Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

TÂY-PHƯƠNG NHỰT-KHÓA

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
soạn thuật

 

MỤC LỤC

CHƯƠNG III
TIẾT I
MẬT-TỊNH PHÁP-NGHI
ÐÀN-PHÁP.
GIẢI-THÍCH

ÐÔI LỜI BÀY GIẢI THÍCH CỦA NGƯỜI GIẢI THÍCH 

Ngay từ thuở nhỏ,

Lúc chưa xuất-gia, và khi mới bắt đầu học đạo, nghiên-cứu kinh điển …..

Tôi có một vài điều khổ-tâm và phiền muộn là:

– Ðọc, tụng kinh-điển thì thuộc làu (như con két biết nói), nhưng mà không hiểu một chúc xíu gì về nghĩa-lý ở trong đó hết!.

– Rồi tôi lại giận-lẩy và phiền-trách đến các Hòa-Thượng, Thượng-Tọa ……. Ðại-đức tăng, ni và các bận thức-giả Phật học khác …. Là:

– Tại sao quý Ngày không chịu chú-thích (các danh-từ Phật-học khó hiểu) và giải-thích các thâm nghĩa trong kinh-văn để cho tôi được hiểu chớ ?

Các sự phiền-muộn và uất ức như thế mỗi ngày lại càng tăng thêm nhiều.

Có đôi lúc tôi tự nghĩ rằng:

– Sau nầy khi lớn lên, nếu như mình được xuất-gia thì mình sẽ phải cố-gắng học Phật-pháp cho đến nơi, đến chốn để:

– Thông-hiểu kinh-điển,

– Khỏi bị các tà-giáo, ngoại-đạo gạt-gẫm, dụ-dỗ hoặc giãng dạy Phật-pháp một cách sai-lầm, ác ý.

– Hoằng-dương đạo-pháp,

– Giảng-dạy kinh-sách,

– Cố-gắng tìm cách làm thế nào để giúp cho các Phật-tử Sơ-học Phật-pháp tỏ-tường thêm được ít, nhiều thâm-nghĩa qua lời Phật dạy trong kinh, hầu khỏi bị lâm vào trong hoàn-cảnh phiền-muộn như mình thuở trước vv……. 

Ðến nay,

Duyên may được trở thành người tăng-sĩ, mang danh phận xuất-gia, hơn bao-giờ hết, tôi lại càng thêm nhớ đến hoài-bảo ngày xưa của mình và nguyện là sẽ cố-gắng thực-thi các niềm mong-ước đó, trước là để:

– Báo đền ơn-đức Tam-Bảo, sư-môn.

– Hoàn-mãn ước-nguyện của mình.

Và kế nữa là để giúp cho chư-hiền học Phật sau nầy có thêm được chút cơ-duyên tỏ-ngộ cùng phấn-chấn hơn lên trên bước đường tu-học Phật-pháp, cầu giải-thoát về sau. 

Vì thế nên nay, trước là nhận lời thưa-thỉnh của Ưu bà-di BẢO-ÐĂNG, Trưởng-ban hoằng pháp / nghi-lễ và giáo-lý của chùa Pháp-Hoa Tucson, Arizona, và sau nữa là nương nơi tâm-nguyện – Tôi cố-gắng với sự hiểu-biết thô-thiển của mình – chú giải một số danh-từ Phật-học khó hiểu và giải-thích lên đây một ít thâm nghĩa qua các lời tán-tụng mà chư Tổ-sư đã dạy – trong quyển “Tây-Phương Nhật-Khóa, Mật-Tịnh pháp-nghi” nầy, một nghi-thức “Mật Tịnh song tu” của ngài VÔ-NHẤT ÐẠI-SƯ THÍCH-THIỀN-TÂM đã từ-bi vì chư Phật-tử và các liên-hữu trên bước đường tu Tịnh-độ mà biên-soạn thành…….. 

Với việc làm nầy, tôi chỉ có một tâm-nguyện duy-nhất rằng:

– Những mong sao cho quý bạn đồng-tu, chư Phật-tử, chư liên-hữu cùng các chư-hiền học Phật hiện tại và tương-lai……. khi đọc, tụng đến các lời văn, kệ, trong quyển pháp-nghi nầy, có thể thu-thập được thêm ít, nhiều kiến-giải, hầu giúp ích cho mình, cho người trên bước đường tu cầu về nơi giải-thoát – mà thôi.

Ngoài ra, tuyệt-nhiên không còn có thêm vào bất-cứ một ý-niệm chi sai khác nữa. 

Các phần giải-thích sau đây được biên-soạn ra theo phương-cách SỚ-SAO.

– SỚ là chú sớ, là giải-nghĩa…..

– SAO là sao y theo nguyên văn, nguyên bổn. Nghĩa là:

– Trích lấy một câu kinh, câu kệ từ trong chánh-bản rồi giải-thích các nghĩa-lý ẩn-tàng ở trong đó ra khiến cho mọi người được hiểu khi đọc, tụng và xem xét đến, hầu làm rộng thêm giáo-lý của Phật, Bồ-tát, Tổ-sư……

Các lời giải-thích, chú-sớ trên đây, ắt hẳn còn có rất nhiều thiếu-sót, vả-lại, lời kinh của Phật dạy ẩn-tàng vô-lượng thâm-nghĩa sâu-xa, điệp-điệp, trùng-trùng……. Nên tôi không dám chắc là việc làm của mình được hoàn-bị. Hơn, nữa, chúng-sanh căn-cơ và kiến-giải xưa nay cao thấp không đồng, vì thế cho nên tôi xin:

– Thành-tâm đê-đầu đảnh-lễ lên chư tôn-đức và các bậc thức-giả Phật-học cao-minh, xin tùy thời phủ-chánh và tha-thứ cho, nếu như trong phần giải-thích đây còn có điều chi sơ-sót, sai lầm. 

Tôi thật vô-vàn cảm-tạ…….

Pháp-Hoa Tự Tucson, Arizona
Thích Thiền-Tâm hậu duệ.
Niệm Phật tăng
Sa-môn THÍCH-HẢI-QUANG
(Bái bạch).

PHẦN GIẢI-THÍCH

Giải-thích Ðoạn I:

Câu 1:

Như-lai diệu sắc thân.

(sắc thân PHẬT mầu đẹp)

A. Trước hết giải-thích về hai chữ:

1. “NHƯ-LAI”.

Như-lai là một trong 10 hiệu của đức PHẬT.

Mười hiệu ấy là:

NHƯ-LAI, ỨNG-CÚNG, CHÁNH BIẾN-TRI, MINH HẠNH-TÚC, THIỆN-THỆ, THẾ-GIAN GIẢI, VÔ-THƯỢNG SĨ, ÐIỀU-NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN-NHƠN SƯ, PHẬT THẾ-TÔN.

Vì sao mà gọi là NHƯ-LAI?

– Như là Chơn-như.

– Lai là đi đến.

Hai chữ nầy hàm ý-nghĩa (sơ lược) như sau:

– Bởi vì chư PHẬT đã chứng được bổn-thể chơn-như, thường-tịch rồi, đã đạt được Ðại Niết-bàn rồi, nên không còn bị lệ thuộc vào trong 3 cõi Tử, Sanh nữa, nhưng vì lòng đại từ-bi, thương-xót chúng-sanh mà thị-hiện ÐẾN cõi đời nầy.

Nói về ÐẾN thì có 4 trường-hợp ÐẾN:

a. Không ÐẾN mà ÐẾN.

Ðây là dụ cho Phật và các vị Bồ-tát, vì Phật và Bồ-tát đã xa-lìa hết tất-cả hành-nghiệp của chúng-sanh, đã được vô-sanh rồi, nên không còn ÐẾN nơi 3 cõi (trời) và sáu đường (luân-hồi)nữa.

Nhưng bởi vì từ-bi, muốn cứu-độ các chúng-sanh ra khỏi vòng sanh-tử cho nên phải thị-hiện đủ các loại thân hình để mà ÐẾN. (nơi các cõi).

b. Không ÐẾN mà không ÐẾN.

Ðây là dụ cho hàng “Nhất xiển đề” đã hoàn-toàn mất hết căn lành, không còn bao-giờ ÐẾN được trong Phật-pháp nữa cả.

c. ÐẾN mà không ÐẾN.

Ðây ý-chỉ cho Phật và các vị Bồ-tát, tức là: Ứng, hóa-thân, của các ngài tuy có ÐẾN trong các cõi để độ chúng-sanh mà thật ra Pháp-thân của các ngài vẫn y-nhiên, bất-động ở nơi cõi Niết-Bàn thường-tịch.

d. ÐẾN mà ÐẾN.

Ðây là chỉ cho các chúng-sanh trong lục đạo luân-hồi. Theo hoặc-nghiệp dẫn ÐẾN mà ÐẾN nơi 3 cõi (trời), và 6 đường (luân-hồi) để thọ khổ sanh-tử……

2. Ứng-Cúng: Ðây là hiệu thứ nhì trong 10 hiệu của Phật – Tức là đầy-đủ hai phần Phước-Ðức(lưỡng-túc) xứng-đáng và ưng nhận tứ-sự của Nhơn, Thiên cúng-dường, làm phước-điền cho tất-cả thế-gian và xuất thế-gian.

3. Chánh biến-tri:Ðây là hiệu thứ ba trong 10 hiệu của Phật. Tức là có một sự hiểu biết chơn-chánh đối với tất-cả mọi Pháp.

4. Minh Hạnh-túc: Ðây là hiệu thứ tư trong 10 hiệu của Phật.

– Minh đây là minh-giác tức là quả lành. Quả lành của Phật gọi là Vô-thượng Bồ-đề.

– Hạnh là Hành, tức là chân cẳng – chân cẳng đây là Giới-Huệ. Tức ý là nương nơi chân cẳng Giới-Huệ mà được quả vô-thượng Bồ-đề. v.v…….

– Túc tức là đầy-đủ.

5. Thiện-Thệ:Ðây là hiệu thứ 5 trong 10 hiệu của Phật.

– Thiện là cao – Cao đây chính là tâm của Phật cao siêu hơn tâm của Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-Văn và tất cả chúng-sanh trong lục đạo.

– Thệ là chẳng cao – mà chẳng cao là thấp, đây tức là nghĩa khiêm-hạ, nhún-nhường vì tâm Phật đã diệt trừ hết tất-cả 7 điều kiêu-mạn (ấy là: Mạn, Quá mạn, Mạn-quá mạn, Ngã mạn, Tăng-thượng mạn, Ty-liệt mạn, Tà-mạn)– Vì thế nên gọi là chẳng (tự) cao.

Hiệu nầy có ý-nghĩa như sau: “Phật” cao mà chẳng cao, chẳng cao mà là cao”.

(Nghĩa là:

a. Phật là đángcao (quý) mà chẳng cao (ngạo).

b. Nhờ chẳngcao (ngạo) như vậy nên thành ra được đấng cao (quý).

6. Thế-gian giải: Ðây là hiệu thứ 6 trong 10 hiệu của Phật. Ý-nghĩa là có khả-năng giải biết, hiểu thấu hết tất-cả các pháp thế-gian và xuất thế-gian. Ðó là các pháp: Năm ấm(ngũ ấm), sáu nhập (lục nhập), sáu căn, sáu trần, 12 xứ, mười tám giới, 12 duyên (Thập nhị nhân-duyên), bốn đế (Tứ đế) cho đến vô-lượng pháp-môn Phật đều có thể giải-thích được một cách chính-xác, rõ-ràng, minh-bạch.

7. Vô-thượng sĩ: Ðây là hiệu thứ 7 trong 10 hiệu của Phật. Là Ðại-sĩ trong các bậc Ðại-sĩ(Bồ-tát) không còn có ai hơn được nữa. Vì thế nên gọi là vô-thượng.

8. Ðiều-Ngự Trượng-phu: Ðây là hiệu thứ 8 trong 10 hiệu của Phật. Hiệu nầy có ý-nghĩa là : Tự mình đã là Trượng-phu rồi lại còn điều-phục thêm tất-cả các Trượng-phu khác nữa.

Trong Phật-giáo một bậc Trượng-phu nhất-định phải hội đủ 4 điều-kiện sau đây:

  1. Gần-gũi thiện tri-thức.
  2. Có thể nghe hiểu tất-cả đại, tiểu pháp-môn(pháp-môn lớn, nhỏ)
  3. Có thể tư-duy(suy-nghĩ)chánh-pháp theo đúng nghĩa.
  4. Y như các pháp ấy mà tu-hành.

(Phải đầy-đủ hết 4 điều nầy mới được gọi là bậc Trượng-phu trong Phật pháp).

9. Thiên-nhơn sư: Ðây là hiệu thứ 9 trong 10 hiệu của Phật.

– Thiên, Nhơn là Trời, Người.

– Sư là Thầy.

Sư có hai loại:

  1. Sư dạy điều lành. (Tối Thượng Sư)
  2. Sư dạy điều ác. (Tối Hạ Sư)

Phật vì đem pháp lành tối-thượng dạy cho chúng-sanh, khiến chúng-sanh xa lìa tất-cả pháp ác, đắc được quả giải-thoát xưa chưa đặng mà nay được đặng, như là các quả: Tu đà-hoàn, Tư đà-hàm, A-na hàm, A-la Hán, Duyên-giác, Bồ-tát…….

Vì thế nên Phật được gọi là Thầy của Trời-Người.

10. PHẬT, THẾ-TÔN:Ðây là hiệu thứ 10 sau rốt của Phật.

– PHẬT:là đấng tự-giác, đã tự mình giác-ngộ lại hay có thể giác-ngộ cho người khác (Tự-giác – giác-tha).

– THẾ:Thế có hai loại:

1. Thế-gian(Dục-giới, Sắc-giới, Vô-sắc-giới).

2. Xuất thế-gian: Tức là ra ngoài khỏi 3 cõi(trời)và 6 đường (luân-hồi), gồm có các quả vị: A-la Hán – Duyên-giác – Bồ-tát.

– TÔN: Tức là Tôn-quý.

Bởi vì trong 2 cõi thế nầy thì PHẬT là đấng Tôn-trọng và tôn-quý hơn hết (không ai bằng). Vì vậy cho nên gọi là THẾ-TÔN.

Chú-ý: Trong tất-cả 10 hiệu trên từ “Như-lai” cho đến “Thế-Tôn”, cứ mỗi một hiệu như vậy có khi phải tu-tập đến vô-lượng A-tăng kỳ-kiếp (mới hoàn-mãn được một hiệu).

(A Tăng kỳ: Là một số rất lớn: Gồm có con số 1 đúng đầu và 29 con số không (0) theo sau nữa).

B. Kế tiếp sau đây là giải-thích về 3 chữ: Diệu sắc thân:

– Diệu Sắc: Tức là phi sắc, là không có sắc-tướng. Tức là vô-tướng (Trái với chúng-sanh trong 3 cõi là Phi diệu-sắc, tức là hữu-tướng).

– Thân:đây là thân-tướng – tức là thân có hình, có tướng.

Tất-cả chư Như-lai đều không có sắc thân – vì chư Phật trong vô-lượng kiếp đã lìa xa hẳn các loại sắc-tướng.

Nhưng vì muốn độ chúng sanh nên dù không có sắc-thân mà phải (vì chúng sanh) thị hiện ra thân sắc-tướng cùng loại để làm phương-tiện gần-gũi hầu dễ-dàng hóa-độ họ.

– Ðây gọi là tùy-thuận chúng-sanh.

KINH NIẾT-BÀN dạy:

– “Ðại-chúng cho rằng Như-lai là nhơn-loại (loài người) mà thiệt ra thời Như-lai không phải là Nhơn-loại – (Trong vô-lượng kiếp lâu xa về trước, Như-lai đã xa lìa tất-cả các hạnh của nhơn-loại rồi, nhưng vì tùy-thuận thế-gian chúng-sanh mà thị-hiện ra thân nhơn-loại)…….

LẠI DẠY NỮA RẰNG:

– Như-lai là Trời mà thiệt ra không phải là Trời vì trong vô-lượng kiếp Như-lai đã xa lìa tất-cả các hạnh của Trời – Vì muốn độ người nơi cõi Trời nên phải tùy-thuận thị-hiện ra làm thân Trời…….

Cho đến:

– Như-lai là Quỷ, là Ðịa-ngục, là Súc-sanh vv…… mà thiệt ra không phải là Quỷ, là Ðịa-ngục, là Súc-sanh, vì trong vô-lượng kiếp lâu xa về trước, Như-lai đã xa-lìa hết tất-cả các hạnh của Quỷ, của Ðịa-ngục, của Súc-sanh. Nhưng bởi vì muốn độ các loài Quỷ, Ðịa-ngục, Súc-sanh nên phải tùy-thuận thị-hiện ra thân Quỷ, Ðịa-ngục, Súc-sanh đó mà thôi……

(Ðây là một trong những thiện-xảo phương-tiện của Phật).

Lại nữa:

Sở-dĩ sắc-thân thị-hiện của Như-lai được gọi là DIỆU-SẮC bởi vì sắc thân ấy có đầy-đủ:

– 32 tướng tốt.

– 80 vẻ đẹp tùy-hình.

Nay xin giải-thích và lược sơ qua về 32 tướng tốt của Phật sau đây:

  1. Lòng bàn chân bằng-phẳng – Do hộ-trì tịnh-giới mà được.
  2. Lòng bàn chân có tướng thiên bức-luân(bánh xe có ngàn cây căm) – Do làm các nghiệp huệ-thí (bố-thí trí-huệ) mà được.
  3. Bắp chân, gót, mắt cá tròn đầy – Do chẳng khi dối chúng-sanh, mà được.
  4. Ngón tay thon dài – Do thủ-hộ chánh-pháp mà được.
  5. Giữa các ngón tay có màng lưới mỏng – Do chẳng phá chúng của người mà được.
  6. Tay chân dịu mền – Do dâng thí y-phục đẹp quí mà được.
  7. Bảy chỗ trên thân tròn đầy(2 tay, 2 chân, 2 vai, sau gáy) – Do dâng thí món ăn uống sạch ngon mà được.
  8. Bắp-vế suông đuột(vế lộc vương – nai chúa)– Do mừng nghe Phật-pháp mà được.
  9. Mã âm-tàng(Nam căn ẩn kín trong mình) – Do che dấu lỗi của người khác mà được.
  10. Ngực như ngực Sư-tử(vun cao) – Do tu pháp lành mà được.
  11. Các chỗ xương lõm đầy bằng – Do đêm pháp lành giáo-hóa chúng-sanh mà được.
  12. Cánh tay, bắp tay, cùi chỏ, suông tròn – Do cứu nạn cho những kẻ kinh-sợ mà được.
  13. Tay dài chạm gối – Do giúp đở công-việc cho người mà được.
  14. Thân thanh-tịnh – Do tu 10 nghiệp lành mà được.
  15. Các món vật thực đưa vào miệng đều trở thành nên vị cam-lồ – Do bố-thí thuốc tốt cho người bệnh mà được.
  16. Hai gò-má đầy như gò má Sư-tử – Do luôn phát-nguyện tu-hành thiện-pháp mà được.
  17. Ðầy-đủ 40 cái răng – Do dùng tâm bình-đẳng đối với chúng-sanh mà được.
  18. Răng khít kín – Do hòa-hiệp các việc tranh-tụng mà được.
  19. Các răng đều bằng(không cao không thấp)– Do bố-thí các vật trân-bửu mà được.
  20. Răng nanh trắng bóng – Do thân, khẩu, ý thanh-tịnh mà được.
  21. Lưỡi rộng dài che trùm cả mặt – Do giữ-gìn 4 lỗi ác nơi miệng mà được.
  22. Tướng tối thượng-vị(vị ngon nhứt trong tất-cả các thượng-vị) – Do thành-tựu vô-lượng công-đức mà được.
  23. Xuất-phát ra Phạm-âm thinh trong sáng – Do thường nói lời dịu-dàng mà được.
  24. Tròng mắt xanh biếc – Do tu-tập từ-tâm vô-lượng mà được.
  25. Lông nheo mắt như lông nheo ngưu-vương(trâu chúa) – Do chí-tâm cầu vô-thượng Bồ-đề mà được.
  26. Tướng bạc-hào(lông trắng giữa chặn mày) – Do tán-thán công-đức của người khác mà được.
  27. Tướng nhục-kế(giữa đỉnh-đầu thịt vun lên cao như búi tóc)– Do cung-kính cha-mẹ, sư-trưởng mà được.
  28. Toàn thân mềm-dịu – Do ưa-thích nói phpá thậm-thâm, khuyên chúng-sanh tu tam-muội và tạo-lập hình tượng Phật mà được.
  29. Thân phát ra kim-quang viên-mãn, sức-lực mạnh-mẽ như Nala diên: Do dâng thí các thứ trải gường, ghế mà được.
  30. Mỗi lỗ chân lông đều có một lông mọc – Do xa lìa các hội-họp bàn chuyện thế-gian mà được.
  31. Lông trên thân đều hướng lên trên – Do ưa thích nhận lời giáo-hóa của sư-trưởng mà được.
  32. Tóc màu vàng ròng – Do chẳng vu báng xấu ác cho người mà được.

Trên đây là 32 tướng đại trượng-phu của Phật.

Ngoài 32 tướng đại trượng-phu nầy ra, thân Phật lại có thêm được 80 vẻ đẹp tùy-hình nữa.

Vì sao gọi là “vẻ đẹp tùy hình” ?

Tức là bất-cứ cơ-quan, bộ-phận nào trong sắc-thân (thị-hiện) của PHẬT cũng đều có đầy-đủ nét đẹp, như tranh vẻ hết.

THÍ-DỤ: Như mũi của Phật có các vẻ đẹp tùy hình như sau:

– Mũi đẹp như trái mật treo.

– Sóng mũi thẳng dọc dừa.

– Hai cánh mũi phòng ra vừa phải.

– Hai lỗ mũi kín đáo.

– Toàn diện của mũi vừa phải (không dài, không ngắn, không lớn, không nhỏ).

– Nhìn bất-cứ ở góc cạnh nào (như nhìn thẳng, nhìn nghiêng, nhìn từ trên xuống, từ dưới lên. vv…….)mũi cũng đều cả.

Ðây chỉ là sơ-lược………

Ngoài ra còn những cơ-quan bộ-phận khác nữa như: Miệng, môi, mắt, trán, lỗ tai, chơn mày. vv…….

Vẻ đẹp của bất-cứ cơ-quan nào nơi sắc-thân của Phật cũng đều xinh đẹp vô-song như tranh vẻ hết cả.

