất cả những chúng sanh nghe được âm thanh này đều sanh tâm hoan hỷ bố thí.

Tiếng Giải Thoát. “Giải thoát” tức là có được thứ tự do chân chánh, hoàn toàn không bị ràng buộc vướng víu nữa. Vậy “giải thoát” tức là thoát khỏi cái gì? Ðó chính là thoát ra khỏi nỗi khổ não của sanh tử trong sáu nẻo luân hồi.

Thuở xưa, có một vị Sư đến thỉnh vấn một bậc cao tăng danh tiếng rằng: “Xin hỏi Thượng Tọa, làm thế nào để được giải thoát?”

Vị cao tăng hỏi lại: “Ai trói buộc ông vậy?”

Vừa nghe xong, vị Sư nọ lập tức khai ngộ: ” – ! Thì ra chẳng có ai trói buộc mình cả; chẳng qua là tự mình trói mình đó thôi! Nếu mình không tự trói chính mình nữa, thì tự nhiên mình sẽ được giải thoát.”

Thế nào gọi là “tự mình trói mình”? Tất cả mọi người hãy lưu ý điểm này – bởi vì chúng ta không có được cái nhìn thấu suốt, lại chẳng thể triệt để buông bỏ tất cả, nên mới bị ràng buộc tù túng, không đạt được sự tự tại; mà không đạt được sự tự tại cũng chính là không đạt được sự giải thoát! Nếu quý vị có thể nhìn thấu suốt sự việc, thông hiểu mọi chuyện, và có thể buông bỏ tất cả, tức là quý vị đã tự cởi trói và sẽ đạt được sự tự do chân chánh; được tự do cũng chính là được giải thoát vậy. Bấy giờ, quý vị sẽ thấy an nhiên tự tại, chẳng ràng chẳng buộc, “không quái không ngại, vĩnh viễn xa lìa mộng tưởng điên đảo” (Tâm Kinh). Chân thật buông bỏ tất cả thì sẽ được giải thoát; nếu không buông bỏ được thì chẳng thể nào có được sự giải thoát.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã phát ra thứ tiếng Giải Thoát này, vậy bây giờ chúng ta cũng nên giải thoát chính mình, không nên tự trói mình và cũng đừng tự giam mình trong nhà tù, để rồi vĩnh viễn không được tự do. Sao lại nói chính mình nhốt mình trong nhà tù? Nếu quý vị không phải đang bị cầm tù tức là quý vị đã được giải thoát; còn nếu chưa đạt được sự giải thoát thì cũng chẳng khác nào quý vị đang ở tù vậy, không được tự do làm theo ý mình – đông tây nam bắc, muốn đi đâu cũng đều không được tự do cả!

“Tự do” mà chúng ta đương nói đây không phải là tự do của cái “túi da hôi thối” này, mà là tự do của tự tánh. Nếu cái tự tánh này được tự do, thì quý vị muốn sống là cứ việc sống, muốn chết là lúc nào cũng có thể chết được. Mà chết cũng chẳng cần phải có bệnh tật gì mới chết được, chỉ ngồi mà chết thôi – đó mới đúng là sự tự do chân chánh. Ðây gọi là:

Sanh tử do ngã, bất do thiên.

(Sống chết do ta, chẳng do trời.)

Bấy giờ, quý vị muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Muốn sống đến một trăm tuổi, một ngàn tuổi, hay một vạn tuổi… đều được cả. Nếu không muốn sống nữa thì bất cứ lúc nào cũng có thể trở về với “quê hương vốn có” của mình. Quý vị thích ở cái “nhà” này thì cứ việc ở; không thích ở nữa thì có thể “dọn” đi bất cứ lúc nào tùy ý.

Tự do của tự tánh gồm có hai thứ; đó là tự do của thần thức và tự do của bản hữu Phật tánh:

1) Tự do của thần thức. Thần thức thì thuộc âm và có thể du hành đến bất cứ nơi đâu; như từ thành phố Cựu Kim Sơn, thần thức có thể tới Nữu Ước, Âu Châu, Á Châu… Tuy rằng thần thức có thể biết rõ tình hình nơi mình đến, nhưng lại không thể cầm nắm đồ vật – thần thức không thể mua quà từ Nữu Ước rồi mang về lại Cựu Kim Sơn được; tại sao vậy? Vì thần thức vốn thuộc âm. Thần thức chỉ có thể nhìn xem cảnh vật của Nữu Ước, chứ không thể làm bất cứ việc gì ở đó cả.

2) Tự do của bản hữu Phật tánh. Phật tánh thì thuộc dương, là toàn thể đại dụng, công năng rộng lớn vô hạn. Ðạt được thứ tự do này, thì cho dù quý vị đang ở thành phố Cựu Kim Sơn, nhưng nếu cần món đồ gì ở Nữu Ước, thì chỉ cần duỗi tay ra là lấy được ngay. Quý vị thấy có kỳ diệu hay không? Ðó có phải là thần thông không? Thật ra, đó là thứ cảnh giới của sự giải thoát, không ràng không buộc, vô quái vô ngại. Ở cảnh giới này, cả cõi tam thiên đại thiên thế giới như ở trong một căn phòng, quý vị có thể đi lại khắp nơi trong đó và làm những việc mình muốn.

Vậy, nếu được giải thoát, được tự do, thì chúng ta sẽ có được những cảnh giới như thế. Tuy nhiên, chúng ta không được phép hiển thị công phu của mình một cách tùy tiện, bất cẩn. Không được nói rằng: “Quý vị thích món đó của Ðức, vậy để tôi sang nước Ðức mua về cho. Tôi chỉ việc thi triển thần thông là xong ngay!” Chúng ta dứt khoát không được lạm dụng thần thông để làm những việc như thế!

Khi sắp nhập Niết Bàn, Ðức Phật căn dặn tất cả đệ tử không được dùng thần thông; bằng không, nếu họ dùng thần thông, thì họ phải gấp rút ra đi, không được ở lại thế giới này lâu hơn nữa! Bởi người thường thì không có thần thông, do đó nếu quý vị dùng thần thông tất sẽ khiến cho mọi người sanh tâm sợ hãi đối với quý vị!

Tóm lại, quý vị có thể tùy tâm như ý làm xong công việc, thì đây là thuộc dương; còn làm không được là thuộc âm, và là tác dụng của thần thức – mọi người cần phải hiểu rõ điều này.

Tiếng Vô Lậu. “Vô lậu” là gì? Là không còn vô minh nữa. Không còn vô minh tức là được vô lậu. Cho dù quý vị chỉ còn một phần vô minh mà thôi, thì quý vị cũng không đạt được sự vô lậu. Cho nên, vô minh chính là nguồn gốc của phiền não – hễ có vô minh thì có đủ loại phiền não, không có vô minh thì không có phiền não.

Vì sao quý vị có tâm tham? Vì quý vị có vô minh.

Vì sao quý vị có tâm sân? Vì quý vị có vô minh.

Vì sao quý vị có tâm si? Vì quý vị có vô minh.

Vì sao quý vị có tâm dâm dục? Cũng là vì quý vị có vô minh!

Chính vì ngay từ điểm sơ khởi quý vị đã không hiểu rõ nên mới tạo ra các nghiệp chướng. Tuy nhiên, nếu nghe được tiếng Vô Lậu thì quý vị sẽ không còn vô minh nữa. Cho nên, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phát ra vô số loại âm thanh là để tất cả chúng sanh đều nghe được và nhờ đó mà ngộ Ðạo. Có câu:

Thử phương chân giáo thể,

Thanh tịnh tại âm văn.

Ở cõi Ta Bà, bản thể của Phật Giáo là âm thanh – dùng âm thanh làm Phật sự, vì thế mà có các loại âm thanh biểu dương, tán thán, diễn thuyết…

Kinh văn:

… tiếng Trí Huệ, tiếng Ðại Trí Huệ, tiếng Sư Tử Hống, tiếng Ðại Sư Tử Hống, tiếng Mây Sấm, tiếng Mây Sấm Lớn. Khi Ðức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh như thế xong,…

Lược giảng:

Tiếng Trí Huệ. “Trí huệ” là gì? Trí huệ “độ” ngu si – có trí huệ thì không có ngu si, có ngu si thì không có trí huệ – hai thứ này không thể đi đôi với nhau. Bây giờ tôi cho quý vị biết thêm một điều tương đối dễ hiểu hơn; đó là: “Trí huệ chính là ngu si, ngu si chính là trí huệ!”

Có người nói rằng: “Tôi bây giờ ngu si, mà như thế tức là có trí huệ; vậy tôi cứ việc dung túng cái ngu si của mình!” Nếu quý vị có thể hết sức ngu si, ngu si đến cực điểm, thì đó chính là trí huệ chân chánh vậy!

Lại có người nói: “Pháp Sư! Lý lẽ mà Thầy vừa nêu thật là khó chấp nhận! Thầy nói rằng trí huệ là ngu si và ngu si là trí huệ; thế nhưng tôi nhận thấy người ngu si thì toàn làm những chuyện hồ đồ, còn người có trí huệ thì làm những việc đúng đắn, sáng suốt.”

Ðúng vậy, quý vị nói rất đúng, còn tôi thì nói không được đúng! Vì sao ư? Bởi vì ngu si có thể biến thành trí huệ, cho nên tôi nói “ngu si chính là trí huệ”; song trí huệ cũng có thể biến thành ngu si, cho nên tôi nói “trí huệ chính là ngu si” vậy. Mấy hôm trước, lúc giảng bài kệ “thông minh sáng dạ nhờ âm đức,” tôi đã giải thích điều này rồi; bây giờ chẳng qua là nêu ra lại mà thôi.

Người có trí huệ là người có được tự do chân chánh, và cũng chân chánh đạt được sự giải thoát. Tại sao nói vậy? Người có trí huệ thì không làm việc hồ đồ; còn người ngu si thì toàn làm những việc hồ đồ, không làm những việc thông minh. Ngoài ra, người ngu si không có được sự tự do, lại toàn ở thế “bị động.” Trong khi đó, người có trí huệ thì trái lại, không bao giờ phải ở thế “bị động”; bởi họ có chủ tể chân chánh, trí huệ chân chánh, và bất luận sự việc nào xảy đến với họ, họ đều nhận thức được điểm tốt xấu của vấn đề – tốt thì nên làm, không tốt thì không làm. Nói chung, họ có được sức phán đoán chân chánh và trạch pháp nhãn (con mắt chọn lựa pháp) chân chánh.

Người ngu si thì không như thế – họ biết rõ ràng là không đúng mà vẫn cứ làm. Thí dụ chúng ta đều biết cờ bạc là không tốt, nhưng những kẻ ngu si lại cho rằng đó là một cơ hội hiếm có trong muôn một, nếu thắng thì phát tài lớn! Chính vì một niệm tham lam vô minh, muốn phát “vô minh tài” này, mà tất cả tài sản của họ đều không cánh mà bay! Thua “cháy túi” mà họ vẫn chưa tỉnh ngộ, còn toan tính: “Mình phải thử thời vận thêm lần nữa, biết đâu phen này mình sẽ thắng, sẽ giàu to!”

Như có người mua số đề, một đồng mua được tám chữ, nếu trúng thì được hơn một ngàn đồng, nhưng chẳng may sai mất một chữ nên không được tiền; người ấy lại cho rằng nếu mua lần nữa thì chắc chắn sẽ được trúng! Quý vị nghĩ xem, như thế có phải là ngu si không? Nếu những người đánh bạc đều thắng, thì người bày ra trò cờ bạc đỏ đen không cách gì phát tài được cả!

Lại còn những người nghiện thuốc phiện nữa: Ai ai cũng công nhận rằng hút thuốc phiện là có hại, nhưng người ngu si thì nói: “Ðể tôi thử xem!” Thử một lần cảm thấy chưa thỏa mãn, bèn thử thêm lần thứ hai, rồi lần thứ ba, thứ tư…, cứ thế mà “thử” hết lần này sang lần khác. Một lần “thử” thôi là đã bị nghiện rồi, nếu không “thử” nữa thì chịu không nổi. Quý vị nói xem, như thế có phải là ngu si hay không?

Một người bình thường thì đàng hoàng, lịch sự là thế, mà đến khi lên cơn ghiền, bị sự chi phối của thuốc phiện thì ôi thôi, nước mắt, nước mũi lòng thòng, toàn thân bứt rứt xốn xang, thật là khổ sở vô vàn, bèn phải vội vã kiếm tiền đi mua thứ thuốc đó về dùng để “nâng đỡ” tinh thần của mình. Ðây đều do sự ngu si gây ra, khiến cho họ không được tự do. Tại sao không được tự do? Những người hút thuốc phiện cho rằng hút thuốc phiện là một thứ tự do, cứ mải mê hút cho thỏa thích; thế nhưng, khi đến cữ nghiện mà không có thuốc để hút, thì họ có còn được tự do hay không?

Vậy, quý vị làm việc gì mà lẽ ra mình không nên làm, thì đều là ngu si, không có trí huệ. Nếu có trí huệ thì quý vị sẽ không điên đảo, không làm những việc mà mình không nên làm!

Tiếng Ðại Trí Huệ. Người có đại trí huệ vừa nhìn qua sự việc thì có thể thấy được điểm then chốt của vấn đề, không cần phải đợi đến khi sự việc diễn tiến rồi mới phát hiện ra. Do có đại trí đại huệ nên họ có thể tiên liệu được việc nào không nên làm và nếu làm thì kết quả ra sao, nhờ đó họ mới không làm những việc hồ đồ. Thế nào là đại trí, đại huệ? Nghiên cứu Phật Pháp là đại trí đại huệ. Phải nghiên cứu Phật Pháp thì mới có thể đạt được tự do chân chánh, cho nên đó là đại trí huệ.

Tiếng Sư Tử Hống. Sư tử là chúa tể của muôn thú. Hễ nghe tiếng sư tử gầm lên thì tất cả các loài thú đều run sợ đến nỗi “trở tay không kịp” – đứng cũng đứng không vững, chạy cũng chạy không được. Thậm chí những dã thú hung dữ mạnh mẽ như hổ báo, lang sói…, cũng đều sợ hãi đến nỗi không có phản ứng gì cả! Bách thú khi nghe tiếng gầm của sư tử thì đều cảm thấy đầu óc như muốn vỡ tung ra vì sợ, chúng sợ sệt đến trở thành ngu si!

Tiếng Ðại Sư Tử Hống. Tiếng gầm của loài sư tử bình thường thì lợi hại như thế; còn tiếng gầm của đại sư tử thì càng vang xa hơn nữa, xa gần đều nghe rõ.

Tiếng Mây Sấm. Thứ âm thanh này nghe giống như tiếng sấm nổ vang ra từ trong đám mây.

Tiếng Mây Sấm Lớn. Tiếng sấm này nghe lớn hơn tiếng sấm bình thường. Ở đây ngụ ý rằng Phật Pháp ví như một áng mây lớn trên không, soi chiếu khắp đại lục, bao phủ khắp địa cầu. Tiếng sấm này một khi vang dội thì mọi nơi trên thế giới đều nghe được, biểu thị Phật Pháp phổ cập đến tất cả chúng sanh.

Có mây, có sấm, thì sẽ có mưa. “Mưa” là biểu thị Phật Pháp tưới nhuần căn tánh của mọi chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều được biết đến “mùi vị” của mưa Pháp (Pháp vũ). Mưa rưới nước xuống khắp thế gian, cây lớn thì hấp thụ nhiều nước, cây nhỏ thì hấp thụ ít hơn một chút; hoa cỏ thì tùy loại mà hấp thụ một lượng nước mưa thích ứng. Phật Pháp cũng tương tự như vậy – mọi chúng sanh đều được thấm nhuần mưa Pháp tùy theo căn cơ; nhờ vậy mà Pháp thân huệ mạng tăng trưởng và đại trí huệ được khai mở.

Khi Ðức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh như thế xong,… “Bất khả thuyết” là một con số rất lớn, không thể nói được là bao nhiêu. Vậy, sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phát ra vô số loại âm thanh, nhiều đến không thể kể ra cho hết được, thì thế nào?

Kinh văn:

… từ thế giới Ta Bà và các cõi nước phương khác, có vô lượng ức Thiên, Long, Quỷ, Thần cũng đến tụ tập tại Ðao Lợi Thiên Cung. Ðó là thiên chúng ở trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Tu Diệm Ma, trời Ðâu Suất Ðà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Ðại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh…

Lược giảng:

Trước tiên, Ðức Phật phóng ra vô lượng đám mây sáng lớn, kế đến Ngài lại phát ra vô số loại Pháp âm, khiến chúng sanh lìa mê theo giác, bỏ tà về chánh. Bấy giờ, từ thế giới Ta Bà và các cõi nước phương khác…

“Ta Bà” là tiếng Phạn (Saha); Trung Hoa dịch là “kham nhẫn,” và cũng là “cực khổ.” So với thế giới Cực Lạc ở phương Tây, thì thế giới Ta Bà của chúng ta này đây quả thật là thế giới “Cực Khổ”!

Vì sao gọi là “kham nhẫn”? Vì chúng sanh ở thế giới này có thể nhẫn nhịn, chịu đựng sự thống khổ.

“Các cõi nước phương khác” tức là những cõi nước thuộc thế giới phương khác, chứ không phải là thuộc thế giới Ta Bà của chúng ta.

Bấy giờ, có vô lượng ức Thiên, Long, Quỷ, Thần từ khắp mọi nơi, cũng đến tụ tập tại Ðao Lợi Thiên Cung, tức cung trời Ba Mươi Ba.

Ðó là thiên chúng ở trời Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương còn được gọi là Hộ Thế Tứ Vương, tức là bốn ông thiên vương bảo hộ thế gian. Tứ Thiên Vương Thiên nằm ở lưng chừng núi Tu Di; còn Ðao Lợi Thiên thì ở tại sơn đỉnh của núi này.

Tứ Thiên Vương chính là bốn vị đại thiên vương trấn giữ bốn phương – Ðông Thiên Vương, Nam Thiên Vương, Tây Thiên Vương và Bắc Thiên Vương. Vị Thiên Vương ở phương đông là Trì Quốc Thiên Vương, ở phương nam là Tăng Trưởng Thiên Vương, ở phương tây là Quảng Mục Thiên Vương, và ở phương bắc là Ða Văn Thiên Vương.

Ở cõi trời mà bốn vị đại thiên vương cư ngụ, thọ mạng của thiên nhân là năm trăm tuổi; và một ngày một đêm tại cõi Tứ Vương Thiên này là năm mươi năm ở chốn nhân gian.

Tứ Vương Thiên là cõi trời gần với thế giới của chúng ta nhất. Người thế gian ai làm thiện hoặc làm ác đều do Tứ Vương Thiên xét xử; bởi chư thiên ở đó lo trông coi việc thiện ác của nhân gian chúng ta. Ðó là nói về Tứ Thiên Vương Thiên.

Trời Ðao Lợi. Trong phần trước tôi đã có giảng rồi – “Ðao Lợi” (Trayastrimsa) là Phạn ngữ; Trung Hoa dịch là “tam thập tam,” tức là cõi trời Ba Mươi Ba. Thiên chủ của cõi trời này còn được gọi là Năng Thiên Tử.

Trời Tu Diệm Ma. Ðây là nơi mà ánh mặt trời và mặt trăng đều không giọi tới được. Thế thì nơi ấy có lẽ rất tối tăm? Cũng không hẳn! Bởi thiên nhân ở cõi Dạ Ma Thiên này trên thân đều có hào quang chiếu sáng, cho nên cũng không cần tới ánh sáng của mặt trời và mặt trăng.

Vì sao cõi trời này có tên là “Dạ Ma”? “Dạ Ma” (Suyama) là Phạn ngữ; Trung Hoa dịch là “thiện thời phân” (khéo chia thời giờ). Vì sao gọi là “thiện thời phân”? Bởi vì cõi trời này nằm ở vị trí quá cao, ánh sáng của mặt trời và mặt trăng đều không thể nào giọi tới được; cho nên thiên nhân ở đây bèn lấy lúc bông sen nở hiệp để phân biệt ngày và đêm – hoa nở là ban ngày, hoa hiệp là ban đêm.

Tại Tứ Vương Thiên thì thiên nhân thân cao nửa dặm (lý).

Tại Ðao Lợi Thiên, thiên nhân thân cao một dặm (lý), và có thọ mạng là một ngàn tuổi. Một ngày đêm ở cõi trời này là một trăm năm ở chốn nhân gian.

Còn ở Dạ Ma Thiên thì thế nào? Thiên nhân ở đây thân cao một dặm (lý) rưỡi, và có thọ mạng là một ngàn năm trăm tuổi. Một ngày đêm tại cõi trời này là một trăm năm ở trần gian.

Cứ lên cao hơn một tầng trời thì thọ mạng được tăng thêm năm trăm tuổi, thân cao thêm nửa dặm (lý); cho nên càng lên các tầng trời phía trên thì thiên nhân thân hình càng cao lớn, và tuổi thọ càng gia tăng.

Trời Ðâu Suất Ðà. “Ðâu Suất Ðà” là Phạn ngữ (Tusita); Trung Hoa dịch là “tri túc” (biết đủ); do đó cũng gọi là “Tri Túc Thiên.” Ðâu Suất Ðà Thiên gồm có nội viện và ngoại viện. Bồ Tác Di Lặc hiện ngụ tại nội viện, còn các thiên nhân thì ở tại ngoại viện.

Tam Tai (ba thứ tai họa – lửa cháy, nước lụt, gió bão) không lan tràn đến Ðâu Suất Nội Viện được, song vẫn có thể hủy diệt Ðâu Suất Ngoại Viện.

Trời Hóa Lạc. Sự vui sướng tại cảnh trời này có tánh biến hóa, bởi sự vui sướng phi thường ấy là do chư thiên ở đó biến hóa ra.

Trời Tha Hóa Tự Tại. Sự vui sướng ở Tha Hóa Tự Tại Thiên vốn là của các cõi trời khác hóa hiện ra; vì chư thiên ở đây có thần thông nên họ có thể chuyển dịch sự vui sướng của các cõi trời khác về cõi trời của họ. Tha Hóa Tự Tại Thiên là nơi trú ngụ của thiên ma, chứ không phải của các vị thiên thần hoặc tiên nhân chân chánh.

Sáu cảnh trời kể trên – Tứ Vương Thiên, Ðao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Ðâu Suất Ðà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên – được gọi chung là Lục Dục Thiên. Vì sao gọi là “Lục Dục Thiên” (sáu cõi trời dục)? Bởi vì các thiên nhân ở đó tuy được sanh lên cõi trời nhưng vẫn còn tâm dâm dục, vẫn còn những ý nghĩ không thanh tịnh. Trong khóa hè vừa qua, lúc giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi đã có giảng về Lục Dục Thiên rồi, song tôi tin chắc là quý vị nghe xong đều không muốn giữ cho mình và đã “tặng” lại hết cho tôi; vì thế bây giờ tôi giảng lại để “thân tặng” cho quý vị thêm lần nữa vậy!

Thiên chúng ở Lục Dục Thiên đều còn lòng ái dục. Sự hành dâm của chư thiên ở trời Tứ Thiên Vương và trời Ðao Lợi thì cũng giống như của con người ở nhân gian vậy. Vì sao ư? Bởi vì họ đều có hình thể. Thiên nhân ở trời Tứ Thiên Vương cũng kết hôn như người thế tục; và ngay cả thiên nhân ở trời Ðao Lợi cũng vậy, họ đều có vợ chồng, con cái chẳng khác gì loài người ở trần gian cả.

Trẻ sơ sinh ở Tứ Vương Thiên thì như thế nào? Ở cõi trời này, trẻ con mới sinh ra đã lớn bằng đứa bé năm tuổi ở nhân gian. Còn ở Ðao Lợi Thiên thì sao? Trẻ sơ sinh ở trời Ðao Lợi thì trạc đứa bé bảy tuổi ở nhân gian; và ở trời Dạ Ma thì trẻ sơ sinh bằng cỡ đứa bé mười tuổi ở nhân gian. Trẻ con mới sinh ra là đã lớn như thế, ngồi trên đùi của thiên nhân; và một lát sau thì được cho ăn “thiên lộ tự nhiên,” một thứ cam-lộ của cõi trời tự nhiên hóa hiện ra. Ăn xong chưa được bao lâu thì đứa bé vụt biến thành cao lớn như mọi thiên nhân khác – thân cao nửa dặm (lý), và thọ mạng là năm trăm tuổi. Ðó là nói về Tứ Vương Thiên.

Có bài kệ nói về cảnh giới dục lạc của chư thiên ở Lục Dục Thiên như sau:

Tứ Vương, Ðao Lợi dục giao bão,

Dạ Ma chấp thủ, Ðâu Suất tiếu,

Hóa Lạc thục thị, Tha tạm thị,

Thử thị Lục Thiên chi dục lạc.

“Tứ Vương, Ðao Lợi dục giao bão” (Tứ Vương, Ðao Lợi còn ôm ấp). Thiên chúng ở trời Tứ Thiên Vương và trời Ðao Lợi cũng hành dâm như loài người ở thế gian vậy.

“Dạ Ma chấp thủ, Ðâu Suất tiếu” (Dạ Ma nắm tay, Ðâu Suất cười). Hành vi sắc dục của thiên nhân ở trời Dạ Ma là cầm tay nhau.

Ở cõi trời này, thiên nam và thiên nữ giao tình bằng cách nắm tay nhau, tương tự như lối bắt tay của người Tây phương vậy.

Thế còn ở trời Ðâu Suất thì sao? Ở trời Ðâu Suất thì thiên nam thiên nữ chỉ cười với nhau là đã thành vợ chồng rồi; bởi thiên nhân ở đó bình thời không hề cười! Vì sao? Vì lòng ham muốn của họ quá nhẹ, hầu như là không còn nữa vậy. Tại Lục Dục Thiên, hễ lên cao được một tầng trời thì dục niệm lại giảm nhẹ bớt một bậc.

Tại sao ở cõi nhân gian chúng ta, những người tu Ðạo đều cần phải “khử dục đoạn ái,” quét sạch mọi dục niệm? Bởi vì nếu dục niệm mà nhiều thì ngu si mê muội cũng nhiều thêm; dục niệm càng giảm thiểu thì trí huệ sáng suốt càng gia tăng. Dục niệm là thuộc cõi Ngũ Trược Ác Thế – cái gì gọi là “trược”? Ðó là dục niệm! Dục niệm là một thứ ô trược nhất, dơ bẩn nhất.

Lòng sắc dục của thiên chúng trên cõi trời Tứ Thiên Vương thì cũng giống như của nhân gian chúng ta vậy; còn dục niệm của thiên nhân ở trời Ðao Lợi thì có phần nhẹ hơn so với ở trời Tứ Thiên Vương.

Hành vi sắc dục của thiên nhân ở trời Dạ Ma là nắm tay nhau, còn ở trời Ðâu Suất thì cười với nhau. Quý vị chớ cho rằng cười là tốt – nhân gian chúng ta thường cho cười là điều tốt, mà không biết rằng cười cũng có một tác dụng về mặt tình cảm và sắc dục.

Chư thiên ở cõi trời Dạ Ma đều thích dụng công tu hành, cho nên rất hiếm khi có chuyện nắm tay nhau xảy ra.

“Hóa Lạc thục thị, Tha tạm thị” (Hóa Lạc nhìn lâu, Tha nhìn thoáng). “Thục thị” tức là nhìn hơi lâu một chút, như chừng một phút, hai phút hoặc năm phút. Thiên nam thiên nữ ở trời Hóa Lạc thì đăm đăm ngó nhau chừng một vài phút là thành dâm; còn ở trời Tha Hóa Tự Tại thì chỉ cần nhìn phớt nhau thôi, không phải nhìn lâu.

“Thử thị Lục Thiên chi dục lạc” (đó là dục lạc cõi Lục Thiên). Hành vi sắc dục của thiên nam thiên nữ ở Lục Dục Thiên là như thế – hễ lên cao hơn một tầng thì dục niệm giảm nhẹ bớt một tầng. Kẻ có dục niệm nặng nề thì không thể sanh lên cõi trời, cho nên những người được sanh thiên đều rất ít dục niệm. Bài kệ vừa rồi là nói về dục lạc ở Lục Dục Thiên.

Trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Ðại Phạm. Ðây là ba tầng trời thuộc cõi Sơ Thiền, cũng gọi là Sơ Thiền Tam Thiên. Ngoài ra, còn có cõi Nhị Thiền và Tam Thiền, và ở mỗi cõi cũng đều có ba tầng trời.

Trời Phạm Chúng. “Phạm” là gì? “Phạm” có nghĩa là thanh tịnh. Dục niệm của thiên nhân ở cõi Sơ Thiền Thiên thì càng nhẹ hơn nữa so với ở Lục Dục Thiên, cho nên gọi là “phạm.” Tất cả thiên nhân cư ngụ ở tầng trời này đều thanh tịnh và đều là dân chúng của toàn cõi Phạm Thiên.

Trời Phạm Phụ. Chư thiên ở nơi này là những vị Tể Quan thanh tịnh, làm quan trên cõi trời. “Phụ” tức là phụ tá; và ở đây là phụ tá cho Ðại Phạm Thiên Vương.

Còn trời Ðại Phạm thì sao? Ðây là nơi trú ngụ của Ðại Phạm Thiên Vương. Ngài vốn là người rất siêng năng dụng công tu Ðạo, song chỉ tu thiên phước để được hưởng phước lạc của cõi trời chứ chưa đạt đến mức khai ngộ và chứng quả vị; do đó, ngài được sanh lên cõi trời và làm vua trời Ðại Phạm. Vị Ðại Phạm Thiên Vương này được sự hỗ trợ của chư thiên ở tầng trời Phạm Chúng và Phạm Phụ.

Sơ Thiền Tam Thiên còn được gọi là Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa, tức là cảnh giới xa lìa sự sanh khởi phiền não, vô cùng vui sướng. Phàm phu chúng ta khi dụng công đạt tới cảnh giới Sơ Thiền, thì cũng có thể đến được Sơ Thiền Thiên để gặp Ðại Phạm Thiên Vương, các Tể Quan phụ tá của ngài, và dân chúng cư ngụ ở đó.

Trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm. Ðây là ba tầng trời thuộc cõi Nhị Thiền, cũng gọi là Nhị Thiền Tam Thiên. Làm thế nào để được sanh lên cõi trời Nhị Thiền này? Cần phải “khử dục đoạn ái,” dứt sạch tâm dâm dục! Nếu vẫn còn lòng ham mê sắc dục thì không thể nào sanh về cõi trời này được. Mỗi tầng trời ở đây chênh lệch nhau một “giai cấp”; vì sao? Bởi chư thiên ở nơi này không còn dục niệm nữa, cứ lên cao mỗi tầng thì dục niệm mỗi giảm nhẹ, ít dần.

Trời Thiểu Quang. Thân thể của chư thiên ở tầng trời này đều tỏa ánh hào quang; và hào quang này lớn hơn nhiều so với hào quang của thiên nhân ở trời Dạ Ma. Tuy nhiên, trong ba tầng trời thuộc Nhị Thiền Tam Thiên, thì hào quang của thiên nhân ở trời Thiểu Quang có phần kém thua hai tầng trời kia.

Vì sao các thiên nhân này có hào quang? Ðó là do lúc còn tu hành ở thế gian, họ chuyên chú tuân thủ Giới Luật, trì Giới rất thanh tịnh. Chư thiên ở trời Phạm Chúng và Phạm Phụ cũng tuân thủ Giới Luật vậy, có điều là không được nghiêm ngặt bằng chư thiên ở trời Thiểu Quang, cho nên thanh tịnh thì có thanh tịnh, song không phát hào quang. Thiên nhân trời Thiểu Quang thì giữ Giới chẳng những tinh nghiêm mà còn sanh xuất hào quang nữa, do đó mà được sanh lên tầng trời này.

Trời Vô Lượng Quang. Tầng trời vừa rồi là Thiểu Quang – ít hào quang; còn tầng trời này thì thế nào? Thì có vô lượng vô biên hào quang, không tính ra số lượng được.

Trời Quang Âm. Tầng trời nằm phía trên trời Vô Lượng Quang là trời Quang Âm. Chư thiên ở trời Quang Âm nói chuyện với nhau bằng cách nào? Bằng hào quang! Tương tự như việc dựa vào tác dụng của điện quang để cấu tạo hình ảnh của tivi, chư thiên ở đây dùng ánh sáng tiêu biểu cho lời nói. Thiên nhân ở trời Quang Âm không nói ra tiếng, điều đó không có nghĩa là họ không biết nói; chẳng qua là họ không dùng ngôn ngữ mà lại dùng hào quang để nói chuyện.

Có người phê bình, cho rằng chư thiên ở trời Quang Âm là không biết nói, không có ngôn ngữ, không có văn tự; và sở dĩ họ dùng hào quang thay cho ngôn ngữ, văn tự là vì họ vốn không biết nói! Không phải thế! Nếu họ không biết nói, thì chẳng lẽ cả tầng trời Quang Âm toàn là thiên nhân “câm” hết sao? Thế thì so với người biết nói ở chốn nhân gian có tốt hơn gì đâu? Nếu nói rằng chư thiên ở trời Quang Âm dùng hào quang tiêu biểu cho lời nói vì họ đều bị câm, thế thì sanh lên tầng trời này có lợi ích gì???

Cho nên, tôi nói rằng họ cũng có ngôn ngữ, chẳng qua là họ không dùng đến ngôn ngữ mà thôi. Nhân gian chúng ta thì có văn tự và chúng ta dùng văn tự để tiêu biểu ngôn ngữ, chứ chúng ta không phải chỉ dùng văn tự mà từ bỏ ngôn ngữ. Hào quang được dùng ở trời Quang Âm cũng tương tự như văn tự của nhân gian chúng ta – chư thiên ở đó dùng hào quang để viết, tính chất cũng tựa như máy fax của chúng ta vậy. Sự việc nhất định là như thế; chứ không phải là họ chẳng có ngôn ngữ, chỉ có thể nói bằng hào quang mà thôi!

Cho nên, đối với Phật Pháp, quý vị cứ đem Phật Pháp với thế gian pháp ra để hỗ tương so sánh, suy luận, thì sẽ hiểu được ngay. Quý vị chớ nên hùa theo người khác mà vội cho rằng cõi trời Quang Âm chẳng có ngôn ngữ và tất cả chư thiên ở đó đều bị câm! Những người đó chắc chắn là chưa hiểu rõ vấn đề!!!

Vừa rồi là nói về ba tầng trời của Nhị Thiền Thiên. Người tham Thiền đạt được Ðịnh lực của Nhị Thiền Thiên tức là đến được cảnh giới Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa, từ trong Ðịnh sanh xuất ra một thứ hỷ lạc.

Tuy nhiên, kẻ đạt tới cảnh giới Nhị Thiền cũng không thể nói rằng công phu tu tập của mình đã lên đến tột đỉnh, đến mức cao nhất. Không phải như thế! Quý vị, những người đang dụng công, bây giờ hãy tự hỏi rằng mình đã đạt đến trình độ này hay chưa? Có thật là mạch tim mình có ngừng đập? Có thật là sự hô hấp của mình có gián đoạn? Có phải là hễ ngồi Thiền thì sự hít thở của mình liền đình chỉ? Không phải ư? Nếu không phải, thì hãy tiếp tục dụng công tu tập; nếu không dụng công thì không thể nào ngăn chặn được vòng luân hồi sanh tử. Cho dù quý vị có đạt được cảnh giới Sơ Thiền hay Nhị Thiền đi nữa, sự sanh tử của chính quý vị vẫn chưa kết thúc.

Chúng ta dụng công tu tập không phải để thấy được một vài cảnh giới nho nhỏ, thấy được Bồ Tát hiện thân hộ pháp, hoặc trông thấy người nào đó … Khi chúng ta ngồi Thiền, nếu có trông thấy hào quang thì phải biết đó chỉ là thứ cảnh giới nhỏ nhặt, không nên sanh tâm chấp trước, bám trụ vào cảnh giới.

Có trường hợp đang ngồi Thiền thì thân thể tự dưng lắc lư – quý vị không muốn động đậy, nhưng thân thể cứ chao qua đảo lại, có muốn ngừng cũng không ngừng lại được. Ðây là tác dụng của sáu loại chấn động đối với lục căn, biểu hiện sáu cách chấn động của đại địa. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là công phu chân chánh, quý vị vẫn còn phải hướng tới trước mà nỗ lực nhiều hơn nữa mới được.

Quý vị nếu chưa đạt được cảnh giới Sơ Thiền và Nhị Thiền, thì cần phải cố gắng dụng công hơn nữa, không nên lười biếng. Nếu lười biếng thì không dứt được sanh tử; mà không dứt được sanh tử thì sẽ rất nguy hiểm cho tương lai của quý vị; cho nên, xuất gia tu hành không phải là chuyện dễ. Lười biếng tức là tự dọn đường cho mình tiến vào địa ngục. Nếu không muốn đọa địa ngục, thì phải siêng năng chịu khó, chăm chỉ dụng công.

Có người phàn nàn: ” – , hễ tôi dụng công là trong người thấy khó chịu, không được khỏe.” Thế thì đợi đến khi đọa địa ngục, quý vị sẽ thấy rằng ở đó còn khó chịu, khổ sở hơn nhiều! Quý vị muốn được thoải mái sung sướng trong hiện tại, thì tương lai sẽ không được “dễ chịu”; còn nếu quý vị chịu khó dụng công ngay từ bây giờ, thì tương lai tất sẽ rất “dễ chịu.” Do đó, quý vị hãy cân nhắc điều này cho kỹ! Một khi bị đọa địa ngục, thì không biết phải chịu đày đọa đến bao lâu; vì nếu bị đọa vào địa ngục Vô Gián thì sẽ không có ngày được ra, quanh năm suốt tháng phải ở trong đó mà thọ tội, chịu sự trừng phạt. Bởi đã xuất gia học Ðạo rồi mà còn lười biếng trễ nãi, chẳng chịu dụng công, chẳng học Phật Pháp, chỉ muốn “tự do tự tại” theo ý mình, nên phải thọ tội ở địa ngục. Ðó chính là “tự do tự tại” vào địa ngục vậy!

Trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh. Ðây là ba tầng trời thuộc cõi Tam Thiền.

Cõi Sơ Thiền còn gọi là Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa, Nhị Thiền là Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa, và Tam Thiền là Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa.

Tại Sơ Thiền Thiên – trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, và trời Ðại Phạm – chư thiên đều thanh tịnh, song chưa có hào quang. Thật ra thì không hẳn là hoàn toàn không có – họ cũng có hào quang đấy, nhưng hết sức yếu ớt, mờ nhạt. Các thiên nhân thuộc Nhị Thiền Thiên thì có hào quang sáng rỡ và cũng thanh tịnh hơn.

Ở đây chúng ta có thể nêu ra một tỷ dụ rất đơn giản, so sánh trình tự của các tầng trời với tiến trình làm sạch sàn nhà. Trước hết, sàn nhà cần phải được quét dọn cho thật sạch sẽ – đây là dụ cho các tầng trời thanh tịnh Phạm Chúng, Phạm Phụ và Ðại Phạm (thuộc Sơ Thiền Thiên).

Sàn nhà tuy đã được quét dọn sạch sẽ rồi, song chưa được đánh sáp nên trông không có vẻ sáng sủa, bóng loáng. Sau khi đánh sáp thì mặt nền sáng hẳn lên – đây là dụ cho trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang và trời Quang Âm của Nhị Thiền Thiên.

Ðánh sáp rồi, chúng ta cần phải lau chùi thêm nữa thì sàn nhà mới hoàn toàn sáng loáng, bóng lộn. Bởi sau khi đánh sáp, trên mặt sàn vẫn còn sót chút ít bụi bặm hoặc một vài cọng lông chổi, cho nên sàn nhà tuy có sáng lên song vẫn chưa hoàn toàn sạch sẽ. Khi được lau chùi cẩn thận, không còn dính một hạt bụi, thì sàn nhà vừa sáng sủa lại vừa sạch sẽ – đây là dụ cho trời Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh và Biến Tịnh của Tam Thiền Thiên. Quý vị nào muốn hiểu rõ cảnh giới của các tầng trời, thì nên suy gẫm thêm về tỷ dụ này.

Khi quý vị tọa Thiền đến được cảnh giới Tam Thiền thì mọi ý niệm đều không còn, tất cả vọng niệm đều đình chỉ. Tại Sơ Thiền thì ý niệm vẫn còn tồn tại, quý vị vẫn còn sự suy nghĩ. Ở cảnh giới Nhị Thiền thì dòng ý niệm này vẫn chưa đoạn dứt; song đến Tam Thiền thì mọi niệm đều dứt tuyệt – không còn tình trạng hết niệm này sanh đến niệm kia khởi nữa.

Trong một sát-na có chín mươi cái sanh tử, trong mỗi cái sanh tử lại có chín trăm niệm; cho nên chỉ nội trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi mà chúng ta đã khởi không biết bao nhiêu là niệm. Nhưng khi quý vị đạt đến cảnh giới Tam Thiền thì mọi niệm đều đình chỉ. Lúc này, một niệm cũng không khởi, không còn niệm trước cũng chẳng có niệm sau – tất cả đều vắng lặng. Ðó là cảnh giới của Tam Thiền.

Bấy giờ, chẳng những khí và mạch đình chỉ, mà luôn cả niệm cũng đình chỉ, không còn nảy sanh nữa. Những người hành Thiền đến trình độ này có thể ngồi Thiền trong suốt một tháng mà không biết là đã một tháng, hoặc ngồi Thiền cả năm mà không biết là đã một năm trôi qua. Mặc dù họ không còn ý niệm về tánh thời gian và không gian nữa, song đó là trạng thái nhập Thiền Ðịnh chứ không phải là chết; cho nên nếu muốn thì họ vẫn có thể trở về được. “Muốn trở về” ư? Thế không phải là mọi niệm đều đình chỉ rồi sao? Khi họ vừa sực nghĩ: “Vì sao mình lại ngồi Thiền ở đây nhỉ?”; thì luồng ý niệm lập tức tái sanh và họ trở về lại.

Vậy, ở cảnh giới Tam Thiền thì ngay cả ý niệm cũng không tồn tại, cho nên gọi là “tịnh” (trong sạch). Nếu còn ý niệm thì cũng như còn dính bụi bặm vậy, chưa được thanh tịnh, sạch sẽ hoàn toàn. Do đó, các tầng trời thuộc Tam Thiền Thiên có tên là Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh và Biến Tịnh.

Tam Thiền Thiên cũng gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa, cảnh giới xa rời sự vui sướng. Loài người chúng ta hễ sanh tâm vui vẻ thì cho là điều tốt, song ngay cả “điều tốt” này chúng ta cũng phải lìa bỏ, không nên chấp trước bám víu vào sự vui sướng. Ðược như thế thì sẽ nảy sanh tác dụng vi diệu.

Kinh văn:

…trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La, cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp.

Lược giảng:

1) Trời Phước Sanh. Vì sao gọi là trời Phước Sanh? Bởi chư thiên ở tầng trời này đều là “khổ nhân dĩ tận, lạc phi thường trụ” – họ không còn sự đau khổ, và cũng không còn chấp trước vào dục lạc nữa.

Thế nào gọi là “khổ nhân dĩ tận, lạc phi thường trụ”? Chư thiên ở Sơ Thiền Thiên vẫn còn một thứ khổ não mà ngay cả tại Nhị Thiền Thiên và Tam Thiền Thiên, sự khổ não này cũng vẫn còn tồn tại, chưa hoàn toàn dứt tuyệt. Phải đến Tứ Thiền Thiên, ở tầng trời Phước Sanh này, thì mới đích thực là “khổ nhân dĩ tận” – cái mầm mống gây khổ não đó không còn nữa, mọi chủng tử của khổ não đều bị hủy diệt. Phải chăng hết khổ rồi thì sẽ được vui? Bấy giờ, họ cũng chẳng chấp trước vào cái vui, cho nên nói là “lạc phi thường trụ.”

Thế thì, nguyên nhân của khổ là gì? Nguyên nhân của khổ là “dục” – “dục” đích thị là cái nhân dẫn đến mọi đau khổ. “Dục” là gì? Ðó là “dục niệm,” hay “dục vọng,” tức là lòng ham muốn; tiếng Anh gọi là desire! Chữ “dục” này chính là nguyên nhân, mầm mống của khổ đau; nếu không có “dục” thì không có đau khổ. Không có tâm dâm dục thì không có cái nhân gây tạo bao nhiêu khổ não khác.

Thiên nhân ở Tứ Thiền Thiên đều không còn dâm tâm; bởi họ đã dứt trừ được tâm dâm dục nên nói là “chư dục đỗ tuyệt” – mọi dục vọng, ham muốn đều đã dứt tuyệt, không còn nữa. Các tướng trạng thô trọng đều bị hủy diệt, hết thảy các tướng có hình sắc và rất thô đều bị đoạn trừ. Tướng thô trọng diệt rồi, thì họ liền đắc được một thứ phước đức rất thanh tịnh, nên gọi là trời Phước Sanh – nơi nảy sanh thứ phước thanh tịnh. Ðó là tầng trời thứ nhất thuộc Tứ Thiền Thiên.

Nhiều người chỉ biết suông trời là trời; quý vị có biết là có bao nhiêu cõi trời không? Theo kinh điển đạo Phật thì có sáu tầng trời cõi Dục (Lục Dục chư thiên), ba tầng trời Sơ Thiền (Sơ Thiền tam thiên), ba tầng trời Nhị Thiền (Nhị Thiền tam thiên), ba tầng trời Tam Thiền (Tam Thiền tam thiên); còn Tứ Thiền thì sao? Cõi Tứ Thiền thì có đến chín tầng trời, và trời Phước Sanh là tầng trời thứ nhất thuộc Tứ Thiền Thiên. Chính vì có sự nảy sanh và hiện tiền của phước thanh tịnh tại tầng trời này cho nên có tên là “trời Phước Sanh.”

2) Trời Phước Ái. Ðây là tầng trời thứ hai thuộc Tứ Thiền Thiên. “Phước ái” tức là love, love cái gì? Love cái phước – yêu phước, thích phước. “Phước Ái Thiên” tức là cõi trời yêu chuộng phước đức.

Chư thiên ở tầng trời này thì:

Xả tâm viên dung,

Thắng giải thanh tịnh,

Ðắc diệu tùy thuận,

Khổ lạc song ly.

“Xả tâm viên dung.” Lòng thí xả của chư thiên ở tầng trời này đã đạt đến cảnh giới viên dung vô ngại – những gì không thể thí xả đều được thí xả, những gì có thể thí xả cũng đều thí xả; những gì không thể buông bỏ đều được buông bỏ, những gì có thể buông bỏ thì càng phải buông bỏ. Ðó gọi là “xả tâm viên dung” vậy.

“Thắng giải thanh tịnh.” Họ đạt được thứ giải thoát thù thắng rất thanh tịnh. “Thắng,” tiếng Anh gọi là supreme. “Thắng giải thanh tịnh” – phước báo của họ to lớn vô ngần, có thể nói là phước ấy vượt khỏi trời đất, không có gì có thể che lấp được.

“Ðắc diệu tùy thuận.” Họ đạt tới cảnh giới “tùy tâm như ý,” muốn thế nào thì được thế ấy. Ðây là một sự tùỳ thuận vô cùng kỳ diệu, muốn gì được nấy, luôn luôn được toại tâm toại ý.

“Khổ lạc song ly.” Bấy giờ, không có khổ đau cũng chẳng còn vui sướng – họ đã lìa bỏ được cảm giác khổ và sướng. Tuy nhiên, chư thiên ở đây cũng còn một thứ ước muốn khác, một thứ hy vọng khác. Ðó là điều gì? Hy vọng của họ chính là hai tầng trời ở ngay phía trên trời Phước Ái; đó là hai tầng trời nào? Ðó là trời Quảng Quả và trời Vô Tưởng – họ hy vọng đạt được cảnh giới của hai tầng trời này.

Trời Quảng Quả là một trong những tầng trời thuộc Tứ Thiền Thiên, còn trời Vô Tưởng là nơi trú ngụ của ngoại đạo. Từ trời Phước Ái, chư thiên có thể đến trời Quảng Quả, lại cũng có thể đến trời Vô Tưởng; mà đến trời Vô Tưởng tức là tiến vào cảnh giới của ngoại đạo. Cho nên, ở đây cũng giống như gặp phải ngã rẽ vậy – rất dễ đi sai đường. Do đó, tuy là sanh lên cõi trời, song cũng dễ bị đi lạc vào cảnh trời của ngoại đạo.

3) Trời Quảng Quả. Thế nào gọi là trời Quảng Quả? Trời Quảng Quả là quả vị của phàm phu. Sáu tầng trời cõi Dục (Lục Dục chư thiên) đều được xem là cảnh giới phàm phu – quả vị mà hạng phàm phu có thể đạt được thì không vượt quá trời Quảng Quả, không hơn được cảnh giới của trời Quảng Quả.

Trời Quảng Quả cách biệt hẳn mọi nhiễm ô, phiền lụy của các tầng trời bên dưới. Tại trời Quảng Quả, chư thiên sống trong niềm an lạc vô cùng vô tận và thần thông của họ cũng diệu dụng vô cùng; cho nên, được sanh lên trời Quảng Quả không phải là chuyện dễ. Ở trời Quảng Quả, sự “diệu tùy thuận” còn thâm áo hơn ở trời Phước Ái một bậc – không chỉ “tùy thuận” thôi, mà là “quảng diệu tùy thuận,” một sự tùy thuận rộng lớn, vi diệu! “Tùy thuận” tức là tùy tâm thuận ý, chư thiên ở nơi này chứng đắc được quả vị mà họ đang tu tập, thuận theo điều họ mong mỏi. Ðó là Quảng Quả Thiên.

4) Trời Vô Tưởng. Thế nào gọi là trời Vô Tưởng? Chư thiên ở trời Vô Tưởng đã đoạn dứt tư tưởng, song đó chưa phải là sự đoạn dứt vĩnh viễn; họ chỉ mới đoạn được trong năm trăm kiếp mà thôi. Thọ mạng của họ là năm trăm kiếp, như vậy suốt trong một đời của họ, tư tưởng không nảy sanh – họ không nghĩ ngợi, không có tư tưởng. Thế nhưng, trong năm trăm kiếp ấy, có bốn trăm chín mươi chín (499) kiếp là không có tưởng, và có một kiếp có tưởng. Trong một kiếp này, suốt nửa kiếp đầu thì tư tưởng diệt, không hề dấy khởi; đến nửa kiếp sau cuối thì tư tưởng lại sanh khởi. Cho nên, “vô tưởng” ở đây có nghĩa là trọn đời, rất hiếm khi sanh khởi tư tưởng.

Toàn cõi trời này là nơi trú ngụ của ngoại đạo. Tại đây, hàng ngoại đạo tự cho là cảnh trời rốt ráo, và đinh ninh rằng lúc này họ có thể đạt được Niết Bàn. Chính vì thế mà họ ở lại đây để tu hành; song tu hành thì tu hành mà vẫn bị đọa lạc như thường! Vậy, tầng trời này là chỗ ở của ngoại đạo.

5) Trời Vô Phiền. “Phiền” tức là phiền não. Thiên nhân ở tầng trời này không còn “kiến tư phiền não” nữa, họ đã đoạn dứt được kiến tư phiền não. “Kiến tư phiền não” là gì?

“Kiến” là cái thấy; đối diện cảnh giới liền sanh lòng tham ái, đó gọi là “kiến phiền não” – phiền não của cái thấy. “Tư” là nghĩ ngợi; đối với đạo lý, vì không hiểu rõ mà sanh tâm phân biệt, ấy gọi là “tư phiền não” hay “tư hoặc” – phiền não của ý tưởng.

Chư thiên ở tầng trời Vô Phiền này không còn hai mối phiền não kiến hoặc và tư hoặc nữa, nên cũng không phải chịu đựng mối phiền não phiền nhiệt; mà cũng chẳng có khổ, chẳng có sướng – sướng khổ đều tiêu vong. Tại cảnh giới “khổ lạc song vong” này, họ không có tâm đấu tranh. Bởi không có tâm đấu tranh, nên cũng chẳng có phiền não; hết phiền não thì được thanh lương (mát mẻ).

6) Trời Vô Nhiệt. “Nhiệt” (nóng) tức là nhiệt não. Tầng trời này rất mát mẻ, thanh thản, không còn cái “nhiệt” của phiền não.

7) Trời Thiện Kiến. Vì sao gọi là trời Thiện Kiến? Chư thiên ở tầng trời này có tầm nhìn vô cùng rộng lớn, họ có thể nhìn thấy được rất xa.

8) Trời Thiện Hiện. Ở tầng trời này có một sự biến hóa rất vi diệu – chư thiên ở đây có thể biến hóa ra mọi cảnh giới an lạc.

9) Trời Sắc Cứu Cánh. Trời Sắc Cứu Cánh là tầng trời cuối cùng trong số các tầng trời thuộc Sắc Giới Thiên.

10) Trời Ma Hê Thủ La. “Ma Hê Thủ La” là tiếng Phạn; Trung Hoa dịch là “Ðại Tự Tại.” Ðại Tự Tại Thiên Vương có tám tay, ba đầu, cỡi một con trâu lớn màu trắng; và Ngài tự cho là mình rất thong dong, tự tại.

Trong mười cảnh trời kể trên, ngoại trừ trời Vô Tưởng là nơi trú ngụ của thiên ma ngoại đạo, tất cả chín tầng trời còn lại – trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La – đều thuộc cõi Tứ Thiền Thiên.

Tứ Thiền còn gọi là Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa. Ở cảnh giới Sơ Thiền thì sự hô hấp gián đoạn, tới Nhị Thiền thì mạch tim ngưng đập, đến Tam Thiền thì ý niệm dứt tuyệt; còn ở Tứ Thiền thì sao? Thì “xả niệm,” vất bỏ hết mọi niệm, không còn gì nữa.

Cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Ngoài ra, còn có cả chư thiên ở các tầng trời Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, và Phi Phi Tưởng Xứ cũng đến cung trời Ðao Lợi để tham gia Pháp Hội.

Bởi ngay cả cái “thức” cũng không còn nên gọi là “phi tưởng”; nhưng “phi tưởng” này không phải là hoàn toàn không có “tưởng,” mà là vẫn còn chút ít, vì thế gọi là “phi phi tưởng” – chẳng phải không có tư tưởng. Ðó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp, tham gia Pháp Hội tại cung trời Ðao Lợi.

Kinh văn:

Lại có những vị thần ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà, như Thần biển, Thần sông cái, Thần sông con, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần suối và ao đầm, Thần cây con và hạt giống, Thần ngày, Thần đêm, Thần hư không, Thần trên trời, Thần ăn uống, Thần cỏ cây và gỗ; các vị thần như thế đều đến hội họp.

Lược giảng:

Lại có những vị thần ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà… “Phương khác” tức là các thế giới khác, các quốc độ khác. Không phải chỉ có quỷ thần từ thế giới phương khác, mà luôn cả quỷ thần ở cõi Ta Bà cũng lũ lượt đến cung trời Ðao Lợi để tham gia Pháp Hội.

Như Thần biển, Thần sông cái, Thần sông con. Thế nào gọi là biển, sông cái, sông con? Ðây đều là những nơi có nước. Trong Kinh Trường A Hàm có nói đến nguồn gốc của biển, sông, hồ. Ðó là bởi thế gian này có sự hiện diện của mặt trời – từ mặt trời phát ra một nguồn nhiệt lực gây nóng bức khiến cho vạn vật đều tiết “mồ hôi”; chính lượng “mồ hôi” này tích tụ lại và hình thành sông, hồ, ao, biển… Không phải chỉ riêng con người mà ngay cả đất đai, cây cối cũng có “mồ hôi” – tất cả chúng sanh đều có “mồ hôi.” Mặt trời dọi đến đâu thì tỏa sức nóng đến đó, và sức nóng này gọi là “chích” (nướng). Thế giới này vì có quá nhiều “mồ hôi” – nhiều nước – nên có rất nhiều sông, hồ.

