Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

DUY MA KINH LƯỢC SỚ

Thiên thai, Sa-môn Trạm Nhiên lược.

GIẢI THÍCH PHẨM: PHẬT QUỐC

Phần 1

Giải thích văn kinh đại lược có năm ý:

  1. Nói kinh độ bất tận.
  2. Tóm lược chia văn.
  3. Luận nghĩa Phật quốc.
  4. Giải thích phẩm.
  5. Chính thức giải thích văn.

I. KINH ĐỘ BẤT TẬN:

Trước sau kinh này có năm bản dịch khác nhau nay chỉ giải thích một bản của ngài La-thập để tìm hiểu văn nghĩa. Ở Tây Vực còn nhiều bản khác, do đâu mà biết? Như sai mười người đệ tử đến thăm ngài Duy-ma rồi năm trăm cho đến tám ngàn ai cũng từ chối không kham nổi. Nói lý không kham để khỏi đến thăm. Suy đây mà luận thì kinh này có rất nhiều quyển. Lại như việc ngài Văn-thù vào thất để truyền ý chỉ của Như Lai, ngài vô cùng ân cần đến cả tám ngàn Bồ-tát mà mỗi vị ngài đều nói pháp Nhập môn. Những lời lẽ luận bàn này đâu thể chỉ có nửa quyển. Rồi ngài ra thất đến Am-la viên để phô bày nghĩa Phật quốc, lúc đó lại đối đáp luận bàn cao xa thì ý kinh văn há chỉ chứa trong mấy tờ giấy nhỏ? Bèn cho là nhân dân ở nước Chấn Đán thần trí thấp kém không đủ sức đọc tụng thọ trì đầy đủ kinh ấy mà cắt bớt chỗ nhiều lời, tóm tắt cương yếu vẫn giữ nguyên nghĩa mà truyền vào cõi này.

Hỏi: Văn kinh này ở Tây Vực rất rộng lớn đâu không phải là Đại luận nói về kinh Bất Tư nghị mà Đức Phật đã nói, có mười vạn bài kệ chăng?

Đáp: Có người nói thế, nay bảo không phải vậy. Bởi Đại luận nói về kinh Bất Tư nghị là tên khác của kinh Hoa Nghiêm. Cho nên luận rằng Bát-nhã có hai thứ: Một là, cùng nói chung với hàng Nhị thừa; hai là, không cùng nói chung với hàng Nhị thừa. Không cùng nói chung là như kinh Bất Tư nghị này. Cho nên kinh Hoa Nghiêm nói kinh này không trao vào tay người Nhị thừa. Cùng nói, tức như kinh Ma-ha Bátnhã và các kinh Phương đẳng.

Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm đâu được gọi là Bất Tư nghị, kinh này một tên là Bất Khả Tư nghị Giải Thoát, vì sao lại nói là Không phải?

Đáp: Kinh này đã có hai tên, vậy kinh Hoa Nghiêm sao không có tên khác. Song xét kỹ thì Đại luận trước sau dẫn kinh Bất Tư nghị đều nói là Hoa Nghiêm cả. Âu-xá-na Ưu-bà-di nói cho Tu-đạt-na Bồ-tát về số lượng chúng sinh độ được, chính là kinh Hoa Nghiêm nói về việc đã nghe của Thiện Tài nhập pháp giới, nếu dẫn kinh này thì gọi là Tỳ-mala-cật Sở thuyết.

II. CHIA VĂN KINH:

Có hai phần:

– Nói các Sư xưa nay.

– Nói về một nhà.

1. Nói về các Sư:

Ngài La-thập, Đạo Sinh và các sư xưa không chia các khoa đoạn, cứ đi thẳng vào văn mà giải thích. Nhưng ngài Tăng Triệu nói: “Bắt đầu từ Tịnh Độ, chấm dứt ở Pháp Cúng Dường, còn khoảng giữa tuy nói khác nhưng vẫn là một bất tư nghị.” Vậy thì từ Bảo Tích đặt câu hỏi trở về trước là tựa, một phẩm Chúc Lụy là phần Lưu thông, đoạn giữa còn lại là phần Chánh thuyết.

– Ngài Linh Vị Tiểu Lượng nói rằng: “Tên của kinh này là Tịnh

Danh Sở thuyết, từ phẩm Phương Tiện đều là phần Chánh thuyết.”

Sư Khai Thiện thì phân làm bốn: “Một là tựa, tức trọn phẩm Bồtát; hai là chánh thuyết, tức sáu phẩm trung thất; ba là Chứng thành, tức hai phẩm Bồ-tát hạnh và A-bệ Phật; bốn là Lưu thông, tức hai phẩm Pháp Cúng Dường và Chúc Lụy.”

Như ngài Trang Nghiêm Quang Trạch thì cùng dùng bốn phẩm đầu làm phần tựa, sáu phẩm nhập thất làm Chánh thuyết, bốn phẩm sau làm phần Lưu thông. Về sau thì Tam Luận Sư cũng theo cách chia này. Còn các Luận sư phương Bắc thì lấy phẩm Phật Quốc làm phần Tựa. Phẩm Phương Tiện đến A-bệ Phật mười một phẩm, làm Chánh thuyết và hai phẩm sau làm phần Lưu thông. Nhưng xưa nay không giống nhau về việc phân biệt, kẻ nối truyền đều theo tông môn mình. Các Thiền sư thấy việc phân biệt này gây nhiều tranh cãi nên không phân chia khoa 146 tiết chỉ căn cứ vào quán môn mà nói thẳng vào đạo.

2. Nói các nhà thời nay:

Nếu không phân chia khoa đoạn thì không biết được khởi đầu và chấm dứt việc thừa tiếp Phật giáo. Còn nếu chia khoa đoạn thì chấp chặt và tranh cãi, mà đối với pháp giải thoát nảy sinh hệ lụy. Nay muốn tìm ý thú kinh thì phải y vào kinh mà chia khoa đoạn nhưng không cố chấp. Phàm khi Phật nói pháp tuy nói có nhiều mối nhưng trước, giữa, sau đều khéo bày văn nghĩa đầy đủ.

Nay căn cứ vào ba thứ đối nhau mà chia ba như tựa… nhưng vẫn đủ ba ý:

a- Chánh thức phân kinh. b- Xét theo quán tâm. c -Các nhà khác nhau.

a. Phân kinh: Kinh không luận dài ngắn đều phân thành ba phần:

  1. Phần tựa.
  2. Phần chánh thuyết.
  3. Phần lưu thông.

– Phần tựa:

Khi Đức Phật muốn nói pháp trước hết hiện ra các tướng lành để biểu hiện nguyên cớ cho việc thuyết giảng. Như muốn nói về Đại phẩm thì Ngài phóng ánh sáng đủ các tạp sắc là biểu hiện nói về Bát-nhã để dẫn đạo các hạnh, muốn nói kinh Pháp Hoa thì phóng quang ở giữa chặng mày, là biểu hiện nói về trung đạo thật tướng. Nay kinh Duy-ma này họp lọng hiện cõi nước là biểu hiện nói về nhân quả Phật quốc độ. Có nguyên cớ không đồng chính là để tiêu biểu cho giáo môn trong việc ứng cơ có khác, khơi dậy cái tình của quần sinh khiến họ cùng tin, kính mến mộ, nương về với tông chủ hiện có, nên gọi là tựa.

– Phần chánh thuyết:

Khi bốn chúng thấy tướng lành hiện ra thì đều vui mừng chịu nghe Thánh chỉ “ý Phật”, Đức Phật biết rõ thời và cơ mà thuyết giáo thì chúng lúc đó nghe kinh đều được lợi ích của pháp mầu nên gọi là chánh thuyết.

– Phần lưu thông:

Lưu là dòng nước chảy thấm xuống. Thông tức không bị ngăn trở. Đức Như Lai đại từ bình đẳng nói pháp Không phải chỉ cho người ở hiện tại mà muốn khắp đủ cho các hữu tình ở cả ba đời chánh, tượng, mạt. Ai có duyên đều được thấm nhuần diệu pháp, như dòng nước pháp chảy rót vô cùng, tất cả đều thấm ướt nên gọi là lưu thông.

Nay chia ra ba phần, phần một từ “Như thị ngã văn…”đến hết phần kệ bảy chữ, là đủ hai phần Tựa chung riêng, đối với chánh thuyết thì nguyên cớ đã đầy đủ nên gọi là phần tựa. Phần hai từ “ngài Bảo Tích hỏi về nhân quả cõi Phật…”đến hết phần A-bệ Phật gồm mười một phẩm rưỡi, đều nói về nhân quả Phật quốc bất tư nghị giải thoát, đều là giáo pháp ứng cơ. Lợi ích khắp người hiện tại, đó là phần chánh thuyết. Phần ba từ “Pháp cúng dường”đến hết phần “Chúc lụy” là nói Thiên đế phát nguyện hoằng kinh. Đức Như Lai ấn khả khuyến khích dặn dò Thiên đế suốt cả vị lai nên giúp truyền bá mãi không dứt. Đây đều là Chúc lụy lưu thông.

Hỏi: Kinh này tên là Duy-ma-cật Sở thuyết, vì sao lại được từ “Phật quốc” làm chánh?

Đáp: Ngài Tịnh Danh nương oai thần của Phật giúp Phật hoằng hóa, hóa đạo có công hiệu nên từ đó mà được khen. Cũng như quốc vương sai quan đại thần khắp trị, việc khắp trị có công hiệu nên đại thần được thưởng. Chủ quyền hành là quốc vương, có công danh dự mà đại thần được khen, thì không thể nói đại thần được khen thưởng mà đại thần là chính thức, vua dù quyền hành chính thức vẫn đứng một bên. Ngài Tịnh Danh được Phật ấn khả bèn là chính thức nên gọi là Duy-macật Sở thuyết kinh.

b. Xét theo quán tâm:

y cứ theo ba quán làm ba phần: Hai quán phương tiện tức là tựa, được vào trung đạo tức là chánh thuyết, cùng chiếu hai đế các tâm đều vắng lặng tự nhiên lưu nhập vào tức là lưu thông.

c. Chọn lựa các nhà khác:

Hỏi: Sao không theo ngài La-thập và các Thiền sư không phân chia khoa đoạn?

Đáp: Nếu luận về Quán hạnh thật không cần phải phân chia. Nay muốn các học giả biết văn có khởi đầu và chấm dứt, biết lời nói của bậc Thánh khéo léo nói ra có thứ tự. Nếu giải thích văn thông suốt thì Quán hạnh càng biết rõ ràng.

Hỏi: Vì sao không dùng toàn phần chú thích của ngài Tăng Triệu?

Đáp: Vì pháp cúng dường cho là phần chánh thuyết thì không đúng.

Hỏi:Vì sao không theo cách của ngài Linh Vị?

Đáp: Cho phẩm Phật Quốc là tựa thì cũng không đúng.

Tại sao Phật là Đấng Pháp vương, Đạo vương nói các việc ở tam thiên mà không phải là chánh thuyết?

Chỉ vì ngài Bảo Tích thỉnh hỏi được Phật đáp lại, đáp ứng cơ duyên này nói về nhân quả Phật quốc, chúng nghe kinh lúc đó được ít nhiều lợi ích há lại tách ra làm lời tựa được ư? Vả lại ngài Tịnh Danh giúp Phật hoằng hóa chính được khen là giúp thành giáo pháp của Phật, đâu thể xem lời trợ thuyết của đệ tử là chánh còn lời của Đại sư lại là tựa ư?

Hỏi: Vì sao không theo cách của ngài Khai Thiện?

Đáp: Kinh không luận dài ngắn, lớn nhỏ đều phân làm ba phần, thì sao riêng kinh này lại được phân làm bốn?

Hỏi: Vì sao không theo cách của ngài Trang Nghiêm Quang Trạch và các sư Tam luận?

Đáp: Nếu dùng Phật quốc làm tựa thì có phương hại như trước đã nói. Lại dùng phẩm Bồ-tát hạnh A-bệ Phật làm phần lưu thông thì e không đúng.

Vì sao ngài Tịnh Danh lấy tay nâng đại chúng trở về Am-la viên, đối trước Phật được ấn khả, rồi vào thất nói ra mới được thành kinh. Lại Phật trở về ở trước ngài Tịnh Danh mà luận rõ về nhân quả Phật quốc tóm tắt kinh trước sau, tông chỉ rõ ràng, đại chúng được lợi ích. Phải qua việc trong thất mà nói thì đây mới là chánh thuyết, đâu thể bảo là lưu thông.

Hỏi: Vì sao không theo cách của các sư Đại thừa ở phương Bắc?

Đáp: Lấy phẩm Phật Quốc làm tựa thì cũng phương hại như trước nói.

III. GIẢI THÍCH NGHĨA PHẬT QUỐC:

Đây nói trưởng giả Bảo Tích hỏi về nhân quả Phật quốc, Đức Thế Tôn đáp đầy đủ, ngài Thân tử sinh nghi. Đức Phật dùng thần lực hiện tướng Tịnh độ. Lúc đó đại chúng đều được lợi ích Đại thừa. Khi hiện lại cõi uế thì chúng cầu Thanh văn được đạo Tiểu thừa. Căn cứ vào đó mà đặt tên nên gọi là phẩm Phật Quốc. Kinh này đã dùng Phật quốc làm tông, tất phải nói rõ về nghĩa Phật quốc. Nay tóm tắt có tám điều:

  1. Nói chung về Phật quốc.
  2. Nói riêng về Phật quốc.
  3. Nói về tu nhân Phật quốc.
  4. Nói thấy Phật quốc không giống nhau.
  5. Nói về vãng sinh.
  6. Nói về giáo.
  7. Ước quán tâm.
  8. Dùng nghĩa Phật quốc mà giải thích chung về kinh này.

1/ Nói chung về Phật quốc:

Trước nói phổ cập và các kinh Phương đẳng phần nhiều nói về chánh báo. Nay nhân Bảo Tích dâng lọng, Như Lai họp lọng, hiện ra cõi nước tức biểu thị muốn nói về y báo. Vì sao chánh báo đã hiển hiện lại phải nói rộng về y báo. Như nói vua của dân tất phải biết về cõi nước và việc cai trị. Nói Phật quốc là nơi Phật ở nên gọi là Phật quốc. Cũng như vương quốc tuy là thần dân cùng ở nhưng từ vua mà có tên là vương quốc gì. Nay Phật tuy cùng kẻ có duyên cùng ở, nhưng do Phật mà có tên là Phật quốc gì. Nơi thân Phật nương tựa thì gọi là cõi Phật. Phật ở trong phần giới nào thì gọi đó là thế giới Phật. Nơi Đức Phật ở có muôn cảnh không giống nhau thì gọi là sát.

Song “Quốc”có lý và sự. Về sự tức là cõi của ứng thân, về lý tức là cảnh của cực trí chiếu sáng. Mà chí lý hư tịch vốn không có cảnh và trí khác nhau, sao lại còn có khác nhau của năng sở. Chỉ vì tùy cơ ứng vật mà nói là có chân có ứng, nên cần phải nói rõ về lý và sự. Song nếu không có bổn thì không thể hiện tích. Cho nên có ứng thân và ứng độ. Vì không có tích nào không hiển bày bổn, nên phải dẫn vật đồng quy về chân quốc pháp thân. Cho nên văn kinh nói: “Tuy biết các cõi Phật vắng bặt hẳn như hư không, nhưng hiện ra nhiều thứ cõi Phật thanh tịnh, tất ứng đồng phàm Thánh mà hiện ra có bờ cõi lãnh thổ.” Quả báo phàm Thánh có cao thấp khác nhau nên cõi hiện ra có uế tịnh cũng thế. Nên kinh Anh Lạc nói: “Tùy theo tất cả chúng sinh ứng mà có tất cả quốc độ ứng.” Hoặc có nơi giải thích chữ ứng quốc là do tập nghiệp của chúng sinh chiêu cảm mà có cõi nước ấy. Cho nên văn kinh có nói: “Loại chúng sinh là tịnh độ của Bồ-tát, Thánh nhân từ bi hiện sinh đến đấy”. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Mà sinh ra ba quả trong nhà lửa rã mục, vì độ chúng sinh mà sinh ra sinh, lão, bệnh, tử.” Có nơi nói rằng: “Pháp thân chư Phật cũng như một tấm gương sáng, tất cả hình sắc đều hiện trong đó”. Thế thì tất cả Quốc độ cũng đều từ Pháp thân bổn quốc ứng hiện ra. Quốc do thân Phật nên nói là Phật quốc. Nên kinh Pháp Hoa có nói: “Nay ba cõi này đều là ta có, chúng sinh trong ấy tất cả đều là con ta.” Nay biết rõ lời này như nói ứng quốc đều từ pháp thân hiện ra, tức là tự sinh, nếu từ chúng sinh tức là tha sinh, chúng sinh đối với Phật tức là cộng sinh, nếu lìa chúng sinh lìa Phật tức là Không nhân. Đâu mà có cõi này, đều là nghĩa đọa tánh, đây cần phải phá bỏ. Phải biết rằng quốc độ hoặc tịnh hoặc uế, đều không thể nói. Vì có nhân duyên mà có thể nói Tất-đàn ứng cơ đều nói được.

2/ Nói riêng về Phật quốc:

Chư Phật làm lợi ích chúng sinh tướng khác nhau vô lượng, biên không. Nay tóm tắt có bốn:

Một là, cõi nhiễm tịnh phàm Thánh cùng ở.

Hai là, cõi các bậc hữu dư phương tiện ở.

Ba là, cõi quả báo thuần pháp thân ở, tức cõi Nhân-đà-la Võng không chướng ngại.

Bốn là, cõi Thường tịch quang tức bậc Diệu giác ở.

Hai cõi trước là ứng, tức Ứng thân Phật ở. Còn cõi thứ ba là cũng ứng cũng báo, tức Báo thân Phật ở. Riêng cõi sau chót là Chân tịnh, không ứng không báo, tức Pháp thân ở.

a. Nói về cõi nhiễm tịnh thì có chín đạo cùng chung ở, đó là sáu đạo nhơ uế nên gọi là nhiễm, còn ba thừa thấy chân đế nên gọi là tịnh. Vì tam thừa lục đạo cùng ở, nên gọi là nhiễm tịnh. Cũng gọi là cõi nước phàm Thánh đồng cư. Về cõi nhiễm tịnh thì phàm Thánh đều có:

Hai thứ phàm cư: Một là, ác chúng sinh tức là bốn ác thú; hai là thiện chúng sinh, tức là trời và người

Hai thứ Thánh cư: Một là, thật; hai là, quyền.

Thật Thánh là Tứ quả và Bích-chi-Phật, sáu địa của Thông giáo, thập trụ của Biệt giáo, Thập tín hậu tâm của Viên giáo, các thông hoặc tuy dứt mà báo thân vẫn còn ở.

Quyền Thánh là bậc Tam thừa phương tiện hữu dư, thọ thân thiên chân pháp tánh, vì lợi ích cho những kẻ có duyên mà nguyện sinh cõi Đồng cư. Như thật báo và Tịnh quang pháp thân. Đại sĩ và Diệu giác Phật, vì lợi ích những kẻ có duyên mà ứng sinh cõi Đồng cư, đều là quyền cả. Đó là những Thánh nhân cùng phàm phu đồng cư nên gọi là phàm Thánh đồng cư. Vì có bốn ác thú cùng ở nên gọi là cõi uế.

Nói về Tịnh độ đồng cư: Cõi nước của Đức Vô Lượng Thọ, tuy quả báo thù thắng khó thể so sánh nhưng cũng là nhiễm tịnh phàm Thánh đồng cư. Bởi tuy không có bốn ác thú mà có hàng trời, người. Vì sao biết? Vì người sinh về cõi đó chưa hẳn đều là người được đạo. Vì trong kinh có nói: Người phạm trọng tội khi lâm chung biết sám hối niệm Phật thì nghiệp chướng liền chuyển mà được vãng sinh. Nếu chỉ có bậc Thánh sinh thì phàm phu sao được nguyện sinh về cõi đó. Cho nên biết tuy còn đầy đủ hoặc nhiễm, nhưng do nguyện lực trì tâm nên cũng được ở. Còn Thánh sinh do quyền thật thì như trước nên biết. Chỉ vì không có bốn ác thú nên gọi là Tịnh độ.

Nêu các loại vãng sinh này thì biết đồng ở trong một nước mà hơn kém nhiều loại không phải một. Tuy lại uế tịnh nhiều thứ, như kinh pháp trao lời ký cho đệ tử về cõi nước sẽ ở. Tóm lại mà nói thì đều thuộc về cõi Phàm Thánh đồng cư.

Hỏi: Tên nước nhiễm tịnh xuất phát từ kinh luận nào?

Đáp: Tư Ích luận có nói: Đức Phật Nhật Nguyệt Quang sai Phạm thiên đến cõi nước này bảo rằng: “Ngươi nên đem mười pháp dạo chơi thế giới ấy. Cõi Ta-bà gọi là thế giới Nhiễm tịnh. Nhiễm tức là phàm, tịnh tức là Thánh.

Hỏi: Thập ác ở cõi uế chiêu cảm y chánh báo bốn thú đều là uế đúng rồi, nhưng quả thập thiện ở tịnh độ nhân đồng vì sao lại được y chánh báo nhanh chóng khác biệt?

Đáp: Hai chỗ tu nhân thiện tuy đồng tên nhau nhưng tu thiện Tịnh độ thì tinh vi hơn, nên ở cõi đó y chánh báo mà Thánh phàm có được không giống như ở cõi uế.

b) Nói về cõi Hữu dư:

Là chỗ ở của Nhị thừa và ba thứ Bồ-tát chứng đạo phương tiện. Vì nếu tu hai quán dứt hết các thông hoặc, nhưng hằng sa các hoặc riêng và vô minh chưa dứt hết, nên bỏ thân phần đoạn mà sinh vào ngoại giới, thọ thân pháp tánh tức ở cõi có biến dịch gọi là cõi Hữu dư, cũng gọi là Phương tiện, tức nơi ở của người làm phương tiện. Cho nên bảy thứ sinh tử ở nhiếp Đại thừa thì đây là sinh tử phương tiện thứ tư vậy.

c) Nói về cõi quả báo:

Tức là Nhân-đà-la võng, là thế giới Hoa tạng chỉ thuần là các pháp thân Bồ-tát ở đó, vì họ quán Nhất thật đế phá tan vô minh, hiển bày Pháp tánh, được quả báo chân thật, nhưng vô minh chưa dứt hết mà thấm nhuần nghiệp vô lậu, thọ báo thân pháp tánh. Báo thân ở vào y báo tịnh quốc nên gọi là cõi nước quả báo. Vì quán thật tướng phát ra các chân vô lậu mà được quả báo nên gọi là thật. Họ tu nhân vô định sắc được tâm vô ngại nên cũng gọi là cõi nước Thật báo vô chướng ngại. Nói không chướng ngại tức là nói một thế giới thu nhiếp tất cả thế giới cũng như thế. Đó gọi là thế giới hải, cũng gọi là thế giới Vô tâm tạng. Sơ địa của Biệt giáo vào thế giới này có bảy nghĩa tịnh:

  1. Đồng thể tịnh, như một tức tất cả, tất cả tức một.
  2. Tự tại tịnh, là tất cả cõi nước đều bình đẳng thanh tịnh.
  3. Trang nghiêm tịnh, tất cả các cõi Phật đều thần thông trang nghiêm.
  4. Thọ dụng tịnh, tức lìa tất cả hoặc mà thành đạo thanh tịnh.
  5. Trụ xứ tịnh, các chúng sinh đại trí đều đầy khắp ở cõi ấy.
  6. Nhân tịnh, vào cõi Phật diệu bình đẳng cảnh giới.
  7. Quả tịnh, tức tùy cơ thích hợp mà thị hiện.

Năm thứ trước là thể đầy đủ, có thể tướng dụng, cái thứ sáu là nhân viên, cái thứ bảy là quả mãn. Người sơ trụ sinh về cõi này đều thành tựu được bảy tịnh đó.

Hỏi: Điều này xuất phát từ kinh luận nào?

Đáp: Kinh Nhân Vương có nói: “Tam hiền, thập Thánh trụ ở quả báo. Phải biết quả báo tức là cõi này vậy.” Kinh Pháp Hoa nói: “Thế giới Ta-bà bằng phẳng thẳng thắn, các Bồ-tát đều ở đó.” Đại Luận cũng nói: “Thân Phật pháp tánh nói pháp cho các pháp thân Bồ-tát, nước ấy không có tiếng Thanh văn và Bích-chi-Phật.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thế giới Nhân-đà-la võng”. Nhiếp Đại Thừa nói: “Thế giới Hoa vương”, đều là nói cõi quả báo không có tướng chướng ngại đó.

d) Nói về cõi Tịnh quang:

Tức là lý diệu giác cực trí chiếu soi pháp giới Như Lai là gọi về cõi ấy. Chỉ là Đại thừa pháp tánh tức là Chân tịch trí tánh không giống như lý thiên chân của Nhị thừa, nên kinh Niết-bàn nói: “Đệ nhất nghĩa không tên là trí tuệ.” Kinh này lại nói: “Nếu biết tánh vô minh tức là minh”, như thế đều là nghĩa Thường tịch quang. Vì bất tư nghị cực trí ở đó nên gọi là Tịch quang, cũng gọi là cõi pháp tánh. Nhưng chân như Phật tánh không thân không cõi mà nói thân cõi, lìa thân không có cõi, lìa cõi không có thân. Gọi đó là cõi, vì một pháp mà hai nghĩa. Nên Kim Cang Bát-nhã luận có nói:

Trí tập chỉ thức thông

Như thế là Tịnh độ.

Không hình, đệ nhất thể

Không trang nghiêm”mà) trang nghiêm.

Hỏi: Điều đó xuất phát từ kinh luận nào?

Đáp: Kinh Nhân Vương nói: Chỉ duy nhất có Phật ở Tịnh độ. Kinh Duy-ma này nói: Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Rốt ráo của tâm tịnh, tột cùng là Phật vậy. Phổ Hiền sám cũng nói: “Đức Thích-ca Mâu-ni tên là Tỳ-lô-giá-na biến khắp tất cả chỗ, chỗ Đức Phật ở gọi là Thường tịch quang.

Hỏi: Các cõi nước này kinh luận nói tản mát, có thể như ở trước nói không thấy đủ bốn cõi cùng nói ở một chỗ.

Đáp: Kinh luận nói việc này vốn không nhiều, người tìm đọc lại không đầy đủ. Cùng nói cả về bốn cõi đâu chẳng có. Chính như kinh Duy-ma này đáp lời trưởng giả tử là ý đó. Kinh nói: “Tùy việc hóa độ chúng sinh mà nhận lấy cõi Phật, tùy việc điều phục chúng sinh mà lấy cõi Phật, tùy các chúng sinh nên lấy cõi nước nào mà vào trí tuệ Phật, tùy các chúng sinh nên lấy cõi nước nào mà khởi căn Bồ-tát…”. Đối với bốn cõi ấy hoặc rõ ràng hoặc tương tợ, tên tuổi khác nhau, ý Phật khó lường. Ở đó ta chỉ đối văn mà giải thích.

Hỏi: Kinh Duy-ma này chưa nói về khai quyền hiển thật, sao được nói về hàng Nhị thừa sinh ở cõi Hữu dư?

Đáp: Kinh nói: “Đức Phật dùng một thứ tiếng diễn nói pháp. Chúng sinh tùy loại mà đều hiểu được”thì có phương hại chi đến việc hiểu ngay của Nhị thừa và Bồ-tát Thông giáo, còn hai giáo Biệt, Viên hiểu ngang dọc cũng không ngại chi.

Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm nói mười thứ cõi Phật, kinh này nói bốn thứ, vậy có bao gồm hết chăng?

Đáp: Đâu chỉ gồm nhiếp mười độ, cho đến có người bảo kinh nói hai mươi bảy bậc cõi Phật, như cõi Vô lượng thọ là hàng thứ sáu. Nay xem văn thấy nói bốn cõi nhưng đều gồm nhiếp tất cả.

Hỏi: Sao không theo mười độ và hai mươi bảy độ?

Đáp: Chỉ đọc qua một lần muốn đối đủ cả bốn giáo nên khó thấy ý sai lệch.

3. Nói về tu nhân Phật quốc:

Kinh Duy-ma này đâu phải chỉ căn cứ vào quả chánh báo mà nói về cõi nước y báo, mà cũng dựa vào chánh nhân để nói về y nhân. Y nhân tức là nhân Phật quốc. Nên Phật đáp lời Bảo Tích mà căn cứ chiều ngang về mười bảy chánh nhân để nói về y nhân, lại căn cứ chiều dọc về mười ba chánh nhân để nói về y nhân.

Cõi nước có bốn loại, vậy cần nên nói về bốn nhân. Một lần nói bốn giáo là nhân hạnh nguyện của Bồ-tát chiêu cảm được bốn quả Phật. Y nhân cảm được bốn thứ cõi nước, khảo sát tường tận thì không mảy may phương hại. Nay lại nói về bốn nghĩa mà phân biệt.

1/ Bồ-tát tu nhân nguyện hạnh ba quyền một thật, thành tựu chúng sinh, hoặc bốn loại chúng sinh chưa dứt hết giới nội duyên tập, hoặc dứt chưa hết nội giới của Bồ-tát. Khi thành Phật, thì bốn thứ chúng sinh đến sinh ở cõi Đồng cư mà tu nhân bốn thứ nguyện hạnh.

2/ Bồ-tát tu bốn hạnh quyền thật thành tựu bốn thứ chúng sinh. Bốn thứ chúng sinh này quán phương tiện để dứt hết các kiết nội giới. Bồ-tát ở cõi Hữu dư khi thành Phật thì bốn thứ chúng sinh cùng sinh lên cõi nước đó mà tu nhân hai giáo Biệt, Viên.

3/ Bồ-tát đối với giáo Biệt, Viên mà tu nhân nguyện hạnh, thành tựu hai thứ chúng sinh. Hai thứ chúng sinh lại thường đoạn trừ vô minh. Bồ-tát ở cõi nước quả báo khi thành Phật, chúng sinh Biệt, Viên thành tựu nhân vô lậu thật tướng, đến sinh vào cõi nước ấy đồng tu nhân Viên.

4/ Tu Viên mà đoạn trừ nhân nguyện hạnh. Nhân tròn quả mãn chứng vị diệu giác mà ở cõi Thường tịch quang. Chúng sinh có bản chất Viên hoặc tu nhân viên mà nguyện hạnh đã cực Viên thì cũng ở cõi Tịch quang. Mười phương chư Phật trong suốt như hư không, không tăng giảm. Vì thành tựu chúng sinh mà khởi tu nhân bốn cõi nước dẫn bốn thứ chúng sinh đồng ở Phật quốc. Tu nhân nguyện hạnh thành quả Bồ-đề mà đồng ở cõi Tịch quang suốt cả vị lai, như phẩm Thọ Lượng, kinh Pháp Hoa đã nói.

4. Nói về việc thấy Phật quốc không đồng nhau:

Kinh Duy-ma này nói: “Như các trời cùng có bát báu, tùy phước đức của mình mà sắc cơm có khác.” Còn như luận về cõi Phật thì đều trong suốt như hư không đâu thể thấy khác nhau được. Nếu tướng không thấy mà thấy thì phải đủ mười lần giải thích sắc cơm, cần nên phân biệt.

Hỏi: Kinh nói chư Thiên cùng có bát báu quý, tùy phước đức mình sắc cơm có khác, đây là một chất mà thấy khác hay khác chất mà một thấy?

Đáp: Nên phân ra bốn trường hợp:

a) Khác chất thấy khác. Như Ta-bà và Cực lạc, cõi này thì thấy uế, cõi kia thì thấy tịnh.

b) Khác chất một thấy, như Ta-bà và Cực lạc, cấu tịnh khác chất hàng Biệt, Viên Bồ-tát dùng Thiên nhãn mà nhìn thì thấy chỉ một cõi Hữu dư.

c) Một chất thấy khác, như Thân tử thấy Loa Kế ở cõi Hữu dư đồng cư mà cấu tịnh có khác nhau.

d) Một chất thấy một. Như La-hán, Bích-chi-Phật và ba thứ ý sinh. Cả năm loại này khi kết nội giới đã hết, cùng sinh lên cõi Hữu dư thì thấy không khác.

Hỏi: Sao căn cứ cõi Hữu dư nói là một chất?

Đáp: Tam thừa cùng dùng không nói năng mà hiển phát chân vô lậu, nó chiêu cảm được cõi nước một pháp đồng nhau, nên nói là một chất.

Hỏi: Kinh này thí dụ như chư Thiên đồng có bát báu mà thấy cơm có sắc khác, vậy đây là Không sắc chướng ngại, mà có thấy chướng ngại hay có sắc chướng ngại, có thấy chướng ngại mà khác nhau?

Đáp: Cần phân ra bốn trường hợp:

a) Có sắc chướng ngại có thấy chướng ngại, tức là hai cõi nhiễm tịnh và hữu dư không đồng nhau.

b) Có sắc chướng ngại không thấy chướng ngại, tức pháp thân Bồ-tát dùng Thiên nhãn vô ngại thấy nhiễm tịnh và hữu dư đều không chướng ngại.

c) Không sắc chướng ngại có thấy chướng ngại. Tức Nhân-đà-la võng nhiễm tịnh và hữu dư, hai thứ chúng sinh thấy có chướng ngại.

d) Không sắc chướng ngại không thấy chướng ngại, tức tam hiền, thập Thánh ở cõi quả báo thấy không chướng ngại.

Hỏi: Kinh Duy-ma này nói: “Cùng có bát báu thấy cơm có sắc khác”, thì đây là có chất thấy khác hay không chất thấy khác.

Đáp: Cũng phân ra bốn trường hợp:

1) Nhiễm tịnh, Hữu dư, Thật báo đều có chất mà thấy khác.

2) Sắc có chất ngại, thấy không chất ngại, tức là Bồ-tát nương Phật tuệ mà thấy ba cõi kia đều là Tịch quang.

3) Sắc không chất ngại thấy có chất ngại, tức chúng sinh ba cõi kia đối với Thường tịch quang thấy có khác chất.

4) Sắc không chất ngại thấy không chất ngại, tức là chư Phật tâm tịnh cõi tịnh, thấy cõi Thường tịch quang như như bình đẳng pháp giới không hình không chất. Lược nêu ra mười hai thứ bất đồng, suy ngọn ngành thì vô lượng, tuy có vô lượng nhưng đều như hư không, cho nên không thất của Tịnh Danh là biểu thị cho mười phương cõi Phật đều là hư không.

5. Nói về vãng sinh: Có hai: chung và riêng.

1/ Chung căn cứ bốn cõi nói về vãng sinh, cũng gọi là lai sinh, đầy đủ như trong Đại phẩm. Từ cõi này đến cõi kia gọi là vãng sinh, từ cõi kia đến cõi này gọi là lai sinh. Hai cõi cũng thế chỉ ngang dọc khác nhau thôi. Cõi Thường tịch quang dứt hẳn với sinh nên gọi là Không vãng lai.

Ứng lai ở ba cõi nước mà không ứng vãng.

2/ Riêng căn cứ bốn cõi nói về vãng sinh: Có bốn thứ:Một là, cõi nhiễm tịnh nói vãng sinh: Có uế có tịnh.

Nếu ở cõi uế mà thọ sinh là vì kiến tư hoặc. Hoặc thấm nhuần ác nghiệp thì sinh ở bốn ác thú, hoặc thấm nhuần thiện nghiệp thì sinh ở trời, người.

Nếu nói về Tam thừa Thánh nhân vãng sinh thì bậc Sơ quả đã đoạn kiến hoặc mà chưa đoạn chín phẩm Tư Dục, thì thấm nhuần sinh cõi nhân thiên, bảy lần trở lại. Bậc Nhị quả, ba phẩm nhuận sinh cõi Dục một lần qua lại. Bậc Tam quả còn tư duy hoặc của hai giới nên thấm nhuần sinh của hai giới, sáu địa sau của Thông, thập trụ của Biệt cùng năm phẩm sau của Viên cho đến người ở Thập tín mà thông hoặc chưa hết thì đều thuộc về tam quả. Nên biết đó đều là thật, lai sinh đồng cư độ.

Nếu quyền mà lai sinh thì là hàng Tam thừa Thánh nhân mà nội giới hoặc đã hết, hoặc ở cõi phương tiện mà nguyện lai sinh, hoặc từ quả báo Tịch quang mà ứng lai.

Nói về Tịnh độ mà phàm phu thật sinh, thì ở đây không có bốn ác thú, chỉ vì kiến tư hoặc thấm nhuần thiện nghiệp mà sinh làm trời, người. Còn ở Tịnh độ mà Thánh quyền thật thọ sinh thì giống như trước. Hai là cõi hữu dư nói vãng sinh: Tức Tam tạng giáo Nhị thừa, Thông giáo tam thừa, Biệt giáo thập hạnh, Viên tín hậu tâm…bỏ hẳn tam giới thì đều là thật vãng sinh. Nên kinh Thắng-man nói: “Biến dịch sinh tử thì gồm hàng Nhị thừa, Đại lực Bồ-tát chưa dứt ba thứ ý sinh, nên sinh vào cõi hữu dư thọ thân pháp tánh.”

Hỏi: Những gì là ba thứ Ý sinh thân ?

Đáp: Một là, Tam-muội chánh thọ. Đây e là Thông giáo đồng nhập vào cái vui của Chân không tịch định. Nên kinh Niết-bàn nói: “Thanh văn có định lực nhiều nên không thấy được Phật tánh.”

Hai là, giác pháp tự tánh: Đây e là Biệt giáo Bồ-tát, tuy đã chứng thiên chân mà biết có trung đạo pháp tánh.

Ba là, vô tác: Đây e là Viên giáo Bồ-tát quán trung đạo vô tác Tứ đế, dẹp hết vô minh đều nói là ý vì chưa phát khởi chân tu còn là tác ý, vô minh làm duyên, nghiệp vô lậu làm nhân bèn từ cõi này cõi kia mà thọ thân pháp tánh.

Hỏi: Như kinh Lăng-già nói ba thứ ý sinh đều là Thập địa ứng sinh vào cõi quả báo sao nói là Hữu dư?

Đáp: Dựa theo Thập địa Biệt giáo mà phán quyết ba thứ ý sinh thì sinh vào cõi quả báo. Dựa theo Thập địa của Thông giáo mà phán quyết thì chính cùng với Bồ-tát của ba giáo đã giải thích trước, đã dứt hết nội giới hoặc thì cùng sinh lên cõi Hữu dư ý đồng. Nếu ở Thật báo Tịch Quang mà phá vô minh hiển bày pháp thân thì ứng sinh vào Hữu dư.

Ba là, cõi quả báo nói lai sinh: Nếu ở cõi Đồng cư, Hữu dư mà phá trừ vô minh thì Thập địa của Biệt giáo, Thập trụ của Viên giáo đều được vãng sinh.

Bốn là, cõi Thường tịch quang: Nếu rốt ráo Tịch quang tức là Bất sinh. Bất sinh thì đâu còn có sinh qua lại. Nếu phân rõ Tịch quang trở xuống Tịch diệt nhẫn và Thập địa có hai lần sinh, thì Tịch diệt nhẫn Đẳng giác là một lần sinh. Hoặc nói Sơ trụ của Viên giáo một phần phá vô minh thấy lý Phật tánh thì cũng được một phần sinh, cho đến bậc Đẳng giác đều có nghĩa này. Chỉ có quả báo của vô minh biến dịch sinh tử ràng buộc, nên nói là trụ quả báo. Còn bậc Diệu giác thì dứt hẳn, nên nói người duy nhất ở Tịnh độ. Cả bốn mươi mốt địa trước nếu căn cứ theo quả báo thì gọi là sinh quả báo. Nếu dựa theo phần kiến chân lý thì gọi là Thường tịch quang.

Hỏi: Phần đoạn Đồng cư cần phải dứt hết kiến tư hoặc, bỏ thân này mới sinh vào cõi Hữu dư. Ở cõi Hữu dư cũng phải dứt hết biệt kiến tư của Biệt giáo, bỏ thân biến dịch thì mới sinh vào cõi quả báo chăng?

Đáp: Không phải vậy. Phần đoạn thì chất ngại, phiền não tuy hết ắt cần phải bỏ báo thân. Nếu ở cõi Hữu dư mà tùy phá biệt hoặc, nhân dời quả đổi liền gọi là Thật báo.

Hỏi: Thật báo thọ sinh thì Tịch quang có sinh chăng?

Đáp: Đã nói là Thường tịch, đâu được thọ sinh. Sinh tức còn lưu động đâu thể gọi là Thường tịch.

Hỏi: Vậy sao ở trước lại gọi là sinh Thường tịch quang?

Đáp: Nếu cõi quả báo có biện luận về sinh mà khi phát tuệ thấy chân, mà chân tức là Bất sinh, thì tức là Bất sinh mà sinh.

Hỏi: Nếu bất sinh mà sinh thì cũng nên nói bất thường mà thường.

Đáp: Cũng đều như thế cả, vì sao rốt ráo? Thường tịch không sinh mà sinh. Bốn mươi mốt phần cư thường tịch tức là Không sinh mà sinh, không thường mà thường.

6. Nói về bốn cõi thuyết giáo không đồng. Có bốn phần:

1- Cõi Nhiễm tịnh thuyết giáo không đồng: Tức Phàm Thánh đồng cư, đã có uế tịnh. Uế là năm trược chướng nặng mà căn có lợi độn. Lợi thì cảm giáo nhanh, cũng như mặt trời mọc trước chiếu trên đỉnh núi cao. Vì độn căn chướng nặng mà mở ra Tam tạng giáo, phương đẳng, đại phẩm để phương tiện điều phục. Đối với Pháp Hoa, Niết-bàn mới nghe Viên giáo thấy được Phật tánh mở Bí mật tạng.

Về tịnh, thì như cõi Hoa quang, tuy không phải ác thế mà vẫn nguyện nói tam thừa. Đây cũng có giáo đốn, tiệm.

Hỏi: Tịnh độ cũng được mở Tiệm giáo thì vì sao Hương Tích Bồtát lại kinh ngạc?

Đáp: Vì bổn nguyện nên nói thế.

2- Cõi Hữu dư thuyết giáo bất đồng: Đoạn hết kết sử của Thông giáo đều được vãng sinh, không đâu không lợi độn, Nhị thừa của Tạng Thông đều độn, nên Đại luận nói La-hán có thân pháp tánh độn vì đối với Phật đạo mà đi quanh co. Thông, Biệt, Viên giáo lần lượt nói là lợi độn nên biết. Như Lai đối với họ chỉ nói Nhất thừa. Tuy không mở ra ba thừa mà đối với Nhất thừa không đâu không quyền biệt ứng phó với hai thứ cơ duyên. Nếu nói khai hiển tuy không có Tạng Thông mà mở Biệt quyền, hiển thật Viên. Nên kinh Pháp Hoa nói: “La-hán sinh cõi ấy cầu trí tuệ Phật, được nghe kinh ấy chỉ vì Phật thừa mà được diệt độ.

3- Cõi quả báo thuyết giáo không đồng: Đây đều đã phá hết vô minh, khi vãng sinh thì đồng một căn tánh, đi trên đường thẳng lớn không quanh co. Phật đối với cõi ấy chỉ nói Nhất viên.

4- Cõi Thường tịch quang thuyết giáo bất đồng: Nếu Thường tịch quang rốt ráo thì không nói không bày mà nói bày, pháp thân vô duyên ngầm giúp tất cả. Không nói mà nói, tức là pháp thân nói pháp. Nếu căn cứ quả báo mà nói Thường tịch quang. Phân biệt hai thứ nói pháp Không đồng là: Nói Vô tác Tứ đế tức cõi quả báo, nói Nhất thật đế tức Thường tịch quang. Hai loại cõi nước sau căn cứ vào đây mà biết.

7. Căn cứ quán tâm nói các cõi nước:

Tâm tánh xưa nay vốn rốt ráo vắng bặt, nhưng chúng sinh kẻ điên đảo thì nhiều, không điên đảo lại ít, do vô minh nhân duyên mà khởi thiện ác, liền từ các pháp đã sinh mà tức không tức giả tức trung. Trung là cảnh của nhân duyên thiện ác, tức cõi Phàm Thánh đồng cư. Bởi quán thấy thiện ác thì liền ở trong cõi uế tịnh mà hiểu rõ nhân duyên vốn hư dối, tích thể mà vào Không. Ở cảnh không đó thì liền là cõi Hữu dư. Biết không chẳng phải là Không mà không cho là chứng biết. Trong không phải nhân không phải quả mà là nhân là quả. Nếu hiểu rõ nhân quả không chướng ngại thì đó là cõi quả báo không chướng ngại. Tuy lại không, giả có ra vào khác nhau mà nguồn tâm vô minh tức là Phật tánh. Nếu biết tánh vô minh tức là minh thì liền là cõi Thường tịch quang. Cho nên văn kinh nói: Tùy tâm mình tịnh tức cõi Phật tịnh. Trong Đại tập có nói: “Muốn tịnh cõi nước Phật thì phải tịnh tâm ông.” Kinh Hoa Nghiêm cũng nói: “Vô lượng các thế giới thảy đều từ tâm duyên khởi, tất cả các pháp giới đều ở vào một đầu lông nhỏ.”

8. Dùng nghĩa Phật quốc mà giải thích kinh này. Có ba phần:

  1. Nói về phần tựa.
  2. Phần chánh thuyết.
  3. Giải thích phần lưu thông.

1. Nói về phần tựa: Chung họp các lọng báu và hiện ra cõi nước, điềm lành này biểu thị Đức Phật muốn nói về Phật quốc. Nên Bảo Tích liền khen ngợi rằng: “Nay xin dâng lọng báu mầu cho Đức Thế Tôn, trong đó hiện ra tam thiên giới.” Bảo Tích hiểu rõ Đức Phật muốn nói về Tịnh độ, nên khi khen ngợi xong liền hỏi Phật về nhân quả Phật quốc. Trình bày ý hiện ra điềm lành trên là muốn nói về Phật quốc.