Sau đây là so vẻ đẹp tùy-hình của Phật:

  1. Móng tay bầu tròn,
  2. Móng tay như màu đồng đỏ,
  3. Móng tay láng,
  4. Ngón tay tròn-trịa,
  5. Ngón tay đẹp,
  6. Ngón tay nhọn đàng đầu(mũi viết),
  7. Gân máu ẩn kín không lộ,
  8. Mắt cá chân ẩn kín không lộ,
  9. Các khớp xương đều chắc-chắn,
  10. Hai bàn chân bừng nhau như khuôn đúc,
  11. Gót chân tròn rộng-rãi,
  12. Các chỉ tay láng,
  13. Các đường chĩ trong lòng bàn tay bằng nhau,
  14. Chĩ tay sâu và rõ-ràng,
  15. Chĩ tay không cong quẹo,
  16. Chĩ tay dài đậm.
  17. Môi đỏ mộng như trái Tần-bà,
  18. Tiếng nói không làm chát chúa tai người nghe,
  19. Lưỡi mềm, mịn và đỏ,
  20. Tiếng nói êm-dịu, ngọt-ngào khiến người nghe khoan-khoái,
  21. Năm căn đầy-đủ,
  22. Cánh tay dài,
  23. Tay chân có ánh sáng chói ra trong suốt,
  24. Tay chân mịn-màng,
  25. Tay chân rộng-rãi,
  26. Tay chân không có lệch, xệ,
  27. Xương tay chân không lộ ra ngoài,
  28. Tay chân đẹp và đầy-đủ sức mạnh,
  29. Tay chân rất cân-phân đẹp-đẻ,
  30. Xương đầu gối rộng, đầy, lớn,
  31. Tay chân tròn-trịa,
  32. Tay chân sáng-láng,
  33. Tay chân đều-đặn,
  34. Rún sâu,
  35. Rún tròn đều,
  36. Các hạnh của ngài đều thanh-tịnh,
  37. Tánh dễ chịu, dễ thương mến,
  38. Quanh mình phát ra hào-quang sáng phá trừ tối-tăm,
  39. Tướng đi đằm-thắm, oai-nghiêm như voi chúa đi.
  40. Tướng đi hùng vệ, oanh-liệt như Sư-tử chúa đi,
  41. Tướng đi hiên-ngang như bò chúa,
  42. Tướng đi chững-chạc như ngỗng chúa đi,
  43. Luôn-luôn đi theo chiều thuận(kim đồng hồ),
  44. Từ hông cho chí đến bàn-tọa thì tròn trịa,
  45. Từ hông chí đến bàn-tọa sáng-láng,
  46. Từ hông chi đến bàn-tọa không nghiêng-lệch,
  47. Bụng hình như cánh cung,
  48. Thân-thể luôn-luôn sáng, sạch và quang-minh, không bao giờ hoen-ố, lấm bụi,
  49. Răng của bầu tròn,
  50. Ðầu răng cửa bén, bằng,
  51. Răng cửa đều nhau,
  52. Mũi rộng và đẹp, thẳng, kín,
  53. Ðôi mắt xanh, sáng,
  54. Ðôi mắt trong-suốt,
  55. Cặp mắt ánh ra niềm vui-vẻ, ấm-áp,
  56. Cặp mắt dài như lá rau-răm,
  57. Ðôi chân mày ngang bằng nhau,
  58. Bụng không lồi
  59. Bụng thon đẹp
  60. Ðôi chân mày đẹp,
  61. Ðôi chân mày khít nhau,
  62. Ðôi chân mày cân-phân, đều-đặn,
  63. Lông của đôi chân mày đen mịn,
  64. Hai gò má đầy đặn như má Sư-tử chúa,
  65. Hai gò má bằng nhau,
  66. Hai gò má hoàn-toàn xinh đẹp,
  67. Thấy tướng dạng ngài ai cũng đều kính-trọng, vui thích, hoan-hỷ,
  68. Ngũ quan, tâm-ý của ngài đoan-chánh và thanh-tịnh,
  69. Cơ-thể đầy-đủ, hoàn-toàn xinh-đẹp,
  70. Mặt và trán đối nhau rất cân-phân,
  71. Ðầu nở-nang, tròn-trịa,
  72. Tóc đen mướt,
  73. Tóc bằng ngọn với nhau.
  74. Tóc có hàng ngũ vén khéo,
  75. Tóc có mùi thơm,
  76. Tóc mềm, mịn, trơn mướt,
  77. Tóc không rối,
  78. Tóc rất đều,
  79. Tóc xoắn lại từng lọn nhỏ,
  80. Tóc có hình thánh-tự(chữ thánh).

Tóm lại, cái sắc-thân thị-hiện ra nơi cõi Ta-bà nầy của đức Bổn-sư Thích-CA Mâu-ni Thế-Tôn, vì có đầy-đủ 32 tướng đại trượng-phu và 80 vẻ đẹp tùy-hình (tùy hình hảo)như vậy cho nên được gọi là: Diệu sắc thân

Chính là như vậy.

GIẢI-THÍCH ÐOẠN I (tiếp)

Câu thứ hai:

Thế-gian vô dử-đẳng

(trong đời không ai bằng)

a. Trước hết giải-thích sơ qua về 2 chữ:

Thế-gian

– Thế là thời – Ðây thuộc về thời-gian, có dời-đổi, không thường-trụ (sanh, diệt).

– Gian là khoảng cách – Là giới (hạn), thuộc về xứ-sở, có phương-vị rõ-ràng.

“LĂNG-NGHIÊM KINH” dạy:

Thế có 3 loại:Quá-khứ thế, hiện-tại thế, vị-lai thế (Tam-thế).

– Gian (giới): Giới-hạn bằng 4 phương – chánh: Ðông, Tây, Nam, Bắc.

– Bốn phương phụ: Ðông-Nam, Tây-Nam, Ðông-Bắc, Tây-Bắc.

Và 2 phương trên dưới nữa là: Thượng-phương, Hạ-phương.

Còn nói về Thế-gian (tức là thế-giới) thì cộng lại có tất-cả là 10 phương thế-giới.

Có 2 loại thế-gian là:

1. Hữu-tình thế-gian:

Tức là 12 loài chúng-sanh có tình-thức, biết phân-biệt, biết vui buồn vv……

2. Vô-tình thế-gian:Còn gọi”khí thế-gian”:

Nói chung là Ðất, nước, gió, lửa. (tứ đại).

Nói riêng thì có vô-lượng món khác nhau.

Vậy Thế-gian ở đây là gồm chung cho tất-cả mọi chúng-sanh và mọi vật nằm trong vòng sanh diệt của Tam-giới (Dục, Sắc – Vô-Sắc) hay nói cách khác nữa là:

Tất-cả các sự-vật hữu-tình và vô-tình trong Ðại-thiên thế-giới của cõi Ta-bà nầy đều gọi chung bằng một tên là THẾ-GIAN cả.

Vô dử-đẳng

(không ai bằng)

Như trước vừa giải-thích – Bởi vì Phật là đấng cứu-thế có đầy-đủ:

– 10 hiệu (từ Như-lai…Phật, Thế-tôn)

– 32 tướng tốt.

– 80 vẻ đẹp tùy-hình.

– vv……..

Nên là đấng tôn quý hơn tất-cả. Thiên (trời), Nhơn (Người) không ai bằng được – Chẳng những Trời, Người là các chúng-sanh còn trong vòng sanh-tử (thế-gian) không ai bằng, mà chính ngay cả các bậc xuất thế-gian như thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cũng không ai bằng được cả.

GIẢI-THÍCH câu thứ 3:

Vô tỉ bất tư nghì.

(khó sanh ví, nghĩ bàn)

a. VÔ-TỈ: Tức là không có gì, không còn gì để mà so-sanh hay dùng để tỉ-dụ cho các vẻ đẹp nơi sắc-thân của Phật được cả – Ðây là chỉ nói riêng về sắc-thân ứng-hiện của Phật thôi – Chớ còn nói đến pháp thân thường-trú của Phật thì không thể nào diễn-tả(bất khả-thuyết) hoặc là suy-nghĩ được (bất tư-nghì) cả.

Nay hãy tạm nghe vài hàng kệ xưng-tán (ứng thân) của Phật Thích-Ca sau đây:

Xưa con từng nghe đức Thế-tôn,
Cát-tường, sắc đẹp, danh-xưng lớn.
Nay thấy oai-quang hơn chỗ nghe,
Như tượng chơn-kim đủ mọi đức.
Thân sắc Như-lai như núi vàng,
Cao rộng nghiêm-tịnh nhìn không chán.
Ðảnh tướng(1) Như-lai không ai thấy,
Cao bày rực-rõ hơn Tu-di,
Búi tóc tròn đầy tuần-tự xoắn.
Ðảnh tướng, bằng, nghiêng như lọng Trời.
Tóc xanh, mềm, mướt xoay bên hữu,
Như ngọcthanh-bửu của Ðế-Thích.
Sạch chói hơn lông cổ chim công,
Nay con chiêm-ngưỡng không biết chán.
Diện-mạo đoan-nghiêm, trán bằng-phẳng,
Mày sáng sạch như vành cung Trời.
Lông trắng(2) chặng mày chói rực-rỡ,
Ánh sáng chiếu suốt như vầng trăng.
Mắt trong diệu-hiền rất đẹp lạ,
………………………
Sống mũi cao bằng, dài và thẳng.
Lần rộng tròn-trịa như thỏi vàng,
Môi đỏ bóng sáng rất thanh-tịnh.
Như trái tần-bà, ngọc ma-ni,
Răng đẹp sạch, trắng thêm sáng bóng.
Ðồng màu sữa và ngó sen non,
Răng kín bằng-phẳng rất sạch-sáng.
Răng trong, răng ngoài chưu sâu chắc,
Trên dưới khít-khao đều tề-chỉnh.
Răng nanh sáng trắng hơn tất-cả,
Như nhạn-vương ở giữa đàn nhạn.
Tướng lưỡi của Phật rất rộng dài,
Che trùm mặt Phật như hoa sen.
Lưỡi màu đồng đỏ, châu ma-ni,
Lóng-lánh như gương, mặt trời mọc.
Vành tai của Phật rất đoan-nghiêm,
……………………….
Vô-uý(3) dường như sư-tử chúa.
Con ngắm tướng yết-hầu của Phật.
Hay nhĩ chất cam-lộ thế-gian,
Trong-sạch, sáng-suốt không vết nhơ.
………………………..
Trước cổ ngang, rộng, dài và thẳng,
Ở giữa đều không có lằn nhăn.
………………………..
Ðầu vai tròn-trịa đều đầy bằng.
Ngực, hông hùng-mãnh oai-dung thạnh,
Tướng của Thế-tôn đời chưa nghe.
Như núi trên cao mặt trời sáng,
Tay chân, hai vai và sau gáy.
Bảy chỗ sáng sạch đều đầy bằng,
Cánh tay tròn dài như vòi voi.
Bàn tay thòng xuống rờ đụng gối,
Thân mình rộng, dầy như thú-vương.
…………………………
Lông trên thân Phật đều hướng lên,
Cứ mỗi lỗ lông mọc một lông.
Bụi khói chẳng đóng như hoa sen,
Xoắn về bên hữu mà mịn, nhuyễn.
…………………………
Âm-tàng sâu như chúa ngựa trời,
Vế đùi tròn-trịa lần-lần thon.
Tướng ấy dường như chúa nai trời,
Chưu dầy nỏi vun, gót tròn đầy.
Bàn tay màng mỏng như nhạn chúa,
Bằng đầy vót dài hai mươi(4) ngón.
Móng màu đồng đỏ như hoa sen,
Hai chưu tướng vành xe ngàn căm.
Sáng sạch vi-diệu đủ trang-nghiêm,
………………………….
Hai mắt cá chân chẳng chạm nhau.
Cách đất bốn ngón, đi trên không,
Những bông sen đỏ theo chân hiện.
Ðoái nhìn an-tường, bước tượng-vương. (5)
Tiến lên đoan-túc như Thiên-vương,
Ðại-thánh đoan-nghiêm vô-sở úy. (6)
………………………….
Oai-quang hơn trăm ngàn mặt trời,
Thiên-vương, Phạm-vương còn không bằng
Có ai hơn được đức Như-lai.
………………………..
Thiên-tiên, long thần đều cung kính,

………………………..

Bất tư-nghì:

Tức là không thể nghĩ, bàn được.

Qua bài kệ tán-thán ứng-thân của đức bổn-sư ta kể trên, người Phật-tử (và không phải Phật-tử nữa)ai đọc lên xong rồi mà không phát sanh ra lòng cung-kính ư!

Chính vì như vậy cho nên thân của Phật được gọi là không ai bằng, không thể nghĩ bàn được (vô tỷ, bất tư nghì) 

Là như thế.

CÂU THỨ 4:

Ngã kim quy-mạng lễ.

(Nay con cúi đầu lạy)

– Vì có các sự không ai bằng, như vậy ……

– Vì có đầy-đủ 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp tùy-hình, như vậy ……

– Vì có hào-quang sáng chói hơn trăm ngàn mặt trời, như vậy …….

– Vì Phật như chúa chim công, như nhạn vương, như nai chúa, như sư-tử chúa, như tượng vương, như trăm ngàn mặt trời vv…… (và còn vô-lượng tỉ-dụ khác nữa …) như vậy …..

Nên nay riêng con (và tất-cả chúng-sanh trong 9 giới) (7) thảy đều cúi đầu cung kính lạy.

GIẢI-THÍCH ÐOẠN 2.

Câu thứ 1:

Như-Lai sắc vô-tận

(Sắc thân Phật vô-tận)

a. Như-Lai: Ðã có giải-thích ở trước rồi, nên ở đây xin miễn nói thêm để tỉnh-giảm bút lực.

b. Sắc:Ðây là sắc thân của PHẬT cũng vừa giải ở trước xong nên không lược lại.

c. Vô-tận: vô-tận có nghĩa là không có cùng tận, vô-lượng, vô-biên, bất khả xưng kể, (8) vv….

Vì sao Phật được 9 giới tôn-kính, tán-thán với danh xưng VÔ-TẬN ?

Bởi vì lúc còn hành-hạnh Bồ-tát, Phật đã thâm-chứng vào trong VÔ-TẬN pháp-môn, cho nên khi thành Phật rồi, tất-cả hành-môn và hành-nghiệp của Phật thảy đều đến mức vô-tận hết.

Nay hãy giải-thích sơ qua về một vài sự VÔ-TẬN (trong vô-tận môn) của Phật (đối với chúng-sanh)

1Phật đối với chúng-sanh có TÂM TỪ VÔ-TẬN.

Vì sao ?

– Vì chúng-sanh vô-tận,

– Chúng-sanh nghiệp vô-tận,

– Chúng-sanh phiền-não vô-tận,

vv……….

Nên TÂM-TỪ (tâm ban vui) của PHẬT cũng phải vô-tận. Bởi vì nếu có được “VÔ-TẬN TỪ” như thế thì mới có thể ban vui và độ khắp tất-cả chúng-sanh.

2. Phật đối với chúng-sanh có TÂM BI VÔ-TẬN.

Vì sao ?

-Vì chúng-sanh nghiệp báo VÔ-TẬN,

– Chúng-sanh thọ khổ VÔ-TẬN,

– Chúng-sanh nghiệp-lực VÔ-TẬN,

vv………

Nên TÂM-BI (Tâm cứu khổ) của PHẬT cũng phải vô-tận. Bởi vì nếu có được “VÔ-TẬN BI” như thế thì mới có thể cứu khổ và độ khắp tất-cả chúng-sanh.

3. PHẬT đối với chúng-sanh có TÂM HỶ VÔ-TẬN.

Vì sao ?

– Vì chúng-sanh tạo tội VÔ-TẬN,

– Vì chúng-sanh Tham-lam VÔ-TẬN,

– Vì chúng-sanh Sân-hận VÔ-TẬN,

– Vì chúng-sanh Si-mê VÔ-TẬN,

vv………

Nên tâm HỶ (tâm VUI tha-thứ) của PHẬT cũng phải vô-tận. Bởi vì nếu có được “HỶ VÔ-TẬN” như thế thì mới có thể tha-thứ và độ khắp cho tất-cả chúng-sanh.

4. Phật đối với chúng-sanh có TÂM XẢ VÔ-TẬN.

Vì sao ?

– Vì chúng-sanh Siểm-khúc (9) VÔ-TẬN,

– Vì chúng-sanh Gian-trá VÔ-TẬN,

– Vì chúng-sanh Tà-mạng VÔ-TẬN,.

– vv………..

Nên tâm XẢ (tâm không chấp) của PHẬT cũng phải vô-tận. Bởi vì nếu có được “XẢ VÔ-TẬN” như thế thì mới có thể tha-thứ, không chấp lấy và độ khắp cho tất-cả chúng-sanh.

Trên đây chỉ là lược sơ qua về 4 đức TỪ-BI-HỶ-XẢ VÔ-TẬN của chư PHẬT rồi (Tức là TỨ VÔ-LƯỢNG TÂM)

Kế tiếp đây xin giải-thích sơ qua về: THÂN, KHẨU, Ý VÔ-TẬN CỦA PHẬT.

5. THÂN PHẬT VÔ-TẬN:

Kinh dạy:

– “Thân PHẬT (lớn) không có ngằn mé, là vô-tận, vô-hạn, vô-ngại, không thể tưởng được, chẳng thể nghĩ bàn được, chẳng thể lường được, chẳng thể hạn-định được…… Ví như hư-không ….. không chỗ nào là chẳng khắp” ……

Vì sao mà biết được như vậy ?

Sau khi thành-đạo, Phật mới đi đến thành Ba-la-Nại để chuyển pháp-luân.

Lúc đó về phương Ðông của cõi Ta-bà nầy, cách đây rất xa, có một Phật độ tên là HOÀI-ÐIỂU, Phật ở thế-giới ấy tên là TU-DI HOA, Chí chơn Ứng, Chánh-Ðẳng giác (đầy-đủ 10 hiệu) …..

Trong thế-giới ấy có một vị Ðại Bồ-Tát tên là ỨNG-TRÌ đến cõi TA-BÀ nầy để lễ lạy, cúng-dường và cung-kính nghe pháp. Khi đến nơi rồi thì Ưng-Trì Bồ-tát lễ chân đức PHẬT, đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, (10) xong rồi ngài đứng lại ở trước Phật, một lòng chắp tay chiêm-ngưỡng ……

Khi ấy Ưng-Trì Bồ-tát mới nghĩ rằng:

– Nay tôi muốn đo biết thân lượng của đức THÍCH-CA Như-Lai cao như thế nào ?

Nghĩ vậy xong, Ưng-Trì bồ-tát liền dùng thần-thông tự biến thân mình cao 336 muôn dặm (11), nhìn lên thân đức PHẬT thấy cao 543 muôn, triệu, cai, hai muôn ức dặm (12)

Ngài tự nghĩ:

– Tôi đã được sức thần-thông tự-tại (13), vậy nay tôi hãy dùng sức thần-thông ấy để đo-lường xem thân của PHẬT THÍCH-CA cao lớn như thế nào.

Rồi nương nơi oai-đức của Phật và sức thần-thông của mình, Ưng-Trì Bồ-tát dùng “thần-túc thông” bay lên phương trên (phương Thượng) cách cõi Ta-Bà trăm ức hằng-sa sa quốc-độ, đến một thế-giới tên là LIÊN-HOA NGHIÊM, quốc-độ ấy có đức Phật tên là LIÊN-HOA THƯỢNG Như-Lai, Chí-chơn, Ứng, Chánh-đẳng giác, hiện đang thuyết-pháp.

Ưng-Trì Bồ-tát bấy-giờ dừng chân lại ở nơi cõi ấy, dùng pháp-nhãn của mình nhìn ra xa mà cũng vẫn không thấy được đỉnh đầu của đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT, chẳng thể nào biết được thân Phật cao lớn, rộng xa bao nhiêu.

Lúc ấy, Ưng-Trì Bồ-tát đến đảnh-lễ Phật LIÊN-HOA THƯỢNG, đi nhiễu quanh Phật ba vòng ,ở trứoc Phật chắp tay bạch rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, tôi từ cõi Ta-bà đến đây, chẳng rõ khoảng đường gần xa là bao nhiêu ?

Ðức Phật LIÊN-HOA THƯỢNG nói:

– Cõi Ta-bà cách đây trăm ức hằng-hà sa thế-giới. Ông từ nơi cõi ấy mà đến đây.

Ưng-Trì Bồ-tát thưa:

– Bạch đức Thế-Tôn, tôi bay lên trên đến ngần ấy số thế-giới, mà vẫn chẳng thấy được đỉnh-đầu của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni – Chẳng rõ thân của đức Phật ấy cao lớn bao nhiêu trăm, ngàn, ức hằng-hà sa thế-giới ?

Ðức Phật LIÊN-HOA THƯỢNG nói:

– Nầy Thiện-nam tử, dù ông dùng sức thần-túc, từ đây lại bay lên trên trải qua hằng-hà sa kiếp nữa vẫn chẳng còn thấy được đỉnh đầu của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, cũng chẳng biết được ngằn mé của thân Phật ấy.

Nầy Thiện-nam tử, phải biết thân Phật vô-hạn, vô-tận, vòi-vọi như vậy chẳng thể ví-dụ, chẳng thể ghi chép, chẳng thể nói được, vì như hư không không ngằn mé, thân Phật cũng như thế.

Ưng-Trì Bồ-tát nghe lời phán dạy của đức LIÊN-HOA THƯỢNG Như-lai như vậy rồi, rất đổi vui mừng, được điều chưa từng có, liền lễ chân Phật, đi nhiễu bảy vòng, đoạn nương nơi oai đức của Phật và thần-lực của mình, trong khoảng một niệm biến mất nơi thế-giới Liên-Hoa Nghiêm kia mà hiện ra nơi cõi TA-BÀ nầy, qua đến chỗ đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT, đảnh-lễ chân Phật, đi nhiễu bảy vòng, rồi đứng trước Phật, chắp tay, cung-kính nói kệ ca-ngợi rằng:

——————————

Muốn biết rõ thân Phật
Ngằn mé là đường bao,
——————————
Muốn thấy đỉnh-đầu Phật,
Tôi bay lên phương trên.
Ðến thế-giới Liên-Hoa,
Vẫn chẳng thấy được đỉnh.
Thế-giới kia có Phật,
Hiệu là LIÊN-HOA THƯỢNG.
Biết ý muốn của tôi,
Nên vì tôi giảng nói:
——————————
Muốn xem đỉnh-đầu Phật,
Ðồng như xem hư-không.
Như hư-không trùm khắp,
Thân Phật khắp cũng vậy.

——————————

Do vì như thế cho nên trong bài kệ nói:

– “Sắc thân PHẬT VÔ-TẬN” đồng như hư-không (vô-tận) vậy, Chính là như thế.

Trên đây đã nói về Thân Phật vô-tận rồi. Kế đây lại nói tiếp về khẩu của Phật.

B. KHẨU (ngôn) PHẬT VÔ-TẬN:

Sao gọi là khẩu (ngôn) của PHẬT VÔ-TẬN ?

– Khẩu ngôn tức là âm-thanh, tiếng nói được tuyên-thuyết ra từ nơi kim-khẩu của Phật.

