Xuân Phụng Hoàng Tập 1
(2004)

Hòa Thượng Thích Thanh Từ

 

Lời Đầu

Anh thấy chăng!
Gió thu vờn nhẹ đầu cành
Lá vàng rơi rụng biết bao giờ về.
Anh thấy chăng!
Mẹ già ngồi liếp cửa sau
Soi gương bóng nước ngẩn ngơ chợt buồn.

Mùa xuân là mùa cây cỏ sinh sôi nẩy lộc, hoa nở, chim hót sao lại nói đến buổi hoàng hôn của kiếp người? Mỗi độ xuân về, tuổi xuân trôi qua, tuổi già chợt đến. Vừa thấy đó rồi không, đến đến đi đi quẩn quanh chỉ một đời phù du. Kẻ giàu, người khó đều cùng chung một chuyến tàu. Kết thúc của những ngày đầu xuân là tất niên, vậy sao không ưu tư nỗi buồn thân phận!

Nhưng có một mùa xuân không phải của đất trời khi thấy một cành mai nở giữa mùa băng tuyết, tuy bất chợt mà thành thiên thu. Đây là chỗ mà bao năm qua Hoà thượng Ân sư với tâm lão bà đã đinh ninh dặn dò, nhắc nhở hàng học chúng, những mong có ngày mỗi Thiền sinh chúng tôi nắm lấy chìa khóa vàng mở kho bất tử, ung dung tận hưởng. Sau những ngày tháng lang thang đầu đường xó chợ ắt sẽ cười vang trong giây phút hạnh ngộ này và chấm dứt một đời khốn khổ.

Xuân Phụng Hoàng được góp nhặt từ những lời dạy thấu tủy của Hoà thượng Ân sư trong dịp lễ Tất niên và chúc Tết hơn mười năm qua tại Thiền viện Trúc Lâm. Mong rằng chúng ta tự mở sáng mắt, thấy được mặt trăng thật rờ rỡ, hiện hữu giữa tầng không, để không phụ lòng kỳ vọng của Người.

Dù đã cố gắng hết sức, chúng tôi cũng không sao tránh khỏi nhiều sơ sót. Kính mong những bậc cao minh phủ chính cho.

Cuối thu Giáp Thân 2004

Thiền sinh Trúc Lâm (Ni viện)

Lễ Phổ Trà Giáp Tuất

Đã đến giờ khai mạc, tôi nói lý do buổi họp mặt: Thường ở Thiền viện, mỗi năm vào đêm ba mươi Tết, nếu tháng thiếu là tối hăm chín, có buổi tiệc trà tất niên gọi là “Phổ trà”, để Tăng Ni và quí Phật tử cùng dự.

Trong buổi tất niên đó có mấy điểm nhắm để nhắc nhở nhau. Điểm thứ nhất là kiểm lại các ưu khuyết điểm qua một năm trong sự tu hành cũng như trong mọi công tác. Kế đó là tìm giải pháp nào hay tốt để chuẩn bị cho năm tới mình ứng dụng tu hành, cũng như làm công tác đầy đủ tốt đẹp hơn. Đồng thời tôi cũng có ít lời nhắc nhở để khuyến khích Tăng Ni.

Tiệc trà buổi tối ở Thường Chiếu, Tăng Ni ăn uống không ngại chút nào, vì ở dưới còn ăn chiều, nhiều khi lao động nặng, làm ruộng, làm rẫy phải ăn mới làm nổi. Còn ở đây từ ngày chúng nhập viện tới giờ, tôi hạn chế –  chớ chưa cấm hẳn –  buổi chiều không được ăn, chỉ dùng sơ sơ. Có khi vì công tác lao động còn nhiều, thỉnh thoảng chư Tăng còn làm buổi chiều nên phải có cái gì kha khá chịu mới nổi, cho nên cũng còn ăn hạn chế, chớ chưa tuyệt đối không ăn. Có lẽ từ đây về sau là cấm hẳn, chiều uống một chút bột đỡ lòng, nhè nhẹ ngồi tu cho khỏe.

Muốn thực hiện không ăn chiều, chẳng lẽ buổi Tất niên mình lại ăn tối. Nếu Tất niên tối thì chỉ uống trà thôi, chớ không ăn được. Vì vậy hôm nay buổi Tất niên đặt vào chín giờ sáng. Giờ này lao động đói chút chút rồi, có cái gì sơ sài cho đỡ đói. Buổi Tất niên này chúng ta ăn chút ít cho vui, rồi sau đó sẽ bàn những công tác và sự tu hành đã qua trong một năm có những ưu khuyết nào để rồi mình xây dựng nhắc nhở. Kế đó là tôi có những lời khuyên để quí vị tu.

Ở Việt Nam mình cái gì cũng nói ăn là trước: ăn Tất niên, ăn Tết, ăn giỗ…, thành ra cái gì cũng ăn hết, ăn trước rồi mới nói sau. Vì vậy ở đây ăn Tất niên trước rồi sau mới nói chuyện. Phần khai mạc buổi Tất niên này là một phần thưởng danh dự dành cho người nào nói trúng điều tôi muốn hỏi.

Quí vị chuẩn bị, ở đây tôi muốn cho chư Tăng ưu tiên, rồi chư Ni kế đó, chớ không hỏi một lượt.

Bây giờ, tất cả chư Tăng ở Thiền viện này một năm rồi, quí vị đọc thuộc lòng hai câu liễn của Thiền viện cho tôi nghe. Ai đọc thuộc lòng thì khai mạc buổi lễ.

– Thưa Sư ông, thư ký đọc.

– Ờ! ngoài thư ký ra ai thuộc giơ tay lên đọc tôi nghe coi. Ngồi tại chỗ khỏi đứng dậy.

– Bạch Sư ông, phản quan tự kỷ, trực chỉ nhân tâm.

– Không phải, đó là câu châm ngôn. Đọc hai câu liễn. Vậy thì chưa thuộc. Ai thuộc đưa tay coi?

– Bạch Sư ông, hai câu liễn ở cổng số ba là:

Trúc Lâm thập tải dĩ tương Thập Thiện hoá nhân gian.

Thiếu Thất cửu niên đãi ngộ Thần Quang truyền tâm ấn.

– Chữ Việt?

– Bạch Sư ông,

Trúc Lâm mười kỷ, đã đem Thập Thiện hoá nhân gian.

Thiếu Thất chín năm, đợi gặp Thần Quang truyền tâm ấn.

– Nhưng chú đọc ngược rồi! Đọc từ bên kia qua, đọc lại!

– Bạch Sư ông,

Thiếu Thất chín năm, đợi gặp Thần Quang truyền tâm ấn.

Trúc Lâm mười kỷ, đã đem Thập Thiện hoá nhân gian.

– Rồi, hai câu cổng dưới?

– Bạch Sư ông,

Thế Tôn vi đông cung xả ngọc điện đáo Bồ-đề thành Chánh giác.

Giác Hoàng xử vương vị ly kim tòa đăng Yên Tử giáo Tăng đồ.

Nghĩa là:

Đức Phật làm đông cung bỏ điện ngọc đến Bồ-đề thành Chánh giác.

Giác Hoàng ở ngôi báu lìa ngai vàng lên Yên Tử dạy chúng Tăng.

– Vậy là thuộc mà hơi ngập ngừng. Có ai thuộc làu hơn không? Đây là dành chư Tăng trước, để lỡ chư Ni thuộc làu mất mặt chư Tăng tội nghiệp. Vì chư Tăng thường đi lên xuống đường đó, chư Ni không đi, nên tôi không đặt câu đó cho chư Ni.

Phần chư Tăng có chú Tâm Hạnh thuộc tương đối hai câu liễn của Thiền viện cổng thứ nhất và cổng thứ ba. Vậy là được quyền khai mạc phần bên chư Tăng, chú được lãnh phần đầu tiên.

Bây giờ tới phần chư Ni, ở bên vách tháp chuông có những hình ảnh gì, ai thuộc nói coi!

– Bạch Thầy, ở bên vách tháp chuông có hình Sơ tổ Trúc Lâm giảng pháp. Có hai người đứng nghe. Bên kia là Tổ Bồ-đề-đạt-ma ngồi xây mặt vào vách, ngài Thần Quang đứng ngoài chặt tay cầu pháp. Có bàn tay rơi dưới đất. Rồi tới hình Lục tổ Huệ Năng đeo đá giã gạo.

– Còn một cái nữa, mới có ba. Còn cái dễ ợt mà không nhớ!

– Bạch Thầy, còn hình Tổ Đạt-ma quảy chiếc giày đạp cành lau về Tây.

– Ờ, thành ra biết mà cũng hơi ngập ngừng, chưa được thông lắm. Đúng ra thì phải đi theo thứ tự, ở bên kia là Tổ Bồ-đề-đạt-ma ngồi xây mặt vào vách, bên cạnh Ngài là Thần Quang đứng chặt tay để cầu pháp. Kế đó là Tổ Huệ Năng giã gạo mà ốm quá không đủ sức nặng cất cái chày, nên phải đeo thêm cục đá để đủ nặng cất cái chày. Tiếp theo là Tổ Trúc Lâm đang giảng Ngữ lục cho hai người đồ đệ là Pháp Loa và Huyền Quang. Sau cùng là hình ảnh Tổ Đạt-ma cỡi cành lau qua biển về Ấn Độ. Phải nhớ rõ ràng như vậy mới được.

Vậy buổi tiệc trà Tất niên này, bên Tăng thì chú Tâm Hạnh được quyền khai mạc, mấy chú tặng cho y cái bánh đầu tiên. Còn bên Ni thì Diệu Sơn lãnh một cái để khai mạc. Tăng Ni bắt đầu ăn bánh uống nước rồi sẽ nói chuyện sau. Kể cả quí vị quay phim cũng vậy, dừng lại ăn bánh uống nước rồi quay phim sau. Thôi bắt đầu, pha trà đi!

Đây là ăn Tất niên trước, quí vị ngồi xây mặt vô, bây giờ chưa nói chuyện. Mời tất cả quí Phật tử ăn bánh uống nước với quí thầy quí cô. Ở trong đây có nhiều thứ bánh, những món tại quê hương mình làm ra và cũng có chút ít từ Thụy Sĩ mang về. Một vài viên sôcôla ở bên kia nghe nói là đặc biệt lắm nên tôi cũng ráng mang về đây, để mỗi vị ăn một viên lấy thảo. Vì vậy mỗi vị chỉ một viên chớ không tới hai viên, ăn cho vui. Mấy kỳ trước tôi chỉ uống nước, kỳ này tôi cũng được ăn nữa.

Có một số Phật tử tới Thiền viện, lấy viết ra ghi mấy đôi liễn. Tôi e rằng mai kia quí Thầy có đi đâu, họ gặp hỏi lại quên không biết. Phật tử thuộc mà quí Thầy không biết, cái đó mới xấu hổ. Bởi vì mọi thứ trong chùa mình, tất cả quí vị đều phải thông hết, những hình ảnh hay liễn đối. Mình là người tại đây đương nhiên phải thông, đến khi người ta hỏi, mình biết để giải thích. Không biết gì hết đến khi người hỏi sẽ lúng túng.

Quí vị ăn uống thật tình nghe, ăn xong cạn dĩa rồi mới nói chuyện, còn ăn chầm chậm chưa cạn dĩa thì tôi chưa nói chuyện được. Trong khi tất cả đang ăn, tôi kể sơ cho quí vị biết ý của tôi, để hiểu những phù điêu ở tháp chuông thích hợp với tinh thần Thiền viện mình. Quí vị cứ ăn bình thường, tôi kể sơ những điều này, không phải là giảng.

Đầu tiên tôi để bức phù điêu Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa gặp vua Lương Võ Đế. Thấy cơ duyên không hợp, Ngài mới tự trốn qua sông, đi về phía Bắc tức là nước Bắc Ngụy, thời đó Hiến Minh Đế làm Vua. Ngài lại chùa Thiếu Lâm ở, ngồi xây mặt vào vách chớ không nói chuyện, không giảng dạy gì hết. Cả chín năm như vậy để đợi cơ duyên, có ai đủ duyên đến với Ngài thì Ngài sẽ dạy.

Lúc đó có ngài Thần Quang là một người tinh thông kinh luận, Ngài thường ngồi thiền quán trên núi, trải qua tám năm mà tâm vẫn lộn xộn bất an. Cho nên nghe Tổ đến Thiếu Lâm, Ngài liền tìm tới cầu xin Tổ chỉ dạy đường lối tu hành. Đến chùa thấy Tổ ngồi xây mặt vào vách hoài, không biết làm sao hỏi, buộc lòng phải đứng ngoài trời trước sân chùa.

Tổ ngồi ngó vách, ngài Thần Quang đứng ngoài sân nhằm mùa đông. Miền Bắc nước Trung Hoa mùa đông lạnh lắm, có tuyết. Ngài đứng từ đầu hôm tới sáng khoanh tay hướng về Tổ. Đến sáng Tổ thấy tuyết đã ngập lên đầu gối mà Ngài vẫn đứng thản nhiên, bèn hỏi:

– Ông đến đây cầu việc gì mà phải khổ hạnh như vậy?

Thần Quang thưa:

– Con đến đây cầu pháp môn cam lồ, xin Hoà thượng từ bi chỉ dạy cho con!

Tổ Đạt-ma nói:

– Pháp môn cam lồ là pháp thành Phật. Từ xưa tới giờ chư Bồ-tát tu hành đến thành Phật phải qua bao nhiêu lần khổ hạnh, bao nhiêu lần xả thân mới được pháp đó. Bây giờ ông chỉ dùng chút ít khổ hạnh, đòi pháp cam lồ làm sao xứng đáng?

Nghe quở vậy Ngài lẻn xuống bếp lấy dao chặt một cánh tay đem dâng lên, nói:

– Con xin dâng cái này để cầu pháp môn cam lồ.

Tổ Đạt-ma thấy vậy bảo:

– Được, cũng khá đó!

Và Tổ nhận làm đệ tử, đổi hiệu Thần Quang thành Huệ Khả. Khả là khá, có trí tuệ khá khá.

Qua câu chuyện đó, quí vị thấy dù cho là huyền sử hay dã sử, cũng đều nói lên tinh thần người học đạo. Muốn học đạo thì phải xem thường cái thân, dù phải hi sinh, phải chặt tay cũng sẵn sàng, miễn được đạo mới thôi. Đó là tinh thần khuyến khích tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử, khi nghĩ tới cầu đạo giải thoát thì phải coi nhẹ cái thân. Nếu trọng thân quá thì không làm gì giải thoát được. Đây là hình ảnh đầu tiên để tất cả Tăng Ni ý thức trên đường tu phải xem nhẹ thân, đặt nặng đạo lý. Ai đặt nặng thân thì sẽ nhẹ đạo lý, người đó không bao giờ đạt đạo.

Quí vị ăn đi chứ! Nghe nói rồi quên ăn. Ăn đi rồi tôi nói tới phù điêu thứ hai. Nói hết bốn hình ảnh này thì quí vị ăn xong.

Thứ hai là hình ảnh Lục Tổ, từ một tiều phu đốn củi gánh xuống chợ bán đổi gạo về nuôi mẹ, nghe tụng kinh Kim Cang, Ngài liền thức tỉnh phát nguyện đi tu. Nhờ có những người bạn đạo thông cảm giúp cho Ngài một số tiền để lại cung dưỡng mẹ già. Ngài tìm tới Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở Huỳnh Mai xin tu.

Khi vào gặp Tổ, qua những câu chuyện đối đáp, Tổ biết đây là bậc pháp khí, đáng khen. Nhưng vì hình thức cư sĩ quê dốt nên Tổ bảo xuống nhà bếp làm công quả. Ông Tri khố bảo Ngài giã gạo chày đạp cối đá. Ngài là dân tiều phu đốn củi đâu có mập được. Ngài ốm nên nhẹ ký, còn cái chày thì nặng, nên Ngài đạp không cất lên nổi.

Nếu Tăng Ni mình vào chùa, bảo giã gạo, mà mình ốm, nhẹ không đủ sức nặng để cất cái chày thì mình sẽ làm sao? Nếu không từ chối thì cũng đòi thêm người, ít ra phải hai người đứng đạp mới nổi, chớ mình tôi ốm thế này đạp sao được! Còn Ngài bảo làm là làm, một mình không đủ sức nặng cất cái chày thì đeo thêm cục đá. Cột cục đá trên lưng nặng năm, mười ký, lâu ngày như vậy cái lưng bị thắt, làm cho da thịt lở lói. Nhưng Ngài vẫn để vậy đạp chày giã gạo.

Một hôm Ngũ Tổ xuống bếp, nhìn thấy vậy Ngài xót xa nói: “người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư”, nghĩa là thấy người học đạo có chí tha thiết quên mình đáng quí. Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi, ngài Huệ Năng hiểu ý, khuya canh ba lên gặp Tổ.

Đoạn này tôi chỉ cần nhắc qua để thấy giai đoạn mở đầu Thiền tông truyền sang Trung Hoa. Từ một vị Thiền sư Ấn Độ, chuyển qua Thiền sư Trung Hoa thì người đầu tiên đó là người quên mình xả thân, nên mới được chỉ dạy truyền đạo. Rồi tới vị Tổ Trung Hoa thứ sáu cũng là một con người quên thân để làm công tác cho chúng. Do đó mới xứng đáng gánh vác Phật sự lớn lao.

Vậy chúng ta mới thấy những vị Tổ chúng ta kính lễ hằng ngày đều là những người quên mình vì đạo, chớ không có ai quí trọng thân này mà được đạo hết. Đó là hai tấm gương nhắc nhở cho Tăng Ni thấy để nỗ lực, cố gắng.

Còn ở Việt Nam có vị nào không? Thiền sư Việt Nam, chúng tôi cho vẽ Tổ Trúc Lâm ở núi Yên Tử giảng Ngữ lục cho hai người đồ đệ nghe. Như vậy ở đây không có hình ảnh quên thân mà có hình ảnh bỏ ngai vàng điện ngọc đi vào núi tu. Cái kia là xả thân, cái này là xả danh vị. Đang làm một vị vua mà vô núi tu rồi dạy tín đồ, dạy đệ tử, chớ không màng địa vị ông vua, không màng ngai vàng. Đây không xả thân mà xả danh xả vị, tức là danh vọng địa vị đều buông hết để vào núi tu. Như vậy có đáng khen không? Cũng là cái gương hi hữu. Cho nên chúng ta phải nhớ để lấy đó làm bài học.

Nhiều khi có một vài vị ở ngoài gia đình khá giả, học hành khá, khi vào đạo, tuy rằng tu mà cũng còn nhớ chuyện khá giả của mình ở ngoài, muốn sống sang cả, muốn hưởng những thứ hơn người v.v… Như vậy chưa xứng đáng là một người quên hết danh vọng ở thế gian để vào đạo.

Đó là ba tấm gương để quí vị nhớ, khi nhìn những gương đó quí vị biết ý tôi muốn nhắc điều gì. Còn hình ảnh cuối cùng là Tổ Đạt-ma hết duyên về Ấn Độ. Hình ảnh này chúng ta thấy trong các chùa đều có, đã được giải thích nhiều nên nay tôi không giải thích, chỉ nói ba hình ảnh trước thôi.

Quí vị ăn tiếp tục cho cạn đi rồi nói chuyện dài.

Bây giờ kiểm lại ưu khuyết trong sự tu hành của Tăng Ni trong một năm rồi. Trước hết là ưu. Qua một năm rồi tôi có được một ít tin tức đáng mừng nhưng rất ít của Tăng và Ni. Theo nhận xét của tôi, qua đi một năm mà chỉ có những tin tức đó thì quá ít. Nhưng dù sao cũng là đáng mừng chớ không đến nỗi phải buồn.

Còn phần khuyết, thật ra Tăng Ni ở đây phải dồn hết tâm lực trong sự tu, còn các công tác thì ít ít thôi. Nhưng vì Thiền viện mới năm đầu, cho nên chư Tăng Ni phải góp công trong phần xây dựng cũng đáng kể. Đã nỗ lực lao động nhiều thì thời giờ tu phải kém ít, không được đầy đủ, không được miên mật như ý tôi muốn.

Lý do thứ hai là Tăng cũng như Ni, những người được thu nhận vào đây không phải ròng rặt là người ở Thiền viện nhiều năm, mà có những người chưa từng ở Thiền viện, hoặc ở Thiền viện thời gian rất ngắn. Khi lên đây tu hành bắt phải toạ thiền mỗi thời hai tiếng đồng hồ, lo chiến đấu với cái đau chưa rồi, có đâu mà ngộ, phải không? Thắng được cái đau đến hai tiếng mà không rên, không than thở là đã mệt rồi, thành ra chuyện ngộ chưa xảy ra. Đó là lý do thứ hai, vì cái khổ chịu đau của cặp chân cho nên chưa có tỉnh, chưa ngộ.

Lý do thứ ba, một năm qua, lúc đầu tôi ở nhà thì còn xây dựng, tôi cũng bận rộn nên không theo dõi sát, cũng không khuyến khích nhiều. Sau đó tôi lại đi vắng một trăm ngày, thành ra sự theo dõi khuyến khích của tôi rất sơ sài. Coi như đó là khuyết điểm của tôi, khiến cho ở nhà có những người bệnh ít cũng thành bệnh nhiều, có người xin đi chỗ này chỗ kia trị bệnh rồi đi luôn không trở lại. Đó là vì tôi vắng mặt, sự khuyến khích không được đầy đủ, nên có một số vị rút lui vì lý do bệnh. Khuyết điểm đó gốc tại tôi đi khỏi.

Như vậy, sở dĩ qua một năm Tăng Ni tu tiến không đều, không được như ý tôi mong mỏi là vì ba lý do như tôi vừa kể, khiến sự tu hành không được miên mật, không đạt kết quả tốt. Chỉ một thiểu số có kết quả, đó là do công thừa của những năm về trước ở Thường Chiếu, Linh Chiếu hoặc Viên Chiếu chẳng hạn. Do những năm đó dụng công khá, nên lên đây tiếp tục. Còn những người mới thì đang ra sức chịu đựng chân đau nên chưa có kết quả.

Vậy chuyện cũ đã qua, chúng ta chuẩn bị cho năm tới đây công tác tạm ổn là một, có lẽ tôi cũng được ở nhà là hai, quí vị đã quen ngồi bớt đau là ba. Ba lý do là khuyết điểm của năm nay thì năm tới có lẽ không còn nữa. Thí dụ năm nay trong một trăm người có năm, ba người tiến bộ đáng mừng, thì năm tới phải chừng bao nhiêu? Ít ra cũng được một chục người, hoặc hơn thì mới xứng.

Năm này mọi việc còn bề bộn chưa ổn định, phải cố gắng kềm chế để tu. Trong sự kềm chế khắc phục cái khó, khắc phục đau đớn nên tâm chưa an tịnh. Chưa an tịnh thì khó tiến được, chuyện đó không nghi ngờ. Năm tới tôi tin rằng sẽ có những bước tiến đáng kể và tốt hơn năm nay nhiều. Đó là hi vọng về năm tới của tôi. Tất cả Tăng Ni có hi vọng vậy không? Chắc cũng có. Thôi chờ năm tới kết thúc sẽ biết.

Đó là tôi kiểm sơ phần ưu khuyết tu hành của Tăng Ni tại Thiền viện Trúc Lâm qua một năm. Nói là một năm nhưng số người tới đây không nhất định một lượt, phải không? Có người tới trước từ tháng 8 năm 1993, có người tới đúng mồng hai Tết năm rồi, có người tới mới năm ba tháng chẳng hạn. Sự so le đó cũng làm việc tu tập trong năm rồi chậm tiến.

Bây giờ tới một điểm khác, điểm này tôi ít muốn nói, nhưng nếu không nói, sau này Tăng Ni ở đây cũng như Phật tử sẽ có những điểm hoang mang, nhiều khi nói ra không đúng với ý của tôi. Cho nên tôi phải nói rõ cho tất cả biết. Tại sao tôi lại đặt tên ngọn núi này là “Phụng Hoàng”? Đó là một lý do mà đa số người chưa biết.

Đây, tôi kể cho quí vị nghe, có vẻ hơi huyền hoặc một chút. Nhưng trên thế gian này chuyện hư thực đổi thay không lường được, mới thấy là hư đã biến thành thực, rồi thực cũng có thể biến thành hư. Vì vậy tôi sẽ nói lý do gì núi này tên “Phụng Hoàng”.

Trước hết tôi nói lý do tôi xin đất ở đây để xây Thiền viện. Từ buổi ban đầu, năm 1986, tôi rời Chân Không về lại Thường Chiếu. Những năm đó ở Thường Chiếu cây cối còn lưa thưa, nắng nôi nhiều. Về đó tôi chịu không nổi khí hậu khắc nghiệt nên đau hoài. Vì vậy, cuối năm 1986, chư Tăng Ni dưới đó đề nghị tôi lên Đà Lạt nghỉ, thay đổi không khí coi có hết bệnh hay không. Tôi lên Đà Lạt ở cái thất sau chùa Quan Âm, định nghỉ vài ba tháng cho khỏe.

Khi tôi lên nghỉ đó, mục đích là dưỡng bệnh. Nhưng rồi một đêm – đây là chuyện huyền hoặc – tôi ngủ nằm mộng thấy một con chim phụng hoàng thật to. Nó bay sà sà trên đầu tôi. Thấy vậy tôi lấy hai tay ôm cổ nó. Ôm được cổ chim phụng hoàng tôi mừng quá. Nhìn dưới chân thấy con sư tử đen bằng đồng, còn trên là ôm con chim phụng hoàng.

Tôi giật mình thức dậy, tự đoán mộng: Chim phụng hoàng là điềm lành, mà mình ôm cổ chim phụng hoàng có lẽ mình có duyên ở Đà Lạt và sẽ làm một Phật sự đáng kể. Còn dưới chân là con sư tử đen nhỏ, tôi nghĩ đó là duyên giảng dạy ở Thường Chiếu, vì sư tử tượng trưng cho việc giảng dạy giáo pháp Phật, pháp Phật nói ra như tiếng rống sư tử. Nhưng sư tử này nhỏ chớ không có lớn, nên tôi nghĩ, cái duyên ở Thường Chiếu tôi có, làm Phật sự được, nhưng ít thôi, còn cái duyên ở đây có lẽ là nhiều, là lớn.

Nghĩ vậy rồi tôi hết ngủ, ngồi nghĩ nếu mình có duyên ở trên này thì làm gì đây? Tôi nghĩ ra, nếu có duyên ở đây mình lập cái Thiền viện. Thiền viện đó lập cách nào? Thì đây là cuốn sổ nhật ký năm 1986 tôi còn ghi rõ ràng đêm đó, sau khi ngủ mộng rồi thức dậy. Đây, tôi nói mấy cái tên đêm đó tôi đặt quí vị nghe.

Tôi chia ra hai khu vực. Nay nói khu ngoại viện trước. Tôi nghĩ chỗ tôi ở phải có cái hồ, phải tìm chỗ nào có hồ nước. Ở dưới mé hồ là “Thủy Toạ đình”, tức là nhà thủy tạ. Bên cạnh hồ sẽ có một con đường đi quanh, tôi đặt là “Nhiêu Khê lộ”, tức là con đường quanh quanh theo suối. Rồi Tam quan, ở cổng dưới, phía trên tôi để bảng “Trúc Lâm”, bên dưới tôi để bảng “Bất Nhị môn” (cửa bất nhị). Cái cổng ở trước Phật điện để là “Bảo Sở môn”. Còn cái cổng giữa không để tên. Bên này chánh điện là “Hồng Chung lâu”, bên kia “Đại Cổ các”. Kế đó tôi đặt “Tham Vấn đường” là chỗ chúng ta đang ngồi đây. Sau chùa tôi để “Tàng Kinh ốc”.

