Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh
Giảng Ký
佛說無量壽經講記
Chủ giảng: Trưởng lão Đạo Nguyên (道源長老)
Địa điểm: Chí Liên Tinh Xá Đài Bắc
Thời gian: Tháng Tám năm Dân Quốc 67 (1978)
Cư sĩ Thí Vượng Khôn bút ký
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
(theo bản điện tử của Đài Trung Liên Xã)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

PHẦN 1

Giới thiệu đại lược hành trạng trưởng lão Đạo Nguyên

Cao tăng Đạo Nguyên pháp danh Năng Tín (能信), pháp tự Đạo Nguyên, biệt hiệu là Trung Luân sa-môn (Trung Luân (中輪): Pháp luân Hữu tức Không, Không tức Hữu). Ngài Đạo Nguyên sanh năm 1900 tại trấn Châu Khẩu, huyện Thương Thủy, tỉnh Hà Nam. Chín tuổi, Ngài mồ côi mẹ, được thím nuôi nấng khôn lớn. Khi Ngài hai mươi tuổi, thím qua đời, Ngài cảm ngộ nhân sanh vô thường, cương quyết nương tựa chùa Phổ Tĩnh tại trấn Châu Khẩu, xin xuống tóc dưới tòa của thượng nhân Long Phẩm. Năm 1923, Sư tròn hai mươi bốn tuổi, đến chùa Quy Nguyên tại Hán Dương, tỉnh Hồ Bắc, nương cậy luật sư Giác Thanh thọ tam đàn đại giới. Năm 1929, Sư tròn ba mươi tuổi, xin nhập học tại Phật Học Viện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc, có duyên phận thân cận bậc Bắc Đẩu trong Phật môn là Thái Hư đại sư. Năm 1930, Sư bế quan tiềm tu ba năm tại chùa Bảo Thông ở Hồng Sơn. Năm 1934, sau khi triều bái hai thánh địa Phật giáo là Phổ Đà Sơn và Cửu Hoa Sơn, Sư may mắn được thọ giáo với vị tổ thứ mười ba của Tịnh Độ Tông là Ấn Quang đại sư. Năm sau, Sư tới Thượng Hải, được dự vào hàng môn hạ của pháp sư Viên Anh.

Năm 1943, lúc bốn mươi bốn tuổi, trưởng lão Đạo Nguyên nhận lời mời của lão hòa thượng Việt Trần thuộc Vân Tuyền Thiền Tự ở Tứ Nhi Sơn tại Trương Gia Khẩu (chùa này được sáng lập từ năm Hồng Vũ 26 (1393) thời Minh Thái Tổ Châu Nguyên Chương) đến trụ tích tại Nam Đường của chùa để diễn giảng giới luật, chấn hưng phong khí nhà chùa suốt sáu năm, cải biến Vân Tuyền Thiền Tự từ một ngôi “tử tôn tự miếu”1thành thuyết pháp tùng lâm. Ngài đã ba lượt cử hành lễ truyền giới vào lúc cuối Thu tại chùa này. Trưởng lão Đạo Nguyên hai lần đảm nhiệm vai trò Đắc Giới Hòa Thượng, một lần làm Giáo Thọ A Xà Lê (Quỹ Phạm Sư). Trong các đàn truyền giới, Sư giảng giải tam đàn giới luật. Sư dựng cao pháp tràng, rộng ban pháp nhũ, tạo ảnh hưởng khá lớn, thanh danh lan xa, nối tiếp hưng thịnh Phật chủng, tín, giải, hạnh, chứng, phát tâm từ bi, hành Bồ Tát nguyện, hết lòng dốc sức lo liệu kiến thiết tự miếu chẳng tiếc sức thừa. Sư từ tâm thương xót người nghèo khổ như con ruột, bố thí, quyên góp giúp đỡ, làm rất nhiều chuyện lợi lạc cho nhân dân, vì pháp quên mình. Sư trì giới cực nghiêm, nghiêm ngặt tuân thủ chế định của nhà Phật, chỉ ăn một bữa Ngọ, sống đời nghèo khó, bình thản trước mọi nỗi phong ba. Sư từng đảm nhiệm chức Lý Sự Trưởng của hội Phật giáo tỉnh Sát Cáp Nhĩ (Chahar)2, khiến cho Phật pháp tại vùng biên ải hưng thịnh. Năm 1949, Sư về Thượng Hải rồi sang Đài Loan. Năm 1951, Sư sáng lập Hải Hội Tự tại thành phố Cơ Long, Đài Loan.

Năm 1963, Sư nhận lời thỉnh, kiêm nhiệm chức viện trưởng Đông Sơn Phật Học Viện tại Đài Bắc. Sư nhiều lần hướng dẫn phái đoàn Phật Giáo Đài Loan tham dự hội nghị Phật giáo thế giới, cũng như nhận lời cầu thỉnh từ Hương Cảng, Tân Gia Ba, và các nước tại Đông Nam Á chống tích trượng đến hoằng pháp khắp nơi, hoằng dương pháp môn Tịnh Độ. Tại Đài Loan, Sư nhiều lần được các sơn môn cung thỉnh vào ngôi Tam Sư trong đại giới đàn, diễn giảng giới luật, tiếp độ hàng hậu học. Lúc sáu mươi lăm tuổi, Sư được chư sơn môn công cử làm Lý Sự Trưởng của hội Phật Giáo Trung Hoa tại Đài Loan, được tôn xưng mỹ hiệu “thuyết pháp bậc nhất”, tứ chúng ngưỡng vọng, là bậc y chỉ sư cho khắp tứ chúng. Ngày Mười Sáu tháng Tư năm 1988, vào lúc bảy giờ rưỡi tối, Sư an nhiên thị tịch tại chùa Hải Hội, hưởng thọ tám mươi chín tuổi, giới lạp sáu mươi sáu năm.

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Ký

佛說無量壽經講記

Hôm nay, tôi muốn giảng cho chư vị bộ kinh có tựa đề là Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, vì sao phải giảng bộ kinh này? Trước hết, tôi trình bày nhân duyên cùng quý vị. Đại Thừa Phật giáo tại Trung Hoa có tám tông phái, Tịnh Độ Tông là một tông phái trong ấy. Từ xưa, căn cứ chủ yếu của Tịnh Độ Tông là ba bộ kinh và một bộ luận, tức là Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh (còn gọi là Thập Lục Quán Kinh), và Vãng Sanh Luận (còn gọi là Tịnh Độ Luận). Cận đại, Ấn Quang đại sư đề xướng Tịnh Độ Ngũ Kinh, tức là tăng thêm hai bộ Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương và Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Trong quá khứ, tại Chí Liên Tinh Xá, Đạo Nguyên đã giảng Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải, Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh và Vãng Sanh Luận. Đáng lẽ năm ngoái phải nên giảng Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, nhưng vì kinh văn trong bộ kinh này quá dài, giảng một, hai tuần sẽ chẳng xong. Do đó, năm ngoái tôi giảng trước Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương và Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Vì thế, trong năm kinh Tịnh Độ, chỉ còn kinh Vô Lượng Thọ chưa giảng.

Năm nay, tôi muốn giảng Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh cho quý vị, bộ kinh này quan trọng nhất trong Tịnh Độ Ngũ Kinh, vì sao quan trọng? Kinh nói từ lúc A Di Đà Phật phát ra tâm nguyện ban đầu, do đâu mà có A Di Đà Phật? Do đâu mà có Tây Phương Cực Lạc thế giới? A Di Đà Phật là quả báo pháp, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là quả báo pháp. Cái nhân ở chỗ nào? Cái nhân ở ngay trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh. Do vậy, [kinh này] đặc biệt quan trọng! Chẳng giảng kinh Vô Lượng Thọ, làm sao biết A Di Đà Phật từ đâu mà ra? Cũng chẳng thể hiểu Tây Phương Cực Lạc thế giới từ đâu mà có? Do vậy, nhất định phải giảng kinh Vô Lượng Thọ, nói tới tầm quan trọng của nhân địa A Di Đà Phật, biết chỗ khác biệt so với ngoại đạo. Do có những kẻ chẳng có tín tâm đối với chuyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới của Tịnh Tông; vì vậy, phải nghiên cứu đạo lý.

Có người nói: “Chúng ta tin Phật, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là giống như Cơ Đốc Giáo niệm Thượng Đế cầu sanh thiên quốc ư?” Kiến giải kiểu đó sẽ có vấn đề to lớn! Tuyệt đối chẳng giống nhau! Vì sao tuyệt đối chẳng giống nhau? Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp dựa trên hai chữ “nhân quả” để nói. Đức Phật nói kinh giáo tam tạng mười hai bộ loại, đều chẳng ra ngoài hai chữ “nhân quả”. Hễ lìa khỏi nhân quả, sẽ chẳng thể thuyết pháp. Bởi lẽ, trên thế giới, chẳng có cái quả nào mà không có nhân, tại Ấn Độ [điều này] được gọi là “hợp Nhân Minh”, tại phương Tây thì kêu là “hợp la-tập” (phù hợp logic). Nếu chẳng có cái nhân mà sanh ra cái quả thì chẳng hợp Nhân Minh, mà cũng chẳng hợp la-tập! Quý vị nói đạo lý ấy chỉ có thể đến thiên quốc mà nói, chẳng thể nói trong thế giới này! Vì sao? Vì trong thế giới này, toàn là những cái quả có nhân, lấy đâu ra Thượng Đế? Cái quả mà chẳng có nhân thì thiên quốc do đâu mà có? Cái quả mà chẳng có nhân thì được gọi là “tin tưởng vào ngẫu giáo”, vì [theo tín lý của họ], quý vị không tin sẽ chẳng thể được cứu! [Theo các tôn giáo khác], nếu không tin [theo giáo lý của họ], quý vị sẽ đọa địa ngục. Đấy là tôn giáo nói theo kiểu không cần quan tâm đến lý!

Nếu nói theo đạo lý, chẳng có nhân, lấy đâu ra quả? Nói theo kiểu Nhân Minh của Ấn Độ sẽ nói như thế nào đây? Quý vị lập ra cái nhân, lập ra cái quả, quý vị phải nêu ra một thí dụ. Trên thế giới này, có cái quả nào mà chẳng có nhân hay chăng? Nếu quý vị bảo là chẳng có nhân, vì sao? Quý vị phải nêu được thí dụ! Nếu chẳng nêu ra được, đủ thấy lý luận do quý vị đã kiến lập sẽ chẳng thể đứng vững. Tại Ấn Độ, Phật Thích Ca xuất thế, có chín mươi lăm loại ngoại đạo mở hội biện luận, biện luận phù hợp Nhân Minh, nay gọi là “la-tập” (logic) thì sẽ là luân lý, tức là pháp tắc phù hợp luân lý. Chẳng thể tùy tiện mù quáng nói lung tung được! Vậy thì đạo lý phải biện định cho rõ ràng như thế nào? Phải phù hợp Nhân Minh, tức là “hợp la-tập”, phải hợp Luân Lý Học (còn gọi là Lý Tắc Học). Vậy thì phải có một quy củ nhất định để biện luận. Đối với cái quả mà chẳng có nhân, hãy nêu ra một thí dụ đi chứ! Chẳng nêu ra được, vậy thì lý luận ấy của quý vị chẳng thể kiến lập! Nay Phật giáo suy vi, chỉ có thể đóng cửa nói đạo lý, chẳng dám biện luận với ngoại đạo. Không chỉ là chẳng dám biện luận, hễ nhắc tới ngoại đạo bèn sợ hãi. Vì sao? Trong Phật giáo, chúng ta thiếu khuyết nhân tài giảng kinh, thuyết pháp, mọi người phải hiểu rõ đạo lý này. Đã hiểu rõ rồi thì phải sốt sắng cầu học Phật pháp, phải hoằng dương Phật pháp. Quý vị chẳng phá tà, làm sao hiển chánh cho được? “Tà” là ngoại đạo, quý vị phải phá trừ tà tri, tà kiến của ngoại đạo thì mới có thể hiển dương chánh pháp của Phật giáo. Phá tà như thế nào? Quý vị phải nghiên cứu Phật lý. Nếu mọi người chẳng nghiên cứu, Phật giáo sẽ ngày càng suy nhược, ngoại đạo ngày càng hưng thịnh; do đó, chúng sanh sẽ trầm luân trong biển khổ!

Phật giáo thì phải độ chúng sanh. Chẳng có Phật giáo, làm sao có thể độ chúng sanh? Mọi người đều phải phát tâm Đại Thừa, muốn cứu độ chúng sanh, nhất định phải nghiên cứu Phật học thì mới có thể hoằng dương Phật pháp. Muốn cứu độ chúng sanh thì phải dấy khởi hai chữ “nhân quả”. Tôi nhắc nhở mọi người một phen: Học lý của Phật giáo được kiến lập trên hai chữ “nhân quả”. Nhất là trong xã hội hiện thời, trừ ngoại đạo ra, còn có những thứ tà tri, tà kiến. Hễ quý vị nhắc tới hai chữ nhân quả, bọn chúng sẽ lắc đầu rủa xả “Phật giáo các ngươi mê tín”, chửi bới hết sức dữ dội! Chúng ta đều chẳng dám mở miệng, tạo thành [phong thái] người trong xã hội đều chẳng nói tới nhân quả. Vì sao họ phải đả đảo đạo lý nhân quả? Họ thích làm ác hại kẻ khác; do vậy, thế giới này vĩnh viễn chẳng thể thái bình. Mọi người chẳng sợ nhân quả, sẽ đều dám làm ác, thế giới này làm sao thái bình cho nổi? Xã hội làm sao an định cho được? Vì thế, chẳng nói đến nhân quả, không chỉ là chúng sanh chẳng thể thành Phật, mà ngay cả cuộc sống bình phàm của cá nhân cũng đều chẳng thể an định! Tôi nói lời này nhằm nhắc nhở chư vị, quý vị nghiên cứu đạo lý Phật học, hãy ghi nhớ một nguyên lý, nguyên tắc: “Chẳng ra ngoài hai chữ nhân quả”. Hiện thời, giảng kinh Vô Lượng Thọ là nói từ nhân cho đến quả của A Di Đà Phật, từ nhân cho đến quả của thế giới Cực Lạc. Lần này, giảng bộ kinh này, tôi châm chước đôi ba lượt, vì kinh văn của bộ kinh này dài, nhân duyên giảng giải thì ít, chẳng dễ gì có nhân duyên giảng bộ kinh Vô Lượng Thọ này! Quý vị nhất định phải nắm vững cơ hội bền lòng [lắng nghe] cho đến lúc viên mãn!

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Thượng Quyển

佛說無量壽經上卷

  1. Tổng thích danh đề (giải thích chung về danh xưng, tựa đề kinh)

1.1. Giải thích tựa đề kinh

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh là đề mục của bộ kinh này. Mỗi bộ kinh đều có đề mục. Kinh Phật rất nhiều, đề mục cũng rất nhiều, nhưng kinh Phật được đặt tên theo nguyên tắc, nguyên lý, tức là từ ba yếu tố là Nhân (人, người), Pháp (法) và Dụ (喻, thí dụ) kết hợp [để tạo thành tên kinh]:

1) Hoặc là đơn Nhân (chỉ có Nhân) để đặt tên, hoặc là đơn Pháp để đặt tên, hoặc đơn Dụ để đặt tên, tức là dùng thí dụ để đặt tên. Ba loại này được gọi là Đơn Tam (單三, ba cách đặt tên đơn).

2) Hoặc dùng Nhân và Pháp để đặt tên, hoặc dùng Nhân và Dụ để đặt tên, hoặc dùng Pháp và Dụ để đặt tên. Hai pháp kết hợp lại để tạo thành tựa đề một bộ kinh; cách này gọi là Phức Tam (複三, ba cách đặt tên kép).

3) Từ Nhân, Pháp, Dụ ba pháp kết hợp lại để đặt tựa đề cho một bộ kinh, gọi là Cụ Túc Nhất (俱足一, một cách đặt tên trọn đủ [Nhân, Pháp, Dụ]).

Dùng ba pháp Nhân, Dụ và Pháp hợp lại để đặt tựa đề kinh, chẳng ngoài “đơn tam, phức tam, cụ túc nhất”! Đấy là bảy loại phương thức. Kinh Phật thiên sai vạn biệt, nhưng đề mục kinh chẳng ra ngoài ba loại pháp tướng ấy, không ra ngoài bảy cách đặt tựa đề ấy.

Bộ kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ này là “đơn nhân lập đề”. Đức Phật thành Phật trong nhân gian, là bậc rốt ráo. Chủ thể nói kinh là Thích Ca Mâu Ni Phật, là một người rốt ráo, đức Phật Vô Lượng Thọ được nói đến [trong kinh này] cũng là bậc rốt ráo. Trong tựa đề ấy, chẳng nói đến pháp, mà cũng chẳng có tỷ dụ. Đó gọi là “đơn nhân lập đề” (chỉ dùng Nhân để đặt tên).

1) “Phật Thuyết”“Phật” là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng ta niệm danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất định phải niệm thêm hai chữ Bổn Sư (本師), vì vị Phật này là vị thầy căn bản của chúng ta. Chẳng có Thích Ca Mâu Ni Phật, danh hiệu của bất cứ vị Phật nào chúng ta cũng đều chẳng biết! Mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều do Thích Ca Mâu Ni Phật nói ra. Ngài chẳng nói thì ngay cả một vị Phật chúng ta cũng chẳng biết! Ngay cả Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật cũng do đức Bổn Sư nêu ra. Vì thế, chúng ta niệm danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất định phải thêm vào hai chữ Bổn Sư nhằm biểu lộ lòng đặc biệt tôn trọng.

2) “Vô Lượng Thọ” là Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ Phật là A Di Đà Phật. Chúng ta đều biết niệm A Di Đà Phật, tiếng Phạn là A Di Đà (Amitabha). Thích Ca Mâu Ni Phật đã phiên dịch nghĩa lý cho chúng ta, danh hiệu ấy có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật, còn gọi là Vô Lượng Thọ Phật. Do quang minh của A Di Đà Phật có thể chiếu trọn khắp mười phương thế giới; vì thế, tên là Vô Lượng Quang. Do vì lẽ gì mà gọi là Vô Lượng Thọ Phật? Thọ mạng vô lượng. Hiện thời, trong bộ kinh này, đã dựa theo tiếng Phạn là A Di Đà mà dịch thành Vô Lượng Thọ. Trên thực tế, còn có ý nghĩa Vô Lượng Quang bao hàm trong [danh xưng] Vô Lượng Thọ. Chúng ta biết Vô Lượng Thọ Phật là A Di Đà Phật là được rồi. Đối với vị Phật A Di Đà trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, do Tịnh Độ Tông rất phổ biến tại Trung Hoa, toàn thể đệ tử Phật thượng, trung, hạ căn đều niệm A Di Đà Phật, chẳng cần phiên dịch mà mọi người đều rất quen thuộc. Hễ nói đến Vô Lượng Thọ thì phải nhớ [điều này].

A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế giới rốt cuộc là Ứng Thân Phật hay là Báo Thân Phật? Là Ứng Thân Phật, nhưng Ứng Thân Phật có thọ mạng vô lượng. Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật tại Ấn Độ, Ngài là Ứng Thân Phật hay Báo Thân Phật? Là Ứng Thân Phật, nhưng thọ mạng của Ngài rất ngắn, xuất thế tám mươi năm bèn nhập Niết Bàn. Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, thọ mạng của Ứng Thân Phật rất dài, nên gọi Vô Lượng Thọ Phật. Ngài là vô lượng theo kiểu hữu lượng. Hai chữ Vô Lượng là tên gọi của một con số to lớn, bọn phàm phu chúng ta cũng chẳng thể tính ra là bao nhiêu năm, bao nhiêu kiếp, nên gọi là Vô Lượng. Trên thực tế là Hữu Lượng, khi hóa duyên (化緣, duyên giáo hóa) của Ngài đã hết thì Ngài cũng sẽ nhập Niết Bàn. Sau khi A Di Đà Phật nhập Niết Bàn, sẽ do Quán Thế Âm Bồ Tát thành Phật. Sau khi Quán Thế Âm Bồ Tát nhập Niết Bàn, sẽ do Đại Thế Chí Bồ Tát thành Phật. Do vậy, Vô Lượng Thọ của A Di Đà chẳng phải là vô lượng trong vô lượng, mà là vô lượng trong hữu lượng. Vô Lượng Thọ [trong tựa đề kinh này] là Vô Lượng Thọ Phật, từ thuở ban đầu phát tâm cho đến khi Ngài tu thành Phật, Ngài là nhân vật được nói đến trong bộ kinh này, cho nên [kinh này được] gọi là Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh.

3) Chữ “Kinh” (經), tiếng Phạn là Tu-đa-la (Sūtra), dịch sang tiếng Hán là Khế Kinh (契經). Vì người Hoa thích nói đơn giản, bèn lược bớt chữ Khế. Khế (契) là như chữ Khế trong chữ khế ước (契約) khi ta mua nhà, mua đất. Trên là khế hợp lý của chư Phật, dưới là khế hợp căn cơ của chúng sanh, nên gọi là Khế Kinh. Phàm đức Phật nói kinh, phải khế hợp với lý của chư Phật. Nếu không, sẽ chẳng gọi là Kinh. Khế hợp với lý của chư Phật, chẳng phải là rất cao ư? Chẳng phải là rất cao. Chỉ cần quý vị học thì sẽ có thể lãnh hội, vì Ngài phải dưới là khế hợp căn cơ của chúng sanh. Kinh là “thâm nhập thiển xuất”, tức là đều biến hóa Phật lý sâu thẳm sao cho nông cạn [nhằm tương ứng với trình độ của chúng sanh, ngõ hầu] chẳng có ai học mà không hiểu. Nếu học mà chẳng thể hiểu, sẽ chẳng thể lưu thông trong thế gian. Do vậy, phải dưới là khế hợp căn cơ của chúng sanh. Do khế lý, khế cơ nên gọi là Tu-đa-la, phiên dịch sang tiếng Hán một cách đơn giản thì sẽ là Kinh.

[Tựa đề kinh ghi thêm] hai chữ “Quyển Thượng” là do kinh văn của bộ kinh này quá dài, [dịch giả] đã chia thành hai quyển thượng và hạ. “Quyển” (卷) có nghĩa là gì? Chính là cuộn lại. Thời cổ, [kinh sách] chẳng phải là một cuốn sách như trong hiện thời, mà là từng cuốn giấy cuộn lại. Do cuộn thành một cuốn không được, phải cuộn thành hai cuốn, nên gọi là quyển thượng và quyển hạ.

1.2. Dịch giả và bản dịch

Tào Ngụy Khang Tăng Khải dịch

          曹魏康僧鎧譯。

Tào Ngụy là nước Ngụy trong thời đại Tam Quốc. Đối với Tam Quốc, Tào Tháo là kẻ được mọi người biết đến nhiều nhất. Con Tào Tháo là Tào Phi đã soán ngôi nhà Hán, đặt quốc hiệu là Ngụy. Vì sao còn thêm chữ Tào vào đây? Vì cuối đời Tấn, thiên hạ đại loạn, người Hồ ở phương Bắc [Trung Hoa] là Thác Bạt Khuê [vào Trung Nguyên] lập quốc, cũng lấy hiệu là Ngụy. Nhằm phân biệt chẳng phải là nước Ngụy nào khác, mà là nước Ngụy trong thời đại Tam Quốc, nên gọi là Tào Ngụy3.

Khang Tăng Khải là vị sa-môn dịch kinh, tiếng Phạn là Tăng Già Bạt Ma (Saṃghavarman). Vào thời cổ, nhằm lúc dịch kinh, do người Hoa tôn trọng dòng họ, mà người xuất gia chẳng có họ, xã hội thấy vậy cho là chuyện rất lạ lùng, họ nói: “Cớ sao người xuất gia các vị chẳng có họ?” Do đó, rất nhiều vị xuất gia cũng phải miễn cưỡng đặt họ trước pháp danh. Về sau, kinh Niết Bàn truyền đến [Trung Hoa], [pháp sư Thích Đạo An chủ trương] “hễ là đệ tử xuất gia của Thích Ca Mâu Ni Phật thì đều mang họ Thích Ca”, nói đơn giản là họ Thích. Trước khi kinh Niết Bàn xuất hiện [tại Trung Hoa], người xuất gia từ chỗ nào đến bèn lấy chỗ đó làm họ. Chẳng hạn như ngài Khang Tăng Khải đến từ nước Khang Cư (康居, Sogdiana)4, nên được coi là họ Khang. Trên thực tế, Ngài chỉ là theo đường từ xứ đó (Khang Cư) đến xứ này. Ngài là người Ấn Độ, tên tiếng Phạn là Tăng Già Bạt Ma, dịch sang tiếng Hán thành Tăng Khải. Khải (鎧) là áo giáp, mặc áo giáp, có ý nghĩa tinh tấn, tức là nếu muốn đoạn phiền não, chứng Bồ Đề, thì phải tinh tấn, chẳng thể giải đãi, buông lung, giống như khoác áo giáp đánh giặc. Do đó, dịch thành Khải. Tên Ngài là Tăng Khải, trên thực tế là danh xưng tiếng Phạn (Tăng – Saṃgha) ghép chung với tiếng Hán. Theo ghi chép trong Cao Tăng Truyện, ngài Khang Tăng Khải là người Ấn Độ, học rộng các kinh, thông suốt nghĩa lý và ý chỉ sâu kín. Ngài đến Trung Hoa vào cuối niên hiệu Gia Bình5 nhà Tào Ngụy, trụ tại chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, dịch kinh Vô Lượng Thọ.

Tại Trung Hoa, kinh Vô Lượng Thọ được phiên dịch nhiều nhất, tổng cộng có tất cả mười hai loại bản dịch, còn giữ được năm bản, bảy bản đã thất truyền, gọi là “ngũ tồn thất khiếm” (五存七欠), [có nghĩa là] năm loại còn bảo tồn, bảy loại đã khiếm khuyết. Quý vị tra mục Ngũ Tồn Thất Khiếm trong Phật Học Đại Từ Điển sẽ biết. Vì sao kinh Vô Lượng Thọ được dịch thành mười hai lần? Chúng ta có thể suy luận các vị cao tăng đại đức học pháp môn Tịnh Độ tại Ấn Độ đều dựa vào kinh Vô Lượng Thọ làm công khóa. Căn tánh của người Ấn Độ hoàn toàn tương phản với người Hoa. Người Hoa chuộng đơn giản, kinh văn quá dài sẽ ngại phiền phức; người Ấn Độ khác hẳn, kinh văn quá ngắn họ không thích niệm, kinh văn dài họ mới có hứng thú. Các vị cao tăng học pháp môn Tịnh Độ đều thuộc lòng bộ kinh này. Do đó, các vị cao tăng đại đức Ấn Độ thuộc pháp môn Tịnh Độ đến Trung Hoa hoằng dương Tịnh Độ Tông, họ cho rằng bộ kinh này hay nhất, [cho nên] đều phiên dịch kinh này. Mỗi vị đại đức mang văn bản tiếng Phạn đến, chính Ngài đã thuộc lòng, lại có thể giảng, phiên dịch kinh này một lượt. Lại có một vị đại đức khác đến, dịch thêm lần nữa. Tối thiểu là có mười hai vị cao tăng đại đức phiên dịch, nên có mười hai bản. Thời đó, cao tăng đại đức Ấn Độ học pháp môn Tịnh Độ niệm kinh Vô Lượng Thọ, gần giống như chúng ta niệm kinh A Di Đà trong hiện thời. Hiện nay, gần như chúng ta ai nấy đều có thể niệm kinh A Di Đà. Nhưng trong năm loại bản dịch còn giữ được, đều là dịch chưa đủ hay, vì dịch từ tiếng Phạn của Ấn Độ sang tiếng Hán chẳng phải là chuyện đơn giản! Hiện thời, đối với mọi người, tiếng Anh rất phổ biến, nhưng dịch một bài văn từ tiếng ngoại quốc sang tiếng Hán cũng chẳng dễ, huống hồ là phiên dịch một bộ kinh ư? Đời Tống có một vị cư sĩ là Vương Nhật Hưu đã thâu thập kinh văn từ năm bản dịch gốc còn giữ được để nghiên cứu, dùng văn tự Trung Hoa để biên tập lần nữa, đặt tên là Đại Bổn A Di Đà Kinh.

Kinh văn [của bản biên tập ấy] rất thông thuận, nhưng chẳng có ai niệm. Vì sao? Vì vào thời cổ, sau khi kinh Phật đã được bậc đại đức phiên dịch, nếu quý vị chẳng có bản tiếng Phạn để làm căn cứ, chẳng thể tùy tiện sửa đổi, đó gọi là “chẳng thể mở ra tiền lệ này”. Nay quý vị hiềm kinh văn không hay bèn sửa chữa, kẻ khác chê kinh văn không hay, lại sửa tiếp, kinh bị sửa đổi tán loạn. Khi đó, quý vị cho là đã sửa hay lắm, nhưng có thể là sửa đổi hoàn toàn chẳng hay! Kết quả là sửa đổi kinh văn loạn cào cào, phạm vào điều kỵ húy này! Bản do cư sĩ Vương Nhật Hưu biên soạn tuy hay, nhưng chẳng có ai niệm. Hiện thời, tôi nói cho mọi người biết, muốn nghiên cứu kinh Vô Lượng Thọ, chẳng ngại dùng bản ấy để tham khảo.

Tới thời Dân Quốc, tại Bắc Bình (Bắc Kinh)6, có vị cư sĩ Hạ Liên Cư lại sửa đổi lần nữa. Sửa lần nữa mà cũng chẳng có ai đọc, mà cũng chẳng có ai xem bản ấy, cũng là chẳng nên sửa đổi kinh Phật. Nhất là ông ta đã gộp bốn mươi tám đại nguyện lại, sửa thành hai mươi đại nguyện, mọi người càng cho rằng không nên; do đó, cũng chẳng có ai xem7 Trong kinh Phật có một quy củ, quý vị có thể tạo luận, chẳng thể soạn kinh, vì kinh là do đức Phật nói. Thuở đức Phật tại thế, có năm loại người có thể soạn kinh. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, Bồ Tát, La Hán, cho đến bọn phàm phu Đại Thừa chúng ta chỉ có thể tạo luận, mà luận có hai loại. Loại thứ nhất gọi là Tông Kinh Luận, loại thứ hai là Thích Kinh Luận. Thích (釋) là chữ Thích trong giải thích (解釋). Quý vị cho rằng kinh khó hiểu, có thể giải thích từng đoạn một, từng câu một, tức là [các bản] chú sớ trong hiện thời được gọi là Thích Kinh Luận. Hoặc là do kinh văn dịch chưa đủ hay, quý vị có thể tạo Tông Kinh Luận (宗經論), tức là dựa theo ý chỉ của bộ kinh ấy để tạo ra một bộ luận khác, nhưng chẳng gọi đó là Kinh, chỉ có thể gọi là Luận.

Chú giải kinh Vô Lượng Thọ, khi chúng tôi còn là pháp sư nhỏ tuổi, lão pháp sư bảo chúng tôi: “Để nghiên cứu kinh Vô Lượng Thọ, phải dùng bản dịch của ngài Khang Tăng Khải. Trong năm bản dịch hiện còn, ngài Khang Tăng Khải phiên dịch tốt nhất. Nghiên cứu chú giải thì có thể tham khảo bản Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ do Huệ Viễn đại sư soạn vào đời Tùy, và bộ Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận do cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh”.

Nay đã giảng xong đề mục kinh, tôi bắt đầu giảng vào kinh văn.

  1. Chánh thích kinh văn(chính thức giải thích kinh văn)

Văn từ trong kinh Phật có dài hay ngắn, nhưng đều có quy củ nhất định. Mỗi bộ kinh đều chia thành ba phần lớn: Tự Phần, Chánh Tông Phần và Lưu Thông Phần. Kinh ngắn được chia thành ba phần lớn, mà kinh dài cũng chia thành ba phần lớn. Đấy là kết cấu văn tự trong kinh Phật. Bộ kinh này cũng chia thành ba phần lớn; trước hết nói về Tự Phần, nhằm tự thuật duyên do của pháp hội này. Tự Phần được chia thành hai loại, cũng có một quy củ nhất định. Thứ nhất là Chứng Tín Tự (證信序), thứ hai là Phát Khởi Tự (發起序). Chứng Tín Tự được gọi là Lục Chủng Thành Tựu (六種成就, sáu thứ thành tựu). Giảng xong đoạn kinh văn gồm sáu thứ thành tựu ấy, sẽ chứng tỏ kinh này do đức Phật nói, đoạn kinh văn kế tiếp sẽ là phát khởi. Đối với sáu thứ thành tựu, mỗi bộ kinh đều có một đoạn kinh văn này, bất quá là địa điểm khác nhau, số người khác nhau, chứ sáu loại thành tựu đều như nhau. Đối với Phát Khởi Tự, mỗi bộ kinh đều có phần Phát Khởi Tự riêng cho mỗi bộ. Bộ kinh này có phần Phát Khởi Tự nhất định chẳng giống với những bộ kinh khác! Nay tôi nói trước về Chứng Tín Tự, cũng là sáu thứ thành tựu.

2.1. Tự Phần

2.1.1. Chứng Tín Tự

2.1.1.1. Nêu ra thời điểm và nơi chốn của pháp hội

(Kinh) Ngã văn như thị.

          ()我聞如是

          (Kinh: Tôi nghe như thế này).

Bộ kinh này chẳng ghi là “như thị ngã văn” mà là “ngã văn như thị”, khác với văn tự trong các bộ kinh khác, nhưng nghĩa lý chẳng hai. Là vì tiếng Phạn đều viết câu văn theo lối đảo ngữ, đại sư Khang Tăng Khải dịch kinh Vô Lượng Thọ đã đảo lại. “Ngã văn như thị” chính là “như thị ngã văn”, đạo lý chẳng khác nhau. Hãy nhớ, chúng ta thuận theo lời văn để nói, đáng lẽ phải giảng hai chữ “ngã văn” trước, nhưng trong sáu thứ thành tựu, phải nên giảng hai chữ “như thị” trước, vì “như thị” là Tín Thành Tựu. “Biển cả Phật pháp, chỉ có lòng tin là có thể tiến nhập”.

2.1.1.1.1. Như Thị – Tín Thành Tựu

Trước hết, nói về Tín Thành Tựu (信成就). Đối với hai chữ Như Thị (如是), dựa theo cách giải thích của các vị pháp sư thời cổ, như trong bộ Di Lặc Thượng Sanh Sớ do ngài Khuy Cơ biên soạn, Ngài nói đã thấy có ba mươi lăm cách giải thích [chữ Như Thị]. Ngài sưu tập mười sáu cách giải thích hay nhất. Chúng ta chẳng có thời gian để giải thích hai chữ Như Thị theo mười sáu cách, [bởi nói như thế], có thể là suốt cả tuần cũng giải thích không xong. Tôi giảng kinh luôn dựa theo ba cách giải thích từ cạn đến sâu hòng giải thích minh bạch hai chữ Như Thị, lại còn giải thích đến lý luận sâu nhất là đủ rồi.

1) Thứ nhất, hai chữ Như Thị (如是) giải thích nông cạn, dễ hiểu nhất sẽ là “từ ngữ để chỉ pháp”. Như Thị là nói đến bộ kinh này; bộ kinh như thế này là do “ta” (tôn giả A Nan) đích thân nghe từ nơi đức Phật. Phật pháp có thể giải thích nông cạn, mà cũng có thể giải thích sâu xa, chớ đừng giải thích sai! Giải thích nông cạn nhất thì Như Thị nhằm chỉ bộ kinh này.

2) Cách giải thích thứ hai, Như Thị là từ ngữ tín thuận, biểu thị Tín Thành Tựu. Đức Phật nói như thế nào, chúng ta tín thuận như thế ấy. Chẳng tín thuận, sẽ chẳng phải là Như Thị. Như Thị biểu thị sự tín thuận của chúng ta; đấy là có tín tâm, có sự thuận theo, nên gọi là “từ ngữ tín thuận”. Hai cách này giải thích nông cạn nhất.

