VÃNG SANH CHỈ NAM
Biên tập: Nhóm Liên Hữu Miền Nam Đất Việt

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Nam Mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính thưa chư liên hữu gần xa!

Cổ đức đã thiết tha khuyên nhủ:

Sớm tu được sớm kề sen báu,
Sớm tu thì phiền não sớm tan.
Mau tu chớ để muộn màng,
Vô thường chẳng đợi thời gian không chờ!

Ấn Tổ cũng đã từng chỉ dạy:

* “Thông minh bất năng địch nghiệp. Phú quý khởi miễn luân hồi” (Thông minh chẳng cự nổi nghiệp. Phú quý chẳng tránh khỏi luân hồi). Sanh tử xảy đến, không có gì để nương dựa cả, chỉ có câu vạn đức hồng danh A Di Ðà Phật là nương nhờ được mà thôi! Thật tiếc thay người đời quá ít ai biết. Kẻ biết đến, mà chân thật tin và chân thật niệm Phật lại càng ít hơn nữa!

* Một pháp Niệm Phật chính là diệu pháp bậc nhất để xả bỏ trần lao, quay về bờ giác, phản bổn quy nguyên về nơi xưa cũ. Đối với người tại gia, pháp này lại càng gần gũi thân thiết. Vì người tại gia, thân trong lưới trần, công việc đa đoan, gia duyên bận buộc, đối với những việc như nhiếp tâm tham thiền, tụng kinh trong tịnh thất… do hoàn cảnh sẽ chẳng làm được nổi hoặc chẳng đủ sức. Chỉ riêng có pháp môn Niệm Phật này là thuận tiện và dễ dàng bậc nhất.

*Đối với những điều như: Muốn tâm chẳng tham đắm sự vật bên ngoài, chuyên niệm Phật nhưng chẳng thể chuyên, cứ mãi chuyên nhớ lo chuyện khác; chẳng thể niệm, cứ muốn niệm những sự khác; chẳng thể nhất tâm, tâm cứ lang mang nơi chuyện khác v.v… thì chẳng có pháp tắc kỳ đặc, áo diệu nào khác cả; cứ lấy một chữ Tử dán ngay trên trán, rủ xuống tận lông mày, tâm luôn nghĩ:

“Ta là người nào mà từ vô thỉ mãi cho đến đời này đã tạo ác nghiệp vô lượng, vô biên. Giả sử ác nghiệp có hình tướng thì tận mười phương hư không chẳng thể chứa đựng nổi. Đời trước do may mắn nào, nay được thân người, lại được nghe Phật pháp. Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi một hơi thở ra chẳng trở lại, quyết sẽ phải thọ khổ trong vạc dầu sôi, lò than đỏ, rừng gươm, núi đao nơi địa ngục, chẳng biết phải trải qua ngàn đời vạn kiếp.

Dù thoát địa ngục, lại đọa vào ngạ quỷ, bụng to như biển cả, họng nhỏ như chiếc kim, đói khát bao kiếp dài lâu. Trong họng lửa cháy, chẳng được nghe đến tên nước, khó được no lòng chốc lát. Từ ngạ quỷ ra, lại làm súc sanh: bị người cưỡi cổ, hoặc gieo thân vào nhà bếp, quán ăn. Dù được làm người, cũng ngu si, vô trí, coi tạo nghiệp là vui thích, coi tu thiện là gông cùm. Chẳng qua mấy mươi năm lại bị đọa lạc; trải qua kiếp số nhiều như cát bụi mãi mãi luân hồi trong lục đạo. Dù có muốn thoát ra, cũng vô vọng đành bất lực chẳng biết phải làm sao!”.

Nghĩ được như thế thì những việc mong muốn nói trên sẽ thành tựu được ngay. Bởi thế, ông Trương Thiện Hòa, Trương Chung Quỳ, lâm chung tướng địa ngục hiện, niệm Phật mấy tiếng liền tận mắt thấy Phật đến tiếp dẫn vãng sanh. Lợi ích như thế, trăm ngàn vạn ức pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa của Đức Phật đều không có. Thế nên: “Chín pháp giới chúng sanh rời pháp môn này thì trên là chẳng thể viên thành Phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này thì dưới là chẳng thể độ hết mọi loài” Ấy là vì lẽ này vậy!

* Đã có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, phải nên chí tâm chấp trì sáu chữ thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Bất luận đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, im lặng, mặc áo, ăn cơm, và đại tiểu tiện v.v… đều chẳng lìa sáu chữ hồng danh (hoặc trì bốn chữ A Di Đà Phật cũng được). Cần phải niệm sao cho toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm Phật chẳng hai, tâm Phật nhất như. Nếu có thể niệm tại đâu chú tâm tại đó, niệm đến cùng cực, tình mất sạch, tâm rỗng không, Phật hiện, sẽ chứng được tam muội ngay trong đời này. Đến lúc lâm chung, sanh trong Thượng Thượng Phẩm, có thể nói là đã hoàn tất sự tu trì đến cùng cực vậy.

*Nếu như biết thân người khó được, Phật pháp khó nghe, pháp môn Tịnh Độ lại càng khó gặp. Nay mình may mắn đã được thân người, lại được nghe pháp môn Tịnh Độ khó tin nhất, dám đâu để ngày tháng hữu hạn bị tiêu hao hết sạch bởi sắc, thanh, của cải, lợi lộc, để rồi vẫn sống thừa, chết uổng như cũ, vẫn lại trầm luân lục đạo, không ngày thoát ra ư?

Hãy đem ngay một chữ Tử dán vào trán. Hễ những cảnh chẳng nên tham luyến hiện ra liền biết đấy chính là vạc dầu sôi, là lò than đỏ của chính mình, quyết sẽ chẳng đến nỗi như con thiêu thân đâm đầu vào lửa, cam chịu đốt mình! Với những sự mình phải nên làm sẽ biết đấy là thuyền từ để thoát khổ, quyết sẽ chẳng đến nỗi gặp việc nhân bèn thoái thác, thấy việc nghĩa chẳng làm! Như thế thì trần cảnh sẽ là duyên để nhập đạo, há cần phải dứt sạch trần duyên mới kham tu đạo chăng? Bởi đã làm chủ được tâm, chẳng bị cảnh chuyển thì trần lao chính là giải thoát.”

Hối sớm chớ sắp tàn mới hối,
Tu mau đừng gần trối mới tu.
Thân người như tử hình tù,
Phút qua là mỗi phút thu ngắn đời.

Do nhân duyên may mắn, chúng tôi gặp được “Giáo Trình Huấn Luyện Đạo Đức” của Ban Hoằng Pháp ngôi Tây An Cổ Tự, trải nhiều năm tháng suy tư, nhận thấy rất bổ ích cho những hành giả Tịnh Tông. Với ước mong được nhắc nhở sách tấn lẫn nhau, vì vậy, chúng tôi đã chọn ra vài bài, rồi tìm những chuyện xưa tích cũ để dẫn vào làm chứng minh, cũng như trích dẫn thêm những lời khai thị của chư cao tăng thạc đức cho quý bạn đồng tu dễ dàng lãnh hội.

Kính gởi cúng dường chư liên hữu khắp mọi nơi, ngưỡng mong quý vị luôn để tâm nghiền ngẫm!

Hằng âm thầm nguyện cầu Hồng Ân mười phương Tam Bảo, chư Long Thiên Thiện Thần gia hộ độ trì cho chư vị luôn an lòng vững bước để sớm ngày: “Trời Tây sen báu ngát hương!”

Việc làm này nếu có chút ít công đức nào, nguyện hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sinh đồng sanh Tây Phương, đồng thành Phật đạo!

Nam Mô A Di Đà Phật!                          
Bảo Lâm, ngày rằm tháng giêng, năm Mậu Tuất (2018).
Nhóm Liên Hữu Miền Nam Đất Việt biên tập!

 

CHƯƠNG MỘT: GẤP NIỆM PHẬT

“Muốn niệm Phật bất cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà.”

Về sự niệm Phật, Tổ Thầy dạy chúng ta chẳng đợi sớm đợi chiều mà lúc nào cũng niệm. Danh hiệu Phật luôn luôn ấn vào tâm khảm của mình, lòng mình niệm Phật một cách thành kính, mỗi một niệm đều từ trong đáy lòng của mình phát ra, chớ không như bao cái niệm của người khác chỉ ở đầu môi chót lưỡi. Được như thế, sự niệm Phật mới có ấn chứng mau lẹ.

Niệm Phật “chỉ ở đầu môi chót lưỡi” là niệm cho lấy có, các bậc thạc đức thường dùng danh từ là “hữu khẩu vô tâm”: Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn; Hét bể cổ họng cũng luống công!

Nếu được “mỗi một niệm đều từ trong đáy lòng của mình phát ra”  thì “sự niệm Phật mới có ấn chứng mau lẹ”. Ấn chứng mau lẹ ở đây là chỉ cho tâm mình sẽ thanh tịnh, sẽ tràn đầy an lạc, mà hiện tại thanh tịnh an lạc là nhân, mai kia được vãng sanh Cực Lạc là quả. Vả lại, hiện tại mà tâm hồn luôn thanh tịnh an lạc, thì đó là hạnh phúc nhất trên trần gian, đây là loại hạnh phúc chân thật nhất, tốt đẹp nhất, thiện lương nhất và cũng là sáng suốt bậc nhất, mà cổ nhân thường tán thán bằng từ ngữ: “Chân – Thiện – Mỹ – Tuệ!”

Niệm Phật thì cần phải niệm liên tục mọi phút mọi giây, mọi nơi mọi chỗ “chẳng đợi sớm đợi chiều mà lúc nào cũng niệm”. Hầu hết chúng ta hay có cái bệnh chung giống nhau là mãi hẹn lần hẹn lựa, viện dẫn đủ các duyên cớ để chần chừ do dự, làm cho thời giờ quý báu trôi qua một cách trống không thật đáng tiếc!

Và nếu “lòng mình niệm Phật một cách thành kính” thì từng câu từng chữ Phật hiệu sẽ “luôn luôn ấn vào tâm khảm của mình”.

Thế nào là thành? Định nghĩa chữ Thành là: “nhất niệm bất sanh thị vị Thành” (một niệm chẳng sanh gọi là Thành). Trong khi niệm Phật mà cứ nhớ nghĩ lung tung xẻng tức là lòng không có thành, là mình đang ấn bao nhiêu thứ tham sân si vào tâm của mình rồi vậy. Vì tất cả những nhớ nghĩ, như chuyện năm xưa tháng cũ, chuyện làng trên xóm dưới, chuyện phải quấy thị phi… toàn là tham sân si ở trong đó, bởi từ hồi nào tới giờ mình đã quá thân thiện quen thuộc thường nghĩ tưởng ba cái thứ này, không biết nó có chứa tham sân si, không biết nó toàn là lỗi lầm, là họa hại, nhận giặc làm con, để rồi nó cuốn hút trói buộc lôi dẫn mình mãi trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi!

Một khi chúng ta biết được pháp môn Tịnh Độ, đã hiểu bốn mươi tám lời đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, mỗi người chúng ta đều cảm nhận ngay rằng lời nguyện ấy rất lớn lao thành thật, chúng ta hành đạo và tin tưởng Đức Phật một cách chí thành, hẳn Đức Phật y theo lời nguyện của Ngài sẽ không bao giờ bỏ chúng ta. Nói rõ hơn, chúng ta đã tin tưởng bản nguyện rất lớn của Đức Phật, nên chúng ta đều tinh chuyên nhất tâm niệm Phật.

Nhưng sự niệm Phật cần phải sớm được chừng nào hay chừng nấy. Vì cái chết không hẹn ngày, hẹn giờ và nó không từ một ai cả, nếu chúng ta trễ biếng gặp phải lúc bất trắc, thử hỏi còn đủ thì giờ để niệm Phật không? Có bảo cái sống nán lại để niệm Phật được không? Hẳn không. Nếu không bảo cái sống nán lại được và không chận đứng sự tai nạn trong lúc đưa lại bất ngờ được, thì trong lúc yên tĩnh vô sự cần phải nhất tâm gấp rút niệm Phật. Chừng ngày kia có sự biến đổi như thế nào, mình cũng đã giao cảm với Đức Phật bằng tâm niệm từ lâu, tức là mình đã dự bị sẳn công đức rồi, dù có chết cũng được Đức Phật tiếp độ cho.

*Thuở xưa, có vị Tăng khuyên một người bạn là Trương Tổ Lưu rán lo niệm Phật để sớm giả thoát sanh tử luân hồi. Ông bạn bèn đáp: “Tôi có ba việc chưa làm xong: Một là quan tài ông thân còn để ở nhà mồ chưa chôn, hai là đứa con trai chưa cưới vợ, ba là đứa con gái chưa gả chồng. Chờ ba việc xong xuôi cái đã, tôi sẽ vâng lời của Ngài.”

Mấy tháng sau, ông bạn bị bạo bịnh mà chết. Vị tăng đến tụng kinh cầu siêu, và có điếu một bài thi như sau:

Bạn tôi tên là Trương Tổ Lưu,
Khuyên ông niệm Phật, hẹn ba điều.
Ba điều chưa vẹn, vô thường bắt,
Đáng trách Diêm Vương chẳng nể nhau!

Trong bài thi, ý vị tăng nói: ông hẹn khi xong ba việc sẽ niệm Phật, nhưng ngặt nỗi vô thường bất ngờ đến, nó có chờ hẹn ông đâu? Xem đấy chúng ta ai dám bảo đảm chắc chắn rằng chính mình chẳng phải là Trương Tổ Lưu thứ hai ư? Cho nên người quyết chí tu hành, được hở giây phút nào liền niệm Phật ngay giây phút ấy, đừng nên đạp nhầm dấu xe đổ của người xưa mà ngậm ngùi ôm hận ngàn thu!

 

*******

Nhớ lời đức Như Lai chỉ giáo,
Thân huyễn hư đời ảo mộng trần;
Giả đời giả cảnh giả thân,
Ta Bà sanh chúng đạo chân khá tìm.
Xưa nay vẫn đắm chìm biển khổ,
Lặn hụp luôn đâu có an vui;
Đời dù có nếm đủ mùi,
Cuối cùng cũng chết có người nào không.
Qua rồi kiếp cha ông cũng thế,
Lần lượt đây đến kế cháu con;
Nối nhau đi mãi không mòn,
Đường sanh tử cũng vẫn còn tử sanh.
Không ai dạy tự mình cũng rõ,
Nhưng ít người tìm ngõ thoát ly;
Đường trần cứ nhắm mắt đi,
Ai sao mình vậy sống lì ngày qua.
Nào cái bịnh cái già đục khoét,
Kế sau cùng cái chết đến tha;
Thế là hết kiếp người ta,
Trong đời ai cũng chỉ là thế thôi.
Để tâm xét kỹ rồi thấy rõ,
Muốn thoát ly cảnh khổ chúng sanh,
Không chi hơn việc tu hành,
Xác thân được nhẹ hồn linh được nhàn.

A. Thân người khó được

Trong kinh luận, Phật thường nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”, hai câu nói này, chúng ta rất khó thể hội. Trong kinh Phật dùng rất nhiều thí dụ để giảng giải cho chúng ta nghe, nói rõ trong dòng sanh tử luân hồi cơ hội được thân người không phải là dịp dễ dàng.

Một hôm, Đức Phật khơi một chút đất dính vào đầu móng tay rồi đưa lên hỏi:

– Này chư tỳ kheo! Các thầy thấy thế nào về điều này, đất trên đầu móng tay của Như Lai so với đất trên quả địa cầu này, đất nơi nào là nhiều hơn?

Tôn giả A Nan đại diện cho các tỳ kheo, thưa rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn, đất trên quả địa cầu có nhiều vô số kể, còn đất nơi đầu móng tay của Đức Thế Tôn thật là quá ít không đáng kể, không đáng so sánh, bởi vì đất trên quả địa cầu là rộng lớn mênh mông so với đất dính nơi đầu móng tay của Đức Thế Tôn thật là cỏn con nhỏ bé!

Lúc đó Đức Phật bảo:

– Này chư tỳ kheo! Cũng như vậy, số người sau khi chết tái sinh kiếp sau trở lại làm người thật là quá ít, không đáng kể, ít như đất nơi đầu móng tay của Như Lai; Còn số người sau khi chết đi rồi, do ác nghiệp mà tái sinh kiếp sau trong tam ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thật là quá nhiều, không sao tính đếm được, nhiều như đất trên quả địa cầu. Vì vậy, các thầy nên tinh cần nỗ lực tu học đừng nên giãi đãi!

Cổ đức cũng đã từng khuyến tấn:

Đời là giả hay là chơn thật,
Để tâm suy xét tất biết ngay;
Đời chính là một giấc mộng say,
Đời là cõi chôn thây thiên hạ.
Thấy như thật nhưng toàn dối giả,
Không một ai được thỏa tấm lòng;
Rốt cuộc điều chi cũng hóa không,
Dù người có luống công bịn rịn.
Nào phú quí nào mùi chung đỉnh,
Nào công danh nào miếng lợi quyền;
Như vừng mây như bọt nước xuyên,
Không thể giữ được thiên tuế nguyệt.
Số định của người là sanh diệt,
Vạn vật là đồng kiếp vô thường;
Có lên mây cũng khó ẩn nương,
Dù xuống đất vô phương trốn thoát.
Cái chết vẫn luôn luôn đeo sát,
Dù người không muốn thác mặc tình;
Thấy rằng trong đời của nhơn sinh,
Có ẩn sức vô hình chi phối.
Mang xác thịt không ai tránh nổi,
Sanh làm người đều phải như nhau;
Trẻ rồi già rồi yếu rồi đau,
Rồi phải chết người nào chạy khỏi.
Ấy sự thật không cần phải hỏi,
Ai cũng đều biết rọi như nhau;
Há không tìm phương pháp siêu cao,
Hầu sớm có tẩu đào kiếp chết.
Nghe lời Phật nợ trần trả hết,
Nghiệp thế gian nhất thiết không gây;
Tất nhiên đường sanh tử khỏi ngay,
Không duyên cớ đầu thai lại nữa.
Lo tu gấp chớ nên lần lựa,
Đạo sớm thành nghiệp khổ sớm tan;
Cái chết không biết được thời gian,
Đợi gần tống linh sàng thì muộn.
Khi sắp chết trong lòng luống cuống,
Không dễ gì niệm tưởng Di Đà;
Có nhiều người Phật chẳng nhớ ra,
Chết mê sảng hoặc là bất đắc.
Như thế tất dứt đường Tiên Phật,
Dù lai sanh cũng chắc vô duyên;
Khó được nghe lời Phật pháp truyền,
Kiếp luân chuyển nối liền không hở.
Việc ấy rất đáng làm lo sợ,
Hiện thời nên hối ngộ mau đi;
Một lòng thành cầu đạo qui y,
Cho sớm được thoát ly mê khổ.

Điều đáng kinh sợ nhất là trong dòng tử sinh luân hồi của mỗi chúng sanh bị màn vô minh che phủ như người mù, và tham ái như sợi dây cột siết cổ, nghiệp như người dẫn dắt chúng sanh luẩn quẩn nơi dòng tử sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường chắc chắn khó mà tránh khỏi tam ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Mỗi người ai cũng có quyền chủ động tự lựa chọn tạo nghiệp cho mình, hoặc tạo thiện nghiệp, hoặc tạo ác nghiệp; nếu khi đã tạo nghiệp nào rồi thì nghiệp ấy chỉ thuộc về của riêng mình không phải là của chung với ai.

Khi nghiệp nào có cơ hội cho ra quả, thì mỗi người tự nhận lãnh, hoàn toàn bị động, không có quyền lựa chọn hay khước từ quả an lạc cũng như quả khổ đau mà mình đã gây tạo nên.

Tuy nhiên, quả an lạc hay quả khổ đau không chỉ riêng ta là người trực tiếp thừa kế quả của nghiệp ấy, mà còn gián tiếp liên quan đến người khác, chúng sanh khác thân cận gần gũi với ta nữa.

Nếu khi thiện nghiệp có cơ hội cho quả tốt, quả an lạc thì ta hoan hỷ thừa hưởng quả tốt của thiện nghiệp ấy của ta; Nếu khi ác nghiệp có cơ hội cho quả xấu, quả khổ thì ta cũng phải biết nhẫn nại chịu đựng chấp nhận quả khổ của ác nghiệp của ta, mà không nên than trời oán người, không nên trách cứ đến một ai cả, bởi vì tất cả đều do ta làm ra mà thôi.

Phải chịu kiếp luân hồi quả báo,
Đó là do nghiệp tạo thế gian.
Trọn lành về chốn Liên Bang,
Thung dung tự tại khổ nàn đều không.
Làm hung ác chịu còng chịu trói,
Chốn ngục hình lửa khói đốt thiêu.
Đọa đày chịu đủ bao nhiêu,
Đầu thai sáu nẻo theo chiều nghiệp mê.
Nào sanh, lão ê chề bệnh, tử,
Mãi sầu ưu đủ thứ lo toan.
Trên đời kẻ tiện người sang,
Là do nghiệp trước đeo mang mỗi người.

Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta “ác đạo rất đáng sợ”. Đó là ba đường ác mà kinh đã nói, đường ác dễ bước vào, khó bước ra. Ba đường ác do nguyên nhân nào mà hình thành? Phật nói với chúng ta, đường ngạ quỷ do lòng tham, tâm tham nặng đọa vào đường ngạ quỷ; đường địa ngục do tâm sân hận; đường súc sanh do tâm ngu si.

Tâm ngu si là đối với tà-chánh, thật-giả, thiện-ác, lợi-hại… đều không rõ ràng, mơ mơ hồ hồ, đó là ngu si. Thế gian này người tốt người xấu đều không phân rõ ràng, việc tốt việc xấu cũng không tường tận, đúng cho là sai, sai cho là đúng, tốt cho là xấu, xấu lại cho là tốt… luôn làm những việc điên đảo, quả báo sẽ ở đường súc sanh. Chúng ta đừng cho rằng, đường súc sanh dường như tuổi thọ ngắn, lo gì không dễ dàng thoát khỏi đường súc sanh. Thực ra, đường súc sanh có một số loài tuổi thọ ngắn nhưng cũng có loài tuổi thọ rất dài. Cho dù tuổi thọ ngắn, cũng không dễ gì thoát khỏi. Bởi vì, súc sanh ngu si nên nó chấp trước cái thân tướng đó chính là nó, là đẹp đẽ, hoàn cảnh nó cư trú sinh hoạt là sạch sẽ, mọi hưởng thọ là vui vẻ hạnh phúc, nên sau khi chết vẫn trở lại súc sanh, rất khó đi đến được đường khác để thọ sanh. Việc này sẽ rất phiền phức, thí dụ trên kinh Phật kể một câu chuyện.

Năm xưa lúc Đức Phật còn tại thế, Kỳ Viên Tịnh Xá có một ít công trình, khi thi công thấy dưới đất có một ổ kiến. Đức Phật thấy liền mỉm cười, các học trò đi theo Phật liền hỏi: “Vì sao Ngài mỉm cười những con kiến này?”

Phật liền trả lời: “Đàn kiến ngu si, bảy vị Phật xuất thế mà nó vẫn chưa thoát khỏi thân kiến”.

Một vị Phật xuất thế mất đến ba a tăng kỳ kiếp, huống hồ bảy vị Phật xuất thế, hai mươi mốt a tăng kỳ kiếp, mà nó vẫn còn làm kiến, khi kiến chết rồi đầu thai lại vẫn làm kiến, đời đời kiếp kiếp làm kiến, không thể thay đổi một thân khác. Cho nên làm súc sanh cũng không dễ gì thoát khỏi đường súc sanh.

Trong Kinh Phật còn có câu chuyện như thế này: Một ngày nọ, Đức Phật cùng Ngài Xá Lợi Phất đi ra bên ngoài tản bộ thì nhìn thấy một con chim ưng đang đuổi theo một chú chim bồ câu, chú chim bồ câu vô cùng hoảng hốt nên đã rớt ngay bên cạnh của Thế Tôn. Bởi vì ánh nắng chiều rọi vào người của Thế Tôn cho nên bóng của Ngài lúc đó che lên trên con bồ câu, chú chim bồ câu lúc này cảm thấy rất là an toàn giống như được ánh từ quang chiếu đến vậy, lập tức chẳng còn sợ hãi nữa.

Khi Đức Phật đi qua, Ngài Xá Lợi Phất liền bước đến, khi cái bóng của Ngài Xá Lợi Phất vừa trùm lên chú chim bồ câu này thì nó bắt đầu run rẩy hoảng sợ. Ngài Xá lợi Phất lấy làm lạ liền hỏi Thế Tôn:

– Thưa Thế Tôn! Vì sao Ngài có thể làm cho chú chim bồ câu này cảm thấy an toàn; còn con thì lại khiến cho nó hoảng sợ như vậy?

Phật trả lời rằng:

– Bởi vì Thầy chỉ mới chứng được quả vị A La Hán, tuy rằng đã đoạn được phiền não rồi, nhưng mà những tập khí của tham, sân, si vẫn chưa thể đoạn hết, thế nên chú bồ câu vẫn cảm nhận được tập khí của tam độc này, vì vậy khiến cho nó sợ hãi.

Phật lại bảo Ngài Xá Lợi Phất:

– Thầy hãy nhập định mà quan sát chú chim bồ câu này, xem nó đã làm bồ câu bao nhiêu lần rồi?

Ngài Xá Lợi Phất bắt đầu nhập định, quán sát chú chim bồ câu này trong 80.000 đại kiếp về trước thì phát hiện mỗi một kiếp nó đều làm chim bồ câu, đã 80.000 đại kiếp rồi mà vẫn không hề thay đổi.

Sau khi xuất định thì Ngài Xá Lợi Phất đem chuyện này thưa lại với Phật. Nghe xong, Đức Phật lại bảo tiếp:

– Bây giờ Thầy lại tiếp tục nhập định xem tương lai của chú bồ câu này sẽ như thế nào, đến khi nào thì mới thoát khỏi kiếp bồ câu?

Ngài Xá Lợi Phất liền nhập định để quan sát, thì phát hiện 80.000 đại kiếp trong tương lai nó vẫn còn làm chim bồ câu. Sau khi Ngài xuất định, Ngài liền đem thắc mắc nêu ra:

– Thưa Thế Tôn! Tại sao trong 80.000 đại kiếp quá khứ và tiếp tục trong 80.000 đại kiếp tương lai, chú chim bồ câu vẫn không thể thoát khỏi số kiếp làm chim?

Phật liền trả lời:

– Đó chính là vì sự ngu si của chúng sanh, sự mê muội điên đảo từ vô lượng kiếp đến nay, khiến cho luôn mãi chìm sâu trong biển khổ không có ngày ra. Bởi vì thần thông của A La Hán chỉ có thể nhìn thấy trong vòng 80.000 đại kiếp, còn xa hơn nữa thì không thể nhìn thấy, nhưng Phật thì có thể nhìn thấy tương lai dù có xa hơn hằng hà sa kiếp đi nữa. Cuối cùng thì chú chim cũng có thể thoát được kiếp bồ câu, chuyển kiếp làm người. Sau khi được làm người 500 kiếp thì nó mới từ từ trở thành một người lợi căn, tức là tìm thấy niềm vui trong Phật pháp, hoan hỷ tu học, trồng được thiện căn nên dần dần có cơ hội thoát khỏi luân hồi.

Thật ra chúng ta cũng không nên cười chú chim này, có thể trong quá khứ vô lượng kiếp chúng ta cũng giống như vậy. Ta thấy trong Kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật có nói rằng Ngài từ vô lượng kiếp trước đã ở trong luân hồi cũng mang kiếp chú chó màu trắng, nếu đem xương của nó chất thành đống thì còn cao hơn cả núi Tu Di. Hãy thử nghĩ xem chú chó này đã chuyển kiếp hết bao nhiêu lần rồi?

Cũng vì nghiệp ác gây vào,
Chúng sanh cứ mãi chuyền lao trong trần.
Nay không chấm dứt ác nhân,
Sẽ lưu ác báo cho thân mai này.
Khổ thân chẳng phải phút giây,
Mà là khổ ấy kéo dài vô biên.
Sống trong cảnh khổ triền miên,
Thức thần do đó đảo điên lu mờ.
Chúng sanh lắm kiếp không ngờ,
Trước kia thú vật bây giờ người ta.
Khi người khi thú khi ma,
Đều do nghiệp tạo sanh ra sáu đàng.
Làm người còn trí minh quang,
Sa vào thú vật hoàn toàn tối tăm.
Khó nghe được pháp huyền thâm,
Khó gần chư Phật khó sanh làm người.
Đọa đày biết thuở nào thôi,
Thân nầy vừa tắt kế mồi thân sau.
Vô cùng thảm khốc đớn đau,
Mỗi đời mỗi khổ đời nào được vui.
Đốt người kế bị người thui,
Sớm đi đóng quách chiều chui vào hòm.
Nếu đem mắt huệ ra dòm,
Mỗi sanh chúng có mỗi non xác trần.
Mỗi lần sanh mỗi bỏ thân,
Có ai được hưởng trường sanh bao giờ.
Chúng sanh vì quá mê mờ,
Bao nhiêu kiếp trước hiện giờ đều quên;

********

Chúng ta cũng cần nên biết tuổi thọ của đường ngạ quỷ rất dài, trong kinh Đức Phật nói, một ngày trong cõi quỷ bằng một tháng ở nhân gian chúng ta. Tuổi thọ của cõi quỷ cũng giống như nhân gian chúng ta vậy. Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, mười hai tháng, thế nhưng phải ghi nhớ một ngày của họ là một tháng của nhân gian chúng ta. Tuổi thọ của họ, đoản mạng cũng phải mất một ngàn tuổi, mạng dài đến ngàn ngàn tuổi, có đáng sợ không? Đã đọa vào đường ngạ quỷ thì lúc nào mới có thể ra được. Nếu tính cũng phải đến mấy vạn năm sau mới có thể thoát ra. Những ngày tháng đó thật khốn khổ. Trong cõi quỷ thì mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, ba loại ánh sáng này đều không nhìn thấy, bầu trời luôn một màu tối đen. Chúng ta mấy ngày không nhìn thấy mặt trời đã cảm thấy rất khó chịu, huống hồ ở trong cõi quỷ phải chịu mấy vạn năm không nhìn thấy mặt trời, nghĩ thử xem những ngày tháng đó có khổ không? Đời sống cõi quỷ rất khủng khiếp.

Xưa kia có một trào vua nọ,
Có một ông quan võ bất lương.
Mỗi lần đi đến thôn hương,
Bắt dân làng phải nộp lương nộp tiền.
Bò heo có phải khiêng đến nạp,
Có gái xinh phải dắt tới hầu.
Bắt dân làm việc ngựa trâu,
Lớp thì bị giết bị tù thảm thương.
Gặp già cả không nhường không kể,
Thấy tăng sư chẳng lễ chẳng chào.
Rất là ngạo mạn tự cao,
Không tin quả báo chẳng nao tuần huờn.
Một hôm nọ sau cơn yến tiệc,
Bỗng nhiên ông thổ huyết chết đi.
Sanh làm ngạ quỉ tức thì,
Mặt mày xấu xí dị kỳ hình dung.
Cổ quá nhỏ vật không nuốt chạy,
Bụng thì to bằng cái bụng trâu.
Ngày đêm đói khát buồn rầu,
Vất vơ chẳng có chỗ nào ẩn thân.
Cơm vừa đút tới mồm thành lửa,
Nước ngậm vào miệng hóa dầu sôi.
Làm cho phỏng lưỡi cháy môi,
Chịu điều đau nhức tanh hôi suốt đời.
Trả quả lúc làm người tiền kiếp,
Nhưng thường không được biết tỉnh ra.
Ôm lòng oán hận sâu xa,
Càng làm cho kiếp quỉ ma kéo dài.
Con ơi! lấy chuyện nầy để biết,
Những hành tung tiền kiếp mất đâu.
Làm cho thiên hạ đau sầu,
Là gây hậu quả độc sâu cho mình.
Quan ấy lúc sanh bình oai khí,
Khi thác rồi làm quỉ đói đau.
Người đời thử nghĩ thế nào,
Có nên ham thứ hùng hào ấy không?
Chỉ một lúc thỏa lòng ham hố,
Mà để cho đau khổ muôn đời.
Là điều nên nhịn con ơi!
Ăn quen khó nhịn, nhịn thời cũng quen.
Có quả báo nên khuyên hướng thiện,
Không đáo đầu ai khuyến trừ tà.
Chết rồi tội mới thấy ra,
Chừng ni có hối cũng là muộn thay!

Đường súc sanh gọi là huyết đồ. Súc sanh chết đều do con lớn ăn con nhỏ, đều có máu chảy vì nhai nuốt lẫn nhau, súc sanh không được chết yên ổn.

Đường ngạ quỷ còn gọi là đao đồ. Luôn có cảm giác như có người cầm đao đến giết hại mình, nên thân tâm của họ thường bất an, luôn sống trong nỗi lo sợ.

Địa ngục gọi là hỏa đồ. Tội nhân luôn thọ nhận đau khổ của một biển lửa.

Kinh Phật có nhiều cách nói khác nhau về tuổi thọ của địa ngục nhưng tuyệt nhiên không phải Phật nói sai. Sở dĩ khác biệt của tuổi thọ lớn là bởi vì chủng loại địa ngục không như nhau, có một số tuổi thọ trong địa ngục rất dài nhưng cũng có một số chịu khổ trong địa ngục tương đối nhẹ nên tuổi thọ ngắn hơn một chút.

Vậy chúng ta căn cứ trên kinh để biết trong đường địa ngục, một ngày bằng hai ngàn bảy trăm năm ở nhân gian. Kinh Phật nói, địa ngục cũng được tính là một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, nhưng một ngày của họ dài hơn hai ngàn bảy trăm năm chúng ta. Yểu mạng của họ cũng một vạn tuổi, trường thọ thì đến vạn vạn tuổi, rất khủng khiếp! Cho nên mỗi giờ mỗi phút nhất định phải đề cao cảnh giác, không nên tạo nghiệp địa ngục, nghiệp của ba đường càng không thể tạo. Phật nói trong mười ác nghiệp, nghiêm trọng nhất chính là đọa địa ngục, kế đến đọa ngạ quỷ, nhẹ nhất là đến súc sanh.

Mười ác nghiệp, thân đã tạo ra sát sanh, trộm cắp, tà dâm; miệng tạo ra nói dối, nói hai chiều, nói thêu dệt bằng lời ngon ngọt mê hoặc lòng người, nói thô lỗ; ý nghiệp tham sân si. Giả như mỗi ngày tạo mười loại nghiệp này thì tiền đồ của ta không cần đi hỏi người khác, nhất định đến ba đường ác. Cho nên càng nghĩ càng đáng sợ, chúng ta nhất định không làm việc này, không những chúng ta không chịu đọa ba đường ác mà ba đường thiện trong sáu cõi, chúng ta cũng không cần, vì sao? Vì không cứu cánh.

Biển trần kiếp tạm nổi trôi,
Không tu khổ mãi chẳng đời nào yên.
Sanh ra trong cõi trần duyên,
Người nào cũng bị não phiền chẳng không.
Không ai trăm việc vừa lòng,
Mà ai cũng có não nồng nọ kia.
Dục tâm óc ách như đìa,
Đem thân ra để làm bia đạn trần.
Biết rằng rốt cuộc bỏ thân,
Nhưng mà các dục vọng trần không buông.
Quên rằng tài vật dư muôn,
Bỏ thân tài vật bỏ luôn đâu còn.
Chết thân tan rã lần mòn,
Nhưng bao tội lỗi hồn còn đeo mang.
Xác tan nhưng tội không tan,
Đầu thai trở lại thế gian trả đền.
Vì mê nên kiếp trước quên,
Hay đâu ăn trước nay đền trả sau.
Trả đền hoặc chậm hoặc mau,
Đã vay không một người nào trốn qua.
Chúng sanh nơi cõi Ta Bà,
Sao không nghĩ tới để mà tu thân.
Nếu không trốn khỏi tử thần,
Dù đeo đắm cuộc hồng trần luống công.

Nếu tu phước báo nhân thiên, đời sau được thân người lại hưởng phước, người hưởng phước hiếm ai có đầu óc tỉnh táo, hiếm người không mê hoặc, nên dễ dàng tạo ác nghiệp, đến khi phước hưởng hết thì sẽ thọ khổ nơi ác đạo.

Thế gian này người có phước báo rất nhiều, chúng ta cũng có lúc có cơ hội gặp được. Họ hưởng phước tạo tội nghiệp, muốn giúp họ mà không thể giúp. Dù có khuyên lơn, họ cũng bỏ ngoài tai, không nghe, căn bản không muốn ai nói thêm nữa, vậy thì không còn cách nào. Họ vẫn tùy theo tập khí, tùy theo nghiệp chướng của họ, trải qua đời sống cuồng vọng tham dục, tiêu hao hết sạch phước báo của đời quá khứ đã tu được. Sau đó đến ba đường ác để đối chất. Chỉ như vậy, chúng ta xem thấy thật đáng thương nhưng không cách gì cứu, cho nên nhất định phải thường giữ tâm “Khiếp sợ đường ác”.

Thế nay trong đời này chúng ta gặp được Phật pháp thật sự là điều hết sức may mắn, đặc biệt là gặp được pháp môn Niệm Phật này là điều may mắn trong may mắn, đây chính là có hy vọng được độ thoát. Cho nên chúng ta cần phải trân quý cái cơ hội này, cần có tâm tha thiết ngay trong đời này quyết chí niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chúng ta phải biết rằng đây là con đường duy nhất mà cũng là cơ hội duy nhất của chúng ta để có thể thoát ra khỏi luân hồi lục đạo.

Kinh kệ vốn là chìa khóa ngục,
Chúng sanh là kẻ nhốt trong tù;
Xem kinh mà chẳng chịu tu,
Như chìa khóa có mà tù không ra.
Trai lạt mặc dù là khó nuốt,
Giới răn tuy là việc khó gìn;
Đó là phương pháp vãng sinh,
Nên gìn giữ trọn chớ quên ngày nào.

* Trong kinh còn có một thí dụ gọi là “rùa mù gặp bọng cây”

Hôm nọ, trong buổi thuyết pháp, Đức Phật bảo các Tỳ kheo rằng:

-Giả sử chốn đại địa này biến thành biển cả; bấy giờ có con rùa mù sống lâu vô lượng năm, cứ qua trăm ngàn năm nó mới ngóc đầu lên mặt nước một lần. Tại biển cả có một khúc cây nổi lênh đênh, khi đông khi tây, khi nam khi bắc, vì bị sóng dập gió dồi liên tiếp; mà trong thân cây có một cái lỗ. Thế thì khi rùa ngóc đầu vừa đúng lúc khúc cây vừa trôi tới, rùa bèn chui vào bọng cây để gió đưa vào bờ. Cơ hội ấy có dễ gặp không?

Ngài A Nan trả lời rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn! Khó mà gặp được, bởi lẽ rùa thì rùa mù, biển thì mênh mông, cây lại cây nổi, trôi theo chiều sóng đẩy gió đưa bất định; đông tây nam bắc bốn hướng nào có định đậu nơi nào. Cho nên chắc chắn khó mà gặp được nhau!

Phật dạy:

– Rùa mù, cây trôi tuy khó gặp được nhau, nhưng có hy vọng; còn như kẻ phàm phu ngu si trôi nổi trong ba cõi sáu đường mà tái sanh được thân người, mới thật là khó hơn rùa gặp bọng cây ấy gấp mấy lần nữa. Vậy nên các thầy ngày nay phải tinh tiến tìm mọi phương tiện phát khởi tâm học đạo mới được! Nếu không, thì chúng ta mãi nhận chịu bao nhiêu thứ khổ đau trói buộc bức bách:

Việc khổ nạn chất chồng khắp đất,
Không lúc nào người được thảnh thơi,
Bốn mùa không lúc nào rời;
Đông thời lạnh lẽo, Hạ thời nóng oi.
Xuân mưa tạt, Thu trời dông tố,
Giàu nghèo đều thọ khổ như nhau;
Trong khi đói phải ăn vào,
Ăn rồi lại bắt lo nào tiêu ra.
Bao nhiêu đó cũng là thấy khổ,
Huống chi còn tật nọ tật kia;
Xác thân đòi phải trau tria,
Qua cơn ăn uống tới bề mặc mang.
Giàu muốn được cao sang hơn nữa,
Nào cát lầu xe ngựa ngọc ngà;
Nghèo thời tần tảo bôn ba,
Lo cơm hai bữa, lo nhà để nương.
Quên hết lúc dầm sương phản mại,
Lấn chen sao cho lại với người;
Đêm ngày nào được rảnh ngơi,
Cứ lo cho đến thở hơi cuối cùng.

Trong kinh còn một thí dụ nữa, việc này mọi người đều đã biết, gọi là “Tu Di sỏ kim”. Ở trên đỉnh núi Tu Di thòng xuống một sợi chỉ, bên dưới có một cây kim thêu, sợi chỉ đó thòng xuống vừa vặn sỏ qua được lổ kim.

Không cần nói đến núi Tu Di, chỉ cần ở trên tòa lầu 5 tầng thòng một sợi chỉ xuống, ở dưới lầu để một cây kim thêu, hãy thử sỏ xem, cho thời gian một ngày 24 giờ, chúng ta có thể sỏ thử một sợi qua hay không? Đây đều là ví dụ thân người dễ mất mà khó được, nếu hiểu rõ được sự thật này thì ta mới biết trân trọng thân người vô cùng quý báu.

Được thân người khó đến mức độ như vậy, được thân người lại được gặp Phật pháp thì càng khó hơn, khó chồng thêm khó, cho nên trên kệ khai kinh có nói là “trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp”.

Rõ ràng nơi cảnh Ta Bà,
Vừa tanh hôi cũng vừa là khổ đau.
Tuổi sống ngắn còn bao nạn ách,
Người ở ăn tánh cách tham gian;
Không ai trọn hưởng thanh nhàn,
Nếu càng lánh sớm là càng rảnh thân.

Xuống lên nơi cõi hồng trần,
Chịu đường sanh tử, chịu phần khổ lao.
Bị làn sống nghèo giàu lôi cuốn,
Bắt đấu tranh bắt muốn hơn thua;
Lợi danh lo bán lo mua,
Ái tình lo hốt lo vùa vào thân.
Đi cặp với tâm trần ham hố,
Nào ưu sầu tai khổ muôn trùng;
Mạng căn như đóa phù dung,
Muốn ham chưa thỏa kế chun vào hòm.

Được thân người thật đáng quý ở chỗ chính là nghe Phật pháp, nếu như được thân người không thể nghe được Phật pháp thì kiếp người này có ý nghĩa gì chứ? Vẫn phải tiếp tục đọa lạc sáu nẻo luân hồi. Chúng ta chính mình cần phải nhận biết, ở trong sáu nẻo nhất định là thời gian của ba đường ác dài, thời gian của ba đường thiện rất ngắn. Tại vì sao? Đạo lý này không khó hiểu! Trong tâm của ta là tâm thiện, ý niệm thiện, hành vi thiện, thì mới có thể được quả báo của ba đường thiện; Nếu như chúng ta khởi tâm động niệm, ý niệm của chúng ta là niệm ác, tư tưởng là tư tưởng ác, hành vi là hành vi ác, thì đó chính là nghiệp nhân của ba đường ác, không cần suy nghĩ nhiều. Hãy tự nghĩ xem, chúng ta từ sớm đến tối, sáng sớm thức dậy đến lúc đi ngủ một ngày như vậy, ngay trong mười mấy giờ đồng hồ, khởi tâm động niệm của chúng ta là niệm thiện nhiều hay là niệm ác nhiều? Như vậy thì liền biết được tương lai chính mình thế nào rồi. Đây mới mười mấy giờ đồng hồ còn như vậy. Nếu như là niệm ác nhiều, niệm thiện ít, nếu khởi tâm động niệm tư tưởng hành vi cả đời của chúng ta, mỗi niệm đều là hại người lợi mình thì quyết định đọa vào ba đường ác.

Tiêu chuẩn của thiện ác, Phật nói căn bản nhất là năm giới mười thiện, đây là tiêu chuẩn của thiện ác. Nếu như tư tưởng hành vi của chúng ta trái với ngũ giới, tương ưng với mười ác, thì ắt sẽ đọa vào đường ác. Ngay trong một đời này của chúng ta, tâm hạnh có thể tương ưng với năm giới, tương ưng với mười thiện, thì đời sau còn có thể có lại được thân người. Việc này rất quan trọng, đây mới là một việc lớn nhất. Trong một đời này của chúng ta, được thân người có tốt không vậy? Được thân người nếu như không thể lợi dụng cơ duyên này để vượt khỏi ba cõi, thoát khỏi sáu đường, đi làm Phật, làm Bồ Tát, thì chúng ta tuy là có được thân người rồi, không cố gắng tận dụng tu tập vẫn là điều đáng tiếc.

Khó biết trước thời gian chết đến,
Cái chết không nhất định trẻ già,
Đời nhiều cách chết xảy ra,
Cho nên thường có tre già khóc măng.
Việc sanh tử Phật rằng đại sự;
Còn luân hồi còn tử sanh luôn;
Tử sanh không gỡ cho suông,
Dù làm đến bậc đế vương ra gì.
Do lẽ ấy cần qui y Phật,
Giải quyết xong tạm vật hồng trần;
Hoàn toàn khỏi cuộc chuyển luân,
Không còn mang ngũ trược thân nặng nề.
Đời nếu chẳng say mê đến nữa,
Tất nhiên không còn cớ sanh ra;
Còn tham ái cõi Ta Bà,
Thì còn phải chịu sanh ra hồng trần.
Muốn giải thoát phải cần phủi cả,
Chẳng còn lưu trong dạ sự đời;
Siêu sanh chỉ một lần thôi,
Đời dù cám dỗ mặc đời không theo.
Nghiệp rán gỡ chớ đeo thêm nữa,
Tội lo chừa đừng có gây thêm,
Sóng tình cố lóng cho êm,
Đường trần lùi lại chớ kềm chân lâu.

Giả như tay ta cầm cây kim ném giữa biển khơi thì dễ, mà nhảy xuống mò tìm để được trở lại thì quả là quá khó! Thân người mất rất dễ dàng như hành động ném cây kim, một khi chết đi rồi mà có được thân người trở lại thì khó như mò kim đáy biển!

Cổ đức dùng ví dụ này để nói được thân người rất khó:

Thiên niên thiết thọ khai hoa dị,
Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan.
(Ngàn năm cây sắt trổ hoa dễ,
Thân người mất đi được lại khó).

Đây là nói lên ý nghĩa hiếm có khó được, tuy nhiên cây sắt ngàn năm cũng có thể trổ bông, còn thân người mất đi khó mà tìm lại được, vì đại đa số con người trên thế giới ít ai giữ tròn năm giới là: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Tức là khó hơn cây sắt trổ hoa nữa, cây sắt mà trổ hoa chỉ là một ẩn dụ sâu sắc, để giúp người tu chúng ta phải tỉnh giác trong từng phút giây mà cố gắng giữ tròn giới hạnh. Bây giờ được làm người chắc chắn rằng nhiều kiếp trước mình đã có tu hành giữ giới, nên hôm nay mới gặp được Phật pháp, thế nên cần phải trân quý cơ duyên hy hữu này.

Đời cứ mãi sống say chết ngủ,
Lên xuống hoài chịu đủ đắng cay;
Mỗi lần người bị bào thai,
Mỗi lần bỏ một xác thây tại trần.
Thây xác ấy nếu dồn chất lại,
Sẽ lấp đầy cả Thái Bình Dương,
Chúng sanh nào biết nào tường;
Cứ say đắm mãi trên đường mê ly.

B. Pháp Phật khó được nghe

Thuở xưa, Đức Phật ngồi dưới cội Bồ đề, hàng phục chúng ma, chứng thành đạo quả nơi đạo tràng Thiện Thắng nước Ma-kiệt-đà. Ngài tự tư duy rằng: “Chánh pháp cam lộ ngày nay đã thấm nhuần khắp tam thiên thế giới. Nhớ thuở xưa, lúc ta còn đang khổ tu, phụ vương đã sai năm người cúng dường các thứ ngũ cốc và hầu hạ ta rất có công lao. Nay ta nên trả ân cho họ”.

Năm người này hiện nay ở nước Ba-la-nại. Cho nên đức Như Lai đứng dậy rời khỏi tòa đi đến nước đó. Đức Như Lai với tướng hảo trang nghiêm, từ quang tỏa chiếu khắp đất trời, oai thần chấn động khiến ai thấy cũng sinh lòng hoan hỉ. Trên đường đi, Ngài gặp một người Phạm Chí tên là Ưu-hô. Ông này đã từ bỏ quyến thuộc, gia đình đang đi tìm sư học đạo, ông trông thấy tôn dung vi diệu của Đức Thế Tôn vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, dừng lại bên đường, cất tiếng khen:

– Vị này đức độ cảm người, oai nghi đỉnh đạc, không biết theo học với vị thầy nào mà được nghi dung như thế!

Đức Phật nghe vậy, liền đọc lên một bài kệ để trả lời:

Tự giác bát chánh đạo,
Nơi đời, không nhiễm ô.
Phá lưới dục, dứt ái,
Ta không học với ai.
Hạnh ta không thầy dạy,
Chí ta khác mọi ai.
Duy nhất được thành Phật,
Đường Thánh mở từ nay.

Ưu-hô nghe kệ bỗng thấy buồn bã, hỏi Đức Thế Tôn định đi về đâu?

Ngài đáp:

– Ta định đến nước Ba-la-nại chuyển Vô thượng pháp luân đem giáo pháp cam lộ lợi ích cho chúng sinh. Trong ba cõi chưa từng có ai chuyển đại pháp luân giúp chúng sinh chứng nhập Niết bàn như ta hiện nay.

Phạm Chí Ưu-hô nghe vậy mừng rỡ nói rằng:

– Lành thay! Lành thay! Nếu đúng như lời Ngài nói sau này rỗi rảnh tôi sẽ đến để nghe pháp mầu.

Ông Phạm Chí nói xong vòng tay chào Phật rồi bỏ đi. Trên đường đến chỗ thầy học đạo, ông tá túc lại một nơi ngủ qua đêm. Đêm đó ông ta bỗng nhiên qua đời. Đức Phật dùng đạo nhãn thấy rõ việc này rất thương xót nói rằng:

– Thế gian ngu si cho là mạng sống trường tồn, gặp được Phật lại bỏ đi,  phải chịu mất mạng. Trống pháp vang rền mà họ không nghe. Vị cam lộ diệt khổ song họ không nếm. Do đó, vòng sinh tử cứ tiếp nối vô tận, trôi lăn mãi trong sáu đường, không biết kiếp nào họ mới được độ.

Kế đó, đức Phật từ mẫn nói kệ rằng:

Ngộ chân lý, thanh tịnh,
Thoát khỏi vòng tử sinh.
Phật ra đời soi sáng,
Trừ ưu khổ hữu tình.
Khó thay, sinh làm người,
Khó thay, được sống thọ.
Khó thay, Phật ra đời,
Khó thay, được nghe pháp.

Lúc đức Phật nói kệ này, năm trăm chư thiên giữa hư không được nghe pháp mầu vô cùng hoan hỉ, chứng đắc quả Tu-đà-hoàn.

Ngày nay được biết quy y,
Là do tiền kiếp đã đi đường lành.
Tu thêm nhứt định sẽ thành,
Cũng như giàu có nhờ dành nhiều năm.
Đạo lành rõ mối huyền thâm,
Như mù được sáng hết lầm đường đi.
Sự vui còn có chi bì,
Chúng sanh còn ngại nỗi gì thờ ơ.

*********

Vào thời xưa, kiếp là đơn vị thời gian của người Ấn Độ xưa nói, hiện tại các nhà khoa học gọi đơn vị thời gian lớn nhất là năm ánh sáng, dùng tốc độ đi của ánh sáng gọi là năm ánh sáng. Đơn vị thời gian Ấn Độ xưa gọi so với ngày nay vẫn lớn hơn, thời xưa dùng kiếp làm đơn vị.

Kiếp có tiểu kiếp, có trung kiếp, có đại kiếp. Tiểu kiếp cũng có rất nhiều cách nói, thường được nghe nhất gọi là tăng giảm kiếp. Phật nói thọ mạng của con người, ngắn nhất là mười tuổi, khi con người đến mười tuổi thì lại tăng dần lên, mỗi một trăm năm tăng thêm một tuổi, tăng đến 84.000 tuổi. Tuổi thọ của con người dài nhất là 84.000 tuổi, đến 84.000 tuổi rồi thì liền dần giảm xuống, mỗi một trăm năm giảm xuống 1 tuổi, và cứ như vậy giảm xuống còn mười tuổi.

Một lần tăng một lần giảm thì gọi là một tiểu kiếp, 20 tiểu kiếp thì là một trung kiếp, bốn trung kiếp thì gọi là một đại kiếp tức 1 tỷ 334 triệu 240 ngàn năm, đây là đơn vị dùng để tính thời gian.

Trong Tam giới thì tuổi thọ dài nhất là cõi trời Vô Sắc giới. Trời Vô sắc giới có bốn tầng, tầng trên cao nhất là trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tuổi thọ là 80.000 đại kiếp. Chúng ta nghe đến cái số tự này, có thể nói là không thể nghĩ bàn.

Cõi trời Dục Giới gần với chúng ta nhất, cõi Dục giới gần nhất là trời Tứ Thiên Vương. Chúng ta có dịp đến các Tự Viện Am Đường, thì sẽ thấy nơi cửa có thờ Điện Thiên Vương, thờ Tứ Đại Thiên Vương, tục gọi là Tứ Đại Kim Cang, kỳ thực đó là Tứ Đại Thiên Vương. Cõi trời Tứ Thiên Vương này rất gần với chúng ta. Phật đã nói, tuổi thọ của trời Tứ Thiên Vương dài hơn so với chúng ta nhiều, một ngày của trời Tứ Thiên Vương là 50 năm của nhân gian chúng ta, con người chúng ta sống được 100 tuổi thì ở trời Tứ Thiên Vương xem ra chỉ có 2 ngày, tuổi thọ của họ 500 tuổi. Họ cũng tính theo cách tính của chúng ta, một năm 365 ngày, thế nhưng ta phải ghi nhớ, một ngày của họ là 50 năm ở nhân gian của chúng ta, như vậy thì liền biết được tuổi thọ của họ dài, phước báo rất lớn, nhân gian chúng ta không cách gì so sánh được với họ.

Lại thêm một tầng cao hơn là trời Đao Lợi, còn gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế. Phước báo của Đao Lợi Thiên Vương lớn hơn nhiều so với Tứ Thiên Vương. Một ngày của Đao Lợi Thiên là 100 năm nhân gian chúng ta, tuổi thọ 1.000 tuổi, chỗ này chúng ta có thể tính toán ra được.

Lại hướng lên trên nữa thì đều là tăng thêm gấp bội. Một ngày của trời Dạ Ma là 200 năm ở nhân gian chúng ta, tuổi thọ của họ là 2.000 tuổi.

Trời Đâu Suất là tầng thứ tư (Bồ Tát Di Lặc hiện tại đang ở trời Đâu Suất), một ngày của trời Đâu Suất là 400 năm nhân gian chúng ta. Cho nên người ở trời Đâu Suất xem tuổi thọ người thế gian này của chúng ta giống như chúng ta xem tuổi thọ của loại trùng nhỏ vậy. Giống thứ gì vậy? Loài phù du trên mặt nước, tuổi thọ chỉ có mấy giờ đồng hồ thì hết, đích thực là như vậy. Một ngày của họ là 400 năm của nhân gian, tuổi thọ ở đây là 4.000 tuổi.

Càng thăng lên trên, các cõi trời càng cao thì tuổi thọ càng dài, dài nhất là Phi phi tưởng thiên, sống đến 80 ngàn đại kiếp

Ở các cõi trời do phước đã tu tạo, nên y báo và chánh báo đều tốt đẹp thù thắng hơn cõi người gấp trăm ngàn lần, nhưng phải biết khi thọ huởng thú vui, nghĩa là sáu căn tham luyến các thứ dục lạc của dục giới, an hưởng trạng thái an lạc của thiền nơi cõi sắc giới và vô sắc giới, hầu hết sau khi thọ mạng dài lâu đã mãn thảy đều bị sa đọa vào ba ác đạo. Nên chư Phật mười phương thường thành đạo ở cõi người, và khuyên đệ tử coi cõi trời là hiểm nạn chướng ngại sự giải thoát, chớ nên cầu sanh về đó.

Không cần phải nói đến sự vui thú cõi trời làm chi, ngay trên trần gian này chúng ta thử quan sát tường tận xem, những người giàu sang quyền thế, có mấy ai tinh tấn tu hành? Kiếp trước họ có tu nên kiếp này mới được giàu sang phú quý, nhưng khi hưởng thụ phú quý thì mê ở trong đó, đây gọi là si phước. Chỉ có Bồ Tát thứ thiệt mới không bị đắm nhiễm phước báo của năm dục sáu trần này mà thôi!

Nơi cõi tạm thiên sầu vạn khổ,
Người tự làm nào có ai gây;
Muôn điều bởi một chữ say,
Khiến cho sanh chúng đọa đày chung thân.
Con ơi! Chốn hồng trần mù mịt,
Bị lợi danh phủ bít chơn linh;
Khiến cho hầu hết chúng sinh,
Quên tìm kiếm lối cứu mình khỏi mê.
Tự mê đã chưa hề tỉnh giác,
Còn làm khôn dẫn dắt người mê;
Đường mê thêm nỗi dọc dề,
Gây thành cái thứ bệnh mê lưu truyền.
Kẻ đã thức nhớ khuyên người tỉnh,
Thắp đuốc lên cho cảnh sáng ra;
Ở trong tim não người ta,
Nhiệm mầu có đủ rán mà phát minh.
Chớ để đến thúi sình mất xác,
Lỗi công sanh phí mất một đời;
Một khi để kiếp qua rồi,
Muốn tìm trở lại làm người khó thay.
Làm người được là may muôn thuở,
Cũng là do xưa có nghiệp lành;
Bây giờ nếu biết tu hành,
Tất là sẽ được trở thành Phật Tiên.

Cho nên ta phải đem những việc này làm cho rõ ràng, làm cho thông suốt thì mới biết được, thời gian con người ở thế gian này rất ngắn ngủi, thế nhưng rất là đáng quý. Trong sáu đường, con người có thể vượt tam giới, thoát sanh tử, làm Phật làm tổ, là một cơ duyên tốt nhất. Hôm nay chúng ta gặp được rồi, đó là “ức kiếp mới được gặp”, ngày nay chúng ta gặp được rồi, chúng ta được thân người, cũng đã được gặp Phật pháp thì có thể có được thành tựu hay không? Việc này hoàn toàn ở chính mình, không ở nơi người khác.

Chúng ta tu học tham khảo Phật pháp nhiều năm như vậy, đạo lý, phương pháp này rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo thì có được thành tựu hay không? Then chốt là chính mình có thể khắc phục phiền não tập khí của chính mình hay không? Có nhiều đồng tu nhận thấy phiền não tập khí của chính mình không dễ gì khắc phục, chẳng biết phải làm sao? Nếu không khắc phục được thì tiếp tục đọa lạc trong dòng sanh tử luân hồi mà thôi, tiếp tục đi vào đường ác, chỉ có con đường này, ngoài con đường này ra còn có con đường nào nữa đâu?

Đạo chớ tưởng là đường dễ gặp,
Kinh khởi tâm muốn đọc khó thay.
Có người đọc sách liền tay,
Nhưng không hề đọc một bài kệ kinh.
Kinh kệ thấy lòng mình muốn đọc,
Đã có duyên với Phật xưa rồi.
Dịp nầy nếu để cho trôi,
Sẽ là khó kiếm dịp hồi thiện tâm.

Nếu ta biết ba đường là khổ, biết rằng được thân người nghe được Phật pháp là cơ duyên khó gặp, ta phải nên hạ quyết tâm phải buông bỏ tự tư tự lợi, cần phải biết vô lượng kiếp đến nay, ai đã làm cho chúng ta thành ra như thế này? Chính cái ý niệm tự tư tự lợi đã hại ta. Chân thật giác ngộ rồi thì sẽ không làm nữa, không bị cái hại này. Khởi tâm động niệm là vì tất cả chúng sanh, nhất định không vì chính mình thì đúng rồi. Chỉ cần đem cái ý niệm này chuyển đổi lại, tức nhiên sẽ siêu phàm nhập thánh.

Mến của tất chết theo vì của,
Vật không còn thân nọ ra ma;
Người đời chịu khó suy ra,
Tự nhiên thấy rõ đâu là bèo mây.
Trôi theo nước cuốn quây theo gió,
Cứ rày đây mai đó không yên;
Có quyền chẳng giữ đặng quyền,
Có tiền không nắm được tiền dài lâu.
Tiền là bạc nó đâu chung thỉ,
Quyền là hành nó cứ đổi thay;
Từ ngàn xưa đến ngày nay,
Ngoài  hai việc ấy cứ hoài vậy thôi.
Thế mà người cứ xuôi theo nó,
Không chịu tìm đường ngỏ cao hơn;
Món chi ăn mãi cũng lờn,
Ở trần lâu phải chán trần chớ không!

Khác biệt của phàm và thánh chính là ở một niệm, một niệm mê thì chính là phàm phu, chính là sáu nẻo luân hồi; một niệm giác chính là pháp giới nhất chân, chính là thế giới Cực Lạc. Nhất định phải giác ngộ, chính mình phải khẳng định, phải nhận biết. Không giác ngộ thì là tiếp tục phải luân hồi, nhất định không tránh khỏi khổ báo của ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ta không thể tránh khỏi. Việc này không phải hù dọa người, đó là chân tướng sự thật!

Những sự tướng này do từ đâu mà ra? Đều là từ vọng tưởng phân biệt chấp trước của chính mình mà biến hiện ra, giống như mọi người khi nằm ngủ đều có thấy mộng. Mộng từ do đâu mà ra? Cảnh mộng biến hiện ra từ vọng tưởng phân biệt chấp trước của chính mình. Sáu nẻo luân hồi cũng là do vọng tưởng phân biệt chấp trước biến hiện ra. Phật nói cảnh mộng không thật, nó là giả. Chúng ta sau khi tỉnh dậy thì biết đó là giả. Phật nói sáu nẻo cũng không thật, “phàm hễ có tướng đều là hư vọng, tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh”, Phật thấy không hề sai. Thế nhưng ta bất giác nên mê ở trong đó, ta thật bị cái khổ đó.

Khi nằm mộng, gặp một con cọp muốn ăn thịt ta, làm cho toàn thân ta toát cả mồ hôi lạnh vì ta không biết đó là giả. Nếu như có thể biết được đó là giả, thì ta đã học Phật rồi, xả thân nuôi hổ, vậy thì ta rất tự tại, rất an vui thôi.
Giữa mê và ngộ chỉ là, giác ngộ rồi thì có thể xả, khi mê rồi thì không thể xả. Khi ngộ thì liền có thể xả, triệt để xả bỏ, ngay đến thân cũng không thể lưu luyến. Thân này là giả, không phải là thật, trên Kinh Bát Nhã giảng giải rất rõ ràng.

Những đại đạo lý này cùng chân tướng sự thật, ngay trong một đời này của chúng ta tỉ mỉ mà thể hội, tỉ mỉ mà quan sát, sau đó mở Phật kinh ra để đối chiếu thì ta sẽ phát hiện, quan sát của ta, thể hội của ta so với trên kinh Phật đã nói hoàn toàn tương ưng, không hề khác biệt. Như vậy chúng ta mới chân thật bội phục Thích Ca Mâu Ni Phật từ đáy lòng là Ngài có trí tuệ chân thật, giáo huấn của Ngài là chân thật.

Mê mấy cũng rán mà mở mắt,
Đừng để cho mộng dắt đi sâu,
Mộng thì tan chẳng còn đâu,
Dù cho mộng ấy đài lầu vinh quang.
Tìm sống thật cho an hồn xác,
Sống mộng chi cho nát thân tâm;
Phải can đảm nhận đời lầm,
Quyết bừng tỉnh dậy kiếm tầm đường tu.
Đạo mới giải được câu đời tạm,
Đời vẫn nằm trong phạm vi mê;
Bởi mê thành khổ nhiều bề,
Mà điều chi cũng chẳng hề được lâu;
Thân không thật vật đâu có thật,
Người luống công giành giựt đeo mang;
Hơi tàn mọi vật đều tàn,
Dù cho vật ấy nồng nàn thương yêu.
Đời tan hợp là điều khó tránh,
Thân mất còn là cảnh người đời;
Trong khi còn mấy tấc hơi,
Nên lo giải thoát hỡi người thế gian!
Chớ rằng bận lo toan việc thế,
Mà chẳng lo tìm kế thoát thân.
Đến khi thấy mặt tử thần,
Bảo đừng nó chẳng hề đừng cho đâu.
Phải tính trước khỏi câu hận tiếc,
Đợi nguy rồi mới biết muộn màng.
Sớm tu thì sớm được an,
Chỉ tu mới cứu khỏi đàng trầm luân.
Tu là phúc của thân hiện tại,
Tu là vui của cái đời sau.
Tu làm nhẹ kiếp khổ đau,
Tu cho hồn khỏi đọa vào đường mê.

Chúng ta cần phải sáng suốt để thấy rằng, thọ mạng của mình liên tục suy giảm. Mỗi ngày, mỗi phút giây trôi qua là mỗi khoảng thời gian ta tiến đến cái chết gần hơn. Tương tự như con dê được dắt đến lò mổ, mỗi bước chân của nó bước tới là mỗi bước gần kề cái chết một bước.
Chính vì vậy mà Bồ Tát Phổ Hiền cảnh tỉnh chúng ta rất là thống thiết qua bốn câu kệ:

“Thị nhật dĩ quá.
Mạng diệc tuỳ giảm.
Như thiểu thủy ngư.
Tư hữu hà lạc”.
(Ngày giờ trôi qua rất mau.
Mạng sống con người cũng giảm dần,
Giống như con cá ở trong bể nước bị rò rỉ,
đang chờ chết thì có gì là vui)

Đã biết như vậy rồi, chư Tổ sư mới ân cần từ bi khuyên nhủ:

“Đại chúng đương cần tinh tấn.
Như cứu đầu nhiên.
Đản niệm vô thường.
Thận vật phóng dật”
(Ngưỡng mong đại chúng nỗ lực tinh tấn,
gấp rút công phu tu tập,
Như cứu lửa đang cháy ở trên đầu.
Hãy cẩn trọng chớ buông lung phóng dật,
vì đời sống rất vô thường).

Đây lại chính là bài văn cảnh sách Vô Thường tràn đầy bi tâm lân mẫn, một bài pháp khuyến tu với lời lẽ rất thống thiết của chư vị Tổ sư nhằm lay thức người học đạo hãy mau mau thức tỉnh trước ngày tháng vô thường, khi mà mạng sống của mỗi chúng ta đang bị giảm dần trong từng giờ từng khắc, giống như hình ảnh con cá đang sống trong bể nước bị rò rỉ vậy!

Một khi hơi thở không vào,
Xác kia trở cứng khác nào khúc cây.
Rồi sình lên thúi khai hết kể,
Rã tan ra khác thể bùn lầy;
Hồng trần bất luận là ai,
Xác thân đều phải như vầy ớ con.
Thế mà chúng sanh còn mến tục,
Tạo tác ra nhiều việc tội tình;
Làm cho thêm nghiệp tử sinh,
Mười phương chư Phật càng nhìn càng đau.

Đối với người học đạo chúng ta, khi nhận ra thực trạng đáng buồn này, thử hỏi chúng ta còn gì để ham muốn, còn gì để thích thú trước những thú vui tạm bợ nhất thời trong cuộc đời vô thường huyễn mộng này hay không? Ở đây còn có một điều đáng lưu ý nữa, đó là thời điểm rơi vào không gian một buổi chiều, khi đó mặt trời đang xế lặn, ánh chiều tà hắt hiu sắp tắt hẵn, nhường chỗ cho bóng đêm đang tràn về bao trùm không gian mà chúng ta đang sống. Và cũng trong không gian lắng đọng lời kinh tiếng kệ, trong thời công phu chiều này mới cảm được tấm lòng đại từ đại bi lân mẫn của chư vị Tôn đức, và mới thấu tột ý nghĩa vô cùng trọng đại của hai chữ “vô thường” và “sanh tử”. “Sanh tử sự đại”. Đó chính là “việc lớn” mà người tu hành theo hạnh Phật phải dán chữ tử lên trên trán của mình, phải thường xuyên khắc ghi nó vào tâm trí… thì mới có thể chế ngự được cái tâm tham dục, mới có thể gieo vào tạng thức mình cái chánh nhân của người học Phật!

Thân người như sắt trên đe,
Búa trời nhật nguyệt đánh đè ngày đêm.
Qua một phút chết thêm một phút,
Cứ đi lần đến lúc tắt hơi.
Đâu ngày nào được nghỉ ngơi,
Nếu người hẹn mốt hẹn mơi là lầm.
Chết bất đắc đâu kham niệm Phật,
Già lảng tâm đạo đức sao xong.
Chi bằng trong lúc sự không,
Trì tâm niệm Phật gia công tu hiền.

Chúng ta cũng cần nên nhớ thời điểm và cách thức chết là vô định, không ai có thể biết trước điều này. Nó có thể là vài chục năm, vài năm, vài tháng sau, cũng có thể là chỉ còn vài ngày, thậm chí có thể là ngày mai hay ngay hôm nay ta sẽ chết. Đôi khi một đứa trẻ chết sớm hơn cha mẹ mình, một thanh niên khỏe mạnh có thể chết trước những người bị bệnh hiểm nghèo… Có người bị chết trong khi ngủ, trong bào thai, trong khi đi từ nhà đến nơi làm việc, trường học, khi đang ở sân chơi, đang sửa soạn bữa ăn. Cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Vì vậy, chúng ta cần trân trọng những giây phút cuối ngắn ngủi của cuộc đời, không để trôi qua một cách trống không, mà phải tận dụng thời gian còn lại này vào việc công phu hành trì, sao cho trở nên vô cùng ý nghĩa và lợi ích.

Chết là điều mà chúng ta thường xuyên phải nhớ đến, bởi vì nếu chúng ta không nhớ, chúng ta sẽ bận rộn đi lăng xăng đây đó một cách vui vẻ suốt ngày lẫn đêm, để cho thời gian trôi qua, hết ngày đến tuần, hết tuần đến tháng, hết tháng đến năm, cho phép các suy nghĩ của chúng ta tha hồ đi lan man “ vào cuối năm nay”, hay “đến đầu năm tới” mà chẳng khi nào suy xét phương hướng mục đích mình sống trên cõi đời này là để làm gì? Rồi cứ mãi buông lung phóng dật đuổi tìm những thứ mộng mị tạm bợ vô nghĩa, phí uổng một kiếp làm người!

Việc nghiệp biết không chờ phải thốt,
Kẻ thế gian ngu dốt làm sao!
Không phân biệt được vàng thau,
Trần ai lại mến, đạo mầu thì ngơ.
Trẻ bảo tu hẹn chờ có tuổi,
Già cho rằng chưa rỗi để tu;
Hết Xuân rồi lại đến Thu,
Cứ lần lựa đến khi vào quách quan.
Kẻ làm con ngỗ ngang hung bạo,
Khiến mẹ cha phiền não phát sanh.
Kẻ làm cha mẹ bất lành,
Khiến con bắt chước tạo tành bất lương.
Tội lỗi cứ chằng vương như thế,
Hết đời nầy thừa kế đời sau;
Nghiệp sầu cứ mãi chuyền lao,
Chúng sanh biết đến chừng nào rảnh rang.

********

Song, muốn cho niệm Phật mau có chứng nghiệm thì mỗi người cần phải có sự nhận định rõ ràng. Theo Ngài Huệ Viễn pháp sư là Tổ thứ nhất về môn Tịnh Độ ở Trung Hoa, Ngài có khuyên người đời: “Chớ tham đắm tiền bạc, vì nó là một vật ô uế thường làm cho lòng người trở nên dơ bẩn xấu xa; chớ cầu cạnh tước lộc quyền oai, vì nó chẳng khác nào xiềng xích, gông cùm, thường trói trăn giam hãm thân xác con người; chớ say mê sắc đẹp, vì nó có sức bén hơn gươm đao, kẻ nào rờ mó đến khó tránh khỏi đứt tay, có khi phải hại đến tánh mạng nữa”.

C. Tai hại của ngũ dục

Ngủ dục là nguồn gốc của khổ đau.

Trong Luận Ma ha diễn: “Ngũ dục như nước biển, càng uống càng khát. Ngũ dục không vui, như chó gặm xương khô. Ngũ dục gây tranh đấu, như bầy quạ giành thịt thúi. Ngũ dục thiêu người, như cầm đuốc đi ngược gió. Ngũ dục hại người, như đạp nhầm rắn độc. Ngũ dục không thật, như mộng được của báu. Ngũ dục tạm bợ không lâu bền, như chọi đá nháng lửa. Người trí suy xét coi nó như giặc thù; người đời mê lầm, tham đắm ngũ dục đến chết không bỏ, đời sau phải chịu vô lượn g khổ não.”

Giới văn hóa ngày nay rất đông, ai cũng nêu cao khẩu hiệu mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Nhưng khoa học phát đạt, nghệ thuật xương minh, văn học ưu mỹ, chính trị tiến bộ cũng không thể giải trừ hoàn toàn đau khổ cho nhân loại. Khoa học, nghệ thuật, văn học, chính trị tuy có công năng cải thiện cuộc sống, nhưng cũng có rất nhiều tác dụng phụ tai hại, và nó thực sự bất lực trong vấn đề giải thoát sinh tử cho con người.

Tuy thế giới ngày nay,
Nhiều phát minh rất tài;
Nhưng vấn đề sanh tử,
Vẫn còn dở chưa hay.
Loài người cứ phải chết,
Cái chết không đổi thay.
Thế là phát minh ấy,
Chưa khỏi kiếp trần ai.
Dùng nó giúp nhơn loại,
Song chớ có mê say;
Mê say sanh tự mãn,
Tự mãn gây nạn tai.
Tai nạn bằng khoa học,
Thần Thánh cũng châu mày,
Tình thương nhau nếu mất,
Tiêu diệt chỉ phút giây

Chúng sanh luân hồi trong ba cõi sáu đường, sinh rồi lại tử, tử rồi lại sinh, gánh chịu biết bao đau khổ, đều do tham dục dẫn khởi mà ra. Học thuật tiến bộ, văn minh vật chất đều không giúp con người thiểu dục tri túc. Dục vọng càng nhiều thì khổ não tự nhiên cũng nhiều.

Cổ nhân nói: “Lòng dục của con người không cùng, song vật có thể làm thỏa mãn lòng dục của ta lại có hạn.” Các ngành học thuật một mặt cải thiện cuộc sống của nhân sinh, song mặt khác cũng lại làm tăng thêm dục vọng của con người. Cho nên khoa học, nghệ thuật, văn học, chính trị đối với nhân loại công và tội gần bằng nhau. Nó đem lại hạnh phúc cho nhân loại, song đồng thời cũng đào sâu biển khổ cho con người!

Túi tham của con người không đáy, khó đầy. Mọi người đều tranh nhau tìm cầu dục lạc do tài lợi, thanh sắc đem đến. Song trong dục lạc đã sẵn mầm đau khổ, mà họ lại không biết e sợ! Đây là do chúng sinh mê mất bản tính, lấy khổ làm vui trong sinh tử luân hồi. Một khi đã dấn sâu vào đó, thì khó ai biết quay đầu trở lại, suốt ngày làm nô lệ cho dục vọng, không biết hướng đến Phật

Pháp tìm cầu giải thoát.
Bởi mê mới làm tôi thị dục,
Nếu ngộ đâu tùng phục lòng tà;
Dục tà đều hại người ta,
Dục là thống khổ tà là trầm luân.
Dục thường vì xác thân khởi xướng,
Tà thường vì vọng tưởng gây ra;
Cả hai đều thứ mắt lòa,
Lợi gần thì thấy, hại xa không tường.
Gần dứt thở trên giường chưa biết,
Bảo vợ con nối tiếp đường lầm;
Vì tình mà thọ cảm tâm,
Vợ con rồi cũng lũi lầm theo luôn.
Nghiệp cha mới vừa buông con bắt,
Hết cháu rồi lại chắt nối truyền;
Cứ như thế đó lưu liên,
Gây nên một khối thảm duyên nhiều đời.
Cha mẹ chết con rơi nước mắt,
Con chết thì cháu chắt khóc ròng;
Vợ thì chan chứa vì chồng,
Chồng thì vì vợ đôi giòng lệ rơi.
Nước mắt ấy từ đời vô thỉ,
Bốn biển to đem ví không bằng;
Sanh ly tử biệt vô ngằn,
Giây oan đáng sợ nợ trần đáng ghê.

Trong Kinh có ghi lại một câu chuyện như sau:

Bên bờ sông Hằng nước Ấn, có một nhóm phụ nữ mang những giỏ cá từ chợ về nhà. Giữa đường họ gặp một trận mưa to, trời cũng vừa tối mà cách nhà còn non ba cây số. Trong lúc bối rối chưa biết tính sao, các cô may mắn gặp được một vị chủ cửa hàng hoa, mời lưu lại nhà mình qua đêm. Trong phòng toàn là hoa, mùi hương sực nức cả nhà. Suốt ngày mệt nhọc, nhưng các cô nằm xuống vẫn trằn trọc không sao ngủ được. Mùi hương hoa làm mọi người không quen cảm thấy khó chịu, cho đến gà gáy báo sáng mà mọi người vẫn còn trằn trọc không yên. Trong đó có một cô thông minh, liền đem giỏ cá đặt nơi đầu giường. Mùi tanh lấn át mùi hương, các cô mới nhắm mắt ngủ được một lát.

Câu chuyện trên cho thấy rằng chúng sanh bị tham dục cầm tù, ô uế tanh hôi, nhưng mọi người ở lâu trong đó trở lại cho là khoái lạc, si mê điên đảo lấy khổ làm vui, như anh chàng ghiền xì ke ma túy! Đa dục là nhiều thống khổ, người có từng trải mới có thể hiểu được.

Xét rằng từ cổ chí kim,
Vì tình hoặc giả vì tiền giết nhau.
Rốt cuộc lại người nào cũng chết,
Uổng mưu gian uổng giết lẫn nhau;
Ô danh trọng tội mang vào,
Thúi tràn muôn dậm thơm nào mấy ly.
Vả lại cũng tại vì nghiệp ác,
Linh hồn kia khi thác đi rồi;
Sáu đường cứ mãi lăn trôi,
Chịu chiều sanh tử luân hồi thiết tha,
Khổ với thảm kể ra sao  hết,
Sống chưa chi kế chết tới nơi;
Ngắn thay số mạng người đời,
Cũng nên xét kỹ để hồi tâm tu.

Tuy nhiên dục không nhất định hoàn toàn là xấu. Kinh nói dục có hai loại là tạp nhiễm dục và thiện pháp dục. Nội tâm bất tịnh, tham đắm danh lợi thanh sắc bên ngoài là tạp nhiễm dục; Còn, mang lý tưởng giúp đời, làm công tác phúc lợi xã hội cũng là dục nhưng thuộc về thiện pháp. Vì vậy, chúng ta nên tăng trưởng thiện pháp dục và giảm thiểu tạp nhiễm dục.
Đại đa số người chỉ lo tham cầu tạp nhiễm dục, mà không biết hướng đến thiện pháp dục. Vì thế Đức Phật khi thuyết Pháp thường quở trách lòng dục. Dục vọng mà mọi người muốn thỏa mãn nếu không phải lòng dục về quyến thuộc đông đầy, thì cũng là lòng dục về tiền của dồi dào; nếu không phải lòng dục về thăng quan tiến chức, thì cũng là lòng dục về sống lâu không già… cho đến ăn ngon mặc đẹp, cao sang sung sướng…

Song những dục vọng này có thể thực sự đem lại an vui cho con người không?

Lòng dục về quyến thuộc: cha con, mẹ con, thầy trò, họ hàng, chồng vợ, anh em, bè bạn, tôi tớ cho dù được thỏa mãn đầy đủ, song cũng có khi lại biến thành oan gia oán thù! Tục ngữ bảo: “Chẳng phải oan gia chẳng gặp nhau.” Anh em giành của, cha con trở mặt, chồng vợ ly hôn, tôi tớ hại chủ…, quyến thuộc yêu thương một phen trở mặt còn tệ hại hơn người dưng! Cho nên người thông minh đâu cần nhất định phải thỏa mãn lòng dục về quyến thuộc!