Đó là cái đêm tôi ngủ không được, thức dậy tôi ghi rõ ràng. Rồi nơi mấy cái cổng tôi đặt liễn luôn, thành ra suốt đêm ngủ không được. Đây là những đôi liễn tôi đặt từ năm đó mà bây giờ tôi bảo quí vị đọc.

Đôi liễn ở trước chùa:

Thiếu Thất cửu niên đãi ngộ Thần Quang truyền tâm ấn.

Trúc Lâm thập tải dĩ tương Thập Thiện hoá nhân gian.

Đọc đôi liễn này quí vị thấy tâm hồn tôi thế nào? Đây là tôi đối chiếu, bên kia là Tổ Đạt-ma, bên này là Tổ Trúc Lâm. Tổ Đạt-ma ngồi ở chùa Thiếu Lâm (hay là Thiếu Thất) chín năm đợi ai? Đợi gặp ngài Thần Quang để truyền tâm ấn. Như vậy Tổ từ Ấn Độ qua Trung Quốc chỉ truyền tâm ấn cho một người là hết duyên.

Còn bên này ngài Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Tổ Trúc Lâm, ở trên núi mười năm để làm gì? – “Dĩ tương thập thiện hoá nhân gian”, nghĩa là Ngài đem giáo pháp Thập thiện giáo hoá khắp cả nhân gian. Như vậy thời của Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa truyền đạo chỉ một thầy truyền cho một trò. Nhưng ở Việt Nam, Thiền tông du nhập vào đến lúc hệ Trúc Lâm ra đời thì không còn hạn chế một thầy một trò nữa, mà phải đem truyền bá khắp nhân gian, mở rộng trùm khắp.

Tới đôi liễn thứ hai, tôi so sánh đức Phật với ngài Giác Hoàng:

Thế Tôn vi đông cung xả ngọc điện đáo Bồ-đề thành Chánh giác.

Giác Hoàng xử vương vị ly kim toà đăng Yên Tử giáo Tăng đồ.

Ở đây có tánh cách hơi tự ái dân tộc một chút. Tự ái ở đây không phải tự ái cuồng điên dại khờ, mà là để đem cái hay của chư Tổ Việt Nam ra so sánh đối chiếu, từ đức Phật cho đến các vị Tổ khác.

Nhìn về đức Phật, Ngài đang làm Đông cung Thái tử nhưng xả bỏ điện ngọc đi xuất gia, và sau Ngài thành Phật, tức là thành Chánh giác. Ở Việt Nam mình, một ông Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng, đang ở ngôi vua mà lìa toà vàng, đến núi Yên Tử để giáo hoá Tăng đồ.

Vậy, bên kia Phật là đông cung, bên này Tổ Việt Nam chúng ta là một ông vua, thì mình đâu có xấu hổ gì phải không? Một ông vua đi tu được ngộ đạo rồi lên núi để giáo hoá Tăng đồ, bên kia vị đông cung đi tu được thành Phật. Như vậy, vị Giáo chủ là đông cung, vị Tổ Việt Nam là ông vua, đó cũng là một điều kỳ đặc của quê hương xứ sở mình mà ít ai để ý tới.

Qua mấy đôi liễn đó quí vị thấy tôi thế nào? Tôi lúc nào cũng nghĩ đức Phật là cái gốc để chúng ta qui hướng về. Nhưng Phật niết-bàn hơn hai ngàn năm rồi, làm sao chúng ta biết đức Phật? Vậy là nhờ sự truyền thừa của chư Tổ, nên ngày nay chúng ta mới biết được Phật. Nhưng lâu nay chúng ta có cái bệnh là học Tổ Trung Hoa, Tổ Ấn Độ, Tổ Nhật Bản mà Tổ Việt Nam thì ngó lơ không để ý gì tới. Rồi nhiều khi mình có cái mặc cảm ở Trung Hoa, Nhật Bản các Tổ rất hay, còn ở Việt Nam không có gì hay hết.

Nếu ở Việt Nam không có gì hay thì tại sao Phật giáo Việt Nam lưu truyền tới bây giờ vẫn còn và người theo Phật giáo rất đông. Nói không có gì hay hết nghĩa là sao? Như vậy là mình đã quên hết công ơn của người xưa, quên hết khả năng và đạo đức của người trước. Bởi vậy nên tôi phải làm sống dậy những gì kỳ đặc của Tổ Việt Nam.

Nước Việt Nam chúng ta có tới tám mươi phần trăm dân số là Phật tử. Như vậy sự truyền bá của các Tổ quá sâu rộng mà mình không biết gì hết, mình chỉ biết ở Trung Hoa, ở Nhật Bản, Ấn Độ, thì đó có phải là nhược điểm lớn lao của mình không?

Nếu xưa kia chư Tổ không truyền ở Việt Nam thì làm sao chúng ta ngày nay có duyên mà đi tu, có chùa mà tập tu, có được giáo lý mà hiểu. Dĩ nhiên là phải có chư Tổ truyền thừa đặc biệt. Vậy mà chúng ta lại quên hệ thống truyền thừa đó. Thật là khuyết điểm lớn, phải không?

Bởi vậy khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm tôi muốn nói lên rằng đây là Thiền viện tu theo đạo Phật, nhưng nó được truyền thừa từ chư Tổ Việt Nam cho đến ngày nay. Nó không phải chịu sự hướng dẫn của những vị ở bên Nhật, ở Trung Quốc, mà trực tiếp là người Việt Nam. Đó là điều tôi nhắm.

Bởi vậy, những đôi liễn này, tuy tôi không giỏi về văn chương, nó không hay, nhưng tôi không cho ai sửa, vì đó là cái ý tôi muốn nói lên cho người sau biết. Vậy mà quí chú ở đây một năm rồi vẫn không thuộc, có đáng trách không? Điều tôi muốn nói, muốn nêu lên mấy chú lại không hiểu. Nên tôi mới đặt câu hỏi để mấy chú ý thức rằng việc làm của tôi có lý do, có cái nhìn như thế nào. Mấy chú ở đây phải hiểu tinh thần đó thì mới xứng đáng là người ở Trúc Lâm, chớ ở mà chỉ biết tu rồi thôi, không biết cái gì xung quanh mình hết! Không tự hỏi tại sao Thầy bày ra như vậy, tại sao Thầy lập nên như vậy!

Vậy là chính từ hình ảnh con chim phụng hoàng tôi thấy trong mộng rồi biến mộng thành cái thực. Đêm đó, tôi ngồi dậy diễn tả Thiền viện Trúc Lâm bằng cách này cách kia rồi làm liễn luôn. Lúc đó là năm 1986, đến năm 1993 là bao nhiêu năm? À, bảy năm, trong bảy năm đó, không xin đất được, tôi tưởng rằng giấc mơ đã chìm trong lãng quên rồi. Có khi nói chuyện với quí Phật tử thân tín, họ hỏi tôi: “Thầy xin đất Đà Lạt được chưa?” Tôi nói: “Chắc là mộng, mộng là không có.”

Tôi khi mộng lại hứng làm đủ chuyện, còn ghi rõ ràng ngày giờ ở đây để quí vị biết đây không phải tưởng tượng, mà là sự thật của tôi. Bởi giấc mộng thấy chim phụng hoàng nên khi được lên đây cất Thiền viện, tôi liền để tên núi là “Phụng Hoàng”, cho quí vị nhớ lý do gì mà có Thiền viện này.

Quí vị mới thấy rằng việc làm của chúng ta không phải ngẫu nhiên, mà có cái duyên đâu từ thuở nào. Có lẽ tôi ra đời cũng là sự dẫn dắt của vị nào đó muốn tôi ra đây làm việc này, nên chuyện chư Tổ ngày xưa xa lơ xa lắc giúp mình, sao cứ muốn khơi dậy, sao không yên tâm như các chùa ngồi yên tu, người ta sao mình vậy tu tới chết thôi.

Tôi muốn làm sao sống dậy hình ảnh của người xưa tu hành đáng quí đáng kính, và chúng ta là người kế thừa được những của báu đó. Vì những của báu đó bị quên lãng cho nên bây giờ chúng ta phải khôi phục lại.

Muốn khôi phục lại thì trước tiên phải có cơ sở để có hình thức. Cơ sở đó là Thiền viện Trúc Lâm. Kế nữa, chúng ta phải lượm lặt những tư liệu của chư Tổ ngày xưa còn sót lại, tìm hiểu cho tường tận. Thứ ba là chúng ta thực hành cho có kết quả. Như vậy mới thật sự làm sống dậy tinh thần của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Không phải chúng ta muốn làm sống dậy là cứ nói khan, vậy không thực tế.

Đầu tiên là phải có cơ sở, có cái chùa, có Thiền viện, có những gì gợi cho người ta nhớ. Kế đó chúng ta phải hiểu được những gì người xưa đã ứng dụng và giảng dạy, lượm lặt hết để ghi lại thành những tập sách cho người sau thấy còn có tài liệu. Rồi thứ ba là phải ứng dụng tu có kết quả. Nếu nói người xưa dạy như vậy là hay, là cao siêu, mà mình bây giờ tu không được thì kêu gọi người ta tu theo để làm gì? Trước hết là mình phải tu được.

Đó là cả ba vấn đề.

Vấn đề thứ nhất là hình thức, đó là Thiền viện Trúc Lâm, phần cơ sở chúng ta tạm ổn. Thứ hai là khai thác lại những tư liệu của người xưa còn bị quên lãng. Chúng ta làm cho nó sống dậy, cho mọi người thấy cái hay, cái quí đó. Đây là việc tôi đang làm, đang giảng dạy.

Thứ ba là phải tu hành cho có kết quả tốt đẹp, chừng đó mình nói mọi người mới tin. Nếu nói đạo Phật hay, người xưa hay, chư Tổ hay mà bây giờ tôi không hay, tu không được thì biểu ai tu bây giờ? nói lại để làm gì? Cho nên mình phải làm được.

Vậy, chuyện đó là chuyện của ai? chuyện của mấy chú, mấy cô hay chuyện của tôi? Hai chuyện trước là do tôi, tôi chủ xướng cất chùa, tôi chủ xướng giảng dạy, nhưng hành được kết quả hay không là quí vị. Quí vị phải nỗ lực đem hết tâm tư mình mà thực hành.

Với giấc mộng của tôi, tôi tin rằng sẽ có kết quả tốt. Tại sao? Vì tôi thấy ở Thường Chiếu mình cũng rất đông đảo, nhưng chỉ là con sư tử nhỏ bằng ngón chân thôi. Trên này là con phụng hoàng rất to, cần cổ nó cả ôm thế này. Tôi tin rằng Phật sự ở đây sẽ kết quả tốt, mà kết quả tốt là trông cậy vào Tăng và Ni.

Tôi không nghĩ một trăm, hai trăm Tăng Ni mới là kết quả tốt. Tôi chỉ nghĩ bên Tăng chừng ba mươi người, bên Ni chừng ba mươi người, mà tu đắc lực, có hiệu nghiệm, có kết quả, đó là tốt rồi. Chúng ta thực hành được, cái đó mới quí, chớ đông người mà không ra trò trống gì thì đông cũng là số không thôi. Vì vậy tôi chỉ cần mỗi bên ba mươi người thật tu, có hiệu nghiệm, có kết quả. Đó là điều rất đáng mừng, chớ không phải phát triển rộng, nhiều mới quí.

Như vậy, giai đoạn đầu tiên, từ mộng đã biến thành thực: có chùa rồi, có những cái gì tôi muốn làm rồi. Kế đến, bây giờ là giai đoạn chúng ta gom nhóm tư liệu của người xưa giảng dạy, soạn thành tập, làm căn bản cho sự tu hành ở đây. Đồng thời Tăng Ni công phu tu hành đắc lực, có kết quả.

Như vậy, ngọn đuốc của người xưa chúng ta mồi được cháy, rồi chúng ta lại mồi tiếp tục cho nhiều người, đó là mình soi sáng cho thế gian. Không phải chúng ta tu chỉ để mà tu, không phải tu để chờ tới chết, được Phật rước về Cực Lạc yên thân. Chúng ta tu để sáng đạo. Từ sáng đạo, chúng ta hướng dẫn cho mọi người thấy được giá trị của Phật pháp.

Trong đời tôi, nhiều khi có những chuyện tôi nói đùa chơi mà nó biến thành sự thật. Như những năm về trước có quí Thầy khuyến khích tôi học tiếng Anh để cùng quí Thầy ra ngoại quốc học này kia cho vui. Đồng lứa với tôi trước hết là thầy Nhất Hạnh. Khi tôi còn ở Phương Bối, Thầy sắp đi Mỹ nên mua những cuộn băng tiếng Anh về học. Học một mình buồn quá, Thầy rủ tôi học chung. Tôi nói: “Thôi! Thầy tính đi thì học chớ tôi ở Việt Nam muôn đời, tôi không đi đâu hết, học chi cho uổng mất thời giờ. Tôi không học.”

Kế là lúc ở Ấn Quang có thầy Huyền Vi. Những năm sắp đi Ấn Độ, Thầy cũng học chữ Anh, rước giáo sư về dạy. Học một mình buồn cũng rủ tôi học. Tôi nói: “Thôi! Tôi không học, tôi là người Việt Nam.” Tôi có nói dóc một câu: “Tôi tu. Sau này ai muốn học với tôi, muốn tu với tôi thì phải học tiếng Việt Nam, chớ tôi không học tiếng người ta.”

Bây giờ có những người ngoại quốc tới, muốn hỏi đạo với tôi, tôi không biết tiếng ngoại quốc rồi làm sao? Như hôm qua có cô Mỹ hỏi: “Sách Thầy có dịch ra tiếng Anh chưa?” Tôi trả lời cho mấy vị thông dịch lại là chưa có cuốn nào dịch ra tiếng Anh hết. – “Vậy làm sao tụi con đọc?” Tôi trả lời: “Cô học tiếng Việt đi!”

Những điều tôi nói chơi, từ từ nó gần như có thật. Bản chất tôi là người Việt Nam, lỡ sanh ở xứ Việt Nam tôi phải làm tròn bổn phận của người Việt Nam. Ai cần tìm hiểu gì nơi tôi phải ráng học tiếng Việt Nam nói chuyện với tôi, chớ tôi không có thì giờ học tiếng họ. Như có một cô Phật tử người Đức qui y với tôi, bắt đầu học tiếng Việt Nam dưới Sài Gòn. Còn một cô người Mỹ gốc Do Thái cũng qui y với tôi, rồi cũng bắt đầu học tiếng Việt Nam. Tôi nói: “Ai muốn hiểu đạo lý Việt Nam thì phải học tiếng Việt Nam, vì tôi không có thời giờ học tiếng nước ngoài.”

Như vậy không phải là mình tự cao, nhưng tôi nghĩ bổn phận mình là người Việt Nam, đang tu học, đang tìm kiếm những tài liệu sách vở Việt Nam, suốt đời mò mẫm chưa hết, còn thì giờ đâu để học thêm cái khác nữa. Mình làm xong phần Việt Nam rồi, chừng đó muốn làm thêm gì nữa thì làm. Trừ những vị có duyên lúc trước đã học tiếng ngoại quốc sẵn rồi mới đi tu, thì chuyện đó sao cũng được. Còn mình chữ Việt viết sách chưa xong, kinh điển chữ Hán dịch không nổi, lo học tiếng ngoại quốc để làm gì?

Vậy nên chúng ta phải làm những việc trong khả năng mình, trong tầm tay mình trước, chừng nào dư thừa mới làm việc khác. Chớ trong khả năng mình không chịu làm, muốn làm cái khác, rốt cuộc không tới đâu. Chủ trương của tôi thực tế như vậy.

Qua những hình ảnh đó, quí vị thấy chuyện gì đã xảy ra không phải không có lý do. Nhưng nãy giờ tôi chỉ nói tổng quát, chưa vào chi tiết. Sau khi nằm mộng rồi tôi phấn khởi trong lòng, nghĩ chắc mình có duyên ở Đà Lạt. Hồi xưa tôi cũng hay nói tôi thương mấy cây thông lắm. Không biết sao tôi thích thông và thích ở núi, đó là hai thứ tôi thích.

Bởi vậy, sau khi nằm mộng khoảng tuần lễ, có mấy Phật tử ở Bình Dương lên thăm, tôi nghĩ mình tìm đất thử coi, nếu có duyên. Rồi tôi rủ quí vị đó đi vào đập Đa Thiện, hôm đó có thỉnh Hoà thượng Linh Sơn cùng đi. Vô Đa Thiện rồi lên mấy ngọn đồi nhìn xuống hồ, vì phải có hồ có suối tôi mới chịu. Tôi nhìn những ngọn đồi cao, cây thông cũng dễ thương, nhìn kiếm chỗ nào mình thích, tương đối cũng bằng lòng sơ sơ. Đi về, tôi định chuẩn bị làm giấy tờ xin. Nhưng chưa làm giấy thì mấy Phật tử rủ đi Tuyền Lâm chơi, tôi cũng đi nữa.

Vô đây tôi thấy rất là hoang sơ. Đa Thiện ồn, còn ở đây chưa có nhà cửa, chỉ toàn là cây thông, nên tôi thích. Tôi nghĩ có lẽ xin ở đây, bèn hỏi mấy chú đưa đò:

– Đất đây có chủ chưa?

– Không có chủ.

– Mình xin được không?

– Được.

Nghe nói được tôi mới nhờ mấy Phật tử làm đơn từ để xin. Như vậy là cuối năm 1986 bắt đầu làm đơn xin đất ở đây để cất Thiền viện. Đầu tiên tôi xin tuốt trong kia, qua khỏi đảo này vô trong nữa, nghĩa là chỗ “khỉ ho cò gáy”. Tôi không dám xin ngoài này, vì tôi nghĩ mấy chỗ thị tứ mình dễ gì đặt chân tới được, thôi ráng núp tuốt trong đó, hoạ may còn xin được.

Lúc đầu tôi xin trong đó. Họ trả lời mấy dược sĩ ở Sài Gòn đã xin rồi. Tôi thất vọng, thôi xin chỗ kế đó, mấy cái đảo giữa này. Rồi cũng trậm trầy trậm trật năm này qua năm kia, kéo dài mãi đến năm 1991. Năm đó tôi bệnh nhiều nên nhập thất để trị bệnh. Có một ít Phật tử đến hỏi tôi: “Vụ xin đất ở Đà Lạt xong chưa?” Tôi nói: “Thôi, chắc là mộng rồi đạo hữu ơi”, nghĩ chắc là mộng mị không bao giờ có.

Từ 1986 đến 1991 là năm năm mà không ra gì, tưởng trôi luôn. Nhưng mấy đạo hữu đó lại hỏi: “Thầy đưa giấy tờ cho con coi.” Tôi lục hết giấy tờ đưa cho họ. Quí vị nói: “Thôi Thầy để tụi con xin thử, coi được không.” Tôi trả lời: “Bây giờ tôi khoán trắng cho quí đạo hữu đó, chừng nào quí đạo hữu xin được, hợp pháp đàng hoàng, tôi mới bắt đầu khởi công. Còn bây giờ tôi giao hết giấy tờ, lo nhập thất thôi, tôi không biết gì nữa hết!” Vậy mà cuối năm 1992 thì được. Vừa được giấy tờ, tôi lên đây chuẩn bị khởi công. Năm 1993 bắt đầu lo cất nhà khách tạm, đặt viên đá đầu tiên, đến năm 1994 khánh thành.

Như vậy từ cái hư đã biến thành thật, từ mộng mị bây giờ biến thành hình thức cụ thể như thế này. Nên tôi tin rằng Phật pháp Việt Nam không phải chìm lặng như vậy mãi, có thể sẽ sáng sủa hơn. Do đó những điều tôi chưa dám nghĩ, bỗng dưng khiến cho tôi thấy được những điềm lành để tôi khởi nghĩ. Từ khởi nghĩ rồi biến thành sự thật.

Những điều tôi khởi nghĩ nay tạo thành hình thức cụ thể rồi, đã thành công phần nào, thì những giai đoạn sau, tôi tin rằng sẽ sáng sủa hơn, không còn tối tăm nữa. Vì vậy tôi đặt hết lòng tin ở Tăng Ni. Quí vị ráng tu làm sao để cho mơ ước của tôi hay lý tưởng tối hậu của tôi được kết quả đúng như sở nguyện. Đó là chỗ trông đợi của tôi. Không lẽ chặng một chặng hai mình được, còn chặng ba lại để nó trôi vuột thì rất là uổng, công sức của mình thành ra phí đi.

Hôm nay ngày Tất niên, tôi ôn lại những chuyện cũ để nhắc cho tất cả Tăng Ni biết những gì tôi đã làm, làm với tâm thành do Tam Bảo xui khiến, đưa đẩy. Bây giờ tôi làm được một, hai phần nhỏ rồi, còn phần thứ ba lớn nhất, lâu dài nhất, kết quả tốt nhất là phần dành cho Tăng Ni hiện có mặt. Vậy tất cả quí vị ráng nỗ lực tu hành, làm sao mà năm, bảy năm trước khi theo Phật, tôi vui vẻ nhìn thấy công tác của mình được thành tựu viên mãn.

Quí vị thấy ở trước thất tôi trồng hai bồn bông đã nói lên sở nguyện rồi, nghĩa là sở nguyện tôi mong được vuông tròn. Bây giờ mới vuông tròn có phân nửa thôi, còn méo chớ chưa tròn. Chừng nào Tăng Ni tu đắc lực thì chừng đó mới thật là vuông tròn, không thì nó là mặt trăng lưỡi liềm mất, phải không? Đó là điều mơ ước, trông đợi của tôi.

Vậy nên trách nhiệm của Tăng Ni ở đây không phải nhẹ. Nghĩa là quí vị phải dồn hết tâm lực, làm sao tu để có kết quả tốt, tự cứu được mình và rồi sẽ cứu được mọi người. Như vậy vừa tròn sở nguyện của người tu, vừa duy trì được chánh pháp lâu dài. Nếu mình lôi thôi thì uổng một đời tu, lại làm cho chánh pháp suy tàn nữa.

Hôm nay là ngày Tất niên, tôi nói hết tâm tư tôi cho quí vị biết để rồi quí vị cố gắng nỗ lực tu hành. Đó là kết thúc buổi tiệc Tất niên hôm nay.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Lễ Chúc Tết Ất Hợi

Thầy Quản chúng Nội viện Tăng:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy, hôm nay nhân ngày đầu năm mới của năm đầu tiên tại Thiền viện Trúc Lâm, toàn thể Tăng Ni và Phật tử chúng con đồng tựu về đây quì dưới chân Thầy kính chúc mừng Thầy.

Kính bạch Thầy, đại diện cho toàn thể Tăng chúng, chúng con kính chúc Thầy sang năm mới này sức khỏe luôn được dồi dào, ít bệnh. Kính chúc Thầy sống lâu ở đời để Thầy thắp sáng ngọn đèn chánh pháp lâu dài trên đất Việt Nam này và sẽ lan ra khắp nơi.

Năm có cũ có mới nhưng trí tuệ Thầy vẫn tròn đầy sáng suốt, hầu toả lan ra soi sáng cho tất cả chúng con thấy lại đường về quê cũ mà chúng con đã lạc lối từ thuở bao giờ, để chúng con có được duyên lành cùng vui lên cái vui trở về nhà, tự tiêu đi những ngày lang thang làm khách phong trần, khổ nhọc cho chúng con mà cũng khổ nhọc cho Thầy đã lâu năm nhắc nhở và vỗ về. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh.

Và sau đây chúng con nhất tâm kính thỉnh Thầy từ bi ban cho chúng con những lời nhắc nhở và sách tấn nhân đầu năm mới. Để chúng con có thêm sức sống cho những ngày sắp tới, cho mọi đóa hoa lòng nơi chúng con được có cơ duyên rộ nở và cho ánh mặt trời tâm bừng sáng lên mãi với mùa xuân bất diệt mà chúng con cũng đã quên mất từ lâu. Và lúc này là lúc chúng con sống trở về với mùa xuân hằng hữu đó. Còn mùa xuân của thế gian này, chúng con biết rằng rồi cũng sẽ qua đi, không bao giờ giữ lại được. Đó là niềm ước nguyện chung của chúng con. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh và hứa khả cho chúng con được ân triêm công đức.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Ni sư Quản chúng Nội viện Ni:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy!

Hôm nay là ngày đầu xuân, là ngày bắt đầu cho một năm mới, toàn thể Ni chúng chúng con ra trước đây đê đầu kính lễ Thầy và thành kính chúc Thầy phước thọ được tăng long, tuệ đăng thường chiếu hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học giải thoát.

Kính bạch Thầy! Thầy thường dạy chúng con: Tuổi Thầy đã già, ngày ra đi không xa, tụi con phải nỗ lực tiến tu để Thầy thấy kết quả tu hành của tụi con mà Thầy an lòng. Thầy thường nói nơi đây là lý tưởng tối hậu của Thầy, cho nên Thầy kỳ vọng ở tụi con rất nhiều. Chính vì vậy mà chúng con rất cố gắng nhưng kết quả cũng chưa được như ý Thầy.

Kính bạch Thầy! công ơn giáo dưỡng của Thầy sanh giới thân tuệ mạng cho chúng con thật vô cùng to lớn, chúng con không biết lấy gì để đền đáp cho cân, chúng con chỉ biết nguyện tinh tấn tu hành để khỏi cô phụ lòng Thầy đã dành cho chúng con. Vậy hôm nay nhân ngày xuân về, toàn thể Ni chúng chúng con ra trước đây xin thành tâm phát nguyện nỗ lực tiến tu trở về với chính mình để khỏi làm người khách lang thang. Vậy một lần nữa chúng con nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu để làm ngọn đuốc soi sáng cho chúng con cùng tất cả chúng sanh trên bước đường tu học giải thoát.

Ngưỡng mong Thầy thương xót chứng minh cho chúng con được trượng thừa công đức.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Phật tử:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Thật là một duyên lành lớn đối với chúng con, hôm nay được cùng với chư Tăng Ni đón xuân dưới chân Thầy. Chúng con kính chúc Thầy sang năm mới luôn luôn mạnh khỏe, hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, để ánh sáng chánh pháp Thiền tông Việt Nam được chiếu sáng muôn nơi.

Chúng con cũng xin kính chúc quí Đại đức Tăng Ni sang năm mới luôn luôn được mạnh khỏe, tâm Bồ-đề kiên cố, quyết chí tu hành chóng thành đạo quả để đền đáp công ơn chư Tổ, đền đáp công ơn Thầy, vị Thầy khả kính của Thiền tông cuối thế kỷ thứ 20 này.

Là người cư sĩ, chúng con được Thầy dạy thấm thía qua bài kệ của Thiền sư Minh Chánh:

Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng biết bản lai vô nhất vật,
Công phu luống uổng một đời ai.

Chúng con được duyên lành đến với Phật pháp, chúng con hiểu rất rõ rằng:

Phật pháp cao siêu thật nhiệm mầu,
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,
Nguyện hiểu nghĩa chơn đức Thế Tôn.

Kính bạch Thầy! một lần nữa chúng con xin cúi đầu đảnh lễ tri ân công đức của Thầy đã từ bi hoan hỉ dạy dỗ chúng con trong năm tháng vừa qua. Chúng con xin đảnh lễ tri ân công đức quí Thầy, quí Sư cô ở Thiền viện Thường Chiếu trước đây và Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt hôm nay đã từng giúp đỡ chúng con rất nhiều trên con đường tu tập. Chúng con không biết lấy gì hơn bằng việc tu học của mình để đền đáp công ơn của Thầy, của quí Thầy, quí Cô.

