ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH KHOA CHÚ
Đường Tam Tạng sa-môn Thật Xoa Nan Đà dịch
Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2. Thị tu kính chi công (chỉ bày công đức do tu cung kính)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.1. Tiên vong giải thoát (người đã khuất được giải thoát)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.1.1. Tu thắng nhân (tu cái nhân thù thắng)
(Kinh) Thị nhân nhược năng tố họa Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, nãi chí văn danh, nhất chiêm, nhất lễ, nhất nhật chí thất nhật, mạc thoái sơ tâm, văn danh, kiến hình, chiêm lễ cúng dường.
(經)是人若能塑畫地藏菩薩形像,乃至聞名,一瞻一禮,一日至七日,莫退初心,聞名見形,瞻禮供養。
(Kinh: Người ấy nếu có thể đắp, vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, cho đến nghe tiếng, chiêm ngưỡng một lần, lễ một lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày, đừng lui sụt cái tâm ban đầu, nghe tên, thấy hình tượng, chiêm ngưỡng, lễ bái, cúng dường).
Câu “mạc thoái sơ tâm” (đừng lui sụt cái tâm ban đầu) là lời răn quan trọng nhất. Người đời nay kiên quyết chọn lựa giữ vững điều thiện hằng ngày từ sáng đến tối, tôi chưa hề gặp! Như kẻ lo liệu làm phước, thoạt đầu thì muốn làm nhiều, chưa làm xong mà đã giảm bớt. Kẻ học đạo thoạt đầu quyết chí tinh tấn, về sau lười nhác, mệt mỏi. Đó gọi là “mị bất hữu thỉ, tiễn khắc hữu chung” (không ai chẳng sốt sắng khởi đầu tiến hành, nhưng rốt cuộc hiếm ai làm đến cùng). Người khởi sự rồi hoàn tất, chỉ có bậc thánh nhân đấy chăng? Vì thế kinh dạy: “Ngư tử, Am-la hoa, Bồ Tát sơ phát tâm, tam sự nhân trung đa, cập kỳ kết quả thiểu” (Cá con và hoa xoài, Bồ Tát sơ phát tâm, ba chuyện nhân thì nhiều, đạt kết quả ít ỏi). Răn nhắc đừng lui sụt cái tâm ban đầu là có dụng ý sâu xa vậy!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.1.2. Đắc lạc báo (được quả báo an vui)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.1.2.1. Đọa ác thú giả giải thoát (người đọa trong đường ác được giải thoát)
(Kinh) Thị nhân quyến thuộc, giả nhân nghiệp cố, đọa ác thú giả, kế đương kiếp số, thừa tư nam, nữ, huynh, đệ, tỷ, muội, tố họa Địa Tạng hình tượng, chiêm lễ công đức, tầm tức giải thoát, sanh nhân thiên trung, thọ thắng diệu lạc.
(經)是人眷屬,假因業故,墮惡趣者,計當劫數,承斯男女,兄弟姊妹,塑畫地藏形像,瞻禮功德,尋即解脫,生人天中,受勝妙樂。
(Kinh: Quyến thuộc của người ấy do vì nghiệp nhân, đọa vào đường ác tính ra phải chịu nhiều kiếp, do nhờ công đức của con cái, anh, em trai, chị, em gái đắp vẽ hình tượng đức Địa Tạng, chiêm ngưỡng, lễ bái, liền được giải thoát, sanh trong trời, người, hưởng sự vui thù thắng, mầu nhiệm).
“Giả nhân nghiệp”: “Giả” (假) tức là ba thứ Giả: Do cái nhân mà thành, tiếp nối, và đối đãi. Do chúng hư vọng chẳng thật, nên gọi là Giả. Sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Do nhân mà thành, tức là xét theo ngoại trần và nội căn. Tiếp nối: Tức là chỉ xét theo nội căn. Đối đãi: Đối đãi xét theo chiều dọc, thì là cái Vô do đã diệt vô; đối đãi xét theo chiều ngang thì là vô tâm vô vi”. Hết thảy phàm phu chưa dự vào thánh đạo, hễ khởi lên mảy may so đo, thảy đều là kiến chấp! Do vì có kiến chấp, các khổ thuộc ba thứ Giả bèn nhóm họp. Phiền não bèn dấy theo, kết nghiệp tràn lan, sanh tử cuồn cuộn. Vì thế nói là “đọa ác thú trung, kế đương kiếp số” (đọa trong đường ác, tính ra phải chịu nhiều kiếp). Đấy là nói quyến thuộc do nghiệp mà thọ sanh. Từ “thừa tư” (nhờ [phước đức] ấy) trở đi, ý nói nhờ phước mà siêu thăng. “Tầm tức giải thoát” (liền được giải thoát): Do căn cơ nhanh chóng, ứng hiện nhanh chóng, cho nên lợi ích nhanh chóng. Ví như cha mẹ tâm nghĩ đến con sâu nặng, lại còn lắm trí, nhiều tài, có thế lực lớn, các con mắc nạn, [cha mẹ] có thể lập tức cứu giúp. Nay Địa Tạng Bồ Tát tâm từ bi sâu nặng, Quyền Trí và Thật Trí sâu xa, thánh tài sung túc, thần lực tự tại, hễ quyến thuộc bị đọa ác thú, [do nhờ Bồ Tát tế độ], sẽ lập tức giải thoát.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.1.2.2. Sanh nhân thiên giả tăng nhân (người đã sanh trong đường trời, người sẽ tăng thêm cái nhân thánh đạo)
(Kinh) Thị nhân quyến thuộc như hữu phước lực, dĩ sanh nhân thiên, thọ thắng diệu lạc giả, tức thừa tư công đức, chuyển tăng thánh nhân, thọ vô lượng lạc.