Ngoài lòng dục về quyến thuộc ra, lòng dục về của cải cũng rất mãnh liệt. Người ta không những mong muốn việc ăn mặc được đầy đủ, chỗ ở được rộng rãi, thoải mái, mà còn muốn đất đai, vàng bạc càng lúc càng nhiều! Ai cũng hy vọng mình mỗi ngày một sở hữu càng nhiều của cải, vật chất. Thực ra, những của cải này có khi lại gây ra lắm điều phiền lụy! Cổ nhân từng bảo: “Người vì của mà chết, chim vì ăn mất mạng.” Cho nên, có biết bao mạng sống, nhân cách của con người bị chôn vùi dưới đống của cải! Thấy vàng bạc, của cải trước mắt, không còn nghĩ gì đến tình nghĩa thân thuộc bạn bè , chẳng kể chi đến đạo đức lương tâm, con người tự đánh mất chất người của mình!

Ngoài lòng dục về quyến thuộc, của cải ra, còn có lòng dục về thân thể. Ai cũng muốn nhan sắc mình được trẻ đẹp, sức khỏe mình được lâu dài. Nhưng thế gian vốn vô thường, tuổi xanh đi qua mau, trẻ đẹp có bao lâu? Ngay điều mà cổ nhân gọi là tam bất hủ: lập công, lập đức, lập ngôn, để xây dựng nên công nghiệp hiển hách, cũng phải chịu không biết bao nhiêu đắng cay, khổ não!
Xét cho cùng, người lòng dục nhiều chừng nào thì khổ não cũng càng lắm chừng đó. Tham tài, tiền tài không nhất định đem đến an vui, song người mất mạng vì tiền của lại không ít; tham danh, danh không nhất định mang lại an lạc, song người lụy vì danh lại rất đông; tham sắc, sắc không nhất định đem đến hạnh phúc, song có biết bao người đau khổ vì sắc đẹp! Do đó có thể thấy, câu Kinh: Đa dục nhất định phải vương mang ưu sầu phiền lụy tang thương, quả thật là tiếng đại hồng chung ban sớm, đánh thức người đời tỉnh khỏi giấc mộng lợi danh!

Năm tháng vấn vít trong khổ hải,
Kiếp đời lăn lộn mãi sông mê;
Đường Tây Phương bặt lối trở về,
Nẻo địa ngục vào ra mòn gót.
Chịu hành phạt đã không còn sót;
Cửa luân hồi chưa vượt khỏi qua;
Nghiệp trần còn đành phải sanh ra;
Mang lấy kiếp gọi là sanh vật.
Lo thân sống nào ăn, ở, mặc;
Nào lợi danh nào vật dục tình;
Rồi sanh lòng bảo thủ lấy mình;
Việc chi cũng muốn trên hơn cả.
Tánh ích kỷ sanh ra nhơn ngã,
Khiến cho người nổi dạ cạnh tranh;
Thấy ai hơn có ý ghét ganh,
Thấy ai kém sanh tình húng hiếp.
Hố tham chẳng bao giờ phủ líp;
Tánh tham danh, tham sắc, tham tài,
Ba điều tham thiên hạ đang say,
Đa số khách trần ai đều bị.
Nếu chẳng dứt được lòng ích kỷ,
Thì chứng tham khó trị cho lành;
Hễ tham danh thì khổ vì danh;
Chữ danh nó gần bên tài sắc;
Danh có được sắc tài liền bắt,
Tài được rồi danh sắc nối theo;
Sắc có thì danh lợi nó đeo,
Danh, tài, sắc, ba điều dính líu.
Vướng một cái cả ba cái níu,
Ngả bên nào cũng chịu khổ sầu;
Vượt ra ngoài có mấy ai đâu,
Rơi vào đó biết bao nhiêu kẻ.
Đạo cốt nhục nỡ đành chia rẽ,
Tình đồng bào xâu xé nát tan;
Cũng vì danh, vì sắc, vì vàng,
Làm cho kẻ tham gian tối mắt.
Mê danh lợi lắm người phản tặc,
Đắm sắc tài nhiều bực vong ân;
Biết bao điều thảm sát bất nhân,
Vì tài hoặc vì danh vì sắc.
Nếu việc lớn nước nhà sanh giặc,
Còn nhỏ thì thù ghét chòm giềng;
Khắp hoàn cầu thiên hạ đảo điên,
Vì tài vì sắc vì danh lợi cả.
Tánh ích kỷ với lòng nhơn ngã,
Mưu lợi danh mưu cả sắc tài;
Người giết người chẳng biết gớm tay,
Bạn phản bạn quên ngày hậu nhựt;
Trai bất nghĩa gái không hạnh đức,
Chồng bạc tình, vợ thất tiết trinh,
Trò phản thầy, tớ hại chủ mình,
Cũng vì sắc tài danh phần lớn.

Cổ nhân nói: Người đạt đến chỗ vô cầu, tự nhiên phẩm cách cao thượng. Cảnh giới vô cầu cũng chính là cảnh giới vô dục. Người mà vô dục thì phẩm cách tự nhiên sẽ cao thượng, và khổ não tự nhiên sẽ tan biến. Hãy nhìn xem, những kẻ trong trường danh lợi, những người đầu cơ tích trữ, cúi luồn nịnh hót, hoa ngôn xảo ngữ, làm nô lệ cho dục vọng lại cho là khoái lạc, thật đáng thương biết chừng nào!

Đương nhiên, Phật giáo không phải dạy chúng ta tuyệt đối cấm dục, song cũng không tán thành việc phóng túng lòng dục. Phật giáo dạy chúng ta có thái độ trung đạo. Đối với các dục về quyến thuộc, của cải, thân thể cố nhiên không thể phóng túng, nhưng cũng không cách nào hoàn toàn thoát ly. Cần phải dùng trí tuệ để chuyển hóa tình cảm, thực hiện thiện pháp dục mà xa lìa phiền não dục.

Muốn về gặp Đức Như Lai,
Bao nhiêu tội lỗi thẳng tay trị trừng.
Càng làm cho nhẹ được thân,
Thì càng chóng bước đến gần đài sen.

Giở lại lịch sử Ấn Độ, xã hội khi Phật còn tại thế có một nhóm người chủ trương hưởng thụ dục lạc, phóng túng lòng dục. Họ quan niệm: Hôm nay có rượu, hôm nay say, còn chuyện ngày mai lo làm gì, nên tìm đủ cách hưởng thụ dục lạc, ăn chơi xa hoa trong cuộc sống hiện tại. Lại có một nhóm người tu khổ hạnh theo ngoại đạo, chủ trương tuyệt đối cấm dục. Nhà khổ hạnh không những đoạn tuyệt lòng dục về nam nữ, mà còn sống hết sức khắc khổ trong cái ăn, cái mặc, cái ở để tu luyện. Họ chỉ ăn rong rêu, hoặc rễ cỏ, vỏ cây, hoa quả cho đỡ đói. Họ không mặc y phục, suốt ngày thân thể để trần. Có người ngồi trên gai góc, hay bên bờ vực thẳm; có người nằm sát bên đống lửa hay trầm mình trong nước vào mùa đông… Những khổ hạnh vô ích này, chỉ làm khổ cho mình, hoàn toàn không thể nhờ cái khổ đó mà được giải thoát. Họ tuy xa lìa được lòng dục về lạc hạnh, song lại bị lòng dục về khổ hạnh trói buộc, rốt cuộc vẫn không phải là pháp giải thoát. Cho nên Đức Phật sau khi thành đạo, đã tuyên bố chân lý trung đạo, dạy người học đạo phải xa lìa hai cực đoan là tham đắm dục lạc và cố chấp khổ hạnh, nên y theo Bát chánh đạo để tinh tiến tu tập.

Chúng ta phải hãy dùng lòng từ bi thay thế tham dục, dùng trí tuệ hóa giải tình cảm, không để lòng mình sinh khởi tạp nhiễm dục, tự nhiên sẽ tránh được vấn đề đa dục là khổ!

Kiếp rồi mới vừa tan xác đó,
Kế kiếp này cũng bỏ thân luôn,
Nhưng mê đời vẫn không buông!
Biết bao giờ khỏi cái guồng tử sanh?
Sanh đủ loại đủ hình bất nhứt,
Tử nhiều phương nhiều cách nan phân.
Dễ gì sanh được nhơn thân,
Dễ gì tử được khỏi phần thảm thê.
Làm người được dễ về Tiên Phật,
Làm súc sanh khó được siêu thăng.
Há không sớm biết ăn năn,
Để cho khỏi mất thiện căn con người.
Người thú tánh người rơi cõi thú,
Người ác tâm người thụ ác đời,
Nhân nào quả nấy người ơi!
Xin đừng để mất tánh người thiện lương.
Người muốn được hồn nương cảnh Phật,
Nên từ tâm như Đức Thích Ca,
Thương yêu tất cả người ta,
Cứu an thân sống, cứu ra biển trần.
Sớm khuya rán ân cần tu niệm,
Thân tâm thường kiểm điểm tốt lành,
Quyết lo lánh trược tầm thanh,
Lòng không để các lợi danh làm cuồng.

Người ta thường nói: Người không nhiều dục vọng thì không có thất vọng; người dục vọng càng nhiều thì đau khổ càng nhiều. Kinh Di Giáo cũng nói: “Người biết tri túc, tuy nằm trên đất vẫn thấy an lạc; người không tri túc, dù ở thiên đường, cũng không xứng tâm vừa ý.” Đệ tử Đức Phật là Tôn giả Ca Diếp, Ngài chuyên tu hạnh Đầu Đà, nương nơi gò mả đồng hoang mà bình an, giải thoát; học trò Khổng Tử là Nhan Hồi, sống trong ngõ hẻm tồi tàn vẫn thanh nhàn, an lạc. Đây là những hình ảnh sống động, nhằm chứng minh ý nghĩa xác thực lời Phật dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác: “Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn đều từ tham dục ra; nếu ít muốn vô vi, thân tâm được tự tại.”. Qua đó ta thấy, khổ là do nhiều lòng dục mà có; nhiều lòng dục là nguồn gốc của khổ.

Chúng sinh luân hồi trong sáu nẻo, tử rồi lại sinh, sinh rồi lại tử, những nhọc mệt khổ đau này, không phải đều từ tham dục mà ra hay sao? Lấy cuộc sống hiện thực mà nói, chúng ta suốt ngày tìm cầu, tham lam chiếm hữu, làm trâu ngựa cho tiền bạc danh vọng, cho ngũ dục, lúc nào cũng lo được lo mất, bối rối bất an, đều từ tham hố mà ra cả.

Tham dục thật là đáng sợ! Kẻ táng thân mất mạng trong đời thường là do nơi tham dục. Chúng ta hãy thử nhìn xem con thiêu thân lao vào lửa, con cá mắc lưỡi câu, chẳng phải đều do lòng tham dục xui khiến nên hay sao? Những phạm nhân trong tù, người thì phạm tội trộm cướp, kẻ thì phạm tội gian dâm, chẳng phải đều bị lòng dục làm hại đó sao?

Đã rõ biết sự mê là khổ,
Nên phải lo giác ngộ chơn tâm;
Lấp bằng các hố sai lầm,
Để cho kẻ mến người tầm học theo.
Chớ để dạ ôm đeo việc ác,
Khiến mọi người bài bác khinh khi;
Giá danh hiện chẳng còn gì,
Chết rồi hồn chịu lắm khi đọa đày.
Đầu thai cõi trần ai đau khổ,
Chịu ngu khờ ở chỗ cơ nguy;
Từ sanh cho đến chết đi,
Không ngày nào được hưởng gì sướng vui.
Sống trong cảnh nặc mùi thảm khổ,
Khiến lắm người phun nhổ gớm ghê;
Chúng sanh vì quá còn mê,
Chỉ lo hiện tại quên bề vị lai.
Nay sung sướng ngày mai khổ não,
Mối oan khiên nghiệp báo không lầm;
Một vay phải trả thiên trăm,
Cũng là tự đắc cho rằng khôn ngoan.
Phật trông rõ mọi đàng chơn giả,
Rất xót thương lòng dạ người mê;
Làm hung tuy hiện vinh huê,
Nhưng sau nầy chịu trăm bề khổ lao.
Sự khổ nhục khác nào giòi tửa,
Ăn bám đồ kẻ mửa người chê;
Càng nhìn vào cõi trần mê,
Lòng càng quặn thắt không hề thấy vui.

Thuở xưa có hai người họ Trương và họ Vương cùng nhau đi du lịch nơi xa. Giữa đường họ nhặt được một khối vàng ròng. Cả hai mừng quá bèn bàn nhau chia đôi. Trên đường đi, anh họ Trương nói với anh họ Vương:

– Khối vàng này chúng ta nhặt được là do Thành Hoàng nơi đây có mắt, cho chúng ta cơ hội phát tài. Chúng ta nên mua một ít rượu thịt đến trước Thành Hoàng cúng bái để tạ ơn.

– Được lắm, anh đi mua đồ, tôi ở trước miễu Thành Hoàng đợi.

Anh họ Trương hoan hỷ đồng ý. Nhưng ngay sau đó trong lòng hai người liền nảy sinh ý niệm tham lam, muốn một mình chiếm trọn.

Anh họ Trương nghĩ rằng: Khối vàng ròng này nếu chia đôi, chỉ còn phân nửa, thì tiêu xài không được bao lâu.

Anh họ Vương cũng nghĩ: Khối vàng ròng này nếu chia đôi thật là uổng, chi bằng ta tìm cách hưởng hết một mình.

Tâm tham dục vừa khởi, điều ác đã đến nơi. Anh họ Trương bèn mua thuốc độc lén bỏ vào rượu và thức ăn để giết hại anh họ Vương. Anh họ Vương thấy trong miếu Thành Hoàng không có ai, cũng chuẩn bị một cây búa để đập chết anh họ Trương. Hai người thầm đắc ý với diệu kế của mình, cho rằng đối phương quyết không hay biết.

Anh họ Trương mua rượu và thức ăn về, khi đang lạy cúng Thành Hoàng, không ngờ bị anh họ Vương bất ngờ đập cho một búa vào đầu, ngã lăn ra chết, liền lôi xác quăng xuống vực thẳm.

Anh họ Vương giết anh họ Trương xong lấy được vàng, vừa định đào tẩu thì cảm thấy bụng đói cồn cào. Anh nghĩ: “Mình hãy ăn uống no say cái đã, rồi trốn đi, đâu có vội gì?” Anh liền bày rượu thịt ra ăn uống một mình. Đang ăn, bỗng cảm thấy trời đất xoay chuyển, thuốc độc phát tác, cuối cùng anh ta cũng ngã lăn ra chết!

Hai người họ Trương họ Vương lòng tham quá lớn, vì muốn một mình hưởng trọn khối vàng, có tâm hại người nên trở lại tự hại lấy mình! Đây là nhân quả hiện tiền, cũng là nói tất cả tội ác đều từ tham dục sinh ra.

Thế nên tục ngữ có câu: “Của hoạnh tài không làm giàu được kẻ số nghèo”. Giàu có vốn không phải do tham dục mà được. Làm giàu phải có phước, không phước mà cầu giàu sang để thỏa mãn lòng dục, thì kết quả vô cùng bi thảm!

Trò phản thầy, tớ hại chủ mình,
Cũng vì sắc tài danh phần lớn.
Mình sung sướng mặc người đau đớn,
Thấy của ai cũng muốn lăm le;
Lời nói lành chẳng để tai nghe,
Thấy việc phải không hề bắt chước.
Vì ích kỷ chẳng vui làm phước,
Vì ngã nhơn muốn được phần mình.
Tạo muôn ngàn tội ác tài đình,
Cũng vì lợi vì danh vì sắc.
Người đối xử với người khe khắc,
Người nhẫn tâm lừa gạt lẫn nhau.
Chẳng phải vì ích kỷ hay sao?
Quyền lợi đụng chạm nhau do đó.
Muốn danh vọng muốn nên giàu có,
Muốn cao sang muốn vợ con xinh,
Muốn cho ai cũng phải phục mình,
Muốn mình sống mặc tình ai chết.
Càng muốn mãi muốn hoài không hết,
Các việc do lòng ích kỷ sanh.
Giữa loài người đủ mặt cạnh tranh,
Vì muốn lợi cho mình làm trước.
Mình muốn được thì người muốn được,
Mới gây ra có cuộc đấu tranh.
Kẻ được thì đủ cách giữ canh,
Người bị mất cố tình lấy lại.
Kẻ nay thắng kế mai lại bại,
Người bại nay nhưng lại thắng mai.
Thua trần thân được cũng trầy mày,
Xét cho kỹ có ai sung sướng.
Chỉ tạo lấy thêm nhiều nghiệp chướng,
Làm cho đời khổ lớn ra thêm.
Danh lợi mua bằng cách thù hềm,
Thà không có còn êm hơn có.
Vì sự sống việc chi cũng mó,
Ấy lầm to nào có khôn ngoan.
Lợi cho mình mà hại nhơn gian,
Cái lợi ấy chỉ làm tuyệt lộ.
Nghĩ đến chuyện đấu tranh lưỡng hổ,
Tất không vui làm khổ cho ai.
Nếu để lòng nghĩ đến ngày mai,
Sẽ không thể nhúng tay việc ác.
Luật nhân quả thẳng tay trừng phạt,
Vô luận ai tạo tác bất lương.
Muốn thì làm chẳng chịu suy lường,
Dễ đưa tới con đường tội lỗi.
Biển sâu rớt luống công bơi lội,
Tội ác lâm khó nổi gỡ ra.
Vui nhứt thời để khổ lâu xa,
Sự vui ấy chỉ là thuốc độc.
Chúng sanh biết bao điều thảm khốc,
Vì ham vui trong chốc lát sanh.

Những người giàu sang vinh hoa phú quí là nhờ bố thí, nhờ tích chứa phước đức mà có, chứ không phải do tham dục mà được, không phải do khôn ngoan gian dối cơ xảo mà được. Nếu lận lường, trộm cướp, lừa đảo mà được, thì những thứ đạt được ấy cũng chỉ là những thứ trong mạng của mình đã sẳn có, lẽ ra nó tất nhiên sẽ đến, nhưng đến chậm một tí mà thôi. Bằng không, thủ đoạn phi pháp phi nghĩa chưa thực hiện xong là cùm gông đã tới trước. Cho nên, hành động cưỡng đoạt để có, đã vừa gây tạo tội ác lại vừa tổn giảm đi quá nhiều phước phần của chính mình mà không hề hay biết, tương tự như từ ngữ mà người dân miền Tây thường dùng là “hốt hụi non”. Vì thế, người xưa có câu: “Quân tử thong dong làm quân tử, tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân”

Tham muốn nhiều là nhiều khổ não, nhiều phiền lụy, bao sinh tử nhọc nhằn đều từ tham dục sanh ra. Vậy chúng ta làm thế nào để đối trị nó, đây? Kinh nói: “Nếu ít muốn vô vi, thân tâm được tự tại”.

Dục không phải nhất định là hoàn toàn tội lỗi. Người vì xã hội lo việc phước lợi, thiện pháp dục này không những không bị người ta phản đối mà còn được rất nhiều người tán dương. Chẳng qua, lòng dục về danh lợi tài sắc nếu kiêu xa quá đáng, quá phận, vô độ… thì dư luận xã hội cũng không đồng tình.

Trong Kinh chỉ dạy chúng ta giảm thiểu lòng dục, sống đời thanh thản, không vướng bận, không não phiền. Người lòng dục nhiều thì phiền não tất nhiên cũng nhiều; ngươi lòng dục ít thì phiền não tự nhiên cũng ít.

Người ít dục vọng thì tâm không dua nịnh, không mong cầu vô lý. Tâm không tham dục sẽ trở nên cương trực, thẳng thắn. Người ít muốn vô vi sẽ không bị các căn mắt tai mũi lưỡi thân ý của mình và sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp bên ngoài trói buộc. Thân tâm của vị đó tự nhiên được tự tại, giải thoát.

Nhan sắc diễm lệ, giọng ca ngọt ngào, điệu múa uyển chuyển, vị ngon ăn uống, tiếng tăm lừng lẫy… đều có sức mạnh mê hoặc lòng người rất lớn. Nó khiến người ta phóng đãng dục tình, cùn nhụt ý chí, đắm đuối tìm cầu. Danh lợi tài sắc rõ ràng là biển dục khiến người ta phải trầm luân nơi nguy hiểm. Con người như một chiếc thuyền con đang lặn hụp, trôi giạt giữa biển khổ sóng to, gió cả!
Người đời lặn hụp trong biển dục, thì thân tâm làm sao có thể tự tại an lạc!

Cách tốt nhất là phải xa lìa biển dục phiền não, không mạo hiểm trong biển dục, luôn đề cao cảnh giác không bị nó dẫn dụ, làm mê hoặc. Người con Phật nên dùng sức thiền định, trí tuệ để phụng hành giới luật mà Đức Phật đã dạy, tuy ăn uống song không vì tham lam vị ngon mà sát sinh, hay đưa vào cơ thể của mình quá nhiều chất độc; tuy giữ của, song không phải vì tham lam mà dùng thủ đoạn để bòn rút, cướp đoạt; tuy có vợ có chồng, mà không buông lung vô độ gây ra việc tình ái lăng nhăng; tuy nói năng mà không vọng ngữ, thêu dệt…. Nếu thế gian có thái độ ít muốn biết đủ như vậy, thì thân tâm chắc chắn sẽ được tự tại, thanh thản và nhân loại cũng không có tranh chấp, hơn thua!

Kinh Bát Đại Nhân Giác có ghi:
Điều thứ hai phải nên giác ngộ,
Ham muốn nhiều, lụy khổ càng sâu.
Nhọc nhằn sinh tử bấy lâu,
Đều do tham dục dẫn đầu gây nên.
Tâm ít muốn, giữ bền đạo nghiệp,
Hạnh vô vi, không tiếp nghiệp duyên.
Tự nhiên sẽ hết não phiền,
An vui tự tại giữa miền nhân gian.

Ngũ dục gồm có: tài, sắc, danh, thực, thùy.

1/- Tài lợi

Ngài Sivananda đã nói: “Tiền bạc có thể giúp ta có mua được thuốc men, nhưng ta không mua được sức khoẻ; Có được chiếc gối êm, nhưng không được giấc ngủ ngon. Có được những tiện nghi vật chất, nhưng không được thực sự an vui. Có được những châu ngọc, nhưng không được sắc đẹp. Có được chiếc máy nghe tai, nhưng không được tánh nghe biết nhận. Nhưng khi có được tài sản tối thượng là trí tuệ, chúng ta sẽ có được tất cả mọi thứ.”

Đạo Phật chỉ dạy cho chúng ta nhìn, hiểu biết cái thật của vấn đề và sự vật dù rằng những vấn đề, sự vật ấy cực kỳ đơn giản và tầm thường. Có lẽ đôi khi những vấn đề, sự vật đơn giản và tầm thường nhất nhưng lại là khó thấy và khó hiểu nhất. Có lẽ do những vấn đề, sự vật đơn giản và tầm thường quá nên con người ta chẳng thấy và chẳng cần hiểu. Ví dụ như đồng tiền này đây! Ai cũng thấy, cũng biết và cầm nắm trong tay hàng ngày nhưng có mấy ai cầm nó đưa lên trước mặt để nhìn ngắm nó cho thật kỹ và thật sâu. Đồng tiền này từ đâu ra nhỉ? Đến và sẽ đi đâu? Có giá trị gì thật sự trong đời sống con người hay chỉ là những nguyên nhân gây ra nhiều tội ác? Đồng tiền có thật sự mang lại sự hạnh phúc và an vui cho con người chăng? Đồng tiền có thật là chiếc đũa thần vạn năng hay là cây đèn thần A La Đin, mà ngày nào đó ta một thời tin tưởng hay không?

Trong sự quán chiếu sâu xa của trí tuệ, thân người mà ta và mọi loài đang mang đây còn không thật huống chi đồng tiền, chỉ là giấy và những đồ kim loại do sản phẩm của đầu óc con người tạo ra và ước định vào. Nhưng tại sao tiền bạc vốn là sản phẩm của con người, mà lại quay ngược lại chế ngự con người có lúc đến mức gần như toàn diện trong đời sống hàng ngày. Điều ấy có mâu thuẫn và quái lạ lắm không?

Có lẽ dần dần con người chúng ta không còn thấy nó là do sản phẩm của con người nữa, mà là chính con người, là máu huyết, là mạng mạch trong cơ thể chúng ta để đến nỗi có lúc tưởng tượng rằng, không có tiền là không có tất cả, kể cả chính mình!

Do sự nhận thức lầm lạc như trên, nên dường như là chúng ta chưa từng bao giờ muốn dừng lại trong việc theo đuổi và săn bắt đồng tiền; đồng tiền ngược lại cũng vậy chưa từng muốn dừng lại trong việc rủ rê và mê hoặc con người. Cả hai đang trong trạng thái bất định và quay cuồng với nhau trong một đời sống do ảo tưởng của si mê hư vọng tạo nên. Nước mắt của chúng ta đã đổ ra quá nhiều cho đồng tiền, nhưng chưa từng một lần nhỏ giọt trước cảnh khổ đau, và xót xa của đồng loại. Nụ cười của chúng ta cũng tặng cho đồng tiền quá nhiều, nhưng chưa từng một lần tặng đúng ý nghĩa cho mẹ, cho cha, cho thầy những người ban ơn cho ta trong suốt cả cuộc đời. Chúng ta đã khóc và cười với đồng tiền, buồn và vui với nó, đã dùng trọn vẹn thời gian trong đời và năng lượng của con người để kiếm tìm và sống với nó, để rồi ta mãi thờ ơ lạnh nhạt với bao người thân thương mà lẽ ra ta không có lý do gì để quay mặt làm ngơ cho bao nỗi khát vọng mong chờ! Thử hỏi, chúng ta tận tụy và chung thủy như vậy với đồng tiền để ta có được gì, khi mà sau lưng ta đã chối phăng đi bất cứ giá trị và những ý nghĩa lợi ích khác chân thật hơn cho kiếp sống của một con người? Rõ ràng là chỉ bằng những mảnh giấy bạc và những đồng kim loại, ta đã quên hết tất cả thực tại mầu nhiệm của đời sống và các tính năng phi thường mà mình đang sẳn có trong tay!

Phần lớn bị bạc tiền mờ trí,
Ít ai mà chủ trị được tâm.
Nghèo thì bị bạc làm câm,
Giàu thì bị của giam cầm chung thân.
Xưa nay chốn hồng trần như thế,
Hơn thua nhau chỉ kể đồng tiền.
Dòng đời xuôi ngược đảo điên,
Đều do cái thứ bạc tiền mà ra.
Thứ tiền bạc người ta tạo nó,
Rồi người ta lại khổ vì tiền.
Không tiền nói phải cũng điên,
Có tiền nói quấy cũng thiên người ừ!
Trâu bò thì bị người xỏ mũi,
Người bị tiền bạc cưỡi trên lưng.
Trâu bò chỉ khổ xác thân,
Người thì xác thịt tinh thần khổ luôn.
Khổ đến chết chưa buông được nó,
Mà nhiều người lấy đó làm vinh.
Tiền xem trọng, nghĩa xem khinh,
Ngày nay thế giới chỉ tin đồng tiền.
Tiền là bạc không yên một chỗ,
Nay tay này mai ở tay kia.
Người thường vì nó rẽ chia,
Gây ra đổ máu đầm đìa khắp nơi.

Tiền bạc với con người có hai mặt liên hệ. Bên ngoài tiền bạc ấy đồng nghĩa với sự đổi thay không ngừng như thời gian sáng tối, như cảnh vật qua mau, và như không gian đang xoay chiều theo sự biến thiên liên tục của vũ trụ. Tiền bạc nó đến, nó đi và nó lại đến lại đi tợ như một kẻ lữ khách và quán trọ. Phật giáo với cái nhìn thâm sâu cho tiền bạc là vô thường, không thật có, giả tạm và chỉ là một phương tiện được tạo ra bởi con người để cân bằng và giữ vững sự sinh hoạt trong xã hội con người. Do vì là vô thường và giả tạm, phương tiện chứ không phải là cứu cánh, thì sao chúng ta phải dành trọn thời gian của cuộc sống và năng lượng đời người cho việc kiếm tiền, sống với đồng tiền trong những nỗi khổ đau, buồn vui cười ra nước mắt. Ý nghĩa, sung sướng và hạnh phúc nào đây khi ta từ lúc ra đời cho đến hiện tại đã trải qua gần hết cả cuộc đời để sống với nó, tin tưởng nó như là một cái gì quý báu nhất trên đời; nhưng nó lại thường làm ta mất ăn, mất ngủ và ban bố cho ta nhiều nỗi sợ hãi bất an!

Tiền là bạc không yên một chỗ,
Nay tay này mai ở tay kia.
Người thường vì nó rẽ chia,
Gây ra đổ máu đầm đìa khắp nơi.
Chủ được nó là đời hạnh phúc,
Nó chủ mình là mất tự do.
Làm ra để giúp để cho,
Chớ gom góp để bo bo giữ đời.
Đem giúp đỡ cho người chẳng mất,
Cứ bo bo giữ cất không còn.
Vật mòn biết dụng không mòn,
Tiền đừng nên bạc nên tròn nghĩa ân.
Ham tiền bị hư thân lắm kẻ,
Mến bạc nhiều người nhẹ giá danh.
Gái thì bán mất tiết trinh,
Trai thì trộm cướp hoặc sanh gian hùng.
Thân cho mấy khi lòng mến bạc,
Tình thân kia cũng nát như tương.
Tự mình bóp chết tình thương,
Mà không sáng mắt bởi vương bạc tiền.
Tiền dùng đúng tiền hiền như Phật,
Bạc xài lầm bạc ác hơn ma.
Phật ma cũng tại người ta,
Chớ tiền bạc nó vốn là vô tri.

Bên trong, tiền bạc ấy luôn là chất keo dính liền với sự tham ái của con người. Chúng ta chưa từng thoát ra được lòng tham lam xấu xa này dù rằng chúng ta cũng có tu và có học, có hiểu biết rõ về sự vô thường, giả tạo của tiền bạc trong đời sống. Nhưng để thoát ra và sống cao thượng vượt lên trên đồng tiền, thì hình như điều đó chúng ta vẫn chưa làm được. Do đâu? Do vì cái tham nơi lòng ta vẫn chưa được gột rửa tẩy trừ sạch kia mà!

Than ôi cho cái tham từ muôn kiếp sống si mê trói buộc, đã dẫn dắt ta đi mãi trong bao lời hứa hẹn về một sự sung sướng và an vui cho thân này. Sung sướng và an vui đâu chẳng mấy khi chúng ta cảm nhận, mà chỉ thấy ta càng ngày bị trói chặt thêm hơn, bị buộc ràng đến nỗi mỗi lần nghe có sự cởi buộc, sự giải thoát, ta cảm thấy mình có vẻ như sờ sợ và tìm cách né tránh.

Đức Phật trong kinh Pháp Cú nói rằng:

“Sắt, cây, gai trói buộc,
Người trí xem chưa bền,
Tham châu báu bạc tiền,
Tham vọng vợ và con,
Người có trí nói rằng:
Trói buộc này thật bền”.

Giết Heo Bị Quả Báo Thê Thảm

Tại trấn Bà Đầu, huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy, có người tên là Tuyên Tứ, hành nghề mổ heo đã hơn hai mươi năm. Ông tạo được ba căn nhà: một căn để ở, còn hai căn kia thì cho người thuê, cộng thêm hai trăm mẫu ruộng.

Cứ vào lúc ba giờ sáng mỗi ngày, Tuyên Tứ dậy nấu nước làm heo, vợ ông cũng thức dậy phụ chồng.

Hôm nọ, cũng như mọi khi đến giờ làm việc, bà vừa ra ngoài nhà sau, thì thấy trong chuồng heo có dáng hai người đàn bà đang nằm. Bà dụi mắt nhìn kỹ mấy lần, cũng vẫn thấy như thế.

Lúc ấy, sợ quá bà liền đi tìm chồng thuật lại sự việc, còn nói thêm một câu:

– Thôi mình hãy tìm nghề khác đi ông ơi!

Ông không tin còn cười nhạo bà.

Người vợ lấy con dao mổ heo ném vào trong cầu tiêu. Nên hôm ấy, Tuyên Tứ không thể giết heo, nhưng vẫn không hề có tâm đổi nghề.

Hôm sau, người vợ mời hết thảy gia tộc đến thưa là nếu Tuyên Tứ không đổi nghề thì bà sẽ chia tay. Tuyên Tứ chấp nhận chia tay, chứ không chấp nhận bỏ nghề.

Thế rồi, hai người chia đôi gia sản. Người vợ mang đứa con ra riêng nuôi dưỡng.

Chỉ thời gian sau, đứa con mà hai vợ chồng yêu thương lại qua đời. Đến đây, Tuyên Tứ mới có một chút niềm hối hận. Vì buồn việc đứa con mất sớm, nên Tuyên Tứ đem tiền của dành dụm nướng vào trong cờ bạc.

Cuối cùng, tất cả gia sản đều tiêu tan như mây khói. Ông lại mua mấy con heo nuôi để xây dựng lại sự nghiệp nhưng đều thất bại cả.

Một tháng sau, miệng mũi của ông lúc nào cũng tuôn máu mủ, đau đớn vô cùng, nằm kêu la suốt ngày đêm như bị người thọc dao vào yết hầu vậy. Mãi một năm sau ông mới chết!

Thế nên, có đi đâu, làm gì cũng nhớ mình là người con Phật đừng vì dục vọng tham đắm tiền của vật chất mà tạo nghiệp bất lành, một mai chết đi chẳng mang theo được gì!

Nếu không trốn khỏi tử thần,
Dù đeo đắm cuộc hồng trần luống công.
Cuối cùng cũng phủi tay không,
Đâu bằng tu niệm để hòng siêu sanh.
Đem lòng tham muốn lợi danh,
Đổi ra lòng muốn tu hành quí hơn.
Lợi danh sẽ mất theo thân,
Tu hành sẽ cứu hồn thăng Phật đài.
Càng nhiều tham vọng trần ai,
Càng làm cho kiếp đọa đày đấy thôi.
Hồng trần là cõi bạc vôi,
Nó không chung thỉ với người nào đâu.
Càng theo nó lại càng sầu,
Chúng sanh vì nó bị đầu thai luôn.
Những điều sầu khổ ngàn muôn,
Mỗi người đều mỗi quay cuồng khác nhau.
Người không ai giống ai nào,
Chung qui cũng một đường vào mồ ma.

*Trên thế giới xưa nay tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để ghi chép lại những chuyện Nhân Quả báo ứng để cho người đời xem đó mà làm lành lánh dữ, nhưng trước mắt cái lợi thu về quá lớn đã làm cho họ mờ mắt để đến khi quả báo đã  tới thì họ đành chấp nhận chứ cái lợi kia nhất quyết không buông! Bởi vô minh nên cũng không  biết rằng “Tự ta gieo tai hoạ cho ta”

Trong kinh Đức Phật còn dạy: “Người trí sợ Nhân, kẻ ngu sợ Quả!” Bởi người có trí hiểu biết đâu có gây cái Nhân, mà không gây cái Nhân thì làm gì có cái Quả. Sau đây là câu chuyện Quả Báo xin ghi ra để mọi người suy gẫm.

Mấy mươi năm định cư nước ngoài, bác cư sĩ nọ một đời tín tâm quy y theo Phật, ngoài tụng Kinh niệm Phật, bác thường xuyên phát tâm hoan hỷ cúng dường Tam Bảo, gặp ai khó khăn bác cũng giúp nên con cháu của bác ai ai cũng thành đạt, cuộc sống luôn bình yên.

Giờ đây mái tóc cũng đã điểm sương, bác mới có dịp trở về thăm quê hương đất mẹ nơi sinh ra và nuôi bác khôn lớn. Sau những chuyến đi từ thiện giúp người, hỗ trợ bà con nghèo các nơi, cùng với ông bạn cũ chí thân từ thời còn trai trẻ, nhờ chú ấy đưa bác ghé thăm và đảnh lễ Tam Bảo trong ngôi chùa quê đã xuống cấp.

Trước khi rời đất mẹ trở lại định cư nước ngoài, bác nhờ chú ấy đứng tên mua một thửa ruộng rồi bỏ vốn giao cho chú đó ở tại quê hương canh tác, mỗi mùa chú được ăn chia theo tỷ lệ thu hoạch đã thỏa thuận với bác, phần lúa còn lại bác nhờ chú ấy đem cúng dường cho ngôi chùa đó để cùng nhau bồi công tạo phước, tâm nguyện và việc làm ấy bác với chú kia cũng chỉ một vài người nữa biết thôi.

Nhưng ở đời không phải ai cũng như mình nghĩ, bởi người đạo tâm thì ít, mà kẻ tham thì nhiều. Khi từ giã quê hương bác giao trọn quyền hành cho chú nọ, thế nhưng khi thu hoạch những mùa đầu chú chọn lúa tốt cho phần mình, lúa xấu đem cúng cho chùa. Dần dần những mùa lúa sau chú không còn mang qua cúng cho chùa nữa.

Nhờ mua đúng thửa ruộng tốt, nhờ kinh nghiệm canh tác giỏi nên mỗi năm thu hoạch sản lượng càng tăng khiến cho gia đình chú ấy cuộc sống ngày càng sung túc hơn. Qua mấy năm bán nhiều lúa, ngoài sắm sửa trong nhà trong cửa chú còn góp tích số tiền cũng khá, bác kia từ nước ngoài nghe tin bèn gọi điện về nhắc nhở, nhưng chú vẫn bỏ ngoài tai.

Nhưng quy luật xưa nay hễ có Nhân thì ắt phải có Quả như đã nói trên, vợ và các con chú đang khỏe mạnh tự dưng lần lượt từng người đổ bệnh, bệnh từ nhẹ lần lần chuyển qua nặng, bác sĩ nào hay cũng đến, lương  y nào giỏi cũng tìm, thuốc đắt mấy cũng phải mua, những đồ đạt trước chú mua sắm trong nhà rồi cũng lần lần bán hết mà bệnh mỗi ngày một tăng, từ một người ngày ngày siêng năng với đồng ruộng, giờ đây chú phải lo nuôi bệnh cho vợ và các con từ bệnh viện Tỉnh lên đến bệnh viện Thành, ban đầu từ mượn trong họ hàng sau cùng buộc lòng phải đi vay tiền góp, căn nhà đang ở giờ chú cũng phải bán để trả lãi và mua thuốc men cho cả nhà, nhưng rồi trải qua những năm dài đau bệnh vợ và các con cũng lần lượt từng người bỏ chú mà đoàn tụ với ông bà ở bên kia thế giới, giờ còn lại mình chú đơn độc trong căn chòi tranh rách nát trên vũng đất hoang cuối làng, với cơ thể khập khiễn, gầy gò, đen đủi, tiều tụy sau cơn khủng hoảng và đột quỵ.

Vì nhu cầu thiết yếu nên tới đâu thì tới, chứ đám ruộng của bác kia chú cũng phải bán để trả lãi nợ nần, cho cái ăn, cho thuốc men chữa trị …

Chú mong được chết, nhưng cái Quả không lành từ lòng tham mà chú tạo nó không cho chú chết, chú phải sống để cảm nhận những gì mình đã làm, khi ngộ ra thì chú không còn sức khỏe và tâm trí đâu để mà chú sám hối.

Ngoài nhà cữa gia đình vợ con không còn nữa, đám ruộng của bác kia thì chú cũng đã bán mất, nhưng cái nợ lớn với Tam Bảo, với thần linh…chú vẫn mãi mãi  còn, không những trong kiếp này và nhiều kiếp kế tiếp ……

Cho nên cổ nhân có dạy:

Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo,
Nhược hoàn bất báo, thời thời vị đáo.
(Có thiện thì thiện báo, có ác thì ác báo,
Bây giờ chưa thấy báo là vì chưa đến).

Vì vậy, nếu cởi bỏ ra được phần nào lòng tham, là ta đã có được phần nào sự giàu có và tự do thảnh thơi. Lúc ấy cho dù ta không có tiền bạc đầy túi, đầy trong ngân hàng nhưng ta lại cảm thấy có sự giàu có nào đó ở nơi mình. Giàu có ở đây chính là sự giàu có của một tâm hồn biết đủ, biết sống và biết thưởng thức trọn vẹn ý nghĩa của cuộc đời. Đức Phật trong kinh Di Giáo giảng bày khá rõ về điều này:

“Này các thầy Tỳ kheo, muốn giải thoát khổ não thì các thầy hãy suy xét về sự biết đủ. Chính sự biết đủ là giàu sang, vui thú và yên ổn: Biết đủ thì nằm trên đất cũng thấy hạnh phúc, không biết đủ thì ở thiên đường cũng không có an lạc. Không biết đủ thì giàu mà nghèo, biết đủ thì nghèo mà giàu. Không biết đủ thì luôn luôn bị cả năm thứ dục lạc lôi kéo làm cho người biết đủ phải xót thương.”

Một bậc hiền triết đã cảm thán như sau:

“Tiền bạc có thể là chiếc vỏ bọc ngoài của nhiều thứ nhưng không phải là hạt nhân bên trong. Nó có thể mang cho ta thức ăn nhưng khó cho ta vị ngon ngọt; mang cho ta thuốc uống nhưng không là sức khỏe; mang lại sự quen biết nhưng không là bạn hữu, mang lại kẻ phục vụ nhưng không phải lòng trung thành; mang lại những ngày hoan lạc nhưng không phải sự an bình và hạnh phúc”.

Vẫn biết rằng con người khó thể thoát ra được cái gọi là, “phải có sự sinh tồn,” mà tiền bạc vật chất là chiếc bàn cân cho sự sinh và tồn tại ấy; nhưng người ta cũng có thể sống với đồng tiền trong những ý nghĩa và sự ý thức cao độ nhất kia mà. Đó là cách sống như một nhà ảo thuật với những màn ảo thuật biến hóa của mình. Tiền bạc đúng là sản phẩm do chúng ta biến hóa ra, do đó chúng ta nên trọn quyền sử dụng nó một cách thích đáng và ý nghĩa nhất, thay vì bị chính nó mê hoặc để ta phải mải miết nhìn ngắm nó, chạy theo nó, vui buồn bi lụy về nó. Hiểu được nguyên lý này phần nào là cuộc đời và sự sống của ta bớt khổ phần ấy. Không những bớt khổ mà sự sống ấy của ta còn có ý nghĩa cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai.

Tiền dùng đúng tiền hiền như Phật,
Bạc xài lầm bạc ác hơn ma.
Phật ma cũng tại người ta,
Chớ tiền bạc nó vốn là vô tri.
Nhiều tiền kiếp Mâu Ni giàu có,
Bạc tiền đâu làm khổ được Ông.
Mà là nhờ có tiền đồng,
Giúp Ông bố thí khắp trong dân làng.
Đó là một trong ngàn công đức,
Phật Thích Ca chứa chất từ xưa.
Dùng tiền như hạn cho mưa,
Biển non đo cũng chẳng vừa đại ân.
Phật xưa cũng xác trần cõi tạm,
Ngài cũng tình cũng cảm như ai.
Thế mà Ngài chứng Như Lai,
Nhờ lòng bố thí nhờ hay nhân từ.
Phật làm thế nay người cũng thế,
Tất nhiên là ngồi kế Phật Ngài.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Tiền tài chớ để nó sai khiến mình.
Ai có của bỉ khinh cũng mặc,
Đừng vì tiền gay gắt với ai.
Có ra thì đỡ xây xài,
Không thì nhịn chịu chớ cay đắng lòng.

Nếu như chúng ta không làm chủ được tiền bạc, chỉ biết và sống với sự tin tưởng mù quáng vào sức mạnh của nó, thì chúng ta đã tự đưa đẩy mình vào đời sống của một người thiếu hiểu biết, ít lương tri và sẽ dần dà biến ta trở thành một người đê hèn nhất khi có thể, như Halifax, một chính trị gia người Anh nói câu sau đây:

“Người có quan niệm cho rằng, tiền bạc có thể làm được mọi chuyện, thì chúng ta hãy tin rằng, kẻ ấy cũng có thể làm được mọi chuyện chỉ vì tiền.”

Thế giới kim tiền ngày nay, xã hội vật chất hiện tại chỉ chuyên dạy và nhằm đào tạo cho con người về phương cách kiếm tiền hữu hiệu nhất, để dần dà biến những người thân, người bạn tốt nhất của chúng ta thành ra những người sống không thật để có được cái lợi từ đồng tiền, đánh mất đi cái quý giá nhất đó là lương tâm. Ngay cả những người thân trong gia đình cũng vậy, nhiều khi vì tiền mà quên tình, vì bạc mà quên nghĩa!

Cầu mong sao tất cả những điều trên đây đừng bao giờ trở thành sự thật, và nếu nó là một sự thật vì chúng ta đã được xem quá nhiều cảnh này trên TV hoặc nghe không ít qua những lần tin tức, thì chúng ta nên phản tỉnh lại nơi chính mình một chút. Phản tỉnh để biết rằng tiền bạc này đây không thật có, vô thường, giả tạm có đó rồi mất đó qua cái nhìn chánh kiến của Phật pháp, cái thấy đúng đắn chơn chánh ấy sẽ chỉ bày và đem lại sự an vui, hạnh phúc cho con người, còn nếu ta không nghe tiếng gọi lương tri này để đi theo sự tin tưởng mù quáng vào sức mạnh của đồng tiền, cho nó là thường có, là vui, là sung sướng, là hạnh phúc, thì đó sẽ là con đường dẫn đến tội lỗi, nghiệp ác và sa đọa.

Kim tiền chẳng phải là sự thật,
Chỉ đóng vai trong một tấn tuồng;
Trên mặt đào kép lộ vui buồn,
Chỉ giả dối chớ không phải thật.
Kẻ xem đó lại rơi nước mắt,
Tưởng cho là sự thật rất lầm;
Phải làm sao tỉnh được chơn tâm,
Biết thật giả khỏi lâm sầu thảm.
Hiện tại có nhiều điều dễ cảm,
Cũng chỉ làm thỏa mãn xác thân;
Nhưng xác thân là cái tạm trần,
Bồi bổ mấy cũng không bất lão.
Càng trau chuốt càng thêm khổ não,
Rốt cuộc rồi mộng ảo huờn không;
Bao nhiêu điều chế tạo luống công,
Không cứu được xác thân khỏi chết.

Vị Sư vì ham danh lợi mà phải lưu lạc 2 đời chốn nhân gian.

Vào những năm Càn Long triều đại nhà Thanh, tại vùng Tiền Đường có một cử nhân tên Vương Đỉnh Thực. Ông từ nhỏ đã thông minh ưu tú, năm 16 tuổi đã thi đỗ Cử nhân. Tuy nhiên sau đó cả ba lần liên tiếp đi thi tiến sĩ đều không thể đỗ đạt. Ông có một người họ hàng làm quan gần kinh thành, đã đón ông về ở cùng.

Hôm nọ, Vương Đỉnh Thực đột nhiên phát bệnh, không ăn được chút gì, mỗi ngày chỉ uống vài chén nước. Ông bèn nói với người thân thích kia:

– “Tôi kiếp trước là hòa thượng tại chùa Kính Sơn, tu hành đã được mấy chục năm, công đức cũng sắp viên mãn. Chỉ vì lúc còn sống đã nhìn thấy một người trẻ đỗ đạt tiến sĩ, trong lòng rất hâm mộ.

Không chỉ ham công danh, tôi còn có tâm mong cầu giàu sang phú quý, không cách nào đoạn tuyệt được. Chính vì vậy, tôi phải lưu lạc nơi nhân gian này hai đời, hiện tại đang là đời thứ nhất.

Không lâu nữa, tôi sẽ chuyển sinh đến một gia đình giàu có họ Diêu ở ngoại thành Thuận Trị. Việc ông giữ tôi ở lại đây cũng là duyên phận kiếp trước đã định ra như vậy”.

Người bà con kia khuyên giải, an ủi ông, thì ông nói:

– “Sinh tử đời người đều có định số, không thể dài lâu. Chỉ là ân nghĩa sinh thành của cha mẹ, không thể nói dứt là dứt ngay được”.

Thế là Vương Đỉnh Thực lấy giấy bút viết thư cáo biệt cha mẹ, trong đó đại khái nói:

– “Con cái bất hạnh, chết tha hương ngàn dặm ở bên ngoài, hơn nữa thọ mệnh ngắn ngủi, còn để lại vợ trẻ con thơ, khiến cha mẹ phải tăng thêm gánh nặng. Nhưng mà, con không phải thực sự là con của cha mẹ, em trai mới đúng là con của cha mẹ.

Con người sống trên đời không chỉ là một kiếp, mà là kiếp này nối tiếp kiếp khác, và số mệnh của mỗi người đã được an bài rất chi tiết.

Cha còn nhớ hay không, mỗi năm tại quán trà ở Kính Sơn cha đều uống trà đàm đạo với một vị hòa thượng, vị hòa thượng đó chính là con. Lúc đó nói chuyện cùng với cha thấy rất hợp, trong lòng nghĩ, cha là người trung thành, cẩn thận, phúc hậu, nhưng vì sao ông Trời lại không cho cha có một đứa con nối dõi?

Bởi vì động niệm này, cho nên con đã đầu thai thành con trai của cha. Con dâu của cha cũng là khi còn nhỏ từng kết thiện duyên với con. Điều này cũng tựa như hoa trong kính, trăng trong nước, đều là nhân duyên hư ảo, không thể dài lâu. Hy vọng cha đừng quá đau lòng, mà nên đoạn dứt hết, như thế mới có thể miễn đi tội lỗi của con”.

Người họ hàng của Vương Đỉnh Thực hỏi rằng khi nào thì ông mới đầu thai tới nhà họ Diêu, ông đáp:

– “Cả đời này tôi không gây ra tội lỗi gì, cho nên sau khi chết ở đây, sẽ lập tức chuyển sinh đến đó, không phải chờ đợi nữa”.

Vào buổi sáng ba ngày sau đó, Vương Đỉnh Thực lấy một chậu nước, rửa mặt, súc miệng xong xuôi, ngồi xếp bằng, gọi người họ hàng tới, hai người nói chuyện như thường ngày, vô cùng vui vẻ. Bỗng nhiên, ông hỏi:

– Đã đến trưa chưa?

Người thân thích nói:

– Đang là giữa trưa.

Ông nói:

– Vậy đã đến giờ rồi.

Ông vừa chắp tay cáo biệt liền tắt thở.

Người thân thích vội đến nhà họ Diêu để nghe ngóng, quả nhiên hôm đó nhà họ Diêu vừa sinh ra một đứa trẻ. Nhà họ Diêu kinh doanh ngựa, mặc dù có tiền, nhưng ồn ào bất tịnh. Người thân thích của Vương Đỉnh Thực nhìn mà lắc đầu than thở không thôi.

*Câu chuyện tuy ngắn nhưng triết lý ẩn trong đó hết sức sâu sắc. Tại sao chúng ta cứ phải lặn hụp trong kiếp người này, để rồi phải nếm đủ mùi đau khổ của sống chết, của bệnh tật, già nua, của ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc… mãi không thoát khỏi luân hồi sinh tử được?

Đó chính là do trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta khởi quá nhiều tâm ham muốn. Mỗi lần khởi một ham muốn, lập tức nó liền tạo lập ra một kiếp sống trong tương lai.

Như kiếp trước của Vương Đỉnh Thực, là một vị tăng, dù xuất gia nhưng tâm không đoạn trừ các ham muốn. Khi ông nhìn thấy một người trẻ đỗ đạt tiến sĩ, trong lòng rất hâm mộ, tức là muốn công danh, lập tức tâm đó khiến ông phải sinh ra một kiếp để theo đuổi công danh, quyền chức chính là kiếp này.

Rồi ông lại khởi tâm muốn giàu có, thế là tương lai ông phải sinh ra một kiếp làm người giàu có, tức là kiếp làm con chủ nhà họ Diêu chuyên buôn ngựa. Công đức tu hành cũng theo đó mà hao tổn, không đắc Đạo được, vì công đức tu hành đã theo như tâm mong cầu mà chuyển sang phước báo giàu có.

Rồi nhân một lần uống trà với một người Phật tử, ông lại động niệm muốn người đó có con nối dõi, thế là kiếp sau sinh làm con người đó. Ở đây là một kiếp sinh làm con ngay, nhưng nếu chưa đủ duyên, thì sẽ chờ nhiều kiếp cho đến khi duyên đủ, sẽ sinh làm con cho đúng sở nguyện.

Cứ theo quy luật trên đây mà nhìn lại mình, vô số lần chúng ta khởi ra các ham muốn, nào là muốn có tiền, muốn có tình, muốn nổi tiếng, hay muốn công danh lợi lạc, muốn du lịch, muốn mua sắm… đủ vô số thứ khác nhau, có nghĩa là ta đã tự mình tạo ra vô số kiếp trong tương lai.

Và mỗi khi tạo ra một kiếp sống mới, có nghĩa là ta sẽ có thêm một lần nếm mùi cái chết. Có vô số kiếp sống mới, có nghĩa là sẽ có vô số lần phải gặp thần chết , kèm theo vô lượng vô biên các đau khổ khác mà một kiếp sống luôn luôn phải có, như khổ của bệnh tật, của già nua, của chia lìa, của tan vỡ, của mất mát, của thất vọng, của bức xúc v.v… Chưa kể đến sống qua một kiếp người, ta bị lôi kéo của tham lam, giận hờn, ích kỉ, ganh đua… mà tạo ra đủ thứ tội lỗi, khiến phải chịu vô số quả báo lớn nhỏ, khổ nối tiếp nhau vô cùng tận.

Qua câu chuyện trên, ta nhận thấy Vương Đỉnh Thực không có duyên với pháp môn Tịnh Độ thật đáng tiếc! Với năng lực tu hành của ông nếu hồi hướng Tây Phương thì việc vãng sanh quá ư dễ dàng, và phẩm vị lại còn rất cao. Bởi vậy, Cổ Đức đã từng than thở niệm Phật là pháp môn “dễ tu mà khó tin” là thế!

Thuở xưa có đại phú gia,
Giàu sang hơn cả gần xa trong vùng.
Đong ra chỉ có một thùng,
Lấy vào một giạ mà lòng chưa ưng,
Cho vay thì bắt thế chưn.
Vốn lời trả thiếu tịch khuân gia tài,
Ruộng đồng thẳng cánh cò bay.
Không hề chia sớt cho ai một tiền,
Tuy là bạc hộc lúa thiên.
Vẫn khe khắt với tá điền từ tô,
Lúa tiền lo góp thâu vô.
Còn nhơn với nghĩa rất khô khan lòng,
Gần xa những kẻ bần nông.
Lấy làm oán ghét phú ông vô cùng,
Nhưng ông cũng chẳng ngại ngùng.
Mặc cho ai nói còn ông cứ làm.
Kể sao hết việc ông tham,
Ông tham tột bực trong làng của ông.
Vợ con còn phải bực lòng,
Bảo rằng ông chết sẽ không siêu hồn.
Thế rồi chợt có một hôm,
Ông đang sửa kiểng mấy bồn trước sân.
Bỗng đâu gió thổi qua thân,
Phú Ông xây xẩm ngã lăn trước nhà.
Người nhà liền chạy tuôn ra,
Thấy ông bất tỉnh như là chết đi.
Khiêng ông vào gọi lương y,
Bảy ngày sau đó mạnh đi như thường.
Một hôm từ chốn tha phương,
Có nhà đạo sĩ lỡ đường ghé qua.
Tối trời đường hãy còn xa,
Xin ông cho nghỉ sáng ra khởi hành.
Thấy nhà đạo sĩ hiền lành
Phú Ông liền nhận lời xin ngủ nhờ.
Giống duyên phải hợp thời cơ,
Ngay trong đêm ấy chuyện trò lại qua.
Nhà sư mới hỏi phú gia:
Bịnh ông đã phát tuần qua nặng nề,
Thoảng như trong lúc nằm mê.
Chết luôn nay xác dưới mồ phải không?
Bao nhiêu của cải tiền nong,
Chẳng đem theo được một đồng trong tay.
Làm ra chẳng dám ăn xài,
Chết rồi bỏ lại mặc ai tiêu dùng.
Lòng tham lúc sống vô cùng,
Chết rồi tham ấy còn dùng vào đâu.
Chính mình mang tiếng hiểm sâu,
Của làm ra ấy nó đâu theo mình.
Xác thân nhứt định rã sình,
Của tiền nhứt định bỏ mình ra đi.
Kiếp trần đến phút chung qui,
Bạc tiền là thứ vô nghì phải chăng?
Vì tiền làm mất thiện căn,
Vì thân để kiếp trầm thăng muôn đời.
Giữ thân trái đạo thân rời,
Làm tiền phi pháp tiền rơi không còn.
Mỗi ngày tuổi thọ mỗi mòn,
Lòng tham trái lại ngày càng thêm tăng.
Càng tham càng nặng tội căn,
Chết rồi của bỏ nghiệp mang theo mình.
Nghiệp kia dẫn lộ tử sinh,
Lần nầy khổ gấp muôn nghìn lần qua.
Để lòng suy nghiệm kỹ ra,
Tánh tham hiện kiếp phải là ngu không?
Chi bằng mượn lớp bụi hồng,
Lấp đường sanh tử, vun trồng thiện căn.
Mượn sanh tử tạo Niết Bàn,
Lấy thân bùn tạo thân vàng dài lâu.
Phú ông nghe nói gật đầu,
Khen rằng lời ấy ngọc châu không bì.
Nhận mình đã quá mê si,
Già rồi mà chẳng hiểu gì sự tu.
Chỉ lo tiền bạc góp thu,
Không lo thần chết đến ru lúc nào.
Chớ chi được thức tỉnh mau,
Tội tham đâu đến đỗi cao ngất đầu.
Diêm Vương sắp bắt đi chầu,
Hôm nay mới được lời mầu đến tai.
Phú Ông ngước mặt thở dài,
Trong lòng hối hận những ngày đã qua.
Nhà sư liền kể thêm ra,
Xin Ông chớ tưởng tuổi già hết tu.
Thật tâm hướng thiện quày đầu,
Chỉ trong nhứt khắc được chầu Như Lai.
Ví dù sắp chết ngày mai,
Bữa nay hối ngộ Liên đài cũng lên.
Tội do tâm nó tạo nên,
Thì là phước cũng tâm đền được ngay.
Tâm mê lạc cảnh trần ai,
Nếu như tâm giác Phật đài được qua.
Giác mê bất luận trẻ già,
Chỉ người giác được hay là còn mê.
Giác tu nhứt khắc Phật về,
Mê tu muôn thuở cũng là phàm phu.
Thế nên đồng một trường tu,
Người thì phát huệ kẻ ngu suốt đời.
Nhà sư vừa nói dứt lời,
Phú Ông vừa cũng đồng thời phát tâm.
Bắt đầu mộ đạo huyền thâm,
Lợi danh gác bỏ chuyên tâm tu hành.
Bao nhiêu tiền của đã dành,
Đem ra bố thí nhơn sanh xa gần.
Vừa làm nuôi sống xác thân,
Vừa đi khuyên giải nhơn dân tu hiền.
Thôn quê cho đến thị thiền,
Nhờ ông mà tạo phước duyên rất nhiều.
Liền vào ở một buổi chiều,
Hào quang sáng rực trên lều Phú Ông.
Người gần thấy lạ đến trông,
Thì ra thấy xác Phú Ông đang ngồi.
Nhưng ông đã nhập tịch rồi,
Chấp tay vào ngực thân ngồi nghiêm trang.
Trên đầu phóng một hào quang,
Hào quang ấy rọi đến ngàn dậm cao.
Người gần xa xúm lại nhau,
Chấp tay quì xuống thì thào vái van.
Trẻ già cùng một lời rằng,
Phú Ông đã nhập Niết Bàn không sai.
Lời này thấu đến gái trai,
Lòng vừa cảm phục vừa quay đường lành.
Phú Ông nhờ có tâm thành,
Cho nên nhứt khắc tu hành được siêu.

********

Nhan nhản xung quanh chúng ta có những gia đình mà trước kia giàu sang, phú quý không ai bằng nay tán gia bại sản sống nhờ vào sự thương xót, che chở của người thân hoặc chúng bạn. Tất cả đều đã đổi thay, tất cả dường như đang đi vào cái khúc quanh, ngã rẽ của cuộc đời. Nhưng không đâu, đó chính là cảnh màn thật của cuộc đời mà chúng ta do vì ảo tưởng và nhận thức lầm lạc nên mới cho rằng, tiền bạc, tài sản, danh vọng và thân mạng mình đây phải thường hằng ở nơi mình. Phải chi nếu chúng ta có một sự hiểu biết như thật theo lẽ đạo rằng, tất cả sẽ đổi thay, thân mạng cùng tài vật này vô thường sớm còn tối mất, danh vọng chỉ là hương thơm trước gió, thì khi cơn bão táp phũ phàng của định luật sinh diệt thổi đến, chúng ta sẽ bớt đi cảnh tuôn rơi nước mắt, ruột cắt lòng đau có lúc đến phải tuyệt vọng tìm cách quyên sinh tự vẫn.

Làm người phải xứng đáng người,
Ở ăn cho sạch nói cười cho thanh.
Con người thấy lợi ra giành,
Khác nào thú vật chạy tranh lấy mồi.
Lợi chung việc đáng lắm rồi,
Lợi riêng để hại cho người là nhơ.
Từ xưa chí đến bây giờ,
Những người bất nghĩa ai thờ tới đâu.
Giàu sang bạc chất ngang đầu,
Làm điều bất chánh có lâu bao giờ.
Thấy ai lâm nạn ngó lơ,
Khi mình hữu sự khó nhờ người ta.
Ở đời có lại có qua,
Biết mình không biết người là lầm sai.

Bạc tiền, vật chất tất nhiên là có thể đem lại sự sung sướng cho thân, nhưng quyết định không thể đem lại an lạc và hạnh phúc trong tâm hồn; vậy mà điều này lại có thể phát sinh trong tâm hồn chúng ta, khi chúng ta biết đón nhận qua sự học hiểu của trí tuệ và tư duy về nó. Còn nếu một mực tin rằng tiền bạc có thể làm nên tất cả, kể cả an lạc và hạnh phúc trong đời sống con người thì chúng ta vô tình đã đi quá đà với niềm tin thiếu sự sáng suốt kia, điều ấy không khéo dừng lại, ta có thể gây tạo nên nhiều hành động lỗi lầm để sẽ đưa đến kết quả khổ đau trong hiện tại và mai sau. Vì sao? Vì tiền bạc có thể là mẹ đẻ của mọi tội ác kia mà? Nói như vậy và chúng ta cũng có thể thấy và chiêm nghiệm sự thật này ngay trong đời sống hàng ngày.

Do Phật giáo quan niệm tiền bạc là phương tiện của sự sống, nên luôn luôn nhìn nó với cặp mắt khách quan và cẩn trọng. Người tu sống với giáo lý và niềm tin này nên có lúc dùng tiền bạc ấy làm phương tiện để lợi tha cho người theo hạnh Bồ Tát – vì con người cần nó, nhưng để đi vào sự biệt lập sống an trú trong chánh niệm và cầu sớm giải thoát cho tự thân, người tu không cần tiền bạc và đã không giữ nó. Nhan nhản trước mắt chúng ta đã có rất nhiều vị xuất gia lẫn tại gia sống theo hạnh lành này, trong tay, trong túi, trong đãy, trong thất không giữ một đồng xu nào ngoài ba bộ y phục và với số vật dụng tối thiểu cần thiết trong sinh hoạt thường nhật, luôn sống đời sống cực kỳ đơn giản thanh đạm, biết đủ thường vui!

Một số các vị tăng khác lại sống theo hạnh Bồ Tát với tiền rừng bạc bể trong tay, nhưng cả một sản nghiệp cơ ngơi bạc tiền ấy, là nhằm phục vụ lợi ích cho chúng sanh mà thôi. Trong giới luật cũng có những giới chế cấm giữ bạc tiền, nhưng trong Bồ Tát giới lại cho phép người tu được giữ và dùng tiền để làm việc lợi sanh. Thế nên Phật giáo luôn luôn là con đường lớn, là cánh cửa mở rộng, là giáo lý chỉ cho người cách sống và sống đúng, hợp với những điều lành thánh thiện, chứ không phải là một giáo lý áp chế và buộc con người phải sống đúng theo những mẫu mực và quy thước chết cứng nào đó!

Ai có của bỉ khinh cũng mặc,
Đừng vì tiền gay gắt với ai.
Có ra thì đỡ xây xài,
Không thì nhịn chịu chớ cay đắng lòng.
Nghèo nhớ giữ lòng trong dạ sạch,
Giàu đừng quên bố đức thi ân.
Có dư chớ hưởng riêng thân,
Nên cho kẻ khác lây phần ấm no.
Được như vậy được kho công đức,
Sống đời đâu khổ cực vì đời.
Trong tâm thường được thảnh thơi,
Tuy trong cõi tục mà đời Thần Tiên.
Tiên với tục dính liền mặt trái,
Để vậy phàm lộn lại là Tiên.
Cũng thời xử dụng đồng tiền,
Người lo quần chúng kẻ riêng lo mình.
Lo quần chúng là tình Tiên Phật,
Lo riêng mình là chất phàm nhân.
Tình Tiên Phật hết trầm luân,
Chất phàm nhân tất còn thân luân hồi.

2/-  Sắc đẹp

Nói đến cái sắc đẹp, thông thường người ta nói đến cái sắc mặt và vẻ đẹp nơi người khác phái.

Con người ta khi được sinh ra nơi cõi đời này đều là do duyên nghiệp mà thành; nhưng bên trong cái duyên nghiệp ấy, mỗi người lại được trang bị những vũ khí lợi hại cho chính họ. Người phụ nữ thì trang bị sắc đẹp như là một yếu tố cần thiết để chinh phục lòng người. Người nam thì trang bị bằng những lời nói khéo, đưa đẩy, khôn ngoan để lôi cuốn đối phương. Suy cho cùng cả hai dù bằng cách nào đi nữa, dù mang một ý nghĩa nào đi nữa, khi tìm đến với nhau thì cũng là cung cách, ăn nói và mọi hành vi xử sự theo cái nghiệp câu thúc từ bao nhiêu đời.

Khi đến với nhau thì thường là người ta đến trước nhất với cái sắc đẹp, mà nam nữ gì cũng vậy chẳng ra ngoài biệt lệ. Vậy thì phải chăng sắc đẹp chính là thước đo mẫu mực giữa người và người với nhau để trong đó người ta tìm ra được chút ý vị và hạnh phúc của cuộc đời? Đôi lúc người ta chấp nhận cái đẹp, sở hữu được cái đẹp dù phải chịu nghèo hèn, mất danh giá hoặc đôi khi bị hủy hoại hy sinh cả cuộc đời!

*U Vương họ Cơ, tên Cung Niết, là một vị vua thời Tây Chu, chỉ thích ăn chơi hưởng thụ dục lạc. Từ khi được nước Bao hiến tặng một mỹ nhân tên Bao Tự, U Vương cả ngày mê mẩn với vẻ đẹp sắc nước hương trời của cô gái xinh đẹp này. Đẹp đến mức hoa cũng phải ganh tỵ nhưng Bao Tự có tính tình kỳ quái, suốt ngày đăm chiêu và suy nghĩ chẳng bao giờ nở một nụ cười.

Khi U Vương đem điều thắc mắc này mà hỏi, thì Bao Tự đáp rất thản nhiên: “Tiện thiếp tính vốn ít cười. Tự nhiên như vậy”.

Sủng ái và mê đắm Bao Tự bao nhiêu thì U Vương càng mong mỏi được trông thấy nụ cười của nàng bấy nhiêu. Người đẹp mà cười thì ắt nụ cười càng đẹp, và nàng càng duyên dáng, quyến rũ biết bao nhiêu.

Dò hỏi mãi, nghe Bao Tự nói: “Tiện thiếp chẳng thiết gì cười. Hôm trước có người xé lụa, nghe âm thanh ấy cũng lấy làm vui”

U Vương vô cùng mừng rỡ. Ông bèn truyền lệnh cho viên quan giữ kho, mỗi ngày phải dâng vào cung 100 tấm lụa, rồi sai cung nữ đứng xé. Đúng là vị hôn quân, có thể bỏ cả ngàn vàng để tìm mua một nụ cười của người đẹp. Nhưng dù đắt đỏ đến vậy thì khi hàng ngàn tấm vải lụa bị xé nát tan, nàng Bao Tự kia vẫn chỉ dừng lại ở sự biến chuyển nét mặt, có tươi vui hơn một chút chứ vẫn chưa chịu nhoẻn miệng cười với nhà vua một cái nào.

Dĩ nhiên là U Vương vẫn chưa hài lòng. Ông đã khẳng khái tuyên bố với người đẹp rằng: “Trẫm sẽ có cách làm cho ái khanh cười!”.

Sau đó, U Vương bèn truyền cho quần thần ai tìm được cách gì làm cho Bao Tự cười thì được trọng thưởng. Sau trăm phương nghìn kế nhưng vẫn bất thành, có một viên quan tên là Quách Thạch Phủ đã hiến kế rằng:

– Tiên vương xưa có xây hơn hai mươi chòi canh (phong hỏa đài) ở Ly Sơn, lại đặt mấy mươi cỗ trống to, phòng lúc có giặc sẽ nổi lửa trên chòi và đánh trống báo hiệu cho các chư hầu đem quân đến cứu. Ðã lâu rồi thiên hạ thái bình, không bao giờ dùng tới. Nay nhà vua muốn cho Hoàng hậu cười thì xin nhà vua hãy cùng Hoàng hậu ngự chơi Ly Sơn, rồi đến đêm nổi lửa đốt lên, bấy giờ chư hầu các nơi sẽ đem quân đổ đến. Hoàng hậu thấy chư hầu bị mắc lừa tất phải bật cười.

U Vương nghe theo. Quả nhiên, khi nhìn thấy các quân chư hầu chạy đến chòi canh rồi mặt người nào người nấy đớ ra vì không thấy gì thì Bao Tự đã bật cười nắc nẻ. Hạnh phúc và sung sướng tột bậc, U Vương đã thưởng cho kẻ bày mưu hẳn một ngàn lạng vàng.

Khi làm việc này, chắc chắn U Vương không hề lường trước hậu quả kinh khiếp đã xảy ra sau đó. Vốn là khi các chư hầu kéo quân đến tiếp cứu nhưng không thấy giặc đâu, chỉ thấy U Vương và Bao Tự đang say sưa chè chén và cười nói ha hả thì đâm ra giận dữ và không còn niềm tin với vị vua này nữa. Chính vì vậy nên sau này, khi Thân Hầu mượn quân của Khuyển Nhung tiến đánh U Vương, cho dù U Vương cố gắng nổi lửa đài báo để nhờ cứu giúp nhưng không có một bóng quân chư hầu nào đến nữa. Kết cục, không thể địch nổi, U Vương đại bại và chết ở núi Li, Bao Tự bị bắt, còn kinh thành bị chiếm. Đất nước Tây Chu vì thế mà bị diệt vong.

Vậy nên Lý Bạch, thi hào đời nhà Ðường mới có câu: “Mỹ nhân nhất tiếu hoán thiên kim” (Nụ cười của người đẹp đổi ngàn vàng).

Nói ngàn vàng tưởng như đã là quá đắt đỏ, vậy mà vì một nụ của người đẹp Bao Tự, U Vương đã phải đánh đổi bằng cả giang sơn và chính mạng sống của mình. Có lẽ, nụ cười của Bao Tự chính là nụ cười đắt giá nhất trong lịch sử nhân loại.

Mạng căn như đóa phù dung,
Muốn ham chưa thỏa kế chun vào hòm.
Nếu để mắt mà nom đích xác,
Công Dã Tràng xe cát biển đông;
Của tiền nhiều lấp cạn sông,
Người yêu đứng lợp cả đồng cũng thôi.
Uổng công đổ mồ hôi nước mắt,
Vào tình yêu vào các lợi danh;
Chỉ gây lấy tội vào mình,
Thân không trường hưởng, hồn linh đọa đày.
Chi bằng lấy những ngày trụy lạc,
Lo tìm đường giải thoát trần ai;
Đem đời ngắn đổi kiếp dài,
Đó là biết dụng trí tài phải nơi.

Khi bàn đến sắc đẹp thì mỗi người lại mỗi ý trong cách nhìn, cách đánh giá, nhận xét. Nhà văn, nhà thơ nhìn sắc đẹp với một cái nhìn khác, kẻ hạ tiện ngu dốt nhìn cái đẹp khác. Người trí thức, kẻ cao sang nhìn sắc đẹp khác và kẻ nghèo cũng nhìn sắc đẹp trong cái nhìn khiêm tốn của họ. Người tại gia nhìn sắc đẹp khác, người xuất gia cũng nhìn sắc đẹp với cái nhìn khác. Trong Hạnh Du Già của bậc Bồ Tát, ngài Thánh Thiên có viết rằng:

“Dầu ai đó thấy sắc diện của nàng; Tự nghĩ lòng thỏa mãn. Nhưng hãy xem chó, các loài khác cũng vậy. Sao, ta kẻ khờ dại lại còn bị mê đắm.”

Giải thích bài kệ trên, Ngài cho rằng cái sắc mà người ta cho là đẹp ấy, chẳng qua là do vì cái thấy của nghiệp nên lòng tự cảm thấy thỏa mãn, như người này say đắm người kia thì cho là đẹp dù người ấy chẳng đẹp tí nào. Ví như loài vật con chó, con quạ, con gà, con giòi… cũng cho đồng loại của nó là đẹp. Rồi những con quỷ  dạ xoa cũng thích thú say mê sắc đẹp của những con quỷ, dạ xoa khác phái của nó dù rằng chúng ta thấy cũng phải kinh sợ đến nổi da gà. Có một chuyện kể rằng, một bọn quỷ và dạ xoa nọ tranh cãi với nhau rằng vợ của ai đẹp hơn và ai cũng đòi cho là vợ mình đẹp hơn cả. Cuối cùng không phân được hơn thua, bọn chúng, bèn đến hỏi một vị tăng và vị này trả lời rằng: “Người mà ông say mê nhất chính là người đẹp nhất”.

Cái sắc hay cái đẹp của con người, của vạn hữu tự nó chẳng phải là cái tội hoặc lỗi lầm mà có chăng là do cái chất liệu tham ái, si mê và chấp thủ của con người rót vào nó mà ra. Trong những sách về thiền quán có tả những cái đẹp ấy của con người, vạn hữu và ví nó như cái đẹp trong sáng, tinh sơ như bầu trời, như mây trắng và ở đó có cái đẹp, trong trắng, bao la và lồng lộng nhưng ví cái tâm tham ái, và chấp thủ – mà người ta muốn đem những cái đẹp của bầu trời, của đám mây trắng kia cất giữ vào trong những chiếc bình chiếc lọ – là bản ngã và si mê. Ta vẫn có thể nhìn cái đẹp ấy ở bên ngoài với trời cao lồng lộng, với mây trắng bạt ngàn mà vẫn thấy đẹp và hạnh phúc vô cùng, vì có những ý tưởng khoáng đạt thì tâm hồn mới cởi mở và bao dung, còn không thì chỉ nghĩ biết có mình, có ta. Tất cả những gì hiểu biết xuất phát từ si mê và bản ngã, đều làm cho con người sống ích kỷ hơn, gò bó và bao trọn chung quanh một gia đình.

Vị Quân Vương si tình!

Vạn Trinh Nhi vốn là người Sơn Đông. Nàng vào cung từ năm lên 4.

Năm 19 tuổi, được Thái hậu chọn làm bảo mẫu cho tiểu Thái tử 2 tuổi là Chu Kiến Thâm.

Nhà vua từ ngày còn rất nhỏ đã được cung nữ Vạn Trinh Nhi luôn ở bên che chở, hầu hạ và an ủi. Từ đó, tình cảm mà vua dành cho nàng dần trở thành tình yêu nam nữ từ lúc nào không hay.

Theo sử sách ghi lại, nữ nhân tên Vạn Trinh Nhi giữ một vai trò vô cùng phức tạp đối với thái tử Chu Kiến Thâm. Nàng vừa là mẹ, là chị, là bạn, là nô tì, lại cũng là người tình.

Năm 18 tuổi thái tử lên ngôi, lấy hiệu là Minh Hiến Tông, nhà vua vẫn không quên tình cảm bao năm với Trinh Nhi. Ông sắc phong cho người tình 35 tuổi của mình là Hoàng quý phi. Đây là chuyện xưa nay chưa từng có trong lịch sử hoàng thất ở Trung Quốc.

Sở dĩ vua không thể phong Trinh Nhi làm Hoàng hậu là bởi tuổi tác của nàng khi đó đã quá cao. Dẫu vậy, Trinh Nhi vẫn được vua yêu chìu hết mực. Đương kim Hoàng hậu xinh đẹp, trẻ trung lúc bấy giờ vì bị Hoàng đế bỏ rơi nên đã nổi cơn ghen, bày mưu hãm hại Trinh Nhi nhưng cuối cùng chính Hoàng hậu lại là người bị trừng phạt và phế truất, giam vào lãnh cung sau 31 ngày sắc phong.

Theo lệnh Chu thái hậu, Hiến Tông lập Vương hoàng hậu lên thay thế nhưng vua lại không sủng ái bà. Minh Hiến Tông lại tiếp tục muốn phế hoàng hậu hòng lập Trinh Nhi lên thay, nhưng nhờ thái hậu che chở nên Vương Hoàng hậu vẫn giữ được ngôi vị.

Hiến Tông phong thêm chữ Hoàng vào ngôi vị của Vạn Trinh Nhi, trở thành Vạn Hoàng quý phi, địa vị của bà lúc này là cao quý nhất trong cung chỉ dưới hoàng hậu. Vương Hoàng hậu không mâu thuẫn với Vạn Hoàng quý phi nên từ đó Trinh Nhi trở nên kiêu ngạo, tác loạn cung đình, tàn ác hãm hại các phi tần khác, bất chấp lễ nghi xem thường hoàng hậu.

Một năm sau khi được sắc phong, Trinh Nhi sinh cho vua Minh Hiến Tông một tiểu hoàng tử. Đáng tiếc, hoàng tử vừa sinh ra được 1 tháng đã chết yểu. Từ đó về sau, bà không sinh thêm được đứa con nào nữa. Kể từ ngày mất đi đứa con, bà sanh lòng căm ghét, thù hằn, hễ cứ thấy phi tần nào có thai là tìm cách hãm hại thai nhi.

Một cung phi họ Kỳ đã mang thai và sinh hạ một bé trai, nhưng vì lo sợ hai mẹ con bị hãm hại, một viên thái giám đã mang giấu đứa bé ở một nơi an toàn. Một thời gian sau, khi vua biết chuyện, liền vui mừng cho đón hai mẹ con vào cung. Vạn Quý phi nổi giận, lập tức sát hại Kỳ Thị. Viên thái giám kia cũng quá hoảng sợ mà tự vẫn. Hiến Tông mặc dầu biết rất rõ mọi chuyện nhưng không hề trách mắng bà, ngược lại còn hết lần này tới lần khác nhường nhịn bà.

Năm Trinh Nhi 58 tuổi, trở thành một bà già có thân hình sồ sề và ú béo phục phịch, vua Hiến Tông vẫn yêu và nể sợ bà. Hôm nọ, trong một lần giận dữ đánh cung nữ, vì bà béo phục phịch nên đã đứt hơi mà chết. Nhà vua nghe tin thì đã đau khổ như đứt từng khúc ruột. Ông gào khóc thương tiếc người mình yêu thương nhất của đời mình:

– Vạn Hoàng quý phi bỏ đi rồi, ta còn ở lâu sao được?

Từ đó, ông âu sầu, u uất mà sinh bệnh. Chỉ vài tháng sau khi bà qua đời, vua Hiến Tôn vì quá đau buồn nên cũng về bên kia thế giới ở tuổi 40.

*****

Sinh ra trong cuộc đời này đâu phải chỉ có mình ta với cha mẹ ta, hay mình ta với vợ ta, con cái và gia đình ta. Cả thiên hạ nay gần 7 tỷ người hiện đang ở đây, chung quanh ta; cả thiên hà đại địa với trời cao đất rộng và cả muôn ngàn tinh tú, muôn triệu hành tinh xa xôi. Thấy và biết mình chỉ là một phần tử cỏn con giữa cuộc đời, như hạt bụi nhỏ nhít giữa sa mạc là ta thấy rõ hơn được cuộc sống mà ta đang sống. Biết được rõ hơn về cuộc sống, con người chung quanh và mình chính là ta thấy được niềm vui và hạnh phúc của cuộc đời. Hạnh phúc của cả cuộc đời mà trong đó có ta đang sống chứ không phải chỉ là hạnh phúc của ta và riêng ta mà thôi.