Nam-mô Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Quí Thầy Nội viện Tăng:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch trên Sư ông, nay nhân dịp xuân về trên quê hương của Thiền viện Trúc Lâm, mùa xuân đầu tiên. Chúng con cảm khái xin kính dâng lên Sư ông một bài thơ:

XUÂN VỀ

Xuân đến xuân đi qua rồi lại
Hoa tàn hoa nở mấy lần xuân
Ai vui xuân đến đi đôi lúc
Đây có mùa xuân mãi đượm nồng.
Vui xuân này nhớ lại đức Sư ông
Người đã mớm chúng con dòng pháp nhũ
Ôi! Ân đức bao la như vũ trụ
Như Hymalaya sừng sững ngất mây mù
Như Thái Bình rào rạt dạ từ dung
Như nhật nguyệt không trung luôn rạng chiếu
Ân đức ấy sâu dày không xiết tả
Xin ghi lòng tạc dạ chẳng hề phai
Xin nguyện cầu lên Tam Bảo ba ngai
Cho người được bình an vui vẻ mãi.
Đạo sư hỡi! Chúng con còn thơ dại
Và chúng sanh nhiều khổ ải lầm mê
Đời tham sân si hận quá ê chề
Xin nán lại vài đôi mươi năm nữa
Xin nán lại một trăm hai mươi tuổi
Như A-nan, Ca-diếp với Triệu Châu
Như Hiếp Tôn, Đạt-mạ với Hư Vân
Để chúng con được học hỏi ân cần
Và Phật tử được gần nghe chánh pháp
Cho chúng con được ân đền nghĩa đáp
Trưởng thành trong Thiền pháp Trúc Lâm này.
Ôi! Ơn cao đức trọng nghĩa sâu dày
Biết đền đáp làm sao cho xứng đáng
Nguyện quyết chí tiến tu thành Chánh giác
Nguyện ức kiếp xông vào đời trược ác
Dong thuyền từ cứu độ chúng quần mê
Soi đuốc tuệ phá tan đêm tịch mịch.
Nguyện vô biên phiền não vượt qua nhanh
Nguyện pháp môn vô lượng học tinh rành
Và phát nguyện viên thành vô thượng đạo.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Qua ba đại diện Tăng, Ni và Phật tử chúc mừng năm mới, tuy lời chúc mừng có khác nhau nhưng trọng tâm đều gặp nhau ở chỗ là muốn cho tôi được sống lâu và tiếp tục giảng dạy hướng dẫn quí vị tu hành đến nơi đến chốn. Đó là trọng tâm những lời chúc đầu năm của quí vị.

Tôi nghĩ rằng khi sự có mặt của tôi cần thiết cho Tăng Ni, Phật tử thì tự nhiên tôi cần có mặt. Nhưng nếu ngày nào sự có mặt đó không còn cần nữa thì phải là lúc vắng mặt. Bởi vì ở thế gian này không có gì quí bằng chỗ người ta mong ước được gặp mà không gặp, và cũng không gì chán chường bằng những cái không muốn gặp mà cứ gặp hoài. Bởi vậy khi thấy cần thì có mặt, khi hết cần thì vắng mặt là hợp pháp, phải không?

Cho nên chuyện tuổi thọ dài ngắn cũng tùy duyên chớ chưa nói bao lâu. Nhưng tôi rất hoan hỉ thấy chư Tăng, chư Ni và Phật tử sang năm mới đều hứa nguyện với chúng tôi rằng quí vị sẽ nỗ lực, sẽ tiến tu cho có kết quả để tôi được vui.

Đó là điều tôi rất hoan hỉ. Bởi vì bao nhiêu mong ước của tôi chỉ là mong sao Tăng Ni tu hành có kết quả, mong sao cho người Phật tử hiểu đạo, hành đạo để có lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Đó là chỗ mong ước của tôi. Nếu quí vị thực hiện được là làm cho tôi rất hài lòng rồi.

Hôm nay nhân ngày đầu năm, nói chuyện với Tăng Ni, Phật tử để nhắc nhở tu hành. Nhưng bài nói chuyện hôm nay rất quan trọng, với con mắt của tôi, nó tối ư quan trọng, chớ không phải chỉ là rất quan trọng.

Đây là bài pháp đầu năm cho Tăng Ni và Phật tử thấy rõ hướng đi, để thực hiện đầy đủ tư cách của người xuất gia, của người tu theo đạo Phật. Nhiều khi chúng ta tu mà trọng tâm của sự tu, kết quả của sự tu chúng ta chưa nắm vững. Không nắm vững thì trên đường tu còn nhiều việc khiến chúng ta dễ sanh nghi ngờ, mà nghi ngờ đi tới giải đãi, giải đãi đi tới thối tâm.

Bởi vậy, bài pháp hôm nay chúng tôi mong tất cả quí vị đem hết tinh thần lắng nghe cho thật kỹ, để thấy đường đi rõ ràng, rồi chúng ta an lòng tiến bước, không còn ngờ vực nữa. Đó là trọng tâm bài pháp hôm nay.

Bài pháp này tên là: “Phật là con người, vì con người, giải quyết những vấn đề con người.

Đây là bài pháp tôi cho là tối quan trọng. Nếu chúng ta tu theo đạo Phật mà không biết Phật tu thế nào, ngộ cái gì, mục đích của Ngài cầu mong đạt được điều gì, thì tự nhiên việc tu của chúng ta cũng không bao giờ có một hướng đi chắc chắn. Cho nên chúng ta phải biết tại sao ngày xưa Thái tử đi tu? Ngài đi tu đạt đạo là đạt cái gì? Về sau chư Tổ truyền bá tiếp nối là truyền bá tiếp nối cái gì? Và hiện nay chúng ta phải làm những việc gì để gọi là tu hành giác ngộ giải thoát? Đó là những điểm rất quan trọng đối với đời tu của mình.

Đầu tiên tôi nêu lên “Phật là con người”, ý này là một bài giảng riêng, hôm nay tôi lược qua, vì nói Ngài là con người thì ai cũng hiểu rồi. “Vì con người, giải quyết những vấn đề con người”, đây là điều tôi sẽ nói cho quí vị thấy rõ.

Trên đường tu, chúng ta đã hi sinh một cuộc đời quí báu làm tu sĩ, mà không biết sự hi sinh đó có cái gì cao cả, có cái gì quí báu để mình phải hi sinh. Nếu hi sinh không thụ hưởng danh lợi thế gian để vào trong đạo, rồi cũng chỉ là một ông thầy tu, khác với thế gian chỉ chiếc áo cái đầu, thì thật là uổng một đời hi sinh. Cho nên chúng ta phải thấy tinh thần cao cả của người tu nằm ở chỗ nào? Phải thấy rõ, hiểu biết tường tận thì giá trị tu của chúng ta không lầm, không sai.

Muốn thấy rõ thì phải biết từ đức Phật, chư Tổ, rồi đến chúng ta, một con đường trước sau duy nhất không lệch, không khác, thì mới có thể đạt được cái quả mà đức Phật đã đạt được. Nếu chúng ta không hiểu Phật làm gì, Phật đạt gì thì đời tu chúng ta rồi cũng chênh chông không có nơi chốn y cứ, dễ lạc lầm vào ngoại đạo tà giáo. Như vậy đời xuất gia của chúng ta vô tình uổng phí, còn có thể nhiều kiếp đi lệch đường và có thể rơi vào tà quái là khác. Cho nên phải nắm cho thật vững, thấy tường tận đường đi của mình để khỏi lầm lẫn. Đó là điều hết sức quan trọng.

Đầu tiên tôi nói lý do Thái tử Tất-đạt-đa đi tu. Ai đọc sử Phật cũng đều rõ Thái tử Tất-đạt-đa là một vị đông cung ở trong đài vàng cung ngọc, vợ đẹp con xinh, đủ hết. Nhưng tại sao Ngài bỏ hết những sang cả mà thế gian đang thèm khát, đang mong đợi đó, để làm một ông thầy tu?

Điều đó hẳn quí vị còn nhớ, sau khi Thái tử được Vua cha cho phép đi dạo bốn cửa thành, Ngài thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị Sa-môn. Thấy được bốn cảnh ấy rồi, khi trở về cung Thái tử không còn vui tươi như trước. Trái lại Ngài băn khoăn, thắc mắc, không thể nào ngồi yên trong chỗ sang trọng an vui đó nữa. Như vậy Ngài băn khoăn cái gì, thắc mắc cái gì đến không thể ngồi yên, buộc lòng phải vượt thành xuất gia? Đó là điều chúng ta phải lưu tâm.

Theo cái nhìn của tôi, khi Thái tử thấy cảnh già, bệnh, chết, với trí óc sáng suốt, nhạy bén, Ngài thấy người trước già bệnh chết thì người sau cũng già bệnh chết, người kia già bệnh chết thì mình cũng phải già bệnh chết. Như vậy già bệnh chết là luật chung của nhân loại chớ không phải riêng một ai. Tại sao con người có mặt ra đây rồi phải chịu già bệnh chết? Đó là một thắc mắc.

Thắc mắc thứ hai, sau khi chết rồi con người còn hay mất, nếu còn thì đi đâu?

Thứ ba, nếu không muốn cảnh sanh già bệnh chết nữa, con người phải làm sao?

Đó là ba vấn đề Ngài không thể nào an tâm được. Bởi vì thấy lớp người trước, lớp người kế, lớp người sau đều bị cảnh sanh già bệnh chết, rồi cứ mãi mãi như vậy không cùng không tận. Không có ai biết tìm một lối thoát, tất cả đều chấp nhận một lối đi chung, muôn người như một.

Đối với Thái tử, Ngài không cam nhìn một việc mà ai cũng thừa nhận cho là lẽ thường. Ngài thấy đó là một chuyện bất lực. Con người phải biết rõ tại sao mình có mặt ra đây? Rồi sau khi chết mình còn hay mất, nếu còn thì đi đâu? Và làm sao chấm dứt dòng sanh tử đó? Giải quyết ba vấn đề này là Ngài giải quyết được vấn đề con người.

Quí vị nghĩ kỹ xem, ở thế gian này chúng ta đang bị mọi thứ cám dỗ lừa bịp, khiến chúng ta cứ say trong cảnh trần tục. Sắc, thanh, hương, vị, xúc cứ che đậy làm mù mắt, làm điếc tai chúng ta. Chúng ta cứ bị quay cuồng trong cảnh đó rồi đuổi theo sáu trần. Khi đuổi theo sáu trần chưa thỏa mãn thì thân đã bại hoại. Người khác sanh ra cũng bị sáu trần lôi cuốn, cũng đuổi theo nó, rốt cuộc chưa được thỏa mãn thì thân đã hoại. Cứ như vậy, trước sau đều đi chung một con đường, không ai vượt ra khỏi.

Bây giờ thay vì thỏa mãn sáu trần, Thái tử quyết tìm cho ra lý do gì mình có mặt ở đây, sau khi chết mình còn hay mất, nếu còn thì đi đâu, và khi biết mình phải bị dòng sanh tử lôi cuốn hết đời này tiếp đời khác liên tục thì phải làm sao để chấm dứt dòng sanh tử đó. Những vấn đề này, quí vị thấy có phải là tối cần thiết cho con người hay không?

Chúng ta sống mà không biết tại sao mình có mặt ở đây, đó là mù mờ về quá khứ của mình. Sau khi chết không biết mình còn hay mất và không biết mình đi đâu, đó là mù mờ về ngày mai của mình. Nếu mình không muốn bị lôi kéo trong vòng sanh tử nữa, cũng không biết có cách nào thoát được, đó là mù mờ về lối thoát ra khỏi sanh tử, bị sanh tử lôi cuốn.

Như vậy, tôi nói gọn lại ba vấn đề đó là: Trước khi có mặt ở đây mình là gì? Sau khi chết mình đi đâu? Muốn không còn sự tiếp tục sanh tử phải làm sao?

Chúng ta chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, hưởng lạc thú trần gian. Khi chúng ta đuổi theo lạc thú như vậy, giả sử được thỏa mãn mọi nhu cầu đó, rồi để đi tới đâu? Rồi để chết, phải không? Nghĩa là thỏa mãn ăn ngon, mặc đẹp, thỏa mãn tất cả những tham muốn của mình, đáo để rồi thân cũng bại hoại. Như vậy, nuôi dưỡng tâng tiu một cái mà cái đó sắp bại hoại thì sự nuôi dưỡng tâng tiu đó có hoài công không? Đó là một vấn đề.

Thế gian muôn người như một, chỉ biết làm sao sống cho được vui, cho được lạc thú, được thỏa mãn mọi nhu cầu. Nhưng được như vậy rốt cuộc thân bại hoại, thì cái được đó rồi để đi tới đâu? Được để rồi mất! Vậy có đáng ham mê, đáng thích thú hay không? Quí vị mới thấy nếu chúng ta sống trên đời này mà chính mình không biết trước kia mình ở đâu, tại sao mình có mặt, cũng không biết sau khi chết mình ra sao v.v…, thì trước mù mịt, sau mù mịt và ngay trong cuộc sống này cũng mù mịt luôn. Như vậy cuộc sống trở thành vô nghĩa.

Cho nên khi nhận thấy cuộc đời rõ ràng như vậy rồi, Thái tử trăn trở, băn khoăn, thắc mắc không yên trong cảnh giàu sang nhung lụa. Ngài quyết tâm đi tìm cho ra manh mối do đâu mình có mặt ở đây, sau khi chết mình đi đâu và muốn không còn sanh tử nữa phải làm sao? Phải giải quyết cho xong ba vấn đề đó Ngài mới an lòng, mới thỏa mãn. Đó là lý do chủ yếu Ngài đi tu.

Bây giờ hỏi lại quí vị, quí vị đi tu mà có thắc mắc những vấn đề đó hay không? Hay thấy người ta tu ở chùa vui vui, mình cũng đi tu theo cho vui vậy thôi. Nếu thấy ở chùa vui vui mà đi tu theo, thì mai mốt có cái gì vui hơn rủ, mình cũng đi theo nữa phải không? Vì mình không có lập trường, không có hướng đi. Còn Thái tử do có lập trường, có hướng đi rõ ràng, nên sau khi đi tu, tự Ngài chưa tìm thấy, chưa biết được phương pháp giải quyết ba vấn đề trên, Ngài phải đi học với các vị tu trước, trong sử gọi là các ông tiên, mong tìm được lối giải quyết những vấn đề đang thắc mắc.

Vị Thầy đầu tiên hướng dẫn Ngài tu được kết quả là chứng Tứ thiền, tức xả niệm thanh tịnh, không còn niệm khởi, chỉ có cái trong sạch thanh tịnh thôi. Nhưng cái thanh tịnh đó không giải quyết được tại sao mình có ra, chết rồi mình đi đâu và muốn dứt sanh tử mình phải làm sao. Ba vấn đề đó không giải quyết được, chỉ có một niệm yên ổn thanh tịnh. Như vậy không đủ thỏa mãn nguyện vọng của Ngài, nên Ngài từ giã ra đi.

Tới vị thầy cuối cùng dạy Ngài tu đến chỗ cứu kính là định Phi tưởng phi phi tưởng, được sanh lên cõi trời Phi phi tưởng cũng không giải quyết được ba điều thắc mắc của Ngài, Ngài lại từ giã ra đi. Quí vị thấy, khi chúng ta ôm ấp một nỗi lòng, một thắc mắc nào chưa giải quyết được, cầu người đó giải quyết mà họ giải quyết không xong thì chúng ta có thể ở với người đó được không? – Tự nhiên phải đi. Sự thắc mắc của Ngài, các vị thầy kia không giải quyết được cho nên Ngài nhất định ra đi.

Chúng ta bây giờ tu không có thắc mắc gì hết, đi tu cứ tu, cho nên vô chùa bảo sao chịu vậy. Ai biểu đi cúng thì mình đi cúng, kêu đi tụng thì đi tụng, ai bảo gì làm nấy, bởi vì mình không có thắc mắc. Không thắc mắc thì biết đâu mà đòi hỏi, biết đâu mà làm thỏa mãn nguyện vọng của mình. Đó là chỗ chúng ta thiếu sót, không có ý chí, nghị lực, không có nhận xét chín chắn từ buổi ban đầu, nên khi đi tu gặp cảnh nào chúng ta theo cảnh ấy.

Nếu có con đường, có thắc mắc thì khi điều thắc mắc chưa được thỏa mãn, nhất định mình không ở đó, phải không? Đó là một lẽ thật. Do Thái tử ôm ấp thắc mắc mà không giải quyết được, cho nên Ngài phải đi. Bây giờ không còn người dạy nữa, Ngài phải làm sao? Ngài nghĩ, có thể dùng khổ hạnh để hủy hoại thân này, may ra tìm được giải đáp đó. Nhưng rốt cuộc, bao nhiêu năm khổ hạnh cho tới khi thân Ngài yếu đuối, ngất xỉu nhiều lần vẫn không giải quyết được những thắc mắc, nên Ngài cũng phải bỏ khổ hạnh trở lại lý trung đạo, tức là hơi bình thường một chút, ăn mặc đơn giản, để cuộc sống có đầy đủ sức mạnh, đầy đủ trí tuệ vươn lên.

Cuối cùng Ngài đến cội bồ-đề quyết tâm liều chết tu để tìm cho ra manh mối những điều Ngài đang thắc mắc. Muốn tìm manh mối đó Ngài phải làm sao? Không thể hỏi ai được, vì trước Ngài chưa có ai giải quyết những vấn đề đó. Chỉ còn cách là nghiêm chỉnh ngồi yên, lắng tâm, đi sâu vào thiền định, soi lại chính mình phăng tìm manh mối đó.

Dưới cội bồ-đề đến đêm bốn chín, theo sử ghi lại, đầu hôm Ngài chứng được Thiên nhãn minh, chỗ khác cũng gọi là Sanh tử trí. Khi chứng được Thiên nhãn minh, Ngài sáng rõ được manh mối con người sau khi chết đi về đâu. Trong kinh Phật thường diễn tả rằng: “Ta thấy chúng sanh chết đây sanh kia, tùy theo nghiệp dẫn đi trong lục đạo luân hồi, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi nơi này người đi nơi nọ một cách rõ ràng.”

Như vậy tức là do Ngài chứng được Thiên nhãn minh hay Sanh tử trí, Ngài thấy rõ được con người sau khi chết theo nghiệp đi luân hồi trong lục đạo. Thấy rõ điều đó là giải quyết được gì chưa? – Ngài đã giải quyết được vấn đề: “Sau khi chết con người đi đâu? còn hay hết? nếu còn thì đi đâu?”

Rõ ràng chết rồi không phải hết, mà chết rồi vẫn theo nghiệp đi thọ sanh trong lục đạo luân hồi. Ngài thấy rõ ràng chớ không phải suy lý, cũng không phải tin nơi ai. Đó là Ngài thấy, nên gọi là chứng. Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh thì trong ba cái nghi vấn Ngài đã giải được một nghi rồi.

Trong nhiều kinh, Phật giải thích hết sức rõ ràng cho chúng ta biết người tạo nghiệp gì thì đi đường nào trong lục đạo. Thí dụ tu Thập thiện thì đi lên cõi trời, giữ Năm giới thì sanh lại làm người, tạo Thập ác đọa địa ngục v.v… Kinh Phật nói hết sức tường tận, bởi Ngài thấy rồi sau mới nói, không phải là do học, cũng không phải do ai bảo. Đó là giải quyết được vấn đề thứ nhất.

Kế đó, tới canh hai, canh ba Ngài chứng được Túc mạng minh, là cái sáng nhớ lại những kiếp về trước một cách rõ ràng. Trong kinh, Phật thường nói: “Ta nhớ lại vô số kiếp trước như nhớ việc làm hôm qua.” Hôm qua làm việc gì, bữa nay nhớ lại có sai biệt không? Cũng vậy, vô số kiếp về trước Ngài từng ở đâu, sanh nơi nào, cha tên gì, mẹ tên gì, làm nghề gì, ở đâu, Ngài nhớ lại tường tận rõ ràng như nhớ chuyện xảy ra ngày hôm qua.

Điều đó giải quyết được thêm gì chưa? Giải quyết được nghi vấn tại sao chúng ta có mặt nơi đây. Như vậy, trước do chúng ta tạo nhân tốt hoặc xấu, khi mất thân đó, nghiệp dẫn đến thân này. Vậy thân này là thừa hưởng nghiệp của quá khứ, chớ không phải ngẫu nhiên. Vậy Ngài đã giải được cái nghi: “Tại sao mình có mặt nơi đây?”

Đức Phật đã giải quyết được hai nghi vấn rồi. Ngài biết rõ con người do nghiệp dẫn, rồi tiếp tục sanh tử, đời trước, đời kế, mãi đến đời này. Đời này tạo nghiệp dẫn tới vô số đời sau. Như vậy dòng sanh tử triền miên không dứt. Trước tạo nghiệp dẫn tới sau, sau tạo nghiệp dẫn tới sau nữa, cứ như vậy dẫn mãi, đi trong vòng sanh tử không có ngày cùng. Cho nên Phật thường nói khổ sanh tử như biển cả, không thể cùng, không thể hết.

Chúng sanh theo nghiệp lăn lộn trong vòng sanh tử, cái khổ đó không có giới hạn, chừng mực, vô biên vô lượng, nên đức Phật nói “nước mắt chúng sanh nhiều như nước biển cả” là vậy. Cái khổ đó vô cùng vô tận. Bây giờ muốn hết khổ thì phải làm sao? Đây là điều thắc mắc cuối cùng của Phật.

Khi sao Mai mọc tức là bắt đầu canh năm, Ngài chứng được Lậu tận minh. Lậu tận minh là cái sáng thấy rõ được nguyên nhân nào con người phải bị dẫn đi trong sanh tử và làm cách gì để gỡ hết mầm nhân đó hầu thoát ly sanh tử. Ngài thấy tường tận hết thảy và chính Ngài đã được như vậy. Sau khi chứng Lậu tận minh, Ngài tuyên bố hoàn toàn giác ngộ thành Phật.

Quí vị thấy đức Phật thành Phật là thành cái gì? Ngài tìm biết vũ trụ, biết nhân sinh, biết tất cả muôn vật bên ngoài để rồi giác ngộ thành Phật, hay là Ngài làm gì khác? Mọi vấn đề Ngài tìm chỉ xoay quanh con người, không gì khác hơn là con người từ đâu đến đây, sau khi chết còn hay mất, nếu còn phải đi đâu, và muốn dứt dòng sanh tử đó phải làm sao. Tức là ba vấn đề hết sức trọng yếu cho kiếp sống con người.

Biết được mình từ đâu lại, biết con người chết rồi sẽ đi đâu, và biết phương pháp nào để dứt dòng sanh tử không còn bị lôi cuốn tiếp nối nữa là giải quyết xong vấn đề con người. Quí vị thấy ba vấn đề đó nghe qua tưởng như không phải lạ, nhưng kỳ thật nó thiết yếu vô cùng vô tận đối với kiếp sống con người. Nếu chúng ta không biết mình từ đâu lại, chết rồi còn hay mất, sẽ đi đâu và làm sao chấm dứt dòng sanh tử, thì cuộc sống này quí vị nghĩ nó có giá trị gì không?

Con người sanh ra rồi lo ăn lo mặc, tạo đủ nhu cầu cuộc sống nhưng nó có còn mãi, có yên ổn không? Dù lo tạo được gì đi nữa thì cũng từ trẻ đến già, rồi bệnh, rồi chết, không dừng lại một phút giây nào. Vậy chúng ta sanh ra để đi tới tử, không ai thoát ngoài thông lệ ấy. Bao nhiêu công phu lo lắng, bao nhiêu nhọc nhằn gầy dựng sự nghiệp cho mình, rốt cuộc mình không còn. Lo cho một cái mà cái đó sẽ mất. Cuộc sống chúng ta cứ mải mê xoay quanh vấn đề lo cho sự sống để rồi phải chết. Sống tính ngày, tính tháng, tính năm, tính mãi; cuối cùng tính vào quan tài là kết thúc chớ không có gì lạ nữa.

Ngược lại, như giờ muốn biết tại sao chúng ta có mặt ở đây thì cứ nhìn lui về quá khứ. Hiện nay chúng ta tạo nghiệp lành dữ, nghiệp sẽ dẫn tới chỗ nào chúng ta cũng biết rõ. Và nếu không muốn cho nó tiếp tục dẫn thì chúng ta cũng rõ biết cần phải làm sao. Như vậy cuộc sống có giá trị hay không?

So sánh người tạo điều kiện tốt để say mê thụ hưởng dục lạc thế gian rồi chờ chết với người biết rõ do nguyên nhân nào mà tới đây và mai kia chết đi đâu, muốn không còn sanh tử nữa phải làm gì, hai con người đó chúng ta thấy giá trị khác nhau nhiều hay ít? Nếu chúng ta khôn ngoan khéo léo tạo điều kiện tốt cho cuộc sống mình được an vui, sự thọ hưởng luôn sung túc, rồi kết cuộc chết không biết mình đi đâu, không biết mình ra sao, thì chúng ta chỉ được một chặng hết sức ngắn chừng mấy chục năm. Còn con đường dài vô kể từ quá khứ đến giờ, và từ bây giờ mãi đến vị lai, chúng ta không biết gì hết.

Như vậy được một chặng rất ngắn mà không biết khoảng dài của quá khứ và vị lai, thì cái được đó không nghĩa lý gì, không đáng gì. Nếu chúng ta tiến lên một mức nữa, thấy rõ cái mầm, cái nguyên nhân tạo sanh tử, rồi chúng ta dứt nó để không bị lôi trong vòng sanh tử nữa. Đây mới thật tự tại vô cùng vô tận, phải không?

Vậy mình tu theo Phật thì phải làm gì và kết quả thành cái gì? – Kết quả là thành Phật. Muốn thành Phật phải giải quyết vấn đề gì? – Phải biết mình từ đâu lại đây, sau khi chết do tạo nghiệp gì đó sẽ đi đâu, nếu không muốn tiếp tục sanh tử nữa thì có cách gì để thoát. Biết rõ ràng như vậy là đi đúng đường Phật dạy. Tóm lại, kết quả mình tu là phải đạt được ba cái minh: Thiên nhãn, Túc mạng và Lậu tận. Đạt được ba cái đó gọi là thành Phật.

Quí vị thấy do đạt được ba minh này nên sau khi thành Phật, lần đầu tiên thuyết pháp Ngài nói pháp gì? với ai? – Pháp Tứ đế, nói với năm anh em ông Kiều-trần-như, đó là buổi thuyết pháp đầu tiên. Thời pháp này Ngài nhắm mục tiêu nào để nói? – Rõ ràng có hai vấn đề:

Vấn đề thứ nhất, thân này là khổ quả. Khổ quả này không phải ngẫu nhiên có, mà nó có nguyên nhân. Nguyên nhân của khổ đế là tập đế. Tập đế và khổ đế là nhân và quả sanh tử. Đó là Ngài đã nhìn ra, hay giải quyết hai vấn đề: quá khứ đã tạo nhân gì và vị lai sẽ đi đâu. Khi còn đi trong sanh tử, nhân mình tạo thế nào thì cái quả sẽ gặt phải đi theo nhân đó. Như vậy, cái khổ từ nhân tập mà ra. Vậy tập đế và khổ đế là nhân và quả của dòng sanh tử luân hồi, Ngài thấy rõ như vậy.

Vấn đề hai, bây giờ muốn dứt luân hồi, Phật dạy sao? Ngài dạy diệt đế. Muốn diệt thì phải biết diệt cái gì, phương pháp nào để diệt. Phương pháp diệt là đạo đế, và kết quả của diệt là hết sanh tử, tức Niết-bàn. Như vậy muốn được Niết-bàn, hết sanh tử, thì phải diệt sạch tập đế dẫn mình đi trong sanh tử. Hai cái nhân và quả giải thoát này, do chứng được Lậu tận minh mà Ngài chỉ ra tường tận.

Vậy bài thuyết pháp đó chúng ta thấy rõ ràng đức Phật nhắm hai chiều:

– Chiều đi trong sanh tử: Do cái gì tạo phải chịu sanh tử.

