ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH KHOA CHÚ
Đường Tam Tạng sa-môn Thật Xoa Nan Đà dịch
Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Phụ lục 4:
Địa Tạng Bồ Tát Linh Cảm Lục
Pháp sư Tâm Nhiên biên thuật
1. Vẽ phỏng theo hình tượng bèn được thoát nạn
Đời Lương, tại chùa Thiện Tịch ở huyện Đức Dương, Hán Châu, nơi vách của đông lang, có tượng Địa Tạng Bồ Tát do Trương Tăng Diêu[1] vẽ, hình dạng giống như một vị Tăng ngồi nghiêm nghị. Khi ấy, có ánh sáng lạ chói ngời. Trong năm đầu của niên hiệu Lân Đức[2] đời Đường, tăng sĩ trong chùa vẽ phỏng theo, lại thấy tỏa sáng. Năm Lân Đức thứ ba (665), khi Vương Ký đến làm Tư Châu Thứ Sử, thường tinh thành cúng dường bức tranh vẽ phỏng theo. Có mười chiếc thuyền cùng đi, giữa đường bỗng gặp gió bão, chín chiếc đều chìm lỉm, chỉ có thuyền của Vương Ký chẳng bị sợ hãi mảy may, liền biết là do Bồ Tát từ bi gia bị. Năm Thùy Củng thứ ba (687), thiên hậu (Vũ Tắc Thiên) nghe chuyện ấy, liền sắc truyền họa sĩ vẽ phỏng theo, tranh lại tỏa sáng như trước. Tới năm Đại Lịch nguyên niên (766), có vị đại đức tại chùa Bảo Thọ ở trong đạo tràng, lại thấy tướng lạ phóng quang, liền viết biểu tâu lên. Vua bèn kiền thành đảnh lễ, tán thán cùng cực! Ngay trong lúc Bồ Tát hiện quang, đất nước thường an khang, càng thêm cát tường.
Lại có vợ của một thương nhân, có thai đã hai mươi tám tháng chẳng sanh. Một hôm, bỗng thấy quang minh của Bồ Tát, bà ta liền nhất tâm phát nguyện sẽ vẽ mô phỏng hình tượng. Ngay trong đêm ấy, sanh một trai tướng hảo đoan nghiêm, ai trông thấy cũng đều hoan hỷ. Do vậy, cả cõi đời gọi [tượng ấy] là Phóng Quang Bồ Tát.
2. Tượng vẽ phóng quang
Vào đời Đường, chùa Pháp Tụ tại Quách Hạ thuộc Ích Châu có tượng vẽ Địa Tạng Bồ Tát ngồi trên giường dây[3], thõng chân xuống, cao tám hay chín tấc. Tượng ấy vốn do Trương Tăng Diêu vẽ. Tới tháng Bảy năm Lân Đức thứ hai, Tăng sĩ trong chùa vẽ phỏng theo một bản, tượng liền tỏa sáng giống như vòng vàng, chợt tỏa ra, chợt ẩn mất, gần như là quang minh nơi bản vẽ gốc. Lần lượt vẽ nhiều bản sao như thế, cũng đều phóng quang y hệt. Tháng Tám năm ấy, được lệnh dâng lên một bản đưa vào cung để cúng dường. Phàm tăng tục trong ngoài kinh thành, vẽ lại để cúng dường, cũng đều thấy phóng quang, tin biết là Phật lực chẳng thể suy lường.
3. Nghe tiếng, thoát khỏi gông cùm
Đời Đường, tại huyện Hộ ở Ung Châu, có người con gái họ Lý, chuyên ăn chay thờ Phật, rất có tín tâm. Trong nhà, thờ phụng tượng Địa Tạng Bồ Tát tạc bằng gỗ, cao một thước sáu tấc khá linh dị. Cô Lý có mụ đầy tớ tuổi ngoài năm mươi, tà kiến, chẳng tin chánh pháp. Một hôm, mụ chờ Lý Thị đi nơi khác, dời tượng vứt ra ngoài đồng hoang xa khỏi khu nhà. Lý Thị trở về nhà, khóc lóc đi tìm. Bỗng dưng thấy tượng phóng quang ngoài đồng hoang, hoan hỷ đón về, chẳng biết do mụ đầy tớ đã làm. Hôm sau, mụ đầy tớ bỗng chết ngất đi, bất tỉnh nhân sự. Kế đó, bỗng tỉnh dậy, khóc lóc sám hối, tự kể chuyện trong chốn u đồ như sau:
– Khi tôi chết, thấy hai viên quan cưỡi ngựa, đọc quan điệp bảo: “Mụ đầy tớ hủy nhục thánh tượng, đã phạm tội lớn”. Trói lại, giải đến chỗ Diêm Vương, bị vua giận dữ, quở trách, phán tội đáng vào địa ngục chịu khổ. Khi ấy, có một vị sa-môn đến sảnh đường. Vua liền xuống khỏi bệ, cung nghênh, hỏi nguyên do. Sa-môn nói: “Người này là tớ gái trong nhà thí chủ của ta. Tuy ghét tượng của ta, ta chẳng bỏ bà ta. Mong nhà vua rủ lòng thương, ban cho thọ mạng”. Vua thưa: “Xin nghe theo lệnh thầy”. Khi ấy, tôi nghe xong, tâm sám hối, bất giác xướng rằng: “Nam-mô Địa Tạng đại Bồ Tát”. Ngay lập tức, các tội nhân đang hiện diện trong sảnh đường, tiếng niệm truyền tới đâu, gông cùm đều tự thoát. Vị sa-môn liền nắm tay tôi, dẫn ra khỏi sảnh đường. Do vậy, tôi liền sống lại.
Lý Thị nghe nói, càng thêm kính trọng tượng ấy. Do vậy, trong cả một huyện, không ai chẳng đều sanh lòng tin tưởng, ngưỡng mộ.
4. Giúp cha sanh lên trời
Đời Đường, vợ của thứ sử[4] Phủ Châu là Tổ Thị quy kính Địa Tạng Đại Sĩ, tín tâm chân thật, thiết tha, chỉ có cha mẹ ruột của bà ta vẫn chưa sanh lòng tin. Tổ Thị bèn vì cha mẹ xuất tiền và lụa, tạo một bức tượng Địa Tạng Bồ Tát kim sắc cao ba thước, dốc hết lòng thành, cung kính thờ phụng. Khi ấy, cha bà do có chuyện phải đi xa, mẹ bà ở nhà một mình. Ban đêm, có kẻ ác tặc lén dòm qua khe cửa, toan ăn trộm quần áo, thấy Địa Tạng Bồ Tát ngồi ngay ngắn, nên chẳng dám tiến vào. Hôm sau, gã giặc thay đổi quần áo đến nhà ấy, thấy bà cụ quần áo chỉnh tề ngồi đó, trọn chẳng thấy thánh tượng, tâm trộm lấy làm lạ, bèn tự thố lộ tội lỗi, hòng biểu lộ lòng hổ thẹn, hối lỗi, kể lại điều đã thấy trong đêm.
Về sau, cha bà ta sang Phủ Châu, giữa đường gặp oán gia rút đao xông đến chém. Bỗng có một sa-môn kim sắc dùng tay ngăn mũi đao, dùng đầu nhận lấy mũi nhọn, bị hại ngã lăn ra đất. Khi đó, kẻ oán tưởng là mình đã giết hại, bèn bỏ chạy. Cha bà ta tránh khỏi bị giết hại, cảm thấy rất kỳ lạ! Đến nhà con gái, kể đầy đủ chuyện trên đây, sanh lòng hy hữu. Cùng nhau đến chỗ thờ tượng lễ bái, thấy trên đầu tượng có ba vết đao, màu vàng biến đổi chút ít, dường như bị chảy máu. Tổ Thị liền biết là Địa Tạng Bồ Tát đã chịu đao thay, cứu cha mình thoát nạn. Cha bà ta liền sanh chánh tín, lại đón mẹ sang nhà, ba người ngày đêm lễ cúng. Cha bà ta đến bảy mươi chín tuổi mới mất.
Suốt ba mươi lăm ngày, Tổ Thị mộng thấy cha mình thân có quang minh, bay trên không trung tự tại, phi hành tới lui. Bà ta sanh tâm hy hữu, vọng bái hỏi cha sanh về đâu? Đáp: “Ta sanh lên tầng trời thứ tư, cùng phụng sự đấng Bổ Xứ. Người sanh về cõi trời ấy, đa số được Địa Tạng Đại Sĩ dẫn dắt. Mười ba năm sau, mẹ con hết tuổi thọ, sẽ sanh về đó. Còn chính con thì hai mươi lăm năm sau mới sanh. Chồng con thì hai mươi tám năm sau mới sanh”. Nói xong ẩn mất. Về sau, mẹ và vợ chồng Tổ Thị đều đúng như lời cha nói. Từ đấy về sau, trong cả một châu, người tạo tượng, vẽ tượng, lễ bái, cúng dường rất đông, rất nhiều người được cảm ứng.