– Từ nơi kim-khẩu (14) của đức Như-Lai tuyên phát ra một âm-thanh giáo-hóa, mà tất-cả các loài chúng-sanh đều nghe, hiểu theo đúng như ngôn-ngữ của mình và ai nấy cũng đều cho rằng: – “Nay đức Như-lai đại từ-bi, riêng vì một mình tôi mà thuyết pháp” ……

Một chúng-sanh nghe, hiểu và nghĩ như vậy.

Vô-lượng trăm, ngàn, muôn, ức các loại chúng-sanh cũng đều nghe, hiểu và nghĩ y như vậy.

Vì thế nên âm thanh và tiếng nói của Phật được gọi là tiếng “VIÊN-ÂM”.

Âm-thanh ấy vang ra không ngằn mé, vô-tận, vô-biên …. đến tất-cả quốc-độ ở khắp mười phương ….

KINH DẠY:

– ” … Ta xem khắp cả trên Trời và tất-cả các thế-gian, những hàng Ma-Vương, Phạm-Thiên, Ðế-thích, Sa-môn, Phạm-chí, chư Thiên và nhơn-dân. v.v…. không ai có thể đo-lường, hạn-định được âm-thanh, văn-từ của đức Như-lai tuyên nói ra được cả.”

Tại sao như vậy ?

KINH DẠY:

– ” lúc ấy đức Thích-Ca Mâu-ni Thế-tôn ở tại núi Linh-Thứu, trong pháp-hội “TRÀNG TỊNH-ÂM” do đức Di-Lặc Bồ-Tát kiến-lập, rộng vì các hàng tứ-chúng mà ban-bố pháp-âm.

Bấy-giờ ngài Ðại Mục Kiền-liên mới nghĩ rằng:

– Tôi muốn thử biết coi âm-thanh của đức Như-lai vang ra xa rộng đến bao-nhiêu ?

Liền khi đó ngài Ðại Mục Kiền-Liên dùng sức thần-túc thông của mình từ nơi chỗ ngồi bỗng-nhiên biến mất.

Ngài hiện ra đứng trên đỉnh núi Tu-Di mà vẫn nghe âm-thanh của đức đức Như-lai như ở sát bên tai, như gần trước mắt.

Ngài lại dùng thần-lực bay đi đến cuối mé ngoài Tam-thiên Ðại Thiên thế-giới, đứng trên chóp đỉnh của núi Ðại Thiết-Vi tột mé ngoài cùng của cõi Ta-Bà mà cũng vẫn còn nghe tiếng nói của Phật Thích-Ca Mâu-Ni ở sát bên tai như cũ không khác, vẫn như gần bên chớ chẳng phải xa.

Khi ấy, đức Như-Lai biết ông Ðại-Mục-Kiền-Liên muốn thử âm-thanh thanh-tịnh của Phật, nên ngài ngầm ám-trợ thêm sức thần-túc thông cho ngài Ðại Mục-Kiền-Liên (mà ngài Mục-Liên không biết).

Bấy-giờ ngài Ðại Mục-Kiền-Liên nương nơi oai-thần của đức Như-lai, dùng sức thần-túc của mình bay về phương Tây, xa đến khỏi chín mươi chín hằng-hà sa thế-giới của chư Phật, hạ chân đáp xuống một thế-giới tên là QUANG-MINH PHAN, thế-giới ấy có đức Phật tên là QUANG-MINH VƯƠNG Như-lai chí-chơn, vô-thượng, chánh-đẳng, chánh-giác, hiện đang thuyết-pháp.

Ngài Ðại Mục-Kiền-Liên đến nơi thế-giới ấy rồi mà vẫn còn nghe âm-thanh của đức Thích-Ca Như-lai Thế-tôn như tiếng nói của người đối-diện.

Nơi cõi nầy, đức Phật Quang-Minh Vương thân cao bốn mươi dặm, chư Bồ-Tát, thánh-chúng thân cao hai mươi dặm, bát đựng đồ ăn cao đến một dặm. Lúc ấy ngài Ðại Mục-Kiền-Liên đi vòng quanh trên miệng chén của một vị tăng (mà không biết).

Vị Bồ-Tát ấy bạch lên đức Phật Quang-Minh Vương rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, có một con trùng nhỏ xíu không biết từ đâu mà đến, mình nó mặc áo Sa-môn (15) đang đi vòng quanh trên miệng bình bát của con ?

Ðức Quang-Minh Vương Như-Lai mới bảo cùng với chư Bồ-tát cõi ấy rằng:

– Các Thiện-nam tử, cẩn thận chớ sanh lòng khinh-mạn nơi hiền-giả ấy. Ngài tên Ðại-Mục Kiền-Liên, là một vị Ðại đệ-tử thần-thông bậc nhất trong hàng Thanh-Văn tại pháp-hội của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni ở Ta-Bà thế-giới.

Nói đoạn, đức Quang-Minh Vương Phật bảo ngài Ðại-Mục Kiền-Liên:

– “Chư Bồ-Tát và Thanh-Văn ở cõi nước ta thấy thân ông nhỏ thấp nên có ý kinh-mạn. Vậy ông nên nương nơi oai-đức của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và tự hiển thần thông của mình đi.

Ngài Ðại-Mục Kiền-Liên liền rời vành bát, đến trước đức Phật Quang-Minh Vương đảnh-lễ nơi chân đức Phật, đi nhiễu bảy vòng, xong rồi thưa rằng:

– Bạch đức Thế-Tôn, nay tôi muốn thân nầy ngồi kiết-già tại đây được chăng ?

Ðức Phật đáp:

– Tùy-ý ông muốn.

Ngài Ðại-Mục Kiền-Liên liền bay vọt lên hư không cao trăm ức trượng, biến-hóa ra một chiếc gường báu rồi tự ngồi kiết-già trên gường đó.

Từ nơi gường báu ấy rủ thòng xuống trăm, ngàn, triệu xâu chuỗi bửu-châu, mỗi viên bửu-châu trên xâu chuỗi phóng ra trăm, ngàn, triệu tia sáng. Mỗi tia sáng đều có hoa sen báu. Trên tất-cả hoa sen báu đều có hóa thân của Phật Thích-Ca Mâu-Ni ngồi tuyên-thuyết pháp-âm thanh-tịnh đồng như chánh-thân của ngài nơi cõi Ta-bà không khác.

Hiện thần-thông xong, ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên trở lại trước đức Phật Quang-Minh Vương.

Chư Bồ-tát nơi cõi ấy thấy được điều chưa từng có, vô cùng hoan-hỷ bạch đức Phật rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, ngài Ðại-Mục Kiền-Liên đây do duyên-sự chi mà đến thế-giới Quang-Minh Phan nầy ?

Ðức Phật nói với chư Bồ-tát bên cõi ấy rằng:

– Vì muốn thử biết âm thanh vang của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật xa được bao nhiêu nên ông ấy bay đến đây.

Nói xong đức Phật Quang-Minh Vương bảo cùng ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên rằng:

– Ông chẳng nên thử âm-thanh vang của đức Như-lai chí-chơn, ứng-cúng, chánh-đẳng giác, bởi vì âm-thanh vang của Như-Lai vô-hạn, vô-tận, vô biên-tế, không có xa gần, mà ông muốn biết chừng-hạn thì rất sai-lầm.

Dầu cho ông có dùng sức thần-túc đi qua phương Tây mãi-mãi không ngừng qua hằng-hà sa kiếp-số đi nữa, cũng chẳng bao giờ biết được chừng hạn âm-thanh vang của Như-Lai được cả.

Âm-thanh vang của chư Phật Thế-tôn rộng xa, siêu-tuyệt, vô-lượng, vô-biên chẳng gì ví-dụ, so-sanh được cả, đồng đẳng với hư-không.

Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên sụp lạy, sám-hối mà bạch rằng:

– Bạch đức thế-tôn đúng vậy.

Tôi thật là kém sáng-suốt, âm-thanh vang của Phật vô-lượng mà tôi lại ngang-bướng sanh lòng muốn biết chừng-hạn xa gần !

Bấy giờ đức Phật Quang-Minh Vương bảo ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên rằng:

– Ông đi quá xa, vượt khỏi chín mươi chín hằng-hà sa cõi Phật mà đến nơi nầy.

Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên thưa rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, rất xa, rất xa – Nay thân tôi quá nhọc-mệt chẳng thể nào trở về được.

Ðức Phật bảo:

– Ý ông nghĩ thế nào ! Phải chăng ông tự dùng thần-lực của riêng mình mà đến được đây ư ? Ông chớ quan-niệm như vậy – Phải biết đó là do nơi oai thần-lực của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni tá-trợ nên ông mới có thể đến đây được. Vậy ông hãy hướng về cõi Ta-Bà đảnh-lễ đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, oai-thần của đức Phật đó sẽ đem ông về lại bổn-quốc.

Giả-sử ông tự dùng thần-lực cá-nhân để đi thì dầu cho ông có đi suốt đến một kiếp nữa cũng về không đến. Lúc ông về đến rồi sẽ không còn kịp thấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật nhập Niết-bàn.

Ông nghĩ thế nào ! có phải ông muốn biết từ hướng nào để trở về chăng ? Bổn-quốc Ta-Bà nằm ở hướng nào chăng ?

Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên thưa:

– Bạch đức Thế-tôn, tôi mù-mịt và quên mất phương-hưóng, nay thiệt chẳng biết bổn quốc ở nơi nào, hướng nào !

Ðức Quang-Minh Vương Như-Lai dạy :

– Ðức Thích-Ca Mâu-Ni Phật ở về hướng đông của cõi nầy.

Liền lúc ấy, Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên hướng về phương Ðông, vói tay kính-lễ đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, rồi quỳ dài, chắp tay nói kệ rằng:

Ðấng tôn-quý của Trời-người,
Oai đức vọi cao rất lớn.
Nhơn, Thiên thảy đều cung kính,
Xin rủ lòng thương-xót tôi.
Âm-thanh vang Phật vô-lượng,
Trí-Huệ Phật không ngằn mé.
Xin hiển-hiện cõi Ta-bà,
Tôi muốn về nơi bổn-quốc.

Lúc ấy, tại núi Linh-thứu, các ngài Xá-Lợi-Phất và chúng hội vv….. nghe tiếng xướng kệ của ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên đều rất ngạc-nhiên …..

Ngài A-Nan bước lên, bạch đức Phật rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, ai tuyên kệ quy-lễ đức Thế-tôn như vậy?

Ðức Phật nói:

– Nầy A-Nan, đó là Ðại-Mục-Kiền-Liên ở tại thế-giới Quang-Minh Phan, của đức Phật Quang-Minh Vương Như-Lai, Ứng, Chánh-đẳng giác, cách cõi nầy chín mươi chín hằng-hà sa thế-giới về phương Tây. Ông ấy muốn trở về đây, nên tuyên-kệ kính-lễ.

Ngài A-Nan lại hỏi:

– Bạch đức thế-tôn, duyên cớ chi mà ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên đến thế-giới Quang-Minh Phan ấy ?

Ðức Phật nói:

– Nầy A-Nan, chờ Ðại-Mục-Kiền-Liên về tới, ông sẽ hỏi ý ấy.

Ðại-chúng đều bạch đức Phật:

– Bạch đức Thế-tôn, chúng tôi mong-muốn được thấy thế-giới Quang-Minh Phan và đức Quang-Minh Vương Như-Lai, Ứng, Chánh-đẳng giác, cũng muốn thấy Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên đi nơi cõi ấy.

Ðức Phật biết lòng khao-khát của chúng-hội, liền từ tướng bạch-hào giữa chặn mày, phóng ra tia sáng lớn tên là “Câu-Thọ”, chiếu suốt qua 99 hằng-hà sa thế-giới đến cõi Quang-Minh Phan – Chúng hội thảy đều thấy rõ thế-giới Quang-Minh Phan và đức Quang-Minh Vương Phật.

Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên thấy tia-sáng của đức Phật chiếu đến liền gieo mình xuống đất kính-lễ.

Ðức Thích-Ca Mâu-Ni vói bảo ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên hãy nương theo tia-sáng ấy để trở về cõi Ta-bà.

Ngài Ðại-Mục-Kiền-Liên liền nương theo tia-sáng của đức Phật, trong khoảng thời-gian có duỗi cánh tay liền về đến núi Linh-Thứu, đảnh-lễ đức Phật, đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, rồi qùy dài chắp tay, ăn-năn tự trách rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, tôi tự mê-lầm – Âm thanh vang của đức Như-lai chẳng thể hạn-lượng mà tôi lại muốn thử, tôi đi mãi quá xa, đến đâu cũng vẫn nghe âm-thanh vang của đức Như-lai y như ở gần bên không khác.

Âm-thanh vang của đức Như-lai thiệt là vòi-vọi cao xa, không ngằn, không mé.

Ðức Phật phán rằng:

– Ðúng như lời ông nói, thanh-âm của đức như-lai vang suốt đến xa không thể lấy gì để ví-dụ được – Muốn biết âm-thanh vang của đức Như-lai vang đến xa gần, cũng như là đo hư-không để mà muốn biết ngằn mé vậy.

Như hư-không cùng khắp vô-biên, khẩu âm của đức Như-Lai vang-suốt đến không cùng ngằn mé” ……..

Lại nữa ……

Chư Như-lai do bất tư-nghị phước tích-tập từ vô-lượng đời nên cảm được quả báo âm-thanh có vô-lượng tướng khác nhau.

Như là:

– Âm-thanh hiền-từ, hòa-dịu.

– Âm-thanh làm cho người nghe vừa ý, đẹp lòng.

– Âm-thanh làm cho người nghe được an-vui, hòa-dịu,

– Âm-thanh làm hco người nghe tâm được thanh-tịnh.

– Âm-thanh làm cho người nghe tâm được ly-cấu (xa rời phiền-não).

– Âm-thanh làm cho người nghe tâm được hỷ-lạc …..

—————————

– Âm-thanh làm cho người nghe được hớn-hở, vui-mừng,

– Âm-thanh làm cho chúng-sanh thành-tựu được tất-cả sự-tướng vi-diệu vv……

Âm-thanh của đức Như-lai có được đầy-đủ những công-đức thù-thắng như vậy và còn có thêm vô-lượng, vô-biên công-đức âm-thanh trang-nghiêm khác nữa.

Và những công-đức âm-thanh trang-nghiêm ấy được gọi bằng một tên là:

” NHƯ-LAI KHẨU-NGÔN VÔ-TẬN CÔNG-ÐỨC” vậy.

Trên đây đã giải-thích sơ-lượt về khẩu-ngôn và âm-thanh vang VÔ-TẬN cảu đức Như-lai rồi.

Kế tiếp đây sẽ lược qua về Ý VÔ-TẬN của Phật.

C. Ý VÔ-TẬN CỦA PHẬT.

Ý đây là Ý-THỨC – Tức là cái THỨC TÂM phân biệt.

Ý thức vô-hình nên không thuộc về SẮC, đúng lý ra nơi đây không có phần giải-thích về ý nầy, nhưng vì thuận theo thế-pháp vẫn thường nói có: THÂN, KHẨU, Ý. Ba căn nầy vẫn luôn đi cặp với nhau, nên bút giả cũng tùy-thuận giải-thích thêm để cho chư hiền học Phật được rộng thêm kiến-giải.

Trước hết người học Phật lý phải hiểu rằng:

– Ở nơi Phật không bao-giờ òcn có TÂM-THỨC Phân-biệt như các chúng-sanh (trong 6 giới Phàm và 3 giới Thánh)nữa. Mà tất-cả Tâm Thức của Phật đã chuyển ra thành TRÍ hết rồi.

Trong kinh gọi là “Ðoạn hoặc, chuyển Trí”.

Sự “đoạn hoặc, chuyển trí” ấy được xếp theo thứ-tự sau đây:

1. Khi chứng được thánh-quả từ A-LA-HÁN trở lên rồi thì 5 thức: Nhãn thức, Nhỉ thức, Tỷ thức, Thiệt thức – chuyển ra thành Hậu đắc trí (16).

– Ðến khi thành PHẬT rồi thì:

Năm thức NHÃN, NHỈ , TỶ, THIỆT, THÂN nầy chuyển thành trí-huệ, tên gọi là: “THÀNH SỞ TÁC-TRÍ” có công-năng hóa-hiện ỨNG HÓA THÂN, giáo-hóa cho chúng-sanh dứt khỏi sanh-tử.

– Ý THỨC thì chuyển ra thành: “DIỆU QUÁN SÁT TRÍ”.

Trí nầy có công-năng soi thấu hết tất-cả căn-cơ của chúng-sanh để tùy theo cao, thấp mà dùng phương-tiện thích ứng thuyết-pháp hóa-độ.

– MẠT-NA THỨC (khi đạt đến quả-vị sơ-địa – tức là Hoan-hỷ địa)thì chuyển ra thành:

– ” BÌNH ÐẲNG TÁNH-TRÍ”. Ðến Bát-đại (Bất động-địa) trở lên đến Ðẳng-giác Bồ-tát thì trí nầy được gọi là “VÔ CÔNG-DỤNG HẠNH”. Khi thành Phật thì trí nầy có công-năng hiện ra thân “THA THỌ DỤNG” để giáo-hóa hàng Thập địa Bồ-tát (Pháp vân địa).

– A LẠI DA THỨC: Khi chứng quả-vị Bồ-tát Bát địa (tức là Bất động-địa) thì thức nầy chuyển thành tên là “DỊ-THỤC THỨC”. Còn gọi thêm bằng một tên khác nữa là “BẠCH-TỊNH THỨC” – Tức là đã hoàn-toàn dứt hết tất-cả các chủng-tử Hữu-lậu nên nó còn có thêm một tên nữa là “VÔ CẤU THỨC” – Bấy giờ chỉ còn thuần là chủng-tử VÔ-LẬU thanh-tịnh mà thôi.

Ðến khi thành PHẬT thì VÔ-CẤU THỨC nầy chuyển ra thành ÐẠI TRÍ-HUỆ có tên là:

“ÐẠI-VIÊN CẢNH-TRÍ”

Trí nầy có công-năng soi sáng hết tất-cả bất khả thuyết, bất khả-thuyết vi-trần số thế-giới khắp ở 10 phương.

Giải-thích câu thứ 2:

Trí-huệ diệc phục nhiên.

(Trí-huệ cũng như thế)

A. Sao gọi là TRÍ:

Như trên vừa nói TRÍ-HUỆ của PHẬT đây là do THỨC chuyển thành – TRÍ-huệ nầy gọi nôm-na bằng một tên cho dễ hiểu là:

“TRÍ-HUỆ BA-LA-MẬT”

Một độ cao nhất trong 6 độ Ba-la-mật (Bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định, Trí-huệ)– Các Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cũng có Trí-huệ – Nhất là ở nơi các bậc đại Bồ-tát thì trí-huệ của các ngài vô-cùng thắng-diệu, nhưng vẫn không thể nào bằng PHẬT được.

Trí-huệ của PHẬT gọi là:

“VÔ-NGẠI ÐẠI-TRÍ BẤT TƯ-NGHỊ”

Kinh dạy:

Bấy giờ Xá-Lợi-Phất bạch Phật rằng:

– Bạch đức Thế-tôn, trí Bất tư-nghị của Như-lai có phải rời THỨC mà chuyển chăng ?

Phật đáp:

– Không phải.

Ngài Xá-Lợi-Phất thưa:

– Bạch đức Thế-tôn, vậy thế nào là THỨC, thế nào là TRÍ !

Phật phán dạy:

– Nầy Xá-Lợi-Phất, vì THỨC cần có 4 nơi để y-trụ. Ðó là trụ nơi SẮC, trụ nơi THỌ, trụ nơi TƯỞNG, trụ nơi HÀNH, do đó mà sanh ra ưa-thích SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH càng ngày càng thêm lớn, chắc, vững mạnh.

Do đó nên mới gọi là THỨC.

A/- Còn sao gọi là TRÍ ?

Ðược gọ là TRÍ:

  1. Vì nó chẳng Trụ trong 5 uẩn SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC mà lại còn tỏ-thấu được các hành-tướng của THỨC nữa.
  2. Vì nó chẳng Trụ trong bốn đại: Ðất, nước, gió, lửa…..
  3. Vì nó là nơi trong(nội), tịch-tịnh, chớ chẳng có đi nơi ngoài (ngoại).
  4. Vì nó chẳng sanh ra phân-biệt ở nơi mọi pháp.
  5. Vì nó chẳng nắm lấy, chẳng sở-duyên, chẳng có chỗ rõ biết, chẳng có phân-biệt.
  6. Vì nó rõ được pháp vô-vi.
  7. Vì nó không sanh, không diệt.

Bởi vì có các điều đó (từ 1 đến 7)như vậy. Cho nên nó mới được:

“GỌI LÀ TRÍ”

và đây là: Ðại-trí BẤT TƯ-NGHÌ của PHẬT (đứng hàng thức ba trong 10 pháp Bất tư-nghị của PHẬT).

B/- Sao gọi là THỨC ?

  1. Vì nó hay rõ biết bốn đại ÐỊA, THỦY, HỎA, PHONG.
  2. Vì nó rõ biết được:

– Sắc của nhãn (sắc của mắt)

– Thanh của nhĩ (âm-thanh của tai).

– Hương của tỷ (hương của mũi).

– Vị của thiệt (vị của lưỡi).

– Xúc của thân (va chạm của thân).

– Pháp của ý (pháp của ý).

  1. Vì nó duyên theo các cảnh-giới mà sanh, mà có.
  2. Vì nó duyên theo tác-ý mà sanh, mà có.
  3. Vì nó duyên theo phân-biệt mà snah, mà có.
  4. Vì nó trụ ở nơi pháp hữu-vi.
  5. Vì nó trụ ở nơi sanh-diệt.

Bởi vì có các điều đó (từ 1 đến 7) như vậy. Cho nên nó mới được:

GỌI là THỨC

Hễ có có Thức thì có có thân Danh-Sắc vv…. mà còn có thân danh sắc thì nhất-định là phải còn bị SANH, LÃO, BỆNH, TỬ, ƯU, BI, KHỔ-NÃO, còn luân-hồi trong 3 cõi, sau đường …….

Trên đây, bút-giả đã phân-biệt ra thế nào là TRÍ, thế nào là THỨC rồi.

Kế đây xin hiển-bày ra một vài ví-dụ về đại-trí BẤT TƯ-NGHỊ của PHẬT.

KINH DẠY:

– “Nầy Xá-Lợi-Phất, Ðức Như-lai vì phát-sanh tín-tâm, nên y-cứ vào nơi trí “Bát-Nhã Ba la mật đa” mà nói ví-dụ. Người có trí-huệ do nơi thí-dụ nầy mà rõ biết được (ý-nghĩa):

– Nầy Xá-Lợi-Phất, giả-sử như có người đem tất-cả cây cối, gốc, rễ, thân, nhánh, lá, bông, trái, của những thế-giớinhiều bằng số cát sông hằng, chất lại thành một đống lớn, rồi đốt cháy ra thành than đen.