– Chiều giải thoát sanh tử: Phải diệt nhân gì để đưa tới giải thoát sanh tử.

Phật chỉ tường tận như vậy, chúng ta mới thấy đức Phật đem chỗ ngộ của Ngài ra dạy đúng như những gì Ngài thấy, Ngài đang làm đang sống.

Đó là cụ thể, còn nói xa hơn là bài pháp Mười hai nhân duyên Ngài nói sau này: Vô minh đưa tới hành, thức… tới sanh, lão tử, đó là vòng lưu chuyển. Diệt vô minh dẫn đến diệt hành…, diệt sanh, lão tử đó là vòng hoàn diệt. Như vậy Ngài cũng chỉ cho chúng ta thấy đi chiều nào thì tiếp tục trong sanh tử, đi chiều nào sẽ thoát ly sanh tử.

Vậy, lý Tứ đế, Nhân duyên Ngài chỉ dạy cho mọi người đều căn cứ chỗ thấy rõ, chỗ đạt được của Ngài, chớ không phải dùng lý thuyết để nghị luận, tranh cãi. Nên giáo lý của đạo Phật không có vấn đề nào quan trọng bằng pháp Tứ đế và Thập nhị nhân duyên. Hai cái đó trọng tâm đều đặt ở con người, giải quyết vấn đề con người, không có gì xa lạ.

Bây giờ chúng ta tu phải làm sao? Đó là tôi muốn đặt lại câu hỏi cho quí vị thấy. Khi đức Phật ngồi tu, Ngài phăng tìm ba vấn đề tôi nêu nãy giờ, sự phăng tìm đó là hướng ra ngoài hay hướng về nội tâm? Hướng về mình để tìm cho ra manh mối là lối tự dồn hết khả năng của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý soi sáng lại, tìm cho ra manh mối sanh tử. Đó là lối tu thiền định, dồn hết tinh thần tìm ra chính cái thật của con người mình. Từ thiền định đó Ngài mới phát minh, mới giác ngộ được ba vấn đề thắc mắc. Hướng đi của Ngài rõ ràng như vậy.

Kế tôi dẫn những vị Tổ sau này, xem các vị dạy có khác đức Phật không. Phật xoay lại soi sáng chính mình, thì các Tổ cũng dùng lối đó không khác. Đó là tôi nói Tổ Đạt-ma và ngài Huệ Khả.

Ngài Huệ Khả, như tôi nói hôm qua, trước là một vị Tăng y theo kinh để tu, nhưng khi ngồi thiền Ngài bị vọng tâm khuấy động làm cho bất an, khổ sở. Nghe Tổ Bồ-đề-đạt-ma từ Ấn Độ sang, Ngài hi vọng đến nhờ Tổ chỉ cho một lối thoát để được an tâm. Khi tìm đến, thấy Tổ đang ngồi thiền xoay mặt vào vách, Ngài đứng hầu chờ Tổ ra để thưa hỏi. Nhưng Tổ quở, chê rằng dùng những khổ hạnh nhỏ không xứng đáng, nên Ngài phải dùng phương tiện khác là chặt tay. Nhờ thể hiện sự hi sinh để tỏ lòng tha thiết cầu đạo, Ngài được Tổ Đạt-ma hứa khả nhận làm đệ tử.

Khi làm đệ tử, nỗi băn khoăn thắc mắc của Tổ Huệ Khả là thế nào? – Phải giải quyết làm sao cho tâm được an. Vì vậy mà Ngài cầu pháp an tâm. Khi cầu xin Thầy dạy cho pháp an tâm, Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy sao? Có dạy giống mình bây giờ không? Dạy đếm hơi thở này kia không? – Không, Ngài chỉ bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Một câu nói mình thấy hết sức phi lý, tâm có hình tướng gì đâu mà đem, mà lôi ra được! Nhưng lời nói của Tổ, Huệ Khả không dám xem thường, nên nghe bảo “đem tâm ra ta an cho”, liền quay lại tìm coi tâm bất an ở đâu.

Khi xoay lại tìm thì thấy nó ở đâu? – Nó mất tiêu không còn tăm dạng. Không thấy tăm dạng thì phải trả lời sao đây? Ngài thật thà: “Bạch Hoà thượng, con tìm tâm không được.” Nói tìm tâm không được là nói hết sức thật thà. Nhưng Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Lạ lùng chưa? Tìm không được mà an chỗ nào? Nhưng thật tình là an.

Sở dĩ tâm bất an là vì nó đang chạy nhảy, duyên cái này dính cái kia, bây giờ mình quay lại tìm thì nó mất tiêu. Mất tiêu là hết chạy hết nhảy, tức là an chớ gì? Tổ nói: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Một câu nói hết sức giản đơn. Ngay câu đó ngài Huệ Khả biết được lối vào. Lối vào là lối nào? – Chỉ cần soi sáng lại là nó mất. Còn lâu nay chúng ta cứ chạy theo nó, đuổi theo sáu trần cho nên bất an. Bây giờ tìm lại xem nó là cái gì, ở đâu, thì tự nhiên nó mất. Nó mất tức là an.

Như vậy lối thiền của Tổ Đạt-ma dạy Tổ Huệ Khả chỉ là xoay lại soi sáng chính mình. Tìm nghĩa là soi sáng lại. Tìm tức là mình chăm chú, chăm chú mới thấy. Muốn tìm tâm phải chăm chú soi sáng lại mình. Vậy ngồi thiền nghĩa là chúng ta phải biết soi sáng lại mình, đừng để cho sáu căn rong ruổi bên ngoài. Phải soi sáng lại chính mình mới thấy được vấn đề, thấy được mình, mới giải quyết được ba vấn đề hồi nãy tôi nêu ở chỗ đức Phật, phải không? Nghĩa là tìm ra được tại sao mình có mặt nơi đây, sau khi chết mình còn hay mất, nếu còn thì đi đâu, mới tìm ra được manh mối nào để chấm dứt dòng sanh tử.

Vậy sở dĩ giải quyết được ba cái đó là nhờ soi sáng lại chính mình, tức là thiền, là phản quan chớ không có gì lạ. Soi sáng chính mình là tìm lại mình, thì những tâm phan duyên chạy ra ngoài từ từ lặng. Nên nói Tổ Huệ Khả biết được lối vào, tức là biết được hướng đi, biết đường tu, chớ không phải ngay đó Ngài ngộ. Biết được lối đi rồi, từ đó Ngài chỉ tu bằng cách soi lại mình.

Một thời gian sau, một hôm Ngài thưa với Tổ Đạt-ma: “Từ đây con bặt hết các duyên.” Bặt hết các duyên, quí vị hiểu sao? Nếu mình còn nhớ hình ảnh, nhớ âm thanh, nhớ cái gì đó… là còn duyên, còn dính với sắc, thanh, hương, vị… Hết dính mấy cái đó gọi là bặt hết các duyên. Như vậy ngay đó Ngài không còn dính với sáu trần nữa, nên nói “từ nay con bặt hết các duyên”.

Tổ Đạt-ma gạn lại: “Coi chừng rơi vào không.” Nếu không dính sáu trần thì tâm đâu có dấy động. Không động nhiều khi người ta tưởng cứ im lìm trong cái rỗng không, đó là sai, nên Tổ mới gạn lại, ngài Huệ Khả liền thưa: “Con rõ ràng thường biết, làm sao rơi vào không được.” Không là không có gì, không biết gì, bây giờ con biết rõ ràng làm sao nói không!

Tổ Đạt-ma bảo: “Như vậy chỗ ông thấy là chỗ ta thấy, là chỗ chư Phật thấy.” Vậy bặt hết các duyên mà rõ ràng thường biết, đó là chỗ chư Phật đã chứng, chỗ ta đã chứng, chỗ ông đã chứng. Đây là ấn chứng. Cho nên cuối cùng khi Tổ Đạt-ma thấy hết duyên ở Trung Hoa, Ngài gọi đệ tử lại bảo trình kiến giải, Tổ Huệ Khả ra trình thế nào? Ngài bước ra lạy ba lạy rồi khoanh tay đứng yên. Tổ Đạt-ma nói: “Ông được phần tủy của ta.”

Tại sao trình kiến giải lại lạy ba lạy rồi đứng yên? – Nếu khởi ngôn ngữ là niệm khởi. Trình kiến giải mà kiến giải đó không còn một niệm nào dấy khởi thì chỉ còn một lối lạy ba lạy khoanh tay đứng yên, vậy là đầy đủ vô cùng. Nên nói: “Ngươi được tủy của ta.” Ngang đó Tổ Huệ Khả đủ điều kiện thay thế Tổ Đạt-ma. Quí vị thấy đức Phật soi lại mà chứng được Tam minh, Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền Thiền tông sang Trung Hoa cũng bắt soi sáng lại thì mới thấy được cái chân thật của chính mình.

Nhìn qua phần kinh điển chúng ta thấy sao? Những kinh Phật dạy như kinh A-hàm, bên Pàli gọi là Nikàya, thường dạy tu thiền bằng cách quán Tứ niệm xứ, hoặc ứng dụng Ngũ đình tâm quán v.v… Quán Tứ niệm xứ, quí vị có biết quán làm sao không? Tứ niệm xứ: một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ thị khổ, ba quán tâm vô thường, bốn quán pháp vô ngã.

Quán thân bất tịnh là quán lại thân mình có ba mươi sáu thứ bất tịnh. Quán lại thân mình tức soi sáng lại mình chớ gì! Rồi quán thọ thị khổ. Thọ là gì? Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, những cảm giác lãnh thọ đó là vô thường, khổ, cũng là quán lại mình. Quán tâm vô thường cũng quán lại mình. Quán pháp vô ngã ở đây là quán tâm pháp chớ không phải sự vật, tức tâm sở pháp, cũng là quán lại mình. Tất cả phép quán đó đều soi sáng lại mình.

Ngũ đình tâm quán là quán cái gì? Một là muốn dừng cái tâm đuổi theo sắc dục nên dạy quán thây người chết. Muốn dừng tâm loạn tưởng Phật dạy quán sổ tức, đếm hơi thở. Muốn dừng tâm nóng giận dạy quán từ bi, dừng tâm ngu si quán nhân duyên v.v… Như vậy tất cả cái đó cũng đều soi sáng lại mình chớ không có gì lạ.

Giáo lý Nguyên thủy căn bản dạy tu thiền cũng là soi sáng lại mình. Cho đến gần đây các vị Thiền sư ở Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện hay dạy thiền Minh Sát Tuệ, hít vô là “phình”, thở ra là “xẹp”, cứ như vậy để làm gì? Quán theo hơi thở vô, ra là nhìn ngược lại mình, để đừng cho chạy ra ngoài, lần lần tâm yên định rồi sẽ sáng lên. Như vậy tất cả lối thiền quán đều soi sáng lại mình.

Bây giờ nói giáo lý Đại thừa. Quí vị mỗi đêm tụng Bát-nhã thấy trong đó dạy sao? Trọng tâm tu hành của Bồ-tát Quán Tự Tại qua hết khổ nạn là nhờ “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức soi sáng lại thân năm uẩn là không thật. Thấy rõ thân năm uẩn không thật, là qua hết thảy khổ nạn. Vậy cũng bắt mình chiếu rọi lại mình.

Cùng trong hệ thống Bát-nhã như kinh Kim Cang, ngài Tu-bồ-đề hỏi đức Phật hai câu: – Làm sao hàng phục tâm? Làm sao an trụ tâm? Cũng là quay lại soi sáng chính mình. Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghe được câu đó Lục Tổ ngộ liền.

Vậy “không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp” có phải là chỗ Tổ Huệ Khả nói “con đã bặt hết các duyên” không? Rõ ràng hệ thống Thiền từ thủy chí chung không hai, bên kia bặt hết các duyên là không dính sáu trần, bên này bảo đừng trụ sáu trần. Không trụ sáu trần chính là bặt hết các duyên. Bên kia Tổ Huệ Khả nói “còn cái rõ ràng thường biết”, bên này Lục Tổ nói “đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn tự tròn đủ v.v…” Bặt hết các duyên thì còn cái rõ ràng thường biết, có khác gì với tánh mình thanh tịnh, tánh mình đầy đủ!

Vậy là hết sức rõ, đầu đuôi, gốc ngọn không hai. Phật dạy trong kinh, Tổ ngộ tâm mình cũng chẳng có gì khác lạ, phải không? Cốt là trở về ngay nơi mình, soi sáng lại chính mình. Như vậy quí vị mới thấy kinh điển Phật dạy là cái hướng dẫn dắt chúng ta thể nhập con người thật chính mình. Thể nhập con người thật chính mình là đạt được chỗ đức Phật đã chứng, tức cái minh thứ ba là Lậu tận minh, hết mầm sanh tử.

Hết mầm sanh tử không phải là hết mình, phải không? Hết mầm sanh tử thì con người chân thật hiển lộ. Con người chân thật hiển lộ là giải thoát sanh tử. Như vậy giải thoát sanh tử không có nghĩa là tới đó rồi không còn gì, mà chính tới đó con người chân thật mới hiện tiền, mới không bị luân hồi trong lục đạo.

Đi xa chút nữa tới kinh Pháp Hoa, hôm qua tôi có đề cập đến. Lâu nay quí vị đọc thí dụ cùng tử trong phẩm Tín Giải, quí vị hiểu sao? Cùng tử là kẻ nghèo khổ đi lang thang xin ăn, tha phương cầu thực, hình ảnh đó muốn nói gì? Nghĩa là có cha mẹ mà bỗng nhiên bỏ cha mẹ đi, càng đi càng khổ, nên gọi là cùng tử. Bây giờ nhớ lại, muốn tìm về cha mẹ.

Thời gian lang thang là thời gian nào? Thời gian muốn trở về cha mẹ là thời gian nào? Lang thang là thời gian buông sáu căn chạy theo sáu trần được diễn tả bằng hình ảnh chú cùng tử. Bây giờ biết hối hận trở về tìm cha mẹ là bắt đầu phản quan, giống như quí vị mới tập ngồi thiền một năm nay vậy. Tìm mà gặp chưa? Tuy chưa gặp nhưng đã biết trở về, trở về một bước là gần với quê hương một bước, về hai bước gần được hai bước, phải không? Nếu phóng ra thêm một ngày tức xa một ngày, cứ như vậy đi xa mãi.

Như vậy, chàng cùng tử bỏ cha mẹ đi là hình ảnh diễn tả chúng ta buông sáu căn rong ruổi theo sáu trần. Mỗi một ngày chúng ta rong ruổi theo sáu trần là một ngày quên mất gốc của mình, nên càng đi là càng xa. Ở đây tất cả chúng ta bỏ gốc, hay bỏ cha mà đi bao lâu rồi? Quí vị nhớ không? Chừng bao lâu rồi? Đi không biết bao lâu, lúc muốn trở về, về gấp có được không? Muốn trở về thì đường xa diệu vợi, cho nên cùng tử lang thang khổ sở vô cùng! Đến khi về được tới nơi, thấy được cha, thấy được ngôi nhà của cha mà có tin không? Cũng chưa tin!

Thấy được mà chưa tin là vì sao? Vì quen chạy ra rồi, bây giờ thấy cái đó lại không tin là của mình. Nhiều khi chúng ta tu có những phút an tịnh, nhận ra, biết mình, rồi ít bữa cũng quên mất, lo chạy nữa chớ không tin, không trụ được. Đây là do mê lầm nhiều đời nhiều kiếp thành thói quen nên không dám nhận cái thật của mình.

Đó là hình ảnh chàng cùng tử về tới nhà cha rồi, cha nhìn thấy biết là con mình, cho người đuổi theo, kéo lại dẫn vô nhà, nhưng cùng tử vẫn hoảng chạy cho tới té xỉu thôi. Ở đây chúng ta tu cũng vậy, có những phút giây nhận ra mình, nhưng không tin nên rồi bỏ đi nữa. Cha phải dùng phương tiện cho một người cùng lang thang, ăn mặc dơ dáy bẩn thỉu rủ về làm việc tầm thường bẩn thỉu. Chừng đó mới chịu về. Cũng vậy, khi mình phản quan tu tập, bảo cốt phải giác ngộ, đạt được Bản tâm, nghe xa quá. Còn ngồi thiền ít bữa thấy ánh sáng, thấy hào quang thì mừng, thích quá, ráng ngồi. Giống hệt chàng cùng tử, kêu đi hốt phân liền chịu, còn nói về để ông trưởng giả trao gia tài lại không chịu, không dám nghĩ tới cái đó.

Chúng ta bây giờ cũng vậy, bảo ngồi tu không được thêm gì, chỉ trở về cái chân thật bất sanh bất diệt của mình, nghe sao không hấp dẫn. Còn biểu ráng tu đi, sẽ có niềm vui, có cái này cái nọ thì thích thú chịu tu. Có phải tâm lý chúng ta giống vậy không? Đây là mấy chàng cùng tử mới trở về, bị dẫn dụ theo sở thích chớ không dám nghĩ đến gia tài sự nghiệp của cha. Nhưng cứ chịu khó về đó đi, rồi từ đứa hốt phân dần dần tới làm thư ký, sau được trao hết gia tài. Đó là phương tiện.

Như vậy, những cái được là phương tiện để đi đến cứu kính. Được trao gia tài tức mình là con ông trưởng giả, ông trưởng giả mất thì mình là trưởng giả. Chúng ta trở về được trao gia tài tức chúng ta là Phật không còn nghi ngờ gì. Đó là hình ảnh hết sức cụ thể. Nên tôi thấm nhất bài kệ đầu trong “Tứ Sơn” của vua Trần Thái Tông, nhất là hai câu kết:

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.

Con người cứ mải mê đi lang thang. Đi lang thang là khách phong trần, phải không? Đầu cổ bụi bặm dính đầy, vậy mà ưng đi, đi bụi đời! Không chịu trở lại, cứ lang thang làm kẻ bụi đời hoài. Càng lang thang, ngày càng xa nhà của cha mẹ, xa quê hương mình, thành ra “nhật viễn gia hương vạn lý trình”.

Một ngày đi xa một phần, nhiều ngày thành xa muôn dặm. Không biết mình đã đi bao ngày, bao đời, bao kiếp rồi nên xa lơ xa lắc. Bây giờ trở về cay đắng, khó khăn là phải. Đâu phải đi một ngày hai ngày, đi xa từ thuở nào tới giờ. Nhìn lại người thế gian đang rong ruổi làm kẻ bụi đời. Vậy mà ai cũng tự hào nào được danh, được lợi đủ thứ, mà không ngờ được làm bụi đời! Đó là đáng thương.

Bởi vậy, Phật nhìn chúng sanh Phật thương là chỗ đó. Dầu cho người bụi đời được ngồi trên ghế cao hay đang lang thang ngoài đầu đường ngõ chợ, cũng đều là kẻ bụi đời, là người đáng thương, chớ không phải chỉ thương người lang thang đầu đường xó chợ thôi. Nghĩa là cứ bụi đời thì thương, bởi vì họ không có chỗ nương tựa, họ rất khổ đau.

Tất cả chúng ta được duyên phước biết quay lại, trở về cố hương mình. Mỗi ngày đều bước về năm mười bước, hai ba chục bước thì cũng có ngày về tới quê hương. Người nhanh đi một ngày năm mười cây số, sẽ về mau. Ai chậm mỗi ngày bước năm mười bước mãi rồi cũng trở về được cố hương. Chỉ trừ ai lang thang làm kẻ bụi đời thì không bao giờ biết cố hương ở đâu.

Như vậy chúng ta thấy con đường phiêu lưu làm kẻ bụi đời của chúng ta dài vô kể. Tuy vậy mà không buồn không chán, bởi vì trong kinh nói “hồi đầu thị ngạn”, quay đầu lại là bờ kia chớ không đâu xa. Hình ảnh anh chàng cùng tử hay người khách bụi đời đi xa trở về thấy lâu, còn sáu căn rong ruổi theo sáu trần biết xoay lại thì bao xa? Phóng ra rồi xoay lại cách nhau bao xa? Thật chỉ như trở bàn tay. Trước phóng ra giờ xoay lại, như trở bàn tay, có xa đâu.

Xoay lại là “hồi đầu”. Chúng ta nghe nói “hồi đầu” tưởng là quay đầu lại, thật ra không phải. Sáu căn chạy ra, giờ sáu căn quay trở lại, gọi là hồi đầu. Quay lại tức sẽ trở về cố hương. Như vậy chúng ta tu là trở về với cái không bị dòng sanh tử lôi kéo, tức bặt hết các duyên. Không bị dòng sanh tử lôi kéo nữa thì chúng ta an nhiên trong cảnh Niết-bàn, không nghi ngờ.

Như vậy Niết-bàn đối với chúng ta xa hay gần? Sở dĩ thành xa là do cứ phóng ra theo sáu trần, bị sáu trần lôi cuốn thu hút, nên chúng ta nhiễm nó. Bây giờ quay lại làm như có sợi dây giật ngược trở ra. Bị sáu trần giật hoài nên khi quay lại rồi sáu trần cũng giật ra.

Tôi thường nói thời chúng ta tu thật cay đắng. Tại sao vậy? Vì khi con người văn minh tiến bộ, họ tạo đủ hình sắc đẹp để lôi cuốn con mắt. Nếu trước mắt chúng ta toàn người xấu xí, toàn những món đồ không ra gì, mình có ham không? Bây giờ văn minh quá, cái mặt xấu xí sửa cũng thành đẹp, đồ vật nào cũng mẫu mã đẹp, nhìn cái gì cũng lôi cuốn. Lôi cuốn tức con mắt mình bị hút trong đó, bây giờ muốn gỡ ra thật cay đắng. Bao nhiêu hãng xưởng, bao nhiêu cơ sở tạo đủ điều kiện làm đồ tốt đồ đẹp. Ở mỹ viện thì sửa soạn mặt người đẹp. Ở chỗ khác làm cái gì cũng mẫu mã đẹp. Đó là đánh lừa, lôi cuốn con mắt. Con mắt mình thường xuyên bị hút, gỡ ra là vấn đề hết sức cay đắng.

Lỗ tai cũng vậy, bây giờ đủ thứ âm nhạc. Hồi xưa muốn nghe nhạc phải tới hí viện hoặc tới chỗ này chỗ kia. Giờ ngồi đâu cũng nghe, cũng thấy được. Muốn nghe lúc nào cũng có, hết nhạc này lại đến nhạc nọ, đủ thứ đủ loại. Tai tha hồ nghe những gì nó ưa thích. Muốn nghe lại rất dễ, mở máy là nghe liền. Bởi vậy bây giờ tu lỗ tai hết sức khó, gỡ được âm thanh cũng là cái cay đắng vô cùng.

Rồi tới lỗ mũi. Lỗ mũi mình gỡ có khó không? Hồi xưa thì hương xông xạ ướp, nhưng chỉ trong cung Vua mới có, còn người thường lam lũ hôi hám đâu có gì. Bây giờ không nước hoa này cũng nước hoa nọ, đủ thứ. Chỉ cái lỗ mũi bị mùi nước hoa lôi, mình cũng khó kéo lại.

Cái lưỡi nếu ăn uống sơ sài chắc không nhiễm mấy. Bây giờ quí vị thấy tiệm này quảng cáo những thức ăn đặc biệt, tiệm kia quảng cáo thức ăn Tây Tàu… cho nên cái lưỡi cũng khổ, gỡ nó đừng dính là cả vấn đề.

Đến cái thân, thân này thích gì? Thích nệm êm chăn ấm v.v… những thứ đó thời nay đều tốt. Nệm thật dày, chăn thật đẹp, thật ấm. Cái gì cũng tốt nên rồi khó gỡ.

Ý thì duyên theo pháp trần. Quí vị thấy hãng nào cũng tạo những sản phẩm chiều ý khách hàng. Khách hàng muốn cái gì liền có những đáp ứng hấp dẫn cho họ mê, nên ý cũng rất khó gỡ.

Chính bây giờ chúng ta đang bị sáu trần cuốn hút, ai gỡ ra được, thoát khỏi nó thật là anh hùng, anh hùng lắm! Ai yếu yếu gỡ không nổi. Thế nên Phật nói đời này mạt pháp là phải, bởi vì nhiều cái cuốn hút quá, gỡ ra không nổi. Nên nhiều khi người tu tuy hình thức xuất gia rốt cuộc cũng bị lôi, không nhiều thì ít. Không có người nào trọn vẹn như Tổ Huệ Khả nói “bặt hết các duyên”, là không còn dính các duyên nữa. Nếu chúng ta muốn bặt hết các duyên phải có sức phi thường, gan dạ, chớ hơi nhát nhát là không được.

Bởi thấy hoàn cảnh khó khăn như vậy nên tôi mới tạo điều kiện đóng cái lồng lớn nhốt mấy con khỉ, khả dĩ đỡ đi đôi chút. Nhốt trong đó lâu lâu cho sổ chuồng ra một chút thôi, chớ ra nhiều quá dính gỡ không nổi. Vì tôi đã thấy được điều đó, lo ngại điều đó nên tôi phải tạo điều kiện. Vậy mà lâu lâu cũng có một hai con khỉ muốn sổ lồng.

Sự tu của chúng ta không phải là khó, nhưng vì thói quen đuổi theo sáu trần đã nhiều kiếp nhiều đời. Bây giờ muốn dừng nó lại, xoay ngược nó trở vô là cả vấn đề khó khăn. Nên Phật Tổ phải diễn tả nhiều cách, từ hình ảnh anh cùng tử lang thang cho đến người khách phong trần, để mình thấy mình đã điêu đứng bao nhiêu năm, bao nhiêu đời rồi, bây giờ phải ráng xoay trở lại. Khi xoay trở lại, lúc đầu nó không được như ý, tức không thỏa mãn thói phiêu lưu của mình. Phiêu lưu thì tự do, trở về phải có lối, phải đi đúng đường, coi như mất tự do.

Ở đây ngày phải ngồi ít ra sáu tiếng đồng hồ. Ngồi đó thấy như mất tự do mà tự do. Mất tự do tức không có quyền chạy theo vọng tưởng làm kẻ bụi đời; còn tự do là ngồi lại để rồi định tĩnh, tuy chưa trở về tới nơi nhưng cũng đã dừng lại, không đi nữa. Không đi nữa tức sẽ trở về gần quê hương. Còn nếu mỗi ngày để quí vị đi hoài, chừng nào trở về được? Bắt ngồi lại là phương tiện kềm chế quí vị, nhưng vậy là mất tự do của người bụi đời, phải không? Tuy nhiên, đó là hướng tốt cho người trở về quê hương, ý nghĩa rất rõ ràng.

Vậy chúng ta trở về tức là chúng ta tu, mà tu đó cốt tìm cho ra cội nguồn gốc gác mình đã bỏ quên. Phải về đến tận nơi. Được tới đó rồi chúng ta mới hết khổ. Đó là tôi dẫn kinh, từ kinh Nguyên thủy đến kinh Đại thừa của đức Phật dạy, để quí vị thấy đường lối tu không khác.

Trở lại người gần chúng ta nhất tức Tổ Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Khi Ngài còn làm Thái tử tên Trần Khâm, độ mười sáu mười bảy tuổi, vua Trần Thánh Tông đem Ngài gởi Tuệ Trung Thượng Sĩ hướng dẫn chỉ dạy cho phần đạo đức. Một hôm Ngài hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ rằng: “Bổn phận và tông chỉ của thiền thế nào?” Tuệ Trung Thượng Sĩ liền đọc luôn câu chữ Hán: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Chỉ một câu thôi, ngay đó Ngài liền được lối vào, cũng như Tổ Huệ Khả, ngay câu “ta đã an tâm cho ngươi rồi” liền được lối vào.