5. Tụng kệ phá ngục
Đời Tống, Thích Tăng Tuấn, họ ngoài đời là Vương, người ở kinh
đô. Sau khi xuất gia, chẳng tuân thủ giới luật, chưa từng tu điều lành, mắc bệnh nhẹ, chết đi. Ba ngày sau sống lại, khóc lóc sám hối. Tự nói khi sắp chết, có hai viên quan từ cõi âm bắt tới trước cửa một tòa thành lớn. Bỗng có một vị Tăng nói: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát. Ngươi ở kinh thành đã từng vẽ phỏng theo một bức họa của ta. Dẫu chưa từng lễ bái, cúng dường, bỏ ở sau chùa, ta vẫn báo đáp công đức ngươi vẽ lại tượng”. Bèn dạy một bài kệ rằng: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng tác như thị quán, tâm tạo chư Như Lai (nếu ai muốn biết rõ, ba đời hết thảy Phật, hãy nên quán thế này: Tâm tạo các Như Lai). Tụng bài kệ ấy, có thể đóng cửa địa ngục, có thể mở đường Tịnh Độ, có thể thông với sanh mạng đạt được do quả báo”. Nói xong liền ẩn mất.
Tăng Tuấn bèn vào trong thành, gặp vua Diêm Ma. Vua hỏi: “Ngươi gặp gỡ pháp trong đời này, có công đức gì không?” Đáp: “Chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu”. Vua nói: “Nay ngươi tụng được không?” Thưa: “Tôi nhớ nằm lòng”, bèn tụng bài kệ trên đây. Khi ấy, những chỗ tiếng tụng vang đến, người chịu khổ đều được giải thoát. Vua nói: “Thôi! Thôi! Chẳng cần nói nữa”, thả ông ta về nhân gian. Do vậy, ông ta sống lại. Tra duyệt, tìm tòi thì mới biết bài kệ ấy được nói trong kinh Hoa Nghiêm khi vô lượng Bồ Tát vân tập trên cung trời Dạ Ma, tức là bài kệ do Giác Lâm Bồ Tát nói. Tăng Tuấn kể lại với các vị Tăng trong chùa. Người nghe đều phát tâm, tin nhận kinh Hoa Nghiêm.
6. Khuyến phát Bồ Đề
Đời Tống, sư Thích Định Pháp chùa Không Quán cùng với Tăng Tuấn chuyên dốc lòng thành quy mạng Địa Tạng Bồ Tát. Vào ngày trai mỗi tháng, Sư vẽ mô phỏng tượng Địa Tạng, nhất tâm lễ bái, cúng dường, cầu thỉnh Bồ Tát ứng hiện. Tròn ba năm, [một hôm] có một tiểu sa-môn xin ngủ trọ nơi hành lang của chùa. Định Pháp nghe chuyện, cung kính ra khỏi phòng chào hỏi, nói chuyện một đôi câu, bỗng chẳng thấy [tiểu sa-môn] đâu nữa. Mọi người lấy làm lạ, hỏi Định Pháp: “Sa-môn nói gì thế?” Đáp: “Sa-môn bảo: Diệu nguyện đã mãn, sao ý khí ngắn ngủi như thế?” Người nghe đều nói: “Ông cầu thấy đức Địa Tạng, nhưng chẳng niệm lẽ xuất yếu, cho nên Bồ Tát hiện thân nói sao mà ý khí ngắn ngủi như thế?” Định Pháp nói: ‘Đã được ứng hiện, tôi sẽ phát Bồ Đề tâm, vui sướng cầu đạo quả vô thượng”.
Sư nằm mộng, thấy Bồ Tát nói: “Vị sa-môn đó chính là Địa Tạng Bồ Tát. Ngươi cầu thấy ta hiện thân, nhưng chẳng phát Bồ Đề tâm. Vì thế ta đến cảnh tỉnh ngươi. Ngươi vẽ mô phỏng tượng ta khá nhiều, vĩnh viễn chẳng đọa trong ba ác đạo. Xả thọ, sẽ sanh lên Đâu Suất Thiên, lúc đức Từ Tôn (Di Lặc) hạ sanh, ngươi sẽ được thọ ký thành Phật. Ta tùy thuận ngươi như bóng theo hình, như nước thuận theo hình dạng của đồ đựng mà có hình dáng khác nhau”. Sư tỉnh giấc, cảm kích, tuôn lệ như mưa, liền bỏ y, bát, tiền riêng, tạo tượng Bồ Tát cao bằng thân người, điêu khắc thân tượng đẹp đẽ, lại còn thâu thập những tượng mình đã vẽ mô phỏng nhiều năm để lễ bái, cúng dường. Tượng phóng quang minh, linh nghiệm rõ rệt.
7. Đuổi ma trừ bệnh
Đời Đường, cư sĩ Lý Tín Tư người xứ Lô Thủy. Nhà ông ta nam nữ ba mươi mấy người đều bị ác quỷ quấy nhiễu, lần lượt bị bệnh, hoặc hộc ra máu tươi, hoặc đến nỗi chết ngất. Khi ấy, Tín Tư lo lắng, sầu não, hỏi Tăng cách giải cứu. Sa-môn tư duy hồi lâu rồi bảo: “Xưa kia, thuở đức Như Lai tại thế, dưới chân núi Tỳ Phú La (Vipula) nước Ma Yết Đề (Magadha), trong nhà trưởng giả Kiều Đề cũng bị ác quỷ gây phiền não. Cả năm trăm người trong nhà ấy đều chết ngất, mười ngày chẳng tỉnh. Khi ấy, Địa Tạng Bồ Tát du hóa các nước, tới nhà trưởng giả, sanh tâm đại bi, nói chú để cứu. Trong chốc lát, hết thảy đều được trừ sạch. Ông nên làm theo cách ấy, quy y Địa Tạng Đại Sĩ, nhất tâm xưng danh”. Tín Tư hoan hỷ làm theo, vẽ tượng Bồ Tát. Từ đấy, huyện Lô Thủy suốt năm mươi năm thoát khỏi nỗi sợ bệnh tật.
8. Vâng hành pháp, sống lại
Đời Đường, chùa Khai Thiện ở Chung Sơn có tượng Địa Tạng Bồ Tát cao ba thước, quang minh quanh thân to bốn thước năm tấc, do đã nhiều năm, chẳng biết do ai tạo. Về sau, Đô Đốc xứ Dương Châu là Đặng Tông, lúc sáu mươi mốt tuổi, mắc bệnh nhẹ, chết đi. Do nơi tim vẫn còn ấm, nên [người nhà] chưa nhập liệm. Sau một ngày đêm, ông sống lại, buồn khóc không nói gì, sai con cháu dìu đến chùa Khai Thiện, thưa cùng tăng chúng: “Trong chùa này có tượng Địa Tạng Bồ Tát cao khoảng ba thước, thông quang[5] to bốn thước năm tấc hay không? Tôi muốn lễ bái, cúng dường”. Chư Tăng chẳng biết ở chỗ nào, cứ theo lời mà tìm, rốt cuộc tìm được. Đặng Tông lễ kính, lại muốn thỉnh tượng. Tăng hỏi ông điều ông ấp ủ, ông đáp:
– Lúc tôi chết, thấy một vị quan tứ phẩm bắt lôi đến trước vua. Vua nói: “Ngươi không thể chết. Lại vì ngươi lấy việc phụng sự Phật pháp làm gia nghiệp, hãy nên sớm trở về nhân gian, nhưng cõi âm đáng sợ, người ta chẳng hay biết. Ngươi có muốn thấy địa ngục hay không?” Đáp: “Tôi muốn thấy”. Vua liền sai một viên quan mặc áo xanh dẫn đi xem. Tôi theo người ấy ra khỏi thành, đi chừng năm sáu dặm về phía Đông Bắc, có một tòa thành lớn bằng sắt, cửa sắt đóng kín. Dần dần, tôi thấy trong thành lửa dữ sáng lòa, ngọn lửa như thiêu đốt. Trăm ngàn tội nhân chịu khổ trong ấy. Khi đó, có một vị sa-môn vào trong ngục, chế ngự lửa dữ, giáo hóa tội nhân, ngọn lửa bèn tạm tắt.