Ðoạn đem tất-cả số than đen ấy đổ vào trong biển của hằng-hà sa số thế-giới, rồi sau đó trăm-ngàn năm mới đem mài hết tất-cả số than đen ấy ra thành mực.

Nầy Xá-Lợi-Phất,

Với trí thấy, biết vô-ngại được thành-tựu chẳng thể nghĩ bàn của Như-Lai, khi lấy lên một giọt mực đó, Như-lai biết rõ-ràng giọt mực đó của hoặc là do rễ, do gốc, do thân, do nhánh, do lá, do bông, do trái, của loại cây nào, ở trong thế-giới nào vv…. mà thành nên.

Bởi đức Như-lai có sức CHÁNH BIẾN TRI (17), có sức đại thần-thông, đại oai-đức, đại tông-thế…. như vậy. Thế nên nếu có Thiện nam-tử, Thiện nữ-nhơn nào đối với TRÍ biết rộng-lớn của Như-Lai mà sanh lòng thanh-tịnh, tin-nhận, ái-kính đối với PHẬT, thì căn-lành của kẻ đó lớn không có ngằn-mé, mãi-mãi đến lúc hết tất-cả khổ tế (18) (của mình rồi)mà căn lành ấy vẫn chẳng hư-hoại.

Nầy Xá-Lợi-Phất,

Nay ta lại vì ông mà nói thêm ví-dụ nữa. Ông hãy chí-tâm nghe, hiểu, thọ-trì…. Người có trí-huệ sẽ do nơi thí-dụ đây mà hiểu được nghĩa:

– Như có người sống lâu trăm tuổi, người nầy mới lấy một con dao cực-kỳ sắc bén, chẻ chót đầu của một sợi lông ra làm 150 phần nhỏ khác. Rồi lấy một phần nhỏ (của 150 phần vừa chẻ ra)đó, thấm một giọt nước đem đến nơi ta mà nói rằng:

– Xin gởi giọt nước nầy cho ngài giữ dùm. Sau nầy nếu tôi có việc cần dùng đến, thì xin ngài trả lại cho tôi.

Ðức Như-lai nhận lấy giọt nước ấy, rồi đem để vào trong sông Hằng, nước sông Hằng hòa-lẫn, cùng giọt nước ấy chảy ra ngoài biển lớn….

Sau đó 100 năm, người ấy đến xin ta trả lại cho y giọt nước đã gởi đó.

Nầy Xá-Lợi-Phất,

Với TRÍ thấy, biết VÔ-NGẠI được thành-tựu chẳng thể nghĩ-bàn của Như-lai, ta nhìn thấy, biết được giọt nước ấy nằm ở nơi nào trong đạ-hải, nên ta bèn lấy một phần nhỏ của sợi lông đã được chẻ kia ra (1/150) đến nơi biển lớn, chấm giọt nước ấy lên và trao-trả lại cho người gởi đó.

Nầy Xá-Lợi-Phất! Ví-dụ ấy có nghĩa là gì ?

– Ðó là nếu có chúng-sanh nào đem một chút căn lành nhỏ như giọt nước (nơi đầu lông đã chẻ kia – tức là giọt nước nầy chỉ nhỏ bằng 1 phần 150 của một giọt nước thông-thường) gởi vào trong tay Phước-điền của Như-lai, thì phước ấy còn mãi-mãi không bao-giờ mất được.

Như vậy, nầy Xá-Lợi-Phất,

Nếu có Thiện-nam-tử, thiện-nữ nhơn nào đối với đại-trí bất tư-nghì của đức Như-lai mà sanh lòng thanh-tịnh, tin nhận, ái-kính…. lại còn đem nhiều thứ cúng-dường như hoa đẹp vv… dâng, rải cúng-dường lên PHẬT.

Nầy Xá-Lợi-Phất, nay ta nói: – Căn lành của người đó không ai lường biết được ngằn mé, kẻ đó mau dứt hết khổ-tế, và đến khi hết được tất-cả các khổ tế rồi mà căn lành ấy còn, mãi-mãi chẳng bao giờ hư-hoại, luống mất……

Do vì TRÍ-HUỆ của đức Như-lai như vậy, nên được gọi là:

“TRÍ-HUỆ VÔ CÙNG TẬN”

Và tất-cả chúng con đồng nhau cúi đầu đảnh-lễ, tin-nhận, cung-kính vâng-thờ…..

Giải-thích câu thứ 3:

Nhứt-thiết pháp thường-trú

(Tất-cả pháp thường-trú)

Sao gọi là Nhứt-thiết ?

– Hai chữ Nhứt-thiết đây: – Có nghĩa là tất-cả.

Còn sao gọi là Pháp ?

– Ðại đa số các Phật-tử đều thuần nghĩ rằng: – Pháp tức là những lời dạy của Phật, được ngài thuyết ra trong suốt 49 năm hóa-đạo.

Nghĩ như thế cũng đúng được một phần nào, nhưng chưa được trọn đủ. Xin hãy tạm nghe lời giải-thích sau đây.

KINH DẠY:

– “Phật cáo A-Nan:

… Thế gian hư không, thủy, lục, phi-hành, chư sở vật-tượng, danh vi nhứt-thiết (pháp)

Nghĩa là:

– “Phàm ở trong đời nầy, khắp cõi hư không, những loài dưới nước, loài trên đất, dướt đất, loài bay, loài chạy, loài hữu-tình, vô-tình… bao nhiêu vật-tượng hết thảy, đều gọi là TẤT-CẢ PHÁP (Nhứt-thiết pháp).

Pháp đây có 2 loại:

1. Ngoại pháp: Tức là những vật thể nào mà nó có hình-tướng, lớn như Sơn-hà, đại-địa… nhỏ như ruồi, muỗi, hột cát, sợi lông vv… Tóm lại, những cái gì mà có hình tướng thấy được – Thì gọi là ngoại pháp hay SẮC PHÁP.

2. Nội pháp:Tức là những cái vô-hình, vô-tướng, không thể thấy được, nhưng trong tâm vẫn cảm nhận và biết là có. – Như: buồn, vui, sướng, khổ, tham, giận, si-mê, oán-thù, thương-ghét, phải, quấy, thấp, cao vv…

Ðây là những pháp thuộc về TÂM-TƯỚNG (tướng dạng của TÂM). Trong ngũ-uẩn thì nó chính là các tướng-dạng của THỌ, TƯỞNG, HÀNH và THỨC.

Lại còn có 2 loại pháp nữa là:

1. Pháp Hữu-vi: Hữu-vi là có hình-tướng. Ðây là các pháp thuộc về Hữu-tình chúng-sanh và còn hệ-thuộc vào trong 3 cõi sanh-tử.

2. Pháp vô-vi: Vô-vi là không có hình-tướng – đây là các pháp vô-tướng, căn-bản của các bậc hiền thánh đã giải thoát ra ngoài 3 cõi – Dứt được các sanh, tử, hệ-phược(trói buộc).

Còn sao gọi là THƯỜNG-TRÚ ? :

Thường-trú tức là còn hoài, là bất-biến – Mà hễ còn hoài … như vậy thì nó phải là vô-sanh, vô-diệt, không có tướng-dạng. Nó cũng không phải là ngoại-pháp hay nội-pháp, mà cũng chẳng phải là hữu-vi, hay vô-vi gì cả. ÐẾN thì nó không có chỗ TỚI, ÐI thì nó chẳng có chỗ VỀ. Trong kinh gọi là VÔ SỞ-TRỤ (Tức là không có nơi, chỗ nào nhứt định cả).

Ðể cho dễ hiểu, nay bút giả – người chú thích tôi – xin đơn-cử ra một thí-dụ:

– Chẳng hạn như cái pháp SÂN (giận), thì:

– Người học, hiểu đạo Phật phải quán-sát cái SÂN PHÁP nầy như thế nào ?

Phải tuần-tự quán-sát nó như thế nầy:

1. Trước khi mình chưa nổi SÂN lên thì trong Tâm của mình hoàn-toàn thanh-tịnh, trống trơn, không cảm-nhận có một chút tình-cảm gì khác hết. Nghĩa-là lúc đó nó trống vắng dường như hư-không.

2. Ðến khi có nhơn-duyên bên ngoài đưa đến(như là bị người nói xấu, ủy-nhục, chọ giận vv…), thì cái SÂN ấy tự-nhiên khởi lên liền – ngay chính tại trong TÂM mình.

3. Ðến khi mình nguôi giận rồi, thì cái SÂN ấy nó tự-động biến đi đâu mất biệt!

Như vậy thì kết-luận (về cái SÂN pháp) nầy theo thứ-tự như sau:

1. Cái SÂN(pháp) ấy NÓ không có tự-thể(19) (tức là không có ngã).

2. NÓ chỉ do nhân-duyên đưa đến rồi hòa hiệp nhau mà sanh ra thôi.

3. NÓ không phải từ nơi phương(trời) nào mà đến (không có chỗ ÐẾN)

4. Khi NÓ bị diệt rồi thì NÓ cũng chẳng đi VỀ nơi phương(trời) nào cả (không có chỗ VỀ).

5. Và như vậy thì rõ-ràng là NÓ từ nơi TÂM của mình mà SANH ra, rồi DIỆT thì cũng ngay chính trong TÂM của mình mà DIỆT.

6. Khi NÓ đã DIỆT rồi thì là NÓ mất hẳn. Cho đến khi bị nhân-duyên nào khác đưa đến nữa, thì lại có cái SÂN khác hiện ra – Ðiều nên nhớ là cái “SÂN PHÁP” trước không phải là cái “SÂN PHÁP” sau – Hai cái “SÂN PHÁP” trước và sau nầy hoàn-toàn không có liên-hệ, thấy biết gì với nhau hết, nó không có hẹn-hò nhau SANH khởi hay là tiêu DIỆT gì cả, chẳng hạn như là:

– Nè: Ta sanh trước rồi, một chút xíu nữa hay là mai mốt gì đó, ngươi sẽ sanh ra sau (nghe).

– Nè: Ta diệt trước rồi ngươi sẽ diệt sau (nghe).

– Nè: Sau khi bị DIỆT rồi, ta và ngươi hẹn sẽ gặp nhau tại vài ba nơi nào đó trong mười phương hư không (nghe) vv…

Mà chính thiệt là:

– Cái “SÂN PHÁP” trước không biết, không thấy cái “SÂN PHÁP” sau.

– Chúng-nó cũng không có bao giờ hẹn-hò nhau SANH hay DIỆT trước, sau gì hết cả.

– Chúng-nó cũng không có bao giờ hẹn-hò gặp lại nhau cả (không-tịch) vv…

Như cái “SÂN PHÁP” ấy được QUÁN như vậy. Thì tất-cả các pháp khác như là: Buồn, vui, sướng, khổ, thương, ghét, phải, quấy, thấp, cao vv… cũng phải nên Quán như vậy.

– Quán được như thế thì gọi là CHÁNH-QUÁN. Trái lại thì gọi là TÀ-QUÁN.

Ngay trong khi Quán biết được như thế, hiểu được như thế, ngộ được như thế, chứng được như thế, thì:

– LẬP TỨC CHỨNG ÐƯỢC “VÔ-SANH PHÁP-NHẪN” của Bồ-tát vị.

Cho nên kết lại (về tất-cả các pháp) như sau:

1. Tất-cả các pháp từ nơi TÂM (mình) SANH RA và khi DIỆT rồi thì cũng diệt ngay ở TÂM (mình) – Sanh ra ở nơi nào, thì diệt ngay ở nơi đó.

Và như vậy thì:

NGOÀI TÂM KHÔNG CÓ PHÁP,

(Tức là các pháp đều ở trong tâm sanh ra)

Và:

NGOÀI PHÁP KHÔNG TÂM.

(Tức là không có pháp nào vượt ra khỏi ngoài TÂM mà có cả)

2. Khi NÓ (pháp) được sanh ra thì NÓ KHÔNG CÓ NƠI ÐẾN và khi DIỆT rồi thì NÓ cũng CHẲNG CÓ ÐI (VỀ) ÐÂU. Vì NÓ không có phương-sở cố-định như thế, nên NÓ là VÔ-SỞ-TRỤ.

KINH DẠY:

– “Tất-cả các PHÁP lấy hư-không làm MÔN vì không có trụ-xứ (Vô Sở-Trụ) vậy …

Mà đã “Vô-Sở-Trụ” như thế thì tức là vô-hình-tướng, vô sanh-diệt, chẳng (có chỗ) đến, chẳng (có chỗ) đi.

– Vậy NÓ tức là THƯỜNG-TRÚ, mà Thường-trú ấy tức là giải-thoát,

– Mà giải-thoát tức là Vô-sanh, vô-diệt, vô-cấu, vô-tịnh, vô tăng, vô-giảm: TỨC LÀ NIẾT BÀN,

– Mà Niết-bàn tức là chơn-như,

– Mà chơn-như tức là PHẬT,

– Mà PHẬT tức là Thanh-tịnh Pháp-thân,

– Mà thanh-tịnh Pháp-thân tức là TỲ-LÔ GIÁ-NA (PHẬT) vậy.

Như trên đã nói:

Nếu như quán và hiểu được cái “thể-tánh” (tức là cái chơn-tánh, cái thiệt-tánh) của tất-cả các pháp rồi … thì chứng được VÔ-SANH PHÁP-NHẪN – Vậy cái VÔ SANH-NHẪN của các PHÁP ấy như thế nào ?

Xin hãy nghe (và cố gắng tịnh-tâm để hiểu) lời PHẬT dạy sau đây:

……” Lại nữa, nầy VĂN-THÙ SƯ-LỢI,

VÔ-SANH PHÁP-NHẪN đó là gì ?:

1. Tất cả pháp Vô-sanh: Nên NHẪN như vậy.

2. Tất-cả pháp Vô-lai(không có chỗ đến), Vô khứ (không có chỗ đi): –Nên NHẪN như vậy.

3. Tất-cả pháp Vô ngã(không có tự-tánh), Vô chủ (không có ai tạo ra): – Nên NHẪN như vậy.

4. Tất-cả pháp Vô-thủ(không có lấy), Vô xả (không có bỏ): – Nên NHẪN như vậy.

5. Tất-cả pháp Vô Sở-Hữu(không sẵn có), Vô thiệt (không có thiệt): – Nên NHẪN như vậy.

6. Tất-cả pháp Vô-đẳng(không có thứ bậc), Vô đẳng-đẳng (cũng chẳng phải là chẳng có thứ bậc): – Nên NHẪN như vậy.

7. Tất-cả các pháp Vô-tỉ(không gì để ví-dụ được): – Nên NHẪN như vậy.

8. Tất-cả các pháp Vô-nhiễm(không có cấu-uế) như hư không: – Nên NHẪN như vậy.

9. Tất-cả các pháp Vô phá-hoại(vì là vô-tướng): – Nên NHẪN như vậy.

10. Tất-cả các pháp Vô-đoạn(không có dứt): – Nên NHẪN như vậy.

11. Tất-cả các pháp Vô-cấu(không có dơ), Vô tịnh (không có sạch): -Nên NHẪN như vậy.

12. Tất-cả các pháp đều có đầy-đủ ba môn giải-thoát là: -KHÔNG, VÔ-TƯỚNG, VÔ NGUYỆN. (Các pháp vì bởi không có tự thể, nên gọi NÓ là KHÔNG, vì là KHÔNG nên nó là vô-tướng, và vì vô-tướng nên cũng vô nguyện-cầu, vì vô nguyện-cầu nên được giải-thoát): – Nên NHẪN như vậy.

13. Tất-cả các pháp vì lìa Tham, sân, si: – Nên NHẪN như vậy.

14. Tất-cả các pháp vì Vô phân-biệt, Vô tương-ưng(không giống cái gì hết): – Nên NHẪN như vậy.

15. Tất-cả các pháp vì Vô hí-luận(không thể luận bàn): – Nên NHẪN như vậy.

16. Tất-cả các pháp vì Vô tư-duy(không thể nào suy-nghĩ): – Nên NHẪN như vậy.

17. Tất-cả các pháp vì Vô-tác(không thể tự một mình nó tác động ra được), Vô-lực (nó không có sức lực nào riêng để tự sanh (ra), mà phải nương nhờ nơi nhân-duyên mới sanh ra được),gầy kém, hư dối: – Nên NHẪN như vậy.

18. Tất-cả các pháp như ảo(không thiệt), như mộng (như chiêm bao) như hưởng (như âm vang trong rừng núi), như ảnh (như bóng) vv… : – Nên NHẪN như vậy.

Tại sao lại phải NHẪN như thế ? – (tức là bắt đầu từ nơi câu vô-sanh (của đoạn 1) cho đến như ảo vv… (của đoạn 18).

– Tại vì nó không có tự ngã, nó vô-hình, vô-tướng thì làm sao mà có sanh-diệt, so-sánh hay là thí-dụ …. được.

Cho nên kinh dạy:

– Tất-cả các pháp vì là KHÔNG-TỊCH (như vừa giăng ở trên) nên đều có đầy-đủ ba môn giải-thoát:

Ðó là:

1. KHÔNG: – Ðây chính là “KHÔNG GIẢI-THOÁT” môn.

2. KHÔNG ấy cũng không có một cái TƯỚNG gì nhứt định để mà gọi đó là cái: “tướng KHÔNG” cả. Vì vậy nên: – Ðây chính là “VÔ-TƯỚNG GIẢI-THOÁT” môn.

3. Mà nếu đã là vô-tướng như thế thì(cũng)vô-nguyện cầu, nên: – Ðây chính là “VÔ-NGUYỆN GIẢI-THOÁT” môn.

Và NIẾT-BÀN là con đường:

1. Xa lìa chấp trước(tức là không chấp lấy tất-cả vật thể, tất-cả pháp) – vì nếu chấp trước như vậy thì bị trói-buộc, không giải-thoát được.

2. Xa lìa các tướng. (Bỏ hết tất-cả tướng).

3. Xa lìa nguyện-cầu(không cầu sanh trong 3 cõi)

Cũng do chính vì các điều vừa giải-thích nên trên, nên trong kinh-văn chư tổ-sư dạy:

TẤT-CẢ PHÁP THƯỜNG-TRÚ.

(Nhất-thiết pháp thường-trú)

Chính là như vậy.

Giải-thích đoạn 2:

Câu thứ 4:

Thị cố ngã quy-y

(Vì thế con quy-y).

Bởi vì:

– Sắc thân của Phật vô-tận như thế,

– Trí-huệ của Phật vô-tận như thế,

– Các pháp thường-trú như thế …

Nên ngày hôm nay con XIN QUY-Y.

Sao gọi là quy-y ?

– Quy là trở về.

– Y là nương-tựa, nương nhờ.

Như vậy thì Quy-y đây có nghĩa là: – Trở về (với PHẬT)và nương-tựa nơi NGÀI.

Việc nầy cũng tựa như:

1. Con trẻ phải nương nhờ nơi cha mẹ mới được no ấm áo cơm, nên vai, nên vóc, nên dạng, nên hình …

2. Trò phải nương nhờ nơi thầy sáng suốt, giỏi-dắn(minh-sư), bạn tốt (thiện-hữu)vv… mới được thành tài và trở nên người hữu-dụng.

Lại nữa quy-y còn có thêm nhiều nghĩa khác nữa là: – Kính vâng theo (lời dạy) và phục tùng không chống-trái vv…

Vì thế cho nên câu:

“Thị cố ngã quy-y” ở đây,

(nên nay con quy y)

Ý-nghĩa chính là như vậy.

Giải-thích đoạn 3:

Câu thứ nhất:

Bi, Trí, Ðại-nguyện lực,

(Bi-Trí, nguyện-lực lớn)

Trước hết xin giải-thích (sơ-lược) qua về chữ BI của PHẬT.

Sao gọi là BI ? – BI tức là hay cứu-khổ (cho chúng-sanh).

Sau khi thành-đạo, đức Như-lai vì thương-xót chúng-sanh cho nên khởi lòng đại-bi, mà nhận lời thưa-thỉnh của THI-KHÍ Ðại-Phạm Thiên-vương cùng sáu vạn tám ngàn (68.000)các vị Phạm-thiên khác như sau:

………….

Ðức Phật luôn có đại từ-bi,
Thương mến chúng-sanh như con ruột.
Nay tôi thỉnh pháp là đúng thời,
Xin Phật chuyển pháp-luân vô-thượng.
…………….
Làm cho chúng-sanh hết nóng, khát.
…………….
Nguyện đại từ-bi ban mưa pháp.

Bấy giờ đức Phật mới đi qua thành BA LA NẠI, nơi vườn LỘC-DÃ vì nhóm 5 người của ngài Kiều Trần-Như(20) mà chuyển chánh pháp luân.

Trong suốt 49 năm với tâm đại-bi như thế và qua cá sự hóa-độ của ngài, có đến vô-lượng, vô-biên, bất khả thuyết chúng trời, người, đều được ngài độ-thoát cho lìa khỏi nơi sanh-tử.

Kinh dạy:

“Nầy Thiện-nam tử,

– Lòng BI của Thanh-văn, Duyên-giác như vẽ trên da.

– Lòng BI của Bồ-tát như sẻ thấu vào trong thịt.

– Lòng BI của Phật như chẻ tới xương, thấu tới tủy.

– Lòng BI của Thanh-văn, Duyên-giác chỉ tán-thán sự sở-tri (thấy, biết)của Phật.

– Lòng BI của Bồ-tát chỉ khuyên dạy người thực hành (lý, sự).

– Lòng BI của Phật thọ-ký cho (chúng-sanh được) quả-vị vô-thượng Bồ-đề.

*

– Lòng BI của Thanh-văn, Duyên-giác làm nhơn-duyên cho lòng TỪ (ban vui).

– Lòng BI của Bồ-tát vì điều phục chúng-sanh. (Cứu khổ).

– Lòng BI của Phật vì cứu-cánh độ chúng-sanh (cho được thành Phật).

*

– Lòng Bi của Thanh-văn, Duyên-giác do nơi trừ sự khổ thô-thiển mà sanh. (Tức là trừ khổ đế, Tập đế)

– Lòng BI của Bồ-tát do vì muốn cho chúng-sanh rời lìa sự khổ vi-tế mà sanh.

– Lòng BI của Phật do vì muốn cho chúng-sanh dứt trừ hết tất-cả nhơn-duyên mà sanh.

Nầy Thiện-nam tử,

“Ðức Như-lai tu-tập ÐẠI-BI như vậy, nếu vì một người mà ở lại thế-gian trải qua một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp cho đến vô-lượng kiếp (để hóa độ)đức Như-Lai sẽ vì người đó mà trọn chẳng rốt-ráo nhập Niết-bàn, ”

…………………………

Ðến đây xin thuật lại một câu chuyện nói về lòng đại-bi của Phật.

Kinh dạy:

“Quá-khứ cách đây vô-lượng, vô-biên, vô số kiếp có đức Như-Lai, Ứng, Chánh-đẳng giác, đầy-đủ 10 hiệu, tên là CHIÊN ÐÀN-QUẬT, lúc làm Phật-sự đã xong, trước khi nhập Niết-bàn, đức CHIÊN ÐÀN-QUẬT Như-lai bèn quán-sát chúng-sanh xem nếu có ai chưa điều-phục thì Ngài sẽ điều-phục cho.