Như vậy, được lối vào ở đây là gì? “Phản quan tự kỷ” tức là xem xét, soi sáng lại chính mình. Đó là phận sự gốc, là tông chỉ của thiền, không phải từ bên ngoài mà được, không do cái gì từ ngoài đem đến. Ngay đó Ngài thấu suốt đường lối tu thiền. Từ đó, tuy còn là cư sĩ mà lúc nào Ngài cũng biết tu, cho tới khi Ngài làm bài phú “Cư trần lạc đạo”. Bài phú nói lên tư cách người cư sĩ tại gia, tuy ở trong cõi trần mà vẫn vui với đạo. Kết luận Ngài dùng bốn câu kệ chữ Hán mà tôi đã dẫn rất nhiều lần cho quí vị nhớ cái gốc là ở đó. Bốn câu kệ đó thế nào?

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc san hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Tôi cho bốn câu đó là của người đã sống được với thiền.

Cư trần là ở trong cõi trần, lạc đạo là vui với đạo. Ngay trong bụi trần hay trong cảnh trần tục mà chúng ta vẫn vui được với đạo. Làm sao để vui được? “Thả tùy duyên” nghĩa là hãy tùy duyên. Tùy duyên là sao? Đẹp đến thấy là đẹp, xấu đến thấy là xấu, mà không có niệm thương cái đẹp, ghét cái xấu, đó là tùy duyên. Nếu đẹp tới mình khen thích, xấu tới mình ghét chê, là chưa biết tùy duyên.

Như vậy tùy duyên có nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, trần như thế nào căn thấy thế ấy, không thêm ý thức thương ghét, khen chê… Bây giờ, nếu chúng ta ngồi giữa chợ, thấy tất cả người, nghe tất cả tiếng mà không có niệm dính mắc, lúc đó chúng ta vui hay buồn? Được vậy thì ngay trong đời mà vui với đạo.

Sở dĩ chúng ta ngồi giữa chợ tu khó là tại sao? Thấy đẹp liền thích, bị chê buồn ngay, rồi ngồi đó phiền não hoài tu không được. Nên ngồi giữa chợ không tu được là vì không biết tùy duyên.

Tóm lại, ở trong cõi đời vẫn vui được với đạo nhờ biết tùy duyên. Duyên đến thì thấy nghe, duyên đi thì thôi. Cho nên ngài Lâm Tế nói:

Tùy duyên tiêu cựu nghiệp
Nhậm vận trước y xiêm.

Nghĩa là sống tùy duyên không dính mắc, lần lần nghiệp cũ hết. Mặc áo ăn cơm tự nhiên vậy thôi, không có gì thêm. Như vậy, khi mặc áo, ăn cơm, hay gặp cảnh gì đó, mình vẫn thấy, nghe, hiểu, biết mà không dính mắc, đó là tùy duyên. Biết tùy duyên như vậy thì nghiệp cũ từ từ hết. Nghiệp cũ là thói quen cũ: thói chạy theo, thói dính mắc…, lần lần nó hết chớ không gì lạ.

Vừa vào hai câu đầu, Sơ tổ Trúc Lâm đã diễn tả hình ảnh sống trong cuộc đời xấu xa đen tối mà mình vẫn an lạc, vẫn trong sạch, là nhờ biết tùy duyên. Tùy duyên bằng cách nào? Cụ thể là: “Cơ tắc san hề, khốn tắc miên.” Đói ăn, mệt ngủ, đó là tùy duyên. Tùy duyên là nhu cầu cần thì chúng ta giải quyết, hết thì thôi, không dính mắc, trói buộc.

Biết tùy duyên, sáu căn không mắc sáu trần thì chúng ta sẽ thấy được gì? “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích”. Chừng đó mới thấy trong nhà mình có của báu, một hòn ngọc minh châu, khỏi cần tìm đâu hết. Đó có phải là phản quan không? Rõ ràng nhìn lại mình, thấy lại mình có một hòn ngọc quí, khỏi cần tìm kiếm.

Nhưng muốn sống được với hòn ngọc quí đó phải làm sao? “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Đối với sáu trần không có tâm dính mắc thì đừng hỏi thiền chi nữa. Đừng hỏi thiền chi nữa tức đó là thiền. Vậy hết sức rõ ràng, hết sức cụ thể.

Tinh thần phản quan Ngài nhận được từ Tuệ Trung Thượng Sĩ qua bốn câu kệ đó, chúng ta thấy hết sức rõ ràng, không còn gì nghi ngờ nữa. Bởi vậy sau khi đi tu, Ngài đem hết những điều đã ứng dụng và thấu suốt được, chỉ dạy cho đồ đệ. Từ đó Ngài trở thành vị Tổ chúng ta hết mực quí kính.

Vậy là cả hệ thống kinh điển của Phật và cả tinh thần đi tu của Phật cũng nằm trọn trong hai chữ phản quan. Ý nghĩa phản quan tự kỷ chính là gốc sự tu, phản quan tự kỷ là tu thiền chớ không gì khác. Vậy hiện giờ chúng ta ứng dụng tu có kết quả hay không là do chúng ta có thật sự biết phản quan hay không. Nếu chúng ta còn đuổi theo sáu trần thì phản quan chưa có kết quả.

Giả sử, quí vị ngồi lại mà tâm bất an, đó là lúc đang làm gì? Tuy mắt nhìn xuống, tai không lắng nghe, mà ý còn nhớ hôm qua ăn cái bánh này ngon quá, hôm kia chị nọ nói câu đó nặng quá chẳng hạn. Tuy ngồi một chỗ mà ý đang đuổi theo bóng dáng trần cảnh. Vậy là phản quan còn yếu, nhưng dù sao cũng còn thấy được nó. Nó nhớ chuyện hôm qua ăn bánh, liền bỏ; nhớ hôm kia ai nói câu nặng nề, liền bỏ. Vẫn còn hơn ngồi ở ngoài, vừa nhớ ăn bánh liền thèm bánh, nhớ người ta nói nặng lập tức nổi sân. Ngồi đó, nhớ là bỏ liền thì cũng hay rồi. Hiểu rõ như vậy, việc tu của mình không còn nghi ngờ.

Bây giờ tới phần kết thúc, tôi nhắc cho quí vị nhớ kỹ. Giả sử có người đặt câu hỏi: “thưa Thầy, con tu tới chừng nào mới xong”, thì tôi trả lời với vị đó sao? Tôi trả lời rất rõ: “Tu chừng nào được Tam minh như Phật là xong, còn chưa được Tam minh thì chưa xong.” Đó là tôi chỉ cho quí vị thấy, được Tam minh mới giải quyết xong mọi vấn đề của con người, còn chưa được Tam minh là giải quyết chưa xong. Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào?

Trong khi tu, nếu tâm chúng ta an mà chưa thấy rõ được con người sau khi chết theo nghiệp đi như thế nào, đó là chưa chứng được Thiên nhãn minh. Nếu chúng ta ngồi, tâm an nhưng chưa biết được đời trước mình ở đâu, làm gì, tức chưa được Túc mạng minh. Nếu chưa thấy rõ nguyên nhân nào đưa đến sanh tử, làm sao để dứt sạch sanh tử, là chưa chứng Lậu tận minh.

Chúng ta tin rằng người chết tùy nghiệp luân hồi trong lục đạo. Đó là tin qua lời Phật dạy chớ không phải chúng ta thấy. Tin Phật là chưa thể thành Phật, tin Phật chỉ mới khởi tu thôi. Chừng nào chúng ta thấy được như Phật mới gọi thành Phật. Mục đích chúng ta tu là thành Phật chớ không phải chỉ tin Phật thôi.

Có nhiều người học được chút ít giáo lý, tin có luân hồi, tin tu hành có thể giải thoát. Tin lắm, nên nói cho người này nghe, giảng cho người kia hiểu điều mình hiểu mình tin. Như vậy đã rồi việc chưa? – Chưa. Mình phải làm sao tự mình thấy được chúng sanh tạo nghiệp gì, chết rồi đi chỗ nào. Thấy một cách rõ ràng không còn chút nghi ngờ. Thấy chớ không phải là tin, không phải là hiểu. Thấy được cái đó là chúng ta chứng được. Không phải ai chứng cho chúng ta mà chính tự tâm mình sáng ra, nên nói là Thiên nhãn minh.

Bây giờ, có nhiều việc tôi thấy cũng buồn, nhưng không biết nói làm sao. Thỉnh ông Phật về rồi làm lễ “khai quang điểm nhãn”, không biết Phật có Thiên nhãn minh hay sao mà phải điểm nhãn cho Phật minh! Mình đã minh chưa mà điểm cho Phật minh? Thành ra thấy như trò cười. Trọng tâm là mình phải minh, nay chưa minh lại khai cho Phật minh! Nhiều cái lạ đời, mà thế gian quen tánh hình thức rồi, làm vậy họ chịu, chẳng cần hiểu ý nghĩa gì.

Tu Phật là chúng ta phải đạt đến, phải chứng được, chớ không phải chỉ hiểu và tin thôi. Đạt được hay chứng đến, điều đó rất thâm sâu, phải là chuyện thực hành kiên cố bền bỉ, không chỉ ở ngôn ngữ, chính là đem hết tâm huyết thực hành.

Xưa, Tổ Đạt-ma khi sang Trung Hoa, thời đó ở Trung Hoa các ngài nghiên cứu kinh Phật chia ra cả mười tông, tông này tông nọ cãi um sùm, Ngài nói: Tôi chỉ dạy môn này là “giáo ngoại biệt truyền”. Truyền ngoài giáo lý, khỏi cãi, cứ lo tu đi. Thấu được chỗ này thì tốt, chớ cãi nhau cao thấp chi vô ích, không tới đâu hết. Hiểu vậy mới thấy trọng tâm của Tổ, mới rõ vì sao Tổ dám nói “giáo ngoại biệt truyền” lạ lùng vậy. Có giáo nào không phải Phật dạy, đã là Phật dạy, mình tu theo Phật, vì sao lại nói ngoài cái đó được?

Sự thật vì người ta căn cứ vào giáo, rồi chia chẻ, phân tích từng câu, từng từ ngữ, đi đến cãi nhau mà không chịu tu. Điều đó không hay. Cho nên Ngài chủ trương “giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, tức soi sáng lại tâm mình. Chừng nào sáng lên được là thành Phật, chứng được Tam minh là thành Phật, không có gì xa xôi, phải làm được chuyện đó.

Như vậy là trả lời được câu: “tu tới chừng nào xong”. Quí vị thấy rõ chưa? Tôi nói vậy, sau quí vị khỏi hỏi tôi nữa. Khi thấy rõ ràng người này chết theo nghiệp đi tới chỗ nào, người kia chết theo nghiệp đi tới chỗ nào, thấy rõ, nói rõ ràng không nghi ngờ, đó là được Thiên nhãn minh.

Kế đến, biết rõ vô số kiếp về trước mình ở đâu, con ai. Có ai hỏi, mình cũng biết vô số kiếp về trước của họ. Như vậy là được Túc mạng minh. Những cái minhnày Phật đã từng dạy trong các kinh Bổn Sanh, Bổn Sự, kể lại đời sống đức Phật và đời sống các vị đệ tử Phật thuở quá khứ từng làm gì. Phật nói rõ ràng trong kinh, không phải là chuyện mơ hồ.

Rất tiếc chúng ta chưa chứng được hai minh này, chỉ nghe Phật nói và tin thôi, chớ mình chưa thấy. Chưa thấy là chưa giải quyết xong việc của mình. Phải thấy và chứng được mới xong. Thấy được chứng được rồi sao nữa? Phải giải quyết được làm sao đừng bị nghiệp tức hạt giống sanh tử lôi mình tiếp tục luân hồi sanh tử nữa, tức là chứng được Lậu tận minh. Chừng đó mới tuyên bố hoàn toàn giác ngộ, hoàn toàn giải thoát.

Vậy giác ngộ giải thoát là việc của mình, không phải của ai khác. Quí vị thấy chúng ta tu khỏi cần nghi ngờ gì hết. Ráng tu mãi cho được mấy cái minh đó. Nếu được hai cái trước mà chưa được cái sau cũng chưa rồi việc, chừng nào được cái sau mới xong. Tu tới chừng nào xong thôi chớ không nói bao lâu, không nói mấy năm, mấy đời, hay mấy kiếp.

Chúng ta biết rõ, nắm vững đường đi, nên ai rủ điều gì mình cũng không thèm theo. Chỉ lo giải quyết xong việc này, việc này là đường mình đi. Ai nói hay mấy mà không đúng đường mình là không theo, không bị gạt. Lâu nay có người bị gạt chạy theo ngoại đạo là vì không biết đường đi. Bây giờ biết rõ đường Phật đi, đường Tổ đi, mình cứ theo đó đi cho tới đích là được, còn nghi ngờ gì nữa!

Chúng ta tu là lo cho cái gì, giải quyết cái gì? Vì cái gì chúng ta tu? Giải quyết cái gì mà chúng ta tu? Chúng ta là con người, nên muốn biết rõ con người mình đầu đuôi gốc ngọn ra sao. Đầu là quá khứ, đuôi là vị lai, muốn biết nó rành rẽ ra sao thì hiện tại này mình phải rành. Nếu chúng ta không bằng lòng để bị dẫn đi trong vòng ấy nữa, mình cũng biết rõ ràng phải làm sao.

Vậy vấn đề đó là nhỏ hay lớn? Ở thế gian có mấy người đặt vấn đề đó? Hay là lớn lên chỉ lo làm sao cho có danh, có lợi, làm sao có nhà lầu, xe hơi… Những cái đó được rồi, ít chục năm cũng hoại. Còn cái này nếu giải quyết được, chẳng những biết rõ con đường chúng sanh đi, biết rõ nghiệp gì dẫn đi đâu, mà chúng ta còn có một lối thoát, không bị nó lôi cuốn. Từ đó đem chỉ dạy cho người ta tỉnh, người ta giác. Có phải đây là việc tối quan trọng, tối cần thiết cho con người hay không?

Như vậy, tu không phải chuyện tầm thường. Phải giải quyết được vấn đề tối trọng yếu của kiếp con người. Giải quyết được cái đó mới gọi là tu. Không phải tu là biết ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, đời sau có phước rồi tu nữa. Chúng ta phải giải quyết tận gốc rễ của con người, làm sao đưa con người qua khỏi khổ đau sanh tử. Đó là gốc của sự tu. Giá trị người tu ở chỗ đó chớ không phải ở những nơi khác. Đây là điều tôi thấy hết sức quan trọng. Nếu người tu không đặt được nghi vấn thao thức đó thì không thể tiến tới chỗ viên mãn được.

Hôm nay nhân ngày đầu năm, bài pháp này chỉ rõ cho quí vị thấy đường lối tu hành từ khởi thủy cho đến chung cuộc như thế nào. Quí vị biết rõ rồi thì tròn một năm nỗ lực gắng tu, dù mình chưa tới kết quả đó nhưng cũng được gần phần nào. Vậy mới xứng đáng, mới đúng là con dòng họ Thích. Đó là điều chủ yếu tôi muốn nói, muốn dạy quí vị hôm nay.

Lễ Phổ Trà Ất Hợi

Trước hết tôi tuyên bố lý do tiệc trà hôm nay. Theo như thường lệ, ở Thiền viện cứ mỗi năm vào tối ba mươi tháng đủ, hai chín tháng thiếu thì có một “Tiệc trà tất niên” hay còn gọi là “Đêm phổ trà”. Ở thế gian, vào cuối năm thường có buổi liên hoan Tất niên, để kiểm điểm các công tác, sự việc xảy ra trong năm, những gì hay, dở, rút tỉa kinh nghiệm, chuẩn bị cho năm tới. Trong chùa cũng mượn tổ chức của thế gian, tức là đạo và đời không tách biệt nhau, chúng ta cũng có buổi trà tất niên.

Ở Thường Chiếu và các Thiền viện khác gọi là ăn tất niên, nhưng lên đây chư Tăng, chư Ni không được ăn chiều, nên nói “Tiệc trà tất niên” thôi, chớ không gọi là ăn được. Ăn thì trái với luật lệ cho nên gọi là tiệc trà tất niên. Trong tiệc trà tất niên này vì e ngồi khuya xót ruột, uống trà ngủ không được, nên có chế biến một chút, được uống một tách sữa dằn bụng cho khỏe, rồi nói chuyện và tiếp tục uống trà. Tôi nói lý do cho quí vị hiểu, kẻo nói ăn tất niên mà tới chỉ uống tách sữa rồi về, không có gì hết.

Vậy mời mỗi người uống một tách sữa thay vì ăn tất niên. Mình uống sữa tất niên rồi uống trà sau. Trong buổi này quí vị thấy không phải nghiêm chỉnh như những buổi giảng, mà có tánh cách là buổi tất niên vui vẻ.

Buổi nói chuyện hôm nay tôi chia ra hai phần: Phần thứ nhất là kiểm điểm lại mình đã tu hành tiến bộ thế nào trong một năm qua. Phần thứ hai là tu hành còn những gì sơ sót, chưa được tốt, chúng ta sẽ xét lại để bổ túc. Nhưng tôi thích nói những gì dở trước, phần hay nói sau. Kế đó, tôi trình những món quà của Tăng Ni Phật tử chúc mừng năm mới cho tôi, để quí vị thấy kết quả trong thời gian tu hành vừa qua của Tăng Ni và Phật tử gần xa như thế nào, cho quí vị vui một chút.

Đầu tiên mời quí vị uống hết tách sữa, uống trà bổ túc rồi sẽ nói chuyện. Tất cả quí Phật tử cũng có phần, uống hết rồi mới nghe nói chuyện chớ đừng e dè. Uống từ từ đừng gấp, sữa nóng.

Tưởng rằng ở đây hơi xa, quí Phật tử khó tới dự, nhưng nhìn thấy cũng có một số Phật tử nam nữ ráng đến dự tiệc trà, vậy là rất tốt. Như mọi năm ở Thường Chiếu, Phật tử đông lắm. Buổi tối này gọi là Tiệc trà tất niên, buổi sáng mai mới gọi là chúc Tết đầu năm.

Chúc Tết đầu năm có hai phần: Phần thứ nhất là chư Tăng của nội viện Tăng và chư Ni của nội viện Ni, mỗi bên có người đại diện chúc Tết. Nếu Phật tử có đại diện thì cho quí Thầy biết, mai dành phần cho, còn không có thì thôi. Kế đó tôi sẽ có lời nhắc nhở đầu năm cho tất cả Tăng Ni và Phật tử. Sáng mai tám giờ bắt đầu lễ chúc Tết. Vì ngày mồng một là lễ vía đức Di-lặc, nên mười giờ chư Tăng lên chánh điện hết để cùng Phật tử lễ vía luôn, bên Ni thì làm lễ ở nội viện.

Quí Phật tử có đủ sữa trà không? Trong thời gian uống sữa, trà, tôi bắt đầu nói chuyện tuần tự cho quí vị nghe.

Trước hết, chúng tôi kiểm điểm lại những gì trong năm qua, tức là năm thứ hai của Thiền viện Trúc Lâm, chúng ta thực hiện chưa được vuông tròn. Kế đó chúng tôi sẽ nói những gì năm qua chúng ta thực hiện được tốt. Năm thứ hai này chúng ta cũng có phần giảm công tác. Vì năm thứ nhất hoàn toàn dành cho xây dựng, sự tu hành tuy có mà không thấm vào đâu. Sang năm thứ hai, công tác bắt đầu được giảm. Giảm công tác thì phải tăng sự tu hành cho có kết quả.

Kiểm lại, hồi đầu năm thứ hai này, tôi có nói đặt nặng việc thực hiện cho được tinh thần lục hoà. Nhưng lục hoà chia làm hai phần: lục hoà sự tướng và lục hoà ở nội tâm.

Sự tướng như thân hoà đồng trụ, lợi hoà đồng quân, khá hơn chút nữa là khẩu hoà vô tránh. Thân hoà, khẩu hoà rồi tới lợi hoà, ba cái đó chúng ta phải thực hiện cho đủ, cho được. Rồi năm tới, tức năm thứ ba, phải thực hiện cho được ý hoà đồng duyệt, giới hoà đồng tu và kiến hoà đồng giải. Trong ba năm, thực hiện sáu điều hoà đó. Ba cái sau hơi khó nên tôi để năm sau.

Bây giờ kiểm lại năm nay, tức đến ngày nay là kết thúc, trong ba điều thân hoà, khẩu hoà, lợi hoà, tất cả Tăng Ni trong nội viện tự kiểm lại xem mình đã thực hiện đầy đủ chưa?

Thân hoà đồng trụ là ăn, mặc, ngủ, nghỉ, công tác… mình đều hoà đồng nhau. Khẩu hoà vô tránh là lời nói hoà nhã êm ái không tranh cãi to tiếng. Lợi hoà đồng quân là tất cả tài lợi trong Thiền viện đều cùng chia sớt bình đẳng, không ai hơn ai kém. Ba điều đó Tăng Ni kiểm lại xem mình đã thực hiện tròn đủ chưa?

Trước hết là bên Tăng, Quản chúng xét thấy được hết chưa?

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy, kính thưa toàn thể đại chúng,

Trong năm rồi, theo tinh thần Thầy chỉ dạy, qua ba điều hoà trên về phần sự, theo con thấy thì tương đối chớ tuyệt đối chưa được. Cũng có mấy huynh đệ hay nóng nóng, nói hơi mạnh tiếng một chút.

– Nghĩa là khẩu hoà chưa được tròn phải không? Lợi hoà có tròn chưa?

– Bạch Thầy, lợi hoà thì những gì của chúng, trong viện chia đều hết.

– Nhưng lâu lâu, ai được tiền riêng có cất để muốn sắm gì thì sắm không?

– Dạ, sắm riêng không có, nhưng như ở nhà cho vải thì tới trình xin may, khỏi lấy của viện.

– Nhưng may thêm vậy là đủ hay dư?

– Dạ, may đủ. Có mấy vị ở nhà gởi cho bánh trái thì có khi xin đem về Tăng đường chia. Không ăn riêng mà có chia.

– Nghĩa là chỉ riêng cho một Tăng đường thôi?

– Dạ, có khi chia đủ hai Tăng đường, nhưng không chia trên Quá đường.

– Như vậy cũng còn sót chút chút. Còn gì nữa hết? Giờ đến bên Ni. Quản chúng Ni kiểm lại coi trong năm qua, ba điều đó chúng thực hiện hết chưa?

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy, kính thưa toàn thể đại chúng.

Theo lời Thầy hỏi, chúng con xét thấy phần khẩu hoà đôi khi chúng con cũng có những lời nói chưa được ổn nhưng mà tương đối trong chúng vẫn hoà vui. Phần lợi hoà thì tuyệt đối chúng con chia đều, không có chuyện riêng tư, đôi khi có huynh đệ tự ý đan nón đan vớ thêm chút ít, nên con thấy cũng chưa được toàn vẹn. Chúng con xin trình lên Thầy liễu tri cho.

– Đó là nói về phần lục hòa, là nếp sống đạo đức của Tăng Ni Thiền viện. Còn phần nữa là sự tu hành của Tăng Ni trong Thiền viện. Suốt năm qua, về đường lối tu cũng như tinh thần tu của Tăng Ni, quí vị kiểm lại coi tiến bộ nhiều ít, hay là có điều gì thiếu sót, cho tôi biết để kết thúc năm nay, chuẩn bị cho sang năm.

Trước hết bên Tăng kiểm lại thử coi. Quản chúng đại diện.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy, theo lời Thầy chỉ dạy, con kiểm lại việc tu hành của chư Tăng trong năm qua. Về hình thức, thời khóa, ngồi thiền và tụng kinh thì thấy ngồi thiền đa số có tiến bộ. Lúc đầu ngồi chưa được lâu vì còn mới, bây giờ đã tiến bộ nhiều, những buổi đi kiểm thiền thấy ngồi rất nghiêm chỉnh. Tuy nhiên cũng có lúc giải đãi, chớ không phải hoàn toàn như vậy.

– Nhưng mà ngồi đúng hai giờ chưa?

– Dạ, đúng hai giờ thì chỉ một số ít thôi chớ chưa hoàn toàn hết. Mấy vị lớn thì đã quen, một số vị nhỏ nhỏ có tiến bộ, nhưng thường chỉ một tiếng rưỡi tới một tiếng bốn lăm phút, chớ hai tiếng trọn vẹn trong cả ba thời thì chưa được nhiều.

– Còn tinh thần tu trong chúng?

– Con thấy trong chúng có tinh thần tu tha thiết. Khi tu có những lúc yên ổn, an lạc, có niềm vui, nhưng đôi khi cũng có vài vị giải đãi. Thưa Thầy, nếu xét chung thì có tinh thần tiến bộ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có giải đãi không sao tránh khỏi. Mong rằng sang năm tới, xin Thầy có lời khích lệ để chúng tu tiến hơn.

– Còn bên Ni thì sao?

– Kính bạch Thầy, xét tinh thần chúng tu, con biết rằng huynh đệ chúng con ai cũng quyết chí tiến tu, nhưng vì tập khí lâu đời, cũng có những lúc dở. Tuy nhiên huynh đệ rất cố gắng, giờ thiền ráng ngồi đủ hai tiếng. Thỉnh thoảng cũng có người đi xuống sau khi xả thiền, không đợi hồi hướng, viện lý do này kia, nhưng con cũng thông cảm chắc cũng khó chịu gì đó. Đa số đều cố gắng ngồi cho hết giờ, một vài huynh đệ có trở chân chút ít. Về tâm nguyện tu hành, chúng con thấy đôi lúc cũng có sơ sót, lỗi lầm, được Thầy nhắc nhở, các huynh đệ sám hối, rồi vui vẻ tinh tấn tu hành tốt.

Theo con nhận xét về phần tu tập, trong chúng có cái hay và cũng có cái dở. Con mong rằng nhờ đủ duyên ở gần Thầy, được Thầy khuyến khích nhắc nhở, huynh đệ chúng con không dám lơ là, lúc nào cũng cố gắng. Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Đó là báo cáo của hai bên nội viện Tăng và nội viện Ni. Bây giờ theo cái nhìn tổng quát của tôi, tất cả quí vị kiểm nghiệm lại có đúng hay không. Theo nguyên tắc chúng tôi nói năm rồi, Tăng Ni phải thực hiện ngồi thiền hai giờ, mỗi thời đều phải như vậy. Nhưng bên Tăng còn thấy trục trặc chút chút, chưa trọn hai tiếng. Bên Ni dường như ráng ngồi đủ hai tiếng, có một hai người trở chân chớ không phải tất cả. Như vậy thấy tinh thần tu quí vị có cố gắng.

Khi xưa tôi ở Chân Không bắt đầu dạy cho Tăng Ni ngồi thiền, có những vị lớn như quí Sư bà cũng ra tập tu. Khi ngồi thiền tôi tập cho bắt đầu ngồi một tiếng, lần lần tiếng rưỡi, rồi hai tiếng. Khi ngồi một tiếng được rồi, tiến lên mười lăm phút nữa, quí vị nói: “Giả sử Thầy cho tụi con ra gánh một trăm đôi nước còn khỏe hơn ngồi mười lăm phút chót.”

Vậy là mười lăm phút đó khổ sở vô cùng. Từ tiến mười lăm phút cho tới đủ hai giờ, lúc nào mười lăm phút sau cũng khổ lắm. Nhưng vì nỗ lực tu nên Tăng Ni luôn cố gắng, dù có đau chân, dù có khó chịu, cũng ráng ngồi cho đúng mức của mình là hai tiếng đồng hồ. Đó là điều tôi thấy nỗ lực ghê gớm lắm.