3) Cách giải thích thứ ba là giải thích thâm nhập hơn đôi chút: Hai chữ Như Thị là từ ngữ để hiển lý. Hiển lý gì vậy? Hiển lộ diệu lý Thật Tướng. Trước hết, tôi giải thích hai chữ Như Thị dựa theo văn tự. Thế nào là Như? Thế nào là Thị? Bất biến thì gọi là Như, chẳng sai thì gọi là Thị. Loại pháp nào chẳng biến động thì gọi là Như, loại pháp ấy quyết định “vô phi”, tức là chẳng sai thì mới nói là Thị, tức là đúng như vậy. Dựa vào ý nghĩa văn tự của hai chữ ấy để hiển lý. Pháp gì thì mới là bất biến? Hết thảy các pháp đều có sanh, trụ, dị, diệt, đều có Thành, Trụ, Hoại, Không, đều là vô thường. Vì sao? Nó sẽ biến động. Mỗi người chúng ta, đều do cha mẹ sanh ra ta nên gọi là Sanh. Hiện thời, vẫn còn ở trong thế gian thì gọi là Trụ, nhưng trụ chẳng lâu dài. Bắt đầu từ [thuở còn là] đứa bé đã biến đổi khác biệt, trẻ nhỏ biến thành người lớn, người lớn biến thành ông già bà cả, đó là Dị (異, khác). Dị là biến dị (變異, đổi khác), biến đổi đến cuối cùng là chết, đã Diệt (滅), chẳng còn nữa. Loài người đã là như vậy, mà hết thảy hữu tình đều là như vậy. Pháp vô tình thì Thành, Trụ, Hoại, Không. Lớn thì như thế giới này, nhỏ thì như một cái bàn, một cái ghế, một chén trà. Thế giới của chúng ta đã hình thành, thành một quả địa cầu, người hiện thời sống trên địa cầu thì gọi là Trụ, nhưng Trụ chẳng lâu xa, dần dần sẽ hoại, đó gọi Thành, Trụ, Hoại. Đã hoại thì địa cầu chẳng còn nữa. Vì sao hiện thời hãy còn có địa cầu? Hiện thời còn chưa đến lúc [địa cầu hư hoại]. Đến tối, quý vị thấy sao băng trên hư không. Đó là tinh cầu bùng nổ, sẽ là Không. To như địa cầu, bé như chén trà, đều là tình trạng ấy, tức Thành, Trụ, Hoại, Không, đều là biến động. Biến động thì chẳng gọi là Như.

          “Diệu lý Thật Tướng, xưa nay chẳng thay đổi thì gọi là Như. Nương vào lý Thật Tướng, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, quyết định chẳng sai thì gọi là Thị”. Hai câu này do Ngẫu Ích đại sư giải thích trong A Di Đà Kinh Yếu Giải; nếu chúng ta nghe rồi mà chẳng hiểu rõ, làm như thế nào để nương vào diệu lý Thật Tướng, niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tuyệt đối chẳng sai, đó là Thị. Như Thị là từ ngữ hiển thị Lý, [tức là] hiển thị diệu lý Thật Tướng ấy. Dựa vào diệu lý Thật Tướng, niệm danh hiệu A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tuyệt đối chẳng sai lầm; đó là Thị. Vì “niệm Phật” là niệm cái tâm của chính mình, đấy chính là “tâm này là Phật”. Cái tâm của ta là diệu lý Thật Tướng. Nương vào cái tâm diệu lý Thật Tướng của ta để niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới; đấy là “tâm này làm Phật”. Nương theo đạo lý, A Di Đà Phật là tự tánh của ta, Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ là cái tâm của ta. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ, muốn chứng đắc “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” thì vẫn là “tâm này làm Phật”“Làm” là tạo tác. Tạo tác chính là niệm danh hiệu A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nương vào diệu lý Thật Tướng để niệm, nương vào cái tâm “tâm này là Phật” để niệm, tuyệt đối sẽ chẳng có sai lầm.

Trong Phật môn, Tịnh Độ được gọi là Hữu Môn. [Bởi lẽ], phương Tây có thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc có một vị A Di Đà Phật, chẳng nói đến Không, mà thực hiện từ Có. Để thực hiện từ Có thì phải khởi sự từ Tín, quyết định phải tin tưởng. “Quyết định phải tin tưởng” chẳng phải là mê tín, chẳng ép buộc quý vị phải tin, chẳng phải là niềm tin theo kiểu “tin vào Thượng Đế sẽ được lên thiên quốc. Chẳng tin sẽ không được, chẳng tin tưởng sẽ đọa địa ngục”. Như vậy thì [Tín trong Tịnh Độ Tông] là như thế nào? Phải nghiên cứu đạo lý này! Trong Phật pháp Đại Thừa ở Trung Hoa, Tịnh Độ Tông là một tông, bảy tông phái kia đều chẳng niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chẳng tán thành tông phái niệm Phật, muốn bài bác đạo lý niệm Phật, vì sao Tịnh Độ Tông có thể kiến lập thành một tông phái, mà họ chẳng thể bài bác được? Vì nó có đạo lý quyết định chẳng bị lay động. Do vậy, quý vị phải tin tưởng điều gì? Tin tưởng niệm A Di Đà Phật là niệm cái tâm của chính mình. Niệm cái tâm của chính mình, vậy thì sanh về Tây Phương vẫn là sanh trong cái tâm của chính mình. Đó là “tâm này là Phật”. Tâm này đã là Phật, cần gì phải niệm? Quý vị chẳng niệm A Di Đà Phật, chẳng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, cái “tâm này là Phật” của quý vị chỉ là lý luận, chỉ là nói suông! Tự tánh Di Đà của quý vị làm sao hiển hiện cho nổi? Hiển hiện không được thì “duy tâm Tịnh Độ của quý vị có hiển lộ hay chăng? Chẳng hiển lộ được! Đấy chẳng phải là biến thành nói suông ư?

Phật pháp là mong liễu sanh thoát tử, là mong vượt thoát luân hồi, chẳng phải do nói suông! Nói suông thì trong lúc quý vị một hơi thở hắt ra, không hít vào được nữa, chuyện gì cũng chẳng làm được, quý vị vẫn phải lưu chuyển sanh tử! Do vậy, quý vị đã hiểu “tâm này là Phật” rồi, vẫn phải “tâm này làm Phật”, dùng cái tâm đã là tâm Phật ấy để tạo thành một vị Phật. “Tạo thành” chính là tu hành, tu như thế nào? Tịnh Độ Tông dạy chúng ta một phương pháp: Niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, sẽ biết A Di Đà Phật là chính bản thân ta, Tây Phương Cực Lạc thế giới là chính mình, chẳng hai, chẳng khác! Nhưng sau khi quý vị đã được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thì mới có thể chứng minh sự thật ấy. Nếu không, sẽ là bàn lý luận suông, vẫn là một gã đại phàm phu!

Trong kinh Duy Ma Cật, có một câu nói rất cao sâu, “tâm tịnh tức thị Phật độ tịnh”, nghĩa là cái tâm của ta đã tịnh thì cõi Phật sẽ tịnh, tức là Tịnh Độ, [vậy thì] còn phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm chi nữa? [Vặn hỏi như thế] chính là chấp Lý phế Sự. Quý vị cứ ngỡ là đã thấu hiểu đạo lý trong kinh Duy Ma Cật; thật ra, quý vị chẳng hiểu rõ! Vì sao quý vị chẳng hiểu rõ? Nói “tâm tịnh thì cõi Phật tịnh” có sai hay chăng? Chẳng sai! Sai lầm ở chỗ quý vị chẳng thấu hiểu, cái tâm của quý vị có tịnh hay chưa? Tâm quý vị chẳng tịnh, [đương nhiên là] cõi Phật của quý vị chẳng thể tịnh. Do vậy, quý vị ở trong thế giới Sa Bà này, vẫn ở trong cõi nước ô nhiễm. Cái tâm đã tịnh thì cõi nước sẽ tịnh theo, [khi ấy], cần gì còn phải sanh về Tây Phương chi nữa? Sanh về Tây Phương vẫn chẳng phải là chuyện tùy tiện, đơn giản đâu nhé, quý vị niệm A Di Đà Phật thì mới có thể sanh về. Niệm A Di Đà Phật, quý vị niệm có công phu, phải niệm đến mức nhất tâm bất loạn thì mới có thể sanh về. Niệm A Di Đà Phật mà niệm đến mức nhất tâm bất loạn tức là khiến cho cái tâm của quý vị tịnh. Niệm A Di Đà Phật là phương pháp gì vậy? Là phương pháp tịnh tâm, niệm đến mức nhất tâm bất loạn, chẳng có hai niệm. Tâm chẳng thanh tịnh mà dần dần trở thành cái tâm thanh tịnh, sẽ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vậy thì quý vị chẳng niệm Phật, tâm quý vị sẽ chẳng tịnh. Chẳng tịnh thì quý vị chẳng sanh về Tây Phương, quý vị vẫn ở trong cõi nước ô nhiễm nơi thế giới Sa Bà, làm chúng sanh khổ não!

Giảng hai chữ Như Thị từ cạn đến sâu, thứ nhất là “từ ngữ chỉ pháp” nhằm chỉ bộ kinh này. Thứ hai là “từ ngữ tín thuận”, đức Phật thuyết pháp, chúng ta tuyệt đối tin tưởng, tuyệt đối thuận tùng, từ ngữ tín thuận gọi là Như Thị. Thứ ba là “từ ngữ để hiển lý”, hiển lộ diệu lý Thật Tướng, xưa nay bất biến thì là Như. Nương vào diệu lý Thật Tướng, niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc, quyết định chẳng sai, đó là Thị.

2.1.1.1.2. Ngã Văn – Văn Thành Tựu

Lại nói đến hai chữ Ngã Văn (我聞). Trong Ngã Văn, Ngã (我) là tôn giả A Nan tự xưng. Thuở đức Phật tại thế, chẳng có kinh bổn. Lời đức Phật nói được gọi là Kinh. Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết Bàn, các đệ tử ghi chép lời Phật thuyết pháp, gọi là kinh Phật, có kinh Tiểu Thừa và kinh Đại Thừa. Kinh Tiểu Thừa cũng do tôn giả A Nan đọc thuộc lòng, tôn giả Ca Diếp làm thủ lãnh, có năm trăm vị đại A La Hán kết tập Kinh Tạng. Kinh Đại Thừa cũng do tôn giả A Nan đọc thuộc lòng, nhưng do Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát kết tập.

Hai chữ Như Thị là Tín Thành Tựu, tuyệt đối phải tin tưởng. “Biển cả Phật pháp, chỉ Tín mới có thể vào”. Hai chữ Ngã Văn là Văn Thành Tựu (聞成就). Quý vị tin mà chẳng nghe kinh sẽ không được! Phật lý cần phải nghe nhiều, tôn giả A Nan đa văn bậc nhất, Ngài đã nêu gương cho chúng ta. Chúng ta lắng nghe cho nhiều, đó gọi là Văn Thành Tựu. Giải thích câu “như thị ngã văn” nông cạn, dễ hiểu nhất, sẽ là “tôi là tôn giả A Nan đích thân được nghe bộ kinh Vô Lượng Thọ này từ chỗ đức Phật”.

(Kinh) Nhất thời, Phật trụ Vương Xá thành, Kỳ Xà Quật sơn trung.

          ()一時,佛住王舍城,耆闍崛山中。

          (Kinh: Một thời, đức Phật ở thành Vương Xá, ngự trong núi Kỳ Xà Quật).

2.1.1.1.3. Thời Thành Tựu

“Nhất thời” (一時) là nói tới thời gian giảng kinh. Đối với thời gian giảng kinh, bất luận bộ kinh nào cũng đều ghi là “nhất thời”, chẳng ghi năm nào, tháng nào, ngày nào. Vì sao? Vì thuở đức Phật tại thế, khắp Ấn Độ có hơn mười sáu nước hùng mạnh, các nước nhỏ còn chưa tính tới. Mỗi nước có tục lệ bất đồng, chẳng có cách nào ghi chép năm, ngày, tháng [thống nhất]. Phật Thích Ca có lúc thuyết pháp tại nhân gian, có khi thuyết pháp trên trời; “năm, tháng, ngày” càng chẳng có cách nào ghi chép. Do vậy, chẳng ghi năm nào, tháng nào, ngày nào, chỉ ghi là Nhất Thời.

Các vị đại đức thời cổ giải thích Nhất Thời như sau: “Sư tư đạo hợp, thuyết thính cứu cánh” (thầy trò hợp đạo, nói nghe rốt ráo). “Sư tư đạo hợp”“Sư” (師) là thầy, “tư” (資) là đệ tử. Thầy giảng kinh, đệ tử nghe kinh, đạo hòa hợp. Thầy muốn giảng kinh, trò muốn nghe kinh, đạo ấy tương hợp thì gọi là “sư tư đạo hợp”. “Thuyết thính cứu cánh”: Thầy nói bộ kinh này đã nói viên mãn. “Cứu cánh” (究竟) có nghĩa là viên mãn. Đệ tử nghe kinh đã nghe viên mãn, nghe đến rốt cùng, đó gọi là “thuyết thính cứu cánh”. Nói gộp chung lại là “sư tư đạo hợp, thuyết thính cứu cánh”, khoảng thời gian ấy được gọi là Nhất Thời.

Thời gian thành tựu hết sức quan trọng. Chẳng có thời gian thành tựu, sẽ chẳng thể giảng kinh. Thuở đức Phật tại thế đã là như thế, hiện thời càng quan trọng hơn! Vì trong hiện thời, thế giới đại loạn, thầy bằng lòng giảng kinh, các vị bằng lòng nghe kinh, mà vẫn chẳng có cách nào mở pháp hội, vì chẳng thái bình! Do vậy, hiện thời chẳng có chiến tranh, chúng ta còn có thể giảng kinh, còn có thể nghe kinh, thời gian này hết sức quý báu, hy vọng mọi người phải nắm vững thời gian quý báu này, đừng nên lãng phí thời gian, phải nghiêm túc nghe, hãy lắng nghe cho kỹ!

2.1.1.1.4. Chủ Thành Tựu

Một chữ Phật là loại thành tựu thứ tư, được gọi là Chủ Thành Tựu (主成就), [nói về] vị chủ trì thuyết pháp. Phật là vị chủ trì thuyết pháp, tiếng Phạn là Phật Đà Da (Buddhaya). Chữ Da là âm cuối trong lời ăn tiếng nói, thường bị lược đi, tiếng Phạn gọi là Phật Đà, dịch sang tiếng Hán là Giác Giả. Giác Giả (覺者) là một vị đại giác ngộ. Vì sao không dịch chữ “bậc đại giác ngộ” thành Giác Giả? Vì chữ Phật Đà trong tiếng Phạn có ba thứ ý nghĩa là “tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn” thì mới gọi là Phật Đà. Ngài đã tự mình giác ngộ, đồng thời sẽ còn giác ngộ người khác, thì gọi là “tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”. Giác hạnh viên mãn chính là “cứu cánh” trong “thuyết thính cứu cánh” (nói và nghe đều rốt ráo) vừa được nói trên đây. Tự giác thì giác đến mức rốt ráo, giác tha thì cũng có thể làm cho người khác giác đến chỗ rốt ráo. Tự giác viên mãn, giác tha viên mãn, đó là “giác hạnh viên mãn”, như thế mới gọi là Phật Đà. Đây chính là danh xưng để gọi bậc độc tôn vượt trỗi chín giới.

Lục phàm pháp giới: Ba thiện đạo và ba ác đạo, sáu đường này đều là phàm phu, gọi là “lục phàm pháp giới”. Lục phàm pháp giới bất giác, bất giác là đang mê. Lục phàm pháp giới mê chứ chẳng giác. Thánh nhân Nhị Thừa đã giác ngộ, mong liễu sanh tử, thoát tam giới, chuyển phàm thành thánh, [tức là] chuyển phàm phu thành thánh nhân, tự mình đã giác ngộ. Hàng Nhị Thừa chẳng phát đại tâm giác ngộ kẻ khác. Phật không chỉ vượt trỗi lục phàm bất giác, mà còn vượt trỗi sự tự giác của hàng Nhị Thừa, lại còn phải giác tha. Đại Thừa Bồ Tát cũng giác tha, nhưng bản thân Đại Thừa Bồ Tát vẫn chưa thành Phật, giác tha chẳng viên mãn, tự giác cũng chẳng viên mãn. Vì vậy, chỉ có thể gọi là Bồ Tát. Phật vượt trỗi Bồ Tát; do đó, Phật vượt trỗi lục phàm pháp giới, vượt trỗi tam thừa thánh nhân pháp giới, là đấng độc tôn vượt trỗi chín pháp giới, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, nên gọi là Phật.

Sáu thứ thành tựu chính là sáu loại nhân duyên, nay ta nói là “hội đủ sáu điều kiện thì mới thành tựu một pháp hội giảng kinh”. Trong sáu điều kiện ấy, Phật là Chủ Thành Tựu, là điều kiện chủ yếu. Năm thứ nhân duyên khác của pháp hội này đều trọn đủ, nhưng chẳng có vị chủ trì thuyết pháp, pháp hội ấy vẫn chẳng thể thành tựu.

Pháp hội giảng kinh của chúng ta trong hiện tại cũng giống như thế, chẳng có pháp sư, làm sao pháp hội thành tựu cho được? Do vậy, mời một vị pháp sư đến giảng kinh cho chúng ta, pháp sư là điều kiện chủ yếu, rất quan trọng, rất ư quan trọng! Nếu gặp đức Phật giảng kinh, quý vị có thể ngay lập tức đại triệt đại ngộ. Không chỉ là đại triệt đại ngộ, mà còn có thể ngay lập tức chứng quả, vì đức Phật thuyết pháp ứng theo căn cơ, giống như danh y trị bệnh. Danh y, chẳng phải là dung y (庸醫, thầy thuốc dốt nát, vụng về). Người ấy vừa nhìn là có thể thấy căn nguyên bệnh tật của quý vị, một thang thuốc uống vào đã lành bệnh. Dung y cũng mong trị lành bệnh cho quý vị, nhưng chẳng tìm ra căn nguyên chứng bệnh. Trước hết, cho quý vị uống một, hai thang thuốc thử xem; do vậy, sẽ tốn thời gian. Nếu gặp Phật, quý vị đến nghe pháp, sẽ đạt được lợi ích rất lớn. Không chỉ là khai ngộ, mà còn chứng quả. Đáng tiếc là chúng ta chẳng đủ thiện căn để chẳng ra đời trước Phật hay chẳng ra đời sau Phật. Trước Phật và sau Phật là một trong tám nạn, học Phật pháp gặp phải nạn duyên (難緣, duyên gây chướng nạn). Tức là khi Phật Thích Ca xuất thế, chẳng biết chúng ta đang đọa địa ngục ở nơi đâu? Đợi đến khi quý vị từ địa ngục thoát ra, Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn hơn hai ngàn năm, đấy là sự bất hạnh của chính mình! May là hiện thời có kinh Vô Lượng Thọ, nghe xong hãy khéo phát tâm, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương, thân cận A Di Đà Phật. Quý vị đến Tây Phương nghe A Di Đà Phật thuyết pháp, hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, nhanh chóng khai Phật huệ. Ở bên ấy rất nhanh chóng, vì A Di Đà Phật biết căn cơ của chúng ta, Ngài có thể ứng cơ mà thuyết pháp.

“Đốn khai Phật huệ” là ngay lập tức mở mang trí huệ của Phật. Nay nói đến pháp hội của chúng ta, pháp sư Đạo Nguyên tôi đây làm chủ. Tôi chẳng dám kiêu căng, ngã mạn, nói Đạo Nguyên lỗi lạc cỡ nào! Tôi muốn kính khuyên quý vị, quý vị hãy khéo lắng nghe. Vì Đạo Nguyên đã giảng kinh vài chục năm, tôi có thể giải thích văn tự cho quý vị, giải thích ý nghĩa, nêu rõ lý, khuyên tu hành, chắc chắn sẽ nói đơn giản sao cho quý vị hiểu rõ. Trong kinh Phật, Phật Thích Ca cũng khuyên chúng ta “danh sư nan ngộ” (bậc thầy hữu danh khó gặp), tôi không đáng được coi là danh sư, nhưng tôi có thể giảng kinh Phật rõ ràng cho quý vị. Hiện thời đã đến thời đại Mạt Pháp, quý vị muốn tìm một vị pháp sư giảng đơn giản, dễ hiểu cho quý vị thì vẫn là khó gặp. Quý vị chẳng biết pháp sư Đạo Nguyên giảng được lắm, hằng ngày cứ dấy vọng tưởng chuyện này, chuyện kia, quý vị có quá nhiều chuyện, chẳng đến nghe. Về sau, quý vị muốn tìm Đạo Nguyên, có còn tìm được nữa chăng? Tôi nói những lời này chẳng phải là tâng bốc chính mình, mà nhằm khuyên quý vị phát tâm muốn nghe pháp, phải nghiêm túc nghe cho hết bộ kinh Vô Lượng Thọ này!

2.1.1.1.5. Xứ Thành Tựu

“Phật trụ Vương Xá thành, Kỳ Xà Quật sơn trung”: Đức Phật ở tại thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật. Đấy là món thành tựu thứ năm, tức Xứ Thành Tựu (處成就). Xứ (處) là xứ sở, tức là chỗ để giảng kinh.

“Vương Xá thành” là tên gọi của một kinh đô. Không giảng kinh trong thành Vương Xá (Rājagṛha) mà là ở trên núi ngoài thành, quả núi ấy tên là “Kỳ Xà Quật sơn” (Gṛdhrakūṭa), dịch sang tiếng Hán là Linh Thứu Sơn. “Thứu” (鷲) là chim ưng, được gọi là “thứu điểu” (鷲鳥). Loài ưng này rất có linh cảm, nên gọi là Linh Thứu. Cổ nhân có mấy cách giải thích:

1) Một cách nói là loài chim thứu này có linh khí. Loại linh thứu ấy sống trong núi đó, nên gọi là Linh Thứu Sơn.

2) Một cách giải thích khác, núi ấy có hình dáng giống như đầu chim thứu; do vậy còn gọi là Thứu Đầu Sơn (鷲頭山, núi có hình đầu chim ưng). Năm xưa, Đạo Nguyên triều bái thánh địa, đã đến triều bái núi Linh Thứu, [quả thật trông thấy núi ấy] có hình dáng như đầu chim thứu, nên gọi là Linh Thứu Sơn. Kinh Vô Lượng Thọ được nói ở núi Linh Thứu, kinh Pháp Hoa nổi tiếng nhất cũng được giảng tại núi Linh Thứu. Tôi đến triều bái thánh địa, cùng rất nhiều người triều bái Linh Thứu Sơn. Sáng sớm thức dậy, tôi cùng mười mấy người cùng nhau trèo lên núi, triều bái Linh Thứu Sơn. Trèo lên đầu núi, chẳng có khoảng đất trống nào. Như trong giảng đường của chúng ta lớn hay nhỏ, sẽ có chỗ dựng tháp. [Trên núi Linh Thứu] chẳng có tháp. Vào hơn một ngàn năm trước, Phật giáo Ấn Độ đã bị lũ giặc Hồi Giáo hủy hoại, toàn thể các thánh địa Phật giáo tại Ấn Độ đều bị phá hoại, tất cả các tòa tháp đều bị phá hoại. Mọi người đến Linh Thứu Sơn đều thắp nhang, lễ bái. Do nhang mang theo chẳng có lư hương, đều cắm xuống đất. Tôi cũng mang theo nhang để cắm, cũng khấu đầu đảnh lễ, nhưng trong lòng hoài nghi, cớ sao chẳng có chỗ đất trống, nói kinh Pháp Hoa thì nói như thế nào đây? Nói kinh Pháp Hoa lâu đến tám năm, đương nhiên là bậc đại Bồ Tát đều có thể tĩnh tọa trong hang đá. Kinh Pháp Hoa có nói người nghe pháp trong pháp hội khi ấy quá đông, Thích Ca Mâu Ni Phật phải mở rộng thế giới Sa Bà. Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Còn có các quốc vương, đại thần, phàm phu, họ chẳng thể ngồi trong hang đá, ngồi ở chỗ nào đây? Trong tâm rất hoài nghi, nhưng chẳng dám nói. Triều bái thánh địa dựa vào tín tâm của chúng ta, khấu đầu đảnh lễ là được rồi. Đợi đến khi xuống núi Linh Thứu, đi về phía trước, thấy có một tấm biển, hiện thời, Phật giáo tại Ấn Độ đã bị hủy hoại, Bà La Môn giáo cũng hủy báng Phật giáo, nhưng họ muốn chèo kéo khách nước ngoài đến vãn cảnh, [cho nên] phải sửa sang những thánh tích ấy. Ở chỗ nói kinh Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, có một tấm biển viết bằng tiếng Anh, tôi không đọc được, người phiên dịch vừa thấy bèn nói: Phía dưới có một di tích cũ gọi là tháp Pháp Hoa. Trong tâm tôi dấy lên ý niệm, “đã có câu trả lời rồi!” Tháp Pháp Hoa nhất định là nơi để nói kinh Pháp Hoa, cách đó không xa lắm. Trông thấy tháp ấy có một tấm biển, nói rõ tháp vốn có bảy tầng để kỷ niệm nơi [đức Phật nói] kinh Pháp Hoa. Do bọn giặc Hồi kéo đến, ngay cả tháp lẫn tự viện đều bị phá hoại. Tín đồ chẳng có cách nào, tự mình phá hủy bốn tầng, chừa lại ba tầng dưới, dùng đất vùi lấp. Nay đào đất ra, mới có ba tầng tháp Pháp Hoa ấy, tôi mới tìm được câu trả lời. Đức Phật nói kinh Pháp Hoa là nói ở dưới chân núi Linh Thứu, chẳng phải là ở trên đỉnh núi. Ngọn núi giống như đầu chim linh thứu, nên gọi là Linh Thứu Sơn.

Xứ Thành Tựu là nhân duyên rất quan trọng. Chẳng có một nơi chốn thì giảng kinh sẽ giảng ở chỗ nào? Tôi vừa mới nói Phật, Bồ Tát có thể giảng trên hư không, hoặc giảng trên trời, nhưng phàm phu sẽ chẳng có cách nào được lợi ích nghe pháp, nhất định phải có một xứ sở [trong nhân gian]. Nay chúng ta cũng vậy, giảng kinh ắt cần phải có giảng đường. Chẳng có giảng đường, sẽ giảng ở chỗ nào, nghe ở chỗ nào? Vì thế, điều kiện xứ sở hết sức quan trọng!

Kế tiếp là món thành tựu thứ sáu, gọi là Chúng Thành Tựu (眾成就). Pháp hội đã có năm thứ thành tựu trên đây, nhưng chẳng có người nghe kinh, vẫn chẳng thể thành tựu. Dưới đây là các vị đại tỳ-kheo và các vị đại Bồ Tát. Những vị thính chúng nghe kinh ấy được gọi là Chúng Thành Tựu.

2.1.1.2. Liệt kê đại chúng cùng nghe kinh

2.1.1.2.1. Thanh Văn chúng

2.1.1.2.1.1. Phân định rõ loại đại chúng này

(Kinh) Dữ đại tỳ-kheo chúng.

          ()與大比丘眾。

          (Kinh: Cùng các vị đại tỳ-kheo).

[Kinh chép] “dữ đại tỳ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu, nhất thiết đại thánh, thần thông dĩ đạt” (cùng các vị đại tỳ-kheo một vạn hai ngàn người nhóm họp, hết thảy đại thánh thần thông đã đạt). “Dữ đại tỳ-kheo chúng” (Và các vị đại tỳ-kheo) nhằm trước hết nói về chúng Thanh Văn, cũng là chúng tỳ-kheo. Đức Phật là vị chủ thuyết pháp, đức Phật cùng các vị đại tỳ-kheo [tụ tập giảng kinh, nghe kinh]. Tỳ-kheo (Bhikṣu) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán có ba ý nghĩa, tức Bố Ma, Khất Thực và Phá Ác.

1) Khi tỳ-kheo sắp đăng tỳ-kheo đàn, thọ giới tỳ-kheo, cung ma chấn động, ma vương kinh hãi, nên gọi là Bố Ma (怖魔, làm cho ma kinh hoàng).

2) Người ấy xuất gia, bỏ hết tài sản trong nhà để xuất gia. Sau khi đã xuất gia thì phải ôm bát xin cơm, nên gọi là Khất Thực (乞食).

3) Vì sao phải bỏ tài sản trong nhà? Vì đoạn phiền não, phá trừ ác pháp, nên gọi là Phá Ác (破惡).

Tỳ-kheo đứng đầu trong bốn chúng đệ tử của Phật. Loại thứ hai là tỳ-kheo- ni, người nữ xuất gia thì gọi là tỳ-kheo-ni. “Ni” (尼) [trong tiếng Phạn] là nữ, [danh xưng] tỳ-kheo-ni (Bhikṣuni) cũng bao hàm ba ý nghĩa (Bố Ma, Khất Thực, Phá Ác) trên đây. Hai loại đệ tử tại gia là Ưu-bà-tắc (Upāsaka, cận sự nam) và Ưu-bà-di (Upāsikā, cận sự nữ). Nêu ra loại thứ nhất là tỳ-kheo, nhưng trên thực tế, bốn loại đệ tử đều có.

“Đại tỳ-kheo”Đại là tỳ-kheo Đại Thừa. Kinh Vô Lượng Thọ thuộc về kinh điển Đại Thừa. Các vị ấy vốn học pháp Thanh Văn, trước là học pháp Tiểu Thừa, nên gọi là tỳ-kheo. Đến pháp Đại Thừa, các vị ấy hồi Tiểu hướng Đại, nên gọi là “đại tỳ-kheo”.

“Chúng”: Tỳ-kheo là một chúng. “Chúng” (眾) là dịch từ hai chữ Tăng Già. Chúng ta niệm kinh A Di Đà thấy chép “đại tỳ-kheo tăng”, [ở đây] dịch chữ Tăng thành Chúng.

2.1.1.2.1.2. Biện định số lượng

(Kinh) Vạn nhị thiên nhân câu.

          ()萬二千人俱。

          (Kinh: Một vạn hai ngàn người nhóm họp).

Những kinh khác đều nói là một ngàn hai trăm năm mươi người, bộ kinh Vô Lượng Thọ này nêu ra số lượng tỳ-kheo rất đông, có đến một vạn hai ngàn người. Một vạn hai ngàn người là nói về Thường Tùy Chúng, số lượng những người nghe pháp khác còn nhiều hơn nữa.

2.1.1.2.1.3. Tán thán đức hạnh của các ngài

(Kinh) Nhất thiết đại thánh, thần thông dĩ đạt.

()一切大聖,神通已達。

(Kinh: Hết thảy đại thánh, thần thông đã đạt).

“Đại thánh” nếu chỉ nói theo Thanh Văn Thừa sẽ là Tứ Quả A La Hán. Chứng Sơ Quả thì gọi là thánh nhân, Nhị Quả, Tam Quả cũng gọi là thánh nhân, chẳng gọi là đại thánh. Chứng đắc Tứ Quả mới được gọi là đại thánh. [Chữ Đại Thánh] không chỉ là nói về Tứ Quả A La Hán, mà còn nhằm nói đến thánh nhân Đại Thừa. Các Ngài đã chứng quả A La Hán, lại học pháp Đại Thừa. Tam Hiền, Thập Thánh8 đều có thể chứng đắc; do vậy, gọi là thánh nhân Đại Thừa.

“Thần thông dĩ đạt”: Nói thông thường, có sáu loại thần thông, tức Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Túc Mạng Thông, Tha Tâm Thông, Thần Túc Thông, và Lậu Tận Thông. Sáu loại thần thông này không gì chẳng thông đạt, nhưng phải nhớ: “Thần thông dĩ đạt” ở sau “nhất thiết đại thánh”, [hàm nghĩa] quý vị đã chứng đắc địa vị thánh nhân Đại Thừa, tự nhiên sẽ là “thần thông đã đạt”. Học Phật pháp thì trước hết là học đoạn phiền não. Đã chứng thánh quả, chẳng cần phải cầu thần thông. Quý vị đã chứng đắc quả vị thánh nhân, tự nhiên sẽ có thần thông. Quý vị học Phật pháp mà học thần thông trước, chưa đạt được thần thông mà đã bị ma dựa trước! Bị ma dựa, sẽ sanh ra bệnh thần kinh. Điều này rất quan trọng, hãy nhớ kỹ!

2.1.1.2.1.4. Liệt kê danh xưng

(Kinh) Kỳ danh viết: Tôn giả Liễu Bổn Tế, tôn giả Chánh Nguyện, tôn giả Chánh Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Châu Na, tôn giả Mãn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tánh, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan, giai như tư đẳng thượng thủ giả dã.

()其名曰:尊者了本際、尊者正願、尊者正語、尊者大號、尊者仁賢、尊者離垢、尊者名聞、尊者善實、尊者具足、尊者牛王、尊者優樓頻螺迦葉、尊者伽耶迦葉、尊者那提迦葉、尊者摩訶迦葉、尊者舍利弗、尊者大目犍連、尊者劫賓那、尊者大住、尊者大淨志、尊者摩訶周那、尊者滿願子、尊者離障、尊者流灌、尊者堅伏、尊者面王、尊者異乘、尊者仁性、尊者嘉樂、尊者善來、尊者羅云、尊者阿難,皆如斯等上首者也。

(Kinh: Tên các Ngài là tôn giả Liễu Bổn Tế, tôn giả Chánh Nguyện, tôn giả Chánh Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Châu Na, tôn giả Mãn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tánh, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan, đều là các bậc thượng thủ như vậy).

Tiếp đó là ba mươi mốt vị tôn giả. Chúng ta niệm kinh A Di Đà, thấy nêu tên mười sáu vị tôn giả, bộ kinh Vô Lượng Thọ này nêu ra ba mươi mốt vị tôn giả. “Tôn giả” có ý nghĩa giống như “trưởng lão” (Mahāthera) trong Tiểu Bổn A Di Đà Kinh, tức là “đức lạp câu túc”, có nghĩa là đạo đức cao, giới lạp9 lớn, vì thế gọi là Trưởng Lão. Ở đây, “tôn giả” có ý nghĩa đạo đức lẫn giới lạp đều trọn đủ, nên mới được người khác tôn kính, cũng có nghĩa là vị ấy đạo đức to lớn, giới lạp sâu dầy, nên mới gọi là Tôn Giả. Nếu phối hợp với đoạn văn trước thì không chỉ là đại tỳ-kheo, mà còn là thánh nhân Đại Thừa. Vì thế, gọi là Tôn Giả. Cả ba mươi mốt vị trên đây đều là Tôn Giả.

Vị thứ nhất là Liễu Bổn Tế. Phật Thích Ca thành Phật, trước hết độ năm vị tỳ-kheo, vị khai ngộ đầu tiên là Kiều Trần Như (Ājñātakauṇḍinya), dịch sang tiếng Hán là Liễu Bổn Tế. “Liễu” (了) là liễu đạt (了達). Bổn Tế (本際) là bản tánh. Ngài khai ngộ Phật Tánh mà chính mình sẵn có, đã thông đạt cái lý sẵn có [trong tự tâm], nên gọi là Liễu Bổn Tế. Đức Phật độ năm vị tỳ-kheo, Ngài là người khai ngộ đầu tiên, nên được nêu tên đầu tiên. Liễu Bổn Tế là Kiều Trần Như. Theo kinh Kim Cang, đời trước, Kiều Trần Như là vua Ca Lợi (Kalābu). Ca Lợi Vương dịch sang tiếng Hán là Cực Ác Quốc Vương! Khi Thích Ca Mâu Ni Phật còn chưa thành Phật, Ngài làm Nhẫn Nhục tiên nhân (Kșhāntivāda), tu hạnh nhẫn nhục, gặp phải vua Ca Lợi không nói đạo lý. Ông ta là quốc vương có thế lực, cầm thanh gươm chặt đứt chân tay của Nhẫn Nhục. Khi ấy, Nhẫn Nhục tiên nhân phát nguyện: “Ta tuyệt đối chẳng có tâm sân hận. Nay ta phát nguyện, trong tương lai thành Phật, sẽ độ ngươi đầu tiên”. Khi đó, ác quốc vương sanh lòng hổ thẹn, cầu sám hối; từ đấy trở đi, sửa lỗi, hướng thiện. Nhẫn Nhục tiên nhân tu hành thành Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật, vua Ca Lợi cũng tu hành, tu cho đến khi Phật Thích Ca xuất thế, Ngài bèn xuất gia làm tỳ-kheo, tức Kiều Trần Như. Do vậy, đức Phật độ người đầu tiên là vua Ca Lợi.