Tiến lên trước, lại thấy một cái thành bằng sắt, mười tám địa ngục ở trong đó. Tướng trạng chịu khổ chẳng thể nói trọn. Lại thấy sa-môn răn dạy tội nhân giống như trước. Tôi đến xem mỗi nơi xong hết rồi mới trở về. Sa-môn từ địa ngục trở ra, hỏi: “Ông có biết tôi là ai hay không?” Thưa: “Không biết”. Sa-môn nói: “Tôi là Địa Tạng Bồ Tát ở chùa Khai Thiện. Xưa kia có sa-môn Trí Tạng pháp sư. Đệ tử của Sư là pháp sư Trí Mãn, vì muốn cứu chúng sanh thọ khổ trong tam đồ, cho nên chạm khắc tượng của tôi. Tôi thuận theo lời thỉnh của Sư, mỗi ngày một thời, vào mười tám địa ngục và vô lượng tiểu địa ngục, răn dạy, chỉ bảo. Những kẻ do xưa kia đã gieo thiện căn, thiện lực khá mạnh, hễ phát tâm liền được thoát khổ. Kế đó, những kẻ thiện lực yếu hơn, chỉ gieo cái nhân thoát khổ. Kẻ đoạn thiện căn tà kiến đã sâu, sẽ chẳng hay, chẳng biết, trọn chẳng có tâm thoát khổ. Nếu ở trong nhân gian, kẻ thiện căn mỏng manh còn dễ hóa độ. Nếu vừa vào ác đạo, thánh lực chẳng thể cứu bạt, vì họ trơ ra như gỗ, đá. Những kẻ chẳng giác ngộ ấy, chờ cho đến khi thoát ra, do chủng tử trước kia hơi mạnh hơn, sẽ có thể phát tâm sám hối. Ông do sức vâng phụng pháp, thoát khỏi nỗi khổ địa ngục, hãy sớm trở về nhân gian, tuyên cáo với đại chúng”. Do vậy, tôi ngước mắt chiêm ngưỡng sa-môn, [thấy Ngài] thân cao ba thước, quang minh quanh thân bị hư nát. Sa-môn liền trao cho hai bài kệ như sau:
Nhược tại nhân gian khả tu đạo,
Xiển Đề hữu tâm thượng khả phát,
Nhược nhập ác đạo, nghiệp dĩ thục,
Tâm vô phân biệt, bất khả cứu.
Như suy lão nhân dục hành lộ,
Nhược động kỳ túc, phù dị tấn,
Thảng ngọa bất động, lực bất cập,
Chúng sanh định nghiệp diệc phục nhiên.
(Nếu trong nhân gian dễ tu đạo,
Xiển Đề vẫn có thể phát tâm,
Nếu vào đường ác, nghiệp chín muồi,
Tâm vô phân biệt chẳng thể cứu.
Như người già yếu muốn đi đường,
Nếu chân cử động, dìu đi được,
Nếu nằm bất động, chẳng giúp nổi,
Chúng sanh định nghiệp cũng thế đó).
Nói kệ xong liền ẩn mất. Tôi trong khi mơ màng, nhớ kỹ chuyện ấy. Do chưa chứng thực, nên không nói với ai khác. Nay thấy tượng này, hoàn toàn giống như tôi đã thấy. Do nhân duyên ấy cho nên muốn thỉnh”. Tăng nghe nói xong, hoan hỷ tán thán: “Chỉ có thể vẽ phỏng theo, không thể thỉnh được!” Ông bèn cậy thợ khéo tạc phỏng theo, để tượng cũ tại đó.
9. Cả thành được xá tội
Đời Đường, tại huyện Kim Thủy thuộc Giản Châu, có quan thị lang[6] họ Đặng chuyên tâm tin Phật. Một hôm ở trên đường, ông thấy có một cây gậy bị gãy, có khắc hình vị Tăng nên đem về, dựng dựa vào vách, lễ kính rồi bỏ đi, không nhớ tới nữa. Ba năm sau, bỗng bị bệnh chết, ngực vẫn còn hơi ấm, người nhà nghi ngờ, không tẩn liệm. Sau một ngày đêm, ông sống lại, ứa nước mắt nói:
– Lúc mới chết, hai kẻ cưỡi ngựa lôi tôi vào trong cửa một tòa thành lớn. Tới trước sảnh đường của nhà vua, thấy trong điện có trăm ngàn vạn người bị gông cùm. Vua đang giận dữ, toan quở trách tôi. Khi ấy, có một vị sa-môn, hình dạng xấu xí, tới trước sảnh đường. Vua cung kính đứng dậy, chắp tay, hồ quỳ, bạch rằng: “Đại thánh! Vì sao Ngài bỗng tới đây?” Sa-môn nói: “Thị lang là thí chủ của tôi, Ngài hãy nên đặc xá”. Vua thưa: “Nghiệp đã quyết định, mạng lẫn lộc đều hết, e rằng khó thể xá miễn được”. Sa-môn: “Xưa kia, ở trong Thiện Pháp Đường của Tam Thập Tam Thiên, ta được đức Phật phó chúc, có thể cứu các hữu tình ác có định nghiệp, chẳng phải là nay mới làm như vậy. Huống chi thị lang chẳng phạm trọng tội, há chẳng thể cứu ư?” Vua thưa: “Đại Sĩ đại nguyện, kiên cố bất động, như núi kim cang. Con xin lập tức tuân lời, thả ông ta về nhân gian”.
Sa-môn hoan hỷ, nắm tay thị lang, dẫn vào đường sống. Lúc sắp từ biệt, thị lang thưa hỏi: “Sa-môn cứu con, là đại ân nhân, xin dạy cho biết pháp hiệu của người?” Sa-môn đáp viết: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát. Xưa kia, ông ở nhân gian, bên đường thấy tượng của ta mà chưa từng hay biết, cầm về, dựng bên vách tường. Đấy là do trẻ nhỏ giỡn chơi khắc tượng trên cây gậy, chỉ khắc đầu mặt, không có những tướng khác, cho nên hình tướng xấu xí. Ông có thể nhớ lại hay không?” Nói lời ấy xong, bỗng dưng chẳng thấy đâu nữa!
Sau khi tỉnh lại, thị lang thấy tượng nơi cây gậy dựng ở góc tường trong nhà. Gậy đã gãy ở giữa, ông bèn dùng gỗ đàn hương, sửa đổi thành tượng cao năm tấc. Khi ấy, tượng phóng quang minh, chiếu sáng ngời cả nhà. Thị lang lại tạo tượng lớn, biến nhà thành chùa, đặt tên là Địa Tạng Đài, thờ phụng tượng nhỏ trong ấy. Mọi người xa gần đến chiêm ngưỡng đông như hội!
10. Lõi gỗ chế ngự hổ
Đời Đường, vị Tăng tên Pháp Thượng chùa Huệ Nhật ở Hoa Châu xuất gia lúc ba mươi bảy tuổi. Xưa kia, lúc còn tại gia, Sư từng làm nghề săn bắn. Một hôm, thấy trong lùm cây ngoài rừng hoang có tia sáng tỏa ra, tâm hết sức hiếu kỳ! Buộc ngựa vào lục xem, chỉ thấy một khối gỗ mục, chỉ dài hơn một thước, bèn cầm về để trong nhà. Đi săn lần sau, vẫn thấy chỗ ấy tỏa sáng. Tâm lấy làm lạ, bèn đem cái lõi của khối gỗ mục đặt trên gốc cây rồi quay về. Trên đường gặp hổ, ông ta thúc ngựa đuổi theo. Dây cung đứt đoạn, chẳng thể bắn, mãnh hổ quay lại đuổi. Ông ta sợ hãi bỏ chạy, ngựa lồng lên, khiến ông té khỏi ngựa, tự nghĩ chắc sẽ bị hổ cắn, e rằng khó thể thoát nạn, thất thần như đang nằm mộng, thấy một vị sa-môn hình dạng xấu xí đến đuổi hổ dữ. Ông hỏi: “Ngài là ai?” Đáp: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát. Khối gỗ mục trong rừng hoang chính là thân ta. Cụ cố của ông đã lập chùa, tạc tượng tại đó. Chùa đã hư nát, tượng ta bị hư mục, chỉ còn cái lõi gỗ. Ông là cháu chắt của cụ, thấy quang minh của ta, nên nay ta cứu ông”.
Hồi lâu sau, ông ta choàng tỉnh, thấy ngựa đứng hý [gần đó]. Mãnh hổ chẳng thấy tung tích đâu nữa. Ông tự hối trách sâu xa, bèn tạo dựng tinh xá tại chỗ tỏa ánh sáng trước đó. Từ khối gỗ mục dính bùn, ông tạc tượng Địa Tạng, tiếp nối đèn pháp, [xay dựng chùa] tức Huệ Nhật tinh xá. Lúc Pháp Thượng bảy mươi tám tuổi, vào ngày Hai Mươi Bốn tháng Hai năm ấy, Sư bảo các đồng bạn:
– Địa Tạng Bồ Tát đến nhà tôi, từng nói: “Ông chính là người sẽ đắc đạo trong hội thứ hai thuộc ba hội thuyết pháp của Từ Thị Như Lai. Hôm nay xả thọ, liền sanh lên Đao Lợi”. Tôi bạch cùng Đại Sĩ: “Cảnh giới ngũ dục trên cõi trời vui sướng khôn sánh, mê mất Bồ Đề. Muốn sau này lại gặp Phật, thời gian vẫn lâu lắm, con chỉ nguyện sanh về Tây Phương An Lạc thế giới”. Bồ Tát đáp: “Thuận theo ý nguyện của ông. Nếu muốn vãng sanh Tịnh Độ, hãy nên niệm A Di Đà Phật một ngày một đêm, chuyên tâm, dốc chí, liền được vãng sanh”. Tôi nghe theo lời dạy ấy, bắt đầu từ ngày hôm qua, chuyên niệm A Di Đà Phật, nay vãng sanh Tịnh Độ”.