Trong kinh Khổ Ấm, đức Phật cũng nói cho các đệ tử của Ngài nghe về cái chất ngọt của sắc đẹp, cùng những tai họa theo sau của nó rằng:

“Như có các thiếu nữ dòng Sát đế lợi hay Phạm chí, cư sĩ lúc đến tuổi 14, 15 là lúc có sắc đẹp mặn mà nhất. Nếu chúng ta trông thấy sắc đẹp ấy, có được nhân duyên nhìn thấy sắc đẹp ấy thì lòng sinh vui mừng hoan hỷ, vị ngọt của sắc đẹp chỉ tạo cho ta cảm giác đến tột cùng đó chứ không hơn nữa, nhưng tai họa của sắc đẹp theo sau thì có rất nhiều.

Thế nào là tai họa của sắc? Nếu thấy nàng ấy về sau trở nên hết sức già yếu, đầu bạc, răng rụng, lưng còm gối rũ, chống gậy mà đi, tuổi trẻ đã tàn, mạng sống sắp hết, thân thể run rẩy, các căn hư mòn; ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất mà sinh ra tai họa chăng?

Lại nữa, nếu nàng ấy bị bệnh nằm liệt giường hay lăn lóc trên đất, vì khổ bức bách thân thể, chịu khổ cùng cực; ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất mà sinh ra tại họa chăng?

Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy đã chết từ một hai ngày đến sáu bảy ngày, đang bị quạ, diều hâu mổ, hoặc đã được hỏa thiêu hay chôn lấp, hay đang bị mục nát hư hoại, ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia  đã biến mất mà sinh ra tại họa chăng?

Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, mục nát quá nữa, xương vãi trên đất ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất mà sinh ra tại họa chăng?

Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, tiêu hết da thịt, máu huyết, chỉ còn dính gân, ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất mà sinh ra tại họa chăng?

Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, xương rời từng đốt, tản mác khắp nơi: xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi, ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất mà sinh ra tại họa chăng?

-Bạch Thế tôn, tất cả đều đúng như vậy! Tất cả đó đều là tai họa của sắc.”

Phật rằng đời là bể con ơi!
Khắp chúng sanh lặn lội hết hơi,
Rốt cuộc chết đuối nơi biển khổ.
Lòng càng lắm say mê ham hố,
Càng thêm nhiều nỗi khổ nọ kia;
Chúng sanh luôn sống cảnh xa lìa,
Ái ân mấy cũng chia đôi ngả.
Không ai được hoàn toàn thích thỏa,
Hầu hết mang lắm lẽ ưu sầu;
Cái điều mà ai cũng bám câu,
Là sắc dục có đâu bền chặt.
Lúc thơ trẻ thì còn hương sắc,
Khi già rồi mất hết dung nhan;
So sánh nào khác cánh hoa tàn.
Trôi trên nước nằm lăn trên lọ.
Từ cái đẹp khiến ai cũng ngó,
Rồi xấu đi không kẻ nào nhìn;
Thế mà chưa dứt được ái tình.
Đeo đắm mãi đến lên giàn hỏa.
Chịu muôn nỗi cực hình đày đọa,
Kiếp nầy qua kế cả kiếp sau;

Nhìn cảnh chết chóc mới thấy cuộc đời vô thường và giả tạm làm sao, vì con người ta mới sống phút trước đó mà phút sau đã chết. Và khi chết rồi xác thân này trông thật là gớm giếc; có cái sình lên, có cái nát bét, có cái đứt đầu gãy cổ thật là sợ, nhưng đôi khi nghĩ lại thì có chắc gì cái chết của mình một mai kia sẽ không giống như vậy. Cái chết của con người rồi thì ai cũng sẽ rất gớm, dù rằng người đó giàu sang và xinh đẹp thế nào đi nữa thì sau một vài ngày chưa chôn cất kịp, máu mủ cùng mùi hôi thúi sẽ bốc lên, mọi người kể cả những người thân, người yêu nhất của chúng ta cũng sẽ cao chạy xa bay.

Xác thân tứ đại có gì đâu?
Trang điểm phấn son ướp mỡ dầu.
Bọc lớp da ngoài coi đẹp nhỉ,
Trong ruột đố người dám ngửi lâu.

Phật độ một tỳ kheo trẻ vượt khỏi ái dục

Thuở xưa Đức Phật thuyết pháp tại tinh xá Kỳ-hoàn nước Xá-vệ. Lúc ấy có một vị Tỳ kheo trẻ vào thành khất thực. Ông trông thấy một thiếu nữ thật là xinh đẹp, lòng liền khởi niệm sắc dục, quyến luyến mãi không dứt. Do đó, dần dần ông mang bệnh. Bỏ ăn uống, mặt mày tiều tụy nằm liệt trên giường. Các bạn đồng đạo đến thăm hỏi nguyên nhân bệnh tình. Vị Tỳ kheo trẻ cứ như thật giải bày. Ông nói rằng mình muốn bỏ tu, kết tình ân ái với cô ấy, song vì không được như ý nguyện nên lâu ngày buồn khổ thành bệnh tương tư.

Các huynh đệ đồng đạo hết lời khuyên can song ông vẫn không làm sao quên được hình bóng giai nhân ấy. Thấy vậy, mọi người mới dìu thầy đến chỗ Phật, kể hết mọi chuyện cho Ngài nghe. Đức Phật bảo với vị Tỳ kheo trẻ tuổi:

– Nguyện ước của thầy dễ thành thôi, đâu có gì mà phải ôm mối sầu thương! Ta sẽ tìm cách giúp thầy mãn nguyện, hãy vui vẻ dậy ăn uống cho khỏe lại đi!

Vị Tỳ kheo nghe xong trong lòng vô cùng mừng rỡ, bao nỗi u buồn sầu khổ bỗng dưng bay biến không còn một tý vết tích nào, ma bệnh đột nhiên tiêu tan trong chớp mắt.

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền dẫn vị Tỳ kheo trẻ và đại chúng vào thành Xá-vệ, tìm đến nhà người đẹp nọ. Đến nơi mới hay cô gái đã chết ba ngày rồi, thi thể còn quàng tại nhà vì gia đình thương khóc không nỡ đem chôn. Lúc ấy thân cô đã sình lên, đồ bất tịnh chảy thành mùi hôi thối khó chịu. Đức Phật liền bảo vị Tỳ kheo:

– Thầy thấy chăng? Người mà thầy hổm nay mơ tưởng đến đổi bỏ ăn bỏ ngủ hiện giờ đã như vậy. Vạn vật vô thường trong hơi thở. Người ngu chỉ nhìn bên ngoài mà không thấy được chỗ nhơ xấu bên trong, cứ mãi ràng buộc trong lưới tội mà cho là khoái lạc!

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

Thấy sắc tâm mê tưởng
Chẳng xét lẽ vô thường
Người ngu cho là đẹp
Giả dối lại yêu thương.
Đắm mình trong dâm lạc
Tằm kéo kén khác chi
Người trí tuệ dứt hẳn
Hết khổ não sầu bi.
Người tâm ý buông lung
Dâm nhơ cho là sạch
Tình ân ái sâu nặng
Là lao ngục trói trăn.
Người tỉnh giác trừ dâm
Bất tịnh quán để tâm
Nhờ đó khỏi lao ngục
Già chết dứt tận mầm.

Tỳ kheo trẻ tuổi lúc ấy trông thấy người đẹp thân thể sình thúi khó thể đứng gần, lại nghe bài kệ giảng dạy rất rõ, nên hổ thẹn tỉnh ngộ, biết mình trước đây quá đổi si mê lầm lẫn. Thầy bèn đảnh lễ, dập đầu sám hối với Đức Thế Tôn. Đức Phật hứa khả, cùng đại chúng trở về tinh xá.

Từ đó ông liều chết công phu, dõng mãnh tinh tấn tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-la-hán. Đại chúng được đi theo hôm đó thấy sắc dục ô uế, thâm tín được lẽ vô thường, tham ái lần dứt rất nhiều người cũng chứng được đạo quả.

Trong luận phẩm 400 bài kệ hành hạnh Du Già của bậc Bồ Tát, ngài Thánh Thiên (Aryadeva) đã nói về cái sắc đẹp như sau:

“Có ý nghĩa gì với một người đàn bà trong cái sắc đẹp tuyệt trần dưới mắt một người có trí tuệ, khi họ nhận biết rằng những phần bất tịnh của thân thể cô ta đều luôn tuôn chảy ra những thứ bất tịnh. Thân thể ấy tựa như nhà xí, nơi chứa đầy các dơ bẩn tanh hôi”.

Đã là người phụ nữ và là người phụ nữ có sắc đẹp thì ai cũng biết điều này, và họ hay dùng nó để đạt đến mục tiêu cho cuộc đời của họ. Mục tiêu của một người phụ nữ có sắc đẹp như chim sa cá lặn hay xấu xí thật ra cũng chẳng khác biệt gì mấy, ngoài việc tìm kiếm người tình thích hợp cho mình qua tính tình ôn nhu, giàu có, bằng cấp và đẹp trai chẳng hạn.

Lấy một cái nhìn khách quan và toàn vẹn về một người có sắc đẹp từ trẻ cho đến già và từ già nhìn ngược lại, ta sẽ chẳng thấy có gì đáng phải quan tâm. Tất cả rồi cũng trôi qua như một giấc mộng phù du, dù là cũng chính người ấy khi về già và nhìn lại cuộc đời của họ khi còn sắc đẹp, còn niên thiếu. Nhưng cái sắc đẹp khi họ còn sở hữu trong tay, còn được thao túng để làm điên đảo cho hàng trăm, hàng ngàn trái tim người khác phái, thì chưa hẳn thật sự là thú vị, là hạnh phúc, suốt thời gian của dầu sôi lửa bỏng mà họ đang thủ một vai chính đầy quyền hành.

Theo đạo Phật thì một người sinh ra và sở hữu được sắc đẹp là một điều quý báu. Điều này không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do may mắn hoặc do một vị Thượng Đế nào ban cho, mà do chính tự phước đức gây tạo của họ trong những kiếp quá khứ. Thế nên được sinh ra làm người là một điều quý báu, thân thể và sắc mặt được đẹp lại càng quý báu hơn. Tuy nhiên nếu ý thức được điều quý báu này thì ta sẽ cố làm cho nó đẹp và quý báu hơn nữa ở nhiều kiếp sống tới, còn nếu chỉ để dùng nó giới hạn trong một đời này, hay chỉ trong khoảng một thời thanh xuân của niên thiếu thì quả là một điều thiếu khôn ngoan.

Trần Viên Viên và hai vị vua mất nước

Trần Viên Viên, xuất thân từ một gia đình lao động nghèo ở thôn Thái Nguyên, Vũ Tiến, Hình Châu.

Trần Viên Viên, là một mỹ nhân cuối thời Minh, đầu thời nhà Thanh. Nàng từng được xưng tụng là một trong Tần Hoài Bát Diễm và cũng bị quy cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc danh tướng Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh chiếm Trung Nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Viên Viên là mỹ nhân để lụy anh hùng.

Mẹ Viên Viên sinh nàng chẳng được bao lâu thì mất. Cha vốn là một người buôn bán nhỏ nhưng do hoàn cảnh bần hàn nên đã bỏ đi xa, để lại cô con gái duy nhất cho người em vợ nuôi. Do hoàn cảnh mồ côi sớm, lớn lên Viên Viên mang họ Trần, theo họ của chồng người dì ruột đã có công nuôi dưỡng nàng. Bà cho người đến dạy dỗ, Trần Viên Viên đã sớm thành thục cầm, kỳ, thi, họa… Viên Viên vốn có sắc đẹp hơn người, xinh đẹp hơn cả hai cô công chúa Trường Bình và công chúa Chiêu Ân con vua Sùng Trinh lúc bấy giờ, thông thạo đàn hát nên có rất nhiều nam nhân đến xem nàng biểu diễn.

Khi trưởng thành, Viên Viên đã lọt vào “mắt xanh” của một kỹ viện nổi tiếng nhất Giang Tô. Tiếng tăm của nàng đã nhanh chóng lan ra khắp thiên hạ, nàng còn được biết đến bằng cái tên “Giang Tô đệ nhất kỹ nữ”.

Ngoài nhan sắc, Viên Viên còn có kỳ tài về cầm, kỳ, thi, họa nổi bật so với những kỹ nữ cùng thời. Khi ấy, hoàng đế Sùng Trinh đang sủng ái Điền Quý phi, làm cho Chu hoàng hậu rất ghen tức. Biết chuyện, cha của Chu hoàng hậu đến kỹ viện bỏ tiền ra mua Viên Viên, để đưa vào cung phục vụ hoàng đế. Kề cận được Viên Viên, Sùng Trinh cứ ở mãi trong cung không muốn ra thiết triều. Sau vì chính sự đảo lộn, giặc giã nổi lên khắp nơi như ong vỡ tổ, vua Sùng Trinh nghe lời can gián các quan nên tự sửa mình bằng việc bỏ chốn phòng the, xa rời nữ sắc, nhưng sự việc đã quá muộn màng. Viên Viên vì thế bị đem trả lại cho cha của hoàng hậu.

Trong một bữa tiệc tại phủ, quốc trượng Chu Khuê cho Viên Viên ra múa hát, nhan sắc cùng tài năng của nàng đã lọt vào mắt xanh của Ngô Tam Quế. Khi viên võ quan này được cử ra trấn thủ Sơn Hải quan, để ngăn chặn quân Mãn Châu, Sùng Trinh đã ban Viên Viên cho Ngô Tam Quế.

Tiếc rằng trời xanh ghen gái má hồng, Viên Viên chưa được thỏa tình gần gũi người anh hùng thì có chiếu chỉ của triều đình ban xuống, lệnh cho Ngô Tam Quế cấp tốc phải về quan ải, chỉnh đốn quân binh sửa soạn chống đỡ với giặc ngoại xâm. Ngô Tam Quế đành dứt áo ra đi, để lại người vợ trẻ mới cưới mấy ngày cho phụ thân chăm sóc.

Năm 1644, lực lượng của Lý Tự Thành vào chiếm Bắc Kinh, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Đại Thuận. Sùng Trinh bỏ chạy rồi treo cổ tự tử ở Môi Sơn. Viên Viên bị Lý Tự Thành chiếm đoạt và cướp vào trong cung hầu hạ. Khi nghe tin quân nổi dậy uy hiếp kinh đô, Ngô Tam Quế liền dẫn binh về cứu. Dọc đường, biết Bắc Kinh đã thất thủ, vua Minh đã chết, lại nghe Lý Tự Thành dụ dỗ nên Ngô Tam Quế đã định hàng. Nhưng khi hay ái thiếp của mình là Viên Viên bị Lý Tự Thành chiếm đoạt, Ngô Tam Quế nổi giận, đến xin hợp với quân Thanh, dẫn quân Thanh quay về đánh kinh thành. Đây là một quyết định rất quan trọng ảnh hưởng nhất đến lịch sử Trung Quốc bấy giờ.

Trong cuộc chiến, Lý Tự Thành rơi vào thế cùng, phải dùng kế sách dùng người thân trong gia đình họ Ngô ép buộc Ngô Tam Quế dừng tay. Chứng kiến tiếng la khóc ai oán của những người thân, Ngô Tam Quế hết sức đau đớn nhưng vẫn chú ý là số con tin do Lý Tự Thành cầm giữ không có hình bóng Viên Viên nên quát lớn hỏi lại… làm Lý Tự Thành hô quân mang toàn gia họ Ngô ra chém đầu ngay tường thành. Ngô Tam Quế chỉ còn biết đứng chết lặng như tượng đá hồi lâu rồi ngã ra bất tỉnh.

Cuộc chiến tranh lần hai này được sử sách ghi chép lại đã trở thành cuộc nội chiến vô cùng đẫm máu, khiến rất nhiều binh lính và dân thường thương vong, làng mạc xác xơ hoang tàn, cảnh tượng máu chảy đầu rơi khắp chốn.

Chính Ngô Tam Quế đã mở toang quan ải đưa quân Thanh đánh thẳng vào Bắc Kinh. Từ đây, nhà Thanh áp đặt nền cai trị gần suốt 300 năm, mãi cho đến khi Phổ Nghi thoái vị vào năm 1912.

Khi Ngô Tam Quế đã trở thành vương gia của nhà Thanh, ông sống với Viên Viên một thời gian, sau đó ông lo ngại bị tai tiếng lấy phải kỹ nữ, nên đưa nàng lên sống cô đơn trên một ngôi chùa vắng ở Côn Sơn – Vân Nam. Cuối đời, Viên Viên trở thành một vị đạo cô, nàng sống ẩn dật và chết một cách âm thầm trong cô quạnh.

Cũng vì chuyện Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh nhập quan mà người Hán oán trách, căm thù, phỉ báng Viên Viên, vì cho rằng nàng chính là nguyên nhân gây ra việc người Mãn đô hộ người Hán. Nhưng điều này không thỏa đáng, vì nếu Sùng Trinh anh minh, Ngô Tam Quế tỉnh táo thì Viên Viên dẫu có tài sắc gấp trăm ngàn lần đi nữa cũng không thể đưa đến thảm cảnh đầy bi thương như thế được. Nếu có gán tội thì hãy gán tội cho sự chạy theo dục vọng của vô minh mà tất cả phàm nhân đều dễ dàng dính dấp!

Cũng qua câu sự việc này, chúng ta cần biết thêm, vị vua cuối triều Minh là Sấm Vương, Lý Tự Thành. Ông thuở bình thời, các nhà tướng số đều đoán ông có phúc tướng làm vua dài đến 43 năm. Nhưng khi vừa lên ngôi ông đã đắm nhiễm dục lạc, suốt ngày chỉ lo ăn chơi xa xỉ hoang phí vô độ, chẳng để tâm đến sự sống chết của dân chúng, rốt cuộc ông làm vua chỉ có 43 ngày!

Vì thế khi thụ hưởng phước báo dễ làm cho chúng sanh mê muội, đem phước báo của 43 năm dùng trong 43 ngày, điều này đáng để cho chúng ta suy gẫm. Cho nên, nếu không có trí huệ thì việc thọ hưởng phước báo chẳng hưởng được dài lâu, đồng thời hưởng si phước rất dễ dàng tạo nghiệp!

******

Do tác lực của nghiệp, nên con người đến với sắc đẹp tựa như ong thấy hoa, như bê con thấy vú mẹ, trong kinh Pháp Cú Đức Phật mô tả như vậy. Người ta đến với sắc đẹp, tìm cầu và quy lụy về nó mà bất chấp thân mạng, danh giá của họ. Họ không sợ bị khổ, chẳng kể mưu chước sai quấy, gian tà chỉ để mong sao chiếm được cái sắc đẹp kia, thế nhưng khi chiếm được rồi, họ cũng chẳng có mấy được niềm vui và hạnh phúc hơn bao nhiêu so với lúc ban đầu.

Khác với thế nhân, đạo Phật dạy cho chúng ta những phương cách để quan sát về sắc đẹp. Không vội vã chạy đến với nó mà phải nhìn, phải hiểu thật sâu và suy gẫm cùng chiêm nghiệm. Một khi thấy rõ được cái thật của sắc đẹp thì có thể thấy rõ được cái thật của cả cuộc đời, vì cuộc đời và sự sống này vốn dĩ là vô thường, dơ bẩn và khổ đau!

Dường như thế giới ngày nay là thế giới của cái đẹp. Với những tiến bộ về kỹ thuật, con người gần như đã chinh phục được thế giới này qua các sáng tạo và các khám phá mới trong ngành y dược, và giải phẫu thẩm mỹ. Các loại mỹ phẩm và đồ đạc trang sức trong cái nét thẩm mỹ thời đại cũng được đa dạng hóa, nên nhìn chung có thể là họ đang tự mở ra một vòm trời mới về cái sắc và vẻ đẹp của con người.

Bị hủy mất công danh chỉ vì ý định bất chính

Có một anh chàng thư sinh họ Lý vốn rất giỏi đọc sách làm văn, trên đường lên kinh ứng thí. Hôm nọ, anh dừng chân trong một quán trọ ở Cù Châu. Người chủ quán trọ ăn nói thân thiện với Lý Sinh, chiêu đãi rất nhiệt tình.

Chàng thư sinh họ Lý này rất lấy làm lạ, trong lòng thắc mắc nên sau đó tìm đến chủ quán để hỏi ông duyên cớ.

Ông chủ quán cho biết:

– Tối hôm qua tôi nằm mơ thấy Thần thổ địa nói với tôi rằng: “Ngày mai có một vị tú tài họ Lý sẽ đậu bảng vàng trong khoa cử lần này, vậy nên cần phải ân cần tiếp đãi”.

Lý Sinh nghe xong trong lòng tràn đầy vui mừng hớn hở, trong đêm liền mơ tưởng thấy mộng đẹp khoa cử và làm quan như thế này thế nọ… đến lúc hồi tưởng lại người vợ của mình, lòng bèn khởi lên ý nghĩ: “Người vợ này là mình cưới trong lúc còn nghèo khổ khốn khó, bây giờ đã vừa già vừa xấu. Đến chừng mình làm quan rồi thử hỏi cô ta có còn xứng đáng làm vợ mình nữa hay sao. Vậy nên mình sẽ thôi vợ để cưới người vợ mới”.

Ngày hôm sau, Lý Sinh rời khỏi quán trọ lên kinh ứng thí, buổi tối hôm đó chủ quán lại một lần nữa mơ thấy Thần thổ địa. Vị Thần nói với chủ quán rằng: “Chàng trai trẻ này tâm địa không lương thiện, bản thân còn chưa thi đậu công danh, vậy mà đã muốn bỏ người vợ tào khang của mình, nên đã bị Thần Minh tước bỏ công danh!”.

Về sau, Lý Sinh quả nhiên thi không đậu, chán nản trở về quê nhà, lần nữa ghé qua quán trọ. Chủ quán trọ lại kể những gì Thần thổ địa đã mách với mình trong giấc mơ. Lý Sinh nghe xong giật mình kinh hãi, xấu hổ nhanh chóng bỏ đi.

Đôi khi việc làm của chúng ta, của người nam hay của phụ nữ chỉ là một việc làm máy móc theo thói quen của mọi người. Nhưng con người lại thường thường làm theo cái nghiệp chỉ dẫn. Nghiệp của người phụ nữ là nghiệp của sự mê đắm cái đẹp, mà chính là nơi khuôn mặt của họ. Nếu có những phụ nữ nào sinh ra với gương mặt xấu, là họ cảm thấy thất vọng buồn khổ vô cùng. Còn những người với sắc đẹp trung bình thì họ tính chuyện sửa sang, và làm đủ mọi cách để cho được đẹp đẽ hơn. Những kết quả bi thương của những người muốn có một sắc đẹp, theo thống kê thì trong năm 1996, ở tại Trung Quốc đã có trên 500.000 người bị hư mặt vì đi lầm những thẩm mỹ viện ma. Thế nên, thay vì được đẹp thêm họ lại phải chịu mang thương tật cho gương mặt mình đến suốt cả đời!

Dung mạo ông trời đã cho ta
Sửa sang chỉ chuốc những phiền hà
Chẳng khéo trở thành người xa lạ
Về nhà, cha mẹ nhận không ra

Sửa lắm coi chừng mất hết duyên
Rồi không như ý lại mất tiền
Đẹp chả bao ngày thân vướng nạn
Biến chứng ung thư khổ vạn niên

Thôi thì an phận số phần đi
Mũi cao cằm chẻ để mà chi
Đừng ham dao kéo không hạnh đức
Tiền tốn tật mang lắm sầu bi…

Hãy để dung nhan thuận tự nhiên
Lạm dụng làm chi chuốc não phiền
Cái đẹp phết tô thua cái nết
Không nết, sửa nhiều chết cái duyên

*******

Hữu hình, hữu hoại là thân,
Có đâu sống mãi ngàn năm trên đời.
Trường danh lợi lăng xăng lui tới,
Áng công hầu sớm tối đua chen,
Sang hèn đẹp xấu lộn xen,
Chung qui rồi cũng một phen tan tành.
Mùi tục lụy hôi tanh tiếp nối,
Bả đỉnh chung lắm nỗi bồn chồn,
Phết sơn trau chốc dại khôn,
Công danh, phú quí mộng hồn hoàn lương.
Cảnh vô thường tang thương biến đổi,
Người lẽ đâu sớm tối thong dong.
Sanh ra trong cõi bụi hồng,
Mấy ai trăm tuổi uổng công lo đời.
Còn chút hơi ai ơi nghĩ lại,
Muôn việc đời cả thảy đừng mong,
Vắng đi ba tấc hơi lòng,
Đôi bàn tay trắng theo dòng trầm luân!

Những lúc tâm tư lắng đọng hãy tự nghiền ngẫm cái phi lý của đa số người đời là, họ có thể bỏ ra tiền ngàn bạc vạn để sửa sang cái bề ngoài cho được đẹp để mong ước cuộc sống họ có thêm được hạnh phúc; nhưng rồi, đôi khi thực tại lại còn bất hạnh nặng nề hơn khi chưa vào viện thẳm mỹ, đồng thời cái đẹp ấy cũng chưa chắc thật sự mang lại hạnh phúc, bởi nó sẽ bị già nua và xấu đi rất nhanh theo năm tháng. Nhưng để sửa cái tâm mình được đẹp mãi mãi, chẳng mất tiền và chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc cho đời mình, con người ta thường lại lơ là và tìm cách chối bỏ. Chính vì nhận lầm cái giả cho là thật, cái không đẹp cho là đẹp, gốc của cái khổ lại cho là vui; còn cái thật, cái đẹp, cái gốc của niềm vui và hạnh phúc chân thật thì họ quay lưng chối bỏ! Do đó mà con người ta vẫn mãi mãi quờ quạng trong bóng tối của vô minh, lầm lũi mãi mãi trong cảnh sống khổ sầu, mặc dù họ vẫn luôn là những người mong tìm cách để thoát khổ.

Kinh Lăng Nghiêm có câu “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh”, nghĩa là các tướng do tâm tưởng sinh ra.

Nhiều người nghĩ rằng tướng mạo bản thân là do trời sinh, không thể thay đổi theo cách tự nhiên mà phải tác động bằng “dao kéo”. Thực tế không phải vậy, dung mạo sẽ đẹp hơn nếu tâm hồn ngày càng trong sáng và thuần thiện. Thế nên, thay vì tốn tiền và phải chịu nhiều đau đớn của “dao kéo”, sao chúng ta không thay đổi chính tâm hồn mình?

Tướng mạo chính là tấm gương phản chiếu chính xác tâm niệm của chúng ta. Chỉ những ý tưởng tốt đẹp mới giúp cho mình có được một khuôn mặt xinh đẹp tuyệt vời.

Con người khi bước tới độ tuổi trung niên sẽ thể hiện ra những tướng mặt do ảnh hưởng từ tính cách của mình. Những người khoan dung, nhân hậu thường có một khuôn mặt phúc hậu. Người có tính cách nhu mì thường có khuôn mặt xinh đẹp, dịu dàng. Những người vô cùng thô bạo thường có tướng mặt hung ác. Người có phẩm chất không tốt thường có một khuôn mặt hà khắc.

Nhìn cõi nhân gian ngàn vạn cảnh, nhân cách mỗi người cũng có hàng vạn kiểu. Chỉ những đức tính tốt đẹp mới giúp chúng ta có được một khuôn mặt xinh đẹp không tuổi. Nói cách khác, sắc đẹp cũng là một biểu hiện của phúc báo.

Thuở xưa có một họa sĩ điêu khắc sinh sống ở tỉnh Sơn Đông. Mặc dù dung mạo của anh rất khôi ngô tuấn tú, nhưng anh ta lại thích tạc những hình tượng yêu ma quỷ quái. Những tác phẩm điêu khắc của anh vô cùng sống động, và theo thời gian, việc buôn bán của anh càng ngày càng phát đạt. Một ngày, anh nhìn vào gương và vô cùng kinh ngạc khi thấy rằng diện mạo của mình đã trở nên hung tợn và xấu xí. Anh đã đến gặp rất nhiều danh y nổi tiếng, nhưng không ai có thể giúp đỡ cho anh được gì!

Hôm nọ, duyên mai, tình cờ chàng trai dừng lại ở một ngôi chùa và kể sự tình với vị hòa thượng trụ trì. Hòa thượng bảo anh ta rằng: “Tôi có thể giúp điều ước mơ của anh trở thành sự thật, với điều kiện là anh hãy tạc cho tôi một số bức tượng Đức Quan Thế Âm Đại Sĩ với các dáng điệu khác nhau”.

Người nghệ nhân đã đồng ý ngay lập tức và bắt đầu nghiên cứu tư tưởng và diện mạo của Bồ Tát Quan Thế Âm. Anh cũng cố gắng hết sức để thực hành theo đạo đức của Ngài như thể chính mình là Đức Quan Thế Âm vậy.

Sau sáu tháng nghiên cứu và làm việc chăm chỉ, anh đã khắc được một số bức tượng vô cùng trang nghiêm của Phật Bà Quan Âm, thể hiện Đại từ Đại bi, thương yêu mọi loài chúng sinh của Ngài. Mọi người rất ngạc nhiên trước những bức tượng rất sinh động giống như thật. Người nghệ nhân khi ấy cũng rất ngạc nhiên phát hiện thấy rằng tướng mạo của mình đã hoàn toàn thay đổi, giờ đây nhìn anh thật oai dũng, nhân hậu và đoan nghiêm.

Kỳ thực, từ Trung Y cổ đại cũng như sinh lý học và tâm lý học hiện đại là có thể thấy rằng đạo lý “tướng do tâm sinh” cũng giản đơn. Cái tướng mạo của người ta là do hai bộ phận ‘vật chất’ và ‘tinh thần’ tạo thành. Hình tướng là đặc thù của sinh lý còn thần tướng vừa bao hàm nhân tố sinh lý, vừa phụ thuộc vào sự tu chỉnh quyết định. Nhất cử nhất động từng ý từng niệm trong cuộc sống, qua một thời gian thì dần dần sẽ ngưng đọng trên khuôn mặt, nghĩa là “hữu chư nội tất hình chư ngoại” (có gì bên trong ắt xuất hình bên ngoài).

Tâm niệm nảy sinh, cũng sẽ ảnh hưởng lên thân thể. Nếu như nội tâm an hoà tĩnh tại thì thần thanh khí sảng, lạc quan, đôn hậu, quang minh ngay thẳng. Điều đó sẽ khiến cho khí huyết điều hoà, ngũ tạng an định, công năng chính thường, thân thể khoẻ mạnh, ắt sẽ thể hiện ra mặt mũi sáng sủa, thần thái phấn khởi, ai gặp mặt cũng cảm thấy thoải mái, có cảm giác thân thiện an hoà một cách tự nhiên.

Vì sao mọi người muốn phẫu thuật thẩm mỹ? Rốt cuộc đều là vì muốn bản thân mình trở nên xinh đẹp hơn.

Nhưng dẫu dung mạo xinh đẹp đến đâu thì cũng chẳng thể giữ mãi. Nó nhất định sẽ chìm nổi theo sự dao động của tâm hồn, cũng như một chiếc áo mỗi người khoác lên mình thì nửa năm sau sẽ có những nếp nhăn khác nhau.

Dung mạo của con người lại là một tấm vải tinh tế hơn. Dung mạo tự nhiên còn nhạt nhòa theo năm tháng. Dung mạo qua phẫu thuật lại càng chẳng thể chống chọi nổi với thời gian.

Sầu khổ sẽ sinh ra những nếp nhăn tương ứng. Vui vẻ sẽ chẳng để lại nếp nhăn. Nếu bạn muốn có một dung mạo xinh đẹp vậy thì tâm hồn bạn chắc chắn phải luôn trong sáng, vui tươi.

Thời gian sẽ xóa nhòa hiệu quả của phẫu thuật thẩm mỹ, chỉ có sự tươi sáng trong tâm hồn mới có thể nuôi dưỡng vẻ đẹp trường tồn cùng thời gian.

Con người từ 40 tuổi trở đi, thì tướng mạo sẽ lộ rõ ra tính cách và phẩm chất của người đó: Người có tấm lòng khoan dung, độ lượng thì phần lớn sẽ có khuôn mặt phúc hậu. Người có tính tình hiền dịu thì tướng mạo sẽ đẹp một cách nhu hòa thánh thiện. Người có tính cách thô bạo lỗ mãng thì tướng mạo sẽ luôn là hung dữ. Người có lòng dạ nhỏ mọn thì phần lớn sẽ có tướng mạo xấu xí, hai hàng lông mày nhíu chặt. Người tướng mạo lộ ra vẻ đặc biệt trẻ trung và xinh đẹp thì người này nhất định là thuần lương hiền thiện.

Các nhà tâm lý học còn cho rằng khuôn mặt của mỗi người có thể chứa những bí mật sâu thẳm nhất: Khuôn mặt của một người liên quan mật thiết với nội tâm bên trong của người đó; Khuôn mặt không chỉ là một sản phẩm của sinh học, chúng ta không thể thay đổi gen hay hormones, nhưng bằng việc chú trọng vào nhân cách, sống yêu thương, khoan dung, độ lượng, nhân từ, trung thực, hào phóng, tự trọng, thì tất cả những điều tốt đẹp đó sẽ tác động đến cơ mặt và nó sẽ bắt đầu thay đổi và phản chiếu lên khuôn mặt.

Để có tướng mạo đẹp chúng ta hãy thường xuyên tu dưỡng những điều sau:

Nghĩ những điều lành.
Làm những việc lành.
Nói những lời lành.
Tiếp xúc nhiều với người lành.
Luôn biết cảm ơn.
Thường xuyên mỉm cười.
Khen ngợi người khác nhiều hơn.
Luôn nhẫn nhịn, đừng giận hờn.

Niệm tưởng Phật hay Bồ Tát là thù thắng bậc nhất!

 

3/- Danh vọng

Trong cái hiểu thiển cận của chúng ta, ta chỉ biết danh vọng là những điều đáng xa tránh. Danh được xếp vào hạng thứ ba trong ngũ dục của cuộc đời: Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Người đời họ hiểu về danh khác người tu, nên họ thi đua với nhau mà đi tìm cầu danh vọng. Càng được nhiều danh vọng họ càng thấy thích thú và hãnh diện với chính mình, xem đó như là một thành công trong cuộc đời của họ.

Nhưng cuộc đời của mỗi người khi sinh ra nào ai có danh gì đâu. Chỉ có gia đình ông bà cha mẹ họ là có danh có vọng, và do những nhân duyên lành nào đó, trong những quãng đời trước mà họ cũng dần hưởng được những danh vọng ấy từ gia đình khi họ lớn lên. Được sinh vào những gia đình quý tộc, giàu có, những gia đình khoa bảng, học thức là họ đã được sinh trong những cái danh tốt đẹp ấy rồi. Dĩ nhiên là cũng nhờ những danh vọng ấy mà chính họ được tôn trọng và kính nể hơn. Nhưng rồi những danh vọng ấy, đôi khi lại buộc chân hay đưa cuộc đời họ vào một ngã rẽ khác, đôi lúc thật là khó hiểu.

Dĩ nhiên là chính họ trưởng thành sau này, cũng phải tạo ra cho xứng với cái danh mà dòng tộc đã có. Không tạo được là một sự sỉ nhục sẽ làm khổ đau cho họ và gia đình đôi khi suốt cả một đời. Sự trưởng thành trong nhận thức của con người cũng là sự trưởng thành của biết bao cách danh vọng. Với người trí thức họ tìm cầu danh vọng theo đường trí thức, qua cách học hành để có được cấp bằng khoa bảng nọ kia, họ sống cuộc đời họ với toàn là danh xưng, với card, với thiệp mời trên đề toàn một dọc những chức vụ quan trọng. Thiếu những cái danh đó thì người ta sẽ rất buồn đau và sẽ cảm thấy cuộc đời chẳng còn một ý nghĩa nào cả.

Từ cổ chí kim, địa vị mẫu nghi thiên hạ vốn là niềm mơ ước, là khát vọng “hóa phượng hoàng” của hầu hết phụ nữ thời xa xưa.

Nhưng cũng chính sức hấp dẫn của ngôi vị dưới một người trên vạn người này, hậu cung Trung Quốc đã trở thành nơi “mưa máu gió tanh”, hiểm ác không kém gì chính trường.

Cũng như nhiều phi tần khác khi nhập cung đều còn rất trẻ, Chiêu Tín được xem là người có chút nhan sắc nên được cháu nội của vua Hán Cảnh Đế là Quảng Xuyên Vương Lưu Khứ vô cùng yêu thích. Tuy vậy, đứng giữa hậu cung có muôn vàn ái thiếp, Chiêu Tín cũng hoang mang lo sợ nhan sắc có thì, qua thời gian sẽ tàn phai và không được ưu ái nữa. Từ đó, Chiêu Tín luôn đang tâm giết hại các phi tần khác, mà không từ thủ đoạn nham hiểm nào hầu giữ vững vị trí ưu ái nhất trong lòng Lưu Khứ. Cũng chính vì lòng ghen ghét đố kỵ thâm độc và tàn nhẫn của bà mà Chiêu Tín để lại một vết nhơ không bao giờ rửa sạch trong lịch sử Trung Hoa về bàn tay vấy máu đánh kinh hãi của mình.

Trước khi sủng ái Chiêu Tín, Lưu Khứ còn yêu thích hai cung tần nữa là Chiêu Bình và Địa Dư. Lòng ganh tỵ của nữ nhân thường tình đã khiến cho Chiêu Bình và Địa Dư bàn mưu tính kế hãm hại Chiêu Tín, nhưng chuyện không thành. Được Chiêu Tín thủ thỉ bên tai những lời ngon tiếng ngọt và thêm dầu vào lửa việc mình bị hai nàng cung tần ám hại, Lưu Khứ liền bắt Chiêu Bình đến hỏi tội.

Chiêu Bình bị dùi sắt đâm vào người đau đớn đến chết đi sống lại, chịu đựng không nổi những tra hình dã man đó nên đành khai ra hết âm mưu. Kết quả thật tàn khốc, người cùng mưu là Địa Dư bị Lưu Khứ cho cung nữ đến dùng kiếm xuyên tâm, xả thịt như giết một con thú hoang. Chiêu Tín chứng kiến Địa Dư chết còn chưa hả dạ, chính mình cầm kiếm đâm xuyên qua người Chiêu Bình, một đao kết liễu tình địch mà không hề mảy may run tay.

Biết mình khó có thể trở thành “là một, là duy nhất” trong lòng một vị vua háo sắc, Chiêu Tín càng trở nên thâm độc hiểm ác khó lường. Bố trí tai mắt khắp nơi để có thể theo dõi ‘nhất cử nhất động” của Lưu Khứ, Chiêu Tín dễ dàng phát hiện ra được ông đang sủng ái ai, và nanh nọc của Chiêu Tín sẽ không buông tha cho kẻ xấu số đó.

Nhận thấy cung tần Ngưỡng Vọng là một ái thiếp đang được Lưu Khứ yêu mến có khả năng loại mình ra khỏi chức vị hoàng hậu nên Chiêu Tín đem lời dèm pha, dùng chiêu “mượn dao giết người”. Ngưỡng Vọng bị vu khống không phải là người hiền trang thục đức, được hoàng thượng yêu thương nhưng không biết hưởng. Vốn là vị vua ngu muội nên Lưu Khứ tin ngay lời dối trá của Chiêu Tín và kéo đến hậu cung trừng phạt Ngưỡng Vọng. Ngưỡng Vọng bị lột hết quần áo và dùng dùi nung đỏ gí vào người khiến nàng đau đớn nên vùng chạy đâm đầu xuống giếng tự vẫn cho xong. Cùng phận nữ nhi, chứng kiến cảnh Ngưỡng Vọng đớn đau nhục nhã, không thương đã đành, Chiêu Tín lại chẳng khác nào quái vật, cho lôi nàng lên, xẻo mũi miệng, cắt lưỡi đem nấu. Chiêu Tín rất hả hê khi bắt các phi tần chứng kiến cảnh mình hạ độc thủ với một con người như đang làm thịt một con vật. Đó cũng là lời răn đe, dằn mặt đáng sợ nhất đối với những ai có ý tranh giành sự sủng ái của quân vương với mình.

Hành động vô đạo của Chiêu Tín sau đó còn lặp lại với nững cung phi khác nhưng chẳng ai dám can thiệp bởi sợ họa lây vong mạng. Giết người không sợ quỷ thần trừng phạt, Chiêu Tín cứ “bổn cũ soạn lại”, giết người chưa hả còn phanh thây xẻ thịt để người chết không toàn thây.

Theo thống kê của các sử gia Trung Quốc, Chiêu Tín là bà hoàng giết người nhiều nhất trong lịch sử, có hơn 14 mạng người.

Tánh hung ác trong người chưa hết,
Thì tai ương mọi việc chưa thôi;
Mỗi người nên để ý coi,
Đời sanh lắm họa do người bất lương.
Nhiều kẻ ác khó lường cho thấu,
Sống như là beo gấu rừng hoang;
Biết mình chẳng biết thế gian,
Gây ra đau khổ muôn ngàn người ta.
Sống như vậy chỉ là một thuở,
Rồi tiêu ma chớ có lâu đâu;
Để cho kẻ oán người sầu,
Trả nay không hết còn hầu trả mai.
Sống thế ấy là đày đọa kiếp,
Chỉ gây thêm ác nghiệp đời mình.
Mưu sinh lại hủy kiếp sinh,
Đời nay lắm kẻ sống tình trạng ni.
Lối sống ấy là đi địa ngục,
Quày đầu mau khỏi lúc sa chân;
Sống không riêng cái hiện thân,
Mà còn phải sống cho phần đời sau.
Muốn sống ở đời nào cũng tốt,
Xét kỹ ra có một con đường;
Ấy là cách sống thiện lương,
Dù người sống ở trong trường hợp nao.
Nếu biết kiếp như bào như ảnh,
Đừng sống theo ác tánh ác nhân;
Nên gìn cách sống chánh chân,
Cho đời sống được có duyên Phật Đài.
Ở cõi tạm nên khai cõi thật,
Trong giấc phàm khá thức tánh phàm;
Sống điều tội lỗi đừng ham,
Xác trần chớ để hồn giam trong trần.
Sống làm chủ cái thân đòi hỏi,
Đừng sống làm tôi mọi cho thân,
Sống cho tánh Phật được gần,
Chớ theo lối sống xa lần Phật Tiên

Trong những cuộc chiến thâm cung tranh giành ngôi hậu, âm mưu đẫm máu và kết cục bi thảm nhất lại thuộc về một Hoàng hậu Hán triều, là Hiếu Tuyên Hoắc Hoàng hậu – Hoắc Thành Quân.

Hoắc Thành Quân, là con gái của Tư Mã đại tướng quân, Bác Lục Tiêu thành hầu Hoắc Quang. Bà cũng là vị Hoàng hậu thứ hai của Hán Tuyên Đế Lưu Tuân – vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Hán.

Năm 74 TCN, nhờ sự giúp đỡ của gia tộc họ Hoắc, Lưu Tuân lên ngôi, tức là Hán Tuyên Đế. Lúc bấy giờ, tân đế muốn lập hậu. Các đại thần trong triều bấy giờ tiến cử tiểu thư của đại tướng quân Hoắc Quang là Hoắc Thành Quân.

Trước những lời này, Lưu Tuân không ra mặt từ chối, nhưng quần thần hiểu rằng Hoàng thượng muốn sắc phong cho thê tử kết tóc từ thủa nghèo khổ là Hứa Bình Quân làm Hoàng hậu.

Việc này đương nhiên khiến cho Hoắc gia, đặc biệt là Hiển phu nhân (tức mẹ của Hoắc Thành Quân) vô cùng tức giận. Để “dọn đường” cho con gái lên ngôi mẫu nghi thiên hạ, Hoắc phu nhân bắt đầu bày mưu tính kế phế bỏ Hứa Hoàng hậu.

Không lâu sau đó, triều đình được tin Hứa Hoàng hậu mang thai người con thứ hai. Khi ấy, Hiển phu nhân đã nhanh chóng tranh thủ cơ hội trừ khử hai mẹ con Hoàng hậu.

Vào khoảng thời gian Hứa Bình Quân sắp sinh, vị phu nhân họ Hoắc này đã mua chuộc nữ y Thuần Vu Diễn để hạ độc Hoàng hậu.

Thuần Vu Diễn muốn chồng mình được Hoắc Quang thăng chức nên nhận lời Hiển phu nhân, dùng phụ tử (rễ củ của cây Ô đầu) cho vào thuốc để Hứa Hoàng hậu ăn uống.

Không lường trước được âm mưu nanh nọc của họ Hoắc, Hứa Bình Quân nhanh chóng bị trúng độc và qua đời, mang theo cả người con chưa kịp chào đời đã buông tay trần thế.

Do có sự can thiệp của gia tộc họ Hoắc, Hán Tuyên Đế Lưu Tuân dù căm giận nhưng cũng không thể làm được gì. Thế lực của Hoắc Quang lúc bấy giờ quá lớn, lại là đại tướng quân nắm giữ trọn binh quyền, ngay tới Hoàng đế cũng phải kiêng nể mấy phần.

Sau khi Hứa Hoàng hậu qua đời, Lưu Tuân đành phải thuận theo Hoắc gia, sắc phong Hoắc Thành Quân làm Hoàng hậu. Vậy nhưng, Tuyên Đế vẫn lập con của Hứa hậu là Lưu Thích làm Thái tử.

Chính hành động này của Hán Tuyên Đế đã trở thành mồi lửa châm ngòi một cuộc thanh trừng đẫm máu trong lịch sử Hán triều.

Hai năm sau, đại tướng quân Hoắc Quang lâm bệnh qua đời. Mặc dù trụ cột lớn nhất của gia tộc đã mất, nhưng con cháu họ Hoắc liên tục vào triều làm quan, Hoắc Thành Quân lại đang ở ngôi Hoàng hậu, bởi vậy thế lực của dòng họ này càng được thế bành trướng.

Tuyên Đế từ lâu đã có ý định tiêu diệt họ Hoắc để trừ hậu họa và trả thù cho Hứa Hoàng hậu nên đã ra lệnh điều tra về cái chết năm xưa của Hứa Bình Quân.

Không chỉ vậy, Lưu Tuân còn từng bước triệt tiêu quyền lực của gia tộc này. Ông phong cho Hoắc Vũ (con trai Hoắc Quang) làm Đại Tư Mã nhưng không có thực quyền, đồng thời tước binh quyền của Triệu Bình (con rể Hoắc Quang).

Lúc bấy giờ, Hiển phu nhân lo sợ Lưu Tuân điều tra ra việc mình đã đầu độc Hứa Hoàng hậu, liền liên thủ cùng Hoắc Vũ, bí mật lên kế hoạch trừ khử các đại thần chống đối Hoắc gia và phế bỏ Tuyên Đế.

Âm mưu còn chưa thành, Hoắc gia đã bị Hoàng đế vạch trần tội phản nghịch. Mối thù giết vợ khi xưa chưa trả, nay lại thêm tội danh mưu phản, Tuyên Đế đã ra lệnh xóa sổ cả gia tộc họ Hoắc.

Theo đó, Hoắc Ngẫu bị chém chết tại trận, Hoắc Sơn và Hoắc Vân buộc phải tự sát. Toàn bộ Hoắc gia phải chịu họa diệt môn, có tới hơn 1.000 người liên lụy và bị sát hại, chỉ còn người con rể là Kim Thưởng do biết việc tố cáo nên được xá miễn.

Lúc bấy giờ, Lưu Tuân sai người hạch tội Hoắc Thành Quân:

“Thân làm Hoàng hậu, nhưng lòng dạ hiểm độc, không làm tròn ‘nữ tắc’, nhiều lần mưu sát Thái tử không thành, không có tình nhân ái của người mẹ, không thể hầu phụng Tông Miếu, càng không thể gánh vác ngôi vị Hoàng hậu.”

Hoắc Hoàng hậu lập tức bị truất phế, đày vào lãnh cung Chiêu Thái. Mười mấy năm sau, Tuyên Đế lại hạ chỉ đưa Hoắc Thành Quân xuống ở nơi xa xôi, hẻo lánh có tên Vân Lâm quán.

Một người xuất thân cao quý như Hoắc Thành Quân khó có thể chịu được khuất nhục này. Trong lúc uất ức, bà đã chọn cách tự sát để giã từ cõi đời. Sau khi qua đời, Hoắc Thành Quân được an táng ở Đông đình Tôn Ngô.

Ngôi vị Hoàng hậu đổi bằng tính mạng gia tộc của bà, kết thúc một đời mưu toan và tranh đấu đẫm máu nơi chốn cung đình!

*****

Cũng có lẽ cuộc đời này, và nhất là đối với những xã hội Âu Mỹ ngày nay, những cái danh và bằng cấp đã trở nên quá quan trọng, vì vậy người ta phải chạy theo như một phản ứng tự nhiên không thể nào khác. Con người sống trong xã hội ngày nay chẳng thể lấy sự cứu cánh nào khác ngoài danh vọng, vì chính đó là nền tảng để xây dựng sự thành bại, sung sướng hay khổ đau của cuộc đời. Với người kém học nhưng có nhiều khôn khéo thì họ tìm nó qua tiền rừng –  bạc biển, có tiền là có tất cả kể cả danh vọng và địa vị của xã hội.

Cái thế giới ngày nay dầu đã được tiến hóa đến một mức độ không thể ngờ với những tiến bộ khoa học đáng kể, và sự kiểm soát con người đến mức tinh vi thế mà đồng tiền vẫn có thể mua được tất cả từ bằng cấp này nọ đến cái gọi là quyền cao chức trọng trong chính phủ. Đã có quá nhiều cái nhiêu khê và chuyện đáng tức cười xảy ra cho những người có cái danh mà không có thực chất ở trong cuộc đời này, từ các nơi hành chính của chính phủ, cho đến chỗ buôn bán và trong cả gia đình.

Với những người tâm địa chẳng thiện lương, họ tìm cầu danh vọng qua các thủ đoạn mưu chước, đôi khi vì quá tham cầu chiếm hữu nó, mà họ đã tạo ra bao tội ác làm liên lụy biết bao người. Lúc tâm đam mê danh vọng khởi lên, họ sẽ không từ chối bất cứ những hành động nào dù xấu xa, bỉ ổi thậm chí tán tận lương tâm đến đâu, miễn sao họ có được danh, được nổi tiếng là tốt rồi. Đó là hiện trạng thực tại của cuộc đời, là cái thế giới mà ta đang sống.

Ước mơ danh dự hảo huyền

Ngay từ thời còn đi học, Wanda Webb đã luôn mơ ước được trở thành một thành viên trong đội cổ động với những cô nàng nóng bỏng và xinh đẹp. Bóng bầu dục là một trong những môn thể thao đầy tự hào của bang Texas, và Wanda biết rằng, khi cầm hai cục bông pompom cổ động trên tay, cô có thể chạm tới được danh tiếng và sự ngưỡng mộ mà mình khao khát.

Thật không may mắn, bố của Wanda là một người vô cùng nghiêm khắc, cộng với cái thai “tai nạn” ở độ tuổi còn đi học, cuối cùng đã khiến giấc mơ vinh quang của Wanda tan thành mây khói. Tương lai tươi sáng mà cô từng mơ mộng không còn nữa, thay vào đó là gia đình, là chồng con, là trách nhiệm… Đến sau cùng hôn nhân cũng đổ vỡ, Wanda lại kết hôn với một người đàn ông khác mang tên C.D. Holloway.

Nhìn chung cô vẫn giống như bao người mẹ tận tụy khác ở Texas, nhưng thẳm sâu bên trong cô là một ngọn lửa đam mê, khát khao đến ám ảnh vẫn chưa từng bị dập tắt: đó là phải trở thành một cổ động viên.

Tất nhiên, Wanda giờ đây chẳng còn chút cơ hội nào để thực hiện ước mơ của mình nữa rồi. Cô đành phải đặt đam mê và dồn hết tâm huyết đó để đào tạo cô con gái Shanna, hy vọng cô bé sẽ có thể tham gia vào đội cổ động tại Channelview.

Cô bé Shanna được nuôi dạy để biến giấc mơ của mẹ thành hiện thực. Năm Shanna được 5 tuổi, cô bé đã được mẹ mua tặng một bộ đồng phục cổ động viên đầu tiên. Những năm sau đó, cô bé phải tham gia những lớp thể dục nhịp điệu và những khóa huấn luyện nhảy nhót, nhào lộn đặc biệt của mẹ.

Không chỉ ép con đi học, Wanda còn không ngần ngại diện cho cô bé những bộ đồ đẹp nhất, liên tục tổ chức các buổi tiệc, mời hết các bạn học của con. Lý do rất đơn giản, Wanda muốn Shanna phải là cô gái nổi tiếng nhất trường trung học bởi muốn vào đội cổ động thì cần phải có sự bầu cử của các học sinh khác.

Đến năm 1991, Shanna tham gia ứng cử vào đội cổ động của khối học sinh lớp 8 tại trường trung học Channelview. Bao nhiêu mong mỏi, đợi chờ, cuối cùng Wanda lại nhận được tin Shanna không được chấp thuận. Trong khi Shanna chẳng mấy phiền lòng thì Wanda lại cảm thấy giận dữ và vô cùng thất vọng. Bà mẹ điên loạn chạy đến trường khóc lóc, cầu xin hội đồng trường xem xét lại nhưng cũng không được kết quả gì.

Wanda sau đó mới biết, Shanna bị loại là do biểu diễn không tốt bằng một cô bạn học cùng lớp, Amber Heath. Amber là con của Verna Heath, cũng sống trong cùng khu phố với mẹ con Wanda. Nhiều năm qua, quan hệ giữa Wanda và Verna khá thân thiết. Họ thường xuyên sang nhà nhau ăn tối, thay phiên đưa đón các con đi học. Và vì đây không phải là lần đầu tiên Shanna bị Amber vượt mặt nên càng khiến cho Wanda cay cú. Cô quyết định mình phải làm gì đó để loại bỏ “cái gai trong mắt, cái cây cản đường” này.

Lòng đố kỵ che mờ lý trí, Wanda lập ra một âm mưu giết chết Verna với hy vọng rằng, cái chết của người mẹ sẽ làm cho Amber đau đớn và bị phân tán tư tưởng, từ đó giúp cho Shanna có cơ hội tiến lên.

Wanda đã liên lạc với em trai chồng cũ, Terry Lynn Harper, nhờ tìm giúp một sát thủ. Xui xẻo cho Wanda, Terry lại đang trong thời kỳ bị cảnh sát giám sát do một lần lái xe say xỉn. Sau khi nghe lời đề nghị của bà chị, Terry không muốn có thêm bất cứ rắc rối với luật pháp nào nữa, đã lập tức đến sở cảnh sát trình bày hết mọi chuyện. Bên cạnh đó, bản thân Terry ngày xưa đã từng bị Wanda đổ tội quấy rối tình dục lên đầu, tất nhiên “mối thù” đó làm sao anh ta có thể quên.

Theo sự sắp xếp của cảnh sát, Terry đeo một camera bí mật đến gặp Wanda bàn chuyện. Wanda gợi ý cho Terry bắt cóc và bán Verna làm nô lệ. Ban đầu cô còn đòi cả hai mẹ con Amber và Verna đều phải chết tuy nhiên Terry bắt phải trả giá tiền gấp đôi nên Wanda quyết định chỉ giết bà mẹ là đủ.

Trung sĩ Flint Blackwell của phòng cảnh sát hạt Harris cho biết: “Cô ấy muốn cả đứa con gái cũng chết thì tương lai của Shanna sẽ không còn lăn tăn gì nữa. Nhưng rồi cô ta nghĩ, chỉ cần bà mẹ chết thì đứa con đã đủ suy sụp và không còn cản đường con gái mình nữa”.

Sau khi đã thương lượng giá cả mua mạng sống của Verna, Wanda đến nhà Terry, đưa cho anh ta một đôi bông tai kim cương đắt tiền xem như tiền cọc. “Tuy tôi không thể tự tay siết cò, nhưng tôi có thể đảm bảo mọi chuyện phải xảy ra như vậy”. Nhân chứng vật chứng có đủ, chỉ vài giờ sau đó, Wanda đã bị cảnh sát vây bắt.

Âm mưu giết người của Wanda đã khiến cho cả khu phố vô cùng kinh hãi. Họ đặt cho cô một cái tên đúng như đam mê của mình, “mẹ pompom”.

Trong phiên tòa xét xử, Wanda cho rằng mình nên được cho một cơ hội thứ hai. Cô khóc thút thít trước tòa nói: “Vụ ra tòa này đã là một sự trừng phạt lớn đối với tôi rồi. Tôi thật sự quá xấu hổ”.

Wanda vì tội âm mưu giết người phải chịu hình phạt 15 năm tù giam. Tuy nhiên sau đó hình phạt giảm xuống chỉ còn 10 năm tù giam và 10.000 USD tiền phạt. Cuối cùng, thẩm phán quận tuyên bố, Wanda chỉ bị phạt tù 6 tháng và chịu quản chế của cảnh sát trong 9 năm và 6 tháng tiếp theo.

Tòa án cũng yêu cầu Wanda từ sau này không bao giờ được tiếp xúc với nhà Verna hay Terry nữa.

Sau khi Wanda được thả ra, Verna nói: “Dù gì công lý đã được thực hiện. Tôi không mong Wanda sẽ bị nhốt cả đời ở trong tù”.

Tình yêu thương con của Wanda Holloway, câu chuyện từ lòng đố kỵ và một ảo tưởng xa vời biến thành động lực lập mưu giết người của cô sau này được tái hiện nhiều lần qua các tác phẩm phim ảnh và tiểu thuyết như: The Positively True Adventures of the Alleged Texas Cheerleader-Murdering Mom, Willing to Kill: The Texas Cheerleader Story, Momsters: When Moms Go Bad, Mother Love, Deadly Love.

Vạn vật dưới bóng trời mọc lặn,
Có vật nào mà đặng thật đâu.
Bị tiêu mòn hoặc sớm hoặc lâu,
Không có một vật nào tồn tại.
Phải tìm chỗ trường sanh bất hoại,
Chớ ngồi đây chịu mãi tử sanh.
Kiếp người đầy giả dối hôi tanh,
Xem như thật mà không phải thật.
Xác thân của người còn phải mất,
Thì trong đời có vật nào còn.
Biết vật chi rồi cũng tiêu mòn,
Cứ đeo đắm là không sáng suốt.
Nên mở hết sự đời trói buộc,
Để làm cho rảnh kiếp vô thường.
Sống lâu dài như Phật Tây Phương,
Thân ấy mới là thân chơn thật.
Thân hiện tại có ngày phải mất,
Bởi nó là giả chất cấu thành.
Đâu bằng thân sen báu thai sanh,
Vô số kiếp thơm lành bền bỉ.

Đức Phật với giáo lý trí tuệ và từ bi Ngài đã soi sáng cho chúng sinh trong mọi vấn đề để tâm hồn được an lạc, cuộc sống thực sự đạt được hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Nếu có sự tôn sùng cao cả nào nhất để chúng ta đặt trọn vẹn niềm tin hướng về, nếu có giáo lý nào duy nhất trong cuộc đời để chúng ta nương theo, thì đó chính là Đức Phật và giáo lý của Ngài cũng như gương hạnh của chư vị Tổ Sư.

Chính Ngài và Phật pháp đã khai mở tâm chúng ta, cho chúng ta thấy được điều đáng thấy, biết được điều đáng biết để cho mình biết cách sống tốt hơn, một đời sống làm người. Còn chẳng thế, thì không biết cuộc đời chúng ta sẽ trôi dạt về nơi nào trong cái nhìn, cái thấy và hiểu biết của vô minh nghiệp chướng. Nhìn cuộc đời với muôn triệu con người đang sống trên danh, trên lợi và trên bao nhiêu nghiệp chướng mà họ đang tạo ra, bao nhiêu khổ đau đang chờ đón, bất giác chúng ta bỗng cảm thấy rùng mình sợ hãi!

Nếu trong quá khứ chúng ta không có gieo những duyên lành thiện căn, thì giờ đây làm sao chúng ta gặp được Phật pháp, mà nếu không gặp được Phật pháp, thì chắc gì giờ đây chúng ta không lặn ngụp trong biển ái bờ mê như muôn vàn những con người khác. Lặn ngụp như vậy thì chắc gì sẽ không bị đọa lạc trong các cõi xấu ác một khi thân người này hoại diệt. Cũng do trí tuệ, tình thương và sức đại hùng Ngài đã ban cho chúng ta, mà chúng ta có đủ sức nhẫn, trí tuệ và ý chí nghị lực để dũng mãnh bước trên con đường đạo hầu có thể làm lợi lạc cho mình và cho người, mà không bị mồi danh bả lợi câu nhử, tàn hại!

Đừng để cho thị dục lừa mình,
Cũng tránh thứ cảm tình dụ dỗ.
Thấy vui phải nhớ ngay việc khổ,
Biết thương thân phải độ lấy thân.
Đem lợi danh cung phụng xác trần,
Chỉ là việc nuôi ong tay áo.
Danh mà chẳng danh là chánh đạo,
Lợi mà không lợi háo mới chơn.
Xác phàm phu mà dạ Thánh Nhơn,
Ở trong tục nhưng lòng tại ngoại.
Tánh ác lấy lòng từ đổi lại,
Tình yêu riêng đem cải yêu chung.
Thà đói nghèo việc quấy bất tùng,
Cam rách lạnh chớ không lừa đảo.
Không những đối người nhà ngay thảo,
Đối với ai cũng hảo tấm lòng.
Người lạ quen đều xử chí công,
Biết tha thứ hơn lòng cố chấp.
Các việc ấy chú tâm rèn tập,
Lợi danh đâu dẫn dắt đường tà.
Đừng quên rằng giúp đỡ người ta,
Tức là việc giúp cho mình đấy.
Của người khác mà mình cướp lấy,
Chính là mình phá hoại của mình.
Sách có câu: “Trời rộng thinh thinh”
Mà chẳng lọt mảy lông” khá nhớ.
Tưởng ích kỷ ruộng vườn rộng mở,
Có ngờ đâu thêm nợ lâu đời.
Bữa nay cười để chịu khóc mơi,
Đa số kẻ sống đời như thế.
Tham danh lợi lỗi lầm bất kể,
Mê sắc tài tội lệ chẳng màng.
Ấy phần đông của kẻ thế gian,
Chịu thống khổ nguyên nhân vì đó.
Thân tứ đại cuối cùng phải bỏ,
Tạo tác chi việc khổ vào mình.
Sướng nhứt thời để khổ hằng nghìn,
Là việc của chúng sanh thường tạo.
Nuôi thân sống bằng vô nhân đạo,
Thân sống kia trên giáo trên gươm.
Đâu an toàn, đâu được quí thơm,
Mà lắm kẻ to mồm khoe sất.
Đời đã thấy sớm còn tối mất,
Càng bất lương càng chuốc họa sầu.

Chặng cuối của con đường danh vọng sẽ đưa người ta đi đến đâu? Sự tìm kiếm, mong mỏi, hy vọng, lo âu để được những gì và nó có giá trị lâu bền là bao? Cái sung sướng đạt được chiếm hữu ấy kéo dài được bấy nhiêu năm tháng nếu không vượt quá một đời người! Cái danh vọng mà con người chúng ta tưởng là tốt đẹp, bền chắc và mang đầy ý nghĩa của một thời tranh nhau để có, sẽ tạo nên được những gì và có trường tồn trong cuộc đời này hay không? Xét cái vô tận của trời đất, xét cái không cùng của không gian bỗng nhiên không khỏi hốt hoảng kinh hoàng, thấy nó thật là vô vị và vô cùng mong manh và giả tạo làm sao!

Nếu ngày xưa con người vì danh vì vọng mà quên hết tình nghĩa để sát phạt chét giết lẫn nhau, thì ngày nay, xã hội con người đạt đến những điểm cao của sự văn minh và tiến bộ, họ giải quyết vấn đề này cũng chẳng tốt đẹp và cao thượng hơn là mấy, đôi khi vì tranh giành mà họ còn nhẫn tâm nhiều hơn! Phải chăng tự bản chất của danh vọng đã là cái xấu xa tội lỗi, nên những hành động truy tìm nó cũng tạo nên những phản ứng tương tự. Cứ mỗi lần xem tin tức, đọc báo thì người con Phật hay kẻ có lòng dạ thiện lương không ai mà chẳng cảm nghe đau buốt con tim. Những người cầm quyền thì muốn mãi giữ danh vọng và quyền uy của mình, kẻ chưa được thì mong và tìm cách chiếm hữu sao cho có được bằng đủ mọi cách có thể, từ hủy nhục cho đến tìm phương cách bạo động lật đổ. Phật giáo dạy cho ta biết rõ về bản chất của danh vọng, cũng như những sự khổ kéo theo khi người ta đắm nhiễm mưu tìm!

Ở đây sẽ có ba trạng thái khổ, một là khi chưa có danh vọng nên người ta cần phải tìm và dùng đủ mọi cách để cho có được danh vọng; đây là cái khổ chưa được cầu cho được. Ví như để có được quan chức, địa vị, bằng cấp nọ kia người ta phải ra công nỗ lực học hành, phải vất vả lo nghĩ, hy vọng đuổi tìm, lắm khi phải mưu mô, thủ đoạn mới mong chiếm được những địa vị và danh vọng mà họ muốn.

Hai là, khi được rồi người ta phải lo lắng giữ chặt và bảo vệ nó; đây là cái khổ của lo lắng, sợ hãi. Ví như khi có được danh vọng như: bằng cấp nọ kia, quan chức cao, vàng bạc tài sản dồi dào… họ phải lo gìn giữ nó không để mất mát. Trong giai đoạn này có rất nhiều người ghen ghét, ganh tị nên tìm cách nói xấu và ám hại họ, do đó những người có danh vọng hay sợ hãi bị giết chóc, bắt cóc, thủ tiêu và bị chưởi bới.

Ba là, khi bị mất đi những thứ yêu thích, họ sẽ bị khổ sở, sầu muộn, tuyệt vọng, chán chường và hối tiếc; đây là cái khổ khi bị mất danh vọng. Ví như những người khi bị cách chức, bị mất ghế, bị sa thải, họ đều phải chịu sự khổ đau với tâm tư bị hành hạ, dày vò, ray rứt và mang nhiều hối tiếc, cuộc đời họ như đã tan vỡ và họ sẽ chẳng thấy vui thú gì để sống trên trần gian này nữa, nên thường tìm cách kết thúc sinh mạng của mình bằng biện pháp nhảy lầu hoặc bằng chay thuốc an thần với số lượng cao.

Nói vậy cũng không phải là để bài bác và chê bai những cái mà con người ta từng theo đuổi kiếm tìm danh vọng, mà nói để hiểu rõ về thực chất của nó, để ta khỏi vướng mắc và khổ lụy về nó. Con người cũng cần có danh lắm chứ, nhưng có danh và hiểu rõ về bản chất thực sự của danh trong cái nhìn trí tuệ, thì ta sẽ bớt khổ đau nhiều lắm. Vì sao? Vì danh kia khi tìm kiếm, hy vọng, mong đợi thì rất khó được, nhưng được rồi thì dễ chóng tàn, khi đã tàn, đã mất thì sự khổ đau không cùng – nếu thiếu trí tuệ sẽ mãi mãi hiện hữu trong ta như một vết thương đau nhức. Trong  kinh Tứ thập nhị chương Đức Phật có nói rằng:

“Người thế gian suốt một đời theo đuổi tìm cầu danh vọng, nhưng khi được thì thân đã già suy. Tham danh lợi thế gian mà không lo học đạo thì thật là uổng công nhọc xác, ví như lửa đốt nhang thơm, khi ta ngửi được mùi hương thơm thì cây nhang cũng đã hóa thành tro tàn. Danh tiếng lừng lẫy vang xa cũng như ngọn lửa đốt cháy thân này ở ngay sau lưng mình đấy”.

Xưa vì chưa rõ tục Tiên,
Đến nay còn vấn trong miền trần ai.
Giờ đã hiểu đâu dài đâu ngắn,
Cũng nên lo cho đặng siêu phàm;
Của trần chớ bận lòng tham,
Từ lâu tham nó đâu làm chi nên.
Tham vốn là căn nguyên sự khổ,
Tham là mồ vô số sanh linh;
Tham danh, tham lợi, tham tình.
Càng tham càng thấy lòng mình không an.
Tham khi được rồi toan lo giữ,
Rủi mất đi sanh sự rầu buồn,
Trong lòng cứ rạo rực luôn;
Phải là tham vốn cội nguồn khổ chăng?
Tham thì gian kế sang đến tội,
Tội vốn là nguồn cội tử sanh;
Bao nhiêu khổ ách hoành hành,
Do lòng tham đắm nảy sanh phần nhiều.
Vậy rán bỏ đừng chiều nó nữa,
Để cho lòng thường bữa được yên;
Những nào túc trái tiền khiên,
Chỉ là lo trả lòng nguyền không gây.
Chịu cay đắng giồi mài chánh đạo,
Hẹn một đời trực đáo Tây Phương
Vua lòng tay tự cầm cương,
Thắng con ngựa ý trên đường xa xôi;
Không mỏi dạ trước ngôi Phật điện,
Chẳng lảng tâm khi niệm Di Đà;
Huệ lòng ắt được trổ hoa,
Đạo mầu sẽ đắc Phật tòa được lên

Ngô Khởi giết vợ cầu quan

Ngô Khởi vốn người nước Vệ, lúc bé còn ở trong làng, Ngô Khởi thường bị mẹ trách mắng về tội du đãng, hay chơi nghề đánh gươm. Hôm nọ bị mẹ mắng,  Ngô Khởi liền cắn cánh tay chảy máu ra mà thề với mẹ rằng:

– Từ nay trở đi, con xin từ giã mẹ, đi học phương khác. Nếu không làm nên khanh tướng, lên xe xuống ngựa, cờ mở trống giống, thì con quyết không về nước Vệ trông thấy mẹ nữa!

Người mẹ khóc mà bảo ở nhà. Ngô Khởi chẳng ngoảnh cổ lại, cứ việc ra thẳng cửa Bắc, đi sang nước Lỗ, xin học với Tăng Sâm, là một học trò giỏi của Khổng Tử.

Ngô Khởi ngày đêm chăm chỉ, không quản khó nhọc. Quan Đại Phu nước Tề là Điền Cư đến nước Lỗ nghe nói Ngô Khởi là người ham học mới thử hỏi chuyện thì thấy ứng đối trơn tru như nước chảy liền gả con gái cho. Ngô Khởi học Tăng Sâm được mấy năm, Tăng Sâm biết là nhà Ngô Khởi còn có mẹ già, mới hỏi rằng:

– Ngươi đi học đã lâu ngày, mà không về thăm mẹ thì sao cho đành lòng?

Ngô Khởi nói:

– Con đã thề rằng nếu không làm nên khanh tướng thì không trở về nước Vệ nữa!

Tăng Sâm nói:

– Đối với người khác thì mới nên thề, còn đối với mẹ thì thề sao được!

Từ bấy giờ Tăng Sâm thấy rõ tâm địa của Ngô Khởi quả thật không thiện lương. Chưa được bao lâu, có tin đồn rằng mẹ Ngô Khởi đã chết, Ngô Khởi ngửa mặt lên trời kêu to ba tiếng, rồi lại chùi nước mắt mà đọc sách như thường. Tăng Sâm giận mà nói rằng:

– Ngươi không về để tang mẹ, thế là người quên gốc! Nước không nguồn thì tất phải kiệt, cây không gốc thì tất phải gãy, người mà không gốc thì sống sao đuợc! Ngươi không phải là học trò ta!

Tăng Sâm sai học trò đuổi Ngô Khởi ra, không cho học nữa. Ngô Khởi bỏ đạo nho, đi học binh pháp. Trong ba năm, học đã thành nghề, mới xin làm quan ở nước Lỗ. Nước Tề đánh nước Lỗ, vua nước Lỗ muốn dùng Khởi làm tướng, vợ của Khởi là con gái nước Tề, người nước Lỗ nghi ngờ Khởi, Khởi bèn giết vợ để xin làm tướng, rồi đại phá quân Tề. Có người gièm pha Khởi với Lỗ hầu rằng:

– Khởi ban đầu thờ Tăng Sâm, mẹ chết không về chịu tang, bị Tăng Sâm tuyệt giao; nay lại giết vợ để xin làm tướng cho nhà vua. Khởi, là người tàn nhẫn, hành vi bạc bẽo vậy! Vả lại nước Lỗ cỏn con mà có cái tiếng thắng địch, thì chư hầu sẽ mưu diệt nước Lỗ thôi.

Khởi sợ đắc tội, nghe tiếng Ngụy Văn hầu cầu bậc hiền tài, bèn đến quy phục. Văn hầu đem việc hỏi Lý Khắc, Khắc nói:

– Khởi tham lam lại háo sắc; nhưng có tài dùng binh, Tư Mã Nhương Thư cũng chẳng hơn được vậy.

Vì thế Văn hầu dùng Khởi làm tướng, đánh nước Tần, hạ được năm thành.

Khởi lúc làm tướng, ăn mặc cùng hạng với người lính bậc thấp nhất, ngồi không bày chiếu, đi không cưỡi xe, tự mình đeo vác lương thực, cùng binh sĩ chia sớt lao khổ nhọc nhằn. Có tên lính bị mụt nhọt độc, Khởi dùng miệng mình hút mủ giúp cho. Mẹ người lính nghe biết được chuyện ấy thì khóc lóc thảm thiết. Có người hỏi:

– Con bà, là binh lính, mà Tướng quân tự mình hút nhọt cho nó, khóc vì nỗi gì?

Người mẹ ấy nói:

– Vì trái lẽ thường vậy. Năm ngoái Ngô Tướng quân hút nhọt cho cha nó, cha nó dốc lòng chiến đấu chẳng trở gót, rút cục chết ở đất địch. Nay Ngô Tướng quân lại hút nhọt cho con ông ấy, thiếp chẳng biết nó sẽ chết ở đâu nữa, vì thế khóc nó!

Bà mẹ của tay sĩ tốt kia quả là bậc hiền minh, chẳng khác gì mẹ của Mạnh Tử khi nhìn thấu cốt lõi của vấn đề. Một người mà đối với mẹ không hiếu thuận, đối với vợ không tình nghĩa, mà lại thương yêu kẻ khác là trái với thường đạo, tức là sự quan tâm chăm sóc đó là giả dối. Bởi bà biết rằng, sau khi được sếp tự mồm hút mủ, ngoài nguy cơ nhiễm trùng, cậu con trai của mình sẽ bị tiêm vào não ý thức: sẽ hy sinh tính mạng không cần đặt vấn đề, giống hệt người bố của mình. Ngô Khởi vốn là kẻ sành sỏi tâm lý người đời, nghĩ rằng cái miệng của mình hút mủ vốn quen, kiểu gì cũng phát huy tác dụng, nào ngờ chỉ khác chuyện gặp phải người mẹ tỉnh đòn mà thôi.

Về sau Ngô Khởi sang nước Sở, được vua Sở là Điệu Vương trọng dụng, phong làm tể tướng. Ngô Khởi nêu rõ pháp luật, ra lệnh thi hành bỏ những chức quan không cần thiết, bỏ không chu cấp cho những người họ nhà vua đã xa đời, để hậu đãi nuôi dưỡng những người chiến đấu, cốt làm cho quân mạnh… Ngô Khởi đã giúp nước Sở giàu mạnh. Kết quả: phía nam bình định Bách Việt, phía bắc lấy đất Trần, đất Thái, cự tuyệt Tam Tấn, phía tây đánh Tần.

Các nước chư hầu lo sợ Sở mạnh, những người quí tộc nước Sở ngày trước do hiến pháp của Ngô Khởi mà quyền lợi của họ đã bị tước đoạt, nên rất căm hận đều âm thầm tìm cơ hội để ám hại ông.

Đến khi Điệu Vương mất, các đại thần, tôn thất làm loạn đánh Ngô Khởi, ông bèn chạy đến nấp bên thây vua. Nhưng cuối cùng ông vẫn bị những người nổi loạn bắn và đâm chết. Đây là cái kết của hành vi tham lam danh vọng, tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến mình!

Muốn danh phải giữ chánh danh,
Nếu danh không chánh họa sanh đến mình.
Chánh danh không kẻ nào kình,
Tà danh dẫu có giữ gìn cũng tiêu.
Chánh danh người đến khỏi kêu,
Tà danh gọi chẳng ai theo bao giờ.
Chánh danh thiên hạ được nhờ,
Tà danh thiên hạ như cờ tống ôn.
Chánh danh mới thật là khôn,
Tà danh chỉ gọi là phồn đại ngu.
Ngu như kẻ khát uống dầu,
Ngu như lũ bướm bay vào đèn chong.
Điều chi trái với lẽ công,
Mạnh như Hạng Võ cũng không lâu dài.
Được quyền chớ hiếp hại ai,
Hại người nhứt định quyền oai không còn.
Lấy tình của mẹ thương con,
Để thương người khác oán hờn sẽ không.
Sống trong tâm đức đại đồng,
Trên không ai oán dưới không ai thù.
Sáng đừng lừa gạt kẻ mù,
Khôn đừng lợi dụng người ngu hơn mình.
Gạt mù sẽ hóa ra manh,
Lừa ngu sẽ bị trở thành người ngông.
Được thông dạy kẻ chưa thông,
Vui cùng đồng hưởng khổ cùng đồng chia.
Mẹ con tình ấy không lìa,
Người đâu cũng mến Trời kia cũng chìu.

Con người nếu không có sự tu học và thấm nhuần chất liệu trí tuệ nơi Phật pháp, thì thật khó lòng dửng dưng đối với cái danh vọng trên trần đời. Ai dám làm người chịu tách mình ra khỏi cái biển người đang chen nhau trong mê hồn cung đấy, có chăng là người ấy phải có một nhận thức sâu sắc về tính vô thường, giả tạo của cuộc đời, mới có thể sống an nhiên tĩnh lặng mà ngoái nhìn thiên hạ đua tranh. Để có được sự hiểu biết và thâm nhập thật sâu về lý vô thường, thì ai đây nếu không là những người đi vào các con đường đạo hạnh. Nhưng việc này  không dễ vì ngay cả những người chuyên tu cũng thấy lao xao trong lòng, do không được tu học đúng nghĩa, do không giữ vững sự phát tâm chân chánh ban đầu, nên người ta lấy Phật pháp làm con đường tiến thân cho danh vọng và sự nghiệp, có lúc cũng đi tìm kiếm, cũng tự hào với cái danh cái chức vị nọ kia trong đạo.

Thật ra những ước vọng thầm kín trong mỗi con người là thích được người khác chú ý, tôn trọng và kính nể; dù người đó là một người thường hay một người tu. Có những danh vọng và chức vị nhỏ người ta muốn được tôn trọng và kính nể theo mức độ nhỏ; có danh cao, chức lớn thì người ta cũng muốn người khác biết đến và kính nể nhiều hơn. Thế nên theo thời gian tu hành nhiều năm, có phẩm bậc cao hơn thì người tu muốn được xem trọng cũng là chuyện thường tình; nhưng nếu lấy Phật pháp làm thước đo cho việc này, thì việc mong muốn được người tôn kính và trọng nể nhiều hơn qua lâu năm tu hành; thì đây quả là một mong muốn của bản ngã do thiếu chất liệu tu hành mà ra.

Khi không tu hành thật sự thì người ta sẽ thấy cái danh vọng này là thật có, thấy có mình đáng hưởng cái danh này và thấy cuộc đời là thật và thường tại. Chỉ có cái nhìn và thấy như vậy thì người ta mới ham cái danh hão huyền để phải mừng, phải vui và tìm cầu chạy theo nó, để rồi phải lo phải buồn phải sầu phải khổ vì nó. Còn nếu luôn luôn nghĩ đến sự tu hành, nghĩ đến sự khổ não của chúng sinh mà hằng khởi những niệm từ, tâm bi mong cứu độ mọi loài, thường nghĩ đến giải thoát thì sẽ đâu ham những cái danh giả tạo mà người khác ban tặng cho.

Nếu có những hành động nào cao cả và đẹp đẽ nhất trong sự gạt bỏ và chối từ danh vọng cuộc đời, để ta lấy đó làm gương mà noi, thì đó là hành động ra đi của Đức Phật. Có ai có danh vọng và quyền lực hơn Đức Phật thuở bấy giờ, có ai có đầy đủ cuộc sống và sung sướng như Ngài vậy mà Ngài vẫn chối từ và thản nhiên ra đi. Trong kinh Tứ thập nhị chương Đức Phật nói:

“Ta coi ngôi vị vương hầu như bụi qua kẻ hở; coi vàng ngọc châu báu như ngói gạch; coi lụa là như vải thô; coi đại thiên thế giới như hạt tiêu… ; coi thịnh suy như cây bốn mùa”.