Đây là nói đến Tự Phần của bộ kinh này, mọi người nghe kinh Phật phải chú ý. Kinh Phật ví như ăn mật, chính giữa hay ngoài rìa đều ngọt. Nghe kinh thì nghe từ đầu, nghe khúc giữa, hay nghe phần sau, [đều là] “sơ thiện, trung thiện, hậu thiện”. Bắt đầu nghe là sự tốt đẹp ban đầu. “Thiện” là tốt đẹp. Trung gian cũng là thiện hảo, nghe đoạn cuối cùng là Lưu Thông Phần vẫn tốt đẹp. Giống như ăn mật ong, quý vị ăn miếng thứ nhất là ngọt, miếng thứ hai cũng ngọt, ăn đến miếng cuối cùng vẫn ngọt. Chính giữa hay ngoài rìa đều ngọt. Quý vị nghe đến đâu bèn học đến đó. Sau danh hiệu của những vị tôn giả này, [kinh còn nêu] công đức của hàng Bồ Tát, đều nhằm dạy chúng ta học, nêu gương cho chúng ta. Danh hiệu của Phật được gọi là “vạn đức hồng danh”, “hồng danh” (洪名) tức là đại danh (danh xưng to lớn), thường nói là “đại danh đỉnh đỉnh” (大名鼎鼎, danh cao chót vót, danh nổi như cồn). Ngài có danh xưng to lớn, to cỡ nào? Trọn đủ một vạn công đức, gọi là “vạn đức hồng danh”. Những vị tôn giả ấy, danh hiệu của mỗi vị đều có đủ một phần công đức, hợp lại thành một vạn hai ngàn vị, tức là có một vạn hai ngàn công đức. Những điều này đều nhằm bảo chúng ta hãy học theo.

Vị tôn giả thứ nhất là Liễu Bổn Tế. Trước hết, quý vị phải hiểu rõ chính mình vốn sẵn có Phật Tánh. Đấy là công phu thuộc bước đầu tiên. Quý vị chẳng hiểu rõ Phật Tánh, làm sao có thể chứng thánh quả cho được? Do vậy nói: “Giảng đến đâu, học đến đó”. Liễu đạt bổn tánh tức là chính mình khai ngộ, ngộ Phật Tánh vốn có của chính mình, minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ. Kiến tánh là đã thấy Bổn Tế, làm thế nào để có thể thấy Bổn Tế? Quý vị đoạn phiền não, đoạn ba căn bản phiền não, tức là tham, sân, si. Tham, sân, si là căn bản phiền não, nhưng dữ dội nhất là sân phiền não. Quý vị dấy lòng sân khuể, không chỉ là chẳng thể tu hành, mà tất cả công đức của quý vị đều bị phá hoại. Do vậy, “lửa sân khuể có thể đốt trụi rừng công đức”. Đó gọi là “một niệm sân tâm khởi, trăm vạn chướng môn khai”. Nó có thể dẫn đến khá nhiều chướng ngại. Vì thế, thứ nhất là quý vị phải đoạn sân hận phiền não. Chẳng đoạn cái tâm sân khuể, quý vị sẽ vĩnh viễn chẳng thể liễu Bổn Tế. Vì sao nói đến Kiều Trần Như, nói đến kinh Kim Cang? Vì kinh Kim Cang mọi người đều đã niệm, có thể là có người chưa từng niệm kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Kim Cang đặc biệt hữu duyên với người Hoa. Ai nấy đều biết công án này. Nói đến công án ấy có phải là đã đi quá xa [chủ đề đang giảng] hay không? Chẳng xa! Quý vị muốn học được, muốn liễu Bổn Tế, phải đoạn cái tâm sân hận. Để độ chúng sanh thì phải là oán thân bình đẳng. Phật Thích Ca làm Nhẫn Nhục tiên nhân vì sao có thể thành Phật? Oán thân bình đẳng. Đối với vua Ca Lợi đã chặt đứt chân tay mình, đức Phật phát nguyện độ nhà vua trước. Đối với oan gia đối đầu thì phải bình đẳng. Ngay khi ấy, vua Ca Lợi cầu sám hối, bằng lòng học theo Ngài; kết quả là Phật Thích Ca đã thành Phật, vua Ca Lợi chuyển sanh làm Kiều Trần Như, bèn khai ngộ đầu tiên, liễu đạt bản tánh, đều là do đoạn cái tâm sân hận thì mới đạt được lợi ích chân thật trong Phật pháp.

Vị thứ hai là tôn giả Chánh Nguyện (tức ngài Mã Thắng – Aśvajit). “Nguyện” (願) là chí nguyện, ngoại đạo phát nguyện thì là tà nguyện, hàng Nhị Thừa phát nguyện thì là “thiên nguyện” (偏願, nguyện lệch lạc). Ngoại đạo tà chứ chẳng chánh, hàng Nhị Thừa thì thiên lệch, chẳng chánh. Phải là nguyện do đệ tử Đại Thừa đã phát thì mới là “chánh nguyện”, tức là mong tự lợi, lợi người khác. Phát Bồ Đề đại nguyện như vậy thì là “chánh nguyện”.

Vị thứ ba là tôn giả Chánh Ngữ (tức ngài Ly Bà Đa – Revata). Trong Bát Chánh Đạo có Chánh Ngữ (Samyag-vāk). Ngữ (語) có nghĩa là nói năng. Lời lẽ của phàm phu đều là ngu si, điên đảo, chẳng gọi là Chánh Ngữ. Lời nói của ngoại đạo là lời lẽ tà tri, tà kiến, cũng chẳng gọi là Chánh Ngữ. Nếu có thể nói pháp Đại Thừa, rộng độ hết thảy chúng sanh thì mới là Chánh Ngữ. Vì những gì quý vị nói ra đều có thể lợi ích chúng sanh, gieo thiện căn cho chúng sanh, khuyên dạy chúng sanh phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, độ hết thảy chúng sanh đều thành Phật. Lời lẽ nào cũng đều chẳng chánh đáng bằng những lời này. Vì thế, lời lẽ nói về pháp Đại Thừa được gọi là Chánh Ngữ. [Vị tôn giả Chánh Ngữ này] đối ứng với tôn giả Chánh Nguyện trong phần trên. Chúng ta học phát đại nguyện Bồ Đề, mong độ hết thảy chúng sanh, độ bằng cách nào? Quý vị học giảng kinh, học Chánh Ngữ. Chẳng biết giảng kinh thì phải học. Giảng kinh thì không biết giảng, do không biết giảng mới phải học. Phải học giảng kinh thì mới có thể thỏa mãn đại nguyện Bồ Đề của quý vị.

Vị thứ tư là tôn giả Đại Hiệu (Mahānāma). Hiệu (號) là tên gọi. [Đại Hiệu là] danh hiệu to lớn, tức là có tiếng tăm to lớn. Tham danh, tham lợi là phiền não. Đức Phật đại danh, cái danh ấy hoàn toàn chẳng do tham mà có. Thanh danh là “thật chí danh quy” (có thực chất thì sẽ nổi tiếng). Có công đức chân thật, tự nhiên chúng sanh biết đến đại danh. Vì thế, gọi là Đại Hiệu, tức là danh hiệu to lớn.

Vị thứ năm là tôn giả Nhân Hiền (Bhadrika). Có lòng nhân từ và hiền đức thì gọi là Nhân Hiền.

Vị thứ sáu là tôn giả Ly Cấu. Cấu (垢) là phiền não. Xa lìa phiền não tức là xa lìa ô nhiễm thì là Ly Cấu.

Vị thứ bảy là tôn giả Danh Văn. Tiếng tăm thông thấu trọn khắp, vị này chính là ngài Ma Ha Câu Hy La (Mahākausthila) trong kinh A Di Đà, vấn đáp bậc nhất.

Vị thứ tám là tôn giả Thiện Thật. Có đức hiền thiện, có đức chân thật, nên gọi là Thiện Thật.

Vị thứ chín là tôn giả Cụ Túc, [hàm ý] phước trọn đủ, huệ trọn đủ. Do phước lẫn huệ đều trọn đủ, nên gọi là Cụ Túc.

Vị thứ mười là tôn giả Ngưu Vương. “Ngưu vương” (牛王, trâu chúa) là từ ngữ để tán thán. Ấn Độ tán thán một người nào lỗi lạc thì khen là Ngưu Vương, hoặc ca ngợi là Tượng Vương (象王, voi chúa), chẳng phải là Ngưu Ma Vương trong Tây Du Ký! Ngưu Vương [ở đây] chính là tôn giả Kiều Phạm Ba Đề (Gavāṃpati) như chúng ta niệm trong kinh A Di Đà, còn dịch là Ngưu Tư (牛呞, trâu nhơi). Vì đời trước Ngài thốt ra một câu ác khẩu, do có một vị tỳ-kheo già đã rụng răng, trong khi ứng cúng, tướng miệng nhai rất khó coi. Ngài nói vị tỳ-kheo già ấy ăn cơm giống như trâu đang nhơi cỏ. Do thốt ra một câu nói ác miệng ấy, chuốc lấy quả báo! Đời kế tiếp, Ngài bị tướng xấu ấy, ăn cơm giống như trâu nhơi cỏ. Về sau, khi Ngài chẳng ăn cơm, miệng vẫn nhóp nhép. Do vậy, mọi người trông thấy đều cười cợt Ngài. Cười cợt đều là tạo khẩu nghiệp. Vì thế, đức Phật chẳng cho Ngài thọ cúng dường trong nhân gian, mà bảo Ngài đến nhận sự cúng dường của cõi trời. Chư thiên có thần thông, biết đời trước Ngài đã tạo ra cái nghiệp ác khẩu, mắc lấy quả báo, ai cũng đều chẳng dám cười cợt Ngài. Vì thế, Ngài được xưng tụng là “thọ thiên cúng dường đệ nhất” (được cõi trời cúng dường bậc nhất). Vì Ngài là một vị A La Hán, Ngài lại hồi Tiểu hướng Đại; do đó, tán thán Ngài là Ngưu Vương.

Vị thứ mười một là tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvā-kāśyapa), dịch sang tiếng Hán là Mộc Qua Lâm (rừng cây đu đủ). Ngài tu đạo là tu hành trong rừng Mộc Qua.

Vị thứ mười hai là tôn giả Già Da Ca Diếp (Gayā-kāśyapa). Chữ Diếp (葉) [trong tiếng Phổ Thông] đọc là Shè (ㄕㄜˋ), [Già Da trong] tiếng Hán là Tượng Đầu Sơn (núi đầu voi). Ngài tu hành ở Tượng Đầu Sơn.

Vị thứ mười ba là tôn giả Na Đề Ca Diếp (Nadī-kāśyapa). Na Đề là sông. Ngài tu hành ở bên sông.

Ba vị tôn giả trên đây được gọi là Tam Ca Diếp. Ba anh em các Ngài đều xuất gia học theo ngoại đạo, cầm đầu ngoại đạo. Ba người các Ngài được đức Phật giáo hóa. Tính gộp cả đồ chúng vốn có của ba vị là một ngàn người, đều cùng nhau theo Phật xuất gia.

Vị thứ mười bốn là tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahākāśyapa), dịch sang tiếng Hán là Đại Ẩm Quang (大飲光). Quang minh trên thân ngài có thể hút mất các thứ quang minh khác. Sau khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, Ngài là Tổ Sư đời thứ nhất của Thiền Tông, là vị Đầu Đà bậc nhất. Đệ tử Phật có năm vị tôn giả Ca Diếp, bộ kinh này chỉ nói bốn vị. Trong năm vị tỳ-kheo được đức Phật hóa độ [đầu tiên], có một vị tên là Thập Lực Ca Diếp (Daśabalakāśyapa).

Vị thứ mười lăm là tôn giả Xá Lợi Phất (Śāriputra). Xá Lợi Phất dịch sang tiếng Hán là Thân Tử (身子), còn dịch là Thu Tử (鶖子). Xá Lợi (Śāri) là tên của mẹ ngài Xá Lợi Phất. Vì thân tướng của mẹ Ngài trang nghiêm, nên dịch thành Thân Tử. Mắt của mẹ ngài Xá Lợi Phất rất xinh đẹp, giống như mắt chim Thu, nên có tên là Thu Tử. Trong chúng Thanh Văn, Ngài là trí huệ bậc nhất, cũng là bậc đương cơ trong kinh Di Đà.

Vị thứ mười sáu là tôn giả Đại Mục Kiền Liên (Mahā-Maudgalyayana), dịch sang tiếng Hán là Đại Thái Thục Thị. Thái Thục Thị (采菽氏) là họ của Ngài, Ngài thần thông bậc nhất.

Vị thứ mười bảy là tôn giả Kiếp Tân Na (Kappina), dịch sang tiếng Hán là Phòng Tú (房宿)10. Cha mẹ Ngài cầu đảo sao Phòng Tú mà sanh ra Ngài.

Vị thứ mười tám là tôn giả Đại Trụ. Hồi Tiểu hướng Đại, nghe pháp Đại Thừa rồi hành đạt đến địa vị Tam Hiền, đạt tới địa vị Thập Trụ, gọi là “nhập Trụ”. Chẳng thoái chuyển, đạt đến Đăng Địa Bồ Tát thì là Đại Trụ. Ngài đích thân chứng Pháp Thân nên gọi là Đại Trụ.

Vị thứ mười chín là tôn giả Đại Tịnh Chí. Chí (志) là chí nguyện. Phát đại nguyện, độ hết thảy chúng sanh. Tịnh (淨) là thanh tịnh. Phát đại nguyện độ hết thảy chúng sanh mà chẳng chấp tướng thì gọi là Đại Tịnh Chí.

Vị thứ hai mươi là tôn giả Ma Ha Châu Na. Ma Ha là đại, Châu Na là diệu lý. [Ma Ha Châu Na là] đại diệu lý. Ngài chứng đắc diệu lý Thật Tướng chẳng thể nghĩ bàn.

Vị thứ hai mươi mốt là tôn giả Mãn Nguyện Tử, còn gọi là Mãn Từ Tử. Đấy là tên dịch theo nghĩa của danh xưng Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử (Purna Maitrayani-putra) trong tiếng Phạn. Ngài thuyết pháp bậc nhất.

Vị thứ hai mươi hai là tôn giả Ly Chướng. Xa lìa tam chướng, tức Hoặc chướng, nghiệp chướng, và báo chướng.

Vị thứ hai mươi ba là tôn giả Lưu Quán. Lưu (流) tức là pháp lưu, giảng kinh thuyết pháp cho người khác nghe. Quán (灌) là tưới đẫm, giáo hóa hết thảy chúng sanh, dùng pháp tưới đẫm chúng sanh.

Vị thứ hai mươi bốn là tôn giả Kiên Phục. Dùng tâm kiên cố để hàng phục hết thảy phiền não.

Vị thứ hai mươi lăm là tôn giả Diện Vương, mặt như trăng tròn. Đức Phật có ba mươi hai tướng, mặt như trăng tròn, đấy là một trong các tướng hảo. Vị tỳ-kheo này có tướng hảo ấy. Đức Phật tán thán tỳ-kheo Diện Vương, giống như Tử Lộ của Nho gia, Ngài mặc ca-sa rách, còn quý vị ăn vận đẹp đẽ cách mấy vẫn chẳng sánh bằng Ngài. Ngài có công phu ấy.

Vị thứ hai mươi sáu là tôn giả Dị Thừa. Dị Thừa là khác với Nhị Thừa. Dị (異) là không giống nhau. Ngài hồi Tiểu hướng Đại, hành hạnh Đại Thừa.

Vị thứ hai mươi bảy là tôn giả Nhân Tánh. Nhân Tánh là bản tánh nhân từ.   Vị thứ hai mươi tám là Gia Lạc, Gia (嘉) là rất tốt đẹp. Ngài có pháp lạc tươi đẹp, tốt lành.

Vị thứ hai mươi chín là tôn giả Thiện Lai (Susvāgata). Thiện Lai là thiện căn chín muồi. “Thiện lai tỳ-kheo”: Quý vị đến đây tốt lắm, nên gọi là Thiện Lai. Người ấy thiện căn chín muồi, gặp Phật bèn đắc độ, khai ngộ, chứng quả. Người ấy thiện căn chín muồi, còn thiếu một bước gặp Phật [là có thể đắc độ]. Sau khi Phật Thích Ca thành Phật, vị ấy đến xuất gia, đức Phật quan sát căn cơ của chúng sanh. Vừa trông thấy thiện căn của người ấy đã chín muồi, quý vị đến đây hay quá! [Bèn gọi] “Tỳ-kheo! Thiện lai tỳ-kheo”. Vừa gọi, [người ấy] râu tóc tự rụng, y ca-sa choàng trên thân, nhất thời chứng Tứ Quả.

Vị thứ ba mươi là tôn giả La Vân. La Vân chính là La Hầu La (Rāhula), [La Vân] là một cách phiên âm tiếng Phạn khác [của chữ La Hầu La]. [Dịch nghĩa sang] tiếng Hán là Giá Chướng (遮障, ngăn che, chướng ngại). Ngài là Thái Tử của đức Phật.

Vị thứ ba mươi mốt là tôn giả A Nan (Ānanda), dịch sang tiếng Hán là Khánh Hỷ. Ngài sanh nhằm ngày Phật Thích Ca thành đạo; vừa chúc mừng đức Phật thành đạo, vừa chúc mừng Ngài sanh ra, vì thế, gọi là Khánh Hỷ. Ngài đa văn bậc nhất, hết thảy kinh tạng được kết tập đều là do tôn giả A Nan [trùng tuyên].

“Giai như tư đẳng thượng thủ giả dã” (Đều là các vị thượng thủ như vậy). Nói gộp chung ba mươi mốt vị trên đây, tức là một vạn hai ngàn vị đại tỳ-kheo thảy đều giống như ba mươi mốt vị tôn giả trên đây, đều là Thượng Thủ. “Giai như tư đẳng” là nói ba mươi mốt vị này đều là bậc Thượng Thủ, đều là bậc Thượng Tọa11, nói rõ một vạn hai ngàn vị tỳ-kheo đều là như thế cả.

Trong quyển thượng của bộ Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, Huệ Viễn đại sư đã viết: “Kim thử thả liệt tam thập nhị nhân giai như tư đẳng Thượng Thủ giả dã” (Nay kể ra ba mươi hai người ấy đều là bậc Thượng Thủ như thế đó). Ngài nói có ba mươi hai vị tôn giả, nhưng Đạo Nguyên tính đi tính lại, chỉ có ba mươi mốt vị tôn giả. Chánh kinh ghi ba mươi mốt vị tôn giả, trong quyển thượng của bộ Nghĩa Sớ của Ngài (Huệ Viễn) cũng là ba mươi mốt vị tôn giả. Lại tra trong bộ Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận, vẫn là ba mươi mốt vị tôn giả, không biết từ khi nào đã lược bớt một vị, chỉ có ba mươi mốt vị tôn giả, chẳng có ba mươi hai vị tôn giả!

2.1.1.2.2. Bồ Tát chúng

2.1.1.2.2.1. Nêu rõ sự sai biệt của loại đại chúng này

(Kinh) Hựu dữ Đại Thừa chúng Bồ Tát câu.

          ()又與大乘眾菩薩俱。

          (Kinh: Lại cùng với chúng Đại Thừa Bồ Tát nhóm họp).

Chữ Hựu (lại) diễn tả: Cùng với chúng Thanh Văn trong phần trước. “Hựu dữ Đại Thừa chúng” (Lại cùng với chúng Đại Thừa): “Đại Thừa chúng” là đại Bồ Tát. “Câu” (俱) là cùng tụ lại một chỗ.

2.1.1.2.2.2. Liệt kê danh tự của các Ngài

(Kinh) Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát đẳng, thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ Tát. Hựu Hiền Hộ đẳng thập lục Chánh Sĩ, Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, giai tuân Phổ Hiền đại sĩ chi đức.

          ()普賢菩薩、妙德菩薩、慈氏菩薩等,此賢劫中一切菩薩,又賢護等十六正士,善思議菩薩、信慧菩薩、空無菩薩、神通華菩薩、光英菩薩、慧上菩薩、智幢菩薩、寂根菩薩、願慧菩薩、香象菩薩、寶英菩薩、中住菩薩、制行菩薩、解脫菩薩,皆遵普賢大士之德。

(Kinh: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát v.v… là hết thảy các vị Bồ Tát trong Hiền Kiếp này. Lại có mười sáu vị Chánh Sĩ thuộc nhóm Hiền Hộ, tức Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, đều tuân theo phẩm đức của Phổ Hiền đại sĩ).

Tiếp đó, nêu ra danh tự của mấy vị Thượng Thủ. “Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát đẳng”: Nêu ra danh tự của ba vị Bồ Tát, xếp Phổ Hiền Bồ Tát đứng đầu, vì pháp môn Tịnh Độ chủ trương tu hành, chủ trương hạnh môn, mà Phổ Hiền Bồ Tát được gọi là Đại Hạnh Bồ Tát.

Diệu Đức Bồ Tát là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, dịch sang tiếng Hán là Diệu Đức. Ngài có công đức chẳng thể nghĩ bàn, vì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là thầy của bảy vị Phật. Nay ở trước Phật Thích Ca, Ngài thị hiện thân phận đệ tử, công đức chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, gọi là Diệu Đức.

Từ Thị Bồ Tát chính là Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc dịch sang tiếng Hán là Từ Thị. Từ Thị tức là họ Từ, Ngài tên là A Dật Đa (Ajita), dịch sang tiếng Hán là Vô Năng Thắng (無能勝, không ai có thể vượt hơn), là Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Giả.

“Thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ Tát” (Hết thảy các vị Bồ Tát trong Hiền Kiếp này): Ở đây là tổng kết. Trang Nghiêm Kiếp là kiếp Trang Nghiêm (Vyūhakalpa) trong đời quá khứ, có một ngàn vị Phật xuất thế. Hiện tại là Hiền Kiếp (Bhadrakalpa), có một ngàn vị Phật xuất thế. Vị lai là Tinh Tú Kiếp (Nakśatra kalpa), có một ngàn vị Phật xuất thế. Trong tết Nguyên Đán, rất nhiều tự viện đều lạy Thiên Phật Sám, thực tế là Tam Thiên Phật Danh. Lạy ba ngàn vị Phật là ba ngàn vị Phật trong ba kiếp, tức Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp, Hiện Tại Hiền Kiếp, và Vị Lai Tinh Tú Kiếp, mỗi kiếp đều có một ngàn vị Phật xuất thế. “Thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ Tát” nói như thế nào? Phải biết Hiền Kiếp có một ngàn vị Phật xuất thế, Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư trong Hiện Tại Hiền Kiếp, còn có chín trăm chín mươi sáu vị Phật sẽ xuất thế, hãy còn có những vị Bồ Tát chưa xuất thế. Do vậy, chín trăm chín mươi sáu vị Bồ Tát sẽ thành Phật trong Hiền Kiếp đều hiện diện trong pháp hội này.

“Hựu Hiền Hộ đẳng thập lục Chánh Sĩ” (Lại có mười sáu vị Chánh Sĩ thuộc nhóm Hiền Hộ): “Hựu” là lại có một loại Bồ Tát khác trong hàng Đại Thừa Bồ Tát chúng. “Chánh Sĩ” (正士) còn dịch là Bồ Tát, cũng còn được dịch là Khai Sĩ (開士). Đây là hàng tại gia Bồ Tát. Lại có thêm mười sáu vị tại gia Bồ Tát thuộc nhóm Hiền Hộ. Đấy là nói chung, kế đó là danh tự riêng của từng vị.

Vị thứ nhất là Hiền Hộ (Bhadra-pāla) Bồ Tát12.

Vị thứ hai là Thiện Tư Nghị Bồ Tát. Tại gia Bồ Tát có tư tưởng Đại Thừa Phật pháp, nên có tên là Thiện Tư Nghị Bồ Tát.

Vị thứ ba là Tín Huệ Bồ Tát, tín ngưỡng Đại Thừa, có trí huệ Đại Thừa, nên tên là Tín Huệ Bồ Tát.

Vị thứ tư là Không Vô Bồ Tát, thấy hết thảy là Không, đối với hết thảy các pháp đều quán Không.

Vị thứ năm là Thần Thông Hoa Bồ Tát. Tại gia Bồ Tát tu hành cũng có thể đắc thần thông. Thần Thông là trong địa vị tu nhân, có một thứ gọi là Thông Hoa, trong địa vị tu nhân của Bồ Tát, sẽ có được loại hoa ấy.

Vị thứ sáu là Quang Anh Bồ Tát. Quang Anh là trí huệ. Tại gia Bồ Tát khai phát đại trí huệ, trí huệ bậc nhất.

Vị thứ bảy là Huệ Thượng Bồ Tát. Huệ Thượng và Quang Anh có cùng ý nghĩa. Trí huệ tối thượng thì gọi là Huệ Thượng Bồ Tát.

Vị thứ tám là Trí Tràng Bồ Tát. Đã đạt được trí huệ cao, có thể dựng cao pháp tràng.

Vị thứ chín là Tịch Căn Bồ Tát. Căn (根) là sáu căn, Tịch (寂) là tịch diệt. Tuy Ngài là tại gia Bồ Tát, lại trì giới xuất gia, sáu căn tịch diệt thanh tịnh, trọn chẳng tham luyến hồng trần.

Vị thứ mười là Nguyện Huệ Bồ Tát, có nguyện Đại Thừa, có trí huệ Đại Thừa.

Vị thứ mười một là Hương Tượng Bồ Tát: Tượng (voi) biểu thị đại hạnh của Ngài. Hương Tượng là voi chúa trong các con voi.

Vị thứ mười hai là Bảo Anh Bồ Tát. Xét trong hàng tại gia nếu quy y Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, Ngài anh tuấn nhất.

Vị thứ mười ba là Trung Trụ Bồ Tát. Trụ (住) là an trụ. [Trung Trụ là] an trụ nơi Trung Đạo.

Vị thứ mười bốn là Chế Hạnh Bồ Tát. Chế Hạnh tức là trì giới hết sức tinh tấn.

Vị thứ mười lăm là Giải Thoát Bồ Tát. Do trì giới tinh tấn, có thể giải thoát phiền não. Nhưng đến đây tôi cũng tính ra, kể cả Hiền Hộ Bồ Tát, chỉ có mười lăm vị Bồ Tát, kinh văn nói “mười sáu vị Chánh Sĩ”, chẳng biết bỏ mất ở đâu một vị!13

Cuối cùng, tổng kết lại: “Giai tuân Phổ Hiền đại sĩ chi đức” (đều tuân theo đức hạnh của Phổ Hiền đại sĩ). Mười sáu vị tại gia Bồ Tát phải học theo hàng xuất gia Bồ Tát. Xuất gia Bồ Tát thì Phổ Hiền Bồ Tát là vị đứng đầu. Những vị này đều tuân thủ công đức của Phổ Hiền Bồ Tát, học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát tu hành như thế nào, tại gia Bồ Tát bèn học theo tu hành như thế đó! Tóm lại, mười sáu vị tại gia Bồ Tát ấy, đều trọn đủ công đức của Phổ Hiền Bồ Tát, vì họ tuân thủ công đức của Phổ Hiền Bồ Tát. Trong phần trước đã nhắc đến hàng xuất gia Bồ Tát, trong phần liệt kê danh xưng của các vị thủ lãnh của hàng tại gia Bồ Tát, đã kể ra rất nhiều vị đại Bồ Tát, các Ngài thảy đều tuân thủ phẩm đức của Phổ Hiền đại sĩ. “Phổ Hiền đại sĩ” chính là Phổ Hiền Bồ Tát, bậc nhất trong các vị đại Bồ Tát. “Phổ Hiền đại sĩ chi đức” là trọn đủ các phẩm đức của chư Phật. Chúng ta học Phật thì trước hết là học theo Bồ Tát. Học theo Bồ Tát chính là học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Học theo Phổ Hiền Bồ Tát thì cũng là học theo chư Phật. Đối với câu kinh văn này, phải chú ý chữ Tuân. Tuân (遵) là tuân thủ. Tuân thủ thì sẽ phụng hành, tức là chư đại Bồ Tát thảy đều học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát có công đức gì, các vị đại Bồ Tát này đều tuân thủ, đều phụng hành. Vì thế, đều học thành bậc đại Bồ Tát.

2.1.1.2.2.3. Tán thán đức của các Ngài

2.1.1.2.2.3.1. Tán thán Quyền Đức và Thật Đức

2.1.1.2.2.3.1.1. Tán thán đại lược đức hạnh của các Ngài

(Kinh) Cụ chư Bồ Tát vô lượng hạnh nguyện, an trụ nhất thiết công đức chi pháp, du bộ thập phương, hành quyền phương tiện.

          ()具諸菩薩無量行願,安住一切功德之法。遊步十方,行權方便。

          (Kinh: Trọn đủ vô lượng hạnh nguyện của các vị Bồ Tát, an trụ trong hết thảy các pháp công đức, du hóa mười phương, thực hiện phương tiện quyền biến).

“Cụ chư Bồ Tát vô lượng hạnh nguyện” (trọn đủ vô lượng hạnh nguyện của các vị Bồ Tát): Không chỉ trọn đủ công đức của Phổ Hiền Bồ Tát, lại còn trọn đủ công đức của hết thảy Bồ Tát. Hết thảy đại hạnh đại nguyện của Bồ Tát đều trọn đủ. “An trụ nhất thiết công đức chi pháp” (An trụ trong hết thảy các pháp công đức): “An trụ” tức là chẳng thoái chuyển, vì các Ngài học theo những vị xuất gia Bồ Tát, hết thảy đại hạnh đại nguyện đều học hiểu, ngay cả đại hạnh đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng đều học hiểu. Vì thế, “an trụ nhất thiết công đức chi pháp”. Trong món thành tựu thứ sáu là Chúng Thành Tựu, đã giảng xong Thanh Văn chúng đại tỳ-kheo, lại nói về Bồ Tát chúng, [trong Bồ Tát chúng] có xuất gia Bồ Tát và tại gia Bồ Tát. Dưới đây còn có một đoạn lớn nói về công đức của những vị Bồ Tát ấy.

Toàn thể bản kinh chia thành ba phần lớn. Phần thứ nhất là Tự Phần, trong Tự Phần chia thành hai loại. Loại thứ nhất là Chứng Tín Tự. Trong Chứng Tín Tự có sáu loại thành tựu. Loại thứ sáu gọi là Chúng Thành Tựu, đấy là đại chúng nghe kinh thành tựu. Trong Chúng Thành Tựu có hai loại đại chúng, thứ nhất là Thanh Văn chúng, thứ hai là Bồ Tát chúng. Thanh Văn chúng đã nói xong. Các vị Bồ Tát thủ lãnh trong pháp hội cũng đã nói xong, tiếp đó là tán thán công đức của các vị đại Bồ Tát. Nói về Bồ Tát chúng thì phải tán thán công đức của những vị đại Bồ Tát. Đoạn văn này rất dài, chẳng giống các kinh khác. Trong Chứng Tín Tự của các kinh khác, chỉ kể rõ có bao nhiêu Thanh Văn chúng. Chúng ta thường niệm kinh A Di Đà, thấy phần nói về chúng trời, người [như sau]: “Dữ đại tỳ-kheo tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu” (cùng với các vị đại tỳ-kheo tăng, một ngàn hai trăm năm mươi người nhóm họp). Một, hai câu giới thiệu là xong!

Bộ kinh Vô Lượng Thọ này nói đến Bồ Tát chúng, bèn tán thán công đức của Bồ Tát, lại còn tán thán rất nhiều. Vì sao tán thán công đức của Bồ Tát nhiều ngần ấy? Vì kinh Vô Lượng Thọ là kinh Đại Thừa. Kinh Đại Thừa lấy các vị đại Bồ Tát làm đương cơ, nhằm dạy chúng ta học theo những vị đại Bồ Tát. Học theo đại Bồ Tát thì hãy xem các Ngài phát tâm như thế nào? Tu hành ra sao? Chúng ta hãy khéo theo chân các vị đại Bồ Tát ấy. Do vậy mới tán thán công đức của những vị Bồ Tát ấy rất nhiều!

Tôi vừa mới nói “tán thán công đức của Bồ Tát, nhằm nêu gương cho chúng ta”, chúng ta học Phật bằng cách nào? Trước hết là học theo Bồ Tát. Học theo Bồ Tát thì học như thế nào? Học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Chúng ta học chẳng thành Bồ Tát, chẳng phải là do nghe ít, mà là vì chẳng tuân thủ. Nghe giảng xong, kinh đi đằng kinh, chúng ta đi đằng chúng ta, chẳng hề tuân thủ phụng hành. Do vậy nghe kinh, chữ Tuân rất quan trọng. Chư đại Bồ Tát đều học theo Phổ Hiền Bồ Tát, tuân thủ phụng hành đức của Phổ Hiền Bồ Tát. “Cụ chư Bồ Tát vô lượng hạnh nguyện” (Đầy đủ vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát): Lại còn đối với hạnh nguyện của các vị đại Bồ Tát thảy đều học hiểu, nên nói là “cụ túc” (đầy đủ). Hết thảy các vị đại Bồ Tát đều phát đại nguyện, lập đại hạnh. Những vị đại Bồ Tát ấy thảy đều trọn đủ đại nguyện và đại hạnh của hết thảy các vị Bồ Tát. “An trụ nhất thiết công đức chi pháp” (An trụ trong hết thảy các pháp công đức): Công đức của những vị đại Bồ Tát ấy cũng là pháp công đức của chư Phật. Chúng ta phải tuân thủ, phụng hành, phải trì, phải học.

Chúng ta là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, chẳng thể an trụ. Vì sao chẳng thể an trụ? Vì chúng ta chẳng thể hàng phục cái tâm vọng tưởng. Tâm vọng tưởng là tâm phiền não. Phiền não căn bản nhất trong cái tâm phiền não là tham, sân, si. Tâm tham, tâm sân hận, và tâm ngu si đang làm chủ, chúng ta chẳng làm chủ được! Biết rõ chuyện này là công đức, nhưng người ấy chẳng làm. Vì sao chẳng làm? Chẳng phải là dấy tâm tham, thì cũng là dấy tâm sân hận. Chẳng dấy tâm sân hận thì là dấy tâm ngu si, gây chướng ngại cho nó. Nếu an trụ trong địa vị Bồ Tát, viên mãn Thập Tín, dự vào địa vị Thập Trụ, sẽ chẳng thoái chuyển. Đây vẫn là Tương Tự Bất Thoái Chuyển, chứ thật sự an trụ trong Bất Thoái Chuyển sẽ là đăng địa Bồ Tát (những vị Bồ Tát chứng đắc từ Sơ Địa trở lên), tức là những vị Pháp Thân đại sĩ đã đích thân chứng Pháp Thân, các Ngài mới có thể “an trụ trong hết thảy các pháp công đức”. Hàng phục tham, sân, si, thì cũng coi như là đoạn trừ chúng nó, [khiến cho] phiền não chẳng dấy lên được. Muốn đoạn sạch [tham, sân, si] thì chẳng có cách nào đoạn được, trước hết là hàng phục khiến cho chúng nó chẳng dấy lên. Đó là “tiên phục hậu đoạn”, [tức là để] đoạn phiền não thì trước là chế phục, sau là đoạn trừ. Chúng ta hiểu ý nghĩa này.