Nói xong, Sư chắp tay hướng về Tây, qua đời.
11. Khắc tượng truy tiến mẫu thân
Đời Đường, con gái út của viên đô đốc họ Trần mất mẹ từ bé, ngày đêm luyến mộ. Do chưa thể thấy, định tìm cái chết. Đô đốc an ủi: “Cha cũng là người thân của con. Mẹ con tuy mất, cha con hãy còn, vì sao không màng ăn uống, muốn tự tìm cái chết? Nếu con tưởng nhớ người mẹ đã khuất, hãy nên tạo thánh tượng Địa Tạng hòng cầu nguyện cứu khổ cho mẹ”. Cô ta liền bỏ ra năm trăm đồng, thuê thợ kính cẩn khắc tượng cao ba thước. Cô gái thưa với cha: “Con chỉ muốn đặt tượng ở chỗ mẹ đã nằm trước kia. Nếu muốn thấy mẹ, sẽ liền thấy tượng này”.
Cha sanh tâm xót thương, sai dẹp bỏ phòng ngủ để đặt tôn tượng ấy.
Cô gái ngày đêm lễ bái, cúng dường, cầu cứu khổ cho mẹ. Một đêm, thấy một vị sa-môn bảo: “Khi ta mang thân nữ, cha tên là Thi La Thiện Hiện, mẹ tên là Duyệt Đế Lợi. Vì mẹ sau khi chết phải chịu khổ trong địa ngục, do vậy, ta phát Bồ Đề tâm, thề cứu bạt tội khổ của chúng sanh. Ta cảm tấm lòng hiếu thảo của con, đích thân vào địa ngục, phóng quang thuyết pháp, mẹ con đã được thoát khổ, sanh lên trời Đao Lợi”. Cô gái họ Trần thấy sa-môn xiêm y cháy lam nham, bèn hỏi nguyên cớ. Sa-môn đáp: “Khi xuống địa ngục, lửa dữ táp cháy mà ra”. Cô gái họ Trần tỉnh giấc, khôn ngăn buồn vui lẫn lộn! Người nhà tụ lại, thấy xiêm y của tượng đổi màu như bị cháy, đều than hy hữu! Người nghe kể lại phần nhiều sao vẽ tượng ấy để cứu khổ cho cha mẹ.
12. Ngạ quỷ sanh lên trời
Đời Tống, con gái của thứ sử Trương Kiện ở Dương Châu, sau khi mẹ mất, đã được mẹ báo mộng: “Vì nuôi con mà mẹ đã mặc tình tham dục, kiêu mạn quá đáng. Do vậy, cảm báo làm ngạ quỷ, khổ chẳng thể chịu nổi!” Con gái hỏi tướng trạng khổ sở. Mẹ đáp:
– Ngạ quỷ phần nhiều ăn thịt con mình, hễ sanh ra liền ăn. Ta làm con của quỷ, ngày đêm sống chết. Trông thấy mẹ đẻ như đại ác quỷ; nhưng trong một tháng của nhân gian, có một ngày chẳng thể ăn ta. Đó là ngày Hai Mươi Bốn trong tháng, sáng sớm có tăng nhân vào thành, thí thực cho no đủ. Những ngày khác chẳng thể tránh khỏi nỗi khổ này. Ngày hôm ấy, vị sa-môn xướng rẳng: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát, nay vào thành ngạ quỷ, có thể thí đại an lạc. Các ngươi hãy nên phát Bồ Đề tâm”. Tuy nghe lời ấy, do nghiệp báo trói buộc, chẳng thể phát tâm. Chỉ có một ngày được ăn no. Con muốn cứu khổ cho mẹ, hãy nên tạo tượng Địa Tạng Bồ Tát.
Cô gái tỉnh giấc mộng, dùng hết tài sản của mẹ để tạo tượng Địa Tạng Bồ Tát cao bằng thân người. Cô lại mộng thấy mẹ, thân tỏa quang minh, đứng trên hư không, bảo: “Ta do sức công đức tu thiện của con, mau chóng được sanh lên trời. Con hãy dụng tâm cung kính lễ bái, cúng dường, mai sau sẽ cùng [hội ngộ] tại chỗ Từ Thị Bồ Tát, lại còn cùng thấy Phật, nghe pháp”. Cô tỉnh giấc, bi cảm! Người nghe kể chuyện đều đến cúng, ai nấy đều được lợi ích!
13. Không lo lắng trong khi đại dịch
Đời Đường, thứ sử Lộ Châu là Khang Cư Thông, chánh tín, chân thành, phụng sự Địa Tạng Bồ Tát đã nhiều năm. Lại còn phát tâm vẽ tôn tượng Bồ Tát, chưa tô màu mà quang minh đã rạng rỡ. Do vậy, tín tâm càng thêm chuyên dốc. Ông ngẫu nhiên mộng thấy hai quan binh cưỡi ngựa truy đuổi. Khi ấy, chẳng thể trốn được, bèn đứng run sợ. Quan binh xuống ngựa, nói: “Chúng tôi lầm rồi! Vua của chúng tôi là đàn việt của đức Địa Tạng, dẫu người phạm lỗi nặng, cũng không vây hãm!” Nói xong biến mất. Ông tỉnh mộng, thờ phụng càng thêm chuyên ròng, kiền thành.
Năm Quảng Minh nguyên niên (880) đời Đường Hy Tông (Lý Huyên), trong nước bị bệnh dịch, yêu quái hoành hành, người chết thây chất như núi. Cư Thông mộng thấy lũ quỷ màu xanh cả trăm ngàn con đi qua cửa, nói: “Nhà này là thất của Địa Tạng Bồ Tát. Chúng ta là thuộc hạ hãy cẩn thận, đừng bước vào cửa”. Ông tỉnh giấc hoan hỷ, cả nhà thoát nạn.
Trong niên hiệu Trung Hòa[7], ông đi xa, lạc đường trong tuyết. Do vậy bèn niệm Địa Tạng Bồ Tát, đột nhiên thấy một con két nhảy nhót trên tuyết. Ông lấy làm lạ, đi theo nó, liền tìm được đúng đường. Tới niên hiệu Quang Khải, ông bị bệnh nhẹ, chí thành cầu lành bệnh. Trong mộng, cảm một vị Tăng bảo: “Ông giết một con thanh tước[8], đáng đọa địa ngục, nay để cho ông đền trả nghiệp ấy, chịu đôi chút đau khổ. Chờ đến sau ngày mai, mới được sanh vào Tịnh Độ”. Ông nghe xong liền tỉnh giấc, hoan hỷ lễ bái, bệnh đã khỏi hẳn. Quả nhiên hai hôm sau, ông chánh niệm qua đời.
14. Trì danh giải ách
Đời Đường, quan biệt giá[9] Kiện Khát tín tâm thanh tịnh, dốc lòng tin phụng Phật pháp. Một hôm, ông hỏi Tăng: “Tại gia cư sĩ nên thờ phụng vị Phật, Bồ Tát nào?” Chư Tăng mỗi vị nói mỗi khác. Có vị nói: “Nên thờ đức Địa Tạng vì Ngài đã vâng nhận sắc lệnh của Phật”. Kiện Khát tự nghĩ: “Đã nhận sắc lệnh của đức Phật, há bỏ chúng ta ư?” Liền tìm gỗ chiên đàn, tạo tượng cao ba tấc, nhét trong búi tóc, đi, đứng, nằm, ngồi, xưng niệm danh hiệu.
Trong niên hiệu Thiên Thành đời Đường Trang Tông, thiên hạ chiến tranh, loạn lạc. Kiện Khát bị vây, trong khoảnh khắc sẽ nhận lấy cái chết, liền niệm Địa Tạng. Gã đại tướng đang suất lãnh kỵ binh bỗng kinh hoảng tháo chạy. Sau khi dẹp yên loạn lạc, ông kể lại nhân duyên này, người nghe đều than lạ. Trong niên hiệu Trường Hưng, khi ông đến nhiệm sở, kẻ oán nghe tin, toan hãm hại, nấp chờ sẵn bên đường. Hắn chỉ thấy một vị sa-môn đi qua, trọn chẳng thấy Kiện Khát. Về sau, nghe ông đã đi qua, bèn hối lỗi, tạ từ, cởi bỏ oán thù. Lại có lần trên đường đi, đêm ông ngủ trọ, trời đổ mưa thật to, đèn lửa đều tắt ngúm. Thánh tượng trong búi tóc tỏa sáng như ban ngày. Bỗng có âm thanh khe khẽ như tiếng trẻ nhỏ bảo: “Hãy sớm rời đi, sớm rời đi!” Ông kinh dị, noi theo ánh sáng dẫn đường, đến nghỉ đêm ở chỗ khác. Hôm sau, trận lũ dâng trào, chỗ ông nghỉ trọ trước đó chìm sâu dưới nước, tự biết là Địa Tạng Bồ Tát cứu vớt, che chở. Năm Thanh Thái thứ hai (935), ông tròn bảy mươi tám tuổi mới mất. Khi lâm chung, tượng trong búi tóc phóng quang, ông chắp tay niệm Phật, an nhiên qua đời. Quang minh chiếu thẳng lên trời.