Ngày xưa có hai anh em đều xuất gia học đạo. Người anh thường nghĩ đến việc hành thiền, chuyên tinh tu hành, chẳng bao lâu chứng được đạo quả A-la-hán thanh tịnh, thấu triệt sáu pháp thần thông. Người em chỉ nghĩ đến việc học rộng nghe nhiều, ưa thanh danh, muốn mình được vẻ vang. Người anh khuyên bảo em:

–Thân người khó được, gặp Phật ở đời cũng không phải dễ. Đã được thân người, nên quý thời gian, siêng năng tu tập để giải thoát sinh tử luân hồi!

Người em nói với anh:

–Chúng ta cần phải học hết ba tạng Kinh, Luật, Luận đủ khả năng làm thầy người mới tập hành thiền.

Người anh lại vì em nhắc nhở ý nghĩa vô thường: “Thở ra mà không hít vào là đã thuộc về đời sau.” Người em cứ giữ lấy ý nghĩ của mình, không chịu nghe theo lời dạy. Sau đó không bao lâu người em mang bệnh nặng, rất nhiều lương y nổi tiếng cũng bó tay không thể cứu chữa. Các thầy thuốc thấy bệnh không qua khỏi nên lần lần bỏ đi. Người em rất sợ hãi, tự biết mình sẽ chết, bèn nói với anh:

– Tại em ngu si không nghe lời anh dạy, nay sắp chết, không biết sẽ đi về đâu?

Người em nước mắt chảy dài hướng về người anh mà hối lỗi. Sau đó không lâu người em mạng chung. Người anh liền nhập thiền định, quán xét chỗ thác sinh của em, thấy người em được đầu thai trong nhà vị trưởng giả. Nhà vị trưởng giả cũng gần chùa, nên người anh thường đến nhà làm Thiện tri thức, muốn độ người em.

Khi chú bé, con vị trưởng giả đã được ba tuổi, họ đem vào chùa xin quy y làm đệ tử. Đến bốn tuổi, người vú nuôi bồng đến thăm thầy ở trong chùa. Vì chùa ở trên núi cao, phải lót đá làm đường đi lên, bà vú nuôi bồng chú bé không vững, lỡ tay rơi xuống, lộn nhào, đập đầu vào đá vỡ sọ chết. Khi chú bé lâm chung, tâm sinh ác niệm vì giận bà vú kia bồng lêu lỏng đến nỗi phải mang họa. Do nhân duyên sinh khởi sân hận, nên khi mạng chung liền bị đọa trong địa ngục lớn.

Người anh lại nhập định, quán xét thấy em bị đọa vào địa ngục, người anh chỉ biết than thở và đành chịu, không còn giúp được gì: “Chư Phật nếu gặp người không có nhân duyên còn không thể cứu độ, huống gì ta, cũng đành chịu thôi vậy!”

Thân còn tạm huống gì chung đỉnh,
Vật trên đời đâu đặng dài lâu;
Vì mến yêu mà phải ưu sầu,
Xưa đã thế nay đâu khác được.
Hãy nhìn thẳng tấm gương kẻ trước,
Danh lợi bao tình dục dường bao;
Đến nay đâu tồn tại người nào,
Người và vật đều tiêu mất cả.
Ham muốn ấy chỉ gây khổ quả,
Hết đời nầy dẫn cả đời kia:
Kiếp rồi mê kiếp tới cũng mê,
Cứ như thế không hề dứt khổ.
Mắt từ bi xem qua các chỗ,
Cõi thế gian đâu đó như nhau;
Được tỉnh ra có mấy ai nào,
Còn say gục biết bao nhiêu kẻ.
Nay được có Phật khuyên đủ lẽ,
Rán tưởng tin mạnh mẽ lo tu;
Đừng đem lòng mê muội dại ngu,
Vui ngồi mãi trong tù đến chết.

Nếu những người tu hành vì lòng từ bi thương xót thật sự với những nỗi khổ đau và mê lầm của cuộc đời, nên xông xáo lao vào cõi trần tục này để cứu độ mọi người, thì cái động cơ tâm lý ấy quả thật đáng tán thán và đảnh lễ. Nhưng nếu để lao vào cuộc đời này với mục tiêu có được những danh vọng, sự tôn kính và cúng dường thì dù những việc làm Phật sự, hoằng pháp lợi sinh kia mang ý nghĩa cao cả bao nhiêu đi nữa cũng là vô ích, vì nó đưa đẩy người tu ấy vào đường danh lợi chẳng khác gì thế gian!

Ngày nay, những người tu có thể nhân danh những cấp bằng cao học, hay tiến sĩ để vươn mình ra đời, làm việc Phật sự lợi ích cho chúng sinh. Nhưng liệu những cấp bằng cao học, tiến sĩ ấy có đủ làm đại diện duy nhất cho tâm Bồ đề, tâm từ bi thương xót muốn thật sự cứu độ các chúng sinh hay không? Xã hội con người ngày nay là xã hội của danh và vọng, ai không có danh vọng người đó không được tôn trọng và nể vì, thế nên con người ta đua nhau truy tìm nó và gán lên người đủ thứ các chức vị, thanh danh. Nếu để đi vào cuộc thế và song song hành đạo giữa những người có nhiều danh vọng, mà người tu phải phương tiện dùng cái danh học, danh tu của mình để cảm hóa và nhiếp phục mọi người thì điều ấy chẳng trái; nhưng nếu lấy đó làm phương tiện tiến thân để có lợi, được danh, thì thật là sai hẳn cái mục tiêu mà người tu ấy đã phát nguyện lúc ban đầu.

Chớ ham việc lợi danh mang họa.
Bụng khi đói ngậm mồi khó nhả,
Nghèo gặp tiền chẳng mó dễ chi.
Cá mắc câu cũng bởi thế ni,
Người phạm tội cũng vì lẽ ấy.
Khi thèm khát nhịn đi ít thấy,
Lúc say mê dừng lại mấy ai.
Phần đông theo sở dục hằng ngày,
Muốn chi cứ làm ngay chẳng xét.
Biết chúng ghét vẫn làm cho ghét,
Không cần ngày mai mốt ra sao.
Để cho lòng tham dục túng thao,
Hiện thời có biết bao nhiêu kẻ.
Có vợ chính muốn thêm hầu lẻ,
Được tình nhân muốn bẻ thêm duyên.
Thấy lòng người không lúc nào yên,
Sự ham muốn lưu chuyền như vượn.
Chữ tài sắc lòng hằng mơ tưởng,
Việc lợi danh mở miệng nói luôn.
Nợ hồng trần chẳng lúc nào suông,
Tâm trí mãi điên cuồng danh lợi.
Xong tội nọ tội kia liền tới,
Hết tù này kế đổi lao kia.
Tự khóa thân rồi tự liệng chìa,
Cứ như thế kéo lê kiếp sống.
Đời này chẳng làm nên trò trống,
Kế đời sau cũng hỏng hư luôn.
Đã trải qua số kiếp dư muôn,
Nào khác giống dã tràng xe cát.
Tưởng là giấu được điều tội ác,
Đâu ngờ gây nên kiếp trầm luân.
Lo thân mà trái lại hại thân,
Chỉ một khổ làm thêm mười khổ.
Bị mọi cảnh trần gian cám dỗ,
Làm mê tâm của kẻ tham lam.
Gần xuống mồ lòng vẫn còn ham,
Đeo danh lợi như sam khó gỡ.
Cũng vì thế mà không hết nợ,
Vừa chết xong liền trở lên ngay.
Vay đâu thì trả đó không sai,
Kể sao hết hình hài quả báo.

4/-  Ăn uống

Trong cuộc sống chúng ta thường chỉ lo ăn với uống cho đó là vấn đề chính yếu. Tối ngày chúng ta làm lụng vất vả chỉ để ăn với uống sao cho ngon miệng nên ta phải giết hại các sinh vật rồi tham đắm, dính mắc vào đó mà chịu quả báo xấu khi đủ nhân duyên. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị.

Tại sao ta phải giết chết các loài vật để ăn trong khi ta không cần giết chúng, mà vẫn có sự sống nhờ các loài hoa màu bằng thảo mộc, chúng vẫn có thể giúp ta giữ được sức khỏe và hạn chế tối đa việc làm tổn thương các loài có tình thức? Nếu sự sống của con người vẫn được tồn tại mà không làm chết các sinh vật khác thì cuộc đời an vui, hạnh phúc biết bao!

Tại sao con người giết sinh vật để ăn? Từ khi loài người có mặt trên thế gian này họ chỉ ăn các loại cây trái và hoa màu thiên nhiên. Lúc đầu, loài người chỉ ăn các loại nấm, hạt, hoa, lá, củ, quả, cây, nghĩa là chỉ ăn thức ăn bằng thực vật mà thôi, nhưng dần dần con người ăn thịt cá là do bắt chước các loài dã thú ăn nuốt lẫn nhau.

Nhìn từ góc độ triết lý học Phật giáo, chúng ta thấy vô vàn, vô số địa ngục khác như các bệnh viện phòng cấp cứu, các nhà bếp của mỗi gia đình, các quán nhậu, các lò sát sanh, các chợ bán thịt cá, heo, bò, gà, vịt, các loài hải sản và cuối cùng là các nhà lưới bẫy đánh bắt.

Mỗi một ngày, vô số các loài bị phanh da xẻ thịt để cung cấp phục vụ cho loài người. Nhìn ở góc độ địa ngục trần gian, chúng ta còn có thể hình dung địa ngục trong tâm thức mỗi người, đó là tâm toan tính hại người, hại vật hoặc bị phiền não chi phối gọi là địa ngục tâm thức. Người tu nếu đạt đến giác ngộ giải thoát thì tâm sẽ an nhiên, tự tại dù thân có bị hành hạ, đau nhức chi phối.

Nên tự giác ngộ, nếu tham đắm mùi vị thơm ngon thì tương lai mình phải nhận chịu bao nhiêu đau khổ, nước đồng sôi rót vào miệng – ăn viên sắt cháy đỏ; nếu tâm tham thích ăn uống thái quá chẳng tự chủ nổi sự sai khiến của dục vọng, thì sẽ rơi vào trong loài giòi bọ bất tịnh.

Như một Sa di, tâm thường thích sữa đặc, lúc những thí chủ cúng dường chúng Tăng món sữa đặc, Sa di mỗi khi được phần còn thừa lại, thì trong tâm thích thú mê mẩn, vui sướng không rời xa.

Hôm nọ chú đột nhiên lâm cơn bạo bệnh rồi qua đời. Sau khi mạng chung, do lòng tham thích của thuở sinh tiền quá mãnh liệt mà tạo thành nghiệp, nên nghiệp lực ấy đã  dẫn dắt thần thức của chú

Sau khi mạng chung sanh vào trong bình sữa đặc còn thừa lại này, thầy của Sa di đắc quả La Hán, lúc chúng Tăng phân chia sữa đặc, nói rằng: “Hãy từ từ đừng làm tổn thương Sa di thích sữa đặc này!”

Mọi người nói: “Đây là sâu bọ, vì sao nói là Sa di thích sữa đặc?”

Trả lời rằng: “Con sâu này vốn là Sa di của tôi, chỉ vì ham thích sữa đặc còn thừa lại cho nên sanh trong bình sữa này.”

Vị thầy được phần sữa đặc, đến nói với con sâu rằng: “Người thích sữa đặc! Ông có biết tại sao ông đến đây chăng?”

Liền lấy sữa đặc cho con sâu.
*Thuở xưa có quốc vương tên là Nguyệt Phân, nhà vua có một Thái Tử. Vị Thái Tử này rất ham thích mùi vị ngon ngọt. Người coi vườn của nhà vua, hàng ngày chuyển trái cây ngon ngọt đến.

Trong vườn có một cây to, trên cây có con chim nuôi đàn chim nhỏ, thường bay đến non Hương Sơn, lấy trái quả thơm ngon mang về để nuôi đàn con. Đàn chim nhỏ giành nhau, một quả rơi xuống đất. Người coi vườn sáng sớm trông thấy loại quả cây rất khác lạ, liền mang đến đưa cho nhà vua. Nhà vua coi trọng quả này bởi vì có hương sắc rất đặt biệt. Thái Tử trông thấy liền đòi ăn, nhà vua yêu thương con mình liền lấy đưa cho. Thái tử ăn xong thấy ngon quá, nên vô cùng say đắm mùi vị đó, muốn ngày nào cũng được ăn.

Nhà vua liền gọi người coi vườn đến hỏi quả cây đó từ đâu mà có, người coi vườn bèn thưa: “Muôn tâu hoàng thượng! Quả cây này không có giống trồng. Hạ thần từ mặt đất mà nhặt được, nên cũng không biết nó từ đâu mà có!”.

Thái Tử khóc lóc bỏ ăn, nhà vua thôi thúc yêu cầu người coi vườn, nhờ tìm sao cho được loại quả đặc biệt ấy. Người coi vườn đến nơi nhặt được quả, thấy có tổ chim, biết là chim ngậm đến, bèn leo lên nấp kín trên cây, chờ đợi lúc chim mẹ tha quả về, liền giành lấy. Ngày nào cũng làm như vậy.

Chim mẹ vô cùng tức giận vì mất phần ăn của con mình, bèn bay vào trong non Hương Sơn lấy trái độc mang về, hương vị màu sắc y hệt loại quả trước đây. Người coi vườn giành lấy đem vào cung dâng lên cho Thái Tử, Khi Thái Tử ăn xong liền ngã lăn ra chết!
Nhà hiền triết Albert Schweitzer đã nói: “Một người chỉ thật sự có đạo đức khi họ biết nghe sự thôi thúc trong lòng tiếng réo gọi thương xót của con tim đối với mọi loài. Điều này họ có thể làm được trong từng ý nghĩ và việc làm; khi nghĩ họ chỉ nghĩ điều lành, khi đi họ tránh gây thương tích cho các loài vật. Họ không hỏi điều lợi điều hại, họ không phân biệt mạng sống lớn, nhỏ tầm thường hay quý trọng, và cũng không cần biết các loài ấy có những cảm tính thế nào. Đối với họ mạng sống là một sự thiêng liêng mầu nhiệm. Họ cũng không phá vỡ mảnh băng lấp lánh dưới ánh mặt trời, không ngắt những chiếc lá từ cành cây, không bẻ hoa và cẩn thận không giẫm đạp những côn trùng mỗi khi cất bước. Nếu họ làm việc dưới ánh đèn trong một buổi tối mùa hè, họ sẽ đóng cửa lại thà chịu nóng bức, còn hơn trông thấy xác những con thiêu thân nằm chết ngổn ngang và ngoi ngóp trên bàn.”

Con người ta thường vốn không tin nhân quả, nên do đó cũng chẳng sợ tội lỗi. Nếu sợ thì họ đã không dám tìm cái ăn cho ngon miệng trong sự nhai nuốt những con vật, mà kinh sách Phật mô tả: “cha mẹ bà con đời trước của mình.” Làm sao mình có thể sung sướng, vui cười hỷ hả khi nhai nuốt thịt của cha, của mẹ mình.

Trong Sám Văn Phát Bồ Đề Tâm của ngài Thật Hiền có đoạn: “Đánh con lừa đến đổ máu đâu biết đó là cái thảm kinh hoàng của mẹ ta; lôi con heo đến lò thịt nào hay đó thật là nỗi đau thống thiết của cha mình. Ăn thịt con ruột mà không biết, Văn Vương còn như thế; nhai nuốt máu xương cha mẹ mà không hay phàm phu thảy đều như vậy. Đời trước ơn nghĩa mà đời nay thành oán thù, ngày xưa oán thù mà ngày nay thành ruột thịt một nhà. Quá khứ là mẹ mà hiện tại là vợ, kiếp trước là cha mà nay lại là chồng. Nếu có túc mạng thông để thấy thì thật đáng hổ đáng thẹn, nếu có con mắt thiên nhãn để nhìn thì quả thật đáng xót đáng thương!”.

Ngài Xá Lợi Phất một hôm đi khất thực tình cờ ghé qua nhà một trưởng giả nọ. Ông là người giàu có nhất vùng nhưng lại keo kiết và bủn xỉn, nên chẳng bao giờ muốn bố thí hay cúng dường cho bất cứ một ai. Hôm ấy ông đang ngồi ăn thịt trong nhà cùng với vợ và con, thì Ngài đến đứng lặng lẽ chờ bố thí. Một lúc lâu mà không thấy vị tăng đi, ông trưởng giả bực mình ra mắng rằng: “Sao ông lì lợm quá vậy, nhà tôi không có gì cho ông đâu!”
Nói xong ông trở vào nhà và thấy con chó đang loay hoay gặm miếng thịt mà ông vừa ăn dang dở, sẵn bực tức trong lòng ông dùng chân đá mạnh vào con vật, nó la lên một tiếng “cẳng” đau đớn rồi cúp đuôi chạy mất. Bên kia người vợ cũng đang gặm nhắm một đốt xương, bèn cất tiếng càm nhàm chửi rủa con chó hỗn xược. Trông thấy tình cảnh đó, Ngài Xá Lợi Phất buột miệng nói lên bài kệ như sau:

Kẻ ấy ăn thịt cha của mình, và lấy chân đá mẹ mình.
Nó ôm vào lòng kẻ thù mà nó đã giết;
Người vợ đang gặm nhai xương của người chồng xưa.
Ta cười khi thấy tấm màn bi kịch của cõi luân hồi!
Nói kệ xong, Tôn giả rời sang nhà khác.
Cũng trong thời Đức Phật, Ngài cũng gặp trường hợp khá tương tự khi đến khất thực tại một nhà trưởng giả nọ. Ông  ấy cũng là người keo kiết nên không muốn cúng dường Đức Phật, mà còn xua chó ra cắn Ngài.

Con chó dữ tợn xông ra cửa như muốn chực tấn công Ngài, nhưng với tâm từ bao la mà Ngài trải rộng hướng về nó, con vật kia bỗng chùn bước và khi ấy, Ngài đã nhắc cho nó biết về tiền kiếp nguyên là cha của người trưởng giả, và do vì lòng tham lúc mất nên phải tái sinh vào loài chó để giữ của cho con mình.

Nghe Đức Phật nói rõ nghiệp báo và cái si mê nên phải bị đoạ làm súc sinh, con chó bỗng ủ rũ và không ăn uống trong nhiều ngày. Biết được nguyên nhân, ông trưởng giả bèn mắng Đức Phật vì cho là Ngài dùng tà thuật làm con chó bệnh.

Đức Phật ôn tồn kể rõ tiền kiếp của con chó là cha trưởng giả, và do vì lòng tham nên cha ông phải đầu thai lại làm chó để giữ của cho ông. Hiện nay chỗ nó thường nằm chính là chỗ khi trước người cha chôn vàng ở đó. Không tin, ông bèn cho người đào lên và quả thật đã thấy hũ vàng.

Quá đỗi xúc động, ông khóc than và sám hối với Đức Phật rồi sau đó đem số vàng ấy cúng dường Tam Bảo, và nhờ oai đức của chư tăng cầu siêu độ cho cha. Thời gian sau do sự hóa độ của Đức Phật, do sự cầu siêu hồi hướng công đức của chư tăng và ông trưởng giả, nên con chó đã chết một cách êm đẹp và được thác sinh vào cảnh giới an lành.

Luân hồi có khi dài khi ngắn,
Có khi vừa chết đặng ít ngày;
Thì liền bị dắt đầu thai,
Làm người trở lại nhớ ngay kiếp người.
Nếu bị nghiệp sanh nơi cầm thú,
Sống theo loài rừng rú ngu đần;
Sau dù trở lại nhân thân,
Dễ quen tánh thú nhiều hơn tánh người.
Những tập quán hồi thời quá khứ,
Nếu như không cơ hội chạm va;
Thì là khó nổi nhớ ra,
Thói quen nằm mãi trong nhà nghiệp duyên.
Nếu ma quỉ sanh lên nhân loại,
Dễ cảm theo cái thói quỉ ma;
Chánh đường nếu chẳng xông ra,
Thì là dễ bị đường tà cuốn lôi.
Đã sanh được làm người rất quý,
Thường được nghe dạy chỉ tu hiền;
Gần đường về Phật về Tiên,
Không tu sau khó trở lên làm người.
Để sanh lạc vào nơi cầm thú,
Không được nghe khuyên nhủ lời lành;
Thì không được biết tu hành,
Tất còn chịu kiếp tử sanh lâu dài.
Nạn ấy lớn hơn tai nạn khác,
Cũng là điều hình phạt tối cao;
Để cho cửa thú lọt vào,
Giấc mê dài biết ngày nào tỉnh ra.
Giới ma quỉ cũng là đại nạn,
Kiếp sống như là ráng là mây;
Tiêu tan chẳng có hẹn ngày,
Thường cam đói khát giận gây trong lòng.

Có lẽ người ta sẽ không tưởng tượng được những sự kinh nghiệm mà hàng ngày khi ăn, khi ngủ, khi ôm ấp yêu đương của họ là những cảnh tượng kinh khiếp như chư Phật và các vị Tổ đã nói. Họ chỉ làm vì chỉ thấy và biết ở những gì trước mắt, mà chẳng biết chẳng hiểu bề sâu. Nhưng cái thấy, cái biết của họ trước mắt có là bao. Mắt thì không thể nhìn xa hơn vài mươi mét, cái biết và hiểu thì không quá phạm vi một đất nước, một thế gian này so với cái nhìn thấu suốt mười phương của các bậc trí tuệ, và cái biết không cùng tận của những người đã giải thoát. Đáng buồn thay, là con người với cái hiểu biết và thấy hạn hẹp như vậy, nhưng lại không tin gì khác, không tìm cầu học hiểu thêm để thăng hoa cuộc đời và làm tốt đẹp cho những kiếp sống về sau.

Do không tin gì hết, nên họ thường chỉ biết sống trong hiện tại với những cái vui và cái ngon trước mắt. Để rồi không biết vì cái ngon ấy mà họ đã tạo ra bao nhiêu điều ác, và rồi phải chịu quả báo ngay khi trút bỏ hơi thở cuối cùng. Thế nên Ngài Tuyên Hóa đã nói rằng: “Nếu người ta không ăn thịt thì có lẽ phải chịu thiệt thòi, vì không hưởng được của ngon vật lạ trong cuộc đời. Nhưng nếu ăn thịt các loài vật thì sau khi chết, họ phải tới địa phủ để thanh toán nợ nần. Tôi lấy lương tâm mà nói thật cho các vị biết rằng: nếu mọi người không ham khoái khẩu, không ham hưởng thụ, thì sau khi chết sẽ không phải ra tòa”.

Tham Thực Cực Thân

Tánh rộng rãi của quan thái thú họ Trần thì mọi người ai ai cũng biết. Ông nghĩ thà chết còn sướng hơn là sống mà không biết tiêu xài. Vấn đề tiền bạc thì ông không cần để ý, và đem sử dụng có đúng chỗ hay không ông cũng chẳng quan tâm.

Và giống nhiều người xa hoa phung phí khác, thú vui của ông là thích ăn uống và tiệc tùng. Như người xưa đã nói ông có thể giết ăn “bất cứ thịt con vật nào hai chân trừ cha mẹ của ông, cũng như các thú vật bốn chân trừ ghế và bàn.”

Còn về giường ngủ thì khỏi nói! Bên trên nó được chạm trổ hình rồng phụng rất đẹp, chẳng khác nào long sàng của hoàng đế. Ông thường mặc thứ y phục sang trọng và đắc tiền nhất. Ðồ dùng trong nhà ông đặt mua đều là các loại thượng hạng.

Nhưng sở thích chính của ông là ăn nhậu. Mỗi ngày ba bữa ông dùng điểm tâm, ăn trưa và buổi tối gồm có các thứ óc vịt, chân gấu, vi cá, bướu lạc đà, môi khỉ, gà, ếch, hươu, và những thức ăn cầu kỳ, tốn kém khác. Nhiều năm qua, ông đã sát hại hàng nghìn sinh vật vô tội để thỏa mãn cho khẩu vị của mình.

Sau khi về hưu, ông mua một biệt thự nguy nga tráng lệ. Trong vườn có ao, suối nước chảy róc rách bên cạnh là những túp lều để ngồi chơi. Ai đi vào đó cũng tưởng như mình lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh! Hơn nữa về phương diện ẩm thực thì ông chuyên mướn những người đầu bếp giỏi để sửa soạn các món ăn tuyệt hảo.

Ông thường nói với các bạn bè: “Ðời con người ta chắc chi sống được lâu dài? Hiện tại sống mà quý vị không biết hưởng thụ thì sẽ chờ đến khi nào? Con người sống mà chưa bao giờ được tận hưởng các thức ăn cao lương mỹ vị thì cuộc đời như thế kể như vô nghĩa!”

Nghe vậy, có người nói: “Ðể rồi xem, chung cục một ngày nào đó chắc chắn ông ta sẽ chuốc lấy quả báo.” Nhưng ông không cần đếm xỉa tới lời bàn tán của thiên hạ.

Quả nhiên về sau, do cuộc sống ăn xài tiền bạc vô độ đã khiến cho gia cảnh của ông ngày càng suy sụp, còn ông thì mắc phải chứng bệnh điên. Khi lên cơn, hễ thấy bất cứ vật gì ông cũng cầm lấy cho vào miệng. Không những chỉ chén dĩa người đầu bếp của ông dọn ra mà ngay cả lá, nhánh cây, sỏi đá, giày cũ, rác rến và tách uống trà ông cũng lấy bỏ vào miệng. Rồi ông nhai ngấu nghiến và nuốt chúng. Một thời gian sau, ông đã tự sát do lòng ham muốn giết hại các sinh vật để làm món ăn.

Phải chăng đó là một cái chết thật quá đau thương?

Con người ngày nay càng văn minh và tiến bộ bao nhiêu, thì sự độc ác giết chóc càng tinh vi bấy nhiêu, để rồi những người phạm tội giết gián tiếp là những người ăn các loại thịt cũng phải bị quả báo. Cũng đã có quá nhiều cách ăn được bày ra và bao nhiêu việc giết, cách giết được thực hiện. Có phải chăng con người với các nghiệp sát lâu đời của họ, đã chẳng thể nào sống và làm gì khác hơn nếu không có sự giết chóc. Giết chóc, sát hại lẫn nhau nó cứ như một oan khiên tương báo nào đó, để rồi cứ diễn tiến như vậy mãi mãi mà không thể dừng lại.

Ở các khu phố ta thường thấy xác thịt của các chúng sinh, như: gà, vịt, dê, heo… treo đầy các cửa tiệm, tự nhiên cảm thấy lòng khởi lên sự bất nhẫn, pha lẫn chút sợ hãi. Tại sao con người chỉ có vì cái ăn cho ngon miệng mà làm quá nhiều điều ác độc, còn những kẻ sát sinh giết hại kia thì vì đồng tiền mà sẵn sàng thực hiện hành động giết chóc. Mỗi ngày giết hàng trăm con vật thì hàng tháng, hàng năm hay suốt cả cuộc đời họ, số thú vật bị giết kia sẽ là bao nhiêu mà kể. Cũng việc giết hại sinh mạng thú vật này mà Ngài Milarepa có lần nói với một người thợ săn, khi ông ta tìm cách săn đuổi một con thú đang lẩn trốn nơi Ngài. Ngài nói: “Đức Phật dạy, mang được thân người thật là một điều quý báu vô ngần, nhưng mang được thân người như ông đây thì chẳng có gì là quý!”

Thật vậy, vì nếu mang được thân người với đầy đủ những quý báu của sự hiểu biết và suy tư, mà các loài vật khác không thể có được, nhưng nếu ta chỉ dùng thân người này cho toàn sự giết chóc, sát sinh, hại mạng hay chỉ duy nhất là cho việc kiếm được đồng tiền thì thật là có điều vô nghĩa nào hơn. Được sinh làm người chỉ để có cơ hội gây ra thêm bao nhiêu nghiệp ác chồng chất, thì nếu bị sinh làm loài vật có lẽ lại tốt hơn, vì tránh gây ác nghiệp và tránh bị đọa lạc. Thế nhưng, để hiểu và tin được điều này thì đã có mấy ai, và con người ta vẫn cứ tiếp tục làm ác!

Rồi không những chỉ những loài thú vật thông thường, người ta còn bày ra giết và ăn đủ loại như: cào cào, châu chấu, thậm chí đến dế, trùng. Có người còn nói rằng: “Người Việt Nam và người Hoa thì con gì cũng có thể ăn được, miễn ngo ngoe là có thể nấu và ăn được rồi.” Nghe vậy mà cảm thấy ớn lạnh xương sống. Chỉ ngoại trừ hai thứ là máy bay trên trời và tàu lặn dưới nước là không ăn mà thôi!

Nhẫn tâm nhất là cảnh con người giết những loài thú vật để ăn, thưởng thức thịt của nó khi nó còn sống. Phim chiếu cảnh người ta nhốt con khỉ trong một cái lồng, chân tay nó bị cột chặt và chỉ có cái đầu trồi lên khỏi lồng. Người đầu bếp lấy con dao hớt ngang phần trên của cái đầu, rồi nặn chanh rắt tiêu… vô, và thực khách đưa muỗng vào múc óc đó mà ăn một cách khoái khẩu vui thích hả hê, trong khi con vật bên dưới dẫy dụa la hét khủng khiếp vì cơn đau đớn. Cảnh người ta đem những con chó con ra cắt cổ cho máu chảy ra bát rồi xẻ thịt chiên ráng ngon lành, xúm nhau lại nói cười vui vẻ trong khi nhâm nhi; hay cảnh người ta chặt đầu một con gà bằng búa và con gà khi bị chặt đầu xong bỗng vùng ra được, trong cái cảnh không đầu ấy chạy một quãng xa mới ngã gục.

“Máu thịt tràn trề khen hợp miệng,
Đâu hay oán hận sánh bằng non!
Thân ta chốn đó đang tâm nghĩ,
Ai dám cầm dao cắt thịt mình.

Xưa nay trong một bát canh,
Oán sâu như bể hận thành núi cao,
Muốn hay nguồn gốc binh đao,
Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh”.

Trong kinh Đức Phật dạy rằng thân người rất quý báu và khó mà có được, như một con rùa mù ở giữa biển khơi cả trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần, trên mặt biển có khúc gỗ trôi qua lại từ đông sang tây từ bắc xuống nam, thế mà con rùa mù ấy trồi lên để đúng vào cái lỗ nhỏ giữa bọng cây, thì quả là một chuyện chẳng dễ chút nào. Sự việc được sinh làm thân người này của chúng ta cũng như vậy, thì phải biết sự quý báu và hy hữu đến dường nào. Thế mà được sinh làm người quý báu như vậy rồi, mà không biết tu tập, không biết gieo nhân lành, không làm việc thiện mà chỉ tạo nghiệp ác, sát sinh hại mạng, nói dối, tà hạnh và làm bao nhiêu là việc tàn ác khác, thì thử hỏi mạng sống làm người này của chúng ta sẽ có ý nghĩa gì, và một khi chết đi ta sẽ tái sinh vào cảnh giới nào? Cái tâm hung ác chỉ thấy máu và giết chóc hàng ngày ấy làm sao không quen thuộc khi thấy máu, cùng sự giết chóc trong các cảnh giới sắp tới? Chắc chắn là sẽ phải đọa lạc mà chẳng một chút hồ nghi gì. Sự thác sinh sẽ sinh vào các cõi mà chỉ toàn là máu và sự giết chóc ắt hẳn là điều tất nhiên, tương ưng với tâm và những tư tưởng ác độc liên tục hiện tại của chúng ta. Vậy thì điều đó có chi là mơ hồ, là mê tín chẳng đáng tin cậy!

Thức ngon đặc chế

Trong một vùng nông thôn thuộc miền Đông bộ Thái Lan, có một nông phu tên A Bang, bà vợ sinh được 3 đứa con gồm hai nam, một nữ. Đứa lớn tên Ô 9 tuổi, đứa kế tên Hồng 7 tuổi và bé gái út tên Bạch 5 tuổi.

Hôm nọ, vợ chồng A Bang đến dự lễ nơi nhà một người bà con, bỏ ba đứa nhỏ ở nhà. Nơi chúng ngụ là căn phòng bằng gỗ xây theo kiểu Thái. Cạnh phòng có chất một đống rơm khô. Ngoài ra còn có một ống máng xối hình chữ thập để hứng nước mưa và một hàng lu dùng chứa nước uống.

Nhà ở các hộ nông dân nơi đây xây cách nhau rất xa, phân bố rải rác trong các khu ruộng vườn.

Hôm đó, căn phòng gỗ đột nhiên bốc cháy, láng giềng ở xa chỉ nhìn thấy khói đen bốc cao, lửa vây kín nhà, cả tòa nhà gỗ chẳng mấy chốc bị thiêu rụi, ba đứa trẻ trong nhà do cổng khóa kín không thể chạy đi đâu.

Nghĩ là nước trị lửa, thằng Ô lần lượt bồng hai em đem bỏ vào hai cái lu to đầy nước và đậy nắp lại. Sau đó nó cũng nhảy vào một cái lu khác để tránh lửa.

Lúc láng giềng và nhân viên cứu lửa chạy đến thì cả toàn nhà gỗ và bốn đống rơm cũng cháy rụi, còn thiêu chết một con bò bị cột, nhưng không thấy dấu vết các đứa trẻ ở đâu. Mọi người đều cho rằng chúng đã chạy thoát cả rồi. Khi vợ chồng A Bang về, họ cũng hoảng loạn tìm con, mãi đến tối mò cũng không tìm ra được.

Sáng hôm sau, một người bà con là Luân Bao cũng tới phụ tìm các trẻ, giống như có biết trước, ông vội chạy đến lu nước, dở nắp ra thì kinh ngạc hét to, vợ chồng A Bang nghe tiếng hét thất thanh, vội chạy đến xem, thì thấy thi thể của đứa con trai đầu. Luân Bao lại mở tiếp các lu kia, thì lần lượt phát hiện ra xác của Hồng và Bạch. Lúc này hai vợ chồng quá đau lòng, ngã quỵ xuống ngất xỉu.

Báo chí và đài truyền hình đều đăng tin thương tâm này. Lúc đó ký giả đài truyền hình phỏng vấn, hỏi Luân Bao vì sao biết ba đứa trẻ chết trong lu?

Luân Bao đáp:

– Đêm hôm qua lửa phát, ông đang ngủ nơi nhà mình bỗng mơ thấy cảnh mọi người đều chạy đi tìm các cháu, bỗng dưng thấy một lão già chưa từng quen biết, râu trắng bạc phơ dài tới ngực bảo ông: “Bầy cá ở trong lu nước!”

Tỉnh dậy ông thấy rất kỳ lạ, bèn vội vàng chạy sang nhà A Bang, nhào tới dở lu xem thử, không ngờ thi thể các bé ở trong đó.

Nghe đến đây A Bang hét to một tiếng, rồi ngất xỉu trên đất. Khi được cấp cứu tỉnh lại, đôi mắt ông như vô hồn, nhìn ngây dại về xác ba đứa con và lẩm bẩm nói:

– Báo ứng! Báo ứng mà!

Mọi người đều nghĩ ông thương tâm quá độ, tâm thần mê muội nên chẳng dám hỏi gì.

Theo tập tục ở nông thôn, hễ nhà nào có xảy ra sự cố là mọi người đồng tâm hiệp lực chia buồn, nên họ đã cùng nhau phụ giúp lo việc chôn cất các con của A Bang.

Vợ chồng A Bang nội trong một ngày mất hết ba đứa con cưng, đành nương náu tạm một nơi khác. Tài sản tích chứa đều bị làm mồi cho ngọn lửa, hai vợ chồng gặp phải gia biến thảm sầu nầy, họ thấm thía lý vô thường buồn vui ly hợp ở nhân gian nên không chút do dự đồng xin xuất gia.

Ai cũng hiểu và cảm thông cho họ. Nhưng mọi người đều thắc mắc khi nghe A Bang luôn mồm nói “Báo ứng! Báo ứng!”…Ông vốn là một nông dân trung hậu cần lao, nhưng đã làm gì để bị trách tội nặng nề như thế? Thật khiến người ta khó hiểu?

Chỉ có A Vu, em vợ A Bang là biết rõ. A Vu nói:

– Anh Bang sống luôn biết giữ hòa khí, nhiệt tâm giúp người. Anh chỉ có tính là rất ưa ăn ngon và tự mình sáng chế món “Rau dồn cá”, chính A Vu nhiều lần phải đối kịch liệt món này.

Thái Lan là xứ gạo, cá. Vào mùa xuân mỗi lần gặp mưa dông là thời kỳ cá đẻ trứng. Mười mấy ngày sau, cá con lớn bằng đầu đũa, A Bang ưa dùng vải mùng may thành vợt, lùng bắt đám cá này. Ít thì có mười mấy con, nhiều thì hơn trăm mạng, sau đó anh bỏ cá con vào trong thùng nước.

Lúc cần nấu, thì chọn các cọng rau to rỗng ruột, cắt bỏ các đốt mấu đi, thành là một ống trống suông. Sau đó đổ nước lạnh vào trong nồi, thả rau và cá con vào chụm lửa nhỏ riu riu. Do nước lạnh từ từ chuyển nhè nhẹ qua nóng, nên mới đầu đám cá hồn nhiền bơi tung tăng, nước ấm dần dần lên, cá nhỏ gặp lòng rau rỗng liền chui vào đó trốn nóng…

Tận mắt chứng kiến cảnh lũ cá bị giết chết tàn nhẫn, chết thảm thương, nhưng vợ chồng A bang chẳng mảy may động lòng trắc ẩn, ngược lại còn tự hào đắc ý vì mình biết sáng tạo ra món ăn cực kỳ đặc biệt và khoái khẩu này. Mỗi một khúc rau trống đều có một đám cá chui vào, đem ra trộn với gia vị thì ăn ngon cực kỳ, không gì sánh bằng.

Có lần A Bang làm ruộng, anh dùng vợt vớt hết bầy cá con, đột nhiên có hai con cá lớn (là cha mẹ của chúng) nhảy lên bờ. Có thể là do nhìn thấy bầy con bị bắt đem đi, chúng bi ai, thống khổ đến cực điểm mà nhảy lên tự sát để kháng nghị. A Bang lúc này nhân tính mê muội, cho rằng khi không có được của bất ngờ, liền bắt luôn hai con cá đó đem về nhà nấu ăn.

Con người quen tạo sát nghiệp ác độc, là do lương tâm bị vùi lấp mê muội, chỉ khi thấy cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái mình chết…mới kêu gào khóc lóc, hô thiên gọi địa đau đớn thảm sầu. Chẳng hề nghĩ đến loài vật cũng có nghĩa tình cha mẹ, anh em, phu thê, con cái…

Cổ thi nói:

Trăm ngàn năm nay trong chén canh,
Oán sâu như biển hận khó bình!

Như nay báo ứng nhân quả xoay chuyển đến khiến A Bang gánh phải niềm đau chôn con, nếm mùi khổ tự thân chứng kiến một bầy con bị chết cả, sao không khiến anh thối tâm nản chí chứ?

Một thi nhân thời cổ đại đã làm thơ ngăn sát thế này:

Ai bảo chúng sinh mệnh nhỏ nhoi
Chỉ là xương thịt với da thôi?
Xin anh chớ bắt, săn, giết chúng…
Tình cảm chúng đâu có khác người!

Nhân loại hằng ngày đều tự làm tăng thêm nghiệp sát oan trái. Khi chúng ta bệnh nằm tại y viện hay trên bàn mổ, ngay khi đó chúng ta có thầm tự hỏi: “Cả đời mình đã từng ăn bao nhiêu con gà, bao nhiêu con vịt, bao nhiêu con heo, bao nhiêu con bò…Bao nhiêu loài đã tán mạng vào bụng chúng ta chưa?” – Và “hôm nay chính là ngày báo ứng đến”, người vào thăm bệnh cũng cần nên phản tỉnh như vậy.

Nếu như nhân loại có thể tự phỏng vấn mình đến cùng thì sẽ phát sinh tâm từ, tâm sám hối và nghiệp sát tự nhiên sẽ giảm cũng như những chứng bịnh oan nghiệt kỳ lạ sẽ dần tiêu tan.

Kinh Phật đã mô tả khá rõ về việc oan oan tương báo, do việc giết chóc xảy ra hàng ngày của một người đối với các loài thú vật; khi thân này hoại diệt, tâm thức Mạt-na tức là tiềm thức sẽ quay lại hết tất cả những việc làm của họ trong cuộc sống trước mắt họ lúc chết, trong cơn sợ hãi tột cùng nếu suốt đời người ấy chỉ chuyên làm ác họ sẽ tắt thở và tâm thức ấy đọa ngay vào cõi ác.

Với người làm thiện thì những điều thiện, điều nhân đức trong suốt cuộc đời sẽ quay lại cho họ thấy, rất nhanh như những cuộn phim và trong sự an lành của việc thiện mình làm, họ nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng và tùy theo đó mà sinh vào các cõi lành.

Với người tu thì do vì suốt cả cuộc đời chỉ có tu hành, tụng kinh niệm Phật, làm những việc đạo đức nên dòng tâm thức tương tục của những câu niệm Phật, tụng kinh và làm những điều lành ấy, sẽ là những hạt giống quen thuộc đưa họ thác sinh vào những cảnh giới an lành tương tự. Sự thác sinh ở những kiếp sau, chỉ là một kết quả tương ứng với những gì mà con người ta đã quen làm trong kiếp sống này mà thôi. Đó là nghiệp, mà đó cũng là một tiến trình tiến hóa tất nhiên.

Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Bách Trượng có ví sự thác sinh kiếp tới của một người cũng ví như con chim bị nhốt trong một chiếc lồng, khi được thả ra tất nhiên nó sẽ bay đến nơi mà nó muốn đến nhất. Tâm thức chúng ta cũng vậy, sau khi rời khỏi thân xác này nó sẽ bay đến những nơi mà nó thích thú nhất.

Người ác cả đời chuyên làm ác giết hại sinh vật thì tâm thức thích thú giết hại ấy, sẽ tìm đến những nơi có sự giết chóc, máu me mà đến, nên rơi vào đọa lạc. Người thích thú trong việc sân hận chưởi mắng sẽ tìm những cảnh tương ưng mà đến. Người thích về ái dục, vui thú với xác thân, sẽ tìm những nơi có ái dục mà đến. Kẻ say sưa, hút sách nghiện ngập cũng sẽ tìm đến những nơi có nhưng sự việc ấy, thế rồi do nghiệp chiêu cảm dẫn dắt ấy, mà họ phải thác sinh vào các cảnh giới tương ưng.

Vậy thì những cảnh giới ác, đau khổ đọa lạc kia nào có phải bị đấng bề trên nào thưởng phạt, mà do chính chúng ta tìm đến, do vì chịu theo sự dẫn dắt của tâm tưởng mà mình trong kiếp sống này đã huân tập, đã quen làm hàng ngày. Riêng người niệm Phật cầu vãng sanh thì nguyện sao cho mình chỉ biết quen câu niệm Phật, quen nhớ tưởng hình ảnh trang nghiêm hiền hòa của Phật A Di Đà, các vị Thánh Chúng để một mai khi gần chết, chỉ biết trong tâm có một niệm là niệm Phật, một hình bóng đó là hình bóng Đức Từ Phụ A Di Đà. Được vậy thì chắc chắn sẽ được thác sinh vào cõi Lạc Bang.

*******

Nói về nghiệp sát, do vì cái ăn mà phải hại mạng sống các loài sinh vật, và ví điều đó chẳng khác bao nhiêu với các loài quỷ, loài dạ xoa chuyên môn bươi bới xác người tại nghĩa địa để ăn thịt. Nếu ta trong một đêm tình cờ nào đó ra bãi tha ma, mà trông thấy cảnh tượng hai con quỷ đang nhồm nhoàm nhai nghiến những cánh tay, cẳng chân của một xác người thì chắc hẳn chúng ta phải sợ hãi đến té xỉu. Nhưng gẫm lại thử xem chúng ta không phải là quỷ, là dạ xoa thì là gì? khi hàng ngày chúng ta cũng nhồm nhoàm, thích thú nhai nghiến những miếng thịt, chân, cánh của loài vật. Đối với các loài ấy thì chúng ta không là quỷ dạ xoa thì còn là gì? Có điều do vì loài súc sinh ngu si và thiếu hiểu biết nên nó chẳng tỏ ra vẻ thấu đáo và sợ hãi, dù rằng cái chết chỉ cận kề bên chúng. Còn ta do vì nghiệp giết đã quen, nên thấy chuyện giết chóc, ăn uống máu thịt nọ kia mà cho là thường tình, nhưng nếu quán sát, suy nghĩ, chiêm nghiệm những lời kinh dạy, chuyện nhân quả nghiệp báo, thấu suốt được thịt da, xương máu đây là của cha của mẹ mình thì ta chẳng còn nhai nuốt được nữa.

Vì cái ăn ngon ấy không quá ba tấc lưỡi và nếu chỉ để ngon có vậy mà ngày này qua tháng nọ, năm kia rồi tới năm kia nữa ta phải tích tụ một số nghiệp ác khổng lồ chỉ qua cái ăn thôi thì quả thật đáng sợ. Rồi bao nhiêu là những nghiệp ác khác của thân, của ý, của si mê, vô minh có lẽ sẽ còn rất nhiều để chờ đón ta bên kia thế giới, ngay khi ta phải lìa bỏ thân này. Thế cho nên trong bài kệ mà chư Tổ truyền lại có nói đó:

“Quán xem trong bát canh này,
Hận sâu như bể, thù bằng non cao”.

Chỉ nội trong một bát canh mà chúng ta ăn trong một bữa ăn thôi, cũng đủ có bao nhiêu sự thù oán chất chồng của vô số sinh mạng. Các loài ấy đâu phải dễ dàng, vui vẻ và tự nguyện dâng sinh mạng cho chúng ta làm thịt để ăn. Các loài ấy cũng sợ hãi kinh khiếp khi bị ta bắt, và đưa dao vào cứa cổ chúng. Chúng cũng dẫy dụa lên đành đạch, vùng vằng cố thoát cánh tay đè và con dao cận kề khi đưa vào cổ, chứ nào dễ gì đem mạng đến rồi cười khà nhắm mắt đưa thân cho ta giết. Cứ thử tưởng tượng lấy, nếu ta bị ai chặn bắt và bẻ tay, chặt chân để ăn thì ta sẽ thấy đao đớn kinh khủng đến dường nào? Oán thù người ấy sẽ bốc cao bao nhiêu? Chỉ trong cuộc sống này đây mà nếu có người nào đó chỉ chửi mắng hoặc đánh đập ta chút đỉnh, mà ta còn tỏ lòng thù oán với họ gần suốt cả một đời, huống là họ chặt tay, bẻ chân và cắt đầu mình để lột da ăn thịt!

Bịnh của Văn Lai

Tại một bệnh viện huyện nọ ở Thái Lan, bác sĩ viện trưởng kiêm thường vụ chuyên khoa, kiêm cầm dao mổ. Lần nọ viện trưởng kể lại câu chuyện lạ lùng về một ca mổ, khiến người tỉnh giác phát tâm hướng thiện.

Viện trưởng nói:

– Tôi từ hồi làm bác sĩ tới nay, chưa từng gặp qua, cũng chưa từng trị qua loại bệnh kỳ lạ này. Người bị bệnh quái lạ ấy, trong vòng ba năm bị mổ hết 5 lần.

Và mỗi lần một nghiêm trọng hơn. Cuối cùng thì ngay cả tay, chân đều phải cưa bỏ. Biến thành người tàn tật còn một tay một chân.

Vị bị bệnh lạ này tên Văn Lai, một lần nọ anh bị ba ba cắn vào tay làm bị thương ngón út. Mới đầu đến bệnh viện chỉ rịt thuốc cầm máu, cho là không có việc gì, nhưng nữa tháng sau, nơi đốt ngón tay bị thương bắt đầu viêm, sưng phù đau đớn, bác sĩ kiểm tra xong, chẩn đoán là vi khuẩn độc ăn tới xương. Cần cắt bỏ ngón út để tránh độc lây lan làm hại tính mạng. Thế là cắt đi, còn lại 9 ngón tay.

Chưa được nửa năm, Văn Lai ra biển du ngoạn, thật không may, lại bị một con ba ba cắn bị thương ngón chân út.

Mấy ngày sau chân phát viêm, sưng đau, lại đến y viện chụp X quang thì phát hiện độc lan tới xương, phải cắt bỏ ngón chân út, để được an toàn.

Thời gian chưa được một năm, ngón tay út và chân út đồng phát viêm, sưng đau, Văn Lai lại đến y viện xin khám chụp X quang. Ôi thôi, không được rồi, lần này độc có khả năng hình thành ung bướu, cần cắt bỏ bàn tay và bàn chân đi. Người bịnh đồng ý tiến hành phẫu thuật.

Văn Lai gặp bất hạnh, nhiều người đều xôn xao bàn tán, nói quá lạ kỳ. Thế nhưng việc kỳ hơn nữa lại nối đuôi nhau xảy đến.

Nguyên là một ngày nọ, con trai của người quen thế phát làm tu sĩ, Văn Lai theo mọi người tham dự lễ xuất gia. Bởi vì lễ thế phát ở Thái Lan thường cử hành lúc 4 – 5 giờ sáng, cho nên người tham dự phải ngủ lại tại chùa cho tiện bề dự lễ.

Họ cùng ngủ chung trong điện Phật có đến khoảng 40-50 người nhưng xui xẻo lại giáng ngay trên mình Văn Lai.

Có một con chuột, trong mấy mươi người đang say giấc nồng đó, nó lại nhè ngay vết thương nơi cái chân của Văn Lai mà cắn cho một phát.

Văn Lai đau quá hét to và rên rỉ, làm kinh động cả đám người đang ngủ. Mặc dù chuột chỉ cắn một chút ngoài da, làm chảy ra tí xíu máu, nhưng mọi người bắt đầu bàn tán, họ nói: “Chuột chỉ cắn những vật không có mạng sống, ai mà ngẫu nhiên bị chuột cắn, chứng minh người đó chỉ là một cái thây không có linh hồn, cho nên con chuột mới dám cắn họ”.

Mọi người bàn tán um trời, khiến Văn Lai thêm hoảng kinh bất an, anh thầm nghĩ có lẽ mình không còn sống được bao lâu nữa! Mặc dù có người an ủi anh chẳng nên mê tín như vậy, nhưng anh vẫn cảm thấy mạng sống bị uy hiếp, hơn nữa ở chỗ hai vết thương bị cưa nơi tay và chân cứ âm ỷ ngứa đau hoài.

Thế là Văn Lai bèn tới y viện để tái khám.

Bác sĩ kiểm tra tỉ mỉ, nói:

– Không xong rồi, phim chụp X quang hiển thị, hai chỗ nơi vết thương đều bị độc cũ lan đến xương. Giống như lần trước ung bướu lây lan rất xa, nếu không cắt cánh tay và ống chân thì không được. Thế là lại phải cắt bỏ, cánh tay tính từ khủy trở xuống và chân cắt từ đầu gối trở xuống.

Trong vòng ba năm, chỉ mình Văn Lai thôi mà bác sĩ khai dao động thủ đến 5 lần. Bác sĩ viện trưởng, người đứng mổ cho bịnh nhân, nghĩ rằng ngày trước ắt anh có làm việc gì kỳ quái, bèn đặc biệt sưu tập, điều tra lý lịch, thân thế Văn Lai. Và cuối cùng bác sĩ biết được rốt ráo như sao:

“Văn Lai, 43 tuổi, làm nghề nông kiêm công nhân xây dựng. Bình thường tính ưa uống rượu, ưa ăn cá sông, đặc biệt thích ăn các loài rùa, ba ba v.v…

Văn Lai nghe người ta nói: “Nếu như ai ăn từ 10-20 con ba ba, thì suốt đời không bị bịnh phong thấp hay bịnh thời tiết, còn được nhuận âm bổ dương. Vì vậy mà anh thường ăn ba ba xào ớt, phối hợp với bình rượu trắng. Văn Lai tha hồ hưởng thụ cho sướng miệng. Suốt 20 năm nay anh đều ăn như thế, ăn không biết ngán.

Một hôm Văn Lai ra chợ mua được một cụ ba ba to “khủng”, nặng tới mười mấy ký. Anh mừng như bắt được vàng. Của quý hiếm này tất nhiên là không thể ăn một lần mà hết ngay được, phải cất làm sao để có thể hưởng thụ dần, không cần phải bỏ vào ngăn đá bảo quản.

Thế là Văn Lai nghĩ ra phương pháp tuyệt diệu: “Cắt ba ba ra ăn dần”. Bởi vì rùa và ba ba là loài có tuổi thọ cao, giỏi chịu đựng nên sống rất lâu, khó mà chết ngay được. Nếu như nhốt nó không cho ăn, thông thường nó vẫn có thể sống đến nửa năm.

Phương pháp ẩm thực tuyệt chiêu của Văn Lai là nếu hôm nay ăn bao nhiêu thịt, thì chỉ cắt bấy nhiêu. Sau đó quẹt vôi lên chỗ thịt vừa cắt để cầm máu. Như thế con ba ba này có thể để ăn dần đến 10 ngày hay nửa tháng mà nó vẫn còn sống, cuối cùng thì cắt đầu nó ăn hết.

Từ hôm Văn Lai nghĩ ra cách ăn “mới mẻ” và thực hiện thành công rồi thì kể từ đó, cứ y theo cách này mà hành sự và anh đã ăn không biết bao nhiêu con ba ba rồi.

Có người tốt bụng nhắc nhở anh, thủ đoạn này quá máu lạnh và tàn nhẫn, quá vô lương tâm, sẽ bị ác báo! Nhưng anh bất kể! Chỉ cần có thịt ba ba tươi ngon là đủ.

Cho đến lúc thân thể của anh bị cắt, cưa ra từng kì, nếm trải mùi vị đó, anh mới biết đây là báo ứng hiện đời đang giáng xuống thân mình. Nhưng có hối hận cũng đã muộn màng”.

Bác sĩ viện trưởng đem tư liệu sưu tập được, xem tỉ mỉ rồi viết ra câu kết luận:

“Y học vô phương giải thích những câu chuyện báo ứng nhân quả có thực như thế này!”

Đối với vấn đề ăn uống, con người chúng ta làm vậy và cho là phải làm vậy, vì chúng ta có cái lý của kẻ mạnh, cái lý của kẻ thông minh biết cách này cách nọ để săn bắn, đặt bẫy và tóm bắt các loài vật để giết. Ngoài cái lý này ra, chúng ta chẳng còn cái lý nào khác để giết hại muôn loài cho cái ăn của mình. Nếu đã biết ai ai cũng sợ chết, sợ khổ đau kể cả những loài côn trùng, loài vật nhỏ nhất thì tại sao ta phải giết nó để thỏa mãn ba tấc lưỡi của mình chứ?

Bỏ giáo lý và lòng tin vào Đức Phật qua một bên, thì một người nào đó dù có một chút lòng nhân ái, thương loài vật cũng không nỡ nhẫn tâm nhai nuốt máu thịt các loài này trong các bữa ăn hàng ngày. Có một vị Bộ trưởng ở Mỹ khi chứng kiến một đàn cừu bị dẫn đến lò thịt để mổ, sau đó khi có dịp nói chuyện với một người bạn ông kể lại như sau:

“Cái mùi giết chóc, tiếng la thét trong cơn hấp hối và những âm thanh chém giết nổi lên bên trong thật là ghê tởm, những con bê bị chặt giết trước mắt những con mẹ. Tôi thấy những người chăn súc vật đẩy loài thú tới sàn giết, nơi những con vật ấy có cảm giác nó sẽ bị giết nên lồng lên điên dại với những nỗi sợ hãi”.

Đã có nhiều nước Tây phương tuy không hiểu đạo Phật, cũng chẳng tin nhân quả nghiệp báo nhưng khi xem phim, đọc sách hoặc trực tiếp chứng kiến đã thấy rất tội nghiệp cho những con vật bị giết này, nên họ đã tự động ăn chay suốt đời. Nếu con người có tình thương, có sự rung động thật sự trong con tim mỗi khi thấy nỗi đau khổ của người, của vật thì họ sẽ chẳng an nhiên mà vui cười, mà sung sướng khi gặm nhấm những cái đùi, miếng thịt của những con vật xấu số.

Có bao nhiêu người ý thức được rằng 95% của hàng triệu gà nuôi trứng ở Mỹ, ở Âu châu bị nhốt dưới cái gọi là: thâm canh hay gọi là hệ thống xưởng nuôi nông trại? Trong một kiểu nhốt chung, nghĩa là bốn con gà bị ép chặt trong cái lồng rộng chừng 3 tấc, dài 4 tấc rưỡi, và trong lồng này các con vật ấy bị giam hãm suốt cả cuộc đời. Những cái lồng không có khe hở, bên dưới được làm bằng mạng lưới thép để những chất phân bả rơi xuống đất. Đèn trong lồng được bật lên 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày để gà có thể đẻ nhanh, trung bình mỗi con đẻ trứng sau mỗi 12 tiếng; Qua thời gian đẻ liên tục như vậy trong 14 tháng, nó bị con người bắt đem ra làm thịt. Hình thức nông trại kiểu mới này quả là một hình thức khai thác triệt để, và đối xử tàn bạo nhất đối với loài thú vật. Suốt cuộc đời của những con gà ấy, nó không có chỗ để cục cựa, để duỗi cánh; bị chèn nhét chật chội như vậy để đẻ trứng, sống như cảnh tra tấn ấy cho đến khi bị xẻ thịt.

Có bao nhiêu người quen thuộc với các hệ thống nuôi súc vật hiện đại để giết thịt, cũng có rất ít cơ hội mới có dịp thăm viếng những lò sát sinh ấy, để thấy và nghe những âm thanh thống thiết này! Một người có tấm lòng nhân hậu đều công nhận rằng: “Nếu ai đã từng nghe tiếng hét của thú vật khi bị giết thì họ sẽ không dám ăn thịt nữa”.

Cây lành mọc nhánh chồi tươi,
Sanh linh “bất sát” mới người thiệt “nhơn.”
Cuộc đời công lý tuần hườn,
“Sát sanh thường mạng” chẳng hơn kém gì.
Nên thường niệm chữ từ bi
Thương loài sanh vật khác gì thương ta.
Noi truyền theo dấu Thích Ca,
Ăn chay đạm bạc cũng qua tháng ngày.
Chớ nên tạo nghiệp đắng cay,
Ngon chi lưỡi miệng muôn ngày khổ đau.
Sống cần tu học dồi trau,
Thì là dưa muối tương rau tạm dùng.
Thân này đừng có quén vun,
Nó là tứ đại hiệp cùng với nhau.
Rồi đây có lẽ lâu mau,
Cũng tan cũng rã chớ nào bền lâu.
Đừng gây nghiệp báo thâm sâu,
Muôn đời ngàn kiếp cất đầu chẳng lên!
Nhơn lành đạo đức làm trên,
Theo con đường ấy vững bền về sau.
Rán mà sửa đổi dồi trau,
Ăn chay trọn thiện thác vào cảnh Tiên.
Luân hồi cùng mối oan khiên,
Chẳng còn đeo níu trói xiềng được ta.
Khuyên cùng tất cả gần xa,
Mở lòng lương thiện rán mà ăn chay.
Giữ lòng chơn chánh thảo ngay,
Tinh chuyên niệm Phật liên đài phóng quang.

Ở Ấn Độ, đây là một quốc gia rất nhân ái, rất có lòng thương đối với mọi loài súc vật. Những ảnh hưởng to lớn tốt đẹp trong việc tránh và kiêng cử việc giết thú vật đã có từ ngàn xưa, mạnh mẽ nhất là triều đại vua A Dục. Vua A Dục một nhà vua theo đạo Phật vào thời gian trị vì (268-233 Trước Công nguyên). Trước khi theo Phật nhà vua rất tàn ác, ông đi đến đâu là máu rơi và thây chất cao như núi đến đó, hàng triệu sinh linh đã vì ông mà bỏ mình, nhưng kể từ khi theo Phật ông trở thành một ông vua nhân đức chưa từng có. Ông không những cấm cản những chuyện giết chóc đối với người, mà với loài vật ông cũng ra các lệnh ngăn cấm, kể cả việc giết hại để cúng tế. Ông ăn chay và chống đối việc giết hại thú vật để ăn thịt. Ông cũng đã viết thành sắc lệnh trên một số trụ đá rằng: “Để phát huy những điều lành thiện giữa con người, tôi hô hào mọi người tránh làm tổn hại sinh mạng mọi loài bằng cách không sát sinh bất cứ thú vật nào.”

Truyền thống không giết hại sinh mạng thú vật để ăn thịt từ đó đã kéo dài qua nhiều thế kỷ, cho đến thời gian mà ngài Pháp Hiển, một cao tăng Trung Hoa sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ Tư cũng còn thịnh hành, và Ngài đã ghi lại một số điều trong tập ký sự của ngài như sau:

“Dân chúng trong vùng rất đông và an vui… khắp nơi ở trong nước, người dân không giết hại bất cứ sinh mạng loài vật nào, cũng không dùng các chất men rượu… Họ không có nuôi heo, gà và không bán những loại gia súc. Trong chợ không có quầy bán thịt, không có những người mua bán chất men say…. Chỉ có những hạng người Chiên đà la là làm nghề cá, săn bắn và đi bán thịt… ”

Cho đến ngày nay số người ăn chay ở xứ này cũng vẫn nhiều hơn người ăn mặn, người ta ước tính số người ăn chay độ khoảng 70% dân số Ấn; do đó ai cũng thấy rằng dân tình ở đây hiền hòa, quốc gia bình yên. Nếu có dịp đi vào các khu chợ không bao giờ người ta thấy bày bán đủ loại thịt cá, mà chỉ thấy từ đầu chợ đến cuối chợ chỉ có rau quả. Họa hoằn lắm, lâu lâu mới có một sạp thịt, hoặc cá nho nhỏ do một anh chàng Hồi giáo nào đó đứng bán. Người Ấn và những người theo đạo Ấn khinh khi và nguyền rủa những việc làm ác, giết chóc hại vật. Họ cho rằng một khi người ấy ác độc giết hại thú vật thì người ấy cũng có thể ác độc giết hại con người được. Có lẽ tư tưởng này cũng không chỉ giới hạn bên Ấn mà tại Âu châu, một triết gia người Đức, ông Schopenhauer Arthur (1788-1860) cũng có những ý nghĩ tương tự khi nói rằng:

“Khi lòng thương thú vật được xem là biểu hiện của những đức tính tốt đẹp, thì người ta có thể tin tưởng và khẳng định rằng, ai làm bất cứ điều gì tàn ác với thú vật, thì người đó không thể là một người tốt được”.

Còn ở Mỹ trong những thập niên vừa qua, người ta đã có ước đoán rằng khoảng 12 đến 15 triệu người không ăn thịt, do vì nguyên nhân này hay một nguyên nhân nào khác. Số người không ăn thịt trong thế hệ này đã tăng gần 3 lần so với các thế hệ trước của họ.

Người dân Ấn Độ do vì có những truyền thống và tư tưởng khá đặc thù đối với vấn đề sát sinh và ăn thịt thú vật, nên trong nước cũng có rất nhiều chuyện lạ. Chẳng hạn như trên các đường xá có những bồn nước cho chim hoặc các loài vật khác uống. Nhiều loài vật khác rất dạn dĩ như chim, sóc, khỉ thường hay chạy nhảy qua lại ở các xóm làng phố phường. Có lúc chúng còn quấy phá người ta nữa mà chẳng kiêng dè. Có thể nó biết và cảm nhận được lòng tốt của con người xứ này nên chẳng bao giờ sợ hãi; nó biết người ta sẽ không bắt nó ăn thịt.

Truyền thống này là căn bản của đạo đức con người. Tỏ lòng thương đối với các loài thú vật được thì tỏ lòng thương giữa người và người với nhau sẽ không là một điều khó. Có được lòng thương rồi thì sự thù hận, oán ghét trong con người cũng bớt, đó cũng sẽ là nhân để tạo nên một thế giới an bình.
Kẻ tàn ác chết đau đớn

Trước đây có một vị tri huyện họ Trương, đặc biệt thích ăn món chân ngỗng và trái tim của con dê còn sống.

Mỗi lần muốn ăn món chân ngỗng, trước tiên ông sai người bắt ngỗng bỏ vào chảo sắt, sau đó đốt lửa. Nhưng phải là lửa lớn thì chân ngỗng mới ngon. Do vậy, ngọn lửa từ dưới lò được quạt cháy dữ dội, đỏ rực một vùng. Thương cho con ngỗng bị sức nóng của lửa đốt, hoảng hốt nhảy loạn cả lên. Nó quạt đôi cánh cố vùng lên khỏi nắp chảo, xoay bên này, bên kia, miệng kêu la nghe rất thảm. Ban đầu con ngỗng còn phản ứng mạnh, nhưng dần rồi nó quằn quại trong lòng chảo nóng, đến nỗi không còn cất tiếng kêu được nữa. Đôi chân của nó bị đốt phồng to lên, máu toàn thân tụ về, đau đớn khôn xiết, nhưng đó là chỗ mà người đời cho là món ăn đặc biệt. Thế rồi, nó liền bị người cắt đứt đôi chân. Lại tiếp tục đun nấu cho đến khi toàn thân ngỗng đều chín tới.

Thử tưởng tượng như việc này mà xảy ra với chúng ta hoặc người thân của chúng ta thì quả là một cực hình không sao tưởng tượng nổi! Vậy mà có người lại nỡ làm như vậy với con vật chỉ vì một miếng ăn ngon. Thật tàn ác biết bao!

Còn khi muốn ăn món dê, thì ông bắt trói con dê treo trên đầu cây cột sau bếp. Rồi dùng dao đâm xuyên ngực, xương sườn của con dê, sau đó mới moi lấy trái tim dê đem đi nấu nướng. Con dê đau đớn kêu la thảm thiết! Tiếng kêu của nó nghe rất sầu não rồi lịm dần, đôi mắt ngoái nhìn quanh quất như tìm vị cứu tinh, hai chân lay động như muốn vượt khỏi xích xiềng.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, viên Tri huyện chỉ làm nô lệ cho ba tấc lưỡi để thỏa mãn khẩu vị mà đã giết hại không biết bao nhiêu con dê và ngỗng. Mỗi khi thưởng thức, ông đều dùng phương thức cực hình như thế. Thế rồi một ngày nọ, có một Văn sĩ đến khuyên ông không nên sát sinh hại vật, song ông chẳng những không nghe lại còn trách mắng người đó. Văn sĩ liền bảo:

– Nội trong nay mai ông sẽ mắc bệnh hiểm nghèo rồi sẽ chết đấy!

Nói xong, Văn sĩ lại ra đi. Quả nhiên, chẳng bao lâu, sau thời gian thụ hưởng như thế, viên Tri huyện bị mắc một căn bệnh hiểm nghèo, thân của ông bỗng sưng phù lên, mọc đầy mụn nhọt độc, vô cùng đau đớn rên la suốt cả đêm ngày. Biết bao danh y nổi tiếng khắp nơi được mời đến chữa trị, nhưng tất cả thuốc thang đều không có kết quả. Bệnh tình của ông ngày càng trở nên trầm trọng. Chứng bệnh thống khổ hành hạ ông rất lâu mới chết. Mùi hôi thối bốc ra từ thân thể ông bay tới trời xanh không ai chịu nổi.

Tác hại khôn lường của những món ngon song nấu toàn đồ độc.

Các loại gia vị công nghiệp như: bột ngọt, bột niêm, viên niêm, hàn the, các chất tạo màu, tạo mùi… làm cho thức ăn trở nên dai hơn, giòn hơn, thơm tho, ngọt ngào, ngon hơn, hấp dẫn hơn đã đánh lừa khẩu vị người dùng, thật ra hoàn toàn chỉ là ảo giác, còn bản thân thực sự của chúng không hề có tí xíu giá trị dinh dưỡng nào cả, thậm chí còn gây nên hậu quả nguy hiểm đến tính mạng của ta. Chúng được xem như là tên sát thủ giết người êm ái nhất, chúng ta cần phải thận trọng!

Mặt khác hầu hết các thực phẩm công nghiệp chế biến đều có chứa chất bảo quản, mà thành phần chất bảo quản lại là căn nguyên của vô số những bệnh tật nan y trong thời đại hiện tại, vì vậy chúng ta cần phải kiêng cử. Ngay cả những hoa quả rau củ khi trồng tỉa mà sử dụng quá nhiều phân bón hóa học và thuốc sát trùng cũng phải thận trọng, tốt nhất là đừng nên dùng!

Cổ nhân hằng răn nhắc chúng ta rằng: “Bệnh tùng khẩu nhập; Họa tùng khẩu xuất”. Tất cả mọi tai họa đều sinh ra từ cửa miệng, do lời nói bất cẩn sơ xuất hay thiếu suy nghĩ chín chắn tạo nên; Bao nhiêu thứ tật bệnh phần lớn đều bởi ăn uống những món ngon song nấu toàn đồ độc!

Còn một sự việc khá tế nhụy nữa là, một khi chúng ta quen dùng những thức ăn ngon song nấu toàn đồ độc rồi, thì dần dà lâu ngày ta trở nên ghiền nặng, tự tạo phiền phức cho mình, tự tạo khổ đau cho mình, đưa đến trí tuệ lần hồi giảm sút, nghiệp chướng lần hồi gia tăng. Tại sao? Bởi vì chúng ta đã đam mê ảo giác vị ngon giả dối, cũng tức là chính chúng ta tự đánh mất lẽ thật, quay lưng lại với chân lý, với giác ngộ, quay lưng lại với cái vô cùng quý báu mà một người con Phật nào cũng cần phải trân trọng giữ gìn! Hiểm họa này mới thực sự đáng chú ý nhiều hơn!

Vì vậy ăn uống càng thanh đạm, sức khỏe càng tốt và càng dễ dàng duy trì ổn định nhất, vừa tiết kiệm phước báu, vừa ít tốn kém thời gian, rộng thì giờ tu tập cũng như công quả tích chứa phước đức, hồi hướng cầu sanh Tây Phương.

Thực đơn của bà cụ Hứa Triết ở Singapore, là: Mỗi ngày bà ăn một bữa, bà ăn rau sống, thỉnh thoảng đôi khi bà luộc sơ qua, với một chút ít cơm, không có dầu, không có muối, không có đường, gia vị gì bà cũng không ăn, thế là giải quyết xong một ngày.

Bà đã sống mấy chục năm, thân thể vô cùng khỏe mạnh, biểu diễn cho chúng ta thấy. Bà cả đời chăm sóc hơn 20 người già. Trên thực tế những người già đó đều mới bảy, tám mươi tuổi, năm 2005 bà đã 106 tuổi. Cho nên chính bà nói với mọi người, bà là người thanh niên 106 tuổi.

Người thế gian chúng ta vừa sợ cái này không đủ dinh dưỡng, lại sợ cái kia không đủ dinh dưỡng. Kết quả thật sự thiếu toàn bộ. Tại sao vậy? Tất cả các pháp từ tâm tưởng sanh. Ta thường hay nghĩ nó không đủ, thì nó làm sao đủ được! Như bà Hứa Triết, như Thế Tôn và những đệ tử của Ngài chẳng nghĩ gì cả. Chẳng nghĩ gì cả mà cái gì cũng đủ cả, chẳng có vấn đề gì hết. Điều này chúng ta không thể không tỉ mỉ suy gẫm. Cho nên cần phải lấy giới làm thầy, cần phải phát sinh ra đại nguyện, hy vọng vĩnh viễn nương vào khổ hạnh để tự hành trì và cảm hóa kẻ khác, tiến đến chỗ cứu cánh. Chỗ cứu cách của chúng ta chính là vãng sanh Tịnh Độ, đây là chỗ cứu cánh của chúng ta. Sau khi đến Tịnh Độ rồi, chắc chắn một đời chứng vô thượng Bồ Đề, chỉ một đời là thành Phật.

Đời lại chẳng có gì thật cả,
Xác thân còn tan rã bùn lầy;
Huống chi các việc bên ngoài,
Cũng là giả nốt có ai giữ còn.
Tuổi sống cứ ngày mòn lụn mãi,
Còn ốm đau tai hại nọ kia;
Ghét, thương, được, mất, hợp, lìa,
Khổ cho đến chết chưa hề xong chi.
Thế mà chẳng mấy khi nghĩ tới,
Còn tạo ra nhiều nỗi khổ thêm;
Trên đời rối mãi không êm,
Giữa người thường có thù hềm nhau luôn.
Khiến cho kiếp vô thường càng khổ,
Cũng làm cho mạng số ngắn thêm;
Hết ngày rồi lại kế đêm,
Sống chờ quỉ sứ đến thềm bắt đi.
Bị hành hạ còn gì hơn nữa,
Chịu đọa đày không số đo lường;
Thế mà nghiệp ác còn vương,
Bao giờ ra khỏi con đường trầm luân.
Cõi Phật chẳng tử thần léo hánh,
Thật hoàn toàn một cảnh an vui;
Sao người chẳng chịu đến lui,
Cứ đeo cõi tạm đầy mùi khổ lao.
5/- Ngủ nghỉ

Cái sướng nhất của người thế gian là được ngủ theo số thời gian mà họ muốn. Họ cũng có thể đi ngủ thật trễ một hai giờ khuya hay sớm khoảng tám chín giờ, để rồi khi thức dậy có thể là bảy tám giờ hoặc mười một, mười hai giờ trưa mà chẳng phiền hà ai, và cũng chẳng sợ ai la rầy.

Cuộc đời con người của chúng ta thì giấc ngủ đã chiếm một phần ba kiếp sống này rồi, thế thì nếu người ta không tránh khỏi cái khổ trong đời sống vật lộn bon chen hàng ngày, thì người ta phải có quyền hưởng cái sướng và đẹp trong giấc ngủ chứ? Không hưởng được khi ngủ lẫn khi thức thì thế gian này còn lại gì?

Đức Phật dạy rằng:

“Người xuất gia thì lấy ba việc ăn, mặc và ngủ nghỉ làm giới hạn, không cho nó đầy đủ như người thường. Vì ba điều ấy mà buông lung phóng túng thì biết mấy cho vừa, lại thêm thời gian thoáng đó mà trôi chảy không ngừng nên không khéo tu, không khéo hành trì thì chỉ uổng kiếp sống một đời người, mà chẳng mang ích lợi gì cho mình và cho người”.

Còn không sợ thầy hay gặp một vị thầy quá dễ dãi thì có thể mình sẽ cảm được một sự thoải mái nào đó trong đời sống tu hành; nhưng nếu không khéo sống trong sự ý thức và tự chủ với chính mình thì khi về già, ta có thể trở thành một người tu dốt, kiêu ngạo, lười biếng và hay tìm cách che mắt người. Có lẽ những điều này đã xảy ra rồi, nên ngay cả thời xưa, chư Tổ cũng đã có răn dạy về điều này. Tổ Quy Sơn có dạy:

“Tu hành giải đãi biếng lười nên đến lúc tuổi già, lạp hạ thì lớn nhưng bụng không lòng rỗng. Do vì chưa từng thân cận bậc thiện hữu tri thức để học hỏi nên giáo pháp không biết, luật nghi chẳng thông, chỉ biết xấc láo và ngạo mạn. Nói năng vô phép, lời to tiếng lớn, không kính người trên, chẳng nhường kẻ dưới. Khi ăn khua bát, khua chén ồn ào, ăn xong dậy trước tụ họp ngồi nói chuyện tào lao không khác tà đạo bàng môn, nên dầu đã bạc đầu mà chẳng ai lợi ích. Kẻ hậu học có đến thưa hỏi Phật pháp thì không biết mô tê, nếu có trả lời thì đáp bậy nói càng không liên can gì kinh điển. Hậu sinh khinh chê thì nổi quạu, lớn tiếng quát tháo, bảo rằng vô lễ”.

Trong năm món đam mê của cuộc đời thì trong đó cũng có cái tham ngủ nghỉ, nên xem chừng cái ham muốn này đừng nên xem thường nó. Người tu thì do vì có lý tưởng và mục tiêu sống của họ, nên buộc phải kìm hãm bất kỳ thứ gì có thể kìm hãm được, để cho đời sống tu hành được thăng hoa hơn. Nhưng với người thế gian thì không có mục tiêu rõ rệt trong cuộc đời, nên con người ta thường chỉ tìm cách sống sao cho thoải mái thân này là được. Thân này càng thoải mái, càng sướng thì người ta càng cho rằng cuộc đời họ sẽ có hạnh phúc. Do đó mà bao nhiêu tiện nghi vật chất được tạo ra cũng là để phục vụ cho thân này, mà vật chất để cung ứng cho cái ngủ nghỉ cũng đa dạng không kém. Trong những xã hội phương Tây, người ta bày biện ra biết bao nhiêu loại giường, kiểu nọ kiểu kia với đủ thứ thời trang đẹp mắt. Nào giường nước, giường sưởi, giường điện, giường bông, giường lò xo kéo lên kéo xuống và thôi thì đủ thứ. Thế nhưng, không phải được sử dụng những thứ tiện nghi cao sang với vật chất tứ bề là người ta có thể có được một giấc ngủ ngon lành.

Thật ra con người chúng ta vì phải mang thân xác phàm phu này, nên việc ngủ phải là một yếu tố cần thiết cho cuộc sống. Tuy nhiên nó chưa hẳn là điều quyết định cái sướng, cái khổ của con người. Theo Phật giáo thì những người ngủ nhiều tâm trí sẽ bị ám muội, dật dờ và thiếu sự sáng suốt; còn nếu ngủ ít quá mà chưa có khả năng tự chế thì cũng có thể sinh ra phiền não. Trong hai điều đó cần phải có một sự dung hòa để thích hợp với tự thân. Với Đức Phật một người đã hoàn toàn giác ngộ thì giấc ngủ thường tình đã không còn ảnh hưởng thân Ngài. Giấc ngủ của Ngài là sự nhập định. Trong kinh tả rằng vào buổi tối từ khoảng thời gian 10 giờ khuya đến 2 giờ khuya, là giờ đức Phật giảng pháp và hóa độ cho chư thiên. Từ 2 giờ đến 3 giờ Ngài đi kinh hành, từ 3 giờ Ngài nằm định thần nghiêng về phía tay mặt. Từ 4 giờ đến 5 giờ, Ngài nhập Đại bi định rải tâm từ bi đến mọi loài chung sinh, sau đó dùng Phật nhãn của Ngài để quán sát người có nhân duyên được độ. Đó là một giấc ngủ của bậc trí tuệ. Ngoài ra, ngay cả bậc đệ tử lớn của Ngài là Tôn giả Đại Mục Kiền Liên cũng không kiểm soát và chế ngự được cơn ngủ trong sự tu tập của Tôn giả. Trong kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thùy Miên, thuộc Trung A Hàm, Đức Phật dạy Tôn giả về phương cách chống lại cơn buồn ngủ như sau:

“Này Đại Mục Kiền Liên, nếu chứng buồn ngủ của thầy không bị diệt trừ thì hãy theo giáo pháp đã được nghe, tùy theo đó mà thọ trì, tâm suy niệm, tâm suy tư. Lại nữa, thầy có thể dùng hai tay xoa lên hai mép tai, hay lấy nước lạnh rửa mặt và dội ướt thân thể, hay đi ra ngoài trời xem khắp bốn phương, nhìn các vì sao. Như vậy thì chứng buồn ngủ mới có thể được diệt trừ”.

Người tu nên hiểu cái lẽ vô thường hơn ai hết, do đó việc ngủ nghỉ cần phải khắc chế. Đức Phật trong kinh Di giáo, Ngài cũng nói nhưng lời ân cần sau cùng khuyên bảo các thầy Tỳ kheo là chớ nên ngủ nghỉ nhiều, mà hãy lo gắng sức tu hành sớm hôm để cầu giải thoát. Ngài nói:

“Các thầy Tỳ kheo, ban ngày thì nỗ lực thực tập thiện pháp, không để thì giờ lướt qua, đầu đêm và cuối đêm cũng đừng phế bỏ, giữa đêm lại phải tụng niệm để tiêu trừ nghiệp chướng. Đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để một đời trôi đi, mà chẳng đạt được chút ích lợi gì. Hãy nhớ ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, hãy sớm cầu tự độ mà đừng ham ngủ nghỉ. Giặc phiền não thường rình rập để giết hại ta, dữ hơn kẻ thù thì tại sao ta có thể ngủ nghỉ mà không tự cảnh giác? Phiền não ngủ trong ta ví như rắn hổ mang nằm ngủ trong nhà, các thầy phải dùng móc sắt giới luật mà cấp tốc móc kéo nó ra. Rắn độc ra rồi mới yên tâm mà ngủ nghỉ. Không ra mà ngủ thì thật là kẻ không biết sợ và hổ thẹn.”
Phật độ thầy Tỳ kheo tham ngủ chứng đạo

Đức Phật thường dạy các đệ tử phải chăm chú toàn tâm tu học. Ngài dạy các thầy không được buông lơi hay lười nhác, nhưng có một thầy không tinh tấn, khi những người khác công phu thì thầy vẫn ngủ ly bì.