2. Nói về chánh thuyết. Có ba phần: Ngoài thất, trong thất và ra thất.

Ngoài thất, có ba phẩm rưỡi: Bảo Tích thỉnh Phật nói nhân quả Phật quốc. Như Lai đáp đầy đủ và đưa ngón chân ấn đất thì liền hiện ra cảnh tịnh độ, khiến các chúng sinh được lợi ích Đại thừa. Rồi đất trở lại như cũ để người cầu Thanh văn được lợi ích Tiểu thừa. Nếu mê nghĩa y báo Phật quốc thì đâu thể biết được huyền chỉ của phẩm này. Sau đó nói phẩm phương tiện, vì quốc vương, trưởng giả mà phân tích cái thể của hai quán, khuyên mọi người cầu chánh nhân Phật quả. Nếu thành y nhân thì những người chưa đoạn nội giới kiết nghiệp sẽ sinh về cõi Đồng cư tịnh, những người đã đoạn xong kết nghiệp, liền sinh cõi Hữu dư. Khi thành Phật thì hai thứ chúng sinh đó cùng lai sinh cõi ấy. Kế đến nói phẩm Đệ tử, trách các Thanh văn có ý khiến họ đoạn bỏ tạp duyên ngoại giới. Nếu đến thời Pháp Hoa thì tiến lên đoạn bỏ Biệt hoặc mà sinh lên cõi quả báo. Sau khi thành Phật thì ba thứ chúng sinh lai sinh cõi nước ấy. Tiếp đó nói phẩm Bồ-tát, trách các Bồ-tát khiến đoạn hết vô minh thì liền sinh vào cõi Tịch quang, sau khi thành bậc Diệu giác thì một thứ chúng sinh lai sinh cõi nước ấy.

Trong thất, có sáu phẩm, ngài Văn-thù vào thành Tỳ-da-ly thăm bệnh, ngài Tịnh Danh liền hiện ra thất trống, nói rằng cõi nước mười phương chư Phật đều trống không, nên hiện ra thất trống không. Đây đâu không phải là chính thức hiển bày nghĩa Phật quốc giúp thành Như Lai nói nghĩa Phật quốc. Kế đến phẩm Bất tư nghị hiện núi Tu-di chui vào hạt cải… các việc bất tư nghị, đều hiển bày Phật quốc có y báo tự tại. Sau tới phẩm Quán Chúng Sinh, Thiên nữ ở trong thất mười hai năm, tức cùng ngài Tịnh Danh ở cõi nước Thường tịch quang, chính là giúp bày nghĩa Phật quốc. Nên nói: “Mười phương cõi Phật thường hiện trong thất này.” Kế đến phẩm Phật Đạo, là hành ở phi đạo mà thông suốt Phật đạo, tức là ở cõi nước bất tịnh mà hiển hiện cõi tịnh, nên nói kệ rằng:

Tuy biết các Phật quốc

Thường cùng chúng sinh không

Mà thường tu tịnh độ

Giáo hóa các quần sinh.

Kế đó là phẩm Bất Nhị Pháp Môn. Các đại Bồ-tát đều nói nhập môn, muốn phá vô minh ở hai cõi trước mà trụ vào cõi quả báo và Thường tịch quang. Sau nữa là phẩm Hương Tích, trong thất này hiện ra tịnh quốc Chúng Hương đối với cõi uế Ta-bà, tức là năm phẩm trong thất giúp thành Phật nói hai loại cõi nước uế- tịnh.

Ra thất, có hai phẩm: Phẩm Bồ-tát Hạnh. Ngài Tịnh Danh lấy tay nâng đại chúng đưa về Am-la viên. Đức Phật nói với ngài A-nan các loại cõi nước làm sáng tỏ nghĩa chính. Nếu không hiểu rõ văn của phẩm kinh này do đâu có thể phân biệt được? Tiếp theo là phẩm A-bệ Phật, tức là ở ngoài thất mà hiện cõi nước chứng minh thành. Như Lai nói các thứ cõi nước nghĩa rất rõ ràng, khai kinh đắc đạo gấp đôi trước đó.

Dùng nghĩa Phật quốc giải thích phần lưu thông, gồm hai phẩm: phẩm Pháp Cúng Dường là Thiên đế phát nguyện hoằng kinh, Như Lai ấn khả chính cái thể của phần lưu thông bất tư nghị giải thoát là gốc nhân quả Phật quốc. Và phẩm Chúc Lụy là phó chúc cho ngài Di-lặc và A-nan… lưu thông bất tư nghị giải thoát pháp môn và làm sáng tỏ nhân quả Phật quốc nói trên, khiến không dứt mất.

IV. GIẢI THÍCH PHẨM:

Phẩm là phẩm loại, có nghĩa loại giống nhau họp vào một đoạn thì gọi là phẩm. Nhưng phẩm đề này nên gọi là phẩm tựa. Tiếng “Phật quốc” là do phần chánh thuyết mà có tên.

Hỏi: Đã có tựa chính thức, sao lại dùng phần chánh thuyết để ở phẩm đầu?

Đáp: Lời hỏi này sai. Giả sử dùng phần tựa mà đặt tên thì lại hỏi sao không dùng phần chánh. Nay nên hiểu không phải là Không có cách này như kinh Ma-ha Bát-nhã. Nửa phẩm đầu là tựa, từ “bảo Xálợi-phất …”nửa phẩm về sau là chánh, mà gọi đó là phẩm tựa thì có hại gì? Nếu không cho tựa kinh này nhận tên phần chánh thì cũng không nên cho kinh kia để phần chánh trong phẩm tựa.

Hỏi: Nếu thế thì nhất định dùng tựa mà đặt tên.

Đáp: Kinh Kim Quang Minh có chánh và tựa cùng phẩm thì cũng là có phương hại. Đây là do người sau này sắp phẩm để ý không đồng, không phải do Phật nói cũng không phải do A-nan, vậy không nên chấp chặt điều đó. Kinh này không nêu tên phẩm tựa ở đầu mà nghĩa tựa rất rõ ràng, việc đó cần giải thích kỹ.

Tựa có nhiều nghĩa, tóm tắt có ba ý: Một là, lời giải thích sơ lược; hai là, nói rõ về chung và riêng; ba là, phân định theo quán tâm.

1. Giải thích sơ lược. Có ba phần:

a) Thứ tự: Phàm viết văn thì đoạn văn đầu là tựa. Nay sáu nghĩa ở đầu kinh ấy thì gọi là tựa.

b) Nguyên do: Đức Phật nói pháp ắt cần có nguyên do, đó là hiện ra điềm lành khiến mọi người vui mừng ham thích nên nói đạo từ hoan hỷ sinh ra, bởi nguyên do này mà nói pháp.

c) Tự thuật: Đã sinh vui mến mà Thánh ý khó lường, khi mọi người để ý thì không biết nơi đến. Do đó cần phải nhờ một đệ tử bậc cao hoặc các hóa Phật, Bồ-tát đặt vấn đề trước. Khi mọi nghi ngờ đã hết thì còn quy tâm mới có thể phát khởi giáo pháp nên gọi là tự thuật. Nay sáu nghĩa đầu kinh này tức là thứ tự, họp các lọng báu hiện ra cõi nước là nguyên do, Bảo Tích thuật khen là tự thuật.

Hỏi: Các kinh đều có đủ ba phần tựa chăng?

Đáp: Có kinh đủ có kinh không đủ, hoặc hai, hoặc một đều là phần tựa.

Hỏi: Lời tựa không đồng sao dùng thứ tự để hiểu các nghĩa?

Đáp: Chữ viết như thế nhưng ý kinh vẫn gồm đủ ba phần, nếu dùng chữ thứ tự thì cũng không hại chi, chỉ lấy nghĩa, không cần chú trọng đến lời.

2. Nói về chung riêng: Tóm tắt ba điều trên nói về chung riêng. Như thế sáu nghĩa tức là tựa chung, hiện điềm lành và tự thuật là tựa riêng. Các kinh đều dùng sáu nghĩa để ở đầu, nên gọi là tựa chung. Các kinh có phần đầu là hiệm điềm lành và phần tự thuật đều khác, nên gọi là tựa riêng. Nay nhân tên riêng mà có tựa riêng và có nói pháp riêng. Nếu nhân tên chung thì có tựa chung, hạnh lý chung riêng nhân đây mà có hai tựa.

Hỏi: Nếu lấy hai tựa, từ hai tên mà lập. Lập tên thì trước riêng sau chung, làm tựa sao được trước chung sau riêng?

Đáp: Tiện việc lập tên thì trước riêng sau chung, còn tiện việc làm tựa thì trước chung sau riêng. Lại còn một đường lối thì cũng trước riêng sau chung. Vì sao? Vì như hiện điềm lành nêu nguyên do là trước khi nói kinh, sau đều như thế là lúc Như Lai sắp nhập Niết-bàn mới nói lời ấy, nên biết nó ở sau. Lời tựa trước kinh chính là làm phát khởi tín tâm của các đệ tử hiện tại. Còn lời tựa ở sau kinh là khiến đệ tử ở vị lai khởi lòng tin.

Hỏi: Nếu thế thì lúc Phật còn tại thế, ở đầu kinh không có tựa thì không gọi là kinh sao?

Đáp: Trước tựa riêng tuy không có sáu nghĩa, bởi khi Phật nói pháp đã có việc đó rồi, nên vẫn được gọi là kinh.

3. Phần định theo quán tâm: Tâm tức là chung, quán tức là riêng, nhân quán tâm này mà thành tựu được tất cả Phật pháp, tức là cửa vào đạo, tức là nguyên do.

Hỏi: Nếu lấy quán tâm làm hai tựa, đâu không điên đảo?

Đáp: Tiện việc lập tên nên gọi là quán tâm, tiện việc tu hành thì gọi là tâm quán, có nghĩa cùng loại trước mà lý rất rõ ràng.

Hỏi: Phần huyền nghĩa, nơi nơi phần nhiều đều nói về quán tâm, sợ rằng khi vào văn không được như thế thì há chẳng làm hoại loạn kinh giáo ư?

Đáp: Nói kinh văn cho kẻ muốn vào đạo, nếu các bậc hiền tu trì đạo gặp chỗ thì quán hạnh, đâu có ai tìm cầu Thánh đạo mà không quán hạnh ư? Chỉ khéo nói là được, không chỉ không làm hại văn nghĩa mà còn gồm được quán hạnh rõ ràng để phân biệt pháp môn, không quán còn đợi gì, sao lại là lỗi hoại loạn ư?

V. VÀO KINH VĂN.

– Phần tựa có hai: Chung và riêng.

Trước giải thích phần tựa chung: Sáu nghĩa là tựa chung của các kinh, cần phân ra làm hai là tổng và biệt.

Tổng giải thích: Đức Phật dạy ngài A-nan cùng các đệ tử lớn mà nói tướng vào Phật pháp. Đại Luận nói rằng: “Khi Phật sắp nhập Niếtbàn thì A-nan và các thân thuộc vì ái kiết chưa trừ, tâm bị chìm sâu trong bể sầu thương. Ngài A-nê-lâu-đà bảo ngài A-nan rằng: Ở việc vị lai nếu có những nghi ngờ gì thì nên kịp thời hỏi mau, cớ sao cứ sầu thương mãi như những kẻ phàm phu? A-nan nhờ sức đạo niệm mà lòng buồn sầu chợt tỉnh liền hỏi Phật bốn việc:

  1. Sau khi Phật Niết-bàn rồi thì tu đạo thế nào?
  2. Ai đáng làm thầy?
  3. Kẻ ác khẩu Xa-nặc làm sao chung ở?
  4. Đối với đầu các kinh Phật nên để lời gì?

Đức Phật bảo A-nan rằng: Như ở đời hiện tại hoặc ở đời sau tuân theo Tứ niệm xứ mà tu đạo, giới kinh giải thoát là thầy của các ông, ác khẩu Xa-nặc thì theo pháp thanh tịnh “giới luật) mà xử trị, nếu ông ta có tâm phục thiện thì nói cho nghe kinh Na-đà Ca-chiên-diên tất sẽ được vào đạo. Khi tập hợp các pháp tạng của ta suốt trong ba a-tăng-kỳ thì ở đầu nên ghi như vậy: “Như vậy tôi nghe: Một lúc nọ, khi Phật ở tại… cùng số đại chúng.” Không phải chỉ riêng pháp ta như thế, mà ở đầu các kinh của ba đời chư Phật cũng đều như thế.

Hỏi: Vì sao ở đầu các kinh phải để như thế… cho đến khiến tu các niệm xứ?

Đáp: Đầu kinh nên để như thế là vì muốn dẹp bỏ nghi ngờ khiến mọi người tin tưởng, cũng là ấn định rằng Phật nói mà không phải là hàng đệ tử và chín mươi sáu phái ngoại đạo nói ra, cũng để phá việc ở đầu kinh của người ngoài và ngoại đạo thường dùng hai chữ A Âu đặt ở trước giáo pháp của họ. A Âu là nói tướng lành để tránh tà quái, có nói đầy đủ trong Bách luận. Về ác khẩu Xa-nặc theo giới luật mà xử trị, vì ông này ỷ mình thuộc dòng vua mà khinh chê các Tỳ-kheo, theo tăng pháp lúc đó là tội khinh cười, như lá rụng bị gió xoáy thổi tụ vào một nơi, đâu cần phải luận bàn, cách Phật sau này cũng không đổi khác. Phật bảo dùng Phạm đàn gọi là mặc tẩn (ngầm đuổi) cũng nói theo cách trị tội của Phạm thiên là lập một đàn riêng, khiến người phạm tội vào ở trong ấy, các người thanh tịnh không cùng nói chuyện. Nếu biết phục thiện thì nói cho nghe kinh Na-đà Ca-chiên-diên, khiến người ấy lìa bỏ có, không, liền chứng sơ quả. Một nhà nói Tam tạng giáo lập môn “chẳng phải có, chẳng phải Không”khác với ba môn là ý ở đây vậy.

Phật dạy các Tỳ-kheo tuân trụ theo Ba-la-đề-mộc-xoa, Ba-la-đềmộc-xoa, Hán dịch là Bảo đắc giải thoát, cũng gọi là Báo giải thoát, cũng gọi Xứ xứ giải thoát.

Hỏi: Tỳ-ni nói về thời thực thời y… phần nhiều chẳng phải là nghĩa đúng sao gọi là Bảo đắc giải thoát?

Đáp: Đại luận bảo: Phật nói Tỳ-ni là muốn khiến Phật pháp được trụ lâu dài, không nên cầu thật, liền sinh tà kiến. Thời nay tăng chúng tâm không luôn nghĩ đến giới luật e rằng Phật Pháp sẽ diệt mất. Nay khiến nương vào các niệm xứ mà tu đạo, nếu lìa bỏ niệm xứ mà làm việc thì chỉ có nhiều người giữ giới để sinh lên cõi trời, người. Tọa thiền thì được định, tùy thiền mà thọ sinh. Học nói rộng pháp chỉ là trí tuệ thế tục;nếu tu niệm xứ thì mới có thể phá được bốn thứ điên đảo.

Hỏi: Kinh Thanh văn nói cần nương vào niệm xứ, còn Ma-ha-diễn dạy vô sinh để vào đạo đâu cần có Niệm xứ để quán ư?

Đáp: Đại thừa có ba niệm xứ vô sinh, vô lượng, vô tác. Nếu lìa bỏ

ba thứ này thì không phải là chánh quán. Nhưng Phật giáo tuy có nhiều mà không ngoài bán mãn. Niệm xứ sinh diệt tức chữ Bán, còn ba niệm xứ kia là chữ Mãn. Bán thì khô héo, Mãn thì xanh tươi, trong khoảng khô héo xanh tươi mà thấy được Phật tánh, trụ ở Đại Niết-bàn gọi là chư Phật pháp giới. Ngoài Niệm xứ thì không có một pháp nào vào đạo nên Phật để lại di chúc khiến nên nương vào Niệm xứ.

Biệt giải thích: Xưa phần nhiều đều dùng năm nghĩa, nay nương vào sáu nghĩa:

  1. “Như thị” là đầu mối khuyến tín¬.
  2. “Ngã văn” là đích thân nhận ý chỉ lời nói.
  3. “Nhất thời” là lúc cảm nhận giáo.
  4. “Phật trụ” là nêu Hóa chủ.
  5. “Nơi chốn” là nơi nghe kinh.
  6. “Kể người cùng nghe” là nêu chứng không phải truyền sai.

Với sáu nghĩa này là giúp việc thấy nghe cho đệ tử Phật khi ngài đã diệt độ hết nghi ngờ, tăng lòng tin, lợi mình lợi người, công thành đạo mãn, đó gọi là đầu mối khuyến tín. Sáu thứ “Như thị”… đều là khuyến tín. Như thị đứng đầu nên gọi là đầu mối. Xưa chữ “Như thị”có ba ý: Một là, nói chung; hai là, căn cứ giáo; ba là, quán tâm.

– Nói chung, ý ở chỗ khuyến tín là hiểu đúng pháp tướng, nói đúng pháp tướng, điều nói ra là chắc thật đáng tin theo. Đại luận có nói: “Phật pháp như biển cả, do lòng tin mà vào được.” Lại “Như thị” là lời khen khéo tin. Người không tin thì nói việc không phải Như thị và điều tin ấy nói là việc Như thị. Lại Đại luận nói: “Chữ Như thị là chỉ cho pháp Không có người tranh cãi.” Đức Phật dùng tâm chắc thật mà nói, đệ tử dùng tâm không vướng mắc mà nhận mới được giải thoát nên nói là Như thị. Không như ngoại đạo nói và người nghe đều dùng tâm chấp chặt vướng mắc. Hiện sống đấu tranh chết rồi vào địa ngục thì đâu thể gọi là “Như thị”. Xưa nay phần nhiều nói Như thị là văn Như thị. Văn khéo nói là “Như”, lý không sai là “thị”.

– Căn cứ giáo có bốn thứ không thể nói. Ứng cơ mà nói thì có bốn thứ:

  1. Sinh diệt.
  2. Tức không.
  3. Giả danh.
  4. Tức trung.

– Nói Nhân duyên sinh diệt “Như thị”: Đức Phật khi xưa ở thành Ba-la-nại nói về năm ấm sinh diệt, Câu lân… những người nghe nói như thế liền được ngộ đạo. Kinh này khi hiện lại quốc độ cũ để người cầu Thanh văn biết pháp hữu vi là vô thường mà được quả A-la-hán và pháp Nhãn tịnh

– Nói tức không “Như thị”: Như ở Đại phẩm nói Tam thừa đồng thấy đạo không nói năng mà đoạn dứt phiền não, kinh này bác phá Cachiên nói về năm người, hai trăm vị Tỳ-kheo nghe nói như thế mà tâm được giải thoát, tức là chỉ dạy người pháp Không có tranh cãi.

– Nói giả danh Như thị: Như kinh Vô Lượng Nghĩa nói: “Ma-ha Bát-nhã, Hoa Nghiêm, Hải Không tuyên nói Bồ-tát trải nhiều kiếp tu hành.” Kinh này cũng nói: “Dùng không chỗ thọ mà thọ nhận các thọ.” Nếu nghe nói như thế thì được Đạo chủng trí, chứng ngôi vị Bồ-tát biết rõ các căn cơ chúng sinh.

– Nói Trung đạo Như thị: Như ở Đại phẩm nói: “Phật vì thật tướng các pháp mà xuất hiện ra đời, hóa Phật cũng dùng thật tướng các pháp mà xuất hiện ra đời.” Kinh Pháp Hoa nói: “Nghĩa thật tướng các pháp đã vì các ông mà nói. Ở kinh này, các Bồ-tát đều nói vào pháp môn Bất nhị. Nếu Bồ-tát nghe nói như thế liền thấy Phật tánh, khai Phật tri kiến, trụ vào Bất tư nghị giải thoát. Phật pháp có bốn thứ Như thị nên ở đầu các kinh đều để Như thị. Hoa Nghiêm đốn giáo có nhân duyên và giả danh trung đạo hai thứ Như thị, còn Tam tạng giáo chỉ có nhân duyên sinh diệt Như thị, các kinh Phương đẳng có đủ bốn thứ Như thị, Ma-ha Bát-nhã chỉ có ba thứ, kinh Pháp Hoa chỉ có trung đạo thật tướng. Hoặc kinh Đại Niết-bàn nói chư Phật pháp giới cũng đủ bốn thứ. Kinh này cũng là Phương đẳng Đại thừa sinh tô bất định mà nói đầy đủ bốn thứ như trên đã dẫn. Kinh này đã đầy đủ bốn nghĩa như thị, nên ở đầu kinh để Như thị.

Hỏi: Lý không hai sao được có bốn thứ?

Đáp: Các pháp rốt ráo đều không có nói năng, không quyền, không thật, còn không có một thứ huống là bốn thứ. Nhưng quyền mà có thật, quyền nên nói ba, thật nên nói một, đủ cả quyền thật nên nói có bốn.

* Xét theo Quán tâm mà nói: Tức ba quán mà nói bốn Như thị. Kinh Hoa Nghiêm nói: Muốn biết tâm Như Lai chỉ nên quán tâm chúng sinh, nếu thấy tâm Như Lai liền thấy tâm chúng sinh. Như phá bỏ một hạt vi trần mà đưa ra cả đại thiên kinh quyển. Chúng sinh do một niệm vô minh, tâm nhân duyên sinh ra liền có đủ bốn lý, nếu quán tâm nhân duyên sinh diệt mà vào “không”tức sinh diệt, tức “không”như thế thì tức “giả”tức “trung”cũng có thể biết.

Hỏi: Nếu quán tâm có đủ cả bốn thì tức là Phật chăng?

Đáp: Sáu tức phân biệt, tiến lên thì không lạm bàn mà sinh tăng thượng mạn, thoái lui thì tránh được lỗi người nghèo đếm của báu.

“Ngã văn”: Tức ngài A-nan đích thân nghe pháp nên nói là ngã văn. Ngã văn cũng có ba cách giải thích:

a/ Giải thích chung, tức A-nan đích thân thừa tiếp ý lời, nếu nghe qua người khác ắt có nhiều sai lầm. Nay đích thân nghe tức là đáng tin. Nhiều người cùng nghe ắt không còn nghi ngờ. Đại luận có nói: Tùy tục mà nói tôi “ngã) hòa hợp mà nói “nghe”văn. Tùy tục nói tôi thì người học truyền pháp, lợi sinh thuận thói tục mà nói tôi, ngoài thì không trái nghi, trong không trái thật. Như dùng tiền vàng để mua đồng, bán đồng lấy tiền mua pháp, người này không cho là kỳ lạ.

Hòa hợp thì nói là nghe. Tức nhĩ căn không hư, tác ý muốn nghe, tình trần hòa hợp nhĩ thức liền sinh. Ý thức phân biệt các điều nghe thấy, nhân duyên hòa hợp nên gọi là nghe. Ngài A-nan trong thì nhĩ căn sáng nhạy, ngoài thì đối với tám âm của Phật nhận hiểu không sai, nên gọi là tôi nghe.

Hỏi: Đại luận nói: “A-nan sinh vào đêm Phật thành đạo”, còn kinh Niết-bàn nói: “Sau khi Phật thành đạo hai mươi năm, A-nan mới làm thị giả.” Vậy những kinh nói trước đó mà A-nan chưa nghe và khi Phật sắp nhập Niết-bàn vì bị ma ám nên cũng không nghe được. Vì sao đều bảo là “Như thị ngã văn”?

Đáp: Đại luận nói: “Khi A-nan sắp kiết tập pháp tạng, liền chắp tay hướng về nơi Phật Niết-bàn nói kệ rằng: Khi xưa Phật nói pháp Lúc đó con không thấy. Như thế lần lượt nghe Cho đến ở Ba-la-nại.

Việc lần lượt nghe, như kinh Xá-lợi-phất Vấn có nói: “A-nan tu thiền không quên mà được Phật giác Tam-muội, nhờ sức Tam-muội ấy mà tự có thể nghe. Lại kinh Báo Ân có nói: “A-nan xin Phật bốn điều ước, ba điều như kinh Niết-bàn nói, còn điều thứ tư là các kinh Phật nói mà chưa được nghe thì xin Phật nói lại. Phật chấp nhận, bèn nói lại các điều A-nan chưa nghe.” Lại nữa Đại luận nói: “Khi kiết tập pháp tạng thì Ưu-ba-ly… khi lên tòa cao đều nói: “Như thị ngã văn”chưa hẳn đều do A-nan nói.

Hỏi: A-nan chỉ kiết tập pháp Tiểu thừa hay cả Đại thừa?

Đáp: Người giải không đồng, có người nói chỉ kiết tập Tiểu thừa,

còn các kinh Đại thừa là do các ngài Văn-thù và Di-lặc cùng kiết tập. Lại nói A-nan cũng kiết tập kinh cả Nhị thừa và Đại thừa. Cho nên trong phẩm Phó Chúc cho A-nan, kinh này cũng thế. Còn các kinh Bất cộng là Đại Bồ-tát kiết tập. Lại nói: A-nan cũng kiết tập kinh Bất cộng của hàng Nhị thừa. Như kinh Chánh Pháp Niệm nói: “A-nan có ba thứ là A-nan Hiền, A-nan Trì và A-nan Hải.” Nay gọi là A-nan Hiền giữ Tam tạng giáo, A-nan trì giữ cộng Đại thừa và A-nan Hải giữ Bất cộng Đại thừa. Nên kinh Pháp Hoa nói: “Khi A-nan nghe Phật thọ ký cho tức thì nhớ lại tất cả pháp tạng của vô lượng ngàn ức chư Phật từ quá khứ như nay vừa mới nghe.” Cũng nên biết do bổn nguyện thì sao không thể nhớ đầy đủ giáo tạng của chỉ một Đức Phật ư?

b/ Giải thích riêng. Có hai phần:

  1. Ngã.
  2. Văn.

– Ngã lại có bốn là:

1. Xét theo Tam tạng giáo mà nói ngã: Theo Tát-bà-đa thì ngã chỉ có tên. Theo Đàm-vô-đức nói thì có giả ngã. Độc-tử-bộ nói ngã ở tạng thứ năm. Những thứ ngã ấy tuy khác nhưng tất cả đều cốt phá cái chấp thần ngã của ngoại đạo mà giả gọi là ngã.

2. Ngã theo Thông giáo: Như kinh Đại Phẩm nói: Sắc tánh như ngã tánh và ngã tánh như sắc tánh, ngã và sắc chỉ có danh tự, đều là huyễn hóa cả.

3. Ngã theo Biệt giáo: Lấy tự tại làm ngã. Khéo đối với tri kiến mà được không trở ngại, đó là nghĩa của ngã. Lại luận Nhiếp Đại thừa nói: Mình và người khác nhau mà biết, cũng nói giống mình mà biết, thì đều là nghĩa khác nhau cả.

4. Ngã theo Viên giáo: Phật tánh trung đạo là nghĩa của ngã. Trung luận nói: Phật có lúc nói ngã, có lúc nói vô ngã, trong chánh pháp của Phật thì không có ngã cũng không phi ngã. Kinh Duy-ma này nói: Đối với ngã và vô ngã mà không hai, mới thật là nghĩa vô ngã. Đại kinh có nói: Trong pháp vô ngã có chân ngã. Lại nói: Ngã cùng vô ngã tánh nó không hai, tánh không hai tức là thật tánh, thật tánh là chân ngã của hai mươi lăm hữu. Ba thứ trước là quyền ngã, còn ngã của Viên giáo là thật ngã.

Hỏi: Nếu thế thì Đại luận sao được nói là tùy thế tục mà nói ngã.

Đáp:Ba giáo tùy hữu tình há không phải là tùy thế tục ư? Còn Viên giáo nói ngã tức là Phật tánh là Không phải tùy thế tục. Ba giáo nói ngã văn đều dựa theo nhĩ căn Viên giáo mà nói ngã. Ngã tức là văn.

Vì điểm về sắc tánh mà nói chân ngã, nên lìa ngoài pháp tánh thì riêng không có tai nghe. Dùng giáo dựa theo các kinh mà nói Ngã thì nhiều ít như trước đã nói nên biết.

Văn: Theo Đại kinh cũng có bốn:

  1. Nghe cái nghe.
  2. Không nghe cái nghe.
  3. Nghe cái không nghe.
  4. Không nghe cái không nghe.

Nay e đây lấy bốn giáo mà luận về nghe.

1/ Theo tạng giáo tức nghe mà nghe, vì lấy tiểu sinh mà sinh đại sinh nên gọi là sinh sinh. Nay cũng được gọi là nghe ít mà thành nghe nhiều nên gọi là nghe cái nghe.

Hỏi: Trong Đại kinh sinh sinh là mười hai nhân duyên nối nhau không dứt, vì sao lấy đó mà giải nghĩa nghe cái nghe?

Đáp: Kinh ấy giải thích sinh đầy đủ có hai nghĩa. Nay không căn cứ theo hạnh mà chỉ xét theo lý. Nếu căn cứ theo mười hai nhân duyên nối nhau để nói về sinh sinh thì tức đối với Thánh nhân mà nghe kinh thì không tiện. Vì sao? Vì theo Tạng giáo các nhà đắc đạo sinh sinh đã hết chỉ còn có báo thân, căn trần hòa hợp nên gọi là nghe.

2/ Theo Thông giáo: Tức không nghe cái nghe. Như mộng như huyễn, điểm trên không mà nói là nghe.

3/ Theo Biệt giáo: Tức nghe cái không nghe. Việc nghe tất tự tại. Vì sao? Vì Thế đế khi chết tức là nghe cái nghe của chết mà sống thì nghe nhớ được tùy đó mà có nghe tự tại nhớ được. Nhiếp Đại Thừa luận nói hữu trần tức là phải thọ thức, đó là Biệt giáo Đại thừa nói về nghe.

4/ Theo Viên giáo: Tức là Không nghe cái không nghe. Kinh Đại Bát Niết-bàn nói: “Tướng nghe dứt mất”.

Hỏi: Nếu không có tướng nghe sao gọi là nghe?

Đáp: Nếu tướng nghe đã mất thì đều không nghe. Phật trụ ở Niếtbàn nên đều không nghe các âm thanh pháp giới. Như kinh Pháp Hoa nói: Công đức của nhĩ căn giống như tướng nghe dứt mất. Mười phương vô số Phật có tướng một trăm phước trang nghiêm vì chúng sinh nói pháp thì đều có thể nghe nhận thọ trì, huống là bậc phần chứng tướng nghe dứt mất, nghe pháp Phật mười phương cũng như mây giữ mưa ư? Bậc Diệu giác tướng nghe đã dứt mất rốt ráo, thì tất cả âm thanh pháp giới trong một lúc đều nghe đầy đủ. Nên Đại kinh nói: Nếu biết Như Lai thường không nói pháp đó gọi là bậc cụ túc đa văn. Kinh này cũng nói: Người nghe pháp Không nghe không được, dùng bốn giáo mà phán định nghĩa nghe, các kinh nhiều ít cũng thuộc loại như thế, nên biết.

Hỏi: Đại luận nói Phật pháp vô ngã, vì sao lại phân làm bốn, nếu thế thì có ngã?

Đáp: Nếu nhất định là có ngã thì sao bốn giáo khác nhau được. Còn nhất định là vô ngã thì sao kinh giáo lại có vô ngã khác nhau. Nếu không chấp nhận việc phân biệt này thì không chỉ phá hoại giáo môn phương tiện của Phật mà còn thuận theo nghĩa gốc của những kẻ bất tín nữa vậy.

c/ Căn cứ theo quán tâm thì cũng thế nên biết.

“Nhất thời” là khi bốn chúng cảm nhận giáo pháp mà được đạo. Đây cũng giúp thành cái “như thị”đáng tin. Cho nên Đại luận có nói:

“Thời gian và nơi chốn”đều giúp sự tin tưởng. Cũng có ba phần:

– Một giải thích chung:

Đại Luận có nói: Số thời gian thật ra không có ấm nhập, không thuộc về trì, chỉ tùy thế tục nói nhất thời mà không lỗi gì. Nói lúc bốn chúng cảm nhận giáo pháp được đạo mà gọi là nhất thời. Nếu theo Thông giáo mà luận, bốn chúng cùng lúc cảm nhận giáo pháp thì bắt đầu hay chấm dứt, mới hay đã từ lâu, đều gọi là nhất thời, tức lâu hay mau cũng gọi là nhất thời “một lúc nọ”. Như lời tựa giới có nói: Xuân phân bốn mùa ngày tháng làm thời gian, xuân phân thật có nhiều thời gian nhưng chỉ nói tắt lại là nhất thời. Nếu căn cứ được đạo mà nói “nhất thời”, tức ứng cơ nói giáo chỉ một sát-na nhập như khổ nhẫn, đây kể là thời gian ít nhất mà nói nhất thời. Nay căn cứ theo đây lâu hay mau đều nói chung là nhất thời, tức là một thời hạn nói pháp, chung gọi là nhất thời, việc này có năm phần:

1. Xét theo cơ phát: thì cơ phát thế thiện là thời gian dài, cơ phát xuất thế là thời gian ngắn. Tóm lại ở đây, thời gian lâu mau đều gọi là nhất thời.

2. Xét theo giáo Phật nói: Dùng ba Tất-đàn mà khởi giáo là thời gian dài, nếu dùng Đệ nhất nghĩa là thời gian ngắn.Tóm lại ở đây thời gian dài ngắn đều gọi là nhất thời.

3. Xét theo Cơ và Giáo hợp nhau mà nói nhất thời, cũng lấy thế tục và xuất thế thiện họp làm dài ngắn. Vì cơ và giáo hợp nhau không ở hai thời nên gọi là nhất thời.

4. Xét theo bốn chúng được đạo mà nói nhất thời: Thế và xuất thế dài ngắn cùng theo tên. Tóm lại ở đây thời gian dài ngắn đều gọi nhất thời.

5. Xét theo A-nan nghe kinh mà nói nhất thời: Dựa theo Phật nói kinh thời gian dài hay ngắn, A-nan nghe không phải thời gian khác nhau nên nói là nhất thời. Lại A-nan đã được Phật giác Tam-muội như trước đã nói. Lại hiểu rõ Phật vì A-nan mà nói lại tức lúc nghe kinh thì gọi là nhất thời.

– Hai là xét theo giáo:

Tam tạng giáo nói nhất thời sinh diệt, Thông giáo nói nhất thời như mộng huyễn, Biệt giáo thì phá thời gian điên đảo là hay phân biệt số thời gian không trệ ngại. Nhiếp Đại thừa luận nói số thức nhiếp cả a-tăng-kỳ, nói thế thức nhiếp cả ba đời, tức là Biệt giáo nói nhất thời. Viên giáo căn cứ theo Bất tư nghị pháp tánh mà nói nhất thời. Một thời vào tất cả thời, tất cả thời vào một thời. Như kinh này nói: Trụ vào Bất tư nghị giải thoát Bồ-tát lấy bảy ngày làm một kiếp, một kiếp làm bảy ngày. Kinh Pháp Hoa nói: Sáu mươi tiểu kiếp nói như khoảng bữa ăn. Kinh Hoa Nghiêm cũng nói: Thập Nhất thiết… Mỗi mỗi giáo đều có đủ năm thứ nhất thời, dựa theo các kinh nhiều ít giống như trên, nên biết.

– Ba là quán tâm:

Quán nhân duyên sinh diệt, khi tâm ở trong định có thể biết được các pháp tướng sinh diệt của thế gian, thì chỉ một niệm tuệ nhãn mở ra sẽ thấy rõ lý sinh diệt, nên gọi là nhất thời. Nếu không phải do định tâm thấy lý, thì tức là suy nghĩ trước biết sau nhớ tưởng điên đảo, tuy hiểu sinh diệt nhưng không thể thấy lý, nên không phải nhất thời. Nếu thể không, tuệ nhãn nhập vào Giả pháp nhãn và Trung đạo Phật nhãn thì đều là định tâm. Một niệm nhanh chóng hoát nhiên khai ngộ thấy rõ đế lý nên gọi là nhất thời vậy.

– Phật tại: Phật là người nói pháp chỉ cho hóa chủ, cũng để giúp thành việc truyền nghe đáng tin. Vì sao? Vì chín mươi sáu nhóm ngoại đạo không tin tưởng. Hàng ba thừa Thánh nhân ở riêng một mình không lột tả hết là chưa rốt ráo. Nay nói bậc Vô sư trí đại giác sáng suốt nói ra pháp đốn ngộ tín thành nghe kinh ấy ứng hợp cơ duyên chúng hữu tình đều mừng vui thỏa ý. Cũng có ba phần:

1/ Nói chung: Xưa gọi là Phật-đà, Hán dịch là Bậc Giác ngộ. Tự giác, giác tha nên gọi là Phật. Trí luận có nói: Phật-đà dịch là Bậc hiểu biết. Biết những pháp nào? Tức là biết trong ba đời các số chúng sinh và không phải số chúng sinh cùng tất cả các pháp thường và vô thường, dưới cội Bồ-đề tất cả đều hiểu biết rõ ràng đầy đủ nên gọi là Phật. Lại mười hiệu đầy đủ cũng gọi là Bậc Nhất Thiết Trí. Đức của Phật vô lượng nên cũng gọi như thế. Nay không cần giải thích đầy đủ.

– Nói về “ở tại”“Phật ở tại) là tên khác của “Trụ”. Đại luận nói:

Trong “bốn thứ oai nghi mà ở”nên gọi là trụ. Trụ có bốn thứ:

  1. Thiên trụ, tức làm ba việc bố thí, trì giới, thiện tâm…
  2. Phạm trụ, tức trụ ở định bốn thiền, bốn Vô lượng tâm, bốn vô sắc…
  3. Thánh trụ, tức trụ ở lý Ba không, Tứ đế, mười hai nhân duyên…
  4. Phật trụ, tức trụ ở Thủ-lăng-nghiêm… vô lượng Tam-muội và lực vô úy… tất cả Phật pháp. Đức Phật đắc pháp trụ ở Trung đạo, nhưng vì thương xót chúng sinh nên thị hiện trụ ở thành Tỳ-da-ly.

2/ Nói riêng: Căn cứ theo giáo, thì bốn giáo nói về Phật, lược nêu ở trên. Chỉ vì hóa độ bốn thứ căn tánh nên hiện tướng cũng có bốn. Như lúc mới thành đạo cho đến Niết-bàn cũng đều hiện bốn tướng.

– Lúc mới thành đạo, như kinh Thắng Thiên Vương nói: Khi xưa ngồi dưới cội Bồ-đề mà thành chánh giác, hoặc hiện ngồi trên cỏ, hoặc ngồi trên thiên y, hoặc ngồi trên bảo tòa, hoặc ngồi trên không trung, tức biểu hiện tướng Phật bốn giáo không đồng.

– Kế đến là chuyển pháp luân hiện tướng không đồng, ở hội Hoa nghiêm viên đốn thì hiện tướng lớn nhỏ, còn ở Lộc dả chuyển sinh diệt Tứ đế thì hiện tướng Tỳ-kheo già cởi bỏ chuỗi anh lạc. Nếu nói kinh Phương đẳng thì hiện tướng thân tôn quý trong nhà, hoặc hiện tướng thân bụi bẩn ngoài cửa, nếu nói Bát-nhã thì cũng hiện tướng thân Tôn quý trong nhà và hiện ra các tướng các thứ thân Phật. Vì chúng sinh nghi ngờ nên hiện ra thân thường tịch và phóng ra thường quang minh. Nếu nói Pháp Hoa thì chỉ hiện thân tôn quý, nếu nói Niết-bàn thì hiện đủ bốn tướng đồng với Phương đẳng. Như thế mà tùy duyên hiện các thứ thân, vừa rồi đã tóm tắt nói đủ bốn thứ thân.

– Sau đây nói thân tướng không đồng. Như kinh Tượng Pháp Quyết Nghi nói: Khi Đức Như Lai sắp nhập Niết-bàn, lúc đó đại chúng thấy ngài là hình dáng Sa-môn hoặc thấy ngài đầy đủ oai đức tướng hảo đoan nghiêm, hoặc thấy ngài ngồi hoa sen báu nói pháp môn tâm địa, hoặc thấy thân ngài như hư không không bờ mé. Vì đây không phải là việc biểu thị để nói bốn giáo. Việc làm của ngài đã xong sắp nhập Niết-bàn nên hiện tướng như thế. Kinh này đã thuộc về phương Đẳng giáo, cũng nên tùy cơ cảm mà thấy có bốn thứ thân, nên trưởng giả tử nói kệ khen rằng:

Đều thấy Thế Tôn hiện ra trước Đây là thần lực Bất cộng pháp.

Hỏi: Cả bốn giáo đều thấy nhất định như trước chăng?

Đáp: Vừa rồi nói lý tương đối ở chỗ tùy duyên. Nếu với kẻ bị chướng ngăn cản thiên kiến thì cũng có thể hiện thân thấp kém mà nói pháp cao quý, như ngài Quán Thế Âm dùng mọi hình tướng dạo khắp các quốc độ nói pháp Đại thừa huống là Đức Như Lai.

– Sau đây là dùng bốn giáo nói về nghĩa Trụ. Tức tùy giáo mà luận pháp môn không đồng. Đức Phật ở Trung đạo vì thương xót chúng sinh mà hiện ra ở thành Tỳ-da-ly.

3/ Căn cứ Quán tâm: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Muốn thấy tâm Như Lai chỉ cần quán tâm chúng sinh”. Vì sao? Vì một tâm ba quán mà viên quán ba đế thì khai Phật tri kiến, tuy có nhục nhãn nhưng gọi là Phật nhãn, cũng gọi là chủng trí. Nếu dùng ba trí không trụ vào pháp mà trụ vào Tam-muội ba đế, cũng là pháp Phật đã chứng. Phật ở trung đạo vì thương xót chúng sinh không bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu trụ vào pháp thế gian. Đây nên khéo dùng sáu tức mà phân biệt để vào yếu môn Đại thừa trọng yếu.

– “Vườn cây Am-la ở thành Tỳ-da-ly” là nói về nơi chốn, tức chỉ rõ chỗ nói kinh giúp thành việc khuyến tín vậy. Có hai phần: Nơi chốn chung là thành Tỳ-da-ly, nơi chốn riêng là vườn Am-la. Về nơi chốn chung lại có ba:

a) Căn cứ sự: Hán dịch là Quảng bác nghiêm tịnh “rộng rãi sạch sẽ”. Vì nước ấy bằng phẳng rộng rãi nên gọi là Quảng bác, thành ấp đẹp đẽ nên gọi là Nghiêm tịnh. Có sự dịch là lúa tốt, vì nơi ấy có lúa gạo tốt hơn nơi khác. Có người gọi là đường tốt. Vì nước ấy có đường xá tốt đẹp bằng phẳng ngay ngắn. Lại gọi là Ưa đạo, vì nhân dân nước ấy ưa thích chánh đạo thuần lương nhân nghĩa, không cần vua chúa, chỉ năm trăm trưởng giả cùng hành xử đạo pháp, tất cả nhân dân ở đấy đều trọng đạo đức nên gọi là Ưa đạo.

b) Đối pháp môn mà giải thích. Tùy chỗ dịch trước mà đối giải.

– Nếu là rộng rãi đẹp đẽ thì đó là pháp thân Đức Thích-ca, vì vốn ở Tịch quang nên tánh nó rộng rãi cũng như hư không, công đức trí tuệ ngài không có các uế ác nên gọi là đẹp đẽ “nghiêm tịnh”. Ngài hiện tích ở nhân gian trong cõi nước rộng rãi đẹp đẽ. Thế mới biết không phải Bổn không do đâu mà hiện tích. Cho nên khi ở cõi nước đẹp đẽ trong nhân gian thì không phải tích không thể hiển bày được bổn. Ở tạm xứ Tỳ-da-ly mà nói các Phật quốc vắng lặng như hư không để hiển bày cõi nước Giá-na thường tịch.

– Nếu nói là lúa tốt, tức bổn trụ của Đức Thích-ca, là bách cú giải thoát của Đại bát Niết-bàn. Nên kinh Pháp Hoa nói mầm mống trăm thứ lúa thóc đều lớn nhanh, nhân lớn nhanh mà hạt lúa được thành tức là diệu quả của Bách cú giải thoát là lúa tốt. Thùy tích hiển bổn giống như trước nên biết.

– Nếu nói đường xá tốt, thì đây là biểu thị đường lớn trí độ từ đó Phật đến. Nên Đại kinh nói: Ví như đường hẹp không chứa nổi hai người cùng đi. Còn đường giải thoát thì không thế, càng chứa nhiều người mới là chân giải thoát. Nay Đức Thích-ca ở trên đường lớn Pháp giới Bất tư nghị tức là chỗ dung chứa đông đảo nên gọi là đường tốt. Thùy tích hiển bổn cũng như trước nói.

– Nếu nói Ưa bình đạo, tức đạo bất tư nghị, khi tác ý mà tu không gọi là ưa thích đạo. Đạo Bất tư nghị tự làm, mặc tình chân tu, lý sáng thì đem dạy người, như đá nam châm hút sắt không duyên không nghĩ nhớ, đây là tánh ham thích đạo. Do bổn mà thùy tích nên gọi là thích đạo. Nhân tích mà hiển bổn nên ở nước ưa đạo tại nhân gian mà nói tâm tịnh thì cõi tịnh.

c. Căn cứ theo Quán tâm:

– Tức một tâm ba quán hay quán tâm tánh, liền biết tâm tánh cũng như hư không, tức đầy đủ phước tuệ hai thứ trang nghiêm, không đắm nhiễm không vướng mắc rốt ráo thanh tịnh. Đó là tâm tịnh nên cõi Phật tịnh.

– Căn cứ theo lúa tốt: Nếu quán tâm tánh tức là gốc của bách cú giải thoát thì gọi là lúa tốt. Nếu dựa theo đường xá tốt, tức như quán nhân duyên trung đạo, tức là đi trên đường lớn ngay thẳng không nạn tai, nên không có các ma đạo tặc ở vào đường này, rất cao quý nên gọi là đường xá tốt. Nếu dựa theo ưa bình đạo, tức như quán thiên chân dứt hết khổ, được Niết-bàn, thì đối với tất cả đạo pháp Không có tâm ham thích. Nay quán đạo viên chân thì ham thích tất cả tâm không chán đủ suốt mãi đời vị lai nên gọi là ưa thích đạo.