Nước hiện hữu khắp nơi – tận hư không, khắp Pháp Giới, đâu đâu cũng có nước cả. Trong Kinh Lăng Nghiêm có chép về việc cầm hạt châu thủy tinh hướng lên không trung để hứng nước trong ánh trăng vào giữa đêm trăng sáng. Ðiều này chứng tỏ rằng khắp nơi đều có nước. Tuy nhiên, cũng có những nơi chúng ta không thấy có sự hiện diện của nước, là vì những nơi đó chỉ có “tánh” của nước chứ không có “thể” của nước. Ðiều này cũng tương tự như việc mọi người đều có Phật tánh, nhưng chúng ta không thấy được Phật tánh mà chỉ thấy được hình thể con người thôi vậy. Tánh của nước là ẩm ướt; hầu như mọi nơi đều có khí ẩm, do vậy có thể nói rằng mọi nơi đều có nước. Ðồng thời, mọi nơi đều có lửa.

Tánh nước và tánh lửa vốn hỗ tương hợp tác, chứ không xung khắc lẫn nhau; vậy thì tại sao nước không tràn ngập khắp mọi nơi? Bởi giữa trời, đất và nước có sự tương quan, gắn bó mật thiết với nhau. Vả lại, Tứ Ðại Thiên Vương còn có viên ngọc “trị nước” (tỵ thủy châu); nếu không nhờ viên ngọc này thì khắp cả thế giới sẽ toàn là nước, tất cả đều bị chìm trong biển nước mênh mông. Cho nên, không phải khắp nơi đều có sự hiện hữu rõ rệt của nước.

Cái gì là biển? “Biển” (hải) có thể giảng theo nghĩa của chữ “hối,” có nghĩa là đen tối. Ðó là vì “biển” là nơi tối tăm, u ám; khi ở trong biển, quý vị có mở to mắt cũng không nhìn thấy được gì cả. Biển thì mênh mông rộng lớn vô cùng – quý vị không thể biết được biển sâu bao nhiêu, rộng tới đâu, và lớn đến chừng nào. Do đó, “biển” còn tiêu biểu cho sự rộng lớn bao la; và cũng hàm nghĩa ngu muội, không sáng suốt.

Ở biển có rất nhiều thần; Long Vương cũng là một vị thần biển vậy. Trong các thần biển, có một vị tên là Hải Nhược và một vị tên là Dương Hòa. Thần Hải Nhược là vị thần tối cao ở biển, và vốn là loài thú chứ không phải loài trùng. Vị thần này có mười tám cái đuôi, tám chân, và tám đầu; mặt mày thì trông cũng giống như loài người vậy. Ngoài ra, còn có rất nhiều vị thần biển khác nữa. Nếu trong lúc tọa Thiền mà thấy cảnh giới có các vị thần hình thù quái dị như thế hiện ra thì quý vị chớ sợ hãi, bởi đó là các thần biển đến để cúng dường quý vị đấy.

Còn “sông” thì thế nào? “Sông” và “biển” khác nhau ra sao? Sông cái tuy rộng mà không sâu lắm; sông con thì không rộng bằng sông cái. Biển thì rộng lớn hơn hết và là “vạn lưu chi chủ” – chủ tể của cả muôn vạn dòng nước. Mọi sông hồ đều đổ về biển cả; bất luận bao nhiêu dòng sông, lưu lượng nhiều ít thế nào, thì biển cũng đều dung nạp hết thảy. Biển sẵn sàng dung chứa muôn vạn dòng nước mà chẳng ngại nhiều. Sông thì không như vậy – sông luôn luôn lưu chuyển và còn tẽ nhánh tạo thành sông con, trong khi nước biển thì không chảy đi nơi khác.

Chữ “sông” (giang) có thể được giải thích theo nghĩa của chữ “công”; ngụ ý rằng sông rất công bằng. “Sông” còn có một nghĩa khác nữa là “cống”; bởi thời xưa ở nước Trung Hoa, những sản vật của sông hồ đều phải được “tiến cống,” dâng nạp cho nhà vua. Như vậy, “sông” có nghĩa là “công,” và cũng có nghĩa là “cống.”

“Sông con” (hà) còn được định nghĩa là “chưởng,” tức là lòng bàn tay; bởi lúc không có gió thì mặt sông êm ả, phẳng lặng như gương hoặc như lòng bàn tay vậy.

Các thần biển, thần sông cái, thần sông con đều là những vị thần dưới nước.

Thần cây (thụ thần). Ở những cây to đều có thần linh cư ngụ. Theo tiếng Trung Hoa, chữ “thụ” này đồng âm với chữ “thụ” có nghĩa là đứng thẳng hoặc dựng đứng.

Thần núi (sơn thần). Chữ “sơn” (núi) có thể được định nghĩa như chữ “sản” hoặc chữ “sanh” vậy, bởi vì núi non cũng là nơi mọi vật có thể sanh trưởng.

Thần đất (địa thần). Chữ “địa” (đất) cũng hàm ý là chỗ thấp nhất. Tuy là ở dưới tất cả nhưng đất lại có thể sản sanh vạn vật, chuyên chở muôn loài.

Thần suối và ao đầm. “Suối” là dòng nước chảy xuyên qua đất, xuyên qua những nơi vốn không có nước. “Ao, đầm” cũng là những nơi có nước.

Thần cây con và hạt giống. Cây con là thứ cây còn non, mới nhú, mới nẩy mầm, như mạ non, mầm đậu…

Thần ngày, Thần đêm. Thần ngày (trú thần) là vị Thần cai quản ban ngày; và Thần đêm (dạ thần) là vị Thần cai quản ban đêm. Thời khắc thuộc ngày và đêm được phân định như sau: sau mười hai giờ khuya là bắt đầu thuộc về ban ngày, và sau mười hai giờ trưa là bắt đầu thuộc về ban đêm.

Vào mười hai giờ khuya thì tuy là chưa có ánh mặt trời nhưng khí dương đã bắt đầu sanh xuất. Cho nên, con người thường khởi tâm dâm dục vào trước lúc bình minh, khoảng từ ba đến năm giờ sáng, bởi đó là lúc dương khí đang thịnh. Tuy nhiên, nếu quý vị không khởi dâm tâm thì khí lực đó sẽ chuyển hóa thành trí huệ. Ở đây, quý vị cũng đối diện với một “ngả ba,” tương tự như trường hợp của Vô Tưởng Thiên và Quảng Quả Thiên vậy – quý vị rẽ về hướng này thì có được tư tưởng chánh đáng, giúp ích cho sự phát triển của trí huệ; còn rẽ sang hướng kia thì lại khiến cho lòng tham dục của mình trở nên nặng nề thêm.

Sau mười hai giờ trưa thì khí âm sanh xuất, và đến tối con người cũng khởi lòng tham dục. Nếu quý vị không chiều theo dục vọng của mình, không chọn “con đường” dâm dục, tất có thể đi theo “con đường” trí huệ. Âm và dương là hai lối rẽ, tất cả đều tuỳ thuộc vào sự quyết chọn của chính quý vị.

Thần hư không. Thần hư không (không thần) là ai? Thần hư không chính là vị Thuấn Nhã Ða được nhắc đến trong bài kệ tụng của ngài A Nan ở phần đầu Chú Lăng Nghiêm:

“Thuấn Nhã Ða tánh khả tiêu vong,

Thước Ca La tâm vô động chuyển.”

Quý vị nghe giảng kinh điển thì không nên chỉ nghe rồi là xong, chẳng nghĩ tới nữa; và cũng đừng cho rằng như thế tức là mình không có lòng tham, ngay cả Pháp mình cũng không tham! Quý vị không tham Phật Pháp, thì cũng phải không tham thế gian pháp. Nếu quý vị không tham cầu Phật Pháp nhưng lại đi tham cầu các pháp của thế gian, từ sáng đến tối chỉ biết bận rộn đếm tiền, thì đó cũng là một sự phiền não vậy!

Thần trên trời, Thần ăn uống. Việc ăn uống của chúng ta đều có thần linh trông coi. Chúng ta mỗi ngày, cho dù uống một hớp nước, ăn một mẩu trái cây hay một miếng bánh, đều là do thần linh quản lý cả. Quý vị tin là có vị thần này, thì thần hiện hữu; quý vị không tin là có thần, thì thần cũng vẫn tồn tại như thường, chẳng qua là quý vị không nhận biết được mà thôi. Chớ nên cho rằng cái gì mình không tin thì không có thật, bởi suy nghĩ như thế là rất ngu xuẩn! Phải biết rằng, bất luận quý vị tin hay không tin, vị thần này vẫn luôn luôn hiện hữu!

Trước kia, ở Bắc Kinh (Trung Hoa), có một người tên là Ðoạn Chánh Nguyên, mà người đương thời quen gọi là Ðoạn Sư Tôn. Vị Ðoạn Sư Tôn này đã từng được gặp một người chuyên lo về phân lượng ăn uống hằng ngày của nhân gian – mỗi ngày mỗi người ăn uống những thức gì, tiêu thụ bao nhiêu thức ăn, uống hết bao nhiêu nước, đều có sự nhất định cả.

Người ấy làm việc như thế nào ư? Anh ta chỉ ngủ suốt ngày! Cha anh ta làm quan và là một vị Liên Trưởng hay Doanh Trưởng gì đó; dưới quyền có khoảng bốn, năm trăm người. Vị Liên Trưởng này thấy con bấy giờ đã hai, ba mươi tuổi rồi mà không chịu làm việc, cứ nằm ngủ suốt ngày, thì rất bực dọc. Một hôm, không dằn được, ông trách mắng anh con trai: “Cha đã năm, sáu mươi tuổi rồi mà còn phải làm lụng kiếm tiền nuôi con; còn con thì đã hai, ba chục tuổi đầu rồi mà lại không chịu đi làm để mưu sinh! Con không chịu làm một công việc nào cả, thì cuộc đời con còn có ý nghĩa gì nữa chứ?”

Anh con trai đáp: “Cha à, cha làm quan ở nhân gian, còn con thì làm quan ở âm phủ đấy!”

-Hử? Con làm chức quan gì ở âm phủ?

-Mỗi ngày người nhân gian được ăn uống thức gì, phân lượng bao nhiêu, đều do một tay con tính toán, phân phối cả!

Vị Liên Trưởng gắt lên: “Con nói cái gì? Ăn uống mà còn phải đợi kẻ khác phân phối, định đoạt sao? Thật là hoang đường! Vậy thì ngày mai cha được con phân phối cho ăn những gì, con nói cha nghe thử xem.”

Người con thưa: “Chưa được đâu, cha ạ. Con cần phải ngủ một giấc, khi thức dậy con sẽ nói cho cha rõ, vì hiện giờ con vẫn chưa biết chắc được.”

Người cha nghe thế thì trong lòng giận lắm, song chỉ biết lắc đầu ngao ngán, cho rằng con mình chỉ nói nhảm, chứ làm gì có chuyện mình ăn thức gì cũng phải đợi nó phân phối, sắp đặt!!! Người con, sau khi ngủ dậy, nói với cha rằng: “Ngày mai cha sẽ không có cơm ăn đâu, cha ạ.”

Cha anh ta cười lớn: “Cha làm quan chức quyền lớn như vầy mà lại không có cơm ăn sao? Như thế thì cha sẽ được ăn cái gì?”

Anh con trai trả lời: “Ngày mai cha chỉ có được một quả trứng thối và nửa bát cháo cám thiu mà thôi. Phần ăn của cha vào ngày mai chỉ có thế!”

Người cha đùng đùng nổi giận, quát lớn: “Hừ! Cha đường đường là một vị Liên Trưởng có tiền của, có quyền thế, thì tại sao phải ăn uống ít ỏi như thế, mà lại là đồ hư đồ thối nữa chứ? Thật là phi lý hết sức!”

Sáng sớm ngày hôm sau, vị Liên Trưởng đốc thúc gia nhân giết gà, giết vịt, chuẩn bị một bữa ăn thật linh đình. Nào ngờ, lúc ông sắp sửa ngồi vào bàn để ăn thì nhận được lệnh khẩn của cấp trên, bảo ông phải tức tốc xuất binh đi dẹp loạn, không được chậm trễ. Thế là thức ăn thì đã nấu nướng xong xuôi, nhưng ông ta không thể đụng đến được vì phải gấp rút ra đi.

Giao tranh hơn nửa ngày trời, vị Liên Trưởng đánh tan được bọn cướp. Bấy giờ, ông cảm thấy đói và mệt lả bởi suốt ngày chưa có gì vào bụng cả; trong khi đó, thuộc hạ của ông thì vì không phải chờ đợi một bữa ăn thịnh soạn, cho nên từ sớm, trước khi xuất binh, họ đều đã ăn uống đầy đủ cả rồi. Vất vả lắm mới tìm thấy một ngôi nhà có người ở, vị Liên Trưởng bèn vào hỏi mua thức ăn. Thế nhưng, không ngờ đó lại là một gia đình nghèo túng vào bậc nhất trong thiên hạ!

Người chủ nhà nói với vị Liên Trưởng: “Chúng tôi chẳng còn cái gì có thể ăn được cả. Gạo thì hết mà rau cũng chẳng còn. Cả nhà chỉ còn vỏn vẹn có một quả trứng thối với nửa bát cháo cám đã thiu. Ðó là phần để dành cho người sản phụ sắp sanh kia; nhưng nếu ông không chê thì xin cứ tự nhiên, không sao cả!”

Vị Liên Trưởng vì ruột gan cồn cào, đói chịu không nổi, liền nhận lấy quả trứng thối và nửa bát cháo cám thiu ấy. Ðương ăn, ông sực nhớ lại lời tiên đoán của anh con trai ngày hôm qua. Quả thật hôm nay ông đã ăn những thứ đúng như anh ta “phân phối”! Từ đó, vì biết rằng con mình thực sự đang làm quan ở âm phủ nên ông cũng để tùy anh ta, không còn la rầy trách mắng như trước nữa.

Thần cỏ cây và gỗ. Cỏ có thần cỏ (thảo thần), gỗ có thần gỗ (mộc thần), và cây có thần cây (thụ thần).

Ở Nam Thiệm Bộ Châu (Nam Diêm Phù Ðề) có cây “thụ vương” (vua của cây cối), là cây to nhất. Khi cây cối trở nên to lớn, già cỗi, thì được gọi là “quỷ thần thôn,” tức là chỗ trú ẩn của quỷ thần, vì quỷ thần thường chọn những cây đại thụ làm nơi nương náu. Nếu không có các loại đại thụ này thì quỷ thần sẽ rất khốn khổ; bởi chỉ có nương náu nơi những cây to, um tùm, thì quỷ thần mới cảm thấy an ổn và vui sướng. Vì thế, những cây cổ thụ to lớn được gọi là “quỷ thần thôn.”

Thời Tam Quốc, có một cây đại thụ lâu năm được mọi người gọi là “thần thụ” (cây thần). Tào Tháo bấy giờ chẳng những không tin, lại còn sai người đến đốn cây ấy đi. Sau đó, Tào Tháo bỗng dưng bị mắc chứng đau đầu dữ dội, suốt ngày đau đớn khổ sở; về sau phải mời Hoa Ðà đến chữa trị cho. Ấy là do ông ta đã đắc tội với quỷ thần – thần cây – mà ra vậy.

Trong Tứ Phần Luật có nói rằng Tỳ Kheo không được phép đốn hoặc chặt những cây cối to lớn, um tùm, vì ở những cây đại thụ như thế đều có quỷ thần cư ngụ. Ðiển hình là tại Trung Hoa, ở chùa Nam Hoa thì có cây long não (chương thụ) xin thọ Giới với Lão Hòa Thượng Hư Vân; và ở chỗ của Nam Nhạc Tân Sơn Lão Nhân, có một cây quả trám (bạch quả) cũng được thọ Giới. Các thần cây được thọ Giới kể ra thì rất nhiều – đây quả là thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn vậy!

Vừa rồi tôi có nói rằng nếu quý vị tin là có thần, thì thần tồn tại; mà không tin là có thần, thì thần cũng vẫn tồn tại! Có nhiều người cho rằng “tin thì có, không tin thì không có”; nhưng trong trường hợp này thì “tin cũng có, không tin cũng vẫn có” như thường! Thí dụ dưới đất có mỏ vàng, thì bất luận quý vị biết hay không biết, tin hay không tin, mỏ vàng vẫn nằm sờ sờ ở đó. Quý vị tin, tức là quý vị biết rằng có thần; còn quý vị không tin, có nghĩa là quý vị không biết rằng có những vị thần như thế, chứ không phải là không có thần! Ðó chẳng qua là vì quý vị hoàn toàn không có tri thức, không có trí huệ để nhận biết mà thôi. Vì vậy, chúng ta phải thận trọng, không nên hùa theo những kiến giải sai lầm, lệch lạc của người khác!

Các vị thần như thế đều đến hội họp. Không phải chỉ có những vị thần kể trên mà còn có đông đảo những vị thần khác nữa, và tất cả đều tấp nập tựu về cung trời Ðao Lợi để nghe Ðức Phật thuyết Pháp.

Tại thành phố Cựu Kim Sơn (San Francisco) hiện nay xảy ra rất nhiều thiên tai nhân họa; mới gần đây lại có cơn bão gây thiệt mạng cho hơn chín mươi người. Ðó cũng là do ác nghiệp của chúng sanh đã tới lúc chín muồi nên mới sanh ra những việc như thế.

Có người nói rằng vào tháng năm năm ngoái, căn cứ theo dự liệu của các nhà khoa học, thì có nạn động đất xảy ra. Tôi bèn làm “giấy bảo đảm,” cam đoan rằng chỉ cần tôi còn ở tại thành phố San Francisco thì sẽ không có chuyện động đất xảy ra; tuy nhiên, nếu tôi đi sang nơi khác, không có mặt ở San Francisco nữa, thì tôi chẳng thể làm gì hơn được!

Tôi không muốn có nạn động đất xảy ra để rồi phải bị rơi xuống biển, và tôi cũng không muốn những người bên cạnh tôi bị rơi xuống biển nữa. Vì sao ư? Vì tôi không muốn gặp mặt Long Vương, cũng chẳng thích kết bạn với vị Thần Biển (hải thần) có tám đầu, tám chân và mười tám cái đuôi. Tám cái đầu này là gồm bốn đầu nam và bốn đầu nữ – từ một thân thể mà mọc ra tám cái đầu của bốn cặp vợ chồng, trông rất là quái dị. Ðã thế, Thần Biển còn làm những việc rất kỳ quặc và rất đặc biệt; cho nên tôi không muốn kết giao với vị thần này, và tôi lại càng không muốn để cho những người cùng sống với tôi đi gặp thần nữa. Ðây không phải là tôi ích kỷ, bởi có gặp vị thần này thì cũng chẳng làm nên được việc gì tốt đẹp cả!

Ðầu năm nay (1969), có người báo cho tôi biết là vào khoảng tháng ba hoặc tháng tư lại có trận động đất nữa. Thế thì lần này, tôi có lại mở “công ty bảo hiểm” để mọi người có thể đến “mua bảo hiểm” nữa hay không? Vẫn y như vậy! Nói tóm lại, quý vị đừng quên những lời tôi nói hồi năm ngoái! Hễ tôi còn ở thành phố San Francisco ngày nào, thì bảo đảm ngày đó sẽ không có nạn động đất lớn (đại địa chấn) xảy ra; song le, các vấn đề nho nhỏ thì tôi không thể đoan chắc được.

Trong thời Mạt Pháp này, thiên tai nhân họa sẽ còn xảy ra rất nhiều; cho nên tôi hy vọng mọi người đều chuyên cần trì niệm danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Ðược như thế thì thành phố San Francisco này sẽ vững chãi như núi Thái Sơn, và sẽ không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra cả!

Kinh văn:

Lại có chư đại quỷ vương ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà, như Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương, Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương…, các quỷ vương như thế đều đến hội họp.

Lược giảng:

Lại có chư đại quỷ vương ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà… Vì sao nói là “lại có”? Bởi vì không phải chỉ có chư Bồ Tát cùng Thiên Long Bát Bộ như đã kể trên mà thôi, mà còn có rất đông đảo các vị từ các cõi nước phương khác cũng đến cung trời Ðao Lợi nữa.

“Các cõi nước phương khác” tức là các quốc độ, các cõi nước của chư Phật khác ở thế giới khác, chứ không phải là của thế giới Ta Bà.

“Ta Bà” là Phạn ngữ; Trung Hoa dịch là “kham nhẫn,” ngụ ý rằng chúng sanh ở nơi này có thể nhẫn chịu sự thống khổ.

“Chư đại quỷ vương.” Thông thường, người ta giảng chữ “chư” này là đồng nghĩa với chữ “đa,” và có nghĩa là “nhiều”; nhưng tôi thì lại khác. Khác như thế nào ư? Theo tôi, chữ “chư” không đồng nghĩa với chữ “đa” mà là đồng nghĩa với chữ “thiểu,” tức là “ít”; và “ít” tức là chỉ có “một” mà thôi!

Có người nghe thế thì bất bình, nói rằng: “Thầy lầm rồi! Theo tiếng Trung Hoa thì chữ ‘chư’ đồng nghĩa với chữ ‘đa’; sao Thầy lại giảng thành chữ ‘thiểu,’ rồi rốt cuộc lại biến thành chữ ‘nhất,’ tức là ‘một’ được?”

Chính thế, tôi thích quy nạp tất cả về “một”; vì sao ư? Bởi vì tôi vốn rất dốt toán, số mục nhiều quá thì không thể nào nhớ nổi; vả lại, tôi thấy rằng “một” là dễ nhớ nhất, chứ sang đến “hai” là bắt đầu phải động não, nghĩ ngợi rồi! Quý vị nói chữ “chư” đồng nghĩa với chữ “đa,” tức là “nhiều”; thế “nhiều” thì rốt cuộc là bao nhiêu? Chẳng có một con số cụ thể nào cả! Không có một con số đích xác thì rất rắc rối, cho nên tôi giảng thành “một” để đơn giản hóa vấn đề vậy. “Chư” chính là “nhất,” mà “nhất” cũng là “chư”; “nhiều” tức là “một,” mà “một” cũng chính là “nhiều.” Cho nên, đây là điểm khác biệt của tôi trong vấn đề giảng Kinh.

Như vậy, “chư” đại quỷ vương thì tôi nói là “một” đại quỷ vương; thế thì đó là ám chỉ vị đại quỷ vương nào? Bây giờ tôi cứ giảng tới vị quỷ vương nào thì vị đó chính là “một” đại quỷ vương! Ở đây có Ác Mục Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, vân vân…; tôi sẽ đề cập tới từng quỷ vương một, chứ không gộp chung lại một cách lộn xộn.

Vì sao tôi lại giảng chữ “chư” này thành chữ “nhất”? Ðó là cách giảng “bất chấp lý lẽ” của tôi, và bây giờ tôi sẽ giải thích cho quý vị nghe; bởi vì nếu tôi không giải thích thì quý vị sẽ không “tâm phục, khẩu phục,” và có thể còn ngờ rằng tôi giảng sai nữa. Thế nên, bây giờ tôi sẽ cắt nghĩa cho quý vị rõ.

Chúng ta nói về chữ “nhiều,” vậy do đâu mà thành “nhiều”? Cái “nhiều” này là từ đâu đến? Thử truy tìm nguồn gốc của “nhiều,” thì quý vị sẽ thấy rằng “nhiều” vốn từ nơi “một” mà ra; thậm chí cả “một” cũng không hiện hữu nữa. Vậy, “nhiều” vốn dĩ phát xuất từ “một.” Quý vị hãy thử bắt đầu từ “một” mà tính lên, hễ quý vị nhớ được cái thứ nhất, thì có thể biết được cái thứ hai, lại có thể biết cái thứ ba…; cứ thế mà suy ra thì có thể nói rằng “một” là vô lượng, mà vô lượng rốt ráo cũng chỉ là “một.” Ðó chính là cảnh giới:

Nhất bổn tán vi vạn thù,

Vạn thù nhưng quy nhất bổn.

(Một gốc phân tán thành muôn vàn,

Muôn vàn quy nạp về một gốc.)

Cho nên, chúng ta tu hành thì đều phải quy nạp về “một.” Tu hành là “tu” cái gì? Chính là tu sửa cái tâm của mình. Tâm chúng ta cần phải như thế nào? Tâm cần phải chuyên nhất; chúng ta phải tu sao cho chỉ còn duy nhất “một” cái tâm mà thôi! Có câu:

Ðắc nhất vạn sự tất.

(Ðược “một” thì muôn việc đều xong.)

Nếu quý vị đạt được cái “một” này, thì mọi sự kể như hoàn tất, không còn việc gì nữa cả. Tu hành chính là tu cái “một” này, phải tập luyện sao cho ý niệm của mình trở nên chuyên nhất, chỉ còn có “một” mà thôi; bởi ý niệm có chuyên nhất thì trí huệ mới khai mở. Nếu niệm không chuyên nhất thì sao? Thì đó là “hướng ngoại trì cầu,” tức là quý vị vẫn còn bôn ba tìm kiếm ở ngoài. Nếu quý vị có thể không khởi một niệm nào cả thì lại càng vi diệu hơn nữa; bởi:

Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,

Lục căn hốt động bị vân già.

(Một niệm chẳng sanh, toàn thể hiện,

Sáu căn chợt động, mây liền che.)

Mặc dù trong kinh văn kể ra nhiều quỷ thần như vậy, nhưng nếu quý vị có thể “nhất niệm bất sanh,” thì sẽ không có ma quỷ nào cả. Thậm chí, chẳng những không có ma quỷ mà ngay cả một vị thần cũng không có nữa. Thật ra, chẳng những không có thần mà ngay cả một đức Phật, một vị Bồ Tát, cũng không có nữa – tất cả đều không hiện hữu! Tất cả đều “không” – đây mới là lúc mà tất cả đều thực sự hiện tiền! Bấy giờ, Ðức Phật hiện đến, Bồ Tát cũng đến, Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Ca La… tất cả đều hiện thân đến. Vì sao các ngài hiện đến? Bởi vì quý vị có thể “nhất niệm bất sanh”! Nếu quý vị vẫn còn khởi tâm động niệm thì các ngài sẽ không hiện đến. Ðiều vi diệu là ở điểm này và cũng chính là ở chữ “chư” này; cho nên, đây đích thật là thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn.

Ở đây, quý vị đừng giải thích chữ “chư” này theo nghĩa “nhiều,” mà hãy dùng theo nghĩa “một”; và rồi ngay cả “một” cũng không tồn tại. Như thế, “chư” đại quỷ vương tức là “một” đại quỷ vương; và rồi ngay cả một vị quỷ vương cũng không có nữa – tất cả đều cao bay xa chạy hết. Không còn quỷ vương thì thế giới này cũng không tồn tại. Thế giới này đã không tồn tại, thế thì quý vị còn gì để lo âu nữa? Chẳng lo chẳng buồn, không quái không ngại; lúc đó gọi là:

“Tánh tận văn tịch tham Thiên Ðịa.”

Một khi quý vị đạt tới cảnh giới “tận nhân tánh, tận kỷ tánh, tận vật tánh,” tức là không còn thấy có tánh người, tánh mình, và tánh của sự vật, thì lúc bấy giờ, quý vị chính là trời đất và trời đất chính là quý vị; đồng thời, quý vị là chư Phật và chư Phật chính là quý vị – không hai không khác. Nào có cái gì gọi là “bạn,” là “tôi,” hoặc là “hắn”? Nào có cái gì gọi là “tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả”? Không có gì cả! Tất cả đều không tồn tại, thế thì quý vị còn gì để phiền não nữa chứ? Bấy giờ, phiền não gì cũng đều tiêu tan cả – lúc đó thật là “thanh tịnh chí vô dư,” trong sạch đến cực điểm; và quả thật là:

“Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,

Lục căn hốt động bị vân già.”