Đoạn phiền não nói dễ lắm, trước hết là hàng phục nó, nhưng hàng phục bằng cách nào đây? Tu pháp công đức cho nhiều. Tức là công đức của chư đại Bồ Tát, công đức của chư Phật, chúng ta đều học theo, quán tưởng những công đức ấy, chẳng làm thì vẫn không quen! Đây là bàn theo kinh nghiệm. Quý vị làm công đức sẽ quen, chứ quý vị chẳng làm sẽ vẫn không quen, [cứ làm quen tay] sẽ có sức mạnh. Hàng phục tham, sân, si, khiến cho chúng chẳng thể dấy lên được. Cứ tinh tấn dụng công, đã tinh tấn lại càng tinh tấn hơn, sẽ có thể triệt để hàng phục phiền não, sẽ đoạn hết phiền não. Đấy là có thể “an trụ trong hết thảy các pháp công đức”. Đấy là các vị đại Bồ Tát đã an trụ. Các Ngài là hàng Bồ Tát thuộc địa vị Thập Trụ, là đăng địa Pháp Thân đại sĩ, tự nhiên an trụ, để cho chúng ta học theo, học làm nhiều pháp công đức. “Làm” là biến nó thành thói quen, giống như chúng ta đã quen thói tham, sân, si, nay làm nhiều công đức, làm thành thói quen thì sẽ tốt đẹp, công phu to lớn. “An trụ trong pháp công đức”, chính mình đạt được lợi ích thì mới có thể giáo hóa chúng sanh.

“Du bộ thập phương, hành quyền phương tiện” (du hóa mười phương, thực hiện phương tiện quyền biến): “Du bộ” (遊步) là du hành, du hóa. “Thập phương” là Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy (四維, bốn góc), trên, dưới. Mười phương thế giới đều có chúng sanh, phải đến độ chúng sanh trong mười phương thế giới, chẳng thể an trụ một phương, mà phải du bộ mười phương. “Du bộ thập phương, hành quyền phương tiện”: Công đức của chư Bồ Tát chính là công đức của chư Phật, nói tổng quát thì có hai loại: Một loại là Thật, loại kia là Quyền. Thật (實) là công đức chân thật. Quyền (權) là công đức quyền biến, xảo diệu. Công đức chân thật thì các Ngài đã tự mình chứng đắc và liễu giải Thật Tướng. Đó là công đức chân thật do chính các Ngài đã đạt được. Các Ngài muốn độ chúng sanh mà chẳng dùng phương tiện quyền xảo thì sẽ chẳng được. Vị Bồ Tát ấy học theo Phật thì phải học theo Phổ Hiền Bồ Tát, phải độ chúng sanh, đến mười phương thế giới để độ chúng sanh. Căn cơ của chúng sanh thiên sai vạn biệt, quý vị chẳng dùng công đức quyền biến thì sẽ chẳng được. “Quyền” là quyền xảo. Quyền xảo là phương tiện, tức là thấy chúng sanh nào, trông thấy kẻ ấy liền biết đáng nên dùng pháp môn gì để độ, bèn dùng pháp môn ấy. Đấy là phương tiện quyền xảo!

2.1.1.2.2.3.1.2. Tán dương rộng rãi đức hạnh của các Ngài

2.1.1.2.2.3.1.2.1. Tán thán Thật Đức

(Kinh) Nhập Phật pháp tạng, cứu cánh bỉ ngạn.

          ()入佛法藏,究竟彼岸。

          (Kinh: Vào pháp tạng của Phật, rốt ráo đến bờ kia).

Thâm nhập pháp tạng của Phật. Những pháp do đức Phật đã nói, được gọi chung là “pháp tạng”. Phải thâm nhập pháp tạng của Phật, nói theo hiện thời sẽ là Kinh Tạng. Nói suy rộng ra, Kinh, Luật, Luận Tam Tạng đều là pháp tạng của Phật. Phải thâm nhập, nghiên cứu pháp tạng của Phật.

“Cứu cánh bỉ ngạn”: “Cứu cánh” có nghĩa là viên mãn, có thể đạt đến bỉ ngạn. “Bỉ ngạn” (Bờ kia) là đắc Niết Bàn. Chúng sanh đang ở trong đường sanh tử giống như ở bờ bên này. Quý vị thâm nhập pháp tạng của Phật, tự nhiên là có thể tu hành, có thể liễu sanh tử, có thể chứng Niết Bàn; đấy là “cứu cánh bỉ ngạn”.

“Hành quyền phương tiện” là phương pháp, “nhập Phật pháp tạng, cứu cánh bỉ ngạn” là mục đích. Quý vị thực hiện [bằng cách] “du bộ thập phương, hành quyền phương tiện”. Để giáo hóa chúng sanh, do căn cơ của chúng sanh chẳng đồng nhất, nên phải hành phương tiện quyền xảo. Phương tiện quyền xảo là một phương pháp nhằm mục đích dẫn dắt chúng sanh tới “thâm nhập pháp tạng”, độ chúng sanh đến bờ kia Niết Bàn. Đấy mới được coi là độ chúng sanh!

2.1.1.2.2.3.1.2.2. Tán thán Quyền Đức

2.1.1.2.2.3.1.2.2.1. Tán thán chung

(Kinh) Ư vô lượng thế giới, hiện thành Đẳng Giác.

()於無量世界,現成等覺。

(Kinh: Trong vô lượng thế giới, hiện thành Đẳng Giác).

Hai câu này là tổng thuyết, cũng là tương ứng với “hành quyền phương tiện” trong phần trên. Phương tiện lớn nhất là thị hiện thành Phật. Bản thân Bồ Tát còn chưa thành Phật, Ngài thị hiện thành Phật, vẫn là phương tiện quyền xảo. Tức là có thế giới nào mà thiện căn của chúng sanh [trong ấy] đã chín muồi, đáng nên thấy Phật để đắc độ, nhưng trong thế giới ấy chẳng có một vị Bồ Tát nào đến đó thành Phật. Đấy là vì nhân duyên chẳng thể xảo hợp, Bồ Tát có thần thông, Ngài quan sát căn cơ của chúng sanh, đối với những ai thiện căn đã chín muồi, đáng nên thấy Phật để đắc độ, các vị Bồ Tát bèn thị hiện dáng vẻ thành Phật. Thị hiện thành Phật nhằm khiến cho những chúng sanh thiện căn đã chín muồi sẽ đắc độ. Đấy là phương tiện quyền xảo lớn nhất! Nếu Bồ Tát thị hiện thành Phật, xét theo Viên Giáo Bồ Tát, sẽ là “Thập Tín mãn tâm, bách giới tác Phật”, tức là Viên Giáo Bồ Tát tu viên mãn Thập Tín, chỉ cần có thể dự vào địa vị Sơ Trụ, đã có thể thị hiện thành Phật trong một trăm thế giới. Trong đoạn kinh này, không hạn định chỉ là một trăm thế giới, mà là trong vô lượng thế giới các Ngài đều có thể thị hiện thành Phật, chứng tỏ những vị Bồ Tát này tối thiểu là từ Bát Địa Bồ Tát trở lên. Nếu cao hơn nữa, sẽ là Đẳng Giác Bồ Tát. “Hiện thành Đẳng Giác” chính là thị hiện thành Phật. [Chữ Đẳng Giác trong câu “hiện thành Đẳng Giác”] chẳng phải là Đẳng Giác của bậc Đẳng Giác Bồ Tát, mà là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

2.1.1.2.2.3.1.2.2.2. Nêu riêng từng Quyền Đức

2.1.1.2.2.3.1.2.2.2.1. Thăng Đâu Suất Thiên

(Kinh) Xử Đâu Thuật Thiên, hoằng tuyên chánh pháp.

          ()處兜術天,弘宣正法。

          (Kinh: Ở trên trời Đâu Thuật, hoằng dương, tuyên thuyết chánh pháp).

Đâu Thuật Thiên (Tuṣita) chính là Đâu Suất Thiên, phiên âm bất đồng. Tiếng Phạn là Đâu Suất Thiên, dịch sang tiếng Hán là Đổ Sử Đa Thiên, là tầng trời thứ tư trong Dục Giới. Tầng trời này chia thành hai viện nội và ngoại. Nội viện là chỗ ở của bậc Bổ Xứ Bồ Tát. Ngoại viện là chỗ ở của chư thiên Dục Giới. Chư thiên ở ngoại viện thuộc tầng trời thứ tư của Dục Giới sẽ hưởng thụ niềm vui ngũ dục, nhưng chư thiên trong tầng trời thứ tư biết đủ, vì thường nghe Bổ Xứ Bồ Tát giáo hóa. Vì thế, [tầng trời này được] gọi là Tri Túc Thiên, là chỗ Bổ Xứ Bồ Tát ở.

Tiếp đó, kinh nói đến phương tiện thị hiện thành Phật của chư đại Bồ Tát, [nói chi tiết sẽ là] tám tướng thành đạo. Hoàn toàn chiếu theo dáng vẻ của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tại Ấn Độ để nói. Phật Thích Ca thành Phật tại Ấn Độ là thị hiện tám tướng thành đạo. Mỗi vị Phật đến nhân gian thành Phật, đều phải thị hiện tám tướng thành đạo. Đó gọi là “Phật Phật đạo đồng”, tức là đạo của mỗi vị Phật đều giống nhau. Do vậy, các vị Bồ Tát này muốn thị hiện thành Phật, đều phải hiện tám loại tướng. Chư vị phải ghi nhớ những điều sẽ nói dưới đây. Đấy đều là tám loại tướng để hàng Bồ Tát thị hiện thành Phật. Nếu trong quá khứ quý vị chưa từng nghe kinh, chẳng biết tám tướng thành đạo của Phật Thích Ca, hôm nay giống như quý vị nghe lịch sử của Phật Thích Ca. Nhưng quý vị phải biết: Đây chẳng phải là nói về lịch sử của Phật Thích Ca, mà là nói các vị đại Bồ Tát thị hiện tám tướng thành đạo.

“Xử Đâu Thuật Thiên, hoằng tuyên chánh pháp”: Điều này vẫn chưa thuộc vào tám tướng, mà là nói đến Bổ Xứ Bồ Tát. Trong quá khứ, Phật Thích Ca chưa giáng hạ thành Phật, Ngài ngự tại Đâu Suất Thiên, hoằng dương Phật pháp. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Bồ Tát hiện thời vẫn còn đang ở trong Di Lặc Nội Viện. Mỗi vị Phật xuất thế đều trụ nơi đó, nhưng trụ nơi đó, Ngài chẳng nghỉ ngơi, mà vẫn hoằng dương, tuyên thuyết chánh pháp trên cõi trời.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.2. Tướng nhập thai

(Kinh) Xả bỉ thiên cung, giáng thần mẫu thai.    

          ()捨彼天宮,降神母胎。

          (Kinh: Bỏ cung trời ấy, giáng hạ thần thức vào thai mẹ).

Hai câu này chính là hai tướng trong tám tướng thành đạo. Thứ nhất là “xả bỉ thiên cung”, tức là từ trời Đâu Suất giáng hạ. Chữ Xả (捨) nên hiểu là “rời”, lìa bỏ cung trời ấy, giáng hạ nhân gian. Đấy là một tướng. Tướng thứ hai là
“giáng thần mẫu thai”. “Giáng” (降) là từ trời hạ xuống. “Thần” (神) là thức thần của chính Ngài. Do vậy bèn vào trong thai mẹ, chúng ta nói là Phật Thích Ca vào trong thai của Ma Da phu nhân. Đấy là tướng thứ hai.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.3. Tướng xuất thai

(Kinh) Tùng hữu hiếp sanh, hiện hành thất bộ, quang minh hiển diệu, phổ chiếu thập phương, vô lượng Phật độ, lục chủng chấn động. Cử thanh tự xưng: “Ngô đương ư thế, vi vô thượng tôn”. Thích Phạm phụng thị, thiên nhân quy ngưỡng.

          ()從右脅生,現行七步。光明顯耀,普照十方。無量佛土,六種震動。舉聲自稱:吾當於世,為無上尊。釋梵奉侍,天人歸仰。

          (Kinh: Sanh từ hông phải, hiện đi bảy bước, quang minh chói ngời, chiếu khắp mười phương. Vô lượng cõi Phật sáu thứ chấn động. Cất tiếng tự xưng: “Ta trong cõi đời là đấng vô thượng”. Đế Thích, Phạm vương hầu hạ, trời người hướng về chiêm ngưỡng).

“Tùng hữu hiếp sanh” (Sanh từ hông phải [của mẹ]), đây là tướng xuất thai. Vào trong thai mẹ, thuận theo pháp thế gian, phải ở trong thai mười tháng. Ở đây, chẳng nói đến tướng nhập thai, vẫn dựa theo tám tướng thành đạo của Thanh Văn Thừa để nói. Xuất thai thì chẳng giống với phàm phu bình phàm: Ngài lọt lòng từ hông phải của mẹ. Sanh từ hông phải của mẹ thì sanh ra như thế nào? Giống như từ trong mây mù bước ra, mẹ chẳng cảm thấy đau khổ tí nào. Đấy là tướng xuất thai.

“Hiện hành thất bộ” (Hiện đi bảy bước), Phật vừa ra đời, từ hông phải của mẹ hạ sanh, đã có thể đi lại. “Hiện” (現) là thị hiện, “hành” (行) là đi lại. Đi bảy bước, dưới mỗi bước đều có hoa sen nâng đỡ bước chân Ngài. Vì sao đi bảy bước? Biểu thị Thất Giác Chi trong ba mươi bảy Đạo Phẩm. “Quang minh” là đứa trẻ vừa mới sinh ra bèn tỏa ra ánh sáng.

“Quang minh hiển diệu, phổ chiếu thập phương, vô lượng Phật độ lục chủng chấn động” (Quang minh chói ngời, chiếu khắp mười phương, vô lượng cõi Phật, sáu thứ chấn động). Quang minh chiếu sáng ngời, lại còn chiếu khắp vô lượng cõi Phật trong mười phương. Mỗi cõi Phật là một tam thiên đại thiên thế giới. Chiếu khắp vô lượng cõi Phật trong mười phương, tức là trong thế giới này, một vị Phật thành Phật, quang minh bèn chiếu sáng ngời mười phương thế giới. Mười phương thế giới đều cảm nhận có sáu thứ chấn động.

“Lục chủng chấn động” (sáu thứ chấn động) là động đất trong hiện thời. Người Đài Loan nói là “địa động”, có sáu loại tướng:

1) Động (動): Đất lay động khe khẽ, ví như tướng lắc lư.

2) Dũng (湧): Giống như dưới đất có nước vọt lên, cảm giác đất chuyển động, cảm thấy như có từng vồng đất dồn lên trên. Vậy là đã động, lại còn chuyển động.

3) Chấn (震) là rung động mạnh mẽ.

4) Giác (覺): Hết thảy chúng sanh đều cảm nhận được, đại địa rúng động họ đều nhận biết.

5) Hống (吼): Địa chấn rung động mạnh mẽ, phát ra âm thanh.

6) Khởi (起): Đại địa chấn động, lại vừa phát ra âm thanh vang rền, cảm giác như đất một mực nâng lên!

Sáu loại chấn động này chẳng phải là đại địa chấn động vì gặp phải nạn động đất trong hiện thời. Quan trọng là hai thứ tướng Chấn và Giác trong ấy. Đất đã chấn động khiến cho chúng sanh cảnh giác. Cảnh giác chúng sanh điều gì vậy? Khiến cho họ cảm nhận thế giới vô thường, quý vị phải ngay lập tức học Phật tu pháp. Chúng ta cứ ngỡ đất kiên cố bất hoại nhất, là thứ lâu dài nhất, chẳng biết nó vẫn thuộc loại pháp vô thường. Đất có thể bị hư hoại, có thứ gì chẳng bị hư hoại? Có cái tâm cảnh giác này, quý vị sẽ có thể tiếp cận Phật pháp. Do đó, một vị Phật ra đời, [chúng sanh] sẽ cảm nhận mặt đất có sáu thứ chấn động. Đấy là ý nghĩa cảnh giác chúng sanh, chẳng phải là gặp tai nạn động đất!

“Cử thanh tự xưng” (Cất tiếng tự xưng): Tiểu hài tử vừa lọt lòng mẹ, đã có thể nói năng. “Cử thanh” (舉聲) là lớn tiếng, “tự xưng” là chính mình xưng, chính mình nói. “Ngô đương ư thế, vi vô thượng tôn” (Ta trong cõi đời, là đấng vô thượng): Nay ta ra khỏi thai mẹ, trụ trong thế giới, ta đáng nên làm bậc tôn quý vô thượng trong thế gian.

“Thích Phạm phụng thị, thiên nhân quy ngưỡng”: Thích là Đế Thích Thiên, Phạm là Đại Phạm Thiên. Đế Thích Thiên và Đại Phạm Thiên đều phải hầu hạ. Trước khi chúng ta thấy Phật, cứ ngỡ chư thiên là tôn quý nhất. Nay chúng ta lạy ông trời, kinh Phật nói [ông trời] là Đế Thích Thiên. Đối với Ấn Độ thì cao nhất là lạy Đại Phạm Thiên, Bà La Môn giáo lạy Đại Phạm Thiên, chẳng biết là hễ Phật xuất thế thì Đế Thích Thiên lẫn Đại Phạm Thiên đều phải đến hầu hạ, trời người sẽ đều quy ngưỡng, đều sẽ quy y Phật. Đấy là đức Phật tự nói “hãy kính ngưỡng ta”. Đấy là Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, lớn tiếng xướng rằng: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Hai câu nói ấy văn tự bất đồng, nhưng ý nghĩa như nhau. “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”: Chẳng có ai vượt trỗi Phật. Trẻ nhỏ lớn lên thì trước hết là học tập học vấn thế gian, vẫn là thị hiện. Ngài đã có thể thị hiện thành Phật, nhưng thị hiện thành Phật trong nhân gian, trước hết phải mong cầu học vấn của nhân gian.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.4. Tướng đồng tử

(Kinh) Thị hiện toán kế, văn nghệ xạ ngự, bác tổng đạo thuật, quán luyện quần tịch.

          ()示現算計,文藝射御,博綜道術,貫練羣籍。

          (Kinh: Thị hiện tính toán, văn nghệ, bắn cung, điều khiển xe, thông thạo rộng khắp các đạo thuật, xem rành, ôn luyện các sách vở).

“Thị hiện toán kế”: [“Toán kế”] là toán học trong hiện thời. “Văn nghệ xạ ngự”“Văn nghệ” là văn học nghệ thuật. “Xạ ngự” là võ thuật thời cổ. “Xạ” (射) là bắn tên, “ngự” (御) là điều khiển xe. Thời cổ còn có xe cộ và vũ khí phải học. “Xạ ngự” bao gồm hết thảy võ thuật. “Bác tổng đạo thuật” (Thông thạo rộng khắp các đạo thuật): Học rộng rãi hết thảy các thứ đạo thuật trong hết thảy các giáo, bất luận là học vấn của giáo nào cũng đều phải học hiểu. “Quán luyện quần tịch”: [“Quần tịch”] là hết thảy sách vở trong thế gian. “Tịch” (籍) là thư tịch (sách vở), “quần” (羣) là đông nhiều. Toàn bộ rất nhiều các sách vở thảy đều phải quán thông, luyện tập. Đối với học vấn thế gian, chẳng có gì không hiểu, chẳng có gì không biết.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.5. Tướng cưới vợ

(Kinh) Du ư hậu viên, giảng võ, thí nghệ. Hiện xử cung trung, sắc vị chi gian.

          ()遊於後園,講武試藝。現處宮中,色味之間。

          (Kinh: Dạo chơi vườn sau, giảng võ, đua tài, hiện ở trong cung, trong chốn sắc vị).

“Du ư hậu viên, giảng võ thí nghệ” (Dạo chơi nơi vườn sau, giảng võ, đua tài): Ở đây là chuyên nói về luyện tập công phu, giống như Phật Thích Ca, khi đến hoa viên đằng sau [vương cung] để du ngoạn, phải học võ thuật, thi thố võ nghệ. Học những pháp thế gian ấy để làm gì? Vì muốn độ chúng sanh trong thế gian, nếu quý vị chẳng thông đạt rành rẽ pháp thế gian, sẽ chẳng thể độ chúng sanh trong thế gian được! Thập Địa Bồ Tát khi chứng đến Đệ Ngũ Địa, còn chưa hiểu thấu suốt pháp thế gian, vẫn phải học tập. Những vị Bồ Tát ở đây đều là Đẳng Giác Bồ Tát, các Ngài đều học hiểu, nhằm thị hiện làm gương cho chúng ta.

Vì sao hiện thời chúng ta chẳng thể hoằng dương Phật pháp? Thứ nhất là do không hiểu Phật pháp. Sau khi đã hiểu Phật pháp, quý vị chẳng thể hoằng dương nổi, chẳng có cách nào độ chúng sanh. Vì sao? Vì quý vị chẳng hiểu pháp thế gian. Do vậy, quý vị đừng quá coi rẻ pháp thế gian! Vì chúng sanh trong thế gian học pháp thế gian, quý vị chẳng hiểu học vấn của họ, quý vị giảng Phật pháp, họ nghe chẳng hiểu, chẳng hợp nhau, [thế là] quý vị chẳng thể dùng phương tiện quyền xảo để tiếp dẫn chúng sanh. Do đó, nếu quý vị muốn độ chúng sanh trong thế gian, bản lãnh học vấn thế gian quý vị đều phải học. Chẳng học hiểu, quý vị sẽ không thể độ chúng sanh. Quý vị nhìn vào lịch sử của Phật Thích Ca, từ thuở còn bé, Ngài đã cầu học, bất luận là văn học hay võ nghệ, đều toàn là thi đậu hạng nhất. Do vậy, mọi người đều tôn trọng Ngài. Chỉ nói về pháp thế gian, chẳng có ai không tôn trọng Ngài. Ngài còn có một thứ nữa là Phật pháp; do vậy, mọi người đều muốn quy y Ngài. Ngài không chỉ là văn nghệ, võ nghệ đều học hiểu, mà chín mươi lăm loại ngoại đạo tại Ấn Độ, ngoại đạo lớn nhất là Bà La Môn giáo, những đạo lý họ nói Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đều học hiểu. Quý vị cứ việc nói! Bất luận quý vị nói kiểu nào, tôi đều hiểu; bản lãnh của quý vị tôi đều biết, nhưng Phật pháp của tôi quý vị chẳng hiểu, tôi nói cho quý vị nghe nhé, hàng phục họ!

Phật pháp truyền tới Trung Hoa, những vị đại tổ sư trong quá khứ, chẳng có vị nào không thông thạo học vấn Trung Hoa. Học vấn cao nhất của Trung Hoa là Lão, Trang, Khổng, Mạnh. Lão Tử và Trang Tử là học vấn của Đạo gia. Khổng Tử và Mạnh Tử là học vấn của Nho gia, chẳng có gì không thông thạo! Quý vị xem những bản chú giải các đại tổ sư Trung Hoa thời cổ, toàn là dẫn chứng những thuyết của Lão, Trang, Khổng, Mạnh, chúng sanh vừa xem liền hiểu. Vì sao? Họ hiểu Lão, Trang, Khổng, Mạnh, [do vận dụng những học thuyết ấy] đã tiếp dẫn được họ. Cho đến hiện thời là thời đại khoa học, là thời đại triết học, chúng ta hoằng dương Phật pháp mà thường thức khoa học lẫn triết học đều chẳng có, quý vị giảng Phật pháp cho người hiện thời, họ nghe chẳng hiểu, sẽ chẳng có cách nào cả! Muốn dùng phương tiện quyền xảo, nhưng hướng về họ mà nói tỷ dụ không được, những thứ học vấn họ nói đến chúng ta đều không biết. Do vậy, mọi người nếu phát tâm hoằng dương Phật pháp, thứ nhất là phải nghiên cứu Phật học, thứ nhì là phải hiểu học vấn thế gian, ý nghĩa ở chỗ này!

“Hiện xử cung trung, sắc vị chi gian” (Hiện ở trong cung, trong chốn sắc vị). Trẻ nhỏ trưởng thành, đến tuổi kết hôn. “Hiện xử cung trung” là thị hiện sống ở trong hoàng cung. “Sắc vị chi gian” là hưởng thụ niềm vui ngũ dục. Ngũ dục là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vì quý vị tham đắm trần cảnh ngũ dục, trần cảnh ngũ dục ô nhiễm con người dữ dội nhất là sắc trần và vị trần. Mắt trông thấy sắc đẹp, quý vị bèn dấy tâm yêu mến. Lưỡi nếm vị ngon lành, quý vị dấy lòng yêu mến. Tiếp theo đây là nói vị Bồ Tát ấy thị hiện sự giác ngộ.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.6. Tướng xuất gia

(Kinh) Kiến lão bệnh tử, ngộ thế phi thường, khí quốc tài vị, nhập sơn học đạo, phục thừa bạch mã, bảo quan anh lạc, khiển chi linh hoàn. Xả trân diệu y, nhi trước pháp phục. Thế trừ tu phát, đoan tọa thụ hạ, cần khổ lục niên, hành như sở ưng.

          ()見老病死,悟世非常。棄國財位,入山學道。服乘白馬,寶冠瓔珞,遣之令還。捨珍妙衣,而著法服。剃除鬚髮,端坐樹下,勤苦六年,行如所應。

          (Kinh: Thấy già, bệnh, chết, ngộ cõi đời chẳng thường hằng, bỏ nước, của cải, địa vị, vào núi học đạo, cỡi con ngựa trắng, mão báu, chuỗi ngọc, sai đem trở về, bỏ áo quý đẹp, để mặc pháp phục. Cạo bỏ râu tóc, ngồi ngay ngắn dưới gốc cây, siêng khổ sáu năm, hành pháp nên hành).

“Kiến lão, bệnh, tử, ngộ thế phi thường” (Thấy già, bệnh, chết, ngộ cõi đời vô thường): Dựa trên kinh nghiệm của Phật Thích Ca là ra chơi bốn cửa thành, ở cửa Đông thấy người già, ở cửa Nam thấy người bệnh, ở cửa Tây thấy người chết. Trông thấy sanh, già, bệnh, chết, mới ngộ pháp thế gian vô thường. Nếu không, ở trong hoàng cung, hưởng thụ thú vui ngũ dục, làm Thái Tử của quốc vương, đấy chẳng phải là gần như hưởng phước trời ư? Chẳng biết là vẫn phải già, phải bệnh, phải chết. Trông thấy già, bệnh, chết, mới ngộ nhân gian chẳng phải là thường trụ.

“Khí quốc tài vị, nhập sơn học đạo” (Bỏ nước, của cải, địa vị, vào núi học đạo): Đây là nói đến chuyện thị hiện tướng xuất gia. Ngài có thể hưởng lạc trong hoàng cung, nhưng trông thấy già, bệnh, chết, bèn giác ngộ thế gian vô thường. Phật Thích Ca tới cửa Bắc thấy một vị xuất gia, Ngài muốn học xuất gia, tu hành. “Khí quốc tài vị”: “Quốc tài” (tài sản của nước nhà), phước như bốn biển. Làm quốc vương thì tài sản trong cả nước đều là sở hữu của nhà vua. Cho nên phước như bốn biển. “Vị” (位) là địa vị cao nhất khôn sánh trong nhân gian. “Khí” (棄) là vứt bỏ. Tài sản quốc gia, địa vị tối cao, thảy đều buông bỏ, vào núi học đạo.

“Phục thừa bạch mã, bảo quan anh lạc, khiển chi linh hoàn” (cỡi con ngựa trắng, mão báu, chuỗi ngọc, sai đem trở về): Xét theo lịch sử của Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài muốn xuất gia tu hành, cha Ngài là quốc vương Tịnh Phạn (Śuddhodana Gautama) biết Thái Tử muốn xuất gia, tu đạo, đã hạ lệnh khóa chặt cửa cung, không cho Ngài ra nữa. Thái Tử trông thấy già, bệnh, chết, thấy người xuất gia, bèn mong cầu xuất gia. Do đó, quốc vương chẳng cho Thái Tử ra ngoài. Nhưng khi nhân duyên đã tới, đáng nên xuất gia, Thái Tử nghe đằng sau có người kêu: “Ngài chớ nên tham cầu niềm vui ngũ dục, chẳng xuất gia sẽ không được. Nhân duyên xuất gia của Ngài đến rồi đó!” Nghe thấy trên đường có người nói với Ngài những lời ấy, Ngài gọi người chăn ngựa là Xa Nặc (Chandaka) chuẩn bị ngựa. Tuy cửa cung điện bị khóa chặt, nhưng người chăn ngựa đương nhiên nghe theo mệnh lệnh của Thái Tử. Xa Nặc liền lấy yên báu và đồ trang nghiêm khoác lên thân ngựa chúa Kiền Trắc (Kanthaka), dâng lên Thái Tử. Thái Tử cưỡi lên ngựa, thớt ngựa ấy liền bay vọt lên không. Đấy là do tứ đại thiên vương nâng chân ngựa, bay vọt lên không. Khi ấy, người chăn ngựa Xa Nặc đứng trên mặt đất, thấy sao ngựa lại bay lên không? Ông ta ngay lập tức nắm đuôi ngựa chẳng để nó bay lên, nào ngờ chẳng kéo lại được, ngay cả người chăn ngựa cũng bị bạch mã lôi theo, bay ra ngoài thành. Ngựa vượt ra khỏi thành, bay được một đoạn rồi rơi xuống. Người chăn ngựa liền quỳ xuống, thỉnh cầu: “Quốc vương chẳng cho Thái Tử xuất cung, nay Thái Tử cưỡi ngựa nhảy ra khỏi thành, thần làm sao thưa trình đây?” Thái Tử bảo: “Ngươi đem mão báu ta đang đội trên đầu, quần áo và chuỗi ngọc, y phục và những thứ trang sức trên thân ta, gỡ xuống đem về. Đấy là một cách để thưa trình. Xuất gia là do bản thân ta muốn đi, chẳng liên quan gì đến kẻ chăn ngựa như ngươi. Ta nhất định phải xuất gia tu hành”. Do vậy, Thái Tử liền hiện tướng xuất gia, dặn người chăn ngựa trở về bẩm báo.

          “Xả trân diệu y” (Bỏ áo quý đẹp): Cởi bỏ y phục Thái Tử đang mặc trên thân. “Nhi trước pháp phục” (mà mặc pháp phục): Mặc đạo phục vào. “Thế trừ tu phát” (cạo bỏ râu tóc): Ngay cả râu lẫn tóc thảy đều cạo sạch. Xét theo tứ chúng đệ tử của Phật Thích Ca để nói, cạo đầu tóc thì phải là mười chín tuổi. Nếu không, lấy đâu ra râu ria? Quý vị đến Ấn Độ sẽ biết, người Ấn Độ mười tám, mười chín tuổi, mặt đầy râu ria, cho nên Phật Thích Ca xuất gia lúc mười chín tuổi, đầu tóc lẫn râu ria đều cạo sạch. “Đoan tọa thụ hạ, cần khổ lục niên” (Ngồi ngay ngắn dưới gốc cây, siêng khổ sáu năm) tức là hiện tướng xuất gia, vào núi Tuyết (Himalaya) tu khổ hạnh sáu năm. Thái Tử chẳng làm quốc vương, mà muốn xuất gia. Đấy là quá trình trông thấy già, bệnh, chết vô thường, thị hiện tướng xuất gia của Phật Thích Ca.

Phải nhớ! Ở đây là Đẳng Giác Bồ Tát thị hiện, nói theo thế gian chúng ta, đấy là căn cơ thượng đẳng. “Lương mã kiến tiên ảnh nhi tẩu (Ngựa tốt thấy bóng roi liền chạy): “Lương mã” (良馬) là loại ngựa tốt nhất, chẳng cần phải đánh. Nó thấy bóng roi liền chạy rất nhanh. Ngựa kém hơn thì quý vị lấy roi đánh thế nào đi nữa, nó vẫn chẳng chạy mau. Vì thế, bản thân Thái Tử hoàn toàn chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, Ngài thấy kẻ khác già, bệnh, chết, liền giác ngộ. Nay chúng ta đã bị bệnh rất nhiều lần, sắp chết mà vẫn chẳng thể giác ngộ. Đã già khọm, vẫn chẳng thể giác ngộ. Đấy là vì chúng ta căn cơ chẳng đủ, phải biết thế gian vô thường, phải giác ngộ. Nếu không, tuy học Phật pháp mà chẳng đạt được lợi ích chân thật. “Hành như sở ưng” (Làm điều đáng nên làm): Trên đây đã nêu đại lược mấy thứ là chuyện phải nên làm của người xuất gia, thảy đều phải nên thị hiện. Đó gọi là “hành như sở ưng”.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7. Tướng thành Phật đạo

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7.1. Tắm gội gột rửa dơ bẩn trên thân

(Kinh) Hiện ngũ trược sát, tùy thuận quần sanh, thị hữu trần cấu, mộc dục kim lưu, thiên án thụ chi, đắc phan xuất trì.

          ()現五濁剎,隨順群生。示有塵垢,沐浴金流。天按樹枝,得攀出池。

          (Kinh: Thị hiện trong cõi ngũ trược, tùy thuận các chúng sanh, thị hiện [thân thể] có bụi bặm, dơ bẩn, tắm gội nơi dòng nước vàng, trời đè nhánh cây, để Ngài nắm lấy ra khỏi nước).

“Hiện ngũ trược sát, tùy thuận quần sanh” (Thị hiện trong cõi năm thứ dơ bẩn, tùy thuận các chúng sanh): Thị hiện trong đời ác ngũ trược. Trong kinh A Di Đà có danh từ Ngũ Trược, tức Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược, và Mạng Trược. Vì có năm thứ trược, cho nên thế giới này mới biến thành thế giới ác, gọi là Ngũ Trược Ác Thế. “Sát” (剎) là thế giới, thị hiện trong Ngũ Trược Ác Thế.

          “Thị hữu trần cấu” (Thị hiện có bụi nhơ): Ngài tu khổ hạnh sáu năm trong Tuyết Sơn. Lấy Phật Thích Ca làm thí dụ, mỗi ngày ăn một hạt mè, hoặc một hạt lúa mạch. Trong sáu năm trọn chẳng đắc đạo, mới cảm nhận khổ hạnh chưa phải là pháp rốt ráo. Ngài từ núi Tuyết xuống, khắp thân là bụi dơ, vì suốt sáu năm chẳng tắm rửa, vẫn là thị hiện.

          “Mộc dục kim lưu” (Tắm gội trong dòng nước vàng): “Kim lưu” là dòng nước chảy qua chỗ cát vàng.

          “Thiên án thụ chi” là chư thiên đè nhánh cây, “đắc phan xuất trì” (để Ngài nắm lấy ra khỏi chỗ nước). “Trì” ở đây chẳng phải là cái ao nước, mà là con sông. Xét theo trường hợp của Phật Thích Ca, Ngài đến sông Ni Liên (Nairañjanānadi) tắm rửa. Khi tắm rửa, vì Ngài tu khổ hạnh sáu năm, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, hay một hạt lúa mạch, trên người chẳng có chút hơi sức nào, nói thẳng là trèo lên bờ không nổi. Chư thiên đè cành cây xuống, cho Ngài vịn lấy, trèo lên cành cây, mới lên bờ được!

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7.2. Đi đến đạo tràng

(Kinh) Linh cầm dực tùng, vãng nghệ đạo tràng.

          ()靈禽翼從,往詣道場。

          (Kinh: Chim thiêng chầu hầu, đi đến đạo tràng).

“Vãng nghệ”: “Nghệ” (詣) là đến. Chỗ để tu đạo gọi là “đạo tràng”, tức Bồ Đề Tràng. Bồ Đề còn dịch là Thành Đạo. “Vãng nghệ đạo tràng” là từ sông Ni Liên đi đến Bồ Đề đạo tràng, có năm trăm con chim sẻ có linh cảm bay theo chân Ngài, vì thế nói là “linh cầm dực tùng”.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7.3. Nhận cỏ, ngồi yên

(Kinh) Cát Tường cảm trưng, biểu chương công tộ. Ai thọ thí thảo, phu Phật thụ hạ, già phu nhi tọa.

          ()吉祥感徵,表章功祚。哀受施草,敷佛樹下,跏趺而坐。

(Kinh: Trưởng giả Cát Tường được cảm vời [Phật] sẽ biểu hiện rành rành công phu và phước báo, bèn khẩn khoản xin Phật tiếp nhận cỏ cúng thí, trải dưới cội cây của Phật, để Ngài ngồi xếp bằng).