Ngài dùng tịnh thiên-nhãn của Phật, thấy có một vị ở cõi trời Phi-phi tưởng xứ đã ở nơi đức Phật quá-khứ gieo hột giống “Thượng thiện-căn”, quyết-định sẽ do nơi Phật thừa mà được độ thoát.

Vị trời nầy quá 84.000 đại kiếp tuổi thọ sẽ sanh xuống nhơn-gian làm con trai của một nhà đại-phú …

Thấy như thế rồi, đức CHIÊN ÐÀN-QUẬT Như-lai do sức đại-bi, khởi đại phương-tiện, bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Giờ Niết-bàn cảu ta đã đến …..

Nói xong Phật CHIÊN-ÐÀN-QUẬT liền nhập vào BẤT-HỐI TAM-MUỘI, thị-hiện nhập Niết-bàn.

Ðại-chúng thương khóc, trà-tỳ (đốt)thân Phật, rộng sắm các sự cúng-dường …..

Do nơi sức đại-định, đức CHIÊN-ÐÀN-QUẬT Như-lai ẩn kín thân Phật qua 84.000 đại kiếp chẳng cho đại-chúng thấy.

Sau khi mãn kiếp số tuổi thọ, vị trời vô-sắc ấy sanh xuống nhơn-gian làm con trai của một nhà đại trưởng-giả…. lúc ấy đức CHIÊN-ÐÀN-QUẬT Như-lai từ nơi Tam-muội xuất-định dậy, qua đến nhà của đại trưởng-giả ấy, mọi người trong nhà đều không ai trông thấy, chỉ riêng có một mình người con trai nầy là được thấy đức Phật và nghe Ngài thuyết-pháp, liền được bất thối-chuyển nơi quả vị vô-thượng Bồ-đề.

Biết vậy, đức CHIÊN-ÐÀN-QUẬT Như-lai liền thọ-ký cho đứa con trai ấy rằng:

– Ðời sau, quá 72.000 A tăng-kỳ và (cộng thêm) trăm ngàn kiếp, ngươi sẽ đắc thành quả vị vô-thượng Bồ-đề, hiệu là BỬU-THƯỢNG NHƯ-LAI, đầy-đủ 10 hiệu.

Lời thọ-ký nầy ngoài người con trai của trưởng-giả kia ra không một ai được nghe biết cả, duy chỉ có 12.000 chư Thiên có túc-duyên với Phật đương-lai là Bửu-Thượng Như-lai được nghe biết mà thôi.

Các chư-Thiên nầy nghe rồi đồng phát-tâm vô-thượng Bồ-đề, bạch cùng Phật CHIÊN-ÐÀN-QUẬT rằng:

– Cầu nguyện ngày sau, khi đức Bửu-Thượng Phật ra đời, chúng tôi sẽ ở trong Pháp-hội của ngài làm đệ-tử thỉnh-thọ chánh-pháp.

Ðức CHIÊN-ÐÀN-QUẬT Như-lai nghe, biết lời bạch của chư Thiên ấy, nên thọ-ký cho họ rằng:

– Lúc đức Bửu-Thượng Như-lai thành PHẬT, một vạn hai ngàn chư Thiên các ngươi, sẽ thọ-pháp, làm đệ-tử nơi ngài và cũng sẽ được Bửu-Thượng PHẬT thọ-ký cho quả-vị vô-thượng Bồ-đề.

………………………..

Việc làm nầy xong, đức CHIÊN-ÐÀN-QUẬT Như-lai mới cứu cánh nhập vào VÔ-DƯ NIẾT-BÀN…..

Tất-cả chư Thiên đều thiết-lập đại cúng-dường xá-lợi”……

Phật phán:

– Nầy Thiện-nam tử, chư Phật Như-lai có sức đại-bi như vậy, việc ấy chẳng phải là chỗ thấy biết của hàng Thanh-văn, Duyên-giác.

…. Do nhơn-duyên đại-bi ấy, nên đức Như-lai vì mỗi-mỗi chúng-sanh mà phải trải qua số kiếp nhiều như cát sông Hằng ở trong địa-ngục (để hóa-độ)mà tâm đại-bi ấy vẫn không tổn-giảm.

Vì nghĩa như vậy nên:

– SỨC ÐẠI-BI CỦA ÐỨC NHƯ-LAI CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN.

Kế đây giải-thích qua phần TRÍ của Phật.

(Phần trí-huệ bất tư-nghị của PHẬT đã có giải-thích qua nơi trước rồi, nên ở đây chỉ sơ-lược thêm một ít nữa mà thôi).

Kinh dạy:

– “Như-lai trí-huệ, trí-lực biết tất-cả pháp, tùy theo ý thích của chúng-sanh mà thuyết pháp” ……

Phải biết trí-huệ vô-ngại của PHẬT hiểu rõ tất-cả nghĩa, tất-cả chữ, tất-cả câu. Trong vô-lượng kiếp diễn nói một câu pháp ra vô-lượng nghĩa, dứt tất-cả nghi cho chúng sanh.

Trí-huệ và trí-lực của Phật diễn nói pháp tam-thừa đến tám vạn bốn ngàn pháp môn và cũng nói đến tám vạn bốn ngàn khối pháp.

Ðây gọi là VÔ-LƯỢNG, VÔ-BIÊN TRÍ-HUỆ của PHẬT vây.

– Với TRÍ VÔ-NGẠI nầy đức Như-lai thấy biết vô-lượng, vô số chư PHẬT quá-khứ cùng với các thế-giới của chư PHẬT ấy, trong đó những nào là cỏ cây, số-lượng chúng-sanh, tâm-cảnh của họ, các thứ loại âm-thanh, ngữ-ngôn của họ ….. TRÍ VÔ-NGẠI của đức Như-lai thảy đều biết rõ.

Lại cũng biết các chư PHẬT quá khứ ấy nói những pháp gì, có bao nhiêu chúng-sanh chứng được Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát …. lại cũng biết rõ chư PHẬT ấy thọ-mạng dài hay ngắn, số đại-chúng của quý NGÀI nhiều hay ít vv….

Tất-cả đều biết rõ như thiệt, chẳng thể dùng tỉ-trí để mà so-sánh, đo-lường …. trí-huệ và trí-lực của Như-lai được.

– Lại nữa,

Trí-huệ và trí-lực của PHẬT thấy biết đời vị-lai vô chướng-ngại.

Sự thấy biết ấy như thế nào ?
– Trí-huệ và trí-lực ấy thấy biết tất-cả thế-giới thuở vị-lai, hoặc thành, hoặc hoại, trỉa qua mấy kiếp hỏa-tai, mấy kiếp thủy-tai, mấy kiếp phong-tai, bao nhiêu Phật thế-giới, bao nhiêu Phật sẽ xuất-thế, trong các thế-giới ấy có boa nhiêu vi-trần, bao nhiêu chúng-snah, Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cùng các hành-động đi, đứng, ngồi, nằm, uống, ăn của họ … trí-lực của Phật thảy đều thấy biết đúng y như thật ….

– Trí-huệ của và trí-lực của PHẬT thấy biết ba đời quá khứ, hiện-tại, vị lai, vô chướng-ngại.

Sự thấy biết ấy như thế nào ?

– Trí-huệ và trí-lực ấy thấy, biết rõ quá khứ, hiện-tại, vị lai mười phương các thế-giới, số-lượng chư Phật, Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-văn cùng các chủng-loại chúng-sanh trong đó…..

Lại thấy biết rõ những:

– Nhựt, nguyệt, tinh-tú, cỏ-cây, vi-trần.

– Ðịa, thủy, hỏa, phong, núi, sông, đại-hải…

– Vườn, rừng ….

– Các loại chúng-sanh tóc, lông, hình sắc cùng với các tâm, ý-thức của họ sanh, diệt …..

– Chúng-sanh trong 3 đường địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh cùng các nghiệp báo của họ dài ngắn bao lâu, khi nào sẽ được khỏi khổ và giải-thoát …..

– Biết rõ phiền-não giới, căn giới, pháp-giới, ý-giới vv…..

Tất-cả sự việc quá khứ, hiện-tại, vị lai, trong các thế-giới ở 10 phương, trí-huệ, và trí-lực của Như-lai thảy đều thấy biết y như thật, không thể nào đo-lường và so-sánh được cả …..

Trên đây bút-giả đã lược sơ qua về TRÍ thấy biết tam thế (3 đời) bất tư-nghì của PHẬT rồi …..

Những mong quý đọc-giả và chư hiền học PHẬT phải pháp-tâm thành-kính và trân-trọng.

Kế tiếp đây giải-thích vè chữ:

” Nguyện-Lực Lớn”

của PHẬT.

– Tất-cả chư PHẬT đều có những đại-nguyện bất khả tư-nghì. Nhưng nơi đây, trong quyển sách hoằng-dương tịnh-độ nầy, người giải-thích tôi chỉ lược-giảng về đại-nguyện của đức A-DỊ-ÐÀ PHẬT mà thôi.

– Khi đức PHẬT A-DI-ÐÀ (chưa thành Phật và)còn làm một vị tỳ-kheo Bồ-tát tên là PHÁP-TẠNG, NGÀI đã vì chúng-sanh mà tu nhiếp công-hạnh thanh-tịnh, trạng-nghiêm 210 ức nước PHẬT xong rồi …..

Ở nơi trước đức Phật THẾ TỰ-TẠI VƯƠNG NHƯ-LAI, đầu, mặt cúi lạy chân Phật, hữu nhiễu ba võng xong, chắp tay cung-kính thỉnh Phật chứng-minh cho ngài phát đại nguyện rằng:

– Bạch đức THẾ-TÔN, xin xét-soi cho ….. tôi sẽ trình bày các đại-nguyện ….

Phật THẾ TỰ-TẠI VƯƠNG NHƯ-LAI liền đáp rằng:

– Nay ông nên trình-bày, phải biết là đúng lúc để phát-khởi đại-nguyện làm vui-đẹp đại-chúng, và lợi-ích cho chúng-sanh …..

Sau đó PHÁP-TẠNG Tỳ-kheo phát ra 48 lời đại-nguyện. Ðại-nguyện nào cũng kết-thúc bằng một câu:

– Nếu không được như thế thì tôi thề KHÔNG THÀNH PHẬT.

Dưới đây bút-giả xin trích-lược ra một số đại-nguyện quan-trọng của NGÀI, mà chư Bồ-tát, tổ-sư …. đã căn-cứ vào đó để lập-thành ra PHÁP-MÔN TỊNH-ÐỘ mà chúng ta đang tu-tập từ trước đến nay, và riêng qua quyển sách: “TÂY-PHƯƠNG NHẬT-KHÓA” nầy.

…………………..

Ðại-nguyện 18:

– Giả-sử khi tôi thành PHẬT, chúng-sanh khắp mười phương chí-tâm tin, ưa muốn sanh về cõi nước tôi – xưng niệm danh-hiệu tôi – cho đến mười niệm, nếu như không được vãng-sanh, thì tôi thề không lấy ngôi chánh-giác.

Ðại-nguyện 19:

– Giả-sử khi tôi thành PHẬT, chúng-sanh ở mười phương phápt Bồ-đề tâm, tu các công-đức, chí-tâm phát-nguyện muốn sanh về cõi nước tôi – lúc thọ mạng chung, tôi và đại-chúng sẽ vây quanh hiện ra trước họ.

Nếu không được như thế, thì tôi thề không lấy ngôi chánh-giác.

Ðại-nguyện 20:

Giả-sử khi tôi thành PHẬT, chúng-sanh ở mười phương, nghe danh-hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, trồng các cội công-đức, chí-tâm hồi-hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại-nguyện, thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

Ðại-nguyện 21:

– Giả-sử khi tôi thành PHẬT, hàng thiên, nhơn nơi cõi nước tôi chẳng được đầy-đủ 32 tướng đại-nhơn, thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

…………………………..

(Xem phần phụ-lục 48 đại-nguyện của PHẬT A-DI-ÐÀ ở cuối phần sau quyển sách).

Tuyên 48 đại-nguyện xong Tỳ-kheo PHÁP-TẠNG liền đọc kệ rằng:

Tôi phát nguyện hơn đời,
Tắt đến đạo vô-thượng.
Nguyện nầy chẳng đầy-đủ,
Thề chẳng thành chánh-giác.
*
Tôi ở vô-lượng kiếp,
Chẳng làm đại thí-chủ.
Cứu khắp cả nghèo cùng, (21)
Thề chẳng thành chánh-giác
*
Ðến khi tôi thành PHẬT,
DANH tiếng siêu mười phương.
Nếu có người chẳng nghe,
Thề chẳng thành chánh-giác
………………………………
Nguyện đây nếu quả toại,
Ðại thiên nên cảm-động.
Chư thiên-thần trên không,
Sẽ mưa hoa báu đẹp.

Tỳ-kheo PHÁP-TẠNG tuyên kệ tụng xong, khắp mặt đất đều chấn-động sáu cách (22). Trời mưa hoa đẹp rãi xuống trên mình ngài, trên không tiếng thiên-nhạc tự-nhiên hòa-tấu vang-động và có tiếng khen lớn rằng: Quyết định sẽ thành vô-thượng chánh-giác.

Và đây là phần giải-thích 3 chữ:

Ðại Nguyện-Lực

(nguyện-lực lớn)

Của riêng đức A-ÐI-ÐÀ Như-lai vậy.

Trên đây bút-giả đã giải-thích sơ qua về câu:

BI, TRÍ, ÐẠI NGUYỆN-LỰC.

(Bi, trí, nguyện-lực lớn)

của PHẬT rồi. Những mong quý chư hiền học Phật tạm thời phát-tâm cung-kính, tán-thán nơi BI-TRÍ – NGUYỆN của chư PHẬT nói chung và riêng cho 48 đại-nguyện của đức A-DI-ÐÀ Như-lai. Ắt sẽ được vô-lượng vô-biên công-đức.

Giảng tiếp câu thứ 2 đoạn 3:

Phổ-độ ư quần-sanh.

(Ðộ khắp cả hàm-linh)

Trước hết nói về hai chữ PHỔ-ÐỘ (độ-khắp).

Sao gọi là Ðộ-khắp ?

– Tức là độ cho được giải-thoát khắp tất-cả các loài hữu-tình trong:

1. Lục-phàm(trời,thần, người, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh)

2. Phi lục-phàm: Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát.

để đưa lên quả-vị rốt-ráo vô-thượng Bồ-đề (PHẬT quả).

Còn thế nào mà gọi là “HÀM-LINH” ?

Như trước đã có sơ qua rồi.

– HÀM là ngậm, chứa.

– LINH là tánh linh, tức là thức-tánh.

Ðây chỉ cho các loài chúng-sanh có tình-thức, biết vui buồn, biết phân-biệt, biết ham sống, sợ chết vv…..

Nói rộng ra thì có đến vô-lượng các loài hàm-linh với nhiều tướng-dạng khác nhau, lớn thì như non-núi, nhỏ cho chí đến bằng sợi lông, hột bụi, hoặc hơn nữa (mắt thường không trông thấy). Các loài hàm-linh nầy đều có một đời sống hoặc dài, hoặc ngắn khác nhau…..

Nói rộng ra thì như vậy.

Còn nói lược lại thì có tất-cả bốn loài.

Ấy là:

– Thai sanh hàm-linh (loài sanh bằng bào thai),

– Noãn sanh hàm-linh (loài sanh bằng trứng),

– Thấp sanh hàm-linh (loài sanh từ nơi ẩm-thấp, dưới nước vv….),

– Hóa sanh hàm-linh (loài sanh ra bằng cách biến hóa…)

1. Sao gọi là Thai sanh hàm-linh ?

Xin giải-thích ở nơi loài người để cho dễ hiểu (khái lược)

KINH DẠY:

Thai sanh là CON thọ khí-phần của CHA, MẸ mà sanh ra – Khí phần nầy gồm có 4 thứ:

  1. Ðất(Xương, thịt),
  2. Nước(Tinh-huyết cha-mẹ),
  3. Gió(Các sự vận-động, co duỗi vv….)
  4. Lửa(Hơi nóng, thân nhiệt).

Muốn được sanh vào trong bào thai (của mẹ), thì thân (trung-ấm) ấy phải hội đủ ba điều-kiện về “Ðồng-nghiệp giao cảm” và “hấp-dẫn” nhau sau đây:

  1. (nương nơi)nghiệp-báo riêng của mình,
  2. (nương nơi)nghiệp-báo riêng của cha,
  3. (nương nơi)nghiệp-báo riêng của mẹ.

Ba nghiệp nầy bắt-buộc phải “Giống nhau”, gọi là “Ðồng-nghiệp giao-cảm (báo)” mới hấp-dẫn được nhau mà vấn-sít, sanh-sản.

Thí-dụ:

– Cha là vua, (Có phước nghiệp)

– Mẹ là hoàng-hậu (Có phước nghiệp)

Thì cái hồn (trung-ấm thân) đầu-thai làm con cũng phải có “phước-nghiệp vua-chúa” giống như cha-mẹ vậy thì mới vào bào-thai (mẹ) được. Chứ như cha là vua, mẹ là hoàng-hậu, còn hồn đầu-thai là ăn mày (vô phước-nghiệp)thì không thể nào lọt được vào trong thai bào (của hoàng-hậu)để sanh ra làm con của vua được cả.

Kinh dạy:

1. “Hoặc cha mẹ tôn-quý mà trung-ấm ti-tiện.

– Hoặc trung-ấm tôn-quý mà cha-mẹ ti-tiện.

Cũng chẳng thành thai”.

2. Hoặc cha mẹ và trung-ấm đều tôn-quý cả mà nghiẹp duyên chẳng hòa-hiệp(giống nhau),cũng chẳng thành thai.

3. Hoặc cha mẹ và trung-ấm đều cùng ti-tiện cả, mà nghiệp duyên chẳng hòa-hiệp, cũng chẳng thành thai.

Vì vậy cho nên:

– Loài Thai sanh hàm-linh, thì ứng theo “TÌNH-ÁI” (Của cha mẹ khi giao-hợp, cùng với ái-niệm điên-đảo của trung-ấm thân) (23) mà sanh ra.

– Loài Noãn-sanh hàm-linh, thì ứngtheo “LOẠN-TƯỞNG” mà sanh (Tức là cũng co tình-ái, cũng có thương-tưởng nhau, nhưng hỗn-loạn, không chuyên-nhứt).

– Loài Thấp sanh hàm-linh, thì ứngtheo “HIỆP” mà sanh. (Tức là nương nhờ và phụ-trợ theo cái khí lạnh, hoặc nơi chỗ ẩm-ướt mà sanh ra).

– Loài Hóa-sanh hàm-linh, thì ứng theo “LY” mà sanh ra. (Tức là bỏ nơi đây tới nơi kia, bỏ thân nầy hóa ra thân khác – Như vòi hóa ruồi, sâu hóa bướm, lăng-quăng hóa muỗi, cỏ mục hóa đơm-đốm, lá khô nát hóa ra ve sầu vv…)

Vậy thử hỏi:

– Do nơi nghiệp-báo thế nào mà cảm sanh ra ở nơi bốn loài: “TỨ SANH HÀM-LINH” như vậy ?

KINH DẠY:

1. Thai sanh:

– Là do nơi đời trước tham mê, đắm-đuối nơi sự dâm-dục nên đọa vào loài thai sanh như người, heo, dê, trâu, bò, chó, ngựa vv….

– Tội tham dâm ấy như sanh ra làm người thì đặng đứng thẳng (lưng).

– Nếu như lòng ngang-ngược, tham-dục không tiết-độ thì sanh ra làm loài thú-vật, xương sống nằm ngang, đi bằng bốn cẳng (chân).

2. Noãn sanh:

Là nơi đời trước (khi còn làm người), vì sự sinh-sống nên tâm hay sắp-đặt mưu-mô, xảo-trá, lừa-gạt người khác, nên đọa làm loài sanh bằng trứng như chim, cá vv…

Trong loài noãn-sanh nầy nếu như:

– Người bày mưu-kế quá cao thì sanh ra làm chim, thấy người thì bay cao lên.

– Người bày mưu kế quá sâu thì sanh ra làm cá, thấy người thì lặn sâu (xuống nước).

3. Thấp-sanh:

– Do nơi đời trước (khi còn làm người) tham ăn thịt, uống rượu cho là việc vui chơi, lại nữa hay ham ưa đánh lộn ở giữa nơi chợ búa, giữa chốn đông người, loạn tâm điên-đảo ….. cho nên bị đọa làm loài tháp sanh như tôm, cua, rùa, trạnh vv……

4. Hóa-sanh:

– Do nơi đời trước (khi còn làm người) tâm thường hay dời-đổi, ý-niệm thất-thường, ba hồi thế nầy, bốn hồi thế khác, biến hóa liền-liền, trước mặt nói phải, sau lưng nói quấy, làm nhiều tội ác, nên bị đọa vào loài hóa sanh như: Ruồi, muỗi, bướm, ve vv…..

Trong 4 loài HÀM-LINH nầy thì loài người là quý-trọng nhất, vì Phật, tiên, thần, thánh cũng từ loài người mà thành. Song bốn loài HÀM-LINH Thai, noãn, thấp, hóa nầy vốn không cố-định, cho nên có khi:

– Loài thai sanh lại chuyển ra thành noãn, thấp, hoặc hóa sanh.

– Loài noãn, thấp, hóa lại chuyển ra thai sanh vv…..

Vì thế nên có khi:

– Loài người chết rồi đầu thai trở lại làm thú-vật,

– Thú-vật chết rồi đầu thai trở lại làm người,

– Hoặc là loài bay (chim) mà trở thành thứ lặn, như chim se-sẻ hóa làm con vọp.(24)

– Hoặc là loài lặn mà hóa thành loài bay, như cá hóa rồng vv…..

Tóm lại:

Bốn loài hàm-linh nầy thay hình, đổi xác, quây-lộn luôn-luôn, tùy theo các hành-nghiệp đã tạo ra hoặc ở nơi quá-khứ, hoặc ở nơi hiện tại mà thọ thân tội-báo trong sáu nẻo luân-hồi…..

Do vì như vậy cho nên chúng-sanh cứ mãi nối tiếp nhau hoài không bao giờ hết cả.

Tất cả chư PHẬT, chư Bồ-tát thấythế nên động lòng từ-bi, thị-hiện ra đủ mọi loại thân-hình, dùng đủ mọi loại phương-tiện thiện-xảo, phát ra đủ mọi loại đại-nguyện để độ các chúng sanh, khiến cho lên bờ giải-thoát….

Và đây cũng là ý-nghĩa chánhcủa câu:

– Ðộ khắp cả hàm-linh (của chư Phật, và chư Bồ-tát) vậy.

Giải-thich câu thứ ba:

Linh xả nhiệt-nảo thân.