(經)是人眷屬如有福力,已生人天,受勝妙樂者,即承斯功德,轉增聖因,受無量樂。
(Kinh: Quyến thuộc của người ấy nếu có phước lực, đã sanh làm trời người, hưởng sự vui thù thắng, mầu nhiệm, sẽ nương vào công đức ấy, tăng thêm cái nhân thánh đạo, hưởng vô lượng sự vui).
Cổ đức nói: “Đã sanh vào đường lành, công huân sẽ được tăng thêm. Kẻ chưa thoát khổ luân, sẽ sớm sanh về Tịnh Độ” chính là ý nghĩa của hai đoạn văn trên đây. “Chuyển tăng thánh nhân” (tăng thêm cái nhân của thánh đạo): Sẽ dự vào các địa vị thuộc tam thừa, hưởng niềm vui xuất thế. Như trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Phàm phu chi nhân bất tác công đức, bất đắc tứ sự cúng dường, phục bất miễn tam ác đạo khổ, thị vị thân tâm câu bất lạc. Tác công đức A La Hán, tứ sự cúng dường, vô sở phạp đoản, phục miễn tam ác đạo khổ, thị vị thân tâm câu lạc” (Kẻ phàm phu chẳng làm công đức, chẳng được tứ sự cúng dường, lại chẳng tránh khỏi nỗi khổ trong ba ác đạo. Đó gọi là thân lẫn tâm đều chẳng vui sướng. Bậc A La Hán tạo công đức, được tứ sự cúng dường chẳng bị thiếu hụt, lại tránh khỏi sự khổ trong ba đường ác. Đó gọi là thân lẫn tâm đều vui sướng). Nay đã tăng thêm cái nhân thánh đạo, tức là thân lẫn tâm đều vui sướng vậy!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.2. Cụ cáo sanh giới (nói đầy đủ chỗ đã sanh về)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.2.1. Niệm danh Bồ Tát hiện thân (niệm danh hiệu, Bồ Tát hiện thân)
(Kinh) Thị nhân cánh năng tam thất nhật trung, nhất tâm chiêm lễ Địa Tạng hình tượng, niệm kỳ danh tự, mãn ư vạn biến, đương đắc Bồ Tát hiện vô biên thân, cụ cáo thị nhân quyến thuộc sanh giới.
(經)是人更能三七日中,一心瞻禮地藏形像,念其名字,滿於萬徧,當得菩薩現無邊身,具告是人眷屬生界。
(Kinh: Người ấy lại có thể trong hai mươi mốt ngày, nhất tâm chiêm ngưỡng, lễ bái hình tượng đức Địa Tạng, niệm danh tự của Ngài trọn một vạn lần, sẽ được Bồ Tát hiện vô biên thân, bảo cặn kẽ chỗ quyến thuộc đã sanh về).
“Tố tượng, chiêm lễ” (Tạc tượng, chiêm ngưỡng, lễ bái) là dốc cạn lòng ân cần được biểu hiện ra ngoài. Nhất tâm xưng danh là trong tâm siêng năng cung kính. Cơ và cảm dốc trọn lòng thành, [Bồ Tát] bèn nhanh chóng ứng hiện thân hình. Đó gọi là “Bồ Tát thanh lương nguyệt, thường du tất cánh không, chúng sanh tâm thủy tịnh, Bồ Đề ảnh hiện trung” (Bồ Tát trăng trong mát, thường dạo rốt ráo không, nước tâm chúng sanh tịnh, Bồ Đề hiện bóng soi), cảm ứng chẳng sai chạy!
Hỏi: Nay có người đã bao năm [ân cần xưng niệm, lễ bái như thế], nhưng chẳng được truyền dạy chút nào, vì sao vậy?
Đáp: Cần biết nhất tâm có Sự và Lý. Nếu cả hai đằng đều thiếu sót, sao có thể cảm thánh cho được! Ví như đến trước gương mà xoay lưng lại, đối trước hang động mà lặng im, làm sao có thể thấy được bóng dáng và tiếng vọng?
“Vô biên thân” xét theo Sự thì vô biên chính là hữu biên; xét theo Lý thì hữu biên chính là vô biên. Nay dùng lễ tượng, xưng danh, đó là Sự nhất tâm, để khế nhập Lý nhất tâm như hư không vô biên, như hang trống dội lại tiếng vọng, như gương sáng hiện hình. Vì thế, [Bồ Tát] hiện vô biên thân bảo cặn kẽ chỗ đã sanh về!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.2.2. Mộng thần lãnh kiến quyến thuộc (trong mộng thấy Bồ Tát dùng oai thần cho thấy người thân)
(Kinh) Hoặc ư mộng trung, Bồ Tát hiện đại thần lực, thân lãnh thị nhân, ư chư thế giới kiến chư quyến thuộc.