Quý vị xem, cảnh giới này thật là “diệu bất khả ngôn,” vi diệu đến chẳng thể nói hết được! Ðã “chẳng thể nói hết được,” thế thì không cần phải nói, không cần phải giảng nữa sao? Vẫn cần phải giảng! Bởi vì tôi thích giảng và vẫn muốn tiếp tục giảng nữa! Bây giờ chúng ta nói về “chư đại quỷ vương.” Các đại quỷ vương này rất hung ác, bởi vì là quỷ mà! Chân của loài quỷ rất dài; dài khoảng bao nhiêu ư?  – ! Tôi cũng không biết là dài bao nhiêu nữa, có lẽ độ chừng vài “trượng.” Thật ra, ngay cả các học giả, các professors của Trung Hoa cũng chẳng biết nhiều về quỷ vì chân của loài quỷ quá dài, dài đến nỗi người ta không thể thấy được bọn chúng đang ở nơi đâu!

Theo tiếng Trung Hoa, chữ “quỷ” này đồng âm với chữ “quy,” có nghĩa là “trở về.” Người ta thường nói: “Chết tức là trở về.” Về đâu? Về lại nơi mà mình đã phạm tội! “Quỷ” tức là “quy” – tức là trở về lại trong địa ngục; bởi loài quỷ cho rằng địa ngục là nhà của chúng, là nơi mà chúng phải quay về. Vì sao chúng nghĩ như vậy? Vì mê muội!

Bây giờ tôi lại giải thích chữ “quỷ” theo tiếng Anh. Theo Anh ngữ, “quỷ” tức là “ghost,” và đồng âm với chữ “go” hoặc “goes” có nghĩa là “đi.” Ði đâu và để làm gì? Loài quỷ cho rằng đi đây đi đó vui chơi là tuyệt nhất; nhưng thật ra, chúng đi đâu? Ði đến núi đao, rừng kiếm, chảo dầu! Suốt ngày cứ “go, goes, ghost”; rốt cuộc là “go” tới địa ngục, “go” tới cõi ngạ quỷ, “go” tới cõi súc sanh!

Như vậy, chữ “quỷ” giảng theo tiếng Trung Hoa thì ngụ ý là “quy” (quay về); còn giảng theo tiếng Anh thì ngụ ý là “go” (đi). Ðây là cách giải thích đơn giản của tôi.

Như Ác Mục Quỷ Vương (chúa quỷ mắt dữ). Loài quỷ này có chân rất dài, mắt thì chứa đầy vẻ hung ác đến nỗi vừa nhìn thấy mắt của chúng là người ta liền phát run cầm cập!

Ðạm Huyết Quỷ Vương (chúa quỷ uống máu). Loài quỷ này chuyên uống máu của chúng sanh; hễ nơi nào có máu là chúng đều tìm đến để uống.

Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương (chúa quỷ hút tinh khí); tiếng Phạn gọi là “Tỳ Xá Già.” Trong Chú Lăng Nghiêm có nhắc tới “Tỳ Xá Già,” đó chính là Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương này vậy. Loài quỷ này chỉ thích hút lấy tinh khí của con người và tinh túy của ngũ cốc. Tinh khí của loài người chúng ta vì sao vô hình trung bị suy kém? Chính là vì bị loài quỷ này hút mất vậy.

Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương (chúa quỷ ăn thai noãn). Loài quỷ này chuyên ăn những thai nhi chưa thành hình. Khi có các trường hợp như sẩy thai, đẻ non, thai nhi chết trong bụng mẹ xảy ra, thì lúc nhau thai rơi xuống là loài quỷ này liền chụp lấy để ăn. “Noãn” tức là trứng; loài quỷ này cũng ăn cả trứng nữa, như trứng gà chẳng hạn.

Tại sao bị làm loài quỷ này? Ðó là bởi đời trước, loài quỷ này vốn là những kẻ thích việc sát sanh; và thịt của những thú vật mà họ giết được thì đừng nói gì người khác, ngay cả vợ của họ mà họ cũng không cho ăn nữa! Chẳng những không cho thịt con vật, mà luôn cả huyết của nó họ cũng không chia cho ai cả. Họ tự sát sanh, rồi một mình ăn, một mình uống. Ngay cả vợ của họ mà họ còn không chia xẻ cho, huống hồ là người khác! Ðối với người khác thì họ lại càng cho không đành nữa! Ðiều này thể hiện thói keo kiệt, bỏn sẻn của họ. Cho nên, sau khi chết, họ phải làm loài quỷ ăn thai noãn, chỉ ăn toàn đồ dơ; đó là do thói tham lam, keo kiệt từ đời trước mà ra.

Hành Bệnh Quỷ Vương (chúa quỷ gây bệnh tật). Loài quỷ này đi đến đâu là gieo rắc các bệnh dịch, bệnh truyền nhiễm đến đó – chúng đem mầm bệnh đến khắp nơi.

Nhiếp Ðộc Quỷ Vương (chúa quỷ hút khí độc). Ðây là một loài quỷ tốt bụng, chứ không phải độc ác, hại người. Nếu quý vị bị nhiễm phải khí độc, loài quỷ này có thể giúp quý vị hút chất độc ra, bởi chúng là loài quỷ cứu người. Nhiếp Ðộc Quỷ Vương chính là hóa thân của Bồ Tát, thị hiện đến để cứu độ chứ không phải để đầu độc chúng sanh. Bất luận là ai bị trúng độc, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương đều có thể hút chất độc ra để giải cứu cho người ấy – đây là một vị quỷ vương tốt bụng, có lòng hảo tâm.

Từ Tâm Quỷ Vương (chúa quỷ có lòng nhân từ). Vị quỷ vương này thì đầy lòng từ bi. Tuy rằng làm quỷ, song mục đích của Từ Tâm Quỷ Vương là muốn lọt vào cõi giới của quỷ để dễ bề cứu độ và khiến cho loài quỷ phát Bồ Ðề tâm.

Phước Lợi Quỷ Vương (chúa quỷ làm phúc lợi). Vị quỷ vương này chính là vị Thần Tài giúp tăng phước, ban tài lộc.

Ngoài ra, còn có vị quỷ vương tên là Ðại Ái Kính Quỷ Vương (chúa quỷ đại ái kính).

Các quỷ vương như thế đều đến hội họp. Tất cả các quỷ vương kể trên đều hớn hở đến cung trời Ðao Lợi để nghe Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Kinh Ðịa Tạng.

Kinh văn:

Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Ông xem tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong thế giới này cùng thế giới khác, quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi như thế, Ông có biết số bao nhiêu chăng?”

Lược giảng:

Bấy giờ… “Bấy giờ” tức là vào lúc nào? Ðó là lúc “mỗi một” quỷ vương vừa đến cung trời Ðao Lợi để nghe Pháp.

Vì sao gọi là “quỷ vương” (chúa quỷ)? Vì họ là thủ lãnh của loài quỷ. Những quỷ vương vừa kể, bất luận là thiện hay ác, tất cả đều là Bồ Tát hóa thân. Quý vị chớ cho rằng quỷ vương bất quá cũng chỉ là loài quỷ mà thôi; thật ra, quỷ vương rất lợi hại!

Những quỷ vương nói trên, trong đời trước đều đã từng phát nguyện rằng họ sẽ dùng mọi cách để giáo hóa chúng sanh. Có vị dùng đức từ bi để nhiếp thọ, có vị dùng vẻ hung ác để chiết phục chúng sanh. “Chiết phục” (làm cho khuất phục) và “nhiếp thọ” (thâu nhiếp)-“chiết nhiếp nhị môn”-là hai phương pháp chính dùng để giáo hóa chúng sanh. Những chúng sanh do gặp quỷ vương từ bi mà phát tâm Bồ Ðề, tức là được giáo hóa bằng phương pháp “nhiếp thọ”; còn những chúng sanh do gặp quỷ vương có vẻ hung dữ mà phát tâm Bồ Ðề, tức là được giáo hóa bằng phương pháp “chiết phục.”

Chúng ta đã biết rõ ràng rằng những quỷ vương này đều là Bồ Tát hóa hiện, thế thì trong các quỷ vương đó vốn chẳng có ai là thiện mà cũng chẳng có ai là ác cả. Thiện và ác vốn từ đâu đến? Chính là từ nghiệp báo của mỗi chúng sanh-khi nghiệp ác chín muồi thì phải gặp Ác Mục Quỷ Vương, và lúc nghiệp thiện thành thục thì được gặp Từ Tâm Quỷ Vương. Bất luận là nghiệp ác hay nghiệp thiện, hễ đến lúc chín muồi thì tất cả đều có thể chuyển biến-nghiệp ác chín muồi thì có thể chuyển thành nghiệp thiện và nghiệp thiện chín muồi thì lắm lúc cũng có thể chuyển ra nghiệp ác. Thế nhưng, người chân chánh tu học Phật Pháp thì không bị chuyển bởi nghiệp thiện và nghiệp ác. Họ chỉ hướng theo thiện nghiệp mà đi; không rẽ sang ác nghiệp, cũng không lạc bước vào con đường dẫn đến núi đao, chảo dầu, rừng kiếm.

Vì sao chúng ta cần phải học Phật Pháp? Vì muốn đánh đổ trời đất, muốn làm cho “trời lật đất nghiêng”! “Ðánh đổ trời đất” là thế nào? Trời tiêu biểu cho nghiệp thiện và đất tiêu biểu cho nghiệp ác; cho nên muốn “đánh đổ trời đất” tức là muốn xoay chuyển nghiệp thiện và nghiệp ác để tất cả mọi người đều hướng theo con đường thiện, không còn ai theo đường ác nữa. Nếu quý vị có thể làm được như thế thì cả quỷ vương thiện lẫn quỷ vương ác đều sẽ bị “thất nghiệp,” đành phải “về hưu” hết!

Lúc giảng kinh, tôi không thích đặt máy ghi âm; quý vị có biết vì sao chăng? Bởi vì công dụng của máy đã khiến cho một số đệ tử quy y của tôi sanh tánh ỷ lại và trở nên lười biếng-chẳng có người nào ghi chép bài giảng cả! Trước kia, khi chưa đặt máy ghi âm, thì ai nấy đều rất chú ý theo dõi bài giảng và chịu khó ghi chép, và chính nhờ thế nên mọi người đều ghi nhớ được nhiều và rất rõ ràng; nhưng nay thì không còn như thế nữa. Lúc đáng nghe thì không chú ý nghe, xem rồi thì cũng quên bẵng mất. Dần dần rồi thì những gì tôi giảng đều được hoàn trả nguyên vẹn lại cho tôi, và tôi cũng phải “về hưu” thôi! Nếu các quỷ vương-thiện quỷ, ác quỷ-đều trở thành vô dụng thì Pháp Sư tôi cũng thành kẻ vô dụng; do đó, tôi không thể để cho các thiện quỷ và ác quỷ “về hưu” được. Nếu họ không có việc làm thì tôi cũng không có việc làm-tôi chẳng còn kinh sách mà giảng nữa! Không có giảng kinh thì cũng chẳng có người nghe; chẳng có người nghe thì làm một vị Pháp Sư nào có ý nghĩa gì đâu?

Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng… Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn được gọi là Diệu Ðức Bồ Tát hoặc Diệu Kiết Tường Bồ Tát. Vì sao gọi là “Diệu Ðức”? Bởi vì khi Ngài ra đời thì có mười điềm lành xảy ra:

1) Ánh sáng đầy nhà;

2) Cam lồ đầy nhà;

3) Dưới đất vọt lên bảy thứ quý báu;

4) Chư thần mở các kho tàng ẩn giấu;

5) Gà sanh ra phượng hoàng;

6) Heo sanh ra rồng;

7) Ngựa sanh ra kỳ lân;

8) Trâu sanh ra bạch trạch;

9) Kho thóc biến thành vàng. (Tất cả lúa thóc, ngũ cốc chứa trong kho đều biến thành vàng.)

10) Voi sáu ngà xuất hiện. (Voi xưa nay chỉ có hai ngà, nhưng con voi này lại có đến sáu ngà.)

Do mười hiện tượng kỳ diệu không thể nghĩ bàn này, nên Ngài có tên là Diệu Ðức. Lại nữa, bởi vì đó cũng toàn là những điềm lành, đem lại sự may mắn cát tường, cho nên Ngài còn có tên là Diệu Kiết Tường.

Thật ra, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát không còn là Bồ Tát nữa; thế thì Ngài là gì? Là một đức Phật! Trong đời quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Ngài đã thành Phật trong đời quá khứ, thế thì trong đời hiện tại này Ngài đã thành Phật chưa? Hiện tại, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng đã thành Phật, danh hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật và quốc độ là Hoan Hỷ Thế Giới ở phương Bắc. Tuy đã thành Phật, Ngài vẫn quay thuyền từ bi trở lại cõi Ta Bà, “giấu lớn hiện nhỏ,” thị hiện làm Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Theo Kinh Pháp Hoa (phẩm thứ nhất), thì Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là “sư tổ” của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì sao? Thuở truớc, khi chưa xuất gia, Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh có tám người con trai và cả tám người này đều tu hành thành Phật. Người thành Phật sau rốt có danh hiệu là Phật Nhiên Ðăng, và thầy của Ðức Phật Nhiên Ðăng này là Pháp Sư Diệu Quang. Pháp Sư Diệu Quang là ai? Chính là tiền thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi! Còn Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thì vốn là học trò của Ðức Phật Nhiên Ðăng và được Ðức Phật Nhiên Ðăng thọ ký làm Phật trong đời này.

Do đó, nếu luận về thứ bậc thì Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thuộc vai trên-là “sư tổ” của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng, trong đời này thì Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thành Phật, còn Bồ Tát Văn Thù thì lại làm đệ tử của Ngài.

Quý vị xem, cảnh giới của Bồ Tát quả thật là không có hình tướng, chẳng phân lớn nhỏ, chẳng hiềm cao thấp-hoàn toàn không có sự phân biệt. Thế nên, khi giảng Kinh Kim Cang, tôi thường nhắc nhở quý vị rằng:

“Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ.”

(Pháp vốn bình đẳng, chẳng có cao thấp.)

Hiện tại, trong giảng đường này, có thể có những người vốn là thầy hoặc là đệ tử của tôi trong đời quá khứ cũng không chừng. Hoặc biết đâu trong số quý vị lại có người học Phật Pháp một cách chân thành, tinh tấn, thật sự có đạo hạnh, có đức độ, sớm khai ngộ thành Phật, và xứng đáng cho tôi tôn làm Thầy cũng không chừng. Phật Pháp vốn vi diệu không thể nghĩ bàn; nếu quý vị hiểu rõ thì:

“Ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp.”

(Lìa tất cả tướng, tức được tất cả pháp.)

còn như không hiểu rõ thì:

“Trước tướng đầu đầu thố,

Vô vi hựu lạc không.”

(Chấp tướng thì sai lầm, vô vi rơi vào không).

Tôi giảng kinh thì cứ nghĩ gì nói nấy, nhớ đâu giảng đó; trời sụp đất lở, tôi cũng mặc, bởi chẳng có cái gì thật sự hiện hữu cả. Tất cả các pháp đều “không mình, không người, không chúng sanh, không thọ giả”; vậy thì thế nào gọi là Phật Pháp hưng thịnh? Thế nào gọi là Phật Pháp suy vi? Ở đâu có Chánh Pháp? Nơi nào có Mạt Pháp? Không có gì cả; tất cả đều là giả tạm!

Có người cằn nhằn: “Này Pháp Sư, ông càng giảng thì càng khiến cho chúng tôi thêm hồ đồ, rối trí mà thôi!” Thì ý của tôi là muốn làm cho quý vị trở nên hồ đồ kia mà! Nếu quý vị minh mẫn sáng suốt, thì quý vị đã không ngồi đây để nghe tôi giải thích! Thôi, bây giờ tôi nên trở lại với công việc giảng kinh một cách “hồ đồ” của mình thì hơn.

“Bồ Tát Ma Ha Tát” tức là “Ðại Bồ Tát.” Ở đây là muốn nói đến vị Ðại Bồ Tát nào? Chính là Ðại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi!

Lúc bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ông xem tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong thế giới này cùng thế giới khác, quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi như thế, Ông có biết số bao nhiêu chăng? Hiện tại, Ông có biết được là có bao nhiêu đức Phật, bao nhiêu Bồ Tát, bao nhiêu quỷ thần, v. v… đến nghe Ta thuyết Kinh Ðịa Tạng hay không? Ông có thể tính ra được con số đích xác hay không? Vì sao Ta hỏi Ông ư? Bởi vì Ông có đại trí huệ, một thứ trí huệ chân thực, có thể thấu triệt được cội nguồn của các pháp. Vậy bây giờ Ông hãy nói cho Ta rõ.

Kinh văn:

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngàn kiếp, cũng không thể biết được!”

Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ngay Ta dùng Phật Nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Ðây đều là do Ðịa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu.”

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành, chứng được Trí Vô Ngại, nghe lời Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng Tiểu Quả Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ, và những chúng sanh đời vị lai, dẫu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong Ðức Thế Tôn nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ở nhân địa đã tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”

Lược giảng:

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng… Vừa rồi, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng Ngài có thể biết được là có bao nhiêu đức Phật, bao nhiêu vị Bồ Tát cùng bao nhiêu quỷ thần đến dự Pháp Hội hay chăng; và Ngài trả lời Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngàn kiếp, cũng không thể biết được! Cho dù con vận dụng tất cả sức thần thông trí huệ có được của mình, và bỏ ra một quãng thời gian chừng một ngàn kiếp để suy lường tính toán không thôi, thì cũng chẳng thể nào biết được con số ấy là bao nhiêu!

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ngay Ta dùng Phật Nhãn xem hãy còn không đếm xiết!”

Phật Nhãn là gì? Phật Nhãn (con mắt Phật) được ví như một ngàn cái mặt trời vậy-không chỗ nào mà chẳng biết tới, không chỗ nào mà chẳng nhìn thấu, không chỗ nào mà chẳng nghe thấy. Phật Nhãn có đầy đủ mọi công năng và là biểu hiện của tất cả trí huệ. Ngoài ra, còn có bốn loại mắt nữa; đó là Nhục Nhãn (con mắt thịt), Thiên Nhãn (con mắt trời), Pháp Nhãn (con mắt Pháp) và Huệ Nhãn (con mắt trí huệ). Có một bài kệ tụng nói về năm con mắt này (Ngũ Nhãn) như sau:

Nhục Nhãn ngại phi thông,

Thiên Nhãn thông phi ngại,

Pháp Nhãn duy quán tục,

Huệ Nhãn liễu chân không,

Phật Nhãn như thiên nhật,

Chiếu dị thể hoàn đồng.

“Nhục Nhãn ngại, phi thông” (Nhục Nhãn ngại, chẳng thông). Nhục Nhãn là gì? Nhục Nhãn tức là “con mắt thịt,” chỉ có thể nhìn thấy được con người và đồ vật.

“Thiên Nhãn thông phi ngại” (Thiên Nhãn thông, chẳng ngại). Thiên Nhãn thì nhìn cái gì cũng thông đạt, có thể thấy được vô cùng thấu triệt, không có sự ngăn ngại.

Với Nhục Nhãn này thì chẳng những đồ đạc trong phòng mà ngay cả ở ngoài, thậm chí bất luận là bao xa, chỉ cần quý vị muốn nhìn là đều có thể thấy được. Nếu quý vị không nhìn thì sao? Thì đương nhiên là sẽ không thấy! Tuy rằng có thể nhìn thấy được, nhưng tốt nhất là đừng nhìn! Vì sao vậy? Bởi khi quý vị nhìn một vật nào đó thì sẽ bị phân tâm, và liền khởi tâm động niệm. Sanh thêm một tâm niệm thì không bằng ít bớt một tâm niệm; giảm đi một vọng tưởng thì vẫn hơn là tăng thêm một vọng tưởng. Quý vị dùng Nhục Nhãn này để nhìn mọi vật, xem xét sự việc, và đó đều gọi là “niệm.” Mặc dù cái “niệm” này có phần nào không giống với những tâm niệm hoặc ý nghĩ thông thường khác, song cũng chẳng có ích lợi gì cả. Do đó, có những lúc dù có thể nhìn thấy được đi chăng nữa, thì quý vị cũng chẳng nên nhìn!

Vậy, “Nhục Nhãn ngại phi thông” ngụ ý rằng với Nhục Nhãn, cái nhìn còn gặp sự chướng ngại của đồ vật cụ thể, không nhìn xuyên qua được.

“Pháp Nhãn duy quán tục” (Pháp Nhãn quán tục đế). “Con mắt Pháp” chỉ quán xét, nhìn thấy tục đế. “Tục đế” tức là những tình hình của thế gian nói chung. Nếu quý vị được mở Pháp Nhãn thì khi tụng kinh sẽ không cần phải nhìn vào sách nữa. Bấy giờ, quý vị chỉ việc “mở con mắt Pháp” ra thì sẽ thấy rằng tận hư không và khắp Pháp Giới đều toàn là kinh điển, đâu đâu cũng thấy tràn ngập vô lượng vô biên Pháp bảo. Quý vị chỉ cần chứng đắc Pháp Nhãn Tịnh là có thể quán thấy được tất cả thật tướng của các pháp. Vậy, Pháp Nhãn chỉ quán xét tục đế.

“Huệ Nhãn liễu chân không” (Huệ Nhãn rõ chơn không). “Con mắt trí huệ” thì quán xét tánh “không.” “Tục đế” còn được gọi là “giả đế,” bởi nó không phải là loại có thực thể. “Huệ Nhãn liễu chân không” nghĩa là con mắt trí huệ có thể nhìn thấu triệt được thật tướng chơn không của các pháp.

“Phật Nhãn như thiên nhật” (Phật Nhãn, ngàn mặt trời). Mắt của Phật thì quang minh, chiếu sáng như cả ngàn mặt trời vậy.

“Chiếu dị, thể hoàn đồng” (khác tánh, thể vẫn đồng). Cái thấy của năm thứ mắt này tuy chẳng giống nhau, song về bản thể thì vẫn chỉ là một mà thôi.

Vậy, trong đoạn kinh văn trên, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng chính Ngài đã dùng Phật Nhãn để quán sát chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật, Thiên Long Bát Bộ hiện đang có mặt tại cung trời Ðao Lợi, song cũng không biết được con số chính xác là bao nhiêu. Và, “đây đều là do Ðịa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu.”

“Ðã độ,” tức là chỉ chư Phật quá khứ. Các ngài vốn là những chúng sanh xưa kia ở nhân địa đã được Bồ Tát Ðịa Tạng hóa độ và nay đã thành Phật.

“Ðương độ,” tức là chỉ tất cả chư Bồ Tát hiện tại-những chúng sanh xưa kia ở nhân địa đã từng được Bồ Tát Ðịa Tạng hóa độ.

“Chưa độ,” tức là chỉ hết thảy chúng sanh, tất cả trời, người, cũng như Thiên Long Bát Bộ trong đời vị lai, chưa được độ thoát.

“Ðã thành tựu,” tức là đã hoàn tất xong xuôi.

“Ðương thành tựu, chưa thành tựu.” Chữ “thành” ở đây có thể giảng theo nghĩa của chữ “thạnh,” tức là trở thành xum xuê, trù phú, thịnh vượng; và chữ “tựu” có thể giảng theo nghĩa của chữ “cao.” Tại sao chữ “tựu” mà lại đồng nghĩa với chữ “cao”? Bởi vì quả vị mà các chúng sanh ấy sẽ thành tựu được thì rất lớn, rất cao.

Lại nữa, chữ “thành tựu” này còn được hiểu như chữ “hiếu.” Song đối với người Trung Hoa thì đây không phải là sự hiếu thảo mà người bình thường có thể đảm đương được. Vậy thì ai có thể đảm đương được? Chỉ có các bậc Hoàng Ðế! Các Hoàng Ðế thời xưa đều dùng hiếu đạo để cai trị thiên hạ, và đều thành tựu được đức hạnh cao tột. Bởi do lấy hiếu đạo mà trị dân nên có được đức hạnh tối cao, cho nên gọi là “thành tựu.”

Theo bộ Kinh này, Bồ Tát Ðịa Tạng đã từng giúp đỡ hết thảy chúng sanh thành Phật, hiện tại Ngài cũng đang giúp đỡ chúng sanh làm Bồ Tát, và trong tương lai Ngài cũng sẽ tiếp tục giúp cho tất cả chúng sanh này thành tựu được Phật Quả tối cao; như thế tức là hội đủ ba điều “chủng, thục, thoát.” “Chủng” (trồng) là vùi hạt giống dưới đất; “thục” là thành thục, chín muồi; và “thoát” là giải thoát. Thí dụ chúng ta gieo hạt giống xuống đất, rồi phải trải qua bao công phu bón phân tưới nước thì hạt giống mới nảy mầm, tăng trưởng, rồi thành thục, chín muồi; và sau khi chín muồi rồi thì bắt đầu bước sang giai đoạn thu hoạch. Tương tự như thế, đối với những chúng sanh chưa trồng thiện căn thì Ðịa Tạng Bồ Tát khiến họ trồng thiện căn, đã trồng thiện căn rồi thì khiến cho tăng trưởng, thiện căn đã tăng trưởng rồi thì khiến cho thành thục, thiện căn được thành thục rồi thì khiến cho được giải thoát. Vậy, chữ “thành tựu” bao hàm ba nghĩa như trên.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành, chứng được Trí Vô Ngại.”

“Trí Vô Ngại” tức là Tứ Vô Ngại Trí, hay còn gọi là Tứ Vô Ngại Biện, tức là bốn loại tài trí biện luận không bị ngăn ngại:

  1. Pháp Vô Ngại Biện. Ðây là nói về khả năng giảng Pháp một cách vô cùng sâu sắc, hữu lý; và tuy chỉ là một đạo lý song có thể triển khai thành trăm ngàn vạn ức đạo lý, rồi từ trăm ngàn vạn ức đạo lý có thể quy nạp lại thành một đạo lý.
  2. Nghĩa Vô Ngại Biện (biện giải mọi nghĩa lý một cách thông suốt, không hề bị ngăn ngại).
  3. Từ Vô Ngại Biện (nói năng hoạt bát, lưu loát, không bị trở ngại về ngôn từ; lời nào thốt ra cũng hợp với đạo lý).
  4. Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện (biện tài vui thuyết không trở ngại). “Nhạo thuyết” tức là thích nói, vui vẻ thuyết giảng.

Bởi trong những đời quá khứ rất lâu xa về trước, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đã từng tu pháp Ðại Thừa, cho nên bây giờ Ngài “nghe lời Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng Tiểu Quả Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ và những chúng sanh đời vị lai, dẫu nghe lời thành thật của Như Lai nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ.”

“Tiểu Quả” tức là quả vị của hàng Tiểu Thừa-Thanh Văn, Duyên Giác.

“Thiên Long Bát Bộ” tức là tám bộ Quỷ Thần Long Chúng-Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già.

Quý vị xem! Lời lẽ của Phật vốn hết sức chân thành, thế mà còn bị chúng sanh ngờ vực, thế thì các đệ tử của tôi cũng chẳng có gì đáng trách nếu họ bỏ đi vì không tin lời giảng của tôi! Ngài Văn Thù Sư Lợi đã nhìn nhận rằng vẫn có một số chúng sanh, một số Thiên Long Bát Bộ, chẳng những không trọn tin mà còn hoài nghi những lời thành thật của Ðức Phật nữa.

Có nhiều người cho rằng những buổi giảng kinh như hiện nay là một sự kiện rất bình thường. Thật ra, được nghe giảng kinh là một việc hết sức hy hữu! Ðây là một cơ hội vô cùng hiếm có và rất khó mà gặp được-nhất là ở ngay tại xứ Mỹ này. Nếu không tin thì quý vị hãy tìm thử xem có được mấy nơi có giảng kinh thuyết pháp, đặc biệt là chiếu theo kinh văn mà cắt nghĩa từng chữ một như chúng ta ở đây? Chưa có! Tại các nước Tây phương thì có thể nói là rất hiếm hoi, quá ít ỏi. Mặc dù hiếm có, nhưng vì người Tây phương từ trước đến nay chưa hiểu nhiều về Phật Pháp, cho nên tuy bây giờ được nghe Phật Pháp chân chánh song họ cũng chưa hoàn toàn nhận thức được!