15. Hồn dạo địa ngục
Đời Tống, đô đốc Trường An Thôi Lý Hệ là em trai của thượng thư Thôi Long. Năm Khai Bảo thứ hai (969), ông ta chết hai ngày rồi sống lại. Tự thuật lúc mới chết, có hai người xách nách đưa đi. Lại thấy có quỷ tốt hình ngựa trắng đuổi chạy chẳng biết mấy dặm, đến một tòa thành lớn ở phía Đông Bắc. Ông thấy có mười mấy căn nhà ngói. Các quan đều đội mão màu đen, đứng hai bên nhà ngói. Có nha lại ba mươi mấy người, đều nói: “Ta là [thuộc hạ của] phủ quân”. Lý Hệ đến trước phủ quân, phủ quân hỏi: “Ngươi phụng sự gì?” Lý Hệ đáp: “Tôi phụng sự Địa Tạng Bồ Tát, cúng dường các sa-môn”. Phủ quân lại nói: “Ông đã thờ phụng đức đại thánh, đấy là phước trời”. Mọi người hỏi các nha lại chức nhỏ: “Người này mạng đã hết hay chưa?”
Phủ quân liền lấy một quyển sách tự đọc rồi bảo: “Khanh mạng chưa tận, nhờ Địa Tạng Bồ Tát cứu vớt, che chở”. Lại gọi các viên nha lại cấp thấp, quát: “Bọn bay cớ gì đoạt mạng người của Phật gia?” Liền quở trách ngục tốt có hình dạng ngựa trắng, trói vào cột, xử phạt. Một hôm, lại hỏi: “Khanh có muốn về hay chưa?’ Đáp: “Dạ muốn”. Lại hỏi: “Có muốn thấy địa phủ hay chăng?” Thưa: “Muốn thấy”. Phủ quân truyền cho ông một thớt ngựa, và sai hai nha lại dẫn đi. Từ phía Đông Bắc đi ra, khoảng năm sáu dặm, thấy một tòa thành lớn bằng sắt, vuông vức mấy chục dặm. Có một cái nhà sắt, chứa đầy nước sắt lỏng sôi, bốc lửa hừng hực. Kế đó, đến một căn nhà lợp ngói, dùng sắt làm cánh cửa. Mở ra xem, thấy ông nội, cụ cố v.v… đều ở trong ấy, đều bị gông, cùm, xiềng xích trói buộc. Lửa dữ vờn quanh, thiêu đốt, thân thể cháy nứt nẻ. Họ trông thấy Lý Hệ bèn ứa nước mắt bảo: “Con hãy nên cứu giúp”. Lý Hệ thưa: “Hãy nên niệm Địa Tạng Bồ Tát”.
Đi tiếp, thấy trong một cái thành, có giường, tòa bằng sắt nóng. Những vị sa-môn ông được thấy khi trước ngồi đó, thân thể như than, lửa dữ chiếu sáng rực. Ông hỏi: “Thầy tu phạm hạnh, nay sao lại như thế này?” Sa-môn đáp: “Bọn ta vì tiếng tăm, lợi dưỡng mà tu phạm hạnh, do nội tâm và ngoại hạnh chẳng tương ứng, những thứ ngọa cụ, giường, tòa v.v… đã nhận xưa kia, nay biến thành các thứ khí cụ hành hình to lớn. Y phục, thức ăn v.v… biến thành áo sắt, nước đồng sôi. Thí chủ hãy cứu chúng tôi”. Ông đáp: “Thầy hãy nên niệm Địa Tạng Bồ Tát”. Ông thấy mấy chục địa ngục, mỗi ngục đều có tội nhân bị hành hạ đầy ắp trong đó, đều là những người ông đã từng gặp gỡ trong cõi đời. Lại tới ngục cát đỏ, có cây đầy gươm, cột đồng trăm ngàn thứ, tội nhân ở trên đó. Họ trông thấy Lý Hệ đều chảy nước mắt, bảo: “Ông hãy cứu chúng tôi”. Đáp: “Hãy nên thường niệm Địa Tạng Bồ Tát”. Bảy ngục cát vàng, cát trắng, cát cháy v.v… như thế đều giống như đã thấy. Ông bèn trở về.
Lại thấy một căn nhà màu lục long lanh, hai bên đường có cây báu, các thứ trái xen kẽ. Viên nha lại nói: “Phụng sự Địa Tạng Bồ Tát, lại còn vẽ tượng, phần nhiều sanh vào Tịnh Độ, hoặc sanh lên trời Đâu Suất, ai nấy đều thỏa sở nguyện. Kẻ chẳng tin tưởng vẽ tượng, nhưng phụng sự thì phần nhiều trụ nơi đây”. Do vậy, ông tiến vào, thấy trong tòa thành lớn, có điện báu lớn. Trăm ngàn vạn ức nam nữ vui đùa trong đó. Lại thấy cha mẹ, lục thân v.v… hoan hỷ chào hỏi. Những người nam, kẻ nữ nói: “Trước kia, chúng tôi ở trong địa ngục, nhờ ông dạy niệm Địa Tạng Bồ Tát, thoát khổ, sanh vào nơi đây!” Ông hỏi: “Chỗ này là nơi nào?” Đáp: “Nơi đây gọi là phước xá, thọ mạng lâu dài, xa lìa các thứ khổ. Tuy sanh nơi đây, ắt gặp ba hội của Phật Di Lặc, dứt các nỗi khổ”. Lý Hệ hỏi cõi nào? Họ nói: “Xưa kia, lúc Địa Tạng Bồ Tát tại thế, vâng nhận lời phó chúc của đức Như Lai, bạch với đức Phật: ‘Nhất định chẳng để cho bốn chúng đệ tử đọa vào ác đạo’. Trong năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm trước khi Phật Di Lặc xuất thế, nếu có chúng sanh nguyện sanh về Tịnh Độ và Đệ Tứ Thiên, kẻ ít phước đều đến phước xá này, chẳng trở lại đường ác, cho đến khi thành Phật mới thôi”. Ông trở về chỗ phủ quân, vua liền sai hai người đưa ông hồi dương.
16. Tăng thọ, thỏa nguyện
Đời Hán, thứ sử Ích Châu là Quách Từ An không tin Tam Bảo, đặc biệt coi trọng Lão Tử. Giữa tháng Năm nhuận của năm Càn Hựu thứ ba (950)[10], ông nhiễm bệnh, chữa trị đủ cách chẳng lành. Vợ ông thờ Phật, tìm hôm ông vui vẻ, nói: “Có thể phát nguyện tạo tượng Địa Tạng Bồ Tát trong một ngày hay không?” Tâm Từ An vẫn không tin, nói: “Cần phải phát nguyện ư? Nếu có cảm thông, tôi sẽ tin ngay”. Một hôm, ông bỗng chết ngất. Bà vợ gào khóc, cầu trời. Sau ba thời (sáu tiếng đồng hồ), Từ An tỉnh lại, gieo mình xuống đất, đòi dao bén, toan cắt lưỡi. Người trông thấy đều tưởng ông là cuồng loạn. Bà vợ an ủi, ông mới yên tĩnh, bảo: “Bà là đại thiện tri thức, có thể kéo dài mạng sống của tôi, có thể trừ khổ địa ngục, có thể trao cho niềm vui cõi trời, có thể dạy đạo giải thoát”. Vợ nói: “Xin ông hãy nói đầu đuôi”. Từ An bật khóc, bảo:
– Tôi gặp bảy, tám sứ giả của Diêm Vương, mỗi người đều xưng là thần tư lộc (cai quản tài lộc), đều cưỡi ngựa xanh, ruổi vó như gió, đuổi tôi về hướng Đông Bắc, tới cửa một tòa thành lớn. Trong thành, có trăm ngàn vạn người, đứng hầu hai bên. Quan tư lộc xuống ngựa, thưa hỏi vị vua. Vua nổi cáu, mắng: “Sao lại bắt người chưa hoàn tất thiện nguyện?” Vua sai dùng gậy sắt xử phạt, quan tư lộc gào to, thân thể quần áo đẫm máu. Vua ra cửa, bảo Từ An: “Ông nhờ ơn vợ, phát nguyện tạo tượng Đại Sĩ, ta vì chúng sanh đền trả tội nghiệp mà hiện thân Diêm Vương, thật ra là pháp vương. Nếu có chúng sanh quy y đức Địa Tạng, sẽ thỏa mãn điều mong cầu. Ông hãy sớm trở lại nhân gian để hoàn tất nguyện ấy”. Vua liền sai người đưa về. Nay được tỉnh ngộ. Tâm ta chẳng tin, hủy báng đại thánh, muốn cắt lưỡi để sám hối.