Về nơi chốn riêng: Trên nói về nơi chốn giúp làm chứng cũng đã quá nhiều. Nay nêu chỗ ở giúp tin tưởng càng rõ ràng, cũng có ba phần:

1. Căn cứ sự: Triệu Sư chú thích rằng: Am-la là tên của một loài cây có quả, lấy quả chỉ cây nên gọi là Am-la thọ, quả nó giống quả đào mà không phải đào. Lại nói qiống quả táo mà không phải táo. Lại dịch là cây khó phân biệt, quả nó giống đào mà không phải đào, táo mà không phải táo, nên gọi là cây khó phân biệt. Nghĩa này giống nghĩa trong đại kinh. Kinh nói như trái Am-la sống chín khó phân biệt. Có bốn trường hợp giải thích khó phân biệt. Có thầy nói: Cây này nở hoa, hoa sinh ra một cô gái. Người trong nước kinh dị, làm vườn nhốt lại, vườn này thuộc cô gái, cô gái giữ vườn nên gọi là vườn cây Am-la. Do nghiệp lành đời trước hun đúc nên khi gặp Phật nàng rất vui mừng bèn dâng cúng vườn cây, Đức Phật liền nhận làm nơi ở.

2. Dựa vào pháp môn: Đức Phật trụ ở đạo phẩm pháp Tổng trì nên gọi là trụ ở vườn cây Am-la. Vì sao? Vì đạo phẩm là cây, Niệm xứ là hạt giống, Chánh cần làm sinh trưởng, như ý làm mầm cây, năm Căn là rễ, năm Lực là nhánh lá, bảy Giác chi là hoa, tám Chánh đạo là quả. Từ hoa bảy Giác mà khởi tâm từ bi, vì các chúng sinh phát thệ nguyện lớn, nhân nguyện siêng làm mà phát được Tổng trì, nên nói dùng Tổng trì làm vườn.

Kinh Đại Tập có nói: Ba mươi bảy phẩm là tên Bồ-tát Bảo Cự Đà-la-ni.

Đà-la-ni, Hán dịch là Tổng trì. Vườn giữ gìn cây trái không để bị xâm phạm nên biểu thị là Tổng trì. Hoa sinh ra cô gái, tức là hoa Thất giác sinh ra cô gái từ bi. Cô gái đem vườn cúng Phật là biểu thị trong nhân Tổng trì hồi hướng về quả Phật. Đức Phật nhận ở, là do nhân thành quả, như Phật được Phật pháp mà trụ ở trung đạo. Do bổn mà thùy tích nên nói ở Am viên, dùng tích để hiển bổn nên trụ ở Am-la viên mà nói bất tư nghị vườn Tổng trì.

Cây khó phân biệt: Như Lai ở trong vườn là biểu thị Như Lai ở trung đạo, ba mươi bảy phẩm tuy không phải có, không mà giống có, không. Như Lai trụ ở lý khó phân biệt này mà thành tựu đạo phẩm qủa Phật Bồ-đề như nương vào cõi nước của diệu quả này mà có đủ bảy thứ phương tiện khó lường là biểu thị của cây khó phân biệt.

3. Căn cứ quán tâm: Ba quán quán tâm, tâm tánh không loạn động mà tu đạo phẩm, nhân đó khởi bi thệ, các thiện căn bền chắc mà thành tựu các Tổng trì, tức trụ ở vườn vậy. Cho nên kinh Hoa Nghiêm nói: “Bồ-tát có mười thứ vườn”, tức là vườn đạo phẩm vậy.

– Nếu căn cứ theo quán tâm mà giải thích khó phân biệt, thì như Đại kinh nói đủ về bốn trường hợp. Như tu ba quán quán lý Bất tư nghị khó phân biệt cũng có bốn thứ:

1/ Từ khi có quán tâm nhưng vì oai nghi còn thô lậu nên như quả Am-la trong ngoài đều còn sống.

2/ Từ khi có oai nghi tề chỉnh giống như bậc nhu hòa, nhưng tâm nội quán chưa chứng định tuệ, như quả Am-la ngoài chín trong sống.

3/ Từ khi có oai nghi chưa đủ quán, mà quán hạnh thuần thục nhập vào các môn, như quả Am-la ngoài sống trong chín.

4/ Đã tu nhất tâm tam quán mà điều phục thân khẩu, nhu hòa giống tướng đã đắc đạo. Tam quán khai phát nhập vào các pháp môn, hoặc thành quán hạnh, hoặc giống như thế thì như quả Am-la trong ngoài đều chín, thế nên hành nhân khó thể phân biệt như quả Am-la.

Hỏi: Sao được ở mọi chỗ đối pháp môn mà phán định theo quán tâm, ý Phật đâu phải thế?

Đáp: Tâm Phật như biển cả, mọi dòng nước đều đổ về, ý châu như như tùy niệm mưa báu, cũng như tấm gương sạch tùy hình ảnh đối gương đều hiện, cũng như đại địa tùy giống mà sinh trưởng. Các hình ảnh trong kinh thật khó thể biết hết. Người chấp thấy nghe tự bảo mình đã bỏ tranh luận phải quấy đâu biết rõ ý Phật, như nói trong kinh có pháp môn vô đối. Như ngài Phổ hiện sắc thân hỏi ngài Tịnh Danh rằng: Cha mẹ vợ con thân thích quyến thuộc… tất cả là ai? Đại sĩ đáp: Trí độ Bồ-tát là mẹ, Phương tiện coi như cha.

Hỏi: Ngài Tịnh Danh đã là Bồ-tát tại gia đâu cho phép là Không cha mẹ gia đình thân thuộc mà không nương cậy thờ kính?

Đáp: Tất cả đều xét theo pháp môn, nên biết không khởi đạo pháp hiện việc phàm phu. Tuy hiện việc phàm phu nhưng bên trong đều biểu thị đạo pháp cả. Cũng như nói Phật nhập Niết-bàn ở khoảng khô héo xinh tươi thì đâu thể hiểu thẳng đó là cây cối… Vả lại, lời Phật nói thành thật đều biểu hiện cho Bán mãn. Nay muốn nói pháp môn Bất tư nghị giải thoát mà không bỏ đạo pháp. Hiện tích cùng phàm phu đồng ở tại Da-ly, đâu không phải là biểu thị việc trụ pháp môn ở Cực địa. Kinh Hoa Nghiêm nói mười thành, mười vườn đâu phải chỉ là thành vườn ở thế gian. Đoạn dưới kinh này ở phẩm Bồ-tát hạnh có nói: Các oai nghi của chư Phật mọi việc tới lui đều là Phật sự. Đâu được chỉ hiểu theo việc làm mà không nghĩ việc các Thánh nhân đã quyền biến, hoặc ngầm ý phát biểu. Lại kinh Pháp Hoa có nói: Muốn nói kinh ấy phải vào thất Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, sau đó mới ở giữa bốn chúng dùng tâm vô úy mà nói.

Hỏi: Nếu kinh ấy là Pháp môn Bất đối, khi muốn giảng nói kinh ấy thì không vào điện Phật, không lên tòa Phật, không mặc áo Phật, ở giữa chúng mà nói thì có đúng ý Phật chăng?

Hỏi: Kinh Pháp Hoa Phật đã tự giải đáp nghĩa rất rõ ràng. Nay thành vườn này Phật không giải thích sao biết được ý thầy đối với pháp môn ư?

Đáp: Nếu Phật không giải thích thì không nên để ý đến, vì tất cả kinh văn đâu đều là lời Phật tự giải thích, nếu là ý riêng của mỗi thầy đâu phải đều có lỗi.

Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm là đốn giáo thì có thể căn cứ hạnh mà nói các pháp môn, còn kinh Phương đẳng này và kinh Tiểu thừa thì sao được ước quán hạnh mà nói nghĩa?

Đáp: Kinh này đã nói các giải thoát của chư Phật thì phải ở trong tâm hạnh chúng sinh mà tìm cầu. Nếu không căn cứ heo quán hạnh thì đâu thể hợp với văn này. Nếu không dùng Tỳ-da, Am viên đối với các pháp môn thì không được căn cứ quán tâm mà giải thích, sao được ở tâm hạnh chúng sinh mà tìm cầu giải thoát của chư Phật. Nếu không ở tâm mà tìm giải thoát thì sao nói được trụ vào Bất tư nghị giải thoát. Nếu không trụ vào Bất tư nghị giải thoát thì sao được nói ở mỗi lỗ chân lông đều thấy cõi Phật biến hiện tự tại, rộng như trong phẩm Bất Tư nghị. Lại há được như trong kinh Hoa Nghiêm nói: Vô lượng các thế giới đều từ tâm duyên khởi, vô lượng các cõi Phật đều từ lỗ chân lông hiện ra. Nếu nói Tiểu thừa không được dựa theo quán tâm mà giải thích, vì sao trong kinh Thanh Văn, Đức Phật vì người chăn trâu mà nói mười một pháp, tất cả bên trong đều hợp với việc quán tâm của Tỳ-kheo. Nêu rõ các điều như thế há không phải là các kinh Phương Đẳng và Tam tạng giáo kinh đối với Quán tâm mà nói nghĩa các pháp môn ư?

Hỏi: Ba quán bốn giáo trên đã giải thích kinh này thì nói quán trước nói giáo sau mà vào văn, sao được nói giáo trước nói quán sau?

Đáp: Luận từ ý chỉ sâu kín, còn giáo từ quán mà ra, như phá hạt vi trần lấy ra đại thiên kinh quyển. Vào văn giải thích là tự sự mà vào lý, cho nên trước cần bốn giáo mà giải thích kinh văn. Tìm văn vào lý ắt cần quán hạnh, nên kế đó là nêu ra chương môn ba quán, thì một phẩm, một kệ, một câu cũng đều vào pháp môn Bất nhị và trụ vào Bất tư nghị giải thoát cả…

– “Cùng chúng Đại Tỳ-kheo tám ngàn người đều tập hội”… từ đây trở đi là phần thứ sáu nói về chúng cùng nghe. Đây là chứng cớ ngài Anan và các Thanh văn, Bồ-tát, Thiên long, Bát bộ, tứ chúng cùng nghe đâu thể truyền sai. Ở đây có ba: Chúng Thanh văn, chúng Bồ-tát và tạp chúng.

Hỏi: Nếu lấy nhỏ làm đầu thì phải nói Thiên long trước, nếu lấy lớn làm đầu thì trước phải nói Bồ-tát chứ?

Đáp: Tiểu thừa xuất gia được đạo vì cảm ân sâu của Phật nên thường ở bên Phật mà hầu hạ thờ kính, tự giữ giới hạnh được mọi người quy kính, là nghĩa gần làm chứng cho kinh nên cần phải nói trước. Còn Bồ-tát hóa độ người không luôn ở bên Phật, chỉ hóa quang làm lợi ích muôn vật thật khó suy lường, người đời chỉ thấy Tích không biết rõ Bổn là nghĩa xa về chứng tín nên phải nói kế. Hàng Thiên long tứ chúng các kiết hoặc chưa dứt cũng còn địa vị phàm phu, trong không có công được đạo, ngoài thiếu việc độ người mà việc làm chứng cớ cho kinh rất kém nên phải nói sau. Lại nữa, việc này còn biểu thị ý hàng Nhị thừa còn chấp Không, phàm phu chấp có, riêng Bồ-tát không trệ ngại, thường hành bất nhị, nên nói ở khoảng giữa. Nên Đại kinh có nói: “Phàm phu chấp có, Nhị thừa chấp Không. Còn Bồ-tát là người chẳng không chẳng có.”

Hỏi: Vì sao không khen đức của Thanh văn?

Đáp: Các sự hiểu theo lời nói đã bị quở trách là Không có đức để khen. Nay bảo không phải thế vì Bồ-tát cũng bị trách nhưng sao lại được khen? Lại kinh Kim Cang Bát-nhã cũng không khen đức mà không phải bị quở trách. Nay e là kinh nói còn có chỗ lược bỏ. Lại nói chỉ một chữ “Đại”liền là tóm tắt khen đức. Đại luận có nói: Nếu nói Tiểu thừa chỉ nói chúng Tỳ-kheo, nói Ma-ha-diễn không phải chỉ là Tỳ-kheo ắt phải là Bồ-tát. Như kinh Kim Cang Bát-nhã chỉ nói Tỳ-kheo mà không nói Bồ-tát đâu có thể Kim cang là kinh tiểu thừa. Ấy chỉ là người dịch kinh lược bỏ. Ý không khen của kinh này nên biết.

1/ Nói chúng Thanh văn: Trước nói Tỳ-kheo tức là nói chung về nhiều loại người, như Hồ và Việt không đồng. Theo phép Phật xuất gia đều gọi là Tỳ-kheo. Đây giải thích có năm: Và, Đại, Tỳ-kheo, chúng và số”tám ngàn”.

2/ Giải thích “Và”, kinh này nói “và”, Đại phẩm nói “cùng”, và  tức là cùng.

Đại luận nói bảy thứ một mà gọi là cùng: Một chỗ, một lúc, một giới, một tâm, một thấy, một đạo, một giải thoát. Nếu giải thích kinh Pháp Hoa thì cần xét theo Bổn tích. Nay kinh này chưa phát tích chỉ là việc nhân duyên hiểu quán hạnh mà thôi. Một chỗ là đồng ở Am viên; một lúc là lúc hội họp; một giới là đồng được vô tác; một tâm là đều được chín định; một thấy là đều thấy Tứ đế; một đạo là đều được bậc vô học; một giải thoát là đều chứng vô dư.

3/ Giải thích Đại”, nếu theo bản chữ Phạn thì gọi là Ma ha. Đại luận nói: Gọi là Ma-ha hoặc Đại, hoặc Hơn, hoặc Nhiều. Vua chúa kính trọng nên gọi là Đại, hơn chín mươi sáu thứ nên gọi là Hơn, số đến tám ngàn nên gọi là Nhiều. Nay nói ngoại đạo có ba thứ: Một là nhất thiết trí; hai là thần thông; ba là Vi-đà. Nếu đủ ba thứ này thì gọi là đại ngoại đạo. Phật phá việc này nên đối Tam tạng giáo mà nói ba niệm xứ, gọi là tánh, cộng, duyên. Ai tu ba thứ này không những chỉ phá ba thứ ngoại đạo mà được nhập vào Tánh địa, khi chứng quả thì được ba thứ giải thoát, đó là tuệ được giải thoát, tâm được giải thoát và bậc được vô ngại giải thoát. Gọi là đại Tỳ-kheo hay đại La-hán.

Nếu Biệt đối giải thích thì được tuệ gọi là đại, được tâm gọi là hơn, được vô ngại gọi là nhiều, cả ba thứ đầy đủ thì gọi là Ba-la-mật.

Thanh văn thành tựu tất cả công đức của La-hán nên gọi là Đại.

Hỏi: Được tuệ giải thoát liền gọi là đại, sao cần phải đủ ba thứ?

Đáp: Như ba đức đầy đủ nên gọi là Đại Niết-bàn, mà Ma ha Bátnhã cũng nhận được tên đại. Tam tạng giáo, Thông giáo mỗi thứ có bốn môn họp thành tám loại đều gọi là Ba-la-mật Thanh văn nên gọi là đại. Nếu xét theo quán tâm thì tức căn cứ ở phân tích thể từ giả nhập vào Không mà nói quán, tám Tỳ-kheo này, Tỳ-đàm, Thành luận mỗi thứ có một nghĩa đại Tỳ-kheo, sáu thứ khác không nói.

c. Giải thích về Tỳ-kheo: Hoặc nói có dịch hoặc nói không dịch.

Nói có dịch, tức dịch là Trừ cẩn “trừ đói”, tức chúng sinh bạc phước do nhân không có pháp để tự giúp mình được nhiều báo lành mà bị nhiều thiếu đói. Xuất gia giữ giới là ruộng phước lành hay sinh mọi vật tốt lành, dẹp trừ nhân quả đói nghèo.

Nói không dịch, thì tên này gồm ba nghĩa. Trí Độ luận nói là phá ác, bố ma, khất sĩ.

Phá ác: Như lúc đầu được giới liền gọi là Tỳ-kheo, dùng ba phép Yết-ma phát thiện luật nghi và phá ác luật nghi nên gọi là phá ác. Nếu chung về hạnh giải mà tu giới, định, tuệ. Giới để ngăn phòng hình phạt. Định để trừ tâm loạn. Tuệ để hiểu rõ tưởng hư dối luôn phá bỏ ác của kiến tư, nên gọi là phá ác.

Bố ma: Đã có thể phá ác thì Ma-la sẽ nghĩa rằng: Người này không chỉ ra khỏi cõi ma ta mà nếu có truyền đăng hoằng hóa thì bạn bè quyến thuộc ta sẽ bỏ trống cung điện này, nên sinh kinh sợ. Nói chung thì ba thứ ma cũng sợ.

Khất sĩ: Khất là xin, sĩ là chỉ người thanh nhã. Người xuất gia trong tu đức thanh nhã ắt cần tránh xa bốn thứ tà, sống đời thanh tịnh làm phước lợi cho chúng sinh, phá tâm kiêu mạn mà nhún nhường khiêm tốn, tự hạ mình xin ăn để nuôi sống, hoàn thành đức thanh nhã nên gọi là Khất sĩ. Lại giải rằng: Phá ác là nghĩa chánh, hai nghĩa kia giúp thành. Vì sao? Vì thọ giới là để phá ác nghiệp của thân khẩu. Bố ma tức phá sự ưa thích việc xấu ác. Khất sĩ là phá tính kiêu mạn ganh ghét.

– Căn cứ theo quán hạnh, thì thứ lớp từ ấm, giới, nhập mà cầu pháp hỷ thiền duyệt, giúp nuôi vô lậu tuệ mạng, thàng tựu đức tận vô sinh trí đoạn, nên gọi là Khất sĩ.

Đoạn văn dưới trách ngài Thân Tử “Xá-lợi-phất) rằng: Phật nói tám giải thoát, nay Nhân giả vâng làm đâu thể muốn bỏ ăn uống mà nghe pháp ư? Đây đủ ba nghĩa: Một là Sát tặc, từ phá ác mà được tên; hai là Bất sinh, từ bố ma mà được gọi; ba là Ứng cúng, nhân khất sĩ để thành tựu đức. Nói thẳng về Tỳ-kheo thì lớn nhỏ chưa nhất định, hoặc ở địa vị người học thuộc ngoại phàm tánh địa. Nay nói đại tức là đại La-hán, nên biết một chữ đại là bao gồm hết tất cả, tức tóm tắt mà khen đức.

d. Giải thích chung: Tiếng Phạm nói Tăng-già, Hán dịch là chúng. Đối với một Tỳ-kheo không gọi là chúng, nhiều người họp chung nhau mới gọi là chúng. Luật nói bốn người trở lên đều gọi là chúng. Như nhiều cây cùng tụ hợp nhau thì gọi là rừng. Trí luận nói: Tăng có bốn thứ:

1- Ngu si Tăng : Tức là Tăng phá giới phóng túng.

2- Á dương Tăng: Tuy có giữ cấm giới nhưng không thể phân biệt rõ về ba học và tướng khai, giá, thông, tắc. Có người nghi hỏi xin giải quyết thì nín câm không đáp cũng như dê câm.

3- Hữu tu Tăng: Nếu người xuất gia tu giới, định, tuệ, cũng hay phân biệt hiểu biết vì người khai quyết, nhưng chỉ vì chưa phát chân, vẫn còn ở vị nội ngoại phàm, tự thẹn chưa thể thành tựu được Thánh pháp, nhầm rơi vào hàng Tăng, bốn sự luôn kính giữ, thường hỗ thẹn tự trách mình cũng gọi là sự hòa tăng.

4- Chân thật Tăng: Từ khổ nhẫn đến bốn quả Thánh nhân đều gọi là Chân thật Lý hòa Tăng.

Hai loại Tăng trước tuy có tên Tăng nhưng không hòa hợp, không kham được việc Tăng. Hai loại Tăng sau đảm nhận được Tăng nghiệp.

Giải thích “Số”: Số có tám ngàn, nghĩa nên biết. Đối hạnh mà nói số ý rất khó thấy. Nói Bồ-tát đây là phần thứ hai nói chúng Bồ-tát để làm chứng cho việc cùng nghe, đâu chỉ có Thanh văn mà cũng có Đại Bồ-tát đến ba vạn hai ngàn vị, đích thân nghe diễn nói không phải là truyền sai. Bồ-tát có năm:

    1. Loại.
    2. Nói về số.
    3. Khen đức.
    4. Nhiều tên.
    5. Tổng kết.

1. Nói về Loại:

Phàm người tu Đại thừa gọi chung là Bồ-tát, đó là khí loại của người tu hạnh Đại thừa. Nói đủ theo tiếng Tây Vực là Bồ-đề-tát-đỏa. Ngài La-thập sợ dài nên lược bỏ hai chữ Đề, Tỏa mà gọi là Bồ-tát. Việc dịch không đồng. Luận A-tỳ-đàm nói: Tự giác giác tha gọi là Bồ-tát. Có người nói Bồ-đề là Vô thượng đạo, Tát-đỏa là đại tâm, gọi Vô thượng đạo đại tâm là người này phát tâm rộng lớn vì chúng sinh cầu đạo vô thượng nên gọi là Bồ-tát. An Sư gọi là Khai sĩ Thủy sĩ “người khai hóa đầu tiên”. Lại dịch là Đại đạo tâm chúng sinh. Bản xưa dịch là Cao sĩ. Có nhiều từ dịch khác vẫn còn giữ âm Phạm. Nay theo Đại luận mà giải thích thì Bồ-đề là Phật đạo, Tát-đỏa là thành chúng sinh, dùng các Phật đạo mà thành tựu chúng sinh nên gọi là Bồ-đề Tát-đỏa. Lại Bồ-đề là tự làm, Tát-đỏa là độ người. Tự mình tu đạo Phật rồi đem độ người khác nên gọi là Bồ-tát. Nếu không như thế thì việc tu trì của mình không giúp ích khai tuệ cho ai. Chỉ có hàng Tam thừa đồng tên Bồ-đề của Nhị thừa mà không gọi là Tát-đỏa, vì họ không có lòng từ bi cứu giúp muôn loài nên không nhận được danh hiệu ấy. Vậy tuy lược bỏ hai chữ nhưng rất khác hàng Nhị thừa, nghĩa rấr rõ ràng.

2. Tạng Thông kiến chân gọi chung là đạo mà không gọi là Tát-đỏa.

Biệt, Viên kiến chân như nam châm hút sắt, không phải chỉ gọi là Bồ-đề mà cũng gọi là Tát-đỏa. Nên Đại kinh có nói: Nhất thật đế tức là Đại thừa, nếu không phải Đại thừa thì không phải là Nhất thật đế.

Hỏi: Hai loại Bồ-tát trước không gọi là Tát-đỏa thì có gì khác hàng Nhị thừa?

Đáp: Vì họ có một ít hạnh nguyện từ bi nên khác với hàng Nhị thừa.

Tứ giáo Bồ-tát có đầy đủ nghĩa trên. Kinh này phần nhiều lấy ý diễn ba giáo mà giải thích khen đức. Không dùng Tam tạng giáo không phải là chánh ý Đại thừa. Có lúc dẫn ra làm chánh là vì muốn so sánh để phán quyết đại tiểu không đồng nhau.

Quán tâm nói Bồ-tát là căn cứ theo ba quán mà phân biệt, phân tích thể nhập không khởi tâm đại bi cũng gọi là Bồ-tát, sau tu hai quán tùy ý tự tại tức là nghĩa Bồ-tát.

– Luận về số ba vạn hai ngàn là theo việc, biểu thị cho pháp khó thấy trước nay chưa ai đối định được.

3. Khen đức Từ “chúng đều quen biết”có ba phần: Chung, riêng và kết.

a. Nói chung về khen đức, tức là phần đầu khen đức, nếu không có đức tự hành hóa tha thì đâu được nhiều người quen biết. Các bậc đại sĩ này tùy duyên hóa độ, rãi đức khắp nơi mười phương chúng sinh không ai không quen biết. Nghe tên kính đức là quen, thấy hình kính thờ là biết. Chỉ vì chúng sinh có bốn thứ căn tánh, Bồ-tát bèn dùng bốn cách để giáo hóa mà có được bốn thứ quen biết “tri thức) theo Tam tạng giáo, thì hạnh ba tăng-kỳ đã tu xong các tướng trăm kiếp, tướng đại nhân hiện ra muôn vật đều quy kính nên gọi là chúng đều quen biết. Bát địa Thông giáo ở Đạo và Quán cùng tu thần thông lợi ích muôn loài nên chúng đều quen biết. Bậc Đăng Địa ở Biệt Giáo, bậc Sơ trụ Viên giáo, Như Lai một thân hoặc vô lượng thân hiện khắp mười cõi giới tùy duyên lợi vật nên chúng đều quen biết. Người chưa khắp rộng suốt mười phương ba cõi được tất cả kẻ hữu duyên quen biết. Nay các Bồ-tát đều là bậc bổ xứ mà khắp rộng suốt tất cả kẻ có duyên đều quen biết nên nói là chúng đều quen biết.

– Nếu căn cứ theo quán tâm, thì ba quán tâm sáng lên liền được khen là bậc cao đức, nên nghe tên kính đức, thấy hình đều kính thờ mà được chúng đều quen biết.

b. Riêng khen đức: Từ “Đại trí Bản hạnh”trở đi chia ba phần:

  1. Lược khen đức tự tha.
  2. Rộng khen đức tự tha.
  3. Lân quả khen đức.

c. Lược khen đức: Có hai

  1. Lược khen tự hành.
  2. Lược khen hóa tha.

Lược khen tự hành. Lại có hai: Chánh khen và giải thích khen.

– Chánh khen tự hành: Hai câu đầu nói về chánh khen, tức là Đại trí bản hạnh. Hiểu như đây hoặc căn cứ một pháp, hoặc căn cứ hai pháp.

– Căn cứ một pháp, thì đại trí tức là Bản hạnh, theo bản mà khởi trí thì trí tức là hạnh, nên nói là Đại trí bản hạnh. Nên kinh Pháp Hoa có nói: Các pháp xưa nay tướng thường tự tịch diệt “vắng bặt”. Phật tử đã hành Đạo đến đời sau sẽ được làm Phật. Kinh Duy-ma này nói: Từ gốc vô trụ mà lập tất cả pháp. Như Nam độ cựu giải phần nhiều đều từ tám địa căn cứ vị mà giải thích thỏa đáng. Các sư ở phương Bắc từ sơ địa căn cứ vị mà giải thích. Ngài La-thập từ dưới dần lên lần lượt khen ngợi.

Vì giải thích không đồng nên không dám riêng dùng. Vì sao? Vì các sư ở phương Nam dẫn oai thần mà lập văn chứng nên biết trước khen tám địa. Còn các sư ở phương Bắc thì dẫn bảy Ba-la-mật làm chứng mà khen ngợi sơ địa cho đến thất địa. Mỗi lần dẫn chứng kinh văn đều là tiện lợi, nếu muốn dung hòa nhau thì càng trái nhau nhiều. Chỉ theo văn kinh đối các địa các nơi đều có thì chưa đủ quyết định chấp cho là đúng ý người kiết tập kinh. Nay cho rằng thường phần nhiều là khen đức của thượng địa. Nếu khen thượng địa ắt gồm cả hạ địa. Vì sao? Vì luận chung các hạnh là đồng nhau, nhưng thượng địa là phẩm hơn, hạ địa là phẩm kém. Nay lấy hơn bao gồm kém thì không thể thượng hạ cùng khen. Như khen Đại trí bản hạnh thảy đều thành tựu, mà kim cang trí đầy đủ mới gọi là thành tựu, vậy đâu thể khen hạ địa. Như khen bậc Sư tử hống bèn như sấm vang. Hạ địa cũng có lời khen này, đâu chỉ riêng khen thượng địa, cho nên biết phân biệt thì ắt cùng có lỗi.

Hỏi: Đã gần bậc Vô đẳng đẳng há không phải khen thượng địa?

Đáp: Nay nói các đức đều là khen bậc thượng địa cần phải căn cứ theo lân cận quả. Từ: “Cho nên… trở đi” là kết rằng: Như thế tất cả công đức đều đầy đủ. Nếu kể chung với lời hạ địa vô đẳng là căn cứ heo đối đãi mà nói có gần xa. Như kinh Pháp Hoa nói “hành xứ cận xứ”, hạ địa cũng gọi là gần. Hoa Nghiêm nói trí tuệ của hàng Thập địa như đất trong móng tay, còn trí tuệ của chư Phật cũng như đại địa, đây rất khác xa. Nay theo Ba giáo hành loại của Bồ-tát là đồng, mà giáo có chủ đều có cạn sâu. Từ Bát địa của Thông giáo trở đi là chỉ dựa vào hai đế mà phẩm có hơn kém. Nếu căn cứ theo Bổ xứ thì tự gồm cả vị dưới. Từ đăng Địa của Biệt giáo trở đi tức là địa của ba đế nhập vào Phật trí, hạnh loại là đồng nhau. Chỉ dựa theo phẩm sâu cạn mà phân biệt địa có hơn kém. Nếu khen Bổ xứ tức là gồm nhiếp cả địa dưới sơ trụ của Viên giáo, ba đế viên hiển có đủ tất cả công đức của chư Phật, chỉ có phẩm vị không đồng không có hơn kém. Nếu khen bậc Đẳng giác tức đều gồm nhiếp cả địa dưới. Chỉ các Bồ-tát ngoại đạo tùy chỗ cảm mà thấy nghe không đồng, bên trong thì bổn tích cao thấp khó lường, đâu có thể chấp nhất định. Không phải chỉ căn cứ vào giáo mà phân biệt công đức pháp môn của Bồ-tát. Hoặc có lúc bên trong họp quán tâm muốn khiến cho hành giả biết thắng diệu công đức đều từ tâm mà ra, ấy là giải thoát của chư Phật đều từ tâm hành chúng sinh mà tìm cầu.

– Nếu căn cứ hai pháp mà khen thì Đại trí khen giải, Bản hạnh khen hạnh. Nếu giải hạnh cùng thiếu thì như mắt và chân đều mất, không đến đâu được. Nếu giải hạnh đều đủ thì Như có đủ mắt và chân mà đến ao tắm, nên cần khen cả hai. Do đó khen giải rằng: Đại trí chỉ là quán giải, như vào Không ra giả hai trí phương tiện không gọi là đại, trung đạo mà quán giải nhất thiết chủng trí mới gọi là Đại trí. Nên Đại luận có nói: Ta nay sức biết muốn diễn nói nghĩa đại trí bỉ ngạn thật tướng. Nên biết đại trí tức là quán cái quán các pháp thật tướng. Nói Bản hạnh tức là khen hạnh, từ gốc Đại trí nhất tâm đầy đủ các Ba-la-mật. Nên trong Đại phẩm nói: “Các pháp tuy không mà có thể nhất tâm đầy đủ muôn hạnh.” Kinh Kim Quang Minh cũng nói: “Nhất thiết chủng trí mà làm căn bản thì vô lượng công đức đều được trang nghiêm.”

Nên biết tự hạnh tuy có nhiều môn, nhưng chỉ lược khen giải hạnh thì ngang dọc các đức đều lấy.

Hỏi: Bồ-tát chưa chứng được cực quả sao được nói tất cả đều thành tựu?

Đáp: Quả hạnh chưa đủ nhân hạnh đã tròn nên nói là thành tựu. Nhưng xét theo giáo thì nghĩa thành tựu không đồng.

Theo Tam tạng giáo, lúc đầu duyên với Tứ đế sinh diệt mà phát thệ gọi là đại trí, tu hạnh sáu độ gọi là bản hạnh, nghiệp chủng tướng thành tựu nên gọi tất cả đều thành tựu.

Theo Thông giáo, lúc đầu duyên với vô sinh mà khởi thệ gọi là Đại trí. Ba sự của Đàn “bố thí) rỗng, không cho đến Bát-nhã gọi là bản hạnh. Thập địa như Phật nên gọi tất cả đều thành tựu.

Theo Biệt giáo: Lúc đầu duyên với vô lượng sinh giải “hiểu) gọi là Đại trí, làm vô lượng Ba-la-mật gọi là bản hạnh, chứng Thập địa Đẳng giác, nên gọi tất cả đều thành tựu.

Theo Viên giáo: Lúc đầu duyên với vô tác mà phát tâm, gọi là Đại trí, nhất tâm đủ muôn hạnh gọi là bản hạnh, chứng Thập địa Đẳng giác, biên tế trí đầy đủ, các việc rốt ráo nên gọi tất cả đều thành tựu. Về quyền thật cũng biết được.

Nếu quán tâm mà hiểu, xét theo ba quán mà nói: Quán đầu, quán sinh diệt Tứ đế, phát tâm đại bi mở nguyện lớn gọi là đại trí, dùng quán hạnh lục độ tức là bản hạnh. Đây là tích Giả vào Không quán của Tam tạng giáo, còn thể giả của Thông giáo, Nhập giả của Biệt giáo, Nhất tâm của viên giáo, tìm theo đó có thể biết.

Giải thích khen: “Hai câu chư Phật oai thần”. Cũng thêm việc thành tựu hóa tha. Đây là chính nói Phật gia hộ. Kinh Kim Cang có nói: Ở thân Bồ-tát, Phật cho sức công đức trí tuệ nên gọi là gia hộ. Nay nói giải hạnh có nhân tròn đủ là do oai thần chư Phật lập ra, trí tuệ giúp cho giải mà đại trí được thành, công đức thêm cho hạnh bản hạnh được thành. Nội nhân tuy là Bồ-tát tự tu, ngoại duyên thì ắt nhờ chư Phật ngầm hộ. Cũng như hạt giống bên trong tuy có nhân sinh sản, ngoại đạo nếu không có các duyên đất, ánh sáng, gió mưa… thì đâu có thể thành hạt. Bồ-tát cũng thế, dù có nhân từ bi trí tuệ, tinh tấn thiền định tự hành hóa tha, nếu không nhờ đất từ bi, ánh sáng trí tuệ, gió thần thông, mưa nói pháp của chư Phật… thì nhân tự hành hóa tha đâu thể tròn đủ. Như bóng chim đại bàng che phủ con mau lớn. Nên kinh Hoa Nghiêm có nói: “Bát địa sắp chìm vào Không phải có Phật gia hộ thì quán mới được phát khởi.” Nếu căn cứ theo quán tâm, thì khi tu ba quán ắt cần sám hối thỉnh mười phương Phật. Nếu tâm chí thành thì Phật sẽ gia hộ tự nhiên hạnh thành. Đời có tà kiến, người học thiền chỉ tin tâm có Phật mà không tin vào các oai thần chư Phật gia hộ. Đây là chánh giải thích đoạn trước, phụ thành tựu việc hóa tha ở sau.

Nếu thêm việc hóa tha như kinh Hoa Nghiêm nói: Bồ-tát Pháp Tuệ nói Thập trụ, chư Phật phóng quang gia hộ mới nói được. Cho đến ngài Kim Cang tạng nói thập địa cũng thế. Đây tức thành tựu về sau là thành trì hộ pháp. Nếu căn cứ theo quán tâm , khi ba quán đã thành mà muốn lợi vật thì cần nên sám hối thỉnh mười phương oai thần hiện ra có cảm ứng gia hộ để tùy chỗ lợi sinh, như gió thổi rạp cỏ.

Lược khen đức hóa tha: Từ “ là thành trì hộ pháp”trở đi có ba phần:

  1. Khen tâm hóa tha.
  2. Khen công thành.
  3. Giải thích khen.

Khen tâm hóa tha: “Hai câu đầu”. Phật pháp như thành trì có thể phòng trừ cho người tu các địch hại, tai nạn, nên gọi là thành. Nếu giữ gìn Phật pháp tức giữ thành. Lại hiểu pháp ấm nhập giới, pháp này tức không, lý tức không gọi là thành Niết-bàn. Chúng sinh là vua, mà chủng tánh đầy đủ hằng sa Phật pháp, như người và vật trong thành. Nên kinh có nói: “Tất cả chúng sinh tức Đại Niết-bàn, tức tướng Bồ-đề”. Nhưng diệu lý này, ngoài thì bị thiên ma ngoại đạo phá hoại, trong thì bị các kiến tư của Thông biệt giáo xâm phạm, Bồ-tát vì hộ trì thành Niết-bàn vốn có của chúng sinh, khiến không vọng khởi các ái kiến. Thọ trì chánh pháp tức chánh pháp của bốn giáo. Bồ-tát từ mười phương Phật nghe giáo pháp này mà được Đà-la-ni. Tổng trì không quên gọi là thọ trì. Đem dùng pháp này mà hàng phục ma, chế trừ ngoại đạo và phá các nội ngoại ái kiến cùng các giặc phiền não cho chúng sinh mà giữ thành Niết-bàn. Khiến các chúng sinh Pháp vương chủng tánh đều được an ổn, hằng sa Phật pháp Không bị tan mất nên gọi là Hộ pháp thành trọ trì chánh pháp.

Dựa theo quán tâm: Thì giả không không giả là hộ trì tiểu Niếtbàn, giả trung trung giả là hộ trì Đại Niết-bàn.

Chính khen hóa tha công thành: “Hai câu năng sư tử hống…” Đại kinh có nói: Phật tánh, gọi là sư tử hống Tam-muội. Bồ-tát trụ ở Tammuội này mà có thể sư tử hống. Sư tử hống, gọi là vô úy thuyết… Nếu xét theo quán tâm, khi ba quán đã thành thì việc làm đúng như lời nói, nói về bốn giáo tâm không khiếp sợ, như con của sư tử khi đầy đủ ba tuổi có thể gầm thét.

Nói: “Tiếng đồn mười phương…”đây cũng là công hóa tha đã thành. Công hóa tha đã thành thì mười phương đều mong nhờ lợi ích, cùng tuyên dương tiếng đồn vang xa như đại tướng phá địch, công danh cái thế.

Chúng nhân không thỉnh” là giải thích hóa tha.

Hai câu đầu là giải thích tâm hóa tha để làm thành trì hộ pháp. Bồ-tát vì bi nguyện đâu đợi thỉnh mời, như giặc dữ vây hãm các quan viện, đại tướng phải cấp tốc cứu nguy, đâu đợi người trong thành đến mời thỉnh.

Hỏi: Nếu Bồ-tát là bạn chẳng cần mời thỉnh, thì vì sao Phật lại đợi Phạm vương Thiên đế thỉnh chuyển pháp luân?

Đáp: Bồ-tát còn chẳng đợi mời huống chi Phật. Nhưng vì nghi lễ nói pháp là ân nặng của muôn loài nên cần phải đợi thỉnh.

Hỏi: Bồ-tát chẳng đợi thỉnh, phàm người có tâm ắt đến ứng cứu chăng?

Đáp: Người có duyên liền đến không đợi thỉnh, ai chưa an thì khiến được an. Đây là giải thích thọ trì chánh pháp. Người đời cùng kẻ đồng chí làm bạn. Bồ-tát khéo léo hòa đồng căn duyên với vật cùng tu Tứ đế ai nấy đều được đạo quả vô lậu. Nên kinh Pháp Hoa nói: “Chúng ta hai người cùng làm việc của ông.” Nếu khai quyền hiển thật thì đồng ngồi xe Phật mà đến thẳng đạo tràng. Đây tức là thân làm bạn pháp “mà khiến được an” là kẻ chưa an Đạo đế thì khiến cho an. Như thế bốn thứ chúng sinh khiến an bốn thứ Đạo đế. Nếu khai quyền hiển thật thì đều khiến cho an trụ ở vô thượng Niết-bàn, cho nên nói làm bạn mà khiến được an. Nếu căn cứ theo quán tâm Tích thể, Nhập không, Giả danh, Trung đạo, bốn thứ tâm này không mời ba quán, mà ba quán tự quán tức là nghĩa bạn không đợi mời. Quán phân tích thành tâm khiến tâm này trụ ở bốn Đạo đế, tức là làm bạn mà khiến cho an.

Chánh giải thích: “Hai câu Thiệu long Tam bảo…”khi công hóa tha đã thành có thể làm sư tử hống tiếng đồn mười phương. Bồ-tát dùng tâm vô úy nói bốn giáo tức là: “Nối thạnh bốn thứ Tam bảo”. Nếu nhanh chóng hợp Viên cơ thì liền vào Phật tuệ. Sơ tâm thành tựu nhất thể Tam bảo tăng tiến mãi không gián đoạn cho đến an trụ vào Diệu giác trạm nhiên. Đây tức là Đại thừa nhất thể Tam bảo thường trụ mãi không dứt, nên nói khiến cho không dứt mất.

Nếu Tiệm giáo phó cơ thứ lớp nói không dứt mất, là từ đầu Tam tạng giáo cho đến Viên giáo Nhất thể Tam bảo không dứt mất, giáo quyền thật lần lượt khởi lên và dẹp đi. Cho nên Bồ-tát dùng bốn giáo Tam bảo này mà tiếp dẫn chúng sinh khiến Phật chủng không dứt mất, đều khiến họ an trụ vào Đại Niết-bàn thường trụ Tam bảo. Đều là công năng Bồ-tát nói pháp, tức là làm sư tử hống. Công hóa tha quy về mình tức là tiếng đồn khắp mười phương, cho nên nói nối thạnh mãi không dứt.

Nếu xét theo quán tâm nối thạnh mãi không dứt, tức nếu Phật còn ở đời thì việc nối thạnh Tam bảo như trước đã nói. Nếu Phật đã diệt độ thì đem Phật pháp phó chúc cho hai chúng đệ tử, do đó mà vua Ưu-điền tạo tượng, vua Xà-thế kết tập, vua A-dục độ người. Nếu thế thì Tam bảo tương tùng không dứt mất, khi Đức Di-lặc ra đời thì chân chánh Tam bảo, Nối thạnh không dứt, sau khi Đức Di-lặc diệt độ rồi thì cũng như thế. Nếu người tu hành từ nay đến hết đời mạt pháp mà tạo tượng viết sách Đại thừa, độ người xuất gia tức là giúp Tam bảo nối thạnh mãi không dứt. Nếu trụ vào tâm ba quán mà quán tưởng Tam bảo tương nối theo này không bị trệ ngại vào hàng không hữu, thì Đệ nhất nghĩa nhất thể Tam bảo kia nối thạnh mãi không mất. Nên kinh có nói: “Kính tượng như Phật sống thì công đức cũng như thế”. Nên văn kinh nói: Không lìa văn tự mà nói tướng giải thoát. Lìa tánh văn tự tức là giải thoát, giải thoát tức là các pháp. Kinh Hiền Ngu có nói: “Ở đời vị lai có nhiều Tỳ-kheo phá giới thì cũng nên cung kính cúng dường như đối với các ngài Xá-lợi-phất hay Mục-kiền-liên và công đức có được cũng nhiều vô lượng”. Nối thạnh Tam bảo công đức lớn nhất, ví như đại thần quản lý việc quốc gia thì công trạng rất lớn. Bồ-tát nối thạnh giống Tam bảo khiến mãi không dứt mất, thì công đức vô lượng, mười phương chư Phật nói mãi cũng không hết. Hàng phục các ma oán, hai câu này tức giải thích việc nối thạnh mãi không dứt. Chỉ vì chúng sinh trong có ái kiết, ngoài có quỷ thần sáu cõi thiên ma vương, trong có các kiến, ngoài có mười tám lục sư và chín mươi sáu thứ ngoại đạo luôn phá hoại thành trì Phật pháp khiến Tam bảo dứt mất. Nay nói Bồ-tát hoằng hóa bên trong tu thiền định trừ ái kiết, ngoại đạo dùng thần lực hàng phục ma oán. Bên trong dùng trí tuệ đoạn trừ các kết, ngoại đạo nói pháp chế phục các ngoại đạo. Ma oán trong ngoài đã phục rồi, ngoại đạo trong ngoài đều quy về, thì thành Niết-bàn còn mãi, Tam bảo không dứt mất nên gọi là được nối thạnh.

Nếu căn cứ theo bốn giáo, đối với nội giới ái kiến thì dùng thiền định sinh vô sinh Đạo đế mà phục ái, dùng trí tuệ chế trừ kiến. Đối với ngoại giới ái kiến thì dùng định trang nghiêm của vô lượng vô tác Đạo đế mà phục trừ ái và tuệ trang nghiêm mà chế trừ kiến. Nên văn nói: Các ma là ưa sinh tử, ngoại đạo là thích các kiến. Bồ-tát ở trong đó mà không bỏ không động nên nói là các ma ngoại đạo đều là kẻ hầu của ta. Nếu hàng phục được nội giới ái kiến thì ngoại ma liền hộ trì hóa thành Niết-bàn, khiến Tam bảo của Tạng Thông còn mãi không mất vậy. Nếu hàng phục ngoại giới ái kiến thì ngoại ma hộ trì thành Đại Niết-bàn, khiến Tam bảo của Biệt Viên không mất. Cho nên biết đây đều là giải thích việc hóa tha ở trước.

Hỏi: Nội giới có thể có ngoại ma, còn ngoại giới làm sao có?

Đáp: Đại kinh nói tám ma tức có bốn nội và bốn ngoại vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói mười ma là chung cả nội ngoại giới, phân biệt có thể biết. Trong kinh Niết-bàn, ngài Ca-diếp tự than rằng: Từ trước nay đều là tà kiến, thì Tam thừa Thánh nhân của Tạng, Thông đều gọi là giời ngoại ngoại ma cả. Cho nên trách ngài Thiện Cát rằng: “Vào tà kiến mà không đáo bỉ ngạn, các ông cũng là cánh tay của ngoại ma”, há không phải là ngoại giới có ngoại ma ư?

Hỏi: Thanh văn có thể như thế, còn Bồ-tát ra sao?

Đáp: Kinh Hoa Nghiêm nói: Ma Bồ-đề tâm, ma Tam-muội, ma Thiện tri thức đều là ma Bồ-tát. Ương-quật-ma-la trách ngài Văn-thù rằng: Ngoại đạo cũng tu không, Ni-càn chỉ yên lặng tức là ngoại ngoại giới đạo. Nếu không phải thế thì tại sao tám ngàn Bồ-tát bị trách mà không ai đáp lời?

– Nếu căn cứ theo quán tâm, khi giả không không giả quán thành thì hàng phục được nội ngoại giới ma, khi giả trung trung giả quán thành thì hàng phục được ngoại giới ngoại ma.

– “Tất cả đều đã thanh tịnh”… trở xuống hai câu là rộng khen về tự tha. Có hai phần:

1/ Từ đây trở xuống đến hết câu: “không khởi pháp nhẫn” là rộng khen về tự hành.