Ở đời, có nhiều người chưa bao giờ nhìn thấy vàng, cho nên nếu quý vị cho họ nén vàng thì họ lại tưởng đó là thỏi đồng, thỏi sắt. Sở dĩ người ta “thấy vàng ngỡ đồng, gặp kim cương tưởng pha-lê,” là vì họ chưa hề thấy qua và cũng không biết gì về giá trị trân quý của vàng và kim cương. Tương tự như thế, nếu quý vị thuyết giảng Phật Pháp chân chánh cho những người chưa đủ trình độ để nhận thức, thì họ lại cho rằng đó là những lý lẽ rất tầm thường, còn ở “bên ngoài” ngưỡng cửa chứ chưa đi sâu vào “bên trong.” Kỳ thật, nếu không hiểu được “bên ngoài” thì làm sao thấu triệt được “bên trong”? Chúng ta cần phải “trong ngoài đều tường tận” mới được! Không hiểu rõ lý thì chẳng thể tu hành; mà không tu hành thì chẳng thể nào hiểu được lý! Do đó, tu hành cần phải “hành giải tương ưng”-“giải” tức là hiểu rõ Phật Pháp; còn “hành” tức là y chiếu theo Phật Pháp mà thực hành.

Quý vị xem, khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết bộ Kinh Ðịa Tạng này, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đã nêu ra mối quan tâm về việc hàng Tiểu Quả Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ, cùng tất cả chúng sanh trong đời vị lai sẽ không tin nhận. Sở dĩ như thế là vì họ không có thiện căn, hoặc thiện căn không đủ, cho nên dù được nghe những lời thành thật của Ðức Phật, trong thâm tâm họ vẫn cứ nghi hoặc, và “dầu cho có lạy vâng, tạm thời tin chịu trong một thời gian rất ngắn đi nữa, cũng chưa khỏi hủy báng.”

Có nhiều người tuy cũng quy y nhưng lại không sanh khởi tín tâm. Ðó là vì trong đầu óc họ chứa đầy những tà tri tà kiến, cho nên quý vị có giảng Chánh Pháp cho họ nghe thì họ cũng không thể nào hiểu được; và chính vì không hiểu được nên họ sẽ không khỏi sanh lòng hủy báng!

Nhân lúc Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thỉnh cầu: “Cúi mong Ðức Thế Tôn nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ở nhân địa đã tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”

“Nhân địa” nghĩa là gì? “Nhân địa” tức là đời trước, tiền sanh túc thế, nơi chúng ta gieo trồng nhân duyên.

Bất luận lập thệ nguyện gì, chúng ta đều cần phải ghi nhớ thệ nguyện đó, và thực hiện đúng theo lời nguyện của mình. Ðã hứa thì phải giữ lời, không được đổi ý-cho dù có vất vả gian nan đến thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải y chiếu nguyện lực mà thi hành.

Kinh văn:

Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ví dụ trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới có bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, đay, tre, lau, núi, đá, bụi bặm, cứ mỗi vật một số, mỗi số là một sông Hằng; rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, mỗi hạt cát làm một cõi giới; rồi trong mỗi cõi giới, cứ mỗi hạt bụi làm một kiếp; rồi bao nhiêu số bụi chứa trong mỗi kiếp đều đem làm kiếp cả; thì từ lúc Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay, ngàn lần lâu hơn số kiếp tỷ dụ ở trên, huống là từ những thuở Ðịa Tạng Bồ Tát còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!”

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Bây giờ Ta sẽ nêu ra một tỷ dụ. Ví dụ trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới có bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, đay, tre, lau, núi, đá, bụi bặm …” Những thứ này thì đầy dẫy ở khắp mọi nơi, mà mỗi thứ mỗi loại lại nhiều đến vô số.

Nơi có cỏ mọc um tùm gọi là “lùm”; chốn có nhiều cây cối rậm rạp gọi là “rừng.” “Lúa” là lương thực để ăn; còn “đay” (cây gai) là để dùng làm sợi đay. Bụi bặm tích tụ lại nhiều thì thành núi.

Ðức Phật nói rằng với tất cả các thứ như thế ở trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới, Bồ Tát Văn Thù hãy lấy mỗi vật làm một con số; làm một con số bao nhiêu? “Cứ mỗi vật một số, mỗi số là một sông Hằng.” Nếu lấy mỗi ngọn cỏ làm một sông Hằng, tức là có bao nhiêu cỏ thì có bấy nhiêu sông Hằng, thì chắc chắn là chúng ta không tài nào tính ra được con số ấy là bao nhiêu. Và, không riêng gì loài cỏ, mà kể cả cây cối, lùm, rừng, lúa, đay, tre, lau… cũng đều phải y như thế mà tính-cứ một vật làm một sông Hằng. Vậy thì, hai vật tức là hai sông Hằng, ba vật là ba sông Hằng, bốn vật là bốn sông Hằng… Cỏ cây thì nhiều vô số kể, thế nên số sông Hằng cũng thành ra nhiều đến không thể kể xiết. Do đó, đây là biểu thị số lượng quá nhiều, tổng số quá lớn, chẳng có cách nào tính đếm được.

“Rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, mỗi hạt cát làm một cõi giới; rồi trong mỗi cõi giới, cứ mỗi hạt bụi làm một kiếp.” Sau đó, cứ mỗi một hạt cát trong từng sông Hằng lại tính là một cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới. Kế đến, cứ tất cả bụi bặm trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên, mỗi hạt bụi làm một đại kiếp.

“Rồi bao nhiêu số bụi chứa trong mỗi kiếp đều đem làm kiếp cả.” Với biết bao bụi bặm tích tụ trong một đại kiếp, nếu cứ lấy mỗi hạt bụi làm một đại kiếp, thì số kiếp tính được sẽ là bao nhiêu?

“Thì từ lúc Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay, ngàn lần lâu hơn số kiếp tỷ dụ ở trên, huống là từ những thuở Ðịa Tạng Bồ Tát còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!” Từ khi Bồ Tát Ðịa Tạng chứng quả vị Thập Ðịa đến nay mà đã lâu như thế, thì nếu tính từ lúc Ngài còn tu làm Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật, lại càng không biết là đã trải qua thời gian lâu xa đến chừng nào?! Cho nên, Bồ Tát Ðịa Tạng đã lập những hạnh nguyện này từ lâu lắm rồi.

Kinh văn:

“Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào nghe thấy danh tự của Bồ Tát đó rồi hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng niệm danh hiệu, hoặc cúng dường, cho đến tô vẽ, chạm khắc, tạc đúc, sơn thếp hình tượng, thì người ấy sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Tam Thập Tam, vĩnh viễn chẳng còn bị đọa vào ác đạo.

Này Văn Thù Sư Lợi! Bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát là con trai của một vị đại Trưởng Giả. Thuở đó, trong đời có đức Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.”

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi mà bảo rằng: “Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được.” “Bồ Tát đó” tức là vị Bồ Tát nào? Chính là Bồ Tát Ðịa Tạng! Oai đức thần thông và thệ nguyện không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Ðịa Tạng có công năng độ thoát tất cả chúng sanh có tội ác sâu nặng. Ngài dùng oai thần của chính mình để chiết phục chúng sanh; Ngài nguyện rằng:

“Ðịa ngục vị không, thệ bất thành Phật,

Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ Ðề.”

Bao giờ địa ngục còn chưa trống không, thì bấy giờ Bồ Tát Ðịa Tạng còn chưa thành Phật; chỉ khi nào tất cả chúng sanh đều được độ thoát rồi thì khi đó Ngài mới thành Phật, nếu vẫn còn một chúng sanh chưa độ xong thì Ngài vẫn chưa thành Phật.

Trải qua quãng thời gian lâu dài như vậy mà Bồ Tát Ðịa Tạng vẫn chưa thành Phật, cũng vì hễ Ngài độ chúng sanh này xong thì lại có chúng sanh khác đến, cứ liên tục không bao giờ ngớt. Không phải là cứ một chúng sanh ra đời thì có một chúng sanh tạ thế; cũng chẳng phải là cứ chúng sanh kia tạ thế thì chúng sanh nọ mới chào đời. Số chúng sanh ra đời nói chung vẫn nhiều hơn số chúng sanh tạ thế gấp mười lần, trăm lần, ngàn lần và có thể cả vạn lần. Quý vị thử làm thống kê xem tại thành phố San Francisco hiện nay thì mức độ tử vong cao hơn hay sinh sản cao hơn?

Thường thì người ta phải chết là vì tuổi già sức yếu hoặc có bệnh hoạn, do đó trung bình thì con người sống cũng được chừng vài chục năm; trong khi đó, hầu như chỉ sau mười tháng hoài thai là có thêm người được sinh ra, cho nên dân số gia tăng rất nhanh, và xác suất sinh sản có thể cao hơn xác suất tử vong đến hằng ngàn, hằng vạn lần. Chính vì thế mà cho đến bây giờ Ðịa Tạng Bồ Tát vẫn còn vất vả, bận rộn, và vẫn chưa thể thành Phật được.

Thế nhưng, quý vị nghĩ rằng Ðịa Tạng Bồ Tát có hối hận về thệ nguyện của mình hay không? Ðương nhiên là Ngài không hối hận! Chúng sanh càng đông đúc thì Ngài càng có nhiều công việc để bận rộn; nếu không có chúng sanh thì Ngài không có việc làm và đã thành Phật từ lâu rồi-mà thành Phật rồi thì chẳng còn việc gì để làm nữa cả! Cho nên, đây là Ðịa Tạng Vương Bồ Tát “không có việc thì kiếm việc mà làm”! Lẽ ra thì Ngài có thể sống rất thanh nhàn, rảnh rỗi, song Ngài lại thích suốt ngày lăng xăng bận rộn đi cứu độ chúng sanh, bởi đó chính là hạnh nguyện của Ngài vậy.

Tại sao Ðịa Tạng Vương Bồ Tát lại lập thệ nguyện lớn lao này? Bởi vì Ngài nhận thấy rằng Ngài và chúng sanh vốn đồng một thể-nếu chúng sanh chưa thành Phật thì Ngài thành Phật cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì thế Ngài tự nguyện chờ đợi chúng sanh, gìn giữ thứ nhân duyên “vĩnh viễn đồng thể” với chúng sanh. Nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thì không cách nào đo lường hoặc hiểu rõ được. Những gì chúng ta nói ra được thì chỉ là một phần hết sức nhỏ, bởi thật ra, nguyện lực của Ngài vốn không thể suy lường hay luận bàn đến được.

“Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào nghe thấy danh tự của Bồ Tát đó-Ðịa Tạng Vương Bồ Tát-rồi hoặc tán thán…” Sau khi được nghe giảng, nếu có cơ hội thì quý vị nên giới thiệu nguyện lực từ bi của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát cho các bạn đồng nghiệp hoặc thân bằng quyến thuộc của mình được biết. Ðồng thời, quý vị cũng nên tự hỏi chính mình: “Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có thể lập thệ nguyện rộng lớn như thế, còn mình thì sao? Mình có nên lập một thệ nguyện nho nhỏ chăng? Chẳng hạn nguyện là mình sẽ hóa độ cho một chúng sanh thành Phật rồi mình mới thành Phật? Hoặc là hóa độ cho hai chúng sanh thành Phật rồi mình mới thành Phật?”

Quý vị không lập nguyện lớn mà chỉ lập nguyện nhỏ thôi cũng được, như thế cũng là không uổng công nghe giảngKinh Ðịa Tạng. Nếu quý vị nghe rồi bỏ qua, cho rằng Bồ Tát là Bồ Tát, còn mình là mình, Bồ Tát và mình chẳng có liên quan gì với nhau cả; như thế tức là nghe rồi mà cũng như là chưa nghe vậy!

Thí dụ, người nam có thể phát nguyện rằng: “Trước kia tôi có một người bạn gái, phen này nếu tôi thành Phật thì tôi nhất định sẽ độ cho cô ta cũng được thành Phật.” Thế còn người nữ thì sao? Người nữ cũng có thể lập nguyện rằng: “Trước kia tôi có quen một người bạn trai, người này đối với tôi rất tương thân tương ái. Nay tôi muốn tu hành, nên tôi nguyện sẽ độ cho anh ta thành Phật, rồi tôi mới thành Phật.” Quý vị nên lập những thệ nguyện đại loại như thế; chứ không nên có khuynh hướng:

Di Ðà Phật các cố các,

Ma Ha Tát bất quản tha!

(Di Ðà Phật, thân ai nấy lo,

Ma Ha Tát, chẳng màng người khác.)

Có người nói rằng: “Tôi còn nhỏ nên chưa có bạn trai, cũng chưa có bạn gái!” Nếu thế thì hãy nghĩ tới cha mẹ của mình và phát nguyện độ cho họ thành Phật. Trường hợp cha mẹ của quý vị đã qua đời rồi thì sao? Thì quý vị hãy nghĩ tới anh chị em của mình. Nếu không có anh chị em gì cả thì sao? Thì quý vị hãy nghĩ tới bạn bè, hàng xóm láng giềng. Quý vị chọn người nào làm mục tiêu cứu độ của mình cũng đều được cả. Nếu vẫn không nghĩ ra được một người nào cả thì quý vị có thể nguyện rằng: “Tôi có một vị sư huynh đệ, tôi nhất định độ cho vị ấy được thành Phật.”

Bản thân tôi cũng từng lập nguyện rằng trong số những người đã quy y với tôi, nếu có một người chưa thành Phật thì tôi cũng chưa thành Phật. Tuy nhiên, vì tôi không có được nguyện lực lớn lao như Ðịa Tạng Vương Bồ Tát để có thể độ cho tất cả chúng sanh đều thành Phật, do đó tôi có đặt điều kiện-phải là đệ tử quy y và phải thật tâm tin tưởng nơi tôi thì tôi mới chờ đợi. Nếu người ấy bị đọa địa ngục, tôi sẽ vào địa ngục để tìm và cứu người ấy ra.

Giả sử về đời sau, có người tấm tắc ngợi khen rằng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát có nguyện lực không thể nghĩ bàn, thần thông không thể nghĩ bàn và lòng từ bi cũng không thể nghĩ bàn; đồng thời giới thiệu cho mọi người biết về Ngài, và“hoặc chiêm lễ, hoặc xưng niệm danh hiệu ‘Nam Mô Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát’…

“Chiêm” là dùng mắt để nhìn ngắm; “lễ” là lễ bái, vái lạy. Khi chúng ta quỳ lạy trước tượng Phật, tức là chúng ta đang “chiêm lễ” Phật. Chúng ta hiện đang giảng Kinh Ðịa Tạng, tôi nói Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thật là bất khả tư nghì; thì đó là “tán thán,” khen ngợi. Trong lúc chiêm ngưỡng và đảnh lễ, chúng ta niệm “Nam Mô Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát”; thì đó gọi là “xưng niệm danh hiệu.”

“Hoặc cúng dường.” Chúng ta đã cung thỉnh tượng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát về giảng đường này, và bây giờ mọi người ngày ngày thắp hương, lễ lạy, dâng cúng hoa quả… trước tôn tượng; như thế gọi là “cúng dường.”

“Cho đến tô vẽ, chạm khắc, tạc đúc, sơn thếp hình tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát…Ðừng nói tới dùng gỗ, chỉ cần dùng màu sắc để tô vẽ một bức hình của Bồ Tát Ðịa Tạng cũng là rất đáng quý.

Người nào vẽ được một bức tranh Phật thì tướng mạo của người đó sẽ trở nên trang nghiêm, viên mãn thêm một chút. Ðức Phật có ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp-nếu quý vị vẽ một bức hình Phật thì tướng mạo của quý vị sẽ tốt đẹp hơn một chút, vẽ hai bức thì tướng mạo lại đẹp lên một chút nữa; vẽ ba bức, bốn bức, năm bức…, thậm chí cả trăm ngàn vạn ức bức tranh Phật, thì quý vị cũng sẽ có được ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp như Phật vậy. Nói tóm lại, nếu quý vị tô vẽ hình Phật, tạc tượng Phật, đắp tượng Phật, thì tướng mạo của quý vị sẽ được đẹp đẽ hơn.

“Chạm khắc” tức là dùng dao để đẽo gọt và chạm trổ trên gỗ, làm thành tượng Phật hoặc Bồ Tát.

 

“Thì người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Tam Thập Tam.” Nếu quý vị tô vẽ tranh ảnh Phật, điêu khắc từ gỗ tốt hoặc tạc từ đá quý thành hình tượng Phật, hoặc là dùng sơn keo để tô đắp và sơn thếp tượng Phật, thì sẽ được sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba một trăm lần. “Một trăm lần” này không phải chỉ ở cõi trời Ba Mươi Ba, mà trước tiên là sanh lên sáu tầng trời Dục Giới, mười tám tầng trời Sắc Giới-tức là ba tầng trời Sơ Thiền, ba tầng trời Nhị Thiền, ba tầng trời Tam Thiền và chín tầng trời Tứ Thiền-và luôn cả các tầng trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ở Vô Sắc Giới. Cứ ở mỗi cõi giới-Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới-quý vị sẽ được tái sanh một trăm lần, sau đó sanh về cõi trời Ba Mươi Ba một trăm lần nữa. Quãng thời gian này vô cùng lâu dài.

“Vĩnh viễn chẳng còn bị đọa vào ác đạo.” Nếu quý vị thành tâm tán thán, chiêm ngưỡng đảnh lễ, xưng niệm danh hiệu, cúng dường, hoặc tạc đúc các hình tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, thì vĩnh viễn sẽ không bị đọa lạc vào đường ác nữa.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại bảo Bồ Tát Văn Thù: “Này Văn Thù Sư Lợi! Bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát là con trai của một vị đại Trưởng Giả.” Quãng thời gian “lâu xa” này không có cách nào để diễn tả cho đích xác được. Nếu lấy tất cả lúa, đay, tre, lau, núi, đá, bụi bặm,… cứ mỗi vật làm một sông Hằng, rồi mỗi hạt cát trong mỗi sông Hằng làm một cõi giới, mỗi hạt bụi trong mỗi cõi giới làm một kiếp… như tỷ dụ nói trên, thì làm sao có thể tính cho xuể được? So với việc tính toán các số liệu để có thể phóng hỏa tiễn lên tận mặt trăng thì tỷ dụ trên còn phức tạp và nan giải hơn nhiều.

Hiện nay, con người phóng hỏa tiễn vào không gian được là nhờ dùng số học để tính toán tốc lực, định phương hướng, cũng như suy luận xem làm thế nào để có thể ngừng lại hoặc đáp xuống, khi lọt vào quỹ đạo không gian thì phải di chuyển ra sao… Công việc này đòi hỏi bao nhiêu hỏa lực để đạt được, tất cả đều căn cứ vào toán học để tính toán. Sau khi tính ra được những số liệu chuẩn xác rồi thì người ta mới có thể phóng hỏa tiễn vào tầng khí quyển. Tuy nhiên, những số liệu này còn có thể tính ra được, duy có số kiếp tu hành lâu dài của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thì chúng ta không thể nào tính được. Cho dù môn số học có tiến cao hơn nữa, khoa học có tinh vi hơn nữa, cũng chẳng có cách nào tính toán ra cả.

“Thuở đó, trong đời có đức Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.”

Sư tử là chúa tể của loài thú. Hễ sư tử gầm lên một tiếng thì núi rừng rúng động, muôn thú đều đinh tai nhức óc và đều khiếp sợ đến nỗi chạy không được, đứng cũng không vững, toàn thân bủn rủn, thậm chí còn ngã lăn ra đất.

“Phấn” tức là hưng phấn, hăng hái; “tấn” có nghĩa là nhanh chóng, mau lẹ; biểu thị sư tử chạy nhanh vô cùng. Do đó, “sư tử phấn tấn” hàm ý dõng mãnh, tinh tấn, nhanh nhẹn.

“Cụ túc vạn hạnh” là chỉ Ðức Phật có đủ Lục Ðộ Vạn Hạnh.

Vậy, lúc Ðịa Tạng Vương Bồ Tát là con trai của một vị đại Trưởng Giả, thì có Ðức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh đang trụ thế.

Kinh văn:

“Lúc bấy giờ, Trưởng Giả tử thấy Ðức Phật tướng mạo tốt đẹp, ngàn phước trang nghiêm, bèn bạch hỏi Ðức Phật đó tu hạnh nguyện gì mà được tướng mạo như thế.

Khi ấy, Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng Giả tử rằng: ‘Muốn chứng được thân tướng này, cần phải lâu đời độ thoát tất cả những chúng sanh bị khốn khổ.’”

Lược giảng:

“Lúc bấy giờ, Trưởng Giả tử thấy Ðức Phật tướng mạo tốt đẹp, ngàn phước trang nghiêm…”

Nhờ đâu mà Ðức Phật có được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp? Nhờ có “ngàn phước trang nghiêm.” Thế nào gọi là “ngàn phước”? Chúng ta trì Ngũ Giới, hành Thập Thiện thì được một trăm phước; rồi cứ mỗi số mục lại biến thành mười nên thành ra một ngàn; đó gọi là “một thiện, một phước.” Tập trung lại thì thành một ngàn phước, đây chính là “ngàn phước trang nghiêm.”

Ðương thời, con trai ông Trưởng Giả thấy Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, ngàn phước trang nghiêm, tướng mạo vô cùng viên mãn, vi diệu, “bèn bạch hỏi Ðức Phật đó tu hạnh nguyện gì mà được tướng mạo như thế.” Trưởng Giả tử thỉnh vấn Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai rằng: “Bạch Ðức Như Lai! Chẳng hay Ngài đời trước nhờ tu pháp môn gì, lập thệ nguyện gì mà nay có được tướng tốt viên mãn, hoàn hảo như thế?”

“Khi ấy, Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng Giả tử rằng: ‘Muốn chứng được thân tướng này, cần phải lâu đời độ thoát tất cả những chúng sanh bị khốn khổ! Ông muốn có được thân tướng giống như Ta ư? Vậy thì Ta sẽ nói cho ông rõ: Ông cần phải trải qua thời gian rất lâu và rất dài để cứu vớt cho hết tất cả những chúng sanh đang chịu cảnh trầm luân khổ sở. Các chúng sanh ấy được xa lìa khổ não thì ông được tướng mạo viên mãn. Như thế có nghĩa là ông độ cho chúng sanh thành Phật, thì bản thân ông cũng được thành Phật.’”

Kinh văn:

“Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, Trưởng Giả tử nhân đó liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay cho đến tận vị lai kiếp chẳng thể tính đếm về sau, tôi sẽ vì những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo mà quảng thiết nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.’

Bởi đã ở trước Ðức Phật đó mà lập đại nguyện như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vạn ức na-do-tha bất khả thuyết kiếp, mà vẫn còn làm vị Bồ Tát.”

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Văn Thù: “Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, Trưởng Giả tử nhân đó liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay cho đến tận vị lai kiếp chẳng thể tính đếm về sau …’”

“Tận vị lai kiếp” tức là chỉ cho vô số vô lượng kiếp về sau, tận cùng của số kiếp trong đời vị lai, đến hết kiếp vị lai. Kiếp vị lai vì sao lại có thể hết được? Kiếp vị lai vốn chẳng thể hết hay cùng tận được; song ở đây nói “hết” là ám chỉ quãng thời gian dài bất tận, lâu dài đến nỗi không thể nào tính xuể là bao nhiêu kiếp.

Sau khi được nghe Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai giải thích xong, con trai ông Trưởng Giả bèn phát tâm lập nguyện rằng: “Kể từ bây giờ cho đến tột số kiếp chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi sẽ vì những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo mà quảng thiết nhiều phương tiện…” Bởi chúng sanh ở thế giới Ta Bà cử tâm động niệm không chi là không tội, không chi là không nghiệp, cho nên họ được mệnh danh là “những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo.”

“Lục Ðạo” tức là sáu nẻo đường-Trời, Người, A Tu La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh.

“Quảng” là rộng rãi; “thiết” là thiết lập, đặt ra. Vậy, “quảng thiết nhiều phương tiện” tức là tùy nghi mà đặt ra vô số pháp môn phương tiện, chứ chẳng phải chỉ có một mà thôi.

“‘Làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.’” Trưởng Giả tử nguyện rằng đến khi nào mọi chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo đều lìa khổ được vui và đều thành Phật cả rồi, thì bấy giờ anh ta mới thành Phật; nếu còn sót một chúng sanh chưa thành Phật, thì vị Trưởng Giả tử này cũng sẽ chưa thành Phật!

Có câu:

“Như nhất chúng sanh vị thành Phật,

Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.”

(Nếu còn một kẻ chưa thành Phật,

Tôi quyết không về cõi Nê Hoàn.)

(Kinh Lăng Nghiêm, quyển 3)

Nghĩa là giả sử còn một chúng sanh chưa thành Phật, thì tôi dứt khoát chưa vào Niết Bàn. (“Nê Hoàn” tức là Niết Bàn.)

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: “Này Văn Thù Sư Lợi! Ðịa Tạng Vương Bồ Tát bởi đã ở trước Ðức Phật đó mà lập đại nguyện như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vạn ức na-do-tha bất khả thuyết kiếp, mà vẫn còn làm vị Bồ Tát.”

“Na-do-tha” là một con số rất lớn của Ấn Ðộ. “Bất khả thuyết” cũng ám chỉ một con số lớn vô kể. Do đó, “na-do-tha bất khả thuyết kiếp” có nghĩa là số kiếp nhiều đến nỗi không thể nói hết.

Trưởng Giả tử-tiền thân của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát-đã đối trước Ðức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai mà phát lời đại nguyện đó, và từ ấy đến nay đã trải qua quãng thời gian lâu dài tới cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp như thế, mà Ngài Ðịa Tạng vẫn còn làm vị Bồ Tát, chứ chưa thành Phật.

Kinh văn:

“Lại bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp về trước, thuở đó trong đời có đức Phật hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai; thọ mạng của Ðức Phật ấy là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp.

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni kể tiếp: “Lại bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp về trước…” “A-tăng-kỳ kiếp” là số kiếp nhiều đến nỗi không thể suy đoán, không thể luận bàn được; và ở đây không chỉ nói tới ba đại a-tăng-kỳ kiếp, mà là “bất khả tư nghị a-tăng-kỳ kiếp”—quãng thời gian này càng lâu càng dài hơn nữa.

“Thuở đó, trong đời có đức Phật hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.”

“Giác Hoa” là nhân, “Tự Tại Vương” là quả. “Giác Hoa” là gốc, “Ðịnh Tự Tại Vương” là ngọn. Như thế, Ðức Phật này nhờ ở nhân địa đã tu “Giác Hoa” nên chứng được quả “Tự Tại Vương.” Ngài dùng cái gì để tu “Giác Hoa”? Ngài dùng “Ðịnh” để tu. Do đâu mà Ngài thành tựu được quả “Tự Tại Vương”? Cũng là do tu “Ðịnh” mà thành. Ðó gọi là “Ðịnh nhân, Ðịnh quả”—nhân là Ðịnh, mà quả cũng là Ðịnh. Bởi do tu Ðịnh nhân mà kết thành Ðịnh quả, cho nên Ðức Phật này có danh hiệu là “Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.” Trong đó, “Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương” là danh hiệu riêng của Ngài, và “Như Lai” là danh hiệu chung của chư Phật—danh hiệu của Phật cũng có chung có riêng như thế.

“Thọ mạng của Ðức Phật ấy là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp.” “Thọ” là tuổi thọ, sự lâu dài; “mạng” là sanh mạng, mạng sống. Theo Kinh Pháp Hoa thì Ðức Phật có ba thân:

1) Pháp Thân. Pháp Thân Chân Như của Ðức Phật vốn không tách rời các pháp. Chân Như của Pháp Thân cùng chư pháp không mảy may ngăn cách; đó gọi là “thọ.” Ở đây lấy lý Như Như làm “mạng” của Pháp Thân. Ðiều này thật không phải dễ giải thích! Lý Như Như là gì? Ðó chính là đạo lý căn bản xưa nay, là sanh mạng của Phật, và cũng chính là Pháp Thân.