Hầu hết các thầy tỳ kheo đều chuyên cần công phu nên đã đắc đạo dứt sạch mọi lậu hoặc triền phược khổ đau. Còn vị thầy kia do ham ngủ, các bạn đồng môn đã nhiều lần góp, nhưng thầy vẫn không thay đổi tập khí sâu nặng này.

Đặc điểm chủ yếu là thầy ngủ quá nhiều. Hàng ngày, sau bữa ăn thì thầy đi ngủ. Khi ngủ thì đóng chặt cửa và ngủ một mình trong thất. Không ai có thể đánh thức, bất kể họ cố gắng đến đâu.

Hôm nọ, đến giờ giảng pháp, tất cả đại chúng đều có mặt, ngoại trừ vị thầy ham ngủ kia. Đức Phật bèn hỏi đại chúng rằng: “Tại sao thầy sa môn ham ngủ kia không đến?”

– Thưa Đức Thế Tôn, thầy ấy tới giờ vẫn còn ngủ. Chúng con không thể đánh thức thầy bất kể chúng con cố gắng cách nào.

Phật biết rằng thầy ấy chỉ còn sống bảy ngày nữa thôi. Nếu thầy chết trong khi ngủ, thì cái chết đó quả thật là bất hạnh. Nên Ngài bèn cùng Tôn giả A-nan tới thất của thầy ấy.

Khi đi tới trước thất của vị thầy, có thể nghe tiếng ngáy vang to như sấm. Lúc Tôn giả A-nan mở cửa thì tiếng ngáy nghe càng to hơn. Vị thầy vẫn nằm ngủ say trên giường.

Tôn giả A-nan đã gọi tên vị thầy ấy trong vài phút, nhưng thầy vẫn không hay biết gì cả. Sau đó Đức Phật đi tới bên giường và nhẹ nhàng lay động, thì thầy lập tức tỉnh dậy.

Nhìn thấy Phật đứng trước mặt và đang bằng ánh mắt từ bi nhìn vào mình, thầy liền đứng dậy cúi lạy và nói: “Đức Phật tôn kính, xin tha thứ cho con vì thất lễ!”.

Đức Phật từ hòa bảo thầy rằng:

– Con chỉ còn bảy ngày để sống. Ta không thể chịu được khi thấy con chết trong khi ngủ quá nhiều và không đạt được đạo quả. Ta tới đây để đánh thức con đó!

Vừa nghe xong thì thầy giật mình kinh hãi. Thầy chưa bao giờ biết rằng mình có thể chỉ còn sống được bảy ngày nữa, nên rất lo sợ và không biết phải làm gì.

Đức Phật bèn an ủi: “Đó là duyên phận của con. Vào thời Phật Duy Vệ, con đã từng xuất gia nhưng vì tham lợi dưỡng, yêu mến giả thân mà không chịu nghĩ đến kinh kệ, giới luật, cứ mãi ăn ngủ, chẳng quán vô thường. Đến khi chết, thần thức con đã sanh vào loài mọt gạo trong 50.000 năm. Sau đó con đã chuyển sinh thành một con ốc sên, một con trai, và một con bọ nhậy trong 50.000 năm cho mỗi loại.

Khi đó, con thích sống trong những nơi tối tăm không có ánh sáng, con rất trân quý cơ thể và cuộc sống của mình. Điều đặc biệt là trải qua tất cả bốn sinh mệnh khác nhau của con đều thích ngủ. Sau 200.000 năm, cuối cùng con đã trả nợ được tội lỗi mà con đã phạm. Nay tội đã hết, được làm sa môn, tại sao vẫn còn ham ngủ không biết chán? Sao không cố gắng tinh tấn công phu, để ra khỏi dòng sanh tử luân hồi đau khổ này?”.

Nghe Phật nói xong, thầy vô cùng hổ thẹn, nhanh chóng thành tâm ăn năn sám hối, thật là kỳ diệu, tất cả những ý niệm tư tưởng nhiễu loạn đã biến mất. Thầy tinh cần dụng công tu tập, bất kể ngày đêm. Bảy ngày sau, trước lúc lìa đời, thầy đã đắc được quả vị La Hán.

Nếu người ta thật tâm với đạo, với sự giải thoát cho chính mình và vì hạnh lợi tha cho người, thì họ cũng không thấy có thời gian để ngủ nghỉ nữa. Thời gian trông dường như dài đằng đẵng của một ngày ấy thoáng qua là hết với bao nhiêu là công việc của sự tu hành, xem kinh sách, dịch thuật, giảng dạy và đi hoằng hóa nơi này nơi kia. Các bậc thầy xuất gia hay các đại đức cư sĩ của chúng ta đã là những tấm gương trước mắt. Các vị ấy suốt cả một đời người đã không có sự phóng túng tìm cái an nhàn và ngủ nghỉ cho mình, mà chỉ lo cho Phật pháp, lo cho chúng sinh với bao nhiêu là công hạnh lợi tha. Khi mà các bậc thầy ấy cảm nhận được ân đức của chư Phật, trách nhiệm mà quý Ngài đang gánh trên vai, thì làm sao có dư thời gian rỗi rảnh để yên lòng lo chuyện ngủ nghỉ. Chính những tấm gương và đức hạnh của các Ngài, chính những lời dạy tha thiết của Đức Phật về việc ngủ nghỉ như thế, mà ta có thêm năng lực để tự khắc chế mình, hầu có thể mạnh dạn bước vững trên con đường giác ngộ giải thoát.
Nhờ sợ nên đắc đạo

Thuở xưa, ở nước Ma-thâu-la có một thanh niên theo Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa xuất gia. Xuất gia xong, thầy rất thích ngủ. Thấy vậy, Tôn giả hóa ra một con quỷ có bảy đầu, tay nắm lấy cành cây, treo mình lơ lửng trên không. Thầy tỳ kheo trông thấy hết hồn, sợ quá nên chạy về chỗ của mình. Tôn giả bảo:

– Ông hãy trở lại chỗ cũ ngồi thiền đi!

Tỳ kheo thưa:

– Bạch hòa thượng, ở trong rừng đó có con quỷ bảy đầu đang ở trước mặt con, tay nắm cành cây treo lơ lững trên không trung. Thật rất đáng sợ!

Tôn giả nói:

– Con quỷ đó không đáng sợ, ham ngủ mới đáng sợ. Nếu ông bị con quỷ đó giết, ắt hẳn không rơi vào sanh tử. Nhưng nếu bị ngủ nghỉ sát hại thì sẽ trôi lăn trong vòng sanh tử vô cùng tận!

Thầy tỳ kheo bèn trở về chỗ ngồi thiền lại thấy con quỷ ấy. Vì lo sợ quỷ nên ông không dám ngủ, tinh tấn tư duy chẳng bao lâu đã đắc quả A-la-hán.

Chớ để đến thúi sình mất xác,
Lỗi công sanh phí mất một đời;
Một khi để kiếp qua rồi,
Muốn tìm trở lại làm người khó thay.
Làm người được là may muôn thuở,
Cũng là do xưa có nghiệp lành;
Bây giờ nếu biết tu hành,
Tất là sẽ được trở thành Phật Tiên.
…Quá vật chất bị đời ám ảnh,
Yếu tinh thần bị cảnh cuốn lôi;
Chung quy chẳng việc nào rồi,
Chỉ làm đau khổ cho đời nhiều hơn.
…Bởi mê mới làm tôi thị dục,
Nếu ngộ đâu tùng phục lòng tà;
Dục tà đều hại người ta,
Dục là thống khổ tà là trầm luân.
Dục thường vì xác thân khởi xướng,
Tà thường vì vọng tưởng gây ra;
Cả hai đều thứ mắt lòa,
Lợi gần thì thấy, hại xa không tường.
Gần dứt thở trên giường chưa biết,
Bảo vợ con nối tiếp đường lầm;
Vì tình mà thọ cảm tâm,
Vợ con rồi cũng lũi lầm theo luôn.
Nghiệp cha mới vừa buông con bắt,
Hết cháu rồi lại chắt nối truyền;
Cứ như thế đó lưu liên,
Gây nên một khối thảm duyên nhiều đời.
Cha mẹ chết con rơi nước mắt,
Con chết thì cháu chắt khóc ròng;
Vợ thì chan chứa vì chồng,
Chồng thì vì vợ đôi giòng lệ rơi.
Nước mắt ấy từ đời vô thỉ,
Bốn biển to đem ví không bằng;
Sanh ly tử biệt vô ngằn,
Giây oan đáng sợ nợ trần đáng ghê.

a. Tóm kết về ngũ dục

Ngũ dục như một thứ ma túy. Tham đắm ngũ dục giống như khát nước mà lại đi uống nước muối. Nước muối uống hoài thì làm sao mà hết khát cho được. Khi mình có những cảm thụ mà người đời cho là dễ chịu, là sung sướng, là khoái lạc trong khi thọ nhận năm thứ tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ, thì lúc thỏa mãn lại tiếp tục muốn có nữa và ngày càng mất phương hướng trong đó. Nếu như một ngày nào mà không có sự xúc chạm dễ chịu thì bứt rứt khó chịu như là đang lên cơn ghiền ma túy vậy. Sở dĩ mình đau khổ là vì mình quá tham lam, mình không biết hài lòng với những gì mình đang có, mà còn mong đạt được những thứ không phải là của mình. Người đi vào thế giới ngũ dục là đi vào thế giới ảo, bởi vì nó là biển cả mênh mông không bến không bờ. Người mà kinh doanh thành công, tiền vào như con sông nước cuồn cuộn đổ, thì sẽ khó có thời giờ để tu tập bởi vì họ đang bị kẹt vào việc kiếm tiền; Nếu công ăn việc làm vừa đủ chi tiêu thì sẽ có nhiều thời gian công phu tu học hơn. Cơm áo gạo tiền chỉ là những phương tiện giúp cho chúng ta duy trì sự sống, để có thể hành đạo chứ không phải biến mình thành cái máy tiêu thụ hay hưởng thụ những cái mình làm ra. 

Người tu cần phải biết rằng mình ăn cơm là để sống, mình mặc áo là để che thân, ngủ là để có sức khỏe, mình uống nước là để nuôi dưỡng cơ thể, nhưng mục đích cuối cùng của việc sống, việc che thân, việc có sức khỏe, việc nuôi dưỡng cơ thể là để cố gắng niệm Phật chuẩn bị hành trang cho ngày cuối, chứ không phải chạy theo bất cứ ảo tưởng nào khác. Người sống trong thiếu thốn vật chất mà vẫn cảm thấy vui, thấy hạnh phúc, thấy bình thản an nhiên tự tại thì còn gì quý báu bằng. Người biết tu cho dù tặng thưởng họ hàng triệu đô la để yêu cầu chạy theo ngũ dục thì họ cũng không thèm. Mình chỉ cần những giây phút bình yên, trong thân và tâm, như vậy là còn hơn cả tỷ phú rồi. Mình không sống một cuộc sống thấp hèn, mà sống cuộc sống sao cho cao đẹp, có ý nghĩa, càng ít mong cầu thì càng tốt, bởi lẽ, khi đó mình không phải so đo tính toán lo được lo mất, để cho ngày tháng trôi qua trống không. Thị hiếu của con người là một loại bệnh trầm kha, càng có nhiều thị hiếu, nhu cầu càng nhiều và tham muốn càng cao, lúc nào cũng làm tôi mọi cho dục vọng, mà dục vọng đích thực là hố thẳm không đáy, nó sẽ nhanh chóng đẩy ta bước vào cửa tử tan xương nát thịt một cách quá ư dễ dàng!

Ở trong đời bất luận ai,

Vay đời tất phải đầu thai trong đời.

Của vay thì phải trả lời,

Nay ăn một miếng mai thời trả hai.

Hiện thời chịu lắm nàn tai,

Tội nơi tiền kiếp đã vay quá nhiều.

Sướng bao nhiêu khổ bấy nhiêu,

Vui trong nghiệp ác là điều không vui.

Quả nào là quả chẳng muồi,

Nghiệp nào là nghiệp chẳng hồi trả đưa.

Đời tàn như giống gặp mưa,

Trả vay trước mắt không chờ đợi lâu.

Lưới Trời thưa chẳng lọt đâu,

Tiên mà phạm giới cũng thâu lại phàm.

Việc chi dù lắm muốn ham,

Nếu không chính đáng cũng cam nhịn chừa.

Dục tâm biết lượng sao vừa,

Ham rồi ham nữa bao giờ hết ham.

Ham trong nhứt khắc chừa kham,

Được vui muôn thuở được làm siêu nhân.

Người sống ít ham muốn khi mạng chung sẽ không sợ hãi do vì chẳng có gì để luyến tiếc, tài sản không có, địa vị không có thì chết rất bình thản, có gì đáng để luyến tiếc đâu. Còn người  tiền đầy nhà có thể đè chết người, địa vị quyền lực trên thiên hạ khi chết sẽ hối tiếc vô cùng, chết rồi tiền đó ai xài đây, nếu để lại cho con cháu e rằng chúng nó đâm chém tranh giành lẫn nhau, tình ruột thịt cũng mất. Như vậy cái sung sướng trong ngũ dục chỉ là cái hạnh phúc ảo, nó không có thực và nó làm cho mình trở thành một tên nô lệ không hơn không kém. Cho nên chỉ cần sống đơn giản đạm bạc, thiểu dục tri túc, tận dụng tháng ngày còn lại chăm lo niệm Phật cầu về Tây Phương, một đời ra khỏi sanh tử luân hồi, có cái nhìn thấu đáo như thế tạm gọi là người có trí tuệ chân thật!

Kinh hoàng những cái chết của gia đình 3 đời làm nghề đồ tể 

Làng Phú Thành có nhiều người hành nghề đồ tể. Nhưng nổi đình nổi đám nhất vẫn là gia đình anh Trung  có truyền thống ba đời làm nghề sát sinh.

Ông nội Trung vốn là người chuyên giết mổ gia súc, chế biến thức ăn cho binh lính Pháp tại các doanh trại thời Pháp thuộc.

Thừa hưởng nét tài hoa của ông nội, bố Trung nấu nướng rất ngon. Quán lòng lợn tiết canh của ông trên con đê đầu làng lúc nào khách cũng đông nườm nượp.

Nổi tiếng thế nhưng phải đến đời Trung cơ nghiệp của gia đình đồ tể giàu truyền thống ấy mới thực sự phất. Sáu tuổi đầu Trung đã được bố tẩm bổ mỗi sáng một bát tiết tươi và quả mật lợn nóng hổi.

Khi con dao bầu sáng lóa vừa chọc vào yết hầu con lợn, máu xối ra như thác, bố Trung vội hứng đầy bát con, ngửa cổ uống ực một hơi cạn. Bát thứ hai, ông dành cho Trung.

Quả mật vừa bứng khỏi bụng con lợn còn bốc hơi, ông ngửa cổ, phùng mang trợn mặt nuốt. Ông cười khà bảo: “Thiên hạ ngu lắm. Chỉ biết đến mật gấu, mật hùm, mật rắn mà không biết chi đến mật lợn”.

Trong các bài thuốc cổ phương trị viêm xoang, viêm mũi, hiếm có loại mật nào sánh bằng mật lợn. Nó có vị đắng, mùi tanh, tính lạnh, có tác dụng giảm đau, tiêu sưng, sát khuẩn, thông đại tiện, kích thích tiêu hóa và bài tiết mật, chống viêm, kháng khuẩn, bổ tỳ vị rất tốt.

Theo Y học cổ truyền, tỳ vị thuộc hành “Thổ”, có chức năng hấp thu, vận chuyển chất dinh dưỡng để nuôi các bộ phận khác trong cơ thể. Tập trung “ôn bổ tỳ vị” chính là giúp giải quyết nguyên nhân sâu xa của mọi loại bệnh tật”.

Do vì sùng bái công năng của mật lợn nên ngày nào, ông cũng ép thằng con trai mới 6 tuổi đầu nuốt một quả. Và lần nào, Trung cũng khóc ngất vì nghẹn và đắng. Sau, dùng riết thành quen. Dần dà Trung nghiện nuốt mật sống từ lúc nào không hay.

Không biết có phải nhờ công dụng của cả núi mật lợn khổng lồ ấy hay không mà Trung lớn nhanh như thổi, khỏe như trâu. 17 tuổi, Trung đã cao 1,8 mét, thân hình khỏe mạnh. Từ bé đến lớn chẳng bao giờ hắt hơi, sổ mũi, ốm đau gì cả. Và nghiễm nhiên, Trung trở thành người kế thừa nghiệp đồ tể gia truyền.

Kỹ năng giết mổ lợn của Trung đạt đến trình độ thượng thừa. Các tay đồ tể khác, khi giết mổ lợn, thường cần 2-3 người hỗ trợ giữ chân trước, chân sau. Riêng Trung, dù lợn to, nặng đến mấy, cũng chỉ làm một mình và rất nhanh.

Tay lăm lăm chiếc chày gỗ lim đen bóng dài một thước trao truyền từ đời ông nội, áo xắn quá khuỷu, cơ bắp cuồn cuộn rắn đanh như lực sĩ, chân đi ủng cao đến gần đầu gối, Trung rón rén bước gần đến con lợn đang lùi dần vào góc chuồng.

Đốp”. Nhanh như chớp. Một nhát chày ngang gáy. Con lợn quay lơ, không kịp kêu một tiếng. “Đốp”. Con thứ hai đổ gục… Cứ thế, chỉ trong vài tích tắc, cả đàn lợn nằm lăn quay. Trung khom mình, túm hai chân sau lôi xềnh xệch con lợn lên bệ xi măng lạnh ngắt.Phập”.

Con dao bầu sáng loáng đâm một nhát trúng yết hầu. Máu tuôn xối xả xuống cái chậu nhôm to. Không giãy đành đạch. Không một tiếng kêu eng éc. Chọc tiết xong, Trung liếc con dao bầu vào hòn đá mài to tổ chảng bên cạnh cho sắc lẹm, rồi cạo lông sồn sột, chẳng cần đến chảo nước nóng để nhúng lợn.

Da lợn trắng bệch nhưng chân lông vẫn còn nguyên. Trung giải thích: “Chẳng sao. Bây giờ mấy ai còn ăn da lợn”.

Nhẹ nhàng, nhàn nhã, thong dong, im ắng. Thế mà đến 5 giờ sáng, mấy con lợn đã làm xong. Thịt đã ra thịt, xương đã ra xương để các lái buôn chở đi.

19 tuổi Trung đã đòi cưới vợ. Vợ Trung tên Hương 18 tuổi, đảm đang, tháo vát, con ông chủ tiệm thịt chó nổi tiếng làng bên.

Lấy Hương, Trung như hổ mọc thêm cánh. Kinh doanh càng phát đạt. Dịp gần Tết, mỗi ngày thịt cả chục con, Trung kiếm tiền như nước. Năm 2000, vợ chồng Trung xây cất ngôi biệt thự 3 tầng rộng rãi, với lối kiến trúc nửa Tây nửa Tàu vênh váo vươn khỏi lũy tre làng.

Ở một làng thuần nông như Phú Thành, ngôi biệt thự đó hoành tráng, rực rỡ, xa xỉ như cung vua phủ chúa. Có điều, trầm trồ với vẻ lạ mắt của ngôi biệt thự hoành tráng thế thôi, chứ nói về gia đình Trung, người dân Phú Thành nổi tiếng về truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, nhiều người thành danh trong xã hội, vẫn có gì đó khinh miệt:

Ối dào! Dân đồ tể ấy mà. Nhiều tiền thật đấy nhưng thất học thì cũng chẳng vẻ vang gì.

Các bậc cao niên trong làng ngồi uống trà thì thường rủ rỉ với nhau:

Cái nghề sát sinh là bạc phúc lắm. Tôi cứ ngấm ngầm theo dõi suốt mấy chục năm nay, ở cái làng này, phần lớn gia đình làm nghề đồ tể đều có hậu vận không tốt, gặp họa cho đời sau. Như vợ chồng ông Long mổ lợn ở đầu thôn. Hai vợ chồng ở với nhau suốt mấy chục năm mà không có nổi mụn con. Về già, cả hai vợ chồng đều bị tai biến nằm liệt giường liệt chiếu, thối da thối thịt. Đến lúc chết, chính quyền xã phải đứng ra lo tổ chức ma chay.

Rồi anh Trí, chủ cửa hàng thịt chó gần chùa làng, 39 tuổi đã mắc bệnh ung thư gan. Bộ xương to như cái trống. Nằm kêu rên ư ử suốt ngày đêm. Đau đớn vật vã đến tận lúc chết.

Mà nói đâu xa, ông nội của Trung kia, sáng sớm tinh mơ ngồi đun chảo nước sôi làm lợn. Chả biết trúng phong hay ngủ gật, ngã vật xuống đất, đầu vùi vào chảo lửa. Đến lúc vợ con phát hiện, nhấc dậy thì cả cái mặt bị lột da, trắng bệch như phủ lợn vừa cạo lông. Cả nhà chết khiếp.

Ông bố Trung, khi đó mới ngoài 50 tuổi. Buổi trưa, ra đình làng uống nước với cụ thủ từ. Vừa rít điếu thuốc lào, ông kêu tức ngực, khó chịu trong người. Ông lững thững đi về nhà nằm nghỉ. Lát sau, nghe tiếng kêu cứu thất thanh của bà vợ: “Ôi làng nước ơi! ông nhà tôi bị làm sao thế này!”

Hàng xóm chạy đến, thấy ông nằm bất động trên giường, lay không cựa, gọi chẳng thưa. Khi bác sĩ đến kiểm tra mạch, đo huyết áp, bỗng dưng toàn thân ông co giật đùng đùng, rồi học ra một đống máu. Ông chết một lúc rồi mà dòng máu tươi vẫn rỉ ra từ miệng. Nhìn cảnh ấy, ai cũng kinh hãi. Cho nên, mọi thứ trên đời đều rất vô thường và đều có nhân có quả. Sung túc như vợ chồng tay Trung đấy nhưng chẳng biết hiểm họa ập đến lúc nào đây.

Những lời bình phẩm ấy nhiều lần đến tai vợ chồng Trung, Trung cười khẩy: “Mẹ sư chúng nó. Nghèo, lười, không chịu lao động nên rỗi hơi ngồi săm soi, bàn tán chuyện nhà ông. Cứ ngồi đấy mà hóng chờ xem ngày bố mày chết. Có mà trăm tuổi bố mày mới chịu chết cho nhé!”.

Trung thất học từ bé, lại sớm tiếp xúc với máu me, giết chóc nên ăn nói lỗ mãng. Trung chẳng có thú vui gì ngoài thú bia rượu và đàn bà.

49 tuổi, người rừng rực cơ bắp, Trung lao vào hết cuộc giăng gió này đến vụ mây mưa nọ. Quay cuồng trong nhịp sống phóng đãng, Trung không biết đến mệt, ngưng nghỉ. Nghe thấy ở đâu có gái đẹp là Trung mò đến. Tán tỉnh, vần vò chán chê, Trung lại đá phốc.

Một lần, biết chồng xí xớn với cô chủ quán karaoke ngoài thị trấn, cô vợ tìm đến tận nơi. Móng vuốt chưa kịp cào cấu kẻ tình địch, thị đã bị ăn một cái tát nảy đom đóm mắt. Trung rít lên qua kẽ răng: “Cút về ngay, mày muốn chết phải không? Đồ con lợn!”.

Khổ thân cho cô vợ quê mùa, lủi thủi quay về, vừa đi vừa tấm tức khóc kể.

Đam mê nhục dục, Trung không tiếc tiền cho việc bồi bổ sức khỏe. Sau này, kết thân với mấy tay lái buôn ngựa ở Bắc Giang, Sơn La, nghe họ quảng cáo về công dụng của cao ngựa bạch, Trung đâm mê, chuyển sang sưu tầm loại cao này. Cứ chủ nhật cuối cùng của tháng, Trung mua cả con về, giết mổ tại nhà. Thịt đem ra chợ bán. Xương nấu cao. Một phần để dùng. Một phần bán.

Một hôm, tay lái buôn từ Sơn La đem xuống cho Trung một con ngựa trắng: mắt thau đồng , móng trắng, môi trắng hồng, không có đốm đen, buổi tối soi trước bóng đèn thì thấy hai mắt ngựa đỏ rực như than lửa. Bộ phận sinh dục, mũi, mõm có màu hồng đỏ, bốn chân có móng sừng, màu cước ánh bạc. Đây là giống ngựa rất quý hiếm. Trung sướng rơn như bắt được vàng. Tay lái buôn dặn :

Con này đang có chửa. Nếu anh sợ thì hãy chờ khi nó đẻ xong hãy thịt.

Ngót 30 năm làm nghề giết mổ, lại vốn vô thần vô thánh, Trung không biết sợ là gì.

Tối hôm đó, vợ Trung đi xuống nhà dưới, cạnh chuồng nhốt ngựa. Nghe qua cửa sổ, bỗng chị hét toáng lên. Trung hớt hải chạy xuống, quát lớn:

Cái gì thế? Có sao không?

Chị vợ mặt cắt không còn giọt máu, nói hổn hển qua hơi thở đứt quãng:

Mình ơi! Tôi vừa nhìn xuống chuồng, thấy có người đàn bà đang nằm ôm con khóc. Rướn mắt nhìn kỹ lần nữa, tôi vẫn thấy họ. Người mẹ ấy nhìn tôi ánh mắt như van lơn, trông tội nghiệp lắm. Sợ quá, tôi mới hét lên. Tôi nghĩ đó là điềm xấu. Mình đừng giết con ngựa bạch ấy nhé!

Bà xem phim ma cho lắm vào rồi nhìn người tưởng ngựa, nhìn ngựa tưởng người. Chưa biết chừng, có ngày, bà nhìn tôi lại tưởng là chó, cho một nhát dao là toi đời. Thôi, lên giường đi ngủ. Bà bị điên đến nơi rồi!

Tờ mờ sáng, mọi người đã tụ tập đông đủ ở sân nhà Trung. Dụng cụ giết mổ đã chuẩn bị xong. Chảo nước sôi reo ùng ục. Thằng Kiên, con trai út của Trung, 16 tuổi, lực lưỡng như bố, hăm hở vào chuồng dắt ngựa.

Nó kéo mũi, rồi đánh, rồi chửi, nhưng con ngựa vẫn nằm im, không chịu đứng lên. Thấy vậy, Trung và mấy người bạn huỳnh huỵch vội chạy vào. Vừa nhìn thấy Trung, con ngựa bỗng nhổm dậy, hai chân trước quỵ xuống như van xin. Từ trong đôi mắt màu thau đồng của nó, hai dòng nước mắt ứa ra.

Chứng kiến cảnh con ngựa ứa nước mắt, quỳ xuống van xin, cả vợ và bạn của Trung đều can ngăn anh đừng xuống tay nhưng Trung bỏ ngoài tai, cho đó là mê tín dị đoan.

Anh Chiến, bạn của Trung thấy vậy liền khuyên Trung không nên thịt nhưng Trung phủi tay, không tin vào chuyện nhảm nhí.

Đốp”. Cánh tay lực sĩ cuồn cuộn cơ bắp của Trung vung chiếc vồ thép nhanh như một tia chớp giáng thẳng xuống đầu ngựa. Con ngựa ngã khụy xuống nền gạch. Nhanh như cắt, Trung rút con dao nhỏ xíu, cỡ hai đầu ngón tay, xiên một nhát thật ngọt ở cổ.

Tính ra mất 15 phút, con ngựa to tướng chỉ còn lại đống bầy nhầy lòng phèo nằm giữa sân, thịt xương đã thành đống riêng biệt. Tội nghiệp chú ngựa con chưa thành hình, Trung sai vợ đem rửa sạch với nước gừng rồi cho vào chiếc bình ngâm rượu.

Buổi chiều hôm ấy, như thường lệ, vợ Trung sai thằng con thứ chở xe máy đi đến các đại lý thu gom tiền. Trung ở nhà mở tiệc linh đình. Rượu cao ngựa bạch, uống với thịt bắp ngựa bạch, vừa ngọt, vừa thơm, vừa bùi, rượu vào không biết bao nhiêu mà kể. Cạn bình rượu này lại lôi hũ rượu khác.

Đúng lúc Trung mặt đỏ phừng phừng như gà trọi, phùng mang trợn mắt, huơ chân múa tay quảng cáo huyên thuyên về công năng huyền diệu của cao ngựa bạch, bỗng nghe tiếng ngoài ngõ lao xao. Tiếng ai đó gào to:

Ông Trung ra ngoài đường quốc lộ mà nhận xác vợ con về!

Trung vội vã buông bát, leo lên xe phóng như điên. Ra đến đầu làng, giáp đường quốc lộ, đã thấy đám đông xúm đen xúm đỏ. Cố hết sức chen, lách, vừa vào đến bờ mương, Trung đứng chết lặng.

Dưới lòng mương, xác hai mẹ con nằm bẹp. Hai bánh trước xe ô tô tải đè ngang ngực. Máu mũi, máu mồm, máu tai chảy lênh láng. Giữa lòng xe tải chiếc xe Honda Lead vỡ vụn.

Sau này, người tài xế xe tải trình báo với công an huyện:

– Đang lái xe với tốc độ 50km/h, đột nhiên, anh nhìn thấy con ngựa trắng cao lớn đứng ngay đầu xe. Anh hốt hoảng đánh vô lăng sang trái, đúng lúc chiếc xe Lead chở vợ con Trung vừa tới. Xe lao đầu xuống mương.

Lái xe may mắn thoát chết. Run run mở cửa xe bước xuống, tài xế rợn người khi nhìn thấy xác hai người bị bánh trước của xe ô tô đè lên. Hắn vội vã bỏ chạy.

Vụ tai nạn rùng rợn với cái chết thương tâm của hai vợ con Trung xảy ra vào cuối tháng 9 thì đến đầu tháng 11, người con trai cả của Trung sinh năm 1974 tự dưng lăn đùng ra chết. Cậu này không làm nghề mổ. Được ăn học tử tế, làm giám đốc một doanh nghiệp ở Quảng Ninh. Đang tuổi sung sức làm ăn, người vâm váp, khỏe mạnh, không bệnh tật gì.

Thế mà một đêm, đang ngồi xem ti vi anh đột nhiên kêu mệt, đau đầu nên vào buồng ngủ. Nửa đêm, anh lên cơn co giật. Máu mũi, máu mồm ộc ra. Gia đình vội vàng đưa đến bệnh viện nhưng anh đã chết trên đường đi cấp cứu. Cái chết của cậu con trai cả khiến Trung vô cùng hoang mang.

Trung đi xem bói. Thầy phán rằng gia đình bị một oan hồn báo oán. Trung kể lại việc giết con ngựa bạch mang thai cho thầy nghe. Thầy bảo, đó là do linh hồn con ngựa báo oán. Từ hôm đó, Trung bắt đầu sì sụp cúng bái. Sắm đủ lễ lạt, rước các sư thầy về lập đàn giải nghiệp oán, cầu siêu cho linh hồn con ngựa, tốn kém hàng trăm triệu đồng.

Mọi thứ tạm yên được một thời gian. Ăn tết xong, người con trai thứ 3 của Trung lăn đùng ra ốm. Cậu này đô con như lực sĩ, mổ lợn nhanh thoăn thoắt, tương lai kế thừa ngôi vị đồ tể của Trung.

Đêm cậu kêu mất ngủ. Ngày chán ăn. Người cứ mệt rũ ra. Thỉnh thoảng, chợp mắt được một tí thì nằm mơ toàn ác mộng, ngựa đá, chó cắn, xe đâm, la hét ầm ĩ. Gia đình đưa đi khắp các bệnh viện Đông y , Tây y điều trị nhưng các bác sĩ chẳng phát hiện ra bệnh gì. Người càng gầy yếu. Mùa hè năm đó, cậu trút hơi thở cuối cùng.

Cái chết của cậu khiến Trung càng thêm sợ hãi. Trung bắt đầu nghĩ đến những lời đồn thổi của dân làng về hậu vận của mình, bắt đầu tin vào luật nhân quả. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm mà gia đình Trung mất 4 mạng người : Vợ và ba thằng con trai. Bây giờ, chỉ còn mỗi thằng con trai út, 17 tuổi, đang học lớp 11 trường huyện.

Tạm gác lại chuyện mổ xẻ, giết thịt, Trung chăm sóc con từng bước. Đích thân ngày 2 buổi đưa đón con đi học. Về nhà, Trung giữ rịt nó ở nhà. Không bóng đá, không đi bơi. Thế rồi, buổi trưa nọ, trong lúc Trung ngủ say, cậu út lẻn ra ngoài , đi bơi cùng đám bạn.

Trước cửa đình làng có hồ ba mẫu rất rộng, nước trong. Mùa hè, đám thanh niên và trẻ con trong làng ra hồ bơi ì ùm suốt ngày. Cậu út của Trung bơi rất giỏi. Vậy mà hôm ấy chẳng hiểu sao, nó lại bị chết đuối. Mãi chiều muộn mới vớt được xác nó lên bờ.

Vừa nhìn thấy xác con bụng trương phềnh, da trắng bợt như con lợn vừa bị cạo lông, Trung hộc lên một tiếng : “Ối con ơi!” Đột nhiên, máu đen từ mũi, từ miệng xác con ộc ra như tháo cống. Ai chứng kiến cảnh đó cũng phải khiếp đảm.

Cái chết tang thương của đứa con cuối cùng khiến Trung hoàn toàn suy sụp. Trung suốt ngày ngập chìm trong rượu. Rượu vào là khóc, là chửi, là than. Cho đến một ngày không thấy tiếng khóc, tiếng chửi, tiếng than của Trung, hàng xóm kế bên chạy qua nhòm qua khe cửa.

Họ hốt hoảng khi nhìn thấy Trung nằm sõng soài trên nền gạch, máu chảy lênh láng. Phá cửa vào, mọi người rùng mình khi nhìn thấy trên yết hầu Trung một vết cắt ngọt, sâu, máu vẫn còn đang đùn ra. Tay phải Trung vẫn nắm chặt con dao nhỏ, sắc nhọn bằng hai ngón tay, con dao mà chủ nhật cuối tháng hôm nao, Trung đã dùng để xỉa một nhát thật ngọt vào yết hầu con ngựa bạch.

Người không xả bỏ được tài sắc, chẳng khác nào trên lưỡi dao bén có dính tí xíu mật, cái vị ngon thì quá nhỏ quá ít không đủ một bữa ăn, thế mà trẻ em không biết, tham ngọt liếm vào tất sẽ bị tai họa đứt lưỡi, cái khổ đau thì quá lớn quá nhiều”. Như vậy, cũng có nghĩa là ngay chất ngọt của năm món dục, chất đau khổ đã hiện hành kề bên, như hình với bóng không tách rời nhau trong sự hình thành và tồn tại.

Giọt mật trên lưỡi dao bén không có lỗi, lỗi là do kẻ dại khờ, ngọn đuốc cháy tạt theo hướng gió không có tội, tội là do người ngu muội, bản chất của ngũ dục vốn không lỗi gì, tự nó không có lỗi cũng không có hại. Lợi hay hại là do chúng ta si mê tham đắm vào nó đánh mất trí tuệ.

Mê si là nhận thức sai lầm, khởi tâm đắm nhiễm nên chuốt tai họa, mất hết cả tự chủ và chỉ còn là nô lệ cho những thèm muốn của mình mà thôi. Một khi đã bị lòng tham dục điều khiển, thì con người gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi sa đọa trầm luân.

Trí tuệ là nhận thức đúng đắn về ngũ dục, thấy rõ họa hại của ngũ dục nên dè dặt không để nó sinh khởi, đồng thời sử dụng thiện pháp dục như một phương tiện để hành đạo.

Người niệm Phật cầu về Tây Phương cần phải thường tự cảnh tỉnh trước sự quyến rũ của dục vọng, không để nó mê hoặc làm mất phẩm hạnh đạo đức, làm mất mục đích giải thoát,đồng thời cần phải nỗ lực tinh tấn thực hành lời Phật dạy để đoạn trừ tận gốc rễ của sự chướng ngại cho vãng sanh, hầu kiến lập một đời sống trong lành, tự tại an vui ngay giữa cuộc đời này, bởi vì, hiện tại an lạc tương lai mới chắc chắn sinh sang Cực Lạc!

Kiếp người ngắn ngủi, hãy sớm tu hành

Vương Dương Minh (1472—1529) còn có tên là Vương Thủ Nhân, tên thật là Vương Vân, là người Dư Diêu, tỉnh Chiết Giang. Ông là nhà tư tưởng xuất sắc, cũng là nhà triết học, nhà thư pháp, nhà quân sự, nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà văn nổi danh nhất của triều đại nhà Minh. Đồng thời ông còn là người văn võ song toàn, từng là tướng mang quân đi dẹp loạn nhiều lần.

Ông được sinh ra trong gia đình trí thức làm quan. Năm 28 tuổi, ông thi đỗ tiến sĩ. Sau khi tôi luyện bản thân ở vùng biên cương, dẫn binh dẹp loạn đã lập được công lao to lớn. Ông làm quan đến chức Nam Kinh Bộ binh Thượng thư, Đô sát viện, Tả đô ngự sử Nam Kinh. Bởi vì dẹp được loạn Thần Hào, ông được phong chức Tân Bá Kiến. Đến năm Long Khánh, ông lại được phong Hầu Tước.

Ông là người tinh thông Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, hơn nữa còn có thể dẫn quân chinh chiến. Ông được xưng là một nhà thông thái toàn năng của lịch sử Trung Hoa.

Thời điểm Vương Dương Minh ra đời, ông nội của ông đã nằm mộng thấy ông cưỡi mây mà đến. Bởi vì điều đó được xem là vô cùng may mắn nên người nhà đã đặt tên cho ông là Vương Vân.

Vương Dương Minh từ nhỏ đã thông minh hơn người, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc cậu bé Vương Vân 5 tuổi, có một vị hòa thượng đi qua nhà, nhìn thấy cậu đang chơi đùa với chúng bạn Ngài liền tiến lại xoa đầu cậu và nói: “Đứa nhỏ này tướng tốt lắm đấy, chỉ tiếc vì đạo bị phá đi!”. Ý tứ rằng, cái tên Vương Vân đã nói toạc ra lai lịch của cậu, vì thế mà cậu không biết nói. Bởi vậy, người nhà đã đổi tên Vương Vân thành Vương Thủ Nhân. Cũng bắt đầu từ đó, Vương Dương Minh mới biết nói.

Năm Vương Dương Minh 50 tuổi, danh tiếng của ông đã nổi khắp thiên hạ. Lúc ông ở Trấn Giang đi Kim Sơn du ngoạn. Trên đường đi, ông luôn cảm thấy con đường này rất quen thuộc.

Sau đó, vào tham quan một ngôi chùa, ông thấy có một gian phòng đóng chặt cửa (nơi hòa thượng ngồi thiền) đã quá cũ nát, trên cửa còn dán giấy niêm phong. Ông liền yêu cầu hòa thượng ở đó mở cửa ra để vào trong xem. Hòa thượng ngăn lại, nói: “Đây là nơi một lão tăng viên tịch cách đây đã 50 năm. Trong này có thân thể bất hoại của vị lão tăng, 50 năm qua chưa từng mở cửa ra, là nơi tôn nghiêm không thể xem được”.

Vương Dương Minh dùng quyền uy của mình kiên quyết yêu cầu mở cửa, vị hòa thượng đành phải mở. Vừa mở cửa, ông nhìn thấy vị lão tăng đã viên tịch vẫn ngồi ngay ngắn trên bồ đoàn, vẫn trang nghiêm và như thật.

Trên bức tường trong phòng còn viết một bài kệ:

“Ngũ thập niên hậu Vương Dương Minh,
Khai môn do thị bế môn nhân.
Tinh linh bế hậu hoàn quy phục,
Thủy tín thiện môn bất phôi thân”.

Ý nói: 50 năm sau, Vương Dương Minh là người mở cửa, cũng là người đóng cửa. Sau khi vứt bỏ những danh vọng đời thường, hãy quay về với tu hành bởi vì ông vốn là người tín thiền môn.
Nguyên lai là lão tăng sau khi viên tịch đã sớm biết việc tương lai cho nên cố ý lưu lại câu kệ ấy là để nhắc nhở Vương Dương Minh chớ quên mất bản thân nguyên sơ của mình. Thực ra, cũng chính là vị lão tăng tự nhắc nhở bản thân mình ở kiếp sau, sợ sang kiếp sau sẽ quên mất.

Vì triều đình rối loạn đồng thời vua Minh Thế Tông không biết xoay xở cách nào nên một mực dụ dỗ sai ông đi dẹp giặc Tư Ân và Bát Trại. Dẹp xong thì bệnh tình của ông trầm trọng, lúc nóng lúc lạnh, ho mửa ra máu.

Tháng 10 năm 1528, ông dâng sớ cáo quan về dưỡng bệnh. Ông giao binh quyền cho Vương Đại Dụng rồi không đợi chiếu nhà vua mà sắm sẵn một chiếc quan tài mang theo để về quê.

Khi đi qua địa phận Nha Sơn, Nam An, ông đã lên ngôi chùa cổ Linh Nham ở trên núi để thăm hỏi. Không may gặp đúng dịp trong chùa có một vị cao tăng viên tịch từ mấy hôm trước, nên nhà chùa không tiếp khách. Sau đó, phải trao đổi qua lại nhiều lần, Vương Dương Minh mới được đồng ý cho vào chùa.

Vừa bước vào trong gian mật thất của nhà chùa, Vương Dương Minh giật mình nhìn thấy trên án có viết bài kệ:

“Ngũ thập thất niên vương thủ nhân,
Khải ngô thược, phất ngô trần,
Vấn quân dục thức tiền trình sự,
Khai môn tức thị bế môn nhân”.

Ý nói rằng, vào năm 57 tuổi, Vương Thủ Nhân đến chùa. Không lâu sau sẽ rũ bỏ bụi trần.

Đọc xong câu kệ, Vương Dương Minh tự cảm thấy ngày tháng tương lai của mình không còn nhiều lắm, vội vàng rời đi. Không đầy hai tháng sau, ông buông tay, rời khỏi cõi trần, bỏ lỡ một duyên lành đáng tiếc, thọ đúng 57 tuổi.

Qua câu chuyện trên ta nhận thấy cánh cửa danh lợi quả thật khó có ai thoát lọt! Sự nghiệp vĩ đại của ông ảnh hưởng hậu thế không phải là nhỏ, nhất là người Nhật Bản xem ông là một Thánh Nhân, nhưng mà, một khi còn trong vòng sanh tử luân hồi thì phước báo càng lớn lại là họa hại càng sâu dày cho tương lai. Thế nên si phước thật rất đáng sợ lắm thay!!!

Người chỉ có khác nhau thời đại,
Cũng một tuồng ân ái như xưa.
Cảnh hồng trần dù lắm mến ưa,
Rốt cuộc cũng chỉ đưa đến mộ.
Ăn của thổ thì huờn lại thổ,
Xác phàm nhơn có số định rồi.
Tạo cho nhiều cũng chỉ thế thôi,
Thân khi mất sự đời cũng mất.
Thật nào khác chiêm bao một giấc,
Tiêu tan không sự vật nào còn.
Kể ra nào vợ đẹp hầu non,
Nào cát tía lầu son lộng lẫy,
Nào xe cộ tàu bè bóng bẩy,
Nào bạc vàng của cải dư muôn,
Dứt thở rồi vạn sự đều buông,
Sự vật bỏ còn thân cũng rã;
Cõi tạm giả xác thân cũng giả,
Đến cuối cùng đều hóa ra không;
Mưu mẹo gì cũng chỉ luống công,
Càng thêm tội chớ không tồn tại.

*******

Chính sắc đẹp thường giết chết nhiều người rồi, kẻ có danh vọng nhứt là Vua Trụ, Kiệt, U, Lệ, Tề…cũng vì say mê sắc đẹp, nên bị sắc đẹp giết chết cả sanh mạng đến danh thể của các ông một cách nhục nhã.

Còn mớ khăn áo đẹp, thức ăn uống ngon, đám ruộng béo, vườn xinh, nhà to cửa rộng mỗi mỗi đều là cạm bẫy, lưới rập, thường phỉnh gạt người đời sa vào đó, bị treo hầu thắt cổ, bị chà sát bầm dập thể thống thân danh, nhứt là thường bị nó làm cho người phải đọa đày trong vòng sanh tử luân hồi chịu lắm đau thương thống khổ.

Làm vua bảy ngày

Thuở xưa, có một vị vua nổi tiếng nhất, tài ba nhất, đức độ nhất, và được dân chúng kính trọng ngưỡng mộ nhất, đó là vua A Dục. Sau khi Phật nhập Niết Bàn khoảng hai trăm năm, vua A Dục đã thống nhất nước Ấn Độ và để lại cho đất nước này một trang sử huy hoàng.

Vua A Dục là một vị Phật tử thuần thành. Lúc còn tại vị, không những ông dốc lòng tin tưởng Đức Phật mà còn hết sức tích cực lo việc truyền bá chánh pháp.
Để phát khởi lòng tin của dân chúng đối với Phật pháp, ông đã mất không biết bao nhiêu là tâm trí lẫn công sức, tiền tài vào việc lập tháp cúng dường Đức Phật ở khắp mọi nơi.
Ngày hôm nay, nước Ấn Độ còn lại rất nhiều di tích của những chùa và tự viện lớn. Rất nhiều trong số đó là những kiến trúc được xây lên từ thời vua A Dục.
Vua hết sức nhiệt tình trong việc truyền bá và tự mình tu tập Phật pháp, nên bản thân có được một cuộc sống tinh thần rất phong phú và an lạc. Điều làm cho ông buồn lo và thương tiếc nhất là người em tên là Thường Tu, người em này chẳng những không tin Phật mà còn tin theo tà giáo, đi đến đâu cũng hủy báng Tam Bảo. Vua A Dục thường khuyên răn, nhưng ông rất cố chấp, vua không biết phải xử trí bằng cách nào.

Một hôm trời tối, Thường Tu bước vào hoàng cung, nói với vua A Dục rằng:

– Vương huynh! Hôm nay đệ khám phá ra một điều và nghĩ tới một số vấn đề, không biết có thể nói với vương huynh hay không?

Tường Tu nói xong, mở to hai mắt nhìn thẳng vua A Dục, đợi lệnh của vua.

– Thường Tu! Hiền đệ là người em mà ta thương mến nhất, từ trước tới giờ ta không hề có sự phân biệt với hiền đệ, đệ nên thường giúp ta trong việc trị nước mới phải, vậy có chuyện chi mà đệ

không nói được với ta chứ? Đệ muốn nói gì thì cứ nói đi!

Thường Tu bèn tỏ ra rất nghiêm chỉnh:

– Vương huynh! Đệ muốn nói với vương huynh một vài lời trung thật. Huynh đối với mấy ông thầy tỳ kheo Phật giáo quá đỗi cung kính, quá đỗi ủng hộ mấy ông ấy, coi chuyện Phật sự còn quan trọng hơn việc quốc gia. Đệ thấy mấy ông tỳ kheo chẳng có gì xứng đáng cho vương huynh cung kính tôn trọng như thế cả, nên đệ khuyên vương huynh nên coi trọng việc nước hơn!

Những lời hủy báng của Thường Tu, vua A Dục nghe như những mũi tên đâm thẳng vào tim, trong lòng rất buồn nên vội vàng ngăn lại rằng:

– Thường Tu, đệ hãy ngừng ngay những lời nói ấy. Hủy báng Tam Bảo là có tội. Đệ không hiểu sự cao quý của các vị tỳ kheo, họ là những người đã đoạn trừ được ái dục, xa lìa thân quyến để xuất gia cửa Phật, khoác áo cà sa, hoằng pháp lợi sinh, tìm cầu sự an lạc cho nhân dân, cho xã hội. Phật giáo có hưng thịnh thì đất nước mới ổn định được.

Nghe những lời của vua A Dục, Thường Tu đã không đồng ý mà còn nói rằng:

– Vương huynh! Huynh không nên tin họ như thế, cúng dường mấy ông tỳ kheo ấy thì có lợi ích gì? Đệ thấy không những vô ích cho quốc gia, mà còn có hại đối với nhân tâm. Cả ngày họ không làm việc, ngồi đó mà hưởng phúc, không lẽ dân chúng không muốn bắt chước sống như thế hay sao? Hơn nữa, huynh nói họ là những người đã đoạn trừ ái dục, kỳ thật chuyện ấy không thể nào có được. Huynh xem, loài vật còn biết thế nào là tình ái, huống chi là loài người ư?

Thấy nét mặt của vương huynh sầm xuống, Thường Tu liền ngưng giọng, rồi cáo lui, lặng lẽ bước ra ngoài.
Những tà ngôn tà kiến ấy làm cho vua A Dục rất buồn khổ, cuối cùng ông nghĩ ra một giải pháp để sửa đổi quan niệm lầm lạc của Thường Tu.

Một hôm vua A Dục bí mật gọi một vị đại thần vào cung, căn dặn phải làm như thế, như thế… Vị đại thần lập tức vâng theo lời dặn dò của vua mà thi hành.

Vào lúc trời chạng vạng tối, vua A Dục đang tắm ngoài ao, thì vị đại thần nọ cùng Thường Tu bước vào cung, thấy vua A Dục vắng mặt mà vương mão cùng long bào thì bày ngay đấy, vị đại thần bèn nói với Thường Tu rằng:

– Thân vương! Tướng mạo, khuôn mặt của ngài và đại vương hết sức giống nhau, nếu ngài khoác long bào vào thế nào cũng có người lầm tưởng ngài là vua A Dục. Thân vương, ngài làm thử mà xem!

Thường Tu biết đây là một việc phạm pháp, nhưng tâm hiếu kỳ và tâm hư danh thúc đẩy, ông bèn mặc long bào và đội vương mão lên. Đúng ngay lúc ấy vua A Dục bước vào, thấy thế nổi giận, trách mắng Thường Tu rằng:

– Ngươi thật là to gan, dám lén lấy áo mão của ta mà mặc, có phải là ngươi muốn làm phản không? Ngươi tính chuyện soán ngôi, có phải chăng?

Chứng cớ đã rành rành, Thường Tu không còn chạy chối vào đâu được. Vua A Dục hạ lệnh:

– Đem hắn ra ngoài cửa thành chém đầu lập tức!

Vị đại thần nọ bèn vội vàng quỳ xuống can gián:

– Đại vương! Thường Tu là em vua, không phải người ngoài, hơn nữa đây là lần đầu tiên xúc phạm long nhan, xin đại vương tha tội cho thân vương!

Vua A Dục nhìn xuống nét mặt ủ dột của Thường Tu, rồi đột nhiên hỏi:

– Thường Tu, ta hỏi ngươi, ngươi có thích làm vua không?

Thường Tu trả lời rất nhỏ:

– Tuy rất thích nhưng thần không dám vọng tưởng.

– Làm vua thì vui sướng ở chỗ nào?

Bây giờ thì Thường Tu đã lấy lại can đảm, trả lời rằng:

– Vua là người được tôn trọng nhất nước, những khoái lạc vua hưởng kể ra không hết, mà những diễm phúc vua có thì nói ra cũng không cùng tận. Đồng thời cũng không có ai ở trên cai quản vua, như thế không phải vui sướng là gì?

– Được! Ngươi đã muốn làm vua thì ta nhường ngôi cho ngươi trong bảy ngày, ngươi có quyền tận hưởng ngũ dục tùy thích. Nhưng mãn kỳ hạn ấy, ngươi sẽ bị xử tử!

Vua A Dục quy định như thế xong bèn lui về hậu cung, và bí mật ra lệnh cho bốn vị thị thần đứng bốn góc Hoàng cung, chờ mỗi khi chiều tối thì lớn tiếng hô rằng:

– Thêm một ngày vừa mới trôi qua, còn mấy ngày nữa thì xử tử hình!

Thường Tu rất sợ chết, nghe thế mỗi ngày mỗi thêm phiền não, bất an. Không những ông không khởi lên được một niệm dục lạc nào, mà còn lo âu đến nỗi hình dung tiều tụy hẳn. Bảy ngày làm vua trôi qua trong khổ sầu, đến sáng ngày thứ tám, vua A Dục lên ngôi báu trở lại, hai bên có văn võ bá quan đứng hầu, hỏi Thường Tu rằng:

– Sao, ngươi làm vua bảy ngày, hẳn là đã hưởng thụ rất nhiều dục lạc phải không?

Thường Tu nghe vương huynh hỏi như thế thì ủ rũ cúi đầu trả lời trong ê chề, chán nản:

– Tâu Hoàng huynh, em khổ lắm Hoàng huynh! Ngồi trên nệm gấm vương giả, chung quanh dìu dặt tiếng nhạc, tiếng ca của những cung tần mỹ nữ, nhưng lòng em không thể nào vui được khi trí em mãi nghĩ đến lưỡi gươm sáng quắc của tên đao phủ, đến dòng máu đào phun vọt từ cổ em sau khi chiếc đầu em lăn lóc. Trời ơi! Lại thêm nỗi, mỗi khi hoàng hôn vừa tắt, bốn tên lực sĩ Chiên Ðà La đứng bốn góc Hoàng cung, tay cầm gươm trần, tay nắm xích sắt, khua lổn cổn hô to: “Một ngày đã qua! Một ngày đã qua, còn sáu ngày nữa, tân vương sẽ bị chặt đầu. Cái chết của Ngài đang đi tới… một ngày rồi đó”. Âm thanh cảnh báo về số ngày còn lại, đủ làm cho đệ ưu khổ rồi, còn tâm trí đâu mà nghĩ tới mấy thứ lạc thú kia nữa? Vì thế cho nên trong bảy ngày qua, đệ không nhìn thấy, cũng không nghe thấy gì cả.

Hoàng đệ Thường Tu buông tiếng thở dài não nuột, rồi tiếp:

– Tâu Hoàng huynh, mỗi tiếng nói của họ là mỗi lưỡi gươm nhọn đâm vào tim em. Suốt cả bảy ngày, em sống trong phập phồng lo sợ. Ngai vàng điện ngọc, sơn hào hải vị, cung phi mỹ nữ, quyền lực danh vọng tối cao nào có nghĩa lý gì đâu, khi tâm em đầy đau khổ đang khi lo sợ cận kề cái chết, Hoàng huynh ạ!

Rồi Thường Tu bưng mặt khóc nức nở. Ðôi vai run run trong chiếc cẩm bào rộng. Bá quan đều cảm động.

Câu nói của Thường Tu làm cho vua A Dục hết sức vui lòng và yên tâm, ông bèn nói:

– Thường Tu, em! Trong cái danh vị cao cả nhất của người đời, em chỉ sợ sệt, lo âu chết mất một thân này, một kiếp này mà cảm thấy thống khổ đến như thế.

Vậy em hãy nghĩ lại, các vị sa môn tu theo đạo Phật, họ luôn luôn nghĩ đến cảnh sanh, già, bệnh, chết của hết thảy con người, trong vô lượng kiếp, qua nhiều cảnh giới đau thương khốn nàn, như: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế họ không thể có tâm trí đâu mà sinh khởi niệm ái dục hay tham luyến vật chất bên ngoài, thì thử hỏi ăn một bữa trong ngày, khoác hài gai áo vải, có gì là sung sướng đâu em!

Vua A Dục còn thuyết rất nhiều lời pháp liên quan tới sự đau khổ của nhân sinh đối với vấn đề sanh tử, khiến Thường Tu cảm động rơi lệ, bèn phát tâm quy y Phật pháp đồng thời xin vương huynh cho phép mình xuống tóc xuất gia!

Bây giờ chẳng chịu tu cho gấp,
Chừng đáo đầu lặp bặp sao xong;
Sấu còn biết muốn thành rồng,
Người sao không dạ ước mong siêu phàm.
Mang xác thúi không làm thẹn tủi,
Còn đem tâm đắm đuối say sưa;
Chẳng lo hành đạo sớm trưa,
Đổi thân sen báu thơm tho lâu dài.
Sao lại chịu sống ngày thống khổ,
Không lo tìm kiếm chỗ thanh nhàn;
Xuống lên trên cõi thế gian,
Ăn cay uống đắng muôn ngàn kiếp qua.
Sao chẳng chịu xét ra cho kỹ,
Chán thói đời dối mị gạt mình;
Nào danh nào lợi nào tình,
Làm mồi để nhử cho mình mắc câu.
Cũng tại nó mà sầu mà khổ,
Nó làm tuồng bưng bợ thân yêu;
Tử thần khi đến gọi kêu,
Thì là nó cũng trốn tiêu hồi nào.
Nào những cái sang giàu oai vệ,
Nó không hề chết thế cho mình;
Lại là nó rất bạc tình,
Khi mình chết, nó bỏ mình ra đi.
Thân trơ trọi nằm lỳ trong quách,
Cho đến tiêu ra đất ra bùn;
Thật loài hữu thỉ vô chung,
Càng xa sớm được càng không ưu sầu.
Lợi dụng nó làm câu phước thiện,
Đừng để cho nó khiến sai mình;
Rán mà vẹt ngút vô minh,
Chớ cho vật tạm làm mình phải ngu.
Giàu nghèo cũng cần tu mau chóng,
Đừng vội quên bỏ trống nhà xưa;
Cõi trần vì quá thích ưa,
Từ lâu nước cũ nhà xưa không về.
Mẹ mỏi gối đợi kề bên cửa,
Cha đau lòng nhớ trẻ xa đường;
Con lành hãy sớm bải bươn,
Mau về lo việc lửa hương sớm chiều.
Nhà xưa ấy thường kêu An Lạc,
Cha mẹ là vốn Đức Như Lai;

******

Thế thì năm món dục như đã kể trên không đáng nhiễm một điều nào cả, chỉ có một điều cao quí hơn, siêu vời hơn là mỗi người cần phải cương quyết rứt bỏ lòng tham luyến cõi Ta bà ngũ trược, quyết cầu vãng sanh về cõi Cực Lạc. Khi về Cực Lạc được thân bằng hoa sen, cảnh toàn bằng bảy báu, bạn lữ quyến thuộc là các vị thượng thiện nhân, ấy mới được còn mãi và an vui hơn hết.
Và một khi chúng ta thành tâm cầu về cõi Tịnh Độ, dĩ nhiên là chúng ta nhận ngay rằng cõi ấy trang nghiêm thanh tịnh hơn cõi Ta bà uế trược này.

Mà việc cầu sanh về cõi Tịnh Độ không ngoài pháp niệm Phật, vì một tiếng niệm Phật chẳng khác nào một nhịp cầu, càng nhiều tiếng niệm Phật, càng nhiều nhịp cầu nối liền nhau, từ bờ mê cõi Ta Bà qua bến giác cõi Cực Lạc, đưa chúng ta đến chỗ thỏa lòng mong ước.

Được hiểu thế, nên sự niệm Phật đối với chúng ta không còn do dự chần chờ nữa, phải cố gắng niệm, cái niệm này nối liền cái niệm tới không để gián đoạn. Vì nếu để tiếng niệm Phật bị hở cách sẽ là có một dịp cho tiếng niệm phàm phu xen vào, nghĩa là tâm niệm Phật lãng quên, tức là tâm niệm phàm phu sanh ra khuấy rối; như thế có bao giờ thành tựu trong cuộc vãng sanh về Tịnh Độ được.

Nếu còn chìu thị dục nơi thân,
Thì còn bị nhiều cơn chìm nổi.
Còn mê tất nhiên còn tăm tối,
Rán làm cho hết thói say mê.
Cõi siêu sanh thấy lối trở về,
Được khoái lạc còn chi sánh kịp.
Còn mê tất là còn tạo nghiệp,
Nghiệp còn thì còn kiếp luân hồi.
Mê là nguồn gốc tạo ra đời,
Khi đời hết vì người mê hết.
Bởi mê thấy vật chi cũng mết,
Thân chết nhưng không chết nghiệp mê.
Mê đâu thì sanh đó không xê,
Luân hồi bởi tại mê mà có.
Điều ấy chúng sanh nên nhớ rõ,
Bứng gốc mê cho nó hết sanh;
Tất không còn bị nghiệp hoành hành,
Chừng đó mới trở thành tự tại.
Lầm lạc biết quầy đầu trở lại,
Cố đi dầu xa mấy cũng gần.
Đem phàm thân đổi lấy Phật thân;
Vạn sự ở tinh thần cương quyết.

Huống chi, nếu mình còn ngờ vực, còn lần lựa không chịu gấp rút niệm Phật, không chịu quyết tâm cầu sanh Tịnh Độ, cứ mãi quay cuồng theo tánh phàm, theo việc thế, thì ngày mạng chung thường có mười điều khiến mình không còn đủ thì giờ chuẩn bị để niệm Phật được.

Mười điều ấy là:

– Một là, trong lúc hấp hối rủi chẳng gặp người lành khuyên cho niệm Phật, thì không làm sao nhớ để niệm được.

– Hai là, trong lúc gần mạng chung bao nhiêu cảnh giới ác, do nghiệp tạo bất chánh của mình trong lúc khỏe mạnh gây ra đã hiện rõ trước mắt mình thấy, tai mình nghe và trong người bứt rứt không hề rãnh giây phút nào, thì đâu có thế gì niệm Phật được.

– Ba là, rủi phải mang lấy chứng bịnh bất ngờ trầm trọng, khô hầu tắt tiếng; lúc đó thấy mình kinh hồn sơ sệt đâu còn nhớ đến sự niệm Phật mà dầu muốn niệm Phật cũng không làm sao niệm cho ra tiếng được.

– Bốn là, rủi phải bị thứ bịnh cuồng tâm loạn óc, thì đâu còn tự chủ mình được nữa, thành một người điên dại thì đâu thế nào niệm Phật được.

– Năm là, rủi bị té sông, biển, ao, hồ mà chết, hoặc bị hỏa hoạn hay núi lửa khạc lửa, hay động đất, sóng thần mà chết, chết một cách cấp tốc, chết một cách bất ngờ hốt hoảng, đâu còn được thì giờ để niệm Phật.

– Sáu là, rủi phải bị loài ác thú: cọp, hùm, beo, gấu vồ bắt, lại lúc ấy không người tiếp cứu nhắc nhở cho niệm Phật, thế thì làm sao nhớ niệm Phật được.

– Bảy là, nếu chần chờ chẳng may gặp những người bạn hung ác, chỉ biết làm điều tội lỗi, không tin Trời Phật, không tin luật nhân quả, họ khuyên làm những điều ma mị, rồi mình đem lòng tin theo, thì đâu có bao giờ biết và nhớ đến sự niệm Phật được.

– Tám là, chẳng may vì trúng thực quá nặng, hay vì trong giấc ngủ mê mang rồi chết luôn, thì đâu được hay biết trước để niệm Phật.

– Chín là, khi ra trận hay chạy giặc rủi phải bị tên đạn của kẻ địch xuyên qua chỗ nghiệt của cơ thể chết một cách mau lẹ, thì đâu kịp nhớ để niệm Phật, nói rõ hơn là không còn sống phút nào để niệm Phật.

– Mười là, rủi phải tai nạn giao thông, hay từ núi cao té xuống, hay rớt vào vực thẳm, hoặc lọt xuống giếng sâu chết một cách hốt hoảng, chết một cách bất đắc, thì đâu còn bình tĩnh để niệm Phật được.

Khi lâm chung không gặp bạn lành, nên chẳng ai khuyên niệm Phật, lại bị bạn ác phá hoại lòng tin.

Bạn ác ở đây không phải ai xa lạ gì, mà chính là những người thân thuộc, những người thương yêu mình nhất. Vì chẳng thông hiểu đạo lý sâu sắc, nhất là pháp môn Tịnh Độ, nên họ yêu thương bằng tình yêu thương mê muội theo thế gian, hoặc vì giữ sĩ diện với lối xóm bạn bè mà tạo thành thảm họa rất tai hại gây trở ngại cho sự siêu thoát của người sắp sửa ra đi!

Không gieo nhân Phật, đâu được quả Phật

Phàm tất cả sự việc có nhân ắt có quả, định luật nhân quả không sai tơ hào nào cả. Cũng giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, tuyệt không có cái đạo lý trồng dưa được đậu, trồng đậu được dưa. Người mong muốn vãng sanh Cực Lạc thế giới cũng như thế, trồng cái nhân niệm Phật thì được cái quả vãng sanh Tây Phương, tự mình không gieo trồng nhân Phật, dù có thiện tri thức trợ niệm cũng không nương nhờ được, lúc vãng sanh đến, phát sanh chướng ngại.

Vào năm 1950, liên hữu Vạn Trương Bội Hoàn, mọi người đều gọi bà là Vạn sư huynh. Một hôm, bà đến nói với Lâm Khán Trị:

– Có một vị đồng hương ở Đông Bắc, đã hơn tám mươi tuổi, thọ mạng sắp hết, thỉnh người giúp đỡ trợ niệm!

Lâm Khán Trị liền hỏi bà rằng:

– Người này lúc bình thường có tin Phật, niệm Phật hay không?

– Không có! Nhưng ông ta khi trước từng làm lãnh tụ Hội Đạo Đức Vạn Quốc, tôi khuyên ông ta niệm Phật là tìm được nơi trở về an ổn, là vãng sanh Tây Phương, ông ta mới biết được điều tốt đẹp của Tây Phương, nên mới muốn thỉnh người trợ niệm, xin sư tỷ giúp cho tìm mấy vị liên hữu ngày mai đến trợ niệm!
Sáng sớm hôm sau, Lâm Khán Trị hẹn với ba vị liên hữu cùng với Vạn sư huynh đồng đi.

Ông cụ ở một căn nhà nhỏ phía sau công viên. Vừa nhìn ông lão đó, thấy ông râu tóc bạc phơ và mặc bộ đồ trắng nằm trên giường, hơi thở thoi thóp, bên mình chỉ còn một bà vợ già, mọi người liền bắt đầu lục tự hồng danh cứ thế niệm mãi, niệm đến trưa Vạn sư huynh liền dẫn mọi người về nhà, thành ý chiêu đãi ngọ trai, khi đã dùng cơm xong lại đi hộ niệm tiếp tục, niệm đến tối mới nghỉ.

Ngày hôm sau Vạn sư huynh tìm đến gặp Lâm Khán Trị thông báo tin mừng:

– Lâm sư huynh, ông lão hôm qua chúng ta niệm cho nghe danh hiệu Phật một ngày, bây giờ đã tỉnh táo, tự trong tâm ông ta cũng đã biết niệm rồi, lại còn nói trưa ngày mai Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn, quyết định là 12 giờ sẽ đi, xin sư huynh sáng mai hẹn thêm nhiều vị liên hữu đến nhà ông ta niệm Phật, đưa ông ta vãng sanh Tây Phương, được không ạ?

Lâm Khán Trị lập tức nhận lời, do vì lòng hiếu kỳ thúc đẩy, liền đi tuyên truyền với các vị liên hữu, nói ông ta biết trước giờ đi, mời hẹn ngày mai đi trợ niệm, để xem tướng lành vãng sanh Tây Phương của ông ta.

Qua ngày kế, trước 10 giờ sáng, hơn mười vị liên hữu, nhứt tâm nhứt ý trợ niệm cho ông, và cầu nguyện Phật A Di Đà từ bi tiếp dẫn ông lão này vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vạn sư huynh cũng thắp hương không ngớt cầu nguyện khấn vái, mọi người đều dụng tâm thành khẩn như thế trợ niệm. Lúc đó ông lão này mặc một bộ đồ trắng, đắp một miếng vải trắng, trạng thái ngủ mê, thở hổn hển mãi, đến 11 giờ bao nhiêu con mắt chăm chú nhìn, tiếng niệm Phật càng lớn; đến 11 giờ 50 phút, ông bỗng nhiên tỉnh dậy mở miệng hỏi người hầu nam ở bên mình rằng:

– Bây giờ là mấy giờ?

Người hầu nam đáp:

– 11 giờ 50 phút!

Ông lão mặt mày hớn hở, nói một cách sung sướng nhẹ nhàng:

– Còn 10 phút nữa Phật A Di Đà đến đón tôi đi rồi!

Vừa nói ông vừa đảo mắt nhìn giáp một vòng dường như bày tỏ lòng cám ơn mọi người đã vì mình niệm Phật.

Ai có ngờ được trong giây phút ngàn cân treo sợi tóc và phân biệt Thánh phàm này lại xảy ra chướng ngại. Đang lúc mọi người nhứt tâm niệm Phật, thì người hầu nam kia đi lấy một vật trong đống giấy tờ đã được chuẩn bị xong, rất nhanh nhẹn đốt trước mặt ông già, trong nháy mắt đã đốt xong. Bà vợ già của ông như giựt mình, không kềm được lòng, bước xông lên vội vàng đưa tay ra sờ sờ mặt của chồng, bà vừa khóc vừa nói:

– Ông đi Tây Phương bỏ tôi ở lại một mình, phải sống thế nào đây?

Vạn sư huynh lập tức ngăn bà ta lại nói:

– Tôi đã dặn với bà rồi, lúc ông sắp vãng sanh, bà không được khóc lóc lưu luyến, hoặc là động đến mình ông ta, bà quên rồi sao?

Đúng ngay lúc 12 giờ, ông lão mở to mắt ra nói:

– Thưa Phật A Di Đà, tôi không đi Tây Phương nữa đâu, do vì nếu tôi đi Tây Phương, để bà bạn tôi ở lại có một mình thì làm sao? Cho nên tôi không đi nữa!

Lúc đó các vị liên hữu vẫn cứ gắng sức niệm nhưng cũng không sao chuyển được ông ta! Mặc dù rất là thất vọng, cũng tiếp tục niệm hơn nửa giờ nữa, lúc đó nhìn xem ông lão nói năng lộn xộn, trạng thái tinh thần đã trở nên rối loạn không còn rõ ràng nữa! Ai cũng tội nghiệp tiếc than cho ông, rồi ai về nhà nấy.

Đêm đó khoảng hơn 10 giờ, Vạn sư huynh lại đến nhà Lâm Khán Trị kêu đi niệm Phật cho ông cụ, Lâm Khán Trị hỏi:

– Ông ta ra sao rồi?

Bà nói:

– Tâm thần tán loạn, sức khỏe biến đổi xấu, đại khái có dáng rất đau khổ, nhưng ông vẫn còn rất hy vọng nghe người niệm Phật.

Lâm Khán Trị liền lại cùng Vạn sư huynh đi đến nhà ông lão, vào cửa liền nhìn thấy ông lão đang khạc ra máu và dùng tay móc trong miệng ra máu từng cục từng cục, làm dơ đầy giường vết máu tanh. Hai người thấy vậy bèn lập tức lại gần bên giường ngồi niệm Phật to tiếng lên, niệm đến hơn 11 giờ, thấy ông cụ cứ hôn hôn mê mê, không còn cách nào cách nào cứu vãng được nữa, cả hai liền trở về nhà. Khi trời chưa sáng thì ông cụ vẫn cứ mờ mờ mịt mịt như thế mà về âm phủ!

Trong kinh nói: Thân người khó được, thiện hữu tri thức khó gặp. Ông lão này thân người khó được, đã được lại trường thọ, càng khó được hơn là sự nhiệt tâm chỉ dạy của thiện tri thức Vạn sư huynh. Nhưng cái điều không may nhất là cái khoảnh khắc giáp giới giữa Thánh nhơn và phàm phu, lại bị vợ không nghe lời dặn, khởi ra chướng ngại, tội nghiệp cho ông ta rốt cục vẫn phải bị trở lại chìm nổi trong luân hồi, đây cũng giống như: “Lúc bình thường không thắp hương, đến khi gặp chuyện ôm chân Phật cầu cứu”. Mặc dù lúc bình thường là người chánh nhân quân tử, đạo đức, tâm tốt thì tốt, nhưng chưa gieo nhân Phật thì đâu được quả Phật! Lấy câu chuyện này có thể chứng minh.

Mau tu chớ để muộn màng,
Vô thường chẳng đợi thời gian không chờ.
Người khó giữ tuổi thơ trẻ mãi,
Người khó ngăn niên đại già lần;
Khi già khó tránh chết thân.
Trẻ, già, chết ấy số phần người ta;
Người hễ có sanh ra có tử,
Dù vua quan dân thứ như nhau.
Ấy là định nghiệp trần lao,
Từ xưa đã thế chớ nào mới đây.
Trần là chỗ chôn thây thiên hạ,
Trần là nơi đầy đọa sanh linh.
Chung qui nó vẫn phụ mình,
Mặc dù mình có tận tình thương yêu.
Đau khổ với đời nhiều vô số,
Rốt cuộc như nước đổ lá môn;
Thân không một vật nào tồn,
Chỉ còn tội lỗi để hồn gánh mang.
Kiếp rồi mới vừa tan xác đó,
Kế kiếp này cũng bỏ thân luôn,
Nhưng mê đời vẫn không buông!
Biết bao giờ khỏi cái guồng tử sanh?

***************

Có người hễ nói tới chuyện “Chết” là mặt mày tái mét, chúng ta thường không kiêng kỵ những chuyện đáng nên kiêng kỵ, nhưng lại thường kiêng kỵ những thứ chẳng đáng kiêng kỵ. Người xưa nói: “Hiện thời cần lo sợ chuyện chết, tới lúc lâm chung, chẳng phải lo sợ gì hết”. Chúng ta thì ngược lại, hiện tại chẳng lo sợ gì cả, đến lúc lâm chung, tay chân bấn loạn. Mọi người đều ngưỡng mộ công phu niệm Phật của lão hòa thượng Hải Hiền, Ngài thành tựu công phu niệm Phật như thế nào? Chính là vì luôn luôn nghĩ ngay bây giờ là giờ phút cuối cùng của đời mình, nên dốc hết sức niệm Phật.

Thảo Am thiền sư đời Tống có viết một bài khai thị với tựa đề Bí Quyết Niệm Phật, đơn giản, thiết yếu, chẳng tới ba trăm chữ. Bài khai thị này rất ngắn, nhưng được coi là bài khai thị tiêu biểu cho bí quyết niệm Phật của các vị tổ sư đời trước, rất quý báu trong ấy có ghi:

“Ai chẳng biết niệm A Di Đà Phật, nhưng niệm được đắc lực rất khó. Ai chẳng nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng người vãng sanh được rất hiếm, vì người niệm Phật chẳng biết bí quyết. Chỉ có một chữ Chết là có thể giúp cho người niệm Phật niệm chân thật thiết tha. Giữ chặt một chữ Chết trong ý niệm thì đối với các cảnh duyên gặp phải hằng ngày tự nhiên sẽ lạnh nhạt, tình ái cũng tự nhiên nhẹ bớt. Danh lợi, thế lực đến lúc đó không dùng được nữa. Những điều thấy nghe, hiểu biết đến lúc đó, cũng không dùng được nữa. Lúc tứ đại phân ly còn dựa vào gì được nữa? Cô hồn vô chủ làm sao tự do được? Lúc đó, nếu không thấy Phật Di Đà, e rằng sẽ phải gặp quỷ La sát. Không sanh Tịnh Độ, e rằng phải nhập thai lừa. Đừng cho rằng chuyện này có thể chần chờ! Chuyện gì ngày mai sẽ xảy ra, hôm nay làm sao biết được? Đừng coi nhẹ chuyện này, đời này lầm lỡ sẽ trầm luân vĩnh viễn. Hết thảy mọi chuyện không gì quan trọng bằng chuyện lớn sanh tử, cho nên mọi chuyện khác đều chẳng cần thiết. Trong mọi lúc, luôn nghĩ là lúc lâm chung. Nghĩ như vậy thì lúc nào cũng là lúc niệm Phật. Niệm Phật như vậy mới được thiết tha. Niệm Phật thiết tha như vậy mới vãng sanh Tịnh Độ. Phải hạ thủ công phu như mình đang sắp chết thì mới thành tựu Tịnh Nghiệp. Thường nghĩ tới lúc chết thì tâm vì sanh tử mới thiết tha.

Đó là những bậc thang thành Phật, là bí quyết cho chuyện thành tâm niệm Phật vậy”.

Cha chết rồi kế con cũng mất,
Cháu bỏ thây tới chắt chôn thân.
Chồng qua đời kế vợ tạ trần,
Vua chúa chết quan dân cũng chết.
Kẻ chết rồi lợi danh cũng hết,
Ai lại không rõ biết điều này.
Chẳng ngán ngao còn mãi mê say,
Mê qua đến, mê nầy mê tới.
Cha mê kế lại con mê nối,
Từ xưa nay một lối đi hoài.
Thân tham danh, tham sắc, tham tài,
Tiêu mất cả có ai còn sống.
Trái lại do nơi lòng tham vọng,
Chịu biết bao khổ chốn Ta Bà.
Lòng tham nầy nếu nhịn được là,
Các việc khổ xảy ra sao được.

Tâm nghĩ mình chưa chết là cho rằng mình tạm thời sẽ không chết, còn lâu lắm mới tới phiên mình chết. Đấy là tâm trạng và thái độ phổ biến của mọi người. Mọi người ai cũng ý thức rằng mình rốt cục sẽ chết, mỗi người đều biết mình có một ngày chắc chắn sẽ chết. Ai cũng có ý niệm và suy nghĩ rằng cuộc đời rất ngắn ngủi, tạm bợ, nhưng mỗi ngày đều ngây ngô cho rằng hôm nay thần chết sẽ không đến thăm mình! Cứ nghĩ như vậy, mãi cho tới giây phút mạng chung đến suối vàng; trước đó cứ chấp chặt ý tưởng mình sẽ sống mãi mãi. Chúng ta không cho rằng mình sẽ không chết, mà là nghĩ bây giờ hãy còn sớm, còn chưa tới phiên mình chết. Hôm nay tôi sẽ chưa chết, năm nay cũng sẽ chưa chết. Đây là ý niệm tiềm tàng trong tâm chúng ta. Do vậy, đối với chuyện lớn là niệm Phật tu hành, cứ khất được là khất, hôm nay cứ hẹn “đợi tới ngày mai mới niệm”. Năm nay hẹn đến năm sau sẽ niệm. Cứ cho rằng thời gian còn dài, còn nhiều thời gian.

Khéo phù hợp làm sao! Trong quá trình “hẹn lại” ấy, Vô Thường lại thình lình xuất hiện!

Cái chết chưa bao giờ báo trước, không bao giờ báo cho chúng ta biết trước. Hãy hồi tưởng những người thân, bạn bè của chúng ta, chẳng ít người đã chết trong lúc cho rằng mình còn lâu mới chết. Những chuyện xung quanh chúng ta đều là như vậy.

Có một bà cụ bị bịnh, nằm trên giường, hôm đó, bà bảo đứa con chưng cho bà một chén yến. Sau khi ăn xong, bà ta bảo con: “Má còn chưa chết, còn lâu mới chết”. Sau đó, người con yên tâm đi làm. Trên đường tới sở làm, người nhà gọi điện nói mẹ ông đã qua đời!

Đã nhiều đời nhiều kiếp, phần đông chúng ta đều đọa trong ác đạo. Giả sử một ít dịp nào đó, may mắn sanh vào cõi lành, nhưng thường là sanh vào những chỗ không thể tu hành. Dù cho may mắn sanh làm người và có thể tu hành, nhưng lại không thể tu hành đúng như chánh pháp, nguyên nhân là vì cái tâm cho rằng mình còn chưa chết. Cứ nghĩ rằng mình sẽ còn lâu mới chết; do vậy, tu hành không tinh tấn. Tâm trạng này đã hại chúng ta từ đời này sang đời khác.

Có một vị Đại Thành Tựu, tức là một hành giả Mật Tông được mọi người công nhận là bậc đạt thành tựu trong Phật giáo Tây Tạng. Một hôm có một người tu hành từ xứ Khang đến yết kiến vị Đại Thành Tựu và cầu xin truyền pháp. Vị Đại Thành Tựu chẳng truyền trao gì hết, nhưng sau khi người kia ba lần nài nỉ, khẩn cầu, Ngài cầm tay người kia, thành khẩn nói:

“Tôi sẽ chết, ông cũng sẽ chết.
Tôi sẽ chết, ông cũng sẽ chết.
Tôi sẽ chết, ông cũng sẽ chết”,

Lặp lại như vậy ba lần, và nói thêm: “Bí quyết tu hành của Thượng Sư chẳng có gì khác! Tôi cũng thề rằng chẳng có bí quyết gì thù thắng hơn ba câu trên”. Người tu hành từ xứ Khang ấy nghe xong, tu hành rất tinh tấn, cuối cùng đạt thành tựu.

Chúng ta thường nghe nói có người nào đó bị ung thư sẽ chết rất nhanh. Thật ra, mỗi người chúng ta ai cũng phải chết, chẳng có ai không chết, chỉ là sớm hay muộn mà thôi! Người xưa nói:

“Sáng không nghĩ tới cái chết thì cả ngày sẽ trôi qua vô ích. Chiều không nghĩ đến cái chết thì ban đêm sẽ trôi qua vô ích”. Nghĩ về cái chết sẽ sách tấn chúng ta mau mau niệm Phật, lúc nào cũng nghĩ mình sắp chết.