2/ Từ đã hay tùy thuận… đến hết câu “cập tâm sở hành” là rộng khen về hóa tha.

Khen tự hành lại có hai là: a. Đoạn đức. b. Trí đức.

Khen Đoạn đức lại có ba: Khen chung, khen riêng và giải thích.

Khen chung về đoạn đức: Là nói Bồ-tát này các kiết hoặc sinh tử đều dứt, nên nói tất cả đã thanh tịnh. Kiết hoặc sinh tử có hai thứ là nội giới và ngoại giới. Nếu bổ xứ của Tam tạng giáo chỉ phục được kiến tư mà chưa dứt hết các kiến hoặc. Còn bổ xứ của Thông giáo tuy trừ được các tập khí mà các kiến tư ngoại giới chưa dứt. Bổ xứ của Biệt giáo thì trừ hết mười một phẩm vô minh còn ba mươi mốt phẩm kia vẫn còn. Ba bậc này đều không phải là tất cả đã thanh tịnh. Riêng bổ xứ của Viên giáo thì bốn mươi mốt phẩm đã hết nhưng còn một phẩm kia như làn khói nhẹ thì mới gọi được tất cả đã thanh tịnh. Như kinh Địa Trì nói: Tịnh thiền thanh tịnh thứ chín cho đến tịnh thiền lìa tất cả kiến đều thanh tịnh, hai chướng này đã dứt, Bồ-tát nương vào thiền này mà được quả đại Bồ-đề. Nên căn cứ theo bổ xứ của Viên giáo mà nói tất cả đều đã thanh tịnh.

– Nếu căn cứ theo quán tâm, khi giả không không giả và giả trung trung giả hai quán này đã thành, nội giới hoặc đã hết thì không phải tất cả đã thanh tịnh, khi ngoại giới phiền não chướng đã hết thì mới gọi tất cả đều thanh tịnh.

– Về dứt hẳn triền cái, là khenriêng về đoạn đức. Cái là năm cái, triền là mười triền. Có người nói mọi cái triền đã tiếp cận, đâu đủ để khen là đức của đại Bồ-tát, nay bảo không phải thế. Nếu chỉ căn cứ theo năm cái mười triền này phân ra tất cả nội ngoại giới hoặc, thì lìa đây lại không còn hoặc nào sinh ra nữa. Nội giới chỉ là nhánh lá, còn ngoại giới là gốc rễ. Nếu lìa năm cái của nội giới mà hiện đủ tám vạn bốn ngàn trần lao thì sao tham dục, sân nhuế, thùy nghi thuộc si, trạo cử, tán loạn là giới thủ tức là đẳng phần, bốn thứ này mỗi thứ đều có đủ hai vạn một ngàn hợp thành tám vạn bốn ngàn, các loại căn bản phiền não ngoại giới hiện ra rõ ràng.

Hỏi: Ngoại giới vì sao năm cái cũng đối tám vạn bốn ngàn?

Đáp: Đã có ba độc sao được không có năm cái? Lấy Niết-bàn là tham, bỏ sinh tử là sân, mê thật đế là si. Đã có căn bản ba độc thì phải có căn bản năm cái mà có đủ tám vạn bốn ngàn. Nay dựa theo giáo mà nói lìa cái không giống nhau. Nhiều người nói cái chướng ở Sơ thiền, còn cõi trên thì không còn cái. Như Thành Luận nói hai cái tham, sân đều chung cả cõi trên, cả hai luận trên đều là Tam tạng giáo mà nói cái không giống. Nếu Bồ-tát của Tam tạng giáo lìa cái phát thiền thì đồng với phàm phu chưa đủ để khen đức của bổ xứ. Nếu Bồ-tát của Thông, Biệt, Viên lìa cái thì thuộc loại đều đã thanh tịnh. Nên biết mười triền mở ra năm trăm triền, phân biệt lìa hẳn các cái, có thể biết.

Nếu căn cứ theo quán tâm, khi giả không không giả, giả trung trung giả một nơi mà quán thành thì lìa hết hai loại cái triền như trên, nên biết.

Từ: “Tâm thường an trú ở vô ngại giải thoát”… là , giải thích Đoạn đức.

Vô ngại giải thoát tức là tên khác của Bất tư nghị giải thoát nên Đại luận có nói: Đối trong các giải thoát thì Vô ngại giải thoát là cao nhất. Tạng Thông đều nói: Vô ngại đoạn tất cả, giải thoát chứng tất cả. Có sư nói: Vô ngại hàng phục, giải thoát đoạn trừ. Đây chỉ là nội giới tư nghị vô ngại giải thoát. Thập địa của Biệt giáo cũng nói: Vô ngại đạo đoạn, giải thoát đạo chứng, tuy lìa bỏ ngoại giới kiến tư cũng căn cứ theo định mà đoạn, không phải là Bất tư nghị vô ngại giải thoát.

– Viên giáo nói nghĩa giải tướng hoặc tức trí không đoạn hoặc mà rốt ráo lìa hẳn hai thứ triền cái, nên gọi là vô ngại giải thoát. Nên văn nói: Không đoạn si ái, khởi ra minh, thoát tâm thường an trụ, nghĩa là nếu tư nghị chiếu tịch thì không phải là an trụ rốt ráo, nếu bất tư nghị tịch chiếu không hai trụ Đại Niết-bàn thì mới gọi là tâm rốt ráo thường an trú, vì vô ngại giải thoát là tên khác của Đại bát Niết-bàn mà thôi.

Kế căn cứ quán tâm, nếu biệt tướng ba quán thì không phải là rốt ráo an trụ, còn nhất tâm ba quán tức là tâm thường an trụ ở vô ngại giải thoát vậy.

Từ “Niệm định tổng trì biện tài bất đoạn”… trở đi là phần hai: Khen trí đức, cũng có ba phần: chung, riêng và giải thích thành.

Khen chung: Tức là niệm định tổng trì. Như các kinh khác đều khen đức Tam-muội Đà-la-ni, nay khen Niệm định tổng trì tức là khen Tam-muội Đà-la-ni . Do đó ở đây nêu khen cả hai. Niệm tức là niệm Phật Tam-muội… các Tam-muội. Nếu Bồ-tát được Tam-muội này thì mười phương chư Phật đều hiện ra trước, nếu được nhất tâm thì gọi là Vương Tam-muội. Vì sao? Vì nếu căn bản mà quán luyện huân tu là tục đế Tam-muội, quán đế duyên với ba không là chân đế Tam-muội, tự tánh… các lực và Ban chu Nhất hành Thủ-lăng-nghiêm… một trăm lẻ tám Tam-muội, đều là Trung đạo nhất tâm Tam-muội gọi là Vương

Tam-muội. Cho nên biết khen niệm định là khen đức Tam-muội vậy.

Căn cứ theo giáo, nếu phân tích thể của tục vào Chân thì chỉ căn cứ hai đế gọi là Vương Tam-muội. Nếu từ Tục đế và Chân đế căn bản thứ lớp vào trung thì tức là Tam đế của Biệt giáo gọi là Vương Tammuội. Nếu Nhất tâm viên mãn vào Tam đế tức là ba đế của Viên giáo Tam-muội gọi là Vương Tam-muội. Đại luận nói có nhà khác giải thích Tam-muội và Vương Tam-muội không giống nhau là ý này vậy.

Nếu căn cứ theo quán tâm tức ba quán mà quán ba đế thành Vương Tam-muội, thì tự nhiên có thể biết.

Tổng trì, tức là khen đức Đà-la-ni. Đây là nói khả năng giữ gìn, khả năng ngăn chận. Giữ gìn thiện không cho mất, ngăn chặn ác không cho khởi, nên gọi là Năng trì, năng giá, cũng gọi Tổng trì, là giữ các pháp thiện không cho dò rỉ. Kinh Pháp Hoa nói ba thứ Đà-la-ni:

  1. Triền Đà-la-ni.
  2. Bách thiên vạn ức triền Đà-la-ni.
  3. Pháp âm phương tiện Đà-la-ni.

Triền là xoay, quay lại, tức xoay Giả vào Không mà được vào chân đế. Nhưng phá nội giới tức thuộc Thông giáo. Nếu nhất tâm phá trọn vẹn thì thuộc Viên giáo. Bách thiên vạn ức tức là từ không vào Giả, xoay chuyển phân biệt phá trần sa hoặc mà hiển lộ hằng sa Phật pháp. Nếu biệt phá ngoại giới vô tri là Biệt giáo, còn nhất tâm phá trọn vẹn thì tức là Viên giáo.

Pháp âm phương tiện tức là hai quán làm phương tiện mà được nhập vào Trung đạo. Thứ lớp đoạn mà nhập vào trung, là ý của Biệt giáo. Không đoạn vô minh, nhất tâm viên mãn nhập vào trung đạo tức là Viên giáo. Lại pháp âm phương tiện, tức là được Đà-la-ni này thì liền hiểu biết tất cả các thứ tiếng nói, cũng có thể một thứ tiếng nói pháp mà tùy loại đều hiểu. Được Đà-la-ni này tức là nhập vào Vô ngại Đà-la-ni, đầy đủ tất cả Đà-la-ni vậy.

Hỏi: Kinh này khen Bổ xứ, vì sao được căn cứ ở sơ tâm mà giải thích?

Đáp: Phát tâm và rốt ráo cả hai không khác, cho nên chỉ hậu tâm mà nhập vào ba đế vô ngại, rộng ngang nhỏ nhặt sâu thẳm tận cùng tức là Vô ngại Đà-la-ni của bổ xứ .

Hỏi: Tam tạng giáo Bồ-tát có Đà-la-ni này chăng?

Đáp: Như vua Thi Tỳ được quy mạng cứu hộ Đà-la-ni, nên biết cũng có các tiểu Đà-la-ni, Luân vương còn được, huống là Bồ-tát.

Hỏi: Thanh văn có được chăng?

Đáp: Vì họ đã nhập diệt nên không cần.

Căn cứ quán tâm, thì Đà-la-ni ba quán, giống như đã nói nên dễ hiểu.

– Biện tài, tức là bốn biện tài. Đại phẩm có bảy biện tài, Đại tập có hai mươi bốn biện tài, Hoa Nghiêm có bốn mươi biện tài.

– Căn cứ theo giáo nói về bốn biện tài:

Xét theo Tam tạng giáo, thìsinh diệt Tứ đế không trệ ngại các pháp danh tự, tức là Pháp vô ngại biện. Đối với Nghĩa Tứ đế không bị trệ ngại tức là nghĩa vô ngại biện. Thấu suốt ngôn từ của sáu nẻo cũng giống tiếng nói của mình, nói về sinh diệt Tứ đế ngôn từ không trệ ngại tức là Từ vô ngại biện. Nêu xứng hợp căn duyên đời đời không kể xiết tất cả bốn loài đều phó cơ nói vô cùng tận tức là Nhạo thuyết vô ngại biện. Biện là luận rõ, tài là tài năng. Dùng mật giúp thuốc uống vào để công hiệu.

Lại nói: Hóa y cứ ước vô tác, như giải thích có thể hiểu.

Nói không dứt là Không hết. Pháp, Nghĩa duyên với khổ tập là biết bệnh vô tận. Pháp Nghĩa duyên với đạo diệt là biết thuốc vô tận. Từ và nhạo thuyết là trao thuốc vô tận. Lại nữa, từ sinh diệt biện mà khởi vô sinh biện cho đến vô tác. Vô tác bốn biện tài như gió trên hư không, nói pháp Không chướng ngại nên nói là Không dứt.

Căn cứ quán tâm mà tu nghĩa bốn biện tài, thì nghĩa như giải thích có thể biết.

Từ “Bố thí”… đến “cụ túc” là phần khen riêng trí đức. Trở lại từ định tuệ mở ra bảy độ, từ định mở ra bốn tuệ khai phương tiện, nên nói là riêng. Nếu làm mười độ để đối với mười địa thì mở Thiền ra Lực và Nguyện, mở Bát-nhã ra Phương tiện và Trí.

Nếu căn cứ theo giáo, thì đức theo bốn thứ Tứ đế. Tu bố thí… tức bốn giáo nói bảy độ vậy. Nói “không gì không đầy đủ”tức đều là Bala-mật. Ba-la-mật dịch là sự cứu cánh, cũng gọi là Đáo bỉ ngạn. Bố thí… cho đến phương tiện đều là sự lý cứu cánh kiến… Pháp giới của Đàn “bố thí) tức là bờ kia cứu cánh, nên nói không gì không đầy đủ.

– Quán tâm nói bảy độ, tức nhất tâm ba quán mà không thấy có xan tham và bố thí, cho đến không thấy có khéo hay vụng mà có thể khéo léo phân biệt xan tham và bố thí cho đến khéo vụng im lặng tự hiểu, tức không gì không đầy đủ.

Từ “Vô sở đắc… hai câu” là a, khen ngôi vị giải thích thành.

“Kịp” là nói đến khi… không khởi là Không khởi các phiền não nội ngoại, sinh tử không có cảnh để quán nên gọi là Không khởi pháp nhẫn, tức là Đại vô sinh nhẫn, cũng gọi là Tịch diệt nhẫn. “Vô sở đắc”, là trong Đại phẩm có nói: “Không có gì được mà cho là được tức là được cái không có gì được.” Kinh Nhân Vương có năm nhẫn, Anh Lạc có bốn nhẫn, hai kinh tuy khác nhưng đều nói Tịch diệt nhẫn. Tịch diệt nhẫn có thượng hạ. Như Kim cang tâm thì gọi là hạ nhẫn, còn Phật địa thì gọi là thượng nhẫn. Nếu khai Thập địa riêng lấy Đẳng giác cũng có ba phẩm hạ, trung, thượng. Nay khen gần đến quả lại nói về kịp, tức là sẽ kịp hạ nhẫn vậy.

Căn cứ giáo mỗi giáo nói về bốn nhẫn, thì Tam tạng giáo không có văn mà nghĩa cũng có bốn nhẫn: A tăng kỳ kiếp đầu là Phục nhẫn, thứ hai, thứ ba là Thuận nhẫn, trăng kiếp là vô minh nhẫn, ba mươi bốn tâm là Tịch diệt nhẫn. Thông giáo thì cân tuệ là phục nhẫn, Tánh địa là Thuận nhẫn. Từ quả Tu-đà-hoàn cho đến địa thứ chín gọi là Vô sinh, Địa thứ mườinhư Phật thì gọi là Tịch diệt nhẫn.

Biệt giáo thì Thiết luân là phục nhẫn, ba mươi tám là Thuận nhẫn. Từ Sơ địa đến địa thứ chín là Vô minh nhẫn. Địa thứ mười Kim cang tâm gọi là Tịch diệt.

Viên giáo thì năm phẩm gọi là Phục, Thiết luân gọi là Thuận. Từ sơ trụ đến Địa thứ chín gọi là vô sinh, Thập địa kim cang tâm gọi là tịch diệt nhẫn.

Luận chung về Viên giáo, sơ tâm trở lên đều đủ bốn tên. Nên kinh Nhân Vương có nói: Từ sơ phát tâm đến Kim cang đảnh đều gọi là Phục nhẫn. Phổ Hiền Hiền Thủ ý giống đây vậy.

Hỏi: Đoạn văn sau khen ngài Tịnh Danh chỉ nói vô sinh, phải biết không khởi pháp nhẫn chỉ là vô sinh, vì sao phải dùng tịch diệt mà giải thích không khởi pháp nhẫn?

Đáp: Ở nhân nhường quả nói là vô sinh, nếu luận chung về vô sinh thì chỉ là tên khác của tịch diệt. Nên trong Đại kinh có nói: “Niết nói là bất sinh, Bàn nói bất diệt, là bất sinh bất diệt gọi là Đại Niết-bàn.” Nên văn kinh nói: “Pháp vốn không sinh nay thì không diệt”, đó là nghĩa của tịch diệt, như thế tịch diệt tức là vô sinh, còn nghi ngờ gì nữa.

Căn cứ theo quán tâm, thì một tâm ba quán ba đế hoặc không khởi, tức là tu không khởi pháp nhẫn. Nên kinh Pháp Hoa nói: “Mặc áo Như Lai”. Áo Như Lai tức là tâm nhu hòa nhẫn nhục vậy.

Từ “Đã có thể… trở đi” là, rộng khen về hóa tha, có hai phần:

  1. Trong đủ pháp hóa tha.
  2. Chính nói về hóa tha.

– Phần một, có ba:

  1. Nói về trong vốn đủ.
  2. Nói về ngoài vốn đủ.
  3. Giải thích chung nội ngoại.

Như Đại luận có nói: Trong đủ trí tuệ gọi là lực, ngoài dùng không khiếp sợ gọi là vô úy. Nếu trong mà trí không sáng, ngoài mà nghi cách không đủ, xử chúng có chỗ sợ sệt làm sao có thể khuất phục mọi người. Nếu trong ngoài đều hoàn bị thì chúng hóa độ đều theo.

a. Nói về trong đủ pháp hóa tha “nội cụ”, tức là đã có khả năng tùy thuận. Tùy thuận có ba là: Thuận Phật, thuận lý và thuận căn duyên.

Phật vì chúng sinh mà chuyển bốn pháp luân, Bồ-tát theo đó mà chuyển, tức là thuận Phật. Nhân duyên sinh diệt tức không giả trung, thuận lý mà hiểu, thuận hiểu mà nói, đó gọi là thuận lý. Căn tánh tuy nhiều nhưng không nằm ngoài bốn loài, ứng cơ không nhầm lẫn, nên gọi là thuận căn duyên.

Lại nữa, thuận hiểu mà nói là thuận thật trí, thuận chúng sinh mà nói là thuận quyền trí, thuận Phật phương tiện là thuận quyền thật hai trí. Nay nói tùy thuận là đủ cả ba nghĩa này.

Chuyển bất thoái chuyển pháp luân: Bốn thứ Tứ đế là thể của luân, dụng bốn Tất-đàn là chuyển. Có bốn thứ không thoái chuyển:

  1. Sự bất thoái chuyển pháp luân sinh diệt Tứ đế.
  2. Vị bất thoái chuyển vô sinh.
  3. Hạnh bất thoái chuyển vô lượng.
  4. Niệm bất thoái chuyển vô tác.

Nếu Tam tạng giáo thì chỉ là sự, Tam tạng giáo nói vị không thoái chuyển không cần đoạn kiết, chỉ nói là Không sinh bốn ác đạo, không thọ thân nữ, không sinh biên địa, các căn đầy đủ, được trí túc mạng, đủ năm việc này thì gọi là Bạt trí .

Về Thông giáo từ sơ quả trở đi đều ngang ngôi vị của La-hán không còn thoái chuyển. Thất địa thì hạnh không thoái chuyển, Bát địa thì niệm không thoái chuyển.

Về Biệt giáo lấy Trụ, Hạnh, Hướng đối ba thứ bất thoái chuyển Địa chứng niệm bất thoái, Hướng chỉ tu mà thôi.

Về Viên giáo thì một tâm đủ ba bất thoái. Sơ trụ pháp thân không rơi vào ngôi vị trước, gọi là vị bất thoái. Đủ tất cả hạnh nên gọi là hạnh bất thoái. Niệm niệm đều lưu nhập tức là niệm bất thoái.

– Căn cứ ở biệt tướng ba quán, thì lấy không, giả, trung mà đối ba bất thoái. Căn cứ ba thứ mà xét riêng thì nghĩa này còn sơ sài. Nay căn cứ một tâm chánh quán trung đạo thì gọi là vị bất thoái. Cùng chiếu cả hai đế thì gọi là hạnh bất thoái. Tự nhiên lưu nhập là niệm bất thoái.

“Khéo hiểu pháp tướng, biết rõ căn chúng sinh…” là khéo hiểu pháp tướng, là hiểu đúng như pháp tướng. Biết căn duyên chúng sinh gọi là biết bệnh. Khéo hiểu rõ thuốc của bốn thứ Tứ đế, biết rõ bốn bệnh của chúng sinh, lấy đó mà dạy người ắt không có lỗi sai căn cơ.

Trong mười lực thì có lực thị xứ phi xứ tức là hiểu đúng pháp tướng, có tri căn lực tức là biết căn chúng sinh đều là nội lực đầy đủ.

Từ “Vả lại các đại chúng… “hai câu” là nói ngoài đủ pháp hóa tha. Dùng Vô duyên từ để bao trùm cả mười pháp giới nên nói trùm khắp các đại chúng. Lại chữ trùm khắp là nói đi sâu vào bốn thứ Tứ đế, thấu đạt đến chỗ cùng tột nhất.

Được Vô sở úy là từ bi phước tuệ luôn bao trùm tất cả, nên không có sợ sệt, tức là giải thích cái ngoại dụng của pháp vô khiếp vô úy vậy.

Từ công đức trí tuệ”… trở xuống là giải thích chung về nội ngoại của pháp tha hóa, có ba phần:

  1. Giải thích nội tâm vô úy.
  2. Giải thích ngoại dụng vô úy.
  3. Kết thành vô úy.

– Hai câu đầu giải thích về nội tâm, đủ hai thứ trang nghiêm có thể làm sư tử hống mà giải thích nên nội tâm vô úy. Tâm tức là tâm tự tánh thanh tịnh, cũng gọi là pháp thân, phước tuệ có thể hiển sáng tâm tự tánh thanh tịnh. Nên nói lấy tu tâm trở lại dùng để trang nghiêm cho tâm tự tánh thanh tịnh, tức đầy đủ hai thứ trang nghiêm để trang nghiêm pháp thân. Phước tuệ của bốn giáo có ba quyền một thật, gồm chung các quyền thật này để tu tâm, nên tâm không có gì sợ hãi.

Từ “Tướng hảo… đến “sức hảo” là giải thích ngoại dụng pháp vô úy. Các chủng tánh sắc thân được mọi người tôn trọng như ngài Cachiên-diên nói việc gieo trồng nghiệp ba mươi hai tướng. Phước nhỏ mà gây được như thế đâu có gì lạ, nên không phải là bậc nhất.

Thông giáo căn cứ ở tướng chân tu, đế lý chưa tột cùng nên tướng không phải là đệ nhất. Biệt giáo là Duyên tu, Duyên tu là trí chướng nên tướng cũng không phải bậc nhất. Viên giáo là tướng hảo, pháp thân nếu hiển bày tướng hảo đầy đủ, nên kinh Pháp Hoa có nói: Thấu suốt sâu xa tướng tội phước, chiếu khắp mười phương, tịnh pháp thân vi diệu đầy đủ ba mươi hai tướng. Pháp thân đầy đủ diệu tướng này chúng sinh không do đâu biết được. Vì hiển bày tướng này cho nên ở ứng thân mà thị hiện tướng bạch hào để biểu thị lý trung đạo, thị hiện tướng mắt biếc để biểu thị vô duyên bi. Các tướng khác đều có biểu thị, cho nên biết tướng này tức là ba mươi hai tướng pháp thân.

Sắc tướng bậc nhất, tức là sắc pháp tánh. Đại kinh có nói: Diệu sắc rỗng suốt luôn an trụ, không bị sinh, lão, bệnh, tử dời đổi. Diệu sắc này đối trong các sắc là bậc nhất, hiện rõ các hình ảnh trong mười giới như châu như ý. Sắc ứng hiện biểu thị cho chân mà chân sắc là bậc nhất. Sắc của ứng thân Phật đối với sắc của hóa thân cũng là bậc nhất.

Từ “Xả các thế gian… hai câu” là giải thích chân tướng hảo ở trước, là Không phải bỏ vật trong suốt ở thế gian này. Nếu bỏ thứ đó thì ngoại đạo cũng làm được đâu đủ để khen. Nay nói bỏ là Bồ-tát của Tam tạng giáo bỏ cả đồ trang sức đẹp ở cõi trời, người, chủng tướng của trăm kiếp để làm đồ đựng Bồ-đề. Bồ-tát của Thông giáo bỏ tâm hữu sở đắc trang sức ở thế gian. Nên Đại luận phá tướng trăm kiếp. Kinh Kim Cang Bát-nhã nói: “Nếu dùng sắc để thấy ta, người ấy hành tà đạo”

Bồ-tát của Biệt giáo bỏ không tâm trang sức của nội giới, dùng duyên tu ngoại giới mà tu tướng hảo Bồ-tát của Viên giáo cho rằng nội ngoại giới tu đều là thứ trang sức thế gian đều phải xả bỏ. Pháp thân nếu hiển bày tức là chân tướng. Cho nên nói: Thân tướng hảo trang nghiêm là sắc tượng bậc nhất, đâu thể đồng với tu nhân trang sức thế gian hư vọng mà gọi là cao xa hơn cả núi Tu-di được.

– Kết thành, có hai phần: Kết ngoại và kết nội.

1. Hai câu đầu kết ngoại về vô úy: Bồ-tát ngoại đạo hóa khắp mười giới ở mười phương nên gọi là cao xa. Lại nên hiểu, Phật của Thông Biệt giáo như núi Tu-di, nay Phật Viên giáo có tâm Kim cang thì cao hơn hai giáo kia, cho nên nói hơn núi Tu-di… Lại núi Tu-di bền chắc cao xa như lý cao của pháp tánh bất động. Trí vô thượng có công hiển lý nên nói là vượt cao hơn núi Tu-di.

2- Từ “tin sâu bền chắc…”hai câu là, kết nội về pháp vô úy. Tín có hai thứ là nghe và chứng. Bốn giáo phân biệt mỗi thứ có theo thứ lớp. Nay chỉ căn cứ Viên giáo, nếu năm phẩm đệ tử một mực tin nghe tín lý ba đức bất tư nghị , thì sáu căn thanh tịnh cũng nghe và cũng được tươngtợ chứng. Bậc sơ trụ trở lên cũng nghe và được phần chứng. Phật địa thì chỉ có chứng. Nay các Bồ-tát đã ở vị cao hai tín trọn vẹn sâu xa nên nói là tin sâu. Nói bền chắc là hai tín không bị trong ngoài hủy hoại. Cũng như đem kim cang mà ví với tin sâu. Kim cang có hai nghĩa:

  1. Bén, cắt tận gốc, bên trong hợp với hai thứ bén tín, định, tuệ dùng để đến cùng thật tế.
  2. Thể nó bền chắc muôn vật không thể phá hoại, ví cho hai tín không bị các phiền não sinh tử làm hại.

Từ “Pháp bảo chiếu khắp…” là , chính nói về hóa tha. Có ba phần là:

  1. Phóng quang thuyết pháp nói về hóa tha.
  2. Chính nói pháp nói về hóa tha.
  3. Nói môn tiến tu hóa tha.

– Phần một lại có hai:

  1. Chính nói về phóng quang thuyết pháp.
  2. Giải thích phần a lại có ba:
  1. Phóng quang.
  2. Nói pháp.
  3. Giải thích khen.

Phóng quang: Nói Bồ-tát dùng bi trí duyên với lý ba đế sinh ra pháp thiện quý báu, dùng đó hóa độ tất cả chúng sanh có duyên.

Nói “chiếu khắp “ là nhập phóng quang Tam-muội và Phổ quang Tam-muội nên có thể chiếu khắp . Nếu là các phàm phu thì phải dùng thiện quang thế gian mà chiếu, nếu là xuất thế thiện và xuất thế thượng thượng thiện mà được hóa độ, thì Bồ-tát tùy chỗ đáng dùng Tam-muội nào để phóng ánh sáng pháp lành nào khiến được độ. Nên kinh Hoa Nghiêm Tư Ích và Đại phẩm đều nói: Đức Phật có ánh sáng tên là Vô xan, nếu phóng ánh sáng này chiếu đến các chúng sinh keo kiệt thì các chúng sinh đó liền thường bố thí… như thế các thứ lợi ích khiến họ được đạo. Nếu một luồng sáng trừ xan tham, một luồng sáng trừ sân là ý Biệt giáo, không gọi là chiếu khắp. Nếu phóng luồng sáng hai đế cũng không gọi là khắp. Nay các Bồ-tát chỉ phóng một luồng sáng đầy đủ tất cả ánh sáng chiếu tất cả nơi, mười cõi chúng sinh đều được lợi ích, tùy căn cơ mà vào đạo, nên gọi là chiếu khắp.

Hỏi: Ánh sáng vì sao có thể phá ác sinh thiện?

Đáp: Ví như xông thuốc, khói gặp bệnh, khổ liền trừ, thân được an lạc. Ánh sáng chiếu vào cũng thế. Vì các ánh sáng này từ các pháp lành xuất ra, tùy chỗ gặp thì khổ liền hết. Nên văn nói dùng ánh sáng mà làm Phật sự.

“Mà mưa cam lộ”… là nói về nói pháp. Cam lộ là loại thuốc mầu nhiệm các trời uống vào thì được bất tử. Trung luận nói: Thật tướng gọi là cam lộ Trời có thể khiến cho ba thừa đồng được Thánh đạo. Thật tướng cam lộ có hai thứ: Chân và trung. Chúng sinh tùy nên dùng thật nào và mưa cam lộ nào để độ thì đều khiến được lợi ích. Các Bồ-tát này chỉ nói trung đạo thật tướng cam lộ thì tùy thiên hay viên mà được lợi không đồng nhau. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: Phật bình đẳng nói như mưa một vị tùy tánh chúng sinh thọ nhận không đồng.

– Từ “Đối chúng nói tiếng vi diệu bậc nhất”… là giải thích khen.

– Mưa cam lộ, mưa vì sao nói mưa pháp cam lộ? Vì có tiếng nói vi diệu. Như kinh Pháp Hoa nói: Muốn dùng một thứ tiếng nói vi diệu biến khắp cõi tam thiên, tùy ý liền đến. Thiết Luân vương còn được thế huống là bậc bổ xứ mà không thể dùng một thứ tiếng nói khắp đầy đủ tùy loại đều hiểu, khắp được lợi ích.

Từ “Phật trở đi… không ai hơn được”nên nói là tiếng nói vi diệu bậc nhất. Lại nên hiểu, vì là ngôn âm pháp tánh nên vi diệu bậc nhất.

Từ “Thâm nhập duyên khởi”… trở xuống” là giải thích thành việc phóng quang nói pháp, có hai phần:

  1. Nói vào duyên khởi khen trí tuệ để giải thích thành.
  2. Từ “đoạn các tà kiến”trở xuống… là khen Đoạn đức để giải thích thành.

Văn nói: Do đó phóng quang nói pháp lợi ích sâu khắp, thật là do trí mới có thể thâm nhập vào duyên khởi. Duyên khởi có hai:

  1. Sinh tử duyên khởi tức là vô minh, mười hai nhân duyên, tất cả sinh tử.
  2. Giải thoát duyên khởi, là quán nhân duyên thì trí khởi tất cả Phật pháp.

Nay nói “thâm nhập”, là thâm nhập sinh tử duyên khởi liền thành Phật pháp duyên khởi. Nên Đại kinh nói: Mười hai nhân duyên có bốn thứ quán, nếu người thâm nhập vào thì được trí thượng thượng thấy tánh rõ ràng. Nghĩa ấy thế nào? Vì nếu quán nhân duyên sinh diệt tức là ý của Tam tạng giáo, tức không là ý của Thông giáo. Vào Giả mà phá trần sa của nội ngoại giới và tiến nhập vào trung đạo để phá mười một phẩm vô minh là ý của Biệt giáo đều không phải là thâm nhập. Bồ-tát của Viên giáo nhất tâm Viên quán từ sơ trụ đến bổ xứ phá bốn mươi mốt phẩm, mới gọi là thâm nhập. Các Bồ-tát này đều nhập mười hai nhân duyên. Chánh báo duyên khởi cũng nhập y báo thành hoại duyên khởi. Vì đã thâm nhập nên có thể nói của nhân duyên thật tướng và nghĩa cam lộ thâm tín, ý cũng rất rõ ràng.

Từ “Đoạn các… đến các thói quen khác” là khen Đoạn đức. Giải thích phóng quang nói pháp, chỉ vì mình không có các hoặc ám tối nên có thể khắp phóng quang chiếu các chúng sinh tối ám. Chỉ vì tự mình không bị trói buộc nên có thể mưa cam lộ để mở trói cho chúng sinh, khiến họ dứt hết nhị biên tà kiến có không Tà kiến có hai: Nội giới và ngoại giới. Nội giới có sáu mươi hai thứ đều thuộc có, không, ngoại giới các thứ kiến cũng thuộc có, không. Nay gồm chung nội giới thuộc hữu biên, ngoại giới thuộc biên không. Nên Đại kinh có nói: “Phàm phu thì có, Nhị thừa thì không , Bồ-tát rỗng không cái có, rỗng không cái không .” Chánh kiến trung đạo thì phá tất cả tà kiến nhị biên, nên nói đoạn dứt tất cả các tà kiến…

Lại giải thích: Chánh quán trung đạo phá hai biên Chân Tục , đến được Kim cang đảnh, trí biên tế đầy đủ. Khi thể trung đạo hiển sáng thì ba hoặc mới hết.

Không còn các tập khí nữa: Viên giáo bắt đầu từ sơ trụ, chấm dứt ở Pháp vân địa, viên đoạn các kiến cũng còn các tập khí. Bậc Đẳng giác vào Trùng huyền môn thiên vạn ức kiếp tu lại các hạnh, thấy lý rõ ràng, tập khí mới mỏng bớt, giống như khói nhẹ nên gọi là Không còn các tập khác. Như đổ ít muối xuống sông lớn thì không còn vị mặn. Nên trong Đại luận nói: Hai kiến Có, không diệt mất không còn. Các pháp thật tướng mà Phật nói thường chỉ nói đoạn dứt hai kiến nội giới là dùng nghĩa riêng của Địa luận. Bậc Đăng địa lìa chướng ngã tướng phàm phu đoạn hai kiến, có, không há được bỏ văn kinh này.

Hỏi: Đây có lỗi gì?

Đáp: Ở Tạng Thông, Kiến đạo liền đoạn các kiến, còn Đăng địa của Biệt giáo chỉ đoạn các kiến ngoại giới, đều không thể khen đức của bổ xứ. Kinh Ưu-bà-tắc nói: “Địa thứ chín thì đoạn kiến tập, Thập địa đoạn Ái tập.” Kinh Địa Trì nói: “Lìa tất cả kiến là tịnh thiền thanh tịnh.” Đây căn cứ vào bậc Đẳng giác. Nay căn cứ theo đây để bỏ văn này, thì nghĩa đoạn trọn vẹn của một nhà chuyển rõ ràng.

Từ “Diễn pháp… đến quá lượng” là chính nói thuyết pháp khen hóa tha. Trước hết cùng nêu ra hai thí dụ để khen hóa tha thành tựu, sau đó khen ngợi chung công đức hóa tha.

Trước nêu thí dụ sư tử rống gọi là lời nói quyết định, quyết định nói: “Các chúng sinh đều có Phật tánh.” Diễn pháp vô úy là: Diễn giảng rộng lớn tâm không sợ sệt gọi là vô úy. Có thể đối với bốn thứ bất khả thuyết mà dùng bốn Tất-đàn phó duyên rộng giảng bốn lộ được không có gì sợ sệt, như lúc sư tử rống lên không phải chỉ không sợ hãi đối với cầm thú mà còn khiến cho loài hương tượng vãi ra phân uế đái, và loài đang bay phải rơi xuống. Tức các Bồ-tát này khi diễn giảng pháp môn cam lộ không chỉ tâm không sợ sệt đối với các ngoại ma và chúng sinh , mà còn khiến các ngoại ma đã phẩn uế ái kiến, kẻ có tâm cao ngạo phải hàng phục, cũng khiến cho tất cả ái kiến đều dứt hết. Việc diễn giảng của các ngài như sấm sét. Thí dụ thứ hai là tuôn xuống mưa pháp am lộ khiến sinh pháp lành. Như Đại luận nói đầy đủ bốn loại pháp sư. Sấm sét là dụ người học rộng, mưa là dụ cho hạnh tốt, có đầy đủ trong văn luận. Nay dùng sấm là để nói làm cho sợ hãi trốn mất, dùng mưa là nói được thấm nhuần sinh trượng. Nói pháp cam lộ. Nói cam lộ pháp vũ, sấm vang tám âm dùng để làm kinh sợ đám côn trùng Nhị thừa tà kiến khiến tất cả mầm mống thiện căn nảy sinh, tức, bảo là nghĩa ba thứ cỏ, hai thứ cây cùng sinh trên một thứ đất, khiến tất cả thiện căn đời trước của người tu hành phát hiện ra.

Từ “Không lường… đã quá lượng”… hai câu là khen chung công đức hóa tha.

“Không lường”đây là nói các Bồ-tát có các thứ thần thông, trí tuệ, phóng quang, nói pháp để hóa độ mười phương không có hạn lượng, bảy thứ phương tiện cũng không lường được. “Đã quá lượng” là số lượng đông đảo của Thập địa Viên giáo hóa độ.

– Từ “Tập chúng pháp bảo…”trở xuống là nói tiến tu pháp hóa tha. Nói các Bồ-tát tuy công lao hóa độ rất lớn, nhưng chưa chứng được quả tột cùng, còn phải tiến tu pháp hóa tha, tức là bậc Đẳng giác ngàn vạn ức kiếp phải vào Trùng huyền môn để tu hạnh hóa tha. Trùng huyền môn, kinh Địa Trì nói: “Nhập vào, trụ khởi lực thiền, xả ra lại nhập vào lực thiền.” Nhập, là từ tâm phàm phu mà nhập vào tất cả pháp môn cho đến những địa trên. Khởi lực, tức là từ bậc Đẳng giác mà khởi nhập vào tất cả pháp môn. Trụ, tức là tùy trụ ở một pháp môn liền trụ tất cả pháp môn. Xả lại vào lực, là trăm ngàn vạn ức kiếp tu lại. Cho nên trong kinh Pháp Hoa ngài Di-lặc khen Bồ-tát ở hạ phương rằng: Khéo vào ra và trụ ở vô lượng trăm ngàn Tam-muội…”như người dẫn đường trên biển, là khi dẫn dắt mọi người vào biển tìm châu báu thì mọi người đều được báu, cũng là mình được. Bồ-tát vào biển sinh tử không phải chỉ khiến chúng sinh được báu vật Phật pháp mà công hóa độ người quy cho mình vào Trùng huyền môn, pháp lợi cũng rất nhiều. Nên kinh này nói: Không vào biển lớn thì sao có được bảo châu vô giá . Bồ-tát không vào biển cả phiền não thì không được ngọc báu Nhất thiết trí. Thấu suốt các pháp là khi vào Trùng huyền môn thì nội tuệ tăng tiến hiểu biết thấu suốt, là tên khác của trí. Các pháp tức là pháp của mười giới. Nghĩa thâm diệu, tức là pháp mười pháp giới, hai đế, ba đế lý rất thâm sâu, nên gọi là sâu. Thấy ba đức không ngang không dọc nên gọi là diệu.

Từ “Khéo biết… đến sở hành”, hai câu này là chính nói Bồ-tát trụ ở Trùng huyền môn, tiến thêm thì ngoại đạo thấy được căn duyên chúng sinh hóa độ. Các Bồ-tát này được chân Thiên nhãn thường ở trong Tam-muội, không dùng hai tướng để thấy các chúng sinh.

Chết đây sinh kia gọi là vãng, chết kia sinh đây thì gọi là lai.

Nói chỗ đến là biết rõ nhân của nghiệp duyên thiện ác mà có quả đến thọ sinh cái báo tốt xấu”. Và tâm sở hành, là dùng lực chủng trí biết rõ tập nhân đã làm đời trước. Ba thứ cỏ, hai thứ cây, một thứ đất sinh ra căn tánh không đồng. Ba thứ cỏ, hai thứ cây tức là bảy thứ phương tiện. Một thứ đất sinh ra tức căn duyên của Viên giáo. Trước nói dùng thuốc nay nói biết bệnh. Đã biết thuốc biết bệnh tức có thể theo bệnh mà cho thuốc. Cho nên biết trụ ở Trùng huyền môn thì đức hóa tha càng chuyển thêm sâu lớn.

Từ “Gần bâc Vô đẳng đẳng… trở đi là căn cứ ở gầnlân quả khen đức, có ba phần:

  1. Khen tự thành.
  2. Khen hóa tha.
  3. Giải thích chung.

– Phần một lại có hai: a. Khen Trí đức. b. Khen Đoạn đức.

Phần a có hai: chung và riêng.

– Khen chung về Trí đức tự hành, tức gần trí tuệ của Phật không bậc nào bằng. Nói vô đẳng đẳng là Không ai ngang bằngvới mười phương chư Phật. Nay bằng chư Phật nên nói là vô đẳng đẳng.

Xét theo lý, thì lý của thật tướng không thể ngang bằng, chỉ Phật chủng trí viên cực mới có thể bằng thật tướng, nên nói là vô đẳng đẳng.

Lại nếu Sơ trụ của Viên giáo, tuy đã phát được chân kiến, lý đáng được pháp vô đẳng, nhưng cũng còn bốn mươi mốt phẩm vô minh cách Diệu giác còn xa, nên không gọi là ở gần quả “lân quả”. Căn cứ ở Phật và lý cũng không phải gần vô đẳng đâu được gần vô đẳng đẳng. Bồ-tát Kim cang tâm căn cứ ở Phật và lý đều gần nên nói gần vô đẳng, kiến lý đã viên mãn thì gọi là vô đẳng đẳng. Nếu xét theo giáo thì có thể biết.

Mười Lực vô úy, mười tám bất cộng là khen riêng về trí đức tự hành như Đại Luận có giải thích:

– Phần này có hai:

  1. Nói Bồ-tát tự có vô úy bất cộng.
  2. Nói Bồ-tát được một phần Phật lực vô úy bất cộng.

– Bậc bổ xứ như trăng ngày mười bốn, còn Đức Phật như trăng ngày rằm, rất gần nhau.

Nếu xét theo giáo, như Tam tạng giáo nói thập lực vô úy thì tên gọi là đồng Đại thừa. Luận Tỳ-đàm nói pháp bất cộng riêng lập tên gọi là giáo. Nên Đại Luận bác rằng: “Tên gọi Lực vô úy đã đồng Đại thừa thì pháp Bất cộng vì sao không được riêng lập?”. Nay chỉ dựa theo việc đoạn phục để phân biệt sự dị đồng mà danh nghĩa không phương hại.

Về Thông giáo y cứ theo chiếu hai đế, bát địa một phần được mười tám lực Vô úy đẳng nên nói là gần vô đẳng. Thập Địa thì như Phật nên gọi là vô đẳng đẳng. Sơ địa của biệt giáo một phần được mười Lực đẳng pháp nên gọi là gần vô đẳng. Còn Thập địa thì được mười Lực đẳng pháp nên gọi là vô đẳng đẳng. Về Viên giáo, bậc Sơ trụ trở lên một phần được Lực vô úy bất cộng đẳng pháp nên gọi là gần vô đẳng. Kinh Hoa Nghiêm nói: Sơ trụ là được thị xứ phi xứ … Thập lực trí của Như Lai. Nay lấy đến vị Đẳng giác cho đến gần vô đẳng là gần mười lực Vô úy của Phật vậy. Nhân dụng đã viên mãn tức vô đẳng đẳng, các giáo trước đều chẳng phải.

Nói trí tuệ tự tại của Phật , tức trong trí tuệ Phật không có vô minh nhưng nên rốt ráo tự tại. Bồ-tát tuy có vô minh cũng như làn khói nhẹ sắp được Phật tuệ nên lấy đây mà khen.

Phần b. Đóng chặt tất cả cửa ác thú, đây là khen đoạn đức trong tự hành.

Cửa ác thú, “nẻo ác” ác thú tuy nhiều nhưng không ngoài hai thứ duyên tập. Tạng Thông thấy Không đóng chặt cửa có là ác thú, Biệt Viên thấy bất không đóng chặt cửa vô vi ác thú. Các Bồ-tát này thấy nguồn gốc Trung đạo mà đóng chặt tất cả các cửa có, không ác thú hoặc đây là ngợi khen việc hóa tha đóng chặt các cửa ác thú của chúng sinh.

Từ “Mà sinh… đến phục hành” là phần hai khen về hóa tha. Nếu triển khai thêm Tu-la tức là Lục đạo. Nếu là Tam tạng giáo còn các kiết hoặc thì nguyện sinh hoặc dùng thần thông hiện thân ở năm đạo, “Trời, người, Địa ngục, Ngạ quỷ, súc sinh) ở cõi nhiễm tịnh mà giáo hóa chúng sinh. Thông giáo, thì Thất địa, kết nội giới đã hết nguyện chống đỡ các tập khí còn lại mà hiện thân ở năm đạo cũng dùng thần thông mà sinh Biệt Trụ trở lên và Viên trụ trở lên được một thân và vô lượng thân thanh tịnh diệu pháp thân rỗng suốt ứng với tất cả, tức là hai mươi lăm lực Tam-muội giúp sinh hai mươi lăm hữu vậy. Nay Bồ-tát ấy do từ thiện ngầm hun đúc tùy cơ ứng hiện vào năm đạo để độ sinh. Về nghĩa luận thì cũng hiện thân vào các cõi ngoại giới để hóa độ chúng sinh ấy.

“Làm Đại y vương khéo trị lành các bệnh của chúng sinh”, là đã sinh vào năm đạo, ắt có ý ở chỗ lợi vật trị bệnh cho chúng sinh. Đối Tiểu nói Đại. Bồ-tát của Ba giáo và hạ địa của Viên giáo đều là Tiểu. Sức trị bệnh của các Bồ-tát này có lực dụng gần như Phật, nên gọi là Đại y vương, trị các nghiệp bệnh bất thiện ở nội ngoại giới “trong ngoài tam giới”.

Theo bệnh mà cho thuốc, tức là dùng bốn Tất-đàm nói bốn thứ pháp dược.

Nay khiến được phục hành, tức là chúng sinh nghe pháp, đoạn bỏ các kết nội ngoại giới mà được Thánh đạo giải thoát, Đại Tiểu thừa.

Từ “Vô lượng công đức… đến không luống uổng” là giải thích chung xác lập khen đức gần quả “vô lượng công đức đều thành tựu” là giải thích phần tự hành đã viên mãn.

“Có vô lượng cõi Phật đều được nghiêm tịnh”, là giải thích việc hóa tha đã hoàn mãn.