“Cát Tường cảm trưng, biểu chương công tộ”: [Đức Phật] từ sông Ni Liên tắm gội sạch sẽ, đi đến đạo tràng, đến chỗ dưới cội cây Bồ Đề. Khi ấy, có một vị trưởng giả tên là Cát Tường tìm đến. Cát Tường là tên người. Trưởng giả Cát Tường “cảm trưng”, “trưng” (徵) là triệu vời. Ai đã triệu vời ông ta đến? Công đức của đức Phật đã triệu vời ông ta đến. “Biểu chương công tộ”: Bên cạnh chữ Chương (章) còn có ba dấu nháy, tức Chương (彰). Thời cổ, hai chữ này (章 và 彰) dùng lẫn nhau. “Công tộ”: “Tộ” (祚) là phước báo. Đức Phật ắt sẽ thị hiện ngồi tĩnh tọa dưới cội Bồ Đề, có công đức, có phước báo, đấy là “biểu chương công tộ”.

“Ai thọ thí thảo” (khẩn khoản xin Phật tiếp nhận cỏ cúng thí), ý nói trưởng giả Cát Tường là người đã cắt cỏ. Ông ta dâng thí cỏ rất mềm mịn, có thể ngồi lên được. “Ai” (哀) là cầu xin, [“ai thọ thí thảo”] là cầu Phật tiếp nhận cỏ do ông ta dâng thí. “Phu Phật thụ hạ”, “phu” (敷) là trải đều cỏ đã dâng thí ra, xếp dưới cội cây Bồ Đề là nơi Phật sẽ thành đạo.

          “Già phu nhi tọa”: “Già phu” (跏趺) là tĩnh tọa. Tĩnh tọa vì sắp thành Phật. “Già phu”: Đối với tĩnh tọa thì “già phu” là chánh tọa, “già” (跏) là hai chân xếp chéo nhau, “phu” (趺) là lưng bàn chân. Chân chúng ta có lòng bàn chân và lưng bàn chân. Hai lưng bàn chân đâu vào nhau, như thế là “già phu đại tọa” (ngồi xếp bằng, ngồi tòa hoa sen), là “già phu chánh tọa”.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7.4. Thần lực hàng ma

(Kinh) Phấn đại quang minh, sử ma tri chi. Ma suất quan thuộc, nhi lai bức thí, chế dĩ trí lực, giai linh hàng phục.

          ()奮大光明,使魔知之。魔率官屬,而來逼試。制以智力,皆令降伏。

          (Kinh: Tỏa rực quang minh lớn, khiến cho ma biết. Ma suất lãnh bầy tôi, quyến thuộc đến bức bách, thử thách. Ngài dùng trí lực chế ngự, khiến chúng đềhàng phục).

Chúng ta nói “tám tướng thành đạo”, đem những điều trên đây tính toán đôi chút. Thứ nhất là từ trời Đâu Suất giáng hạ, thứ hai là nhập thai, thứ ba là xuất thai, thứ tư là xuất gia, thứ năm là hàng ma. Đây là tướng thứ năm tức hàng ma. Phật Thích Ca ngồi xếp bằng đều là thị hiện. “Phấn đại quang minh, sử ma tri chi” [nghĩa là] đức Phật phóng đại quang minh để ma vương hay biết. Ma vương là chúa tầng trời thứ sáu trong Dục Giới. Ông ta là chúa cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Tất cả chúng sanh trong Dục Giới đều do ông ta cai quản. Chúng sanh Dục Giới muốn liễu sanh thoát tử, muốn vượt thoát tam giới, ông ta sẽ tìm cách làm phiền, gây hại cho quý vị. “Ma” (魔) có nghĩa là hại người. “Ma suất quan thuộc”: Phật khiến cho ma biết, ma liền suất lãnh “quan thuộc” (官屬, quần thần, quyến thuộc), tức ma con, ma cháu. “Nhi lai bức thí” [nghĩa là] đến bức bách người sắp thành đạo, thử thách người ấy. “Chế dĩ trí lực”: Vị Bồ Tát sắp thành Phật dùng trí huệ của chính mình để chế phục, hàng phục ma.

Xét theo lịch sử của Thích Ca Mâu Ni Phật, ma thiên sai vạn biệt. Phân loại đại lược thì có hai loại: Một loại là nhuyễn ma (軟魔, ma mềm mỏng), loại kia là ngạnh ma (硬魔, ma cứng cỏi). “Nhuyễn ma” là ma vương sai hai cô gái đến dụ dỗ Phật. Đức Phật dùng trí huệ hàng phục bọn họ. Ma vương lại sai thiên binh, thiên tướng của hắn, đấy là ngạnh ma, họ cầm thương, đao, gươm, toan sát hại đức Phật. Khi ấy, đức Phật phóng từ bi quang, ma chẳng thể giết nổi thân Ngài, đức Phật còn thuyết pháp cho bọn chúng, dùng trí huệ để hàng phục quần ma.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.7.5. Hiện thành Phật đạo

(Kinh) Đắc vi diệu pháp, thành tối Chánh Giác.

          ()得微妙法,成最正覺。

(Kinh: Đắc pháp vi diệu, thành Chánh Giác cao tột).

“Đắc vi diệu pháp, thành tối Chánh Giác”: Đây là tướng thứ sáu, tức tướng thành đạo, là một loại trong tám tướng thành đạo. “Đắc vi diệu pháp”: Đạt được pháp vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. “Thành tối Chánh Giác”: [Tối Chánh Giác] là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, [thành tối Chánh Giác] tức là thành Phật.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8. Tướng chuyển pháp luân

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.1. Thỉnh chuyển pháp luân đầu tiên

(Kinh) Thích Phạm kỳ khuyến, thỉnh chuyển pháp luân.

          ()釋梵祈勸,請轉法輪。

          (Kinh: Đế Thích, Phạm Vương cầu xin, khuyên lơn, xin đức Phật chuyển pháp luân).

Đây là tướng thứ bảy, chuyển pháp luân. “Thích Phạm kỳ khuyến” (Đế Thích, Phạm Vương cầu xin, khuyên lơn): “Thích” là Đế Thích Thiên, “Phạm” là Đại Phạm Thiên. Đức Phật đã thành Phật, muốn thuyết pháp, phàm phu chẳng biết thỉnh Phật thuyết pháp như thế nào? Đế Thích Thiên và Đại Phạm Thiên biết đức Phật đã thành Phật, bèn giáng hạ, suất lãnh chúng sanh trong nhân gian đến thỉnh.

          “Thỉnh chuyển pháp luân” là thỉnh Phật thuyết pháp. Thuyết pháp gọi là “chuyển pháp luân”. Hãy ghi nhớ cách giải thích này: Luân (輪) là thí dụ, đức Phật thuyết pháp giống như Luân. Luân là bánh xe trong hiện thời. Bánh xe có hai thứ công dụng: Một là nghiền nát, hai là chuyên chở. Dưới đất có rác rưởi gì, bánh xe lăn qua, chúng đều bị nghiền nát. Bánh xe có thể chuyên chở cái xe ở phía trên, có thể chuyên chở chúng sanh, từ nơi này chở đến nơi kia. Đấy là ý nghĩa “chuyên chở”. Đức Phật thuyết pháp giống như bánh xe, có thể nghiền nát phiền não, phá tan phiền não. Từ sanh tử ở nơi đây, chuyên chở chúng sanh đến bờ kia Niết Bàn. Do vậy, đức Phật thuyết pháp giống như bánh xe, gọi là Pháp Luân.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2. Do lời thỉnh mà thuyết pháp

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.1. Thân và miệng dấy lên sự giáo hóa

(Kinh) Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống, khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng; chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian.

          ()以佛遊步,佛吼而吼。扣法鼓,吹法螺,執法劍,建法幢;震法雷,曜法電,澍法雨,演法施。常以法音,覺諸世間。

          (Kinh: Dùng các oai nghi của Phật, diễn nói như Phật, đánh trống pháp, thổi ốc pháp, cầm gươm pháp, dựng tràng pháp; rền sấm pháp, xẹt chớp pháp, xối mưa pháp, diễn pháp thí, thường dùng các pháp âm để giác ngộ thế gian).

“Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống”: Vị Phật mới thành đạo, tức là do Bồ Tát thị hiện. Ngài thị hiện thành Phật, hết thảy đều giống như Phật. Đế Thích Thiên, Đại Phạm Thiên thỉnh Ngài chuyển pháp luân, Ngài bèn “dĩ Phật du bộ” (dùng các oai nghi của Phật), “du bộ” bao gồm bốn đại oai nghi “hành, trụ, tọa, ngọa”. “Hành” là đi lại, đi như thế nào? Giống như Phật. “Trụ” là đứng, đứng có oai nghi của đứng. “Tọa, ngọa”: Ngồi hay ngủ đều có oai nghi. Đi, đứng, ngồi, nằm đều giống như Phật. Đấy là dùng thân nghiệp để giáo hóa chúng sanh.

“Phật hống nhi hống”: [“Phật hống”] là Phật thuyết pháp. [“Phật hống nhi hống”] là học theo cách Phật thuyết pháp, thuyết pháp giống như Phật. Đức Phật thuyết pháp được gọi là “sư tử hống” (sư tử rống). “Rống” là thí dụ. Sư tử vừa rống, trăm thú bị chấn động, kinh hãi! Đức Phật vừa thuyết pháp, hết thảy các ngoại đạo đều bị hàng phục, giống như sư tử rống. Bồ Tát thị hiện Phật đã thành đạo, tướng chuyển pháp luân sẽ giống hệt như Phật, như sư tử rống!

Phải chú ý hai câu này! Vì sao Bồ Tát thuyết pháp phải học theo sự du bộ của Phật, tức là nói đến tứ đại oai nghi? Chúng ta học theo Phật chuyển pháp luân, học theo Phật thuyết pháp thì đều có sự trang nghiêm nhất định. Nhấn mạnh sự oai nghi nơi thân nghiệp, quý vị ắt cần phải chú trọng oai nghi. Chẳng chú trọng oai nghi, chúng sanh vừa nhìn vào dáng vẻ của quý vị, [sẽ cho rằng] quý vị chẳng đủ tư cách để làm pháp sư, chẳng sanh khởi cái tâm cung kính đối với quý vị, họ sẽ chẳng nghe quý vị thuyết pháp. Bởi lẽ, trong hiện thời, có những vị pháp sư trẻ tuổi, tận hết sức mong học giảng kinh, thuyết pháp, nhưng chẳng chú trọng oai nghi. Đấy là sai lầm to lớn!

Các vị đã từng đọc Mạnh Tử hay chưa? Mạnh Tử đến nước Lương, gặp Lương Huệ Vương. Lương Huệ Vương14 khi ấy là quốc vương của nước Lương, sống ở Bắc Kinh. Lương Huệ Vương đã chết, con ông ta là Lương Tương Vương kế vị làm quốc vương. Khi Lương Tương Vương làm quốc vương, Mạnh Tử đến gặp nhà vua. Mạnh Tử gặp Lương Tương xong, đi ra nói với người khác: “Vọng chi bất tự nhân quân, tựu chi nhi bất kiến sở úy yên”. Nghĩa là Mạnh Tử gặp Lương Vương xong, ra nói với người khác: Thoạt nhìn vua Lương chẳng giống một vị vua, lại chẳng có ai nghe theo lời ông ta nói. Thoạt nhìn, thấy hình dáng, chẳng giống một vị quốc vương. Lại nghe ông ta nói chuyện, hoàn toàn trật lất. Vì thế, Mạnh Tử liền rời khỏi nước Lương. Đấy là một thí dụ về sự rất khẩn yếu của oai nghi. Quốc vương có oai nghi của quốc vương. Quý vị làm quốc vương mà hoàn toàn chẳng giống một vị vua, chẳng ra vẻ một vị quốc vương. Nay quý vị làm pháp sư mong giảng kinh, thuyết pháp, nhất định phải có oai nghi của pháp sư. Chẳng đủ oai nghi, chúng sanh còn có thể nghe quý vị giảng kinh nữa hay sao? Các pháp sư thanh niên nhất định phải chú ý oai nghi. “Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống”: Hai câu này là tướng thứ bảy, nêu tổng quát về tướng chuyển pháp luân. Tám câu kế tiếp là nói riêng từng điều, nhằm phân biệt rõ rệt “Phật hống nhi hống” là rống như thế nào?

“Khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng”, bốn câu này đều là thuyết pháp. Bốn câu ấy tương ứng với bốn pháp Văn, Tư, Tu, Chứng. Nếu chúng sanh nghe pháp, sẽ khởi lên Văn Huệ. “Nghe pháp” giống như “khấu pháp cổ” (đánh trống pháp). “Xuy pháp loa” (thổi ốc pháp): Chúng sanh nghe pháp khiến cho họ tư duy. “Chấp pháp kiếm” (cầm gươm pháp): Tương xứng với tu hành, vì gươm có thể phá trừ hết thảy, giống như tu hành thì mới có thể diệt trừ hết thảy phiền não. “Kiến pháp tràng” (lập tràng pháp) tương xứng với “chứng pháp” trong phần trên. Chứng đắc Phật pháp thì mới có thể dựng cao pháp tràng.

“Chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí”: Bốn câu này tương xứng Tứ Vô Ngại Trí, và bốn thứ vô ngại biện tài. Cái đạt được từ trong tâm là trí huệ, thốt ra miệng là biện tài. Phật chứng đắc Tứ Vô Ngại Trí, từ trong miệng thốt ra, gọi là Tứ Vô Ngại Biện. “Chấn pháp lôi” (rền sấm pháp): Trong bốn loại biện tài, thứ nhất là Pháp Vô Ngại Biện. Vị ấy thuyết pháp vô ngại, giống như “chấn pháp lôi”“Diệu pháp điện” (chói lòa tia chớp pháp): Muốn nổi sấm, xối mưa to, tia chớp xẹt sáng, đều là giảng pháp, nghĩa lý vô ngại thì gọi là Nghĩa Vô Ngại Biện. “Diệu pháp điện” (xẹt tia chớp pháp), giống như tỏa ra quang minh. “Chú pháp vũ” (tuôn mưa pháp): Trời đổ mưa, đức Phật thuyết pháp giống như “chú pháp vũ”. Đấy là Từ Vô Ngại Biện. Đức Phật thuyết pháp ngôn từ vô ngại. “Diễn pháp thí”: Dùng pháp để bố thí, giống như Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện. Chúng sanh thích nghe pháp gì, bèn hướng về họ nói pháp ấy, khiến cho chúng sanh nghe rất hoan hỷ. Chuyện này giống như Pháp Bố Thí.

“Thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian” (Thường dùng pháp âm để giác ngộ thế gian): Hai câu này là tổng kết. Sau khi đức Phật đã thành Phật bèn thuyết pháp, một mực thuyết pháp cho đến khi nhập Niết Bàn vẫn thuyết pháp. Đấy là “thường dĩ pháp âm” để giác ngộ chúng sanh trong hết thảy các thế giới.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.2. Thân và miệng nhiếp thọ tạo lợi ích

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.2.1. Dùng thân nghiệp hàng phục ma, khiến lìa tà nghiệp

(Kinh) Quang minh phổ chiếu vô lượng Phật độ. Nhất thiết thế giới lục chủng chấn động, tổng nhiếp ma giới, động ma cung điện. Chúng ma triệp bố, mạc bất quy phục.

          ()光明普照無量佛土。一切世界,六種震動。總攝魔界,動魔宮殿。眾魔慴怖,莫不歸伏。

          (Kinh: Quang minh chiếu trọn khắp vô lượng cõi Phật. Hết thảy các thế giới sáu thứ chấn động, nhiếp trọn ma giới, lay động cung điện ma. Các ma kinh hoảng, không ai chẳng quy phục).

“Quang minh phổ chiếu vô lượng Phật độ” [nghĩa là] đức Phật thuyết pháp sẽ tỏa quang minh, quang minh sẽ chiếu trọn khắp vô lượng cõi Phật. “Nhất thiết thế giới, lục chủng chấn động” (Hết thảy các thế giới sáu thứ chấn động): Đức Phật thuyết pháp có oai nghi, có thể khiến cho hết thảy vô lượng thế giới, mỗi thế giới đều có sáu thứ chấn động. Trong phần trước đã nói, chuyện này nhằm cảnh giác chúng sanh.

“Tổng nhiếp ma giới, động ma cung điện. Chúng ma triệp bố, mạc bất quy phục” (Nhiếp trọn ma giới, lay động cung điện ma. Các ma kinh hoảng, không ai chẳng quy phục): Trong phần hiện tám tướng thành đạo đã nói trên đây, hàng ma là một tướng, thành đạo là một tướng nữa. Ở đây chẳng phải là tướng thành Phật hàng ma, mà là hàng phục ma trong mười phương thế giới. Trong phần trước đã nói Ngài “thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian, quang minh phổ chiếu vô lượng Phật độ” (thường dùng các pháp âm để giác ngộ các thế gian, quang minh chiếu khắp vô lượng cõi Phật), phóng quang minh chiếu thấu vô lượng cõi Phật, vô lượng thế giới. “Nhất thiết thế giới, lục chủng chấn động”, [ý nói] chẳng phải là một thế giới có sáu thứ chấn động, mà là vô lượng thế giới đều có sáu thứ chấn động. Tiếp đó nói “tổng nhiếp ma giới” (nhiếp trọn ma giới): Nhiếp (攝) là thâu nhiếp. Thâu nhiếp hết thảy ma giới. Hết thảy các thế giới đều có cung điện của ma vương, thảy đều bị chấn động. “Chúng ma triệp bố”“Triệp bố” (慴怖) là kinh hãi, hốt hoảng, sợ hãi. “Mạc bất quy phục”: Ma trong vô lượng thế giới đều quy y, điều phục. Dưới đây lại nói về chuyện hàng phục ngoại đạo.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.2.2. Khẩu nghiệp phá tà, khiến lìa phiền não

(Kinh) Quặc liệt tà võng, tiêu diệt chư kiến, tán chư trần lao, hoại chư dục tiệm, nghiêm hộ pháp thành, khai xiển pháp môn, tẩy trạc cấu ô, hiển minh thanh bạch, quang dung Phật pháp, tuyên lưu chánh hóa.

          ()摑裂邪網,消滅諸見。散諸塵勞,壞諸欲壍。嚴護法城,開闡法門。洗濯垢汙,顯明清白。光融佛法,宣流正化。

          (Kinh: Xé rách lưới tà, tiêu diệt các kiến, phá tan các trần lao, hủy hoại các hào dục, giữ nghiêm ngặt pháp thành, mở mang, xiển dương pháp môn, gột rửa nhơ bẩn, sáng sủa thanh bạch, dung hội rạng ngời Phật pháp, tuyên lưu sự giáo hóa chánh đáng).

“Quặc liệt tà võng, tiêu diệt chư kiến” (Xé rách lưới tà, tiêu diệt các kiến giải): Trong phần trước đã nói tới chuyện hàng phục ma vương. Trong mỗi thế giới đều có bọn ngoại đạo. Tri kiến của bọn người đạo ấy đều là tà tri tà kiến. Những pháp môn do họ đặt ra đều là các tà pháp. Tà pháp không chỉ là một thứ, giống như lưới giăng khiến cho chúng sanh bị mê hoặc [nên gọi là “tà võng”]. “Quặc liệt tà võng”: “Quặc liệt” (摑裂) là phá vỡ, tức là đả phá tà pháp của ngoại đạo. “Tiêu diệt chư kiến”: Phá tan tà pháp, tà tri tà kiến của bọn ngoại đạo. Lại còn phải tiêu diệt những thứ ấy. “Tà võng” (lưới tà) là tà pháp ngoài tâm, phá “chư kiến” là tiêu diệt tà kiến trong tâm.

“Tán chư trần lao, hoại chư dục tiệm” (phá các trần lao, hoại các hào dục): Đây là nói về phàm phu. Phiền não của phàm phu là do mê hoặc bởi ngũ dục. “Tán chư trần lao” (Phá tan trần lao): Trần lao là một loại phiền não. Trần lao là loạn tưởng. Hết thảy các phiền não nhiễu loạn chúng sanh, phiền não do đâu mà có? Do trần cảnh bên ngoài đưa đến. Phàm phu luôn tham cầu cảnh giới sáu trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Hễ tham cầu cảnh giới sáu trần, sẽ nhiễu loạn cái tâm của chính mình. “Lao” (勞) là rối loạn. Phá tan tất cả trần lao của chúng sanh, “tán” (散) là phá trừ.

“Hoại chư dục tiệm”: “Dục” (欲) là ham muốn niềm vui ngũ dục. “Tiệm” (壍) là hào nước sâu. Chúng sanh tham cầu thú vui ngũ dục, rơi xuống hào sâu chẳng thoát ra được, bị trần lao của niềm vui ngũ dục lôi xuống, chìm lỉm trong hào sâu ngũ dục. Phải đập nát, phá hoại hào sâu ngũ dục, giống như cứu họ thoát khỏi hào sâu. Đây là tán thán công đức của các vị Bồ Tát ấy. Không chỉ là tạo công đức trong một thế giới, mà là trong vô lượng thế giới, vô lượng cõi Phật đều làm công đức. Trước hết là phá tà hiển chánh. Trong phần trước có nói tới chuyện hàng phục ma vương; đấy là phá tà. Hàng phục ngoại đạo vẫn là phá tà. Hàng phục phàm phu vẫn là phá tà. Phá tan tà tri tà kiến để hiển chánh. Dưới đây là hiển dương chánh pháp, tức là tuyên dương chánh pháp của Phật.

“Nghiêm hộ pháp thành, khai xiển pháp môn”: Bảo vệ Phật pháp nghiêm mật, giống như một quốc gia bảo vệ thành trì của chính mình, đấy là “nghiêm hộ pháp thành”. “Khai xiển pháp môn”: Ta muốn mở cửa thành khiến cho nhân dân đều vào trong cái thành này của ta. Đấy là muốn khai chuyển pháp luân. Khai chuyển pháp luân nói tổng quát sẽ là pháp môn Lục Độ. Lục Độ nếu mở rộng ra sẽ là muôn loại hạnh môn.

“Tẩy trạc cấu ô, hiển minh thanh bạch” (gột rửa nhơ bẩn, hiện rõ sự thanh bạch): “Cấu ô” (垢汙) là vô minh phiền não. “Khai xiển pháp môn” cho chúng sanh là dạy chúng sanh tu hành, tu hành để làm gì? Tu hành nhằm đoạn phiền não. Phiền não là “cấu ô”. Thân thể vốn thanh tịnh, trong trắng, vì bị trần cấu ô nhiễm, cần phải “tẩy trạc” (洗濯, gột rửa). Rửa đi rửa lại thì là Trạc (濯). “Tẩy trạc cấu ô” là gột sạch tập khí trần cấu ô nhiễm. “Hiển minh thanh bạch”: Hiển lộ cái thân thể vốn sẵn thanh tịnh, trong trắng, làm lộ rõ cái thân thanh bạch. Vốn sẵn thanh bạch, nhưng bị nhuốm bẩn bởi trần lao, trần cấu. Trần cấu còn có một danh xưng khác là Khách Trần. “Khách” (客) [hàm ý] chẳng phải là chính mình, nó đến từ bên ngoài. “Trần” (塵) cũng là trần cảnh, là cảnh giới ở ngoài tâm, quý vị chớ nên tham cầu nó. Hễ tham cầu, quý vị sẽ bị nhiễm bẩn. Vì thế, hiểu rõ Khách Trần chẳng phải là chủ nhân trong nhà của ta, sẽ rất dễ dàng đả phá nó, rất dễ gột sạch nó. Lý Thể Pháp Thân của ta vốn thanh tịnh, trong trắng, nhưng đối với chúng sanh, nó chẳng hiển hiện được, vì bị trần lao phiền não làm nhơ bẩn. Hiện thời, học Phật pháp thì phải tu hành, đoạn phiền não, hòng hiển hiện Pháp Thân vốn sẵn thanh tịnh, trong sạch.

Bồ Tát cứu độ chúng sanh thì phải hoằng dương chánh pháp. Hoằng dương chánh pháp thì trước hết phải dạy chúng sanh tà pháp là gì? Phá trừ tà pháp, sửa trừ những tà kiến trong tâm, mới có thể khiến cho chúng sanh tiếp nhận chánh pháp, nẩy sanh lòng tín ngưỡng. Đã tín ngưỡng rồi bèn thông hiểu, đã thông hiểu rồi thì sẽ tu hành. Tu hành là làm gì? Phải ghi nhớ! Tu hành là đoạn phiền não. Tu hành chẳng phải là tu Pháp Thân, [bởi lẽ], Pháp Thân vốn sẵn có, chẳng cần phải tu mới thành. Nếu cần phải tu tập để thành tựu Pháp Thân, Pháp Thân sẽ trở thành thứ giả trất, chúng ta có thể tự mình sửa chữa, chế tạo. Thứ do phàm phu sửa chữa và chế tạo thì còn có phải là thật hay chăng? Do vậy, Pháp Thân vốn sẵn có, là diệu lý Thật Tướng, là chân lý chưa bao giờ biến động. Pháp Thân vốn thanh bạch, vì bị khách trần nhiễm bẩn, cho nên cần tẩy rửa. “Tẩy trạc là tu hành, tu rồi lại tu, giặt đi giặt lại, hòng đoạn hết sạch phiền não, Pháp Thân sẽ hiện tiền. Do vậy, đợi đến khi Pháp Thân hiện tiền bèn thành Phật, đạt được cái “chẳng đạt được”, vì Pháp Thân vốn sẵn có, chẳng do từ bên ngoài mà có!

“Quang dung Phật pháp, tuyên lưu chánh hóa” (Dung hội rạng ngời Phật pháp, tuyên dương, lưu thông sự giáo hóa chánh đáng): “Quang dung Phật pháp” là nói tương ứng với “khai xiển pháp môn” trong phần trước. Phật pháp như cái thành lớn. Thành cần phải mở cửa, hết thảy đại chúng mới có thể đi vào. Vậy thì mở cửa thành sẽ chẳng chỉ mở một cửa. “Khai xiển pháp môn” (Mở mang, xiển dương pháp môn) hoàn toàn chẳng phải là một thứ, vì căn cơ của chúng sanh sai khác, chẳng đồng nhất, đức Phật cũng có đủ loại pháp môn. Nêu lên đại cương thì có Lục Độ, lại mở rộng ra thì là muôn loại pháp môn, nhưng Phật pháp chẳng có hai món. Ở đây phải “quang dung Phật pháp”. “Quang” là phóng trí huệ quang, “dung” (融) là dung hội, quán thông, [tức là] hợp các loại pháp môn lại thành một Phật pháp thì gọi là “quang dung Phật pháp”. Dung hội, quán thông như thế nào? Đạt được trí huệ. Vì thế, người mới học hãy cân nhắc một pháp môn để có thể giúp họ đoạn phiền não. Quý vị học một pháp môn này, kẻ khác học pháp môn khác, dường như chẳng có gì chung giữa đôi bên, chẳng biết Phật pháp không có hai loại. Khi trí huệ cao sâu dấy lên, tỏa ra quang minh trí huệ thì sẽ có thể dung hội, quán thông, hiểu thấu suốt thảy đều là một Phật pháp. “Tuyên lưu chánh hóa”: Phật pháp cần phải tuyên dương, lưu truyền, truyền bá rộng rãi. Tuyên lưu, truyền bá rộng rãi thì phải tuyên dương Phật pháp. Tuyên dương Phật pháp mới là sự giáo hóa chánh đáng.

Tôi thường xuyên nhắc nhở chư vị: Nghe kinh là để chúng ta học Phật pháp. Quý vị nghe đến đâu, học đến đó. Pháp ấy sẽ dẫn dắt quý vị, quý vị nghe đến chỗ này, bèn học đến chỗ này. Hiện thời, tại Trung Hoa, kinh Đại Thừa có tám tông phái, vẫn chẳng phải là có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Đối với tám tông phái ấy, nói chung là học theo một tông phái, khéo tu hành, khéo đoạn phiền não. Thế nhưng quý vị chớ nên chấp trước, tu Thiền Tông sẽ hủy báng Tịnh Độ, học Tịnh Độ sẽ hủy báng Thiền Tông; học Mật Tông bèn hủy báng Hiển Giáo, học Hiển Giáo sẽ hủy báng Mật Tông. Hủy báng tới, hủy báng lui, toàn là tự mình đánh mình! Thiền Tông là Phật pháp, Tịnh Độ Tông cũng là Phật pháp; Hiển Giáo là Phật pháp, Mật Tông cũng là Phật pháp. Trong vòng các tông, hủy báng lẫn nhau, chẳng hủy báng tà ma ngoại đạo, trông thấy ngoại đạo bèn sợ hãi, cũng chẳng dám hủy báng, tận hết sức mình đánh người trong nhà của chính mình, Phật pháp làm sao có thể hưng thịnh cho nổi? Do đó, quý vị phải dung hội, quán thông, hết thảy các pháp đều là Phật pháp.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.2.3. Thân nghiệp tiếp nhận cúng dường, sanh ra phước thiện cho người khác

(Kinh) Nhập quốc phân vệ, hoạch chư phong thiện. Trữ công đức, thị phước điền.

          ()入國分衛,獲諸豐膳。貯功德,示福田。

          (Kinh: Vào quốc thành khất thực, đạt được các thức ăn phong phú, chất chứa công đức, chỉ bày phước điền).

“Nhập quốc phân vệ”: Chữ Phân Vệ (分衛, Piṇḍapāta) trong tiếng Phạn dịch sang tiếng Hán là Khất Thực. Kinh Kim Cang chép: “Nhập Xá Vệ đại thành khất thực” (Vào trong đại thành Xá Vệ để khất thực). Phật Thích Ca làm như thế, mà hết thảy các vị đại Bồ Tát thị hiện thành Phật cũng đều là như vậy. “Nhập quốc”: Quý vị đang ở nước nào, bèn vào trong nước ấy. Phật Thích Ca vào đại thành Xá Vệ, các vị Bồ Tát khác mỗi vị ở cõi Phật của chính mình, vào trong quốc thành của họ để khất thực. Bồ Tát đều có thể thị hiện thành Phật, cần gì phải ăn uống nữa? Đấy là vì lợi ích chúng sanh. Tiếp đó bèn nói: Vì lẽ gì Bồ Tát còn phải khất thực, còn phải ăn uống? Chính là vì đạo lý này.

          “Hoạch chư phong thiện”: Hoạch (獲) là thu được, [“hoạch chư phong thiện”] là đạt được món ăn phong phú. “Thiện” (膳) chính là những thứ để ăn.

“Trữ công đức, thị phước điền”: Hai câu này nhằm nói rõ vì sao Phật, Bồ Tát phải xin cơm ăn? Nhằm lợi ích chúng sanh, khiến cho chúng sanh tích tụ “công đức”. Trữ (貯) là tích tụ, giống như chúng ta ra ngân hàng gởi tiền vậy. Ngày hôm nay gởi vào mấy đồng, ngày mai gởi mấy đồng nữa, đấy gọi là Trữ. Hôm nay người ấy dâng thí đức Phật một chén cơm, ngày mai lại dâng thí một chén cơm, giống như ra ngân hàng gởi tiền vậy, tích “trữ công đức”. “Thị phước điền” (Chỉ bày ruộng phước): Khai thị chúng sanh, khiến cho chúng sanh gieo phước. Chúng ta muốn gieo lúa mạch thì ra ruộng lúa mạch mà gieo. Muốn gieo hạt gạo thì ra ruộng trồng lúa gạo mà gieo. Quý vị muốn gieo phước, hãy gieo trên thân người xuất gia! Đức Phật thị hiện tướng tỳ-kheo, quý vị cúng dường người xuất gia dùng bữa là gieo phước. Người xuất gia được gọi là “phước điền tăng”, [“thị phước điền”] là khai thị cho chúng sanh gieo phước điền.

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.8.2.2.4. Khẩu nghiệp thuyết pháp, khiến cho [người nghe] tu đạo xuất ly

(Kinh) Dục tuyên pháp, hiện hân tiếu, dĩ chư pháp dược, cứu liệu tam khổ, hiển hiện đạo ý, vô lượng công đức, thọ Bồ Tát ký, thành Đẳng Chánh Giác.

          ()欲宣法,現欣笑。以諸法藥,救療三苦。顯現道意,無量功德。授菩薩記,成等正覺。

          (Kinh: Muốn tuyên nói pháp, hiện vẻ tươi cười, dùng các pháp dược cứu chữa ba khổ, hiển hiện đạo ý, vô lượng công đức, thọ ký cho hàng Bồ Tát thành Đẳng Chánh Giác).    

“Dục tuyên pháp, hiện hân tiếu” (Muốn tuyên nói pháp, hiện vẻ tươi cười): Quý vị đọc kinh Kim Cang, [sẽ thấy chép]: “Nhĩ thời Thế Tôn, thực thời, trước y trì bát, nhập Xá Vệ đại thành khất thực, ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bổn xứ, phạn thực ngật, thâu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa” (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đến giờ ăn, bèn đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy, theo thứ tự khất thực xong, trở về chỗ mình, dùng cơm xong, cất y bát, rửa chân rồi, trải tòa mà ngồi). Thích Ca Mâu Ni Phật vào đại thành Xá Vệ khất thực xong, trở về Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên, dùng cơm xong, cất dọn y bát, rửa chân rồi, trải tòa ra để ngồi. “Tẩy túc dĩ” là rửa chân, tĩnh tọa thì phải ngồi xuống, ngồi xuống rồi sẽ giảng kinh Kim Cang. Chư đại Bồ Tát thị hiện thành Phật, thuyết pháp cũng giống như vậy, khất thực xong bèn dùng cơm. “Dục tuyên pháp” là muốn thuyết pháp, thuyết pháp thì vẻ mặt phải “hiện hân tiếu”, [tức là] vẻ mặt rất hoan hỷ. Trong phần kinh văn dưới đây, khi nói đến phần Phát Khởi Tự, Phật Thích Ca giảng kinh Vô Lượng Thọ cũng mang vẻ mặt hoan hỷ, tươi cười. Vì sao đức Phật thuyết pháp bèn hiện vẻ tươi cười, hân hoan? Vì chúng sanh đã thành tựu cái duyên đắc độ tốt đẹp. Chúng sanh muốn thoát ly biển khổ thì chỉ có Phật xuất thế thuyết pháp, chúng sanh sẽ có thể đắc độ. Phật đến cứu độ chúng sanh, thấy chúng sanh sắp thoát ly biển khổ, cho nên Ngài mang vẻ mặt tươi cười.

“Dĩ chư pháp dược, cứu liệu tam khổ” (Dùng các pháp dược cứu chữa ba khổ): Vì sao cần phải thuyết pháp? Pháp giống như thuốc men; vì sao bảo chúng sanh uống thuốc? Vì chúng sanh có bệnh khổ não. Khổ não rất nhiều, nói tổng hợp thì có ba loại khổ. Thứ nhất, khổ là Khổ Khổ. Thứ hai, lạc là Hoại Khổ. Thứ ba, chẳng khổ chẳng lạc là Hành Khổ. Trong nhân gian, ba thứ khổ này đều có, Dục Giới Thiên trọn đủ hai thứ khổ, hai giới trên đó là Sắc Giới và Vô Sắc Giới đều có một thứ khổ. Nhân gian thì cả ba thứ khổ đều có, chúng sanh trong nhân gian chịu khổ, tức là khổ càng thêm khổ:

1) Cái thân Ngũ Ấm của chúng ta vốn là cái gốc khổ. Thân thể của chúng ta do cha mẹ sanh ra là để chịu khổ. Quý vị chẳng ăn cơm, sẽ khổ vì đói, chẳng uống nước, sẽ khổ vì khát. Mùa Hè thì khổ vì nóng, mùa Đông khổ vì lạnh, khổ vì bệnh tật, già cả thì khổ vì già. Cái thân Ngũ Ấm là căn bản của khổ, đã khổ càng thêm khổ, thì gọi là Khổ Khổ.

2) Nếu quý vị đang hưởng phước sung sướng, sung sướng chẳng thể lâu dài. Lạc là Hoại Khổ. Nếu lạc đã bị hoại, đấy mới là khổ não dữ dội, khiến cho quý vị chẳng thể chịu đựng nổi. Chẳng hạn như quý vị vốn chẳng phát tài, vốn chẳng làm quan to, đấy là Khổ Khổ, chịu đựng nỗi khổ nghèo hèn, vẫn có thể chịu đựng được. Nếu quý vị làm quan lớn, giàu sụ, về sau, thời thế xoay chuyển, địa vị quan to mất đi, tiền tài bị kẻ khác tịch thu, khi ấy sẽ khổ sở dữ dội, khổ đến nỗi chẳng thể sống nổi. Do vậy, lạc là Hoại Khổ.