(Khiến bỏ thân nhiệt-não)

A. Sao gọi là THÂN ?

Tức là sắc-thân tứ-đại – “đất, nước, gió, lửa” – của mình. Bởi trong thân-thể của ta thì:

a. Phần xương, thịt, tóc, lông, răng, móng, vv…. thì thuộc về “địa đại”(đất).

b. Phần máu mủ, đờm, rải, nước mắt, nước mũi vv…. thì thuộc về “thủy đại”(nước).

c. Hơi thở và các sự co-giãn tay chân, máu-huyết, ruột …., cùng các sự vận-chuyển khác ở trong thân mình … thì thuộc về “phong đại”(gió).

d. Hơi nóng trong thân thì thuộc về “Hỏa-đại”(lửa).

Bốn chất “Ðất, nước, gió, lửa” nầy sở-dĩ gọi là “Ðại” bởi vì nó có đầy-dẫy ở khắp cả các nơi, lớn thì đầy khắp cả trời-đất, nhỏ cho chí đến hột bụi, mảy lông cũng đều có sự hiện-diện của nó.

Thân tứ đại nầy còn gọi bằng một tên khác nữa là “thân danh-sắc”.

Căn-cứ trên ngũ-uẩn tức là SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC mà suy ra thì:

a. Toàn thân từ đầu cho chí đến chân, tay… vì nó có hình tướng, nhìn thấy rõ-ràng, cho nên nó thuộc về “SẮC”.

b. Ngoài ra trong thân nầy cón có thêm mấy thứ vô-nữa – nhưng vẫn hiện diện và mình vẫn cảm nhận nó có một cách rõ-ràng, ấy là:

– THỌ: Nhận lấy các cảm-giác buồn, vui, sướng, khổ vv….

– TƯỞNG: Biết suy-tưởng, nhớ, quên vv….

– HÀNH: Ý-niệm đổi-dời, nối luôn không dứt….

– THỨC: Biết suy-xét, phân-biệt đây kia, đẹp, xấu, hay, dở vv….

Bốn “UẨN” nầy vì là vô hình-tướng, chỉ có tên mà thôi chớ không thấy được nên gọi là “DANH”.

Hai phần DANH và SẮC nầy hợp lại thì thành ra toàn-thân tứ-đại của ta: – Gọi là thân “DANH-SẮC”.

KINH DẠY:

– Thân nầy do các vi-trần (tế-bào nhỏ) tích-tập lại mà thành, nó sanh-diệt trong từng giây phút (sanh, trụ, dị, diệt, niệm-niệm dời-đổi không ngừng).

– Thân nầy có 9 cửa (2 mắt, 2 tai, 2 mũi, 1 miệng, đại-tiện, tiểu-tiện) hằng chảy ra chất dơ như hang rắn độc.

– Thân nầy chẳng biết ơn-nghĩa – Tức là nó bất-kể đến ơn mình nuôi-nấng, săn-sóc, hoạn-dưỡng nó, vì nó mà mình vào sanh, ra tử, xuống biển, lên rừng, vào tù, ra khám vv… Ấy thế mà nó muốn già, muốn bịnh, muốn chết thì nó cứ tự-động làm theo ý nó, chớ chẳng có chút nào thương-tình mình cả, dù cho mình có năn-nỉ cách mấy nó cũng vẫn cứ làm ngơ!!

Cho nên Phật dạy:

– Thân nầy nó không có từ-tâm như người hàng thịt (đồ-tể),

– Thân nầy khó hầu gân, khó chìu-chuộng, như kề bên kẻ bạo-ác,

– Thân nầy luôn tìm dịp hại mình như kẻ oán-thù vv…

và còn vô- lượng thí-dụ khác nữa.

Với lại, thân nầy do:

– 360 khối xương lớn, nhỏ, ráp lại mà thành, như căn nhà hư, mục – Các lóng, đốt (xương)chi trì (chỏi) nhau, dùng bốn lưới mạch giăng bủa giáp vòng làm dây cột – 500 phần thịt phủ lên tợ như bùn tô, trét – 6 mạch gân chánh cột nhau, 500 sợi gân lớn ràng buộc – 700 mạch nhỏ đan vào nhau dường như dây lạc bện – 16 mạch to nối nhau – 2 sợi dây thịt dài ba tầm rưởi vấn gút bên trong – 16 đoạn ruột (trường-vị)vây quanh sanh, thục tạng – 25 mạch hơi như song cửa sổ – 107 cửa huyệt như cái bình to lủng đầy những lỗ, 7 lớp da gói-gém trong ngoài, 80.000 lỗ chân lông, nơi đó lông mọc lên như cỏ loạn trùm, 5 căn(1), 9 khiếu(2) tràn đầy chất dơ, lục vị hấp-thụ đồ ăn, uống (để nuôi thân)như lủa nuôt củi khô, không bao giờ chán….

Thân-thể như vậy, hôi dơ, thúi rã … có gì đâu mà tự-phụ, ngạo kiêu !….

Phật nói kệ rằng:

Thân nầy là chậu dơ,
Dưỡng như bình đựng phẩn.
Phàm-phu không trí-huệ,
Cậy sắc sanh kiêu-mạn.
Trong mũi hằng chảy mũi,
Hơi miệng luôn hôi-hám.
Mắt ghèn, thân đầy trùng,
Kẻ ngu tưởng sạch, vui !
Như người cầm cục than,
Ðem mài muốn trắng, bóng.
Dầu mài đến mòn hết,
Thể sắc than không đổi.
Dầu muốn than mình sạch,
Rửa hết nước biển, sông.
Thân trọn không sạch được.
Vì thể-chất vốn dơ…..

Ðại-khái thì THÂN của chúng-ta như vậy. còn như nếu muốn nói ra cho đủ, ắt nói đến mãn đời cũng không sao hết được.

B. Sao gọi là NHIỆT-NÃO ?

– Nhiệt là nóng bức,

– Não là buồn-phiền,

1. NHIỆT(nóng-bức)

Do vì ba thứ lửa THAM, SÂN, SI hằng luôn nung-nấu thân-tâm cho nên mới bị nóng bức. Ba loại lửa nầy bên đạo Tiên gọi là TAM-MUỘI HỎA (tức là 3 thứ lửa nó làm cho con người mê-muội đi) độc lắm.

Còn bên đạo PHẬT ta thì gọi nó là TAM-ÐỘ HỎA, là ÐẠI-HỎA VV…..

– Sở-dĩ gọi nó là ÐỘC bởi vì nó dễ làm cho người phải bị đọa vào nơi 3 ác đạo là Ðịa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh.

– Gọi nó là lửa lớn vì nó có khả-năng đốt tiêu hết tất-cả công-đức của mình.

Tổ-sư dạy:

SÂN, SI, THAM, độc hỏa,
Phần thiêu công-đức lâm.
Dục hành Bồ-tát đạo,
Nhẫn-nhục hộ thân, tâm.

Tạm-dịch (ý):

Ðộc hỏa Sân, si, tham vừa khởi,
Rừng cây công-đức thảy đều tiêu.
Bồ-tát đạo thân, tâm muốn giữ,
Nhu-hòa, nhẫn-nhục chớ nên kiêu.

Luận về lửa thì có 2 loại:

a. Lửa thế-gian: Lửa nầy(dùng để nấu, nướng) chỉ đốt cháy được các vật hữu-hình mà thôi chớ không đốt được các vật vô-hình (như thiện-căn phước-đức, công-đức vv….)

b. Lửa Tham, Sân, Si: Lửa nầy tuy không đốt cháy được các vật-chất hữu-hình, nhưng ngược lại, nó đốt cháy hết tất-cả công-đức(vô-hình)của mình đã gây tạo, thiêu-hủy hết thât thánh-tài – (tức là 7 món tài-bảo của thánh-nhơn)là: TÍN, TẤN, TÀM, QUÝ, ÐA-VĂN, XẢ, ÐỊNH-HUỆ.

Muốn tu-hành cho đắc-đạo, muốn vãng-sanh về Tây-phương Cực-lạc thì điều nhứt-định là phải diệt tiêu cái loại “ÐỘC-HỎA” nầy mới được.

2. NÃO(buồn-phiền, khổ-não vv…)

Hữu-tình chúng-sanh chúng-ta, kể từ khi mới sanh ra chí cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, trở về nơi bụi, cát …. cuộc đời đã (và sẽ)phải trải qua, cùng chịu đựng vô-số các sự buồn-phiền, khổ-não ….

Ðại-khái như:

– Già là khổ, bệnh là khổ, thương xa-lìa là khổ, oán-thù gặp gở là khổ, mong-cầu không được toại-nguyện là khổ, năm ấm lẫy-lừng là khổ …. Trong đây còn phải nói thêm đến cái “TỬ” khổ nữa.

Tuy rằng ta chưa bao-giờ bì “TỬ” hết, nhưng mà ta thấy những người khác “TỬ”, họ sợ hải như thế nào, các thân-quyến của họ khóc-lóc, đau-buồn như thế nào vv…. thì ta cũng dư biết là TỬ nó gây khổ đau gây lo sợ, cho mọi loài chúng-sanh (như thế nào) rồi!

Cho chí ngay đến cả ta đi nữa, cái chưa “TỬ” (chết) còn không muốn nghe qua tai thay, huống-hồ chi là bị lầm vào trong cảnh-trạng.!

Tóm lại các nỗi khổ-não, lo-phiền của chúng-sanh nhiều vô-lượng, nhưng đại khái thì được gom lại vào trong các cảnh sau đây:

– Sắc, tài, danh, lợi – không được như-ý.

– Ngũ-dục không được vừa lòng vv….

KINH DẠY:

Vì “ÁI” sanh lo,
Vì “ÁI” sanh sợ.
Không còn yêu, Ái,
Dứt hết sợ, lo.

Nhưng hàng “bạt địa phàm-phu” (phàm-phu chúng-sanh sống trên mặt đất nầy) chúng ta biết đến bao-giờ mới dứt được các mối SỢ, LO, BUỒN, NÃO ?…

Chỉ có một cách duy-nhất là:

Sanh Bỉ Thanh-lương Quốc.

(Sanh về cõi THANH-LƯƠNG)

Và đây cũng chính là câu kệ thứ TƯ của đoạn (thứ) ba nầy vậy.

– BỈ và “KIA” tức ý là nói đến cõi Cực-lạc.

Trái với Bỉ là “THỬ”, chẳng hạn như nói rằng “thử-ngạn”, tức là bờ bên nầy (dụ cho cõi Ta-bà)hoặc “bỉ-ngạn” tức là bờ bên kia (dụ cho cõi Cực-lạc)trong pháp-môn Tịnh-độ.

– THANH-LƯƠNG QUỐC:

Ðây là một tên gọi trong rất nhiều danh-xưng khác nhau dùng để chỉ cho cõi Cực-lạc (hoặc là cõi AN-LẠC).

Thanh-lương đây có nghĩa là sạch vui, mát-mẻ, thanh-tịnh vv… Nói THANH là vì muốn đối với các TRƯỢC (dơ).Bởi vì cõi Ta-bà của chúng ta thì toàn là “trược” chớ không “thanh”, còn cõi Cực-lạc thì toàn là thanh chớ không trược.

Nay hãy nói sơ qua về cái TRƯỢC của cõi Ta-bà nầy trước:

– Cái TRƯỢC của cõi Ta-bà thì có vô-số, nhưng gom lại thì có năm mối TRƯỢC chánh sau đây.

Ấy là:

1. Kiếp-Trược:

Tức là thời-kỳ, là kiếp đời nhơ, ác, đại-lược như:

– Con người thì Thân, tâm dơ-bẩn, xấu ác.

– Thời-tiết nóng lạnh thất-thường, đổi-dời, sanh-diệt vv….

2. Kiến-Trược:

Tức là cái thấy biết (kiến-thức) nhơ-ác, xấu-xa, đại-lược như:

– Chấp thường(còn hoài), chấp đoạn(dứt mất),

– Chấp có, chấp không.

– Chấp ngũ kiến như: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiên thủ kiến, giới thủ kiến (5 lợi sử).

Thân, tâm thì chạy theo ngoại-cảnh ở bên ngoài, rồi sanh ra phân-biệt, phải quấy, ghét thương vv…. Tâm không lúc nào được an-trụ một chỗ cả.

3. Phiền-Não Trược:

Tức là nói đến sáu căn của mình cứ mãi chạy theo sáu trần, đại-lược như:

– Mắt (nhãn căn)thì chạy theo sắc-tướng.

– Tai (nhĩ căn)thì chạy theo âm-thanh.

– Mũi (tỷ căn)thì chạy theo mùi hương.

– Thiệt (căn lưỡi) thì say-đắm theo mùi-vị.

– Thân (thân căn) thì chạy theo nơi cảm-xúc thô-tế …..

– Ý (ý căn) thì khởi niệm phân-biệt, sanh-diệt liền-liền ở nơi các pháp…

Vì vậy mà TÂM khởi ra các niệm: Mừng, giận, ghét, thương, buồn, vui, đau-khổ vv…. Do từ nơi đấy mf năm thứ độn-sử là: THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI khơira và rồi nó mặc sức tung-hoành ngang dọc, sanh ra vô-số đảo điên.

4. Chúng-sanh trược:

Tức là nói đến cái thân-mạng của chúng-sanh thì cũng dơ xấu luôn, bởi-vì do tinh cha, huyết mẹ hợp lại mà thành, sanh ra, lớn lên … cứ mãi bị cái già, bịnh, chết nó nung-nấu. Thân, tâm đều khổ, chấp ngã, chấp nhơn, sanh-tử liền-liền, luân-hồi chẳng dứt.

5. Mạng Trược:

Tức là nói về cái thân-mạng của chúng-sanh:

– Khi còn sống thì chịu đủ các thứ bịnh khổ, chín lỗ đều chảy ra các chất bất-tịnh hôi nhơ.

– Khi chết rồi thì chương, sình, thúi, rã, vòi đụt, kiến bu, hôi-hám, thúi tha hết còn xinh đẹp ….

Vả-lại cái thân-mạng đó do nơi “hơi thở” mà tồn-tại. Nếu nó (hơi thở) cứ ra vào đều đặn thì thân-mạng còn, nhược bằng như nó ra mà không chịu trở vào lại thì thân-mạng thành ra tro bụi, đất cát … ngay.!

Tóm lại vì cõi Ta-bà nầy vì có đủ năm cả cái trược như thế, cho nên tuổi thọ của con người cứ giảm xuống hoài. Như hồi đức Bổn sư (Phật Thích-Ca)còn tại thế, thì con người sống lâu 100 tuổi, bởi vì có các cái TRƯỢC đó, nên tuổi thọ cứ mỗi trăm năm thì giảm xuống đi một tuổi.

Từ khi NGÀI nhập Niết-bàn đến nay là 2500 năm rồi, tuổi thọ của con người bị chiết-giảm mất 25 năm. Hiện-tại đây nhơn-thọ chỉ còn trung bình là 75 tuổi (thọ)mà thôi – và nó sẽ còn giảm xuống hoài, cho đến lúc con người chỉ còn có 10 tuổi là thượng-thọ (sống lâu nhứt) …

Trên đã nói về 5 cái TRƯỢC của cõi Ta bà nầy rồi.

Giờ đây xin nói sơ qua về 5 cái THANH của cõi CỰC-LẠC.

– Bởi vì: Cõi Ta-bà thì có đủ NGŨ TRƯỢC, còn cõi Cực-lạc thì có đủ NGŨ THANH.

1. KIẾP THANH:

Tức là nơi cõi Cực-lạc thì chẳng có nóng lạnh, đổi-dời, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng bịnh, chẳng già….

2. KIẾN-THANH:

Chúng-sanh nơi đây luôn-luôn nghe diệu pháp, nghe rồi liền được chánh kiến, chánh tư-duy… hoàn-mãn tám thánh-đạo…..

3. PHIỀN-NÃO THANH:

Tức là chúng-sanh nơi cõi Cực-lạc tâm-trí thì hằng luôn thanh-tịnh chẳng chút não-phiền, vì toàn là trí vô-lậu thuần chơn…

4. CHÚNG-SANH THANH:

Tức là các chúng-sanh nơi cõi Cực-lạc, bởi vì đều toàn là các bậc “Thượng thiện-nhơn” không mà thôi, cho nên không có các cảnh thù, hằn, giết, hại lẫn nhau – Trái lại tất-cả thảy đều đắc được quả-vị vô-sanh, vô-diệt.

5. MẠNG THANH:

Tức là nói về thân-mạng của người nơi cõi Cực-lạc, vì đều toàn là “Liên-hoa hóa sanh” (thân-thể do bông sen tạo thành) cho nên thơm-tho, đẹp-đẻ, sắc-thân mầu vàng rực, đầy-đủ 32 tướng hảo của “đại trượng phu” sống lâu vô-lượng, vô-biên a tăng-kỳ kiếp thế nên không có sanh-tử, luân-hồi.

Ðể kết lại về 5 cái “TRƯỢC” của cõi Ta-bà và 5 cái “THANH” của cõi Cực-lạc, bút-giả xin tậm mược bài kệ sau đây của Ngài Trung-phong tổ-sư đễ diễn-tả:

a. Nói về cõi Ta-bà khổ Trược:

Ta-bà khổ,
Ta-bà khổ.
Ta-bà chi khổ thùy năng-số,
Thế nhơn phản-dĩ vị lạc!
Cam trụ kỳ-trung đa thất sở,
Xú bì đại-lý xuất đầu lai.
Trưởng-dưỡng vô minh thành bệnh cổ,
Mạch nhiên tam thốn khí tiêu-vong.
Hóa tác hàn khôi mai há thổ!
Ngũ thú thiên-lưu bất tạm đình,
Bá-kiếp, thiên-sanh thọ thê-sở!
Chư nhơn-giả
Hà như cập-tảo niệm Di-Ðà,
Xả thử Ta-bà khổ. 

Xin tạm dịch như sau:

Ta-bà khổ,
Ta-bà khổ.
Nỗi khổ Ta-bà ai kể số,
Người đời trở lấy khổ làm vui.
An-trụ Ta-bà nhiều mất chổ ! (25)
Trong túi da hôi (26) đầu ló ra,
Nuôi lớn vô-minh thành bệnh cổ !
Mịt-mù ba tấc khí tiêu-tan (27),
Tro lạnh hóa thành chôn hạ thổ (28) !
Năm nẻo (29) xuống lên chẳng tạm dừng,
Trăm kiếp, ngàn đời không dứt khổ!
Các nhơn-giả,
Sao bằng mau sớm niệm DI-ÐÀ,
Bỏ cõi Ta-bà khổ.

b. Nói về cõi Tây-phương(Cực-lạc)THANH-LƯƠNG:

Tây-phương lạc,
Tây-phương lạc.
Tây-phương khoái-lạc, thùy năng giác,
Nhơn-dân, quốc-thổ, tổng thù-thắng.
Liễu vô hàn thử, tịnh tam ác,
Liên-hoa thai-lý xuất đầu lai.
Thời thính pháp-âm dữ thiên-nhạc,
Lưu-ly địa-ánh, tuyệt tiêm trần.
Kim-ngân, châu bửu thành lâu các,
Hóa y, hóa thực, tự-nhiên vinh.
Thọ-mạng vô lường nan trù đạt.
Chư nhơn-giả
Hà như cập-tảo niệm DI-ÐÀ,
Thủ bỉ Tây-phương lạc.

Xin tạm dịch như sau:

Tây-phương lạc, (30)
Tây-phương lạc.
Tây-phương khoái-lạc, ai hay biết!
Nhơn-dân, quốc độ thảy tuyệt-vời.
Không có nóng lạnh ba đường ác.
Trong bông sen thơm đầu ló ra. (31)
Thường nghe pháp âm(32) và thiên-nhạc(33)
Ðất rạng lưu-ly chẳng chút trần (34)
Bạc vàng, châu báu làm lâu các (35).
Hóa ăn, hóa mặc tự-nhiên vinh,
Vĩnh-kiếp sống hoài không tính đạt.
Các nhơn-giả,
Sao bằng mau sớm niệm DI-ÐÀ,
Ðể lấy Tây-phương lạc.

Ðến đây ta thấy gì ?

Ta thấy:

a. Chỉ nội có một câu A-DI-ÐÀ PHẬT mà bỏ được cõi Ta-bà khổ. (quá dễ-dàng)

b. Chỉ nội có một câu A-DI-ÐÀ PHẬT mà lấy được cõi Cực-Lạc thanh-lương(cũng quá dễ-dàng).

Và như vậy thì:

– Muốn bỏ khổ, lấy vui – Muốn bỏ Ta-bà sanh về Cực-lạc thì có điều chi là khó đâu, dễ-dàng quá, ấy là chỉ:

CHUYÊN-TÂM NIỆM NAM-MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

mà thôi.

Tuy-nhiên cái thanh-lương, đẹp-đẽ nơi cõi Cực-lạc đâu phải chỉ có như thế (trong bài kệ trên)mà thôi: Xin hãy tạm đọc vài hàng sau đây diễn-tả sơ qua về cái đẹp, cái thanh nơi cõi Cực-lạc:

– …. ” Nói xong, đoạn nắm lấy tay của Tiểu-Tu bay lên hư không, phút chốc vượt qua trăm, ngàn, muôn dặm rồi đáp xuống một chỗ.

Nơi đây, không ngày, không đêm, không nhật-nguyệt, ấy vậy mà ánh-sáng rực-rỡ chẳng bị ngăn che. Ðất bằng lưu-ly, trong ngoài chói suốt, trụ giây hoàng-kim, thất-bảo, giao-xen lẫn nhau ngăn chia ranh-giới.

Cây đều toàn là các thứ chiên-đàn, cát-tường, hàng-hàng đối nhau, gốc-gốc trong nhâu có đến vài ba muôn ngàn lớp, mỗi-mỗi lá cây mọc ra các hoa đẹp xinh, mầu-diệu, màu sắc dị-bảo(36). Bên dưới cây là ao báu, vô-lượng đợt sóng gợn, phát ra các tiéng pháp-âm nhiệm-mầu. Ðáy ao lót thuần bằng cát kim-cương, trong ao sen báu muôn màu, phóng ra ánh-sáng dị-sắc.

Dọc theo hàng cây, bờ ao lầu các nguy-nga quanh-lộn ẩn-hiện, hiên thềm nhô ra, cột đỏ, mái cong, cửa lớn, cửa song giao chiếu, lan-can báu đẹp đoanh-vây bao bọc, thảy đều đầy-đủ.

Xung-quanh lầu-các có treo vô-lượng nhạc-khi, tự-nhiên khua-động, vang ra những tiếng pháp-âm… Các điều ghi chép trong kinh A-DI-ÐÀ và Kinh VÔ-LƯỢNG-THỌ so với đây mười phần chưa được một.

Ngước mắt nhìn lên, nhiều lầu-các lơ-lững giữa hư-không, đẹp huyền-ảo trong những vầng mây ráng …..