Tăng Ni đã cố gắng như vậy là tốt, nhưng phải làm sao đến năm thứ ba này, không còn lý do gì mà không ngồi được hai tiếng hết, tất cả phải làm cho được. Năm thứ nhất châm chước vì lao động. Năm thứ hai còn tha thứ vì đang ráng chưa thể tới mức chót. Năm thứ ba là nhất định phải tới mức chót, Tăng Ni phải ngồi đủ hai tiếng đồng hồ. Đến cuối năm tới tôi gắt gao hơn, cuối năm tôi đi kiểm tra để coi ngồi đủ hai tiếng hay không. Tôi đặt chỉ tiêu cho quí vị là phải ngồi tròn hai tiếng chớ không thiếu được, đó là cái yếu của Tăng Ni còn sót lại.

Kế đó là theo nhận định của tôi, bên Tăng cũng như bên Ni, sự tu hành ai cũng nỗ lực cố gắng tối đa, nhưng vì tập khí nhiều đời, thỉnh thoảng tôi cũng thấy những cái còn yếu, còn kém.

Bên Tăng cái yếu là dễ giận, quí vị còn không? Có khi trái ý nói nhỏ không được, nói hơi to. Nói to tức là ở trong nó nóng rồi mới la lớn. Ở trong nguội đâu có la lớn, phải không? Như vậy là còn cái nóng chút chút ở trong, chớ chưa nguội thật, đó là tôi thấy bên Tăng. Còn bên Ni trường hợp này ít, không thấy la lớn, nhưng hình như cũng còn thưa kiện, tôi phải xử kiện nhiều. Tôi nghĩ rằng năm tới chắc bớt xử kiện, còn bên Tăng sẽ được nhẹ nhàng hơn. Đó là những điều tôi thấy còn yếu, còn thiếu sót.

Tất cả chúng ta tu, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, phải tiến chớ không thể nào dừng được. Nếu dừng lại là chúng ta lùi rồi. Cứ đến cuối năm chúng ta kiểm lại để thấy rằng sự tu tập của mình một năm qua chưa tiến được bao nhiêu, mà tuổi tác thì nhất định phải tăng chớ không có dừng. Có người nào cuối năm nói, tôi nay hai mươi mốt, năm tới cũng hai mươi mốt nữa, được không?

Nhất định năm tới là hai mươi hai. Nếu người ba mươi thì năm tới phải ba mươi mốt, không thể dừng.

Tuổi tác không dừng còn sự tu lại dừng, đó là điều không thể chấp nhận, như vậy là không theo kịp nhau. Đời sống mình, ai bảo đảm được tám mươi, chín mươi tuổi mới chết? Có khi năm mươi, sáu mươi, hoặc còn nhỏ hơn nữa. Vì vậy chúng ta tu không thể nào chần chờ để cho tuổi thọ tăng mà đức hạnh không tiến, điều đó không thể được.

Do đó đức Phật thường dùng thí dụ: “Cứu lửa cháy đầu.” Mình tu phải gấp, phải như người cứu lửa đang cháy trên đầu vậy (nếu đầu có tóc, chớ đầu chúng ta chắc khó cháy). Đầu có tóc mà mắc kẹt một đốm lửa trong tóc, nó cháy lên mình có thong thả rửa mặt rửa mày rồi mới phủi nó? hay là phủi liền? Vừa biết lửa rớt trên đầu mình là vội phủi liền, không chần chờ chút nào hết.

Sự tu hành cũng vậy, phải luôn luôn thấy điểm nào xấu, điểm nào dở trong tâm tư mình là gạt bỏ liền, không để nó kéo dài. Đó là thứ nguy hiểm, không thể chấp chứa được. Sự tu hành của chúng ta, lúc nào cũng phải cố gắng, phải vươn lên chớ không thể chần chờ, vì vô thường đuổi gấp.

Qua một năm quí vị thấy mình đã mất hết một tuổi rồi, nếu tu hành không tiến thì làm sao cho kịp với tuổi thọ của mình. Cho nên mình phải ráng tu, không thể chần chờ được. Đó là tôi nhắc phần yếu kém của quí vị. Quí vị ráng nhớ vươn lên chớ không nên dừng lại, cũng không nên lùi, hai điều đó là không thể được. Lúc nào cũng phải tiến, đó là điều thiết yếu.

Bây giờ tới phần kế, tôi nói về một số vị đã có tiến ở trong nội viện Tăng và nội viện Ni. Qua một năm, có những vị đã trình bày riêng cho tôi biết sự tiến bộ trong việc tu hành, tôi lấy làm hoan hỉ. Nếu việc làm của mình đổ bao nhiêu công, của, bao nhiêu tinh thần chăm lo, mà không có kết quả thì tự nhiên mình phải buồn. Còn nếu mình đem hết tâm lực để lo cho Tăng Ni, thấy có kết quả thì đó là niềm vui của tôi.

Trong năm qua, có một số Tăng Ni, những khi tôi hỏi riêng thấy trình bày có bước tiến đáng mừng, nên tôi khẳng định câu tôi thường nói với Tăng Ni và Phật tử rằng: “Có tu là có tiến, chỉ mình không chịu tu thì không tiến thôi, chớ ai quyết tâm tu nhất định đều có tiến. Chỉ khác nhau kẻ mau người chậm chớ không ai không tiến.”

Điều đó tôi thấy rõ ràng, nên cuối năm thật tình tôi cũng có những việc buồn, nhưng cái buồn đó nhỏ, còn cái vui thì lớn, nhiều hơn. Bởi vì khi tôi nhận được những tin tức tu hành tiến bộ của Tăng Ni, tôi thấy đó là điều đáng mừng. Nghĩ rằng tuổi thọ của tôi mỗi năm một giảm, nếu Tăng Ni cứ ì một chỗ không tiến bước nào, thì đó là cái lo của tôi. Nhưng ngày nay tôi thấy Tăng Ni có tiến, đó là điều mừng, tôi bớt lo, biết rằng mai kia tôi ra đi, có người thay thế lo lắng những gì đáng làm để cho Phật pháp lâu dài. Phần tiến bộ đó tôi đã nhận được từng người riêng.

Kế đến là phần trình bày những tiến bộ nổi của Tăng Ni, Phật tử qua kiến giải trình cho tôi bằng kệ, bằng những lá thư, để cho tất cả quí vị nghe, biết sức tu hành của Tăng Ni thật sự, chớ không phải chúng tôi nói suông theo ý nghĩa thường. Trước khi đọc, tôi xin nói điều này ngừa trước, gọi là thuốc ngừa bệnh. Có nhiều người đề nghị những bài thơ, kệ của Tăng Ni Phật tử tu có tiến bộ, tôi nên đọc lên và kể tên vị đó ra, để khuyến khích mọi người cố gắng tu tiến. Nhưng tôi không chấp nhận điều đó. Tôi sẽ đọc, nhưng những bài thơ, bài kệ đó coi như vô danh, không nói của ai hết, chỉ đọc để chứng minh có sự tiến bộ trình cho tôi. Tôi không kể tên, tại sao vậy? Bởi vì qua kinh nghiệm của tôi và lời chỉ dạy của đức Phật, tôi biết điều đó không nên kể tên rõ ràng.

Tôi nhắc lại cho chư Tăng Ni và Phật tử hiểu. Thứ nhất là tôi đọc trong Trung A-hàm, có một bài kinh kể một ngoại đạo tới hỏi Phật nhiều câu hỏi, có một câu thế này:

– Thưa ngài Cồ-đàm, đệ tử của Ngài tu có những người ngộ đạo không?

Phật nói:

– Có, đệ tử của ta tu có những người ngộ đạo.

Ông ta hỏi thêm:

– Thưa ngài Cồ-đàm, những người ngộ đạo đó rồi sẽ được Niết-bàn hết, hay có người được, người không được?

Phật trả lời:

– Những người ngộ đạo đó có người được Niết-bàn, và có người không được Niết-bàn.

Ông ngoại đạo bẻ lại:

–  Tại sao ngộ đạo rồi có người được Niết-bàn, người không được?

Đức Phật giải thích bằng một thí dụ:

– Ví như có hai người cùng bị bắn tên độc vào tay. Biết tên độc, họ liền cho rước thầy thuốc mổ lấy mũi tên ra, đồng thời cho thuốc khử độc. Khi mổ lấy tên rồi, khử độc xong, người thầy thuốc dặn: “Từ đây về sau các anh ráng gìn giữ đừng để nhiễm trùng, nhiễm trùng nguy hiểm.”

Một người mổ xong rồi tự nghĩ rằng: Mũi tên độc mình đã nhổ ra và đã có thuốc khử độc rồi, có gì nữa mà sợ. Anh ta xông pha những chỗ dơ, những chỗ không tốt, bị nhiễm trùng làm độc lại, thì người đó làm sao? – Chết.

Còn người thứ hai tuân theo lời thầy thuốc, nghĩa là sau khi mổ, lấy tên và khử trùng xong, anh gìn giữ rất tinh sạch, nhờ giữ sạch sẽ nên được lành luôn, mạnh khỏe.

Vậy Phật nói thí dụ hai người cùng bị tên độc, cùng được mổ lấy tên độc ra, mà tại sao một người mạnh, một người chết? Lỗi tại đâu? Lỗi tại chỗ xem thường, nghĩ rằng mình đã lấy được tên, đã khử trùng khử độc thì không sợ gì hết rồi tha hồ xông pha. Từ chỗ xông pha lại sanh ra tai hoạ, sự đạt đạo không đến nơi đến chốn, tức là không được Niết-bàn.

Vậy Phật chỉ cho chúng ta thấy, dù có ngộ đạo, biết rõ chân lý không nghi ngờ, mà cứ tha hồ xông pha, muốn làm gì thì làm, tự do phóng túng thì có ngày hỏng luôn. Còn có người dù đã đạt đạo nhưng biết cẩn thận, dè dặt, giới luật tinh nghiêm, người đó sẽ đi tới cứu kính Niết-bàn không nghi ngờ. Đó là điều hết sức quan trọng, đừng ngỡ rằng tôi ngộ rồi, ngang đó muốn làm gì cứ làm, thật nguy hiểm không có kết quả tốt.

Với lời Phật dạy như vậy tôi đã thấy rõ những người tu thỉnh thoảng có những phút giây bừng sáng, thấy được những gì xưa kia chưa từng biết, chưa bao giờ thấy, nhưng không khéo họ có thể bị thối lùi. Cho nên tuy được rồi vẫn phải dè dặt, phải cẩn thận. Như ở Thường Chiếu và các Chiếu bên Ni, có những người tôi thấy tu khá, thấy được lẽ thật hiện tiền, nhưng tôi e cái duyên không tốt, sợ lui, nên tôi phải gom lên đây một số để cho quí vị tiếp tục nuôi dưỡng.

Từ chuyên môn của nhà thiền gọi là “trưởng dưỡng thánh thai”, là nuôi lớn thai thánh của mình. Tuy thấy nhân Thánh rồi, nhưng nếu không nuôi dưỡng, nó cũng sẽ bị mờ, bị hoại, nên phải có thời gian nuôi dưỡng. Muốn vậy tất phải ở trong một cái khuôn để rồi mọi người cùng tu với nhau, cùng nỗ lực, không có những chướng khác, thì bảo đảm sẽ tiến.

Như Quốc sư Huệ Trung ở Trung Quốc, ngộ đạo nơi Lục Tổ rồi, Ngài còn lên núi Bạch Nhai ở hơn bốn mươi năm. Chúng ta ngạc nhiên, đã ngộ đạo rồi còn lên núi ở làm gì? Để thấy rằng người xưa rất cẩn thận chỗ đó. Thấy đạo là một việc, còn luôn luôn sống được với đạo là một việc. Không phải thấy là rồi. Nên tôi không dám tán thán người A ngộ, người B ngộ gì hết, tôi chỉ nói chung chung là có một số người tu tiến. Sự tiến bộ đó giờ mình thấy thì mừng, nhưng còn phải chờ, chờ thời gian dài dưỡng cho nó được thành tựu viên mãn mới chắc, chớ còn một hai bước đầu chưa bảo đảm.

Theo kinh nghiệm bản thân tôi qua một thời gian dạy dỗ Tăng Ni, có những người bừng sáng đến trình tôi nghe. Tôi mừng quá, tưởng rằng ngang đó chắc là năm bảy năm nữa người đó đáng cho tôi tin cậy, đáng cho tôi gởi gắm. Không ngờ một thời gian nó chuyển mất. Thật ra từ ngày ở Chân Không đến giờ, có lắm người cười, lắm người khóc khi thấy được cái gì lạ lùng mới mẻ, đến trình với tôi. Nhưng thỉnh thoảng những người cười khóc đó cũng đi lệch như thường, làm cho tôi phải dè dặt.

Điều đó đúng như bài kệ của các Thiền sư ngày xưa đã nói, “đốn ngộ tuy đồng Phật”, phải không? Khi đốn ngộ thấy mình như Phật rồi, những gì Phật nói, nay mình thấy giống hệt như vậy. Những phút sáng rỡ đáng mừng đó là những phút giây làm Thánh, đồng Phật mà! Nhưng rồi sao? Phút đốn ngộ đó mạnh lắm, sáng sủa lắm, nên nó kích động có khi mình phải khóc, có khi mình phải cười hai ba ngày. Nhưng qua thời gian nó nguội từ từ. Nếu gặp duyên gì đó không thuận thì có thể nó lại mất.

Cho nên mới có câu thứ hai là “đa sanh tập khí thâm”. Nghĩa là đốn ngộ thấy giống như Phật rồi, nhưng tập khí nhiều đời còn sâu dày quá. Thí dụ khi mình thấy đạo thì thân này không ra gì hết, tất cả chuyện hơn thua phải quấy không ra gì. Nhưng chừng năm bảy tháng, từ từ nó ra gì lại. Đó là cái đáng ngại, nên câu “đa sanh tập khí thâm” hết sức rõ ràng.

Chúng ta không thể nghe ai nói ngộ, tin liền, mà phải chờ xem, bởi vì còn tập khí nhiều đời. Trong giờ phút ngộ thì thật họ thánh đó, nhưng chừng năm mười tháng, một hai năm sau nó nguội từ từ, rồi cái phàm sống trở lại. Nếu không được sự nuôi dưỡng tiếp tục, có thể nó mất hồi nào không hay. Đừng tưởng ngày đó họ trình kệ là họ ngộ đạo rồi và sẽ giữ được mãi mãi. Chưa dám tưởng điều đó! Còn phải dè dặt. Đó là điều tôi nói cho quí vị hiểu.

Khi chúng ta thấy được chân lý, thấy được lẽ thật rồi, mình không dại gì làm những chuyện tạo nhân phiền não nữa. Tuy nhân mới mình không tạo, nhưng cái cũ nó còn thầm thầm ở trong, nên mới nói “phong đình ba thượng dũng”. Nghĩa là gió dừng rồi nhưng sóng ngoài biển vẫn chưa yên. Đừng tưởng gió dừng là tất cả đều êm hết. Nhiều người nói: “Tôi không tạo nghiệp đó mà sao chuyện đó đến với tôi?”

Nghiệp hiện tại mình không tạo nhưng cái cũ nó còn, vì còn nên vẫn tiếp tục. Vì vậy mới dùng câu “phong đình ba thượng dũng”, gió dừng mà sóng vẫn vỗ ầm ầm.

Khi chúng ta đã thấy được đạo, thấy chân lý, thấy lẽ thật rồi, thì dại gì nuôi dưỡng những vọng tưởng điên đảo, phải không? Ai dại gì! Nhưng mà nó cũng nổi lên dài dài. Thấy đạo là thấy mà nó vẫn còn tiếp tục, cho nên câu chót là: “Lý hiện niệm du xâm.” Lý là lẽ thật đã hiện rồi mà niệm vẫn xâm lấn hoài chưa chịu hết. Qua bài kệ đó, quí vị thấy người xưa đã kinh nghiệm quá rõ, quá kỹ.

Đó là tôi nói cho quí vị biết, nếu thấy một người nào lóe sáng được, đó là đáng mừng vì công phu tu không uổng phí, nhưng đừng vội cho đó là Thánh. Tuy lóe sáng song vẫn còn những áp lực tập khí muôn đời che đậy, phủ kín, nên phải được nuôi dưỡng lâu dài thì kết quả mới đầy đủ. Nếu không có sự nuôi dưỡng thì khó được kết quả như lúc đầu mình thấy.

Sở dĩ tôi đọc mấy bài này mà không nói tên ai, không nói người nào là vì tôi không muốn nói một điều mà mai kia e không đúng. Bây giờ thì tốt nhưng e mai kia không tốt, rồi người ta nói: “tại sao người đó Thầy khen ngộ này kia, mà bây giờ ông đó dở như vậy”, thì nó trái với đạo lý.

Cho nên gần đây tôi chỉ dùng một câu hết sức đơn giản. Những người đến trình với tôi sở ngộ, sở đắc, tôi nói rằng: Lời trình đó đúng nhưng phải lấy cây thướcbát phong để đo, chớ trình thì đúng mà bát phong thổi bay tức chưa đúng thật. Bây giờ quí vị nhớ, thấy được đạo là tốt lắm rồi, chuyện đó hi hữu. Nhưng muốn biết mình có ứng dụng được chỗ mình thấy đến nơi đến chốn hay không, phải dùng cây thước bát phong. Quí vị nhớ bát phong không? Phải thuộc lòng tám gió đó. Thứ nhất là gió gì?

– Lợi: Mình nói thấy đạo, giả như ai đó mua vé số nhét vô túi mình nói: “à, con gởi thầy”, rồi mai kia họ lấy dò nói trúng độc đắc, thì gió đó có xao xuyến lòng mình không? Nếu họ bảo rằng: “vé số hôm qua con nhét vô túi thầy đó, bữa nay trúng mấy triệu”, mình vẫn thản nhiên như không, tức là gió lợi không động mình nổi, đúng là thứ thật. Còn nếu nghe nói vậy, mình đi la lối om sòm, khoe đầu này đầu kia tức gió lợi đã thổi mình bay rồi. Đó chỉ mới một gió thôi, quí vị thấy dễ không?

–  Suy: Gió thứ hai là suy, nghĩa là bị suy hao. Ví dụ mình đang ở trong ngôi chùa đủ tiện nghi, đủ điều kiện tốt để tu, bỗng dưng ai đó không cho ở nữa, bắt mình ra chỗ khác, chùa rách, Phật đổ, hư hao hết, bị mất quyền lợi lớn lao. Lúc ấy mình có buồn không, ra đi có tự tại không? Đó là gió thứ hai, quí vị có rung rinh chăng? Cho nên, nói đạo thì nói tới mây xanh, mà gặp trường hợp đó âu sầu ảo não, vừa đi vừa khóc, chùi nước mắt dài dài, tức là gió suy đã thổi mình bay rồi.

Mới có hai gió thôi mà quí vị thấy dễ hay khó, huống nữa còn sáu gió sau. Sáu gió sau còn dài nữa, tôi không có thì giờ kể hết, chỉ kể đại khái vậy thôi. Quí vị phải thuộc lòng tám gió, đó là cây thước đo mình. Chớ còn nói đạo thì thao thao bất tuyệt, nói tuyệt đối, nói đủ thứ hết, mà gặp một gió thổi bay thì người ta không đủ lòng tin. Tôi nói lên lẽ thật để cho tất cả Tăng Ni, nhất là những vị tu hành có tiến bộ, phải ráng tập sống được với cái gì mình thấy. Nếu chỉ nói mà chưa sống được thì chưa phải thứ thật.

Đó là tôi đã nói đại khái vì sao tôi tránh né không nêu đích danh người nào, ở đâu, được cái gì. Và đây, kết quả cụ thể, tôi đi từ cư sĩ lần lần đến người xuất gia.

Vừa rồi tôi được một Phật tử ở Phước Thái đến trình với tôi, nói: “Đây là món quà con xin cúng dường Hoà thượng cuối năm.” Món quà này, tôi nói để quí vị biết sơ lược. Ông Phật tử này năm nay năm mươi mốt tuổi, trường hợp ông khá kỳ đặc. Đây, tôi đọc lời thưa của ông ấy:

“Kính bạch Sư ông, hôm 30 tháng 6 Giáp Tuất, con bị xe đụng gẫy chân, đó cũng là cơ duyên con được yên nghỉ. Lợi dụng thời gian này con đã học kinh Pháp Bảo Đàn. Từ chỗ thân tâm thanh tịnh và thấm nhuần được lời dạy của Tổ, con đã làm được một số bài thơ, viết thành tập tạm lấy tên là “Thi đạo ca”, tóm lại vầng trăng xưa. Một điều lạ lùng là trước khi học Pháp Bảo Đàn, chưa bao giờ con làm thơ được cả.”

Đây là bài thơ đầu tiên:

BỪNG NGỘ

Một chiều hạ xe đụng gãy chân,
Cơ duyên thấy được giả thân vô thường.
Từ đây học Pháp Bảo Đàn,
Bừng con mắt tuệ thênh thang mây trời.

Như vậy chúng ta thấy người Phật tử cư sĩ bị xe đụng gẫy chân mà không buồn. Nhân cơ hội gẫy chân đọc kinh, nhờ đọc kinh nên bừng sáng. Đó là một bài, còn một bài nói về cái chết, tôi đọc quí vị nghe.

GIẢ THÂN

Nếu mai tôi chết, đình đám làm chi,
Đừng khóc làm gì, cũng đừng tiễn biệt.
Nếu mai tôi chết, đó lẽ thường thôi,
Hết duyên thì rã, trở về tứ đại.
Nếu mai tôi chết, hãy đốt tôi đi,
Chôn cất làm chi, cho thêm chật đất.
Đốt lấy tro rồi, hãy đem làm phân,
Bón cây nảy mầm, ra nhiều hoa trái.
Cây trái cho người, hoa đẹp cho đời,
Hương tỏa khắp nơi, chỉ vô thường thôi.

Đọc bài thơ này tôi nhiều khi cũng xấu hổ, người tu mình chưa chết đã lo làm cái tháp to. Ông này là cư sĩ mà nói được vậy, quí vị mới thấy chỗ đặc biệt. Tôi đọc thêm bài số mười bảy:

CHỚ HỎI

Chớ hỏi chưa sanh mình đâu nhỉ?
Cũng đừng thắc mắc chết về đâu?
Chỉ nhìn hiện tại biết quá khứ
Tương lai cũng ở hiện tại rồi.
Mỗi phút mỗi giây luôn hằng tỉnh
Không còn một niệm lấy gì sinh?
Quá khứ chưa sanh từ cõi Phật,
Vị lai sau chết Niết-bàn thôi.

Quí vị thấy, nói được thế này cũng đáng mừng lắm, phải không? Nghĩa là đừng thắc mắc trước khi sanh mình ở đâu, sau khi chết mình ở đâu. Tại sao đừng thắc mắc?

Chỉ nhìn hiện tại biết quá khứ,
Tương lai cũng ở hiện tại rồi.

Đó là hai câu trả lời, nhưng ở dưới này nói rõ hơn:

Mỗi phút mỗi giây luôn hằng tỉnh,
Không còn một niệm lấy gì sinh?

Đó là câu tôi thấy đáng khen.

Quá khứ chưa sanh từ cõi Phật

Khi chưa sanh mình, hồi quá khứ chưa sanh, lúc đó đã trong Phật rồi.

Vị lai sau chết Niết bàn thôi.

Như vậy quá khứ là Phật, sau này Niết-bàn, có gì mà thắc mắc mình ở đâu lại, rồi chết về đâu? Người cư sĩ mà nói được như vậy cũng là đáng quí.

Bài này cũng đáng khen:

GỖ ĐÁ VÀ NGƯỜI

Gỗ đá thì đâu biết vui buồn,
Ghét yêu không vướng, nói gì thương!
Tham sân chẳng dính, nói gì mắc!
Người mà như vậy gỗ đá chăng?

Đáp:

Gỗ đá vô tri chẳng vui buồn,
Làm sao phân biệt ghét, yêu thương.
Tuy không phân biệt nhưng gỗ đá,
Người không phân biệt tâm ngàn phương.

Câu cuối tôi thấy đáng khen, gỗ đá không phân biệt, nhưng gỗ đá là gỗ đá, còn người không phân biệt tâm ở ngàn phương.

Người mà tâm trí thường phân biệt,
Ghét, yêu, thương, giận nên dính mắc.
Có trí như gỗ đá kết thân,
Người không phân biệt Thánh nhân nào bằng?

Ông cư sĩ đó có hai cái đáng khen. Thứ nhất, bị xe đụng gẫy chân mà không nghĩ đến chuyện gẫy chân đau đớn, lại nhân đó học kinh. Vậy mới thấy ý chí đáng quí. Kế đó là nhân học kinh rồi thấu được lý kinh và sống được.

Đó là thơ một Phật tử tặng tôi ăn Tết. Bây giờ là cư sĩ nữ, để cho quí vị thấy nam nữ đều tu có tiến hết.

Một lần gặp suốt đời không quên được,
Từ đó người là lẽ sống đời tôi.
Cùng như nhau mày ngang mũi dọc,
Thì ngay đây chào vĩnh biệt luân hồi.

Hơn bốn mươi năm bặt dấu hài,
Mải mê tìm kiếm khắp Đông Tây.
Một sớm thân dừng tâm ý bặt,
Thanh tịnh bản nhiên thể hiện bày.

Thanh tịnh bản nhiên thể hiện bày,
Sơn hà đại địa hốt sanh đây.
Có gì mà phải ưu tư nhỉ,
Trời xanh nào ngại mây trắng bay.

Cư sĩ nữ mà nói hay vậy đó! Đây, một người khác nữa:

Khổ đau chồng chất nghẹn ngào,
Vỡ tung một phát vườn đào trổ hoa.
Bây giờ nếm nước Ma-ha,
Cõi Phật Di-đà tức ở tại tâm.

Hôm qua Ta-bà khổ, Ta-bà khổ,
Hôm nay không khổ chỗ Ta-bà,
Nơi đây ta đã đến nhà,
Tại cảnh Ta-bà trái nở hoa đơm.

Hoa là vạn hạnh người tu,
Trái là một niệm không chung không cùng.

Hai người đều là Phật tử nữ, quí vị nghe cũng vui phải không? Có những cái trình như vậy là vui. Lại có Phật tử này trình nghe oai lắm. Trước nói thăm tôi, chúc Tết tặng quà. Đây là quà tặng, đề là:

THẦN THÔNG

Hướng mặt về Đông nhìn khắp trời Tây,
Ngồi một chỗ nghe khắp lời thiên hạ,
Với tay lên đụng các tầng trời,
Chưa dỡ chân đã đi khắp tam thiên thế giới.

KHÔNG TÊN

Nằm trong hũ trải mình che vũ trụ,
Luôn rong chơi thế giới hằng sa.
Kìa kìa cỏ mọc ngọn cây,
Cá bơi biển lửa chim đùa núi bay.

Cư sĩ mà có những cái đó thì Tăng Ni cũng phải dè dặt.

Nãy giờ tôi đọc bài của cư sĩ chớ chưa nói gì tới những người xuất gia. Bài của người xuất gia nhiều quá, tôi kể không hết. Đây tôi chỉ đọc một vài vị cho thấy điển hình thôi.

Đây, một vị Tăng:

BA LẦN MỞ

Lần thứ nhất, mắt tâm mở hé,
Thấy nghe rõ ràng không điếc lé.
Lần thứ hai, thấu thoát toàn thân,
Chơn giả phân minh sanh tử nhẹ.
Lần thứ ba, tâm hoa nở tròn,
Không đài, không cánh, không bờ mé.
Ơn Thầy mở mắt lớn dường nào,
Đệ tử nguyện vâng không tránh né.

Đó là một vị Tăng, còn đây là một vị Ni, tôi chỉ đọc bốn câu thôi:

Ngày nào say ngủ còn ngơ ngáo,
Một sớm giật mình thấy bản lai.
Ô hay, mặt mũi nào đâu khác,
Khác tiếng cười vang vỡ đất trời.