Kẻ trong thế giới càn khôn,
Biết lo xác cũng như hồn ít ai.
Cứ lo những chuyện dông dài,
Tử sanh việc lớn ít ai lo lường.
Bịnh đang hấp hối bên giường,
Thuốc không lo đến lo đường lợi danh.
Biết không sống được trường sanh,
Mà không chịu bỏ tánh tình tham lam.

Kỳ hạn chết không nhất định

Kinh Pháp Cú nói:

“Trong số những người mình gặp sáng nay, có người chiều nay sẽ chết và không thể gặp lại nữa. Trong số những người mình gặp chiều nay, có người sáng hôm sau sẽ không gặp lại nữa”.
Cuộc đời vô cùng mong manh, giống như bọt nước, có thể vỡ tan bất cứ lúc nào. Chúng ta thấy con nít chơi trò thổi bong bóng nước. Dù cái bong bóng nước có thể an ổn bay lên không trung, nhưng không biết bao giờ, nó sẽ đụng phải vật gì chướng ngại và bị vỡ tan. Tình hình của chúng ta hiện nay cũng vậy, người xưa có nêu một thí dụ: Thí dụ từ đỉnh núi cao chúng ta rớt xuống đất, trong khi còn đang lơ lửng trong không trung chưa chạm xuống đất, chúng ta vẫn vui sướng, cảm thấy dường như chẳng có chuyện gì, chẳng biết phải mau niệm Phật, chẳng biết bao giờ sẽ chạm mặt đất và bị tan xương nát thịt. Kể từ sau khi chúng ta thọ sanh, cũng giống như con dê đang bị dẫn đến lò sát sanh, chuẩn bị làm thịt, trong từng bước chân bị dẫn đến chỗ chết chóc. So với tháng trước, tháng này gần kề cái chết hơn một chút. So với hôm qua, hôm nay càng gần cái chết một chút. So với ban ngày, ban đêm gần cái chết hơn một chút. So với phút giây trước, phút giây này càng gần cái chết hơn một chút. Cái chết sẽ chẳng đến chậm rãi và có đủ quy luật như ta tưởng tượng. Phương thức, nhân duyên và thời gian nó xuất hiện chẳng có cách nào xác định được! Do vì kỳ hạn chết bất định, ta làm sao bảo đảm năm nay, ngày mai, hoặc một thời khắc sau, chính mình không chết? Làm sao bảo đảm không đọa vào trong ác đạo rên xiết chịu lắm khổ đau?

Cho nên cái chết sẽ chẳng chờ đợi ai lãng phí một thời gian dài, hoặc thong thả chuẩn bị nghinh tiếp rồi nó mới từ từ đến trễ. Trên thực tế, quý vị thấy cái chết xảy đến rất nhanh chóng, mãnh liệt. Sau khi hiểu rõ và sợ chết, chúng ta sẽ buông xuống hết thảy những sự truy cầu và chấp trước trong thế gian, nỗ lực tu hành hòng sửa đổi vận mạng.

Ngày nay, tai nạn xe cộ xảy ra với mức độ rất cao, chúng ta có thể bảo đảm khi ra khỏi cửa chính mình chẳng gặp phải tai nạn xe cộ hay không? Chẳng có cách gì bảo đảm! Mấy năm trước, có một người đi đón con tan học về nhà. Đứa con vừa ra khỏi cổng trường, nhìn thấy cha nó liền vui mừng chạy tới. Ngay lúc đó, có một chiếc xe hàng chạy qua tông vào rồi cán đứa con chết tươi. Người cha chứng kiến cảnh tượng thảm khốc đó, kinh hoảng, ngây dại, vừa khóc vừa chạy về phía đứa con. Ngay lúc đó, một chiếc xe từ phía sau chạy tới đụng ông ta chết luôn tại chỗ. Vợ ông nghe tin cả chồng lẫn con đều bị chết thảm ngoài đường như vậy, chẳng thể nào chịu đựng nổi, hết sức tuyệt vọng, uống thuốc độc tự sát. Bà mẹ ở nhà, trong một ngày mất đi đứa con trai, con dâu và đứa cháu, bịnh tim bộc phát, khi đưa đến bệnh viện, chẳng cấp cứu được nên cũng chết theo.

Lại nghĩ thêm, ta có thể bảo đảm khi ta ở trong tư thế nào, oai nghi nào sẽ chẳng chết không? Khi đang đi bộ cũng có thể chết, khi đứng cũng có thể chết, ngồi cũng có thể chết, ngủ cũng có thể chết, miệng đang ăn cũng có thể chết, đang cười cũng có thể chết. Có người đang đi bộ, đột nhiên ngã quỵ xuống đất rồi chẳng đứng dậy được nữa. Có người đang đứng ở trạm đợi xe lửa, vì quá đông người ở đó nên bị người ta chen lấn bị đẩy lên đường rầy xe lửa rồi bị xe lửa cán chết. Có người đang ăn rồi bị thức ăn nghẹn ở cổ họng mà chết.

Có một người làm quan vào đời Thanh, gạt lấy hết tiền cứu tế dân chúng đang bị thiên tai. Một hôm ông ta đang nằm ngủ đột nhiên ngồi dậy, miệng ộc máu rồi chết. Trong những kiếp trước, chúng ta đã tạo ra quá nhiều nghiệp ác, làm sao có thể bảo đảm một khắc sau chắc chắn sẽ không chết? Hoàng Bá thiền sư nói: “Ta hỏi ông, nếu giờ phút lâm chung đến một cách thình lình, lúc đó làm sao ông chống chọi với sanh tử? Phải chuẩn bị trong lúc nhàn hạ thì lúc cần gấp mới dùng được, đỡ tốn sức. Đừng đợi khát nước mới đi đào giếng, lúc lâm chung sẽ tay chân cuống quýt, đoạn đường trước mắt mờ mịt, quờ quạng, khổ lắm, khổ lắm!”.

Nhìn thấy chúng sanh trên quả đất,
Đang quay cuồng theo vật dục tâm.
Mạnh yên thân còn yếu dập bầm,
Vì sự sống cạnh tranh không ngớt.
Mọi nỗi khổ vẫn chưa thấy bớt,
Sanh rồi già rồi chết nối liền.
Còn bịnh kia tật nọ liên miên,
Đủ cách chết kể không hết được.
Chết vì bịnh chết vì bạo ngược,
Chết thiên tai hoặc chết nhơn tai.
Dù rằng người đủ sức đủ tài,
Cũng không trốn khỏi ngày chết đến.
Thế mà cõi tục trần cứ mến,
Tạo tác thêm nhiều chuyện bất lành.
Để lưu chuyền mãi nghiệp tử sanh
Và cuộc sống hiện tình thêm khổ.

Lúc gần kề cái chết, chúng ta có nắm chắc được gì hay không? Dựa trên tình huống của phần đông người ta hiện nay để nói, sau khi chết đi, chẳng nắm chắc rằng mình không đọa vào ba đường ác! Nhưng chỉ cần chúng ta nhất tâm nương dựa Phật A Di Đà, phát nguyện tha thiết, chân thành niệm Phật, lâm chung sẽ có thể vãng sanh Tịnh Độ, triệt để thoát ly biển khổ luân hồi.

Cho nên niệm Phật sớm một ngày, lúc chết sẽ có thêm một phần nắm chắc không đọa ba đường ác.

Cái chết chẳng có kỳ hạn nhất định, tức là từ ngày hôm nay trở về sau, trăm năm trước cái chết đã định, trong thời gian ấy, cái chết đến lúc nào sẽ chẳng định trước ngày giờ. Hôm nay chết hay không, chẳng có cách nào quyết định được. Thí dụ có một người thù địch không gì đáng ngại bằng báo cho tôi biết kể từ hôm nay trở đi, đến một lúc nào đó, sẽ đến đây hại tôi. Kẻ ấy chẳng cho biết ngày nào sẽ tới, nên ngày nào tôi cũng phải cẩn thận đề phòng. Thái độ chúng ta đối với cái chết cũng nên như vậy, ngày nào cũng phải cẩn thận đề phòng. Do vậy, người xưa dạy chúng ta chuyển đổi tâm niệm “hôm nay mình còn chưa chết” trở thành “hôm nay mình nhất định sẽ chết”, mỗi ngày đều nghĩ hôm nay là ngày cuối cùng trong đời. Trong ngày cuối của cuộc đời, chúng ta phải làm gì? Đương nhiên là niệm A Di Đà Phật miên mật cầu sanh Tịnh Độ, đâu còn tâm trí gì để bận bịu chuyện thế gian? Nếu thật sự khởi được cái tâm “hôm nay mình nhất định sẽ chết”, ngày nào cũng vậy, công phu niệm Phật chắc chắn sẽ đắc lực giống như lão hòa thượng Hải Hiền vậy.

Vạn vật dưới bóng trời mọc lặn,
Có vật nào mà đặng thật đâu.
Bị tiêu mòn hoặc sớm hoặc lâu,
Không có một vật nào tồn tại.
Phải tìm chỗ trường sanh bất hoại,
Chớ ngồi đây chịu mãi tử sanh.
Kiếp người đầy giả dối hôi tanh,
Xem như thật mà không phải thật.
Xác thân của người còn phải mất,
Thì trong đời có vật nào còn.
Biết vật chi rồi cũng tiêu mòn,
Cứ đeo đắm là không sáng suốt.
Nên mở hết sự đời trói buộc,
Để làm cho rảnh kiếp vô thường.
Sống lâu dài như Phật Tây Phương,
Thân ấy mới là thân chơn thật.
Thân hiện tại có ngày phải mất,
Bởi nó là giả chất cấu thành.
Đâu bằng thân sen báu thai sanh,
Vô số kiếp thơm lành bền bỉ.

Sách Trúc Song Tùy Bút, Liên Trì đại sư đã kể một câu chuyện:

Có một vị Tăng bị bịnh lao phổi quanh năm, nhưng không nghĩ rằng mình nhất định sắp chết. Nếu ai nói đến chuyện chết chóc, ông ta liền không vui. Khi ấy, Liên Trì đại sư sai người nhắn ông ta mau chuẩn bị hậu sự, nhất tâm chánh niệm. Vị tăng ấy nói: “Đàn ông nam tử sanh bịnh, kỵ nhất là chết trước ngày sanh của mình, tôi phải đợi đến sau ngày sanh rồi mới tính nữa”. Ngày 17 tháng đó là ngày sinh nhật của ông ta, chẳng ngờ ngày 16 bỗng nhiên ông đột ngột qua đời. Mấy ngày trước khi ông ta mất, ông vẫn chấp chặt “hôm nay mình sẽ chưa chết” cho nên chẳng chuẩn bị gì hết. Kết quả thật đáng bi ai!

Người xưa dạy chúng ta không những phải nghĩ tới Vô Thường, mà còn phải đau xót nghĩ tới Vô Thường. Quý vị nghĩ tới Vô Thường, nghĩ tới mức khởi lên cảm giác đau xót. Chính cảm giác đau xót này sẽ khích lệ, sách tấn chúng ta niệm Phật. Vô Thường có thể xảy đến bất cứ giờ phút nào! Khi Vô Thường xảy đến mà mình không niệm Phật, không thể vãng sanh, mình sẽ sanh tới cõi nào? Một khi chúng ta có thể thật sự đau xót nghĩ tới Vô Thường, chúng ta sẽ niệm Phật tốt đẹp, công phu sẽ đắc lực. Những vị công phu già dặn thường có cảm nhận sâu sắc rằng: Khi nhiễu Phật mà không có tâm đau xót Vô Thường, chẳng qua chỉ là làm cho chân mình đau đớn vô ích mà thôi! Khi niệm Phật chẳng được, hãy khởi lên ý niệm đau xót Vô Thường, Vô Thường là một nguồn động lực dồi dào thúc đẩy chúng ta niệm Phật tinh tấn, chẳng để luống qua dù chỉ một phút. Nguyên nhân khiến chúng ta niệm Phật giải đãi, lười biếng, tán loạn, lúc có, lúc không, chính là vì chúng ta chẳng có cảm giác bức bách như cứu cái đầu đang bị cháy bừng, cứ tưởng mình còn rất nhiều thời gian.
Vào thời Thế Chiến thứ hai, có một cặp vợ chồng nọ đang chạy nạn. Sau cả ngày đi bộ rất mệt mỏi, đến bờ sông, cả hai người dự định rửa mặt, uống hớp nước rồi tiếp tục đi nữa. Hai người đến bờ sông, cúi xuống khoát nước sông rửa mặt, lúc người vợ ngước đầu lên, thấy đầu của chồng mình trong chớp mắt đã bị cắt đứt. Vì lúc đó tiếng súng đạn nổ rầm trời, tốc độ phi đạn lẹ vô cùng, ngay lúc người chồng vừa ngước đầu lên, đúng lúc ấy, có một mảnh bom bay tới cắt đứt đầu ông ta. Người vợ chứng kiến cảnh tượng chồng mình bị đứt đầu như vậy nổi điên. Đó chính là Vô Thường, chẳng ai ngờ trước được!

Tu gấp kẻo tháng ngày qua huốt,
Dịp qua rồi muốn gặp khó thay.
Bóng thiều quang chẳng đợi chờ ai,
Sự tu phải hành ngay mới kịp.
Chết trẻ cũng là qua một kiếp,
Chết già thời cũng hết một đời.
Cái chết không hẹn tuổi hẹn người,
Chớ nên đợi ngày mơi sẽ hối.
Chuyện giờ trước còn không lượng nổi,
Huống chi là chuyện tới ngày mai.
Biết bao người vừa mới sống đây,
Sau đó ít phút giây đã chết.
Đợi hơi thở sắp gần khi hết,
Mới lo tu thì việc trễ tràng.
Nay khá tu chớ đợi thời gian,
Sớm đi tất nhiên đàng mau tới.

Trong bộ Minh Cung Sử có ghi:

Vào thời nhà Minh, ngày mùng 6 tháng 5 năm Thiên Khải thứ sáu, tức 1626, xưởng chế tạo vật phẩm của hoàng gia ở phía Tây Nam Bắc Kinh có một tai nạn khủng khiếp xảy ra. Sáng hôm đó, bầu trời sáng sủa, thình lình một tiếng nổ lớn dữ dội xảy ra, từ phía Đông Bắc truyền tới góc Tây Nam của kinh thành. Tiếp theo đó, một luồng tro bụi tung lên, nhà cửa rung động. Đột nhiên, trên không trung có một tiếng nổ lớn dường như trời sập, một bầu đen tối bao phủ bốn bề, lại có một đám mây đen kịt giống như hình nấm linh chi, lại giống như mớ tơ rối có đủ năm màu từ dưới đất bay lên, rất lâu sau mới tan. Phía Đông từ con đường lớn ở cửa Thuận Thành, phía Bắc tới đường Hình Bộ, dài khoảng 2 cây số, chu vi 5 cây số rưởi, hơn mười ngàn căn nhà và hai chục ngàn người bị tiếng nổ tung chấn động biến thành bột. Những thứ như gạch ngói, đầu người, cánh tay, đùi, mũi, tai, v.v… từ trên không trung rớt xuống tung tóe. Trong phút chốc, cả đường phố mảnh vụn của thi thể con người chất đống lại như núi. Mùi tanh hôi nồng nặc của máu me và thịt bị thiêu khét xông lên. Không những con người bị chết thảm, ngoài ra lừa, ngựa, gà, chó đều chịu chung số phận. Hơn hai ngàn người thợ đang làm việc trong Tử Cấm Thành từ trên những cây đòn gác bị tiếng nổ khủng khiếp đó chấn động, rớt xuống như thịt bị bằm nát. Nhiều cây bị trốc gốc và thổi bay tứ tung. Đường Thạch Phò Mã có một con sư tử bằng đá to nặng tới năm ngàn cân, chẳng ngờ bị thổi bay tuốt ra ngoài cửa Thuận Thành. Những chuồng nuôi voi của hoàng gia ở đường Tượng Lai đều sụp đổ, nhiều đàn voi kinh hoảng chạy loạn tứ phía. Một phụ nữ ngồi kiệu tám người khiêng cũng chịu chung số phận với tám người khiêng kiệu, bị chết không toàn thây. Một người đang trò chuyện với sáu người khác, đột nhiên cái đầu bay mất, toàn thân ngã gục xuống đất.

Chúng ta cứ nghĩ rằng Vô Thường là chuyện của người khác, sẽ chẳng bao giờ xảy ra cho mình. Nghĩ vậy là hết sức sai lầm, Vô Thường xảy ra với người khác và cũng sẽ xảy ra với mình.

Chúng ta thường trợ niệm cho người khác, có bao giờ nghĩ tới ngày nào đó người ta sẽ trợ niệm cho mình hay không? Chúng ta cũng từng viết bài vị cho người khác, có nghĩ tới ngày nào đó, sẽ tới phiên người ta viết bài vị cho mình hay không? Chính mình trở thành người quá cố!

Kinh Phật có nói: “Lửa thiêu đốt đầu, còn có thể tạm thời không quan tâm đến. Lửa dữ Vô Thường, hãy mau diệt trừ.”

Nên phản tỉnh đạo mầu trau trỉa,
Cứu độ mình và cả tông môn,
Truyền nghiệp lành cho đám nhi tôn,
Noi theo đó lánh thân khỏi tục.
Mình lục đục cháu con lục đục,
Khiến cả dòng họ mất cơ duyên.
Bặt lối đường đi đến Phật Tiên,
Muôn kiếp vẫn còn nguyên tại thế.
Khổ này qua khổ kia liền kế,
Lặn hụp trong sầu bể không ngừng.
Càng ngày càng u ám tinh thần,
Không còn sức quày chân trở lại.
Khi có cuộc tang điền thương hải,
Các nạn tai đổ giải trên mình,
Thân sống cam trôi nổi linh đinh,
Linh hồn cũng gập ghình mây gió.
Sống hay chết vẫn nằm trong rọ,
Bị nghiệp mê lôi cổ đi luôn.
Mang lấy thân sống dại chết cuồng,
Chịu đựng kiếp vào trần ra khổ.
Lặn lộn cảnh sớm khai chiều đổ,
Mang mển đời nay đẻ mai chôn.
Lo miếng cơm chạy chọt bồn chồn,
Vì manh vải cúi lòn bận rộn,
Lúc nào cũng lo như bị nhộn.
Sống trong đời hỗn độn đua chen,
Chỉ làm cho tâm trí tối đen
Chung cuộc vẫn đem chôn xuống đất.

Thành ngữ “Thương hải tang điền”, ruộng dâu còn biến thành biển cả huống chi con người chỉ là hạt bụi trong vũ trụ bao la, thì sự chuyển dịch từ vận này qua vận kia, từ cõi này qua cõi khác là chuyện chẳng có gì mà chẳng thể xảy ra trong cõi trần này!

* Cái chết đen là tên của một đại dịch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis đã tàn phá thành phố Eurasia vào giữa thế kỷ 14. Dịch bệnh đã gây tử vong cho 60 phần trăm dân số của châu Âu và châu Á, có khoảng 200 triệu người đã thiệt mạng.

*Bão Coringa ở Ấn Độ năm 1839. Cơn bão này đã xóa sổ hoàn toàn một thành phố và gây ra cái chết của 300.000 người. Đồng thời, nó cũng nhấn chìm 25.000 tàu bè trong vịnh.

*Trận lũ lụt sông Hoàng Hà, Trung Quốc năm 1887 đã hoàn toàn xóa sổ một vùng đất có diện tích 129.000 km vuông, và cướp đi sinh mạng của 2 triệu người.

*Trận lụt do sông Hoàng Hà ở miền trung Trung Quốc năm 1931 xảy ra khi 7 cơn bão đồng thời đổ về nước này, khiến các dòng sông lớn vỡ đê. Ước tính, 4 triệu người đã thiệt mạng trong trận đại hồng thủy thảm khốc này.

*Lahar là một dòng bùn hay lở đất núi lửa. Thảm họa Tangiwai năm 1953 do lahar gây ra, trong thảm kịch Armero năm 1985 thị trấn Armero đã bị chôn vùi và ước tính 23.000 người chết.

*Cơn bão nhiệt đới nguy hiểm nhất thế giới ở Bangladesh

Cơn bão kéo dài trong đêm 12 và ngày 13 tháng 11 năm 1970 đã khiến 500.000 người chết vì sự tàn bạo của nó. Cơn bão được người dân đặt tên là “Đại cuồng phong Bhola”, đã tàn phá các hòn đảo nằm dọc theo vịnh Bengal của nước này.

*Trận động đất 7,8 độ richter mùa hè năm 1976 đã cướp đi sinh mạng của 700.000 người dân thành phố Đường Sơn. Chỉ kéo dài vỏn vẹn 10 giây nhưng đây là trận động đất gây nhiều thương vong nhất trong thế kỷ 20, là nỗi ám ảnh kinh hoàng trong ký ức của người dân Trung Quốc qua nhiều thế hệ.

*Ngày 26 tháng 12 năm 2004, một trận động đất 9,2 độ Richter ở Ấn Độ Dương tạo ra trận sóng thần cao 30 m đánh vào bờ biển của hơn 10 quốc gia, cướp đi sinh mạng của hơn 225.000 người.

*Những trận hạn hán nổi tiếng trong lịch sử:

1900 hạn hán ở Ấn Độ làm thiệt mạng 3.250.000 người.

1921 hạn hán ở Liên Xô với 5 triệu người chết đói.

1928 hạn hán ở tây bắc Trung Quốc khiến 3 triệu người chết đói.

1936 hạn hán ở Tứ Xuyên, Trung Quốc khiến 5 triệu người chết

Thân này chưa biết ra chi,
Của kia nào có chắc gì mà ham.
Biết bao nhiêu đủ túi tham,
Càng thâu, càng đắm, càng làm, càng say.
Tiếc cho tháng rộng năm dài,
Chung quy hoang phí về tay đồng tiền.
Được thua, thua được, nối chuyền,
Hả hê mới đó ưu phiền đến ngay.
Đem thân làm kẻ tù đày,
Cho bao vật chất nó sai khiến mình.
Cam tâm làm vật hy sinh,
Suốt đời theo lệnh dục tình kéo lôi.
Lênh đênh trong nẻo luân hồi,
Tử thần chợt đến thế rồi hết mong!
Dã tràng xe cát biển Đông,
Vô tình lượn sóng cướp công nhọc nhằn.
Tuồng đời ai biết cho chăng?
Như mây tan hiệp, như trăng khuyết tròn.
Đêm tàn, tiêm lụn, dầu mòn,
Cái đi mờ mịt, cái còn mỏng manh.
Bền chi bọt nước đầu gành,
Chắc chi sương đọng trên cành ban mai.
Bọt kia làn gió nhẹ lay,
Sương kia ánh nắng chiếu ngay tan rồi.
Mênh mông trong khoảng đất trời,
Thân ta biết gởi về nơi chốn nào?
Tử sanh tiếp nối theo nhau,
Đã vô vượng kiếp đớn đau đủ rồi.
Luân hồi khổ lắm ai ôi!
Rủ nhau niệm Phật sớm ngồi Tây Phương!
Không còn chịu nỗi tang thương,
Không còn lên xuống sáu đường trầm thăng.

Trong quyển Trúc Song Tùy Bút, Liên Trì đại sư có kể một chuyện như sau:

Có một cụ già chết rồi đến gặp Diêm Vương, cụ trách Diêm Vương không báo cho cụ biết trước là cụ sẽ chết. Diêm vương trả lời: “Ta đã thông báo sớm cho ông rồi mà ông đã quên! Lúc mắt ông dần dần mờ không thấy rõ, chính là lúc ta báo cho ông biết lần thứ nhất. Khi tai ông dần dần nghe không rõ, chính là lần thông báo thứ nhì. Khi răng ông từ từ rụng hết là lần thứ ba. Thân thể ông càng ngày càng yếu… Tức là nhiều lần Ta đã báo cho ông biết rồi”. Đây là lời Diêm Vương nói với một cụ già.

Lại có một chàng thanh niên cũng trách Diêm Vương: “Mắt tôi còn sáng, tai còn rất thính, răng chưa rụng, thân thể còn cường tráng. Tại sao Diêm Vương không báo cho tôi biết trước?”
Diêm vương đáp: “Ta cũng đã báo cho anh rồi, chính anh không biết đó thôi! Nhà hàng xóm phía Đông của anh có người mới bốn năm chục tuổi đã chết rồi đó. Nhà phía Tây có người hai ba chục tuổi cũng chết rồi đó. Còn có mấy đứa bé mười tuổi, và trẻ nít cũng chết rồi đó. Mấy chuyện này không phải là ta đã thông báo cho anh rồi sao?”

Một con ngựa tốt vừa thấy bóng roi liền chạy; còn nhất định phải đợi tới cái dùi đâm vào da rồi mới chịu chạy, đó là ngựa hạng bét. Hối hận, cảm thán, cũng chẳng kịp nữa!

Buổi chiều một ngày trước lúc hòa thượng Hải Hiền vãng sanh, Ngài còn làm việc trong vườn rau cùng với đệ tử, chẳng khác lúc bình thường, không ai nghĩ rằng ngày mai Ngài sẽ ra đi. Đây là một bài học sống động sâu sắc Ngài dạy cho chúng ta. Ngài thị hiện Vô Thường, chúng ta nhìn thấy có hiểu không?

Ma phiền não thầm thì đòi bữa,
Quỉ vô thường dòm ngó mỗi ngày;
Quanh mình thù địch bao vây,
Thế mà chưa tỉnh giấc say hồng trần.
Diêm Vương đã nhiều lần cảnh cáo,
Giảng kinh luôn chỉ bảo không ngừng;
Nhưng mà sanh chúng chẳng cần,
Cho nên thường bị Tử Thần hành hung.
…Mến thân chẳng làm thân trường cửu,
Vì thân mà hồn ngủ vạn niên.
Thường cam chịu kiếp đảo điên,
Thế mà cũng vẫn còn ghiền trần gian.

Ấn Tổ đã khai thị:

* Một cửa ải lâm chung thật là khẩn yếu. Đời có kẻ ngu, lúc cha mẹ, quyến thuộc lâm chung bèn khóc lóc vật vã, tắm rửa, thay áo, chỉ mong đẹp mắt người đời, chẳng sợ lo di hại cho người chết. Người không niệm Phật hãy khoan bàn đến, người chí thiết vãng sanh lúc lâm chung gặp phải quyến thuộc như vậy, đa phần bị phá hoại chánh niệm, vẫn bị ở lại trong thế giới này.
Lâm chung trợ niệm ví như kẻ yếu đuối trèo núi, sức mình chẳng đủ, may nhờ có sức người đằng trước kéo, đằng sau đẩy, hai bên tả hữu xốc nách, nên có thể lên được đỉnh núi cao nhất.

Lâm chung chánh niệm rỡ ràng, mà bị ma quyến, ái tình lay động, phá hoại… giống như dũng sĩ trèo núi, tự lực sung túc, nhưng bạn bè, người quen ai nấy đem vật dụng của mình bảo phải gồng gánh. Gồng gánh quá nhiều, sức kiệt, thân nhọc, dõi nhìn vách núi liền lùi bước.

Lẽ được mất này dù do người khác gây ra, thật sự là do những nghiệp lực thiện hay ác của chính mình trong những kiếp trước đã thành tựu hay phá hoại người mà ra. Phàm là người tu Tịnh Nghiệp, phải nên có chánh niệm thành toàn cho người, và phải chỉ dạy sẵn cho quyến thuộc về lẽ lợi hại, ngõ hầu ai nấy hiểu điều quan trọng là chỗ đạt đến của thần thức người chết, chứ chẳng phải tại phương diện tình cảm thế tục, mới hòng khỏi lầm lạc vậy!

* Hãy nên đem hết thảy việc nhà và ngay cả cái sắc thân của chính mình đây thảy đều buông toàn bộ xuống hết. Từ trong cái tâm chẳng nhiễm mảy trần trì thánh hiệu vạn đức hồng danh, nghĩ mình sắp chết, ngoại trừ việc niệm Phật cầu tiếp dẫn chẳng khởi một tạp niệm nào. Làm được như vậy, nếu tuổi thọ đã tận sẽ quyết định vãng sanh Tây Phương, siêu phàm nhập thánh. Nếu tuổi thọ chưa tận, sẽ quyết định tiêu nghiệp, lành bệnh, trí huệ và phước báu tăng cao. Nếu chẳng nghĩ như thế, cứ si ngốc chỉ cầu mau chóng được lành bệnh thì không những bệnh chẳng thể chóng lành, trái lại còn nặng thêm. Giả sử như tuổi thọ đã hết, ắt sẽ theo nghiệp chìm nổi vĩnh viễn không có dịp thoát khỏi nỗi khổ ở Ta Bà này!

* Người lâm chung được trợ niệm ắt sẽ được vãng sanh. Đã không được trợ niệm, lại còn khóc lóc, xáo động, khiến ái tình, sân hận khởi lên làm cho người chết khó khỏi bị đọa lạc. Cực kỳ nguy hiểm! Nếu như thành tựu được việc vãng sanh cho ông bà cha mẹ cũng là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật. Ấy là: Ngay trong trần lao mà hành Phật sự, công đức ấy thù thắng hơn những công đức tầm thường cả vạn phần.

* Đối với người sắp mạng chung, chỉ có đồng thanh niệm Phật là có lợi ích thù thắng bậc nhất. Nếu tâm thức chưa rời khỏi thân mà tắm rửa, thay y phục v.v… cho người chết thảy đều gây trở ngại rất lớn. Vì thế, người tu Tịnh Nghiệp hằng ngày phải nên dặn dò trước cho quyến thuộc hiểu rõ duyên do ấy, ngõ hầu chẳng đến nỗi dùng lầm tình thân ái, gây trở ngại việc vãng sanh! Nếu là bậc đại nhân tột bậc, bậc cao sĩ xuất cách, bất tất e sợ sẽ mắc phải những chướng ngại ấy!

* Ngay lúc thân mắc bệnh nặng, lúc chưa thể chắc chắn sẽ sống hay chết, hãy dạy cho mọi người ai nấy vì cha mẹ mà chí thành khẩn thiết niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, ngõ hầu tuổi thọ chưa tận sẽ mau chóng lành bệnh, tuổi thọ đã hết sẽ mau chóng được vãng sanh Tây Phương. Các con cháu hiếu tâm tinh thuần, chuyên dốc, ắt sẽ đều thường trì niệm như cứu đầu mình bị cháy. Như thế, nào phải chỉ hữu ích cho người ra đi, mà thật sự còn có ích lợi sâu xa cho những người ở lại nữa kia.
Người phàm mắc bệnh thì dùng thuốc để trị, nhưng cũng không nhất quyết phải dùng đến thuốc. Bệnh chẳng thể dùng thuốc trị, dù có tiên đan cũng vô dụng, huống hồ là thuốc của thế gian? Chẳng cần biết là bệnh trị được hay không, đều nên dùng thuốc A Già Đà tức là lục tự hồng danh vạn đức. Thứ thuốc này tuyệt đối chẳng hại người. Uống vào, dù thân hay tâm đều kiến hiệu liền.

Người sống trong thế gian, chẳng luận lâu hay mau, rốt cuộc cũng một lần chết. Cái chết ấy chẳng đáng tiếc, nhưng chỗ sẽ trở về sau khi chết chẳng đáng để sắp đặt sẵn hay sao? Người có lực lượng tự mình sắp đặt thỏa đáng, yên ổn, lẽ cố nhiên khi lâm chung chẳng cần đến người khác giúp đỡ. Nhưng nếu được hỗ trợ lại càng thêm đắc lực. Người không lực lượng phải nên bảo gia quyến thay mình niệm Phật, ắt sẽ đề khởi được chánh niệm, chẳng đến nỗi bị ân ái buộc ràng, vẫn y như cũ bị ái tình trói buộc vào cõi này chẳng thể ra khỏi !

* Người trước khi mất nếu tự có thể tắm gội, thay áo thì rất hay. Nếu người ấy chẳng thể tự làm, quyết chẳng nên tắm gội, thay áo sẵn, khiến người ấy bị đau đớn khó chịu đựng nổi, mất chánh niệm. Cuối cùng không nên buộc người đã khuất mặc pháp y, khoanh chân ngồi kết già để rồi tiếc hận! Chẳng biết rằng trong lúc ấy tốt nhất là đồng thanh niệm Phật, vạn vạn phần chẳng được phô trương, bày vẽ (như tắm gội, thay áo, bắt người sắp chết ngồi xếp bằng v.v…). Nếu phô trương, bày vẽ sẽ thành như đã bị té xuống giếng còn bị ném đá thêm. Hãy nhớ kỹ, nhớ chắc điều này!

* Lâm chung cơ thể suy gầy, cơ bắp teo quắt lại và bị bệnh khổ chính là do nghiệp chướng từ nhiều kiếp. Vì người ấy dốc lòng tu Tịnh Nghiệp nên chuyển quả báo nặng nề ở tương lai thành ra quả báo nhẹ ít trong đời hiện tại. Nếu bảo do tu trì tinh tấn nên thân xác ngày càng yếu thì thật là chẳng đúng, còn vướng lỗi là khiến cho kẻ tín tâm nông cạn nhân đó đâm ra lo sợ bèn lui sụt. Phải biết rằng: người niệm Phật quyết định tiêu trừ được nghiệp chướng; những nghiệp chướng hiện tiền chỉ là những ác báo phải đọa trong tam đồ của đời sau chuyển thành bệnh khổ trong hiện tại để giải quyết cho xong đó thôi!

Kinh Kim Cang dạy: “Trì kinh Kim Cang có điều nhục nhỏ như bị người khác khinh miệt chính là diệt được cái khổ tam đồ ác đạo trong nhiều kiếp”. Đấy chính là phước dày, sẽ được vãng sanh Tây Phương. Chịu cái khổ nhỏ lúc này để giải quyết cho xong ác báo từ vô lượng kiếp đến nay, thật là may mắn lớn. Chớ học theo kẻ chẳng biết sự việc chi bảo: “Vì tu trì đến nỗi mắc bệnh hay bị chết!”

*Phật nói con người có tám thức, tức là tri thức. Năm thức đầu là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân. Thức thứ sáu là Ý. Thức thứ bảy là Mạt Na, còn gọi là Truyền Tống Thức. Thức thứ tám là A Lại Da, còn gọi là Hàm Tàng Thức. Khi con người sanh ra, chỉ có thức thứ tám này đến trước nhất, các thức kia đến sau. Đến lúc chết, thức thứ tám này cũng ra đi sau cùng; các thức khác lần lượt đi trước.

Thức thứ tám chính là linh thức của con người, thế tục thường gọi là “linh hồn”. Thức thứ tám này thông linh nên khi con người mới nhập thai mẹ, nó liền đến trước. Vì thế, con trong bụng mẹ liền biết hoạt động. Đến khi chết, sau khi dứt hơi, nó chẳng đi ngay, phải đợi đến khi toàn thân lạnh giá, không còn một điểm nào còn ấm nữa, thức ấy mới chịu đi. Khi thức đã đi, thân này sẽ không còn mảy may tri giác nào.

Nếu chỗ nào còn ấm là thức ấy còn chưa rời đi. Động chạm đến vẫn biết đau khổ. Lúc ấy, kỵ nhất là các sự mặc áo, xếp chân, dời động v.v… Nếu có chút xíu động chạm đến thi thể thì sẽ đau khổ khó chịu đựng nổi; bất quá miệng không nói được, thân chẳng động được đó thôi! Xét theo kinh dạy, ba thứ: hơi nóng, thọ mạng và thức thường chẳng rời nhau. Như người sống có hơi ấm thì thức còn hiện hữu. Thức còn hiện hữu thì tuổi thọ chưa hết. Xưa nay có kẻ chết đi năm ba bữa rồi sống lại, chép rõ ràng trong sách vở có thể tra cứu được.

Vả nữa, thói đời khi đau đớn tột bậc sẽ dễ nổi sân tâm. Do sân tâm rất dễ bị đọa lạc. Như kinh nói vua A Kỳ Đạt lập chùa tháp Phật, công đức vòi vọi. Lúc lâm chung, người hầu cầm quạt lỡ để rớt trúng mặt vua. Vua bị đau, nổi sân, chết đọa làm thân rắn. Nhờ có công đức, sau gặp được sa môn vì rắn thuyết pháp. Do nghe pháp nên bèn thoát thân rắn, được sanh lên trời. Xem đó, biết rằng: Khi thần thức của người chết chưa đi hẳn thì mặc áo, dời động và lập tức thiêu hóa ngay sẽ khiến người ấy đau đớn nổi sân, càng thêm đọa lạc, há chẳng phải là nhẫn tâm cố bày trò thảm độc ư?

Hãy thử nghĩ người chết có oán cừu chi với mình; chỉ vì hảo tâm thành ra ác duyên! Nếu bảo sự còn mờ mịt, biết cậy vào đâu để suy xét, thì những điều ghi chép trong kinh điển chẳng đáng tin chăng? Đến giờ đây, các thói tệ lưu hành nói chung là do người sống chẳng biết thương cho nỗi khổ của người chết, chỉ tính xong việc cho nhanh nên chẳng nhọc công xem kỹ ấm lạnh. Do đấy, trở thành thói quen, dù có ai nhắc đến lại cười khà bèn cho là vu vơ, đến nỗi người chết phải chịu khổ nạn! Hỡi ôi! Điều khổ nhất trên đời không gì bằng sanh tử. Sanh như rùa còn sống bị bóc mai, tử như cua bị nhúng nước sôi. Tám khổ cùng nhau nung nấu, đau đớn chẳng nói nổi!

Xin những ai chăm sóc bệnh nhân hãy lưu tâm cẩn thận, chớ cùng bệnh nhân tán nhảm chuyện gẫu khiến tâm họ tán loạn, cũng đừng buồn bã, khóc kể om sòm. Hãy nên khuyên bệnh nhân buông hết thân tâm, một dạ niệm Phật để cầu vãng sanh. Lại nên trợ niệm khiến cho bệnh nhân nương theo tiếng niệm Phật của mình để nhớ kỹ trong tâm. Nếu có điều kiện hãy thỉnh Tăng chúng (hoặc các bạn đạo hay ban hộ niệm) chia ban niệm Phật, khiến cho tiếng niệm Phật ngày đêm không ngớt, hòng tai người bệnh luôn nghe Phật hiệu, có thể quyết định nhờ vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Còn như không có tiền của thì cả nhà phát tâm trợ niệm để kết duyên cuối cùng.

Về việc sắp đặt hậu sự, chớ bàn bạc ngay trước mặt bệnh nhân. Chỉ nên gõ dẫn khánh, cao tiếng niệm Phật, khiến cho từng câu lọt vào tai bệnh nhân ngõ hầu trong tâm người bệnh thường chẳng lìa Phật. Tiếng mõ vốn đục, trợ niệm lâm chung trọn chẳng nên dùng. Bệnh nhân nằm hay ngồi nên để tùy ý, chớ nên di động, cả nhà cứ chuyên tâm niệm Phật. Đợi đến lúc toàn thân đã lạnh hết, tức là thần thức đã thực sự ra đi rồi, đợi thêm hai tiếng nữa mới được tắm rửa, thay áo. Nếu như thân đã lạnh hóa cứng thì nên dùng nước nóng xoa nắn, dùng vải thấm nước nóng áp vào khủy tay, đầu gối, cổ chân, đợi giây lát, những chỗ đó sẽ mềm mại trở lại. Lúc ấy mới xếp chân cho người chết nhập quan. Cho đến lúc mọi việc xong xuôi hết cả, vẫn phải thường niệm Phật.

Tất cả những việc như lễ sám, tụng kinh đều chẳng có lợi ích rộng lớn bằng niệm Phật. Phàm hết thảy các quyến thuộc dù là tại gia hay xuất gia đều phải tuân hành cách này thì kẻ còn, người mất đều được lợi ích lớn lao. Hơn nữa, Đức Phật thuở xưa khi Niết Bàn, vốn nằm nghiêng bên phải, cứ để như vậy nhập quan trà tỳ. Người đời nay cứ thuận theo tự nhiên. Nếu ngồi mất thì đặt vào khám. Nếu nằm mất thì đặt vào quan tài, cốt sao thỏa đáng. Nhưng người đời nay phong tục đã thành thói, sợ họ chẳng cho như vậy là đúng, cũng nên lắng nghe, suy nghĩ để quyết định sao cho tiện.

Còn như người chết rồi có các cảnh tượng thiện ác, vốn là có chứng cứ thật sự. Người sanh vào thiện đạo hơi nóng từ dưới bốc lên trên; người sanh vào ác đạo, hơi nóng từ trên tỏa xuống dưới. Nếu như cả thân lạnh hết, khí nóng tụ lại trên đầu bèn là sanh trong Thánh đạo. Hơi nóng ở mắt sanh trong thiên đạo, ở ngực sanh trong nhân đạo, ở bụng sanh ngạ quỷ đạo, ở gối sanh trong súc sanh đạo, ở bàn chân sanh trong địa ngục đạo. Vì thế (trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận) có bài kệ rằng:

Đảnh thánh, nhãn sanh thiên,
Nhân tâm, ngạ quỷ phúc,
Súc sanh tất cái ly,
Địa ngục cước bản xuất.
(Đảnh: thánh; mắt: sanh thiên,
Ngực: người, bụng: ngạ quỷ;
Từ gối ra: súc sanh,
Địa ngục: bàn chân nóng)

Ôi! Đại sự sanh tử chẳng ai tránh được, chỉ có một điều phải thật thận trọng: người săn sóc bệnh nhân phải dùng đồng thể bi tâm để giúp hoàn thành đại sự vãng sanh. Cổ nhân nói:

Ngã kiến tha nhân tử,
Ngã tâm nhiệt như hỏa,
Bất thị thục tha nhân,
Khán khán luân ngã đáo.
(Ta thấy người khác chết,
Ruột ta nóng như lửa,
Nào phải mình ai kia,
Rồi ta cũng đến lượt!)

Nhân duyên, quả báo cảm ứng chẳng sai! Muốn cầu tự lợi trước phải lợi người! Soạn thiên này để bảo khắp đồng bào, khẩn khoản mong mọi người chú ý!

Đành rằng nếu có xác thân,
Dù ai cũng phải một lần chết đi,
Nhưng kẻ chết hồi qui cõi Phật;
Còn người sao lại thác ra ma,
Hoặc là chết được ngợi ca,
Hoặc là chết để gần xa chê cười.
Kẻ chết già người thời chết yểu,
Hoặc chết êm hoặc chịu chết đau;
Có nhiều cách chết khác nhau,
Cũng nên lựa cách chết nào cho thanh.
Chết hồn được siêu sanh Cực Lạc,
Chết để đời thường nhắc hiền nhơn;
Chết cho người nhớ công ơn,
Chết cho dân chúng thôn lân miếu thờ.
Sống như giấc chiêm bao một thứ,
Rủi lâm vào vạn sự buông tay;
Không ai biết được ngày mai,
Hôm qua thấy đó bữa nay mất rồi.
Biết bao cuộc sóng dồi gió dập,
Cảnh thảm sầu tới tấp liền tay;
Cám thương già trẻ gái trai,
Sống đời mạt pháp không ngày nào an.

Trong lúc lành mạnh yên ổn không chịu chuyên tâm niệm Phật, đợi khi gặp phải mười trường hợp bất trắc xảy ra trong lúc mạng chung như đã kể trên, thì không tài nào bình tĩnh hay được nhớ Đức Phật để mà tưởng niệm được.

Vả lại nếu lúc sanh bình đã làm đầy dẫy tội ác, ngày mạng chung lại chẳng niệm được một tiếng Phật, thì cái tội lỗi kia đâu được giảm bớt chút nào, tất nhiên không tránh khỏi bị sa đọa vào các đường luân chuyển. Mà cái điều dễ làm cho luân chuyển hơn hết là nếu không niệm Phật thì phải niệm phàm, mà hễ niệm phàm thì toàn là những niệm tội lỗi.

Gần dứt hơi, những nghiệp tạo, những vọng tưởng lúc khỏe mạnh đã tạo gây ra đó, điều hiện rõ ra hết, hoặc thấy viên đá lớn trên không rớt đè, hoặc thấy người cầm cưa, người cầm kéo, người chế dầu, kẻ xách đèn thiêu đốt, cưa xẻ, đánh đập đủ thứ, làm cho hốt hoảng la lớn lên, bò càng bò niểng, làm cho dễ đứt hơi và dễ làm cho thần thức theo nghiệp lực dẫn đi luân hồi rất mau lẹ.
Nhược bằng trong lúc ấy người biết niệm Phật, niệm Phật ấy được thành tâm, dầu niệm một tiếng đi nữa, cảnh giới hung ác cũng tiêu mất không còn hiện ra dữ dằn táo bạo được. Đó là nhờ Đức Phật gia hộ.

Lòng không móng việc đó đây,
A Di Đà Phật niệm rày một câu.
Thì cũng được nạn sầu thoát khỏi,
Nhờ hào quang Phật rọi vào thân.
Tiêu ma tiêu các chướng trần,
Khác nào cỏ úa lửa phừng cháy qua.
Chỉ một niệm cũng là khỏi nạn,
Huống chi là niệm đặng dài lâu.
Dù cho muôn thảm ngàn sầu,
Cũng tan mất cả như bầu không trung.

Người xưa đã thiết tha khuyên dạy:

Nên khắc cốt ghi tâm những hiểm nạn lúc lâm chung như đã kể trước, ở trong đời thường có, đó là do túc nghiệp hoặc hiện nghiệp chiêu cảm, bỗng nhiên xảy ra, không kịp trốn tránh. Khi gặp một việc không may, bất cập, trong mười việc trên đây, thì làm sao niệm Phật được?

Giả sử không bị những ác duyên như trên, thọ bịnh sơ sài mà qua đời, e cho lâm chung, khi thân tứ đại sắp ly tán, bị sự đau đớn dường như dao cắt, như con rắn bị lột da, như con cua bị rớt vào nước sôi trong lúc thống khổ bức bách, bối rối kinh hoàng ấy, đâu có rỗi rảnh để niệm Phật?

Giả sử không bị bịnh mạng chung, lại e duyên đời chưa dứt, niệm tục khó quên, tham sống sợ chết, tấm lòng rối loạn không yên. Thêm vào đó, việc nhà chưa phân minh, chuyện sau chưa sắp đặt, vợ con khóc lóc kêu gọi, trăm mối lo sợ, thương sầu, như thế làm sao niệm Phật được?

Giả sử lúc chưa chết, thì lại bịnh khổ, đau đớn rên la, tìm thuốc tìm thầy, lo việc khẩn cầu cúng tế, tạp niệm rối ren, vị tất đã niệm Phật được?

Giả sử trước khi chưa bịnh, thì lại bị sự già khổ, suy lờ, lụm khụm, buồn rầu, ảo não, e cho lo những việc cái thân già yếu chưa xong, đâu rỗi để niệm Phật!

Giả sử trước khi chưa già, còn đang trẻ trung khỏe mạnh, hoặc như tâm cao vọng chưa dứt, việc thế tục còn buộc ràng, rong ruổi đông tây, suy thế này tính thế khác, nghiệp thức mơ màng, cũng không niệm Phật được!

Giả sử kẻ được an nhàn thong thả, có chí tu hành, nhưng nếu không nhìn thấu cảnh đời là giả mộng, thân tuy được yên, tâm còn bấn loạn, không thể buông bỏ muôn duyên, khi gặp việc đến, không thể tự chủ, theo cảnh mà điên đảo, cũng không niệm Phật được!

Hãy thử xét lại, đừng nói già bịnh, trong lúc còn trẻ trung nhàn nhã, nếu có một việc đeo đẳng nơi lòng, còn không niệm Phật được thay, huống chi là đợi đến lâm chung?

Vả lại, sự nghiệp thế gian, như giấc mơ, trò huyễn, như bóng bọt, tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi không, nó có lợi ích chi thiết thật cho ta trên đường giải thoát?

Bao nhiêu sự nghiệp phúc lợi nhân sinh, tất nhiên phải tận tâm tận lực tài bồi, để rồi hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, nhưng nên nhớ tùy duyên mà làm chứ chẳng được cưỡng cầu!

Bởi vì, dẫu cho ta có tạo được cơ sở từ thiện hay chùa chiền bề thế qui mô rộng lớn, gây nên tiếng tăm vang dội, địa vị cao tôn, kết thân với nhiều kẻ quyền chức sang giàu, trong tâm tự hào cho đó là đã thành công nơi đường tu tiến, đâu ngờ thật ra chính lại phạm nhằm điều răn của tiên thánh!

Cổ đức đã từng răn nhắc: “Người tu phải chí thú nơi sự giải thoát, đừng quá đua chen theo công nghiệp hữu vi, vì trong ấy có nhiều lầm lỗi dễ dính vướng lợi danh tài sắc, e cho thiên đường chưa thấy, địa ngục đã hiện tiền!

Nếu việc sống chết chưa xong, thì tất cả công nghiệp hữu vi đều là nguyên nhân của sự khổ. Một mai nhắm mắt đi rồi, tùy theo nghiệp mà thọ báo, chừng ấy mới hay việc đã làm là trên gông cùm thêm xiềng xích, dưới vạc nóng thêm củi than, hưởng si phước dễ dàng tạo ác, thời gian thọ nhận thích ý vui lòng chẳng đặng bao lâu, mà phải chịu thống khổ luân hồi, nơi ba cõi sáu đường mang lông đội sừng muôn đời vạn kiếp!”

Vậy muốn cho khi sắp chết được chánh niệm vãng sanh, thì ngay bây giờ phải xét rõ việc đời là huyễn mộng, tùy duyên an phận qua ngày, không còn tham luyến, được rỗi rảnh lúc nào thì niệm Phật ngay lúc ấy, đừng hẹn chờ lần lựa, hoặc để hư phí thời giờ.

Như thế thì tư lương ta đã dự bị xong, lúc ra đi mới không điều chi chướng ngại!

Mới thấy đó mày xanh tóc sậm,
Bỗng nhiên rồi đầu tẩm sương mai.
Mắt lờ tai điếc lạ thay,
Da dùn má cóp chơn tay mỏi lần.
Ma bịnh đến tử thần lẽo đẽo,
Cướp thây người vội kéo ra đi.
Mủi lòng tử biệt sanh ly,
Vợ con thân thuộc li bì nhỏ sa.
Thân người sống thịt da tươi tốt,
Khi chết rồi gân cốt lạnh tanh.
Bao nhiêu bả lợi mồi danh,
Cũng không rờ nắm giựt giành với ai.
Dầu tiền của lầu đài muôn dặm,
Khi chết rồi cũng nắm tay không.
Chẳng đem một cắc một đồng,
Chỉ ôm tội phước trong lòng mà thôi.

d. Tóm kết

Để kết luận chương Gấp Niệm Phật khi chúng ta muốn cầu sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà để khỏi chịu vào sanh ra tử, đổi xác thay hình trong cõi hồng trần này nữa, thì có một điều thích ứng và cần biết hơn hết là phải nhứt tâm tưởng niệm Đức Phật A Di Đà. Sự niệm Phật ấy sớm cũng như chiều, ngày cũng như đêm, giờ này đến giờ khác luôn luôn không xao lảng; và trong lúc niệm Phật chúng ta có một đức tin mạnh mẽ rằng những tội ác gì của mình đã làm từ lâu, bây giờ nhờ sự niệm Phật mà các điều ấy được diệt mất hết và bao nhiêu công đức phước huệ nơi mình sẽ lần lượt sanh ra, thần trí của mình sớm muộn gì cũng được mở mang; nhứt là nhờ sự niệm Phật mà các Phật mười phương hộ trì gia bị cho mình thêm phần tinh tấn để được mau chóng vãng sanh về Cực Lạc. Kỳ dư, nhờ công đức niệm Phật của mình mà Tổ tiên cha mẹ của mình cũng đều được siêu hóa về Tịnh Độ.

“Tu một thuở cứu thân vĩnh kiếp,
Độ được mình còn vớt mẹ cha;
Thuyền to một chiếc sắm ra.
Tất nhiên chở hết cả nhà xuống đi.”

Có sự tin tưởng mạnh mẽ như vậy, mới khiến cho sự niệm Phật của mình không bị lảng xao thối đọa và chắc được vãng sanh.

Người không ai giống ai nào,
Chung qui cũng một đường vào mồ ma.
Ấy là định mạng người ta,
Cuối cùng ai cũng phải là thế ư !
Há không cầu đạo Chơn Như,
Để mưu giải thoát kiếp người trần gian.
Dứt xong ba nẻo sáu đàng,
Quí hơn cái chiếc ngai vàng trần ai.
Ngai vàng khó giữ lâu dài,
Tòa sen Cực Lạc ngồi hoài tự do.
Tu hành cần phải sớm lo,
Tử sanh là việc lớn to của người.
Nan tri sống chết nay mơi,
Mau tu kẻo chẳng kịp Trời kêu tên.
Ta Bà thế giới rộng thênh,
Xưa nay thần chết không quên người nào!

 

CHƯƠNG HAI
PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT

“Gìn giới cấm sửa tâm ô tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà”

Theo lời của Tổ Thầy dạy, người niệm Phật trước hết phải dứt bỏ được tà tâm, giữ gìn đúng theo giới luật và sửa trị lòng dạ của mình không còn xấu xa nhiễm loạn những điều trần tục nữa. Vì người niệm Phật mà không chừa tâm tà, không gìn giữ luật giới, chỉ niệm cho lấy có chớ không thành tâm thì chẳng khác nào kẻ nấu cát muốn thành cơm; để ruộng không mà muốn có lúa thì chẳng khi nào có được.

Biển tâm còn sóng ba đào,
Thì là chưa thấy được màu minh châu.
Di Đà từ khởi niệm đầu,
Đến khi niệm chót nhiếp thâu một lòng.
Bao nhiêu tạp niệm đều không,
A Di Đà Phật ngưỡng mong một niềm.
Trong tâm khỏi phải giữ kiềm,
Mà bao vọng tưởng không xen lẫn vào.
Ngày đêm bất luận lúc nào,
Lòng luôn niệm Phật thao thao như nguồn.
Tuy là ở tại trần dương,
Như ngồi nơi cõi Tây Phương khác gì.
Tinh thần khi được thống qui,
Tức là tự biết những gì siêu nhiên.
Dù cho pháp Tịnh hay Thiền,
Đều cần tâm niệm thống nguyên làm đầu.
Nếu tâm không được nhiếp thâu,
Thì không thể niệm trọn câu Di Đà.
Niệm đầu thì Phật, đuôi ma,
Đuôi ma đầu Phật loạn ra đủ hình.
Niệm như thế uổng công trình,
Sẽ không thể được kết tinh như lòng.
Như cây nay nhổ mai trồng,
Thì không ra được trái bông mà dùng.

Cát không phải là gạo, nên cho dù chúng ta có nấu trải qua trăm ngàn năm đi nữa, thì cũng chỉ là cát nóng mà thôi, chứ chẳng thể nào thành cơm hay cháo gì để ăn được hết, bởi nó không phải là nhân của cơm!

Còn ruộng đồng không cày bừa, không gieo giống gì cả mà ta cứ ngồi đó chờ mong tới mùa có lúa nếp để mà thu hoạch, thì thật là chuyện mơ mộng viễn vông!

Hai thí dụ trên rất thực tế và rất bình thường chẳng phải là cao xa gì, nên ai ai cũng hiểu được một cách cụ thể rõ ràng.

Thì sự niệm Phật cũng thế! “Chỉ niệm cho lấy có chớ không thành tâm” mà muốn khi lâm chung Phật đến đón, thì quả thực mình đã tự lầm lẫn chính mình rồi vậy!
Sao gọi là “thành tâm”?

Thành tâm là: thật tâm, chí tâm, nhất tâm, thành lòng, thật lòng, v.v… và.. v.v… có rất nhiều danh từ để gọi, nhưng cũng đồng một ý nghĩa, là trong khi niệm Phật không có những nhớ nghĩ nào khác, chẳng hạn như các nhớ nghĩ về của cải tiền bạc, danh lợi cảm tình, nghèo giàu được mất, thị phi tốt xấu, buồn vui mừng giận, không có những nhớ nghĩ về kỹ niệm xa xưa, hay ao ước về tương lai sẽ như thế này thế nọ, không có những nhớ nghĩ miên man bông lông, lung tung xẻng nào chen vào!

Muốn làm Phật hay Ma,
Tự hỏi lấy lòng ta;
Đừng hỏi nơi Phật Tổ,
Cũng chớ hỏi Di Đà,
Việc ấy do mình định,
Phật không tính sao ra;
Siêu đọa thì Phật bảo,
Làm không vốn tại ta,
Mình có thể làm Phật,
Mình có thể làm ma;
Tự mình nhắm mắt lại,
Tự mình mở mắt ra.
Mình phải tự tu lấy,
Không thể mượn người ta;
Tội phước do mình tạo,
Lành dữ do mình ra.
Dù ngồi bên cạnh Phật,
Lòng ma vẫn ra ma;
Gần ma mà lòng Phật,
Chung cuộc thấy Di Đà.
Phật do mình hiện tới,
Phật do mình đi xa;
Chớ nghi ngờ lẩn quẩn,
Đừng gạn hỏi bao la.
Muốn thoát ly cảnh khổ,
Phải tự quyết nhảy ra;
Không tham của dương thế,
Chẳng nhiễm cảnh Ta bà.
Nguyện vãng sanh Cực Lạc,
Quyết được tọa Liên hoa;
Tâm không rời Phật tổ,
Lòng chẳng cách Di Đà.
Luôn luôn lo tự giác,
Thường thường nhớ giác tha;
Thương người như cật ruột,
Giúp người tợ giúp ta.
Lo khai trí Bát nhã
Lo mở tánh Ma-ha;
Việc khó làm làm được,
Điều khó nhẫn nhẫn qua.
Vì người vui bố thí,
Vì người vui xuất gia;
Công đức không riêng hưởng,
Công đức cho muôn nhà.
Từ bi khắp thiên hạ,
Chẳng từ bi riêng ta;
Khi được tâm như thế,
Không gọi Phật cũng ra.
Phật sẵn nơi sanh chúng,
Phật ở khắp Ta bà;
Người được lòng như Phật,
Tất cùng Phật hợp hòa.
Người mê không thấy Phật,
Phật giác thấy người ta;
Tu ở nơi am tự,
Hoặc tu ở tại gia.
Đều là có Phật cả,
Chớ phân biệt gần xa;
Thành tựu mau hay chậm,
Do tâm lực mình ra.
Lấy đó làm căn bổn,
Để cầu đạo Thích Ca;
Cũng lấy đó làm chánh,
Để niệm Phật Di Đà.
Tu hành được thế ấy,
Không lầm lạc đường tà;
Điều này nên nhớ kỹ,
Khuyến tấn khắp chư gia.

Nói tóm lại, niệm Phật “thành tâm” là niệm Phật trong lòng chỉ có hình bóng của Đức Phật, chỉ có thế giới Cực Lạc, có hoa sen, ao thất bảo, hàng cây báu, gió đưa tiếng pháp ngân nga… hay chỉ có lời Phật dạy, lời của Tổ Thầy nhắc nhở khuyên răn!

Do vì chúng ta hồi nào đến giờ suy nghĩ lung tung quá quen, quá thuần rồi, cho nên bây giờ niệm Phật rất khó nhất tâm. Nhưng khó gì khó cũng phải ráng tập, như lời Cổ Đức đã khai thị:

Việc chi cũng ở chí bền,
Chí bền ấy vốn là nền thành công.

Hay là:

Núi tuy lớn đục hoài sẽ mỏn,
Rừng dù to cứ đốn sẽ thưa.
Tội bao lòng cố gắng chừa,
Có ngày hết được chớ ngờ rằng không.
Việc chi nếu chí công làm mãi,
Dù khó khăn thế mấy cũng thành.
Khó khăn là việc tu hành,
Xưa nay đã lắm người thành đâu không.

*Thích Tư Ngạn tự Nguyên Đăng, con nhà họ Tạ ở Tiền Đường tại Hàng Châu. Lúc tuổi trẻ ông theo học Nho, đức hạnh nổi tiếng xa gần. Không bao lâu cảm thấy việc đời vô thường, nên quy y Tam Bảo, đi tham học khắp các bậc tri thức về Tông và Giáo. Sau ông nghe Ngọc Phong pháp sư khai thị: “Muốn cầu thoát khổ, chỉ có pháp môn Niệm Phật là dễ thành tựu”, ông liền phát tâm mỗi ngày trì Phật hiệu 60 ngàn câu lấy làm định khóa, tức mỗi ngày niệm 600 xâu chuỗi trường.

Bình sanh có làm công đức chi, ông đều hồi hướng về Tịnh Độ.

Năm Nhâm Thân niên hiệu Đồng Trị, ông lại phát tâm thọ ngũ giới nơi chùa Hải Triều.

Năm Quang Chữ thứ chín, ông chán cuộc trần lao, muốn sớm cầu giải thoát, nên đem việc nhà giao phó cho hai con, đi thẳng đến chùa Hộ Quốc, lễ Hòa thượng Kính Phong cầu xuống tóc xuất gia. Mùa đông năm ấy, sư được duyên lành thọ giới Cụ túc nơi chùa Kỳ Viên ở Túc Sơn. Kế đó lại trở về chùa Hộ Quốc chuyên tu Tịnh Nghiệp.

Ít lâu sau, sư ngã bịnh, tuy thuốc thang điều trị nhiều phen, song bịnh lành rồi lại tái phát. Hai con trai nhớ mến, rước sư về dưỡng bịnh nơi nhà, mở một gian tịnh thất để làm chỗ tĩnh tu. Mùa thu năm Quang Chữ thứ mười lăm, sư bỗng vương chứng hạ ly, thuốc thang không công hiệu. Từ đó sự ăn uống tuy lần kém giảm, song sức niệm Phật lại thêm thành kính thiết tha. Tới ngày mùng mười tháng chín, sư gọi hai con lại bảo rằng: “Thời kỳ vãng sanh của thầy đã đến, hai con hãy đi thỉnh chư Tăng về nhà niệm Phật bảy ngày, để hổ trợ cho ta về Tây Phương!”.

Sáng sớm ngày mười hai khởi đầu kỳ Phật thất, sư bảo với thầy Lăng Phong rằng mình chỉ còn lưu trụ bảy hôm nữa thôi. Sang ngày rằm, lại cầm tay thầy Đình Sơn nói: “Chỉ còn ba hôm nữa, tôi sẽ về Cực Lạc!”.

Đến tối ngày mười bảy, sang canh tư, sư hỏi:

– Bây giờ là mấy giờ rồi?

– Thưa cha! Bây giờ là 2 giờ!

– Nếu 2 giờ tức là đã qua ngày mười tám, là kỳ hạn thầy vãng sanh. Vậy nên thỉnh chư Tăng xưng hồng danh trợ niệm!

Khi mọi người tề tựu đầy đủ đồng lớn tiếng niệm Phật, sư cũng niệm theo. Ước chừng tàn nửa cây hương, bỗng sư lặng thinh nhắm mắt. Giây lâu chợt mở mắt chắp tay, hướng về chư Tăng mà nói lời cảm tạ rằng: “Tôi đã được đến Tây Phương đảnh lễ Đức A Di Đà cùng hai vị Đại Sĩ. Phật rủ lòng thương xót trao tịnh y cho tôi. Còn Quán Âm Bồ Tát thì cầm cành dương liễu rưới nước cam lộ nơi đầu. Nhìn ra xa, tôi thấy Liên Trì đại sư đang thuyết pháp cho các bậc thượng thiện nhơn nghe. Bay dạo trên ao thất bảo rộng lớn mênh mang, nhìn khắp các hoa sen báu, tôi thấy một hoa tòa ghi tên chỗ mình sanh về. Đức Phật dạy tôi hãy tạm trở lại Ta Bà, tường thuật cho mọi người biết rằng mình được sanh về Tịnh Độ. Xin kính khuyên các vị nên gắng tinh chuyên niệm Phật, để ngày kia cùng gặp nhau nơi cõi Liên Bang!”.

Nói xong bảo đem nước mát uống ba hớp, rồi lại giường nằm nghiêng bên hữu, niệm Phật vài mươi câu mà thoát hóa.

Hôm sau, khi nhập quan, đảnh đầu hãy còn nóng ấm.

********

Dùng pháp niệm Phật, một là để cầu sanh về cõi Cực Lạc, một là mượn câu niệm Phật để tiêu diệt vọng tâm, nếu vọng tâm không trừ được thì không khi nào được chánh niệm. Chánh niệm không có thì bao giờ được vãng sanh Cực Lạc; thế nên đồng thời với sự niệm Phật cần kềm chế vọng tâm đừng cho phạm giới cấm mới có hiệu lực.

Những người tu pháp môn Tịnh Độ thì chủ yếu ở chỗ niệm Phật để cầu sanh về cõi Cực Lạc, mà được vãng sanh hay không giai do ở sự niệm Phật ấy thành tâm hay không thành tâm vậy thôi!

Muốn được Phật hóa thân đến rước,
Phải nhứt tâm niệm Phật chí thành.
Giữ lòng niệm Phật cho thanh,
Tất nhiên được Phật rước lên sen vàng.
Thấy nhiều kẻ muốn sang Cực Lạc,
Mà lòng như bụi rác cống mương.
Thế là dầu Phật có thương,
Cũng không thể hiện bên giường rước đi.
Làm tội ác trong khi chưa biết,
Khi biết rồi cương quyết tránh xa.
Một lời niệm Phật phát ra,
Đủ làm sức cảm Di Đà tiếp linh.
Phật độ kẻ hữu tình với Phật,
Chớ Phật không thể rước con ma.
Cho nên khi niệm Di Đà,
Phải lòng như Phật để mà niệm lên.

*Mặc Am đại sư, pháp danh Thượng Nhân, sư họ Chu, người ở Hoành Châu tỉnh Hồ Nam. Cha học Nho, mãn phần sớm, ngài còn bé mà đĩnh ngộ sáng lẹ, liếc mắt qua đã đọc xong mấy hàng sách. Năm mười lăm tuổi, văn tài vượt xa các đồng bạn, thầy dạy học nghĩ rằng đường công danh về sau tất sẽ rực rỡ. Hai năm kế đó, Ngài đến ở trọ chùa Nhạn Phong học tập, nhân chép kinh Kim Cang tới câu: “Tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều không thể được”, bỗng chợt nảy sanh tư tưởng xuất trần.

Năm Hàm Phong thứ bảy, mẹ muốn tìm nơi hỏi vợ cho, Ngài lén trốn đến chùa Nam Phong, nương theo Phổ Chiếu thiền sư xuất gia.

Năm sau, lại đắc giới nơi Thúy Đình thượng nhơn ở chùa Phước Nghiêm. Đại sư nghe Chúc Thánh Lượng thiền sư pháp hóa rất thạnh, liền đến thọ tâm ấn.

Qua năm kế, lại yết kiến Pháp Vân thiền sư, đi sâu vào giáo nghĩa, do đó đối với sách Nho cũng được suốt thông. Các bậc danh tài thạc học nghe tiếng Đại sư, đều thích tìm đến để giao du.

Ngài dõng mãnh về việc hướng thượng nên tới ẩn tích ở Kỷ Cung Nham tại Nam Nhạc, cùng với Thiềm Vân pháp sư nương nhau sách tấn để tham cứu tu hành.

Sang niên hiệu Đồng Trị, Đại sư đi tham phỏng khắp các bậc tôn túc nam bắc ngộ nhập nguồn tâm, rồi trở về chùa Phước Nghiêm duyệt xem Đại tạng.

Mùa thu năm Quang Chữ thứ hai, Ngài lại cất tịnh xá bên chùa Chúc Thánh ở Nam Nhạc, khổ thiết mật tu, lâu ngày sự tỏ ngộ càng thêm sâu sắc.

Từ đó các sách vở ngoại điển thảy đều quán triệt, hàng danh sĩ lại tìm đến giao du như cũ. Chùa Đại Thiện ở Nam Nhạc, nguyên là một danh lam cổ, bị người xâm chiếm, Đại sư quyên tiền chuộc lại rồi trùng tu. Ngài phỏng theo quy tắc của Triệt Ngộ thiền sư tổ chức sự tu học, nên chư Tăng mười phương vân tập về, đến đỗi không đủ chỗ dung chứa. Tất cả học chúng nơi đó đều suốt thông tánh tướng, giữ luật hạnh trang nghiêm.

Đại sư lấy Thiên Thai giáo quán làm tiền đạo cho hàng học giả, lấy Di Đà Tịnh Độ làm chỗ cứu cánh nương về. Ban sơ Đại sư giữ nhựt khóa niệm Phật sáu muôn câu, lâu ngày đi đến cảnh không niệm tự niệm, nên câu hồng danh chẳng lúc nào gián đoạn.

Mùa xuân năm Nhâm Dần, Đại sư đem việc chùa giao phó cho đệ tử thượng thủ và nói: “Ta sắp về Tây Phương!”.

Sang Đông, ngài cử hành lễ Phật thất. Được hơn một tuần, trong định Đại sư thấy nước bát công đức lóng lánh nơi ao thất bảo trang nghiêm.

Không bao lâu Ngài cảm bịnh nhẹ, từ khước thuốc thang một lòng niệm Phật và bảo đồ chúng luân phiên trợ niệm.

Kế đó Đại sư ngưng ăn uống, nằm theo lối kiết tường nghiêng hông về bên hữu, giữ pháp Kim cang trì niệm tức là nhép môi niệm liên tục.

Hôm sau Ngài thấy Đức A Di Đà hiện thân, tướng bạch hào sáng chói, liền chỗi dậy ngồi kiết già hướng về phương Tây, bảo xếp dọn chăn gối.

Thị giả ngần ngại trình thưa tiết trời quá lạnh, Đại sư bảo: “Ta sắp từ bỏ bộ đồ cũ dơ bẩn rách nát này đổi lấy y phục mới gấm vóc lụa là đẹp đẽ sang quý, bỏ huyễn thân nhơ nhớp thay thân bảo chất đẹp nghiêm!”.

Tăng chúng hay tin tụ hội đến, Ngài an tường nhìn khắp xung quanh và chẫm rãi hỏi:

 “Thế nào là giải thoát?”.

Đại chúng đều ngơ ngác nhìn nhau không hiểu gì.

Đại sư mỉm cười bảo:

 “Đã vậy, chi bằng học theo mấy ông già bà cả quê mùa, ăn chay trường chân thành mà niệm Phật là chắc chắn hơn hết!”.

Kế đó dạy chúng đánh mõ trợ niệm, giây lát tiếng mõ hơi gấp, Ngài bảo dừng lại, chỉ đồng thanh niệm lớn “Nam Mô A Di Đà Phật”. Khi niệm độ hơn một trăm câu, Đại sư chấp tay mà thị tịch.

Bấy giờ nhằm ngày mười ba tháng chạp, năm Quang Chữ thứ hai mươi tám. Vài giờ sau chúng dò thăm thấy đảnh của ngài còn nóng, thân thể đều mềm mại.

Đại sư hưởng tuổi đời được sáu mươi bốn, Tăng lạp bốn mươi bốn.

Khi tịnh niệm lòng còn mõi mệt,
Thì là chưa mở được huệ tâm.
Sự thấy nghe chậm chạp sai lầm,
Các phiền não mọc mầm không nghỉ.
Khá phân tích nơi lòng cho kỹ,
Đừng để lầm nhận quỉ là con.
Thật tâm chơn thanh tịnh vẹn toàn,
Còn tâm vọng thỉ chung bất nhứt.
Tâm chơn mới là tâm chư Phật,
Tâm vọng là tâm các Ma Vương.
Tâm chơn thì đến cõi Tây Phương,
Còn tâm vọng lạc đường Địa Ngục.
Tâm chơn dẫu phong ba chẳng đục,
Tâm vọng vừa mới lắc nổi bùn.
Thật tâm chơn sáng sủa vô cùng,
Còn tâm vọng mông lung bất tận.
Nhờ sáng sủa nên không lầm lẫn,
Vì mông lung nên lộn sai đường.
Vọng với chơn phải xét tận tường,
Tìm lấy cái chơn tâm làm chủ.
Tâm chơn tất là tâm thường trụ,
Tâm vọng là tâm đủ thứ sanh.
Tâm chơn là tâm được trọn lành,
Còn tâm vọng hay sanh niệm dữ.
Lành mới thật là hành Phật sự,
Dữ thì là đồng thứ nghiệp ma.
Khởi tâm lành thì phước sanh ra,
Khởi tâm dữ thì là họa tới.
Tâm chơn tất việc lành thường khởi,
Tâm vọng thì việc dữ thường sanh.
Tự xét tâm khởi dữ hay lành,
Tất biết rõ tâm chơn hay vọng.
Việc trần tục khiến cho tâm động,
Dữ thì nhiều lành chẳng bao nhiêu.
Vừa móng tâm thì phải trừ tiêu,
Chớ để phạm rồi sau mới hối.
Biết chừa bỏ từ trong vọng khởi,
Thì hành vi tội lỗi không sanh.
Tức nhiên là người được trọn lành,
Tâm vọng ấy trở thành chơn được.

*******

Đời Nguyên, Ngài Trung Phong đã nói:

– Cổ nhân có bài thơ khuyên học như sau:

“Kích thạch nãi hữu hỏa,
Bất kích nguyên vô yên.
Nhân học thỉ tri đạo,
Bất học phi tự nhiên”
(Đập đá bèn xẹt lửa.
Chẳng đập, khói chẳng sanh.
Người học mới biết đạo,
Chẳng học chẳng thể thành).

Đấy là nói trong đá vốn có lửa, chẳng dùng trí huệ để cọ sát, dẫn khởi, sẽ trọn chẳng thể có được lửa. Người hiện thời chỉ biết trong đá có lửa, chẳng bỏ ra tí xíu công sức trí huệ để va chạm, suốt ngày chỉ trỏ hòn đá lạnh ngắt ấy mà nói đến tác dụng của lửa thế này thế nọ. Nói cho đến hết cả cuộc đời, vẫn là một khối đá trơ trơ như trước, muốn tìm một tí tác dụng của lửa, trọn chẳng thể được! Đấy là kẻ chẳng chịu dốc hết một lòng thực hiện công phu vậy!

Lại có một hạng người nghe nói trong đá có lửa, bèn đập nát đá. Do muốn lấy được lửa, bèn đập đá nát bét thành bụi, trọn chẳng được lửa. Chẳng tự trách chính mình không dùng trí huệ để có được lửa, lại đến nỗi chẳng tin trong đá thật sự có lửa! Đấy là hạng phàm phu không tin “Tâm này là Phật; Tâm này làm Phật”, “Niệm Phật là nhân; Thành Phật là quả” vậy!

Những nào túc trái tiền khiên,
Chỉ là lo trả lòng nguyền không gây.
Chịu cay đắng dồi mài chánh đạo,
Hẹn một ngày trực đáo Tây Phương.
Vua lòng tay tự cầm cương,
Thắng con ngựa ý trên đường xa xôi.
Không mỏi dạ trước ngôi Phật điện,
Chẳng lảng tâm khi niệm Di Đà.
Huệ lòng ắt được trổ hoa,
Đạo mầu sẽ đắc chương tòa được lên.

Liên Trì đại sư nói:

 – Bất cứ kỹ năng hay nghề nghiệp nào trong thế gian, lúc mới học sẽ cảm thấy khó khăn khôn ngằn, dường như là muôn phần chẳng thể thành tựu được. Do đó, bèn bỏ dở dang giữa chừng, chẳng học, sẽ trọn chẳng thể thành công!

Vì vậy, quý ở thuở ban đầu có cái tâm quyết định chẳng nghi. Tuy là quyết định chẳng nghi rồi, mà cứ lần lựa, trì hoãn, dần dà mãi cũng sẽ chẳng gặt hái kết quả gì cả.

Thế nên, kế đó là quý ở chỗ có cái tâm dũng mãnh tinh tấn. Dẫu đã dũng mãnh tinh tấn rồi, nhưng được chút ít bèn cho là đủ, hoặc lâu ngày bèn mệt mỏi, hoặc gặp thuận cảnh bèn mê, hoặc gặp nghịch cảnh bèn chán, thì cũng hóa ra “Dã tràng xe cát biển Đông; Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì!”.

Do đó, tiếp theo, quý ở chỗ phải có cái tâm kiên định, luôn bám chặt phương hướng và mục đích, chẳng hề thoái chuyển.

Làm được như vậy thì mới đáng mặt là bậc trượng phu thật sự có quyết tâm. Giữ gìn tấm lòng một mực như thế, thì mọi chuyện trên trần gian này có chuyện nào mà trở ngại, làm khó dễ được ta chứ?

Đời hễ giàu ở nhà cao quí,
Nghèo sống nơi dơ dáy thấp thoi.
Tu hành cũng giống thế thôi,
Huệ sâu đức lớn được ngồi phẩm cao.
Việc tu niệm càng lâu càng quí,
Trải nhiều năm cây cội càng to.
Đừng sờn những lúc gay go,
Không người uốn nắn sao cho nên người.
Huống lại kẻ làm lành thì ít,
Đứa hung hăng gian ác thì nhiều.
Cố nhiên phải bị ghẹo trêu,
Nếu không chịu nổi phải xiêu theo người.
Thiếu đại lực ắt trôi việc lớn,
Không đại hùng khó thắng nguy nan.
Tu như lọc cát tìm vàng,
Việc đâu phải dễ chớ toan ngã lòng.
Trên đồi cao sen không thể mọc,
Sống an nhàn khó học chữ tu.

******

Điều kiện để được vãng sanh Tây Phương bao gồm có ba thứ, đó là: Tín Nguyện Hạnh, gọi là tam tư lương. Chữ tư có nghĩa là tư tài, tức chỉ cho tiền bạc; còn lương có nghĩa là lương thực, tức lương khô. Bởi, thuở xưa muốn đi xa, thì có tiền không vẫn chưa đủ do vì quán xá không phổ biến thuận tiện như hiện nay.

Nếu người nào niệm Phật cầu vãng sanh mà đầy đủ ba thứ này thì người đó chắc chắn được vãng sanh. Tổ thứ chín là Ngẫu Ích Đại Sư đã khẳng định: “Được vãng sanh hay không toàn do có Tín, Nguyện hay không. Phẩm vị cao hay thấp đều bởi công phu hành trì sâu hoặc cạn.”

Cổ Đức cũng đã ví Tín, Nguyện giống như bức tường cao, hay cây cổ thụ to cao. Bình thời nếu bức tường hay cội cổ thụ ấy nghiêng về hướng nào, thì khi ngã nó sẽ đổ ngã về phía đó.
Vì vậy, muốn biết mình khi thân hoại mạng chung sẽ vãng sanh hay không, chẳng nên hỏi ai hết, mà hãy tự kiểm tra xem mình có đầy đủ Tín, Nguyện hay chưa, chuyện này người ngoài khó biết, chỉ trừ các vị chuyên nghiệp thực sự mới nhìn ra mà thôi!

Làm sao để biết mình đã đủ Tín – Nguyện?

Thông thường chúng ta hay lầm lẫn điều này! Vấn đề này lại là một vấn đề vô cùng quan trọng!

Chúng ta thường khôn ngoan những thứ vặt vảnh, nhỏ mọn. Những thứ tạm bợ phù du, chả ra gì cả, vậy mà ta có thể bỏ ra rất nhiều thời gian, cũng như bỏ ra rất nhiều công lao sức lực và tâm lực để suy tư tính toán kiểm nghiệm; Còn chuyện vô cùng hệ trọng này thì lại hời hợt, thờ ơ, qua quýt, sơ sịa.. rồi thông qua! Do đó người niệm Phật thì nhiều như lông trâu, mà số vãng sanh lại ít như sừng lân, chẳng có chi là khó hiểu!

Hầu hết chúng ta đều dựa vào hình thức ăn chay, niệm Phật, lạy Phật, rồi tự cho rằng mình đã đầy đủ Tín – Nguyện, thì đây là một sai lầm rất lớn và rất phổ biến hiện thời. Xin thưa rằng hình thức chỉ là cái vỏ bên ngoài, chứ không phải cái ruột bên trong, ngàn vạn lần không nên nhằm lẫn điều này!

Có những đồng tu phát tâm trường chay, sớm chiều hai thời lễ nguyện, sau lễ bái sám nguyện thì ngồi niệm Phật một hai giờ đồng hồ, thậm chí có những vị mỗi ngày đêm ba hay bốn thời tu tập như thế. Ngoài công phu ra, vị ấy chẳng những chuyên làm lành lánh dữ, không đánh đập chém đâm ai, không chưởi mắng ai, hoặc trộm cắp gì của ai, mà còn thương người mến vật, bố thí giúp đỡ kẻ cơ bần, ốm đau tàn tật, hoặc chăm lo các công tác từ thiện xã hội suốt tháng quanh năm. Với thời gian năm bảy năm công phu, hay với thời gian năm ba mươi năm hành trì như thế, là vị ấy tự cảm thấy rằng Tín Nguyện Hạnh của mình đã đầy đủ rồi!