“Thấy nghe đều được lợi ích” là Pháp thân không phải sắc không phải thinh, tùy cảm mà thấy nghe ắy được lợi ích, làm cho được niềm vui thế gian và xuất thế gian. “Có các nương nhờ cũng không luống uổng”, tức là uổng phí bỏ đi, cũng là mất.

Giải thích về tự hành, là tùy tâm sở hành tự nhiên khế lý, ắt thành tựu được nhân thù thắng, cảm được quả không mất, nên nói là Không luống uổng.

Giải thích về hóa tha, là chúng sinh tuy không vào Đệ Nhất nghĩa mà không mất ba Tất-đàn, hướng về sinh thiện phá ác được lợi ích và công hóa độ quy về mình cũng không luống uổng.

“Như thế tất cả công đức đều đầy đủ” là tổng kết xác nhận phần khen Đức: như trên đã khen tất cả đều thành tựu. Nếu y cứ Nam Bắc mà trích cú phối với các địa thì đâu được tất cả đều đầy đủ. Một nhà giải thích lý tự ngầm hiểu. Lại có giải thích công đức của Bồ-tát vô lượng, biên không như trên đã khen chỉ mấy mươi câu đâu thể kể đủ.

Từ “Tên gọi đó… xuống đến là Pháp vương tử là lập nhiều tên gọi làm chứng xác nhận hạng đồng nghe pháp. Tuy khen thắng đức mà không nêu tên thì chẳng biết là ai. Nên lược nêu ra năm mươi hai người để làm chứng cớ là tầng nghe pháp.

Nếu y cứ theo bốn giáo thì việc trở thành rườm rà dài dòng. Nay tóm lược xét theo ba quán mà giải thích tên thì đủ biết đại khái đẳng là dùng hai quán nhập vào trung, tức là bình đẳng, nên gọi là đẳng quán. Bất đẳng là chỉ chiếu vào hai đế vô lượng khác biệt không là đẳng quán. đẳng bất đẳng, là chánh quán Trung đạo cùng chiếu cả hai đế. Vào trung, gọi là đẳng chiếu hai bất đẳng, thể dụng họp luận, gọi là đẳng bất đẳng. Cần phải dùng sáu tức thì không lộn xộn.

Tất cả chúng sinh tức là thật tướng gọi là lý đẳng quán. Nghe tên thật tướng hiểu sâu lý đó, là danh tự đẳng quán. Nếu quán Trung đạo mà thấu suốt vô ngại tức là quán hạnh đẳng quán. Phát ra hiểu biết tương tợ tức là tương tợ đẳng quán. Nếu phát ra sáng suốt chân thật thì gọi là phần chứng đẳng quán. Cùng tột nguồn thật tướng gọi là cứu cánh đẳng quán. Nay thứ này chính là ngôi vị phần chứng gần với cứu cánh nên gọi là Đẳng quán.

Không được nghe quán tâm tức thị mà lại càng hỗn loạn sinh Tăng thượng mạn thì làm Bồ-tát Chiên-đà-la. Nếu không nhận lời nói này tức là Không tin lời nói của các kinh Đại thừa liễu nghĩa. Từ sau đây trở đi dưới mỗi mỗi tên đều thêm “Một tâm ba quán”, sau đó mới y theo văn. Như nói: Một tâm ba quán tức hay quán tâm tánh…

Định tự tại vương là chủ thể quán tâm tánh gọi là thượng định, khi được thượng định này đối với tất cả pháp liền được tự tại như vua trên đời. Pháp Tự tại là chánh quán ba đế, tâm không trệ ngại, nên ở nơi pháp mười pháp giới mà được tự tại. Pháp tướng là quán pháp tướng ba đế của mười pháp giới. Quang minh là ánh sáng tuệ này có thể hiển bày thật tướng. Quang nghiêm là tâm trí sáng suốt để trang nghiêm pháp thân. Đại nghiêm là quán về tâm tánh, tánh nó rộng lớn cũng như hư không, dùng cảnh lớn trí lớn để trang nghiêm Pháp thân. Bảo Tích là quán tâm tuy Không mà đầy đủ muôn hạnh, các báu muôn hạnh chứa nhóm ở lý nên gọi là Bảo tích. Biện tích, là cùng pháp tánh tương ưng tức tích chứa đủ cả bốn biện . Bảo thủ, là quán tâm thành tựu liền đủ cả tay báu quyền thật hai trí. Bảo ấn thủ là quán thật tướng ấn. Ấn quán tay trí. Thường Cử Thủ, tức chính quán tâm ở trên tay mà cầu Phật quả. Thường Hạ Thủ, là tay quán trí dùng đại Từ vô duyên mà hóa độ chúng sinh. Thường Thảm, là trụ trong chánh quán, tâm thương xót chúng sinh. Hỷ căn, là được Như Lai tạng, tâm khắp mừng lớn. Hỷ vương, là được hỷ trung pháp sở nguyện được tự tại như vua ở đời. Biện âm, là phân biệt trong mười cõi các nơi chốn và tiếng nói khác nhau mà đều thấu suốt vô ngại. Hư không tạng, là quán về tâm tánh, cũng như hư không chứa nhóm các thứ, mới gọi là tạng. Chấp bảo cự, là quán đạo phẩm, đuốc báu chiếu sáng nguồn tâm. Bảo dõng là thấy các pháp báu thì đối với sinh tử ý luôn mạnh mẽ. Bảo kiến là quán thật tướng báu thấy tánh rõ ràng. Đế võng, ví như mắt lưới của Đế thích có vô lượng, chính quán ba đế đầy đủ vô lượng lưới các pháp để lưới lấy các phiền não và các chúng sinh. Minh võng, là chính quán tâm tánh, lưới trí và lưới ánh sáng lưới lấy các phiền não và các chúng sinh. Vô duyên quán, là quán tâm tánh, chân tu thì thể hiển sáng, không duyên không niệm, vắng lặng mà thường quán chiếu. Tuệ tích, là quán về thật tướng đầy đủ nhóm trí tuệ. Bảo thắng, là báu của chánh quán, là báu của phương tiện hơn hết. Thiên vương, là được Đệ nhất nghĩa thiên, tự tại như vua. Hoại ma, là quán về tâm tánh luôn phá bỏ được tám ma hai biên. Lôi đức, là thấy Trung đạo nhanh chống, liền thành ba đức, như ban đêm thấy sấm chớp liền được thấy đường đi. Tự tại vương, là được tánh chân ngã, đối với tất cả pháp tự tại như vua. Công đức tướng nghiêm, là chính quán tâm tánh đủ tất cả pháp để trang nghiêm pháp thân. Sư tử hống, là được thấy Phật tánh hành tựu Sư tử hống Tam-muội. Lôi âm, là chánh quán tâm tánh Trung đạo, học rộng hạnh tốt như tiếng vang của sấm sét làm kinh sợ tất cả những loại trùng lạnh nhị biên. Sơn tướng kích âm, là như hai núi chạm nhau có tiếng vang truyền khắp bốn phương. Cảnh trí tương ưng sinh ra tiếng vang của bốn biện. Hương tượng, là Không có sự hôi độc của phiền não có khả năng dùng sức Từ mà gánh vác tất cả. Bạch hương tượng, là gốc pháp tánh vốn không đen xấu. Lý tịnh và trí tịnh, hương năm phần thân khởi các từ bi mà gánh vác tất cả như hương tượng trắng. Thường tinh tấn, là khi thấy được pháp tánh thường thành tựu vô tác chánh cần. Bất hưu tức, là quán không và bất không, không trụ vào hóa thành thiên không mà nghỉ ngơi . Diệu sinh, là đối với tâm tánh không sinh thì tất cả pháp cũng không sinh, mà Bát-nhã diệu sinh. Hoa nghiêm, là hoa nhân, phước tuệ trang nghiêm cho pháp thân. Quán thế âm, như Thỉnh Quán Âm có nói: quán ở tâm mạch khiến tưởng ở một chỗ liền thấy Đức Quán Thế Âm. Đắc Đại Thế Chí, chính lúc quán tâm tánh mà hàng phục các ma oán và ngoại đạo của nội ngoại giới . Phạm võng, là khi chánh quán Pháp võng thanh tịnh thì lưới được các phiền não và tất cả chúng sinh. Bảo Trượng, là đủ cả hai thứ phước tuệ đem làm gậy báu để sách tấn tiến đến quả Bồ-đề. Lại nói: Chúng sinh dựa vào gậy mà cầu vào Trung đạo. Vô thắng, là được trí tuệ thế xuất thế của pháp thật tướng không ai hơn nổi. Nghiêm độ, là tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Kim kế, là trí tuệ thật tướng sáng rõ như vàng. Kế “búi tóc”, là quyền trí dùng để trang nghiêm trên đầu tâm, nên gọi là Kim kế. Châu kế, tức là thật tướng trí tuệ, như vua Pháp Hoa mở lấy minh châu trong búi tóc đem cho. Người cho, là quyền trí. Di-lặc, là được Từ vô duyên gồm nhiếp tất cả. Văn-thù-sư-lợi, là nếu thấy Phật tánh liền đủ ba đức, không dọc không ngang, nên gọi là Diệu Đức… Như thế… các Bồ-tát tùy quán mà đặt tên để dẫn dắt mọi người quy tâm. Một người đều đủ tất cả quán môn, danh tự thông nhau, tức là chữ đồng, lời đồng, thân đồng, pháp đồng… Hiểu như thế, tức ở trong tâm quán mà thấy các Phật, Bồ-tát. Nên kinh Pháp Hoa nói: “Nếu có người tin lời các ông nói thì là thấy Ta cũng thấy các ông, Tỳ-kheo Tăng và các Bồ-tát”. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Mười phương các Như Lai đồng cùng một pháp thân, một kiến, một trí tuệ, lực vô úy cũng thế. Cho nên chư Phật và Bồ-tát đều căn cứ ở quán tâm mà nói.

Hỏi: Phàm phu quán tâm sao được dùng nghĩa giải thích về Phật và Bồ-tát?

Đáp: Kinh này có nói: Giải thoát của chư Phật phải tìm cầu trong tâm hành của chúng sinh, nếu chấp chặt danh tự lìa bỏ tâm mà cầu giải thoát của chư Phật và Bồ-tát thì có thể nói đó như ôm đá nhảy xuống vực sâu, đi chơi đêm mà bỏ đuốc.

“Như thế… Ba vạn hai ngàn người”, là đoạn lớn thứ năm kết số chúng.

Hỏi: Các Bồ-tát này nhất định đều là vị Thập địa Đẳng giác chăng?

Đáp: Các Luận sư Bắc phương nói từ Sơ địa đến Thập địa. Còn các Sư ở phương Nam thì nói là Bát, Cửu và Thập địa. Lại có Sư theo như Đại phẩm mà nói đều là bậc Bổ xứ. Nay nói không phải thế. Trước đã nói về bổn tích cao thấp chẳng thể lường thì sao cần phải phán quyết là nhất định?

Phần 2

Từ: Lại có một vạn Phạm thiên… là luận về tạp chúng chứng thành nghĩa không sai. Trong đây có đủ Phàm Thánh Đại, Tiểu thừa nên gọi là tạp. Đây có quyền thật. Thật là tùy nghiệp mà sinh. Nếu Pháp thân trụ ở hai mươi lăm Tam-muội để ứng hiện thọ sinh thì gọi là quyền. Nên văn trên có khen Bồ-tát rằng: “Mà ứng hiện thân mình sinh vào năm đạo.” Lại đoạn văn dưới có nói: “Chúng sinh bệnh thì Bồ-tát bệnh”.

Đây là chư Thiên… dự tòa nghe kinh. Nay ở Đại kinh phụ mở ra bốn trường hợp: Kinh ấy nói: Đối với người giới chậm không gọi là chậm, đối với người thừa chậm mới gọi là chậm. Giải thích điều này có nhiều cách, nay chỉ lấy nghĩa tiện dụng với văn kinh mà nêu bốn trường hợp:

  1. Giới thừa đều gấp.
  2. Giới chậm thừa gấp.
  3. Giới gấp thừa chậm.
  4. Thừa giới đều chậm.

Nếu luận chung giới và thừa thì tất cả pháp lành, tất cả quán hạnh đều coi chung là thừa giới. Nay lấy riêng mà xét thì tam quy, ngũ giới, thập thiện, bát quan trai, luật nghi xuất gia… cho đến định cộng để ngăn thân, khẩu, ngừa quả ác đạo, để được báo trời, người thì gọi là giới. Nếu nghe kinh mà hiểu, nếu quán trí suy tìm Tứ đế, mười hai Nhân duyên, mà sinh lý vô sinh, trí luôn phá các hoặc, thoát khỏi ba cõi… thì gọi là thừa. Nên trong Đại phẩm có nói: “Thiện có hình tướng không động không xuất, thiện không hình tướng thường động thường xuất”. Nhưng giới có thô tế, thừa có lớn nhỏ. Nay phân làm hai:

  1. Giải thích huyền nghĩa.
  2. Giải thích văn.

I. GIẢI THÍCH HUYỀN NGHĨA

có bảy:

  1. Gặp Phật không đồng.
  2. Tín pháp căn tánh.
  3. Căn tánh đại tiểu.
  4. Căn tánh đốn tiệm.
  5. Ứng tích đồng phàm.
  6. Quán tâm.
  7. Hóa tha.

1. Giới thừa chậm gấp gặp Phật không đồng. Giải thích bốn trường hợp trước:

Giới thừa đều gấp: Giới gấp thì thọ báo cõi trời, người, thừa gấp thì gặp Phật đắc đạo. Tức số trời, người đến hội ở kinh này.

Giới chậm thừa gấp: Giới chậm thì sinh vào ba đường ác. Thừa gấp thì gặp Phật đắc đạo. Chính nay là Long, thần… cùng đến nghe pháp. Cho đến khi nói Phương đẳng Đà-la-ni. Bà Tẩu từ địa ngục ra đem các tội nhân cùng đến nghe pháp. Lại các ngạ quỷ cũng đến nghe pháp. Khi nói Đại kinh thì các quỷ thần… cùng đến tập họp. Lại khi nói Đại phẩm thì Phật phóng quang chiếu xuống địa ngục, các người bỏ báo thân thọ sinh ở sáu tầng trời cõi Dục đều xuống nghe pháp… đều là người trước kia giới chậm thừa gấp.

Hỏi: Ở ba ác đạo vì sao lại được đạo?

Đáp: Số ít là Không được chứ không phải đều không được. Trong Đại luận có nói: Như thân có nốt ruồi đen, tuy không phải là người đen nhưng không phải Không đen.

Giới gấp thừa chậm: Giới gấp là được thân làm trời, người. Thừa chậm là Không được gặp Phật. Dù có gặp Phật cũng không được nghe kinh vào đạo. Như ở nước Xá-vệ có ba ức người không thấy Phật, ba ức người thấy mà không nghe pháp. Lại ở cõi trên số chư Thiên đắm mê dục lạc không đến nghe pháp… đều là việc này. Trọn thời gian Phật hoằng pháp sao rơi như mưa, nhưng cả cõi này không thấy không nghe cũng là nghĩa đó.

Giới thừa đều chậm: Giới chậm thì đọa vào tam đồ, thừa chậm thì không gặp Phật, luôn lưu chuyển trong sinh tử không có bến bờ.

2. Hai hạnh không đồng tức là tín và pháp:

1/ Do tin mà làm, tức do văn tuệ huân tập mà thành, đều do ở quá khứ là người học rộng, thọ trì đọc tụng, nghe pháp.

2/ Do pháp mà làm, tức do tu tuệ huân tập mà thành, tức ở quá khứ là người thiền quán. Hai hạng người này đều đủ giới thừa bốn trường hợp theo trên mà suy ra. Nhưng trong hai hạng người này lợi độn có khác. Về lợi thì ít học nhưng lại thường quán sát mà thấu suốt, hai hạng người này… ắt hẳn cầu thỉnh pháp thiện.

3. Căn tánh đại tiểu không đồng. Lại căn cứ tín và pháp thì mỗi thứ đều có đại tiểu.

1/ Nói tín hành Đại thừa, xưa nghe học Đại thừa, giới thừa đều gấp. Giới gấp thì sinh làm trời, người, thừa gấp thì lại được nghe Đại thừa. Còn ba trường hợp kia suy theo trước.

2/ Tín hành Tiểu thừa, xưa nghe học Tiểu thừa, giới thừa đều gấp. Giới gấp thì sinh làm trời, người, thừa gấp thì lại được nghe Tiểu thừa, ba trường hợp kia nên biết. Sau tiếp nói về pháp hành Đại, Tiểu thừa, giới thừa có bốn trường hợp như trên nên biết và chỉ riêng lợi độn là có khác.

4. Căn tánh đốn tiệm, có hai: Đốn đại, tiệm đại.

Đốn đại lại có hai là tín và pháp.

1/ Nói về căn tánh đốn của tín hành Đại thừa. Lúc xưa nghe Đại thừa, thọ trì đọc tụng giảng nói biên chép… Nếu thừa giới đều gấp thì sinh làm trời, người, dùng thân Đế Thích, Phạm thiên mà gặp Phật-xána ở bảy xứ chín hội. Thí như mặt trời mới mọc trước chiếu lên các núi cao. Nếu giới chậm thừa gấp thì đọa vào ba ác đạo, lấy thân rồng, quỷ, tu-la các thần mưa gió đối với Xá-na mà nghe pháp và đạo. Nếu giới gấp thừa chậm thì tuy ở cõi lành mà không nghe nói đốn thừa. Nếu thừa giới đều chậm thì đọa vào ba đường ác không thấy Phật, không nghe pháp.

2/ Nói về căn tánh đốn Đại thừa pháp hành: Ở quá khứ học Đại thừa tu một tâm ba quán. Nếu giới thừa chậm gấp thì có bốn trường hợp như loại tín hành trên nên biết. Riêng lợi độn có khác chút ít.

Nói về căn tánh tiệm đại tín pháp.

Tín hành căn tánh tiệm: Đã không có đốn cơ thì ắt không dự nghe thuyết giảng ở xứ hội Hoa nghiêm, lại có Tiệm cơ thì được nghe Tạng… bốn vị. Giới thừa đều có bốn trường hợp như trước có thể biết.

Đây như Đại kinh nói nghe tiếng trống độc gần xa đều chết. Gần thì như người nghe Hoa nghiêm liền tin nhận nhập vào Như Lai tuệ. Xa thì tức như người tiệm ngộ căn duyên. Trước tu Nhị thừa xa lìa Phật đạo, kế nghe Phương đẳng Bát-nhã đến Pháp Hoa Niết-bàn thì vì Như Lai diệt độ nên đều diệt độ cả. Năm vị tương sinh là ý này vậy. Nay ở pháp tòa này mà có bát bộ cùng nghe tức là hàng giới thừa đều gấp hoặc giới chậm thừa gấp.

Nói về căn duyên tín pháp đại tiểu tiệm đốn.

Hỏi: Hàng giới gấp thừa chậm và giới thừa đều chậm thì làm sao được đắt đạo?

Đáp: Được gặp Phật là nhân duyên đều gấp. Nếu không gặp Phật mà sinh trong đời chánh, tượng pháp thì cũng là duyên đều gấp. Cho nên Đức Như Lai di chúc khiến nương vào Mộc-xoa Niệm xứ mà tu đạo. Lại phó chúc lưu thông giáo pháp, thì đều là tạo nhân duyên tín hành giới thừa đều gấp.

Hỏi: Nếu chỉ tạo nhân duyên đều gấp, sao lại còn có căn duyên giới chậm thừa gấp?

Đáp: Chư Phật, Như Lai dùng đạo an ẩn làm nhân duyên, chỉ vì chúng sinh tội cấu sâu nặng, mà tu thiền quán hạnh không thể tịnh trì cấm giới đến nổi thành duyên giới chậm thừa gấp. Tuy loại giới chậm phải đọa ba đường ác, nếu gặp được Di-lặc và ngàn Phật, nghe pháp Tiệm đốn liền được vào đạo. Đại kinh có nói: “Ở giới chậm không gọi là chậm, chỉ có thừa chậm mới gọi là chậm.” Thừa chậm giới gấp tuy sinh làm trời, người nhưng không gặp Phật nghe pháp. Nếu hết quả báo sẽ lưu chuyển mãi trong sinh tử. Cho nên nói thà làm Điều-đạt mà chết vào địa ngục chứ không làm Lam-phất mà sinh lên trời thọ vui. Điềuđạt vốn được pháp chậm, do ác nghiệp mà bị đọa vào địa ngục, khi ra làm thân người sẽ là Bích-chi-Phật, thông minh lợi trí hơn ngài Xá-lợiphất. Còn Uất-đầu-lam-phất tuy được sinh lên trời, khi phước báo hết, phải đọa vào tam đồ lưu chuyển sinh tử chưa biết bến bờ.

1. Bồ-tát ứng thân. Vì để tiếp dẫn những kẻ có duyên được thấy Phật nghe pháp nên trụ vào hai mươi lăm Tam-muội, hiện thân thọ bốn đường ác ở hai mươi lăm hữu, đó là bậc Vô cấu bất thoái tâm lạc hoan hỷ. Dùng bốn thứ Tam-muội Từ thiện căn lực để tiếp dẫn kẻ căn tánh giới chậm thừa gấp tín pháp đại tiểu đốn tiệm về nghe giáo Đốn tiệm khiến được vào đạo. Nếu kẻ đều chậm thì khiến tạo duyên đều gấp. Kẻ trụ vào như huyễn… hai mươi lăm thứ Tam-muội dùng Từ thiện căn lực mà thọ thân người trời để tiếp dẫn các chúng sinh giới thừa đều gấp tín pháp đại tiểu đốn tiệm, giúp họ nghe giáo đốn tiệm để được vào đạo. Cũng vì hạng giới gấp thừa chậm mà tạo duyên đều gấp. Nay trong pháp tòa này tám bộ bốn chúng có kẻ là pháp thân Bồ-tát hiện thân ấy chính là nghĩa này.

2. Căn cứ theo quán tâm. Nếu người quán hạnh là Đại hay Tiểu thừa, Thừa giới có bốn trường hợp thọ thân nào, thì được thấy Đức Dilặc và nghe những pháp nào, hoặc không thấy không nghe không được vào đạo, được vào đạo hay không có thể biết. Hoặc không tu thiền quán đọc tụng thuyết pháp tức thành tín hành có giới gấp thừa chậm thì được đạo hay không có thể biết.

3. Về hóa tha. Nếu người quán hạnh giảng nói phải tự xét tâm hành dùng bốn ý này mà phân biệt được vào đạo hay không, liền thấy người được hóa độ các hạnh nghiệp không giống nhau, ở đời vị lai lên xuống đều biết rõ ràng, phải lấy ý này mà dẫn dắt hóa độ.

II. GIẢI THÍCH VĂN KINH

Phần tạp chúng có bốn:

  1. Phạm thiên.
  2. Đế Thích.
  3. Bát bộ.
  4. Bốn Bộ chúng.

Một vạn Phạm thiên vương: Phạm là tiếng Tây Vực, dịch là Ly dục hoặc gọi là Tịnh hạnh. Phạm Vương là chúa cõi Ta-bà ở khoảng Sơ thiền. Tỳ-đàm nói: Từ Nhị thiền trở lên không có nói năng nên không lập vua. Kinh Anh Lạc nói mỗi cõi thiền đều có Phạm vương. Nay bảo là do tu nhiều Vô lượng tâm có quả báo hơn cả nên được làm vua không có thống trị. Ở cõi Sơ thiền có giác quán và nói năng, ắt có vua chúa thống lãnh nên có vua ngự trị ở đời. Đây do xưa được giới thừa đều gấp nên lãnh chúng Sơ thiền đến nghe pháp. Nếu ứng hiện thân thì trụ ở Bạch sắc Tam-muội và các thứ Tam-muội có sức huân tập mà sinh cõi Sơ thiền, dẫn Phạm chúng đến nghe pháp.

Thi khí, đây gọi là Hỏa hay Hỏa Thủ, lại nói là bầu tóc, vì nhục kế giống như quả bầu. Xem phần tựa Pháp Hoa thì e đó là vua trời Nhị thiền. Nói vân vân “v.v…” là luôn cả Tam và Tứ thiền. Nếu hiện thân, là cả hai thứ tiếng sấm và nước mưa ba thứ Tam-muội dẫn các Phạm chúng đến.

Hỏi: Vì sao từ các bốn thiên hạ khác đến?

Đáp: Các cõi trên ở giữa hư không chỗ đến khó biết, lấy dưới định trên nên nói từ các tứ thiên hạ khác đến, lại có mặt ở tòa giảng.

Tiếp mới nói chúng Đế Thích. Chúa trời Địa cư, gọi là Thích Đềhoàn Nhân, Hán dịch là Năng tác. Nói về Đế Thích là khi xưa, lúc Phật Ca-diếp đã diệt độ, có người nữ phát tâm tu sửa tháp Phật ấy, lại có ba mươi hai người cũng phát tâm trợ giúp việc tu sửa. Do công đức sửa tháp vị nữ ấy làm vua trời Đao-lợi, các người trợ giúp kia trở thành các quan phụ tá. Họp vua tôi lại thành ba mươi ba vị chúa trời, vì thừa gấp nên đồng đến nghe pháp. Nếu hiện thân thì vua tôi đều là sức nan phục Tam-muội để sinh lên cõi ấy. Nên dẫn những kẻ ham mê dục lạc cùng đến nghe pháp.

Nói “theo các trời khác”, trong một tứ thiên hạ chỉ có một Thiên đế. Đã có một vạn hai ngàn nên nói từ các tứ thiên hạ khác đến.

Hỏi: Các trời trội hơn rất nhiều, vì sao chỉ nêu riêng Phạm vương Đế Thích?

Đáp: Phạm vương là trời chủ thế giới , Đế Thích là chúa trời Địa cư đều là chủ việc thỉnh Phật chuyển pháp luân, Lại đều là đàn-việt của Phật, nên nêu ra trước để làm chứng cứ cho kinh. Cùng các người khác đến hội tòa là phần nói chúng Bát bộ. Nghĩa của Bát bộ có nhiều liên hệ, nay lược xét văn mà giải thích.

Đại oai lực, là thấy suốt cả tám bộ. Văn trên chỉ nói Phạm thích nay lại nêu chung cả năm cõi trời Dục giới và năm trời Na-hàm trong Tứ thiền, mỗi nơi đều có vua và quyến thuộc cùng đến nghe pháp. Nếu quyền hiện thân sinh vào các trời này thì trụ vào Bất động Tam-muội, sinh vào cõi trời Tứ thiên vương. Nếu thích ý thì sinh cõi Viêm-ma, sắc xanh thì sinh cõi Đâu-suất, sắc vàng thì sinh cõi Hóa lạc, sắc đỏ thì sinh cõi Tha hóa, chiếu gương sáng thì sinh cõi Na-hàm… đều dẫn các trời đến nghe pháp.

Hỏi: Trời Vô tưởng vô sắc vì sao không đến?

Đáp: Vô tưởng là trời ngoại đạo. Bồ-tát trụ Hư không Tam-muôi cũng sinh vào cõi ấy, theo số đông mà luận thì hàng giới gấp thừa chậm phần nhiều không đến. Bốn cõi trời Vô sắc Bồ-tát trụ vào Vô ngại Tammuội thì sinh vào Không xứ, Thường thì sinh vào thức xứ, Lạc thì sinh vào bất dụng xứ, Ngã thì sinh vào Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, chỉ các cõi trời Vô sắc ấy không đến nghe pháp. Giả sử có đến cũng không thấy, nên không thể làm chứng. Những cõi trời này chưa nói đến nên lập lại là chư Thiên.

Về Long “rồng) là loài súc sinh, chánh báo có thân giống rắn, y báo có cung điện bảy báu giống trời, cũng có thể biến thành hình người đẹp đẽ, do giới chậm thừa gấp nên thế. Cũng như Tỳ-kheo Tăng Hộ nói pháp cho bốn rồng nghe rồi liền ngộ.

Thần Dạ-xoa đều là loài quỷ. Dạ-xoa, Hán dịch là Khinh tật “đi nhanh) có ba loại: Loại ở trên đất, loại ở trên không, loại hầu hạ các trời. Vì phá giới nên đọa làm loài Quỷ thần, vì độc ác nên làm thân Dạxoa. Do xưa tu thừa gấp nên được thấy Phật nghe pháp. Vì ít bố thí nên được quả báo nhỏ, bố thí xe ngựa nên bay được trên không.

Càn-thát-bà, Hán dịch là Hương ấm, đây cũng là loại thần bay trên không, không ăn rượu thịt, chỉ cần mùi hương nuôi thân. Lại gọi là Thần âm nhạc của vua trời, ở núi Thập bảo, có thân đen đúa, thường tấu nhạc trời, do xưa ham nghe kỷ nhạc. Vì giới chậm nên đọa làm Thần, vì bố thí nên quả báo giống trời.

A-tu-la, xưa gọi là Không rượu hoặc gọi thân lớn, vì nhặt hoa biển trong bốn thiên hạ gầy rượu không thành nên gọi là Không rượu. Lại nói là phi thiên. Quả báo của Thần này trội nhất trong các Thần, chỉ kém trời mà không phải trời. Lại gọi là Không đoan chánh, chỉ có thân nữ chỉ là đẹp tuyệt luân còn bà con đều xấu nên gọi là Không đoan chánh. Lại nói trai xấu gái đẹp. Do xưa ghen ghét não hại người khác nên luôn bị sợ hãi.

Ca-lầu-la, Hán dịch là Kim sí điểu “chim cánh vàng”, thuộc loài súc sinh, do kiêu mạn nhiều bị đọa, do bố thí mà trên cổ có châu Như ý, bắt rồng ăn thịt. Về quyền thì kinh Hoa Nghiêm nói:

Pháp thân Kim sí điểu

Bốn Như ý làm chân

Từ bi làm mắt sáng

Đậu cây Nhất thiết trí

Bồ-tát vua Kim sí

Trong biển sinh tử lớn

Tóm lấy trời, người, rồng

Đặt lên bờ Niết-bàn.

Đây là trụ bất thoái Tam-muội Kim sí pháp môn. Nên biết pháp thân trụ các Tam-muội, Long thần, Tu-la… đều có pháp môn. Giống như Kim sí nên biết.

Khẩn-na-la, Hán dịch là Nghi thần, trên đầu có sừng là Thần nhạc của chư Thiên, có quả báo thấp kém hơn Càn-thát-bà. Vì ham thích âm nhạc nên sinh vào loài Quỷ thần làm Thần âm nhạc. Vì tu ít công đức nên quả báo nhỏ. Bồ-tát trụ Tâm lạc Tam-muội, nên lực kém mà sinh làm loài này.

Ma-hầu-la-già, tức Rắn thần, cũng gọi là Địa long, là Thần không chân bò bằng bụng. Tức là miếu thần ở thế gian nhận rượu thịt của người đều vào bụng rắn mãng xà. Do phá giới tà nịnh và nhiều giận dữ, ít bố thí, ham rượu thịt, Giới chậm mà đọa làm Quỷ thần. Vì sân nhiều mà các loài trùng chui vào thân ăn hút. Do xưa ít bố thí nhưng khiêm kính nên được người cúng dường, vì thừa gấp nên gặp Phật nghe pháp. Từ trên đều là thừa giới đều gấp và giới chậm thừa gấp, nên đến nghe pháp, do đó ở đầu kinh đều có Bát bộ. Bát bộ mỗi mỗi đều ước nói người có căn duyên tín pháp đại tiểu đốn tiệm suy theo trước mà biết.

Các Tỳ-kheo đến hội tòa là phần bốn nói về bốn chúng. Tên Tỳkheo gồm ba nghĩa như trước đã giải thích. Ni là người nữ. Kinh xưa nói trừ cận nam, trừ cận nữ hay Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Hán dịch là thanh tín sĩ, thanh tín nữ, cũng gọi là thiện túc nam, thiện túc nữ. Tuy ở tại gia giữ năm giới, nhưng nam nữ không ngủ chung qua đêm nên gọi là Thiện túc. Điều giải thích này chưa thể coi là nhất định. Đây đều là giới thừa đều gấp. Giới gấp vì sinh vào loài người, thừa gấp nên được gặp Phật nghe pháp làm đệ tử.

Hỏi: Bốn chúng đều là giới thừa đều gấp vì sao lại có tại gia xuất gia?

Đáp: Do ham và chán không đồng. Tuy đều ưa thích Phật pháp, nhưng có người thích cạo tóc đắp y vào đạo, có người thích mặc áo trắng không chán, nên không đồng nhau. Bồ-tát nhập vào bốn thứ Tam-muội Nhật quang, Nguyệt quang, Như huyễn, Nhiệt viêm mà sinh vào tứ thiên hạ làm bốn chúng đệ tử, đây là dẫn các phàm phu nghe pháp vào đạo.

Từ “Khi ấy Phật… đến hết lời kệ thất ngôn” là tựa riêng. Các điềm lành thứ tự hiện ra là biểu thị muốn nói kinh này, nên tướng hiện ra không giống các kinh khác. Đây có hai phần:

  1. Từ “Lúc ấy Phật cùng… đến hết phần trường hàng” là tựa phát khởi.
  2. Từ “trưởng giả tử… đến hết kệ” là tựa tự thuật.

Tựa phát khởi: là hiện tướng riêng biểu thị muốn nói kinh này nhưng dùng tướng biểu hiện làm nghĩa nên hiện ra ba điềm lành để biểu thị ý muốn nói về ba đức pháp thân, ba thứ Tịnh độ.

1. Hiện thân tôn quý vòi vọi là biểu thị muốn nói cái thể chân tánh giải thoát pháp thân, cũng biểu thị muốn nói về cảnh tánh Tịnh chân thật, còn nước Thường tịch quang.

2. Còn Trưởng giả hiến tặng năm trăm lọng báu, Đức Phật dùng oai thần hợp thành một lọng là biểu thị ý muốn nói các nhân đã tròn đủ cùng hợp thành một Viên báo pháp thân viên mãn thật tuệ giải thoát, cũng biểu thị muốn nói về cõi nước Thật báo Viên tịnh .

3. Là hiện ba ngàn cõi nước chư Phật đang nói pháp đều hiện ra trong lọng. Đây là vô phương đại dụng biểu thị muốn nói phương tiện giải thoát Ứng thân, cũng muốn nói là phương tiện ứng độ.

Hỏi: Sao biết được khi hiện thân cao quý là biểu thị muốn nói chân tánh Bất tư nghị pháp thân giải thoát ?

Đáp: Đại phẩm nói: Thân tôn quý, lấy núi Tu-di soi mình xuống biển làm dụ, vì các núi khác không sánh kịp. Kinh này cũng thế. Lại nữa, kinh Pháp Hoa nói: Trưởng giả ở trong một thành oai đức tôn quý, kẻ cùng tử kinh sợ lánh mặt. Đây là Như Lai thị hiện thân tôn quý nói kinh Hoa Nghiêm, kẻ có căn cơ Tiểu thừa không kham nổi thế nên bỏ trốn xa. Ông liền cởi chuỗi anh lạc mặc áo xấu, đây là làm thân Tỳkheo già định nói Tam tạng giáo. Từ đó về sau tâm tướng thể tín ra vào Không khó, ra thì hiện thân áo xấu, vào thì hiện tướng oai đức, tức là hiện thân tôn quý nói giáo Phương đẳng. Trong nhà trưởng giả hiện thân oai đức khiến kẻ cùng tử hiểu biết gia nghiệp. Đó là hiện thân tôn quý tốt đẹp, chuyển dạy Bát-nhã cho các Bồ-tát. Lại ở trong nhà tập hợp các quốc vương đại thần định rõ thiên tánh cha con: “Ngươi thật là con ta, ta thật là cha ngươi”. Tức là kinh Pháp Hoa hiện thân tôn quý lúc thọ ký cho các Thanh văn. Lúc mới gặp thì luôn lánh xa, sau ra vào Không khó khăn, kế đó biết các vật rồi định tính cách cha con… gồm bốn phen hiện thân trưởng giả tôn quý có đeo chuỗi ngọc anh lạc làm đẹp đều là dụ cho Đức Thích-ca hiện thân tôn quý có ánh sáng rực rỡ vô lượng, biên không đều là biểu thị ý muốn nói thật tướng pháp thân giáo Phương đẳng này, vào ra không khó khăn, tuy thấy xuất phát từ Thảo am mặc áo xấu. Trưởng giả khi vào nhà cũng hiện thân có chuỗi anh lạc, anh lạc chính là trưởng giả. Nay là Phật cùng vô lượng đại chúng cung kính vây quanh là hiện thân tôn quý.

Hỏi: Sao biết hiện thân tôn quý là biểu thị muốn nói pháp thân.

Đáp: Kinh Pháp Hoa nói: “Ta dùng tướng thân đẹp, ánh sáng chiếu thế gian, vô lượng chúng tôn kính , vì nói ấn thật tướng.” Đại

Phẩm kinh cũng nói: “Các pháp thật tướng tức là Phật.” Hỏi: Sao được biểu hiện Tịch quang tịnh độ?

Đáp: Kinh này đã lấy Phật quốc làm tông chỉ, há không là biểu hiện cõi Tịnh cảnh? Pháp thân tức cõi nước, lìa thân không có cõi nước. Cõi nước tức pháp thân, lìa cõi nước không có thân. Chỉ có Chân như thật tướng không phải trí không phải cảnh mà nói trí nói cảnh. Không phải thân không phải cõi mà nói thân nói cõi. Đã biểu hiện thân tức biểu hiện cõi. Nên Kim Cang Luận có nói:

Trí tập duy thức thông

Như thế lấy Tịnh độ

Không hình, đệ nhất thể

Không trang mà nghiêm trang.

Còn kinh này thì nói: “Tùy tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.” Vậy biểu thị nói Thật tướng chân tâm lẽ nào đâu chẳng phải là nói cõi nước Thường tịch quang? Nhưng nghĩa biểu hiện thân là chung, chung với kinh, phổ tập, nghĩa biểu hiện cõi nước là riêng, riêng biểu hiện riêng Phật quốc.

Hỏi: Hợp lộng và hiện cõi nước sao được biết là biểu thị cho thân và cõi nước Báo ứng?

Đáp: Năm trăm cái lọng nhỏ hợp thành một lọng lớn há không phải là biểu thị các nhân hợp thành một quả. Một quả tức là Viên báo pháp thân viên mãn mà có thân tức là có cõi nước. Nên Văn kinh nói: khi Bồ-tát tu các hạnh bố thí… thành Phật chúng sinh như thế thì sinh vào cõi nước ấy.

Hỏi: Đây là nói Ứng thân thành đạo, đâu được chứng minh là Báo độ?

Đáp: Do Báo thân thành thì có ứng thân và ứng độ thành.

Căn cứ Tựa Phát khởi có hai:

  1. Như Lai hiện thân.
  2. Trưởng giả hiến lọng.

– Phần một, lại có ba: a. Phật nói pháp. b.Nói thí dụ. c.Hợp thí dụ mà nói.

Lúc đó Đức Phật cùng vô lượng đại chúng, chúng có bốn loại:

  1. Chúng phát khởi, như các vị Bảo Tích, Văn-thù, Di-lặc… Phát khởi cho nhau.
  2. Chúng ảnh hưởng, là pháp thân Bồ-tát ở cõi này cùng các cõi khác hiện thân làm Bát bộ và tứ chúng…
  3. Chúng Đương cơ, tức chúng nghe kinh được lợi ích như năm trăm Bát bộ và bốn chúng… đều là giới thừa đều gấp và giới chậm thừa gấp.
  4. Chúng kết duyên, là giúp chúng ở vị lai được giải ngộ do tu tiệm, đó là Bát bộ, bốn chúng thuộc giới gấp thừa chậm và giới thừa đều chậm. Nhóm bốn chúng này gồm chung tất cả chúng.

Cung kính là nói cơ thiện bên trong phát sinh. Vây quanh, là như bốn cửa thành cùng vào gặp vua, biểu thị cho bốn môn cơ động tùy giáo của Phật chuyễn hóa mà được thấy chân tánh giải thoát pháp thân. Vì nói pháp cho nghe, câu này xưa Sư Quang Thượng Thống hỏi Trường Nhĩ Tam tạng giáo rằng Đức Phật khi ấy nói cho vô lượng đại chúng những pháp gì?

Đáp: Nói kinh Phổ Tập tức thuộc giáo Phương đẳng. Do đó mà nay làm tựa cho kinh này. Kinh ấy nói Chánh báo nhân quả, nay nói Y báo nhân quả. Do Chánh mới có Y nên được làm tựa, giống như trước nói kinh Vô Lượng Nghĩa kế nói kinh Pháp Hoa.

1. Từ “Ví như…” đến “biển cả”: Nêu hai thí dụ. Núi Tu-di, Hán dịch là An minh cũng gọi là Diệu cao. Đâu những Diệu cao mà cũng là Diệu đại. Vì cũng như thân thật báo tôn quý của Phật trên cùng có thật tướng đảnh nên nói là Diệu cao. Công đức trí tuệ đầy khắp thế giới nên gọi là Diệu đại.

Hiển bày ở biển cả tức hiển bày tòa này nói về bốn môn thiện căn của bốn chúng có duyên, cũng là hiển thị biển sinh tử của tất cả chúng sinh như núi cắm sâu trong biển xanh mà vượt ra khỏi mặt biển. Phật không trụ ở sinh tử cũng không bỏ sinh tử, không trụ như núi vượt cao không bỏ như bóng hiện trên biển cả. Như nước biển không phải có bốn màu mà do bóng núi hiện ra nên có bốn màu. Đây là nói tâm chúng sinh không phải có bốn môn, Phật dùng Tất-đàn phương tiện mà nói có bốn môn khiến họ mất đi tâm ác; hiểu bản tướng là đồng với bốn môn lại không thể hiểu khác được.

2. Từ “An xứ…” “đến đại chúng” là , hợp thí dụ.

Báu là chỉ cho lý pháp tánh vạn thiện. Tòa vô úy là các pháp “Không chính là tòa vạn thiện vô úy “Không”. Thân tướng vòi vọi tương xứng với tòa là ví thật tuệ vi diệu tương ưng với lý không vạn thiện vô úy, “không”đây là hợp dụ núi Tu-di. Che phủ đại chúng, là nói đại giáo che các hiểu biết sai lầm “Vọng giải) đồng với chân giải, che các tà tiểu hiểu bốn môn đồng với thành bốn môn của Đại thừa, đây là hợp bày về thí dụ biển cả.

Từ “Bấy giờ… trở đi” là nói về con trưởng giả hiến lọng, có ba phần:

  1. Trước nói nguyên do biểu phát.
  2. Như Lai hợp lộng hiện tướng lành.
  3. Đại chúng thấy tướng lành đều hoan hỷ.

Năm trăm lọng hợp thành một lọng, là biểu thị từ ở trong nhân hướng về Phật quả thành vô duyên, tức biểu thị cho báo, pháp thân viên mãn, cũng biểu thị cho Y báo tịnh quốc. Chính là biểu thị kinh này lấy nhân quả Phật quốc làm gốc. Trong lọng hiện ra tất cả cõi nước là biểu thị quả địa Tịnh độ hiện ra tất cả ứng độ, tức là biểu thị cho lực dụng của kinh này.

Lại hiện ra mười phương chư Phật nói pháp, là biểu thị ở ứng độ ắt có ứng Phật làm hóa chủ. Đại chúng hoan hỷ tức là nghe bất tư nghị giải thoát. Căn cơ Phật quốc đã phát ắt thấm nhuần được lợi ích Đại thừa, người dự nghe đều hoan hỷ. Cho nên biết hiện tướng bí mật là biểu thị phát khởi kinh này, do đó mà làm tựa riêng.

Phần hai, Trưởng giả làm nguyên do phát khởi nên hiến lọng. Có ba phần:

  1. Đồng loại cùng đến.
  2. Chí thành, cung kính.
  3. Dâng lọng.

1/ Tỳ-dá-ly, đã giải thích đầy đủ ở trước. Thành là chỉ cho Niết-bàn. Nên kinh Hoa Nghiêm nói: Bạch tịnh pháp làm thành, quán tuệ làm tường vách, vô thượng trí làm lầu gác, tàm quý làm hào sâu, ba môn “không”giải thoát chánh niệm làm phòng hộ, bốn đạo làm đường chánh du hành ra khỏi tam giới, tạo lập Vô thượng pháp tràng để trừ diệt tất cả ma. Nay nói tánh tịnh Niết-bàn như thành trì. Không phải trưởng giả không phải Như Lai cùng ở trong thành ấy. Vì nhân mà xưng là con, vì quả mà xưng là Phật tánh không phải nhân quả mà nhân quả, tánh Y báo có nghĩa giống với thành trì. Giải thích về Bảo Tích như trước đã nói.

Sự việc về năm trăm trưởng giả tử nên biết hoặc biểu thị cho pháp môn, hoặc biểu thị cho năm thứ chủng tánh thiện căn, mỗi chủng tánh có một trăm, tức năm trăm thiện căn đều là nhân, nên gọi là con. Lọng bảy báu là biểu thị bảy Giác chi điều phục khiến tất cả dừng lại mà sinh thật tướng chân giải nên gọi là bảy báu. Trải các pháp mà khởi Từ nên gọi là lọng. Lọng có nghĩa che chở, tức Từ tâm che mát tất cả chúng sinh. Đến chỗ Phật, là nhân tu trải các pháp riêng, mà duyên với Từ. Nay phát ra nhân Vô duyên hướng về quả vô duyên che khắp tất cả.

  1. Chí thành, tức đầu mặt lễ Phật chân thật là tỏ rõ sự tôn kính, biểu thị nhân trí ở trên tiếp với quả trí ở dưới.
  2. Dâng lọng, nhân có nghĩa trợ giúp quả của cải là quả nên nói cúng dường.

2/ Từ “Oai thần của Phật…” trở đi là nói Như Lai hợp lọng và hiện các tướng lành. Có hai phần:

  1. Nói việc hợp lọng.
  2. Chính nói về hiện tướng lành.

a. Văn nói năm trăm trưởng giả tử đều hiến lọng là biểu thị mỗi người đều tu nhân.