3) Còn có một loại người, họ chẳng vui sướng to lớn mà cũng chẳng khổ lắm, rất bình phàm, nhưng sự bình phàm cũng chẳng thể giữ mãi, đấy là Hành Khổ. “Hành” (行) là đổi dời chẳng ngừng. Quý vị cảm thấy cuộc sống rất bình lặng, ta chẳng khổ mà cũng chẳng sướng, cuộc sống này rất tốt! Nhưng đổi dời chẳng ngừng, sanh mạng của quý vị chẳng thể ngưng nghỉ, tự nhiên sẽ từ tráng niên trở thành già nua, từ già đến chết. Đấy là Hành Khổ.

Đối với chúng sanh trên cõi trời, trời chia thành tam giới. Dục Giới có sáu tầng trời, Dục Giới hưởng niềm vui ngũ dục đều là diệu lạc. “Diệu” (妙) nghĩa là chúng ta chẳng thể suy tưởng được. Họ hưởng thiên lạc (niềm vui trong cõi trời) rất tốt đẹp, nhưng cái lạc mà họ hưởng là Hoại Khổ. Phước trời sẽ có lúc hưởng hết. Hưởng hết thì vẫn phải luân hồi. Kinh Phật có nói, có một vị trời từ trên trời đọa xuống, lập tức đọa vào trong bụng của một con lợn nái ghẻ lở. Con lợn nái ấy sanh ra đã là toàn thân ghẻ lở. Người trên cõi trời có thần thông, vị trời ấy trông thấy, nhưng khi đọa xuống, phải đầu thai trong bụng con lợn nái ghẻ lác, quý vị xem đó! Họa hoạn kiểu đó có thể chịu đựng nổi hay chăng? Vì thế, sanh lên trời cảm giác chẳng tránh khỏi mối họa ấy. Dục Giới gọi Lạc là Hoại Khổ, họ chẳng có Khổ Khổ, vì họ chỉ hưởng phước trời, hưởng lạc, nhưng lạc chẳng lâu dài. Hưởng hết phước trời, vẫn phải luân hồi xuống thấp hơn, nên gọi Lạc là Hoại Khổ, nhưng chư thiên có hai thứ khổ là Hoại Khổ và Hành Khổ. Hai giới trên đó là Sắc Giới và Vô Sắc Giới, họ tu Tứ Thiền Bát Định, chẳng hứng chịu Khổ Khổ trong nhân gian, mà cũng chẳng hưởng thụ niềm vui ngũ dục như Dục Giới Thiên. Họ chẳng khổ, chẳng lạc, đạt được cảnh giới Thiền Định rất tốt đẹp. Nhưng quý vị phải hiểu, họ vẫn bị đổi dời không ngừng, vẫn có lúc Định lực tiêu tán, chẳng thoát khỏi phạm vi của lục đạo luân hồi. Do vậy, hai giới trên là Sắc Giới và Vô Sắc Giới chẳng có Khổ Khổ và cũng chẳng có Hoại Khổ, nhưng có Hành Khổ. Nói tới ba nỗi khổ này, ngay cả chư thiên trong tam giới cũng đều phải kể đến. Nhìn lại loài người chúng ta, cả ba nỗi khổ đều có.

Học Phật pháp thì trước hết là biết khổ, Thích Ca Mâu Ni Phật đã thành Phật, Ngài muốn cứu độ chúng sanh bèn thuyết pháp. Thuyết pháp thì trước hết là đến độ năm vị tỳ-kheo, nói pháp môn Tứ Đế, tức Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trước hết nói đến Khổ, bảo năm vị tỳ-kheo hãy biết Khổ. Khổ do đâu mà có? Khổ là khổ quả. Khổ do Tập mà có. Tập là phiền não, do đã tạo cái nhân phiền não mà có. Nếu quý vị biết Khổ, trước hết hãy đoạn Tập, tức là đoạn phiền não. “Mộ Diệt tu Đạo” (Do hâm mộ Diệt mà tu Đạo), “Diệt” là tịch diệt, tức Niết Bàn. [“Mộ Diệt” là] ngưỡng mộ Tịch Diệt Niết Bàn. Quý vị ngưỡng mộ [mong muốn] đạt được Niết Bàn thì phải tu Đạo. Phật Thích Ca nói pháp môn Tứ Đế là nói với năm vị tỳ-kheo. Trên thực tế, đức Phật thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, chẳng rời khỏi pháp Tứ Đế: “Biết Khổ đoạn Tập, mộ Diệt tu Đạo”. Nếu quý vị giảng Phật pháp mà chẳng thể khiến cho chúng sanh biết khổ, những gì quý vị đã giảng toàn là nói suông. Vì sao? Họ chẳng biết khổ, làm sao tu hành? Họ chẳng tu hành, quý vị giảng Phật pháp cho họ nửa ngày, chẳng phải là đã nói những lời rỗng tuếch ư? Lại nói về kinh văn, đây là chư đại Bồ Tát thị hiện tám tướng thành đạo: Thành Phật, chuyển pháp luân, thuyết pháp cho chúng sanh nghe, giống như cho chúng sanh uống thuốc để cứu chữa bệnh tật của chúng sanh. Bệnh gì vậy? Ba loại bệnh khổ. Đấy là “cứu liệu tam khổ” (cứu chữa ba khổ).

“Hiển hiện đạo ý, vô lượng công đức”: Cứu vớt ba thứ khổ của chúng sanh, [khiến cho họ] có thể vượt thoát tam giới, chứng đắc cực quả là A La Hán, hay Bích Chi Phật. Đấy là Tiểu Thừa. Cứu độ chúng sanh thì nhất định phải khiến cho họ thành Phật. Quý vị cứu độ chúng sanh thoát khỏi tam giới thì vẫn chưa phải là Phật pháp rốt ráo. Đó là Tiểu Thừa. Nhưng căn cơ của chúng sanh khác nhau, có kẻ tu Tiểu Thừa mà còn tu chẳng được, trước hết hãy bảo họ tu Nhân Thiên Thừa, bảo họ thọ Tam Quy Y, thọ Ngũ Giới, giữ cho thân người chẳng mất. Đấy gọi là pháp Nhân Thiên. Pháp Nhân Thiên cứu họ chẳng đọa ba ác đạo, vẫn là cứu ba nỗi khổ ấy. Còn có những chúng sanh căn cơ cao hơn một chút, bèn dạy họ tu mười thứ thiện pháp, khiến cho họ thăng thiên, hưởng thụ phước trời. Còn có những người tư tưởng cao hơn một chút, bèn dạy họ tu Tứ Thiền Bát Định để sanh lên Sắc Giới Thiên hoặc Vô Sắc Giới Thiên. Đấy đều là phương tiện, gọi là pháp Thiên Thừa. Pháp Thiên Thừa vượt thoát nhân giới, nhưng thiên giới vẫn chẳng phải là lâu dài, phải làm cho họ tu pháp Nhị Thừa, tức là tu pháp Tứ Đế, tu pháp Thập Nhị Nhân Duyên, dạy họ vượt thoát tam giới, thoát ly lục đạo luân hồi. Như thế thì vẫn chưa phải là pháp rốt ráo, rốt ráo là như thế nào? Dạy họ phát Bồ Đề tâm.

Nhìn vào kinh văn, “cứu liệu tam khổ” (cứu chữa tam khổ) là độ chúng sanh thoát khỏi tam giới. Đấy là một phương tiện, khiến cho họ “hiển hiện đạo ý”“Đạo” là Bồ Đề, “ý” là tâm, [“hiển hiện đạo ý” chính là] khiến cho họ phát Bồ Đề tâm. Đã phát Bồ Đề tâm, bèn dạy họ hành Bồ Tát đạo, bảo họ tu “vô lượng công đức”. Hành Bồ Tát đạo, tích lũy công đức. Họ tu đến Bát Địa Bồ Tát. “Thọ Bồ Tát ký”: Thọ ký bậc Bát Địa Bồ Tát sẽ thành Phật thì gọi là “thọ Bồ Tát ký”. Tiếng Phạn dịch sang tiếng Hán, giải thích văn tự khá tốn công! “Thọ Bồ Tát ký” tức là thọ ký sẽ thành Phật. Thọ ký ai sẽ thành Phật? Thọ ký Bát Địa Bồ Tát sẽ thành Phật. “Thành Đẳng Chánh Giác”, khiến cho chúng sanh trong tương lai sẽ có thể thành Phật, quý vị mới được coi là độ chúng sanh!

2.1.1.2.2.3.1.2.1.2.9. Tướng nhập Niết Bàn

(Kinh) Thị hiện diệt độ, chửng tế vô cực, tiêu trừ chư lậu, thực chúng đức bổn.

()示現滅度,拯濟無極。消除諸漏,植眾德本。

(Kinh: Thị hiện diệt độ, cứu vớt vô cực, tiêu trừ các lậu, trồng các cội đức).

“Thị hiện diệt độ”: Đây là thị hiện tám tướng thành đạo. Tướng thứ bảy là chuyển pháp luân. Tướng thứ tám là nhập Niết Bàn. “Diệt độ” là dịch nghĩa từ tiếng Phạn, tức là chữ Niết Bàn dịch sang tiếng Hán thì là Diệt Độ, vẫn là thị hiện. Vì thế giới này chẳng có vị Phật nào thành Phật, [thế mà có những] chúng sanh đáng nên thấy Phật để đắc độ, vị Bồ Tát này bèn đến thế giới đó, thị hiện tám tướng thành đạo, thị hiện thành Phật, thuyết pháp độ chúng sanh. Độ chúng sanh [căn cơ] đã chín muồi, thọ ký họ sẽ thành Phật. Những chuyện khác đã làm xong, Ngài bèn thị hiện Niết Bàn.

          “Chửng tế vô cực”: Chửng tế (拯濟) là cứu độ. “Vô cực” (無極) là vô cùng vô số chúng sanh. Cứu độ vô số chúng sanh như vậy thì là “chửng tế vô cực”. “Tiêu trừ chư lậu”: “Lậu” (漏) là tên gọi khác của phiền não. Hết thảy các phiền não gọi là “chư lậu”. Độ chúng sanh bằng cách nào? Khiến cho chúng sanh tiêu trừ phiền não. Tiêu trừ phiền não, phá hoại phiền não, còn phải tu tập tốt đẹp, dạy họ tích lũy công đức. “Đức bổn” (德本) còn gọi là thiện căn. Dạy chúng sanh làm nhiều công đức, vun bồi nhiều thiện căn, thì gọi là “thực chúng đức bổn”.

2.1.1.2.2.3.1.3. Tiểu kết lời tán thán Quyền Đức và Thật Đức

(Kinh) Cụ túc công đức, vi diệu nan lượng. Du chư Phật quốc, phổ hiện đạo giáo.

()具足功德,微妙難量。遊諸佛國,普現道教。

(Kinh: Đầy đủ công đức, vi diệu khó lường. Dạo các cõi Phật, hiện trọn khắp giáo pháp của Phật đạo).

“Cụ túc công đức”: Khiến cho hết thảy chúng sanh đều được thọ ký thành Phật, trong tương lai, họ sẽ đều có thể thành Phật, công đức trọn đủ. Ở đây, [kinh văn] tổng kết tám tướng thành đạo, thị hiện Niết Bàn, công đức của vị Bồ Tát ấy đã trọn đủ. Hãy ghi nhớ! Những vị Bồ Tát này đến vô lượng thế giới để thị hiện tám tướng thành đạo hòng độ chúng sanh. Công đức của các Ngài “vi diệu nan lượng”, “vi diệu” là chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên công đức, đều là công đức chẳng thể nghĩ bàn.

“Du chư Phật quốc”: “Du” (遊) là du hóa, đến các cõi Phật để du hóa. “Phổ hiện đạo giáo”, “đạo giáo” ở đây chẳng phải là giáo pháp của đạo sĩ trong hiện thời, mà là phổ biến thị hiện giáo pháp của Phật đạo.

2.1.1.2.2.3.2. Tán thán công đức tự lợi và lợi tha của các vị Bồ Tát

2.1.1.2.2.3.2.1. Tán thán đại lược

(Kinh) Kỳ sở tu hành, thanh tịnh vô uế. Thí như huyễn sư, hiện chúng dị tượng, vi nam, vi nữ, vô sở bất biến. Bổn học minh liễu, tại ý sở vi. Thử chư Bồ Tát, diệc phục như thị, học nhất thiết pháp, quán tổng lũ luyện, sở trụ an đế, mị bất cảm hóa. Vô số Phật độ, giai tất phổ hiện. Vị tằng mạn tứ, mẫn thương chúng sanh. Như thị chi pháp, nhất thiết cụ túc.

()其所修行,清淨無穢。譬如幻師,現眾異像。為男為女,無所不變。本學明了,在意所為。此諸菩薩,亦復如是。學一切法,貫綜縷練。所住安諦,靡不感化。無數佛土,皆悉普現。未曾慢恣,愍傷眾生。如是之法,一切具足。

(Kinh: Sự tu hành của các Ngài thanh tịnh, chẳng nhơ. Ví như nhà huyễn thuật hiện ra các hình tượng lạ lùng, hiện nam, hiện nữ, không gì chẳng biến hóa, do hiểu rõ điều mình đã học, tùy ý thực hiện. Các vị Bồ Tát này cũng giống như vậy, học hết thảy các pháp, thông suốt, luyện tập tỉ mỉ, trụ an định, vững chắc [trong Phật pháp], không ai chẳng bị cảm hóa. Trong vô số cõi Phật, thảy đều hiện khắp, chưa hề khinh mạn, phóng túng, thương xót chúng sanh. Các pháp như thế hết thảy đều đầy đủ).

“Kỳ sở tu hành, thanh tịnh vô uế” (Sự tu hành của các Ngài thanh tịnh, chẳng nhơ): Các Ngài thành Phật là thị hiện, bổn vị vẫn là Bồ Tát, còn đang tu Bồ Tát hạnh, những gì các Ngài đã tu đều là đạo hạnh thanh tịnh, chẳng có chút nào ô nhiễm xen tạp. Đó là “thanh tịnh vô uế”. Phải chú ý! Trong phần trước, tôi đã nói, tán thán các vị đại Bồ Tát này đều là bậc Đẳng Giác Bồ Tát. Các Ngài có thể thị hiện thành Phật, chỉ kém Phật một bậc. Nói đến những công đức này, nhằm dạy hàng Sơ Phát Tâm Bồ Tát chúng ta học tập. Nếu không, tán thán những công đức ấy, chép vào kinh bổn để làm gì? Nhằm dạy hàng Sơ Phát Tâm Bồ Tát chúng ta hãy học theo. Chúng ta cũng là Bồ Tát, nhưng là hạng Bồ Tát gì? Là Sơ Phát Ý Bồ Tát. Ý còn gọi là Tâm; do vậy, còn gọi là Sơ Phát Tâm Bồ Tát. “Kỳ sở tu hành, thanh tịnh vô uế” (Sự tu hành của các Ngài thanh tịnh, chẳng nhơ): Đấy là bảo chúng ta hãy học theo. Những việc làm của bậc Bát Địa Bồ Tát toàn là thanh tịnh vô uế, huống hồ bậc Đẳng Giác Bồ Tát! Các Ngài tu hành còn có thể xen tạp phiền não hay không? Chẳng thể nào! Dạy hàng Sơ Phát Tâm Bồ Tát chúng ta hãy học theo!

Nay chúng ta phát Bồ Đề tâm, chúng ta là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, đã phát tâm hành Bồ Tát đạo, hành Bồ Tát đạo thì phải chú ý: Quý vị chớ nên xen tạp phiền não. Một câu nói quan trọng nhất, quý vị hãy dụng công học, tôi tùy tiện nêu ra một ví dụ: Chẳng hạn như hằng ngày quý vị niệm Phật bao nhiêu đó, hoặc là mỗi ngày tĩnh tọa mấy tiếng đồng hồ, những điều này đều là tu hành. Trong tu hành, quý vị hàng phục cái tâm vọng tưởng, ba căn bản phiền não trong cái tâm vọng tưởng là tham, sân, si. Ví như quý vị đang niệm Phật, thường khóa hằng ngày là niệm một vạn câu A Di Đà Phật, lần tràng hạt niệm đến một vạn tiếng. Thực hiện công khóa viên mãn, chính quý vị phải chú ý. Trong khi quý vị lần tràng niệm A Di Đà Phật một vạn tiếng, trong thời gian ấy, có dấy vọng tưởng hay chăng? Dấy vọng tưởng thì có vọng tưởng tham, sân, si trong ấy hay không? Ngay trong lúc niệm Phật, đột nhiên nghĩ ham muốn tiền tài, phương pháp để tham cầu tiền tài rất nhiều đúng không? Chẳng cần nêu thí dụ tỉ mỉ, chúng ta chẳng có nhiều thời gian, quý vị hãy tự mình suy xét. Bỗng dưng nghĩ tới chuyện phát tài, tay vẫn còn đang lần tràng hạt, miệng niệm Nam-mô A Di Đà Phật. Niệm nam-mô A Di Đà Phật [mà còn xen tạp những ý niệm ấy], tức là hạnh môn thanh tịnh đều bị quý vị nhuốm bẩn mất rồi. Vì quý vị dấy lên ý niệm phát tài! Hoặc là quý vị đang niệm Phật, bỗng nghĩ tới một kẻ oan gia đối đầu: “Gã đó đúng là xài không được, phạm đủ thứ sai trái đối với ta, ta chẳng thể nào không báo thù!” Đấy là dấy động cái tâm sân hận, miệng vẫn đang niệm Phật, tay vẫn đang lần tràng hạt, trong tâm khởi lên tâm niệm sân hận, muốn báo cừu rửa hận, đã bị cái tâm sân hận ô nhiễm mất rồi! Cứ suy rộng như vậy, chính mình tìm ra tật xấu của chính mình. Quý vị tu hành, hoặc là đang niệm kinh, hoặc đang tĩnh tọa, hoặc là đang niệm Phật, bất luận dùng công phu gì đều là hạnh môn thanh tịnh, đừng nên bị nhiễm bẩn bởi tham, sân, si. Như thế thì quý vị mới có thể tu hành, có thể dụng công. Nếu không, hạnh môn thanh tịnh của quý vị đều bị phiền não nhuốm bẩn, giống như món ăn ngon bỏ thêm một chút thuốc độc vào, hoàn toàn biến thành chất độc! Quý vị phải đặc biệt chú ý hai câu này. Bồ Tát tu hành thanh tịnh, vô uế, [kinh chép những điều này] nhằm dạy chúng ta hãy noi gương. Tiếp đó, kinh lại nói thí dụ nhằm dạy chúng ta hãy khéo hiểu rõ, vì sao các vị Bồ Tát ấy tu hành có thể đạt tới công phu thanh tịnh, vô uế?

“Thí như huyễn sư”, [nghĩa là] ví như những nhà huyễn thuật (ảo thuật gia). Huyễn thuật tại Ấn Độ rất nhiều. Chúng thấy trong quá khứ tại Trung Hoa có “biến hý pháp” (cách biến hiện ra đồ vật hoặc trạng thái lạ lùng để giải trí cho quần chúng), hiện thời Âu Tây gọi nó là ảo thuật. Huyễn thuật của Ấn Độ thật sự có một loại phương pháp có thể biến ra người nam, người nữ. “Hiện chúng dị tượng”: Chúng sanh rất đông, dị tượng” (異像) là các hình tượng khác nhau. “Vi nam, vi nữ”: Hoặc là hiện ra tướng nam nhân, hoặc hiện ra tướng nữ nhân. “Vô sở bất biến” (Không gì chẳng biến ra), đều có thể biến ra. “Bổn học minh liễu, tại ý sở vi”: [“Bổn học minh liễu” có nghĩa là] vị thầy ảo thuật ấy hiểu rành, thông đạt học thức căn bản. “Tại ý sở vi”: Chữ Tại (在) phải hiểu là chữ Nhậm (任, tùy ý). Kẻ ấy mặc sức hành động, muốn biến ra thứ gì sẽ biến thành thứ đó; nhưng người ấy chẳng chấp tướng, vì biết đó là giả.

“Thử chư Bồ Tát, diệc phục như thị” [nghĩa là] những vị Bồ Tát ấy giáo hóa chúng sanh cũng giống như thế. “Học nhất thiết pháp, quán tổng lũ luyện” (Học hết thảy các pháp, thông suốt, luyện tập tỉ mỉ): “Quán tổng” (貫綜) là nắm chắc toàn bộ đại cương. “Lũ luyện” (縷練) là luyện tập công phu cặn kẽ. “Lũ” (縷) là tinh tế, công phu luyện tập Phật pháp tinh tế.

          “Sở trụ an đế”: Ngài trụ trì Phật pháp rất an định, rất sâu chắc. “Đế” (諦) có nghĩa là rất cặn kẽ. Hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ rất cặn kẽ thì gọi là Đế. Ngài an trụ trong Phật pháp, thông hiểu Phật pháp rất tường tận, thì gọi là An Đế. “Mị bất cảm hóa” (không ai chẳng bị cảm hóa): Hết thảy chúng sanh đều bị vị Bồ Tát ấy cảm hóa.

          “Vô số Phật độ, giai tất phổ hiện” (Vô số cõi Phật thảy đều có thể hiện trọn khắp): Trong mỗi cõi Phật, Ngài đều có thể đến đó thị hiện, đều có thể đến hóa độ chúng sanh, nhưng các Ngài chẳng chấp tướng chúng sanh, giống như nhà ảo thuật biến hiện các huyễn thuật. Ngài biết hết thảy chúng sanh đều là như huyễn như hóa; do vậy, Ngài chẳng chấp tướng, chẳng động phiền não. Vì thế, những hạnh đã tu đều là hạnh môn thanh tịnh, chẳng có tạp uế.

“Vị tằng mạn tứ, mẫn thương chúng sanh. Như thị chi pháp, nhất thiết cụ túc” (Chưa hề khinh mạn, buông lung, xót thương chúng sanh. Các pháp như thế, hết thảy đều đầy đủ): Tán thán công đức của Bồ Tát. Các hạnh môn mà Ngài đã tu đều là hạnh môn thanh tịnh, hoàn toàn chẳng có tí ti tạp uế nào! Tiếp đó, lại nói rõ [các vị Bồ Tát ấy] chẳng kiêu mạn, chẳng tùy tiện phóng túng. Mặc tình mà làm thì là Tứ (恣), tức buông lung. Câu nói này càng chứng minh [kinh chép những lời tán thán này] nhằm dạy hàng Sơ Phát Tâm Bồ Tát chúng ta hãy học tập theo! A La Hán đoạn hết Kiến Hoặc và Tư Hoặc trong tam giới, Ngài chẳng có ngã mạn, mà cũng chẳng buông lung. Đẳng Giác Bồ Tát còn có thể ngã mạn, buông lung nữa ư? Những điều này đều nhằm dạy hàng Sơ Phát Tâm Bồ Tát chúng ta học theo!

Quý vị học hiểu một chút Phật pháp, có thể giảng kinh, thuyết pháp cho chúng sanh nghe, trước hết tự mình dấy lên sự ngã mạn. Vì sao dấy lòng ngã mạn? Vì quý vị giảng kinh, thuyết pháp cho người khác nghe, người ta coi quý vị như pháp sư mà cung kính, cúng dường, đảnh lễ quý vị, dâng cúng dường. Quý vị quên bẵng chính mình là một gã phàm phu, ngỡ mình ghê gớm lắm, “ta tuyệt diệu đến cỡ nào? Nếu ta chẳng tuyệt diệu, lẽ nào các ngươi đảnh lễ, cúng dường ta?” Dưỡng thành thói ngã mạn như thế đó! Vì thế, trong Phật giáo hiện thời có một câu nói thông tục: “Pháp sư ngạo nghễ lắm”. Pháp sư ngạo nghễ sẽ khó thể hầu hạ, ai trông thấy pháp sư mà chẳng sợ hãi. Thỉnh pháp sư giảng kinh là chuyện tốt, nhưng pháp sư quá kiêu căng, chẳng dễ hầu hạ, đấy chẳng phải là một thứ chướng ngại hay sao? Vì sao pháp sư kiêu căng? Vì pháp sư dấy lên phiền não ngã mạn đó thôi! Vì sao dấy lên phiền não ngã mạn? Vị ấy chẳng biết hồi quang phản chiếu, trông thấy kẻ khác đảnh lễ, cúng dường, cứ ngỡ chính mình thật sự ghê gớm lắm, nuôi dưỡng thói ngã mạn như thế đó. Vậy thì hằng ngày quý vị giảng kinh, thuyết pháp, chẳng phải là đang trưởng dưỡng vô minh hay sao? Càng dưỡng, vô minh càng to; dấy lòng ngã mạn càng lớn! Nếu quý vị còn có thể trì giới thanh tịnh thì còn may! Nếu không, đã dấy lên cái tâm ngã mạn, sẽ chẳng kiềm chế chính mình được!

          “Tứ” (恣) là mặc sức tùy ý, hễ mặc sức tùy ý thì sẽ buông lung. Đã buông lung lại còn chẳng có ai quản giáo quý vị, vì quý vị là pháp sư, là kẻ quản giáo người khác, chẳng ai dám nói quý vị. Quý vị lại còn buông lung, đấy chẳng phải là tự hại chính mình ư? Vì thế, quý vị muốn học Phật pháp để giảng cho chúng sanh nghe, giáo hóa chúng sanh là đúng, nhưng trọn chớ nên xen tạp phiền não. Thứ nhất, chớ nên ngã mạn. Thứ hai, chớ nên mặc tình tùy ý, tức là chớ nên buông lung. Bồ Tát chẳng có những chuyện ấy, chúng ta phải học điều này! Vì thế, nói những lời này chính là những lời lẽ khuyên tu tập.

Những vị Bồ Tát ấy đều chẳng có ngã mạn, chẳng mặc tình buông lung, vậy thì vì sao các Ngài đến các thế giới để giáo hóa? Chính là vì “mẫn thương” các “chúng sanh”. Trông thấy chúng sanh đang hứng chịu nỗi khổ sanh tử, chúng sanh chịu khổ mà chính họ vẫn chẳng biết, không biết là khổ, vẫn coi khổ là vui. Họ chẳng biết đó là khổ thì gọi là “ngu si”. Coi khổ là lạc thì gọi là “điên đảo”. Chúng sanh đúng là kẻ đáng thương xót; vì thế, phải “mẫn thương chúng sanh” (thương xót chúng sanh), phải giảng kinh cho họ nghe. “Như thị chi pháp, nhất thiết cụ túc” (Các pháp như thế hết thảy đều đầy đủ): Pháp môn cứu độ chúng sanh, những vị Bồ Tát ấy đều có đầy đủ!

2.1.1.2.2.3.2.2. Tán thán chi tiết

2.1.1.2.2.3.2.2.1. Nương vào pháp của Bồ Tát để tu những hạnh thuộc về bổn phận

(Kinh) Bồ Tát kinh điển, cứu sướng yếu diệu. Danh xưng phổ chí, đạo ngự thập phương.

()菩薩經典,究暢要妙。名稱普至,道御十方。

(Kinh: Thấu suốt tột cùng những điều trọng yếu huyền diệu trong kinh điển của Bồ Tát, tiếng tăm vang khắp, dẫn dắt, điều ngự mười phương).

 

“Bồ Tát kinh điển, cứu sướng yếu diệu” (Thấu suốt tột cùng những điều trọng yếu huyền diệu trong kinh điển của Bồ Tát): Đại Thừa Bồ Tát tự lợi, lợi tha, hai câu này là tự lợi. Nếu quý vị muốn độ chúng sanh, trước hết phải học bản lãnh độ chúng sanh, muốn lợi tha thì trước hết phải tự lợi. Kinh điển của Bồ Tát được gọi là kinh điển Đại Thừa. Đối với kinh điển Đại Thừa, đều nghiên cứu thông suốt, lưu loát, nắm được chỗ trọng yếu, huyền diệu, đấy là đạt được tự lợi. Đã đạt được tự lợi, sẽ có thể lợi tha.

“Danh xưng phổ chí” (Tiếng vang trọn khắp): Quý vị là đại pháp sư, thanh danh sẽ vang dội. Thanh danh vang dội thì mới có thể độ chúng sanh. “Đạo ngự thập phương”: Nay ở dưới chữ Đạo (道) thêm chữ Thốn (寸), tức là chữ Đạo (導, hướng dẫn) trong đạo sư (導師). “Đạo” (道) là dẫn đạo (引導, hướng dẫn, dẫn dắt), Ngự (御) là điều ngự (調御). Đức Phật được gọi là Đại Đạo Sư (大導師), còn gọi là Điều Ngự Sư (調御師). Bồ Tát luôn học theo Phật giáo hóa chúng sanh, làm đạo sư, làm điều ngự sư cho chúng sanh, làm ở nơi đâu? Làm trong mười phương thế giới, đến mười phương thế giới dẫn dắt chúng sanh, điều ngự chúng sanh. Đấy là lợi tha.

2.1.1.2.2.3.2.2.2. Nương vào Phật pháp, tu hạnh thắng tấn

(Kinh) Vô lượng chư Phật, hàm cộng hộ niệm. Phật sở trụ giả, giai dĩ đắc trụ. Đại thánh sở lập, nhi giai dĩ lập. Như Lai đạo hóa, các năng tuyên bố. Vị chư Bồ Tát, nhi tác đại sư. Dĩ thậm thâm thiền huệ, khai đạo chúng sanh, thông chư pháp tánh, đạt chúng sanh tướng, minh liễu chư quốc.

          ()無量諸佛,咸共護念。佛所住者,皆已得住。大聖所立,而皆已立。如來道化,各能宣布。為諸菩薩,而作大師。以甚深禪慧,開導眾生。通諸法性,達眾生相。明了諸國。

          (Kinh: Vô lượng chư Phật đều cùng hộ niệm. Chỗ Phật đã trụ, thảy đều đã trụ. Pháp do đại thánh đã lập, thảy đều đã lập. Như Lai đạo hóa, đều có thể tuyên bố. Vì các vị Bồ Tát mà làm bậc đại sư. Dùng thiền huệ rất sâu, khơi gợi, hướng dẫn chúng sanh thông suốt tánh của các pháp, thấu đạt tướng của chúng sanh, hiểu rõ các cõi Phật).

“Vô lượng chư Phật, hàm cộng hộ niệm” (Vô lượng chư Phật đều cùng hộ niệm): Các vị Bồ Tát ấy có thể học đến mức độ ấy, mười phương chư Phật sẽ đều hộ niệm. “Phật sở trụ giả, giai dĩ đắc trụ” (Chỗ Phật đã trụ, thảy đều được trụ): Chỗ Phật trụ là Đại Niết Bàn, là Vô Trụ Niết Bàn, các vị Bồ Tát ấy đều có thể đạt được, cũng an trụ trong Đại Niết Bàn. “Đại thánh sở lập, nhi giai dĩ lập” (Pháp do bậc đại thánh đã lập, thảy đều đã lập): Đại Thánh vẫn là Phật. Phật là bậc thánh trong các thánh; vì thế gọi là Đại Thánh. Pháp môn do đức Phật kiến lập tức là lục độ vạn hạnh, những vị Bồ Tát này đều có thể kiến lập. “Như Lai đạo hóa, các năng tuyên bố” (Như Lai đạo hóa, đều có thể tuyên bố): Như Lai giáo hóa chúng sanh, nói ra pháp môn nào, những vị Bồ Tát ấy đều có thể nói, đều có thể tuyên bố. “Vị chư Bồ Tát, nhi tác đại sư” (Làm bậc đại sư cho các vị Bồ Tát): So với hết thảy các vị Bồ Tát thông thường, các Ngài là Đẳng Giác Bồ Tát, được gọi là Ma Ha Tát trong hàng Bồ Tát. Ma Ha là Đại, vì thế gọi là Đại Sư.

“Dĩ thậm thâm Thiền Huệ, khai đạo chúng sanh” (Dùng Thiền Định và trí huệ rất sâu để khơi mở, hướng dẫn chúng sanh): Quý vị giáo hóa chúng sanh tu hành, dạy họ tu Định, tu Huệ. “Thiền” tức là Thiền Định. Hàng Nhị Thừa cũng có Thiền Định, cũng cầu trí huệ, nhưng [trí huệ và Thiền Định của họ] chẳng gọi là Thậm Thâm. Ở đây là dùng Đại Thừa Thiền, dùng Đại Thừa huệ, nên gọi là “thậm thâm Thiền Huệ”, để khơi mở, hướng dẫn chúng sanh.

“Thông chư pháp tánh, đạt chúng sanh tướng” (Thông đạt tánh của các pháp, thấu hiểu tướng chúng sanh): Thông đạt bản tánh của các pháp, tức là liễu đạt bản thể của hết thảy các pháp, lại còn liễu đạt tướng của hết thảy chúng sanh. Hằng ngày thuyết pháp, hằng ngày độ chúng sanh, nhưng chẳng chấp vào tướng của chúng sanh, thấu đạt tướng của chúng sanh đều là như huyễn, như hóa; như kinh Kim Cang đã dạy: “Độ nhất thiết chúng sanh đô nhập Vô Dư Niết Bàn, nhi thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả” (Độ hết thảy chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn, mà thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ). Liễu đạt tướng của chúng sanh là huyễn hóa. “Minh liễu chư quốc” (Hiểu rõ các cõi nước): Các quốc độ thuộc y báo đều là như huyễn, như hóa, chẳng chấp tướng của thế giới và quốc độ.

2.1.1.2.2.3.2.2.3. Nương vào Tự Phần trên đây, tu rộng rãi hòng thành tựu đức hạnh

2.1.1.2.2.3.2.2.3.1. Thâu nhiếp các phương tiện tu tập

2.1.1.2.2.3.2.2.3.1.1. Tu tự lợi, hiểu rõ giáo pháp mà tu hành  

          (Kinh) Cúng dường chư Phật, hóa hiện kỳ thân, do như điện quang, thiện học vô úy chi võng, hiểu liễu huyễn hóa chi pháp.

          ()供養諸佛。化現其身,猶如電光。善學無畏之網,曉了幻化之法。

(Kinh: Cúng dường chư Phật, hóa hiện thân mình giống như tia chớp, khéo học lưới vô úy, hiểu rõ pháp huyễn hóa).

“Cúng dường chư Phật, hóa hiện kỳ thân, do như điển quang” (Cúng dường chư Phật, hóa hiện thân mình giống như tia chớp): Ngài là Bồ Tát, chính Ngài còn phải tu phước, còn phải tu huệ. Tu phước là cúng dường chư Phật, đến mười phương vô lượng thế giới cúng dường vô lượng chư Phật. Để cúng dường vô lượng chư Phật, biến thân thể của chính mình thành vô lượng thân thể đi cúng dường, rất mau chóng, nhanh như vô lượng tia chớp! Ngay lập tức, phân thân vô lượng, đến trước vô lượng chư Phật dâng hiến cúng dường. Cúng dường chư Phật là cầu phước, Ngài còn mong cầu trí huệ.

“Thiện học vô úy chi võng, hiểu liễu huyễn hóa chi pháp” (Khéo học lưới vô úy, hiểu rõ pháp huyễn hóa): Phật có bốn thứ Vô Sở Úy, trên thực tế, bao gồm hết thảy những điều vô sở úy (không sợ hãi). Hết thảy các pháp vô sở úy của Phật được gọi là “vô úy chi võng” (lưới vô úy), Bồ Tát đều học hiểu những điều này. Đấy gọi là cầu trí huệ của Phật, liễu đạt pháp huyễn hóa. Hết thảy các pháp huyễn hóa trong thế gian Bồ Tát thảy đều liễu đạt triệt để. Đấy chính là đạt được phước, đạt được huệ, chính mình đã đạt được tự lợi, lại còn lợi ích chúng sanh.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.1.2. Nói về chuyện lợi tha, dạy người khác lìa lỗi

(Kinh) Hoại liệt ma võng, giải chư triền phược.