2) Báo Thân. Còn Báo Thân thì sao? Thì lấy Thật Tướng Trí Huệ làm “mạng.” “Cảnh, trí tương ưng”—”cảnh” là “trí,” “trí” cũng là “cảnh”—cảnh giới của Phật chính là trí huệ, trí huệ cũng là cảnh giới.

Ðức Phật dùng trí huệ chiếu soi tất cả các cảnh giới, đó gọi là “cảnh, trí tương ưng” (cảnh giới và trí huệ hỗ tương tương ứng), và cũng là “cảnh, trí bất nhị” (cảnh giới và trí huệ chẳng phải hai). Ðó cũng là hễ cảnh giới đến lúc nào thì chiếu soi lúc đó; soi chiếu tới đâu thì liễu ngộ tới đó. Cảnh giới nào xảy đến thì Ðức Phật cũng đều nhận biết, đều hiểu rõ; chứ không bị cảnh giới làm chướng ngại mà không nhận rõ được nó.

Tuy cảnh giới và trí huệ vốn là hai, nhưng rốt ráo cũng biến thành một. Báo Thân lấy đạo lý này làm “thọ,” lấy trí huệ làm “mạng.” Ðây là nói về thọ mạng của Báo Thân Phật.

3) Ứng Thân. Ứng Thân còn được gọi là Ứng Hóa Thân. “Hóa” chính là Ứng Thân. Ứng Thân lấy kỳ hạn một trăm năm không gián đoạn làm “thọ”—sống đến một trăm tuổi tức là “thọ” vậy. Ứng Hóa Thân, Hóa Thân, hoặc Ứng Thân, lấy nhân duyên trong một đời này làm “mạng.”

Trên đây là nói về Tam Thân (ba thân) căn cứ theo Kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, trong Kinh Thập Lục Quán thì lại giảng cách khác; khác như thế nào? Trong kinh này có chép rằng: “Ứng Thân thị đồng sanh diệt”; nghĩa là sự thị hiện của Ứng Thân cũng có sanh có diệt. Phật có ra đời thì cũng có nhập Niết Bàn—đó gọi là “đồng sanh diệt.” Vậy, “thị đồng sanh diệt” tức là sự thị hiện “hữu thủy hữu chung,” có khởi đầu và cũng có kết thúc—và đó chính là thọ mạng của Ứng Thân Phật.

Thế còn Báo Thân thì sao? Báo Thân này một khi đã chứng đắc được rồi thì vĩnh viễn thường còn.Hễ có được Báo Thân của Phật thì mãi mãi được sở hữu thân ấy—đây gọi là “hữu thủy vô chung,” có khởi đầu mà không có kết thúc; và đó chính là thọ mạng của Báo Thân Phật.

Còn thọ mạng của Pháp Thân thì như thế nào? Thì “phi thọ, phi bất thọ.” Quý vị nói rằng Pháp Thân này thọ, tồn tại lâu dài ư? Cũng chẳng được lâu dài lắm! Thế thì Pháp Thân này không thọ, không lâu dài sao? Cũng lâu dài lắm chứ! “Chẳng thọ,” song “chẳng phải là không thọ”—đó là thọ mạng của Pháp Thân Phật. Chính vì không thể nói được Pháp Thân của Phật sống thọ được bao nhiêu lâu, cho nên nói là “phi thọ” (chẳng thọ); lại vì tuổi thọ của Pháp Thân ấy cũng không phải là ngắn ngủi cho nên nói “phi bất thọ” (chẳng phải không thọ).

“Phi thọ phi bất thọ, vô thủy vô chung” (không có sự khởi đầu, cũng chẳng có sự kết thúc)—đó là thọ mạng của PhápThân Phật.

Như vậy, trong kinh nói rằng thọ mạng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, là chỉ cho thứ thọ mạng nào? Ðó là thọ mạng của Báo Thân Phật và Ứng Thân Phật.

Kinh văn:

“Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn nhiều đời tích phước sâu dày, được mọi người kính nể, đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ; song bà mẹ lại tin theo tà đạo, thường khinh chê ngôi Tam Bảo.

Thuở ấy, Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ, hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn; và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung, thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.

Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác, bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng, rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường.”

Lược giảng:

“Trong thời Tượng Pháp.” Phật Pháp của mỗi đức Phật đều gồm có ba thời kỳ là Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp.

Vào thời kỳ Chánh Pháp, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đều thành tâm tu Ðạo và chứng đắc quả vị (cho nên gọi là thời Chánh Pháp!)

Còn thời kỳ Tượng Pháp thì thế nào? Trong thời Tượng Pháp thì người thật tâm tu hành rất ít, đa số chỉ là dụng công ngoài mặt mà thôi. Ðây là thời kỳ “tự miếu kiên cố”—mọi người đều thích làm việc công đức như xây chùa cất tháp, dựng am lập miếu, kiến tạo những chùa tháp tôn nghiêm để thờ Phật. Con người trong thời kỳ này chỉ muốn cầu phước chứ không cầu trí huệ. Ðó là thời kỳ Tượng Pháp—”tự miếu kiên cố,” mạnh về mặt xây dựng chùa chiền.

Thời kỳ Chánh Pháp kéo dài một ngàn năm, thời kỳ Tượng Pháp cũng một ngàn năm, còn thời kỳ Mạt Pháp thì một vạn năm. Chúng ta hiện nay đang ở vào thời kỳ Mạt Pháp. Con người thời Mạt Pháp thì “đấu tranh kiên cố”—mạnh về mặt đấu tranh, hiếu chiến.

Vậy, trong thời Tượng Pháp sau khi Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai nhập Niết Bàn, “có một người con gái dòng Bà La Môn…”

Bà La Môn là một phái ngoại đạo của Ấn Ðộ. Người theo phái ngoại đạo này tu hạnh thanh tịnh—họ chủ trương ăn chay, không ăn thịt, cũng giảng về việc tu Ðạo, không có hành vi nam nữ bất tịnh— cho nên còn gọi là “Tịnh Duệ.” “Tịnh” tức là hạnh thanh tịnh, trong sạch. “Thanh tịnh” là không có hành vi bất tịnh giữa nam nữ, nếu phạm tức là không thanh tịnh.

Dòng Bà La Môn này tuy cũng tu pháp môn “viễn ly,” song tu tới tu lui vẫn không đến được chỗ cốt tủy, không đạt được đạo lý rốt ráo. Ðây là một giáo phái có tự ngàn xưa của nước Ấn Ðộ; và cho đến hiện nay, tại Ấn Ðộ vẫn còn rất nhiều loại giáo phái như thế. Ðiển hình là phái Du Già, một giáo phái thoát thai từ đạo Bà La Môn. Ðối với người Trung Hoa thì đạo Bà La Môn chính là Ðạo Giáo (đạo Lão), một giáo phái cũng chủ trương tu hạnh thanh tịnh.

“Nhiều đời tích phước sâu dày.” Vào thời Tượng Pháp của Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, có một người con gái thuộc dòng Bà La Môn mà trong những đời trước đã từng làm rất nhiều việc tốt, tạo được rất nhiều công đức; cho nên đời này cô ta được hưởng rất nhiều phước báo, và “được mọi người kính nể.” Mỗi khi gặp cô gái Bà La Môn này, mọi người đều tỏ ra khâm ngưỡng, kính trọng. Vì sao mọi người đều ngưỡng mộ, kính nể cô ta như vậy? Ðó là phước báo do đời trước cô ta đã từng làm nhiều việc công đức. Cho nên, tướng mạo con người xấu hay đẹp là tùy thuộc vào công đức mà họ đã tạo được trong đời quá khứ. Nếu trong đời trước quý vị có tạo được công đức thì đời này tướng mạo của quý vị sẽ viên mãn, hoàn hảo. Còn nếu không tạo được công đức thì thế nào? Thì tướng mạo sẽ không được viên mãn—không viên mãn tức là xấu xí vậy!

Ðức Phật có ba mươi hai tướng hảo, tám mươi vẻ đẹp—đó là “ngàn phước trang nghiêm.” Thế nào gọi là “ngàn phước”? Cứ làm một ngàn việc thiện thì được “một phước.” Vậy, quý vị phải hoàn tất một ngàn việc thiện thì mới có được “một phước,” thế thì nếu làm mười ngàn việc thiện tức là được “mười phước,” làm một trăm ngàn việc thiện tức là được “một trăm phước,” và làm một triệu việc thiện thì được “một ngàn phước.” Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni do dùng “ngàn phước trang nghiêm” nên mới có được ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp. Tướng mạo của chúng ta trong đời này là tùy thuộc vào nhân duyên của đời trước; do đó có người sinh ra thì xinh xắn đẹp đẽ, song cũng có người lại xấu xí khó coi.

Vậy, cô gái dòng Bà La Môn này được mọi người kính nể, nói gì cũng được mọi người hoan hỷ lắng nghe, và khởi xướng việc gì cũng được mọi người hoan hỷ tán thành, hết lòng hỗ trợ. Chẳng những thế, “đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ.” Hằng ngày, cô ta luôn luôn được chư Thiên âm thầm che chở, phù hộ.

Như tôi đã nói ban nãy, chúng ta hiện nay đã “kết giới,” cho dù quý vị có nghiệp chướng—thí dụ có ma quỷ muốn gây chướng ngại cho quý vị—thì chúng cũng phải đình hoãn lại, không được đến quấy nhiễu quý vị trong lúc này. Bởi vì quý vị đến đây để nghe giảng kinh và bây giờ nơi này đã được “kết giới,” thì mọi nợ nần vay trả đều phải tạm thời đình chỉ, không ai được phép đến đây gây rắc rối hoặc sinh sự lôi thôi, mà phải để cho quý vị một lòng một dạ chuyên chú nghe giảng kinh.

Mặc dù cô gái dòng Bà La Môn này có phước đức sâu dày, khi đi đứng lúc nằm ngồi đều có các vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, hoặc chư Thiên theo phù hộ; “song bà mẹ lại tin theo tà đạo, chứ không tin Chánh Pháp, và thường khinh chê ngôi Tam Bảo.”

Thế nào gọi là “tin theo tà đạo”? “Tin theo tà đạo” không nhất thiết là tin theo bàng môn tả đạo, mà còn có nghĩa là vừa tin vừa ngờ. Thí dụ có người hôm nay tin Phật, ngày mai lại sanh lòng hoài nghi, phân vân lưỡng lự, không biết mình đúng hay sai: “Nói là tin Tam Bảo Phật Pháp Tăng, nhưng tôi chưa hề gặp một ông ‘Phật’ nào cả. Tôi cũng chưa hề gặp được ‘Pháp’; tuy nói là có kinh điển, song giáo lý chứa đựng trong các kinh sách đó cũng tầm thường, chẳng có gì đặc biệt. Còn ‘Tăng’ thì bất quá chỉ là những con người phàm phu tục tử như bao kẻ khác thôi, vì sao tôi lại phải kính trọng họ?” Sanh lòng hoài nghi như thế, thì cũng gọi là “tin theo tà đạo.” Nói tóm lại, không có chánh niệm thì đó chính là tà niệm; và không có chánh tín thì đó là tà tín, là “tin theo tà đạo” vậy.

Như có kẻ ngoại đạo rêu rao rằng: “Quý vị đưa cho tôi một triệu đồng thì tôi sẽ giúp quý vị mua một cái ngôi Hoàng Ðế, bảo đảm đời sau quý vị sẽ được làm vua! Chỉ cần đưa tôi một triệu đồng là mọi việc đều ổn thỏa cả!” Nghe cũng bùi tai, quý vị liền xiêu lòng: “Ồ! Chỉ cần bỏ ra một triệu đồng mà kiếp sau được lên làm vua! Nên lắm chứ!”; và lật đật đếm tiền đem nộp cho người ấy. Ðó tức là quý vị “tin theo tà đạo”; bởi sự thật thì ngôi vị Hoàng Ðế làm sao có thể mang ra bán buôn tùy tiện như thế được!? Quý vị làm gì mà có thể mua được ngôi vua!

Ở các quốc gia dân chủ hiện nay thì có thể có chuyện mua bán chức vị Tổng Thống, do đó cũng có thể có kẻ dám gạ gẫm: “Ðời này cô mang thân nữ nên không thể ra ứng cử Tổng Thống được, vậy cô đưa tôi một triệu đồng, tôi bảo đảm kiếp sau cô sẽ được làm Tổng Thống!” Thế nhưng, đến kiếp sau, bất luận quý vị có được làm Tổng Thống hay không thì cũng chẳng tìm ra người ấy để đòi tiền lại! Hắn ta cũng chẳng có công ty bảo hiểm để bảo đảm cho “quý thân chủ”! Cho nên, tin vào những chuyện viễn vông như thế thì gọi là “tin theo tà đạo,” đi theo đường tà!

Làm sao mà có thể dùng tiền để mua chức Tổng Thống được kia chứ? Không thể nào có chuyện đó! Nếu nói rằng dùng một triệu đồng để mua chức vị Tổng Thống ngay trong đời này, thì may ra còn có thể tin là có thật; vì sao? Vì nếu quý vị dùng số tiền đó để đi vận động “mua” phiếu, mua chuộc người ta để họ bầu cho mình, thì may ra cũng có thể được lên làm Tổng Thống nước Mỹ! Tuy nhiên việc đó còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác nữa; chẳng hạn muốn ra tranh cử thì quý vị phải là công dân Mỹ, phải mang quốc tịch Mỹ mới được, chứ quốc tịch nước khác là không xong. Vì vậy, nếu quý vị tin tưởng vào những việc mua bán kiểu đó tức là quý vị “tin theo tà đạo.”

“Tin theo tà đạo” cũng có nghĩa là nói ra những điều không có đạo lý, không hợp tình hợp lý. Chẳng hạn có người tuyên bố một cách phi lý rằng: “Quý bà quý cô chỉ cần đưa tôi một trăm đồng (hoặc một ngàn đồng, một vạn đồng), tôi bảo đảm kiếp sau ai nấy đều được sanh làm thân nam, không còn phải mang thân nữ nữa!” Thế nhưng, quý vị nghe xong liền nhẩm tính: “Ồ! Ðược đấy chứ! Một triệu đồng mà mua được thân nam thì đâu có đắt, quá rẻ nữa là khác”; và ngoan ngoãn đem tiền ra nộp cho ông thầy ngoại đạo. Cất tiền vào hầu bao rồi là hắn tha hồ nhậu nhẹt, chơi bời thỏa thích. Tiền bạc một khi đã bị hắn tiêu xài hết rồi, quý vị chẳng có cách nào đòi lại được. Cho nên, tuy nói là bảo đảm kiếp sau làm thân nam, song cũng không có bảo chứng để quý vị có thể đòi bồi thường. Ðó gọi là “tin theo tà đạo.” Trên đây là tôi chỉ mới kể ra một vài thủ đoạn lường gạt của bọn “cáo già” (những kẻ chuyên môn đi lường gạt thiên hạ) mà thôi.

Bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn này “thường khinh chê ngôi Tam Bảo.” Chỉ vì bà ta toàn là tin vào tà thuyết, cho nên không tin theo Chánh Pháp.

Thế nào gọi là tà thuyết? Chẳng hạn nói rằng: “Quý vị cần gì phải tin Phật? Quý vị chính là Phật kia mà! Chỉ cần mỗi người đưa cho tôi sáu mươi lăm đồng là được!” Sáu mươi lăm đồng mua được một quả vị Phật—những kiểu nói như thế đều là tà thuyết, đều là luận điệu của tà pháp, tà đạo. Quả vị Phật thì làm sao mà mua bằng tiền được chứ? Ai ai cũng có thể làm Phật, song đó không phải là dùng tiền bạc để mua mà được. Quý vị chỉ dùng tiền để làm công quả, làm thiện sự, và đến bao giờ công đức đầy đủ thì quý vị được thành Phật. Chẳng những làm công quả mà quý vị còn phải dụng công tu Ðạo, phải ngồi tham Thiền nữa; nếu không chịu khó tu tập thì không đời nào có thể thành Phật được cả! Nếu có thể dùng tiền mà mua được quả vị Phật thì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đâu cần phải trải qua “sáu năm khổ hạnh rừng già” trên dãy Tuyết Sơn, rồi sau đó lại ngồi dưới cội Bồ Ðề, đêm nhìn sao mai mà ngộ Ðạo? Vả lại, khi Ngài còn làm Thái Tử thì sẵn tiền rừng bạc bể trong tay, nếu quả vị Phật mà mua được thì Ngài đã mua rồi! Cho nên, vấn đề là quả vị Phật không phải là thứ có thể mua được bằng tiền bạc!

“Khinh chê ngôi Tam Bảo” tức là coi thường Tam Bảo, gặp Tăng, Ni—người xuất gia— thì đều hủy báng, buông lời xúc phạm. Những người thường tỏ ra bực bội, ghét trông thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni; đó cũng là “khinh chê ngôi Tam Bảo” vậy.

“Thuở ấy, Thánh Nữ—tức là cô gái thuộc dòng Bà La Môn nói trên—lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ.”“Phương tiện” ở đây có nghĩa là đối với những người xem chừng có thể tin tưởng Phật Pháp, thì chúng ta tùy thuận theo hoàn cảnh và trình độ của họ mà linh động giảng giải để họ có thể lãnh hội được. “Khuyến” là dùng lời lẽ khéo léo để khuyên lơn; “dụ” là dẫn dụ, tức là dùng sự lợi lộc để cám dỗ. Thí dụ, biết trẻ con thường thích ăn kẹo, quý vị bèn bảo: “Tôi có nhiều kẹo lắm, đi theo tôi rồi tôi sẽ cho em thật nhiều kẹo!” Như thế gọi là “dụ dỗ.” Vậy, cô gái dòng Bà La Môn cũng nói với bà mẹ: “Mẹ hãy cùng học Phật Pháp với con. Phật Pháp vi diệu và mầu nhiệm vô cùng, mẹ ạ!”

Mặc dù Thánh Nữ nhiều lần khuyên nhủ thân mẫu như thế, “hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn.” Bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn này cũng có sanh lòng tin song chỉ tin đôi chút thôi, chưa hoàn toàn tin hẳn, vẫn còn vừa tin vừa ngờ, bán tín bán nghi: “Con nói thì dường như cũng có lý đấy, song mẹ nghĩ không phải hoàn toàn là như thế!” Cũng như có mấy đệ tử quy y của tôi vẫn còn nửa tin nửa ngờ, chưa hoàn toàn tin tưởng ở lời giảng của thầy mình: “Sư Phụ giảng như thế chẳng biết có đúng hay không?” Ðó gọi là vừa tin vừa ngờ, chưa trọn lòng tin cậy vậy.

“Và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung.” Không lâu sau thì bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn này qua đời.

Nếu nói rằng con người chết rồi thì chẳng còn hay biết gì nữa cả, không cần ăn uống, không cần ngủ nghỉ, không cần đi làm—nói tóm lại là chết rồi thì chẳng phải làm gì cả—như thế thì tốt lắm chứ! Song le, có một điều chẳng tốt chút nào; đó là điều gì? Sau khi chết, nếu trước kia quý vị đã từng làm việc thiện, thì quý vị sẽ được thác sanh vào ba đường lành (Tam Thiện Ðạo); còn nếu làm điều ác thì quý vị phải thác sanh vào ba đường dữ (Tam Ác Ðạo), như đọa địa ngục, chuyển làm thân ngạ quỷ hoặc làm thân súc sanh.

Hôm qua có một số du khách đến viếng Phật Ðường, và tôi có nói chuyện với họ về trách nhiệm của một người lính. Tôi bảo cho họ biết rằng trong hàng ngũ quân đội thì thường có cả Bồ Tát lẫn Tu La. Bồ Tát ở trong quân đội là để giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ không giết chóc nhiều quá; còn Tu La thì trà trộn vào quân đội để xúi giục binh lính giết người càng nhiều càng tốt. Trong khi Tu La kêu gọi binh lính rằng hễ giết được càng nhiều người thì mình càng trở nên oai phong, công lao lập được càng to tát; thì Bồ Tát lại khuyên họ chớ nên tàn sát, mà nên làm cho đất nước của đôi bên đều được thanh bình, cùng nhau hòa đàm để giải quyết sự việc. Bồ Tát cũng bảo cho họ biết rằng nếu được như thế, thì công lao của họ rất lớn và họ sẽ được thăng quan tiến chức rất nhanh.

Tôi cũng nhấn mạnh với các người khách đó rằng chúng ta nên học làm Bồ Tát, chứ đừng bắt chước Tu La!

Sử Trung Hoa có chép về hai vị tướng là Quan Vũ[1] và Bạch Khởi[2]. Quan Vũ làm tướng nên phải ra trận và giết người rất nhiều, nhưng sau khi tạ thế thì làm Bồ Tát. Còn Bạch Khởi, một võ tướng tài ba đời nhà Tần, thì giết người cũng rất nhiều, và sau khi chết thì phải đọa làm trâu, làm ngựa… Vì sao Bạch Khởi lại bị đầu thai làm thân trâu, ngựa? Bởi vì ông ta đã tàn sát hơn hai mươi vạn hàng binh bằng cách chôn sống. Thuở ấy, có hơn hai mươi vạn binh lính quy thuận đầu hàng ông ta, nhưng ông ta lại nhẫn tâm cho đào một cái hố thật lớn để chôn sống tất cả bọn họ—đây quả là thứ tâm địa của Tu La. Quan Công thì chỉ giết người ác, không giết người thiện; đó gọi là “trừ bạo an lương,” dẹp trừ kẻ bạo ác để bảo vệ người hiền lương vô tội. Cho nên, cùng làm tướng cả, mà rốt cuộc thì một người thành Bồ Tát và một người thành trâu, ngựa, heo, dê…

Có một đạo hữu người Mỹ vốn là lính Hải quân hỏi tôi rằng: “Thầy có tin là sau khi chết, con người có thể đầu thai làm súc sanh không?”

Lúc bấy giờ, tôi trả lời rằng: “Anh tin là con người sau khi chết có thể đầu thai làm súc sanh thì cũng được, mà anh không tin là con người có thể đầu thai làm súc sanh thì cũng chẳng sao! Nếu anh tin là có chuyện đầu thai làm súc sanh và nếu anh đáng phải làm súc sanh, thì anh sẽ phải đầu thai làm súc sanh; còn nếu anh không tin là có chuyện đầu thai đó và nếu anh đáng phải làm súc sanh, thì anh cũng vẫn phải đầu thai làm súc sanh như thường! Cho nên, anh tin thì cũng vậy mà không tin thì cũng vậy, chẳng thay đổi được gì cả! Anh làm việc Phật thì anh chính là Phật; anh làm việc Bồ Tát thì anh là Bồ Tát; anh làm việc người thì anh là người; anh làm việc quỷ thì anh là quỷ; và anh làm việc súc sanh thì anh là súc sanh. Nói tóm lại, hễ mình làm việc gì thì bản thân mình sẽ đón nhận hậu quả tương ưng của việc làm đó. Ðừng tưởng rằng chuyện gì mình tin là có thì mới xảy ra, còn nếu mình không tin là có thì sẽ không xảy ra. Phải biết rằng bất luận là anh tin hay không tin, nếu tội anh đáng phải làm súc sanh thì nhất định là anh phải làm súc sanh, chẳng trốn chạy đi đâu được cả; còn nếu anh không đáng phải làm súc sanh thì chắc chắn là anh không phải làm súc sanh! Do đó, vấn đề không phải là tin hay không tin mà được!”

Trở lại với phần kinh văn, bây giờ mỗi người trong chúng ta hãy tự phản tỉnh: “Bao giờ thì mình chết? Mẹ của cô gái dòng Bà La Môn là ‘chẳng bao lâu thì bà mệnh chung’; còn mình thì bao giờ? Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu? Mình có phải bị đọa địa ngục như bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn đó không?”

Phàm nghe giảng kinh, hễ chúng ta nghe đến đâu thì phải “hồi quang phản chiếu” đến đó, phải “soi” lại chính mình; chứ không phải nghe giảng mà xem như “gió thoảng qua tai,” không lưu lại dấu vết, chẳng hiểu được gì cả. Ai ai cũng đều có lúc phải chết. Quý vị chớ cho rằng chết là một việc tốt nhất; cũng đừng nghĩ rằng chết là một việc xấu hoặc xui xẻo nhất—bất luận là tốt hay xấu, hên hay xui, may hay rủi, ai rồi cũng sẽ chết cả. Cho nên, quý vị làm điều tốt thì sẽ là tốt, làm điều không tốt thì sẽ là không tốt. Vừa rồi tôi cũng đã nói với quý vị:

“Chủng thiện nhân, kết thiện quả,

Chủng ác nhân, kết ác quả.”

(Trồng nhân lành thì được quả lành,

Gieo nhân ác thì gặt quả ác.)

Người xưa có nói:

Nhược kiến tha nhân tử,

Ngã tâm nhiệt như hỏa,

Bất thị nhiệt tha nhân,

Khán khán luân đáo ngã.

(Trông thấy người khác chết,

Lòng ta như lửa đốt,

Chẳng phải xót cho người,

Mà vì nghĩ đến mình.)

Mấy hôm trước đây tôi có nói về vấn đề sanh sản và tử vong. Mặc dù tỷ lệ sanh sản có cao hơn tử vong, nhưng con người thì ai rồi cũng phải chết; do đó mà cổ nhân đã nói: “Khi thấy người khác chết, thì lòng ta như thiêu như đốt. Song, ta đau đớn không phải vì xót xa thương tiếc kẻ vừa qua đời, mà vì ta nghĩ rằng sớm muộn gì rồi cũng có ngày sẽ đến phiên mình!”

Nếu quý vị nói rằng mình không sợ chết thì ngay bây giờ hãy chết liền đi! Tại sao quý vị lại chưa thể chết được ngay? Vấn đề chẳng phải là sợ chết hay không sợ chết, mà chính là cái chết ấy thuộc loại nào—chết “tốt” (hảo tử) hay chết “xấu” (ác tử). Cái chết “xấu” tức là bị chết vì “phi tai hoạnh họa,” như bị xe đụng, máy bay rớt, thuyền chìm, xe lửa lật… Những cái chết như thế, chính đương sự không thể nào ngờ tới và cũng không có ý muốn chết, đều gọi là những trường hợp “ngoài ý muốn.” Cái chết “ngoài ý muốn” tức là cái chết “xấu.” Nếu khi quý vị muốn chết, đã sẵn sàng để chết và cái chết tự nhiên đến, thì đó là cái chết “tốt”; và trong trường hợp này, nếu quý vị chưa muốn chết thì sao? Thì cũng có thể không bao giờ chết, cứ sống mãi để tu Ðạo!

Người tu Ðạo có thể đạt được sự tự do về vấn đề sanh tử—muốn sống thì cứ sống hoài sống mãi, lúc nào không muốn sống nữa thì chỉ việc ngồi mà vãng sanh, nhập Niết Bàn. Muốn được như thế, quý vị cần phải có công phu tu hành để làm chủ sự sống chết của chính mình—tánh mạng sanh tử của ta là do chính ta chứ không phải do Trời, không ai cai quản được ta, chỉ một mình ta tự quyết định lấy; hễ ta muốn chết thì liền được chết ngay, còn nếu chưa muốn chết thì ta vẫn cứ tiếp tục sống mãi. Tu Ðạo chính là tu tập để có được năng lực này vậy. Tuy nhiên, khi đạt được năng lực này rồi, e rằng quý vị lại không muốn lưu lại cõi “ngũ trược ác thế” này nữa, bởi nơi đây quá ô trược!

Như vậy, sau khi thân mẫu của Thánh Nữ Bà La Môn nọ qua đời thì “thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.”“Thần” là thần thức, và “hồn” là linh hồn. “Thần hồn” cũng chính là thức thứ tám. Vì sao gọi là địa ngục Vô Gián (không gián đoạn)? Bởi ở địa ngục này thì thời gian và thân mạng đều không hề gián đoạn—đây là chỉ cho việc dù có một hay nhiều tội nhân thì địa ngục cũng chật đầy như nhau. Trong những bài giảng sắp tới, chúng ta sẽ được biết tường tận hơn về địa ngục Vô Gián.