Vợ bảo: “Cắt lưỡi chẳng phải là sám hối. Nếu do đất mà ngã, vẫn phải do đất đứng lên. Ông hãy nên quy y Địa Tạng Bồ Tát, sám hối”. Ông liền làm theo lời vợ. Tạo tượng trong một ngày, hết sức hối hận lỗi trước. Mỗi ngày trai đều lễ bái cúng dường, siêng năng khuyên người sang, kẻ hèn phụng sự Địa Tạng Bồ Tát.
17. Tạo tượng diệt nghiệp
Đời Hậu Châu[1], thượng thư Bá Duyệt rất tin Tam Bảo. Vợ ông do sanh nở mà chết, ông bèn tu phước hồi hướng, tạo tượng Địa Tạng Bồ Tát cao bằng thân người, lập hội trai tăng, dốc cạn lòng thành lễ bái, cúng dường. Ông mộng thấy vợ mặc xiêm y mới sạch, bảo Bá Duyệt:
– Tôi trước kia là vợ người ta, chẳng sanh con. Chồng thường than thở không con. Tôi liền bảo chồng cưới thiếp. Không lâu sau, cô ta có thai. Chồng yêu kính vợ mới, tôi sanh dạ khác, làm ra vẻ thân thiết, dùng thức ăn ngon trộn lẫn thuốc độc giết mẹ con họ. Do vì lẽ ấy, đọa vào ngục Vô Gián sáu kiếp. Lại sanh trong nhân gian, vì sanh nở mà chết đã năm mươi bảy lần rồi! Đời đời thường làm vợ ông, chịu nỗi khổ to lớn ấy. Nay ông vì tôi tạo thánh tượng để giúp phước, nghiệp ấy đã diệt, sanh lên trời Đao Lợi, oai quang hơn hẳn trước kia. Sau khi sanh làm kẻ phối ngẫu của một vị trời, sẽ vĩnh viễn chẳng mang thân nữ. Nơi Thiện Pháp Đường của cõi trời ấy, cứ vào ngày Hai Mươi Bốn mỗi tháng, vô lượng vô biên hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát trong một tam thiên đại thiên thế giới nhóm họp nơi đó, đầy khắp dưới cội Vô Ưu, thuyết pháp lợi sanh. [Các hóa thân ấy] đều có hình dáng một vị Tăng kim sắc. Có một lúc, Ngài vì tôi thuyết pháp bảo: “Vợ chồng các ngươi tạo tượng, đúng pháp tu hành, được thoát đường khổ”. Do ở trên trời, cho nên sanh thiện tâm, chẳng khởi tà tâm.
Bá Duyệt tỉnh giấc, vui buồn lẫn lộn!
18. Được thấy mẹ đã mất
Vào thời Ngũ Đại, cô gái họ Đặng ở Vi Châu mất mẹ từ bé, được bác nuôi nấng. Ngày đêm nhớ mẹ, cầu hỏi sa-môn: “Làm thế nào để lại thấy mặt mẹ?” Sa-môn bảo: “Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện đại bi. Cô nhất tâm xưng niệm, sẽ lại được thấy”. Cô ta bèn ngày đêm xưng danh. Về sau, thưa với sa-môn: “Con nhờ ơn thầy, lại được thấy từ nhan. Kính cẩn dâng cúng một bộ xiêm y”. Sa-môn gạn hỏi cặn kẽ đầu đuôi, cô kể: “Con mộng thấy theo sau một vị sa-môn, bay lên trời. Thấy tòa điện báu ma-ni bốn mươi chín tầng, chư thiên đầy dẫy trong ấy. Mẹ đang ở trong số những người bên ngoài. Con đến nơi, lễ bái, thưa hỏi. Mẹ nói: ‘Con niệm Địa Tạng Bồ Tát, đưa mẹ đến nơi này lại được gặp con’. Cảm ứng như thế, dám quên ơn thầy ư?”
19. Con cháu được gia hộ tốt lành
Vào thời Ngũ Đại, ở Kinh Châu có một người sống bằng nghề săn chim nhạn nổi tiếng khắp cõi đời, được gọi là Nhạn Hùng. Lúc năm mươi mốt tuổi, mắc chướng khí chết đi, vợ ông ta đem bỏ xác nơi gò mả để nuôi cọp, sói. Ba ngày sau, ông ta sống lại, trở về nhà cũ. Vợ con kinh sợ, cho là đã biến thành cuồng quỷ. Nhạn Hùng kể cặn kẽ:
– Khi ta chết, xe bốc lửa đến đón, bị lửa dữ thiêu đốt. Có một vị sa-môn dùng nước xối lên. Lửa tắt, thân được mát mẻ, sanh ý niệm hy hữu! Kế đó, tới chỗ vua. Lợn, dê, gà, trĩ, ngàn vạn cầm thú tiến đến tâu với vua: “Hắn đoạt mạng con, xin trị tội Nhạn Hùng”. Đại vương trả lời: “Các ngươi đã tố cáo, Nhạn Hùng ắt là kẻ ác. Chỉ có điều tổ tiên của hắn quy y đức Địa Tạng, con cháu của họ được thoát khỏi nỗi khổ nung đốt”. Nhạn Hùng thấy tình hình đó, bèn nhất tâm xưng danh Địa Tạng Bồ Tát. Chim, thú trong điện đều biến thành hình người. Vua liền thả ta. Do vậy, sống lại.
Ông ta bèn bỏ nhà, phát tâm, xưng là Phật Nô (đầy tớ của Phật), du hành trong nhân gian, khuyên mọi người quy y Địa Tạng Bồ Tát.
20. Chuyển yểu thành thọ
Đời Tống, sư Thích Huệ Ôn chùa Khai Bảo có nuôi một bé trai chẳng rõ tên họ, mới vừa mười bốn tuổi. Thầy tướng Kiện Chân bảo nó sẽ đoản thọ, sống hơn một tháng nữa, ắt sẽ chẳng nuôi nổi. Sư nghe lời ấy, cho nó về nhà. Khi ấy, trời mưa to, đi lại chẳng thông thuận. Nó ngủ nhờ nhà một thợ vẽ, thấy tượng Địa Tạng Bồ Tát, bèn dùng móng tay, bắt chước ông ta vẽ vời, vẽ ở trên vách. Khi trời tạnh bèn về nhà. Hơn một tháng sau, trở lại chùa Khai Bảo. Huệ Ôn hoan hỷ, bảo Kiện Chân nói nhảm. Liền gọi Kiện Chân đến gặp đứa bé. Ông ta kinh ngạc bảo: “Tuổi thọ tăng lên năm mươi năm. Chuyện này hiếm có, chẳng biết do đâu”. Đứa bé tự nói: “Con dùng móng tay vẽ hình tượng Địa Tạng. Đêm hôm ấy, có vị tăng bảo con trong giấc ngủ: ‘Ngươi năm mươi, năm mươi’. Đôi ba lượt như thế rồi chẳng thấy nữa”. Huệ Ôn và thầy tướng số đều than chưa từng có! Về sau, đứa bé xuất gia, thọ Cụ Túc Giới, hiệu là pháp sư Huệ Tạng.
21. Phóng quang quét sạch bệnh dịch
Đời Tống, ở vùng quê của Liêu Thành có khoảng hơn hai ngàn nhà, đều tín phụng Phật pháp và tin tưởng Quán Âm, Địa Tạng. Họ coi trọng kinh Quán Âm, kinh Địa Tạng, và kinh Thập Luân. Có một ngôi chùa cổ, ba gian bốn chái, lợp ngói xanh, vách lá. Hai bên là tượng Quán Âm và Địa Tạng, cao bảy thước năm tấc. Chính giữa thờ tượng A Di Đà Phật, cao một trượng sáu thước, thường có điềm lành. Trong niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc đời Tống Thái Tông, bệnh dịch tràn lan, người chết yểu rất nhiều. Vị thành chủ cầu đảo nơi tượng Địa Tạng Bồ Tát. Tượng phóng quang chiếu vào làng, mọi người đều được bình phục, người đã chết sống lại.
Có một bà đồng chẳng tin Phật pháp, đã mắc bệnh chết qua một
ngày mới sống lại, đến tinh xá, lễ đức Địa Tạng, khóc lóc, cầu xin xuất gia. Mọi người hỏi nguyên do. Bà đồng thưa:
– Tôi bị quỷ trói, tuy gọi thần cứu, thần thấy ác quỷ được sa-môn cảm hóa bèn bỏ tôi mà đi. Có vị sa-môn bảo: “Ngươi là nữ nhân ngu si, uổng công nương cậy thần đạo, chẳng tin Phật pháp. Ta là Địa Tạng Bồ Tát trong ngôi đại tự, do thành chủ thỉnh cầu, bèn cứu nữ nhân ngu si ngươi. Ta trao cho ngươi sanh mạng để kiến tạo chùa trong làng quê hòng trực tiếp bảo vệ họ”. Tôi dứt tâm ác, trọn chẳng điều khiển quỷ nữa. Vì sao vậy? Quỷ là tự nghiệp, chẳng phải do ai khác làm ra.