          ()壞裂魔網,解諸纏縛。

          (Kinh: Xé rách lưới ma, tháo gỡ các trói buộc).

“Ma võng” (lưới ma) là những thứ tà pháp làm hại chúng sanh của ma vương, do quá nhiều nên gọi là Võng (網, lưới). Đối với những thứ lưới ma làm hại chúng sanh này, kể cả thiên ma ngoại đạo, Bồ Tát thảy đều phá tan. “Giải chư triền phược”: Dạy chúng sanh phải đoạn trừ hết thảy phiền não, đừng để bị phiền não trói buộc.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.1.3. Lại nói về tự lợi nhằm nói rõ hạnh để tu chứng

(Kinh) Siêu việt Thanh Văn, Duyên Giác chi địa, đắc Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội.

          ()超越聲聞、緣覺之地,得空無相無願三昧。

          (Kinh: Vượt trỗi các địa vị Thanh Văn và Duyên Giác, đạt được Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội).

Thanh Văn, Duyên Giác là hàng Nhị Thừa, còn gọi là hàng Tiểu Thừa. Theo phần trên, [những vị Bồ Tát] ở đây học Bồ Tát pháp, học kinh điển Đại Thừa, cho nên vượt trỗi địa vị Nhị Thừa.

“Đắc Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội”: Đạt được ba thứ tam-muội. Trung Hoa dịch tam-muội (Samādhi) là Chánh Định. Đạt được ba thứ Chánh Định: Không Định, Vô Tướng Định, và Vô Nguyện Định. Tiểu Thừa cũng có ba loại Định; ở đây là Đại Thừa tam-muội:

1) Thứ nhất là Không tam-muội. Ngài hiểu hết thảy các pháp đều là pháp huyễn hóa. Hết thảy các pháp đều sanh từ nhân duyên. Pháp sanh từ nhân duyên đều chẳng có bản thể, chẳng có tự tánh. Hằng ngày ở trong đó độ chúng sanh mà chẳng có chúng sanh để có thể độ. Vì thế, hết thảy đều là Không, đạt được Không tam-muội.

2) Vô Tướng: Ngay cả cái tướng nhân duyên của pháp được sanh bởi nhân duyên cũng là Không. Không chỉ là chúng sanh không, mà pháp cũng là không, hết thảy các tướng đều là không. Đấy là chúng sanh ngoài tâm, các pháp ngoài tâm.

3) Đã là không, đã là vô tướng, trong tâm cũng chẳng có nguyện cầu. Trong tâm chẳng có một mảy vọng tưởng. Đấy là Vô Nguyện. “Nguyện” tức là có cái tâm mong cầu. Ta độ chúng sanh bèn chấp vào tướng chúng sanh, tức là có nguyện. Nếu quý vị cầu pháp mà chấp tướng, tức là có một nguyện. Ta đã là “tướng của chúng sanh là Không”, hết thảy các pháp đều là vô tướng, trong tâm ta chẳng dấy lên một mảy vọng tưởng nào! Đó gọi là Vô Nguyện tam-muội.

Ba thứ tam-muội còn gọi là Tam Giải Thoát. Trước tự viện Phật giáo có ba cái cổng lớn, gọi là Tam Môn, tức là Không Môn, Vô Tướng Môn, và Vô Nguyện Môn.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.1.4. Lại nói về lợi tha, dạy chúng sanh tu thiện

(Kinh) Thiện lập phương tiện, hiển thị tam thừa. Ư thử hóa chung, nhi hiện diệt độ.

          ()善立方便,顯示三乘。於此化終,而現滅度。

          (Kinh: Khéo lập phương tiện, hiển thị ba thừa. Sự giáo hóa ở nơi đây đã kết thúc, bèn hiện diệt độ).

“Thiện lập phương tiện, hiển thị tam thừa” (Khéo lập phương tiện, hiển thị ba thừa): Ngài học pháp Đại Thừa, vượt trỗi địa vị Thanh Văn và Duyên Giác, nhưng Ngài giáo hóa chúng sanh, khéo lập phương tiện. Trong chúng sanh, có những kẻ chẳng thể học Đại Thừa, Ngài bèn lập ra pháp môn tam thừa, nói pháp Tứ Đế, và cũng nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên, và cũng nói pháp Lục Độ. Đấy là “hiển thị tam thừa”.

          “Ư thử hóa chung, nhi hiện diệt độ” [nghĩa là] duyên giáo hóa chúng sanh đã hết, Ngài thị hiện nhập Niết Bàn.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2. Đức được thành tựu do tu cái nhân

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.1. Công đức tự lợi

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.1.1. Sở chứng bình đẳng

(Kinh) Diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu, bất khởi bất diệt, đắc bình đẳng pháp.

          ()亦無所作,亦無所有。不起不滅,得平等法。

          (Kinh: Cũng không có gì được làm, cũng chẳng sở hữu gì, chẳng dấy lên, chẳng diệt mất, đạt được pháp bình đẳng).

Đây là dựa trên lý thể Thật Tướng trong Đại Thừa mà nói rõ về lý bình đẳng. Nơi lý thể Thật Tướng, “diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu”. Quý vị hằng ngày đang hành Bồ Tát đạo, đang thuyết pháp độ chúng sanh, tức là có “sở tác” (có chuyện để làm, để thực hiện), nhưng các Ngài (các vị Bồ Tát đang nói ở đây) chẳng chấp tướng. Các Ngài hiểu [những pháp ấy] đều là pháp huyễn hóa, nên xứng tánh khởi tu, nương vào bản tánh của chính mình. Bản tánh là vô tướng, nương vào bản tánh của chính mình để tu Bồ Tát đạo. Vì thế, các Ngài chẳng có làm, chẳng chấp vào tướng tu tập hay tạo tác (vô tu tác tướng).

“Diệc vô sở hữu”: Có Sở Hữu là có cái để đạt được. Ta đạt được Bát Địa Bồ Tát, đạt đến Đẳng Giác Bồ Tát, được thành Phật, chẳng chấp các tướng ấy. Vì những gì đã chứng đắc đều là “y tánh khởi tu, toàn tu tại tánh”. Đối với những công đức do quý vị đã tu, hễ chứng đắc quả vị Bồ Tát, [sẽ thấy những công đức ấy] vẫn là bản tánh của quý vị! Bản tánh chẳng có tướng, há có gì để sở hữu ư? Có gì để đắc nữa ư?

“Diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu, bất khởi, bất diệt, đắc bình đẳng pháp”: Nếu là người đã nghe giảng kinh nhiều thì rất dễ liễu giải câu này. Nếu là người mới nghe thì chẳng dễ hiểu cho lắm. Nhất là nếu như quý vị đã từng nghe Tâm Kinh, kinh Kim Cang, toàn là những lời giảng nhằm hiển thị đạo lý về Chân Không Lý Thể. Cái Không được nói trong kinh Phật được gọi là Chân Không. Chân Không chẳng phải là hư không, mà cũng chẳng phải là Đoạn Diệt Không. Chân Không là cái Thể của chân lý, nên gọi là Chân Không Lý Thể. Câu này nói về Chân Không Lý Thể, còn gọi là diệu lý Thật Tướng, còn gọi là Nhất Chân pháp giới, còn gọi là Phật Tánh, còn gọi là tự tánh. Tên gọi khác nhau, nhưng đều nhằm nói rõ có một cái Thể chân lý.

          “Diệc vô sở tác”“Tác” là tạo tác, tu tác (tu tập, thực hiện). Chúng ta thường nói là tu hành, hoặc tu nhân. “Diệc vô sở hữu”: Tu hành thì phải nên có cái để chứng đắc, còn gọi là “chứng quả”. Ở đây nói là “chẳng có tu nhân”, mà cũng “chẳng có chứng quả”, chẳng dễ hiểu ở chỗ này! Phật giáo nói về nhân quả, tôi nói với quý vị một lần nữa, [những điều] được nói trong Tam Tạng mười hai bộ loại chỉ là hai chữ Nhân Quả! Vì sao ở đây nói là “chẳng có nhân quả”? “Chẳng có nhân quả” chẳng phải là tà kiến bác bỏ không có nhân quả, mà là nói theo Chân Không Lý Thể, [sẽ là] chẳng có cái nhân để hành, mà cũng chẳng có cái quả để chứng.

“Diệc vô sở tác” là chẳng có tu hành. Vì sao hằng ngày đều tu hành mà kết quả là “chẳng có tu hành”? Điều này gọi là “toàn tánh khởi tu, tu tức vô tu”.

“Diệc vô sở hữu” tức là cũng chẳng có chứng quả. Tu nhân thì nhất định có quả, vì sao nói là “chẳng có chứng quả”? Đó là “toàn tu tại tánh, chứng tức vô chứng”.

Cách giải thích này dựa theo cách giải thích của Ngẫu Ích đại sư trong bộ Di Đà Yếu Giải. Quý vị học theo Đại Thừa Bồ Tát tu hành, trước hết phải ngộ bản tánh của chính mình. Sau khi đã ngộ bèn khởi sự tu tập, đã ngộ bản tánh của chính mình, bèn nương theo cái lý mà quý vị đã ngộ để tu. Đấy gọi là “toàn tánh khởi tu”. “Tánh” là tự tánh của chính mình, còn gọi là bản tánh, hoặc là bản thể. Danh tự bất đồng, nhưng nói về cùng một Lý Thể. Quý vị đã ngộ Chân Không Lý Thể bèn lại tu hành. Đó gọi là “toàn tánh khởi tu”. Toàn tánh khởi tu thì tu chính là chẳng tu, do quý vị tu tới tu lui thì vẫn là bản tánh của chính mình. Cớ sao nói là “chẳng tu”? Quý vị tu nhân, nhất định sẽ chứng quả, chứng được gì? Chứng bản tánh của chính mình. Bản tánh hiện thành, chẳng phải do quý vị tu được, [vậy thì] lấy đâu ra chứng đắc? Do vậy, “diệc vô sở hữu” mà cũng là “vô sở đắc”, vì bản tánh vốn sẵn có. Chúng ta tuy lưu chuyển trong sanh tử, bản tánh chưa hề dao động. Tu hành là đoạn phiền não, phá vô minh, chẳng phải là tu bản tánh. Bản tánh [do phiền não đã đoạn, vô minh đã phá] mà thấu lộ ra, chẳng phải là do quý vị tu được. Do vậy, nói theo bản tánh thì chẳng có gì để gọi là tu nhân, mà cũng chẳng có gì để gọi là chứng quả!

“Bất khởi bất diệt” chính là “bất sanh bất diệt” trong Tâm Kinh. “Khởi” là sanh khởi, điều này dễ dàng liễu giải. Sanh khởi là tịnh pháp sanh khởi. Hằng ngày tu hành, hằng ngày dụng công, tịnh pháp sanh khởi, pháp ô nhiễm bèn diệt. Thoạt đầu là pháp ô nhiễm giảm bớt. Pháp ô nhiễm càng lúc càng ít, đã ít lại càng ít hơn, ít đến cuối cùng là ngay cả vô minh cũng phá, hoàn toàn diệt mất, pháp ô nhiễm chẳng còn nữa, tức là diệt. Ở đây nói nó cũng chẳng sanh khởi, mà cũng chẳng diệt trừ. Vì sao? Nơi Chân Không Lý Thể, nó là bình đẳng. Đã chẳng có tịnh pháp sanh khởi, mà cũng chẳng có pháp ô nhiễm để diệt trừ. Hễ có cái sanh khởi, thì sẽ có cái để diệt trừ! Đấy vẫn là nói theo phương diện giả tướng. Thiên Thai Tông gọi điều này là Giả Quán. Nói theo Giả Quán thì nó là có.

Nói theo Pháp Tướng Tông, Lý Thể này được gọi là Chân Không, hoặc gọi là Tất Cánh Không. Hết thảy giả tướng đều gọi là “như huyễn hữu” (có mà như huyễn), [tức là] giống như cái Có do huyễn thuật biến hiện. Trong giả tướng như huyễn ấy, vẫn có tịnh pháp sanh khởi, có nhiễm pháp bị trừ diệt. Xét theo Lý Thể bình đẳng, đã chẳng có tịnh pháp sanh khởi thì cũng chẳng có nhiễm pháp để trừ diệt. Vì thế, cổ nhân có một câu nói: “Bình đẳng chân pháp giới, Phật chẳng độ chúng sanh”. Trong Nhất Chân pháp giới, “bình đẳng chân pháp giới” chính là Lý Thể bình đẳng. Trong Nhất Chân pháp giới, nó là bình đẳng. Vì sao “Phật chẳng độ chúng sanh”? Căn bản là chẳng có chúng sanh. Phật và chúng sanh là danh xưng giả lập đối đãi. Do đó, hễ nói đến Lý Thể bình đẳng thì đã là chẳng có Phật, mà cũng chẳng có chúng sanh, độ gì đây? Hãy hiểu rõ đạo lý này, đấy là đạo lý cao sâu nhất, đạo lý rốt ráo nhất của Phật giáo.

Vì vậy, tiếp đó [kinh văn] có giải thích, đạt được pháp bình đẳng ấy, là hữu sở đắc trong vô sở đắc. “Vô sở hữu” là vô sở đắc. Trong vô sở đắc mà lại có sở đắc, đắc gì vậy? Đạt được một pháp bình đẳng. Trong phần trước đã nói là như nhà ảo thuật dùng huyễn thuật biến huyễn. Bồ Tát muốn độ chúng sanh thì phải thị hiện thành Phật. Trước hết, đối với tám tướng thành đạo, phải dựa theo quy củ để làm, một tướng cũng chẳng thiếu. Đã độ hết chúng sanh hữu duyên, Ngài bèn thị hiện bát Niết Bàn. Sắc thân là thị hiện, chặng giữa bèn xuất gia, hàng ma, thành đạo, chuyển pháp luân, vẫn là thị hiện. Duyên hóa độ đã hoàn tất, bèn thị hiện nhập Niết Bàn, vẫn là thị hiện. Giống như nhà ảo thuật đang biểu diễn, biến ra những trò vui thích cho quý vị thấy. Trông thấy rất náo nhiệt! Ông ta thu pháp thuật lại, thứ gì cũng đều chẳng có. Đấy gọi là “nói theo pháp Lý Thể rốt ráo, một pháp chẳng lập”. Không chỉ là tướng của chúng sanh là Không, mà tướng của Phật cũng là Không. Như thế thì quý vị sẽ liễu giải lý bình đẳng.

Đối với “như huyễn như mộng”, phần sau kinh Kim Cang có tỷ dụ: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (Hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Tôi vừa mới nói, “như huyễn” là như huyễn sư (nhà ảo thuật) biến hiện trò vui, như nhà ảo thuật làm trò ảo thuật. Khi biến hóa thì có sanh, có diệt, nhưng bản thể của chính nó là Không. “Như mộng” thì càng dễ hiểu hơn, ai nấy đều nằm mộng. Quý vị đang nằm mộng, mộng thấy quý vị làm pháp sư, mộng thấy quý vị đang giảng kinh, thuyết pháp, rất nhiều người nghe, rất nhiều người quy y quý vị, rất nhiều người theo quý vị xuất gia tu hành. Kết quả là mọi người đều đắc đạo, chứng thánh quả… Quý vị hoan hỷ, tỉnh giấc, hết thảy đều là không. Phật, Bồ Tát độ chúng sanh, đều là “đại tác mộng trung Phật sự” (thực hiện Phật sự to lớn trong giấc mộng), giống như nằm mộng.

Do vậy, nơi Lý Thể bình đẳng, tướng gì cũng đều chẳng có, nhưng hiểu lý này, quý vị đừng nên hiểu sai! [Nếu hiểu sai], sẽ đọa vào chấp Không. Chẳng phải là chấp trước Đoạn Diệt Không, cũng chẳng phải là chấp trước hư không. Nơi Phật lý thì còn có một danh từ chuyên biệt gọi là Ác Thủ Không (惡取空), [nghĩa là]: Do quý vị chấp trước cái Không ấy, Chân Không là thiện pháp, bị biến thành ác pháp, nên gọi là Ác Thủ Không, còn gọi là Khoát Đạt Không (豁達空). Học pháp Đại Thừa, học đến cái Không mà chẳng học rõ ràng, đối với hết thảy đều [tưởng là] chẳng cần quan tâm, quý vị bảo họ tu hành, họ nói: “Hết thảy đều là không, tu cái gì nữa?” Họ ngỡ tĩnh tọa, niệm Phật, lạy Phật, những việc ấy đều là chấp tướng, vốn đều là không mà! Họ tưởng họ đã hiểu rõ đạo lý tối cao của Đại Thừa, kết quả là Ác Thủ Không, còn gọi là Khoát Đạt Không. Trong Chứng Đạo Ca, thiền sư Vĩnh Gia đã viết: “Khoát đạt không, bài bác nhân quả, mờ mịt chuốc lấy ương họa”.

Quý vị đọa vào Khoát Đạt Không, quý vị thấy cái này là không, cái kia cũng là không, bảo quý vị tu hành, quý vị chẳng tu. Quý vị tưởng chính mình đã hiểu đạo lý cao nhất trong Đại Thừa. Kết quả thì sao? Thoạt đầu, quý vị liễu giải lý Không trong Đại Thừa, hễ quý vị ác thủ không, sẽ biến thành đại tà kiến, bài bác nhân quả. Đã gạt bỏ nhân quả, quý vị còn cho rằng chính mình vẫn liễu giải những điều đức Phật dạy trong kinh ư? [Quý vị cứ biện bác] “chẳng có sở tác, chẳng có sở hữu, chẳng có nhân, chẳng có quả, [vậy thì] có nhân quả gì đâu!” Quý vị hiểu trật mất rồi. Những điều đó dựa theo lý bình đẳng để nói thì là như thế. Xét theo phía bọn phàm phu chúng ta, quý vị chẳng tu nhân, sẽ không chứng quả, quý vị vẫn là một kẻ phàm phu, cho đến khi nào đi nữa, vẫn chẳng thể thành Phật! Quý vị bác sạch nhân quả, nhân quả vẫn chẳng dung quý vị. Bảo quý vị tu hành, quý vị chẳng tu, cứ muốn tạo ác nghiệp. Tạo ác nghiệp, quý vị vẫn đọa trong ba ác đạo. “Mờ mịt chuốc lấy họa ương, biến thành một gã lỗ mãng (mãng đãng hán). “Mãng đãng hán” (莽蕩漢) là tiếng địa phương thời ấy, hiện thời nói là một gã liều lĩnh, thứ gì kẻ ấy cũng đều chẳng sợ. Khuyên kẻ ấy đừng làm ác, làm ác sẽ phải đọa địa ngục, kẻ ấy cho rằng: “Chỗ nào có địa ngục? Địa ngục thì hết thảy đều là không!” Trong khi quý vị tạo ác nghiệp, đọa vào địa ngục, Diêm Vương lão tử đối với quý vị há có phải là Không? “Chiêu ương họa”: Học Phật mà đọa địa ngục, đấy chẳng phải là oan uổng ư?

Vậy thì [sẽ có kẻ thắc mắc] “kinh điển Đại Thừa dạy chúng ta tu nhân, chứng quả là được rồi, giảng lý Chân Không bình đẳng để làm gì chớ?” Quý vị phải hiểu, giảng đến pháp gì thì mới nói những điều phù hợp với pháp ấy. Nếu là pháp nhân thừa, hoặc pháp thiên thừa, sẽ chẳng nhắc đến lý Chân Không. Thọ Tam Quy Y, trì Ngũ Giới là pháp Nhân Thừa. Tại gia tu Thập Thiện, tu Tứ Thiền Bát Định, tức là thiện pháp trong hai giới trên (Sắc Giới và Vô Sắc Giới), cũng chẳng nhắc tới Chân Không. Vì xét theo quy củ, quý vị phải trì giới, tu Thiền là đúng. Do vậy, bèn nói pháp Nhị Thừa là tu Tứ Đế, tu Thập Nhị Nhân Duyên, cũng chẳng giảng lý bình đẳng. Tới pháp Đại Thừa mới nói. Đại Thừa còn chia thành Quyền Giáo Đại Thừa và Thật Giáo Đại Thừa. Quyền Giáo Đại Thừa cũng chẳng nhắc tới lý bình đẳng. Nói tới Thật Giáo Đại Thừa thì không giảng [lý thể bình đẳng] sẽ chẳng được. Không giảng, quý vị chẳng hiểu lý Chân Không là bình đẳng, sự tu tập của quý vị sẽ là chấp tướng. Quý vị tu tập mà chấp tướng, sẽ đọa trong phương tiện quyền xảo của Đại Thừa, sẽ là Quyền Thừa, chẳng phải là Thật Thừa. Vì thế, chẳng giảng đến chỗ cao nhất thì sẽ không được.

Kinh Vô Lượng nói ra đoạn đạo lý này, toàn là đạo lý của bậc Đẳng Giác Bồ Tát. Chúng ta là Sơ Phát Tâm Bồ Tát chẳng học đến mức cao như thế, giảng cao sâu ngần ấy để làm gì? Tôi nhắc lại lần nữa cùng quý vị: [Kinh nói tới] công đức của Bồ Tát nhằm dạy chúng ta học theo. Nay quý vị nghe chỗ cao nhất, nay quý vị bèn học theo. Học theo thì quý vị sẽ chẳng chấp tướng. Trong phần trước đã nói những vị Bồ Tát này chẳng kiêu mạn, chẳng “nhậm tứ” (任恣, tùy tiện buông lung). “Nhậm tứ” là phóng dật, các Ngài chẳng phóng dật. Chúng ta mới học Phật pháp, mới học Đại Thừa Phật pháp, vì tôi là một pháp sư, cho nên mượn chuyện pháp sư để làm thí dụ, nói đến chuyện hống hách của pháp sư. Kẻ làm một vị pháp sư mà ra vẻ hống hách là do chẳng hiểu lý Chân Không. Kẻ ấy giảng kinh bèn chấp vào tướng giảng kinh, kẻ đó hống hách làm ra vẻ ta đây. Trong Phật môn, còn có hai câu: “Pháp sư hống hách, kẻ tu hành đã lâu dễ nóng giận”. Pháp sư giảng kinh bèn chấp tướng; hễ chấp tướng, sẽ khởi kiêu mạn, còn gọi là “cống cao, ngã mạn”. Tỏ thái độ vênh váo, vị pháp sư ấy rất khó hầu hạ. Người tu hành đã lâu chẳng giảng kinh, hằng ngày kẻ ấy tĩnh tọa, niệm Phật, dụng công tu hành. Dụng công tu hành nhưng như thế nào? Chấp tướng! Chấp tướng thì hằng ngày kẻ ấy dụng công nơi đó, trên thực tế là trưởng dưỡng vô minh. Vô minh càng dưỡng càng to, lửa vô minh cháy đến Tam Thập Tam Thiên, ai cũng chẳng dám đụng đến kẻ ấy. Quý vị hơi đụng vào một vị tu hành đã lâu ấy, kẻ đó bèn nổi đóa, nóng máu, có khuyên cũng chẳng được, so với người bình phàm còn nóng nảy hơn! Đó là đạo lý gì vậy? Kẻ ấy tu hành chấp tướng, chẳng hiểu đạo lý Chân Không bình đẳng.

Xem kinh văn, quý vị phải chú ý, đừng nên thiên lệch một bên. “Diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu”: Chẳng có sở tác, mà cũng chẳng có sở hữu, đấy là chẳng có tu nhân, mà cũng chẳng có chứng quả. “Bất khởi bất diệt”, chẳng có tịnh pháp sanh khởi, mà cũng chẳng có nhiễm pháp để diệt trừ. “Đắc bình đẳng pháp” vì Chân Không Lý Thể là bình đẳng. Quý vị đừng nên đọa vào Thiên Không. [Kinh văn] có chữ Đắc, [tức là] đắc pháp bình đẳng. Trong “chẳng chấp tướng”, sẽ tùy ý tự nhiên có sở đắc. Đấy là từ trong vô sở đắc mà có sở đắc, cái đắc ấy chẳng chấp tướng. Quý vị chấp tướng thì sai mất rồi. Không chấp tướng, sẽ đắc pháp bình đẳng. Quý vị thấy trong phần tiếp theo, nó chẳng phải là Đoạn Diệt Không, mà là Chân Không Bất Không, đắc pháp bình đẳng là như thế nào vậy?

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.1.2. Thành tựu khá nhiều

(Kinh) Cụ túc thành tựu vô lượng tổng trì bách thiên tam-muội, chư căn trí huệ.

          ()具足成就無量總持百千三昧。諸根智慧。

          (Kinh: Thành tựu đầy đủ vô lượng tổng trì, trăm ngàn tam-muội, các căn trí huệ).

Quý vị đạt được lý thể của pháp bình đẳng, nó là Chân Không Lý Thể. Chân Không chẳng phải là hư không, chẳng phải là Đoạn Diệt Không. Chân Không bất không, tức là Diệu Hữu, hết thảy thiện pháp công đức đều có, nhưng chẳng phải là cái Có của phàm phu, mà là cái Có chẳng thể nghĩ bàn. “Diệu” (妙) là chẳng thể nghĩ bàn, tức là Diệu Hữu! Chân Không bất không tức là Diệu Hữu; do vậy, các Ngài đạt được rất nhiều pháp Diệu Hữu chẳng thể nghĩ bàn.

“Cụ túc thành tựu vô lượng tổng trì” (Thành tựu trọn đủ vô lượng tổng trì): Tổng Trì tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhāraṇī), tiếng Hán là Tổng Trì (總持), [ý nói] tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa” (gồm trọn hết thảy các pháp, giữ vô lượng nghĩa). Đắc pháp môn đại đà-la-ni, trong ấy trọn đủ “bách thiên tam-muội” (trăm ngàn tam-muội). Tam-muội trong tiếng Hán là Chánh Định, trăm ngàn tam-muội đều đạt được.

“Chư căn trí huệ”: “Chư căn” là các loại thiện căn, giải thích thông thường [chư căn] là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, tức Ngũ Căn. Tín Căn, Tinh Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Huệ Căn, đấy là năm loại thiện căn. Các Ngài đã đắc pháp bình đẳng, tức là trọn đủ trăm ngàn tam-muội. “Chư căn trí huệ” là công đức do quý vị đã làm, đều là thiện căn. Các thiện căn đã làm đều có thể khơi mở, phát khởi trí huệ, chư căn trí huệ thảy đều đạt được.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.1.3. Sở chứng sâu rộng

(Kinh) Quảng phổ tịch định, thâm nhập Bồ Tát pháp tạng.

          ()廣普寂定,深入菩薩法藏。

(Kinh: Thiền Định vắng lặng, rộng lớn, trọn khắp, thâm nhập pháp tạng của Bồ Tát).

“Quảng phổ tịch định, thâm nhập Bồ Tát pháp tạng”: Hết thảy công đức, hết thảy trí huệ đều đạt được, còn đạt đến “quảng phổ tịch định”, [tức là] đạt được công phu Thiền Định rất rộng lớn, rất phổ biến, trạm tịch (trong lặng). Do Huệ và Định đều cùng đạt được, bèn “thâm nhập Bồ Tát pháp tạng”. Là Đại Thừa Bồ Tát, quý vị sẽ đều có thể thâm nhập. “Thâm nhập” có hai cách giải thích: Một loại là ngộ nhập, loại kia là chứng nhập. Nói nông cạn, [sẽ là] đã triệt để ngộ nhập “Bồ Tát pháp tạng”, thảy đều ngộ thấu triệt, ngộ đến rốt cùng. Đấy là ngộ nhập. Sự ngộ nhập này vẫn là ngộ Lý, vẫn cần phải chứng nhập. Đấy mới là thâm nhập, là chứng đắc sâu xa Bồ Tát pháp tạng.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.1.4. Thành tựu thù thắng

(Kinh) Đắc Phật Hoa Nghiêm tam-muội.

          ()得佛華嚴三昧。

          (Kinh: Đạt được Hoa Nghiêm tam-muội của Phật).

Vị Bồ Tát này đã học hoàn toàn pháp Bồ Tát, lại tiến thêm bước nữa là mong đạt được pháp của Phật, đạt được Hoa Nghiêm tam-muội của Phật. Hoa Nghiêm tam-muội còn gọi là Pháp Giới Định, là đại định do chư Phật chứng đắc. Đạt được Hoa Nghiêm tam-muội, đã nhập đại định Hoa Nghiêm tam-muội. Môn Định này chẳng phải là như chúng ta thường tĩnh tọa, nhập Định một khoảng thời gian rồi lại xuất Định. Hoa Nghiêm tam-muội là đi, đứng, ngồi, nằm thường ở trong đại định, ở trong Định bèn thuyết pháp, chẳng phải là xuất Định rồi mới có thể thuyết pháp.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.2.2. Nói về công đức lợi tha

(Kinh) Tuyên dương diễn thuyết nhất thiết kinh điển.

          ()宣揚演說一切經典。

          (Kinh: Tuyên dương, diễn nói hết thảy các kinh điển).

Đắc Hoa Nghiêm tam-muội, có thể “tuyên dương diễn thuyết nhất thiết kinh điển”, tức là có thể giống như Phật. Đức Phật thuyết kinh như thế nào, quý vị đều có thể nói [giống như vậy], tuyên nói hết thảy kinh điển.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.3. Lại nói về khởi tu

(Kinh) Trụ thâm định môn, tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật. Nhất niệm chi khoảnh, vô bất châu biến, tế chư kịch nạn, chư nhàn bất nhàn, phân biệt hiển thị chân thật chi tế, đắc chư Như Lai biện tài chi trí, nhập chúng ngôn âm, khai hóa nhất thiết.

          ()住深定門,悉覩現在無量諸佛。一念之頃,無不周徧。濟諸劇難,諸閑不閑。分別顯示真實之際,得諸如來辯才之智。入眾言音,開化一切。

(Kinh: Trụ trong định môn sâu xa, đều thấy vô lượng chư Phật trong hiện tại. Trong khoảng một niệm, không đâu chẳng trọn khắp, cứu giúp những kẻ nạn khổ dữ dội. Ở nơi thanh nhàn và chẳng thanh nhàn [trong nhân gian], phân biệt, hiển thị Chân Thật Tế, đạt được trí biện tài của các đức Như Lai, thông hiểu ngôn ngữ của muôn loài, khơi gợi, hóa độ hết thảy).

“Trụ thâm định môn”: Trong phần trên đã nói, quý vị đắc Hoa Nghiêm tam-muội đại định, ở trong Định có thể giảng kinh, thuyết pháp. Giảng kinh, thuyết pháp nhưng vẫn trụ trong “thâm định môn”, hoàn toàn chẳng động. Đó gọi là “đi, đứng, nằm, ngồi thường ở trong Định”, còn gọi là “thuyết mặc đồng thời”, [nghĩa là] đồng thời thuyết pháp và im lặng chẳng thuyết pháp. Đang nhập Định mà chẳng trở ngại thuyết pháp, thuyết pháp chẳng ngăn ngại nhập Định, động và định như một.

“Tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật. Nhất niệm chi khoảnh, vô bất châu biến” (Đều thấy vô lượng chư Phật trong hiện tại. Trong khoảng một niệm, không đâu chẳng trọn khắp): Phật chia thành ba đời, tức đời quá khứ, đời hiện tại, và đời vị lai. Quá khứ chư Phật đã nhập Niết Bàn, vị lai chư Phật vẫn chưa thành Phật, hiện tại thì trong mười phương thế giới có vô lượng chư Phật, chúng ta cũng chẳng thấy một vị nào. Ở đây, chúng ta có Thích Ca Mâu Ni Phật đã nhập Niết Bàn, Di Lặc Bồ Tát là vị lai Phật còn chưa giáng thế, hiện thời mười phương Phật, Bồ Tát rất đông, nhưng một vị ta cũng chẳng thấy. Vì sao chẳng thấy? Vì trong tâm chúng ta, một tâm trọn đủ mười pháp giới, nay chúng ta là nhân tâm (tâm con người), rơi vào trong nhân pháp giới. “Giới” (界) có giới hạn, do giới hạn ấy bèn sanh chướng ngại. Quý vị trông thấy loài người nhiều đến vô lượng, đi đến đâu cũng đều trông thấy người, vì cái tâm của chúng ta là nhân tâm, là cái tâm của nhân pháp giới, tâm quý vị chẳng biến thành Phật tâm, cho nên một vị Phật cũng chẳng thấy. Vị Bồ Tát này dụng công tới mức đắc Hoa Nghiêm tam-muội của Phật, Ngài có thể ở trong môn định sâu thẳm, ngay lập tức hòa nhập vào Phật giới, tâm Ngài biến thành tâm Phật, [cho nên] hiện tại vô lượng chư Phật thảy đều trông thấy, chẳng cần đến vô lượng thế giới để gặp, chẳng cần phải đi khắp một vòng. Trong một niệm, không gì chẳng trọn khắp là vì tâm quý vị đã biến thành tâm Phật, biến thành chân tâm. Chân tâm không gì chẳng trọn khắp, hiện mười phương pháp giới. Mười phương pháp giới chư Phật, thảy đều ở trong một niệm, quý vị đều nhìn thấy. Tâm quý vị đã biến thành tâm Phật, vô lượng chư Phật đều trông thấy; đạo lý này vẫn là rất cao sâu!

Nói theo cách nông cạn khác, tôi vừa mới nói “chúng ta mang cái tâm con người”, là cái tâm thuộc về nhân pháp giới, [cho nên] trông thấy toàn là người. Người còn chia thành thiện nhân và ác nhân. [Nếu] tâm quý vị là tâm kẻ ác, quý vị sẽ chẳng nhận biết một thiện nhân nào! Bạn bè quý vị kết giao, những người qua lại với quý vị toàn là kẻ ác! Cái tâm ác của quý vị trọn khắp hết thảy mọi nơi, trong một niệm, sẽ trông thấy rất nhiều kẻ ác. Vậy thì quý vị hãy phân tích một phen: “Vì sao ta muốn làm kẻ ác, chẳng làm người lành?” Một niệm của quý vị quay về thiện pháp, quý vị sẽ nhận biết thiện nhân. Trước kia, chẳng thấy một người lành nào, sau này, sẽ thấy thiện nhân rất ư là nhiều! Trong một niệm, quý vị thấy rất nhiều thiện nhân ngần ấy, đạo lý này rất dễ liễu giải.

“Tế chư kịch nạn, chư nhàn bất nhàn. Phân biệt hiển thị chân thật chi tế” (Cứu tế những nơi hoạn nạn dữ dội nhất, đối với chỗ thanh nhàn và chẳng thanh nhàn, phân biệt, hiển thị Chân Thật Tế): Vị Bồ Tát này cũng chẳng phải là hàng Nhị Thừa. Hàng Nhị Thừa đạt được Phật pháp, bản thân họ trụ trong Thiên Không Niết Bàn, hưởng thụ thanh phước của chính mình. Kinh Phật nói là họ hưởng thụ pháp lạc, còn chúng sanh chịu khổ gì đi nữa, họ chẳng màng. Họ chẳng hiểu tấm lòng đại bi. Vị Bồ Tát này trước hết hiểu tâm đại bi, lại phát Bồ Đề tâm, thấy chúng sanh khổ sở bèn phát Bồ Đề tâm. Phát Bồ Đề tâm rồi lại học Phật pháp, học Phật pháp để làm gì? Cứu độ chúng sanh. Chúng sanh có hoạn nạn mới cần quý vị cứu. Chư Phật, Bồ Tát chẳng có hoạn nạn, chẳng cần quý vị phải cứu. Chúng sanh có tai ương, có hoạn nạn, mới cần quý vị đến cứu tế!