Hợp thành một lọng: là biểu thị một quả Viên. Đã có Chánh nhân có thể cảm lấy Chánh quả tất là Y nhân sẽ cảm được Y quả. Nói “biến khắp tam thiên” là biểu thị một quả thể Vô duyên đại từ khắp che pháp giới. Như luận về Chánh báo kinh Phổ Tập đã nói. Nay hiện tướng Chánh báo biểu thị Y báo khắp che tất cả.

Từ “Mà thế giới này…”trở đi, là nói chánh hiện tướng lành. Có hai phần:

  1. Hiện ra cõi nước.
  2. Hiện Phật nói pháp.
  3. Hiện cõi nước có bốn:
  4. Hiện tướng cõi nước rộng dài.
  5. Hiện mười núi.
  6. Hiện biển lớn và các sông.
  7. Hiện nhật nguyệt và Thiên cung.

Hiện cõi nước chính là biểu thị Y báo thế gian, rộng cả trăm ức, nên nói là rộng, cao suốt trời Hữu đảnh nên nói là dài. Lại giải thích ngang khắp mười phương nên gọi là rộng, suốt khắp bốn cõi nên gọi là dài.

Từ tam thiên này đến cả núi Thiết vi hiện mười núi, e là nói về thế gian chúng sinh.

Hiện biển lớn và các sông Từ “đại hải đến triền nguyên) e là biểu thị cho năm ấm thế gian.

Hiện nhật nguyệt và Thiên cung Từ “nhật nguyệt đến bảo cái) hoặc biểu thị cho khí thế gian. Bốn thứ thế gian hiện ra trong lọng là y báo, là chỗ nương của thế gian chúng sinh và năm ấm.

Hỏi: Hiện tướng vô tình sao được nương vào hữu tình?

Đáp: Hễ nói Đại thừa hiện tướng thì đều thế cả.

Hiện chư Phật nói Từ “mười phương đến bảo cái”. Nếu nói y báo ắt có năng y. Đã có chúng sinh được hóa độ ắt có ứng Phật hóa đạo, cho nên trong lọng hiện ra chư Phật và Phật nói pháp, vì có bốn Phật trụ ở bốn cõi nên đều gọi là Phật quốc.

Đại chúng thấy tướng lành đều vui mừng Từ “Nhĩ thời nhất thiết trở đi”. Phần này có ba:

  1. Khen chưa từng có là khẩu nghiệp cúng dường. Từ xưa đến nay chưa từng hiện ra tướng lành hợp lọng, biểu thị là sẽ nói về Phật quốc.
  2. Chắp tay lễ Phật là thân nghiệp cúng dường.
  3. Chiêm ngưỡng Tôn nhan là ý nghiệp cúng dường.

Vì hiện ra tướng lành nên tất được nghe bất tư nghị Phật quốc, sẽ được ba nghiệp thanh tịnh và ba luân bất tư nghị hóa, sẽ được lợi ích đó nên tâm vui mừng của người dự nghe phát ra, do đó đều bày ra ba nghiệp cúng dường. Chỉ hiện ra tướng lành là biểu thị việc phát khởi tình ý cho mọi người. Khi tâm ý mọi người đã kính ngưỡng và đã hiện ra chư Phật ắt phải phó duyên mà nói pháp. Việc mừng vui làm tựa để nghĩa càng thêm gần gũi.

b. Tựa tự thuật, từ “trưởng giả tử Bảo Tích…” : Đức Phật hiện tướng lành khó lường, nếu không phải thần trí cao sáng của Bảo Tích thì ai biết được chỗ biểu thị ấy, vì muốn khiến chúng lúc đó biết việc hiện tướng lành là muốn nói về Phật quốc để tin hiểu rõ ràng, nên nói kệ để khen ngợi. Với ba mươi sáu hàng kệ thì chia làm hai, mười bảy hàng đầu là thuật nguyên do khen ngợi hiện tướng, mười chín hàng sau là chính khen ngợi thuật lại tướng hiện ra. Nguyên do hiện tướng lại có hai phần, chín hàng kệ đầu là khen ngợi thắng ứng pháp thân cho là nguyên do gần, tám hàng kệ sau là khen ngợi liệt ứng cho là nguyên do xa.

1/ Nói về thắng ứng là hoặc vì Bồ-tát nói pháp Đại thừa thì hiện tướng oai đức thù thắng, liền từ thắng ứng này mà được pháp thân.

2/ Nói về liệt ứng, hoặc vì Thanh văn nói pháp Tiểu thừa thì thân tướng thô kém, liền từ liệt ứng đó mà không thấy pháp thân. Cho nên kinh Pháp Hoa có nói: “Liền cởi bỏ chuỗi anh lạc mặc áo xấu, thân đầy bụi nhớp, dáng vẻ đáng sợ sệt.”

Hỏi: Vì sao thắng ứng là nguyên do gần, liệt ứng là nguyên do xa?

Đáp: Thắng ứng tức là ngay ở tòa nói kinh Phổ Tập, do đây mà hiện điềm lành nên là nguyên do gần, còn liệt ứng là thân nói pháp Tiểu thừa, thuở xưa làm nguyên nhân nên là xa.

Hỏi: Liệt ứng của Tam tạng giáo tự nhiên là việc xưa, vì sao lại làm nguyên do xa cho việc này?

Đáp: Kinh Pháp Hoa có nói: Trong suốt hai mươi năm thường khiến quét dọn phân, từ đó trở về sau tâm tướng thể tín vào ra không khó khăn, cho nên ngay lúc này hiện Thắng ứng thân mà nói pháp Đại thừa cho hàng Thanh văn. Việc hợp lọng hiện tướng lành là biểu thị nói Phật quốc, phải biết là do liệt ứng ngày xưa mà hiển bày thắng ứng ngày nay, nên nói là nguyên do xa. Xét nguyên do gần có hai:

1/ Hai hàng kệ đầu là lược khen về hai ích lợi của hình và tiếng.

2/ Bảy câu kế là rộng khen ích lợi của hình và tiếng. Rộng và lược đều là khen cả. Lược là nói chánh báo nhân quả trong kinh Phổ Tập. Vì sao biết được? Vì tiếp theokhen nói pháp là Không hữu cũng không vô, do nguyên nhân duyên mà các pháp sinh. Hai hàng đầu lại có hai: Hàng đầu là khen ích lợi về hình, hàng hai là khen ích lợi về tiếng. Phần hình lại hai: Câu đầu khen công đức của sắc, câu hai khen công đức của tâm. Đại kinh có nói: Phật tánh cũng là sắc mà không phải sắc. Vì sao gọi là sắc, vì đó là thân Kim cang. Sao gọi là Không phải sắc, vì là mười lực Vô úy không phải là sắc pháp. Nay trước khen về sắc lại căn cứ vào mắt mà khen, tức là một trong ba mươi hai tướng của thân Kim cang . Nhưng thân có nhiều phần mà quý nhất là đầu, đầu có nhiều phần mà tông chỉ là mắt, khen phần cao quý ắt gồm cả phần thấp kém. Về lực Vô úy… thì trí tuệ có nhiều thứ, nhưng khen tâm là bao gồm tất cả. Thế nên khen cái tông chỉ là sắc và tâm. Mắt là tên khác của nhãn. Nhãn chủ ở gan, gan buồn thì mắt ứa lệ, vậy khen nhãn tức là khen đức đại bi. Đại luận nói: Bát-nhã là mẹ Phật, đại bi mẹ là Bát-nhã. Cho nên căn cứ tướng này mà khen sắc công đức.

Hỏi: Pháp thân cũng có tướng ư?

Đáp: Đây là Thắng ứng biểu thị cho pháp thân, tìm ở tướng mắt này mà được pháp thân Phật nhãn, cho nên khen ứng thân tức là khen pháp thân Phật nhãn. Các tướng khác nên suy theo đây. Nên kinh Pháp Hoa nói: “Tịnh pháp thân vi diệu, đầy đủ ba mươi hai tướng, “. Nhưng mắt là tên chung, từ dụng mà phân biệt có năm thứ:

  1. Nhục nhãn, nhìn thấy sắc thô.
  2. Thiên nhãn, thấy sắc tế nhân quả.
  3. Tuệ nhãn, nhìn thấy sắc tâm thô tế và lý thiên chân.
  4. Pháp nhãn, thấysắc thô tâm tế, các pháp nhân duyên giả danh Tục đế.
  5. Phật nhãn, thấy lý Trung đạo Phật tánh viên chân. Lại luôn song chiếuề nhân duyên lý sự thô tế.

Căn cứ theo giáo thì bốn Phật năm nhãn không đồng. Trong Kim Cang Bát-nhã Phật hỏi ngài Thiện Cát: Như Lai có nhục nhãn cho đến có Phật nhãn chăng? Ngài Thiện cát đáp: Như Lai có Nhục nhãn cho đến có Phật nhãn. Nay Bảo Tích khen năm nhãn đều lìa cấu chướng nên nói là mắt sạch. Nói tu quảng, tu là dài, quảng là rộng. Cả năm mắt nhìn thấy cảnh dọc sâu tận đáy nên nói là tu, rộng khắp pháp giới nên gọi là quảng. Như hoa sen xanh, ở Tây Vực có hoa sen xanh lá rất to có hình dài rộng giống mắt Phật nên dùng để thí dụ. Lại không phải chỉ là hình giống mắt Phật mà nó ở trong bùn lại không dính hôi bùn, năm nhãn cũng thế, không phải chỉ chiếu thấy cảnh tận khắp ngang dọc, mà dù chiếu cảnh đời cũng không bị ô nhiễm nên khen mắt sạch như hoa sen xanh.

Nay lược năm nhãn theo văn mà giải thích:

1. Nhục nhãn là quả công đức không do nghiệp chướng xấu ác hun đúc, nên gọi là mắt sạch, thấy dọc các sắc từ địa ngục lên đến trời Hữu đảnh nên gọi là tu, rộng khắp trăm ức không sắc nào không thấy nên gọi là quảng. Tuy thấy các sắc mà không bị nhiễm trước, nên nói như hoa sen xanh.

2. Thiên nhãn, nhân thiền định mà lìa các cái, phát ra tịnh nhãn căn, vì nhãn căn trong sạch nên gọi là mắt sạch. Thấy dọc ngoại giới nên gọi là tu, ngang thấy cả mười giới nên gọi là quảng, tuy thấy mà không bị nhiễm như hoa sen xanh.

3. Tuệ nhãn, không còn kiến tư hoặc ở nội ngoại giới nên gọi là mắt sạch, chiếu dọc cả chân lý rốt ráo nội ngoại nên gọi là tu, thấy ngang khắp chân lý nội ngoại nên goị là quảng, thấy chân mà không bị nhiễm nên như hoa sen xanh.

4. Pháp nhãn, là Không có trần sa hoặc nên gọi là mắt sạch, thấy dọc cả bốn pháp Tứ đế, dọc suốt nội ngoại giới nên gọi là tu, thấy ngang pháp bốn thứ Tứ đế khắp mười giới mười phương nên gọi là quảng, không đắm nhiễm các pháp nên như hoa sen xanh.

5. Phật nhãn là Không có pháp giới vô minh nên gọi là mắt sạch, thấy dọc cả Trung đạo pháp giới cả nội ngoại giới đến tận nguồn rốt tánh nên gọi là tu, thấy ngang mười giới Trung đạo một thời viên chiếu nên gọi là quảng, không bị pháp giới vô minh sinh tử làm ô nhiễm như hoa sen xanh. Đây chỉ là lược nêu ra năm nhãn của Biệt, Viên, còn Tạng Thông thì đều xéttheo hai đế nội giới để nói về năm nhãn. Nếu căn cứ theo tình ý sắc tâm phân biệt thì tức là năm nhãn của Tam tạng giáo. Nếu căn cứ theo huyễn hóa sắc tâm phân biệt thì là năm nhãn của Thông giáo.

Hỏi: Nay trưởng giả tử quyết định khen nhãn nào?

Đáp: Kinh thuộc Phương đẳng thì tùy bốn căn duyên mà nói đủ bốn giáo, khiến không còn có sự nghe biết khen ngợi nào trái ngăn. Sau đó nói là dùng một thứ tiếng diễn nói mà tùy loại đều nhận hiểu. Nếu với người quán tâm thì một tâm ba quán, quán chiếu về tâm, các nhân duyên thô tế và tức không, giả, trung để đối tu năm nhãn mà tâm ý biết được, hoặc tâm tịnh đã trải qua các Thiền định mà biết.

Câu kế tiếp khen tâm. Nói “Tâm tịnh”, là khi Phật trí đã xét biết tận nguồn gốc sự vật thì không còn pháp giới hoặc nữa, nên nói là tâm tịnh. “Đã trải qua các thiền định” là luận chung về Thiền định đều thông cả nhân quả. Nên trong Đại kinh có nói: Đại Niết-bàn gọi là “Hang sâu Thiền định”, đâu lại được khen là tâm tịnh đã trải qua các Đại Niết-bàn. Nay xét theo nghĩa riêng thì thiền định căn cứ vào nhân, còn tâm Phật là dựa vào quả, quả nằm ngoài nhân nên nói là đã độ.

Hỏi: Do đâu mà biết thiền gọi là nhân?

Đáp: Đại Luận có nói: “Thiền Trung hoa nói là tu tư duy”, nhưng tâm Phật là gương trí tròn sáng đâu có phát ra tư duy, Phật là bậc Vô học rốt ráo đâu được nói là tu. Lại dịch là bỏ ác. Như Lai là bậc Thuần tịnh còn ác nào mà bỏ. Nên trong Đại kinh có nói: “Có chỗ đoạn trừ thì gọi là Thượng sĩ, không còn chỗ đoạn trừ thì gọi là Vô thượng sĩ.” Cho nên các nghĩa tư duy đều là nhân.

Xét về giáo, thì tâm của Phật Tam tạng giáo không có tập khí nên gọi là tâm tịnh, Tứ thiền Tứ không luôn quán luyện luân tu, dứt hẳn pháp ái nên gọi là đã độ, chỉ có lực Vô úy không thể đẳng chiếu. Tâm của Phật Thông giáo, chiếu suốt cội nguồn Chân đế, tập khí nội giới dứt hết, đối với các thiền định đều tự tại vô ngại, mười lực Vô úy cùng một lúc chiếu vào cảnh, nên gọi là đã độ. Theo Biệt giáo, trí duyên tu hiển bày tâm tự tánh, thanh tịnh, mười hai phẩm vô minh rốt ráo dứt hẳn. Kinh Địa Trì nói: Chín thứ Đại thiền, Bồ-tát nương vào thanh tịnh thiền thứ chín mà được quả đại Bồ-đề, hơn cả thanh tịnh nên nói là đã độ. Đây là căn cứ theo trước Địamà tu tự tánh thiền . Đăng địa được tất cả thiền cho đến bậc Đẳng giác trụ ở thanh tịnh thiền, đoạn dứt mười một phẩm vô minh mà vào trùng huyền môn nên gọi là thanh tịnh thiền, Phật quả hơn cả nên nói là đã độ. Về Viên giáo, thì sáu căn thanh tịnh tức là tự tánh thiền, sơ phát tâm trụ tức Nhất thiết thiền, khi đã rốt ráo lìa bỏ các hư vọng thì hiển bày tâm tự tánh thanh tịnh. Như thế cho đến thanh tịnh thiền phá tan bốn mươi mốt phẩm vô minh mà trụ vào địa Vô cấu. Tâm Như Lai tịnh trải qua các thiền định này mà lên quả Diệu giác, nên nói là đã độ. Cho nên kinh Kim Quang Minh có nói: “Khi đó Đức Như Lai dạo khắp vô lượng pháp tánh, rất sâu hơn các sở hành thanh tịnh của Bồ-tát đã làm.” Kinh Anh Lạc nói: Thuở xưa ở hội Hoa nghiêm nói tập hợp chúng Bát thiền tức tám thiền trước vì nói kinh Hoa Nghiêm, để được nhập vào thanh tịnh thiền mà trụ ở địa Vô cấu. Thường Theo thì hàng Thanh văn còn như câm điếc, thì Bát thiền ngoại đạo sao có thể tập hợp nghe kinh được.

Nếu căn cứ heo quán tâm, một tâm ba quán thì tâm mỗi mỗi chúng sinh tức là tâm Như Lai, bổn tánh thanh tịnh nên nói là tâm tịnh có thể vượt qua sự thiền nên nói là đã độ.

Hàng thứ hai: Khen ích lợi về tiếng của việc hóa tha Từ ““Tích chứa đã lâu”… một câu): Sở dĩ như thế, vì từ lâu tu thiền, trong thì thành tựu tướng hảo, ngoài đủ các thần thông, xứng hợp tình ý muôn vật. Lại từ vô lượng kiếp đến nay luôn tu trí tuệ, trong luôn lìa bỏ các kiết, xứng lý pháp tướng nên được tịnh tâm trải các thiền định, ngoài xứng hợp với vô lượng căn duyên chúng sinh, có thể đối với bốn bất khả thuyết dùng bốn Tất-đàn mà khởi bốn đạo giáo hóađộ tất cả chứng được bốn diệt lý, nên nói là giáo hóa các chúng đã xong. Lợi ích của hình và tiếng về ân đức độ sinh rất nặng nên cần kính trọng cúi đầu. Lại nên hiểu Bát-nhã hướng dẫn đến khi chứng quả liền ngưng dứt, nên nói là đã xong. Câu trên là giải thích mắt sạch rộng dài, câu dưới là nói tâm tịnh đã độ.

Từ “đã thấy”trở xuống bảy hàng rộng khen về hình tiếng .. có hai phần:

  1. Rộng khen ích lợi về hình “năm hàng đầu”.
  2. Rộng khen ích lợi về tiếng “hai hàng kế”.

Đã thấy đại chúng: Thấy sắc dụng thần biến của Phật, tức là sắc của pháp thân thanh tịnh vô ngại giống như châu như ý cũng như gương sáng, cho nên việc phóng quang, đất chấn động và mười phương cõi Phật đều hiện ra. Đó là sắc tất cả hướng đến. Sắc là tạng bất tư nghị, sắc là pháp giới hải, vì nó rộng lớn như hư không không bờ mé cho nên uớc về sắc mà khen dụng của công đức.

Từa Trong đó chư Phật… trở xuống một hàng…là giải thích việc thành tựu sắc dụng Nếu không do thần lực của Phật gia bị cho hội này thì đâu thể thấy được chư Phật ở phương khác và nghe được Phật nói pháp. Như trong kinh Pháp Hoa, Phật dùng thần lực khiến chúng thấy được trăm ngàn vạn ức cõi nước và Bồ-tát trên không trung.

Hỏi: Đây là lý do hiện tướng biểu thị sao được là nguyên do biểu thị gần?

Đáp: Có Luận sư nhầm bảo là hợp lọng thì hiện cõi nước. Nay tìm thấy văn kinh không phải thế. Đây là khen nói kinh Phổ Tập mà hiện tướng, không phải là hợp lọng hiện tướng lành. Hợp lọng hiện tướng lành thì như đoạn kệ sau nói: “Nay dâng Thế Tôn lọng nhỏ này, trong đó hiện ra tam thiên giới”mới chính là khen tướng biểu thị.

Từ “Pháp vương pháp lực…” một hàng trở xuống là khen tâm dụng của Phật . Nói Pháp vương, là được Tam-muội vương Tam-muội nên gọi là Pháp vương. Pháp lực là vì đối với hai đế, ba đế, bốn thứ Tứ đế, tất cả các pháp đều rất tự tại . “Vượt cả quần sinh”, là tâm Phật thanh tịnh vượt ngoài hai thứ sinh tử, biểu thị việc ra khỏi mười giới.

“Thường dùng pháp tài thí cho tất cả” là đem Thất Thánh pháp tài bốn loại Đạo đế luôn bố thí cho mười giới tùy ý xứ dùng.

Hỏi: Pháp tài là thuộc dụng của sắc hay của tâm?

Đáp: Tài chung cho sắc và tâm, như các ngài Vô Tận Ý và Tịnh Danh bố thí đều gọi là pháp thí. Nhưng căn cứ ở tâm, sắc, tiếng của năng thí thì đều là thuộc pháp tài thí.

Từ “Khéo phân biệt… trở xuống một hàng là xét theo hai trí lấy đógiải thích về dụng của tâm “ pháp thí và tài thí) xác định thành nghĩa của pháp thí. Quyền trí thì phân biệt pháp tướng thế đế, thật trí thì đối với Đệ nhất nghĩa mà bất động.

Hỏi: Ở trên phần nhiều phán định theo ba đế, nay sao lại được dùng hai đế mà khen?

Đáp: Hợp chân vào trung, hợp chân vào tục là hai đế của Thông giáo Biệt giáo, theo huyền văn tinh giản. Lại giải thích nếu tùy tình mà biện tức là thật trí vắng lặng mà thường chiếu. Thế nên khen nói “đối với Đệ nhất nghĩa mà bất động.

Từ “Đã đối với các pháp… một hàng trở xuống” là kết phần khen dụng của sắc và tâm. Đã đối sắc pháp mà được tự tại nên có thể chuyển biến khắp hiện cõi Phật. Đã đối với tâm pháp mà được tự tại nên hai đế khai hợp tùy cơ hội vật. Công dụng của sắc và tâm đã hoàn bị chính là nơi đáng để quy y, do đó mà kính thành cúi đầu.

Từ “Nói pháp chẳng có…” hai hàng là rộng khen ích lợi của tiếng. Thuật lại ở trên khen bốn chúng vây quanh vì họ nói pháp. Trước hiện tướng tôn quý là biểu thị nói pháp Đại thừa. Nay cũng hiện nói pháp biểu thị sẽ nói về y độ, chứng nghiệm là Không nói gì khác, do đó dùng làm tựa khiến có lời khen này.

“Chẳng có chẳng không”, tức là pháp Trung đạo. “Chẳng có”nên không phải tục, “chẳng không”nên chẳng phải chân. Song nói pháp vốn căn cứ ở hai đế, đã không phải hai bên thì là nói pháp gì? Nên biết đó là nói Trung đạo Đại thừa. Vì sao? Vì phàm phu là “Có”, Nhị thừa là “không”, còn Bồ-tát thì chánh quán Trung đạo Phật tánh. Thế nên Phương đẳng vì các Bồ-tát mà nói nhiều về pháp môn Trung đạo bất nhị. Cho nên nói “Chẳng có cũng chẳng không”.

Hỏi: Trên đã dùng hai đế để khen Phật trí nay nói pháp sao căn cứ theo ba đế?

Đáp: Có, không là tục, Trung đạo là chân, tức là hai đế.

Hỏi: Ngoại đạo cũng nói Thần và thế gian không phải thường, không phải vô thường tức là Không phải có không phải Không. Tiểu thừa cũng vì Xa-nặc mà nói lìa có, không. Nay vì sao được nói chỉ là Đại thừa?

Đáp: Phàm phu ngoại đạo còn không thấy “hiểu) được lý không vô của chân đế, huống là thấy lý không phải Không. Trong kinh Thanh Văn nói không phải có không phải Không là thấy lý không của chân đế mà đâu từng thấy được Lý trung không phải Không. Căn cứ giáo mà nói hai thứ “Không phải”chẳng giống nhau. Nếu ngoại đạo cho rằng câu song phi đầy đủ đơn, phức và bất khả thuyết… đều là vọng tìn thì không thấy được lý “không”, không thoát khỏi sinh tử,. Họ thấy “khôn”còn chẳng được huống là thấy “chẳng phải Không”thấy đều bị Tam tạng giáo hữu môn phá bỏ. Tam tạng giáo phá kiến gồm có bốn môn. Vì Xa-nặc mà nói kinh lìa có, không thì chỉ là môn “chẳng phải có, chẳng phải Không”thôi. Nếu được phương tiện từ môn vào lý thì chỉ gọi là “chẳng phải có” chứ không gọi là “chẳng phải Không”ô. Nếu không được phương tiện thì rơi vào chấp có, không đồng như ngoại đạo. Giả sử có vào Lý cũng không phải chẳng có chẳng không của Đại thừa Thông giáo quán Sắc… đều như huyễn hóa không nói có, không. Nếu từ môn mà vào lý thì đây tức là môn “chẳng phải có, chẳng phải Không”. Nếu hướng về người Thông giáo hoặc nghe nói thấy Lý hoặc chấp là bị lửa hý luận tà kiến thiêu đốt. Giả sử có vào lý thì cũng không phải là chẳng có chẳng không của Trung đạo Biệt giáo quán Trung đạo, ước phá hai bên nói “chẳng phải có, chẳng phải Không”, thì đây là theo bốn môn của Tạng tánh mà nói “chẳng phải có, chẳng phải Không”, khác xa hai giáo trước, nếu được vào Lý thì không cần phá. Nếu chưa ngộ là luận ngu si không phải thật là chẳng có chẳng không của Trung đạo. Về Viên giáo tuy có bốn môn, mà một môn tức là bốn môn, bốn môn tức là một môn, có, không bất định, không có chỗ nương cậy, đem cái tâm hư dối này rỗng trong thấy Trung đạo, nếu ở đây còn đắm trước thì vẫn cần phải phá, huống là các thứ khác. Nay nhặt bỏ các dối trá để chỉ rõ các chân thật mà được ý viên giáo “chẳng có, chẳng không” là để khen cái Thắng ứng thân chẳng có chẳng không vậy. Lại nữa, ba thứ đều “phi”ở trước là quyền, viên giáo là thật. Quyền thật đều nói, nên nói “thuyết pháp chẳng có cũng chẳng không”ết pháp về duyên khởi. Duyên khởi có hai đã như trước nói. Nay khen thì ý đầy đủ gồm hai thứ này. Song thể nó không phải là có, không thì đâu thể có sinh. Vì có nhân duyên cho nên cũng nói. Vì thuận theo nhân duyên nội giới vô minh thì hai thứ khổ, tập sinh ra, khi nhân diệt vô minh thì hai đạo diệt sinh ra. Ngoại giới cũng chuẩn theo đây mà nói. Cho nên nói do có nhân duyên mà các pháp sinh ra.

“Không có ngã, không tạo tác, không thọ nhận”, một câu này là kết nghĩa “chẳng phải có, chẳng phải Không”lại phối hợp bốn giáo mà nói bốn thứ vô ngã vô thọ…

“Thiện ác không mất… một câu” là kết do nhân duyên mà các pháp sinh ra. Vô minh của Thông giáo biệt giáo là ác của nội ngoại giới thì hai xứ khổ tập không tiêu mất. Nếu vô minh của thông giáo Biệt giáo mất thì hai xứ đạo và diệt không tiêu mất. Nhân duyên sinh diệt do đây mà biết.

“Mới sinh tại Phật thọ… trở xuống tám hàng”, là khen Liệt ứng thân làm nguyên do xa. Có hai phần: Hai hàng đầu là khen ích lợi của hình, sáu hàng sau là phần khen ích lợi của tiếng. Khen ích lợi của hình có hai:

  1. Khen ứng sắc.
  2. Khen ứng tâm.

Phật thọ, là ngồi dưới cây này mà thành Phật. Có người nói là Nguyên cát, cũng gọi là Bồ-đề. Khi mới thành đạo, Phật đến ngồi dưới cây này. Ma sợ ngài thành đạo sẽ hóa độ quyến thuộc mình khiến trống cung điện. Bèn trước sai ba cô gái, nhưng Bồ-tát tâm vẫn an không thể quấy động. Ma vương càng giận bèn đem cả tám mươi ức quỷ thần binh chúng ở Dục giới đến chỗ Bồ-tát, nhưng cuối cùng đều bại tan “nói đầy đủ trong kinh Thụy Ứng)

Cam lộ diệt. Ma vương đi rồi, đến giữa đêm Bồ-tát nhập vào Tứ thiền ba mươi bốn tâm thấy rõ lý Tứ đế, gọi là được cam lộ, các chánh tập khí đều dứt hết nên gọi là diệt, thành giác đạo là vì Tứ đế phát khởi, chân kiến Đệ nhất nghĩa, lúc đó sáng suốt đại ngộ, biết thường và vô thường, biết chúng sinh số và phi số đủ các pháp như Lực, Vô úy… gọi là Thành tựu giác đạo, thần lực hàng ma, là thần thông, tức là dụng của công đức sắc pháp .

Đã không tâm ý… một hàng, là khen ứng tâm. Không tâm ý… là khi được cam lộ rồi, thì thấy ái bốn ấm điên đảo, đều mất, nên gọi là Không tâm ý. Bởi sao? Vì nếu có tâm ý liền có tâm điên đảo, điên đảo tức là ba thọ, thọ tức ba khổ, tức là Khổ đế. Hành tức là hành ấm, suy nghĩ luôn tạo nghiệp. Nghiệp chiêu vời sinh tử tức là Tập đế. Không tâm thì không có thọ, không thọ thì không hành, không hành thì không nghiệp, không nghiệp nên không tập. Không tập thì không khổ. Khổ tập nếu diệt tức là được cam lộ diệt thành tựu giác đạo. Kinh Đại Phẩm nói: “Năm thọ năm hành.” Hành là Tập đế, Tập đế đã đoạn nên Phật không tâm ý. Không tâm ý nên không có năm kiến thọ hành, nên thường phá được năm kiến thọ hành của ngoại đạo. Tuy không có thọ hành nhưng vì điều phục ngoại đạo mà nói năm môn của Tam tạng giáo, như việc Phật phá Trường Trảo nói rằng: Ông có thấy thọ không? Ông có cái thấy không thọ thì trở lại thành thọ, thọ tức là khổ thì đâu khác gì ai, mà dựa vào chỗ không thọ rồi kiêu mạn, khinh chê người khác. Khởi thân, khẩu, ý hành, hành thành thì gọi là tập, tập chiêu cảm sinh tử đâu phải là thật tướng? Trường Trảo tin phục bèn được pháp nhãn tịnh, Hàng phục các ngoại đạo khác đều theo cách này.

Hỏi: Trường Trảo là việc sau này, đây là khen nói trước khi chưa chuyển pháp luân hàng phục ngoại đạo, đó là những ngoại đạo nào?

Đáp: Xưa có nói: Thuở xưa khi Phật còn là phàm phu theo Tiên A-la-la học tám thứ thiền định, Bồ-tát không có ý học ông ấy, chỉ vì hóa độ ông ta thôi. Nay cho là trái lời kệ khen. Kệ nói Phật hàng ma khi chưa thành đạo, thành đạo rồi mới hàng phục ngoại đạo. Vì sao được cho rằng lúc ngài còn phàm phu thọ lạc tám thiền để hàng phục ngoại đạo. Lại e là lúc Như Lai mới thành đạo xong chưa chuyển pháp luân, bèn vì nói cho trưởng giả Đề Vị về năm giới, chống lại thói quen của ông mà luận về ngũ hành, lục giáp, âm dương, lịch số… Khi ông tin phục liền khiến quy y Phật pháp và dạy nếu sau này có Tăng thì ông nên quy y. Trưởng giả Đề Vị được Sơ quả, Phật không có tâm thọ hành về ngũ hành lục giáp, chỉ vì muốn hàng phục nên phải nói ra. Xét theo kết tập pháp tạng thì nói từ Ba-la-nại đến đêm Niết-bàn, kết làm Tuđa-la tạng, cho nên biết hàng phục Đề Vị là trước khi chuyển pháp luân. Từ đó trở về sau đều lấy pháp Không thọ mà phá các ngoại đạo, cũng đúng như cách hàng phục Trường Trảo.

Từ “ba lần chuyển pháp luân”trở xuống đi sáu hàng là phần khen ích lợi về tiếng.

  1. Hai hàng đầu khen về chuyển pháp luân.
  2. Hai hàng kế là khen trời, người nhận được lợi ích pháp diệu.
  3. Hai hàng sau là kết khen.

Nói về ba lần chuyển pháp luân, tức là đến Ba-la-nại nói Tứ đế sinh diệt. Luân là Phật đã chứng Tứ đế, pháp có nghĩa có thể chuyển đi nên gọi là luân. Lại giải thích do có thể phá hoại các phiền não nên gọi là luân, vì như xe báu của vua có thể phá hoại địch oán. Pháp luân báu của Phật có thể phá hoại phiền não nên gọi là pháp luân. Đức Như

Lai thành đạo trải qua hai mươi mốt ngày mới đến thành Ba-la-nại. Đời đời tuy không thể nói nhưng dùng Tất-đàn phương tiện phù hợp tiểu cơ Trời, người mà nói Tứ đế chuyển vào tâm họ để phá các phiền não của họ nên gọi là chuyển pháp luân.

Ba lần chuyển là:

1/ Thị chuyển “chỉ bày) tức bảo: Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo.

2/ Khuyến chuyển, tức đây là khổ nên biết, đây là tập nên đoạn, đây là diệt nên chứng, đây là đạo nên tu.

3/ Chứng chuyển, tức đây là khổ ta đã biết, đây là tập ta đã đoạn, đây là diệt ta đã chứng, đây là đạo ta đã tu. Thị chuyển là chỉ cho kiến đạo, khuyến chuyển là chỉ cách tu đạo, chứng chuyển là chỉ cho Vô họ đạo là pháp luân. Là ba lần chuyển mười hai hành . Chuyển lần đầu thì sinh nhãn trí minh giác. Ngài Đàm-vô-đức giải thích ba chuyển không đồng sự như nói riêng biệt. Nói “đại thiên, tức là thế giới Ta-bà cõi nước của Đức Phật Thích-ca, tức nơi hóa độ khi chuyển pháp luân. Luân “xe) ấy xưa nay vốn thường thanh tịnh, như trong ba thứ thuốc không có ba thứ bệnh. pháp luân Tứ đế không có cấu của kiến tư nên gọi là bổn tịnh. Lại giải thích đời đời không thể nói mà nói Tứ đế. Không thể nói tức là chân đế, nó không có khổ tập nên nói là bổn tịnh. Như trong Đại Tập có nói: Kiều-trần-như đã nhận được tri kiến chân thật.

Hỏi: Trần-như kiến chân thật như Thành Thật luận chăng?

Đáp: Trần-như nương vào hữu môn, Thành Thật luận là Không môn. Giáo môn tuy khác nhưng kiến chân là một. Không môn được đạo là ngài Tu-bồ-đề. Trời, người được đạo, trời là tám vạn chư Thiên, người tức là bọn Câu-lân “Kiều-trần-như) năm người, năm người nghe pháp đầu tiên được kiến đế, tám vạn chư Thiên được pháp nhãn tịnh. Có người nói Câu-lân được đạo trước còn bốn người kia đến mùa Hạ mới được. E là kinh luận nêu ra khác biệt không đồng. Chính kinh này nói: “Trời, người được đạo, Tam bảo hiện ở đời.” Nếu bốn người không được kiến đạo tức không phải kiến đế được giới. Chỉ một mình Câu-lân thì không thể gọi là Tăng bảo. “Đây làm chứng”, Đức Phật nói pháp thảy đều khế lý khế duyên, không phải như bọn lục sư còn vọng nói ra không thể làng cho người được đạo.

“Tam bảo do đó hiện ra thế gian, là Không căn cứ nhất thể Tam bảo. Vì sao? Vì khi bắt đầu giác đạo thì mới có Phật bảo, ba lần chuyển pháp luân tức là Pháp bảo, Câu-lân-như… thấy Đế được giới đó là Tăng bảo. Sau khi Đức Phật Ca-diếp diệt độ thì Tam bảo ẩn mất, chỉ có cựu y. Nay Phật ra đời Tam bảo mới đầy đủ.

Từ đem pháp diệu này… trở xuống hai hàngKhen pháp diệu trời, người được lợi : là Tứ đế sinh diệt là pháp diệu, vì hay khiến tất cả chúng dứt bỏ thân cũ không tạo thân mới, nên gọi là pháp diệu. Một khi thọ nhận pháp ấy thì không thoái chuyển luôn được vắng bặt, tức là khi mới thấy Thánh đế thì vĩnh viễn không thối thất. Nếu Thế trí đoạn hết các kiết, thì khi gặp duyên liền khởi, nay là Vô lậu trí, dứt hết các hý luận, rốt ráo không khởi nên nói là luôn vắng bặt. Đại kinh có nói: Thầy thuốc thế gian trị bệnh, bệnh hết lại sinh, Như Lai trị bệnh rốt ráo, không phát sinh nữa, nên nói là luôn vắng bặt. Xét thấy ở cõi Tabà có người được đạo Tận trí, nhưng cũng còn thoái chuyển, thoái về bậc Sơ quả. Ngài Đàm-vô-đức nói thấy “Khôn”được đạo thì hoàn toàn không còn thoái chuyển. Tuy giáo không giống nhau nói về kiến đạo nhưng nghĩa không thoái chuyển nó không khác. Nay ý của kệ chính thức khen kiến đạo không thoái chuyển là chỉ cho hàng phàm phu. Bậc Đại y vương độ thoát lão, bệnh, tử. Câu này là khen chung về pháp của Y vương nhân do Phật nói. Phật đã tự mình vượt qua tam giới suy tư về lão, bệnh, tử , rồi còn có thể nói pháp khiến cho chúng sinh cũng thoát được cái chết trong ba cõi, một khi thọ nhận không còn lui sụt nên gọi là Đại y vương.

Nói “Thường nên kính lễ”, là chúng sinh có vô lượng bệnh thì thuốc pháp của Phật cũng vô lượng như biển cả, thế nên cần phải quy kính.

Từ “chê khen không động”… xuống hai hàng là Kết khen chung Khi đức Phật bằng sanh thân thì tám gió không thể lay động mà luôn dùng đức ba niệm đại bi, nên cô gái Bà-la-môn vu cáo chê bai Phật mà Phật không buồn khổ, được các trời Đại phạm khen mà Phật cũng không mừng, bất động trước tám gió như núi Tu-di, là khen về đoạn đức, đối với thiện và bất thiện đều dùng lòng từ, là khen về trí đức. Ba lần xoa đảnh La-hầu-la, ba lần quở trách Điều-đạt. Quở trách để làm cho cải ác, xoa đảnh để làm cho tinh tiến tu thiện. Là chỉ một Từ tâm mà thôi. Tâm hành bình đẳng, tức là căn cứ theo ba niệm xứ mà nói về bình đẳng:

  1. Thoa hương bên trái.
  2. Dao cắt bên phải.
  3. Không thoa không cắt thấy đó là bình đẳng Không có tưởng khác.

Đây là căn cứ vào sắc pháp làm ba Niệm xứ. Gặp pháp thuận ta không mừng, gặp pháp trái ta không giận, gặp không trái không thuận luôn hành tâm xả, đây là xét theo tâm pháp mà nói ba Niệm xứ. Tâm Phật đối với Từ niệm này thì bình đẳng. Người là của báu, tức là người trí , vì luôn phân biệt chân ngụy nên người nghe tôn kính vâng theo.

Từ “nay kính dâng… trở xuống mười chín hàng là phần kệ thứ hai chính khen việc hiện tướng lành là phần kệ thứ hai. Lại chia làm hai phần nhỏ:

  1. Bốn hàng đầu khen chung việc hiện tướng lành.
  2. Mười lăm hàng kế, khen riêng ba bí mật của Phật.Bốn hàng đầu, lại chia làm ba phần:
  1. Nửa hàng đầu là khen việc dâng lọng.
  2. Hai hàng rưỡi tiếp là chính thuật lại việc biểu hiện tướng lành hợp lọng.
  3. Một hàng sau là nói đại chúng vui mừng.

– Dâng lọng nhỏ, nhỏ là nói nhân nhỏ có quả nhỏ. Lớn là biểu thị cho quả lớn không thể nghĩ bàn, Tịnh độ, không giới hạn phương cõi, khó lường.

– Nói việc dâng lọng, bên trong có hiện cõi nước Phật và Phật nói pháp Từ “hiện tam thiên giới”… hai hàng rưỡi là biểu thị nói Ứng độ, Ứng thân. Thương xót mà hiện, là lòng từ nghĩ đến chúng sinh. Muốn nói cho nghe nhân quả Phật quốc này, nên trước hiện tướng lành để khiến những người tiệm căn được mở mang, nên nói thương xót mà hiện.

– Từ “chúng thấy”… một hàng đại chúng khen chưa từng có là mười lăm hàng tiếp theo từ “Đại Thánh”v.v… trở xuống khen riêng ba bí mật của Phật là Gồm ba phần nhỏ.

  1. Hai hàng đầu khen thân Phật bí mật.
  2. Sáu hàng kế khen khẩu bí mật.
  3. Bảy hàng sau khen ý bí mật.

Ba mật tức ba luân bất tư nghị hóa, tức ba thứ không lỗi, ba thứ không cần giữ gìn “Bất hộ”. “Đại Thánh Pháp vương được mọi người quy kính, là khen Pháp thân thắng ứng. Hoặc Pháp thân Tam-muội, Vương Tam-muội, ba đế tự tại là chỗ quy kính của Bồ-tát bốn mươi mốt tâm Thánh chúng. Và bốn bộ còn lại, tức là đã nói ở phần trước. Đức Phật ngồi yên trên tòa Sư tử bằng các báu che tất cả đại chúng đến nghe, nên được chúng quy kính. Tịnh tâm, tức là cơ phát của bốn chúng Đại thừa, tâm không nghi ngờ, vẫn đục muốn nghe Tịnh đạo hoặc cũng là các Đại Bồ-tát dùng tịnh tâm nhập quán Phật Tam-muội, nên nói là tâm tịnh.

– Khen thân mật mỗi người đều thấy Đức Thế Tôn ở trước mặt.

Đây là nói Ứng thân đối với mười pháp giới, ai cũng thấy đồng nhau. Cũng như chỉ một mặt trăng mà bóng hiện trên nhiều mặt nước. Hoặc thấy ngài là hình dạng của một Tỳ-kheo già, hoặc thấy ngài có tướng hảo quang minh, hoặc thấy thân tôn quý, hoặc thấy hiện thân lớn nhỏ cùng ngồi trên hoa sen báu, hoặc thấy thân như hư không. Đây là đức của thân bí mật. Do đó trước nói Phật ở thành Da-ly, mỗi người đều thấy không đồng nhau là ý ở đây vậy. Không cùng thấy như đây, tức thân bí mật không cùng chung cho hàng Nhị thừa và Địa dưới.

– Từ Phật dùng một loại âm thinh…” sáu hàng là khen khẩu mật có ba phần nhỏ:

Phần một: Hai hàng đầu là hai biện tài Từ, Pháp . Đồng một thứ tiếng nói tức là từ biện, mỗi người đều hiểu là pháp biện. Từ “lời”, là tất cả chúng sinh khác phương, khác loài ngôn âm đều khác mà đồng với ngôn âm của mỗi loài v.v… nên gọi là từ biện. Pháp là tất cả các pháp tên gọi khác nhau các thứ không phải một mà đều có đối tượng nhận lấy. Người được Pháp biện là đều hiểu lời pháp, tức đồng với ngôn âm của họ nên gọi là Pháp biện. Phật dùng một ngôn âm mà Từ và Pháp hai thứ khác nhau đều xứng hợp với vạn vật, đó là Khẩu mật. Phật còn không phải là Phạm thiên huống đồng với chúng sinh. Khiếncho khác tiếng nói mà hiểu, tức không phải Từ – pháp mà hiện ra Từ – Pháp là do sức của khẩu mật.

Phần hai: Từ Phật dùng một thứ tiếng nói… “trở xuống hai hàng, là khen về nghĩa biện. dùng một thứ tiếng nói pháp, người tin làm được lợi ích, tức là xét lời tìm ý được nói nguyên do thế này thế nọ tức là nghĩa. Như Lai vốn không có cú nghĩa sao lại có Nghĩa biện, mà có thể phân biệt tất cả cú nghĩa, tức là khẩu mật.

Phần ba, từ “Phật dùng một thứ tiếng nói trở xuống hai hàng” là khen Nhạo thuyết biện, xoay đổi vô cùng, chúng đều thích nghe Tứ đế hợp cơ, ta sẽ vì nói những sự sợ hãi. Cả ba cõi đều khổ. Khổ nên sinh sợ hãi, tức là Khổ đế. Cầu vui Niết-bàn. Vì vui nên hoan hỷ tức là Diệt đế. Chán lìa, tức nhân của các khổ do lấy tham dục làm gốc, tức là Tập đế. Đoạn nghi tức là Đạo.

Lại căn cứ theo Tất-đàn, thì ba cõi khổ đáng sợ tức là thế giới Tất-đàn. Vui mừng, tức Vị nhân Tất-đàn, khiến sinh thiện căn cho nên mừng vui. Chán lìa, là chán lìa phiền não, tức Đối trị Tất-đàn thuốc và bệnh đối nhau. Đoạn nghi, liền thấy Đạo đế là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, ngôn âm diễn bày với năng lực như thế. Như Lai vốn không phải chỉ nói bốn Tứ đế bốn Tất-đàn mà thôi, còn thường dùng pháp này khéo léo làm lợi ích, tức là khẩu mật.

– Từ “Khể thủ…” bảy hàng là khen tâm mậtTâm Phật không phải quyền, không phải thật mà có thể hiện quyền thật, tức là tâm mật. Văn này có hai phần:

Phần một: Bốn hàng đầu, căn cứ ba thứ hai trí quyền thật để khen tâm mật.

Phần hai: Ba hàng kế, căn cứ ba thứ hai đế kết khen tâm mật.

Phần một có bốn hàng:

1. Hàng đầu là dựa theo nội ngoại để khen. Tự hành mười lực là y cứ nội trí viên mãn đủ, Vô úy là căn cứ vào ngoại dụng không khiếp sợ. Đây là một cặp, tức dựa theo tự hành quyền thật mà khen tâm mật.

– “Cúi đầu không cùng chung…” một hàng, là khen tự hành và hóa tha.

Không chung “bất cộng) là pháp của ự chứng. Đạo sư tức là hóa tha.

– “Cúi đầu thường đoạn…” một hàng: Đây có hai dụng. Nếu khen tự hành tức là khen trí đoạn của Phật. Thường đoạn là đoạn đức, đáo bỉ ngạn là trí đức. Như nói khen hóa tha thường đoạn các kiết trói buộc, tức là hóa tha quyền thật nói trí đoạn vậy. Chúng là: Mọi người, nên thuộc hóa tha.

Hỏi: Vì sao một kệ lại được có hai dụng?

Đáp: Đức Phật tự mình không có các ràng buộc lại có thể cởi mở các trói buộc của người khác nên có hai dụng.

“Cúi đầu thường độ…” một hàng là tổng kết ba thứ trí đoạn quyền thật nói ở trước.