“Vô gián” nghĩa là gì? “Vô gián” có nghĩa là liên tiếp không ngừng, không hề có sự gián đoạn. Ở địa ngục này, tội nhân mặc dù phải chịu muôn phần khổ sở, nhưng mạng vẫn không đứt đoạn; do đó họ cứ liên tục chết đi rồi sống lại, sống lại rồi chết đi. Ðó là do tác dụng của thần thức, mà thần thức thì bất biến.

“Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác.” “Không tin nhân quả” tức là không tin rằng phàm trồng thiện nhân thì được thiện quả, gieo ác nhân tất gặp ác báo. Bà mẹ của Thánh Nữ không chịu tin rằng hễ cái nhân mà không thanh tịnh thì quả cũng không thanh tịnh, và nếu cái nhân không chánh đáng thì quả cũng sẽ không chánh đáng.

Bởi biết rằng mẹ mình sinh thời đã tạo nhiều ác nghiệp, sau khi chết tất phải bị đọa vào đường ác, nên Thánh Nữ “bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng—trái cây, đèn đuốc, tràng phan, bảo cái …—rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường.” Ở đây, “chùa tháp thờ tiên Phật” tức là nội viện chùa tháp của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.

Kinh văn:

“Trong một ngôi chùa kia, trông thấy hình tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm, Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng, thầm nghĩ rằng: ‘Ðức Phật là đấng Ðại Giác đầy đủ mọi trí huệ. Nếu Ðức Phật còn tại thế, thì sau khi mẹ tôi mất, thảng như tôi đến bạch hỏi Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sanh!’”

Lược giảng:

“Trong một ngôi chùa kia, Thánh Nữ trông thấy hình tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm…” Pho tượng này làm bằng đất sét, dung mạo được tô vẽ trông rất trang nghiêm, đầy uy đức, và đủ cả ba mươi hai tướng tốt cùng tám mươi vẻ đẹp, vô cùng viên mãn.

Bấy giờ, “Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng.” Càng ngắm nhìn dung mạo uy nghi của tượng Phật, Thánh Nữ càng thêm sanh lòng cung kính, ngưỡng mộ, và “thầm nghĩ rằng: ‘Ðức Phật là đấng Ðại Giác đầy đủ mọi trí huệ. Nếu Ðức Phật còn tại thế, còn trụ ở đời, thì sau khi mẹ tôi mất, thảng như tôi đến bạch hỏi Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sanh! Chắc chắn là Ðức Phật biết rõ mẹ tôi hiện đang ở nơi đâu.’”

Phật là một người đã đại giác đại ngộ; Ngài có đủ cả ba thứ trí huệ—Ðạo Chủng Trí, Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí.

“Thảng” có nghĩa là nếu, nếu như, giả sử.

Có một vấn đề mà nay tôi muốn nêu ra để mọi người cùng suy nghĩ. Ðành rằng chúng ta tu hành thì không nên nghĩ ngợi nhiều, nhưng bây giờ mọi người hãy thử suy nghĩ về một vấn đề; đó là vấn đề gì? Ðó là, “loài người chúng ta đến thế gian này là để ăn mà sống, hay sống để mà ăn?”

Kinh văn:

“Lúc ấy, Thánh Nữ Bà La Môn cúi đầu khóc rất lâu, rồi lại chiêm luyến tôn tượng của Như Lai, bỗng nghe trên không trung có tiếng bảo rằng: ‘Này Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay Ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi!’

Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà bạch rằng: ‘Chẳng hay đức thần nào đã giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi ngày đêm thương nhớ, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào.’

Bấy giờ, trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ta là Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm lễ đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên Ta đến chỉ bảo.’”

Lược giảng:

Bấy giờ, cô gái giòng Bà La Môn quỳ trước tôn tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà trầm tư nghĩ ngợi: “Ðức Phật là bậc Ðại Giác Ngộ có đầy đủ trí huệ nhất, tiếc thay nay Ngài đã vào cõi Niết Bàn rồi! Giá như Ðức Phật còn tại thế, thì sau khi mẹ tôi qua đời, tôi có thể đến thưa hỏi Phật—Ngài nhất định biết rõ mẹ tôi phải đầu thai về chốn nào!”

“Lúc ấy, suy nghĩ đến đó, Thánh Nữ Bà La Môn cúi đầu khóc rất lâu, rồi lại chiêm luyến tôn tượng của Như Lai.” “Chiêm” là chiêm ngưỡng, ngắm nhìn; “luyến” là quyến luyến, không đành lòng rời xa, tưởng chừng như bị níu kéo bởi một sợi dây vô hình vậy. Thánh Nữ này “chiêm luyến tôn tượng của Như Lai” tức là cô ta đăm đăm ngắm nhìn, và trong lòng cứ thấy quyến luyến, không muốn xa rời tôn tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.

Lúc bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn đang thân tâm chuyên chú, trong lòng không có một vọng tưởng nào khác, ngoại trừ một niệm chí thành chiêm ngưỡng tượng Phật—một tấm lòng thiết tha nhớ nghĩ đến Phật tánh. Do đó, có thể nói rằng đây là lúc mà tâm của Thánh Nữ hết sức thuần thành, thanh tịnh. Bấy giờ, cô ta “bỗng nghe trên không trung có tiếng bảo rằng: ‘Này Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay Ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi. Vậy ngươi chớ nên khóc lóc sầu thảm như thế nữa!’” Mặc dù bà mẹ của cô ta có tội, nhưng bản thân cô ta có căn lành nên vẫn được gọi là “Thánh Nữ.”

“Thánh Nữ Bà La Môn chắp tay hướng lên hư không mà bạch rằng: ‘Chẳng hay đức thần nào đã giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Chẳng hay Ngài là vị Bồ Tát nào, thần tiên nào, mà từ bi chiếu cố, đến an ủi khiến cho tôi được khuây khỏa, không còn bi ai thống khổ nữa thế?’” Chữ “đức” ở đây là chỉ cho đức hạnh từ bi.

“‘Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi ngày đêm thương nhớ.’” Thánh Nữ nói tiếp rằng: “Kể từ khi mẹ tôi qua đời, tôi ngày nào đêm nào cũng nhớ nghĩ đến người. Bởi thân thể này của tôi là nhờ mẹ tôi mà có; người đã khó nhọc sanh ra tôi, thì tôi cần phải hiếu thảo với người. Song le, tôi chưa tròn hiếu thuận, thì mẫu thân tôi đã vội qua đời! Vì thế, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn và lại càng đau xót, tiếc thương hơn nữa!”

Có câu:

Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ,

Tử dục dưỡng nhi thân bất tại.

Thế nào là “thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ”? Có những lúc cây chỉ muốn đứng lặng yên, không thích lay động nữa; nhưng gió lại chẳng chịu để yên, cứ thổi đến làm cho cành lá cứ lắc lư xào xạc. Ðó gọi là “thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ.”

“Tử dục dưỡng nhi thân bất tại,” nghĩa là con cái muốn phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục, song tiếc thay, bấy giờ cha mẹ không còn ở đời nữa!

“Không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào.” Ý của Thánh Nữ Bà La Môn muốn nói rằng: “Công ơn của cha mẹ cao hơn trời, dày hơn đất. Bởi tôi ăn ở không tròn hiếu thuận với mẹ, nên nay tôi cảm thấy đau khổ và hối hận khôn nguôi. Tôi muốn biết tin tức của mẹ tôi, song chẳng có nơi nào để có thể dò hỏi được cả. Không biết mẹ tôi được sanh lên cõi trời hay bị đọa vào địa ngục?’”

“Bấy giờ, trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ta là Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm lễ đó…’” Thánh Nữ vừa dứt lời thì kỳ diệu thay, từ không trung vọng xuống tiếng trả lời rằng: “Ngươi muốn biết Ta là đức thần nào đến giải bớt lòng sầu lo của ngươi ư? Ta chính là Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, là đức Phật mà ngươi hiện đang chiêm ngưỡng, lễ bái đó!”

Vì sao Thánh Nữ Bà La Môn có thể cảm động đến Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, khiến Ngài thị hiện từ trên hư không nói chuyện với cô ta như thế? Câu trả lời hết sức rõ ràng: “‘Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh nên Ta đến chỉ bảo. Bởi Ta thấy ngươi thương nhớ mẫu thân quá thiết tha, không giống như những người bình thường khác. Lẽ thường, người ta thương nhớ cha mẹ được mười phần, thì ngươi lại có đến hai mươi phần—bởi nhiều hơn bội phần nên mới đặc biệt, khác thường. Chính vì ngươi quá sức thiết tha, thành khẩn, nên mặc dù đã nhập Niết Bàn, Ta cũng phải cảm động mà đến để chỉ bảo cho ngươi!’”

Kinh văn:

“Thánh Nữ Bà La Môn nghe nói xong liền nhảy chồm lên và bị té rớt xuống, các khớp tay chân đều bị tổn thương; những người ở cạnh bên liền đỡ dậy. Một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại, rồi bạch cùng trên hư không rằng: ‘Cúi xin Ðức Phật từ bi thương xót, bảo ngay cho con rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!’”

Lược giảng:

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni kể tiếp: “Thánh Nữ Bà La Môn nghe nói xong liền nhảy chồm lên và bị té rớt xuống, các khớp tay chân đều bị tổn thương.” Lúc bấy giờ, tinh thần của Thánh Nữ vô cùng căng thẳng, có thể nói là như không còn lý trí nữa, chẳng nghĩ ngợi suy tính gì cả, nên mới nhổm dậy và lao mình nhảy phóc lên không trung như thế!

Khi biết được tiếng nói từ trên hư không vọng xuống là của Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, Thánh Nữ vì nóng lòng muốn được gặp Ngài ngay lập tức, bèn nhoài người nhảy chồm lên hư không và bị té rất nặng. Tôi tin rằng Thánh Nữ Bà La Môn này không biết “kung fu” mà cũng chẳng rành võ thuật, nên khi bị rớt xuống cô không biết cách chống đỡ, vì thế tay chân mình mẩy đều bị tổn thương—có thể là bị trật khớp hoặc gãy xương—không tự đứng dậy được.

“Những người ở cạnh bên liền đỡ dậy.” “Những người ở cạnh bên” có thể là bà con thân thích hoặc bạn bè cùng đi với Thánh Nữ đến cúng dường Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, hoặc cũng có thể là các vị Sư hoặc Ni Sư trong chùa, vì trông thấy cô té nặng đến thế kia bèn vội vàng chạy lại giúp đỡ.

“Một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại, rồi bạch cùng trên hư không rằng…” Bấy giờ, vì bị té quá đau đớn nên Thánh Nữ bị ngất xỉu, chẳng còn hay biết gì nữa, phải một lúc lâu cô ta mới hồi tỉnh; và nhớ lại việc phóng mình lên không trung vừa rồi, cô liền hướng lên hư không mà bạch rằng: “‘Cúi xin Ðức Phật từ bi thương xót, bảo ngay cho con rõ chỗ thác sanh của mẹ con. Hiện nay con chỉ có một nguyện vọng duy nhất là xin Ngài, Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, hãy rũ lòng từ bi thương xót mà mau nói cho con biết, chẳng hay mẹ con phải đầu thai vào chốn nào? Cúi xin Ngài hãy cho con biết mau lên, kẻo nay thân tâm của con sắp chết mất! Con giờ đây đã bị té đến nông nỗi như thế này rồi, thân thể và tâm trí con đều rã rời, kiệt quệ.’”

Kinh văn:

“Lúc ấy, Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: ‘Cúng dường xong, ngươi hãy mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời sẽ biết được chỗ thác sanh của mẹ ngươi.’

Bấy giờ, lễ Phật xong Thánh Nữ Bà La Môn liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Trải suốt một ngày một đêm, Thánh Nữ bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia, nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia; và thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt; lại thấy các Dạ Xoa hình thù khác nhau—hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu…, răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọn dường gươm—đang lùa những người tội đến gần thú dữ.”

 

Lược giảng:

“Lúc ấy, Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ Bà La Môn rằng: ‘Cúng dường xong, ngươi hãy mau trở về nhà. Vì ngươi vừa bị té, thân thể bị nhiều thương tích, vậy sau khi cúng dường ở đây xong thì ngươi nên sớm trở về nhà. Về đến nhà rồi thì thế nào? Rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta. Mặc dù tay chân ngươi đều bị tổn thương, song ngươi hãy cố gắng ngồi cho ngay thẳng đoan chánh mà tưởng niệm đến danh hiệu của Ta—Nam Mô Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai—thời sẽ biết được chỗ thác sanh của mẹ ngươi.’”

“Bấy giờ, lễ Phật xong, Thánh Nữ Bà La Môn liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, lòng quá chân thành thiết tha nghĩ đến mẫu thân, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng, quên hết mọi đau đớn, cũng chẳng nhớ tay chân mình đang bị thương, chỉ một lòng một dạ chuyên chú niệm danh hiệu của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.”

“Trải suốt một ngày một đêm.” Trong suốt quãng thời gian lâu như thế, Thánh Nữ tuyệt nhiên không nghỉ ngơi, chẳng ăn chẳng uống, cũng không đi tiêu đi tiểu. Thánh Nữ ngồi ngay thẳng—chứ không phải quỳ—suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ, và chỉ chuyên tâm chí thành niệm Phật, ngoài ra không làm việc gì khác.

Bấy giờ, sau một ngày một đêm kiên trì niệm Phật, “Thánh Nữ bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia.” Trạng thái này gọi là gì? Ðây không phải là cô ta nằm mộng, mà là do thành tâm đến cực điểm cho nên “linh tánh” của cô ta xuất khỏi thân thể.

“Linh tánh” này—còn gọi là “thần thức” hoặc “hồn phách,” danh xưng tuy nhiều như vậy song cũng chỉ là một—chính là “thức thứ tám”[3] của con người. Khi Thánh Nữ ngồi quá lâu, lại quên cả đau đớn, thì tất cả đều như ngừng lại, chỉ còn duy nhất một niệm là tưởng nghĩ đến danh hiệu của Ðức Phật. Bởi một niệm này rất chân thành, khiến thức thứ tám có thể lìa khỏi thân thể để đi đến nơi khác, do đó Thánh Nữ thấy mình bỗng dưng lại ở tại một bờ biển xa lạ.

Những người ngồi Thiền mà nếu định thần ngồi được lâu, thì cũng có thể thấy được một vài cảnh giới nào đó. Ấy là vì lúc bấy giờ thức thứ tám của họ có thể rời khỏi thể xác, cho nên họ có thể thấy được cảnh giới khác.

Nếu quý vị được khai mở Ngũ Nhãn thì có thể nhìn thấy quỷ, thần, Bồ Tát, Phật…; chưa mở Ngũ Nhãn thì không thể nào thấy được. Linh tánh (thức thứ tám) của người tu Ðạo cũng có Ngũ Nhãn; khi linh tánh tách ra khỏi nhục thể, thì Ngũ Nhãn khai mở, do đó họ có thể trông thấy vô số cảnh giới. Thánh Nữ Bà La Môn này nhất định là có tu Ðạo từ lâu, nên mặc dù Ngũ Nhãn của nhục thể chưa được khai mở, nhưng khi thức thứ tám rời khỏi xác thân thì cô ta liền có thể thấy được các cảnh giới, và biết được rằng mình bỗng nhiên ở tại một bờ biển xa lạ.

“Nước trong biển đó sôi sùng sục.” Nước trong biển ấy không phải mát lạnh mà là rất nóng—nước đang sôi sùng sục. Trong biển nước sôi ấy, Thánh Nữ nhìn thấy “có rất nhiều thú dữ.” Có bao nhiêu thú dữ? Quý vị cũng không cần biết là bao nhiêu, nói chung là trong biển đó có rất nhiều thú dữ chứ chẳng phải ít! Các ác thú này, “thân thể toàn bằng sắt, cứng chắc kiên cố, bay nhảy trên mặt biển. Chúng bay qua bay lại trên mặt biển với tốc độ rất nhanh, hết chạy rảo bên này, lại xua đuổi bên kia, chạy qua chạy lại, rượt bắt lẫn nhau.”

“Và, Thánh Nữ lại còn thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển. Số người này hết  trồi lên thì lại hụp xuống, rồi lại bị các thú dữ giành nhau ăn thịt.” Những ác thú nói trên ở trong biển nước sôi này để làm gì? Ðể ăn thịt những người nam kẻ nữ đang ngoi ngóp dật dờ đó! Ðây đều là những ác thú hết sức hung dữ, mạnh mẽ; miệng chúng rất to, bụng cũng rất lớn, cho nên chúng có thể há miệng nuốt chửng từng người một.

Thánh Nữ “lại thấy các Dạ Xoa hình thù khác nhau.” “Dạ Xoa” tức là quỷ Dạ Xoa, vốn có tên là “quỷ Tiệp Tật,” vì chúng có thể bay và chạy vô cùng mau lẹ. Hình dạng của loài quỷ Dạ Xoa này rất kỳ dị và không giống nhau. Chúng trông như thế nào? “Hoặc nhiều tay—có quỷ Dạ Xoa có tới mấy chục cánh tay; nhiều mắt—có quỷ Dạ Xoa thì chỉ có hai cánh tay nhưng lại rất nhiều mắt, trông xấu xí kỳ quái, lại rất hung ác dữ tợn; nhiều chân—có quỷ Dạ Xoa thì tay không nhiều, mắt cũng không nhiều, song lại mọc rất nhiều chân; nhiều đầu—có quỷ Dạ Xoa lại có rất nhiều đầu.”

“Răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọn dường gươm.” Miệng của quỷ Dạ Xoa giống như bồn máu, há ra có thể lớn bằng cái thúng, có thể nuốt chửng rất nhiều người trong cùng một lúc. Răng chúng thì lợi hại như đao kiếm, đã nhọn lại sắc bén vô cùng.

Các quỷ Dạ Xoa đó “đang lùa những người tội đến gần thú dữ.” Chúng xua đuổi các tội nhân, đẩy họ đến gần bọn ác thú như thế để làm gì? Ðó là chúng giúp cho những con thú dữ kia kiếm mồi! Có lúc, vì loài người thì khôn ngoan hơn loài thú, nên tội nhân cũng trốn chạy ra xa được, nhưng rồi lại bị quỷ Dạ Xoa đón đường, chận lại. Cho nên, đằng sau thì có thú dữ rượt đuổi, phía trước lại gặp quỷ Dạ Xoa cản đường; quả là “tiền vô khứ lộ, hậu hữu truy binh.” Các tội nhân ở đó đúng là bị dồn vào bước đường cùng, không còn lối thoát—trời trên đất dưới, chẳng trốn đi đâu được cả! Cho dẫu muốn tìm một người bạn để tới nhà lánh tạm một đêm cũng không được!

 

Kinh văn:

“Rồi chúng lại tự chụp bắt, túm quắp đầu chân lại với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu.

Khi ấy, Thánh Nữ Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ. Có một Quỷ Vương tên là Vô Ðộc, đến cúi đầu nghênh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài đến chốn này?’

Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: ‘Ðây là chốn nào?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Ðại Thiết Vi.’

Thánh Nữ hỏi rằng: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật chăng?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Thật có địa ngục!’

Thánh Nữ hỏi rằng: ‘Nay tôi làm sao được đến chốn địa ngục?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra, ắt không bao giờ có thể đến được.’

Thánh Nữ lại hỏi: ‘Do duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục và có những người tội cùng các thú dữ như thế?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là những chúng sanh tạo ác ở cõi Diêm Phù Ðề mới chết, quá bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, họ lại không làm được nhân lành nào cả; vì thế nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này trước.

‘Cách biển này mười vạn do-tuần về phía Ðông lại có một cái biển, những sự thống khổ ở đó còn gấp bội chốn này. Phía Ðông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ ở đó càng trội hơn. Do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra và gọi chung là biển nghiệp, chính là chốn này vậy.’

Lược giảng:

“Rồi chúng, tất cả những thú dữ và quỷ Dạ Xoa này, “lại tự chụp bắt, túm quắp đầu chân lại với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu.” Những ác thú và quỷ Dạ Xoa này hè nhau túm lấy tội nhân, rồi bẻ quặp đầu và chân tội nhân lại. Hoặc có lúc quỷ Dạ Xoa túm lấy ác thú rồi bẻ quặp đầu và chân của ác thú; hoặc ác thú chụp bắt Dạ Xoa rồi cũng bẻ quặp đầu và chân của Dạ Xoa lại; hoặc quỷ Dạ Xoa và ác thú cùng bắt tội nhân rồi bẻ quặp đầu và chân của tội nhân lại với nhau—nói chung là ai nấy đều bị bẻ vặn thành muôn hình vạn trạng, toàn là những hình thù rất ghê rợn, khủng khiếp, đến nỗi người thường chẳng dám nhìn lâu.

“Khi ấy, Thánh Nữ Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật–Nam Mô Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai—nên tự nhiên không kinh sợ trước những cảnh tượng hãi hùng đó.”

“Có một Quỷ Vương tên là Vô Ðộc, đến cúi đầu nghênh tiếp. Bấy giờ, thủ lãnh của loài quỷ là Quỷ Vương Vô Ðộc tiến đến lạy chào Thánh Nữ Bà La Môn, rồi hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài đến chốn này? Thưa vị Bồ Tát có thiện tâm, chẳng hay vì duyên cớ gì mà Ngài lại đến nơi đây?’”

“Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: ‘Tôi không rõ làm thế nào tôi lại đến được nơi này nữa;chẳng hay đây là chốn nào?’

Quỷ Vương Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Ðại Thiết Vi.’ Núi Ðại Thiết Vi là một trong những hòn núi lớn ở bên ngoài núi Tu Di.

Thánh Nữ hỏi rằng: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật chăng? Tôi thường nghe người ta nói rằng bên trong núi Thiết Vi có địa ngục, chẳng hay có thật như thế chăng? Có nhiều người không tin là có địa ngục; thế thì có thật là có địa ngục hay không?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Thật có địa ngục! Quả thật có địa ngục—đây chẳng phải là do con người tưởng tượng ra, mà đích thực là có địa ngục!’

Thánh Nữ lại hỏi: ‘Nay tôi làm sao được đến chốn địa ngục? Do duyên cớ gì mà bây giờ tôi lại đến địa ngục này?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực; ngoài hai điều này ra, ắt không bao giờ có thể đến được.’ Có hai nguyên nhân dẫn dắt đến chốn địa ngục. Thứ nhất, là phải có oai thần, sức thần thông, đức hạnh, mới có thể đến được nơi này. Thứ hai, là do nghiệp lực—tức là vì có nghiệp tội nên mới bị đọa vào địa ngục. Như vậy, nếu không do oai thần hoặc nghiệp lực dẫn dắt, thì không thể nào đến được địa ngục.

Thánh Nữ lại hỏi: ‘Do duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục và có những người tội cùng các thú dữ như thế? Vì sao nước trong biển này nóng dữ dội như thế? Vì sao lại có nhiều tội nhân bị dìm trong nước sôi, và vì sao lại có đông đảo ác thú đến thế?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là những chúng sanh tạo ác ở cõi Diêm Phù Ðề mới chết, quá bốn mươi chín ngày—tức là bảy tuần lễ, thường gọi là “thất tuần” hoặc “bảy thất”—không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, họ lại không làm được nhân lành nào cả…’

“Diêm Phù Ðề” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “thắng kim.” Bởi vì lá của cây Diêm Phù Ðàn Kim rụng xuống sông thì biến thành vàng ròng; thứ vàng này là thù thắng nhất, đặc biệt nhất, nên gọi là “thắng kim.” Thế giới mà chúng ta đương sống được gọi là cõi Nam Diêm Phù Ðề.

Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề khởi tâm động niệm đều là tội, đều là nghiệp—chúng ta thường xuyên tạo tác nghiệp tội. Những tội nhân trong biển này chính là những chúng sanh đã từng gây tạo ác nghiệp ở cõi Diêm Phù Ðề vừa mới chết hoặc mới chết gần đây.

Ðối với người đã chết, nếu quý vị muốn làm việc công đức để giúp cho họ được siêu thoát, cần phải làm trước ngày thứ bốn mươi chín kể từ ngày họ chết. Bởi vì trước ngày thứ bốn mươi chín, nghiệp tội của người chết vẫn chưa được xét xử, quý vị có thể kịp thời vì họ mà làm công đức, để họ được hưởng sự lợi ích. Nếu để quá bốn mươi chín ngày thì khi ấy nghiệp tội của họ đã được phán định xong xuôi—cũng như tòa án đã kết án, định tội rồi vậy—không thể nào thay đổi được nữa. Vì thế, trong vòng bốn mươi chín ngày này, nếu quý vị có thể tụng Kinh tụng Chú hồi hướng cho họ, thì có thể giúp họ được siêu độ, khiến họ đạt được sự lợi ích.

Thế thì, nếu sau bốn mươi chín ngày, nghiệp tội của người quá vãng đã được xét xử xong, mà quý vị mới tụng Kinh siêu độ cho họ, thì họ có được hưởng công đức gì không? Tất nhiên là có, nhưng công đức mà họ được hưởng có ít bớt, năng lực có yếu hơn; tuy là không lớn lao song chẳng thể nói là hoàn toàn không có. Do đó, từ rày về sau, nếu quý vị muốn làm công đức để hồi hướng cho những người quá vãng, thì tốt nhất là nên làm trước kỳ hạn bốn mươi chín ngày sau khi họ qua đời.

Vậy, những chúng sanh đang trôi nổi trong biển nước sôi là những kẻ mà lúc còn ở cõi Diêm Phù Ðề đã trót gây tạo nhiều ác nghiệp, không hề làm việc thiện, chưa từng trồng nhân lành và chết đã quá bốn mươi chín ngày mà vẫn không có ai làm thiện sự để hồi hướng công đức ngõ hầu giải bớt khổ nạn cho; ‘vì thế nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này trước.’ Căn cứ vào nghiệp tội trước đây họ đã tạo tác mà cảm thọ quả báo địa ngục, tự nhiên trước hết họ phải lội qua cái “đại khổ hải” này, nhận lãnh nghiệp báo mà họ đáng phải nhận lãnh.

Quỷ Vương Vô Ðộc lại nói tiếp: “Cách biển này mười vạn do-tuần về phía Ðông lại có một cái biển. Ở phía Ðông của biển nước sôi này lại có một biển lớn khác; biển ấy cách biển này mười vạn do-tuần và những thống khổ ở đó còn gấp bội chốn này.” Thấy những người trong biển này bị ác thú và quỷ Dạ Xoa xua đuổi, rượt bắt, quý vị cho rằng như thế là thống khổ, nhưng khi đến biển kia thì quý vị sẽ thấy rằng ở đó còn khổ sở và lợi hại hơn ở biển này rất nhiều!

“Phía Ðông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ ở đó càng trội hơn, càng nhiều hơn so với biển trước.”

Do nguyên nhân nào mà có những biển này? “Do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra và gọi chung là biển nghiệp, chính là chốn này vậy.”

Tam Nghiệp tức là ba nghiệp—thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân có ba nghiệp ác là sát, đạo, dâm—sát sanh, trộm cắp, và tà dâm, không giữ quy củ. Ý có ba nghiệp ác là tham, sân, si—lòng tham lam, lòng sân hận, lòng si mê. Khẩu (miệng) có bốn nghiệp ác là ỷ ngữ, vọng ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt.

“Ỷ ngữ” là nói những chuyện trai gái không chánh đáng. “Vọng ngữ” là chuyên nói những lời gian dối, nói láo. “Ác khẩu” là dùng lời hung dữ mắng chửi người. “Lưỡng thiệt” là nói lưỡi đôi chiều—gặp Trương Tam thì nói xấu Lý Tứ, gặp Lý Tứ thì nói xấu Trương Tam, để gây xích mích lẫn nhau. Một người mà nói hai lời trái nghịch nhau—đi với Giáp thì nói Ất thế này thế nọ, đi với Ất thì lại nói Giáp thế nọ thế kia—một cái lưỡi mà nói hai lời đâm thọc nhau, chẳng khác nào có hai cái lưỡi, cho nên gọi là “lưỡng thiệt.”