(經)或於夢中,菩薩現大神力,親領是人,於諸世界見諸眷屬。
(Kinh: Hoặc là trong mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dẫn dắt người ấy thấy các quyến thuộc trong các thế giới).
Trong phần trước là hiển cơ hiển ứng. Vì thế nói: Trong lúc xưng niệm, lễ bái, Bồ Tát hiện thân bảo ban, dạy cho biết quyến thuộc đã sanh về cõi nào. [Còn trong đoạn này] quyến thuộc là minh cơ minh ứng (冥機冥應, cơ và ứng ngấm ngầm), cho nên bảo ban trong giấc mộng. Tức là giống như “chư thiên hiện mộng” trong luật Thiện Kiến, đấy chính là giấc mộng thật sự. Nhưng cần phải hiểu rõ: Chuyện thiện, ác, phàm, thánh, không gì chẳng phải là mộng! Thoạt đầu do người nằm mộng, chẳng biết quyến thuộc đã sanh về cõi nào, cho nên tạc Địa Tạng mộng tượng[1], trong mộng chiêm lễ, xưng danh, cho nên [Bồ Tát] hiện thân trong mộng răn dạy. Vì thế nói: Nếu càng thêm tinh tấn trong mộng thì những điên đảo về danh xưng suông sẽ dứt bặt. Quay lại quán thế gian, [sẽ thấy] đều là chuyện trong mộng, chỉ có đại giác rạng ngời, được gọi là “đại mộng giác”.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.3.2.3. Hiện hoạch diệu báo (đạt được quả báo mầu nhiệm trong hiện tại)
(Kinh) Cánh năng mỗi nhật, niệm Bồ Tát danh thiên biến, chí ư thiên nhật, thị nhân đương đắc Bồ Tát khiển sở tại thổ địa quỷ thần, chung thân vệ hộ. Hiện thế, y thực phong dật, vô chư tật khổ, nãi chí hoạnh sự bất nhập kỳ môn, hà huống cập thân! Thị nhân tất cánh đắc Bồ Tát ma đảnh thọ ký.
(經)更能每日,念菩薩名千遍,至於千日,是人當得菩薩遣所在土地鬼神,終身衛護。現世衣食豐溢,無諸疾苦,乃至橫事不入其門,何況及身。是人畢竟得菩薩摩頂授記。
(Kinh: Nếu lại có thể mỗi ngày niệm danh hiệu Bồ Tát một ngàn lần cho đến một ngàn ngày, người ấy sẽ được Bồ Tát sai thổ địa, quỷ thần nơi đó bảo vệ suốt đời, đời này được cơm áo dư dật, không bị các bệnh khổ. Cho đến các chuyện ngang trái chẳng lọt qua cửa nhà ấy, huống hồ thân phải hứng chịu. Người ấy rốt cuộc được Bồ Tát xoa đầu thọ ký).
Ở đây, tu nhân đã thù thắng, cảm quả cũng thù thắng, so với phần trước càng khác biệt vời vợi! “Thổ địa, quỷ thần” tức là những vị trông coi về đất đai, thóc lúa, hộ trì nhân dân, mà cũng là những vị hộ trạch, hộ thân. Nay họ đều vĩnh viễn hộ trì người ấy. Hiện tại hưởng ba điều vui sướng, về sau được diệu ký (thọ ký mầu nhiệm). Một là áo cơm dư dật, tức lớn bé đều an hưởng. Hai là không có các tật bệnh, tức thân lẫn tâm đều điều hòa, thư thái. Ba là dứt bặt các chuyện ngang trái, tức các việc ăn ở đều yên bình. Đó là báo ứng trong kiếp người hiện tại, vẫn là chuyện nhỏ. Còn như người ấy rốt cuộc được Bồ Tát xoa đầu an ủi, đích thân thọ ký, tức là cái nhân chân chánh quyết được thành tựu, đạt được diệu quả. Thế gian và xuất thế gian, không gì chẳng thành tựu! Oai thần lợi ích là như thế đó!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.4. Thành độ sanh chứng quả (thành tựu chuyện độ sanh, chứng quả)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.4.1. Thuật phát tâm độ nhân (phát tâm độ người khác)
(Kinh) Phục thứ Quán Thế Âm Bồ Tát! Nhược vị lai thế, hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục phát quảng đại từ tâm, cứu độ nhất thiết chúng sanh giả, dục tu Vô Thượng Bồ Đề giả, dục xuất ly tam giới giả.
(經)復次觀世音菩薩!若未來世,有善男子,善女人,欲發廣大慈心,救度一切眾生者,欲修無上菩提者,欲出離三界者。
(Kinh: Lại này Quán Thế Âm! Nếu trong đời vị lai có thiện nam tử, thiện nữ nhân, muốn phát tâm đại từ rộng lớn cứu độ hết thảy chúng sanh, muốn tu Vô Thượng Bồ Đề, muốn thoát lìa tam giới).
Đấy là tâm đại Bồ Tát, tu tập Bát Nhã Ba La Mật, cho nên có thể phát khởi cái tâm độ người khác. Nhưng từ bi vốn sẵn đủ, chỉ vì từ trước đã chấp “ta, người”, cho nên phân biệt đây, kia. Nay đã biết là đồng thể, cho nên phát tâm bình đẳng. Do đại từ, mong cho chúng sanh được vui sướng, cũng như ban bố sự vui. Do đại bi, thương xót chúng sanh đang chịu khổ, cũng mong họ thoát khỏi cảnh khổ, cho nên cứu độ hết thảy chúng sanh. Duyên trọn khắp pháp giới là Quảng, phổ độ quần mê là Đại.
“Muốn tu Vô Thượng Bồ Đề”: Cho thấy người ấy tự cầu Phật quả, chính là như Ma Ha Chỉ Quán đã đề ra Vô Tác Tứ Đế: Hiểu rõ pháp tánh của chính mình và hết thảy các pháp chẳng hai, chẳng khác, thượng cầu hạ hóa, phát Bồ Đề tâm. “Xuất ly tam giới” chính là từ Sơ Tín cho tới Thất Tín của Viên Giáo. Trước hết là trừ khử Kiến Tư hoặc, giã biệt mãi mãi nỗi khổ trong tam giới.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.4.2. Minh tu nhân thành nguyện (nói về sự tu nhân, thành tựu sở nguyện)
(Kinh) Thị chư nhân đẳng, kiến Địa Tạng hình tượng, cập văn danh giả, chí tâm quy y. Hoặc dĩ hương, hoa, y phục, bảo bối, ẩm thực, cúng dường, chiêm lễ. Thị thiện nam nữ đẳng, sở nguyện tốc thành, vĩnh vô chướng ngại.
(經)是諸人等,見地藏形像,及聞名者,至心歸依。或以香華衣服,寶貝飲食,供養瞻禮。是善男女等,所願速成,永無障礙。
(Kinh: Những người ấy thấy hình tượng Địa Tạng và nghe danh hiệu của Ngài, chí tâm quy y. Hoặc dùng hương, hoa, y phục, vật báu, thức ăn để cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ bái. Các thiện nam nữ ấy sở nguyện mau chóng thành tựu, vĩnh viễn chẳng có chướng ngại).
Kinh văn chia làm ba tiểu đoạn:
– Thứ nhất là thấy, nghe quy y.
– Thứ hai, từ “hoặc dĩ” trở đi là dốc cạn lòng thành cúng dường.
– Thứ ba là từ ‘thị thiện” trở đi, chuyện mong muốn được thành tựu.
Dựa theo “phát Bồ Đề tâm” trong đoạn văn trên đây, đấy chính là chuyện thành tựu thượng phẩm. Như kinh Tô Tất Địa dạy: “Năng linh chủng chủng Tất Địa thành tựu, tăng ích phước đức, nãi chí thành mãn Pháp Vương Tử pháp, huống dư thế sự?” (Có thể thành tựu các thứ Tất Địa, tăng thêm phước đức, cho đến thành tựu viên mãn pháp của Pháp Vương Tử, huống hồ những chuyện thế gian khác ư?) Vì thế, không chỉ là sở nguyện mau chóng thành tựu, mà còn vĩnh viễn chẳng bị chướng duyên trở ngại!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.5. Thành dục cầu nguyện sự (thành tựu những chuyện mong cầu)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.5.1. Thuật sở cầu nguyện sự (trần thuật những chuyện mong cầu)
(Kinh) Phục thứ Quán Thế Âm! Nhược vị lai thế, hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục cầu hiện tại, vị lai bách thiên vạn ức đẳng nguyện, bách thiên vạn ức đẳng sự.
(經)復次觀世音!若未來世,有善男子,善女人,欲求現在未來百千萬億等願,百千萬億等事。
(Kinh: Lại này Quán Thế Âm! Nếu trong đời vị lai, có thiện nam tử, thiện nữ nhân mong cầu trăm ngàn vạn ức nguyện, trăm ngàn vạn ức sự).
Nguyện niệm ở bên trong, sự tướng thể hiện ở bên ngoài. Xét theo thế gian và xuất thế gian, bèn có trăm ngàn vạn ức: Hoặc cầu được thỏa nguyện trong đời hiện tại, hoặc mong đời khác xứng lòng. Như kinh Thập Luân đã dạy: “Thử thiện nam tử, tùy sở tại xứ, nhược chư hữu tình, hoặc vị đa văn, tịnh tín, tịnh giới, tịnh lự, thần thông, Bát Nhã, giải thoát, diệu sắc, thanh, hương, vị, xúc, lợi dưỡng, danh văn, công đức, hoa quả, thụ lâm, sàng phu, xá trạch đẳng” (Thiện nam tử này ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu tình hoặc vì đa văn, tịnh tín, tịnh giới, tịnh lự, thần thông, Bát Nhã, giải thoát, sắc, thanh, hương, vị, xúc mầu nhiệm, lợi dưỡng, tiếng tăm, công đức, hoa quả, rừng cây, giường đệm, nhà cửa v.v…) là nói về ý này.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.5.2. Minh nhân tu thành tựu (nói về cái nhân để tu hòng đạt thành tựu)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.5.2.1. Nguyện cầu thành tựu
(Kinh) Đản đương quy y, chiêm lễ, cúng dường, tán thán Địa Tạng Bồ Tát hình tượng; như thị sở nguyện, sở cầu, tất giai thành tựu.
(經)但當歸依,瞻禮供養,讚歎地藏菩薩形像;如是所願所求,悉皆成就。
(Kinh: Chỉ nên quy y, chiêm ngưỡng, lễ bái, cúng dường, tán thán hình tượng Địa Tạng Bồ Tát thì sở nguyện, sở cầu như thế thảy đều thành tựu).
Theo như các nghi quỹ trong Mật Bộ, đều nói có ba phẩm hay năm phẩm Tất Địa (Siddhi, thành tựu). Nay xét ra, kinh Thập Luân dạy “hoặc vị chủng chủng thế xuất thế gian chư lợi lạc sự, ư truy cầu thời, vị chư ưu khổ chi sở bức thiết, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, thử thiện nam tử công đức diệu định oai thần lực cố, linh bỉ nhất thiết giai ly ưu khổ, ý nguyện mãn túc” (Hoặc vì trong lúc truy cầu các thứ chuyện lợi lạc thế gian và xuất thế gian, bị các thứ lo sầu, khổ não bức bách, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, thì do sức công đức và oai thần diệu định của vị thiện nam tử ấy, sẽ khiến cho hết thảy đều lìa khỏi ưu khổ, ý nguyện được thỏa mãn) chính là nói về chuyện này.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.5.2.2. Mộng cảm ma đảnh (mộng thấy cảm vời Bồ Tát xoa đầu)
(Kinh) Phục nguyện Địa Tạng Bồ Tát cụ đại từ bi, vĩnh ủng hộ ngã, thị nhân ư thụy mộng trung, tức đắc Bồ Tát ma đảnh thọ ký.
(經)復願地藏菩薩具大慈悲,永擁護我,是人於睡夢中,即得菩薩摩頂授記。
(Kinh: Lại nguyện “Địa Tạng Bồ Tát sẵn lòng đại từ bi, vĩnh viễn ủng hộ con”. Người ấy sẽ trong khi nằm mộng, liền được Bồ Tát xoa đầu, thọ ký).
Quy y, cúng dường đúng pháp, tâm cầu khẩn đúng lẽ, cho nên cảm Đại Sĩ thọ ký trong mộng. Đấy chính là thọ ký tương ứng với sự phát tâm. Xoa đầu nhằm tỏ ý an ủi, chỉ dạy hành nhân sẽ đạt cực quả, thọ ký hành nhân sẽ chứng viên nhân. Nếu chẳng có tín lực kiên cố, làm sao có thụy tướng như thế được?
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6. Phát hiện sanh trí huệ (phát khởi trí huệ trong đời hiện tại)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.1. Thuật túc chướng căn độn (thuật bày hành nhân do túc chướng mà căn tánh chậm lụt)
(Kinh) Phục thứ Quán Thế Âm Bồ Tát! Nhược vị lai thế, thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư Đại Thừa kinh điển thâm sanh trân trọng, phát bất tư nghị tâm, dục độc, dục tụng.
(經)復次觀世音菩薩!若未來世,善男子,善女人,於大乘經典深生珍重,發不思議心,欲讀欲誦。
(Kinh: Lại này Quán Thế Âm Bồ Tát! Nếu trong đời vị lai, thiện nam tử, thiện nữ nhân đối với kinh điển Đại Thừa, sanh lòng trân trọng sâu xa, phát tâm chẳng thể nghĩ bàn, muốn đọc, muốn tụng).
Nói đến hai chúng nam nữ, nhằm nêu ra căn cơ tiếp nhận pháp. Kinh điển Đại Thừa chính là pháp Phương Đẳng. Đạo của đế vương được ghi chép thành sách, sách ấy được gọi là Điển (典). Vì thế, sách của Ngũ Đế được gọi là Ngũ Điển, chính là kỷ cương thường hằng của đất nước. Chữ Điển được ghép từ chữ Sách (冊) và chữ Kỷ (丌), thể hiện ý nghĩa “tôn sùng”. Kính trọng [kinh điển] như là lẽ tự nhiên, sẽ có ngày khai ngộ. Trong Phật pháp của chúng ta, cũng có thể khai ngộ Đệ Nhất Nghĩa Thiên.
“Thâm sanh trân trọng” (sanh lòng trân trọng sâu xa): Do Phật pháp như châu Như Ý, có thể sanh ra các thứ báu; vì thế, trân trọng, kính ngưỡng, yêu chuộng. Nói “phát bất tư nghị tâm” (phát tâm chẳng thể nghĩ bàn) thì có nghĩa là gì? Kinh La Vân Nhẫn Nhục dạy: “Phật chi minh pháp, dữ tục tương bối. Tục chi sở trân, đạo nhân sở tiện. Cố trước dục chi nhân bất hiếu ngã vô dục chi hạnh” (Pháp do đức Phật đã dạy tương phản thế tục. Những gì thế tục coi là trân quý, người tu đạo coi rẻ. Vì thế, kẻ chấp dục sẽ chẳng ưa hạnh vô dục của ta). Nay đã trân trọng, phát tâm đọc tụng, vậy thì tâm và pháp là một Thể, ai có thể suy nghĩ, bàn luận cái tâm ấy là sâu hay cạn cho được? Đấy chính là nói về chuyện phát tâm thù thắng!
(Kinh) Túng ngộ minh sư, giáo thị linh thục, toàn đắc, toàn vong, động kinh niên nguyệt, bất năng độc tụng.
(經)縱遇明師,教視令熟,旋得旋忘,動經年月,不能讀誦。
(Kinh: Dẫu gặp bậc minh sư dạy cho đọc thuộc, nhưng vừa học được lại quên mất ngay, trải bao năm tháng, chẳng thể đọc tụng).
Kế tiếp, nói rõ căn độn. “Minh sư” là vị thầy có thể hiểu rõ trọn vẹn “tánh, tướng, hạnh, vị, nhân, quả”, kham làm khuôn phép cho mọi người. Vị này ngàn đời vạn kiếp khó gặp gỡ, nay may mắn gặp gỡ; nhưng dạy kẻ đó xem đọc kinh điển, bảo kẻ đó đọc thuộc, tụng thuộc. Hiềm rằng căn tánh ngu độn, vừa mới thuộc lại quên bẵng! Quanh năm suốt tháng, chẳng thể đối trước kinh bổn đọc cho suông sẻ, chẳng thể tụng thuộc lòng được!
(Kinh) Thị thiện nam tử đẳng, hữu túc nghiệp chướng, vị đắc tiêu trừ, cố ư Đại Thừa kinh điển, vô độc tụng tánh.
(經)是善男子等,有宿業障,未得消除,故於大乘經典,無讀誦性。
(Kinh: Các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy do có nghiệp chướng xưa, chưa tiêu trừ được, cho nên đối với kinh điển Đại Thừa, chẳng có khả năng đọc tụng).
Tiếp đó, chỉ ra họ là phường độn căn. Do túc nghiệp chướng chưa tiêu, nên chẳng có khả năng đọc tụng kinh điển. “Căn độn” như đã giải thích trong phần trước. “Túc nghiệp chướng” có nhiều nhân duyên. Bởi lẽ, đọc tụng kinh điển là gieo liễu nhân. Do đời trước chẳng có thói quen đọc tụng, tức là chẳng gieo liễu nhân. Ngài Quy Sơn nói: “Đời này để luống qua, đời sau bế tắc” là nói về chuyện này. Hoặc do xưa kia chẳng thể thân cận Phật pháp, chẳng kính trọng sa-môn, Bà-la-môn, chướng ngại người khác thuyết pháp, chướng ngại kẻ khác học kinh, chướng ngại người khác đọc tụng, chướng ngại kẻ khác biên chép, cho đến đắm đuối, say sưa bét nhè, đánh mất chủng tử trí huệ. Vì thế, đời này dẫu gặp minh sư dạy dỗ, vẫn chẳng thể đọc tụng!
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2. Thị tu nhân phát huệ (dạy tu cái nhân để phát sanh trí huệ)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1. Tu nhân
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1.1. Đối tượng trần tâm (đối trước tượng, giãi bày tấm lòng)
(Kinh) Như thị chi nhân, văn Địa Tạng Bồ Tát danh, kiến Địa Tạng Bồ Tát tượng, cụ dĩ bổn tâm, cung kính trần bạch.
(經)如是之人,聞地藏菩薩名,見地藏菩薩像,具以本心,恭敬陳白。
(Kinh: Người như thế nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, thấy tượng Địa Tạng Bồ Tát, dốc trọn tấm lòng, cung kính giãi bày).
“Nghe danh hiệu, thấy tượng, giãi bày tấm lòng”: Do danh hiệu Địa Tạng sanh từ trí huệ, còn tượng Đại Sĩ do công đức mà lập. Vì thế, xưng danh, thờ tượng, sẽ phát sanh huệ tánh. Nhưng cần phải cung kính thì mới có thể cảm động. Do lòng thành có thể cảm động muôn vật; chẳng chân thành, sẽ chẳng thể cảm động; huống hồ đối với Đại Sĩ ư?
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1.2. Cầu huệ phương quỹ (phương cách, khuôn khổ để cầu trí huệ)
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1.2.1. Tu kính pháp (cách tu cung kính)
(Kinh) Cánh dĩ hương, hoa, y phục, ẩm thực, nhất thiết ngoạn cụ, cúng dường Bồ Tát.
(經)更以香華,衣服,飲食,一切玩具,供養菩薩。
(Kinh: Lại dùng hương, hoa, y phục, thức ăn, hết thảy các thứ trân ngoạn[2] cúng dường Bồ Tát).
Cậy vào vật dụng để biểu thị ý; nhờ vào sự, hòng hiển lộ cái tâm. Hương biểu thị “trong sạch, ngấm ngầm thông thấu sâu xa”. Hoa biểu thị “viên mãn, vui đẹp”. Y phục biểu thị “thấy Tịch Nhẫn chẳng xả”. Thức ăn biểu thị “huệ mạng thường còn”. Các món trân ngoạn biểu thị “du hý thần thông”. Vì thế, nhờ vào những phương cách ấy hòng biểu thị lòng chí thành của ta.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1.2.2. Phục thủy pháp (cách uống nước)
(Kinh) Dĩ tịnh thủy nhất trản, kinh nhất nhật, nhất dạ, an Bồ Tát tiền; hậu, hiệp chưởng thỉnh phục, hồi thủ hướng Nam, lâm nhập khẩu thời, chí tâm trịnh trọng.
(經)以淨水一盞,經一日一夜,安菩薩前;後,合掌請服,迴首向南,臨入口時,至心鄭重。
(Kinh: Dùng một chén nước sạch, đặt trước tượng Bồ Tát một ngày, một đêm; sau đấy, chắp tay thỉnh nước ấy để uống, quay đầu hướng về phía Nam, khi nước lọt vào miệng bèn chí tâm trịnh trọng).
Dùng tịnh thủy là nhờ vào duyên để phát huệ. Do người trí thích nước, nước có tác dụng lưu thông, gột rửa nhơ uế, có công năng khiến cho mọi vật tươi nhuận. Nay cậy vào đó để gột sạch túc chướng, nhuần thấm sự ngu độn khô khan, tài bồi tánh năng đọc tụng, khiến cho huệ môn thông thoáng. Vì thế, kinh Thần Thủy dạy: “Thủy tại hà trung vi hà thủy, thủy tại tỉnh trung vi tỉnh thủy, thủy nhập Phật bát vi Phật thủy, nhập phúc trung vi chân thủy. Dĩ thanh trị trược, dĩ chánh trị tà, chúng tà đoạn tuyệt” (Nước ở trong sông là nước sông, nước ở nơi giếng là nước giếng. Nước vào trong bát của Phật là Phật thủy. Vào trong bụng là chân thủy. Dùng trong để trị đục, dùng chánh để trị tà, các thứ tà đoạn diệt). Do biết nước là chân thật, nên nay sử dụng. Một chén biểu thị “nhất đạo thanh tịnh”. Một ngày đêm biểu thị “chế tâm nhất xứ”. Ngày biểu thị trí sáng suốt, đêm biểu thị sự ngu ám. Đặt trước tượng Bồ Tát, cầu gia bị để đạt tiến bộ. Chắp tay thỉnh lấy nước ấy để uống, biểu thị “nhất tâm kính cẩn vâng nhận”. Quay đầu hướng về phía Nam biểu thị “trái nghịch quẻ Khảm, hướng đến quẻ Ly”. Sách Dật Nhã viết: “Trịnh, đình dã. Kỳ địa đa bình, đình đình nhiên dã” ([sở dĩ gọi là nước] Trịnh, hàm nghĩa “bằng phẳng”, vì đất đai nước ấy phần lớn ngang bằng, phẳng phiu), tức là biểu thị “ngầm khế nhập bình đẳng”, đó là đại trí huệ.
3.3.1.2.2.2.2.4.1.1.6.2.1.2.3. Giới thận pháp (cách kiêng tránh, thận trọng)
(Kinh) Phục thủy ký tất, thận ngũ tân, tửu, nhục, tà dâm, vọng ngữ, cập chư sát hại, nhất thất nhật, hoặc tam thất nhật.
(經)服水既畢,慎五辛酒肉,邪淫妄語,及諸殺害,一七日,或三七日。
(Kinh: Uống nước xong, hãy kiêng năm thứ cay nồng, rượu, thịt, tà dâm, nói dối, và các thứ sát hại trong vòng bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày).
Đây là dạy cách giúp mở mang huệ tánh; vì thế, cần phải kiêng ngũ tân v.v… Trong kinh Lăng Già, Đại Huệ Bồ Tát hỏi: “Bỉ chư Bồ Tát đẳng, chí cầu Phật đạo giả, tửu, nhục cập dữ thông, ẩm thực vi vân hà?” (Các vị Bồ Tát ấy, chí tâm cầu Phật đạo, rượu, thịt, cùng với hành, ăn dùng sẽ ra sao?) Đức Phật đáp: “Nhất thiết nhục dữ thông, cập chư cửu, toán đẳng, chủng chủng phóng dật tửu, tu hành thường viễn ly” (hết thảy thịt và hành, cùng các thứ hẹ, tỏi… các thứ rượu buông lung, tu hành thường xa lìa). “Ngũ Tân”[3]: Theo kinh Phạm Võng, thì là Đại Toán (大蒜, tỏi, sách Quảng Vận nói là Hồ Tuy (胡荽), tức ngò rí), Cách Thông (茖蔥, một loại hành núi), Từ Thông (慈蔥, hành thông thường), Lan Thông (蘭蔥, kiệu), và Hưng Cừ (興渠, còn gọi là Tức Tật (蒠蒺), tức cây A Ngụy). “Huân tân” (葷辛) có hai nghĩa (hôi thối và cay gắt). Hôi thối nhưng không cay là A Ngụy. Cay nhưng không hôi là hạt cải, gừng. Vừa hôi thối vừa cay gắt là Ngũ Tân.
Chữ Ma Thâu hoặc Tổ Rị trong tiếng Phạn đều dịch là Rượu, có cốc tửu (rượu chế từ ngũ cốc), quả tửu (rượu làm từ trái cây), dược tửu (rượu thuốc) khác nhau. Nếu đối với người thế tục, thì rượu là thứ ắt phải dùng. Như Hán Thư chép: “Tửu giả, thiên chi mỹ lộc, sở dĩ di dưỡng thiên hạ, hưởng tự, kỳ phước, phù suy dưỡng tật” (Rượu là thứ lộc đẹp đẽ do trời ban, do nó có thể di dưỡng thiên hạ, hưởng dụng trong tế lễ để cầu phước, giúp kẻ yếu ớt dưỡng bệnh). Đối với pháp chúng (người tu hành theo Phật pháp), rượu là vật ắt phải kiêng, Như luận Đại Trang Nghiêm viết: “Đức Phật nói thân, miệng, ý, ác hạnh nơi ba nghiệp, chỉ có rượu là căn bản, lại đọa vào ác hạnh”. Kiêng thịt thì như đã giải thích trong phần trước [về sát sanh].
“Tà dâm”: Trong các ác nghiệp, chỉ có dâm nghiệp là nặng nhất. Tà niệm vừa manh nha, tà duyên sẽ tụ tập, các thứ thiện nguyện bởi đó mà tiêu sạch, các thứ mầm mống ác nghiệp từ đó mà dấy lên. Vì thế, tấm bảng sắt nơi điện Diêm La ắt coi dâm đứng đầu muôn điều ác. Trọn chẳng nghĩ sự vui thú dưới trăng, bên hoa là hữu hạn, nào có biết giường sắt, trụ đồng, chịu khổ vô cùng! Nhưng phường phàm phu tục tử hiển nhiên lại noi theo đường sáng, [thế mà] bọn văn nhân học thức đọc sách nói chuyện đạo đức, lại cứ hay nói chuyện tình ái lả lơi, há có thể bấm tay tính đếm được ư? “Nói dối” và “sát hại” như trong phần trước đã giải thích.
***
“Bảy ngày” và “hai mươi mốt ngày” là kỳ hạn kiêng tránh cần phải có để chuyển độn căn thành lợi căn, khử ngu thành trí. Bảy ngày chẳng phát, hai mươi mốt ngày chẳng được cảm ứng, chỉ vì hồ nghi chẳng tin, và kẻ chẳng chí thành. Đấy là ý nghĩa lập kỳ hạn để cầu cảm ứng vậy!
[1] Do xét theo Lý, tất cả thế gian đều là mộng huyễn, huyễn cảnh. Người hành trì là mộng nhân (người trong mộng), chiêm lễ, xưng danh đều là hành vi trong mộng, tạc tượng Địa Tạng Bồ Tát thì tượng ấy cũng là tượng trong mộng vì là hữu hình, là sự tướng.
[2] “Ngoạn cụ” ở đây không thể hiểu là “các món đồ chơi” theo nghĩa thông thường, mà là các thứ trân ngoạn như các tảng đá, hoặc những khối gỗ, khối ngọc có hình thù lạ lùng, kỳ bí tự nhiên, hay các vật phẩm mỹ thuật được điêu khắc chế tác tinh xảo, trân kỳ, khiến cho người sở hữu sướng mắt, thỏa lòng khi nhìn ngắm.
[3] Theo phần lớn các kinh Đại Thừa, Ngũ Tân (Pañca Parivyaya), còn gọi là Ngũ Huân, tức là năm thứ thực vật có mùi hôi nồng: Đại Toán (Laśuna, 大蒜, tỏi), Thông (Latārka, 蔥, hành), Giới (Palāṇḍu, 薤, kiệu, còn gọi là Tiểu Toán), Cửu Thái (Gṛñjana, 韭菜, hẹ), và Hưng Cừ (Hiṅgu, 興渠). Hưng Cừ là một loại thực vật, còn có tên gọi khác là A Ngụy (hoặc còn phiên âm là A Ngu, Huân Cừ, Cáp Tích Ni, hoặc đọc trại thành A Ngùy), có tên khoa học là Ferula Assafoetida, mọc phổ biến tại Ấn Độ, Trung Á, Trung Đông. Loại rau này có mùi hăng còn hơn tỏi, gần như thành mùi hăng thum thủm (nên người Anh thường gọi nó là Devil’s dung), hoa mọc thành chùm, bé li ty màu vàng, hình như cái dù xòe ra. Mỗi hoa có hình trứng, bên trong có hạt. Khi nấu lên thì lại có vị hơi ngọt. Chất nhựa của loại rau này dùng làm vị thuốc gọi là A Ngụy, vị cay, có chất độc, dùng làm thuốc sát trùng, tan máu bầm, tiêu thực.
ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH KHOA CHÚ