Trung-lang bảo:

– Chỗ em đang thấy đó là quang-cảnh của các hàng địa-cư chúng-sanh(37) ở Tịnh-độ. Qua khỏi chốn nầy, là nơi ở của các bậc pháp-thân đại-sĩ(38), cảnh-trí còn đẹp-đẽ, mầu-nhiệm hơn đây trăm, ngàn muôn lần, thần-thông của các vị ấy cũng ngàn, muôn phần bội hơn.

Anh nhờ huệ-lực(39) nên cũng có thể đến dạo chơi nhưng không được ở. Khỏi nơi đó là chỗ cư-trú của các bậc Thập địa và đẳng-giác Bồ-tát anh khôngthể nào đến xem và hiểu biết được.

Xa hơn nữa là cảnh-giới của đấng Diệu-giác, duy-chỉ có Phật cùng với Phật mới có thể thấy biết mà thôi.

Nói xong, lại cùng nhau bay đến một chỗ, điện-các chói sáng khác thường chẳng biết là làm bằng chất gì, chỉ cảm biết là vàng, ngọc ở cõi Ta-bà nếu đem so-sánh với thứ báu nầy thì dường như là bùn, là mực mà thôi.

Nơi đây không có thành-quách, chỉ có lan-can bao-bọc giáp vòng. Hai anh-em cùng ngồi dưới lầu trò-chuyện.

Trung-lang nói:

– Anh không ngờ cảnh Cực-lạc lại đẹp, vui cùng-cực như thế nầy. Giả-sử như lúc còn sống ở Ta-bà, anh giữ giới-luật tinh-nghiêm thì sự thọ vui của anh ngày hôm nay chẳng phải chỉ có như thế mà thôi đâu….

Anh cùng em bên nhau từ thuở Phật Không-Vương, đã nhiều đời từng làm huynh-đệ, cho đến luân-hồi nơi sáu cõi cũng chẳng rời nhau. Nay anh may-mắn được sanh về Cực-lạc, sợ em bị-lạc vào ác-đạo, nên phải dùng sức thần-thông, phương-tiện đem em đến đây khuyên bảo ….

Bây giờ nghiệp-báo giữa hai cõi Tịnh và Uế khác nhau, em không thể nào ở lâu hơn được nữa…. Nói xong lièn vượt lên hư-không mà bay đi, Tiẻu-Tu đứng lên bước chậm-rãi dọc theo bờ-ao ngắm cảnh, bỗng dưng nghe có cảm-giác dường như bị trợt té xuống nước, kinh-hải giật mình thức dậy …

…. Nhìn lại thì ngọn đèn tàn trên bàn vẫn còn leo-lét tỏa ánh sáng vàng héo-hắt, buồn tênh, thời khắc đã bước sang canh tư. Vội-vàng ngồi dậy, lấy giấy viết ra ghi lại giấc mộng nầy ….

Tóm lại:

– Qua đoạn kệ nầy từ câu:

Bi, Trí nguyện lực lớn …

Cho đến:

Sanh về cõi thanh-lương.

Ðã hiển rõ lên cho chúng ta thấy rằng:

– Chư Phật (nói chung) và riêng cho đức A-DI-ÐÀ Thế-Tôn đã vì chúng-sanh chúng-ta mà tu BI – TRÍ và NGUYỆN-LỰC trong hằng-hà sa số A Tăng-kỳ kiếp, chịu biết bao nhiêu là nỗi nhọc-nhằn mục-đích cũng chỉ vì:

– “Muốn độ chúng-sanh, muốn làm cho chúng-sanh xa lìa được những “Nhiệt-não” trong ba cõi, sáu đường mà sanh về nơi Tịnh-độ, hầu tiến-tu mãi mãi cho đến ngày thành Phật, cũng như NGÀI vậy, mà thôi.”

Lành vậy thay.

Giải-thích đoạn 4.

Câu thứ 1:

Ngã kim tịnh tam-nghiệp.

(Nay con tịnh ba-nghiệp)

Vì sao gọi là NAY (kim)mà không là ngày hôm qua, ngày mai hay ngày mốt ?

Chữ “NAY” đây có nghĩa là:

– Bây giờ đây.

– Ðúng thời, đúng lúc, đúng chỗ, đúng nơi, đúng căn, đúng pháp … để mà “TU” rồi. Vậy thì hãy bắt tay vào TU liền ngay đi, đừng chờ, dừng hẹn mai kia, hay mốt nọ gì nữa cả.

Bởi cổ đức có dạy rằng:

Mạc đãi lào lai phương niệm Phật,
Cô phần đa thị thiếu-niên nhơn!

Tức là:

Chớ hẹn đến già rồi niệm Phật,
Ðồng hoang mồ trẻ thiếu chi người!

Hoặc như:

Dần-dà tính thiệt, so hơn,
Tuổi xanh qua mất, để hờn về sau. 

Vì thế cho nên Tổ-sư mới dùng chữ “KIM” tức là “NAY”, là có dụng-ý muốn khuyến-tấn và nhắc-nhở cho chúng-ta phải cấp-tốc lo nghĩ đến việc tu-hành, đừng nên chần-chờ trễ-nải vậy.

Vậy thì:

– Phải “TU” như thế nào đây ?

– Phải:

“TỊNH TAM NGHIỆP”

(Tịnh ba nghiệp)

TỊNH đây tức là làm cho lắng im, thanh-tịnh, sạch-sẽ … Như được vậy thì mới gọi là TỊNH, bằng trái lại thì gọi là “BẤT-TỊNH”, là không sạch.

– Phải TỊNH cái gì ?

– Phải TỊNH ba nghiệp, đó là:

– Nghiệp của THÂN,

– Nghiệp của KHẨU,

– Nghiệp của Ý.

a. Nghiệp của THÂN thì có: Sát-sanh, trộm-cắp, tà-dâm.

b. Nghiệp của KHẨU thì có: Nói dối, nói hung ác, nói thêu-dệt, nói hai chiều.

c. Nghiệp của Ý thì có: Tham, sân, si.

Như vậy thì THÂN, KHẨU, Ý của ta lúc “chưa tịnh” có đầy đủ mười tội trên – Gọi là THẬP-ÁC.

Nay ta biết như thế rồi thì phải “phát-tâm quyết-định” làm cho nó TỊNH trở lại. Có vậy thì mới TU được, niệm PHẬT mới cảm-ứng đạo-giao được, mới vãng-sanh được….

Làm sao cho THÂN, KHẨU, Ý của ta lúc “chưa tịnh” có đầy-đủ mười tội trên – Gọi là THẬP-ÁC.

Nay ta đã biết như thế rồi thì phải “phát-tâm quyết-định” làm cho nó TỊNH trở lại. Có vậy thì mới TU được niệm PHẬT mới cảm-ứng đạo-giao được, mới vãng-sanh được ….

Làm sao cho THÂN, KHẨU, Ý được Tịnh ?

Chính là phải:

1. Về THÂN thì:

– Không sát-sanh mà phải phóng-sanh,

– Không trộm cắp mà phải Bố-thí,

– Không tà-dâm mà phải đoan-chánh.

2. Về KHẨU thì:

– Không tham-lam mà phải biết Thiểu-dục, tri-túc (ít muốn, biết đủ)

– Không sân-hận mà phải nhẫn-nhục, hòa vui.

– Không si-mê (ngu tối)mà phải có trí-huệ, biết rõ lý nhân-quả, luân-hồi (để tránh gây nhân ác).

Ðược như thế thì mới gọi là:

“Nay con tịnh ba nghiệp”

hay còn gọi là tu THẬP-THIỆN nghiệp (mười điều lành) vậy.

Câu thứ 2:

Quy-y cập lễ tán

(Quy-y và lễ tán)

– Quy-y: Ðã có giải-thích ở trước rồi. Nay chỉ lược sơ qua:

Nói quy-y ấy là đem cả thân và tâm (trong sạch)của mình nương về nơi PHẬT, PHÁP, TĂNG Tam-bảo, tựa như người đi sông biển nương nơi ghe thuyền, người đi trong đêm tối nương nơi đèn sáng, người đi nơi hiểm-nạn nương kẻ phò trợ, dắt-dìu vv….

– Còn LỄ đây tức là chấp tay cúi đầu lạy xuống.

Lễ (lạy) thì phải dùng tâm chí-thành và trân-trọng. Một cái lạy muốn cho có được phước to thì phải đúng theo cách “ngũ thể đầu-địa” (tức là năm vóc gieo xuống đất).

Năm vóc ấy là:

– Trán (phải mọp sát xuống mặt đất).

– Hai bàn tay (cho chí đến cùi chỏ) pphải áp sát xuống mặt đất.

– Hai đầu gối (cho chí đến bàn chân) cũng phải áp sát mặt đất.

Trong khi lạy PHẬT vv…. như vậy, phải nhớ đừng có kể đến chỗ mặt đất mà mình lạy xuống đó là sạch hay dơ, mà sanh lòng ưa, ghét… vì như vậy là lạy không cung-kính và hết lòng quy-mạng – sẽ không được phước.

Kinh nói:

– Lúc đó ma-vương Ba-Tuần nghĩ biết tội-lỗi của mình, phát-tâm ăn-năn, sám-hối, đứng trước Thế-tôn, gieo mình xuống đất đảnh-lễ dường như cây to bị trốc gốc ….

(Tức là nhào xuống đất lạy “một cái ầm”, bất kể đến đất đá, sạch dơ: – Bất kể hà-xứ)

Lạy Phật càng nhiều, càng cung-kính bao nhiêu thì càng được diệt tội, sanh phước nhiều bấy nhiêu. Chẳng những chúng ta là hàng phàm-phu tội nhiều, chướng nặng lạy Phật không mà thôi, ngay cho chí đến chư thiên trên các cõi Trời cũng lạy Phật nữa. Chẳng những chư Thiên lạy Phật không mà thôi, chí đến chư thánh-nhơn giải-thoát trong 3 thừa Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cũng lạy Phật nữa.

Xin đọc một đoạn kinh sau đây:

…. Bấy giờ đức Phật CÁT LỢI-Ý Như-lai, Ðẳng Chánh-giác liền duỗi cánh tay hữu, phóng ra một tia sáng lớn chiếu đến vương-tử Phước-Diêm, trong tia sáng ấy xuất-hiện một hoa sen lớn như bánh xe, có trăm ngàn cánh, phóng trăm ngàn tia sáng đồng chiếu thân vương-tử.

Lúc ấy, vương-tử Phước-Diệm thấy tự thân mình ngồi trên hoa sen ấy – Ðã ngồi xong rồi, vương-tử chắp tay, cúi mình hướng về Phật CÁT LỢI-Ý mà xướng to lên 3 lần rằng:

“Nam-mô PHẬT ÐÀ-GIA”

Phật Cát Lợi-Ý thâu-nhiếp tia sáng, Vương-tử nương theo tia sáng ấy đến trước đức Phật, gieo mình xuống đất như cây to đổ gốc, LẠY PHẬT ÐỦ MỘT NGÀN LẠY rồi nói kệ rằng:

Từ lâu mang bệnh nặng,
Nay tôi gặp y-vương.
Ở trong ác-nạn khổ,
Xin Thế-Tôn cứu-vớt.

……………………………..

(Vương Tử Phước-Diệm là tiền-thân của Phật Thích-Ca Mâu-Ni).

Cho nên trên con đường tu-hành, cầu chơn giải-thoát, thì việc đầu tiên là phải “LẠY PHẬT”. Chính vì vậy nên đức Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát dạy – trong 10 đại nguyện vương – của ngài rằng:

Nhứt giả lễ kính chư PHẬT.

(Một là LẠY PHẬT Thế-tôn).

Phải lạy PHẬT ra sao và như thế nào ?

Ngài dạy:

– “Tất-cả vi-trần số chư PHẬT ở 10 phương, ba đời. Do vì ta cùng sức hạnh-nguyện Phổ-Hiền, nên ta phát lòng cung-kính như thấy ở trước mặt. Ta dùng ba nghiệp Thân, khẩu, ý thanh-tịnh, thường cung-kính đảnh-lễ luôn-luôn. Ở trước nơi mỗi đức Phật như vậy, ta đều biến hiện ra số thân nhiều như vi-trần, mỗi mỗi thân ấy đảnh-lễ khắp vi-trần số đức PHẬT …..

… Như hư-không vốn không bao giờ cùng tận cho nên sự lễ-kính của ta cũng không bao giờ cùng tận. Ba nghiệp Thân, khẩu, ý thanh-tịnh lễ Phật nối luôn không dứt.”

Phải LẠY PHẬT như thế đó.

– TÁN: Là khen-ngợi, là tán-thán công-đức của chư Phật.

Cũng như nơi phần lễ lạy vừa giảng ở trên.

Nơi đây sự TÁN-THÁN công-đức của chư PHẬT cũng như vậy. Ðược vô-lượng vô-biên phước-đức.

Xin tạm nghe bài kệ của một vị Bồ-tát tán-thán PHẬT Thích-Ca như sau:

Kính lễ đấng Tối-Thắng phóng quang,
Kính lễ đấng tâm như hư-không.
Kính lễ đấng quyết-nghi cho người,
Kính lễ đấng siêu-việt tam-giới.
………………………………..

Tán-thán các công-đức Như-lai…
… Trí-huệ, phương-tiện đều đầy-đủ.
Do đó tôi lạy đấng đại-thánh….
… không ai ngang bằng huống hơn PHẬT,
Do đó tôi lạy đấng Tối-Thắng ….
Thân như núi vàng không bụi nhơ,
Tóc biếc, mịn mền xoáy bên hữu.
Ðỉnh Phật lộ rõ như Tu-di.
Khối quang-minh vô-lượng công-đức,
Lông trắng giữa mày phóng sáng lớn …
Mắt Phật rộng dài như sen xanh,
Nhìn chúng-sanh với Từ-bi lớn.
Như vầng trăng thu tròn giữa trời.
Mặt Phật cũng giống y như vậy,
Chúng-sanh nhìn ngắm không chán đủ.
Do đó tôi lạy vua mặt đẹp ….
vv…..

Việc TÁN-THÁN PHẬT ở đây rất quan-trọng, không thể nào thiếu được, nó đứng vào hàng thứ nhìn sau việc LỄ-KÍNH Phật.

Cho nên trong 10 đại-nguyện vương, đức Phổ-Hiền Bồ-tát dạy rằng:

– “Nhị giả xưng-tán Như-lai”

(Hai là khen-ngợi Như-lai)

Vậy thì cái sự Tán-Thán, khen-ngợi Như-Lai đó phải hành như thế nào ?

Ðức Phổ-Hiền Bồ-tát dạy:

– “Tất-cả các cõi nước trong 10 phương, ba đời, có bao nhiêu vi-trần, trong mỗi một vi-trần đó đều có vi-trần số PHẬT, ở nơi chỗ của mỗi đức PHẬT (trong vi-trần)đó, đều có hải-hội Bồ-tát (là số Bồ-tát đông không thể nào kể xiết được, tựa như nước trong biển vầy) vây quanh. Ta (Phổ-Hiền Bồ-tát) dùng sức thắng-giả, hiện-tiền tri-kiến rất sau, dùng thiệt căn (Lưỡi) nhiệm-mầu hơn cả Biện-Tài thiên-nữ (40), mỗi thiệt-căn như vậy vang ra BIỂN âm-thanh vô-tận, mỗi mỗi âm-thanh diễn ra BIỂN tất-cả lời nói, ngợi khen, tán-thán Biển công-đức của tất-cả Như-lai …

Giả-sử như hư-không có cùng tận, thì sự tán-thán (chư Như-lai) của ta mới cùng tận.

Nhưng hư-không vốn không bao-giờ cùng-tận, nên sự tán-thán của ta cũng không có cùng tận, tột đến thuở vị-lai sự tán-thán của ta vẫn không ngớt, tận cõi hư-không cùng khắp tất-cả” …

Và tất-cả người con PHẬT chúng-ta cũng:

– Phải nên TÁN-THÁN Như-lai như vậy.

CÂU THỨ 3:

Nguyện cộng chúng hữu-tình

(Nguyện cùng các hữu-tình)

Trước hết giải-thích về chữ NGUYỆN:

– Quy-Nguyên Trực-chỉ dạy:

– “Phù, nguyện giải, nhạo dã, dục dã …

Dục sanh Tây-phương Tịnh-độ nhạo-kiến A-DI-ÐÀ PHẬT, tất tu phát-nguyện, phương đắc vãng-sanh. Nhược vô Nguyện-tâm, thiện-căn trầm một”…

Nghĩa là:

– “Ôi! (người)phát-nguyện ấy tức là ưa, là muốn vậy.

Ưa, muốn, sanh về cõi Tây-phương Tịnh-độ để được thấy dức A-DI-ÐÀ PHẬT. Thì cái điều tất-yếu là phải tu PHÁT-NGUYỆN trước cái đã, rồi sau đó mới được vãng sanh – Bằng nếu như mà không có cái “tâm phát-nguyện” kia, tất căn-lành phải bị chìm mất” …..

Thành thật và kính-trọng thay cho lời dạy ấy.

Tại-sao vậy ?

Ngài Từ-Chiếu Tông chỉ dạy:

– “Hữu hành vô-nguyện, kỳ hành tất cô”.

Tức là : “Có làm mà không có nguyện, thì việc làm ấy sẽ không có mục-đích, tôn-chỉ.”

Bởi vì trước hết mình phải có một cái mục-đích, có một cái chủ-trương cho thiệt là rõ-ràng, phân-minh, đâu đó xong-xuôi hết rồi (đây tức là NGUYỆN đó)thì sau đó mới bắt tay vào “làm” công-việc ấy được (Ðây tức là HÀNH đó).Bằng nếu mà không như vây, thì cái “làm ấy nó chẳng có nghĩa-lý gì cả.

Và như vậy thì đương-nhiên là cái việc làm đó nó vô-vị, trống không.

Thử hỏi làm việc mà vô-vị, trống không như vậy, thì làm để mà chi ? Như có người ra sức để làm việc, bất kể đêm, ngày, tháng, năm, vv…. Làm hoài mà không buông, không nghỉ, để làm gì ? Nếu không phải là MUỐN cho có nhà cao, cửa rộng, để tiền của lại nuôi vợ, nuôi con (sau nầy), lo lắng cho gia-đình thì y ta đâu có ngu dại gì mà chịu cực-khổ, nhọc-nhằn như vậy chớ!

Còn người tu Tịnh-độ chúng ta đây cũng thế:

– Dậy sớm, thức khuya, tháng lại, ngày qua, năm nầy, năm khác … cho chí đến suốt cả cuộc đời, miệng niệm hoài một câu A-DI-ÐÀ PHẬT, thân lạy hoài một ông PHẬT A-DI-ÐÀ để làm gì, nếu không phải là MUỐN, là ƯA (tức là NGUYỆN đó), là cầu được vãng-sanh về Tây-phương Cực-lạc ư ?

Quy-nguyên dạy:

– “Nhứt-thiết Phật-sự, tùng đại-nguyện khởi. Dục thành vô-thượng đạo cố, tất tu đắc NGUYỆN Ba-la-mật.

Sở-dĩ,

– PHỔ-HIỀN quảng phát vô-biên nguyện-hải. DI-ÐÀ Hữu phát lục bát nguyện môn. (41)

Thị tri: (42)

-Thập-phương chư Phật, thượng-cổ tiên-hiền, giai nhơn nguyện-lực, thành-tựu Bồ-đề.” (43)

Vậy nghĩa là sao ?

Nghĩa là:

– Tất-cả các việc Phật-sự (mà mình đã làm, đang làm, sẽ làm) đều căn-cứ vào nơi đại-nguyện mà phát-khởi ra cả. Còn như nếu (mà)muốn đạt cho được cái quả-vị “vô-thượng Bồ-đề”, tất nhiên cũng phải tu cho thành cái “NGUYỆN BA-LA MẬT” trước hết, (rồi sau) mới được vậy.

Và cũng bởi vì (cái ý) như thế, cho nên:

– Ðức PHỔ-HIỀN đại Bồ-tát mới phát ra (10 đại-nguyện vương)rộng-rãi, vô-lượng, vô-biên, vô bờ, vô bến, (đến tột cùng thuở vị-lai, khi nào hư-không cùng-tận mới chịu thôi nghỉ – có nói sơ qua ở trên rồi)

– Còn đức A-DI-ÐÀ PHẬT, (Khi xưa lúc ngài còn làm PHÁP-TẠNG Tỳ-kheo), đói trước đức PHẬT THẾ TỰ-TẠI VƯƠNG Như-lai – (Cũng đã có lược nói sơ qua ở trước rồi) – phát ra 6 lần cái 8 (48) đại-nguyện để trang-nghiêm cõi Cực-lạc và thành-tựu Phật-quả nữa kìa.!

Vậy cho nên:

– Chư PHẬT ở 10 phương, (kể luôn cả 3 đời chư PHẬT quá-khứ, hiện-tại, vị-lai) cùng với các bậc thánh xưa hiền trước, (thượng-cổ, tiên-hiền) sở-dĩ thành PHẬT đều nhờ vào nơi đại-nguyện (mà được) cả vậy.

Kinh Hoa-Nghiêm dạy:

-“Bất phát đại-nguyện, ma sở nhiếp-trì” …

Nghĩa là:

– (Nếu làm)mà trước không phát lên đại-nguyện chơn-chánh, (để cho có chỗ y-cứ vào), thì đều bị lạc vào trong lưới ma cả.

Tại sao vậy ?

Thí-dụ như có người suốt đời làm phước, bố-thí, làm các việc thiện (nhưng mà cứ làm khơi-khơi vậy thôi, chớ không có đem kết-quả của các việc thiện đó để hồi-hướng nơi quả-vị vô-thượng Bồ-đề hay là cầu sanh về Cực-lạc vv… chi cả).

Thì thử hỏi cái kết-quả của các hành-động tốt đó kiếp sau nó sẽ diễn-tiến như thế nào ?

– Ðương-nhiên là người ấy kiếp sau sẽ rất giàu-sang, bạc tiền dư-dả, xe ngựa nhà lầu, làm vua, làm chúa, chức trọng, quyền cao, vinh-sang tột-đỉnh. Nhưng mà – bởi vì y ta (kiếp trước cùng với kiếp nầy) không biết đạo – cho nên y ta say-đắm vào nơi phước-báo cao sang, ham mê danh-vọng, của, tiền, miệt-mài trôi lăn trong ngũ-dục lạc, rồi làm ra các chuyện thất-đức, ác-ôn (Ðây tức là bị ma nó nhiếp-trì, sai-sử đó)đến chừng bỏ kiếp hiện tại ấy rồi, ắt phải y theo các hành-nghiệp bất thiện kia mà đọa vào tam đồ, ác đạo …

Hiện-tại đây chúng-ta thấy các việc như thế rất nhiều.

Thí-dụ: Như bên Tàu, vua Tần Thỉ-Hoàng (nhờ kiếp trước làm phước lớn, nên kiếp nầy được làm vua) tàn bạo, ác độ – Ðốt sách, chôn học-trò, giết hại sanh-linh số nhiều không kể xiết … Hỏi kiếp sau rồi sẽ sanh về đâu đây ?