Quí vị Phật tử mà nói nghe ngang dọc quá, không lẽ mấy ông thầy mình cứ e dè, nên tôi đọc một bài này của một ông thầy:

Cất bước đạp tan tam giới mộng,
Dừng chân nắm trọn cả càn khôn,
Ngồi lại phóng quang trùm pháp giới,
Nằm dài duỗi cẳng giáp hư không.

Còn nhiều nữa nhưng không có thì giờ đọc hết, đại khái cho quí vị biết sự tu hành của Tăng Ni và Phật tử có những bước tiến, coi đây là kết quả của năm nay thôi. Đó là để thấy rõ con đường tu hành của Tăng Ni và Phật tử trong mấy năm qua có kết quả tốt.

Tuy nhiên, trăm người được nhiều lắm là mười người, không phải trăm người được cả trăm. Mười người đó hiện giờ thấy tốt, thấy những lời nói hùng dũng đáng khen, nhưng còn phải dè dặt. Nếu có duyên tốt, nuôi dưỡng đàng hoàng thì có thể tiến được, không bị lùi sụt và có thể tiến hơn nữa. Trừ ra có một hai cái duyên không thuận thì chưa biết sao.

Tôi nghĩ rằng việc làm, cũng như sự giáo hoá của tôi là phải làm sao cho tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử luôn luôn được sự vun vén, như cây trồng mỗi ngày mỗi tăng trưởng cho tới đơm hoa kết quả, chớ tôi không muốn nó bị xàu héo trong lúc đang lớn.

Vậy nên tôi mong tất cả Tăng Ni đều an ổn tu ở trong khuôn viên nhất định của mình, cùng học, cùng nghe sự nhắc nhở của quí Thầy, để quí vị luôn luôn tu tiến chớ không lùi. Cư sĩ cũng vậy, quí đạo hữu được nghe quí Thầy dạy, đọc kinh sách hiểu, từ chỗ hiểu đó mình phải nuôi dưỡng cho nó tăng trưởng ngày càng thêm lớn, đừng để nó lụn bại.

Trên đường tu mình phải tiến để kịp với tuổi thọ của mình. Nếu ngày nào đó được như những người trong các bài này vừa nói, không còn sợ sệt sanh tử, không còn ngại ngùng thì đó là tốt, là cái vui của đời tu. Chớ chẳng lẽ mình đi tu mà kết quả không có gì cũng uổng. Nhiều khi tu được chút ít phước báo rồi thỏa mãn. Phước báo là tốt nhưng tốt trong sanh diệt. Chúng ta có thể vươn lên hơn nữa để đi tới chỗ siêu thoát, như vậy mới thật là chuyện đáng mừng vui.

Hôm nay trong buổi tất niên, kiểm điểm lại trên đường tu có cái dở, có cái hay, và đặc biệt một số Tăng Ni Phật tử cũng lượm lặt được những cái hay đáng mừng, đáng cho chúng ta tin tưởng.

Có một số người đối với đường lối tu của mình còn e dè, ngại ngùng, nên tôi hay nhắc tới nhắc lui để cho Tăng Ni rõ đường lối tu cụ thể. Tu theo đúng thì có tiến bộ thật sự chớ không phải là chuyện mơ hồ. Vì có nhiều người đặt câu hỏi với tôi rằng: “Thầy dạy Tăng Ni Phật tử tu biết vọng không theo hay biết vọng rồi buông. Như vậy, ‘biết vọng’ là mình có cái hay biết, còn vọng là cái bị biết, mà hay biết và bị biết là đối đãi, đối đãi thì chưa phải cứu kính.”

Họ bẻ như vậy, sẵn đây tôi giải thích rõ cho Tăng Ni Phật tử hiểu, để đừng nghi ngờ mà trở ngại sự tu. Bởi vì phương pháp tu nào buổi ban đầu cũng đều là đối đãi, phải có năng có sở mới tu, chớ hết năng hết sở thì khỏi tu, phải không? Mình bây giờ còn vọng tưởng, muốn cho hết vọng tưởng thì phải thấy, phải biết nó, vậy mới hết được. Nhắc đến đây tôi nhớ ông Phật tử này có làm một bài thơ cũng hay hay, nói về “cái biết”. Tôi đọc quí vị nghe để thấy lòng tin của Phật tử đó thế nào:

BIẾT

Phiền não biết, phiền não đoạn,
Tham sân biết, tham sân dứt,
Vui buồn biết, buồn vui dừng,
Thiện ác biết, thiện ác bặt.
Từng sát-na biết, có gì dính mắc,
Tự tại vĩnh hằng trời xanh mây trắng bay.

Như vậy là đủ lòng tin nơi cái biết đó. Phiền não biết, phiền não đoạn. Nếu phiền não dấy lên mà mình biết đó là phiền não thì nó dừng; còn nó dấy lên, mình chạy theo tức nó làm loạn. Cho nên chữ “biết” này rất là khéo. Đối với người Phật tử, nhận được đường lối tu không còn nghi ngờ như vậy rất quí.

Tôi từng nói với quí vị, sở dĩ chúng ta bị vọng tưởng lôi kéo, tạo nghiệp là bởi chúng ta không có cái nhìn thấu suốt. Nó dấy lên là chúng ta chạy theo nên nó dẫn tạo nghiệp. Bây giờ nó dấy lên mình thấy rõ không theo, tự nhiên nó dừng, nó hết. Như vậy tức là chúng ta dừng nghiệp từ trong trứng nước, chớ không phải theo tạo rồi sau mới ăn năn sám hối thì đã muộn màng. Từ chỗ dấy niệm mình thấy rõ không theo, thì những niệm ác, niệm tội lỗi, niệm phiền não ngang đó không còn, nên có năng có sở mà không trái với lý thiền.

Thí dụ quí vị nhìn trong mười mục chăn trâu thì người chăn và con trâu có phải năng sở không? Buổi đầu phải có năng là người chăn, sở là con trâu. Có năng có sở. Chăn lần lần tới cuối cùng là con trâu trắng. Rồi trâu mất tức sở lặng. Còn chú chăn đó làm sao? Chú chăn lần lần cũng mất luôn, phải không? Như vậy cái sở không còn thì cái năng cũng buông. Bây giờ mình biết vọng, vì có vọng mới biết, khi vọng hết rồi thì sao? Cái biết vọng có buông không? –  Cũng buông luôn.

Khi còn vọng thì phải sử dụng cái biết vọng để biết, để dừng. Khi vọng lặng rồi, không cần dùng biết vọng làm gì, tự nó sáng rõ thôi. Như vậy hết trâu thì chăn cũng sẽ mất. Nhưng hết trâu hết chăn, chỗ đó không khéo trong nhà thiền gọi là “rơi trong biển độc”, tức là chìm trong chỗ vô sanh, không lợi ích cho mình cho người, không tiến lên được Phật quả. Nên tới chỗ đó phải qua mục thứ chín “Lá rụng về cội”, mục thứ mười “Thõng tay vào chợ”.

Ở đây cũng vậy, khi chúng ta không còn vọng tưởng thì cái biết vọng cũng buông luôn. Ngay đó nếu mình không biết gì hết là chìm trong lặng lẽ, trong biển vô sanh. Còn nếu ngang đó mình vẫn thường sáng, thường giác, không bị chìm, đó là trở về nguồn. Từ chỗ thường sáng thường giác đó, mình mới được tự tại, rồi mới dùng mọi phương tiện giáo hoá chúng sanh.

Như vậy đường lối tu của chúng ta cụ thể, rõ ràng, không phải là chuyện mơ hồ. Đừng nghe người ta nói rồi hiểu lầm tưởng là mình tu không đúng với Thiền tông.

Tôi đã nhiều lần nhắc quí vị, từ Tổ Bồ-đề-đạt-ma đến Tổ Huệ Khả, chúng ta thấy cụ thể vô cùng. Khi ngài Huệ Khả than rằng: “tâm con bất an, xin Hoà thượng dạy pháp an tâm”, Tổ không dạy gì hết, chỉ cần một câu: “đem tâm ra ta an cho”. Tâm đâu mà đem, phải không? Câu nói đó không phải là vô nghĩa, cho nên nghe nói “đem tâm ra ta an cho”, thì tự Ngài tìm lại cái gọi là tâm xem nó ở đâu.

Bình thường cứ nói tâm mình nghĩ tốt, tâm mình nghĩ xấu, tâm mình nghĩ thiện, tâm mình nghĩ ác. Cái nghĩ thiện, ác, tốt, xấu v.v… cho là tâm mình. Bây giờ nhìn lại kiếm thì nó mất tiêu. Nhìn lại thấy không còn, bèn trình với Tổ: “Bạch Hoà thượng, con tìm không được.” Hết sức là thật thà. Bây giờ cái con nói đó con tìm không được. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.”

Thật là dễ như trở bàn tay, tìm không được là đã an tâm rồi. Tại sao vậy? Bởi vì tâm mình bất an là do nó dấy lên, nó phân biệt, đuổi theo ngoại cảnh. Bây giờ tìm lại nó lặng, tự nhiên là an chớ gì. Vậy an có pháp gì không? Chỉ cần thấy nó, khi nó dấy lên mình không theo, nó lặng. Có phải là pháp an tâm không? Đó là an tâm rồi.

Vậy, thấy vọng tưởng không theo tức là an tâm. Đây là cái gốc mà Tổ Bồ-đề-đạt-ma đã dạy cho ngài Huệ Khả chớ đâu phải là chuyện bâng quơ. Cho nên tôi muốn cho Tăng Ni đủ lòng tin trên đường tu, cũng như quí Phật tử biết rõ, để tự thực hành và giải thích cho những ai chưa biết còn đang nghi ngờ. Chỉ cho họ thấy rõ là điều thiết yếu. Nếu mình tu mà không biết đường lối thế nào, đi tới đâu, không biết kết quả ra sao, thì sự tu không bao giờ đạt được kết quả.

Chúng ta tu có đường lối cụ thể. Từ những năm trước tôi đã từng nói, vì Tăng Ni bận bịu làm nhiều việc, Phật tử cũng ít tới lui, nên sự tu hành chưa được tiến bộ bao nhiêu. Nhưng gần đây, thấy Tăng Ni được khung cảnh tốt để yên tu, cũng như quí Phật tử có cơ hội gần gũi để nghe quí Thầy giảng dạy, tu hành được nên có kết quả cụ thể. Kết quả đó là bước đầu tiên trên đường tu của mình, cũng là một khích lệ lớn lao cho người chung quanh biết để cùng tu.

Thật ra một lần lóe sáng như vậy là một công phu, nhưng chưa phải là một thành tựu lâu dài. Tôi thường nói, một khi mê thì trên đường đi mình tạo nghiệp luân hồi không biết bao nhiêu kiếp, lúc tỉnh thì bao nhiêu nghiệp luân hồi từ đó sẽ dừng. Vậy một lần tỉnh là một kết quả vô cùng quan trọng chớ không phải là thường. Tuy chưa là cứu kính nhưng nó là một bước hết sức quan trọng.

Thí dụ: Mình đi tìm một ngôi nhà ở con đường A, nhưng tới ngã ba, một bên là đường A, một bên là đường B. Nếu mình lầm đường B là đường A rồi cất bước đi tiếp, thì chừng nào mới tìm được ngôi nhà mình muốn tìm? Càng đi càng xa, đi riết rồi không biết đâu mà tìm. Chỉ lầm ở bước đầu là nó dẫn mình tới vô số lầm. Còn nếu mình tới ngã ba mà nhận được đúng đường A để đi, thì mỗi bước mỗi bước của mình càng gần với mục đích đã nhắm. Mình sẽ tới đích không nghi ngờ.

Vậy nhận thức đúng và sai quan trọng cỡ nào? Nếu sai thì nó dẫn mình đi miên viễn, không biết tới đâu mới đạt được mục đích. Còn nếu mình nhận đúng thì sẽ đến đích chắc chắn không nghi ngờ. Vậy nên có được một, hai vị Tăng Ni Phật tử nhận biết đúng như vậy là cái mừng hết sức lớn của tôi, thấy rằng trên đường tu có người thấy được điều mình mong mỏi. Còn đến chỗ cứu kính thì phải thời gian dài nữa, không phải thấy như vậy là mọi việc xong xuôi.

Như vậy, tới đây có thể kết thúc buổi tiệc trà tất niên được rồi. Kiểm điểm sự tu hành của Tăng Ni qua một năm và thấy được kết quả chẳng những của Tăng Ni thôi, mà Phật tử cũng có những kết quả đáng mừng. Vậy là công của tôi không luống uổng. Nhờ ơn Tam Bảo gia hộ khiến cho tất cả chúng ta đủ duyên tu, để rồi tiến từng bước trên con đường sáng suốt giác ngộ. Điều đó hết sức là quí.

Lễ Chúc Tết Bính Tý

Thầy Quản chúng Nội viện Tăng:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy! hôm nay toàn thể Tăng Ni và Phật tử chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ xin tác bạch.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Kính bạch Thầy, hôm nay, theo dòng thời gian trôi chảy, một năm cũ đã trôi qua và một năm mới sắp đến, giờ này giữa những tia nắng đầu tiên buổi sáng, nhân ngày đầu năm mới này, toàn thể Tăng chúng chúng con đồng nhất tâm kính chúc Thầy vẫn luôn luôn sống sáng ngời giữa dòng cũ mới, mới cũ trôi chảy không dừng này. Chúng con xét thấy đó là điểm sáng mà chúng con cùng nương về và phải nương về, vì chúng con nghĩ rằng có như vậy chúng con mới được phần an ổn trong công phu và cũng mới có thể đáp lại được phần nào kỳ vọng của Thầy đối với chúng con.

Đó là những lời kính thành của chúng con kính dâng lên Thầy nhân ngày đầu năm mới này. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho lòng kính thành của chúng con. Và sau cùng chúng con đồng nhất tâm cầu nguyện Tam Bảo gia bị cho Thầy trong năm mới này sức khỏe luôn được dồi dào, Thầy ở lâu nơi đời để đem ánh sáng chánh pháp lại cho nhiều người đang còn cần đến Thầy. Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Ni sư Quản chúng Nội viện Ni:

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Ngưỡng bạch Thầy, hôm nay mùa xuân lại về, chúng con đủ duyên lành được quì dưới chân Thầy dâng lên lời chúc mừng năm mới. Toàn thể Ni chúng chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ Thầy và kính chúc Thầy pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu hầu dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học giải thoát.

Kính bạch Thầy,

Thầy thường nhắc nhở và khuyến khích chúng con, Thầy luôn mong mỏi cho chúng con sớm đạt được sở nguyện, vì thế để không cô phụ lòng Thầy, chúng con đã nỗ lực rất nhiều ngõ hầu đền đáp được phần nào công ơn giáo dưỡng của Thầy đã mở mắt trí tuệ cho chúng con. Vậy hôm nay nhân ngày đầu xuân, chúng con xin nguyện sẽ cố gắng tiến tu hơn để chấm dứt những ngày tháng lang thang của đứa con cùng tử, sớm quay về thừa hưởng gia tài của mình. Một lần nữa chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ Thầy, nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho Thầy được nhiều sức khỏe, sống lâu, mặt trời trí tuệ của Thầy hằng soi sáng cho chúng con cùng tất cả chúng sanh trong cõi đời vô minh lạc lối. Ngưỡng mong Thầy từ bi thương xót chứng minh cho chúng con được trượng thừa công đức.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.

Hoà thượng: Hôm nay nhân ngày đầu năm, Tăng Ni và Phật tử câu hội về đây chúc mừng năm mới cho tôi, tôi cũng hết sức hoan hỉ hứa khả. Vậy tất cả đứng dậy lễ rồi tôi sẽ nói chuyện sau.

Thầy Quản chúng Nội viện Tăng: Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni, trên đã được Thầy từ bi hoan hỉ chứng minh và hứa khả cho rồi, toàn thể Tăng Ni và Phật tử chúng con xin đầu thành đảnh lễ cúng dường.

Hôm nay nhân ngày đầu xuân, nói theo thế thường là Tết Nguyên đán của năm Bính Tý 1996, toàn thể Tăng Ni, Phật tử ở tại Thiền viện Trúc Lâm cùng đến đây để chúc mừng năm mới. Tôi nghĩ rằng, tất cả quí vị ai cũng là người quyết chí tu hành và quyết tâm lo phụng sự Phật pháp, làm lợi ích cho chúng sanh, đó là tâm niệm chung của toàn thể. Nhưng trên đường tu, có khi quí vị thấy như mình tiến tới một cách êm xuôi dễ dàng, có khi thấy có nhiều chướng duyên trục trặc. Có khi vì lòng tha thiết muốn trên đường tu hành chóng đạt được kết quả, quí vị chạy tìm đầu này chốn kia cho ra cái gì Phật Tổ đã dạy, nhưng nhiều khi mỏi gối chùn chân vẫn không tìm ra được điều đó.

Hôm nay nhân ngày đầu xuân, để nhắc nhở Tăng Ni và Phật tử chuẩn bị cho một năm mới đầy đủ đức hạnh, trí tuệ và lòng từ bi để chúng ta tự lợi lợi tha viên mãn, tôi có những phần nhắc nhở sau đây:

Phần thứ nhất là tôi dẫn thơ của một cổ nhân nói về xuân. Phần thứ hai, tôi dẫn kệ của Thiền sư Huyền Giác trong “Vĩnh Gia tập” để nhắc nhở cho quí vị biết rõ đường đi bước tiến của mình đúng với chánh pháp. Phần thứ ba tôi sẽ nhắc nhở quí vị thấy rõ lý vô thường để cùng nỗ lực cố gắng tu, khỏi uổng đi một đời đến với đạo mà chưa nếm được mùi vị giải thoát của đạo. Đó là ý nghĩa buổi nói chuyện hôm nay.

Đầu tiên tôi dẫn thơ của cổ nhân, chỉ bốn câu thôi, cho quí vị thấy người tu mình làm thế nào mới đúng.

THƠ XUÂN

Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân,
Mang hài đạp phá lãnh đầu vân.
Qui lai khước quá mai hoa hạ,
Xuân tại chi đầu dĩ thập phần.

Chúng tôi dịch:

Ngày suốt tìm xuân chẳng thấy xuân,
Đôi giày rách nát núi mây vần.
Trở về sang đến vườn mai cũ,
Xuân ở đầu cành đủ mười phân.

Đọc bài kệ đó quí vị thấy người xưa muốn nói gì với chúng ta?

Tất cả chúng ta là người quyết tâm tu hành, quyết chí cầu đạo. Vì tu hành vì cầu đạo nên chúng ta luôn sục sạo tìm kiếm nơi này nơi kia, nghe đâu có cái gì hay, lạ chúng ta muốn tìm cho được, gặp cho biết. Đi tìm nơi này nơi kia, cho đó là đi tìm đạo, cầu đạo. Nhưng đi tìm mãi, hết ngày hết tháng hết năm vẫn không ra đạo.

Đôi giày chúng ta mang đi đã rách nát rồi mà tìm thấy cái gì? Chỉ thấy những đám mây bay vần qua đầu núi thôi, chưa thấy đạo ở đâu. Khi đã mệt mỏi, tìm kiếm khắp nơi vẫn không gặp xuân – không thấy đạo – bây giờ phải làm sao? – Trở về. Về đâu? Về lại vườn mai cũ của mình, nhìn thấy trên đầu cành hoa mai xuân hiện đầy đủ, đủ mười phần.

Quí vị thấy xuân hiện trên đầu hoa mai chỗ nào, quí vị chỉ giùm tôi xem! Mình ở đây không có hoa mai, nhưng có hoa đào. Đi cho mệt mỏi, rách hết bao nhiêu đôi giày tìm không ra xuân, chỉ có trở về chùa lại thấy trên mấy cành đào xuân hiện đầy rẫy. Quí vị có thấy chưa?

Đó là hình ảnh vừa đẹp vừa cụ thể. Chúng ta luôn luôn là người cầu đạo. Chữ đạo ở đây để diễn tả chân lý hay thể chân thật, chỗ khác cũng gọi là Phật tánh, là Chân tâm v.v… Nếu nói Đạo, nói Phật tánh hay Chân tâm thì nghe quá thuần túy trong giáo lý, nên các Thiền sư mượn hình ảnh của xuân.

Chúng ta tán thán, ca tụng xuân, nhưng xuân ở chỗ nào? Ai nấy đều nói hôm nay là ngày đầu xuân, giờ quí vị chỉ xuân giùm tôi, coi nó ra làm sao? Xuân hình dáng thế nào? Chúng ta nói ngày xuân, đầu xuân, mà cái gì là xuân thì mình không thấy. Nếu cứ ôm từ ngữ đó chạy khắp hết nơi này chốn nọ để tìm thì không bao giờ ra.

Bây giờ muốn thấy xuân chỉ cần nhìn lại những cành mai, những cành đào, thấy nó đang trổ hoa. Mai, đào trổ hoa, đó là biểu tượng của mùa xuân, không cần đi tìm kiếm ở đâu xa, chỉ nhìn lại trong vườn cũ của mình, thấy hoa đào nở hoặc hoa mai nở, biết đó là mùa xuân. Xuân chỉ là một từ ngữ trừu tượng, mà cụ thể là những hình ảnh trên cành cây. Nơi nào thích hợp với ngày xuân thì nó thể hiện ra, chớ không thể tìm ở một chỗ nào hiện tướng mùa xuân. Như vậy tướng mùa xuân chỉ có trên cành hoa, hoặc ở những nơi nào phù hợp với nó. Chúng ta không thể dùng mắt để thấy xuân, mà chỉ nhìn trên cành cây, trong những đóa hoa, biết đó là xuân.

Cũng vậy, Chân tâm, Phật tánh hay là Đạo không phải là những cái có hình, có tướng để chúng ta tìm, chúng ta thấy. Nó là cái chân thật nhưng không hình tướng, sẵn ở ngay con người mình. Nói theo các Thiền sư là ở tại gót chân của mình chớ không đâu xa, chỉ một lần quay lại là chúng ta nhận ra nó, không phải chạy nơi này nơi kia tìm kiếm. Càng tìm kiếm chúng ta càng không thấy không gặp, chỉ là nhọc công tốn sức thôi chớ không bao giờ gặp.

Đây nói lên tinh thần người tu Phật, phải quay lại mình, tìm tận nơi mình, đừng cầu cạnh, đừng trông đợi bên ngoài. Cầu cạnh trông đợi bên ngoài là trái với đạo lý tự giác của đức Phật dạy. Vì vậy, chúng ta muốn giác ngộ thì phải quay lại mình. Khi giác ngộ được rồi, chúng ta mới có thể chỉ dạy cho kẻ khác cùng giác ngộ như mình. Không bao giờ đi cầu nơi khác, cầu bên ngoài mà chúng ta được giác ngộ. Phải quay lại mình!

Như vậy hình ảnh bài thơ xuân này thể hiện đầy đủ tánh chất người tu thiền. Người tu thiền phải biết mình mang sẵn bản chất chân thật, chớ không phải đi cầu cạnh, tìm kiếm bên ngoài.

Đó là một bài thơ xuân tôi thấy rất hay, nên nhân ngày đầu năm, tôi nhắc cho quí Tăng Ni, Phật tử. Chúng ta tu là phải khéo quay lại mình để thấy được cái chân thật từ nơi con người mình, chớ không phải ở đâu xa. Nếu đi tìm ở đâu, cầu cạnh ở đâu là chuyện hoang đường.

Tôi dẫn thêm một Thiền sư Ni, cũng với tinh thần này cho quí vị thấy. Ni sư Diệu Nhân đời Lý, khi sắp tịch bà nói một bài kệ:

Sanh lão bệnh tử,
Tự cổ thường nhiên.
Dục cầu xuất ly,
Giải phược thiêm triền.
Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu thiền.
Thiền, Phật bất cầu,
Uổng khẩu vô ngôn.

Bà nói: “Sanh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên.” Sanh, già, bệnh, chết, bốn tướng này từ ngàn xưa vẫn là như thế, không có khác. Nếu chúng ta ngồi ôn cố lại những tổ tiên chúng ta cho đến đời mình, thì những ông cố ông sơ gì đó cho tới bây giờ, có vị nào sanh ra mà không già, không bệnh, không chết chăng? – Không có. Nghĩa là người nào sanh ra cũng già, bệnh, chết. Lớp người trước như vậy, lớp người kế như vậy, lớp người kế nữa như vậy, mãi đến người sau này như chúng ta hiện giờ cũng như vậy, phải không? Đó là con đường chung của muôn ngàn kiếp người chớ không riêng một cá nhân nào, nên bà nói “tự cổ thường nhiên”, cái việc thường của muôn đời chớ không phải của một người.

Biết sanh già bệnh chết là chuyện thường của muôn người thì phải làm sao?

Dục cầu xuất ly
Giải phược thiêm triền.

Muốn cầu ra khỏi hay xa lìa nó cũng giống như người mở trói lại cột thêm. Nói là mở trói mà vô tình mình cột thêm. Hai câu này quí vị nghe có trái với lẽ thường của chúng ta không? Ai tu mà không cầu giải thoát? Nhưng giải thoát cái gì? Tức là giải thoát sanh lão bệnh tử. Vì sao? Vì sanh lão bệnh tử là cái nhân của luân hồi: sanh ra, già bệnh chết, rồi tiếp tục sanh ra, già bệnh chết, triền miên như vậy, nên gọi là dòng luân hồi.

Người tu muốn thoát khỏi vòng luân hồi đó, gọi là giải thoát. Nhưng tại sao bà lại nói, muốn cầu vượt ra khỏi sanh già bệnh chết là người đó nói muốn mở trói, trái lại đang cột thêm? Bởi muốn ra khỏi luân hồi sanh tử nên chúng ta chạy ngược chạy xuôi tìm điều này, kiếm việc kia cầu ra khỏi. Vì vậy chúng ta càng rối rắm, càng bực dọc thêm mà không ra được cái gì hết.

Vậy muốn ra khỏi sanh tử phải làm sao? Chỉ mỉm cười với sanh tử, phải không? Mỉm cười với sanh tử là ra khỏi sanh tử. Còn muốn chạy cầu cái này kiếm cái kia, cởi mở hay cắt đứt thì càng tìm kiếm càng rối rắm. Với tinh thần người đạt lý đạo thì sanh tử là chuyện thường. Mà chuyện thường thì chẳng có gì chúng ta phải sợ hãi, phải gấp rút. Chúng ta chỉ thản nhiên nhìn nó với tâm an lành thanh tịnh.

Nhìn sanh tử với tâm an lành thanh tịnh thì sanh tử có lôi mình được không? Còn nếu mình hoảng hốt, sợ sệt thì sanh tử có dẫn mình đi không? Vậy, hoảng hốt, sợ sệt sanh tử chính là bị sanh tử dẫn đi. Cho nên nói “mở trói mà lại cột thêm”. Nếu chúng ta thản nhiên thấy sanh tử là một lẽ thật của con người không ai tránh được, thì có gì phải sợ?

Do không sợ, chúng ta thấy rõ sanh tử là một trò chơi, không có gì quan trọng hết, nên tâm mình được an nhiên thanh tịnh. Từ tâm an nhiên thanh tịnh đó, không có nghiệp nào lôi dẫn chúng ta vào sanh tử được. Như vậy, mở trói bằng cách thản nhiên tự tại, chớ không phải mở trói là chạy kiếm cái dao, kiếm sợi dây, cái rựa… để cắt để mở, chỉ phiền mà không được. Phải ngay nơi thực tế nhìn sanh tử như trò chơi, không quan trọng, thì lòng mình an nhiên, đó là thoát ly sanh tử. Đây là một lẽ thật bà thấy tường tận.

Đến bốn câu kế:

Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu thiền.
Thiền Phật bất cầu,
Uổng khẩu vô ngôn.

Người mê thì đi cầu Phật, người lầm đi cầu thiền. Bây giờ thiền, Phật đều không cầu thì không còn lời gì để nói nữa, nghĩa là sao?

“Mê chi cầu Phật” tức là người mê đó thì đi cầu Phật. “Hoặc chi cầu thiền” tức là người lầm đó thì đi cầu thiền. Như vậy hiện giờ quí vị tu là tu cái gì? Tu thiền. Tu thiền để cầu thành gì? Thành Phật. Như vậy mình quả là người mê, người lầm phải không?

Đây là tôi nói cái trọng tâm, cái gốc của đạo. Phàm cái gì có cầu, cái đó ở trong hay ở ngoài? Nếu là cái của mình thì không cầu, còn cầu tức không phải cái của mình. Người tu Phật, tu thiền mà đi cầu Phật, cầu thiền ở bên ngoài, có phải là người mê lầm không? Đó quả là người mê lầm. Cho nên nói “mê đó cầu Phật, lầm đó cầu thiền”. Người mê lầm mới cầu Phật cầu thiền ở bên ngoài. Nếu thật tình nhận ra được Phật tức tâm, tâm tức Phật, thì Phật ngay nơi mình, chỉ cần chiếu soi lại mình để nhận ra Phật.

Chiếu soi lại mình, đó là thiền. Thấy ra Phật sẵn có của mình, đó là Phật. Như vậy thiền, Phật đều là quay lại chính mình. Quay lại chính mình, đó là giác, là tỉnh; còn cầu Phật bên ngoài, cầu thiền bên ngoài, đó là mê là lầm. Con đường tu thiền rõ ràng như vậy. Chúng ta quay lại mình để nhận Phật nơi mình, quay lại mình để soi sáng chính mình. Đó là thiền, là Phật chớ không tìm cầu ở đâu khác. Như vậy mới là người tu thiền chân chánh.

Cho nên câu kết: “Thiền, Phật chẳng cầu”, thiền và Phật đều không cầu, tức là không tìm ở bên ngoài nữa, thì “uổng khẩu vô ngôn”, không còn lời gì để nói. Không còn lời gì để nói nghĩa là sao? – Là hết nói. Hết nói nghĩa là gì?

Đây cũng như lối xác định của vua Trần Nhân Tông, nói rằng: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” Đối cảnh mà không tâm thì chớ hỏi thiền. Chớ hỏi thiền nghĩa là gì? Là thiền ngay chỗ “đối cảnh mà vô tâm”. Đừng kiếm đừng tìm, đừng hỏi han gì khác.

Ở đây cũng vậy, ngay chỗ không cầu Phật, không cầu thiền ở bên ngoài, chính đó là đầy đủ, không còn gì phải nói thêm nữa, cho nên “uổng khẩu vô ngôn”, không còn gì để nói.

Bài kệ này và bài kệ Tìm xuân hồi nãy tôi đã nói, quí vị thấy là hai hay một? – Không hai, phải không?

Vậy chúng ta cứ chạy tìm xuân bên ngoài làm gì? Xuân ngay ở vườn cũ, trên những cành mai, cành đào đã thấy xuân rồi. Đừng tìm đâu khác. Và Phật, thiền không phải ở đâu xa, chính ngay nơi mình. Cũng như giải thoát không phải ở nơi nào mà ngay nơi sanh tử chúng ta an nhiên tự tại, không làm cho mình rối bận nữa, đó là giải thoát sanh tử rồi.

Cái lý của đạo, cái lý của thiền mới thực tế làm sao, gần gũi làm sao! Không có gì huyền bí xa xôi. Vậy mà người học đạo cứ chạy đi tìm kiếm, đuổi theo cái gì xa xôi, khiến càng nhọc nhằn, càng khổ sở mà kết quả không đến đâu. Giống như anh chàng đi tìm xuân rách hết mấy đôi giày vẫn không thấy xuân đâu hết, chỉ cần trở về lại vườn cũ đứng ngắm chơi thì thấy xuân liền. Để thấy tinh thần Thiền tông hay đạo Phật cụ thể như vậy, không phải như người ta tưởng huyền hoặc khó hiểu.

Đó là tôi giải hai bài kệ nêu lên điểm chủ yếu của người tu thiền hay là người học Phật.

Bây giờ tới phần thứ hai, tôi sẽ nhắc lại bài kệ của Thiền sư Huyền Giác còn ghi trong bộ “Vĩnh Gia tập”. Bài kệ này tôi đọc lên, quí vị gẫm lại cho kỹ mới thấy giá trị của nó. Bài kệ này nói lên để giúp cho người tu đã có công phu, đã có chỗ nhận chánh xác cái gì là mình rồi, biết ứng dụng để khỏi lầm lẫn.

Nhược dĩ tri tri tịch,
Thử phi vô duyên tri,
Như thủ chấp như ý,
Phi vô như ý, thủ.
Nhược dĩ tự tri tri,
Nhược phi vô duyên tri,
Như thủ tự tróc quyền,
Phi thị bất quyền, thủ.
Diệc bất tri tri tịch,
Diệc bất tự tri tri,
Dĩ tánh liễu nhiên cố,
Bất đồng ư mộc thạch.
Như thủ bất chấp vật,
Diệc bất tự tác quyền,
Bất khả vi vô thủ,
Dĩ thủ an nhiên cố,
Bất đồng ư thố giác.

Đó là chữ Hán, bây giờ tôi giải thích từng câu cho quí vị hiểu:

Nếu lấy cái biết, biết vắng lặng
Đây không phải là không có cái duyên biết
Như tay mình cầm cái như ý
Không phải là không cái như ý và tay

Bốn câu này dùng một hình ảnh cụ thể cho mình thấy. Nêu lên: “nếu mình dùng cái biết, biết vắng lặng” vì ở đây có một số vị ngồi thiền khi tâm được yên rồi, thấy chỗ lặng lẽ cho đó là cứu kính. Với ngài Huyền Giác, Ngài bảo rằng: Chưa!

Tại sao vậy? Nếu mình lấy cái biết nhìn chỗ lặng lẽ đó, thì đây không phải là không có duyên để biết, tức là có duyên để biết. Giống như cái gì? Giống như tay mình cầm cái như ý.

Thí dụ như tay tôi cầm chai dầu, thì phải có cái tay và chai dầu. Quí vị thấy chỗ đó dễ hiểu hay khó, vì mình lấy cái biết để biết cái lặng, thì cái lặng và cái biết là hai. Cái lặng ví dụ như chai dầu, cái biết dụ cho tay. Như vậy còn có cái tay, còn có chai dầu, là hai cái.

Cho nên nói: chẳng phải không tay và không cái như ý. Đó là đoạn thứ nhất, còn hơi dễ hiểu.

Đoạn thứ hai:

Nhược dĩ tự tri tri,
Nhược phi vô duyên tri,
Như thủ tự tróc quyền,
Phi thị bất quyền, thủ.

Nếu mình lấy cái tự biết mà biết. Thí dụ mình ngồi thiền tới khi nó yên lặng, biết được cái biết của mình, mình khởi niệm biết mình đang biết. Bởi vì có những người ngồi yên, thấy sao như mình không biết gì rồi tưởng đâu mình đang phiêu phiêu ở đâu, cho nên nhớ lại: “mình đang biết, mình đang biết”, tức lấy cái biết để biết cái biết.

Nhớ lại mình đang biết, nên nói rằng “tự tri tri”, tự biết cái biết của mình. Như vậy cũng không phải là không có duyên biết. Thí dụ như cái tay của mình tự nắm lại thành nắm tay: “như thủ tự tróc quyền”, thì “phi thị bất quyền, thủ”, không phải không có cái tay và nắm tay. Như vậy cái tay này ở bên ngoài gọi là nắm tay, ở trong gọi là cái tay, có cái tay và nắm tay. Tuy nó là một mà biến thành hai. Quí vị thấy rất là tế nhị.

Hai trường hợp, một bên là biết cái lặng tức còn năng biết và sở biết, một bên là biết cái biết của mình. Đang ngồi yên lặng, rồi nhớ mình đang biết, nhớ tức lấy cái biết mà biết cái biết, đó là cái tay tự nó như vậy mà làm thành nắm tay. Như vậy vừa có tay, vừa có nắm tay. Tuy nắm tay và tay không hai, vì cả hai đều là cái biết, nhưng lại biến thành hai.

Bây giờ muốn đúng thì phải thế này:

Diệc bất tri tri tịch

Cũng không dùng biết biết cái lặng

Diệc bất tự tri tri

Cũng không tự biết cái biết. Tại sao?

Dĩ tánh liễu nhiên cố

Vì tánh biết của mình là liễu nhiên, là rõ ràng như vậy. Thí dụ bây giờ ngồi, tôi không biết lặng, tôi không biết mình đang biết, mà tôi cứ nghe, cứ thấy, có cái gì xúc chạm tôi biết, như vậy có biết không? Tánh biết nó sẵn vậy còn phải làm thêm gì nữa! Thêm gì nữa cũng là một lớp bệnh. Đây hết sức tế nhị. Vì tôi e có một số vị tới chỗ yên rồi đâm hoảng hốt nên tôi phải dẫn cho rõ.

Dĩ tánh liễu nhiên cố

Vì tánh biết nó rõ ràng như vậy.

Bất đồng như mộc thạch

Nó đâu giống như cây như đá. Nếu mình là cây là đá thì đâu có nghe chim kêu, muỗi cắn mình đâu có ngứa, gió thổi đâu có mát, người đi qua đâu có thấy. Nhưng mình vẫn thấy người đi qua, vẫn nghe tiếng chim kêu, muỗi cắn vẫn biết ngứa, thì đâu phải như cây, gỗ. Nó nhẹ nhàng, rất là thanh thản. Trái lại, nếu biết cái biết, nhớ mình đang biết đây, nhớ như vậy là như cái tay mình đang tự nhiên thảnh thơi lại nắm thành một nắm, đó là thêm một vấn đề. Chỗ này phải hết sức cẩn thận.

Bây giờ Ngài mới giải thích rõ về chỗ này:

Như thủ bất chấp vật
Diệc bất tự tác quyền

Như tay không nắm vật, tay cũng không làm thành nắm.

Bất khả vi vô thủ

Đâu thể nói là không tay. Tay tôi nắm chai dầu, bây giờ tôi buông ra không nắm chai dầu, rồi tôi cũng không nắm cái tay lại thành nắm tay, vậy tôi có tay không? Tay tôi vẫn y nguyên, phải không? Đâu đợi tôi nắm tay lại mới nói tôi có tay, hay nắm chai dầu mới nói tôi có tay. Chính khi tôi không nắm chai dầu, cũng không nắm tay lại thành nắm thì lúc đó tay tôi thản nhiên tự tại. Tay tôi hiện tiền thản nhiên tự tại, đó là chỗ rất thâm yếu. Cho nên “bất khả vi vô thủ”, không thể nói là không tay.

Dĩ thủ an nhiên cố

Vì cái tay đang an nhiên tự tại vậy.

Bất đồng ư thố giác

Không giống như sừng thỏ. Đừng nói nó là không ngơ. Nó an nhiên hiện có chớ không phải là không ngơ.

Bởi vì gần đây tôi nghe có một số Tăng Ni trình bày chỗ tu tới khi lặng lẽ quá thì hoảng, tưởng như mất mình, rồi phải gượng kiếm cái gì, nhìn thấy cái này hay cái kia, như thấy mình đang yên lặng, hoặc biết mình đang biết, vì sợ nó mất. Nên tôi phải dẫn bài kệ này, giải thích cho quí vị rành rẽ manh mối tu hành để khỏi sợ.

Nhưng nói thật với quí vị, tới chỗ tri tịch, thấy nó lặng lẽ, chỗ đó ngủ ngon lắm. Nên có khi hoảng phải tỉnh lại. Tỉnh lại tức là “tri tri”, biết mình đang tỉnh, không thôi sợ nó ngủ. Đó cũng là phương tiện ban đầu để trị bệnh thôi, chớ đến chỗ cứu kính thì không phải vậy.

Hồi xưa tôi cũng dùng thí dụ nói cho quí vị yên lòng. Tôi nói rằng chúng ta ngồi thiền, thấy vọng tưởng dấy lên, rồi vọng tưởng đi khỏi, vắng, thì chúng ta thấy yên lặng. Thấy vọng tưởng lên rồi biết vọng tưởng lặng, như vậy cái ta đâu có mất, cái biết đâu có mất. Nhưng quí vị đừng có chấp chỗ lặng đó là thật, vì lặng đó là cái bên ngoài.

Thí dụ như tôi ngồi trên thất, có khách tới tôi biết có khách, khách về tôi biết không khách. Chỗ khách tới ngồi là cái ghế, ở ngoài tôi, phải không? Khách đi vắng tức chỗ cái ghế đó trống, chớ không phải tôi vắng, quí vị nhớ không? Nếu chấp cái ghế trống đó là mình thì sao? – Là bệnh rồi.

Cho nên phải hiểu cho thật rõ, khách đến thì ngồi ghế đối diện nói chuyện với mình, khách về ghế trống thì không có người nói chuyện nữa. Như vậy, ghế trống là trống cái ghế chớ không phải trống người chủ ngồi trong nhà. Nếu chúng ta cứ nhìn cái ghế trống đó cho là chỗ đúng rồi, được không? – Không được. Phải biết rõ, trống là cái ghế chớ không phải mình. Mình đang ngồi, đang là chủ.

Nhưng nếu bây giờ lại khởi nghĩ mình đang là chủ đây, nghĩa là mình đang thấy nghe, biết rõ ràng đủ rồi, lại khởi nghĩ mình đang làm chủ đây, thì đó là lấy cái biết để biết lại cái biết, tức là cái tay đang thong thả đem nắm lại cho thành nắm tay. Vô tình một sự việc mình tạo thành hai, có cái tay và có nắm tay.

Cho nên khi không có khách, mình vẫn an nhiên thấy nghe bình thản, không có gì thêm bớt nữa thì trúng. Còn khởi niệm bây giờ không có khách mình ở đâu, mình là cái gì, đó là bậy.

Việc tu rất là tế nhị. Nhiều khi không nói kỹ, quí vị tu tới chỗ đó rồi đâm ra hoảng, hoặc có khi hiểu thế này, hiểu thế kia, cứ nghĩ sợ mất mình. Nếu mất mình thì hỏi làm sao mà nghe, làm sao mà thấy, làm sao có cảm giác, phải không? Còn nghe, còn thấy, còn cảm giác làm sao mất mình cho được? Chỉ mất cái mình động thôi, còn cái thể hiện tại có mất đi đâu. Đó là ý nghĩa thâm trầm trên đường tu.

Vậy phần thứ hai tôi nói xong rồi. Bây giờ tôi dịch lại bài này cho quí vị nghe cho dễ nhớ:

Nếu lấy biết biết lặng,
Đây chẳng không duyên biết,
Như tay cầm như ý,
Đâu không như ý, tay.
Nếu lấy tự biết, biết,
Cũng chẳng không duyên biết,
Như tay tự làm nắm,
Chẳng phải không tay, nắm.
Cũng chẳng biết biết lặng,
Cũng chẳng tự biết biết,
Vì tánh liễu nhiên vậy,
Chẳng đồng như cây đá.
Như tay chẳng cầm vật,
Cũng chẳng tự làm nắm,
Không thể là không tay,
Bởi tay an nhiên vậy,
Chẳng đồng như sừng thỏ.

Đó là nói chuyện xưa để nhắc nhở quí vị. Bây giờ tới phần thứ ba, nói chuyện nay, để quí vị thấy thêm cái gọi là nhu cầu bức thiết để tất cả nhớ mà cố gắng.

Nãy giờ quí vị chúc Tết tôi đều có cái ý muốn tôi được sống dai phải không? Sống chừng bao nhiêu thì vừa? Nhiều người nói giống như ngài Triệu Châu, ngài Hư Vân. Nhưng tôi thì không dám nghĩ tới điều đó. Quí vị nhớ xem, ngày mồng một Tết năm nay tôi đã được bao nhiêu tuổi rồi? Ờ đã bảy mươi ba tuổi, đó có phải già chưa? Bảy mươi ba tuổi là quá cổ lai hi rồi. Qua một năm là mất hết một tuổi của tôi. Như vậy sang năm mới là đáng mừng hay đáng lo? Nếu đáng lo thì sao nói là mừng tuổi? Bởi vì qua mất một năm thì cái chết nó gần lại một phần.

Tôi đặt giả sử, lấy cái mốc thời gian của những người thân, đặt làm giả sử tuổi thọ của tôi. Người thân nhất là cha, ông thân tôi sống được có bảy mươi chín tuổi. Nếu tôi lấy cái mốc thời gian đó thì quí vị thấy tôi sống còn được mấy năm nữa? Chỉ còn sáu năm nữa. Còn nếu tôi lấy cái mốc thời gian của ông Phật mình là tám mươi tuổi, thì tôi còn sống được bao nhiêu tuổi nữa? Có bảy năm thôi.

Đó là hai cái mốc giả sử chớ chưa phải thật, bởi vì vô thường đâu lường trước được. Ngày nay còn là biết ngày nay, chưa chắc ngày mai được an ổn. Nhưng bây giờ mình cứ giả sử, giả sử tôi sống được bảy mươi chín tuổi như ông thân tôi thì tôi chỉ còn được sáu năm. Giả sử tôi được phước hơn, sống bằng tuổi Phật thì tôi còn được bảy năm. Gần hay xa? Như vậy mất một năm quí vị có tiếc hay không?

Qua một năm là mình đã mất một tuổi. Mất một tuổi tức là gần với sự chết. Vậy thì chúng ta phải nghĩ sao về đời tu của mình? Bây giờ tôi kể lại cho quí vị nghe trách nhiệm của tôi hiện nay là đang làm cái gì, làm rồi chưa.

Một là tôi phải làm việc cho tôi, làm sao tới khi ra đi tôi được an vui, tự tại chớ tôi không muốn quằn quại, rên rỉ, than thở. Mà muốn việc đó có dễ hay không? Nói thì dễ lắm, nhưng thực hành được điều đó không giản đơn. Mà tôi phải làm việc đó. Chỉ còn mấy năm mà phải làm cho rồi, quí vị nghĩ có ngán chưa! Đó là việc của tôi.

Thứ hai là việc của Tăng Ni mà tôi đang chịu trách nhiệm. Tôi nghĩ rằng trong vòng sáu, bảy năm, giả sử tôi còn có mặt, tôi phải có những người nào, hoặc là Tăng, hoặc là Ni, những người chớ không phải một người nghe, tức là phải có nhiều người, có khả năng khi tôi theo Phật, quí vị đó đảm đang được, gánh vác được việc của tôi làm và có thể mở rộng hơn chỗ tôi muốn.

Như vậy thời gian chỉ có sáu, bảy năm mà tôi muốn thấy được có những người Tăng Ni ở đây và ở các Thiền viện có khả năng thật sự, cụ thể, cho chúng tôi tin tưởng. Việc làm đó khó hay dễ?

Quí vị thấy có người nào có thể thay tôi được chưa? Đó là vấn đề thứ hai tôi phải làm.

Vấn đề thứ ba là đối với Phật giáo Việt Nam, như tôi thường ước mơ và đã cụ thể ước mơ đó bằng những hình ảnh trong câu nói: “Ngôi nhà Phật giáo Việt Nam đang mờ tối quá, tôi muốn đời của tôi ít ra cũng làm được một ngọn nến thắp sáng trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.” Bởi vậy tôi mới dùng chữ “Chiếu” đó, nghĩa là soi sáng được ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Từ ngọn nến tôi thắp lên đó, nếu được nhiều ngọn nến tiếp tục mồi và thắp khắp ngôi nhà to lớn của Phật giáo Việt Nam, nơi nào cũng sáng hết, đó là tôi mãn nguyện vô cùng. Nhưng việc đó quí vị thấy dễ làm không? Đã làm được bao nhiêu chưa?

Còn việc thứ tư là tôi thấy rằng đạo Phật dạy cho chúng ta một con đường giác ngộ, nếu chúng ta bước lên trên con đường đó, dù giác được ít, được nhiều cũng đều là thấy lối đi, bớt đau khổ. Vì mê là gốc khổ, nếu chúng ta có giác thì dù ít dù nhiều cũng bớt khổ. Nhìn lại mọi người trên thế gian, thấy người ta đi trong mê lầm, trong tối tăm, mình biết một chút, mình giác một chút, hết sức là thương họ, muốn cho người ta cùng được giác chút ít như mình, như vậy mình mới thấy an vui được phần nào. Đó là chuyện tôi lo cho ai? ­Lo cho rất nhiều người, tôi chỉ dám nói là nhiều người chớ không dám nói to là chúng sanh. Thấy rất nhiều người cần điều đó.

Vậy gom lại những điều tôi muốn làm, là nhiều hay ít? Lo cho mình cũng đang lo chớ chưa xong. Lo cho Tăng Ni để thế mình cũng đang lo chớ chưa xong. Lo cho ngôi nhà Phật pháp tối, muốn thắp nến lên để được sáng cũng chưa xong. Muốn cho mọi người được giác để bớt khổ đau cũng chưa được bao nhiêu.

Như vậy, bốn trách nhiệm nặng đó mà tôi còn có sáu, bảy năm, quí vị nghĩ sao? Tôi làm kịp hay không, kịp tới đâu? Tôi lấy một ví dụ, ví như có một người đứng ra cam kết lãnh một công tác, gọi là ký giao kèo với người ta, làm trong thời gian mười ngày phải xong. Rồi người ấy kêu thân bằng quyến thuộc lại cùng chung sức làm. Nhưng trọng trách người đó chịu, trách nhiệm ký giao kèo. Làm tới tám ngày rồi mà công việc mười phần chưa được năm. Lại thấy những người thân thuộc hợp tác làm với mình đó, kẻ thì đốt thuốc nói dóc, người thì ngồi nói chuyện nhảm nhí tào lao, thì người đó có vui không? Có yên lòng không?

Ngày giao kèo đã kề bên, công việc còn mê mê mà những người cộng sự viên thân thuộc của mình lại không nỗ lực để phụ làm với mình. Quí vị thấy người đó có vui không? Chắc là phải la quá, nhất định phải la! Tại sao la? Bởi vì công việc còn quá nhiều, còn quá bề bộn mà những người chung lo với mình lại không nhiệt tình, không cố gắng, e làm không kịp rồi sẽ bị người ta trách, người ta kiện thưa, phiền hà, nên ai lơ là thì nhất định phải la. Đó vì cái gì mà la? Vì một trọng trách.

Vậy nên tôi nghĩ chắc từ đây về sau tôi sanh tật khó. Tôi sẽ khó vì chuyện của tôi còn nhiều quá mà thời gian cho phép tôi làm thì ít, ngắn quá. Nếu thấy ai lơ là, đã là hợp tác thì phải chung lo, mà không chịu chung lo, không cố gắng, thì tôi phải la. La đó là vì trọng trách chớ không phải vì một ý riêng tư nào hết, không phải vì thương hay ghét mà vì một trọng trách.

Như vậy, tất cả Tăng Ni và Phật tử có mặt ở đây nghĩ tôi sẽ là người khó hay dễ?

Bây giờ đang là khó và sẽ còn khó nữa, càng ngày càng khó hơn. Nên quí vị nói tôi sanh tật, già khó quá, phải không? Càng già càng khó! Cái khó của tôi là tại chỗ nhìn như vậy, thấy ai không nhiệt tình, không cố gắng để làm tròn, tự nhiên tôi phải la. La là để thúc đẩy quí vị ráng làm, cho xong xuôi một trọng trách. Tăng Ni được gần tôi đừng nghĩ là có phước, quí vị sẽ nghĩ rằng quí vị là khổ, bởi tôi thúc riết chạy không kịp, rồi quí vị rên!

Do hiểu rõ những điều tôi muốn, tôi đang cố gắng, quí vị cũng phải cố gắng nỗ lực với tôi chớ đừng có chần chờ. Làm sao trong thời gian mấy năm nữa, mỗi năm chúng tôi đều có được những niềm vui, thấy việc làm của mình có phần kết quả. Mỗi năm được tin vui để mình yên lòng rằng ngày mai không đến nỗi thất vọng, vẫn có thể có được những tin tức đáng cho mình trông đợi, tin cậy. Trước hết là tin những người tu ở đây và ở các Thiền viện đủ khả năng để thay thế tôi. Nói đủ khả năng thay thế tôi là còn lạc hậu đó, quí vị phải siêu việt hơn tôi, vượt hơn tôi thì mới có thể duy trì được sự nghiệp của tôi. Nếu bằng tôi là đã lạc hậu rồi.

Như vậy, những người có trách nhiệm, được sự hướng dẫn của tôi, đều phải cố gắng làm sao cho bằng và hơn tôi, chớ đừng chỉ được chút ít rồi tự mãn: ta thảnh thơi, ta an nhàn, ta thấy được đạo, rồi không cần gì nữa hết, thổi sáo, cỡi trâu, du lịch chơi, tự tại. Đó là không tốt.

Trách nhiệm chúng ta còn nặng lắm, bởi vì mình phải đủ sức để tiến trên con đường giác, rồi mình phải mồi những ngọn đèn để thắp sáng cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, sáng nhiều hơn nữa chớ không phải chỉ một ngọn. Một ngọn nếu có sáng chỉ sáng chút ít chung quanh nó thôi, nhiều nơi khác còn u ám lắm. Một ngọn rủi gió thổi tắt là rồi, tối om, phải không? Cho nên mình phải có nhiều ngọn, ngọn này có lu, có tắt thì còn ngọn khác, khiến cho ngôi nhà Phật pháp Việt Nam được sáng.

Như vậy, những điều mơ ước của tôi không phải là nhỏ. Chừng nào chúng ta đem được những lời giáo hoá đầy đủ chân lý, đầy đủ tánh giác ngộ của Phật chỉ cho mọi người cùng nghe, cùng biết để thức tỉnh, chừng đó việc làm của mình mới gọi là được vuông tròn một chút. Nhưng bây giờ tôi thấy cũng có phước, những lời nói của tôi chưa phải là Tăng Ni mang đi mà khoa học mang đi rải giùm, phải không? Từ những cuốn băng, cuốn phim đi nơi này nơi kia rải cho người ta nghe, giúp tôi cũng nhiều.

Tôi nghĩ rằng mai kia Tăng Ni có khả năng duy trì được sự nghiệp của tôi – duy trì là một lối nói tiêu cực, phải nói phát triển được những gì tôi làm. Tôi làm một, tới quí vị làm mười, đợt sau là trăm. Ba bốn đợt vậy đó thì muôn ngàn. Đợt thứ nhất, ai kêu tôi bằng Thầy đó, phải mười, đợt thứ hai ai kêu tôi bằng Sư ông phải trăm. Phải vậy mới được, cứ tăng lên tăng lên chớ không có quyền chỉ làm ngang bằng như tôi thì được cái gì! Cho nên phải nhân lên, mười, trăm, rồi ngàn, cứ vậy mà tăng thì Phật pháp mới tốt đẹp và sở nguyện của tôi mới được tròn đầy.

Đây là lời nhắc đầu năm của tôi để cho quí vị chuẩn bị. Tăng Ni Phật tử ý thức sự tu hành chớ không nên mừng xuân rồi vui chơi, dẫn đi thênh thang cười chơi hoài. Mừng xuân là chuẩn bị cho bước tiến năm này phải nhiều hơn năm trước và chúng ta sẽ cứng cỏi đứng trước mọi ngọn gió, tám ngọn bát phong đó, tám ngọn đó thổi mấy cũng không lung lay, chớ không phải những chuyện thường.

Vậy tôi mong tất cả Tăng Ni và Phật tử, năm Bính Tý này, quí vị sẽ tiến bộ nhiều và quí vị sẽ nỗ lực hơn so với năm Ất Hợi vừa qua. Đó là lời mong mỏi của tôi. Vậy ngang đây chấm dứt buổi nói chuyện đầu xuân.

Pages: 1 2