Phần hai: “Đều biết chúng sinh…” ba hàng tiếp là ba thứ hai đế kết khen ba thứ bí mật “thân, khẩu, ý mật”. Có ba hàng:

– Một hàng đầu là tùy tình hai đế. Vì sao? Vì tục đế vô lượng thì tâm cũng vô lượng, hoặc là cầu chân, hoặc ưa muốn tục. Tình có lấy bỏ nên nói có đến, đi. “Khứ lai”. Đến lấy vô lượng thì, Phật cũng tùy theo mà khởi nói vô lượng hai đế, tức là tùy tình.

– “Không đắm trước thế gian…” một hàng” là căn cứ theo tùy tình trí hai đế. Tùy tình thì vô nhiễm, tùy trí thì không tịch. “Thấu suốt các pháp tướng.

– “Thấu suốt các pháp tướng …”một hàng là khen tùy trí hai đế,. Những pháp gì tâm trí quán chiếu đều thâm nhập một tướng không còn trở ngại, như hư không không có nương tựa gì nên gọi là tùy trí.

Bấy giờ, trưởng giả tử… đến hết nửa phẩm mười một A-bệ Phật, là phần thứ hai, Chánh thuyết Phân văn làm ba phần:

  1. Nửa phẩm Phật Quốc, là Đại Thánh đối cơ lập tông nói nhân quả Phật quốc.
  2. Từ Phương tiện đến hết phẩm Hương Tích thứ chín, là Đại sĩ giúp Phật mở mang, nói nhân quả giải thoát bất tư nghị Phật quốc.
  3. Từ Bồ-tát hạnh đến hết hai phẩm A-bệ, là ngài Tịnh Danh tiếp các đại chúng trở về Am-la viên.

Như Lai đối đại chúng lại nêu lên nói nhân quả Phật quốc. Do đó Đức Như Lai phó cơ đáp lời Bảo Tích thỉnh nói về y báo, hoặc trước nói kinh Phổ Tập về nhân quả Chánh báo, nên ngài Tịnh Danh giúp Phật tuyên nói, giúp Phật nói nhân quả Phật quốc bất tư nghị giải thoát để khải ngộ cho người có duyên. Cũng như quan thượng thư phụng chỉ vua dạy dỗ dân, do đó mà trở về Am-la viên. Phật đối đại chúng nói đầy đủ về Phật quốc cũng như đại thần vì nước mở mang đất nước xong trở về triều. Đức vua vui mừng bằng lòng và ấn khả.

Hỏi: Các quở trách của ngài Tịnh Danh từ trước đây há được giúp thành giáo này?

Đáp: Phật dù chưa nói nhân quả Phật quốc nhưng ngài Tịnh Danh dự đoán ngầm biết ý Phật mà giúp thành giáo này, sao lại không được? Việc quốc chính ở ngoài thành là do tướng quân đảm trách chỉ hợp ý trời hà tất phải đợi chiếu chỉ. Nhưng đệ tử kể chuyện xưa Như Lai đã mặc nhiên ấn khả là ngầm hiểu được tâm Phật. Há không phải giúp thành giáo ngày nay, cho nên những quở trách ngày xưa là chung giúp cho Chánh báo, bây giờ nhắc lại thành Y báo hôm nay.

Hỏi: Nửa phẩm này và hai phẩm ra thất đều là Phật tự nói về Phật quốc. Trong suốt chín phẩm nói về Phật quốc mà chưa đủ nghĩa, sao được giúp thành giáo nghĩa Phật quốc?

Đáp: Trước sau Phật đều nói về Phật quốc, ngài Tịnh Danh trong khoảng đó đâu thể trái ý Phật. Như Phật đáp lời Bảo Tích nói: Mỗi mỗi các hạnh đều là nhân của cõi Phật thanh tịnh. Ngài Tịnh Danh đã nói về mỗi mỗi các hạnh, vậy sao lại không phải?

Hỏi: Trước sau Phật quốc đều là chính Phật nói, trong khoảng chín phẩm lại không có lời nào về Phật quốc vậy đâu thể giúp thành giáo nghĩa Phật quốc?

Đáp: Như phẩm Phật Quốc nói về nghĩa Tịnh độ rằng: Tùy theo Phương tiện thì thành tựu chúng sinh, tùy thành tựu chúng sinh tức cõi Phật thanh tịnh. Ngài Tịnh Danh có đại phương tiện, cho nên ở ngoài thất thì quở trách chiết phục, ở trong thất thì khuyến dụ mà nhiếp thọ.

Quở trách chiết phục thì tâm không cấu nhiễm, khuyến dụ nhiếp thọ thì các thiện trang nghiêm. Thế thì điều phục chúng sinh há hơn đây sao? Nếu chánh báo của chúng sinh thanh tịnh trang nghiêm thì y báo quốc độ đều nghiêm tịnh cả. Thế nên văn kinh nói: “Tùy thành tựu chúng sinh tức cõi Phật thanh tịnh.” Như đây mà suy thì những điều ngài Tịnh Danh nói tuy không nói rõ về nhân quả tịnh độ, nhưng theo như đã nói nhiếp phục chúng sinh thì tức là giúp Phật nói về Tịnh độ, nghĩa rất rõ ràng.

Hỏi: Nếu thế, thì Tịnh Danh giúp thành Phật quốc, hay Tịnh Danh tự mình tịnh hóa Phật quốc, hoặc giúp đệ tử Phật v.v… thanh tịnh hóa Phật quốc ư?

Đáp: Tìm kỹ lý này đều có nghĩa đó. Như kinh Pháp Hoa nói: thọ lượng của Đức Thích-ca thành Đạo đến nay rất lâu xa, nay phân thân Phật ở mười phương Tịnh độ mà nói pháp, ở vị lai cũng thế. Đây giống như ý nghĩa Tịnh Danh giúp thành cõi Tịnh độ của Thích-ca. Ngài Tịnh

Danh đã có thể chiết phục nhiếp thọ những kẻ có duyên, nếu ngài Tịnh Danh thành Phật thì họ sẽ đến sinh vào nước ngài, tức là Tịnh Danh có thể điều phục chúng sinh để cõi Phật tịnh. Đệ tử Bồ-tát cũng nhận sự chiết phục để điều phục chúng sinh. Chúng sinh đã nhờ các đệ tử Bồ-tát mà dứt ác sinh thiện. Các đệ tử đó sau khi thành Phật thì các chúng sinh được điều phục kia sẽ sinh vào cõi nước ấy. Cho nên nói, tùy theo chúng sinh được điều phục thì cõi Phật thanh tịnh.

Hỏi: Bồ-tát thì có thể như thế, còn Thanh văn chọn lấy diệt độ đâu thể có nghĩa này?

Đáp: Vì thế nói tìm kỹ lý đó mới có nghĩa này. Như kinh Pháp Hoa phát khởi dấu tích Thanh văn khen nói ít dục, chán sinh tử, thật và là tự tịnh cõi Phật. Lại ở phẩm Thăm Bệnh, ngài Văn-thù mới đến thất trống của ngài Tịnh Danh biểu thị Phật quốc là Không, nhân đây luận trở lại về nghĩa Phật quốc. Kế đến là phẩm Bất Tư nghị có nước Tu-di đăng vương, đến phẩm Hương Tích hiện ra nước Chúng hương. Nếu đây không giúp Phật nói nhân quả Phật quốc là tông chỉ của kinh này. Nếu không cho nhân quả Phật quốc dùng làm tông chỉ của kinh này, thì tại sao từ xưa nay phần đông đều nói sáu phẩm trong thất, nhân thất trống mà có, sáu phẩm đã nhân đây mà sinh há không phải là từ Phật Quốc sinh ra? Ngài Tịnh Danh giúp thành nghĩa Phật quốc là tông chỉ nghĩa ấy rất rõ ràng.

Hỏi: Kinh này nói bất tư nghị giải thoát thì có liên quan gì đến nghĩa Phật quốc?

Đáp: Phẩm Bất Tư nghị có hạt cải dung nạp núi Tu-di, biển cả ở trong lỗ chân lông… đều là căn cứ vào Y báo mà hiển bày việc bất tư nghị.

Xét nửa phẩm này “Phật Quốc” có hai phần: a. Bảo Tích thỉnh nói b. Như Lai đáp lời.

– Phần a, có hai:

  1. Đồng loại có thể nghe.
  2. Chính thỉnh Thế Tôn, nói.

– Nói vì trước đã phát tâm nên có thể nghe, nói: A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề Tâm, Hán dịch là Vô thượng chánh biến tri đạo tâm. Nhưng phát tâm có ba:

  1. Danh tự.
  2. Tương tợ.
  3. Phần chứng.

Nay năm trăm trưởng giả tử là ở ngôi vị Tương tợ phát. Do đâu mà biết? Vì đoạn văn dưới nói khi Phật hiện Tịnh độ thì mới được vô sinh, đó là phần chứng. Nói tương tợ thì mỗi vị Thông, Biệt Viên đều xét theo nội phàm.

Hỏi: Vì sao chỉ căn cứ vào tương tợ phát?

Đáp: Hàng Thanh văn Căn tuệ, hàng Bồ-tát phục nhẫn đều chưa có nghĩa “phát.” Nếu Thanh văn tánh địa, Bồ-tát nhu thuận thì mới có nghĩa phát, cho nên phần nhiều đều y cứ theo nghĩa này mà nói ngôi vị phát tâm.

“Nguyện nghe được Phật…” là Chánh thỉnh, Bảo Tích và đồng loại đã có căn cơ có thể nghe, người có căn cơ vượt trội thỉnh nói nhân quả Phật quốc.

– Phần này có hai:

  1. Xin được nghe cõi Phật thanh tịnh tức là xin nói quả.
  2. Xin nói Bồ-tát hành Tịnh độ, tức là xin nói nhân.

Nếu luận theo thứ tự thì nên nói nhân trước quả sau. Nay vì chúng nghe pháp do thích quả mới tu nhân, do đó trước thỉnh nói quả sau mới thỉnh nói nhân. Sở dĩ nói lời thỉnh này là vì nhìn lên thấy Phật hợp lọng và hiện các tướng lành nên biết Phật muốn nói về quả Phật quốc mà hiện ra tướng này, nên thỉnh nói quả. Kế thỉnh nói nhân là vì quả Phật quốc ắt phải nhờ nhân thù thắng , đại chúng nếu nghe quả tịnh quốc thì mến quả mà tạo nhân, nên thỉnh nói nhân.

“Phật nói lành thay”… là phần hai của nữa phẩm Phật quốc Phật đáp lời. Có bốn phần:

  1. Khen nhận.
  2. Khuyên nghe.
  3. Trao lời.
  4. Phật chánh đáp.

“ lành thay”, là khen nhận. Sở dĩ Phật khen nhận, là vì Bảo Tích thưa hỏi ý biểu thị của việc hiện tướng lành, lại vì đồng bạn xin được giải thích nên Phật nhận lời.

Từ: “Lắng nghe… đến vì ông mà nói” là khuyên người nghe pháp nên lắng nghe và gắng nghĩ nhớ để sinh ba thứ tuệ lành. Lắng nghe thì sinh văn tuệ. Khéo suy nghĩ thì sinh tư tuệ, nhớ nghĩ thì sinh tu tuệ. Nếu nghe mà không không chú ý thì không được thấm nhuần lợi ích. Nếu nghe mà không suy nghĩ thì không thấy rõ được chỉ thú, nếu suy nghĩ mà không tu thì trọn không được chứng lý. Nếu ba thứ tuệ ấy đầy đủ thì việc nhập đạo không còn nghi ngại gì. Do đó khi đến nghe, nhận ba điều dạy mà nghe, tức là vâng giữ đúng ba tuệ mà Phật đã khuyên dạy.

Từ “Phật nói”trở xuống là Phật chính thức trả lời. Có năm phần:

  1. Phật chính thức trả lời.
  2. Xá-lợi sinh nghi.
  3. Phật giải thích.
  4. Phạm vương tự kể để làm sáng tỏ lời Phật răn.
  5. Phật hiện Tịnh độ chúng được lợi ích.

Phần a có hai:

  1. Đáp quả.
  2. Đáp nhân.

Đáp quả lại có hai:

  1. Chánh đáp.
  2. Thí dụ.Chánh đáp có ba:
  1. Nêu chương tổng đáp.
  2. Giải thích riêng.
  3. Kết.

a. Nêu chương tổng đáp: Văn kinh nói: loại chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát nghĩa là. Bồ-tát từ chỗ thông suốt đến tịch cảnh trí đều quên vì không độ nào là Không phải độ, chỉ vì hóa sinh mà có cõi Phật. Cho nên nêu loại chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Những cõi không tồn tại ở Bồ-tát chúng sinh cũng không phải cùng lìa hẳn vắng lặng như hư không không thể nói bày, mà là dùng Tất-đàn phương tiện tùy ý phó duyên tự tại không lầm lỗi như trước đã nói. Nay căn cứ ở đối tượng được hóa độ nên nói chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Về nghĩa chúng sinh như trước đã nói trong mười giới. Nói loại, tức là khí loại, khí loại biên không nhưng chính yếu không ngoài hai thứ là hữu vi duyên tập và vô vi duyên tập.

Hữu vi, tức là cõi nước nhiễm tịnh ở nội giới, mê chân trệ hữu mà khởi các kiết nghiệp, nhận lấy phần đoạn sinh tử, đều là loại này.

Vô vi, tức là Hữu dư quả báo của ngoại giới và chia ra trung hạ tịch quang. Ba cõi này chúng sinh còn mê Trung đạo Phật tánh, trệ ở vô vi duyên tập, khởi các kiết nghiệp, chịu biến dịch sinh tử, đều là loại này.

Xét theo giáo mà luận, thì hữu vi duyên tập của Tạng Thông tức là loại sinh diệt vô sinh, về vô vi của Biệt Viên tức là loại vô lượng, vô tác. Cho nên căn cứ bốn giáo mà mở ra hai loại duyên tập và bốn thứ chúng sinh.

Hỏi: Nói về ba cõi nhận quả báo không đồng nhau, chỗ ở đều khác, vì sao đều đồng là vô vi duyên tập?

Đáp: Đồng là mê lý đều là vô minh biến dịch sinh tử, nên chung là một loại.

Hỏi: Nếu thế, vì sao lại phân biệt làm ba cõi bất đồng?

Đáp: Năm bậc người hữu dư tuy đồng thấy chân và các nội giới hoặc đã dứt hết nhưng chưa thấy Trung đạo, đoạn tập hữu vi nên đồng sinh vào hữu dư chịu biến dịch sinh tử, gọi là phương tiện sinh tử. Về hai giáo Biệt Viên đoạn các thông hoặc, là thấy Không và Bất không. Vì thấy không nên đoạn tập hữu vi và thấy chẳng không nên xâm nhập vào tập vô vi. Nếu từ bậc Sơ trụ, Sơ địa cho hết Địa thứ chín oạn tập vô vi, thì đồng chịu quả báo biến dịch sinh tử, cũng gọi là Nhân duyên sinh tử. Nếu Thập địa trở xuống tịch diệt nhẫn thì còn sót hai đời, Đẳng giác trung nhẫn thì còn sót một đời mà phần trụ ở tịch quang liền mở biến dịch ra khỏi thân sau, không còn sinh tử đời sau nữa. Tuy lại khác quả báo chỗ ở đều khác nhưng cùng là ngoại giới đồng mê Trung đạo, nên đồng là khí loại vô vi duyên tập.

Hỏi: Sao không dùng bốn thứ duyên tập đối với bốn cõi mà nói bốn loại chúng sinh?

Đáp: Mới nhìn qua có vẻ tiện lợi, nhưng đối với lý thì có phương hại, vì không khác về tự thể pháp giới mà khác vô vi. Việc được mất đến phẩm Thăm Bệnh sẽ nói rõ. Nếu lại căn cứ vô vi nêu ra hai thứ thì không lỗi, ắt cần phải nêu ra, nhưng căn cứ bốn giáo mà nêu ra bốn loại chúng sinh này thì rất tiện.

Nếu xét theo quán tâm, do nhân duyên sinh ra tức là loại hữu vi từ Giả vào Không để phá tập hữu vi mà thành loại vô vi. Nếu nhập giả danh Trung đạo phá vô vi chưa hết, thì đều gọi là loại vô vi.

Giải thích riêng: Từ “Sở dĩ vì sao…” Chỉ vì Thánh tâm khó lường, nay nêu năm ý để nói chung về kinh này:

  1. Căn cứ cõi nhiễm tịnh về chiều ngang nói chung về bốn thứ kinh văn.
  2. Xét bốn cõi về chiều dọc.
  3. Suy chung bốn cõi.
  4. Xét theo quán tâm.
  5. Căn cứ giáo.

Xét Đồng cư về chiều ngang “không gian”, y vào kinh có bốn:

1. Tùy việc hóa độ chúng sinh mà nhận được cõi Phật. Nay nói về cõi Phật rộng hẹp không đồng do chỗ hóa độ nhiều ít mà như thế. Như Đức Thích-ca dùng số trăm ức để làm cõi Đồng cư, viên mãn nguyện ấy mới thành Phật. Hay là dùng đại thiên hằng sa để làm cõi đồng cư. Như ở đời tạo số nhà rộng hẹp để ở do số chúng sinh hóa độ được mà nhận được cõi Phật cũng thế. Lại Bồ-tát hóa độ chúng sinh tu thiện nhiều ít có khác nhau, nên quốc độ trang nghiêm hơn kém cũng khác nhau. Nên nói chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát.

2. Tùy chúng sinh được điều phục mà nhận lấy cõi Phật, là nói Bồ-tát vì chúng sinh mà nhận lấy cõi nước, uế tịnh không đồng, đều thì việc điều phục được thích hợp, chứ không liên quan gì đến phước tuệ hơn kém của Bồ-tát. Như nuôi con tuy có yêu thương đánh mắng khác nhau, nhưng đều là để giúp cho thành nhân. Nhận cõi nước cũng thế. Nếu có người bức bách hại đạo thì dùng tịnh quốc mà khiến an, nếu có kiêu mạn hại đạo thì dùng cõi uế để điều phục. Không phải dùng cõi uế để khiến sinh khổ não, không phải dùng lạc quốc để giúp buông lung không tu. Vì sao Bồ-tát không vì chúng sinh mà tạo nhân duyên phiền não, đều cần làm ra cõi uế tịnh khiến họ lưu chuyển? Chính là do chúng sinh ác nghiệp đã dứt được nhiều ít mà nhận được cõi không đồng.

3. Tùy chúng sinh đáng dùng cõi nước nào để nhập Phật trí tuệ mà nhận lấy cõi Phật. Kinh Pháp Hoa nói: Chư Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời, vì khiến chúng sinh khai Phật tri kiến, nên nay nói Bồ-tát điều phục chúng sinh mà đến cõi uế tịnh, đều là khiến họ nhập Phật trí tuệ, đáng dùng tịnh quốc mà nhập, thì sự lý đều gấp, nếu khiến họ vào Phật tuệ đáng dùng uế quốc mà nhập, thì sự chậm rãi mà lý gấp. Khiến vào Phật tuệ do căn tánh cũng khác nên nhân cõi nước không đồng. Nên nói chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát.

4. Tùy chúng sinh nên lấy cõi nước nào để khởi căn Bồ-tát mà nhận lấy cõi Phật. Chúng sinh vào đạo do căn nhận pháp mà vào Phật tuệ. Bồ-tát quán xét lục căn của chúng sinh như nhãn, nhĩ…, căn nào lanh lợi. Nếu như nhĩ căn lanh lợi thì dùng tiếng làm Phật sự, tất cả pháp đều quy về tiếng như tiếng giảng nói ba đế, tuyên bày bốn giáo. Dùng cách khởi nhĩ căn làm căn của Bồ-tát tụ họp lại ở một cõi nước, sau khi thành Phật thì Bồ-tát dùng tiếng làm Phật sự. Nhãn… các căn kia y theo đây nên biết. Nói đầy đủ trong phẩm Bồ-tát Hạnh ở sau. Chính do sáu căn nhanh nhạy nên khiến Phật sự không đồng, đều là vì khởi căn tùy loại chúng sinh. Như ở cõi Ta-bà dùng tiếng nói làm Phật sự cho đến cõi Hương tích thì dùng hương làm Phật sự, đều là do căn loại của chúng sinh khác nhau cùng ở cõi ấy mà Phật sự không đồng. Nên nói chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát.

Xét bốn cõi về chiều dọc: có bốn

  1. Tùy việc hóa độ mà đối có cõi Đồng cư.
  2. Tùy việc điều phục mà đối có cõi Hữu dư.
  3. Tùy nhập Phật tuệ mà đối có cõi quả báo.
  4. Khởi căn Bồ-tát mà đối có cõi Tịch quang.

1/ Do hóa độ, ở hàng cụ phược nội giới chưa thấy được chân lý, tâm thần loạn động, thiện ác bất định. Bồ-tát phương tiện quán sát thấy rõ ai đã thuần thục, chưa thành thục. Nếu chưa thuần thục thì dùng cõi uế, thuần thục thì dùng Tịnh độ, thuần thục, chưa thuần thục vô lượng, uế tịnh cũng thế.

2/ Do điều phục mà có cõi Hữu dư vì sao? Vì các A-la-hán có khả năng điều phục những thứ khó điều phục nên gọi là điều phục. Đoạn văn dưới nói: “Nếu trụ ở tâm điều phục là pháp của Thanh văn.” Nên biết hàng Nhị thừa và Bồ-tát của ba giáo sau các hoặc nội giới đã hết thì đều gọi là điều phục, liền ra khỏi ba cõi, liền ứng hiện có cõi nước gọi là Hữu dư. Nên biết Bồ-tát vì chúng sinh này mà nhận lấy cõi Hữu dư.

3/ Do vào Phật tuệ. Bậc Sơ trụ trở lên thấy được lý Trung đạo phá một phẩm vô minh, cho đến ba mươi chín phẩm, đều sinh quả báo, nên biết Bồ-tát vì đây mà vào Phật trí tuệ.

4/ Khởi căn Bồ-tát, đối cõi Tịch Quang ở trước, nhập Phật tuệ là loại tổng tướng thấy Trung đạo. Nay nói khởi căn là loại Biệt tướng thấy Trung đạo. Như Thanh văn thì tổng tướng Tuệ là kém, còn Duyên giác thì biệt tướng tuệ là hơn. Nên kinh Hoa Nghiêm nói: “Phật nhãn cho đến Phật ý.” Kinh Ương-quật nói: Nói về nhãn thì các Như Lai luôn đầy đủ không hề giảm bớt, do tu mà thấy phân biệt rõ ràng nên nói là thấy. Tức là ở một căn trần mà thấu suốt ba đế tất cả các pháp vắng lặng mà thường chiếu, không thứ nào không thông suốt. Các căn trần khác cũng thế. Tỳ-lô-giá-na biến khắp tất cả nơi, ấy là dùng cõi Thường tịch mà khởi căn Bồ-tát. Nên biết chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Dùng pháp giới hải sáu trần khởi các loại hậu thân của Bồ-tát thì đều nhập vào Tịch quang.

Hỏi: Kinh Nhân Vương nói: Cả Tam Hiền Thập Thánh đều trụ ở quả báo chỉ có Phật là người duy nhất ở Tịnh độ, nay vì sao nói Thập địa cũng ở cõi Tịch quang?

Đáp: Nhân quả cho và cướp lấy vô sinh tịch diệt Nhất thiết chủng trí.

Suy chung cả bốn cõi nước:

1- Chung cõi Đồng cư như bốn nghĩa trước.

2- Chung cõi Hữu dư, là tùy theo chúng sinh được hóa độ mà trụ vào quán phương tiện mà đoạn các kiết nội giới. Chúng sinh không thể không có phước tuệ hơn kém, cũng như các trời cùng đồ đựng báu nhưng sắc cơm có khác, để hóa độ chúng sinh này mà dùng cõi Hữu dư hoặc cõi Tịnh uế để điều phục vào Phật tuệ. Dùng sáu trần ở mười giới mà khởi các căn, khiến đối với các trần thấu suốt không ngăn ngại mà thấy lý Tịch quang. Đây tức là loại chúng sinh cõi Hữu dư, đều được dùng chung bốn trường hợp “tứ cú”.

3- Chung cõi quả báo Bồ-tát nhận lấy cõi này chính vì giáo hóa hàng Biệt viên. Các địa công đức đã có hơn kém, tức là các pháp môn điều phục tịnh uế các pháp môn tiến vào, các pháp môn tiến vào tức là pháp thân vào Phật tuệ, khiến các căn sáng tỏ đạt được sáu căn trong pháp giới hải của Phật, tức liền khởi căn.

4- Thông cõi Thường tịch. Phẩm đầu Vô Minh chưa dứt hết nên cần phải hóa độ, quả báo đã có cao thấp túc là điều phục tiến lên quán thật tướng, liền nhập Phật tuệ mà vào Trùng huyền môn hư không pháp giới hải. Tự hành và hóa tha ngang dọc chuyển sáng tức là khởi căn.

Căn cứ ba quán quán bốn cảnh, nghĩa là cảnh nhân duyên không giả trung. Cảnh là nơi tâm nương vào, tức nghĩa là cõi nước. Chúng sinh, như Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: Các ông ngày đêm nên thường sinh vô lượng trăm ngàn chúng sinh. Nay do nhân duyên tâm nhiều cảnh nhiều, tâm ít cảnh ít, do chiếu cảnh nhiều ít nên gọi là nước lớn nhỏ. Như thế mà quán cảnh, thì gọi là hóa tâm; chúng sinh, duyên thiện ác tức là cõi tnh cõi uế điều phục cái tâm năng duyên khiến nó trụ vào chánh đạo, tức là điều phục, như thế mà điều tâm ngộ và giải bất định. Tùy quán thiện ác nhận lấy ngộ bất đồng nên gọi là cõi tịnh uế. Thiện ác có khác nhau mà nhập vào Phật tuệ không khác.

Khởi căn Bồ-tát là tùy quán thiện ác hiểu rõ trần này tức là pháp giới Thường tịch rốt ráo . Cảnh của Thường tịch phát ra chân trí, là chỗ sở y của trí thì cảnh tức là Tịch quang. Lại nữa, người tu quán bốn cảnh ấy không bị đắm trước vào cảnh, chỉ điều phục tâm số phiền não của chúng sinh, tùy mỗi mỗi cảnh mà quán rộng hẹp cùng với chẳng điều phục nhập cùng với chẳng nhập, khởi cùng với chẳng khởi. Hiểu rõ ý này ở trong cảnh nhân duyên, dùng bốn tâm này mà khởi thệ nguyện, nguyện các chúng sinh đều được như mình, hóa độ tâm số này thảy đều thanh tịnh tức là Tịnh độ mà an lập chúng sinh hữu vi duyên tập. Dùng bốn thứ quán ở “không’ tâm nhiều ít nhập tuệ và khởi căn liền phát thệ nguyện, nguyện các chúng sinh như mình. Điều phục khiến tâm sáng rỡ tức là cõi Hữu dư thanh tịnh mà an lập chúng sinh vô vi duyên tập. Nếu chỉ có hạnh mà không nguyện thì không thể cõi Phật thanh tịnh. Như có trâu mà không có người cỡi. Có nguyện mà không có hạnh Như có người cỡi mà không trâu, đều không đến đâu được. Người tu hành tâm trụ ở ba quán nguyện và hạnh đầy đủ mà thành tựu chúng sinh. cõi Phật thanh tịnh là ý ở đây vậy. Kinh Đại Tập nói: Muốn tịnh hóa thành cõi Phật phải tịnh tâm ông, tức là bốn thứ tâm vậy. Nên Phật đáp Bảo Tích rằng tùy tâm tịnh tức cõi Phật tịnh. Người tu hành nên biết tất cả Bồ-tát làm cõi Phật thanh tịnh đều từ tâm mà khởi.

Căn cứ giáo, có bốn phần:

1. Vì hóa độ chúng sinh chọn cõi Đồng cư. Chúng sinh được bốn giáo hóa độ chưa dứt hết các hữu vi, tức là phàm phu, đoạn hoặc chưa hết, tức là Thánh nhân. Vì loại này mà hóa độ thì chọn các cõi Đồng cư Tịnh uế. Nếu chúng sinh được bốn giáo hóa độ mà đã đoạn hết các hữu vi, để độ loại này thì chọn cõi Hữu dư. Nếu chúng sinh được Biệt viên hai giáo hóa độ, và đoạn hết các hữu vi thấy chân trung đạo, nhưng chưa hết vô vi, để hóa độ loại này thì chọn cõi quả báo. Nếu chúng sinh được viên giáo hóa độ vô vi sắp hết, để hóa độ nhóm này thì chọn cõi Tịch quang.

2. Vì điều phục chọn cõi Phật, chúng sinh do bốn giáo điều phục, đoạn hữu vi và vô vi hết và chưa hết thì hoặc phàm hoặc Thánh. Dùng giáo đối cõi theo như trước nên biết, chỉ nói điều phục có khác.

3. Nhân cõi nước vào Phật tuệ. Nếu vì chúng sinh nhận bốn giáo tu giáo nào để đoạn hoặc nào, đã hết hay chưa hết, ở quốc độ nào mà được khai quyền hiển thật. Tùy theo cõi nước tương ưng được nhập vào Phật tuệ, mà chọn lấy bốn cõi ndựa theo “việc hóa độ”ở trên mà suy biết.

4. Khởi căn chọn cõi nước. Nếu nhận lấy tiếng bốn giáo khởi nhĩ căn, vốn đoạn hữu vi chưa hết, thì vì họ lấy tiếng làm Phật sự ở cõi nước Đồng cư, còn năm trần kia khởi năm căn để làm Phật sự cũng thế. Nếu nhờ vào tiếng bốn giáo, chúng sinh đoạn hữu vi đã hết, thì chọn âm thinh làm Phật sự ở cõi Hữu dư. Năm căn trần kia cũng đều như thế. Nếu nhờ vào tiếng của Biệt viên giáo mà thấy Trung đạo và đoạn hết vô vi thì dùng âm thinh làm Phật sự ở cõi nước quả báo. Khởi nhĩ căn cho đến khởi ý căn, nhưng trong đây sáu căn chúng sinh được xử dụng lẫn nhau, tùy trần khởi một căn tức khởi sáu căn, nếu là nhơ Viên giáo đoạn vô vi sắp hết thì chọn cõi nước Tịch quang. Dùng sáu trần mà khởi sáu căn, đều là sáu căn tịch chiếu khiến thành sáu căn diệu giác. Đây riêng giải thích là vì chúng sinh chọn cõi nước, ở phẩm Bồ-tát Hạnh sẽ nói rõ. Vì đoạn văn sau phần nhiều giải thích đảo ngược nên khó thấy. Khi gặp văn đó sẽ nói riêng ra.

Tứ câu “Vì sao vậy”đến “chúng sanh là Tổng kết “phần c trong Chánh đáp”. Nói rõ về bốn cách chọn cõi nước này đều vì muốn làm lợi chúng sinh về hữu vi và vô vi duyên tập, tức là đáp chung về chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát.

Từ “Thí như trở xuống là “Phần Đáp quả Thí dụ. Có hai phần:

  1. Mở Thí dụ.
  2. Hợp dụ.

– Phần mở có hai:

  1. Mở thí dụ thành.
  2. Mở thí dụ không thành.

Mở thí dụ thành. Muốn ở chỗ đất trống mà tạo dựng nhà cửa, thí như thường ở trong không mà thấy cõi Phật chẳng không, tức là nghĩa thành. Bốn thứ bất khả thuyết nên gọi là Không. Có nhân duyên nên nói bốn thứ nhân quả nên gọi là chẳng không. Bồ-tát căn cứ ở chúng sanh có bốn thứ khổ tập, dùng bốn thứ đạo diệt mà thành bốn Tịnh độ.

Mở thí dụ không thành, như ở hư không trọn không thành, thí như bốn thứ bất khả thuyết không thấy được bốn thứ Tứ đế, thì bốn thứ cõi Phật trọn không thành.

Phần hợp thí dụ, cũng có hai:

1. Họp thí dụ thành, nhưng có đất không có không thì trọn không thành. Có đất có không mới có thể lập cung thất, muốn có cõi Phật thì hai pháp cần hợp thành. Nếu thuần dụng có phàm phu Tam tạng giáo thì Bồ-tát làm sao có thể Tịnh độ được. Nếu thuần dụng Nhị thừa “không”thì Bồ-tát của Thông giáo cũng đâu thể Tịnh độ. Nếu có không gian và đất thì xây cất nhà cửa mới được thành . Dùng tâm “không”bất khả đắc duyên với bốn thứ khổ tập chúng sinh mà tu bốn thứ đạo diệt nguyên hạnh, bèn thành nhân Tịnh độ. Như bốn thứ bất khả thuyết của Niết bàn tức là “không”vậy. Vì nhân duyên nên khởi thệ nguyện từ bi tu bốn cõi, nói bốn cõi không thể nói mà không thể lập mà lập, không và hữu không mất nhau cũng không ngại nhau là ước bất tư nghị mà luận về bốn cõi nước vậy. Như ngài Diệu Đức hỏi “Thất này vì sao để trống?”Ngài Tịnh Danh đáp: “Mười phương cõi Phật cũng đều trống không.” Lại nói: “Tuy biết các Phật quốc độ vắng bặt như không trung, mà lại thường tu tịnh độ giáo hóa quần sinh”, nên biết bốn thứ không thể nói vắng bặt như hư không. Do có nhân duyên nên cũng có thể nói, tức là khởi tất cả các thứ cõi nước thù thắng, nguyện nhận lấy Phật quốc mà không phải là hư không.

2. Hợp dụ không thành. Nếu chỉ ở không thì Tịnh độ không thành. Đây là chê hàng Nhị thừa và Bồ-tát của Thông giáo tu nhân đản không”“chỉ không) nên không thành Tịnh độ Phật quốc độ.

Từ: “Bảo Tích nên biết…” là phần đáp nhân chính đáp lời Bảo Tích hỏi về nhân Phật quốc. Có hai phần:

  1. Trải rộng các hạnh mà tu nhân.
  2. Dọc suốt nguồn tâm mà tu nhân.

Cả ngang rộng dọc sâu hỗ trợ lẫn nhau không được tách rời. Chỉ vì sách không muốn diễn bày trùng lên nhau nên nói có thứ tự trước sau thôi. Kinh Pháp Hoa nói tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa thì việc hợp lọng hiện cõi có tướng rộng dài là biểu thị cho điều đó. Ngang rộng dọc suốt văn kinh càng phải giải thích khiến cho nghĩa cao rộng được thành.

Nay trước là nói rộng tu nhân Tịnh độ, có mười bảy pháp môn, văn chia ba phần:

  1. Ba khoa căn cứ ba tâm.
  2. Sáu khoa căn cứ tự tu.
  3. Tám khoa căn cứ hóa tha.

Ba tâm có bốn ý:

  1. Nói về riêng.
  2. Nói về chung.
  3. Nói về quán tâm.
  4. Giải thích theo kinh.

* Nói riêng về tu Tịnh độ, tức ba thứ tâm Bồ-đề: Trực tâm, Thâm tâm và Đại thừa tâm.

Quán Tứ đế gọi là trực tâm. Quán nhân duyên gọi là thâm tâm. Phát bốn hoằng nguyện gọi là Đại thừa tâm.

Về trực tâm, là quán lý Tứ đế, tức ba thứ Tam-muội lìa bỏ tà kiến cong vẹo, nên gọi là trực tâm. Nên trong Đại luận có nói: Đó là tâm Từ vô thỉ luôn cong vẹo không thẳng, nếu được tâm Tam-muội thì liền ngay thẳng . Nay nói hàng Thanh văn tu ba thứ Tam-muội duyên với bốn chân đế mà có thể phát ra vô lậu đoạn bỏ các tà kiến, nên gọi là điều trực định.

Thâm tâm, là quán mười hai Nhân duyên tức trí tuệ Duyên giác.

Trí sâu hơn Thanh văn, do trí quán nhân duyên mà diệt trừ các tập khí.

Hỏi: Tịnh độ là hạnh Bồ-tát sao được căn cứ ở tâm Nhị thừa?

Đáp: Đại phẩm nói: Ba thừa, Thập địa đều tu đều học mà không thủ chứng, còn Phật thì cũng học cũng chứng. Kinh Pháp Hoa nói: Thiểu dục và chán sinh tử là thật sự tự mình cõi Phật thanh tịnh. Nếu tâm Nhị thừa không phải là tịnh cõi Phật thì tại sao khi Bồ-tát thành Phật, các chúng sinh Nhị thừa lại sinh vào cõi nước ấy.

Hỏi: Trong đây chỉ nói trực tâm và thâm tâm đâu cần phải gượng ép đối với hàng Nhị thừa quán tâm?

Đáp: Kinh này vẫn còn mang phương tiện nên có giải thích này. Nếu chuẩn theo các kinh Đại Phẩm, Pháp Hoa e là phải căn cứ ở tâm Nhị thừa tu hạnh Tịnh độ mà tiếp dẫn hàng Nhị thừa sinh vào cõi nước ấy. Nên trong Đại luận giải thích về phần Khuyến Học trong Bát-nhã nói: “Có cõi Phật toàn là Thanh văn làm Tăng, có cõi Phật toàn là Bích-chi-Phật làm tăng, có cõi Phật thuần là Bồ-tát làm Tăng. Nếu người tâm quán duyên đế mà không phải là tịnh cõi Phật, thì há thuần là Thanh văn đều sinh vào cõi nước ấy, Duyên giác, Bồ-tát cũng như thế nên biết.

Hỏi: Kinh này nói: Tùy các chúng sinh đáng dùng loại cõi nước nào để vào trí tuệ Phật. Lại kinh Pháp Hoa nói mười phương ba đời chư Phật ở cõi đồng cư đều khai ba hiển một. Nếu có cõi Phật toàn là Thanh văn thì sao được vào Phật tuệ mà khai hiển?

Đáp: Theo số nhiều mà luận. Cõi Đồng cư phần nhiều là khai ba hiển một. Đại phẩm nói điều này là cốt chỉ rằng cả mười phương không thể không có Phật sự ấy, chỉ là chư Phật thường làm một việc. Tuy ở Đồng cư mà không được hiển một, thì các Thanh văn ở cõi Hữu dư được vào Phật tuệ.

Đại thừa tâm là Bồ-tát Tịnh độ duyên với Tứ đế mà khởi Bi thệ nên gọi là tâm Đại thừa. Hàng Nhị thừa tự độ thì Thanh văn chỉ là trực tâm, Duyên giác chỉ là thâm tâm, còn Bồ-tát độ khắp gồm cả trực và thâm tâm, nên thêm vào tâm Đại thừa.

– Nói chung thì ba tâm chỉ là một tâm, chỉ khác tên mà thôi. Bởi vì ba tâm chỉ là một, tự tánh thanh tịnh không có hai bên cong vẹo, gọi đó là chân. Khó tìm nguồn cội nên gọi là thâm sâu, tánh nó rộng khắp nên gọi là đại. Bồ-tát tuy quán Tứ đế nhưng không chung với Thanh văn, vì quán vô tác Tứ đế mà tu tám Chánh đạo. Như Đại kinh có nói: Bồ-tát tu tám Chánh đạo tức là Phật tánh, nên nói: Trực tâm là đạo tràng không hư giả. Cho nên nếu quán vô tác mà tu tám Chánh đạo tức lìa bỏ kiến giải tà tiểu thấy quanh co gọi là chân trực tâm, nên biết trực tâm chính là đó. Kế đến, Bồ-tát quán nhân duyên mà không chung với Duyên giác. Kinh Đại Phẩm nói: Mười hai Nhân duyên là pháp riêng của Bồtát. Đại Luận cũng nói: Mười hai Nhân duyên là thâm pháp nhẫn, cho nên biết thâm tâm chính là ở Bồ-tát. Về tâm Đại thừa thì không cùng chung với hàng Nhị thừa và Bồ-tát của Tạng Thông như Đại kinh có nói: “Một thật đế gọi là Đại thừa”, nay ba tâm này không có ba thứ sai khác, không dọc không ngang là tên gọi khác của ba đức, muốn được dễ hiểu nên phân làm ba thứ. Lại tuy nói ba thứ mà như chữ “Y”ở đời thế gian Bồ-tát tu ba tâm này là gốc các tâm, tức là tâm đầu tiên trụ vào ba đức. Nếu xưa luận ba tâm nhân cảm được quả ba thân và thân Phật của bốn giáo, nay nói chỗ nương tựa phân nơi ba tâm liền cảm được quả ba cõi, bốn loại Phật quốc.

– Căn cứ quán tâm mà nói ba tâm, đầu tiên là thể từ Giả vào Không. Không giả hai quán, vì phương tiện nên ba tâm có khác. Nếu tu Trung đạo về ba tâm, thì ba tức một, một tức ba.

– Giải thích theo Văn kinh. Có ba phần:

a. Giải thích về trực tâm. Nay nói trực tâm là Tịnh độ, trước căn cứ theo giáo mà nói trực tâm là chánh nhân có thể cảm chánh quả, tức đoạn văn sau nói về quang nghiêm. Trực tâm là đạo tràng không hư giả, nên nay căn cứ theo trực tâm mà nói rõ là chỗ nương tựa nhân đó có thể cảm được quả quốc độ Y báo.

Hỏi: Vì sao riêng căn cứ Tứ đế mà nói trực tâm?

Đáp: Các tâm còn lại cũng đều căn cứ theo Tứ đế, và cũng làm sao lìa Tứ đế mà có môn khác?

Về Trực tâm có năm: Thế gian và dùng bốn giáo. Trực tâm, của thế gian như người ghi chép sự thật không có dối trá, đây là cái trực của phàm phu ngoại đạo. Tuy thế tình đã mất nói người đó là trực tâm mà vẫn còn có chỗ cong vạy, cũng nói là si trực tức nghĩa này vậy.

Bốn giáo thì có bốn thứ tâm Chánh đạo mà không có bốn thứ tà khúc. Tam tạng giáo thì căn cứ sinh diệt lìa bỏ sáu mươi hai kiến tà khúc. Thông giáo thì vô sinh lìa bỏ khúc sinh diệt. Biệt giáo thì lìa bỏ khúc hằng sa. Viên giáo thì lìa bỏ khúc hai bên. Mỗi đều dựa theo về Tứ đế mà tu tám Chánh đạo thì đều gọi là trực tâm. Năm thứ trực tâm này có bốn quyền một thật. Nay Bồ-tát của Viên giáo biết tất cả pháp Không quyền không thật mà song tu, song dụng Bi thệ, độ người mà tu hạnh năm trực, khen năm pháp trực, thấy người tu năm trực càng thêm tùy hỷ. Bồ-tát như thế dù chưa tám tướng thành đạo, song thường có thần thông ở khắp mọi nơi, dùng năm pháp trực mà thành tựu cõi Phật thanh tịnh cho chúng sinh. Nếu vào Sơ trụ đầy đủ Chân ứng tùy cơ độ người, liền hiện cõi Tịnh uế đồng cư mà tám tướng thành đạo, thì không chỉlà các chúng sinh có trực tâm thế gian đã hóa độ từ xưa đến ở nước này mà còn. Các chúng sinh được hóa độ thuở xưa do tu sinh diệt Tứ đế và bốn thứ tám Chánh đạo đoạn hết hữu vi nhưng vô vi chưa đoạn, các chúng sinh ấy không siễm nịnh này đều đến ở đây. Hoặc các chúng sinh này ở quá khứ có các thứ căn tánh đốn, tiệm, bất định, bí mật… không đồng thì Bồ-tát khi thành Phật sẽ hiện ra bốn thân không đồng và pháp luân cũng có đốn tiệm… khác nhau. Như lúc đầu thì phó cơ dùng phương tiện, khi đến thời Pháp Hoa thì liền bỏ phương tiện chỉ nói đạo Vô thượng, bỏ cả ba quyền xưa trở về một thật. Chúng sinh được giáo hóa đều không trụ vào cái dua nịnh quyền giáo. Cho nên nói trực tâm là Tịnh độ của Bồ-tát cho đến tới sinh ở nước ấy.

Lại nữa, Bồ-tát ở cõi Hữu dư được thành Phật, lúc đó chúng sinh có trực tâm Thập thiện không được sinh về cõi nước ấy. Vì sao? Vì các nội giới kiết nghiệp chưa đoạn hết. Cho nên nếu chúng sinh được hóa độ khi xưa tu trực tâm Tứ đế tám Chánh đạo, các kiết nghiệp nội giới đã hết, thì mới sinh vào cõi nước ấy, tức là Nhị thừa của Tam tạng giáo, có ba thừa của Thông giáo, một Thừa của Biệt viên… tổng gồm bảy trực tâm do chúng sinh không còn hữu vi duyên tập dua vọng đến ở cõi Hữu dư, cho nên nói trực tâm là Tịnh độ của Bồ-tát. Bảy loại chúng sinh không dua nịnh đến sinh ở nước ấy.

Lại nữa, Báo độ của Bồ-tát khi thành Phật thì chúng sinh với hai

trực tâm của Tạng Thông đều không được sinh, vì biệt hoặc chưa hết chỉ có hai thứ chúng sinh trực tâm Biệt Viên được độ từ xưa không còn sự dua nịnh của hai biên sinh vào nước ấy, nên nói chúng sinh không dua nịnh sinh vào nước ấy. Lại nữa, Bồ-tát khi thành Phật ở cõi Tịch quang thì chỉ có chúng sinh không dua nịnh do tu Biệt viên Bát trực “tám Chánh đạo) được độ thuở xưa là sinh vào nước ấy. Nghĩa này như thế. Đâu có thể một thứ si trực thế gian sinh vào cõi nước ấy được.

b. Thâm tâm sinh vào nước ấy, giải thích nhân duyên để biện minh về nghĩa thâm tâm, căn cứ các pháp môn khác không phải Không được nhưng cũng đâu thể lìa mười hai nhân duyên. Thâm tâm cũng có năm: là Sự thâm tâm, tức tu phước thế gian, và bốn thứ kia là căn cứ ở quán mười hai nhân duyên để nói về thâm tâm. Nghĩa là bậc Hạ trí quán sinh diệt, bậc Trung trí quán vô sinh, bậc Thượng trí quán vô lượng, bậc Thượng thượng quán vô tác, gồm ba quyền một thật. Bồ-tát hiểu biết không phải quyền không phải thật, mà quyền mà thật, để song tu thâm tâm mà thành tựu chúng sinh, cõi Phật thanh tịnh, và từ bi thệ nguyện, tất cả đều khắp thấm nhuần, tán thán tùy hỷ. Bậc Thượng thượng thành tựu đầy đủ, Chân ứng hai thân, tám tướng thành đạo. Tùy theo bốn thứ chúng sinh đáng dùng thân Phật nào để độ và bốn cõi nước nào khi thành Phật thì tùy loại chúng sinh thâm tâm có duyên đều đến ở cõi nước ấy. Tùy theo chỗ tu của họ hoặc Lý hoặc Sự mà nói pháp, phân biệt các nghĩa lý… Suy từ trực tâm sẽ hiểu.