Bà đồng thuật lời vị sa-môn nói xong, bèn tự nói: “Nay tôi thấy nghe chuyện này, lại được sống sót, cải tà quy chánh, cho nên xin xuất gia”. Người nghe nói đều tùy hỷ, chấp thuận cho bà ta làm ni.
22. Cầu thỉnh mọc răng
Đời Tống, nơi góc Đông Bắc chùa Thiên Phước có thánh tượng Địa Tạng cao một thước sáu tấc, chẳng biết do ai tạo vào thời đại nào, chỉ tương truyền hết sức linh dị. Hễ tìm đến xin ngủ lại để lễ sám, ắt sẽ được cảm thông. Khi ấy, có một vị cư sĩ, lúc ba mươi bảy tuổi, không còn một cái răng nào. Ông ta tìm đến trước tượng, nhịn ăn, cầu thỉnh. Nửa đêm cảm mộng, thấy tượng đến xoa đầu, khắp thân nhẹ nhàng, an vui. Tỉnh giấc, đã mọc ba mươi tám cái răng. Người thấy nghe linh dị, vẽ phỏng theo tượng để lễ bái, đều được cảm thông, trong cõi đời có nhiều người biết, chẳng thể ghi trọn.
23. Vãng sanh Tịnh Độ
Đời Tống, ni sư Trí Tạng ở Thái Nguyên đặc biệt phụng sự Địa Tạng Bồ Tát, thích cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Bà bỏ ra hai trăm đồng, vẽ tượng A Di Đà Phật, hai bên vẽ hai vị Địa Tạng và Quán Âm, đặt ở trong phòng xá, tín tâm lễ bái, cúng dường, Năm Canh Thìn (980) trong niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, gió lốc thổi hư nhà, ni xá cũng bị hư. Hôm sau, tìm tượng chẳng biết mất chỗ nào, lòng sanh ưu não! Bà cầu khẩn, niệm Địa Tạng Bồ Tát, chiêm ngưỡng hư không, thấy xa xa có một vật bay lơ lửng trên không, tỏa mấy luồng quang minh như ánh chớp. Lúc sau rơi xuống, chính là tượng bà mong cầu, vui mừng quá đỗi! Vẫn đặt trong phòng, ngày Hai Mươi Ba tháng Hai năm [Thái Bình Hưng Quốc] thứ bảy (982), bà bảo bạn bè: “Địa Tạng Bồ Tát hướng dẫn tôi về Tịnh Độ, ngày mai chắc chắn vãng sanh”. Bà thắp hương, rải hoa, xướng danh hiệu Tam Bảo, mỗi danh hiệu một trăm lẻ tám lượt, ngồi ngay ngắn hướng về Tây, chắp tay, qua đời.
24. Con ngoan được của báu
Đời Tống, tại huyện Hải Lăng, mấy đứa trẻ chơi đùa bên bờ biển, giỡn hớt vẽ tượng Địa Tạng Bồ Tát trên cát. Bỗng chốc nghe tiếng sấm, đứa nào đứa nấy kinh hãi bỏ chạy tán loạn. Khi ấy, có một vị sa-môn tiến đến cứu giúp: Đứa yếu đuối bèn nâng đỡ, đứa ngã bèn đỡ dậy, dỗ dành đứa khóc lóc. Đứa con của ông thợ vẽ X… kinh hãi chạy quàng xuống biển, Sư cõng nó lên bờ, cho ăn uống, lại trao cho một viên ngọc, hình dạng giống như thủy tinh, to bằng hạt sen. Cha nó đem con về nhà, bèn tạo thánh tượng. Đứa con sau khi lớn lên rốt cuộc phú quý.
25. Đại Sĩ hóa thân
Đời Tống, sa-môn Trí Hựu là người ở Tây Ấn Độ, sang Trung Hoa trong niên hiệu Thiên Phước, trụ tại chùa Thanh Thái. Trong kinh tượng Sư mang theo, có tượng Địa Tạng Bồ Tát, và bản tiếng Phạn kinh Bổn Nguyện Công Đức. Trong bức tượng ấy, trong vòng tròn chính giữa, vẽ tượng Bồ Tát, hai bên có mười thánh tượng đội mão, cầm vật báu. Bên trái là năm vị: Một là Tần Quảng Vương, hai là Sở Giang Vương, ba là Tống Đế Vương, bốn là Ngũ Quan Vương, năm là Diêm La Vương. Bên phải có năm vị: Một là Biện Thành Vương, hai là Thái Sơn Vương, ba là Bình Đẳng Vương, bốn là Đô Thị Vương, năm là Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương. Mỗi vị đều có các [thuộc hạ] như tư mạng, tư lộc, phủ quân, điển quan v.v… Sư tự nói duyên khởi như sau:
– Xưa kia, ở Tây Ấn Độ, có một Bồ Tát từ bi cứu thế, phát đại thệ nguyện, vì cứu chúng sanh đang chịu khổ trong tam đồ, cho nên vẽ tượng Địa Tạng, hướng về mười vương thành, truyền dạy: “Nay ta phát nguyện cứu khổ tam đồ, xin hãy tạo lợi ích”. Mười vị vua đều chắp tay, kính cẩn đáp ứng, bạch với tượng vẽ rằng: “Hết thảy chúng sanh đều mong được đại thánh dạy bảo. Chúng con kính cẩn làm bạn lữ phụ trợ”. Khi ấy, tôn tượng mỉm cười bảo: “Lành thay! Tội nghiệp của chúng sanh không lâu sẽ được nhẹ bớt”. Liền phóng đại quang minh, chiếu thấu tam đồ khổ não. Các chúng sanh được chiếu đều ngưng dứt các khổ. Đấy chính là vị Bồ Tát tại Ấn Độ nhập Lợi Ích Chúng Sanh tam-muội, cầu thỉnh các đại vương ban cho đại lợi. Vị Bồ Tát ấy tự vẽ lại những gì đã thấy, nên vẽ thêm mười vị vua bên cạnh tôn tượng Địa Tạng.
Ngài Trí Hựu lại nói:
– Ta ở Lưu Sa, gặp phải quỷ yêu mị, bèn cầu khẩn, niệm Bồ Tát, do vậy, được Bồ Tát cầm tích trượng xua đuổi chúng. Lại trong đêm khi mưa to trút xuống, khổ vì không có đèn lửa, chẳng biết thứ gì, mãnh thú gầm rống, người lẫn ngựa đều lạc đường. Tượng này phóng quang soi sáng như ban ngày, mãnh thú bèn tan chạy, đường lối lại thông suốt. Lại gặp sông lớn, sóng cả cuộn trào, chẳng biết sâu cỡ nào. Nước ấy rất yếu, chẳng đỡ nổi chiếc lá, huống chi thuyền bè? Ta cầu nguyện thánh tượng, liền thấy một vị sa-môn và hai đồng tử, một đồng tử cầm phan, một đồng tử chèo thuyền. Sa-môn tay cầm quyển kinh tiếng Phạn, liền đưa bọn ta vượt sông. Đã đến bờ Đông, lúc sắp từ biệt, Ngài tặng ta cuốn kinh tiếng Phạn, bảo Tăng tục trong cõi này có thể sao chép lại. Do vậy, mọi người tranh nhau sao chép, cảm được nhiều điều linh dị.
Ba năm sau, chẳng biết ngài Trí Hựu và tượng ở đâu, mọi người đều ngờ Ngài quay về Ấn Độ. Chắc sa-môn Trí Hựu chính là hóa thân của đức Địa Tạng.
26. Người đánh cá được hóa độ
Người đánh cá ở Minh Châu, chẳng biết tên họ là gì, xuống biển bắt cá. Trong lưới, bắt được một tượng giống như một vị tỳ-kheo, chẳng biết nguyên do, bèn bỏ bên bờ. Đêm đến, mộng thấy một vị Tăng, thân có quang minh, bảo người đánh cá: “Sao ngươi bỏ ta?” Người đánh cá nói: “Thầy là ai vậy?” Đáp: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát ở trong biển đã lâu, cứu tế thủy tộc, nửa số ấy được sanh lên trời. Nay luyến mộ các ngươi bèn xả thân trong lưới”. Người ấy tỉnh giấc, hối lỗi, kiến tạo một tinh xá, an trí tượng ấy. Ngư dân chỗ ấy đến nay vẫn sùng phụng, lợi lạc chẳng có cùng cực!