– Còn người Tào-Tháo kia, cũng như làm vua một cõi rồi đó, tánh-tình gian-hùng, xảo-quyệt (ai có đọc truyện Tam-quốc thì biết) … 800 năm sau có một người đồ-tể, khi mổ bụng heo ra, thấy trên phổi heo ấy có hai chữ Tào-Tháo, 100 năm sau nữa, có người đi đường thấy một con trâu bị trời đánh chết, cả mình cháy đen hết, nằm sình-chương, phơi bụng ra ở bên đường, trên bụng con trâu ấy hiện rành-rành lên hai chữ Tào-Tháo rõ-ràng.

– Chuyện ông Tô Ðông-Pha kiếp trước làm một vị Thiền-sư cao Tăng, kiếp sau làm quan lớn say mê sắc dục (có bảy bà vợ), mặc dầu đi đâu ông ấy cũng có mang theo bức tranh của đức A-DI-ÐÀ PHẬT và nói rằng đây là sổ “niệm Phật công-cứ” của tôi … nhưng mà đến khi bệnh gần chết, thân-xác chịu nhiều đau đớn (gân, xương co rút …) có bậc thiện-tri thức khuyên niệm PHẬT, thì Tô-Ðông Pha phều-phào trả lời rằng:

– Tôi vẫn biết niệm PHẬT có công-đức không thể nghĩ bàn, nhưng khổ nỗi lúc nầy tôi bị đau-đớn quá, nên không sao niệm được … rồi chết đi.

Vậy thử hỏi người Ðại quan (quan lớn)Tiến-sĩ, đại thi-hào, đại học-sĩ TÔ ÐÔNG-PHA ấy kiếp sau sẽ lạc về đâu trong 6 nẻo luân-hồi … ?

– Chuyện vị cao-Tăng non Nhạn-đản, kiếp sau là quan thừa-tướng (Tần-Cối)làm một tên đại gian-hùng (truyện Nhạc-Phi), khi y ta còn nằm trên giường bệnh – (thì sau lưng đã nổi lên một mụt ung-thư to bằng miệng tô rồi)– Có người(quan dưới quyền)nằm mơ đi xuống âm-phủ, thấy Tần-Cối đang thọ khổ trong vạc dầu sôi nơi địa-ngục …

– Bên Việt-Nam ta, vu Lê Long-Ðỉnh – nhờ kiếp trước tác-phước nên kiếp nầy được làm vua, mà lại sanh lòng ác độc, giết hại, hoang-dâm, vô đạo, … phá-hoại PHẬT giáo, truyền-lịnh bắt mấy ông thầy Tăng đem ra quỳ gối trước điện rồi sai người lấy mía để lên đầu mà róc, rồi lại làm bộ trợt tay để cho dao bén kia rớt xuống đầu (trọc), nghe tiếng mấy ông Tăng ấy rên-la, đau-đớn cùng thấy máu chảy ra như vậy, (rồi nằm trên ngai vàng) mà vỗ tay cười …

Lúc Y ta còn sống bị Trời phạt tê-liệt toàn thân, đến nổi mỗi khi ra trào thì nằm chớ không ngồi dậy được – sử sách gọi là vua Lê Ngọa-Triều …

Và như vậy rồi, thử hỏi sau khi chết, kiếp tới sẽ lạc về đâu trong 3 ác đạo đây ?

*

– Vua Ngô Ðình-Diệm, Ngô Ðình-Nhu, Ngô Ðình-Cẩn (thời Cộng-Hòa) … phá-hoại đạo Phật, giết, thiêu, thầy Tăng, làm việc ác-đức nên bị quả báo phải chết một cách nhục-nhằn, thê-thảm để đền tội ác.

Hiện-tại thì bị quả báo như thế, còn kiếp sau thì sẽ lạc về đâu trong ba ác đạo đây?

Ôi! các gương xưa, trước sau như thế, và còn biết bao nhiêu là gương khác nữa, làm sao mà kể ra cho xiết được.

Thế nên:

– Người học PHẬT và các PHẬT-tử chúng-ta phàm khi có làm nên được các việc phước lành, công-đức chi chi .. đều phải phát NGUYỆN

  1. Hồi-hướng vãng-snah về nơi Tây-phương Cực-lạc.
  2. Hồi-hướng cho tất-cả pháp-giới chúng-sanh đồng thành Phật đạo, cả.

Có thế mới được gọi là:

– Chơn Phật-tử.

– Người biết đạo.

vậy.

Phải lấy các gương Thiện, Aùc khi xưa như trên … đó mà tự răn mình – Ðể cho lòng khá hoảng, khá than và khá sợ, trước cái đã, rồi sau đó sẽ niệm PHẬT và phát NGUYỆN cầu sanh về nơi CỰC-LẠC.

Tổ-sư dạy:

a. Hữu nguyện vô hành, kỳ-nguyện tất hư.

(Có Nguyện mà không làm, thì nguyện ấy hư mất – cũng như không mà thôi). Như nói: – Nguyện sanh về Cực-lạc mà lại không chịu niệm PHẬT thì cái lời nguyện ấy kể như là không có vậy.

b. Vô hành, vô nguyện – không trụ Diêm-Phù.

Còn như không hành câu (niệm Phật), mà cũng không phát nguyện cầu sanh (sanh Cực-lạc)nữa – thì uổng cho một kiếp đời sanh ra trên cõi thế nơi Châu Diêm-Phù Ðề nầy – lắm vậy.

c. Hữu hành, hữu nguyện – Trực nhập vô-vi.

Còn nếu như mà có (niệm Phật) và lại còn có thêm phát nguyện cầu (sanh Cực-lạc) – nữa Thì trực-chỉ Tây-phương (hầu Di-Ðà) ngay lập tức.

Hởi ôi!

Chư Tổ-sư xưa đã hết lời khai thị, dạy-dỗ như thế, và ngay cả trong quyển “Tây-phương Nhật khóa” nầy, nơi lời chú thích đây – Hải-Quang tôi cũng đã cố-gắng trùng-tuyện lại, đâu ngoài mục-đích:

Gởi ý ta về khác nẻo xa,
Khuyên nên chơn-chánh niệm DI-ÐÀ.
TÍN-tâm như nếu gìn lòng mãi,
HẠNH, NGUYỆN ngày kia sẽ nở hoa.

Thành-kính cúi đầu, và …

Mong-mỏi vậy thay.

Còn 3 chữ:

– Các hữu-tình.

Ở đây, …

Là nói đến các chúng-sanh có tình thức, biết phân-biệt, có ghét, có thương vv… (đã có lược giảng qua ở nơi trước rồi).

Nói khái-quát thì có 4 loài hữu-tình là: Noãn, Thai, Thấp, Hóa.

Nói rộng ra thì có 12 loài sau đây:

1. Noãn-sanh(sanh bằng trứng).

2. Thai sanh(sanh bằng thai.)

3. Thấp-sanh(snah bằng cách thọ khí ẩm-ướt).

4. Hóa-sanh(sanh bằng cách thọ ly nguyên-thể).

5. Loài hữu-sắc(có thân sắc-tướng – chúng-sanh trong 2 cói Dục-giới và Sắc-giới).

6. Loài vô-sắc(không có thân sắc-tướng – như chư thiên cõi trời Vô-sắc – như hồn ma vv…)

7. Loài hữu-tưởng(có tâm-tưởng – chỉ chung cho tất-cả chúng-sanh trong ba cõi Dục-Sắc, Vô-Sắc).

8. Loài vô-tưởng(loại không có tâm-tưởng, như chư Thiên ở cõi Trời Vô-tưởng)

9. Loài Phi hữu-sắc(chẳng phải có sắc thân – như là các loài vi-trùng cực kỳ nhỏ, mắt thường không trông thấy được, nhưng mà nó nguyện không phải là không có thân đâu, (tức là cũng có thân nhưng vì vi-tế quá nên giống như không có (thân) vậy – Phi hữu sắc).

10. Loài phi vô sắc(chẳng phải là không có hình sắc, tướng mạo đâu – có nhưng mà nhục-nhãn không thấy được, chỉ có thiên-nhãn của Phật mới thấy biết được mà thôi).

11. Phi hữu tưởng(chẳng phải có tưởng), như cây, đá, nó vốn là loại không tưởng nhưng vì có yêu, quỷ dựa nào nên nó thành ra “như là có tưởng” (mà thật ra thì nó vốn là lòng vô-tưởng).

12. Phi vô-tưởng(không phải là không có tưởng). Chẳng hạn như:

1. Như chư thiên ở cõi trời Phi-tưởng Phi-phi tưởng(trời Vô-sắc).

2. Như loại sứa biển nguyên thật chất của nó là bọt biển(vô tưởng), nhưng vì có hồn linh dựa vào, nên nó thành ra con sứa có tưởng – vậy nên nói nó không có tưởng thì cũng không đúng vì nó cũng biết đau … còn nói nó có tưởng thì cũng không đúng vì thật chất của nó là khối bọt biển thì làm sao có tưởng ?

Tất-cả chúng-sanh trong 12 loại hữu-tình đó, chư Phật, chư Bồ-tát đều từ-bi cứu-độ hết cả. Cho nên, chúng-ta là con của Phật, thì cũng phải học theo cái hạnh đức của “CHA” mình mà đem các công-đức riêng tư của mình đã gây-tạo hồi-hướng cho họ (12 loại hữu-tình chúng-sanh trên) đều được (như ý của câu kệ ở dưới đây là) :

Câu 4:

Ðồng sanh Cực-Lạc quốc

(Vãng-snah nước Cực-lạc)

– Ðồng-sanh:

Tức là cùng nhau đồng được sanh về (cõi nước Cực-lạc)cũng như mình vậy.

Ðây tức là thể-hiện lên tâm Từ-bi, bình-đẳng, không phân-biệt, thân-sơ, chủng-loại chi cả … của chư PHẬT vốn là đấng:

– Chà lành muôn loại.

– Ðại Từ, đại-bi, đại hỷ, đại-xả.

– Cứu khổ-nạn cho khắp cả các loài …

Vì sao mà phải nguyện “đồng sanh” (về Cực-lạc) như thế ?

– Vì tất-cả chúng-sanh đều có Phật-tánh như nhau vậy.

– Vì hạp với tâm đại từ-bi của chư PHẬT vậy.

– Vì thuận theo “pháp-giới tánh” chúng-sanh vậy.

vv……

CỰC-LẠC:

Là tên quốc-độ của đức PHẬT A-DI-ÐÀ, nằm về phương Tây của cõi Ta-bà nầy. Trong Hoa-tạng thế-giới (kinh Hoa-nghiêm) thì cõi Cực-lạc và cõi Ta-bà đều đồng nhau cùng nằm trên tầng thứ 13 của Hoa-Tạng.

Vì sao quốc-độ ấy có tên là Cực-lạc ?

Kinh Tiểu-bổn A-DI-ÐÀ dạy:

– “Xá Lợi-Phất, bỉ độ hà cố danh-vi Cực-lạc ?

Kỳ quốc chúng-sanh, vô-hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực-lạc” ?

Nghĩa là:

“Nầy Xá-Lợi Phất, thế-giới kia vì sao có tên là Cực-lạc ?

Bởi vì chúng-sanh trong cõi nước đó không có các thứ khổ, chỉ hưởng thọ toàn những điều vui, vì vậy nên có tên là Cực-lạc”.

Vậy thì cái vui ở nơi cõi Cực-lạc nầy như thế nào ?

Gọi là vui bởi vì:

– Nơi cõi Cực-lạc không có 2 thứ khổ là:

– Nội khổ và ngoại khổ (như cổi Ta-bà).

1. Thế nào là nội khổ ?

Tức là những cái khổ ở ngay chính nơi thân mình – gồm có:

a. Thân khổ: Tức là 404 chứng bệnh(101 thứ bệnh phong, 101 thứ bệnh hoàng-nhiệt, 101 thứ bệnh đàm-ấm, 101 thứ bệnh tổng-hợp) hành khổ thân-xác.

b. Tâm-khổ: Tức là các thứ buồn, thương, giận, ghét, lo-rầu, phải, quấy, thấp, cao vv …. Làm cho tâm sanh phiền-não, điên-đảo, chẳng lúc nào yên.

c. Thế nào là ngoại-khổ ?

Ðây tức là những loại thứ khổ ở bên ngoài (thân) đưa đến.

Chính là các thứ:- Gió, mưa, nóng, lạnh, giặp cướp, oán-thù, độc trùng, ác thú vv…

Ngoài ra còn có các thứ khổ khác nữa như:

– Tam khổ, bát khổ vv… cho đến vô lượng các thứ khổ khác nhau, đồng TẬP (chứa nhóm) khắp cả trong, ngoài, làm cho chúng-sanh chúng-ta phiền-não, đớn đau…

Còn cõi nước Cực-lạc thì hoàn-toàn trái-ngược lài (với cõi Ta-bà nầy) là không có KHỔ, chỉ THUẦN VUI mà thôi.

Ðó là cũng bởi vì khi xưa, lúc còn là PHÁP-TẠNG Bồ-tát, đức A-DI-ÐÀ Thế-tôn đã có phát ra các lời đại nguyện tương-ưng như vậy.

Xin trích-lược lên đây vài ba đại-nguyện (ấy) của NGÀI:

– Ðại nguyện thứ 1:

Giả-sử khi tôi thành PHẬT, nếu như nước tôi mà còn có địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh, thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

– Ðại nguyện thứ 16:

Giả-sử khi tôi thành PHẬT, hàng thiên, nhơ cõi nước tôi mà còn nghe danh-từ bất thiện, thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

– Ðại nguyện thứ 27:

Giả-sử khi tôi thành PHẬT, hàng thiên, nhơn và tất-cả vạn-vật trong nước tôi đều trang-nghiêm, thanh-tịnh, sáng-rõ, hình-sắc đặc-biệt, lạ-lùng, vi-diệu tột cùng không ai lường biết được dầu là có thiên-nhãn đi nữa mà biện-biệt được danh-số thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

– Ðại nguyện thứ 39:

Giả-sử khi tôi thành PHẬT, hàng thiên, nhơn nơi nước tôi, nếu chẳng hưởng-thọ an-vui, khoái-lạc như hàng lậu-tận tỳ-kheo(44) thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác.

vv….

Và cũng bởi-vì do kết-quả của các đại nguyện-lực mà NGÀI đã phát ra như vậy, cho nên khi NGÀI thành PHẬT rồi thì cõi nước CỰC-LẠC của NGÀI chỉ có toàn là các sự thù-thắng, an-vui mà thôi …

Chính vì như thế mà đức bổn-sư Thích-CA Mau-Ni Thế-tôn của chúng-ta mới mở ra con đường Tịnh-độ, và dạy-bảo chúng-ta cùng tất-cả các hữu-tình đồng phát-tam:

– TRÌ NIỆM DANH-HIỆU ÐỨC PHẬT A-DI-ÐÀ.

Và:

– NGUYỆN CẦU ÐƯỢC VÃNG-SANH VỀ NƠI CỰC-LẠC.Vậy.

————–

(1)- Ðảnh-tướng:Vô kiến đảnh-tướng (tức là búi tóc bằng thịt nhô cao lên ở giữa đỉnh đầu của Phật).

(2)- Lông trắng chặn mày:Là Bạch hào tướng quang (1 trong 32 tướng tốt của Phật).

(3)- Vô-úy: Không có sự sợ-sệt, khủng-bố.

(4)- Hai mươi ngón:Là 10 ngón tay và 10 ngón chân.

(5)- Bước tượng-vương:Dáng đi oai vệ, nghiêm-chỉnh như voi chúa đi.

(6)- Câu nầy ý nói thân Phật đoan-chánh, oai-nghiêm, tự mình đã xa lìa sợ-sệt còn làm cho chúng-sanh xa-lìa sợ-sệt nữa.

(7)- Chín giới: 

– Bồ-tát giới, Duyên-giác giới, Thanh-văn giới. (Xuất thế-gian giới)

– Trời, thần, người, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh (Thế-gian giới).

(8)- Bất khả xưng-kể:Tức là bất khả thuyết.

(9)- Siểm-khúc: Siểm là Dua-nịnh. Tức là cong quẹo, không ngay thẳng, không trung-trực. (tức là khuất lấp, gian-trá).

(10)- Ði nhiễu quanh Phật, tức là đi vòng quanh Phật theo chiều thuận (của kim đồng-hồ)đây là một pháp nghi bày-tỏ lòng cung-kính, tùy-thuận (theo sự giáo-hóa)và không chống trái, đối-nghịch vv …

(11)- 336 muôn dặmtức là 336 x 10,000 = 3,360,000 (ba triệu ba trăm sáu mười ngàn dặm)cao.

(12)- Tức là con số: 543 dặm x 1 (4) x 1 (6) x 1 (23) x 20,000 x 100,000 = —–dặm. Ðây là một con số không thể nào đo lường nổi được.

(13)- Tự-tại:Là theo như-ý muốn của mình.

(14)- Kim-khẩu: Là miệng bằng vàng. Ðây ý nói là từ nơi miệng của đức Phật tuyên-thuyết ra những lời dạy bảo chúng-sanh, quý-giá như vàng, như ngọc vv…

(15)- Sa-môn: Là thầy tu Phật-giáo.

(16)- Hậu đắc-trí: Trước đó tu, sau (hậu)mới chứng đắc được TRÍ (tức là thành đạo).

(17)- Chánh biến tri:Sự hiểu biết chơn-chánh cùng khắp tất-cả ở nơi mọi pháp.

(18)- Khổ-tế: Cái khổ não cực-kỳ vi-tế (rất nhỏ)

(19)- Tự-thể:tức là có sẳn hình-tướng – có sẳn có chỗ ở nhứt định. Gọi là định-tướng.

(20)- Nhóm của ngài Kiều Trần-Như gồm có cả-thảy 5 vị là: Kiều Trần-Như, Át-bệ, Thập-lực Ca-Diếp, Ma-Nam câu-Lợi và Bạt-đề.

(21)- Nghèo cùng:Tức là nghèo cùng Phước đức và Trí-huệ giải-thoát (chớ không phải nói là nghèo cùng tiền bạc)

(22)– Mặt đất chấn-động sáu cách như sau:

– Phương Ðông nổi lên, phương Tây chìm xuống.

– Phương Tây nổi lên, phương Ðông chìm xuống.

– Phương Nam nổi lên, phương Bắc chìm xuống.

– Phương Bắc nổi lên, phương Nam chìm xuống.

– Bốn phương Ðông, Tây, Nam, Bắc đều chìm xuống, trung-ương nổi lên.

– Trung-ương chìm xuống – Bốn phương nổi lên.

(23).Ái niệm điên-đảo của trung-ấm thân là:

– Trước khi nhập thai, nếu trung-ấm thân là trai thì khởi ra lòng yêu mẹ, ghét cha. Khi tinh-dịch của cha xuất ra thì trung-ấm thân sanh tưởng nghĩ đó là tinh-dịch của mình.

– Còn nếu trung-ấm thân là gái thì khởi ra lòng yêu cha, ghét mẹ. Khi nhớt của mẹ xuất ra, thì trung-ấm thân sanh tưởng nghĩ đó là nhớt của mình.

Vì thương cha ghét mẹ, thương mẹ ghét cha. Lộn-xộn như vậy nên kinh gọi là:

– Ái niệm điên-đảo.

(24).Chim se-sẻ hóa làm con vọp: – Ở dọc theo miền biển khi mùa đông đến, thời-tiết trở lạnh, thì chim se-sẻ vùi mình vào trong cát (cho ấm) suốt mùa đông. Qua đến mùa xuân thì tự-nhiên cởi lốt, đổi hình, biến ra thành con vọp luôn chớ không còn làm chim sẻ nữa.

(25).Câu nầy ý nói bởi vì cứ ham ưa, vui thích và muốn ở hoài nơi cõi Ta-bà nên phải bị mất nhiều chỗ lợi-ích an-vui nơi cõi Cực-lạc.

(26).Câu nầy ý nói:

  1. Từ trong bào thai của mẹ ló đầu (lúc mới sanh) ra(khỏi lòng mẹ).
  2. Thân-thể mình như một cái túi bằng da mà trong đó chứa đầy các chất hôi-thúi. Từ nơi cái túi da đó, ló ra cái đầu của mình.

(27).Ba tấc hơi thở tan rồi. Nó ra mà không chịu trở vào trong mũi lại. (chết).

(28).Tới chừng đó (tức là sau khi chết rồi) thì thân-thể của mình (dù cho có đẹp như tiên-nga đi nữa) cũng hóa thành ra tro tàn vùi vào nơi lòng đất sâu, huyệt lạnh mà thôi!

(29).Năm nẻo xuống lên, -Năm nẻo là: Trời, người địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh. Trong 5 đường đó cứ mãi luân-hồi lên xuống, biết chừng nào thoát được.

(30).Tây-phương lạc: Tức là nói Tây-phương (Cực-lạc) vui-vẻ lắm.

(31).Câu nầy ý nói thân-mình từ nơi bông sen mà sanh ra, tức là bông sen làm cha mẹ, thom-tho, sạch sẽ.

(32).Pháp-âm: Tiếng thuyết-pháp.

(33).Thiên nhạc: Là nhạc của cõi trời, vi-diệu và hay lắm, nhạc thế-gian không thể nào so-sánh nổi được.

(34).Câu nầy ý nói: Ðất bằng ngọc Lưu-ly rạng-rỡ, không có một chút hột bụi nào cả.

(35).Câu nầy ý nói: Lâu đài, điện-các nơi cõi Cực-lạc đều do vàng, bạc, (và thất bảo hợp lại) mà thành (chớ không phải bằng ngói, đá như ở cõi Ta-bà nầy của mình vậy).

(36). Dị-bảo:Màu sắclạ-lùng, quý đẹp.

(37). Ðịa-cư chúng-sanh:Chúng-sanh sống ở trên mặt đất.

(38). Pháp-thân đại-sĩ:Là các bậc đại Bồ-tát trong các giai-vị: Thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng vv….

(39). Huệ-lực: Sức mạnh của trí-huệ.

(40)Biện-tài Thiên-nữ:là một vị Ðại Bồ-tát, vì muốn độ chư Thiên-nữ (gái trời), nên thị hiện ra thân Thiên-nữ. Vị nầy có một sức biện-luận uyên-bác, cao siêu ai cũng thán-phục.

(41). PHỔ-HIỀN Bồ-tát, phát nguyện rộng lớn như biển cả. DI-ÐÀ phát ra 48 đại-nguyện bao la.

(42)- Thị-tri:nên phải biết.

(43)- Mười phương chư Phật cùng các bậc cổ-đức, thánh trước hiền sau, đều do nơi nguyện-lực mà thành đạo Bồ-Ðề.

(44)- Lậu tận tỳ-kheo:Là các bậc thánh-nhơn đắc quả từ A la-hán trở lên.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.