Nói “đầy đủ công đức”, là bậc Duyên giác thâm tâm tu phước đức, nên kinh Pháp Hoa nói: “Như người có phước từng cúng dường Phật, có chí cầu thắng pháp thì nói pháp Duyên giác”, tức là nghĩa này. Nhưng đầy đủ có hai nghĩa. Một là thâm tâm rộng và đủ tịnh hóa cõi: đồng cư gọi là đầy đủ công đức sinh về cõi ấy. Hai là thâm tâm tận nguồn nhân duyên. Mọi công đức sở hữu ở ba cõi đầy đủ tức là dọc đủ các loại trực tâm khác.

c) Nói về tâm Đại thừa từ câu tâm Bồ-đề”đến “nước ấy”tức Đại thừa của bốn giáo phát tâm Bồ-đề, trên cầu quả Phật dưới độ chúng sinh nên gọi là đại, đều duyên Tứ đế phát bốn hoằng thệ nên gọi là thừa, gồm ba quyền một thật. Bồ-tát của viên giáo tu quyền thật Đại thừa, thành tựu chúng sinh, cõi Phật thanh tịnh thì tự độ độ người tán thán tùy hỷ, sau khi thành Phật thì cõi Đồng cư có bốn thứ, cõi Hữu dư có ba thứ, cõi Thật báo có hai thứ và cõi Tịch quang chỉ có một. Các thứ khác so với trực tâm mà biết.

2. Sáu khoa căn cứ ở tự tu: t câu “Bố thí…”trở xuống là nói về Lục độ tức nhân Tịnh độ Từ “Bố thí trở xuống Đã hiểu rõ ba thứ tâm, nay căn cứ theo hạnh mà luận, cũng như mắt và chân đâu thể tách rời. Nếu không có ba tâm thì hành không chân thật, và hành cũng chẳng cao rộng. Cho nên dùng ba tâm mà vào tất cả hành.

– Bố thí, có năm là sự thí của thế gian và bốn thí của Bồ-tát. Sự thí của thế gian tức là Lục đạo thí. Nếu kẻ tạo tội ác, phá giới tà tâm và phá hoại Tam bảo mà bố thí thì cũng như Điều-đạt dạy vua A-xàthế thí cho các Tỳ-kheo, hoặc làm mưu nghịch đem tiền của thí cho… Những người bố thí như thế, khi chết tất vào Địa ngục. Bố thí đó là Địa ngục đạo Bố thí Thí “Đàn”. Nếu người tạo tội ác phá giới, nhiều giận dữ mà bố thí thì sau khi chết sẽ đọa làm rồng, có cung điện bảy báu, y báo giống các trời, có chánh báo giống loài rắn. Hoặc như kẻ phá giới kiêu mạn, khủng bố mà được tiền của đem bố thí, thì sau sẽ chịu thân Kim sí điểu. Những kẻ bố thí như thế đều là súc sinh đạo bố thí. Kẻ làm mười ác nghiệp phá giới dua nịnh độc hại được của phi pháp mà bố thí thì bị báo Dạ-xoa, hoặc kẻ phá giới dua nịnh lừa dối, ham mê rượu thịt, nhiều giận dữ đem của phi pháp bố thí, thì đọa làm Ma-hầu-la-già, bố thí như thế gọi là Quỷ thần đạo bố thí. Nếu kẻ ít giữ giới, ôm lòng ghen ghét giận dữ nhưng tu nhiều phước đức thì đọa làm A-tu-la. Có thế lực Y báo cùng chống cự với các trời, nhưng cảm nhận chánh báo có nhiều sợ sệt. Như thế cho đến Càn-thát-bà, Khẩn-na-la… đều là bọn siễm nịnh mê thích âm nhạc mà làm bố thí thì đều thuộc quỷ đạo. Nếu kẻ giữ năm giới, thập thiện tự giàu sang làm việc bố thí, nếu có tâm khinh khi, cục bộ hoặc hạn chế, trở ngại mà bố thí gọi là Tỳ-xá Thủ-đà Bố thí. Hoặc người trì giới có tâm ân cần cẩn trọng, đúng pháp bố thí gọi là Cư sĩ bố thí. Hoặc người trì giới ham thích đạo, cung kính rộng học mà bố thí là Bà-la-môn Đàn. Nếu người trì giới, cung kính phát từ tâm đại thí, tự bỏ tiền của của mình, lại khuyên dạy người khác tu phước thì là Sát-lợi bố thí . các cách bố thí như thế đều là nhân bố thí . Nếu người ở bậc cao Thập thiện trì giới rất kỹ lưỡng, cung kính nghe pháp, từ thiện hiếu thuận cúng dường hương hoa đèn đuốc, các vật quý hiếm đúng pháp tịnh thí thì đều là Thiên bố thí . Như Luật tạng nói: Có một đứa bé làm thuê được tiền cúng thí chúng Tăng nguyện được sinh lên trời Đao-lợi, Đức Phật thọ ký cho được sinh. Nếu người trì giới càng tinh tế cho đến tu thiền, có tâm chán lìa thế gian mà bố thí thì được sinh lên trời Sắc giới gọi là tu Thiên đàn. Từ trên đều là thế gian sự thí có quả báo không đồng.

Bố thí của hàng Nhị thừa theo Tam tạng giáo là quán Tứ đế và mười hai nhân duyên, vô thường, dùng trạch pháp và xả hai giác chi, bỏ thân mạng tiền của được đạo Nhị thừa. Hoặc là Bồ-tát bố thí , là bỏ thân mạng tiền của, quán sát vô thường, phát thệ nguyện đại bi như vua Thi-tỳ dùng thân mình thay chim Bồ câu, đó gọi là xả viên mãn bố thí thân đàn mãn. Bỏ thân mạng như Đại luận nói: Tiền thân Đức Thíchca và Điều-đạt cả hai cùng làm nai chúa, thì Thích-ca đã chết thay cho Nai chúa Điều-đạt, liều mình một cách không chút luyến tiếc. Còn việc tài thí như khi làm Thái tử Tu-đại-noa đã bố thí cả hai đứa con cho Bàla-môn như trong kinh đã nói đầy đủ. Đó gọi là Bồ-tát Tam tạng giáo viên mãn hạnh bố thí . Thông giáo bố thí là quán thể của vật thí, người thí, người nhận đều như huyễn hóa, khởi đại Từ thương xót chúng sinh mà bỏ tiền của thân mạng để thí. Về Biệt giáo bố thí thì tuy ba việc tức không mà chẳng trụ ở không, vào Giả để độ người làm các hạnh bố thí, bỏ tiền của thân mạng như kinh Hoa Nghiêm nói mười thứ bố thí. Kinh Địa Trì nói chín thứ. Về Viên giáo đàn, thì kinh Thắng-man nói: Về bỏ thân là thân kiếp sau sinh tử… lìa bỏ lão bệnh tử mà được thường trụ bất hoại, về tiền của cũng thế. Lại kinh Hoa Nghiêm nói Như Lai bố thí . Đại kinh cũng nói bố thí Ba-la-mật là Phật Tánh. Đại phẩm nói tất cả pháp đều hướng về bố thí . Kinh này nói: Bố thí là đạo tràng, không trông cầu quả báo, cho nên tự làm và dạy người, tán thán tùy hỷ. Về quyền thật bố thí, là sau khi thành Phật thì năm thứ chúng sinh thường xả bỏ tất cả sẽ sinh đến nước ấy. Phân biệt bốn giáo về đoạn các duyên tập hữu vi hay vô vi đã hết hay chưa hết… các căn duyên bốn giáo sinh đến bốn cõi nước… thì suy theo trực tâm ở trước mà biết.

Trì giới sinh về cõi nước ấy cũng có năm: Một thứ là sự tướng trì giới là phàm phu, còn bốn thứ trì giới kia tức là bốn giáo đã nói. Bốn thứ chánh ngữ và nghiệp, mạng… đều gọi là trì giới giải thích đầy đủ sự việc sẽ rất nhiều. Nói “Các chúng sinh mãn nguyện sẽ đến ở cõi nước ấy.” Các giáo đều nói “mãn nguyện”vì do trì giới thanh tịnh nên các thiện được sinh việc mong cầu đều có kết quả nên nói là mãn nguyện. Các thứ khác suy theo trực tâm sẽ biết.

Nhẫn nhục sinh về cõi nước ấy cũng có năm: Một sự nhẫn thế gian như phàm phu, bốn nhẫn kia lại căn cứ theo bốn giáo mà luận cách thức như trước nên biết. Bồ-tát sau khi thành Phật họ đều sinh đến cõi nước ấy. Như Luân vương, Đế Thích và các trời ở thượng giới có ba mươi hai tướng. Thanh văn, Duyên giác cũng có tướng là bốn thứ tướng nghiệp của bốn giáo không đồng, đều do nhẫn làm gốc. Bốn thứ tu tướng trong việc khen đức ở trước có nói việc bỏ đồ trang sức tốt đẹp. Đã lược nói xong, các thứ khác suy ở trực tâm thì biết.

Tinh tấn sinh vào cõi nước. Có Luận sư cho rằng không có biệt thể mà chỉ căn cứ vào các hạnh. Hoặc có người nói là có biệt thể, cũng có năm thứ: Một thứ là sự tinh tấn tức là phàm phu, còn bốn thứ Đạo phẩm kia, mỗi thứ có tám tinh tấn, tức là bốn Chánh cần, và tấn lực, tấn căn, tấn giác, tấn đạo là tám. Sau khi Bồ-tát thành Phật, năm thứ chúng sinh này siêng tu tất cả công đức đều sinh lên cõi nước ấy. Các thứ khác suy trực tâm mà biết.

Thiền định sinh về cõi nước ấy cũng có năm: Một thứ là thế gian thiền định như phàm phu được bốn thiền bốn không. Bốn thứ sau căn cứ về bốn giáo, có bốn thứ đạo phẩm mỗi thứ có tám định, tức là bốn như ý định và định căn, định lực, định giác, định đạo… Cho đến tám bội xã, chín thứ đệ… đều là thiền định. Sau khi Bồ-tát thành Phật theo bốn giáo thì năm thứ chúng sinh nhiếp tâm bất loạn sẽ sinh đến nước ấy. Các thứ khác suy theo trực tâm.

Trí tuệ sinh về cõi nước ấy cũng có năm, trí thế gian tức là phàm phu trí, bốn thứ trí tuệ kia tức là bốn giáo nói về bốn thứ đạo phẩm đều có tám thứ trí tuệ. Đó là bốn Niệm xứ tuệ căn, tuệ lực, tuệ trạch giác và chánh kiến. Sau khi Bồ-tát thành Phật thì năm thứ chúng sinh chánh định đó sinh vào cõi nước ấy. Trên đây là các trường hợp quyền thật và các nghĩa đều suy theo trực tâm.

Hỏi: Trí của phàm phu v.v… sao được vào chánh định tụ?

Đáp: Phàm phu thế gian có chánh kiến cũng nhập vào chánh định tụ của xuất thế, nên cũng được gồm nói.

Tám khoa căn cứ hóa tha: Từ “bốn Vô lượng tâm”trở xuống là xét về hóa tha là tu nhân Tịnh độ. Đây là việc luôn thường phải vậy. Vì sao? Đây là việc xưa cũ. Vì sao? Vì Bồ-tát từ lúc mới phát tâm thường khởi lòng đại bi câu sinh, há hành Lục độ mà không có việc hóa tha. Bốn Vô lượng tâm cũng có năm thứ: Một thứ là sự bốn Vô lượng tâm là phàm phu tu mà được sinh vào cõi Sắc làm Phạm vương. Mỗi bốn giáo đều có bốn Vô lượng tâm. Tam tạng giáo là pháp sinh diệt duyên với bốn Vô lượng tâm. Thông giáo thì pháp Vô sinh duyên, Biệt giáo thì tạng thức ngoại giới, pháp hằng sa Phật pháp duyên với bốn Vô lượng tâm, còn Viên giáo thì pháp Trung đạo Phật tánh vô duyên duyên với bốn Vô lượng tâm như nam châm hút sắt tức là vô tác. Sau khi Bồ-tát thành Phật thì năm thứ chúng sinh Từ, Bi, Hỷ, Xả đến sinh vào nước ấy. Quyền thật và các nghĩa đều suy theo trực tâm mà biết.

Bốn nhiếp sinh vào cõi nước ấy, bốn nhiếp pháp này cho đến hồi hướng đều không phải chỗ làm của phàm phu tiểu thừa, mà chỉ Bồ-tát của bốn giáo nói về nhiếp quyền thật không đồng. Bồ-tát sau khi thành Phật thì bốn thứ chúng sinh giải thoát sinh đến nước ấy Bồ-tát dùng bốn Nhiếp nhiếp giữ chúng sinh khiến họ vào Đệ nhất nghĩa. Do đó, chúng sinh được nhiếp thọ đều có nhân giải thoát đến sinh vào bốn cõi nước ấy cho đến các nghĩa đều suy theo trực tâm mà biết.

Về Phương tiện đến ở nước ấy, theo bốn giáo mỗi thứ có ba thứ Phương tiện:

  1. Tự hành.
  2. Hóa tha.
  3. Tự hành và Hóa tha.

Lại , mỗi thứ đều có ba thứ phương tiện:

– Phá pháp.

– Lập pháp.

– Giáo hóa.

Sau khi Bồ-tát thành Phật thì bốn thứ chúng sinh với tất cả phương tiện vô ngại đều sinh đến cõi nước ấy. Quyền thật và các nghĩa đều suy theo trực tâm mà biết.

Về ba mươi bảy phẩm đến cõi nước ấy. Pháp Nhị thừa này có đủ các phần như Huyền nghĩa. Bốn giáo nói ba mươi bảy phẩm không đồng. Sau khi Bồ-tát thành Phật thì các chúng sinh như thế đều sinh đến cõi nước ấy. Các nghĩa quyền thật cũng suy theo trực tâm mà biết.

Về tâm hồi hướng đến cõi nước ấy. Đại Luận có nói: Hồi hướng như tiếng thổi vào sừng. Bốn giáo Bồ-tát hồi hướng không đồng. Sau khi Bồ-tát thành Phật thì bốn thứ chúng sinh đầy đủ công đức đến cõi nước ấy, hồi công đức mình chung cho chúng sinh phước thiện đều đầy đủ, nên nay sinh đến thì công đức đều đầy đủ vậy. Cũng nên nói rằng chúng sinh muốn tu hồi hướng thì sinh đến nước ấy, e là văn đã lược bỏ mà thôi. Về quyền thật các nghĩa suy theo trực tâm.

Nói trừ bỏ cho đến tám nạn. Về tám nạn, thì ba ác đạo là ba; bốn là Bắc Uất-đơn-việt; năm là trời Trường thọ; sáu là mù, điếc, câm, ngọng; bảy là thế trí biện thông; tám là sinh ra trước hay sau Phật. Đây có hai thứ:

  1. Nội giới là nạn của hai giáo trước.
  2. Ngoại giới là nạn của hai giáo sau.

Bồ-tát xét theo bốn giáo nói về trừ bỏ hai thứ tám nạn. Đến chương Thiện Cát lại sẽ phân biệt. Bồ-tát tự trừ tám nạn hoặc dạy người khác, tán thán tùy hỷ. Sau khi thành Phật thì cõi nước đó sẽ không có ba ác đạo và tám nạn. Căn cứ bốn cõi phân tích có nạn và không nạn, nghĩa tướng rất nhiều khó thể luận đủ. Các thứ khác suy theo trực tâm.

Về tự giữ mình, xét theo bốn giáo cũng có bốn thứ. Tự giữ mình không chê bai có bốn trường hợp “bốn cú 1. Không tự giữ mà chê bai người khác.

  1. Không tự giữ mà không chê bai.
  2. Tự giữ mà chê bai.
  3. Không tự giữ mà không chê bai.

Đại kinh nói: Giả sử có ba đứa con do đánh đòn mà chết. Chỉ có người con còn lại là đánh thật đau thì sao được hoàn toàn không chê người ấy, chỉ mong không có ác tâm tất là đối người khác có ích, không phải đều không chê bai vậy. Chỉ thấy bốn điều chê bai là Không lầm lẫn. Nói quyền thật các nghĩa suy theo trực tâm.

Về thập thiện sinh về cõi nước, có hai: Chỉ và Hành “ngăn chặn ác, hành thiện”.

Chỉ Thập thiện, cũng có năm thứ đó là Sự Thập thiện là việc làm của phàm phu. Bốn thứ còn lại thì căn cứ theo Bồ-tát của bốn giáo tự hành giáo tha, tán thán tùy hỷ. Sau khi Bồ-tát thành Phật thì năm thứ chúng sinh Thập thiện đến ở nước ấy. Không chết yểu là do không sát, giàu sang là do không trộm cắp, phạm hạnh là do không dâm, lời nói thành thật chắc chắn là do không vọng ngữ, thường nói lời dịu dàng là do không ác khẩu, quyến thuộc không xa lìa khéo hòa giải tranh cãi là do không nói hai lưỡi, lời nói ra có lợi ích là do không thêu dệt, không ganh tị là do không tham, ganh tị là do cấu sân giận. Nay căn cứ tham, thì do tham mà có ganh tị, không giận là Không sân, chánh kiến là Không si… Quyền thật và các nghĩa khác đều như trực tâm.

“Từ Như thế Bảo Tích”trở xuống là phần nói, dọc suốt nguồn tâm tu hạnh Tịnh độ. Có mười ba lần giúp nhau thành nhân Tịnh độ. Trên theo chiều ngang của trực tâm mà căn cứ theo mười bảy hạnh, nay lại từ chiều dọc của trực tâm mà nói từ cạn đến sâu. Đem dọc xét theo ngang thì không có một pháp nào không tu dọc; đem ngang ước dọc thì cũng như thế, như trước đã nói đầy đủ. Mỗi mỗi các hạnh cho đến tâm Kim cang, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Đây có ba:

  1. Xét theo giáo.
  2. Quán tâm.
  3. Giải thích văn.

1. Xét theo giáo:

Tam tạng giáo không nói cõi Phật thanh tịnh, bởi trong kinh Thanh văn không có mười phương Phật há lại luận về cõi nước và việc tu hạnh Tịnh độ? Nếu nói có thì thành mối nghi của ngài Xá-lợi. Đã không có giáo này thì không có hạnh, không người sao cần phải luận. Về hai giáo Thông và Biệt thì cần luận tông mà có ba ý sau:

a/ Căn cứ ở Thông giáo Thập địa thì trực tâm đối với kiến địa, trước chưa phát chân nên gọi là tà khúc, khi đăng địa thấy lý, lìa các kiến tà vạy nên gọi là trực tâm. Nhân trực tâm này mà tiến vào Nhị địa. Từ Nhị địa có thể biến khắp mười bảy trường hợp này, nên gọi là phát hành. Do phát hành mà vào Tam địa. Ở Tam địa các giải hạnh đều tiến bộ nên gọi là thâm tâm. Do thâm tâm mà vào được Tứ địa. Ở Tứ địa thì sự lý đều làm mà tự điều phục mình điều phục người nên gọi là điều phục. Do điều phục mà được vào Ngũ địa. Ở Ngũ địa sự lý đã điều phục đúng như lời nói mà làm được vào Lục địa. Ở Lục địa đối với tất cả pháp lành đều hồi hướng về Phật quả, dùng đó thí cho chúng sinh, vì hồi hướng nên vào Thất địa. Ở Thất địa liền có phương tiện có thể tu tự hạnh và hóa tha nên được vào Bát địa. Ở Bát địa có thể đạo quán cùng thực hành, cũng thường mọi nơi mà giáo hóa điều phục chúng sinh. Chúng sinh đã điều phục thì cõi Phật liền tịnh, vì cõi Phật đã tịnh nên vào Địa thứ chín. Ở cửa địa có thể nói pháp tịnh, nói pháp tịnh tức trí tuệ tịnh, ở Địa thứ chín đầy đủ cả bốn mươi biện tài nên gọi là trí tuệ địa. Nhân trí tuệ tịnh mà được vào Thập địa. Ở Thập địa tức tâm tịnh nên tất cả công đức đều tịnh. Bắt đầu từ trực tâm đến hết câu kết nói “Muốn được cõi tịnh phải tịnh tâm mình, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, mượn mười Địa này đối thành chiều dọc của Thông giáo mà nói hạnh Tịnh độ hỗ trợ nhau. Căn cứ Biệt giáo đối với Thập địa, vẫn có hai ý:

Một là Từ Sơ địa có thể thấy Phật tánh liền phá vô minh, lìa bỏ kiến giải tà vạy hai bên nên gọi là chân tâm. Từ Nhị địa đến Thập địa cũng giống Thông giáo khá biết. Chỉ thấy Thiên và Viên cho là khác mà thôi.

b/ Hai là Y cứ kinh Nhân vương thập tứ Bát-nhã thì mất nghĩa hỗ trợ nhau theo nghĩa dọc. Kinh đó lấy ba mươi tâm cùng đối với ba thứ Bát-nhã. Nếu thế thì trực tâm tức đối Thập trụ, Vì sao? Vì khi vào lý Bát-nhã thì gọi là trụ, dù chưa thấy Viên nhưng hiểu tương tự nên gọi là trực tâm. Phát hành đối với Thập hạnh, Thập hạnh chính là nghĩa tu hành. Thâm tâm đối với Thập hồi hướng có thể quay sự vào lý, khiến cho giải và hạnh đều sâu. Điều phục đối với Sơ địa, thì Sơ địa phát chân, đạo quán cùng thực hành nên gọi là điều phục. Từ Nhị địa đến Thập địa thứ lớp đối câu kế, Đẳng giác đối câu sau “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”, nên gồm Địa trước sau mà nhận lấy Đẳng giác. Nương vào Thập tứ Bát-nhã dọc đối các trường hợp, các số nghiêm chỉnh đầy đủ, tùy lời có chỗ không xứng với tên các Địa, như muốn giải thích thì tất cả đều thông suốt.

c/ Căn cứ ở Viên giáo, dựa theo những phân biệt ở trước nghĩa cũng còn sót, đâu có thể cho Sơ địa chỉ là điều phục mà không có công đức khác. Nếu có đầy đủ thì đâu chỉ được tên điều phục, nếu chỉ có một phần thì đâu đáng gọi là điều phục. Phải biết, còn là chưa đạt đến Viên giáo. Nay dùng mười trường hợp đều đối với giai vị Viên giáo để luận về dọc sâu, dùng nó mà nói về rộng ngang thì đều ở Sơ địa đã tự đầy đủ. Vì sao? Vì như bậc Đồng luân vương thấy lý đã phá vô minh, đâu không phải là trực tâm? Đã đầy đủ muôn hạnh đâu không phải là phát hành? Niệm niệm đều lưu nhập đâu không phải là thâm tâm? Năm trụ đã trừ sạch đâu không phải là điều phục? Giải hạnh giúp nhau đâu không phải là đúng thuyết mà hành? Muôn hạnh đều lưu nhập đâu không phải là hồi hướng?Quyền thật đầy đủ đâu không phải là phương tiện; được khắp hiện sắc thân đâu không phải là thành tựu chúng sinh. Nếu ở cõi nhiễm tịnh mà thành đạo chúng sinh bốn giáo cùng sinh đến nước ấy đâu không phải là cõi Phật thanh tịnh? Một âm diễn nói phó cơ khắp bốn thứ đâu không phải là tịnh nói pháp? Trí tịch chiếu không mưu cầu mà nói, há không phải là tịnh trí tuệ; thật tướng chân tâm cũng như hư không đâu không phải là tâm tịnh; một tâm muôn hạnh đầy đủ phước tuệ, đâu không phải là tịnh công đức? Chánh báo đã tịnh, Y báo cũng thế. Đồng đối với chư Phật thấy lý pháp tánh. Ở Nhân-đà-la võng mà phân nhập vào Tịch quang đâu không phải là tịnh cõi Phật. Nên biết trong tâm sơ trụ dọc sâu cùng tận nguồn tâm, mười bốn trường hợp này và vô lượng trường hợp đều ảnh hưởng tất cả. Cho nên môn chữ A đầu tiên đủ bốn mươi mốt chữ, bốn mươi mốt chữ cũng đủ ở môn chữ A. Nên biết luận dọc thì tận cùng các đời sau, nói ngang thì đầy đủ các môn. Phát tâm tu chánh hạnh hóa độ thêm hai cõi thành tựu chúng sinh tất cả đều đầy đủ trong sơ tâm. Cho nên trong Đại Phẩm có nói: “Khi mới phát tâm liền thành chánh giác.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Được một thân và vô lượng thân Như Lai.” Ở vị ban đầu đã dọc ngang các trường hợp cõi Phật thanh tịnh, các giai vị khác cũng thế. Như trước đã dẫn Đại kinh nói dụ về mặt trăng ngày rằm vậy.

2. Xét theo quán tâm: Từ chiều, dọc mười ba lần giải thích giúp nhau về sự hỗ trợ tu nhân Tịnh độ? Còn một tâm ba quán thì quán các pháp tánh tức là trực tâm. Tâm một niệm này đủ cả mười bảy hạnh trước, tức là tùy theo trực tâm thì có thể phát hành. Sự lý giúp nhau tức có thể tiến nhập vào pháp giới thậm thâm. Vì thâm tâm nên tất cả sự lý bất thiện ý đều được điều phục. Vì ý đã được điều phục nên bao nhiêu pháp nói ra đều như thuyết mà làm. Hồi hướng việc làm của mình khắp thí cho tất cả. Đã có thể hồi hướng mà thí tức khiến cho tất cả chúng sinh dứt ác tu thiện. Vì tu thiện nên có thể tịnh cõi Phật. Cõi Phật đã tịnh nên cảnh giới liền tịnh. Cảnh giới tịnh nên nói pháp tịnh. Nói pháp tịnh nên nội tâm trí tuệ chuyển thành minh tịnh. Trí tuệ tịnh nên tất cả công đức đều thanh tịnh. Đây đều như thế, nên quán tâm thanh tịnh thì cõi Phật tịnh. Cho nên nói: “Muốn tịnh cõi Phật phải tịnh tâm mình, tùy tâm mình tịnh thì cõi Phật tịnh.” Thế thì, chiều dọc tu mười ba trường hợp rõ ràng đầy đủ trong quán tâm, gọi đó là quán hạnh tức vậy. Do đó, Pháp Hoa nói: “Nên biết người ấy đã đến đạo tràng gần quả Bồ-đề ngồi dưới đạo thọ. Nếu công hạnh đã thuần thục thì chư Phật ngầm gia hộ liền nhập vào tương tợ. Từ tương tợ mà tiến nhập vào đồng luân phần chứng chân thật, liền ở hai cõi mà tự hành hóa tha, cùng vật kết duyên, đáng dùng thân Phật để hóa độ, liền hiện thân Phật nói các pháp môn đốn tiệm, bất định, bí mật, để giáo hóa điều phục họ, nhập tuệ khởi căn mà nhận lấy cõi Phật. Nếu không như thế bậc Sơ trụ, làm sao duyên với tám tướng thành đạo? Tuy nói nghĩa quán tâm thật là tịnh hóa cõi Phật, đây là liễu nghĩa, nếu người lìa đây thì phần nhiều chấp văn theo lời mà sinh kiến chấp.

Lại nữa, không phải Biệt giáo thì không do đâu biểu thị dọc, nếu không phải Viên giáo thì không do đâu biểu thị ngang. Cũng như nếu không có ngày thì không do đâu thành tháng, nếu không có tháng thì không do đâu để đếm ngày, ngày tháng giúp nhau mới thành năm, cho đến nhiều năm. Nay ngang dọc giúp nhau nghĩa cao rộng đã rõ. Không phải dọc không phải ngang mà dọc mà ngang. Như chữ nhất ba mắt Thủ-la. Nên biết nghĩa Tịnh độ là nương vào ba đức bí mật tạng mà có, nếu ba thân ba đức đã là chánh báo, thì ba cõi, bốn cõi tức là y báo, y chánh cũng thành nghĩa này đã rõ.

3. Giải thích văn:

Tùy trực tâm mà có thể phát hành, thì trực tâm tức là Viên giáo quán trung, tu tám trực vô tác, được trực tâm này có thể hay đủ muôn hạnh, nên gọi là phát hành. Hoặc nói khi được trực tâm này liền có thể làm mười bảy pháp ngang ở trước, tùy theo phát hành mà được thâm tâm. Trực tâm là giải, phát hành là hạnh. Giải dẫn dắt hạnh, hạnh giúp đỡ giải. Giải và hạnh cùng thành, như mắt và chân đầy đủ thì mới đến ao thanh lương nên gọi là thâm tâm.

Tùy thâm tâm thì ý được điều phục, là giải hạnh đã sâu thì có khả năng điều phục các hoặc của sự và lý . Hoặc của lý là vô minh mê Trung đạo. Hoặc của sự là mê hoặc hai đế trong ba cõi. Như khi nói phát tâm liền nhập vào Trung đạo song chiếu cả hai đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên lưu nhập, tức có thể điều phục được các hoặc của sự lý. Kinh Nhân Vương nói: Bồ-tát từ khi mới phát tâm đến Kim cang đảnh đều gọi là phục nhẫn, tức điều phục được ý. Tùy theo sức điều phục như thuyết mà làm, tức là mọi ngôn thuyết, không nhưng chỉ có lợi ích các căn cơ, nội tâm thanh tịnh mà còn như thuyết thực hành, nói và làm cùng giúp thiện căn thành tựu. Tùy theo như thuyết mà làm thì có khả năng hồi hướng, tức bên trong đã thành tựu các công đức thiện xoay chuyển những tu nhân hướng về Phật quả và thí cho chúng sinh.. Tùy chỗ hồi hướng ắt có phương tiện, tức xoay chuyểncác hạnh tự làm của mình, trong thì hướng về Phật quả, ngoài thì thí cho chúng sinh, liền có thể phá hay lập khéo léo, giỏi độ chúng sinh nên nói là phương tiện. Tùy theo phương tiện mà thành tựu chúng sinh, tức phương tiện đã phá lập khéo léo, thì cái phá nên chiết phục, cái lập nên nhiếp thọ. Nếu chúng sinh bốn giáo chỉ và hành thiện đều thành tựu, tức là trí đoạn của bốn giáo đã lập thì nhân quả Chánh báo liền thành.. Tùy thành tựu chúng sinh thì cõi Phật tịnh, tức loại chúng sinh là cõi tịnh của Bồ-tát. Nếu chánh báo của chúng sinh chỉ thiện không ác, thì quốc độ y báo sẽ thanh tịnh. Nếu chánh báo hành thiện nhân thành thì cõi Phật trang nghiêm, nếu cõi nước thanh tịnh trang nghiêm thì gọi là cõi Phật tịnh.. Tùy cõi Phật tịnh thì nói pháp tịnh, nếu ở cõi uế nói pháp thì như trưởng giả cầm đồ hốt phân, đây là phó duyên nói pháp khổ thiết yếu, cũng như ngài Tịnh Danh vì các Bồ-tát đến cõi nước Hương Tích mà nói pháp chiết phục cõi này, mà không nói về giáo thanh tịnh các pháp thật tướng. Nếu là cõi Tịnh nói pháp thì chỉ nói pháp môn thanh tịnh các pháp thật tướng gọi là nói pháp tịnh.

Tùy nói pháp tịnh thì trí tuệ tịnh, tức nói pháp vốn phù hợp căn cơ chúng sanh . Cơ duyên nếu tịnh thì cảm trí tuệ Bồ-tát cũng tịnh, sở thuyết cũng tịnh. Ví như gió mạnh thì tiếng linh sẽ kêu to, cũng như người đời nói pháp giải thoát có lợi thì người phước trí đến nghe. Người nói không có ý khai giải trí tuệ. Tùy trí tuệ tịnh thì tâm tịnh tức người nói pháp trí tuệ sáng suốt càng tiến thì các hoặc cấu dần dần tiêu mất, tâm trở nên sáng, tức là tâm tịnh. Tùy tâm tịnh thì tất cả công đức đều tịnh, tức là chân tâm thanh tịnh mà tu các công đức và đều không nhiễm trước thì tất cả đều thanh tịnh. Thế nên Bảo Tích đến cõi Phật tịnh là phần kết sau cùng toát yếu, chánh nói về nhân Tịnh độ. Muốn tịnh cõi Phật phải tịnh tâm mình, là từ trực tâm trở đi có mười ba câu, danh và nghĩa tuy khác nhưng đều là tịnh tâm. Tùy tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, tức tùy bốn giáo mà nói bốn thứ tâm tịnh, tức bốn thứ cõi Phật đều thanh tịnh cả. Lại bốn thứ tâm chỉ là một tâm tự tánh thanh tịnh. Tâm này nếu hiển bày tức là tất cả cõi Phật đều thanh tịnh. Bồ-tát từ xưa dùng bốn thứ Đạo đế mà tịnh tâm, ba thứ trước là quyền, một thứ sau là thật. Hoặc của sự lý đã trừ thì chánh báo liền được Phật quả thanh tịnh, y báo tức là Thường tịch quang rốt ráo thanh tịnh. Bốn giáo chúng sinh có tâm cấu tịnh cùng cảm đến Tịch quang, mỗi người đều thấy có tịnh hay uế. Cũng như chư Thiên cùng có đồ đựng quý báu, nhưng tùy phước đức mà cơm có màu sắc khác, ý thí dụ này là ở đây.

Từ bấy giờ… trở xuống là phần hai: Thân tử sinh nghi . Có hai phần nhỏ:

Một, Lý do sinh nghi.

Hai là Chính suy nghĩ nghi.

Lý do nghi, do nhờ oai thần của Phật mà sinh nghi. Thần lực của Như Lai gia bị cho ngài Thân tử, tức kinh này tuy đối Tiểu thừa mà nói Đại thừa. Ngài Thân tử là người trí tuệ bậc nhất trong hàng Tiểu thừa, được các Thanh văn kính nhường, bỗng ngài sinh nghi tức các Thanh văn cùng nghi. Đại thừa Phương đẳng có việc bí mật khó nghĩ bàn tức ở giữa cõi uế mà có Tịnh độ. Ngài Thân tử chưa thể xứng cơ hỏi điều nghi ắt phải nhờ Phật lực mới hiểu được vật tâm, nên nói là nhờ oai thần Phật. Nương ý kinh Pháp Hoa phát bổn hiển tích nói các Thanh văn nội bí ngoại hiện “trong là Bồ-tát ngoài là Thanh văn”, sao lại bảo là Không thể xứng cơ của vật mà sinh nghi.

Chính nói suy nghĩ nghi: Nghi Phật đáp lời Bảo Tích về tâm tịnh thì cõi tịnh, do chấp chặt Tam tạng giáo trước đây mà sinh nghi rằng: Bồ-tát suốt ba a-tăng-kỳ tu hành thành Phật là đồng nhau, vì sao nay lại nói Bồ-tát tâm tịnh tức cõi Phật tịnh. Riêng Đức Thích-ca không có tịnh độ, lẽ ra khi làm Bồ-tát ắt tâm không thanh tịnh, mà tâm không thanh tịnh sao được thành Phật. Nếu tâm tịnh mà thành Phật thì cũng phải ứng với tâm ấy mà có cõi Phật tịnh chứ sao được có cõi Phật uế ác. Vì trái với điều này nên sinh nghi mà chưa dám hỏi. Hoặc có thể do tự cho là hèn kém hẹp hòi, hoặc sợ là thất lễ, hoặc cho Như Lai sáng suốt tự đoán biết được nên chưa dám hỏi.

Từ “Phật biết ý ông…” Phật giải nghi. Có ba phần:

  1. Phật hỏi về nhật nguyệt.
  2. Ngài Thân tử đáp lời Phật.
  3. Phật hợp dụ giải thích.

Về nhật nguyệt thì ví cho chân ứng Tịnh độ, cũng như cung Nhật Nguyệt do các báu tạo nên, chiếu sáng khắp bốn thiên hạ, trong đó có các trời ví như hai cõi Chân ứng , do muôn đức tạo thành thường chiếu sáng bốn cõi, tất cả chúng sinh chân ứng pháp thân đều nương vào đấy. Lại dụ cho chân duyên hai tu như nhật nguyệt cần nhau để thành tựu muôn vật, chiếu bày ra tất cả, chân duyên cũng thế, giúp nhau thành sáng. Vì chân duyên họp lại nên thường tự chiếu bày bốn thứ Tịnh độ mà người mù không thể thấy được, vì tội chướng của hai duyên tập che lấp năm nhãn. Thế nên nêu nhật nguyệt làm dụ để hỏi ngài Thân tử.

Từ “thưa rằng”… đến “không phải lỗi của nhật nguyệt là Thân tử là đáp Phật.

Từ “Xá-lợi-phất”… đến “mà ông không thấy là hợp dụ, giải nghi Thân tử.

Chúng sinh do tội nên không thấy cõi Phật nghiêm tịnh, trước là hợp dụ người mù, tức chúng sinh do các duyên tập nội giới trược ác chướng nặng, nên không thấy được cõi Đồng cư tịnh độ. Do tội giới nặng cùng vô vi hợp nhau và do tội nội giới trần sa nên không thấy cõi Hữu dư tịnh độ. Do tội trần sa vô minh ngoại giới nên không thấy cõi quả báo Tịnh độ. Do tội vi tế vô minh pháp giới nên không thấy cõi Tịch quang Tịnh độ. Các cõi Tịnh độ này của ta mà các ông không thấy, đây là hợp dụ nhật nguyệt nói về bốn cõi nước thường luôn tịnh. Do ngài Thân tử có bốn thứ tội chướng trên nên không thấy vậy.

Từ “khi ấy…”trở xuống là phần nóiS: Phạm chí Loa Kế tự dẫn chỗ thấy của mình giải nghi cho Thân tử.

Sở dĩ Phạm vương dẫn chỗ thấy, là các hàng Tiểu thừa nghi Phật, tuy nói cõi tịnh mà có ai thấy, thế nên Phạm vương ngầm hiểu ý Phật dẫn chỗ thấy của mình để chứng tỏ Phật không lừa dối, giúp chúng sinh điều lành tin nghe. Văn đây gồm hai phần:

Một là dẹp bỏ niệm nghi của Thân tử.

Hai là nêu chỗ thấy để giải nghi.

Phần một xem văn dễ hiểu.

– Phần hai có ba ý

  1. Phạm vương thấy tịnh.
  2. Thân tử thấy uế.
  3. Giải thích lý do thấy cõi tịnh uế.

Phạm vương Tự tại kể lại việc mình thấy. Về Tự tại thiên có hai chỗ đồng tên Tự tại, hoặc ở đỉnh Lục dục hoặc ở đỉnh Sắc giới. Đây là cõi Dục trang nghiêm đẹp đẽ như Đồng cư tịnh độ. Cõi phương Tây tịnh độ cũng là Đồng cư tịnh độ. Kinh ấy cũng nêu trời thứ sáu để dụ nên nói đẹp báu cũng như ở cõi trời thứ sáu. Nhưng chánh báo của trời thứ sáu so với thân người Tây phương thì chỉ như kẻ ăn xin đứng bên trời Đế Thích. Đây là nói gần để thấy việc xa mà thôi.

Từ “Xá-lợi”… đến “sung mãn” là Thân tử nói chỗ thấy uế như văn.

“Từ Loa-kế…” đến “thanh tịnh” là nói lý do thấy và không thấy :

do ở tâm nhân giả có cao thấp: Vì không nương vào Phật tuệ nên không thấy tịnh. Bồ-tát tâm không cao thấp lại thưởng nương Phật tuệ nên thườngthấy tịnh. Phật tuệ là nguyên do thấy tịnh. Sinh tử là thấp, Niếtbàn là cao. Lại nói tịnh là cao, cấu là thấp. Do cái thấy này mà thấy uế. Phật tuệ trái với thứ này nên gọi là bình đẳng, không dơ nói dơ không sạch nói sạch, cái tướng của dơ sạch không ngăn cách nhau. Cho nên Loa Kế thấy cõi nước dơ tức sạch, còn ngài Thân tử đối với sinh tử và Niết-bàn dơ sạch có khác nhau, không nương vào Phật tuệ nên chỉ thấy là dơ.

Từ “Do đó…” trở xuống là phần năm, Phật hiện cõi Tịnh độ để giải nghi , Văn có bốn:

  1. Ấn đất hiện Tịnh độ.
  2. Phật hỏi Thân tử.
  3. Thân tử đáp.
  4. Giải nghi.

a. Ấn đất, cũng như ý dụ nhật nguyệt ở trên. Đất là dụ cho chân tu, ngón chân là dụ duyên tu. Chân và duyên hợp nhau thì cõi chân độ hiện, như ngón chân và đất hợp nhau thì cõi nước trang nghiêm hiện ra.

Hỏi: Trong bốn cõithì đây hiện cõi nào?

Đáp: Có hai ý: Một là, hiện cõi Đồng cư thanh tịnh; hai là tùy cơ hiển hiện. Tất cả đại chúng khen là chưa từng có, không nhưng chưa từng thấy khi Phật nói kinh Thanh văn, mà trước đây khi nói các kinh Phương Đẳng rất nhiều lần hiển bày chánh báo và hiển bày y báo tịnh độ, thì cũng chưa thấy như hiện nay, và đều chỉ thấy Phật ngồi trên tòa sen báu. Đây là biểu thị lý đại chúng này đều sinh Tịnh độ hoặc sẽ sinh.

b.Từ “Phật bảo…” đến “trang nghiêm” là Phật hỏi Thân tử : như văn.

1/ Từ “Xá-lợi…” đến “đều hiện” là Thân tử đáp , trước đây Phật nói kinh Tiểu thừa hay Phương đẳng chưa được nghe thấy.

2/ Từ “Phật bảo…”Phật chánh thức giải nghi có ba phần:

Một là Pháp.

Hai là Thí dụ.

Ba là, Thời chúng được lợi ích.

Một Pháp: Như văn nói.

Hai Về thí dụ, có hai là khai dụ và hợp dụ.

Về khai dụ, đồ đựng báu dụ cõi Tịch quang, sắc cơm khác là dụ ba cõi kia, báo của ba cõi kia không hơn được Tịch quang, nương vào Tịch quang mà thấy không đồng.

Từ “như thế…” đến “trang nghiêm” là hợp dụ nay dùng mười thứ hợp dụ với thấy sắc cơm có khác nhau:

1. Xét theo cõi Đồng cư: trược nặng thấy cấu, trược nhẹ thấy tịnh. Vì tướng cấu tịnh này cách nhau nên cấu không thấy tịnh.

2. Xét theo Đồng cư Hữu dư, trong cõi Đồng cư thanh tịnh tuy không có trược nặng nhưng các kiến tư lôi kéo sinh ra nên cũng là cấu. Còn trong cõi Hữu dư đã đoạn từ lâu cấu này nên gọi là tịnh. Vì cấu tịnh chưa dung hòa nhau nên cấu thì không thấy tịnh.

3. Tự xét theo Hữu dư. Hàng Nhị thừa sinh vào cõi nước ấy là kém nên gọi là cấu, hàng Bồ-tát sinh vào cõi nước ấy vì đầy đủ phước nghiệp do cảm báo cũng cấu cũng tịnh, nên không thấy tịnh.

4. Xét theo quả báo hữu dư. Cõi Hữu dư chưa phá vô minh nên cõi ấy đều cấu. Sinh thật báo rồi đã phá vô minh nên người ấy thấy tịnh cũng cấu, nên không thấy tịnh.

5. Tự xét theo quả báo, trên dưới so với báo ắt có hơn kém, tự nhiên thành cấu tịnh cũng là cấu, nên không thấy tịnh.

6. Xét theo cõi quả báo, so với hạ phẩm của Tịch quang.

7. Hạ phẩm Tịch quang so với trung phẩm Tịch quang.

8. Trung phẩm Tịch quang trông vào thượng phẩm Tịch quang.

9. Các cõi đối chung với Tịch quang

10. Các cõi không phải cấu, Tịch quang không phải tịnh. Rốt ráo không nói không phải cấu không phải tịnh, mà nói các cõi là cấu, Tịch quang là tịnh. Nên ở đoạn văn sau nói rằng: Tuy biết các cõi Phật Quốc vĩnh viễn vắng bặt như hư không mà hiện ra các loại cõi Phật thanh tịnh.

Đây là mười lần cấu tịnh đối với sắc cơm có khác nhau.

Ba Thời chúng được ích lợi. Văn này có hai:

1. Việc hiện Tịnh độ được ích lợi. 2. Cả cõi nước được ích lợi Phần hiện Tịnh độ có hai:

a) Năm trăm vị trưởng giả tử nghe nói được Vô sinh nhẫn, tức Thông giáo là Thất địa, Biệt giáo là Sơ địa, Viên giáo là Sơ trụ.

b) Có tám vạn bốn ngàn người phát tâm Bồ-đề. Vị tâm Bồ-đề như trước đã phân biệt.

Nói hiện lại cõi uế, từ “Phật nhiếp… đến”ý giải thì đại chúng đều ngộ vô thường chứng đắc đạo Tiểu thừa. Mới đầu thấy uế là tịnh, uế là vô thường, lại tịnh trở về uế, tịnh là vô thường, vô thường nhanh chóng, nên được Pháp nhãn tịnh, thấy rõ ràng pháp sinh diệt Tứ đế. Ở pháp nhãn Tiểu thừa mà thấy ngôi vị phải là pháp nhãn của Đại thừa. Tám ngàn người chẳng thọ, là chứng đạo Vô học không thọ nhận pháp hư vọng sinh tử trong ba cõi nữa. Cho nên biết kinh này cũng mang cả thuyết vụng về. Ý là ở đây vậy.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.