Miệng có bốn nghiệp ác, thân có ba nghiệp ác, ý có ba nghiệp ác, gọi chung là Thập Ác (mười điều ác), hoặc Tam Nghiệp Ác Nhân—tức là những chủng tử hoặc mầm mống gây tạo tội ác qua thân, khẩu và ý.

Vì sao lại có biển “nước ác” (ác thủy), cùng nhiều thú dữ và quỷ Dạ Xoa như thế? Ðây đều là do những nghiệp nhân xấu ác của con người tạo ra mà chiêu cảm lấy quả báo. Trồng nhân lành thì gặt quả lành, gieo ác nhân thì chịu ác báo—nghĩa là “bụng làm dạ chịu,” nghiệp tội đều là do mình tự gây ra và tự chuốc lấy.

Vậy, ba cái biển này được gọi chung là “biển nghiệp” (nghiệp hải), và đều do nghiệp lực của con người cảm vời ra.

Kinh văn:

“Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Ðộc rằng: ‘Ðịa ngục ở đâu?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục, nhiều đến số trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thì có mươi tám chỗ; bực kế đó có năm trăm chỗ, đủ không lường sự khổ sở; bực kế nữa có đến ngàn trăm, cũng đầy không lường sự thống khổ.’

Thánh Nữ lại hỏi Ðại Quỷ Vương rằng: ‘Thân mẫu tôi mới mất gần đây, song không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?’”

Lược giảng:

“Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Ðộc rằng: ‘Ðịa ngục ở đâu? Ngài nói có địa ngục, vậy chẳng hay địa ngục rốt cuộc ở nơi đâu?’

Quỷ Vương Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục.’

Tại sao gọi là “biển nghiệp” (nghiệp hải)? “Biển nghiệp” tức là cái biển do nghiệp lực của chúng sanh tập hợp lại mà thành. Chữ “biển” còn ngụ ý rộng lớn, dồi dào; chứ không nhất thiết là một biển nước thật sự. Do đó, “biển nghiệp” ám chỉ nghiệp lực của chúng sanh nếu dồn lại, kết nhóm lại, thì cũng rộng lớn vô lượng vô biên như biển cả vậy.

Ba cái biển vừa kể này cũng có thể gọi là “biển nghiệp,” do ba nghiệp thân, khẩu, ý của con người tạo thành; cho nên Quỷ Vương Vô Ðộc mới nói với Thánh Nữ Bà La Môn rằng: “Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục, nhiều đến số trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau.”

Có bao nhiêu địa ngục? Có đến hàng ngàn hàng vạn địa ngục, và mỗi ngục mỗi có những thiết bị khác nhau, không ngục nào giống với ngục nào. Có thể nói rằng mỗi người gây mỗi nghiệp, chẳng ai giống ai, cho nên mỗi người tự tạo mỗi địa ngục cho chính mình. Ðịa ngục hoàn toàn không phải được xây sẵn hoặc chuẩn bị sẵn cho con người trước khi chết. Không phải thế! Ðịa ngục là do tự nghiệp của mỗi người chiêu cảm mà hiện ra—tự mình tạo nghiệp tội gì, thì phải gánh chịu quả báo tương ứng với tội lỗi đó—gây vô số ác nghiệp tất gặp vô số ác báo.

Thí dụ, có một nơi gọi là địa ngục “bào lạc”—cột đồng nung. Ở địa ngục này có cây cột làm bằng đồng, rỗng ruột, nên có thể đốt lửa ở bên trong. Hạng người nào phải đọa vào địa ngục này? Ðó là những người háo sắc đa dâm, chuyên làm điều bất chánh; bởi địa ngục cột đồng nung nóng này là do nghiệp lực của họ cảm vời mà ra! Họ nhìn cột đồng song đối với họ thì đó không phải là một cột đồng rực lửa, mà là hình dáng của một con người—người nam thì thấy đó là một mỹ nữ, nên liền mừng rỡ nhào tới ôm chầm lấy, và vì thế bị lửa thiêu đốt đến bỏng da cháy thịt, muốn gỡ cũng gỡ không ra; còn người nữ nhìn cột đồng nóng thì lại thấy đó là một người nam khôi ngô tuấn tú, hoặc là bạn trai cũ của mình, liền vui mừng cho rằng “đất khách gặp cố nhân,” bèn hớn hở chạy ào đến ôm chầm lấy, nhưng tới nơi thì liền bị “lửa dục” (dục hỏa) này thiêu chết.

Tội nhân bị chết rồi, thì sau đó trong địa ngục có một ngọn “xảo phong” (gió tinh khôn)—do một thứ diệu pháp tạo thành—thổi lướt qua. Ngọn gió này thổi đến thì họ đều sống trở lại, nhưng sau khi sống lại, họ lại quên mất hình phạt vừa mới thọ nhận, mà chỉ nhớ điều ưa thích trước, nên cứ “chứng nào tật nấy,” do đó lại phải tiếp tục chịu khổ báo, và các hình phạt tại địa ngục cột đồng nung cứ thế mà tái diễn.

Ngoài ra còn có rất nhiều loại địa ngục, mỗi loại đều có những đặc điểm riêng; do đó nói là “mỗi địa ngục đều khác nhau.”

‘Về địa ngục lớn thì có mười tám chỗ.’ Có tất cả mười tám đại địa ngục, trong mỗi địa ngục ấy lại ngăn thành mười tám gian, mười tám gian này chính là mười tám chỗ riêng biệt.

‘Bực kế đó có năm trăm chỗ, đủ không lường sự khổ sở.’ Thứ đến lại có năm trăm địa ngục, mà sự khổ sở ở nơi này nhiều đến đếm không xuể, kể không xiết.

‘Bực kế nữa có đến ngàn trăm, cũng đầy không lường sự thống khổ.’ Kế nữa thì lại có đến hàng trăm hàng nghìn địa ngục, sự khổ sở ở những ngục này so với năm trăm địa ngục trên tuy có phần nào nhẹ hơn, song nói chung thì vẫn là vô lượng vô biên.

“Thánh Nữ lại hỏi Ðại Quỷ Vương rằng: ‘Xin Ngài mở lòng từ bi mà chỉ bày cho. Thân mẫu tôi mới mất gần đây song không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào? Mẹ tôi vừa mới qua đời, tính đến nay cũng chưa được bao lâu, song tôi nóng lòng muốn biết linh hồn của mẹ tôi hiện đương phiêu bạt phương nào, xin Quỷ Vương làm ơn chỉ giúp cho.’

Kinh văn:

“Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?’

Thánh Nữ đáp rằng: ‘Thân mẫu tôi tà kiến, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm tin, nhưng rồi chẳng kính; dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ thác sanh về đâu.’

Vô Ðộc hỏi rằng: ‘Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?’

Thánh Nữ đáp rằng: ‘Thân phụ và thân mẫu của tôi đều dòng dõi Bà La Môn. Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến, thân mẫu tôi tên là Duyệt Ðế Lợi.’

Vô Ðộc chắp tay thưa Bồ Tát rằng: ‘Xin Thánh Giả hãy trở về, và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ Duyệt Ðế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi. Nghe nói nhờ con trai của bà có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả.’

Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui.

Lược giảng:

Nghe Thánh Nữ nói muốn biết thân mẫu mình thác sanh vào chốn nào trong sáu nẻo luân hồi, “Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì? Bà sinh sống bằng nghề gì? Thuở sinh tiền bà thích làm những việc gì?’” Vì thấy Thánh Nữ Bà La Môn đến được địa ngục, thì nhất định là nhờ ở sức mạnh của oai đức nguyện lực, cho nên Quỷ Vương mới gọi Thánh Nữ là “Bồ Tát.”

“Thánh Nữ đáp rằng: ‘Thân mẫu tôi tà kiến. Mặc dù là mẹ của tôi, nhưng tôi không thể che giấu những sai lầm của bà được—mẹ tôi là người tà tri tà kiến.’”

“Tà kiến” là một trong năm thứ kiến giải sai lầm (Ngũ Kiến) hoặc năm mối sai khiến (Ngũ Lợi Sử)—Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Kiến, Kiến Thủ Kiến và Tà Kiến.

1) Thân Kiến (chấp là có thân mình). “Thân kiến” là luôn luôn lo toan tính toán cho cái thân của mình,” không muốn nó phải chịu thiệt thòi. Thí dụ, ăn uống thì phải là đồ ngon đồ bổ, như thế mới khỏi  lo sợ là sẽ ảnh hưởng không tốt cho cơ thể! Những người có “thân kiến” cứ muốn bồi bổ thân hình cho mập mạp, béo tốt, không ngại thân mình quá thừa thịt thừa mỡ; bởi họ cho rằng như thế mới là thân thể khỏe mạnh, càng mập càng tốt. Lúc nào họ cũng sẵn sàng vì bản thân mà ưu tư, tính toán—phải ở nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi, ăn uống phủ phê, áo quần sang trọng, … từ sáng đến tối chỉ nghĩ tới chuyện hưởng thụ sung sướng và chăm sóc cái thân này từng ly từng tí. Ðó là nói về “thân kiến”—không muốn cho thân thể chịu thiệt thòi, tổn thất.

2) Biên Kiến (cực đoan, chỉ thấy một bên). “Biên kiến” tức là nhìn sự việc một cách thiên lệch hoặc quá khích. Thí dụ, hút thuốc lá là có hại, nhưng những kẻ có “biên kiến” lại nói rằng hút thuốc thì chẳng có gì là không tốt cả, và còn ngoan cố bảo rằng làm như thế mới là hay, là tài giỏi nữa! Họ lại còn biện hộ rằng quý vị sở dĩ chống đối việc hút thuốc là vì quý vị chưa hiểu hết được sự thần diệu của nó, chứ một khi được “nếm” qua sự thần diệu đó rồi thì e rằng ai nấy cũng đều không muốn từ bỏ, và biết đâu lại còn hút nhiều hơn!

Những kẻ có “biên kiến” thường nói năng rất khéo léo, lưu loát, viện dẫn lý lẽ rất hùng hồn, nhưng thực chất thì chỉ toàn là thành kiến lệch lạc.

3) Kiến Thủ Kiến (cố chấp, bám chặt vào kiến giải sai lầm).

4) Giới Kiến (hiểu sai về giới, trì giữ những giới sai lạc). “Giới kiến” chính là “tà giới”. Thí dụ, có những kẻ khi thấy người theo đạo Phật thì không ăn thịt, liền nói: “Không ăn thịt thì có gì đáng nói? Quý vị biết không, có người ngay cả muối họ cũng không ăn nữa; như thế mới là có bản lãnh chứ! Nếu không tin thì quý vị thử làm xem!” Và họ cố ý cứ thế mà đi dần tới việc hủy báng Tam Bảo. Nói chung, cho dù việc quý vị làm rõ ràng là đúng, song những kẻ có “giới kiến” vẫn “bới lông tìm vết,” cố tìm cho ra khuyết điểm để phê phán, dèm pha cho bằng được!

5) Tà Kiến (cái thấy tà vạy). Thí dụ, khi thấy mọi người đều ca ngợi hạnh hiếu thảo, thì kẻ “tà kiến” lại bảo: “Hiếu thảo cha mẹ để làm gì? Cha mẹ sanh con đẻ cái là hậu quả của lòng ham khoái lạc nhất thời, chứ nào phải tử tế gì đâu?” Và vì thế, họ bỏ mặc cha mẹ, không đoái hoài tới; đến khi cha mẹ già nua rồi qua đời thì họ thở phào nhẹ nhỏm: “Cũng tốt thôi! Như thế là thế giới bớt được một kẻ ngồi không, ăn bám.”

Những kẻ “tà kiến” thường nói năng dài dòng, viện dẫn lung tung. Nói rằng hiếu thảo cha mẹ là hợp với đạo lý, đúng với lẽ phải, thì họ phản đối và cãi lại: “Thật là ngu xuẩn! Hai ông bà đều già cả, sắp xuống lỗ hết rồi, còn hầu hạ hiếu thuận họ làm gì cho nhọc xác chứ?” Họ bảo quý vị ngu xuẩn; song le, chính họ mới thực sự là ngu xuẩn đến cực điểm! Ðó là điển hình của hạng người đầy rẫy tà tri tà kiến.

“‘Khinh chê ngôi Tam Bảo.’” Câu này nguyên văn chữ Hán là “cơ hủy Tam Bảo”—”cơ” là giễu cợt, “hủy” là chê bai. Thí dụ, có nhiều người thấy kẻ khác lạy Phật liền mai mỉa: “Xem kìa! Hắn là người sùng tín đạo Phật đấy. Những người tin Phật điều gì cũng làm, xem ra thì họ có gì hay hơn người khác đâu? Không phải là họ cũng chơi bời, cờ bạc, rượu chè, … như thiên hạ, việc gì cũng tham dự hết sao? Tin Phật thì được lợi ích gì?” Họ gán cho tín đồ Phật giáo cả núi tội, trút lên đầu người Phật tử cả đống lỗi—mà tội nào tội nấy đều nghiêm trọng hơn cả Thập Ác và Ngũ Nghịch rất nhiều—đó gọi là “cơ.”

“Hủy” là chê bai, phỉ báng. Thí dụ có người nói rằng: “Quý vị không nên tin Phật; những người theo đạo Phật đều là những kẻ lừa đảo!”—nói như thế tức là chê bai, hủy báng Tam Bảo vậy. Hoặc có người lại nói rằng: “Phật, Pháp, Tăng đều là giả dối. Phật chỉ là tượng đất, Pháp chẳng qua chỉ là chữ viết trên giấy, còn Tăng nhân thì bất quá cũng là con người phàm phu tục tử mà thôi, đâu có gì đặc biệt? Thế thì tại sao mọi người cần phải tin lời Phật nói? Tại sao phải dập đầu quỳ lạy? Các người quả thật là ngu si tột bực!” Họ mắng nhiếc một thôi một hồi thậm tệ như thế, khiến cho những người tin Phật cũng sanh lòng hoang mang, ngờ vực—thậm chí có kẻ phải giấu giếm, không dám cho ai biết rằng mình theo đạo Phật!

Trong số những vị cao niên thường đến đây nghe thuyết Pháp vào ngày Chủ Nhật, có một vị cách đây mấy năm đã từng ngỏ ý muốn được quy y với tôi, nhưng tôi trước sau vẫn không nhận lời. Vì sao ư? Vì ông ấy muốn quy y một cách bí mật, không muốn để cho người khác biết! Qúy vị xem, quy y chứ đâu phải đi ăn trộm, thì tại sao phải bí mật, lén lén lút lút chứ? Ông ta muốn bí mật nhưng ở đây tôi không có thứ “quy y bí mật” đó, cho nên tôi bảo ông ấy nên suy nghĩ lại. Việc này thật là kỳ lạ! Ông ấy viện cớ gì ư? Ông ấy nói rằng ông vốn là tín đồ Thiên Chúa giáo và có quen biết rất nhiều người trong giáo đoàn, bây giờ nếu họ biết ông ta theo đạo Phật thì họ sẽ cho rằng ông là kẻ “phản đạo,” là một tên “phản đồ”! Song, nếu không thú thật tức là ông ta lừa dối mọi người, như thế lại càng tội lỗi hơn nữa! Ông ta lại còn nêu ra một nguyên do khác, đó là vì ông còn muốn nhận sự cứu tế từ nhà thờ nọ. Quý vị xem, như thế thì làm sao có thể gọi là tin Phật được? Thật là đáng thương!

‘Hoặc có lúc tạm tin.’ “Tạm tin” tức là tin tưởng tạm thời, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, chứ chẳng phải mãi mãi tin tưởng.

Chúng ta tin Phật, thì cần phải phát nguyện vĩnh viễn tin Phật, không nên chỉ tin tạm thời như bà mẹ của Thánh Nữ Bà La Môn. Thí dụ có nhiều người nói rằng: “Tôi chỉ tin trong vòng một tiếng đồng hồ, quá một tiếng đồng hồ rồi thì tôi không tin nữa”—như thế gọi là “tin tạm thời,” hay “tạm tin.” Những người đó không thể nào duy trì lòng tin lâu tới hai tiếng đồng hồ được, họ chỉ tin trong một giờ đồng hồ mà thôi. Có người thì lòng hăng hái và nhiệt tình tin tưởng của họ chỉ kéo dài tối đa là năm phút, quá năm phút thì nguội lạnh hẳn—họ chỉ có thể giữ được tín tâm trong năm phút! Tuy nhiên, chúng ta học Phật thì cần phải tin Phật và cần phải phát nguyện mãi mãi có đức tin.

Vậy thì, có thể là cũng trong năm phút ngắn ngủi nào đó, bà mẹ của Thánh Nữ chịu theo con đi lễ Phật, quy y Tam Bảo, hoặc lạy một vị Sư làm Thầy, ‘nhưng rồi chẳng kính.’ Khi đối trước tượng Phật thì bà lạy Phật tin Phật, nhưng chỉ vừa quay lưng là lập tức không còn cung kính nữa.

‘Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ thác sanh về đâu. Mẹ tôi vừa mới qua đời, song tôi không biết bà phải đầu thai vào chốn nào.’

Vô Ðộc hỏi rằng: ‘Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?’ Vì Thánh Nữ Bà La Môn chưa cho biết danh tánh của bà mẹ, nên Quỷ Vương không thể không hỏi cho rõ ràng: “Chẳng hay mẹ của Ngài tên họ là gì? Bà cư ngụ nơi đâu? Ðịa chỉ của Ngài là gì? Xin Ngài hãy kể rõ.”

Thánh Nữ đáp rằng: ‘Thân phụ và thân mẫu tôi đều dòng dõi Bà La Môn.’

Xã hội Ấn Ðộ thời bấy giờ có bốn chủng tánh (những người có nghiên cứu về Ấn Ðộ cần phải biết bốn chủng tánh này là gồm những gì):

1) Bà La Môn (tức là “tịnh duệ,” dòng dõi thanh tịnh);

2) Sát Ðế Lợi (dòng dõi vua chúa);

3) Phệ Xá (hạng người hành nghề “thương cổ”—”thương” là đem hàng hóa đi bán, “cổ” là ngồi bán. “Hành thương tọa cổ” là chỉ cho nghề buôn bán);

4) Chiên Ðà La (giai cấp hạ tiện, thấp kém nhất trong xã hội, như hàng đồ tể chuyên giết heo, giết bò…)

Tại Ấn Ðộ, những kẻ làm nghề đồ tể lúc đi đường đều phải đi nép một bên, không được đi chung hoặc ngang hàng với người thuộc ba giai cấp trên; và càng không được đi cùng một con đường với hàng quý tộc. Trên thân những người đồ tể đều có đánh dấu, ai trông thấy thì liền biết đó là hạng Chiên Ðà La. Ðồ tể là một công việc rất thấp hèn, cho nên những người hành nghề này đều bị liệt vào giai cấp thấp hèn nhất trong xã hội.

Thánh Nữ đang được nói đến trong Kinh này vốn thuộc dòng Bà La Môn, tức là ở hàng quý tộc.

Xã hội Ấn Ðộ và Anh Quốc đều chú trọng giai cấp, và cho đến nay họ vẫn còn đặt nặng vấn đề giai cấp. Nước Mỹ là một quốc gia dân chủ, không ai có quan niệm phân chia giai cấp cả, mọi người đều sống rất bình đẳng. Còn Ấn Ðộ thì lại khác—những người thuộc giai cấp cao không được trò chuyện với người ở giai cấp thấp thua mình; nếu vi phạm, họ sẽ bị những người thuộc giai cấp cao khinh rẻ, xem như kẻ chẳng ra gì, không có chút giá trị! Quan niệm phân chia giai cấp này rất lợi hại!

‘Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến.’ “Thi La” là tiếng Phạn và có nghĩa là “giới luật”; tuy nhiên ở đây thì hàm nghĩa “thanh lương” (mát mẻ).

‘Thân mẫu tôi tên là Duyệt Ðế Lợi.’ “Duyệt Ðế Lợi” cũng là Phạn ngữ. Trong kinh Phật, không có cái gì thuyết pháp một cách chánh thức; có điều ở đây tôi chú giải thêm chút đỉnh—”duyệt” nghĩa là hoan hỷ, vui vẻ; “đế” tức là hoàng đế. Vậy, “hoàng đế vui thích” là ý nói người này rất xinh đẹp, ngay cả hoàng đế cũng phải yêu thích—cũng có thể giải thích như thế.

Thật ra, ý nghĩa của tên gọi thì không nhất định—quý vị muốn giảng nghĩa thế nào cũng được, miễn sao hợp lý thì thôi, nhất là đối với tiếng Phạn. Do đó, sau khi nghe giảng rồi, quý vị xem kinh văn có chỗ nào không hiểu, thì chớ vội nói là mình không biết. Qúy vị phải vận dụng trí huệ của chính mình để nghiền ngẫm, suy luận! Trí huệ của quý vị một khi khai mở thì: “Ồ! Tôi biết rồi, thì ra là như vậy!” Hễ nói cho hợp lý thì giảng giải thế nào cũng được, chỉ cần đừng mắng chửi người khác, đừng nói xấu hoặc bôi nhọ, cũng chớ nên cứng nhắc, cố chấp!

“Vô Ðộc chắp tay thưa Bồ Tát rằng… Quỷ Vương Vô Ðộc nghe Thánh Nữ Bà La Môn nói xong, liền chắp hai tay lại—biểu thị sự cung kính—và nói với Thánh Nữ rằng: ‘Xin Thánh Giả hãy trở về và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Xin Bồ Tát hãy trở về nơi ở của mình; và xin Ngài chớ nên lo âu, buồn bã, nhớ thương thân mẫu nữa. Xin Ngài hãy bớt lòng lưu luyến, tiếc thương bởi vì tội nữ Duyệt Ðế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi.’”

Vì sao bà Duyệt Ðế Lợi lại được sanh lên cõi trời? ‘Nghe nói nhờ con trai của bà có lòng hiếu thuận—mặc dù là con gái, nhưng ở đây biểu thị là con trai—vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.’ “Bố thí” tức là “trai tăng cúng chúng,” làm cơm chay cúng dường chư tăng. Như vậy, bà Duyệt Ðế Lợi này có một người con trai rất hiếu thảo, đã bán hết tất cả gia sản để thiết trai tăng, cúng dường đại chúng tại các chùa và tháp thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, ngõ hầu tu tạo phước lành cho mẫu thân.

‘Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày hôm đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả.’ Ngoài ra, cũng trong ngày hôm đó, không riêng gì thân mẫu của Thánh Nữ Bà La Môn, mà vô lượng vô biên tội nhân ở địa ngục Vô Gián lúc bấy giờ cũng đều được thoát khỏi tội khổ, được sự an vui, và đều được sanh lên cõi trời.

“Nói xong, Quỷ Vương chắp tay mà cáo lui.” Quỷ Vương Vô Ðộc nói xong, liền cung kính chắp tay làm lễ chào Thánh Nữ, rồi rút lui.

Kinh văn:

“Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết các việc rồi, bèn đối trước tháp tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng: ‘Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ mà quảng thiết phương tiện, khiến cho họ đều được giải thoát.’”

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Ðộc ngày trước, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát; còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Bồ tát Ðịa Tạng vậy.”

Lược giảng:

“Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh.” Câu này, nguyên văn chữ Hán là “Bà La Môn nữ, tầm như mộng quy.” Chữ “tầm” ở đây ngụ ý là thời gian không lâu. “Tầm” vốn có nghĩa là tìm kiếm, nhưng ở đây hàm ý khoảng thời gian không lâu lắm, chỉ trong khoảnh khắc. Cho nên, “tầm như mộng quy” tức là dường như vừa tỉnh dậy sau một cơn mơ ngắn ngủi vậy.

“Rõ biết các việc rồi.” Tỉnh dậy rồi, Thánh Nữ hồi tưởng: “Ồ! Tôi vừa đến một bờ biển và gặp Ðại Quỷ Vương Vô Ðộc. Sau đó, tôi lại còn trông thấy các thú dữ ở địa ngục cùng các tội nhân nữa. Tôi có hỏi về chỗ thác sanh của mẹ tôi, và được Quỷ Vương cho biết là bà đã sanh lên cõi trời rồi!” Thánh Nữ biết rằng mọi việc mình vừa được chứng kiến hoàn toàn không phải là hư dối, mà là nhờ oai thần của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai gia bị, giúp cho mình được thành tựu ý nguyện.

Thánh Nữ “bèn đối trước tháp tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng…” “Hoằng” có nghĩa là rộng lớn, to tát. Thánh Nữ Bà La Môn phát thệ nguyện rộng lớn như thế nào? Cô ta nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ, những kẻ đang trầm luân trong sáu đường, mà quảng thiết phương tiện, lập ra nhiều phương chước, khiến cho họ đều được giải thoát, lìa khổ được vui.”

“Tận vị lai kiếp” tức là đến tận bao giờ? Khi nào sẽ là lúc cùng tận? Không thể có lúc cùng tận! Do đó, thệ nguyện của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát cũng không có cùng tận.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Ðộc ngày trước, vị Quỷ Vương đã cùng hỏi đáp với Thánh Nữ Bà La Môn thuở nọ, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát.” Như vậy, Bồ Tát Tài Thủ vốn là Vô Ðộc Quỷ Vương tu tập mà thành. Ngài đã tu pháp Thất Thánh Tài—bảy món của cải quý báu của hàng Thánh giả:

  1. Tín. Ðức tin là một báu vật của sự tu hành.
  2. Giới Tài Bảo. Truyền Giới và thọ Giới là những sự kiện hết sức hy hữu (đặc biệt là trong thời Mạt Pháp), mà người xuất gia thì nhất định phải thọ Giới mới là người xuất gia hoàn chỉnh.
  3. Ða Văn Tài Bảo. Ðược nghe nhiều biết rộng cũng là một tài sản quý báu.
  4. Xả. Biết bố thí, biết xả bỏ, cũng là một hạnh quý báu trong sự tu hành.
  5. Trí Huệ. Có trí huệ là điều rất thiết yếu, cho nên trí huệ cũng là báu vật của sự tu hành.
  6. Tàm. “Tàm” tức là lòng xấu hổ.
  7. Quý. “Quý” là lòng hổ thẹn (sợ người chê).

Hai chữ “tàm” và “quý” này vốn thường đi chung với nhau, nhưng ở đây thì tách riêng ra. Trên đây là những “bảo bối” mà người tu hành cần phải có.

Do có bảy món tài sản quý báu, thiêng liêng—Tín, Giới, Ða Văn, Xả, Trí Huệ, Tàm, Quý—nên gọi là Tài Thủ Bồ Tát.

“Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó nay chính là Bồ Tát Ðịa Tạng vậy.” Cho nên, chúng ta cần phải học theo đức hạnh tốt đẹp của tiền thân Bồ Tát Ðịa Tạng—phải hiếu thảo với cha mẹ, độ thoát cha mẹ!

__________________________________________

[1] Quan Vũ tức là Quan Vân Trường (thường được gọi là Quan Công), là một danh tướng đời Thục Hán, thời Tam Quốc; và cũng là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi. Sau khi chết, Quan Công được thờ chung với Nhạc Phi ở Võ Miếu.

[2] Bạch Khởi là một võ tướng đời Chiêu Tương Vương nhà Tần, thời Ðông Châu Liệt Quốc. Ông có tài dụng binh quán thế, bách chiến bách thắng, nhưng tánh tình độc ác khôn lường. Trong trận tấn công nước Triệu, Bạch Khởi đại thắng và thâu được hơn hai mươi vạn hàng binh Triệu, và tất cả đều bị ông tàn sát hết nội trong một đêm.

[3] “Thức thứ tám” tức là A-lại-da Thức, hoặc Tàng Thức (thức tích chứa).

Tám Thức: 1) Nhãn Thức, 2) Nhĩ Thức, 3) Tỹ Thức, 4) Thiệt Thức, 5) Thân Thức, 6) Ý Thức, 7) Mạt-na Thức, 8) A-lại-da Thức

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.