Kinh Phật gọi các nạn của chúng sanh là “tam đồ bát nạn”. Chẳng phải là ngoài tam đồ mà có riêng tám nạn đâu nhé! Tính luôn cả tam đồ thì có tám nạn. Vì trong tám thứ nạn ấy, tam đồ khổ nhất, nên gọi là “kịch nạn”“Kịch” (劇) là rất nghiêm trọng, rất dữ dội. Tam đồ là ba ác đạo: Súc sanh đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo. Đọa lạc ba ác đạo, gặp phải “kịch nạn” là tai nạn lớn nhất, cần được Bồ Tát ngay lập tức đến cứu tế. Nhân gian có bốn loại nạn, giải thích chữ Nạn như thế nào? Nạn là tai nạn. Nạn là chướng nạn, học Phật pháp mà sanh ra chướng ngại. Hễ người ấy đọa lạc trong ba ác đạo, học Phật pháp sẽ nẩy sanh chướng ngại. Hễ người ấy đọa lạc trong ba ác đạo, học Phật pháp sẽ chẳng học được, sanh ra chướng nạn. Nhân gian có bốn loại nạn:

1) Loại nạn thứ nhất là manh, lung, ấm, á, sáu căn chẳng trọn đủ. “Manh” (盲) là mù mắt, “lung” (聾) là tai điếc, “ấm á” (瘖啞, ngọng câm) là miệng không nói năng được, câm nín. Đấy là loại chướng nạn học Phật pháp thứ nhất.

2) Loại nạn thứ hai là Thế Trí Biện Thông, tức là trí huệ thế gian. [Kẻ ấy] miệng có thể nói, có thể giảng, vừa có biện tài lại vừa thông minh. Có thể nói người như vậy là thiên tài. Quý vị nói gì, kẻ đó đều có thể biện luận với quý vị. Nhưng lý lẽ biện luận của họ là đạo lý tà tri tà kiến, quý vị vẫn chẳng thể biện luận thắng họ, nẩy sanh chướng nạn. Đó là Thế Trí Biện Thông.

3) Loại nạn thứ ba là Phật tiền, Phật hậu: Trong khoảng giữa của hai vị Phật, chẳng thấy Phật. Sanh sau khi Phật Thích Ca [đã diệt độ] và sanh trước khi Phật Di Lặc [giáng thế], là chướng nạn chẳng thấy Phật.

4) Loại nạn thứ tư, gọi là Bắc Câu Lô Châu (Uttarakuru). Nói tới Khổ với người ở Bắc Câu Lô Châu, bảo họ biết khổ, nhưng Bắc Câu Lô Châu là thế giới Cực Lạc trong nhân gian, họ chẳng cảm nhận nỗi khổ. Quý vị nói khổ gì đi nữa, họ cũng đều chẳng hiểu. Họ chẳng hiểu, chẳng tin Phật pháp, nên cũng sanh ra chướng nạn.

Nhân gian có bốn loại nạn này, “mù, điếc, ngọng, câm”, Thế Trí Biện Thông, “trước Phật, sau Phật”, và Bắc Câu Lô Châu. Tam đồ như vừa kể trên và bốn nạn của người học Phật trong nhân gian đã hợp thành bảy nạn.

Loại thứ tám là Trường Thọ Thiên, tức là trên trời có một loại nạn thuộc về Sắc Giới Thiên. Ngoại đạo tu hành nhằm sanh lên Trường Thọ Thiên. Ngoại đạo tu trường sanh bất lão. Họ sanh lên cõi trời thọ mạng rất lâu dài, cứ ngỡ là sẽ vĩnh viễn chẳng già, vĩnh viễn bất tử. Quý vị khuyên họ học Phật pháp, họ chẳng học. Do đó, trong Sắc Giới Thiên có một loại nạn, tức là Trường Thọ Thiên chẳng tiếp nhận Phật pháp.

Tính gộp chung lại là tám nạn.

Bồ Tát học Phật pháp, học đến mức cao sâu nhất, đến chỗ rốt ráo nhất để dùng làm gì? Vẫn là dùng để cứu độ chúng sanh. Vì chúng sanh có khổ, có nạn, các Ngài cứu những nỗi khổ sở, tai nạn nặng nề nhất ấy. Khổ nạn nặng nề nhất là ba ác đạo. So sánh trong ba ác đạo, khổ nhất là địa ngục. Do vậy, Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện: “Địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật”. Ngài mong độ hết chúng sanh, trước hết Ngài độ chúng sanh trong địa ngục, muốn độ chúng sanh trong địa ngục sao cho chẳng còn ai, vì chúng sanh trong địa ngục quá khổ.

“Tế chư kịch nạn” (cứu giúp nơi tai nạn dữ dội nhất) là đến ba ác đạo. “Chư nhàn bất nhàn”“nhàn” (閑) là nhàn hạ. “Nhàn hạ” là chịu khổ gián đoạn, có thể được ngưng nghỉ, được thảnh thơi. Đọa vào địa ngục, địa ngục Vô Gián chẳng có lúc nào gián đoạn [hành hình], ngày đêm sáu thời thường khổ sở, chẳng được ngưng nghỉ, mà cũng chẳng được thảnh thơi. Ở đây, “kịch nạn” là ba ác đạo. “Chư nhàn bất nhàn” là nói đến nhân gian, nhân gian có kẻ hứng chịu khổ sở nặng nề. “Bất nhàn” là chẳng được nhàn hạ, chẳng có thời gian nhàn hạ, kẻ đó sẽ không thể học Phật pháp. Có kẻ chịu khổ nạn rất nhẹ, thời gian nhàn hạ nhiều, hạng người này được gọi là “chư nhàn”. [Ở trong những nơi] “chư nhàn sẽ học Phật pháp dễ dàng, họ có nhiều thời gian, nhiều công phu. Khổ sở nặng nề, chẳng được nhàn hạ thì gọi là “bất nhàn”. Khổ nhẹ thì gọi là “chư nhàn”. Có thời gian nhàn hạ thì là có “chư nhàn”. Bất luận họ là chúng sanh khổ sở dữ dội trong ba ác đạo, hoặc là “chư nhàn” trong nhân gian, tức là các chúng sanh khổ nhẹ và chúng sanh “bất nhàn” khổ sở dữ dội, Bồ Tát đều bình đẳng cứu tế. “Phân biệt hiển thị chân thật chi tế” (phân biệt hiển thị Chân Thật Tế), cứu như thế nào? Bảo cho quý vị biết ai nấy đều có một cái Chân Thật Tế. Chân Thật Tế tức là ai nấy đều có Phật Tánh, tôi vừa mới nói là diệu lý Chân Không. Phân biệt khai thị cho họ nghe [chân lý ấy].

“Đắc chư Như Lai biện tài chi trí. Nhập chúng ngôn âm, khai hóa nhất thiết” (Đạt được trí biện tài của các Như Lai, thông hiểu ngôn ngữ của muôn loài, khơi gợi, hóa độ hết thảy): Trong phần trước là đắc Hoa Nghiêm tam-muội của chư Phật; ở đây, lại nói là đạt được trí huệ biện tài của chư Phật. Trong phần trên đã có nói, đạt được trong tâm là trí huệ, thốt ra đằng miệng là biện tài. Nói gộp lại, sẽ là “biện tài tri chí”. Đạt được trí biện tài của chư Phật, đạt được “nhập chúng ngôn âm” (thông hiểu ngôn ngữ của muôn loài). Biện tài có bốn loại là Pháp, Nghĩa, Từ, Nhạo Thuyết, tức Pháp Vô Ngại Biện, Nghĩa Vô Ngại Biện, Từ Vô Ngại Biện, và Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện, có bốn loại Vô Ngại Biện ấy. Loại thứ ba là Từ Vô Ngại Biện, [hay còn gọi là] Từ Vô Ngại, tức là trong khi ăn nói, sử dụng ngôn từ, đều có thể biện định vô ngại. Tức là đối với hết thảy các ngôn âm của chúng sanh nói ra, Ngài đều hiểu. Ngài biết nói ngôn âm của chúng sanh. Quý vị là người, Ngài sẽ nói bằng ngôn âm nhân gian. Nếu quý vị là súc sanh, Ngài có thể nói tiếng súc sanh. Nếu quý vị là ngạ quỷ, Ngài có thể nói tiếng ngạ quỷ. Đối với chúng sanh trong ba ác đạo, chúng ta chỉ trông thấy súc sanh, nhưng người có đại trí huệ hiểu âm thanh của súc sanh, huyền diệu như thế đó! Chỉ nói riêng về con người, người ở những địa phương khác nhau, ngôn ngữ đã bất đồng. Vị Bồ Tát này đắc trí huệ biện tài, quý vị là người Hoa, Ngài hiểu tiếng nói của quý vị. Quý vị là người Mỹ, Ngài cũng hiểu tiếng của quý vị. Như vậy thì quý vị mới có thể cứu độ người Hoa, mà cũng có thể cứu độ người Mỹ. Vì thế, quý vị nhập “ngôn âm” của chúng sanh thì mới thể khai hóa hết thảy.

2.1.1.2.2.3.2.2.3.4. Lại nói về những điều thành tựu

(Kinh) Siêu quá thế gian chư sở hữu pháp, tâm thường đế trụ độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật, nhi tùy ý tự tại. Vị chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu, hà phụ quần sanh, vị chi trọng đảm.

          ()超過世間諸所有法,心常諦住度世之道。於一切萬物,而隨意自在。為諸庶類,作不請之友。荷負群生,為之重擔。

          (Kinh: Vượt trỗi các pháp vốn có trong thế gian, tâm thường trụ vững nơi đạo độ đời. Đối với hết thảy vạn vật, đều tùy ý tự tại. Vì các chủng loại hữu tình, làm bạn chẳng thỉnh. Vì các quần sanh, gánh vác gánh nặng).

“Siêu quá thế gian chư sở hữu pháp” (vượt trỗi các pháp vốn có trong thế gian): Bồ Tát pháp, Phật pháp, đều vượt trỗi hết thảy các pháp của phàm phu trong thế gian.

“Tâm thường đế trụ độ thế chi đạo” (tâm thường trụ vững nơi đạo độ đời), đấy là tâm niệm và tâm hướng của Bồ Tát. Các Ngài chẳng hưởng thú vui ngũ dục. Thú vui ngũ dục là chuyện của phàm phu, các Ngài nghĩ tưởng điều gì? Chính là nghĩ tưởng làm thế nào để cứu độ chúng sanh trong thế gian? “Đế trụ”: “Đế” (諦) là “tường thẩm”, “tường” (詳) là cặn kẽ, “thẩm” (審) là suy xét, [“tường thẩm”] là suy xét rất tỉ mỉ. “Trụ” (住) là an trụ bất động. Tâm Bồ Tát suy xét rất tường tận, rất cặn kẽ, lại còn an trụ bất động, suy nghĩ tỉ mỉ cặn kẽ nhiều lượt đều nhằm độ chúng sanh. “Độ thế chi đạo”: An trụ trong đạo độ đời ấy.

          “Ư nhất thiết vạn vật” (đối với hết thảy vạn vật) cũng là nói tới hết thảy chúng sanh, “nhi tùy ý tự tại”, độ loại chúng sanh nào cũng đều có thể thuận theo tâm ý của chính mình mà đắc tự tại. Giống như “huyễn thuật sư” (nhà ảo thuật) đã nói trong phần trước, ông ta muốn biến thành một người nam liền biến thành người nam, muốn biến thành một người nữ liền biến thành người nữ, đấy chẳng phải là tùy ý tự tại ư? Bồ Tát cũng là như thế đó.

“Vị chư thứ loại”“Thứ” (庶) là đông đảo. “Chúng loại” (眾類) là hết thảy các loại chúng sanh. “Tác bất thỉnh chi hữu” (Làm bạn chẳng thỉnh): Quý vị muốn giảng kinh, thuyết pháp cho chúng sanh, chúng sanh phải lễ thỉnh quý vị. Vì sao? Đó gọi là “tôn trọng Phật pháp”. Nhưng đó là những người liễu giải nghi thức lễ thỉnh pháp sư, liễu giải đạo lý tôn trọng Phật pháp, chứ kẻ bình phàm không biết, quý vị có cần phải độ họ hay chăng? Khi ấy, quý vị sẽ “tác bất thỉnh chi hữu” cho họ. Họ chẳng thỉnh ta, ta tìm đến họ, thuyết pháp cho họ, như vậy mới là đại từ đại bi.

“Hà phụ quần sanh, vị chi trọng đảm” (Vì các quần sanh, gánh vác gánh nặng): Chúng sanh quá nhiều, vô biên chúng sanh, ta đều thệ nguyện độ thoát, ta phải gánh lấy trách nhiệm này. Trách nhiệm ấy là trọng trách, ta tình nguyện gánh vác gánh nặng ấy, đấy mới gọi là “Bồ Tát phát tâm”.

2.1.1.2.2.3.2.2.4. Nương vào sự thắng tấn trên đây, biện định về các đức đã tu tập thành tựu

2.1.1.2.2.3.2.2.4.1. Trước hết, biện định những điều đã tu

(Kinh) Thọ trì Như Lai thậm thâm pháp tạng, hộ Phật chủng tánh, thường sử bất tuyệt, hưng đại bi, mẫn chúng sanh, diễn từ biện, thọ pháp nhãn, đỗ tam thú, khai thiện môn. Dĩ bất thỉnh chi pháp, thí chư lê thứ. Như thuần hiếu chi tử, ái kính phụ mẫu. Ư chư chúng sanh, thị nhược tự kỷ.

()受持如來甚深法藏,護佛種性,常使不絕。興大悲,愍眾生。演慈辯,授法眼。杜三趣,開善門。以不請之法,施諸黎庶。如純孝之子,愛敬父母。於諸眾生,視若自己。

(Kinh: Thọ trì pháp tạng rất sâu của Như Lai, bảo vệ chủng tánh của Phật, thường khiến cho chẳng dứt, dấy lòng đại bi, thương xót chúng sanh, diễn từ biện, trao pháp nhãn, đóng chặt ba đường ác, mở cửa lành. Dùng pháp chẳng thỉnh thí cho muôn loài, như đứa con thuần hiếu yêu kính cha mẹ. Đối với các chúng sanh, xem như chính mình).

Trong phần trước, [kinh văn đã nói là] đối với pháp tạng của Bồ Tát đều thâm nhập, nay lại tiến thêm bước nữa, có thể “thọ trì Như Lai thậm thâm pháp tạng”, có thể thay Phật làm việc. Phật là đấng độ chúng sanh, Bồ Tát đều có thể độ chúng sanh, có thể gánh vác trọng trách độ chúng sanh, có thể thay Phật độ chúng sanh.

          “Hộ Phật chủng tánh, thường sử bất tuyệt” (Bảo vệ chủng tánh của Phật thường khiến cho chẳng bị đoạn tuyệt): “Hộ” (護) là bảo vệ, [“hộ Phật chủng tánh” là] bảo vệ chủng tánh của Phật. “Thường sử bất tuyệt”: Phật chủng chẳng dứt; đấy là quý vị cứu chúng sanh bèn dùng Đại Thừa Phật pháp để cứu. Đại Thừa Phật pháp cứu độ chúng sanh, dạy chúng sanh trước hết hãy phát Bồ Đề tâm. Đã phát Bồ Đề tâm tức là gieo chủng tử thành Phật, lại bảo họ tu Đại Thừa hạnh, Thập Tín viên mãn, dự vào địa vị Sơ Trụ, Phật chủng sẽ chẳng đoạn. Các chúng sanh ấy bèn đắc bất thoái chuyển, trong tương lai, nhất định sẽ thành Phật. Đấy là quý vị độ chúng sanh thành Phật, khiến cho chủng tánh của Phật chẳng đến nỗi bị đoạn diệt.

“Hưng đại bi, mẫn chúng sanh”: Dấy lòng đại bi, tức là đối với thân, khẩu, ý, ý nghiệp của Phật, Bồ Tát hoàn toàn là đại bi tâm, thương xót chúng sanh, ôm tấm lòng thương xót chúng sanh. Khẩu nghiệp của Bồ Tát là giảng kinh, thuyết pháp cho chúng sanh nghe. Giảng kinh, thuyết pháp thì phải dùng biện tài, biện tài hoàn toàn là ban pháp lạc cho chúng sanh.

          “Từ” là có thể ban vui. “Diễn từ biện”: Sự diễn nói đích thị là từ biện (慈辯, biện tài từ bi). Tuyên dương là Diễn. Do lòng Từ mà có thể ban vui, đó là Từ. Biện tài vô ngại là Biện. [“Diễn từ biện”] nghĩa là giảng kinh thuyết pháp hoàn toàn có thể ban pháp lạc cho chúng sanh.

          “Thọ pháp nhãn” (Trao pháp nhãn): Dạy chúng sanh mở mang chánh nhãn Phật pháp. Chúng sanh chẳng liễu giải Phật pháp, quý vị mở con mắt trí huệ cho họ, giống như quý vị trao pháp nhãn cho họ.

          “Đỗ tam thú” (Đóng lấp ba đường ác): Trước hết dạy chúng sanh chớ nên đọa lạc trong ba ác đạo, đó là nỗi thống khổ tai nạn cùng cực dữ dội! “Đỗ” (杜) là cắt đứt, [“đỗ tam thú”] là cắt đứt con đường dẫn đến ba ác đạo.

          “Khai thiện môn”: Thiện có thế gian thiện và xuất thế gian thiện. Thế gian thiện là nhân thiên thiện pháp. Dạy họ trước hết hãy tu nhân thiên thiện pháp để họ chẳng đọa trong ba ác đạo. Đấy là “đỗ tam thú”.

“Khai thiện môn”: Thiện pháp xuất thế gian còn có Đại Thừa và Tiểu Thừa. Tu Tiểu Thừa rồi tu Đại Thừa, cũng đều là vượt thoát sanh tử luân hồi trong tam giới. Đối với kẻ có thể học pháp Đại Thừa, quý vị bèn dạy kẻ ấy pháp Đại Thừa, mở mang trí huệ của Phật, cũng có thể độ chúng sanh.

“Dĩ bất thỉnh chi pháp, thí chư lê thứ” (Dùng pháp chẳng thỉnh thí cho muôn loài): “Lê thứ” (黎庶) vẫn là chúng sanh. Trong phần trước, [kinh văn] đã nói quý vị “làm bạn chẳng thỉnh”. “Làm bạn chẳng thỉnh” là quý vị giảng Phật pháp cho người ấy nghe. “Dĩ bất thỉnh chi pháp” (Dùng pháp chẳng thỉnh): Kẻ ấy chẳng thỉnh ta thuyết pháp, ta phải thuyết pháp cho người ấy. Vì cứu độ những chúng sanh ấy, ta ban Pháp Bố Thí cho họ. Đó gọi là “thí chư lê thứ”.

Coi chúng sanh như thế nào? “Như thuần hiếu chi tử, ái kính phụ mẫu” (Như đứa con thuần hiếu yêu kính cha mẹ): Coi các chúng sanh ấy đều như cha mẹ. Quý vị coi chúng sanh là chúng sanh khổ não, bản thân quý vị sẽ có thể dấy lòng kiêu căng, ngã mạn. Quý vị coi chúng sanh đều là cha mẹ của chính mình, vì sao? Vì chúng ta đều lưu chuyển sanh tử trong lục đạo luân hồi, đời này ta có cha mẹ của đời này, đời trước còn có cha mẹ thuộc đời trước, đời trước nữa vẫn có cha mẹ. Chúng ta lưu chuyển sanh tử như thế từ vô thỉ kiếp đến nay, hết thảy chúng sanh đều từng làm cha mẹ của ta. Ta phải hiếu kính đối với cha mẹ đời này, chẳng cần hiếu kính cha mẹ đời trước ư? Quán tưởng như thế, quý vị sẽ hành hiếu đạo đối với chúng sanh, giảng Phật pháp cho họ nghe, giống như hiếu tử hiếu kính cha mẹ.

“Ư chư chúng sanh, thị nhược tự kỷ” (Coi các chúng sanh như chính mình): Tiến hơn bước nữa là quán tưởng chúng sanh “thị nhược tự kỷ”, “thị” (視) là quán tưởng. Quán tưởng hết thảy chúng sanh là chính mình. Quán tưởng [chúng sanh] là cha mẹ ta, đấy là người thân cận nhất, quán tưởng là chính mình thì sẽ là thân thiết nhất. Thế gian này có rất nhiều đứa con chẳng ra gì, chúng nó có cha mẹ mà chẳng hiếu thuận, vì [cha mẹ] chẳng phải là chính bản thân chúng nó. Nếu chẳng phải là chính chúng nó bị khổ sở, chúng nó sẽ chẳng ngay lập tức cầu cạnh cha mẹ. Quý vị quán tưởng chúng sanh là chính mình, nhất định sẽ cầu độ chúng sanh. Chúng sanh chẳng phải là chính mình, ta quán tưởng họ là chính mình bằng cách nào?

1) Thứ nhất, quý vị quán tưởng hết thảy chúng sanh có cùng một Phật Tánh với ta. Phật Tánh chẳng hai, chẳng khác.

2) Thứ hai, hết thảy chúng sanh và ta cùng do bốn đại chủng tánh sanh ra. Thân thể ta sanh bởi Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Thân thể của hết thảy chúng sanh cũng đều là Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Đồng dạng là cái thân do bốn đại chủng tánh Địa, Thủy, Hỏa, Phong sanh ra, chẳng khác gì nhau, cho nên chúng sanh chịu khổ là ta chịu khổ, nhất định phải cứu họ.

2.1.1.2.2.3.2.2.4.2. Nói rõ những điều thành tựu

(Kinh) Nhất thiết thiện bổn, giai độ bỉ ngạn, tất hoạch chư Phật vô lượng công đức, trí huệ thánh minh, bất khả tư nghị.

          ()一切善本,皆度彼岸。悉獲諸佛無量功德。智慧聖明,不可思議。

          (Kinh: Hết thảy gốc lành đều vượt đến bờ kia, đều đạt được vô lượng công đức của chư Phật, trí huệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn).

“Nhất thiết thiện bổn, giai độ bỉ ngạn” (Hết thảy gốc lành đều vượt đến bờ kia): Bồ Tát độ chúng sanh có Quyền và Thật. “Nhất thiết thiện bổn” là hướng dẫn, khơi gợi chúng sanh tu hết thảy các thiện pháp. “Thiện bổn” còn gọi là thiện căn. Dạy họ (chúng sanh) gieo thiện căn. Thiện căn chẳng phải là một thứ, nên nói “nhất thiết thiện bổn” (hết thảy thiện bổn), hoặc là thiện bổn trong nhân gian, thiện bổn cõi trời, thiện bổn Nhị Thừa, khơi mở, hướng dẫn thiện pháp cho họ, dạy họ gieo thiện căn. Đấy là phương tiện thiện xảo, nhằm mục đích khiến cho họ “giai độ bỉ ngạn” (đều vượt đến bờ kia). “Bỉ ngạn” là Niết Bàn. Niết Bàn của Đại Thừa là thành Phật. “Nhất thiết thiện bổn” đều phải hồi hướng về một mục đích, tức là hết thảy chúng sanh đều chứng đắc bờ kia Niết Bàn, sẽ đều thành Phật.

“Tất hoạch chư Phật vô lượng công đức” (Đều đạt được vô lượng công đức của chư Phật): Chư Phật có vô lượng vô biên công đức, những công đức to lớn ấy chúng sanh đều đạt được. “Tất hoạch”, “hoạch” (獲) là đạt được, đạt được vô lượng công đức của chư Phật.

“Trí huệ thánh minh”: Vô lượng trí huệ, vô lượng thánh minh của chư Phật. “Thánh” là Phật, “minh” là trí huệ. Trí huệ của chư Phật và quang minh của bậc đại thánh đều đạt được. “Bất khả tư nghị”: Chẳng thể suy lường, chẳng thể bàn luận.

2.1.1.2.2.4. Biện định chung số lượng [của các vị Bồ Tát dự hội]

          (Kinh) Như thị chi đẳng Bồ Tát đại sĩ, bất khả xưng kế, nhất thời lai hội.

          ()如是之等菩薩大士,不可稱計,一時來會。

(Kinh: Các vị Bồ Tát đại sĩ như thế đó, chẳng thể nói, đếm, đều cùng đến dự hội).

“Như thị chi đẳng”: Công đức của hàng Bồ Tát nhiều ngần ấy như vừa mới nói trên đây. Những vị đại Bồ Tát ấy, Bồ Tát còn gọi là Đại Sĩ, “bất khả xưng kế” (chẳng thể nói, đếm), rốt cuộc có bao nhiêu vị Bồ Tát? Chẳng thể tính đếm số lượng được thì gọi là “bất khả xưng kế”. “Nhất thời lai hội” (cùng lúc nhóm đến): Đến dự pháp hội giảng kinh Vô Lượng Thọ.

Kinh văn nói đến chỗ này chính là phần Chúng Thành Tựu trong sáu loại thành tựu, tức là [nói về] đại chúng nghe kinh. Giảng kinh Vô Lượng Thọ thì đại chúng nghe kinh có chúng Thanh Văn, chúng Bồ Tát, vì kinh Vô Lượng Thọ là kinh điển Đại Thừa. Phần nói về công đức của các vị đại Bồ Tát nói rất dài, cũng nhằm dạy chúng ta học theo những tấm gương ấy. Giảng đến đây, phần Chúng Thành Tựu đã giảng xong. Tính gộp lại, phần sáu thứ thành tựu đã giảng xong, cũng là phần Chứng Tín Tự trong Tự Phần đã được giảng xong. Trên đây đã nói Tự Phần được chia thành hai khoa, khoa thứ nhất là Chứng Tín Tự tức là sáu món thành tựu đã giảng xong. Đối với sáu thứ thành tựu này, trong các bộ kinh đều có một đoạn lời tựa giống như thế này, bất quá là địa điểm khác nhau, số người khác nhau. Sau đó là khoa thứ hai, tức Phát Khởi Tự. Phát Khởi Tự thì mỗi bộ kinh đều có phần Phát Khởi Tự khác nhau. Ở đây nói đến phần Phát Khởi Tự của kinh Vô Lượng Thọ. Phát Khởi Tự là để dẫn phát, sanh khởi Chánh Tông Phần, nên gọi là Phát Khởi Tự.

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Ký

Phần 1 hết

Nguồn: Di Đà Nguyện Hải

Pages: 1 2 3 4 5
Print Friendly, PDF & Email

CHÚ THÍCH

  1. Chùa chỉ truyền thừa cho đồ tử và đồ tôn của vị sáng lập hoặc trưởng lão trong pháp phái, không tiếp nhận tăng sĩ ngoài pháp phái hoặc sơn môn nhập chúng thì gọi là “tử tôn tự miếu”.
  2. Chahar, đôi khi còn viết là Chakhar hoặc Qahar, là một tỉnh chỉ tồn tại từ năm 1912 cho đến 1936 dưới thời chính quyền Trung Hoa Dân Quốc còn nắm giữ Đại Lục. Tỉnh này chiếm phần lớn vùng Đông Nội Mông. Vùng này được gọi là đặc khu Trương Viên dưới triều Thanh. Đến thời Dân Quốc, đặc khu này được đổi tên thành khu đặc trị Chahar (theo tên gọi của bộ tộc Mông Cổ lớn nhất ở vùng này), trực thuộc tỉnh Trực Lệ, rồi nâng cấp thành tỉnh vào năm 1928, thủ phủ là thành phố Trương Gia Khẩu. Tỉnh này bị hủy bỏ khi Trung Cộng nắm chính quyền.
  3. Sở dĩ Tào Phi chọn quốc hiệu là Ngụy vì Tào Tháo được nhà Hán phong làm Ngụy Công, thái ấp ở Ngụy Quận, chọn đất Nghiệp để đóng đô. Gọi là Tào Ngụy vì trong lịch sử Trung Hoa có rất nhiều nhà Ngụy, chẳng hạn như nước Ngụy thời Xuân Thu Chiến Quốc (tách ra từ nước Tấn, do Ngụy Tư sáng lập), thời Thập Lục Quốc lại có Nhiễm Ngụy do Nhiễm Mẫn sáng lập và Trác Ngụy do Trác Liêu sáng lập, nhà Bắc Ngụy (hay Nguyên Ngụy) do Thác Bạt Khuê sáng lập. Đến cuối thời Tùy lại có hai tiểu quốc cùng xưng là Ngụy là do Ngụy Đao Nhi và Lý Mật lần lượt sáng lập.
  4. Đây là quốc gia hùng mạnh thứ hai sau Đại Nhục Chi (thuộc địa bàn tỉnh Cam Túc hiện thời). Theo sử Trung Hoa, nước này nằm ở phía Bắc nước Đại Uyển, phía Tây nước Ô Tôn, và giáp ranh nước Nhục Chi ở phía Nam. Lãnh thổ của nước này thuộc vùng Trung Á, bao gồm vùng thung lũng Ferghana và bình nguyên giữa hai con sông Amu Darya và Syr Daria (tức là vùng lãnh thổ bao gồm các tỉnh ở phía Bắc Afghanistan, cho đến các quốc gia Kyrgystan và Uzbekistan hiện nay). Dân cư nước này chính là tổ tiên sắc dân Sogdian tại Iran trong hiện thời. Cho đến hiện thời, các nhà nghiên cứu vẫn không đồng ý dứt khoát lý do vì sao người Hoa lại dịch chữ Sogdiana thành Khang Cư!
  5. Gia Bình (嘉平, 249-254) là niên hiệu thứ hai của Ngụy Thiếu Đế (Tào Phương). Lúc này, quyền thần Tư Mã Sư (con trai Tư Mã Ý) thao túng nhà Tào Ngụy. Năm Gia Bình thứ sáu (254), Tư Mã Sư phế truất Tào Phương, đưa Tào Mao lên thay, đổi niên hiệu thành Chánh Nguyên
  6. Bắc Bình là danh xưng của thành phố Bắc Kinh vào thời Dân Quốc. Danh xưng này vốn có từ thời Chiến Quốc, khi đó, Bắc Kinh được gọi là Yên Kinh, trực thuộc Hữu Bắc Bình Quận. Đến thời Nguyên, Yên Kinh được cải danh thành Đại Đô. Do kinh đô nhà Minh đặt ở Kim Lăng, đã đổi Bắc Kinh thành Bắc Bình Phủ. Đến thời Dân Quốc, do chính phủ đóng đô tại Kim Lăng, đã đổi Kim Lăng thành Nam Kinh và gọi Bắc Kinh là Thuận Thiên Phủ. Sau cuộc chiến tranh Bắc Phạt thời Dân Quốc, Bắc Kinh được đổi tên thành Bắc Bình. Cho đến năm 1937, khi Nhật chiếm đóng Bắc Trung Hoa, đã đổi Bắc Bình thành Bắc Kinh. Khi chính quyền Dân Quốc giành lại Bắc Kinh, lại gọi là Bắc Bình, cho đến khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành lập, đã đổi Bắc Bình thành Bắc Kinh cho đến nay.
  7. Đây là quan điểm riêng của lão pháp sư. Do tôn trọng, chúng tôi không lược bỏ đoạn này. Thiển nghĩ, khi chúng ta xem hoặc nghe một bài giảng, có thể dùng con mắt trạch pháp để chọn lấy những điều hay. Do mạt nhân thấy bài giảng này giúp chúng ta hiểu kinh Vô Lượng Thọ, đặc biệt là bản dịch của ngài Khang Tăng Khải được giảng giải rất chi tiết, nên chúng tôi vẫn dịch ra để chúng ta có thêm tài liệu tham khảo, hoàn toàn chẳng phải là tán thành quan điểm phản đối bản hội tập của cụ Hạ. Hơn nữa, tài liệu này được ấn hành và phổ biến bởi Đài Trung Liên Xã, là nơi hoằng đạo của cụ Lý Bỉnh Nam, tức là các đệ tử của cụ không vì một đôi điều vặt vãnh mà bỏ qua giá trị của tác phẩm.
  8. Tam Hiền là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Thánh chính là Thập Địa Bồ Tát.
  9. Giới Lạp (戒腊) còn gọi là Pháp Lạp, Hạ Lạp, hoặc Tọa Lạp, tức là số năm tu hành kể từ khi thọ Cụ Túc Giới. Nếu nói nghiêm ngặt, Hạ Lạp hay Tọa Lạp là số lần dự an cư kết hạ sau khi đã thọ Cụ Túc Giới, năm nào chẳng an cư sẽ không tính vào Hạ Lạp. Pháp Lạp (Tăng Lạp) thì đôi khi được hiểu rộng hơn, tính từ ngày xuống tóc, tức là kể cả thời gian làm điệu (làm tiểu) trước khi thọ giới Sa-di.
  10. Sao Phòng là một tinh tòa trong Nhị Thập Bát Tú, có tên gọi đầy đủ là Phòng Nhật Thố, ở phương Đông, thuộc cương vực Thanh Long trong cổ thiên văn Trung Hoa. Tinh tòa này gồm bảy ngôi sao là Phòng, Câu Kiềm, Kiện Bế, Phạt, Đông Hàm, Tây Hàm, mặt trời và Tùng Quan.
  11. Thượng Tọa (Sthavira), đôi khi còn được dịch là Trưởng Lão, chính là danh xưng tỏ vẻ tôn kính dành cho bậc có tư cách cao quý trong Tăng đoàn. [Thời đức Phật], những vị xuất gia được mọi người tôn kính, có đạo đức, tư cách, và giới luật đáng được tôn trọng, chẳng cần biết độ tuổi và pháp lạp như thế nào, đều được gọi là Thượng Tọa (khác với cách hiểu hiện thời trong Phật giáo Việt Nam. Theo quy chế hiện thời của Phật giáo Việt Nam, Thượng Tọa là một danh xưng của hàng giáo phẩm). Theo quy chế tùng lâm Trung Hoa, Thượng Tọa là một chức vị trong Tam Cương (Thượng Tọa, Trụ Trì và Duy Na) của một tùng lâm. Trong đó, Thượng Tọa là vị giới lạp cao nhất, có đạo đức tu học, đáng làm khuôn mẫu cho đại chúng, nhưng vị này đóng vai trò danh dự, không quản lý sự vụ. Trụ Trì hay Phương Trượng là người quản lý trực tiếp mọi sự vụ. Duy Na có trách nhiệm duy trì giới luật, đốc thúc tăng chúng cầu học, kiêm nhiệm chủ trì nghi lễ trong tự viện, chứ không phải chỉ là người dẫn lễ như sau này.
  12. Do ngài Đạo Nguyên không nói gì về ngài Hiền Hộ, xin trích phần chú giải trong sách Danh Nghĩa Tập như sau: “Bạt Ðà Bà La dịch là Hiền Hộ, tự gìn giữ hiền đức, lại hộ trì chúng sanh. Hoặc dịch là Hiền Thủ, do Ngài ở địa vị Ðẳng Giác là Thượng Thủ của các bậc hiền nhân”.
  13. Theo cụ Hoàng Niệm Tổ, các bản khác đều chép thiếu Huệ Biện Tài Bồ Tát, chỉ riêng bản Đường dịch (bản dịch của ngài Bồ Đề Lưu Chí) ghi tên vị này.
  14. Lương Huệ Vương (404-319 trước Công Nguyên), vốn có tên là Ngụy Anh, gọi đầy đủ là Ngụy Huệ Thành Vương, là vua đời thứ ba của nước Ngụy. Sách Mạnh Tử lại gọi ông này là Lương Huệ Vương. Lương Tương Vương tên là Ngụy Tự, là con trai của Lương Huệ Vương. Nước Lương được ngài Đạo Nguyên nói ở đây chính là nước Ngụy. Do vào năm 361 trước Công Nguyên, Ngụy Huệ Vương dời kinh đô từ An Ấp về Đại Lương (nay là phủ Khai Phong), nên người đương thời thường gọi nước Ngụy là Lương. Nước Ngụy vốn là đất phong của Tất Công Cơ Cảo (con trai của Châu Văn Vương). Sau khi Vũ Vương đông chinh trở về, đã phong cho Cơ Cảo tại đất Tất, trở thành nước chư hầu là Tất. Con cháu Tất Công đều lấy chữ Tất làm họ. Về sau, nước Tất diệt vong, hậu duệ của Tất Công Cảo là Tất Vạn chạy sang nước Tấn, làm đại phu cho Tấn Hiến Công, lập nhiều đại công, được phong đất Ngụy, bèn lấy họ là Ngụy. Về sau, các dòng họ quyền thần Triệu, Ngụy và Hàn đánh lẫn nhau, phế ngôi vua Tấn, chia nước Tấn thành ba nước Hàn, Ngụy và Triệu. Ba nước này được xếp vào thất hùng (bảy nước chư hầu hùng mạnh, tức Tần, Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở) thời Chiến Quốc, cho đến khi cả sáu nước (Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở) đều bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt.