THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO
THÍCH MẬT THỂ
- 01. Tựa
- 02. Phật Giáo
- 03. Phật Giáo Với Vấn Đề Nhân Sinh
- 04. Phật Thích Ca Là Hiện Thân Cứu Khổ Của Nhân Loại
- 05. Nhận Thức Luận
- 06. Phật Thân Luận
- 07. Kết Luận
NHẬN THỨC LUẬN
Làm sao ta biết vũ trụ thực có chứa đọng một bản thể bất sinh bất diệt, bất di bất dịch, và trí thức con người ta có thể hiểu được cùng tột bản thể ấy không ? Nghiên cứu đến vấn đề ấy tức là nghiên cứu đến vấn đề nhận thức. Nói theo triết học là nghiên cứu tính chất và bản nguyên của tri thức của ta do đâu mà có, nó đáng giá bao nhiêu, và có thể dùng tri thức ấy, để đạt đến mục đích trên con đường đi tìm chân lý không?
Xét về nhận thức luận, ta có thể xét các vấn đề: bản chất của trí thức – nguồn gốc giúp trí thức phát triển – hiệu lực của trí thức.
A) BẢN CHẤT CỦA TRÍ THỨC.
Về vấn đề này, các triết học Âu Tây, một phái trí thức bởi tiên thiên (apriorisme). Một phái khác quá thiên về khoa học, chủ trương trí thức do kinh nghiệm (empirisme) đem lại.
Về Phật giáo tuy có phái tiểu thừa cũng chủ trương trí thức do ảnh hưởng ngoại cảnh, nhưng đồng thời cũng chủ trương nghiệp cảm duyên khởi, nghiệp lực của ta trong đời này, sẽ mang lại cho ta một đời sống khác về tương lai.
Như thế thì đối với vấn đề trí thức có hơi mơ hồ, chưa đúng với tinh thần Phật giáo. Đến khi Đại thừa Phật giáo, nhất thiết chủ trương bản thể vũ trụ chứa đầy sẵn một linh thức, mà linh thức ấy là một năng lực rất hoạt động và sáng hóa. Nên tính biết của ta bao giờ cũng nằm sẵn trong tâm ta, mà những cái cảm xúc bên ngoài chỉ là để gợi dậy tác dụng phân biệt của tính biết ấy.
Chính đức Thích Ca sau mấy năm tu luyện, khi mới thành đạo ở bên gốc cây bồ đề, Ngài liền tuyên bố: “Tất cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ của Như lai” Vậy trí tuệ ấy là bản chất của trí thức. Những danh từ “trí bát nhã trí, căn bản” hay “giác tính” ở trong các kinh luận thường dùng là để chỉ cho trí thức sẵn có ấy của chúng ta. Song ta nên hiểu, không phải nó đồng loại với thuyết tiên thiên của các triết học.
B) NGUỒN GỐC GIÚP TRÍ THỨC PHÁT TRIỂN
Tuy nhiên trí thức ấy cũng phải nương vào cái học gì, kinh nghiệm gì để cho được phát triển rộng rãi, dồi dào, đặng giúp ta trong công cuộc tìm hiểu chân lý.
Đối với vấn đề này Phật giáo cho trí thức do ba nguồn mà ra: Hiện lượng, Tỉ lượng và Thánh giáo lượng.
Hiện lượng ta có thể phân biệt làm hai. Một là do thánh trí thấu suốt sự vật bằng cách trực giác (intuition) khi tâm đối cảnh bên ngoài, cũng như ở trong định. Đây là tác dụng của trí tuệ những bậc có tu tập thiền định, đến một mức cao hay những bậc đã thân chứng chân lý như Phật, Bồ tát mới có, còn một phần nữa, mà đây chỉ là hiện lượng hay trực giác phổ thông, gồm cảm giác và trí giác, do kinh nghiệm.
Hiện lượng gồm có cảm giác và trí giác do kinh nghiệm hàng ngày đem lại. Ví dụ: như màu xanh, vàng, đỏ, trắng của các sắc, hình dài, ngắn, vuông, tròn của cái thước, cho đến lửa nóng nước mát, gió rung chuyển… trong mỗi vật đều có tự tướng riêng biệt của nó. Trong khi ngũ quan ta đối với cảnh trực nhận các cảnh hiện tiền, thân chứng được tự tướng của nó, không còn phải suy nghĩ so lường, mà vẫn xác nhận được rõ ràng, không sai lầm chút nào. Sách tôn cảnh dục có dẫn lời giải về hai chữ Hiện lượng: Hiện là hiển hiện, lượng là đo lượng, cũng có nghĩa là xác định. Nghĩa là nói trong khi tâm mình đối cảnh, không lượng danh ngôn, không dùng tâm đo lường, mà vẫn trực nhận pháp thể xác nhận rõ ràng không có phân biệt mê lầm, vậy hiện tượng là một tác dụng trí thức rất cần thiết, nếu các trí thức đầu tiên ấy, nghĩa là trong hiện tượng mà ta nhận sai sự vật, thì bao nhiêu trí giả suy lý tiếp theo đều hỏng cả.
Tỷ lượng gồm phán đoán và suy lý tức là tâm lý giác ở sau hiện tượng, nghĩa là đối với mọi vật gì, vấn đề gì, mà ở trí thức ta chưa từng có, quan niệm rõ rệt nên cần phải có sự tỉ giáo mới phán đoán biết rằng: Tất thẩy cái gì do công năng tạo tác mà có ra đều giả dối vô thường, như những bình, bàn v.v. mà do đó ta cũng xét biết thân người do khí huyết cha mẹ sinh ra, cũng không phải cái thường còn mãi mãi.
Bất cứ một sự vật gì, hoặc một vấn đền gì, sau khi ta đã dùng lý trí mà tỉ giáo, phân biệt để biết nó tạo thành ở ta một khái niệm rõ rệt chắc chắn, không còn cái gì có thể lừa gạt ta được nữa.
Tuy nhiên nhiều khi vì trí tuệ không được sáng suốt, tỉ giáo không đúng sự vật, không giỏi về phương pháp luận lý, trí thức có thể đưa ta đến chỗ sai lầm nguy hiểm, nhận thức không đúng chân lý, gọi là “Phi Lượng” (chỗ này trong quyển Triết học Phật giáo của Phan Văn Hùm tiên sinh đoạn nói về nhận thức luận, Phan tiên sinh đã hiểu lầm hai chữ “Phi Lượng” mà đặt cho nó một giá trị rất lớn, biết được thế chỉ nhờ “phi lượng”. Đại ý về một đoạn văn trong đó tiên sinh cho hiện lượng và tỉ lượng không thể thân chứng được tự thể của vật, mà chỉ có “phi lượng” tức phi trí thức mới hiểu được “thật thể” của vật mà thôi. Tiên sinh còn dẫn câu “tình có lý không” để giải thích thêm vào làm chứng cứ cho nghĩa đó, chẳng hay câu ấy tiên sinh cũng lại lầm nốt. Do những cầu sai lầm ấy, khiến tiên sinh phải lúng túng nhiều trong câu văn và đối với nhận thức của Phật giáo tiên sinh mơ hồ, và đi đến một lầm lỗi lớn).
Ngoài tỉ lượng, hiện tượng còn có thánh giáo lượng, cũng là một yếu tố đem lại cho trí thức ta nhiều chứng thực mà nói ra, ta căn cứ vào đấy là tiêu chuẩn, để tỉ giáo phán đoán, tìm hiểu chân lý, hoặc khi dùng nó làm bằng chứng cho một kết quả do trí thức ta tỉ giáo mà biết được.
Để làm qui củ cho phép luân lý, Trần Na Bồ Tát (Jina Bodhisattva) canh tân nền luận lý học ở Ấn Độ (Tức Nhân Minh Học) dùng ba phương thức, tức là ba phép (Tam chỉ): Tôn, Nhân, Dụ để tỉ lượng trong khi xét lập luận đối với người.
Tôn nghĩa là gốc, Nhân là lý do, Dụ là ví dụ như ba câu dưới đây dùng nhiều trong các sách về nhân minh.
1) TÔN: Trên núi kia có lửa.
2) NHÂN: Bởi vì có khói.
3) Dụ: Phàm chỗ nào có khói tất có lửa, như bếp ở lò.
Trong sách nhân minh Ngài Trần Na còn nêu lên bao nhiêu các lối thuộc về tôn, nhân, dụ để cho người học biết mà tránh khỏi trong khi suy lý lập luận Người nào rành về cách thức suy lý, tránh khỏi các lỗi thuộc về tam chỉ ấy, tự nhiên có nguồn trí tuệ rất dồi dào, có tài hùng biện rất giỏi, do đó để tìm hiểu chân lý ở mọi sự vật, đặng giúp cho cả hai phần là tự ngộ và ngộ tha (giác ngộ cho mình, và giác ngộ cho người khác).
Phép tam chỉ trên đây không khác gì pháp tam đoạn luận thức của triết học, chẳng qua đổi ngược lại, ví dụ:
PHÁP TAM ĐOẠN LUẬN
1) Đại tiền đề: Hễ chỗ nào có khói tất có lửa.
2) Tiểu tiền đề: Trên núi kia có khói.
3) Đoạn án: Vậy trên núi kia có lửa.
Chẳng hạn như ba câu dưới đây hay dùng trong các sách luận lý học:
1) Người nào cũng có lúc chết.
2) Socrate là người.
3) Vậy Socrate phải có lúc chết.
Nhưng theo nhân minh tam chỉ thì lại đổi là:
1) Socrae phải có lúc chết
2) Socrate là người
3) Ví dụ : như người khác.
Trong đây chỉ khác là thí dụ ở tam chỉ, tam đoạn luận đem làm đại tiền đề, mà câu thuộc về tôn là nghĩa gốc thì lại đem làm đoạn gốc vậy.
Trên đây theo nhận thức ta đã xét qua bản chất và bản nguyên của trí thức, và chúng tôi cũng có dịp nói đến phép luận lý về nhân minh cùng so sánh sự giống nhau của nó với pháp tam đoạn luận. Đến đây ta bàn đến giới hạn và hiệu lực của trí thức, nghĩa là có một phương pháp tỉ giáo suy lý như thế rồi thì nó có ích gì và trí thức ta sẽ biết đến đâu.
Theo Phật giáo, bản chất của trí thức đã là một năng lực chứa đựng sẵn trong tâm chúng ta, ta chỉ làm cho nó được phát triển mạnh lên mà thành trí tuệ vô biên, nên trí thức rất có ích cho ta trong việc tìm hiểu sự vật và nó sẽ hiểu biết cùng tột đến bản thể chân lý. Chẳng qua ta phải lìa bỏ cái trí thức bên ngoài theo phép tỉ giáo luận lý, sau khi ta đã biết và dùng nó, nghĩa là muốn biết trí tuệ ta biết đến đâu và để đạt được mục đích thân chứng bản thể chân lý, ta phải xây lại với mọi hoàn cảnh giả dối bên ngoài, để tìm vào trí tuệ bên trong của ta. Hiện tượng (nói nghĩa phổ thông do kinh nghiệm hàng ngày đưa lại) và tỉ lượng cho ta biết những cảnh sai biệt, do năm giác quan đem lại, chứ không thể đưa ta đến bản thể vô biên và tuyệt đích. Nếu ta cứ theo đuổi cái cái danh nghĩa của sự vật bên ngoài mà tỉ giáo suy lý mãi, thì không bao giờ đạt được đích của sự hiểu biết, mà cũng không bao giờ ta thân chứng hay ngộ nhập được bản thể chân lý.
Không gì hơn ta cứ nắm lấy cái gốc tìm hiểu ngay bản thể của tâm ấy. Khi ta có một công phu đặc biệt phát minh trí tuệ, đến chỗ cùng tột, nhập cùng lý thể, lý và trí hợp nhất, đến đây mới thực thân chứng bản thể.
Bấy giờ cái biết không phải thuộc về ngũ quan nữa, mà là “tâm biết” ngũ quan chỉ là cửa sổ để cho tâm ở trong nhìn ra mà thôi, đem tâm ấy mà chiếu vào sự vật, thì tất thảy đều thông suốt, không gì ngăn ngại.
Trước đây hơn 2500 năm Đức Phật đã cho ta biết vũ trụ là động, muôn vật luôn luôn biến chuyển đổi rời; Cùng trong một bát nước có vô số vi trùng, trong mỗi vật chất có một năng lực rất lớn, giữa vũ trụ có sự liên quan chằng chịt với nhau, trong vũ trụ có vô số thế giới, mỗi thế giới có một hình thức không giống nhau.
Luận duy thức nói: “Tâm sở hữu tính chư pháp, nhất thiết tính, nhất sở hữu, chư pháp chân như tính”_ Nghĩa là: (Cùng tột tính sở hữu của các pháp, đúng như tính sở hữu ấy, tức là tính chân như của các pháp) nghĩa là “chân lý”.
Nếu trong nhận thức có hai phần là tuyệt đối và tương đối. Trong tuyệt đối hẳn không còn có tương đối, không thấy có người có mình; Có muôn vật sai khác, là cảnh ly ngôn không phân biệt cái biết và cái bị biết, đều lặng yên, chỉ một bản thể như như bình đẳng, không hình tứơng, không tông tích như trong Kinh Bát Nhã nói: “Vô trí diệc vô đắc” trong Kinh Lăng Già nói: “Viễn ly giác sở giác”. Còn về phần tương đối, thì trí thức vẫn thấy đủ muôn vật, phân biệt theo đúng tính sở hữu của nó, như trong Kinh nói: “Trí Phật cùng khắp thế giới” soi thấu các các cơ (căn cơ của chúng sanh) biết rõ sự vật, cho đến con cò vì sao mà trắng, con quạ vì sao mà đen, Phật đều biết rõ nguồn gốc ngành ngọn, đến cả vũ trụ mênh mông, vô số thế giới, trong mỗi thế giới có vô số chúng sinh, căn cơ khác nhau, chí hướng khác nhau. Phật đều biết rõ. Một Đức Phật như vậy, ngàn muôn Đức Phật cũng vậy, cho đến người nào thấy được bản thể đồng một trí tuệ như vậy, chẳng kém chút nào.
Trong Kinh Phật dạy: “Tất thảy chúng sinh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai” – lại nói: “Tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật” – Thành Phật là nghĩa thế nào? Tức là chỉ rõ trạng thái giác ngộ, ngộ nhập bản thể chân lý vũ trụ.