27. Chí hiếu được tăng thọ
Trần Kiện ở Đài Châu một mực đoan chánh, chí hiếu vượt hẳn kẻ khác. Ông dựng nhà nuôi dưỡng song thân, phát tâm vì cha mẹ tạo hai bức tượng Địa Tạng và Quán Âm, mỗi tượng cao ba thước. Năm Càn Đức thứ tư (966), ông mắc bệnh nhẹ, bỗng chết ngất đi. Cha mẹ khóc lóc. Bốn tiếng sau, ông tỉnh lại, lễ bái cha mẹ, bạch rằng:
– Con chết bỏ lại cha mẹ, chưa trọn lòng hiếu thảo. Bỗng đến trước điện Diêm Vương, thấy hai bức tượng do con đã lập, đứng sẵn trong điện. Vua hướng về đó xá bái. Thấy con đến, vua bèn dắt tay, hai vị Bồ Tát đến đỡ bên hông con dẫn lên sảnh đường. Tượng phát tiếng hòa nhã: “Đàn việt chưa thỏa lòng hiếu, xin đại vương thả về nhân gian”. Vua bạch cùng tượng: “Mạng nghiệp của ông này đã tận, cha mẹ ông ta mạng dài”. Tượng nói: “Thọ mạng vô định, tùy duyên mà sửa đổi, chuyển biến. Đàn việt tu phước nghiệp, lẽ đâu chẳng trở về?” Vua kiểm trong một quyển sách rồi thưa: “Nếu ai chí hiếu, tạo tượng hay vẽ tượng, thọ mạng dài lâu. Có thể tăng thêm tuổi thọ cho ông bốn mươi năm nữa, hai mươi năm tận hiếu, hai mươi năm sau sẽ được con hiếu thảo báo đáp”. Có vị quan mặc áo màu lục mở sổ, tâu với vua: “Con của ông Kiện chỉ thọ mười năm, ai sẽ hiếu thảo?” Vua phán: “Pháp vương không hai lời. Hãy nên tăng tuổi thọ cho đứa con”. Con nghe nói lời ấy xong bèn tỉnh lại.
Người nghe kể đều than là “chưa từng có”!
***
[1] Trương Tăng Diêu (479-?) là họa sĩ nổi tiếng đời Lương, từng được phong làm Vũ Lăng Vương Quốc Thị Lang, chuyên quản trị các họa phẩm trong cung đình. Ông sở trường vẽ tranh Phật giáo, nhất là tranh vẽ trên tường. Cách vẽ chân dung Phật, Bồ Tát, thánh chúng của ông đã hình thành một trường phái riêng được gọi là Trương Gia Dạng, được coi là khuôn mẫu tiêu chuẩn cho tranh họa Phật giáo. Ông vẽ rồng, chim, hoa cỏ, sơn thủy cũng rất nổi tiếng. Ông vẽ rồng sống động đến nỗi có truyền thuyết: Ông vẽ bốn con rồng trên vách chùa An Lạc ở Kim Lăng, khi điểm nhãn (vẽ mắt rồng), hai con bay vụt lên trời. Hai người con ông là Thiện Quả và Nhu Đồng theo học vẽ với ông cũng là những họa sư lỗi lạc thời ấy.
[2] Lân Đức là niên hiệu của Đường Cao Tông. Đường Cao Tông là người sử dụng nhiều niên hiệu nhất trong đời Đường: Vĩnh Huy, Hiển Khánh, Long Sóc, Lân Đức, Càn Phong, Tổng Chương, Hàm Hanh, Thượng Nguyên, Nghi Phụng, Điều Lộ, Vĩnh Long, Khai Diệu, Vĩnh Thuần, và Hoằng Đạo.
[3] “Thằng sàng” (繩床) là chõng hay ghế dài, không dùng vải căng trên khung, mà dùng dây thừng, dùng để dựa vào mà ngủ hay ngồi. Loại giường này bắt nguồn từ Ấn Độ, phổ biến trong các tự viện vào đời Đường. Loại giường này có khung gỗ đóng chéo chân, có thể xếp lại được, giống như ghế bố, để tiện mang theo khi cần ngồi hay ngủ nghỉ khi đi du cước. Loại thằng sàng này khác với loại dùng trong dân chúng, cũng gọi là “thằng sàng” nhưng là một thứ ghế có lưng dựa, mặt ghế và lưng ghế dùng dây vải hay dây mây đan thành ô vuông xen kẽ để ngồi cho mát. Có lẽ “thằng sàng” được nói ở đây chính là loại ghế này.
[4] Thoạt đầu, chức Thứ Sử vốn là cấp quan thuộc Ngự Sử Đài. Về sau, đặt ra Thứ Sử tại các châu, tức là chức quan Giám Sát tại các châu, quận. Dần dần, Thứ Sử trở thành quan đứng đầu một châu. Dưới đời Đường, khi các Tiết Độ Sứ trở thành thống lĩnh quân sự địa phương thì Thứ Sử trở thành thuộc hạ của Tiết Độ Sứ. Từ đời Minh trở đi, Thứ Sử trở thành danh xưng để gọi các vị Tri Châu (quan đứng đầu một châu).
[5] Thông quang: Quang minh bao quanh thân.
[6] Thị Lang là chức quan đặt ra từ đời Hán, tương đương với thứ trưởng hiện thời. Thoạt đầu, chức quan này là các quan hầu cận giúp vua xử lý mọi việc. Dần dần, do sự vụ quá nhiều, phải lập ra các Tỉnh (cơ quan hành chánh) như Thượng Thư Tỉnh, Môn Hạ Tỉnh, Trung Thư Tỉnh để đặc trách từng sự vụ. Sau đó, phát triển thành sáu bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công). Thượng Thư là quan đứng đầu mỗi bộ, viên phó quan gọi là Thị Lang. Đến đời Thanh, với mỗi bộ lại lập ra Tả Hữu Thị Lang. Tả Thị Lang địa vị cao hơn, phải là người Mãn Châu.
[7] Trung Hòa là niên hiệu của Đường Hy Tông từ năm 881 đến 885. Đời vua Đường Hy Tông, Đại Đường loạn lạc rối beng với hai cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân do Hoàng Sào và Vương Tiên Chi lãnh đạo, các Tiết Độ Sứ cát cứ, đánh phá lẫn nhau. Nhà vua hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự thao túng của hoạn quan Điền Lệnh Tư. Vua đã dùng năm niên hiệu là Càn Phù, Quảng Minh, Trung Hòa, Quang Khải, và Văn Đức.
[8] Thanh Tước là một loài chim thuộc họ Sẻ, thường gọi là Japanese Grosbeak, hoặc Masked Hawfinch, vì mình nó hơi xám, có ánh xanh, đầu đen, mỏ vàng, trông như người đội mặt nạ trùm đầu. Loài này sống chủ yếu ở vùng sông Amur và Mãn Châu, mùa Đông thường bay thiên di xuống Bắc Kinh và Hà Bắc.
[9] Chức quan này có tên gọi đầy đủ là Biệt Giá Tùng Ngự Sử, hoặc còn gọi là Biệt Giá Tùng Sự, chính là quan phụ tá cấp cao nhất của Thứ Sử. Do chức quan cao, khi đi ra ngoài, không phải ngồi hầu theo xe của quan Thứ Sử, nên gọi là Biệt Giá. Có thể hiểu chức quan này giữ vai trò xử lý thường vụ trong các châu, quận. Đến đời Tùy, do bãi bỏ các quận, chỉ giữ lại châu, nên chức vị này đổi thành Trưởng Sử. Đến đời Đường, lại đổi thành Quận Thừa Biệt Giá. Sau đó, chức vụ này bị phế bỏ. Đến đời Tống, lại lập chức Thông Phán có vai trò gần giống Biệt Giá. Do vậy, dân gian vẫn quen gọi Thông Phán là Biệt Giá.
[10] Càn Hựu là niên hiệu của Hán Cao Tổ Lưu Tri Viễn, như vậy, nhà Hán nói ở đây là nhà Hậu Hán thuộc thời Ngũ Đại, không phải là nhà Tiền Hán do Lưu Bang sáng lập sau khi diệt nhà Tần của Tần Thủy Hoàng.
[1] Hậu Châu là một triều đại ngắn ngủi nhất trong thời Ngũ Đại, trước sau chỉ tồn tại chín năm! Quách Oai vốn là quyền thần của nhà Hậu Hán, lập nhiều chiến công, quyền cao, chức cả. Khi Hán chúa là Lưu Trí Viễn chết, con là Lưu Thừa Hựu nối ngôi, thấy các đại thần nắm binh quyền quá mạnh, bèn lập mưu giết các đại thần. Quách Oai bèn khởi binh chống lại, tôn Lưu Vân làm vua mới. Sau đó, đem quân lên miền Bắc đánh Khiết Đan, ngầm sai người giết chết Lưu Vân, rồi sai tay chân ủng hộ mình lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Châu, nhưng ông ta chỉ làm vua được ba năm thì chết. Ngôi vua phải truyền cho con nuôi là Sài Vinh, tức Châu Thế Tông. Do phải chinh chiến liên miên, tiền bạc thiếu hụt, Châu Thế Tông nghe lời sàm tấu của đạo sĩ, đã phế trừ đạo Phật, phá hủy chùa chiền, hạ lệnh nung chảy tượng Phật, chuông đồng để đúc tiền, tạo thành pháp nạn cho Phật giáo Trung Hoa. Chính ông ta đã hạ lệnh phá hủy 30.336 ngôi chùa và đuổi sáu vạn tăng ni về đời.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH KHOA CHÚ