Đến khi ma bệnh kéo tới, nằm trên giường, có đồng đạo đến khuyên nhắc: “Ông Hai ơi! Hoặc bà Ba ơi! Thời điểm này là thời điểm quan trọng, hãy cố gắng buông xả muôn duyên để chuyên niệm Phật vãng sanh Tây Phương.. nghen!” thì nổi cáo, bảo: “Tao ăn chay mấy chục năm nay… Mày mới đây mà bày đặt dạy tao!”

Giây phút lâm chung, tay chân luống cuống, phùn mang, trợn mắt, chắc lưỡi, nghiến răng, lăn lộn giật mình, kêu than thảm thiết, thần trí hoảng hốt loạn cuồng hoặc hôn hôn mê mê… mà ra đi, giã từ cõi thế, cũng chẳng ai hay ai biết là đã về chốn phương trời mô tê nào cả. Thật sự không có một dấu hiệu gì của vãng sanh hết!

Nên biết, chuyện ăn chay, trì niệm, bố thí làm phước… là hình thức cần có của người tu Tịnh Độ, đây là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để vãng sanh. Hay nói cụ thể là hình thức tu như vậy chưa phải là đã đầy đủ Tín Nguyện!

Vậy thì phải như thế nào mới là đủ?

Tín, Nguyện phải y cứ trên tâm tưởng, trên ý niệm mà lượng định chứ không thể dựa trên hình thức mà duyệt xét được!

Tín: là tin có thế giới Cực Lạc, thế giới ấy hiện hữu và vô cùng an vui, vô cùng trang nghiêm thanh tịnh. Đồng thời cũng tin một cách chắc chắn rằng cõi Ta Bà mà chúng ta đang sống là cõi Kham Nhẫn, là cõi Cực Khổ, nhọc nhằn, dẫy đầy tang thương dâu bể, dẫy đầy dơ bẩn nhiễm ô!

Nguyện: là mong mỏi, là mơ ước, là khao khát được sanh về thế giới Cực Lạc. Mà tha thiết muốn được sanh sang thế giới Cực Lạc bao nhiêu, thì phải nhàm chán thế giới Ta Bà này, nhàm chán cái cõi khổ đau tanh nhơ này bấy nhiêu!

Nguyện thiết là trong tâm lúc nào cũng có! Giả như thân nhân của chúng ta có người bị tai nạn giao thông, đã đưa vào bệnh viện, cả nhà đều tới bệnh viện xem sự tình thế nào, riêng một mình ta đang trông coi nhà cửa. Mặc dù bận rộn trông coi nhà cửa, vừa lo xử lý những công việc cần thiết, vừa lo tiếp đãi khách khứa, chào hỏi ân cần, ngoài mặt của chúng ta thì không có biểu lộ gì cả, nhưng trong lòng thì luôn nôn nóng mong ngóng tin tức từ bệnh viện nhanh chóng truyền về, mong sao người thân không phải tử vong, mong sao không đến đổi nặng lắm, chỉ bị thương sơ sài mà thôi! Lúc đó thân ta thì ở nhà mà tâm ta thì ở tại bệnh viện.

Người Nguyện thiết cũng như thế, thân thì còn ở Ta Bà mà tâm thức thì dạo chơi nơi miền Cực Lạc, tức là lúc nào cũng nhớ nghĩ bóng hình Đức Phật A Di Đà trong tâm tưởng, lúc nào, lúc nào, lúc nào cũng có cảnh Tịnh Độ trong tâm, phải như thế thì mới gọi là đầy đủ Tín Nguyện!

Do đây tự biết, từ sáng sớm đến chiều tối trong lòng mình nhớ nghĩ về Cực Lạc, nhớ Phật A Di Đà nhiều, hay nhớ nghĩ về Ta Bà, nhớ về của cải con cháu nhiều?

Khi đem hai thứ đó cho lên hai đĩa cân thì chúng ta không khỏi giật mình, một phen thất kinh hồn vía!

Không cần phải tính trong 12 tiếng đồng hồ, hãy tự kiểm tra lại trong 1 tiếng đồng hồ mà chúng ta đang ngồi niệm Phật. Có khi ta ngồi niệm một mình, hoặc đang ngồi cộng tu với đại chúng. Lúc ấy thân tướng của ta rất trang nghiêm, có khi miệng niệm cao thanh liên tục không gián đoạn. Nhưng thực chất trong lòng có Phật, có thế giới Cực Lạc chẳng được mấy niệm. Cái tâm của mình nó cứ âm thầm dong ruỗi lang thang tận chân trời góc biển, nhớ chuyện năm xửa năm xưa, nhớ thuở còn cấp sách đến trường, nhớ chuyện làng trên xóm dưới, chuyện tốt xấu thị phi của người này kẻ nọ… mãi đến khi chuông báo xả tịnh ngân vang, mới chợt giật mình nhớ lại là nảy giờ suốt buổi mình mải mê vọng tưởng lung tung. Sáu mươi phút trôi qua ngồi niệm Phật thật ra chỉ niệm ở đầu môi chót lưỡi muốn hết; còn thực chất niệm Phật mà trong lòng có Phật dồn đi dồn lại thì chẳng được mấy phút. Quả là “Phật thì một niệm còn mười niệm ma”. Với trình độ hiện tại của ta “Phật một niệm thì niệm ma có tới cả trăm cả ngàn, chứ không chỉ có mười thôi đâu!”

Thực tế là vậy đó! Bi thương thê thảm dường ấy, nhưng chúng ta vẫn phớt lờ nhẹ nhàng cho qua, rồi dựa vào hình thức ăn chay, bộ áo tu của mình đang mặc trên người, hình thức tu hành mấy mươi năm của mình, rồi tự ngấm ngầm công nhận cho rằng mình đã đầy đủ Tín Nguyện rồi, hoặc đã dư Tín Nguyện rồi! Đây là tự lừa dối! Mà mình tự lừa dối chính mình là một lỗi lầm to lớn nhất trên trần gian!

Do đó, cần phải đề khởi dũng khí chấp nhận một sự thật, tự phản tỉnh nhìn nhận sai xót này, để tự thương xót lấy chính mình mà cố gắng khắc phục sửa chữa cái sai lầm này, mà cũng là cái sai lầm quan trọng bậc nhất trong đời tu. Cổ Đức đã từng dạy: “Ở đời ai mà không lỗi, có lỗi mà dám nhận và nỗ lực sửa chữa, còn gì quý hơn!”.

Tu thì phải nhớ thành lòng,
Dối tu thêm tội chớ hòng vãng sanh.

Một bà nhà giàu ở Hàng Châu đến am Hiếu Từ hỏi Hòa thượng Đạo Nguyên rằng :

– Xin Hòa thượng từ bi dạy cho đệ tử tu pháp môn nào nội trong một đời chắc chắn thoát khỏi biển khổ?.

Hòa thượng dạy:

– Không gì hơn niệm Phật! Nhưng niệm Phật không khó, mà khó nơi bền lâu. Nhưng niệm được bền lâu chưa khó, mà khó nơi tâm chuyên nhứt. Con nếu có thể không quản đến tất cả thế sự, mà chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Phật và chí thành phát nguyện vãng sanh, khi lâm chung Phật đến tiếp dẫn thời được giải thoát.

Rồi Hòa thượng đem pháp môn Tịnh Độ vắn tắt giới thiệu cho bà.

Bà mừng lắm, lạy tạ Hòa thượng mà về. Khi về đến nhà, bà liền đem tất cả việc nhà ủy thác cho con trai và con dâu, còn bà thời cất tịnh thất ở riêng lo tu trì. Trải qua hơn một năm, bà đến am thưa với Hòa thượng Đạo Nguyên rằng:

– Từ khi nhờ ơn Hòa thượng chỉ dạy, đệ tử bỏ cả việc nhà, chỉ chuyên lo niệm Phật. Đệ tử tự xét thấy mình cũng có thể gọi là không biếng trễ, chỉ khổ nỗi khó được nhứt tâm. Trông mong Hòa thượng từ mẫn dạy bảo thêm cho!

Hòa thượng nói:

– Con dầu vất bỏ việc nhà nhưng đó chỉ là hình thức bên ngoài, chứ thực chất trong lòng còn tưởng nhớ đến của cải tài sản, chuyện làm ăn của con cháu, tưởng nhớ con cháu, quyến thuộc tình ái chưa dứt mà muốn nhứt tâm sao được! Từ nay con cần phải gia công thêm. Trước hết, nên nhổ sạch gốc tình ái, trong tâm tất cả đều buông bỏ, được như vậy thì mới có thể được nhứt tâm!

Bà than rằng:

– Hòa thượng dạy rất đúng! Đệ tử dầu thân không quản đến gia đình mà tâm chưa rời được. Từ nay đệ tử quyết định trăm sự không quản đến.

Sau khi về tịnh thất, bà tinh tấn niệm Phật hơn trước. Mỗi khi trong lòng nhớ tưởng tới gia đình, bà liền tự bảo: “Ta không nên dính tới mấy cái thứ này nữa! Trăm sự không quản đến! Trăm sự không quản đến!”, để trừ sự tưởng nhớ ấy.

Có ai hỏi đến việc nhà, việc đời, bà cũng chỉ trả lời bằng câu: “Tui không có dính tới mấy cái thứ đó nữa! Trăm sự không quản đến! Trăm sự không quản đến!”, rồi chuyên lo niệm Phật. Do đó, cái danh hiệu “Bà Bá Bất Quản” truyền khắp xóm làng, và người ta không còn kêu đến tên họ cũ của bà nữa.

Cách ngót hai năm sau, bà đến am đãnh lễ Hòa thượng mà cảm tạ rằng:

– Con y theo lời Hòa thượng dạy, niệm Phật đã được nhứt tâm, đã được thấy Phật. Không mấy hôm nữa con sẽ về Cực Lạc!

Ba ngày sau, bà không bệnh, ngồi xếp bằng trang nghiêm niệm Phật mà vãng sanh. Bấy giờ là năm đầu niên hiệu Gia Khánh đời nhà Thanh.

Bà Bá Bất quản ở câu chuyện trên cho chúng ta thấy bà có tâm giác ngộ rất mạnh mẽ, nên khi đến gặp Hòa thượng là bà hỏi: “Xin Hòa thượng từ bi dạy cho đệ tử tu pháp môn nào nội trong một đời chắc chắn thoát khỏi biển khổ?”. Bởi kiếp sống con người suy gẫm kỹ lại thì toàn là khổ, khổ mọi mặt, khổ nhiều thứ mênh mông như là biển. Cho nên bà cảm thấy phải tinh tấn chuyên cần nhanh chóng lẹ làng cất chân bước ra chỉ trong một đời mà thôi, chứ hai hay ba đời trở lên thì bà cũng không cam tâm chấp nhận!

Chúng ta thì trái lại cứ mãi mê đắm bao nhiêu thứ giã tạm trần đời, chẳng mấy khi phát khởi lòng cầu mong vãng sanh Tây Phương một cách khẩn thiết, vì thế sự tu niệm của chúng ta chỉ có hình thức, còn thực chất thì rỗng tếch, trống không! Cũng vì chưa nhìn thấu lẽ thật kiếp sống con người, nên chúng ta chẳng thể mạnh mẽ buông xả những thứ dây mơ rễ má chằn chịt vốn dĩ của đời thường.

Điều đáng để cho chúng ta quan tâm ở đây là, thời gian đầu bà đã rơi vào hình thức tức là chấp tướng. Thời gian sau đó nhờ có thiện tri thức chỉ ra chỗ sai, và bà đã hạ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, nên đã đạt được thành công mỹ mãn!

Chúng ta bấy lâu nay niệm Phật tu hành cũng y chang như bà ở thời gian đầu, chỉ tu hình tướng bề ngoài, rồi chấp chặt nơi ấy mà tu hoài, càng ngày càng thêm cống cao ngã mạn, nên chuyện vãng sanh của chính mình đã trở thành bánh vẽ mà thôi!

*******

Chư Tổ Sư đã khuyên chúng ta nên đặc biệt lưu ý tới hai điểm này:

Thứ nhất ‘cầu sanh Tây phương trống rỗng’ tức là cầu suông. Chúng ta cầu vãng sanh chỉ là nói khơi khơi trên miệng, giống như hô khẩu hiệu vậy, người ta hô hào thì mình cũng hô hào theo, sự mong cầu của chúng ta chẳng có thực chất, đó là ‘cầu suông’, hét bể cổ họng cũng uổng công!

Nếu ngay bây giờ Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn chúng ta về Cực Lạc thế giới, thì phần đông chúng ta đều sợ hãi và chạy mất. Tôi muốn vãng sanh, nhưng không phải ngay bây giờ. Tôi còn chuyện này chưa làm xong, còn chuyện kia phải làm… Tâm tham luyến thế gian này chính là chướng ngại vãng sanh lớn nhất của chúng ta. Cho nên chuyện cầu vãng sanh của chúng ta trống rỗng, có vỏ không có ruột, là tự lừa dối mình, là gạt người, mình nói cầu vãng sanh, khi Phật đến đón, mình lại chẳng nỡ xa lìa cõi đời này mà ra đi.

Thứ hai ‘Ái là chủ tể, niệm Phật chỉ niệm ngoài da’. Căn bịnh của chúng ta, là niệm Phật rất là giả dối! Niệm Phật chỉ là công phu ngoài mặt, ngoài miệng mà thôi, do vậy vừa niệm Phật, cội rễ sanh tử vừa tăng theo, giống như hai con đường song song, vĩnh viễn chẳng bao giờ cắt ngang nhau. Hiện nay hay biết ra sự thật này còn tốt hơn là lúc lâm chung tay chân cuống quýt mới hay biết thì vô phương cứu chữa. Hiện nay còn kịp thời cãi đổi. Chính mình vốn chẳng có tâm muốn thoát ly Ta Bà, chẳng có chân thật tín nguyện cầu về Tây Phương, mỗi ngày đều tu hành biểu hiện ra hình thức bên ngoài chứ trong tâm chẳng có, thì làm sao có thể vãng sanh cho được!

Người niệm Phật được lòng thành thật,
Đương nhiên là có Phật vãng lai.
Phật không hề bỏ sót một ai,
Nếu người ấy tâm hoài đến Phật.
Trừ những kẻ đầy lòng gian ác,
Niệm Phật trong giây lát rồi thôi.
Hoặc những người niệm Phật ngoài môi,
Trong lòng chẳng thật lòng tin Phật.
Tu giả dối chỉ thêm tội ác,
Không bao giờ được Phật hộ trì.
Chớ tưởng rằng Đức Phật từ bi,
Độ tất cả bất tri lành, dữ.

Chư vị Tổ sư đều nói với chúng ta pháp môn Niệm Phật là ‘vạn người tu vạn người vãng sanh’, nhưng thời buổi hiện tại vạn người tu chỉ có hai, ba người vãng sanh. Vấn đề là ở lòng tin chẳng chân thật, nguyện chẳng thiết tha cầu về Cực Lạc!

Nói một cách khác là do Tín, Nguyện, Hạnh của chúng ta chẳng đủ. Không thể nói là không tin, nhưng nửa tin nửa ngờ. Không phải là không có Nguyện, có nguyện nhưng còn do dự. Chẳng phải là không có Hạnh, nhưng ‘một ngày nóng, mười ngày lạnh’. Thí dụ nói vãng sanh cần có trăm phần trăm Tín Nguyện; còn chúng ta chỉ có mười phần trăm Tín và mười phần trăm Nguyện nên chẳng đủ để vãng sanh. Vì sao Tín, Nguyện, Hạnh chẳng đủ? Nguyên nhân căn bản là chẳng có tâm muốn thoát ly. Tâm muốn thoát ly là tâm ‘chán ghét Ta Bà, vui cầu Cực Lạc’.

Người xưa nói:

“Nguyện thoát ly Ta Bà như tù nhân trông mong có ngày thoát ra tù ngục,

Nguyện sanh Cực Lạc như kẻ nghèo hèn tha phương ăn xin nơi đầu đường xó chợ, lòng cứ mong ngóng được trở về cố hương cha hiền ngày đêm tựa cửa đợi chờ.”

Chúng ta dù chỉ một tí ti nào cũng chẳng giống, chẳng chân thật! Tâm muốn thoát ly là cốt lõi của Tín Nguyện vậy!

Cổ Đức bao lượt khuyên bảo chúng ta buông xuống, ngôn từ hết sức thống thiết, chẳng gì không mong khích động chúng ta. Vì tim chúng ta bị chai đá đã lâu, nên chẳng thiết tha gì tới chuyện thoát ly sanh tử. Mọi người ai cũng nói “Ôi chao, buông xuống sao mà khó quá, buông không nổi, buông không nổi!”

Thật ra đâu phải là buông không nổi! Mà là chúng ta chẳng nỡ buông, chẳng cam lòng buông xuống! Hãy nghĩ xem đúng không? Chẳng nỡ buông xuống tài sản của cải, vẫn chẳng nỡ buông xuống con cái cháu chắt, chuyện gì cũng muốn bận tâm; Chẳng nỡ xa lìa ruộng vườn; Chẳng nỡ xa lìa những căn nhà mang tên mình; Chẳng nỡ buông xuống những lời cung kính tán thán của người khác đối với mình… Những thứ này đều là các sợi dây xích, trói chặt chúng ta trong lục đạo luân hồi.

Chẳng nỡ buông xuống cho nên cội rễ sanh tử sẽ tăng trưởng theo, vô lượng kiếp rồi lại vô lượng kiếp trải qua, chẳng biết tới lúc nào mới có thể thoát ly. Đối với tham ái chúng ta đầy vướng mắc trong lòng; đối với sân hận chúng ta cũng nắm chặt trong lòng, vậy thì làm sao vãng sanh cho được? Vì vậy trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Đức Phật cảm thán: “Người ta bị vợ con, nhà cửa trói buộc còn sâu chắc hơn là bị ở tù. Bị giam trong ngục tù còn có ngày thoát ra, còn của cải và vợ con chẳng có ý niệm nào xa lìa nổi”.

Đời khác chi là cảnh bọt bèo,
Không thể tránh khỏi ngày tan rã.
Thật là kiếp con người tạm giả,
Thế gian là mồ mả của người;
Kể từ khi mới có đất trời,
Kéo dài đến cõi đời hiện tại.
Trái đất của người đang ở đấy,
Không chỗ nào chẳng có thây chôn;
Thây người nầy ra đất ra bùn,
Mọc rau cỏ nuôi thân người khác.
Thây kiếp trước mọc lên rau rác,
Kiếp sau ăn không biết là thường;
Người nối nhau chịu chết một đường,
Dù tài trí không phương cạy gỡ.
Kiếp sống ngắn lo lường vô số,
Ít sự vui sự khổ thì nhiều;
Ngày tháng quanh quẩn có bấy nhiêu,
Xưa nay vẫn một chiều không khác.
Người nầy thác kế người kia thác,
Sự thác là kết cuộc đời người;
Bất luận ai sống dưới gầm trời,
Không tránh khỏi ngày hơi thở dứt.
Thế thì khá nên tin lời Phật,
Lo tu cho giải thoát kiếp phàm;
Các nghiệp mê cõi thế không làm,
Tất là khỏi bị sanh tử kiếp.
Tạo nghiệp tất nhiên là thọ nghiệp,
Nghiệp nào thì chịu kiếp nấy ra;
Nghiệp người ta sanh kiếp người ta,
Nghiệp thú vật sanh ra thú vật.
Nghiệp ác tất rơi vào chỗ ác,
Nghiệp lành thì được gặp chỗ lành;
Chúng sanh tùy nghiệp tạo mà sanh,
Có sanh tất phải đành có tử.
Việc sanh tử muốn cho rảnh sự,
Nghiệp hồng trần chớ thứ nào gây;

Mỗi ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, chúng ta hãy quay lại hồi tưởng một lát, trong hai mươi bốn giờ ấy, thời gian tâm chúng ta nghĩ tới Cực Lạc có được bao lâu? Còn tâm nghĩ tới Ta Bà lại là bao lâu? Tâm nghĩ Ta Bà của chúng ta nhiều, tâm nghĩ Cực lạc quá ít ỏi! Ít tới mức đáng thương, thiệt là quá ít. Trong hai mươi bốn giờ đồng hồ có mười phút nghĩ tới chuyện vãng sanh hay không? Tỷ lệ này quá chênh lệch! Đó là nói trong một ngày, nếu ngày nào cũng vậy, cứ như vậy mỗi một năm trôi qua, chúng ta lấy gì để vãng sanh? Nghĩ vậy mới biết đời tu của chúng ta nguy hiểm tới chừng nào!

Hãy nên luôn tự nhắc nhở mình rằng hết thảy đều mọi thứ trên trần gian này đều là giả hết. Chỉ có niệm Phật thành Phật mới là thiệt. Đó là thật sự nghĩ tới Cực Lạc thế giới, khẩn thiết không thể đợi được nữa, chúng ta cầu như vậy mới chẳng là nguyện suông. Hãy mau mau gia công, nỗ lực.

Triệt Lưu đại sư khai thị cho cư sĩ Đinh Canh Dã như sau:

“Ví như con thuyền to chở được rất nhiều hàng hóa, muốn đi đến nơi nào đó, dẫu cho cột buồm chẳng phải là không cao, bánh lái chẳng phải là không ngay, lương thực, vật dụng chẳng phải là không hoàn bị, ý chí ra đi chẳng phải là không nhất quyết, có cái thế nương gió căng buồm chớp mắt là đi được cả ngàn dặm, nhưng nếu chưa chịu nhổ cây sào cắm thuyền lên, và sợi dây neo vẫn còn buộc chặt, thì cho dù đun đẩy đủ cách há thuyền có thể đi được hay chăng? Hiện tại, người tu Tịnh Nghiệp suốt ngày niệm Phật, sám hối, phát nguyện, vẫn còn cách xa Tây Phương, khó chắc được vãng sanh thì không gì khác hơn là chưa nhổ được cọc Ái, chưa chặt đứt được sợi dây Tình.”

Tổ sư cử một thí dụ:

Một chiếc thuyền đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ, sắp sửa ra khơi, nhưng đầu thuyền bị một sợi dây neo buộc chặt nên chẳng đi đâu được. Đây là ví như người niệm Phật, suốt ngày niệm Phật nhưng Tây Phương còn rất xa xôi, chẳng nắm chắc vãng sanh. Nguyên nhân là vì chưa nhổ được cọc Ái, chưa dứt được sợi dây Tình. Đó tức là “chưa chặt đứt tham ái, tức chưa chặt đứt gốc rễ sanh tử”. Tiếp theo đây, Ngài dạy chúng ta phương pháp đối trị:

“Nếu có thể xem chuyện ân ái cõi Ta Bà giống như nhai sáp, chẳng quản rảnh – bận, động – tịnh, khổ – sướng, buồn – vui, hãy dựa vào một câu Phật hiệu giống hệt như dựa vào ngọn núi Tu Di, hết thảy cảnh duyên chẳng thể dao động; mỗi khi biết mình mệt mỏi, biếng nhác, hoặc khi tập khí hiện tiền liền dũng mãnh đề khởi nhất niệm như vung thanh Ỷ Thiên kiếm khiến cho phiền não ma quân không nơi trốn núp, lại cũng giống như lò lửa to lớn đang hừng hực cháy, khiến cho vô thỉ tình thức cháy sạch chẳng sót thì người ấy tuy đang sống trong cõi ngũ trược, nhưng toàn thân đã ngự trong cõi nước liên hoa, nào còn phải chờ Di Đà đưa tay, Quán Âm khuyên lơn, khen tặng, mới tin mình sẽ được vãng sanh nữa ư?”

Chúng ta niệm Phật đã bao nhiêu năm rồi, có nắm chắc vãng sanh hay không?

Ngẫu Ích đại sư có một tiêu chuẩn để đo lường: “Tình đời lạt bớt một phần thì Phật pháp sẽ có thêm một phần đắc lực. Sanh kế Ta Bà nhẹ bớt một phần, chuyện sanh Tây Phương sẽ vững chắc thêm một phần. Chuyện này chỉ có thể tự hỏi tâm mình, chẳng cần phải hỏi thiện tri thức nào khác. Thiện tri thức cũng chỉ khuyên coi nhạt tình đời, nhẹ bớt bôn ba sanh kế, chuyên tu tìm lối thoát mới là quan trọng”.

Trong tâm chính mình phải rõ ràng, phải nên tiêu cực đối với thế giới này thì mới tích cực đối với Tây Phương Tịnh Độ. Đối với Ta Bà càng có thể buông xuống được thì đối với Cực Lạc mới có thể nhấc lên được. Đối với thế giới này cảm tình càng lợt lạt thì đối với Cực Lạc thế giới cảm tình càng ngày sẽ càng thêm sâu đậm. Sanh kế Ta Bà nhẹ một phần, vãng sanh Tây Phương sẽ nắm chắc thêm một phần; Sanh kế Ta Bà nhẹ mười phần, vãng sanh Tây Phương sẽ nắm chắc mười phần.

Phật hiệu của chúng ta cứ thường bị ngoại duyên cắt đứt, chẳng thể thường niệm liên tục.

Lúc trước, có một vị cư sĩ, ông ta là một người rất tốt, tổ chức rất nhiều Đoàn Niệm Phật, khuyên rất nhiều người niệm Phật. Nhưng chính ông ta chẳng có thời gian niệm Phật, mỗi ngày đều có người đến mời ông sắp xếp công chuyện ở đạo tràng, hoặc mời ông đi thăm bệnh nhân, hoặc mời ông đi hoằng pháp lợi sanh. Cả ngày chạy tới chạy lui, ngoại duyên quá nhiều, thường bận rộn đến nỗi chẳng có thời gian ngủ nghỉ, tâm danh lợi của ông chưa buông xuống nổi. Lúc đó, có người cảnh cáo ông rằng: “Nếu ông không lắng lòng niệm Phật, sẽ chết rất khó coi lắm đó!”. Đợi đến khi ông muốn từ chối các ngoại duyên, muốn đóng cửa tĩnh tu, căn bản là không thể nào yên tĩnh được. Có một lần, ông ngã bịnh, trong tâm nghĩ thừa lúc dưỡng bịnh ở nhà an tĩnh mấy ngày để niệm Phật, không ngờ điện thoại từ sáng tới tối cứ reo hoài chẳng ngừng. Cắt dây điện thoại liền có người gõ cửa kiếm ông, nườm nượp chẳng dứt, ngoại duyên nhiều đến nỗi chẳng thể nào cự tuyệt. Cuối cùng, trong một lúc gặp tai nạn ngoài đường, ông chết đột ngột. Lúc chết, chẳng có một người thân hoặc đạo hữu nào ở kế bên. Sau khi chết liền bị đưa đến phòng đông lạnh trong bệnh viện. Đợi đến lúc người thân đến mở tấm vải che mặt ông, thật đúng như lời người đã cảnh cáo ông lúc trước “chết rất khó coi”.

Chuyện này là một “tấm gương của chiếc xe đằng trước bị đổ” rất sâu sắc, đáng cho chúng ta suy gẫm, hy vọng chúng ta sẽ không đi theo dấu vết xe trước. Rất nhiều người bận rộn tối ngày, họ không biết chuyện gì mới là chuyện lớn nhất, quan trọng nhất trong đời này? Trong tâm chúng ta, tự mình phải phân biệt rõ ràng, tự mình phải tự lượng sức của mình. Người thượng căn đương nhiên có thể thường niệm chẳng dứt trong hết thảy mọi cảnh duyên bên ngoài. Nhưng chúng ta là kẻ hạ căn, nếu muốn thành tựu, nhất định tâm phải kiên quyết, tạm thời phải cự tuyệt ngoại duyên. Tốt nhất là chẳng có ngoại duyên, đừng chủ động phan duyên! Một khi vướng vào các ngoại duyên, nó sẽ làm cho ta chẳng có cách nào chạy thoát.

Do vậy, Tây Phương Xác Chỉ có đoạn chép: “Tám chữ ‘cưỡng thuận nhân tình, miễn tựu thế cố’ nghĩa là: miễn cưỡng thuận theo nhân tình, gượng ép thuận theo thế nhân, đã làm lầm lẫn đại sự của đời chính mình. Đạo nghiệp chưa thành, vô thường đã đến nhanh chóng. Hãy nên ẩn giấu tông tích, cất giấu tài năng, nhất tâm hướng về đạo, không thể lầm lẫn nữa”.

Tỉnh Am đại sư là vị tổ thứ mười một của Tịnh Độ tông, lúc Ngài còn tại thế, cư sĩ Mao Tĩnh Viễn là một vị thường được quần chúng đương thời tán thán là một nhà đại từ thiện. Đại sư đã viết một lá thơ khuyên ông niệm Phật như sau:

“Cư sĩ dựng cây cầu xong có thể nói là không công nào lớn hơn, nhưng tâm cư sĩ ham làm lành không chán; vừa xong một việc lành này, đã làm ngay việc lành khác, hay thì hay đấy, nhưng việc lớn sanh tử thì như thế nào?

Nếu chẳng coi việc lớn sanh tử là gấp, cứ cắm cúi làm lành, thì sự lành dù to như núi Tu Di, cũng đều là nghiệp duyên sanh tử, biết đến ngày nào xong? Thiện sự càng lắm, sanh tử càng rộng!

Một niệm ái tâm, muôn kiếp trói buộc, có đáng sợ hay chăng?

Cư sĩ tham cứu thấu đạt công án thế gian từ lâu, đã tu tập Tịnh Nghiệp Tây Phương từ lâu, nhưng cái tâm sanh tử chẳng tha thiết, gia duyên chưa buông xuống được, tạ tuyệt nhân tình chưa nổi, tâm niệm Phật chẳng chuyên là vì sao? Vì gốc lợi danh chưa đoạn đó chăng? Vì ái niệm lôi kéo, ràng buộc đó chăng?

Ðối với hai điều ấy, ông hãy nên để tâm suy xét kỹ. Nếu như chẳng thể chặt đứt hết thảy gia duyên, thế sự, tận lực vâng giữ sáu chữ hồng danh mà mong thoát khỏi Ta Bà, mong sanh về An Dưỡng thì khó lắm đấy!

Chẳng sanh về An Dưỡng mà muốn thoát khỏi sanh tử, đã chẳng thoát khỏi sanh tử mà muốn khỏi bị đọa lạc, xét ra, càng khó hơn nữa! Ví dù một đời, hai đời chẳng đánh mất thân người, liệu có kham nổi mãi không?

Than ôi! Cư sĩ huệ tâm lanh lợi, sáng suốt như thế, gia duyên sung túc như thế, con cháu hiền năng như thế, việc gì cũng vừa ý, mà còn chẳng thể buông nổi vạn duyên, nhất tâm niệm Phật thì là trời phụ người, hay người đã phụ trời vậy?

Chẳng lấy việc niệm Phật làm gấp, chỉ lấy chút điều lành nhỏ trong đời làm gấp, chẳng lấy việc lớn sanh tử làm đầu, chỉ coi phước báo nhân thiên là trọng, thì là hạng chẳng hiểu trước, sau vậy!

Tuy cư sĩ chẳng cầu phước, nhưng thường làm phước, tuy muốn thoát sanh tử, nhưng lại bị trở vào trong sanh tử, đều là do chẳng biết rằng mình đã lơ là cõi kia, coi trọng cõi này, đến nỗi bánh xe đã xoay ngược mà vẫn cứ mong tiến lên!

Bây giờ, việc chính của cư sĩ là hãy nên tạ tuyệt việc đời, nhất tâm niệm Phật, kèm thêm hai chữ “trì trai” thì mới thật là tận mỹ!

Nói chung, chẳng thể dùng lời lành khen ngợi khơi khơi để đạt đến cõi Phật Tây Phương, chẳng thể cậy vào lười biếng để thoát khỏi vạn kiếp sanh tử được! Vô thường nhanh chóng, ngày đêm nối tiếp lẹ làng, há chẳng sớm lo liệu hay sao?”

Trong cuộc sống, mọi việc lành đều tùy duyên tận lực mà làm, nhưng phải hồi hướng cầu sanh Tây Phương. Cách hướng hồi hướng là thế nào? Là phải, “Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật Quốc”. Nghĩa là thân thì làm phước làm thiện mà tâm thì luôn nhớ Cực Lạc, nhớ Phật, niệm Phật. Không bị danh lợi trói cột cái tâm của mình, ai khen không mừng, ai chê cũng không buồn. Nếu vừa niệm Phật vừa làm từ thiện mà chẳng dính danh lợi thì rất tốt, nên duy trì phương thức này để vãng sanh phẩm vị cao; Còn nếu như, tự cảm thấy khó quá thì phải bớt làm lại, xem chuyện niệm Phật vãng sanh là chuyện quan trọng nhất của cuộc đời, đừng để cho tâm tham đắm danh lợi lừa gạt mình, phải đọc kinh sách và nghe pháp nhiều hơn, nhất là những lời khai thị của chư Tổ để mở trí thì sự tu mới không bị thất bại.

Liên Trì đại sư dạy: “Vọng niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc. Bệnh lâu ngày, chẳng thể chỉ dùng một thang thuốc liền trị lành được! Vọng niệm tích lũy lâu ngày, chẳng thể dùng một ý niệm tạm thời mà có thể diệt trừ, cùng một đạo lý! Đừng để ý lo nghĩ về những vọng niệm lung tung này, chỉ quý ở chỗ niệm Phật tinh tấn, thiết tha. Từng chữ rõ ràng, từng câu nối tiếp nhau, ra sức chấp trì thì mới có phần thăng tiến. Tích lũy chân thật lâu ngày, đến một ngày nào đó, đột nhiên thành tựu, ví như mài chày thành kim, luyện sắt thành gang, nhất định sẽ chẳng sai. Nhập đạo có nhiều cửa, chỉ có một cửa này là đường thẳng tắt. Không thể chểnh mảng, coi thường!”

Câu Phật hiệu của chúng ta cứ thường bị hỷ nộ cắt đứt  nên không được duy trì liên tục. Chúng ta hãy suy tư về đoạn khai thị của Tử Bách đại sư:

“Pháp môn Niệm Phật, giản dị, thuận tiện bậc nhất. Nhưng người niệm Phật hiện nay đều chẳng có ý chí quyết định. Do vậy, trăm ngàn người niệm Phật, chẳng có một hai người thành tựu! Một câu Phật hiệu này, hết thảy Bồ Tát, hết thảy chư thiên, hết thảy mọi người, phàm những người được sanh Tây Phương, không ai chẳng nhờ một câu A Di Đà Phật này mà được thoát khổ hải. Nhưng tâm niệm Phật có chân thật hay không, có thể khám nghiệm trong hai lúc hoan hỷ và phiền não; tâm ấy chân thật hay không, liền có thể nhận biết. Người thật sự dùng chân tâm niệm Phật thì lúc hoan hỷ, phiền não, vẫn niệm niệm không gián đoạn. Phiền não không thể khuấy động người đó, hoan hỷ cũng không thể phá khuấy người đó. Phiền não và hoan hỷ đã không thể động tâm, thì khi gặp cảnh duyên sanh tử, sẽ tự nhiên chẳng kinh sợ. Người niệm Phật hiện nay khi gặp một chuyện hỷ nộ nhỏ, câu A Di Đà Phật bèn ném ra ngoài sau ót, vậy thì làm sao niệm Phật linh nghiệm được? Nếu niệm như tôi nói, nếu quả thật lúc yêu thích hay oán ghét cũng chẳng mất câu A Di Đà Phật, mà hiện tại không đạt được thọ dụng, lúc lâm chung chẳng thể vãng sanh, thì lưỡi tôi nhất định sẽ bị tan rã. Nếu quý vị chẳng thực hành theo lời tôi nói, niệm Phật chắc chắn sẽ chẳng linh nghiệm, lỗi ở nơi quý vị, chẳng liên can gì đến tôi”.

Phật hiệu của chúng ta cứ thường bị vọng tưởng cắt đứt, chẳng thể thường niệm chẳng dứt. Ấn Quang Đại Sư chỉ dạy như sau:

“Con người ở trong thế gian chẳng thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, đều do vọng niệm gây ra. Hiện nay lúc niệm Phật hãy nghĩ là mình đã chết và chưa vãng sanh. Trong mỗi ý niệm, hết thảy những ý niệm tình chấp trong thế gian đều gạt hết ra ngoài. Ngoại trừ một câu Phật hiệu này, chẳng để cho có một niệm nào khác! Làm sao có thể thực hiện điều này? Hãy nghĩ mình đã chết rồi, hết thảy vọng niệm đều chẳng cần thiết. Nếu có thể nghĩ như vậy, ắt sẽ có lợi ích lớn.

Còn lúc thường ngày có quá nhiều vọng tưởng, muốn có thần thông, có danh tiếng, có pháp duyên, đắc đạo… Như vậy là dùng vọng tưởng làm bổn tâm của mình, càng dõng mãnh tinh tấn, các vọng tưởng ấy sẽ càng lớn, càng nhiều. Nếu không tỉnh táo hay ra mà dập tắt vọng niệm ấy, thì sau này sẽ dễ dàng bị ma dựa phát cuồng, đâu phải chỉ là vọng tưởng mà thôi! Do vậy, phải gấp buông bỏ những vọng tưởng quá mức ấy.

Ngoài ra, Đại Sư còn khai thị rằng: Đại Thế Chí Bồ Tát dùng ví dụ ‘như con nhớ mẹ’. Tâm đứa con chỉ nghĩ về mẹ, những cảnh duyên khác đều chẳng để trong lòng, cho nên có thể cảm ứng đạo giao. Ví như con thơ nhớ mẹ, cả ngày không lúc nào chẳng nghĩ nhớ tới mẹ mình. Dù lúc ngủ nghê, tắm rửa, làm vệ sinh, sao có thể để tâm mình hoàn toàn quên bẵng chuyện niệm Phật cho được? Đã ghi nhớ chẳng chướng ngại, trong tâm niệm thầm cũng chẳng ngại. Người tu Tịnh Độ tùy phần tùy sức, há cứ phải buông hết vạn duyên mới có thể tu trì hay sao? Ví như hiếu tử nghĩ nhớ mẹ, kẻ dâm mê gái đẹp, tuy trong hằng ngày trăm việc bận rộn, một niệm này chẳng khi nào quên mất. Người tu Tịnh Độ cũng vậy. Mặc cho suốt ngày bận rộn, phiền toái, quyết chẳng quên mất niệm Phật, như vậy là đã đạt được điểm trọng yếu.

Nếu quả thật tâm vì sanh tử khẩn thiết, chỉ sợ đọa vào ba đường ác, chịu khổ vô lượng, mong thoát ra chẳng được, ắt sẽ thường niệm chẳng dứt câu Phật hiệu này. Nếu quả thật chua xót nghĩ tới vô thường giống như cứu lửa đang cháy đầu, lúc nào cũng nghĩ đến lúc lâm chung, câu Phật hiệu này ắt sẽ thường niệm chẳng dứt. Nếu quả thật có chân tín, thiết nguyện, niệm niệm đều cầu sanh Tịnh Độ, một phút một giây cũng chẳng chịu dừng lại ở cõi Ta Bà này, câu Phật hiệu này ắt sẽ thường niệm chẳng dứt. Ngược lại, câu Phật hiệu này cứ thường bị gián đoạn, thường quên mất, tín nguyện của chúng ta đã có vấn đề, phải hạ thủ công phu nơi chân tín, thiết nguyện. Nếu quả thật có thể thường niệm chẳng dứt, ắt sẽ đắc đạo nhanh chóng, giống như gương hạnh của chư vị đã được ghi chép trong các chuyện vãng sanh vậy!

Càng bịnh tật khốn khổ càng thêm thiết tha

Ðại Sư Ðạo Triệt đời Thanh, người huyện Tiền Ðường. Sau khi xuất gia sư bèn đi tham học nhiều nơi, đến chừng ngộ được bản tánh rồi liền chuyên tu Tịnh Nghiệp. Ngài trụ tại am Văn Thù ở Hàng Châu.

Ngài định kỳ bế quan: trong thất không để bất cứ vật gì, ngoại trừ một cái ghế và một cái giường nhỏ vừa đủ nằm mà thôi!

Mới nhập thất được vài ngày thì sư ngã bịnh rất nặng, sư tự cổ vũ chính mình: “Niệm Phật chính là vì sanh tử, lẽ nào lại vì bệnh mà biếng nhác ư?” rồi trì danh hiệu Phật càng thêm khẩn thiết.

Ðột nhiên, ánh sáng màu vàng chiếu rực cả thất, Phật xoa đầu Ngài, bệnh lành ngay lập tức; sư liền đắc Niệm Phật Tam Muội. Ði, đứng, nằm, ngồi trọn không còn có niệm nào khác. Suốt ba năm như thế, đến ngày rằm tháng ba, sư ra thất, lên tòa giảng kinh Pháp Hoa, bảo đại chúng rằng:

– Chừng bốn tháng sau, ta sẽ về Tây Phương; các ông có thể đến tiễn biệt!

Ðến kỳ hạn, sư bèn thiết lễ Vu Lan Bồn Hội. Chúng nhóm lại, nhắc lại lời sư dự báo trước đây. Ngài nói: “Quả có thế, hãy chờ một chút!”.

Ngày hôm sau, sư bèn dặn dò thầy trụ trì thiết trai giã biệt đại chúng rồi vào khám, ngồi yên lặng, dứt hơi thở. Giây lâu sau, tỉnh lại, bảo:

– Chia tay cùng các ông, chẳng thể không nói một lời: Ta Bà khổ không nói nổi, Cực Lạc vui không nói nổi. Nếu còn nghĩ nhớ đến tôi thì chỉ niệm A Di Ðà Phật, chẳng lâu sau sẽ lại thấy nhau. Bỏ lỡ đời này, mãi mãi lưu chuyển trong đêm dài sinh tử luân hồi, thống khổ vô cùng vô tận, đau đớn lắm thay, đau đớn lắm thay!

Nói xong bèn tịch, sư thọ bốn mươi tám tuổi.

Nhận định:

Bệnh càng bức bách càng thêm khẩn thiết cho nên đắc Niệm Phật Tam Muội. Thật đúng là lấy bệnh khổ làm thuốc hay, biến trở ngại thành thông suốt vậy! Tự chủ được trong khi bệnh thì lúc chết cũng tự chủ được nên có thể đi về tự tại là lẽ đương nhiên!

Tuyên nghĩa Hồ Nhân

Hồ Nhân sống vào đời Tống, làm quan đến chức Tuyên nghĩa. Hằng ngày, tuy tin tưởng Phật pháp, nhưng chưa hiểu rõ về pháp môn Tịnh Độ. Năm tám mươi bốn tuổi, ông bị bệnh nặng, người con đến mời Luật sư Thanh Chiếu đến chỉ dạy. Ngài Thanh Chiếu đến, bèn hỏi rằng:

– Ông biết an thân lập mạng ở đâu không?
Ông đáp:

– Tâm tịnh tức Phật Độ tịnh.

Ngài Thanh Chiếu hỏi:

– Từ xưa đến nay ông có vọng tưởng nhiễm ô không?

Ông đáp:

– Đã ở tại thế gian ai mà không có tạp niệm.

Ngài Thanh Chiếu nói:

– Như vậy thì làm sao đạt được tâm tịnh tức Phật Độ tịnh?

Ông nói:

– Niệm một câu danh hiệu Phật làm sao có thể diệt được tội nặng sinh tử trong tám mươi ức kiếp?

Ngài Thanh Chiếu nói:

– Đức Phật A-di-đà phát thệ nguyện tu hành trong vô lượng kiếp, uy đức rộng lớn, ánh sáng và thần lực không thể nghĩ bàn, do đó, niệm một câu danh hiệu Phật thì diệt được vô lượng tội, giống như ánh nắng mặt trời làm tan sương tuyết. Như thế, còn nghi ngờ nữa sao?

Hồ Nhân liền tỉnh ngộ. Trong ngày đó, ông thỉnh chư tăng đến nhà niệm Phật. Ngày hôm sau, ngài Thanh Chiếu lại đến. Ông liền hỏi: “Sao Ngài đến muộn thế? Hai vị Đại sĩ đến từ lâu rồi”.
Bấy giờ, ngài Thanh Chiếu bảo đại chúng niệm Phật lớn tiếng, Hồ Nhân chắp tay mà qua đời.

Bà họ Thôi

Vào đời Tống, bà Thôi làm nhũ mẫu cho nhà họ Lương, quê ở Đông Bình, Truy Châu. Bà ăn chay trường, nhưng rất thật thà quê mùa dốt nát, không thể cùng bạn bè tranh luận hơn thua. Người chủ là Triều phu nhân chuyên tâm học thiền, nhưng bà thì ngày đêm bên cạnh hầu hạ phu nhân âm thầm chí thành niệm danh hiệu Phật A-di-đà không chút xao lãng. Bà không cầm tràng hạt nên không biết niệm mấy nghìn tiếng.

Vào năm Thiệu Hưng thứ 18 (1148), bà đã 72 tuổi và bị bệnh khá nặng, nhưng giấu kín không cho ai biết, vẫn làm việc như bình thường chẳng hề nằm nghỉ, vẫn niệm Phật chuyên cần không cầu cho mau lành bệnh. Sau đó ít lâu, bỗng nhiên bệnh lành, bà buột miệng đọc bài kệ :

“Thích tu về cõi phương Tây,
Đã không gò núi, chẳng đầy hố hang,
Khi đi giày dép chẳng mang,
Bước chân sen đỡ dẫn đàng về Tây”.

Miệng bà cứ nghêu ngao mãi mấy câu như thế. Có người hỏi:

-Đó là lời của ai vậy?

Bà đáp:

– Của tôi đấy!

Người kia lại hỏi tiếp:

– Lúc nào bà đi?

Bà đáp:

– Đến giờ Thân ngày hôm nay tôi đi!

Quả nhiên, đến giờ Thân, tức 4 giờ chiều thì bà qua đời. Lễ hỏa thiêu của bà được cử hành như cách thức của các vị tăng. Lúc hỏa thiêu xong, cái lưỡi bà vẫn còn nguyên vẹn và có hình giống như hoa sen.

Bà họ Tiết

Vào thời nhà Minh có bà họ Tiết, là con gái của nhà thế tộc ở Vũ Đường. Khi sinh bà, mẹ bà nằm mộng thấy sao Trường Canh chui vào bụng. Về sau, bà về làm dâu ở nhà họ Chu, sinh được năm người con thì chồng qua đời. Bà ở vậy thủ tiết nuôi con và hằng ngày thờ cúng Quan Âm Đại Sĩ. Một hôm, bà đốt hương cúng dường, khói hương quyện tỏa thành hình hoa sen. Mọi người đều lấy làm lạ. Từ đó, bà chuyên tâm niệm Phật và bố thí không biết mệt mỏi. Bà niệm Phật suốt mười lăm năm không bỏ ngày nào.

Tháng năm, niên hiệu Vạn Lịch, nhằm năm Đinh Hợi (1575), bà mắc bệnh. Thầy thuốc bảo đem cháo sữa đến nhưng bà nhất định không dùng. Bà dứt hẳn cơm nước lẫn thuốc thang từ đó. Đến ngày mùng 6 tháng 9, bà cho mời chư tăng đến nhà cử hành lễ sám. Bà lại nói: “Bốn ngày nữa, việc của tôi sẽ hoàn tất”. Nói rồi, bà hướng về tượng Đức Phật A-di-đà ngày đêm chuyên tâm niệm danh hiệu Ngài. Đồng thời, bà căn dặn các con trai phụ giúp bà và cấm tuyệt đối không cho phụ nữ vào phòng.

Bấy giờ, đúng vào ngày mùng 9 tháng 9, bà lấy nước hương vẩy lên y phục sạch và cái ghế ngồi để tịnh hóa. Sáng sớm hôm sau, bà lấy nước rửa tay, tụng Cam lộ chân ngôn, mặc áo sạch sẽ, đội mũ Chí công, quỳ mãi trước tượng Phật A-di-đà và niệm danh hiệu của Ngài. Rồi bà đốt hương đọc bài kệ xưng tán Phật, xướng Tam quy y, lạy ba lạy, lần chuỗi niệm Phật 108 lần. Đến giờ Ngọ, bà ngồi ngay thẳng kết ấn qua đời. Bà chết mà thần khí vẫn tươi tỉnh, so với khi còn sống thì rạng rỡ hơn nhiều.

Lúc ấy, mọi người đều nghe mùi hương thơm của hoa sen ngào ngạt khắp gian phòng. Các con trai bà theo như lời dặn đưa thi thể mẹ vào khám. Ngày đưa đám tang có mấy nghìn người đến xem, ai nấy đều vui vẻ đảnh lễ.

Trước khi mất bà đã dặn dò các con chuẩn bị cái khám, không cần quan tài, không rước sát thần, không đốt giấy tiền vàng bạc, không giết sinh vật để cúng tế. Các con bà đều nghe theo không dám làm trái.

********

Trên đời, bất cứ làm việc gì cũng cần phải đúng nguyên lý nguyên tắc thì chắc chắn sẽ thành công, nếu không sẽ dễ dàng thất bại! Thế nên tuân thủ phương pháp là điều hết sức trọng yếu, cần phải lưu ý để tâm!!!

Chúng ta muốn cho sự niệm Phật của mình mau đến kết quả hiển diệu, nghĩa là được có hiệu nghiệm thật sự, thì trong lúc niệm Phật cần phải gồm đủ những điều dưới đây:

– Một là, trước khi khởi đầu niệm Phật, hãy ngồi lại ngay ngắn đừng dựa vào vách, phải ngồi thẳng lưng đừng để cong cúi, ngồi bán già hay ngồi kiết già tùy ý; song với người tại gia cư sĩ nên ngồi bán già tốt hơn. Bán già là chơn mặt gác lên vế chơn trái hoặc ngược lại, tức là một chân trên một chân dưới; còn kiết già thì chơn mặt gác lên vế chơn trái, chơn trái gác lên vế chơn mặt, cặp mắt ngó ngay chót mũi, lấy chót mũi làm ni, không ngó qua ngó lại, thong thả thở độ mười hơi để cho cơ thể điều hòa, vì vừa mới làm công chuyện, khi ngồi lại cơ thể chưa điều hòa, nên phải ngồi thở chừng mười hơi rồi sẽ bắt đầu niệm cho được bình tĩnh hơn.

– Hai là, khi bắt đầu niệm Phật, cần phải gom hết lòng tin tưởng Đức Phật hiểu mình đương ngồi niệm Phật. Mình tin Đức Phật hiểu mình đương ngồi niệm danh hiệu của Ngài, thì mình mới không phóng tâm nghĩ những điều quấy. Cũng như biết cha mẹ mình thấy rõ việc làm của mình, nên mình không dám làm càn.

– Ba là, tuy mình ngồi trong phòng kín hay ngồi nơi vắng, mình vẫn tưởng rằng Đức Phật Di Đà đang ở trước mặt mình và xung quanh mình đều có chư Phật mười phương đưa mắt ngó vào mình, lòng mình rất vui mừng cho sự trì niệm của mình có Đức Phật Di Đà chứng minh và có các Phật mười phương chứng kiến, không dám có cử chỉ nào vô lễ đối với các Ngài. Như ở thế gian đối với ông quan hay ông vua mình còn không dám vô lễ, huống gì đối với Đức Phật là đấng tối cao tối thượng, sánh cao ngàn muôn lần hơn vua quan ở thế gian, mình há dám khinh lờn sao?

Nghĩ thế mới khiến thêm sức kềm chế tâm mình trong lúc ngồi niệm Phật cho được đoan nghiêm.

– Bốn là, vừa để lòng tưởng có Đức Phật Di Đà trước mặt và có các Phật mười phương xoay chung quanh mình, đồng thời cần phải chận đứng tất cả mọi niệm tưởng xằng bậy, giữ tâm trí mình chỉ còn một niệm Phật, không một niệm nào khác. Tâm niệm ấy, phải được tha thiết van lơn cầu khẩn Đức Phật mở lòng từ bi gia hộ cho mình được trừ xong các nghiệp chướng, chẳng khác người ăn xin van cầu vị trưởng giả giúp họ cơm nước vậy. Nói rõ hơn, như người đói sắp chết cầu khẩn người khác giúp đỡ cơm vậy.

– Năm là, trong lúc niệm Phật rán gìn cho hơi thở và tiếng niệm được song phẳng nhau, nghĩa là cho điều hòa ăn nhịp giữa tiếng niệm với hơi thở, đừng thở mau niệm chậm, hay thở chậm niệm mau làm hai cái sai trệ nhau, mất thăng bằng trở nên điên đảo tâm trí xen nhớ tưởng những việc khác.

– Sáu là, “Đô nhiếp lục căn”: trong lúc niệm Phật chẳng những niệm bằng tâm mà luôn cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của mình cũng đều tập trung vào chỗ niệm, nghĩa là trong lúc đó mắt không vọng xem sắc đẹp, tai không vọng nghe tiếng hay, mũi, lưỡi, thân và ý cũng không vọng động việc khác, chỉ thuần một niệm Phật trong lòng.

– Bảy là, “Tịnh niệm tương tục”: trong lúc niệm Phật cần phải câu niệm rồi kế tiếp câu niệm tới, cái niệm tới kế tiếp cái niệm tới nữa, nó cứ dính liền nhau như sợi dây xích, khoen nầy liền khoen nọ, khoen nọ liền với khoen kia không để hở cách một khoản nào, khiến cho các vọng tưởng phàm phu không có nhân chỗ nào trống mà chen vào được, nghĩa là những vọng niệm ham tiền bạc, tưởng sắc đẹp, tham danh lợi, không thừa chỗ nào hư để chen vào phá rối cõi lòng.

Tâm niệm Phật của mình cứ theo mực đó mà niệm tới, lần lượt chỉ còn ròng rã một lòng niệm Phật, không xem vào các loạn tưởng nào khác, dầu cho lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói, nín vẫn nghe trong lòng mình có tiếng niệm Phật luôn, chẳng khác hơi thở lúc mình ngủ thức gì cũng thở tự nhiên, nghĩa là lòng mình vẫn nhớ niệm Phật khỏi phải kềm chế, không cần phải bắt buộc kềm chế nữa.

Được như thế, nếu túc căn của mình có nhiều, nghĩa là hột giống niệm Phật của mình ở kiếp trước đã có gieo thì nó hợp lại với sự niệm Phật của kiếp này, trở nên sức mạnh, tung cái vỏ mê si, nảy sanh trí huệ rất mau lẹ. Nhược bằng, kiếp trước của mình ít niệm Phật ít tu hành, hột giống trí huệ còn kém, chỉ mới niệm Phật kiếp này thì tuy nó chưa mở trí huệ ngay được, nhưng đến ngày mạng chung Đức Phật cũng hiện thân đến rước thần thức về cõi Cực Lạc.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, chương “Niệm Phật Viên Thông”, Bồ tát Đại Thế Chí dạy: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục”. Đây gọi là biết niệm. Niệm Phật như vậy thì chỉ cần niệm một tiếng Phật hiệu, trong kinh nói sẽ tiêu 80 ức kiếp trọng tội sanh tử.

Sao gọi là đô nhiếp lục căn? Lục căn là nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý. Nhiếp là thu nó trở về. Thế nên Ngài Mạnh Tử nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ”.

Lục căn của chúng ta nó thường chạy rong ra bên ngoài. Mắt chạy theo sắc trần, nhìn thấy sắc tướng, hợp với tâm ý của chính mình liền khởi tham ái, không hợp ý mình thì bài xích. Đây là mắt từ sáng đến tối chạy rong bên ngoài. Nhiếp là gì? Tức là thu trở về. Mắt không nên chạy rong bên ngoài, không nên chạy theo sắc tướng, mà phải thu trở về. Trở lại để nhìn điều gì? Trở là để nhìn vào tự tánh. Nhĩ không nên chạy theo âm thanh, phải thu trở về. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng pháp môn này. “Phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”. Quay đầu lại sẽ kiến tánh. Chạy rong bên ngoài, những điều ta thấy đều là sắc trần, thanh trần, lục trần. Lục căn tiếp xúc với lục trần, đây là tạo nghiệp luân hồi, khó mà ra khỏi luân hồi lục đạo. Còn tạo nghiệp này đều là tội. Quả báo ở tam đồ rất đáng sợ.

Ý căn. Ý là ý niệm, là tư tưởng. Nó duyên với pháp trần. Pháp trần là gì? Hình ảnh của tiền ngũ căn lưu lại gọi là pháp trần. Thông thường chúng ta gọi là ấn tượng, tức những nhớ tưởng đang nghĩ. Khi nhãn nhĩ tỷ thiệt thân rời cảnh giới bên ngoài, thì nó nghĩ đến hiện tượng này. Hôm nay gặp được người nào đó, gặp được việc gì đó. Nó đang nghĩ những điều đó. Thậm chí chúng ta xem ti vi, nghe quảng cáo. Cũng là lục căn chạy rong bên ngoài, nhưng không ai hiểu để thu nó trở lại. Thu trở lại sẽ như thế nào? Trở thành nhất tâm. Chỉ tâm nhất xứ, chế tâm nhất xứ đó chính là thiền định. Thiền định không phải là ngồi xếp bằng xoay mặt vào vách, thật sự thiền định là chế tâm vào một chỗ. Nên đi đứng ngồi nằm đều ở trong định. Trong kinh thường nói: “na già thường tại định, vô hữu bất định thời”. Trong hai mươi bốn giờ đều ở trong định. Dùng tâm như vậy niệm Phật sẽ được tịnh niệm. Tịnh là gì? Là không hoài nghi, không xen tạp. Chúng ta niệm Phật xen lẫn vọng niệm, khiến toàn bộ công phu đều bị phá hoại, thật không dể.

Tại sao chúng ta có quá nhiều tạp niệm trong tâm? Tại sao chúng ta có quá nhiều chuyện vướng bận? Tại sao chúng ta chưa thể buông bỏ? Điều này chẳng thể không biết. Có những tạp niệm này, niệm Phật chẳng những không thể diệt được tội, mà còn tăng thêm tội nghiệp, tăng trưởng tội nghiệp. Tăng trưởng tội nghiệp gì? Niệm Phật A Di Đà mà tâm không chân không thành. Vì sao? Bởi chưa thu nhiếp lục căn. Tâm không chân, không thành, đó là dùng vọng tâm, chứ không phải dùng chân tâm. Đã vậy, thì chẳng thể nào được vãng sanh. Đã chẳng thể nào được vãng sanh, thì hình thức niệm Phật hiện tại chỉ tạo si phước hữu lậu cho đời sau. Rồi đời sau nữa không thể không vào ba ác đạo để mà thọ khổ. Tội là như vậy, cổ đức gọi đây là oan gia đời thứ ba!

*******

Bảy bước này là nguyên lý nguyên tắc là chuẩn mực để chúng ta tuân thủ theo hầu dễ dàng đạt được tâm thanh tịnh an lạc, bởi vì vọng tưởng tan dứt nghiệp thức sẽ lặng dừng, phước huệ tất nhiên tăng trưởng, mục đích vãng sanh chắc chắn thành công mỹ mãn.

Tuy nhiên, thực hành được như thế chẳng phải là chuyện dễ dàng, cần phải có nền tảng của phước báu mới được, cũng như xây nhà, trước tiên phải xây nền móng kiên cố vững vàng, sau đó dần dần xây lên cao mới không sụp đỗ! Cho nên có nhiều vị hành giả tinh cần nhập thất chuyên tu, nhưng qua thời gian rất dài xem lại thì không hiệu quả gì cả. Vì vậy Đức Thế Tôn thuở xưa, trước khi dạy Hoàng Thái Hậu Vi Đề Hy tu pháp môn Tịnh Độ, thì Ngài đã dạy cho bà tu ba thứ phước báo thanh tịnh. Bởi vì vãng sanh Tây Phương là thành Phật, thì ít ra mình phải là con người tốt trong gia đình trong xã hội trước đã!

Hạ Ngươn kẻ phát tâm tu,
Cầu về Cực Lạc là đầu nhập môn.
Cõi ấy vốn người nhân thiện cả,
Ai muốn sang phải dạ lương hiền.
Cõi sen người phải như sen,
Gần bùn mà chẳng ố hoen mùi bùn.
Cõi lành kẻ dữ hung khó bước,
Phật từ bi chẳng rước bất lương.
Muốn về Cực Lạc Tây Phương,
Các điều hung dữ chớ vương điều nào.

Phương Pháp Niệm Phật như đoạn trên vừa nêu, hướng dẫn chúng ta tu ở tư thế ngồi trong thời khóa công phu thường ngày. Ngoài ra chúng ta cũng nên suy rộng ra là phải giữ làm sao cho thân tướng của mình trang nghiêm trong mọi tư thế đi đứng nằm ngồi, mọi nơi mọi lúc, ngay cả những khi ngủ nghỉ trong phòng kín hay trong đêm tối, oai nghi phải luôn đoan nghiêm, lòng luôn nhớ Phật, niệm Phật. Lúc nào cũng nghĩ như ta đang ở giữa ngã ba đường cái chợ đông, hiện giờ có cả ngàn cặp mắt đang ngắm trông nhìn mình. Từ dáng mạo cho đến ý niệm của ta, tất cả quỷ thần xung quanh đều thấy đều biết, mười phương chư long thiên thiện thần, chư Phật – Bồ Tát đều thấy đều biết. Phải đề khởi tâm kính sợ như vậy thì sự niệm Phật của mình mới có phần tương ưng với chí tâm, thành tâm, bởi vì niệm Phật mà không chí tâm, thành tâm thì khó mà vãng sanh Tịnh Độ!

Nếu muốn đề khởi tâm được chí thành cung kính thì trong đời sống hằng ngày, khi đối nhân xử thế tiếp người đãi vật chúng ta phải cố gắng tập thói quen thật lòng và tôn trọng mọi người xung quanh! Đừng nên tùy thuận tập khí giả dối, nói một đường nghĩ một ngã, hay làm một đường mà nghĩ một nẻo! Đây là căn bệnh thời đại làm chướng ngại lớn nhất cho sự vãng sanh! Bởi vì chấp nhận chân thật là chấp nhận thiệt thòi. Thử hỏi có mấy ai chịu lỗ lã thua thiệt chứ? Nhưng mà, cho dù có thua thiệt thì bất quá thua thiệt một trăm năm là cùng! Sau đó ta sẽ vãng sanh thành Phật. Suy xét suốt thông rồi chúng ta rất thong dong an lòng niệm Phật, kết quả tu hành chắc chắn được thành công chẳng khó khăn gì!

*******

Hoàng Thái hậu Vi Đề Hi, người nước Ma Kiệt, vợ vua Tần Bà Ta La ở kinh thành Vương Xá. A Xà Thế vì nghe theo lời xúi giục của Đề Bà Đạt Đa, bắt vua cha là Tần Bà Ta La giam trong nhà ngục bảy lớp cửa, cấm ngặt không cho các quan lui tới, cố ý bỏ vua chết đói. Thái hậu mới tắm gội thật sạch, lấy bột trộn với sữa và mật trét lên mình, trong chuỗi ngọc thời đựng nước nho, rồi vào thăm vua và lén dâng cho vua dùng. Ngài Đại Mục Kiền Liên và Phú Lâu Na vận thần thông bay đến truyền giới Bát quan trai và thuyết pháp cho vua. Mỗi ngày được ăn bột sữa uống nước nho, và được thọ giới nghe pháp, nên dầu bị giam cầm mà dung sắc của vua càng tăng phần khỏe mạnh vui vẻ.

Hai mươi mốt ngày sau, A Xà Thế được tin ấy, nổi giận, bèn cầm gươm vào cung định giết mẹ. Nhờ hai vị quan đại thần là Nguyệt Quang và Kỳ Bà hết lời can gián, A Xà Thế mới bỏ gươm, truyền lệnh nhốt Thái hậu trong cung, cấm không cho đến thăm vua cha nữa.

Thái hậu bị nhốt rất lo âu buồn thảm. Bà mới hướng về núi Kỳ Xà Quật, nơi mà Đức Bổn Sư đang ngự, cúi đầu đảnh lễ rồi vái rằng: “Ngày trước Đức Thế Tôn thường sai ngài A Nan đến viếng con, nay con đang gặp phải việc buồn thảm. Đức Thế Tôn oai đức cao trọng, phận con phước bạc không phiền nhọc đến Thế Tôn, ngưỡng mong Đức Phật cho Ngài Mục Liên và A Nan đến an ủi con!”.

Vái rồi bà tủi phận nước mắt trào ra, mọp sát đất mà lạy. Lúc đó, Đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật thấu rõ nỗi lòng của Thái hậu, liền sai Mục Liên và A Nan bay trên hư không mà đến hoàng cung, Đức Phật cũng rời núi Kỳ Xà Quật mà hiện ra trước Thái hậu.

Thái hậu Vi Đề Hi, sau khi mọp lạy ngước đầu dậy, chợt thấy Đức Phật thân màu vàng chói ngự trên tòa sen trăm thứ báu. Bên tả thời Mục Liên, bên hữu thời A Nan. Trên hư không, Thiên Đế cùng Phạm Vương và chư Thiên rải hoa trời cúng dường Phật. Thái hậu liền tự bứt bỏ những vòng vàng chuỗi ngọc, mọp sát trên đất khóc nức nở mà bạch với Đức Phật rằng:

– Đời trước con có gây lấy tội gì mà nay sanh đứa con bất hiếu đến thế. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn chỉ nơi nào không có sự đau khổ lo sầu để con vãng sanh. Con không còn muốn ở cõi trược ác này. Cõi gì mà đầy những địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh! Nguyện con đời sau không còn nghe tiếng ác, không còn thấy kẻ ác. Nay con kính lạy Đức Thế Tôn mà cầu xin sám hối. Xin Phật dạy cho con pháp quán tưởng nghiệp hạnh thanh tịnh.

Bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni Phật từ nơi lông trắng giữa chặng mày, phóng ánh sáng sắc vàng chiếu khắp vô lượng thế giới ở khắp mười phương, rồi ánh sáng ấy xoay về tụ trên đảnh của Phật, hóa làm hình một cái đài vàng lớn như núi Tu Di. Các cõi nước thanh tịnh trang nghiêm của thập phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy. Nương nhờ thần lực của Phật, Thái hậu thấy được tỏ rõ tất cả: có cõi nước như Tự Tại Thiên cung, có cõi nước thuần là liên hoa, có thế giới bằng bảy chất báu hiệp thành… Thái hậu ngắm kỹ tất cả rồi bạch Phật rằng:

– Những thế giới ấy dầu rằng đều thanh tịnh trang nghiêm, đồng sáng đẹp cả, nhưng con chỉ muốn sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà mà thôi. Mong Đức Thế Tôn dạy con cách tư duy tu tập, dạy con phương pháp thâm nhập chánh định.

Nghe Thái hậu thưa xong, Đức Phật mỉm cười. Ánh sáng năm màu từ miệng Phật phóng ra chiếu thẳng đến đầu vua Tần Bà Ta La. Lúc đó nhà vua dầu bị giam trong ngục kín, nhưng tâm nhãn bỗng khai thông, nên vua thấy được Phật. Nhà vua liền cúi đầu rập lạy tự nhiên đạo lực tăng tấn chứng quả A-na-hàm.

Đức Phật bảo Vi Đề Hi:

– A Di Đà Phật cách đây không xa, Thái hậu nên nhiếp tâm quán kỹ cõi nước Cực Lạc của Ngài. Ta sẽ giảng rõ pháp môn Tịnh Độ cho Thái hậu, và cũng để cho chúng sanh đời sau y theo tu hành đặng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu là người nào muốn sanh về cõi đó phải tu ba loại phước nghiệp:

1.- Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ thầy Tổ, giữ lòng từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành.

2.- Thọ trì tam quy y, nghiêm trì giới hạnh, chẳng phạm oai nghi.

3.- Phát Bồ đề tâm, tin sâu lý nhơn quả, đọc tụng Kinh Đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

Ba điều trên đây là chánh nhơn tịnh nghiệp của mười phương ba đời chư Phật.

Và sau khi giảng rộng mười sáu pháp quán tưởng xong, Thái hậu Vi Đề Hi cùng 500 cung nữ đồng thấy rõ cõi nước Cực Lạc, thấy rõ Đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí. Mọi người rất vui mừng, Thái hậu thoạt nhiên tâm trí sáng suốt chứng Vô sanh nhẫn. Năm trăm cung nữ phát Bồ đề tâm nguyện sanh Cực Lạc thế giới.

Đức Phật liền thọ ký cho tất cả đều sẽ được vãng sanh, và sau khi được sanh về Cực Lạc, tất cả những người ấy sẽ chứng được “Chư Phật hiện tiền Tam muội”.

*****

Phước thứ nhất bao gồm bốn điều:

– Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ thầy Tổ, giữ lòng từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành: Đây là phước báo tầng thứ nhất, thuộc về phước báo nhân thiên.

A/- Hiếu dưỡng cha mẹ

Hiếu thảo kính trọng ông bà cha mẹ vốn là một truyến thống quý báu của nền đạo đức luân lý Đông Phương, đây là nhân phẩm tốt đẹp cần có ở con người. Hiếu thảo chính là giá trị cốt lõi của đạo đức làm người.

Bởi vì:

“Công cha như núi Thái sơn;
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Công ơn cha mẹ thật quá lớn lao như núi cao, bể cả.

Mẹ thì chín tháng cưu mang, ba năm cho bú mớm, suốt đời chỉ biết hy sinh cho con. Khi đang ăn cũng như khi ngủ nghỉ, hễ con cần đến là có mẹ ở bên cạnh. Con lỡ đại, tiểu tiện ở trên mình, mẹ vẫn vui cười không chút hờn giận. Gặp cảnh nghèo hèn, mẹ nhịn bớt cơm cho con ăn, dành chỗ khô ráo cho con nằm (bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn). Rủi khi con đau ốm, mẹ ngồi bên cạnh, năm canh thao thức lo âu; chỉ khi con khỏe mạnh tươi cười, mẹ mới vui tươi hớn hở. Ca dao có câu:

“Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu tử”.

Mặt khác cha mẹ còn phải lo làm lụng vất vả để nuôi con. Nếu gặp cảnh nghèo khó, cha phải làm thuê, làm mướn, mua tảo bán tần, đổ mồ hôi đổi lấy bát cơm, manh áo cho con.

Ngoài ra, cha mẹ còn lo dạy dỗ cho con học hành, ngày đêm lo lắng đào tạo cho con thành người hữu dụng, khôn ngoan, khỏi thua kém chúng bạn.

Làm con phải nhớ ơn tông tổ,
Đừng quên câu báo bổ sanh thành;
Nếu con hiền sẽ gặp cha lành,
Chớ để hổ trước tình phụ tử.
Với muôn loài tràn trề tha thứ,
Cũng lo tròn hai chữ hiếu trung;
Nghĩa cao dầy nguyện đáp đến cùng,
Lòng son sắt thỉ chung như nhứt.
Dầu sao cũng ôm gìn đạo đức,
Sống thác luôn theo Phật đến cùng;
Mặc cho đời ghen tỵ hành hung,
Người Phật tử vẫn lòng kiên cố.
Ngày nào chưa qua nơi Tịnh độ,
Nguyện không rời khỏi ngõ Phật môn;
Tiếng chuông lành cứ mãi giục nôn,
Tỉnh thức khắp làng thôn muôn nẻo.

Công ơn cha mẹ nói ra bao nhiêu cũng không cùng.

Cho nên bổn phận làm con thì phải có lòng hiếu thảo tức là biết ơn khổ nhọc, biết cung kính ông bà cha mẹ, biết vâng lời, làm theo những lời chỉ dạy đúng đắn, chân chính. Nếu cha mẹ không hiểu biết gì về Phật pháp chúng ta phải cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cha mẹ được tiếp xúc với Tam Bảo.

Đức Khổng Tử đã từng dạy về ứng xử với cha mẹ: “Hiếu tử chi sự thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí ưu, tang tắc trí ai, tế tắc trí kỳ nghiêm” (Người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, ăn ở cư xử phải cực kỳ cung kính, nuôi dưỡng cha mẹ phải hết sức vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi qua đời lo việc ma chay phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải rất mực trang nghiêm). Điều quan trọng bậc nhất lúc cha mẹ nhắm mắt xuôi tay thì không nên khóc lóc, chỉ một bề thành tâm niệm Phật lễ Phật cầu nguyện cho hồn linh được siêu sinh Tịnh Độ.

Sống hiếu thảo là lối sống cao đẹp, biết quý trọng công ơn dưỡng dục của ông bà cha mẹ thể hiện miềm tri ân đối với các bậc sinh thành. Lòng hiếu thảo đối với các bậc sinh thành luôn được mọi người yêu mến và ngưỡng mộ. Giá trị của một người con không thể hiện ở sự giàu có sang trọng mà nó chính là ở tấm lòng hiếu thảo.

Hết lòng tìm mẹ

Chu Thọ Xương sống vào thời Tống, là con của quan Hình bộ thị lang Chu Tốn. Mẹ ông là Lưu thị, xuất thân thấp hèn. Năm Thọ Xương lên 7 tuổi, cha mẹ chia tay nhau không còn sống chung.

Về sau mẹ ông tái giá rồi theo chồng, biệt vô âm tín.

Sau khi Thọ Xương lớn lên, thường luôn nhớ nghĩ đến mẹ, song không còn chút manh mối nào để có thể biết được hiện giờ mẹ đang lưu lạc nơi đâu. Ông vì thương nhớ mẹ mà trong lòng không lúc nào nguôi được nỗi buồn. Cuối cùng, ông quyết định từ quan, nhất định lên đường tìm gặp cho được mẹ.

Ông trải qua vạn dặm đường, nếm đủ trăm cay ngàn đắng, lưu lạc khắp nơi nhưng vẫn chưa đạt được ý nguyện. Mỗi khi dò la được chút tin tức gì ở nơi đâu, dù rất mơ hồ, ông cũng lập tức băng đèo lội suối tìm đến tận nơi, hy vọng tìm gặp lại được người đã mang nặng đẻ đau ra mình.

Sự tìm kiếm của Chu Thọ Xương quả thật chẳng khác nào mò kim đáy biển! Thời gian trôi qua đã xóa hết đi mọi dấu vết mong manh mà mẹ ông để lại. Những lần dọ hỏi tìm tòi của ông phần lớn chỉ nhận được những cái lắc đầu ngơ ngác và những câu trả lời không manh mối. Dù vậy, ông vẫn nuôi hy vọng sẽ gặp lại được mẹ hiền, vẫn không mỏi mệt đêm ngày tìm kiếm khắp nơi.

Chu Thọ Xương vốn từ nhỏ đã tin theo Phật giáo, thường đến chùa lễ Phật, cúng dường Tam Bảo, cứu giúp người nghèo khó. Trên đường gian nan tìm mẹ, ông càng vững lòng tin hơn nữa, lúc nào cũng cầu nguyện chư Phật gia hộ cho việc tìm mẹ của mình sớm được kết quả. Hơn thế nữa, ông còn phát nguyện tự mình sao chép trọn bộ Từ Bi Thủy Sám thành rất nhiều bản, truyền rộng ra khắp nơi để làm lợi ích cho nhiều người. Bản thân ông cũng thường trì tụng không mệt mỏi và luôn để tâm tự xét những lỗi lầm của mình để sám hối và tu dưỡng.

Quả nhiên, sự quyết tâm và những nỗ lực của ông cuối cùng rồi cũng được đền đáp. Một hôm, ông phiêu bạt đến vùng Đồng Châu thuộc tỉnh Thiểm Tây, hết sức tình cờ gặp lại được mẹ. Tuy tóc bà đã bạc trắng, khuôn mặt khô gầy thay đổi rất nhiều qua thời gian, nhưng ông vẫn còn nhớ rõ như in và lập tức nhận ra ngay khi nhìn thấy bà đang chậm rãi bước đi trên đường. Kể cũng lạ, lúc bà ra đi thì Thọ Xương chỉ là đứa bé 7 tuổi, hôm nay đã lớn khôn trưởng thành, trải qua hơn hai mươi năm dài, thế mà hình dáng của mẹ vẫn được ông ghi khắc kỹ trong lòng, vừa thoáng nhìn là đã nhận ra được ngay.

Nhưng mẹ ông thì không tài nào nhận biết được ông. Ông vội vàng chạy đến gọi mẹ, vẫn thiết tha như ngày còn bé:

– Mẹ ơi, mẹ ơi! Con là Thọ Xương con của mẹ đây! Bà mẹ đứng sững lại, ngẩn người kinh ngạc:

– Trời ơi! Thật là con của mẹ đó sao! Làm sao con biết mẹ ở nơi này mà tìm đến?

Hai mẹ con đã hai mươi mấy năm không gặp, ôm nhau òa khóc giữa đường, quả thật là mừng vui chảy nước mắt! Rồi bà mẹ khóc nức nở, hỏi han việc những năm qua con sống thế nào. Thọ

Xương đem việc lang thang khắp nơi tìm mẹ kể lại, khiến bà không khỏi ngậm ngùi rơi nước mắt.

Thế là ông liền rước mẹ về nhà, hết lòng hiếu dưỡng. Từ đó ông mới nhận làm chức quan Tư nông thiếu khanh, ngoài việc triều chính ra thì dành hết thời gian để chăm sóc, phụng dưỡng mẹ già, dốc lòng hiếu thuận.

Không bao lâu, câu chuyện tìm mẹ của Chu Thọ Xương đã trở thành một giai thoại được truyền đi khắp nơi, ai nghe thấy cũng hết lòng ngưỡng mộ, kính phục.

Quả báo những người con bất hiếu
Con bất hiếu, cháu vô tình,
Ác tâm bỏ mẹ cha đói chết…
Thử hỏi thế nhân – tình nghĩa đâu?
Trời xanh chẳng tha thứ tội này!

Tại thôn X huyện Y thuộc tỉnh Cát Lâm, có một gia đình tám người trong một thời gian ngắn xảy ra bi kịch mà khắp “mười phố tám quê” ai cũng biết. Tuy đa số dân chúng không hiểu Phật pháp là chi, nhưng ai cũng cho đây là báo ứng.

Hai vợ chồng trong gia đình này suốt bao năm dày công dốc sức cấy cày nuôi dưỡng sáu người con gồm ba trai, ba gái, lo chu toàn trách nhiệm kẻ làm cha mẹ. Họ cưới dâu, xây nhà cho con trai ra riêng, sắm đủ của hồi môn để gả con gái. Thực hiện chu toàn những việc này không phải dễ, rất vất vả khó khăn, là điều hiển nhiên ai cũng thấy.

Người cha do lao lực quá độ mà bị bệnh nặng rồi qua đời. Trong thôn ai cũng than vắn thở dài cảm thán, nói ông mệnh khổ, nhưng bà vợ của ông mệnh càng khổ hơn. Vì ông mất chưa đầy một tháng thì bà bị xuất huyết não, dẫn đến bán thân bất toại phải nằm trên giường. Tuy bản thân có thể dùng tay trái để ăn cơm, song không thể tự đi vệ sinh hay tắm rửa, rất cần có người dìu đỡ chăm sóc.

Sáu đứa con gồm trai lẫn gái và sáu dâu rể, tổng cộng là 12 người, chưa tính đến cháu nội cháu ngoại, đã đối đãi như thế nào đối với người mẹ cả đời gian khổ vì con này?

Mới đầu họ sắp xếp hai người một nhóm, luân phiên chăm sóc mẹ. Nhưng chẳng bao lâu, vợ chồng ba đứa con trai cảm thấy rất chán ngán, phiền mệt, nên trong nhà bắt đầu xảy ra chuyện. Do giữa các nàng dâu và mấy cô con gái bất hòa, thường nổ ra gây cãi ầm ĩ. Vì vậy, họ cấm không cho bên con gái đem cơm chăm sóc cho mẹ nữa.

Mới đầu, ba con trai còn cho mẹ ăn, uống chút đỉnh. Sau đó họ nghĩ: “Nếu ăn uống thì phải đi nhà xí”…nên ba cô con dâu bắt đầu giảm khẩu phần ăn cho mẹ chồng. Có khi cả ngày không cho bà dùng món chi cả. Do con gái và ba cô con dâu không thuận hòa, nên mười ngày nửa tháng, họ cũng hiếm khi đến thăm.

Có lần ba cô con gái đến thăm mẹ, phát hiện ra bà yếu đến mức không còn sức, ghé sát tai vào mới nghe giọng bà thều thào:

– “Mẹ đói….mẹ đói”….

Thế là họ vội tìm chút gì đó cho mẹ ăn. Nào ngờ, ba nàng dâu thấy vậy nổi cơn thịnh nộ, chạy đến chỗ mẹ chồng đang nằm lớn tiếng quát lên:

– Bà mới dùng xong hai chén cháo, sao còn đòi ăn nữa? Có phải là muốn chết hay không? Bà nói vậy khiến con gái bà tưởng là chúng tôi bất hiếu đấy!

Nhờ ba cô con gái kiên trì, cuối cùng bà cũng được dùng một chút ít. Lúc cho mẹ ăn, ba cô gái thừa dịp chị dâu đi vắng, bèn luồn tay vào sờ thấy bụng mẹ hóp gầy, chứng tỏ lời ba chị là dối trá.

Thế là hôm sau, ba cô gái đem đến cho mẹ sáu cái trứng gà, bà mẹ ăn ngấu nghiến, chốc lát đã hết sạch. Sau đó như được tăng lực, bà mách nhỏ với ba con gái:

– Các con không đến thì tụi nó một chút ít cơm nước cũng chẳng chịu cho mẹ dùng, chúng muốn để mẹ chết đói đó!
Mấy ngày sau ba cô gái lại mang đến cho mẹ thức ăn ngon để tẩm bổ. Con gái đang cho bà ăn thì bị ba anh trai nhìn thấy. Họ liền vào giật lại, ném xuống đất, dùng chân chà đạp lên thức ăn, phẫn nộ mắng em không được cho mẹ dùng, viện cớ là bệnh bà xuất huyết não không thể ăn được đồ bổ, dễ bị xuất huyết. Họ bảo:

– Các cô mà làm mẹ chết thì ai chịu trách nhiệm đây? Muốn lo cho mẹ thì hãy rước mẹ về mà lo, đừng có tới đây chăm ăn mà không chịu cưu mang.

Chuyện trong nhà họ chẳng mấy chốc lan ra cả thôn đều biết. Không bao lâu, nơi sân họ vọng ra tiếng khóc lóc kêu gọi mẹ thảm thiết. Sự nhẫn tâm bỏ mẹ đói khát khiến cho bà cụ xấu số, bất hạnh đã phải sớm lìa đời. Tiếng các con bà khóc than, kêu gào nghe vang trời động đất. Họ mặc áo tang đưa mẹ đi chôn, giấy tiền vàng mã được ném đầy lên không trung, bị cơn gió lạnh phẫn nộ thổi bay tứ tán.

Một tháng sau đó, cậu con trai cả bị nghẽn mạch máu não phải vào cấp cứu ở bệnh viện tỉnh. Tuy được cứu sống, nhưng trở thành liệt nửa người, tay chân bị co rút.

Cậu cả xuất viện được một tháng thì cậu hai và nàng dâu cả tiếp nối vào bệnh viện. Họ cũng bị y chang chứng nghẽn tắc mạch máu não. Được 12 ngày, hai người này vẫn còn chưa xuất viện thì cô con gái thứ hai cũng đồng chứng bệnh như trên, phải nhập viện gấp.

Cô gái thứ hai xuất viện được hai ngày thì nàng dâu thứ ba cũng vào viện. Không phải bị nghẽn mạch máu não, mà bị thủng bao tử. Cô này vẫn còn đang điều trị thì chàng rể thứ ba bị xe tông văng ra xa hơn hai mét. Lúc đưa đến bệnh viện tuy còn thở, nhưng toàn thân xương cốt đa phần đều bị gãy, xương gối trái thì bị nứt, gối phải dập nát, suốt mấy tháng liền không cử động được.

Tính ra, người mẹ chết chưa đầy một năm thì con trai, con gái, dâu, rể….đã liên tục nối đuôi nhau vào bệnh viện. Người nào khi ra viện cũng tốn hơn vạn tiền. Có người đã bình luận trường hợp của họ thế này: “Bệnh viện tỉnh đã được gia đình các nghịch tử này ‘nuôi tốt’, vì thu được bộn tiền”.

Trong thời gian đó, câu chuyện bất hiếu của họ được đồn vang khắp nơi, ai cũng biết. Chuyện của họ trở thành đầu đề cho mọi người bàn tán lúc làm việc hay những khi nhàn rỗi.

Mặc dù địa phương đó rất ít người tin Phật, nhưng trong lúc luận đàm, ai cũng nhất trí nói rằng: “Đây chính là báo ứng cho những kẻ làm con mà bất hiếu!”.

Chuyện vẫn chưa hết, cậu cả dù bị bán thân bất toại, nhưng hôm nọ khi di chuyển qua đường, lại bị xe tông thêm một nạn nữa làm tổn thương não, thành ra người thực vật. Nghe nói đến nay vẫn còn nằm trong nhà.

Không bao lâu thì cậu hai bị viêm gan, bị cơn bệnh giày vò hơn một năm thì chết. Tiếp theo nàng dâu cả bị nghẽn máu não cũng lìa đời.

Láng giềng đều xầm xì kể cho nhau nghe: “Cháu trai, cháu gái nội ngoại đa số đều do một tay bà chăm sóc. Nhưng lúc bà bệnh nằm viện suốt thời gian dài, không đứa nào ngó tới, nghe mà chạnh lòng”. Chỉ mong các vị thiện tri thức dạy cho họ Phật pháp, để chuyển biến vận mệnh xấu về sau này. Nếu không, thiên lý trừng phạt công minh, kết cuộc bi thảm của hậu bối bà thật khó mà tưởng tượng nổi.

“Nghịch tử cố ý bỏ mẹ đói khát, ngầm hại chết mẹ”. Tuy dân chưa mách, quan chưa tra. Họ tuy không bị quốc pháp trừng trị, thế nhưng “lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát”. Những người con bất hiếu này, từng người, từng người đều thọ ác báo.

Đây thật là vạn sự vạn vật trên đời đều đang thuyết pháp cho chúng ta thấy. “Thiện nhân thuyết pháp của thiện nhân, ác nhân thuyết pháp của ác nhân”. Người thuyết pháp người, súc sinh thuyết pháp súc sinh”. Cần phải hiểu cho minh bạch, để mọi hành vi từ ăn, ở, đi đứng…đều áp dụng pháp Phật đã dạy. Sống phải hành xử như thế nào, là do chính mình quyết định chứ không ai khác.

Ban sưu tập xin đem những câu chuyện “hiện thế báo ứng trong đời sống” ghi vào đây chính là muốn cảnh báo nhắc nhở những người con bất hiếu nên cải tà quy chánh. Nếu không, một khi ác báo tới, có hối hận thì cũng đã quá muộn màng.

Lòng hiếu thảo làm cảm động cả mãnh hổ

Dư Nhất Bằng người huyện Ngân, tỉnh Triết Giang. Bình sinh tiên sinh hết sức hiếu thuận với cha mẹ, do cảnh nhà nghèo khổ túng thiếu nên phải tạm xa cha mẹ đi nơi khác mưu sinh, đến một thôn trang ở Hải Tân dạy học.

Một buổi tối, tiên sinh nằm mộng thấy chuyện lạ, giựt mình tỉnh giấc nói với người chủ nhà:

– E rằng cha tôi ở quê bị bệnh nặng, tôi xin phép được về nhà thăm cha gấp.

Trên đường về nhà đi ngang qua một ngọn núi vắng, bỗng gặp một con hổ rất lớn. Do tâm chí thành muốn được về thăm cha nên tuy đối diện với nguy hiểm như thế mà ông vẫn bình tĩnh không chút sợ hãi, thầm cầu nguyện trong lòng một cách hết sức thành khẩn: “Phụ thân ta bị bệnh nặng, phải gấp rút trở về hầu hạ chăm sóc; xin lão hổ thương tình, không nên cản trở bước đường của ta.”

Thật kỳ lạ, dường như con hổ đó hiểu được nỗi lòng của tiên sinh, nó tỏ ra hết sức cảm động, quay đầu bỏ đi.

Khi về đến nhà, phụ thân của ông trước đó đã bị hôn mê bất tỉnh, không còn biết gì cả. Lạ thay, vừa lúc ông về đến liền tươi tỉnh trở lại, nói:

– Con yêu của cha! Trên đường trở về con có gặp hổ không?

Dư Nhất Bằng lấy làm lạ, hỏi lại:

– Quả là con có gặp hổ, nhưng làm sao cha biết được?

Người cha nói:

– Lúc nãy cha bị người ta bắt đưa xuống minh phủ, nghe hai người mặc áo lụa đào nói chuyện, mới biết được thọ mạng của cha đã hết. Song do lòng hiếu thuận của con nên khiến cho mãnh hổ cũng cảm động bỏ đi, mà cha đây cũng được sống thêm một giáp nữa.
Sau đó, bệnh tình của phụ thân ông quả nhiên thuyên giảm, rồi sống đúng 12 năm nữa mới lìa trần.

Đổi tuổi thọ cho cha

Hoàng Đạo Hiền được tôn xưng là một người con chí hiếu vào triều Nguyên. Từ nhỏ ông đã bất hạnh mất mẹ, bao nhiêu nỗi nhọc nhằn gian lao đều do một tay cha ông lo liệu, nuôi dưỡng dạy dỗ ông nên người. Cảm nhận được công ơn sâu nặng của cha, Hoàng Đạo Hiền luôn hết lòng chăm lo săn sóc phụ thân, mỗi ngày hai buổi sáng tối đều thành khẩn hỏi thăm xem cha có được khỏe mạnh không, ăn ngủ có ngon không, xưa nay chưa một ngày xao lãng.

Một năm nọ, người cha mắc phải một chứng bệnh trầm kha, đã mời khắp các danh y đến chữa trị song bệnh tình vẫn không thuyên giảm, ngày càng trầm trọng hơn, đến nỗi thần thức hôn mê, nằm liệt trên giường. Tất cả danh y đều đã bó tay đầu hàng.

Ông thấy bệnh tình của phụ thân rất nguy cấp, ngày đêm buồn rầu lo lắng, quên ăn mất ngủ. Bấy giờ, ông không còn biết làm sao được nữa, bèn thắp hương khấn nguyện giữa đất trời, xin đổi một giáp tuổi thọ của chính mình để tăng thêm tuổi thọ cho cha.

Quả thật là “tâm thành tất ứng”, ông thành tâm cầu nguyện như vậy suốt mấy ngày đêm, thần thức của cha ông liền dần dần tỉnh lại, bệnh tật cũng lui dần. Rất nhiều danh y thấy người cha của ông không dùng thuốc nữa, mà lại dần dần bình phục đều ngạc nhiên cho là kỳ tích.

Sau cơn bệnh ngặt nghèo ấy, quả nhiên cha ông sống thêm được đúng 12 năm nữa rồi mới qua đời. Còn ông, tuy tự nguyện xin đổi tuổi thọ cho cha, nhưng ngược lại vẫn sống rất thọ, hơn nữa lại có một cuộc sống giàu sang sung túc, đến lúc lâm chung thân không bệnh khổ, an nhiên lìa trần.

Kinh Tâm Địa quán, Đức Phật sánh ví công đức của cha mẹ như núi cao biển rộng sông dài:

“Ân cha lành cao như núi Thái,
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ra”.

Sự đền ơn đáp nghĩa cho cha mẹ không gì hơn là phải thực thi năm điều mà kinh Thi-ca-la-việt ghi, 5 điều bao gồm: 1. Cung kính và vâng lời cha mẹ, 2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, 3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình, 4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại, 5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời.

Ngoài ra, Đức Phật còn đề cập bốn trách nhiệm để hướng dẫn cha mẹ sống đúng theo Chánh pháp:

1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam Bảo,

2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí,

3. Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng tâm làm việc thiện,

4. Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến.

Đặc biệt là khuyên hai đấng sanh thành nên tu Tịnh Độ, một lòng niệm Phật cầu về Tây Phương, đây chính là điều lành tối thượng, trong sự thực thi đời sống hạnh phúc, an lạc mà bất cứ là người con Phật nào cũng nên chăm chỉ cố gắng thực hành.

Trương Ngươn Thọ

Trương Ngươn Thọ, người ở Tinh Châu, tuy có tâm lành, nhưng gia đình của ông sống bằng nghề sát sinh. Sau khi cha mẹ qua đời, ông dứt nghiệp sát, phát tâm niệm Phật. Vì muốn cứu độ song thân, ông tạo tượng Phật A Di Đà cao một mét, để thờ nơi gian nhà cũ của cha mẹ ở. Hàng ngày, ông đều trì niệm lễ bái, hương hoa đèn nến thường tiếp tục luôn.
Một đêm, sau thời khóa lễ, ông nằm mộng thấy trong nhà hào quang rực rỡ. Trong ánh sáng có hơn hai mươi người thân tướng cao đẹp ngồi trên đài sen. Hai người trong đó bay tới trước kêu:

– Trương Ngươn Thọ!

Ông hỏi là ai, thì đáp:

– Chúng ta là cha mẹ của con, bình sanh tuy cũng niệm Phật, nhưng vì sát nghiệp quá nặng, nên khi chết đọa vào địa ngục Khiếu Hoán. Tuy đọa địa ngục song nhờ sức niệm Phật, nên sắt nóng cùng nước đồng sôi đều biến thành mát mẻ như nước. Hôm trước, có vị Sa môn thân vàng cao một mét, đến thuyết pháp. Chúng ta cùng hơn hai mươi người đồng nghiệp nơi địa ngục đều được thoát khổ sinh về Tây Phương. Do nhân duyên đó, chúng ta đến đây mách bảo cho con biết. Những vị ngồi đài sen đây là các vị đồng nghiệp được vãng sinh!

Nói xong, tất cả đồng bay về phương Tây. Tỉnh mộng, sáng ra ông liền đến chùa đem việc ấy thưa hỏi. Một vị tăng bảo:

– Đó là do tâm hiếu kính tạo tượng và chí thành tu niệm của ông hiện thành sức cảm ứng, nên tượng Phật đến cứu thoát được các đồng nghiệp nơi địa ngục, trong đó có thân phụ, và thân mẫu của ông.

B/- Phụng thờ Thầy Tổ

Ân đức của thầy cùng cha mẹ là giống nhau, là bình đẳng. Phong tục tập quán của người xưa cùng hiện tại khác biệt quá xa.

Thầy giáo thuở xưa là đem luân lý đạo đức của Thánh hiền truyền dạy, chúng ta mới hiểu được tường tận nguyên lý nguyên tắc làm người, hiểu được phương pháp cách thức hiếu dưỡng cha mẹ như thế nào, đối với anh em, thân thích và bạn bè bà con thôn xóm làm sao cư xử hợp với lẽ đạo hợp với tình nghĩa con người. Tất cả đều là do thầy dạy, cho nên đối với thầy phải phụng sự. Trong phụng sự, y giáo phụng hành là then chốt. Thầy giáo dạy bảo, chúng ta phải có tín tâm, phải có thể lý giải, phải thực hiện cho được lời dạy, như vậy mới không phụ công ơn của thầy. Đây là học trò hiếu học của thầy. Nếu như không tin đối với lời dạy của thầy thì nhất định không nên theo ông ấy học. Vị thầy có cao minh hơn, có giỏi hơn, có đạo đức, có học vấn, nếu ta không có lòng tin đối với ông ấy, ta ở trong lớp của ông ấy nhất định sẽ không có thành tựu. Cho nên lựa chọn thầy giáo không gì khác hơn lựa chọn một người mà ta tôn kính nhất thì sẽ thành công.
Để có thể duy trì sự tôn nghiêm của thầy giáo, không chỉ yêu cầu sự tôn kính và lễ nghĩa trong ngôn hành cử chỉ của học trò với thầy, mà còn là sự tôn trọng từ nội tâm, cần cù học tập, hiểu được đạo lý và uốn nắn bản thân. Dưới đây là vài câu chuyện về tôn sư trọng đạo của người xưa.

Vua Nghiêu bái sư học đạo

Vua Nghiêu trị vì thiên hạ, giúp cho đất nước thanh bình, hiền tài được trọng dụng, nhân tài ở khắp mọi nơi. Nhưng ông vẫn lo mai một nhân tài, nên thường xuyên đi vào núi sâu để cầu hiền học đạo.

Một lần, vua Nghiêu đi đến núi Vương Ốc và nghe thấy có tiếng đọc sách văng vẳng ở trong rừng. Đi theo âm thanh ấy vua tìm đến một ngôi nhà tranh thấy một đứa trẻ đang ngồi đọc sách. Vua

Nghiêu thấy cậu bé đang đọc một cuốn sách kinh điển về đạo đức liền hỏi:

– Cậu bé còn nhỏ tuổi thế mà đã có thể đọc hiểu được cuốn sách sâu sắc này hay sao?

Cậu bé đáp:

– Từ đầu cháu cũng không hiểu lắm, nhưng được Sư phụ giảng giải nên cháu dần dần hiểu ra.

Vua Nghiêu nói:

– Sư phụ của cậu là ai, tên họ là gì? Có đang ở đây không?

Cậu bé đáp:

– Sư phụ của cháu họ Doãn tên Thọ, đi ra ngoài hái thuốc chưa về.

Vua Nghiêu lại hỏi:

– Vậy sư phụ của cháu khi nào về?

Cậu bé trả lời:

– Cái này rất khó nói, có khi một tháng cũng có khi mười mấy ngày.

Vua Nghiêu thấy trong phòng toàn là sách, đa số đều là sách về đạo đức, còn có sách về thiên văn, vua nghĩ Doãn Thọ hẳn là một bậc cao nhân.

Trưa ngày hôm sau, vua Nghiêu lại sai tùy tùng chuẩn bị lễ vật, đến nhà Doãn Thọ, nhưng Doãn Thọ vẫn chưa về, còn cậu bé vẫn đang đọc sách, liền nói với cậu bé:

– Ta muốn gặp thầy của cháu mà chưa có cơ hội. Nay vì việc ở kinh thành nên ta phải về ngay, phiền cháu chuyển lễ vật đến cho thầy. Mùa xuân năm sau ta sẽ trở lại.

Cậu bé nói:

– Hôm qua cháu đã nghe hàng xóm nói Ngài là Thiên tử, sư phụ cháu vốn ít giao thiệp với quý nhân, những lễ vật này cháu không dám nhận, xin Ngài mang về cho.

Vua đành phải mang lễ vật về, những người tùy tùng đều cho rằng đứa trẻ này thật là vô lễ, vua nói:

– Trẫm lại rất thích sự ngây thơ của cậu bé, quả là đứa trẻ hiếm hoi trên thế gian, không hổ là đệ tử của bậc cao nhân.

Sau khi trở về vua Nghiêu kể lại câu chuyện của Doãn Thọ, trong đó có hai vị quan là em vua đều nói Doãn Thọ quả là bậc đạo sỹ, vốn muốn tiến cử ông với vua, nhưng biết rằng ông ở ẩn không muốn ra làm quan nên không tiến cử nữa. Vua Nghiêu nói:

– Trẫm nghĩ từ xưa đến nay các tiên đế đều cầu học bậc thánh hiền, như Hoàng Đế học với ngài Đại Điên, Chuyên Húc Đế học với ngài Lạc Đồ, Hoàng Khảo học với ngài Xích Tùng Tử. Doãn tiên sinh đức hạnh siêu quần lại đạo cao không muốn ra làm quan, trẫm sẽ bái làm sư phụ, đến tận nơi học tập. Hai ngươi hãy nhân danh trẫm đến giới thiệu trước rồi trẫm sẽ đến gặp sau.

Hai người tuân lệnh.

Đông qua xuân về, vua Nghiêu cùng hai người anh em đi đến núi Vương Ốc, khi nhìn thấy ngôi lều tranh của Doãn Thọ từ xa, vua đã cho xe dừng lại, ba người cùng đi bộ vào. Đi đến lều tranh thì chỉ thấy đồng tử đang ngồi đọc sách, vua liền hỏi:

– Sư phụ đâu rồi?

Đồng tử vội vàng chạy vào bẩm báo. Sau đó, Doãn Thọ đi ra cung kính nói với vua:

– Hôm trước thảo dân có việc đi ra ngoài nên Ngài đến mà thảo dân không biết để đón tiếp xin Ngài thứ lỗi. Thảo dân có nghe đệ tử kể lại ý vua, vô cùng lo lắng. Việc các bậc hoàng đế đi cầu học thời cổ đại là có, nhưng các vị ấy đều là những người thầy có đạo đức học vấn cao siêu hơn người thường, còn thảo dân đây chỉ là một kẻ ở trong núi sâu, học vấn đơn giản, đâu dám nhận là thầy của vua.

Vua Nghiêu liền trả lời:

– Đệ tử thực lòng muốn học, xin thầy giáo đừng từ chối.

Nói rồi vua đi đến bái thầy, Doãn Thọ vội vàng đáp lễ nhưng vẫn khước từ. Một vị quan nói:

– Chủ nhân của chúng tôi rất thành tâm, đã trai tịnh sạch sẽ trước khi đến, xin tiên sinh đừng từ chối.

Lúc này Doãn Thọ mới đồng ý.

Doãn Thọ mời vua và hai người anh em ngồi xuống nói chuyện, Doãn Thọ giảng về đạo đức và thiên hạ, vua nghe cảm thấy khâm phục vô cùng. Vua Nghiêu nói:

– Đệ tử muốn tìm một bậc đại thánh nhân để nhường ngôi vị, và muốn tìm những bậc hiền tài để trợ giúp.

Doãn Thọ nói:

– Vua khiêm nhường như vậy, nếu gặp được bậc thánh nhân xuất thế thì quả là hợp với chí nguyện của Ngài, đạo đức của Ngài là tấm gương cho thiên hạ. Các bậc thánh nhân trong thiên hạ còn có Sào Phủ, Tử Châu Chi Phụ, Y Bạc Tử, Bị Y, Phương Hồi đều là những hiền sỹ chân chính, ẩn cư trong núi, không xuất thế nhân.

Về sau vua Nghiêu đều đến học hỏi những vị hiền sỹ này.

Vua Nghiêu ở trong núi Vương Ốc mười ngày, hàng ngày Doãn Thọ đều giảng cho vua những kinh điển đạo đức, tối đến cùng vua quan sát thiên tượng, giảng về thiên văn, lý của các ngôi sao và dự đoán. Từ đó, vua Nghiêu bất kể đông hay hạ, thường đến học hỏi Doãn Thọ, vua rất cung kính đối với thầy, thường để cho Doãn Thọ ngồi trên còn mình ngồi dưới, hướng mặt về phía Bắc hành lễ cầu giáo.

Doãn Thọ nhiều lần giảng cho vua Nghiêu về đạo đức nhân nghĩa và đạo thanh tịnh vô vi. Vua Nghiêu thực hành rất nghiêm túc, thương yêu dân chúng, cai trị thuận theo thiên ý, khởi xướng đại đạo; định ra pháp luật, nghiêm cấm dối trá; khích lệ người dân phê bình những lỗi lầm của mình; xét xử công minh, trọng dụng hiền tài; nhân từ thương dân, luôn quan tâm đến bách tính muôn dân, trở thành một tấm gương trong việc trị vì đất nước.

“Sử ký” viết: Phẩm chất và tài trí của vua Nghiêu đều rất phi phàm, “kỳ nhân như thiên, kỳ tri như thần” (đức nhân của Ngài như trời, trí của Ngài như thần). Ông nêu cao tinh thần đạo đức, luôn lắng nghe ý kiến người dân, để lại cho hậu nhân một tấm gương về tinh thần tôn sư trọng đạo.

Sư Văn tôn sư kính học

Vào thời Xuân Thu, Sư Văn từ nhỏ đã lập chí học âm nhạc, khi ông nghe nói Sư Tương đánh đàn khiến cho chim chóc nhảy theo tiếng nhạc, cá nhảy ra khỏi mặt nước để nghe, liền chuẩn bị hành lý đến bái Sư Tương làm thầy.

Sư Tương là một người thầy nổi tiếng nghiêm khắc, không dễ dàng nhận đồ đệ, Sư Văn phải khẩn cầu ba lần, Sư Tương cuối cùng bị cảm động bởi thành ý và quyết tâm của ông nên đã thu ông làm đồ đệ. Sư Tương giảng nhạc lý cho ông, cầm tay dạy cho ông cách chỉnh đàn định âm, nhưng ngón tay của ông cứng ngắc, ba năm sau, cũng không đánh nổi một khúc nhạc hoàn chỉnh. Sư Tương nói với ông: “Con vẫn thiếu ngộ tính, học đàn không đủ chuyên tâm, tốt nhất là đi về đi.”

Sư Văn hối hận tự trách mình:

– Con biết, là do tâm của con thường hay vọng động. Con không phải là không thể chỉnh được thanh, định chuẩn âm, cũng không phải là không biết tấu một nhạc chương hoàn chỉnh, điều con quan tâm không chỉ là âm điệu tiết tấu, điều con thực sự muốn là dùng tiếng đàn để biểu đạt nội tâm mình. Khi con chưa làm cho âm nhạc phát từ nội tâm, rồi cảm ứng đến nhạc cụ, nên tay cũng không thể phối hợp tốt với dây đàn. Xin thầy cho con thêm thời gian xem có thể tiến bộ được không.

Từ đó, Sư Văn tĩnh tâm lại, chuyên tâm nhất trí, thanh trừ tạp niệm, hàng ngày chăm chỉ học tập, dụng tâm thể ngộ ý tứ mà âm nhạc biểu đạt, không ngừng hoàn thiện tu dưỡng. Một thời gian sau ông lại đến bái kiến Sư Tương, Sư Tương hỏi:

– Bây giờ con đánh đàn thế nào rồi?

Sư Văn trả lời:

– Đã chạm đến tâm can, xin thầy hãy nghe con đánh một khúc!

Sư Văn bắt đầu căng dây đánh đàn, đầu tiên ông tấu âm thương thuộc kim âm, một khung cảnh của tháng tám mùa thu hiện ra, tiếng đàn mang theo những làn gió thu mát mẻ, cây cỏ đều sắp đến mùa thu hoạch.

Sau mùa thu vàng óng, ông lại tấu một bài âm giác thuộc mộc âm, theo đó dường như có làn gió xuân ấm áp thổi về, hoa cỏ đâm chồi nảy lộc, đó là hình ảnh của một mùa xuân với vạn vật canh tân.

Tiếp đó Sư Văn tấu bài cung vũ thuộc thủy âm, hiện ra trước mắt là một mùa đông lạnh lẽo giữa tháng 11 với tuyết trắng bao phủ, sông hồ đóng băng.

Tiếp theo nữa, ông lại tấu cung chinh thuộc hỏa âm, đại biểu cho nhạc luật của tháng 5, khiến cho người ta cảm nhận thấy sự nắng nóng của một mùa hè rực lửa.

Khi nhạc khúc sắp kết thúc, Sư Văn tấu âm cung đầu tiên trong ngũ âm, kết hợp với thương, giác, vũ, chinh, từ bốn phía đều có gió nam thổi nhè nhẹ, những áng mây lững lờ trôi, dường như có một dòng cam lộ từ trên trời giáng xuống, dòng suối mát từ trong nguồn chảy ra.

Sư Tương nghe xong liền khen rằng:

– Tiếng đàn của con quá mỹ miều! Thực sự đưa người ta như đi vào khung cảnh vậy!

Thái độ học tập của Sư Văn vô cùng nghiêm túc, sau khi thầy giáo dạy rằng trước tiên phải làm được dụng tâm chuyên nhất. Ông đã cảm ngộ được sự cao siêu của nghệ thuật âm nhạc, cái chí của âm nhạc không ở thanh, mà ở “đắc tâm ứng thủ”, nhấn mạnh vào tác dụng chủ đạo của “tâm hồn” trong diễn tấu âm nhạc, “nội đức vu tâm, phương năng ngoại ứng vu khí”. Điển cố thành ngữ “đắc tâm ứng thủ” cũng sinh ra từ đó, miêu tả việc nỗ lực đến nhà thầy học tập, vận dụng nhuần nhuyễn cả bàn tay và trái tim; nó đã trở thành một nguyên tắc học quan trọng trong diễn tấu âm nhạc cổ đại Đông Phương.

Câu chuyện Sư Văn học đàn đã cho người ta một bài học rằng: Bất cứ việc gì cũng phải dụng tâm, học kỹ nghệ không chỉ là học kỹ thuật bên ngoài, mà còn cần lĩnh ngộ được nội hàm bên trong, hiểu rõ được cái lý, không ngừng đề cao tu dưỡng và ngộ tính, “đắc tâm” đi với “ứng thủ”. Dùng chính tâm, chính niệm để đạt được sự thanh tịnh, thân tâm hòa làm một, đạt đến cảnh giới tương hòa với trời đất.

Nhan Hồi hiếu học trong khắc khổ

Nhan Hồi theo học Khổng Tử khá muộn, nhưng ông khiêm tốn và ham học, rất nhanh đã lĩnh hội được sự uyên thâm trong học thuyết của Khổng Tử. Ông đã từng chia sẽ với đồng học rằng:

– Thầy giảng đạo lý, càng học càng thấy cao thâm, càng nghiên cứu càng thấy ảo diệu. Đạo lý tuy cao thâm, thầy lại từng ly từng tí chỉ dẫn chúng ta, dùng các loại tri thức và gương hạnh cổ nhân giúp kiến thức của chúng ta thêm phong phú, khiến chúng ta được nâng cao; lại dùng lễ tiết để ràng buộc chúng ta, khiến cho chúng ta muốn ngừng học cũng không thể được. Tôi thông qua nỗ lực dường như cũng có thể lý giải và thực hành được đạo lý ấy, song nếu muốn tiến về phía trước một bước nữa, vẫn cần phải tiếp tục học tập và thực hành.

Lúc đó quan đại phu nước Lỗ tên là Thiếu Chính Mão cũng mở lớp dạy học giống như Khổng Tử. Thiếu Chính Mão lấy lòng mọi người, tuyên truyền học thuyết xằng bậy, làm rất nhiều học trò bị dao động, cuối cùng khiến cho “Cửa nhà Khổng Tử ba ngày trước đầy môn sinh, ba ngày sau không còn một ai”, chỉ có Nhan Hồi chưa từng rời đi nửa bước. Có người hỏi Nhan Hồi: “Ông sao không tới chỗ Thiếu Chính Mão mà học vậy?”.

Nhan Hồi trả lời: “Một ngày làm thầy, suốt đời làm cha; vả lại học thức của thầy là tuân theo mệnh Trời, khởi xướng lòng nhân đức, chỉ ra đạo chân chính để làm người, cũng đủ để chúng ta học rồi, việc gì phải đi đâu nữa!”.

Nhan Hồi học tập hết sức khắc khổ. Nhưng dù điều kiện gian khổ thế nào, ông vẫn có thể sống thanh bần vui với Đạo. Sớm làm tối nghỉ, ra sức học hành nghiên cứu Thi Lễ, toàn tâm theo đuổi sự nghiệp học tập, đem những lời thầy dạy ôn lại nhiều lần, có thể “học một biết mười”. Khổng Tử khen ngợi rằng: “Nhan Hồi thật tuyệt vời, mỗi bữa chỉ ăn một bát cơm, chỉ uống một bát canh; ở trong gian phòng đơn sơ, có thể nhẫn chịu được những gian khổ mà người khác không cách nào nhẫn chịu nổi, chí hướng cao xa của bản thân không mảy may thay đổi, kiên trì bền bỉ học tập, thật giỏi lắm!”.

Cả đời Khổng Tử khởi xướng nền chính trị nhân từ và đạo đức, Nhan Hồi đã xem chí hướng của thầy như chí hướng của mình mà suốt đời làm theo. Ông đi theo Khổng Tử chu du các nước, chủ trương phát huy nền chính trị nhân từ. Nhan Hồi hướng về một xã hội hài hòa, nơi mà “việc giáo dục đạo đức được thịnh hành; vua và quần thần chung một lòng; trên và dưới hài hòa cân đối với nhau; đất nước thái bình, dân chúng bình an; người người đều nói lời nhân nghĩa và có quy củ; không có công sự phòng thủ hay thành quách; càng không có nỗi lo buồn về chiến tranh”. Nhan Hồi cũng cho rằng đường lối chính trị nhân từ là lấy Đức làm căn bản, do đó cần giáo dục dân chúng về đạo đức và lễ nhạc. Nhan Hồi kiên định lòng tin, quyết chí truyền bá đạo nghĩa, bất kể hoàn cảnh gian nan như thế nào cũng phải “làm được những việc khó làm”.

Khi bị vây hãm tại nước Trần và nước Thái, Khổng Tử và các học trò không còn lương thực, tình cảnh vô cùng khó khăn. Một đệ tử bắt đầu bàn tán, tư tưởng dao động, duy chỉ có Nhan Hồi là bình tĩnh thản nhiên, vẫn cung kính “đặt rau ngoài cửa” (mang tới một ít rau đặt ở trước cửa Khổng Tử), tỏ lòng kính trọng và không rời xa thầy. Ông nói:

“Đạo lý của Thầy đã đạt đến cảnh giới cực cao, cho nên không được một số người tiếp nhận. Cho dù như vậy Thầy vẫn dốc hết sức để phổ biến rộng rãi, lấy tâm nhân đức hòng cứu trăm họ trong cơn nước sôi lửa bỏng. Tuy rằng gặp ngăn trở và đố kị, không một ai tiếp nhận, nhưng có làm tổn hại đạo lý của Thầy được đâu? Có thể đây chính là sự quý báu của đạo đó! Trong bất kì hoàn cảnh nào cũng có thể giữ vững chính đạo không dao động, phải là bậc quân tử mới có thể làm được vậy. Không tu dưỡng chính đạo là nỗi nhục của chúng ta. Chúng ta đã truyền bá chính đạo, lại không được một số người chấp thuận, thì đó là điều đáng xấu hổ vậy!”.

Khổng Tử nghe được rất vui mừng nói: “Nhan Hồi có những kiến thức như vậy quả là quá tốt! Cỏ Chi và cỏ Lan sinh ở rừng sâu, không vì không có người mà không thơm; quân tử tu Đạo xây dựng Đức, không vì khốn cùng mà thay đổi khí tiết”.

Nhan Hồi gặp khó khăn mà không mất đức hạnh, đi theo Khổng Tử thực hành nhân nghĩa trong thiên hạ, nghị lực ấy khiến người ta phải kính nể. Từ đó về sau, “đặt rau” đã trở thành lễ nghi để tỏ lòng tôn kính thầy, cũng là một nghi lễ thịnh hành và lưu truyền tới hậu thế.

Nhan Hồi tuân thủ nghiêm ngặt lời dạy của thầy, tu thân lập đức, chế ngự dục vọng bản thân, khiến cho lời nói và việc làm phù hợp với yêu cầu của Lễ mà đạt đến cảnh giới của Nhân, xem việc thiên hạ là nhiệm vụ của mình. Lòng tôn kính thầy cùng với tinh thần dũng cảm theo đuổi chân lý của Nhan Hồi đã khích lệ người đời sau, lưu lại giá trị văn hóa quý báu và phong phú cho hậu thế.

Thọ Tâm Đại Sư

Thích Thọ Tâm, họ Mao, người ở Phương Thành tại Triết Đông. Từ khi mới sanh ra, sư chỉ ăn uống thức thanh đạm, không dùng sữa và thịt cá. Lớn lên, nhàm chán cảnh trần lao, lập chí tu hành xa lìa thế tục. Năm mười tám tuổi, sư vào chùa Tiểu Linh Sơn ở Thành Tây, nương theo Giới Am Pháp sư xuống tóc xuất gia.

Lúc sắp thọ Cụ túc, ngài Giới Am đau nặng, Thọ Tâm nghĩ: “Sự hoằng dương Phật pháp phải nhờ những bậc tôn túc như thầy mình. Tự xét bản thân mong manh tợ sương mai, mạng này đâu có chi đáng tiếc!”.

Do đó sư nấu nước thơm tắm gội, đến trước Tam Bảo đốt hương khấn nguyện, rồi trở về phòng mình tự mổ bụng, muốn cắt lá gan hòa với thuốc để trị bịnh cho thầy. Đâu hay vừa mới đưa dao rọc nhẹ vào bụng, bỗng đau đớn xây xẩm té xuống đất. Giây lát sư hồi tỉnh, bò lại giường thì phương đông trời đã rực sáng. Đại chúng phát giác, cùng nhau lo tìm thuốc băng bó vết thương cho sư.

Ngài Giới Am hay biết chuyện đó, gọi sư đến an ủi rằng: “Lòng hiếu từ của con tuy mạnh mẽ, nhưng trọn không phải là chánh hạnh của người tu. Huống nữa ta tự biết thời tiết nhân duyên, đã rõ sanh vốn vô sanh, thì có chi là diệt? Việc của con làm hoàn toàn do vọng tưởng, nhưng ta nghĩ thương một niệm hiếu thành, nên tạm lưu lại ít lâu!”.

Quả nhiên sau khi sư thọ Cụ túc trở về vừa độ một tháng, thì ngài Giới Am liền quy tịch. Thọ Tâm thiên tánh hiếu thuận, thương khóc quá phần, lo việc tẩn liệm chôn cất, mỗi mỗi đều chu đáo.
Không bao lâu, sư đem việc chùa giao phó cho pháp đệ là Liên Đường, còn mình thì đi các nơi tham học. Sư nghiêm giữ giới luật, tu hạnh đầu đà, đầu trần chân đất, từ mùa đông sang tiết hạ chỉ duy nhất một manh áo, thường chuyên lo niệm Phật. Mọi người thấy thế đều xưng gọi là Xích Cước Đại Sư. Mùa thu năm Tân Tỵ trong niên hiệu Quang Chữ, sư trở về chùa Tiểu Linh Sơn.
Lúc ấy nắng hạn đã lâu, những làng quanh vùng đều lập đàn đảo võ. Quan huyện là Tôn Công lòng lo như đốt, ngày đêm khẩn cầu mà chưa thấy ứng nghiệm. Thọ Tâm động lòng thương xót, đi thẳng đến ra mắt Tôn Công, an ủi khuyên chớ quá lo, việc cầu mưa để tự mình lãnh trách nhiệm.

Đến ngày Ất Mão, sư lập đàn trì chú, lễ bái sáu thời. Sang giờ Ngọ ngày Đinh Tỵ, mưa đổ xuống như trút dẫn đến chiều tối, ruộng nương đều đầy dẫy nước. Dân chúng trong vùng vui mừng hớn hở. Tôn Công xuất lãnh hàng thân hào lên núi tạ ơn, sư vẫn an tĩnh điềm nhiên, không lộ vẻ chi khác. Tôn Công than rằng: “Nay mới biết Tăng đức uyên thâm, không thể nghĩ bàn được!”.
Mùa thu năm Nhâm Ngọ, sư đóng cửa thất tạ tuyệt các duyên, mỗi ngày trì chú Đại Bi một trăm lẻ tám biến, niệm Phật 100 ngàn câu. Ngoài ra còn tụng danh hiệu Quán Âm, Thế Chí một ngàn lần, lễ hồng danh đức Thích Tôn và Tây Phương Tam Thánh, mỗi vị đều ba mươi lạy. Trong thất sư có nuôi hai con chó và mèo, mỗi ngày đều vì chúng quy y chú nguyện. Do đó nên mèo không bắt chuốt, chó chẳng ăn đồ dơ.

Sau ba năm, vào ngày mười chín tháng chín, sư ra thất. Đến đầu tháng mười một, sư nhiễm bệnh kiết lỵ nhẹ vài ngày rồi lành. Nhưng từ đó thân thể lần suy yếu, chư Tăng thay phiên hầu hạ, sư không cho, bảo: “Phận xuất gia, mỗi người đều có công khóa tu hành, đừng nên để lầm lỡ nhau. Nếu quả đến thời, ta sẽ cho người kêu gọi!”.

Đến chiều tối ngày hai mươi sáu, sư gọi các đồ chúng lại gần giường dạy rằng: “Đêm nay ta sẽ về Tây Phương, nên mau nấu nước thơm đem đến!”

Sau khi cạo tóc, tắm gội và thay y phục xong, sư ngồi kiết già xướng bài kệ khen ngợi công đức của Phật, bảo đại chúng hòa theo. Lúc niệm Phật độ hơn trăm câu, tiếng sư thấp nhỏ lần, đầu hơi cúi xuống. Bỗng lại ngước đầu lên ngay thẳng, nói: “Ta đi đây! Đại chúng nên trân trọng!”.

Rồi cao tiếng niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật!”

Niệm xong bèn viên tịch.

Đêm ấy hai con chó và mèo nuôi trong thất, cũng đồng ngồi thoát hóa. Mọi người đều bảo nó đã vãng sanh theo sư.

Bấy giờ nhằm năm Ất Dậu, niên hiệu Quang Chữ nhà Thanh.

C/- Từ tâm bất sát

Chúng sanh thọ thân nơi sáu nẻo luân hồi, không nẻo nào mà không luyến lưu tham sống; tiếp nhận hình hài trong trời đất, ngay cả loài nhỏ bé chẳng loài chi mà chẳng hốt hoảng sợ chết. Tuy rằng xuống lên ngàn bậc, ngu trí vạn tầng, mà biết tránh khổ cầu vui, tình này đâu khác?

Vì lẽ đó chim muông kinh hãi bay vào án thư, giống như xin vua Ngụy cứu mạng; thú vật cùng đường tìm đến am tranh, chính là cầu sống với họ Âu. Hán Vương bỏ mồi câu, liền cảm ứng minh châu đền đáp; Dương Bảo cúng dường hoa, thì dẫn đến vòng bạc đáp trả. Ngay cả Sa di cứu bầy kiến được thọ mạng kéo dài, Lưu Thủy giúp đàn cá trời tung xuống châu báu. Tương tự như vậy, làm sao mà kể ra cho hết.

Há cho phép phóng túng sát hại quá mức, vì ba tấc lưỡi mà nở đành nhẫn tâm cắt đứt mạng sống thú cầm, hoặc mua vui mà đoạn tuyệt ấm thân của chúng, tức thì khiến cho chúng đớn đau cùng cực rồi ôm nỗi oán hận lâu xa trải qua Hằng sa ức kiếp. Đất bằng tuy rộng núi cao biển sâu mà không nơi đâu cư trú an toàn, trời xanh thăm thẳm bao la lại không biết bày tỏ thế nào! Vì vậy trong Kinh thường nói:

“Tất cả đều sợ hãi dao gậy,
Không loài nào không quý mạng mình.
Suy gẫm kỹ tất nhiên hiểu rõ,
Đừng vung dao chém giết chúng sinh!”.

Nhưng chúng sanh phàm phu tục tử vì vô minh tà kiến điên đảo, hoặc vì lành dữ chung riêng cúng tế quỷ thần, chiêu đãi khách khứa bạn bè mà rình rang nhà bếp, giết mổ nấu hầm thân xác của nhiều vật loại, cung cấp món ngon làm bữa tiệc chiêu đãi mọi người.

Thảng như, năm tháng vút qua công việc rãnh rỗi, bầu trời ảm đạm mờ mờ sương giăng, hay lúc đồng hoang chói chang mà nổi lửa tứ bề, rồi cưỡi ngựa lao theo làn gió, ôm chim ưng bay nhanh như điện chớp, hoặc lùa đàn chó dữ hùng hổ săn lùng, cùng nhau dốc sức tụ hội vây chặt rừng rậm nọ kia, lật nhào hang ổ phá tan tành mọi chỗ cư trú của muôn loài, lưới giăng kéo dài đầy đồng trống, cạm bẫy đặt khắp núi non. Hoặc mặt trước lưới bủa kín, mặt sau người chặn lại, bên trái đánh đuổi, bên phải chém chặt, bụi đất mịt mù ngút trời khói lửa. Liền khiến cho chim muông mất bạn tan tác kinh hãi bay xa, thú hoang lìa đàn kinh hoàng tìm đàng tẩu thoát, chim nhạn nghe tiếng cung đạn mà đua nhau lả tả rơi xuống như mưa, hươu nai hoảng loạn be bét máu me, vượn khỉ ôm cây mà oằn oại đau thương rên rỉ. Không có loài nào đứng trước vực sâu nguy hiểm mà không thống thiết inh ỏi hét vang, đối diện rừng cây cao to mà gào thét tuyệt vọng, ngay sau đó mũi tên không tùy tiện bắn ra, súng săn không lãi cò vô ích, thảy đều xuyên hông thấu ngực nát óc vỡ đầu.

Hoặc lại thả lưới buông câu nơi bãi đục, rải mồi đổ thuốc rà điện ở đầm trong, hoặc câu tôm cá ở bến sông, cùng bắt lươn ếch rắn rùa nơi giếng mương vũng ao kênh rạch, vảy đó đã mắc vào lưới, không làm sao thoát ra cho khỏi đại nạn dao chặt thớt bầm, thi thể chẳng tránh màng kho hầm xào chiên ram nướng, thống khổ thảm thiết vô bến vô bờ, hận thù xông tận chín tầng mây thẳm, muôn kiếp ngàn đời tìm nhau để nối tiếp trả đền!

Tất cả chúng sanh trải nhiều kiếp đều có xâm hại mạng sống lẫn nhau, gây tạo nợ hình hài xương máu, kết thành thù oán khó xả khó buông. Lúc trả quả báo nơi địa ngục đã mãn, khi đầu thai trở lại làm người thì mạng sống ngắn ngủi, và nhiều thứ tật bệnh đăng đẳng đeo mang.

Nguyện từ hôm nay chí thành sám hối, vĩnh viễn chấm dứt sát nghiệp lưu truyền về sau, tận cùng thời gian vị lai luôn làm quyến thuộc Bồ đề, luôn tương trợ cho nhau thành tựu công cuộc niệm Phật cầu sanh Phật Quốc.

**********

Động vật không phải là loài vô tri, chúng cũng có đời sống tình cảm và biết quan tâm lẫn nhau. Với tựa đề “The Emotional lives of Animals” (Đời sống tình cảm của những loài động vật), tác giả Marc Bekoff đã khái quát phần nào những cung bậc cảm xúc: vui mừng, thấu cảm, đau buồn, giận dữ, yêu thương trong thế giới động vật mà ông có dịp chứng kiến trong quá trình làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành hành vi của động vật. Sách do nhà xuất bản New World Library ở Mỹ phát hành.

Biết ơn

Tháng 12-2005, cá voi lưng gù dài 15 m và nặng 50 tấn bị mắc lưới may mắn được một nhóm thợ lặn giải cứu. Sau khi được tự do, “cô nàng” cọ mũi vào từng thợ lặn rồi bơi xung quanh – một cử chỉ mà theo các chuyên gia về cá voi là “sự giao tiếp khác lạ và hiếm thấy”. Jammes Moskito, thành viên trong nhóm thợ lặn kể: “Dường như nó cảm ơn chúng tôi đã giải thoát cho nó. Con vật dừng lại cách tôi khoảng 30 cm, dùng mũi đẩy tôi như thể đang đùa giỡn. Chưa hết, khi tôi cắt chỉ lưới quấn ngang miệng thì mắt nó nhấp nháy và nhìn chằm chằm vào tôi”.

Thấu cảm Ceann Lambert – Giám đốc Trung tâm cứu hộ Indiana Coyote (Mỹ) kể một sáng nọ, cô nhìn thấy hai con chuột con đang cố thoát khỏi chậu nước trong nhà xe. Khi thấy chúng bắt đầu đuối sức, cô đổ một ít nước vào chiếc nắp và thả trong chậu. Một con bò đến uống và nhìn thấy mẫu thức ăn mà chúng kiếm được trước đó nên mang lại cho con yếu hơn. Mỗi khi con chuột yếu hơn cố với lấy thức ăn, con còn lại từ từ dịch chuyển thức ăn tới gần cho đến khi đồng loại của mình bắt được. Sau khi phục hồi sinh lực, cả hai leo ra ngoài bằng tấm ván Lambert bắc sẵn trong chậu.

Giận dữ

Khi phiền lòng, con vật cũng “nổi quạu” như người bởi chúng cũng có các chất truyền dẫn thần kinh như serotonin, testosterone, cũng như vùng não chi phối thái độ tức giận, gây hấn và thù hằn. Và không khó nhận ra những khi động vật giận dữ. Loài bạch tuộc cũng biết giận. Khi bị kích động, màu da trắng của chúng chuyển sang đỏ.

Suốt nhiều năm nghiên cứu Alex, tên của một con vẹt xám thông minh, chuyên gia Irene Pepperberg để ý mỗi khi có điều gì không hài lòng, Alex tỏ ra rất giận. Chẳng hạn như khi cho nó ăn thức ăn của chim thay vì hạt điều – món khoái khẩu của nó, Alex sẽ khép hai mắt lại và phùng lông biểu lộ không vừa ý.

Đau buồn

Khỉ đột từ lâu được biết đến là loài vật có thể thức canh khi đồng loại “thân thuộc” qua đời. Do biết “tập quán” này nên một số sở thú đã tổ chức “lễ tang” mỗi khi có khỉ đột chết. Donna Fernandes, Giám đốc Thảo cầm viên Buffalo ở New York có lần tận mắt chứng kiến trong lúc thức canh một con khỉ cái chết do bệnh ung thư, con khỉ đực đã có những hành vi giống như nói lời từ biệt với “bạn đời” của mình: “Nó hú liên tục và vỗ mạnh vào ngực mình với vẻ đau đớn. Không những vậy, nó còn nhặt khúc cần tây – món ăn ưa thích lúc còn sống của con cái – rồi đặt vào tay “vợ” mình và cố đánh thức cô nàng dậy”.

Yêu thương

“Vợ chồng” chó malamute (giống chó ở phía Bắc bang Alaska, Mỹ) tên Tika và Kobuk sau khi đẻ được 8 lứa, “an dưỡng” tuổi già trong nhà cô Anne Bekoff. Anne kể Kobuk mạnh bạo, hay to tiếng và “ăn hiếp” vợ. Bình thường khi ra cửa, Tika phải nhường chồng đi trước, nếu không sẽ bị “thượng cẳng tay”. Tuy nhiên, khi chân của Tika nổi bướu độc và phải cắt bỏ, Kobuk không còn hung hăng và luôn kề cận chăm sóc “vợ”.

Hạnh phúc

Chó sói khi “đoàn tụ” thường hớn hở, vẩy đuôi hoặc liếm mõm với nhau. Khi gặp nhau, loài voi vỗ tai, quay tròn và cất “tiếng hú” chào mừng. Một chuyên gia nghiên cứu hành vi động vật có lần quan sát một con tinh tinh vừa mới sinh con, đồng loại của chúng bày tỏ vui mừng bằng cách hú và ôm lấy nhau. Chúng thay phiên chăm sóc “sản phụ” và “đứa bé” suốt nhiều tuần.

Quan tâm

Theo dõi đàn voi ở Khu bảo tồn quốc gia Samburu ở Kenya, chuyên gia Iain Douglas-Hamilton kể con voi BabyL bị què nhiều năm qua nhưng những con khác chưa bao giờ bỏ nó đi sau. Cả đàn đi vài bước thì dừng lại đợi con voi “cà thọt” đi tới.

Tình mẫu tử thiêng liêng

Một buổi tối cuối thế kỷ 20, lúc ở trường đại học Hồ Nam khi xem một màn ảnh làm cảm động trời đất, nhiều người không cầm lòng được khóc ré lên!

Tỉnh Thanh Hải có một vùng sa mạc thiếu nước trầm trọng, mỗi người một ngày chỉ dùng 2 lít nước do đội quân đóng quân ở rất xa vận chuyển lại. Hai lít nước không chỉ dùng để uống, mà còn vo gạo, rữa rau… còn phải cho gia súc kéo uống, gia súc cũng cùng chung số phận!

Có một ngày, bỗng ở đâu xuất hiện một con bò già, mà được mọi người cho là nó rất trung thành và thật thà. Nó quá khát giẫy giụa tuột ra khỏi dây cương mạnh mẽ xông vào con đường trong sa mạc mà đoàn xe chuyển nước đi qua, đợi một hồi đoàn xe chuyển nước vừa đến, nó chạy nhanh đến đứng sững giữa đường. Các chiến sĩ chuyển nước trước đây cũng đã gặp qua tình hình chặn đường của những con gia súc như vậy nhưng những con động vật trước không buất khuất kiên cường như con bò này.

Đoàn vận chuyển nước có quy định. Xe chuyển nước giữa đường không để mất đi một giọt, càng không thể tuỳ tiện cho nước. Những quy định này xem ra cũng thật khắt khe nhưng vì bất đắc dĩ. Từng giọt nước này đều là khẩu phần của mỗi người rồi.

Trong sa mạc người và vật đều như vậy, nó đứng đó một hồi lâu như vậy, thậm chí làm tắt đường, các tài xế phía sau bắt đầu chửi rủa. Có vài tài xế tính tình nóng nảy dùng dầu châm đốt con bò tội nghiệp đó nhưng nó vẫn không động đậy, kiên cố như núi Thái, không chịu lùi bước.

Đến khi chủ nó tìm đến, ông ta rất hổ thẹn nắm một cây roi dài quất lên trên thân yếu ớt của nó. Toàn thân như nát nhừ, không thể đi được, cây roi cũng nhuốm đỏ màu máu, nhuốm đỏ thân nó, nhuốm đỏ cả một vùng cát vàng sa mạc và nhuốm đỏ cả một buổi chiều tà. Nó kêu lên một tiếng thảm thiết hòa với tiếng gió tàn khốc u ám lạnh lẽo của sa mạc hiện ra cảnh tượng sao mà vô cùng bi thương. Người tráng sĩ đứng kế bên bật khóc, người tài xế bị cản xe cũng oà lên khóc.

Cuối cùng, người tráng sĩ nói: “Thôi, để tôi vi phạm luật lệ vậy. Tôi chấp nhận xử phạt”. Anh ta cầm bát của mình lấy khoảng 2 lít nước trong xe để trước mặt con bò, nhưng nó không uống bát nước trước mặt mà nó đã cực khổ có được, nó ngước mặt lên trời rống lên một tiếng dài, dường như nó đang kêu gọi. Trong ráng chiều, không xa từ phía sau đống cát chạy ra một con bò con.

Con bò mẹ bị thương nặng nhìn con bò con tham lam uống sạch bát nước, le lưỡi ra liếm liếm đôi mắt đáng thương của bò con. Con nghé cũng liếm mắt mẹ. Mọi người lẳng lặng nhìn. Những giọt nước mắt chảy dài của tình mẫu tử lăn xuống.

Tia nắng cuối ngày đã tắt, hai mẹ con không đợi chủ gọi, lặng lẽ cùng mọi người đi về. Một buổi tối của cuối thế kỷ 20, khi xem cảnh này trên ti vi, chợt hiểu ra cái khổ của mẫu thân. Vô số những người đang ngồi trước ti vi đã bật khóc, những giọt nước mắt cảm thông nóng hổi từ quả tim cuồn cuộn trào dâng.

Tình cảm mà bò mẹ dành cho bò con, cũng như sự hy sinh vô điều kiện, chấp nhận gánh lấy khổ đau để cho con được an lạc, không khác con người!

Vì thế, xin thành kính khẩn cầu quý vị xem xong mẩu chuyện này nên đối xử tốt với tất cả những sanh mệnh dù lớn hay nhỏ xung quanh ta bởi vì chúng đều có tánh linh, đều có cha mẹ, con cháu, gia đình của chúng. Chúng cũng như con người chúng ta, đều có khát vọng được vui vẻ, hạnh phúc. Chúng ta thế nào đành lòng làm tổn hại chúng ư?

Lại cầu mong bạn hãy đối xử tốt với mẹ, bởi vì đối với chúng ta, mỗi người mẹ đều có tình thương đậm đà và thắm thiết hơn hẳn con bò mẹ kia rất nhiều!…Xin thành tâm, thành tâm khẩn cầu tất cả đều biết yêu thương và tôn trọng mạng sống lẫn nhau để có một cuộc sống thật sự bình yên. Xin kính chúc tất cả quý vị đều hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc của cuộc sống.

*Đàn voi rừng về viếng tang người đã cứu chúng

Chuyện xưa ân đức nay còn,
Đàn voi nhớ nghĩa nhiều con trở về.

Lawrence Anthony, sống ở Nam Phi và là tác giả của 3 cuốn sách trong đó có cuốn sách bán chạy nhất “Whisperer Elephant”, đã dũng cảm cứu và phục hồi nhiều động vật hoang dã và voi trên toàn thế giới khỏi sự tàn bạo của con người, kể cả việc cứu hộ dũng cảm các con thú ở Vườn thú Baghdad trong cuộc chiến xâm lược của Mỹ vào năm 2003.

Ngày 7 tháng 3 năm 2012, Lawrence Anthony qua đời. Ông mất đi để lại nhớ thương cho vợ, 2 con trai, 2 cháu nội trai và rất nhiều voi rừng.

Hai ngày sau khi ông qua đời, một điều kinh ngạc đã xảy ra! Các con voi hoang dã (mà ông đã cứu trước đây) đã có mặt tại nhà ông và chúng đã được dẫn đường bởi hai con voi đầu đàn to lớn.

Mấy đàn voi rừng riêng rẽ đã lũ lượt đến để nói ‘tạm biệt’ người bạn yêu quý, người hùng của chúng.

Tổng cộng đã có 20 con voi kiên nhẫn đi gần 20 cây số để đến được ngôi nhà của ông ở Nam Phi.

Chứng kiến cảnh tượng này, nhiều người đã hết sức kinh ngạc, không chỉ vì trí thông minh và thời điểm chính xác mà những con voi đã cảm nhận về cái chết của Lawrence, mà còn vì trí nhớ và những cảm xúc tình cảm sâu đậm mà các con vật thương yêu kia đã được diễn tả một cách có tổ chức: Chúng đi bộ từ từ – trong nhiều ngày – theo hàng dọc, vòi nối đuôi – một cách long trọng từ nơi chúng sinh sống cho đến nhà của ông Lawrence Anthony.

Bà Francoise vợ của Lawrence, đặc biệt xúc động, vì bà biết rằng những con voi đã không đến nhà từ hơn một năm nay, nhưng chúng vẫn biết đâu là nơi chúng muốn đến! Rõ ràng là những con voi đã muốn bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc của mình để tôn vinh người bạn, người ân nhân đã cứu giúp chúng – với rất nhiều kính trọng, chúng đã ở lại 2 ngày 2 đêm.
Sau đó, vào một buổi sáng, chúng lại rời nhà, bắt đầu một cuộc hành trình dài để trở về lại nơi sinh sống của chúng.

Bầy chó hoang đã đến đám tang để tỏ lòng biết ơn đối với người đã cho chúng thức ăn.

Lúc còn sống, bà Margarita Suarez – một người yêu động vật sống ở Merida, Mexico đã dành phần lớn đời mình để chăm sóc và cưu mang những con vật hoang mà bà gặp. Và điều kì diệu đã xảy ra, vào chính đám tang của bà, một bầy chó hoang và một chú chim đã xuất hiện để bày tỏ sự tôn kính và tiếc thương tới người phụ nữ nhân hậu này.

Khi bà còn sống, thường có một đám đông các con vật hoang tập trung trước cửa nhà bà Suarez và bà mang rất nhiều thức ăn cho chúng ăn. Bà cũng luôn mang theo bên mình một túi đồ ăn để phòng khi gặp con vật nào thì cho chúng ăn.

Khi bà Mgarita qua đời, những thành viên trong gia đình bà không khỏi ngạc nhiên khi thấy những con chó hoang xuất hiện trong phòng tang lễ, nơi đặt thi thể bà.

Những con chú chó hoang này thậm chí còn đi theo xe tang của Suarez tới tận nhà tang lễ, chúng chỉ tản đi sau khi thi thể của bà được chuẩn bị để đưa đi hỏa táng.

Margarita bắt đầu cho những chú chó hoang ăn từ khi bà còn là một đứa trẻ. Thậm chí bà còn luôn mang theo bên mình một túi thức ăn để cho mỗi chú chó bà vô tình gặp. Cứ như vậy, bà làm bạn với rất nhiều chú chó và giờ đây, trong đám tang của bà, chúng đến để tiếc thương cho người phụ nữ nhân hậu đã cưu mang chúng.

Ban đầu, những nhân viên nhà tang lễ đã không biết phải làm gì với những chú chó này, nhưng cuối cùng họ để chúng vào khi họ nhận ra rằng chúng đến đây là để tiễn đưa bà Margarita.

Cháu gái của bà Margarita chia sẻ: “Để bày tỏ sự mất mát, chúng chỉ biết nhảy lên và đứng bằng 2 chân sau. Đây quả thật là một điều kì diệu.”

*Chú chim cánh cụt Nam Mỹ đã bơi hơn 8.000 km mỗi năm để được gặp người đàn ông đã cứu mạng mình.

Ông Joao Pereira de Souza, 71 tuổi là một thợ xây đã về hưu và hiện đang làm nghề đánh cá.

Ông sống ở một ngôi làng trên một hòn đảo bên ngoài Rio de Janeiro, Brazil. Ông phát hiện ra chú chim cánh cụt bé nhỏ vào năm 2011 trên bờ biển.

Khi đó cơ thể chú phủ đầy dầu, đang hấp hối và nằm trên đá.

Ông Joao đã rửa sạch dầu trên bộ lông của chú, cho chú ăn cá hằng ngày và đặt tên là Dindim.

Sau một tuần nuôi nấng, ông thả Dindim về biển, nhưng chú không rời đi.

“Nó ở với tôi thêm 11 tháng nữa. Chỉ sau khi nó đã thay một bộ lông mới, nó mới ra đi” – ông Joao nhớ lại.

Và chỉ vài tháng sau, Dindim quay trở lại. Chú phát hiện ra người ngư dân rồi theo chân ông về nhà.
5 năm trôi qua, Dindim dành 8 tháng mỗi năm sống cùng ông Joao và 4 tháng còn lại sống ngoài khơi bờ biển Argentina và Chi-lê.

Người ta cho rằng Dindim đã bơi hơn 8.000 km mỗi năm để được gặp lại người đã cứu mạng mình.

“Tôi yêu chú chim cánh cụt này như con mình, và tôi tin nó cũng yêu tôi” – ông Joao chia sẻ với Globo TV. “Không ai được phép chạm vào Dindim. Nó sẽ mổ nếu họ làm vậy. Nhưng nó sà vào lòng tôi, để tôi tắm cho nó, cho nó ăn cá mòi”.

Người ta cho rằng Dindim nghĩ rằng ông lão đánh cá cũng là chim cánh cụt giống như mình.

“Ai cũng nói nó sẽ không trở lại đâu, nhưng nó vẫn trở lại trong suốt 4 năm qua. Dindim đến vào tháng 6 và đi vào tháng 2. Mỗi năm, nó lại trông trìu mến và hạnh phúc hơn khi gặp lại tôi”.

Giáo sư sinh vật học Krajewski chia sẻ với tờ The Independent: “Tôi chưa từng nhìn thấy bất cứ điều gì giống như thế này trước đó. Tôi nghĩ rằng chú chim cánh cụt tin rằng ông Joao là người thân của mình và cũng là một con chim cánh cụt”.

“Mỗi khi nhìn thấy ông ấy, nó đều ve vẩy cái đuôi của mình giống như một chú cún và kêu lên đầy phấn khích”.

Và nhờ thế, thế giới dường như trở thành một nơi tử tế hơn.

Vạn vạn đều có tánh linh!

Bác họ Trương rất ưa thích luyện khí công, còn dùng khí công để chữa bịnh cho người. Nhưng ông trị người không hết mà bản thân cũng bị bịnh quấy nhiễu. Ông bị chóng mặt đã 3-4 năm nay.

Uống thuốc trị liệu gì cũng không kết quả. Ông nói: “Đầu tôi xây xẩm giống như mới vừa uống hai bình rượu vậy!”

Nhân duyên hội đủ, ông đến gặp Hòa thượng Diệu Pháp, năn nỉ Ngài vận khí công trị bịnh cho ông.

Hòa thượng cười nói:

– Tôi không thể vận khí công để trị bịnh đâu, mỗi người mắc bịnh đều có nguyên nhân. Tôi có thể nói rõ nguyên nhân vì sao ông chóng mặt. Còn chuyện bịnh hết hay không thì tùy thuộc vào ông.

Đây cũng là đạo lý mà Phật nói: “Mệnh tự ta lập” – Thì như do ông không hiểu chuyện mà làm sai việc gì đó đem lại thống khổ phiền não cho mình và người.

Nếu ông gặp được thiện trị thức, giải thích và chỉ ra nguyên nhân. Một khi ông hiểu rõ và nhận ra chỗ sai của mình, cố gắng sửa đổi, thì phiền não và thống khổ sẽ biến mất không còn. Bởi vì

Phật pháp không phải để cho người mê tín Phật, Bồ Tát, hay một cao tăng nào đó, mà là để mỗi người đều có thể đạt được trí huệ. Tự mình cải tạo số mệnh của mình!

Bác Trương suy nghĩ một hồi rồi gục gặc đầu.

Hòa thượng nói tiếp:

-Ông bị chóng mặt, là do 3-4 năm trước ông từng làm tổn hại một ổ chuột con. Có việc này không?

Bác Trương trầm ngâm hồi tưởng lại, giây lâu rồi đáp:

– Dạ có, có việc này ạ. Sư phụ! Ngài quả có đại thần thông! Cách đây ba năm, một hôm con vào kho chứa đồ và phát hiện có ổ chuột con mới sinh độ chừng 6-7 con. Đệ tử nhát lắm, chẳng biết làm sao cho chúng chết, bèn bỏ chúng trong cái lồng, gắng sức lắc mạnh. Lắc một hồi lâu, con nghĩ là chúng đã chết liền đem quăng ra bãi rác. Ồ! Việc như thế mà liên quan tới chứng chóng mặt của con sao ?

– Đúng vậy, ổ chuột không bị ông lắc chết mà chỉ bị ông làm cho chóng mặt thôi. Nhân nào quả đó. Đây là nguyên nhân vì sao ông chóng mặt.

Bác Trương lẩm bẩm một mình: “Ngài phán rất đúng. Con từ lúc đó về sau bắt đầu chóng mặt. May là bầy chuột chưa chết, nếu mà chúng nó chết rồi thì không biết con đền mạng tới đâu nữa?”…

– Đúng vậy, sát sinh sẽ làm giảm thọ mệnh, bằng không thì ngay đời này cũng gặp tai nạn hoạnh ương. Động vật sở dĩ có thể bị giết, cũng là do kiếp trước nó từng gieo nhân sát sinh nên đời nay mới bị quả báo như thế.

Phần chúng ta, đời này giết hại chúng nó tức là đang vay nợ mạng, cứ thế nhân quả tuần hoàn, oan oan tương báo, không bao giờ hết. Vì vậy mà phàm phu chúng ta cứ luân hồi trong lục đạo không có ngày ra. Chỉ có liễu giải Phật pháp, tin sâu nhân quả, ngưng ác hành thiện, thì mới có thể thoát ly biển khổ sinh tử. Thế nào, từ nay ông còn muốn sát sinh chăng?

Bác Trương đang ngồi sợ đến ngẩn ngơ. Nghe Hòa thượng hỏi, vội đáp:

– Từ rày về sau con chẳng dám sát sinh nữa.

Nói xong ông hoan hỉ mách:

– Bạch Sư phụ, đầu con đột nhiên tỉnh táo rồi, không choáng chút nào cả.

Người chung quanh đều cười.

Bác Trương thắc mắc nói tiếp:

– Nhưng mà, loài chuột hại sâu, cắn phá tài vật của người, thậm chí truyền bệnh dịch hạch…nếu như không giết nó, tương lai nó sinh sản lan tràn làm sao?

– Trọn cả tổng thể, từ lớn như vũ trụ đến nhỏ tợ vi trần, bao gồm tất cả chủng loại sinh mệnh…đều có quy luật vận hành và thời gian tồn tại. Nếu con người và các loài động vật có “sinh, lão, bệnh, tử”, thì thực vật có “sanh, trụ, dị, diệt”, các thứ khoáng chất thì có “thành, trụ, hoại, không”… cho dù là núi, sông, biển cả, hoa cỏ, hạt sương… Chỉ cần “có hình thành, là có hoại diệt!” Thế nhưng, cách hoại diệt hay “chu trình sinh tử” này tự có quy luật của nó! Nếu chúng ta coi thường quy luật tự nhiên, mặc tình phá hoại theo lý luận và ý thích ngu muội của mình, tất nhiên sẽ chiêu lấy ác quả bất kham, khó thể tưởng tượng!

Thí như chúng ta vì những lợi ích trước mắt, cho phá rừng nổ đá, khiến rừng bị hủy hoại, núi bị sạt lỡ và cây cối loài vật trong rừng bị tàn hại…tất cả việc làm thiếu ý thức này của chúng ta sẽ dẫn đến hậu quả là địa cầu bị ngập nước , khí hậu đổi thay, lũ lụt phát sinh…Ông không thấy số lượng cây rừng bị chặt phá quá nhiều, động vật bị săn chết giảm đến nhiều loài phải mất tích hoặc tuyệt diệt.

Loài chuột cũng có rất nhiều kẻ thù trong thiên nhiên như: rắn, mèo, diều hâu, chim ưng, chim ó v.v… Có thể những kẻ thù thiên nhiên này cũng bị nhân loại chúng ta giết hại ăn thịt hoặc lột da làm y phục, trang sức. Do vậy mới có câu: “Thiên tai là chính do nhân họa tạo thành”

Hòa thượng ngừng một lát rồi nói:

– Tôi bày ông một cách có thể diệt trừ nạn chuột, ông có muốn thí nghiệm thử không?

Mọi người đều nhìn Hòa thượng chăm chăm, Ngài mỉm cười giải thích:

– Trước tiên phải biết chuột cùng là loài động vật hữu tình, cũng có mẹ sinh đẻ, dưỡng nuôi. Chúng cũng giống trâu, ngựa, mèo chó, một số có thể nghe hiểu tiếng người. Khi ông hiểu rõ đạo lý không sát sinh rồi, ông có thể hằng ngày chuẩn bị những thức ăn dư thừa cho nó, đặt ở nơi mà chuột thường ẩn hiện và nói nhỏ:

“Bản thân tôi ngày trước chưa hiểu Phật pháp nên đã giết hại rất nhiều chuột, bây giờ tôi đã rõ đạo lý, từ nay về sau nhất định chẳng sát sinh nữa. Tôi vẫn muốn tụng kinh cầu siêu cho loài chuột từng bị giết. Hi vọng chuột sẽ không cần cắn phá đồ vật trong nhà người”…Chỉ cần thành tâm thành ý làm như thế, nhất định sẽ thấy kết quả. Thậm chí một ngày kia, chuột sẽ dời ổ bỏ đi.

Buổi nói chuyện của Hòa thượng đã khiến mọi người mắt tai như đổi mới. Sau đó, phương pháp này lần lượt được thí nghiệm, kết quả rất tuyệt. Còn có người trong nhà bị nhiều kiến, họ cũng áp dụng phương thức này và nói rất linh nghiệm.

Chuyện này ai cũng có thể thí nghiệm được một cách dễ dàng!

Đừng coi thường luật nhân quả

Có một câu chuyện tận đến nay đối với người dân Vĩnh Long vẫn “nằm lòng” và thường truyền miệng cho nhau trong những khi nhàn rỗi.

Một cậu bé tên Hiếu, hàng ngày lê lết ở chợ Trà Vinh, sống bằng cách xin ăn với thân hình của một… con bò.

Em sinh ra trong một gia đình có nghề: mổ bò lâu đời để bán thịt ở Trà Vinh. Ông nội của em làm giàu bằng nghề này nên rủng rỉnh tiền bạc. Một lần nọ, trước khi làm thịt một con bò cái đang có chửa, bỗng dưng ông nằm mơ thấy một người đàn bà đến bên ông khóc lóc và van nài: “Xin ông đừng giết tôi, để tôi sinh con rồi ông hãy giết!”.

Và không những mơ thấy một lần mà ông còn mơ tới 3 lần chỉ trong một đêm. Tỉnh giác, ông mang chuyện này kể cho vợ thì được khuyên can không nên làm thịt con bò mà hãy nuôi để chờ nó đẻ. Nhưng suy đi tính lại, cuối cùng ông vẫn quyết định thịt nó để bán. Mới sáng tinh mơ không hiểu sao so với những lần mổ bò khác, nó kêu la khủng khiếp hơn nhiều, rồi giãy giụa, lồng lộn đến nỗi đứt cả sợi dây trói khi mổ. Khi chết rồi cái ấn tượng mà ông nội Hiếu mãi đến sau này không thể quên được là cái đầu nó lắc lư mãi như thể còn sống.

Tuy nhiên, điều trùng hợp là đúng lúc giết con bò chửa đó, con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội, đồng thời là “đích tôn” của ông với những dị tật rất giống… con bò ấy là mắt lồi, sứt môi, đầu cứ lắc lư, chân tay cong queo đến nỗi không đi lại được, phải bò. Đứa trẻ ấy chính là Hiếu. Nhìn hình ảnh của em, ông nội em không thể nào không liên tưởng đến cái chết của con bò, nhất là động tác lắc lư cái đầu. Như hiểu nguồn cơn sâu xa vì sao cháu mình lại bị như vậy và muốn “chuộc” lại lỗi lầm, ông bỏ nghề sát sinh và có bao nhiêu tiền của ông dốc hết ra để chữa chạy cho cháu.

Nhưng cậu bé vẫn vậy. Khổ hơn, khi được 10 tuổi, Hiếu đã phải lê la ra chợ xin ăn do người thân của em lần lượt ra đi hết vì trọng bệnh. Mỗi lần xin ăn, chẳng hiểu ai xui khiến, vừa lết Hiếu vừa la khóc thảm thiết: “Xin các bác, các dì đừng “sát sanh” con! Con là con bò nè…”.

*Thời nhà Tống ở vùng Đông Hải có Từ Mỗ Giáp, vợ trước là Hứa Thị, sanh được một cậu con trai tên là Thiết Cữu. Nhưng rồi Hứa Thị qua đời, Mỗ Giáp lấy vợ khác là Trần Thị. Trần Thị hung ác bạo ngược tìm cách diệt trừ Thiết Cữu.

Trần Thị sanh được một đứa con trai tên là Thiết Chử, bà thường nguyền với cậu ta rằng: “Nếu con không loại trừ Thiết Cữu, thì không phải con ta.”

Vì vậy mà gọi tên con là Thiết Chử tức là cái chày bằng sắt, muốn lấy chày sắt giã vào cối sắt đấy mà.

Cũng từ đó bà thường đánh đập Thiết Cữu, đủ mọi cách khổ đau ác hiểm, đói không cho ăn, lạnh không cho thêm áo. Tánh tình của Mỗ Giáp vụng về kém cỏi, lại phần nhiều vắng nhà, nên bà vợ sau tự mình tùy ý hành hạ thật tàn bạo. Thiết Cữu cuối cùng bị Trần Thị giam, bỏ đói và đánh đập đau đớn mà chết, lúc ấy tuổi mới 16.

Sau khi qua đời hơn một tuần, hồn quỷ bỗng nhiên trở về nhà, bước lên giường của Trần Thị mà nói rằng: “Ta là Thiết Cữu, thật sự không có tội lỗi gì mà bỗng nhiên bị bà tàn hại, mẹ ta kêu oan lên đến trời, nay được Thiên Tào cho phép đến bắt Thiết Chử, sẽ làm cho Thiết Chử gặp phải tật bệnh giống như lúc ta gặp đau khổ, rồi mang đi như ngày tháng đã hẹn. Nay ta dừng lại đây chờ đợi.”

Tiếng nói giống như lúc còn sống, người nhà và khách bạn không thấy hình dáng nhưng tiếng nói thì nghe rất rõ ràng. Thế là thường ở lại trên xà nhà chờ đợi. Trần Thị quỳ nhận lỗi đập vào má, van nài để tổ chức cúng tế cầu xin tha thứ.

Quỷ nói: “Không cần phải như vậy, giam ta bỏ đói khiến cho ta chết, lẽ nào một bữa cơm mà có thể đổi được tội lỗi hay sao?”

Trần Thị trong đêm nói lén điều gì, quỷ cũng đều nghe hết, liền nghiêm giọng nói rằng: “Sao dám nói ta như vậy, nay ta sẽ làm gãy đòn dông nhà của ngươi.”

Liền có tiếng cưa, mạt cưa cũng rơi xuống theo, bỗng nhiên có âm thanh vang lớn lên, giống như đòn dông thật sự đổ sập. Cả nhà hoảng sợ chạy hết ra ngoài. Hồi lâu cầm đèn đuốc soi sáng, thì không có gì hết.

Quỷ lại mắng Thiết Chử rằng: “Ngươi đã giết ta, ngồi yên trong nhà lấy làm vui sướng lắm hả? Ta sẽ đốt cháy nhà của ngươi, cho ngươi xem!”
Lập tức thấy lửa bừng lên, khói bay mịt mù trong ngoài khốn đốn vô cùng, trong chốc lát tự nhiên tắt đi, mái tranh vẫn như cũ không thấy hư hoại chút nào.

Ngày ngày cứ mắng nhiếc, có lúc lại ca rằng: “Đào mận hoa nở sum sê, sương rơi làm gì được; đào mận kết trái trũi cành, sương lạnh sớm rơi rụng rồi!”

Tiếng ca nghe thật là đau thương, mang nỗi niềm ai oán, tựa như là tự thương xót cho mình không được lớn lên vậy. Lúc ấy Thiết Chử mới 6 tuổi, quỷ đến thì mang bệnh, thân thể đau đớn mà bụng to, bệnh khí tăng lên trở ngại đến sự ăn uống, quỷ nhiều lần đánh đập, khắp nơi bầm tím, hơn một tháng thì chết. Khi Thiết Chử chết rồi thì quỷ cũng bặt tăm!

Cái chết thê thảm

Vào năm 1732 tại huyện Quỳ Hưng có một người họ Ngụy, vốn là dân vô nghề nghiệp, rất giỏi bắn chim. Những con chim bắt được, ông đem đi bán hoặc giết chúng làm thịt nhậu với rượu.

Ông cũng thích bắt lươn, ếch và rùa. Ðôi lúc ông còn dùng thuốc độc để thuốc cá, nên số cá trong ao hồ bị bắt được nhiều vô số kể. Hoặc y phá tổ chim lấy trứng.

Các bạn bè khuyên ông: “Này ông Ngụy không nên sát sanh. Ông nên cày ruộng hay làm một nghề gì chân chính khác thì tốt hơn”.

Ông Ngụy chẳng bao giờ nghe lời khuyên của họ. Ông còn bảo họ là ganh ghét dòm ngó đến việc làm ăn của ông.

Nhiều năm sau, ông đã giết hại vô số sinh linh, gây ra một món nợ máu to lớn. Cuối cùng ông mắc một chứng bịnh mụt nhọt mọc lên khắp thân người.

Nhiều mụt độc lớn như trứng bồ câu, và trong mỗi mụt có một hòn sắt to bằng viên đạn súng bắn gần. Toàn thân ông chứa đầy mũ máu hôi thối. Ông vô cùng đau đớn, gào thét kêu la thảm thiết chẳng khác gì tội nhân đang bị đọa đày ở cảnh giới địa ngục.

Sau ít ngày xác thân bị hành hạ rồi ông Ngụy nhắm mắt lìa đời. Gia đình ông đi sắm một cổ quan tài. Vào lúc thân quyến đang lo việc đám ma chôn cất, mọi người nghe có tiếng ồn ào kỳ lạ.

Nhìn ra họ thấy vô số hàng trăm sinh vật đang tới xâm nhập vô nhà ông! Bà con thiên hạ đều hết sức kinh ngạc. Họ sửng sốt nhìn thấy từng đàn chim, nhiều dê, rùa và ếch kéo nhau đến tiến vào nhà ông. Tang quyến trong gia đình chưa kịp phản ứng, thì tất cả những con vật đó đều đồng loạt tấn công vào xác chết ông. Chúng gặm và cắn. Chúng cào xé và cắt rạch. Chúng nhai và kéo giật. Vài con lại đá vào thi thể của ông.

Vợ con trong gia đình nhận biết đó là quả báo do các hành động ác giết hại nhiều sinh vật vô tội của ông trước đây gây ra. Trong chốc lát, cái thây ma của ông Ngụy chỉ còn lại bộ xương trắng.

*Trong niên hiệu Hiển Khánh nhà Đường, có người ở trong cửa hàng bên lộ phía Tây thành Trường An, mới cưới vợ sanh một bé trai, ngày đầy tháng họ hàng thân thích tụ hội chúc mừng, mua được một con dê sắp giết thịt.

Con dê nhiều lần hướng về người làm thịt quỳ lạy, người làm thịt báo cho mọi người trong nhà biết, nhưng cả thảy lớn nhỏ trong nhà không ai cho là điềm kỳ lạ, liền giết dê làm thịt.

Lúc đem thịt bỏ vào nồi nấu, ai cũng lăng xăng lo làm, mỗi người một việc, người thì sắp xếp hành tỏi, kẻ thì bày biện bàn ghế và bánh trái thức ăn, khiến sản phụ ôm con trông coi nấu thịt. Cô ôm con đứng trước lò lửa, nồi lớn rất chắc chắn, bỗng nhiên tự vỡ toang, nước nóng trong nồi giội vào tro lửa bắn thẳng vào hai mẹ con. Cả mẹ lẫn con đều chết tức khắc, họ hàng thân thích và người láng giềng, trông thấy cảnh tượng ấy không có ai không đau lòng chua xót.

Người trong cửa hàng thấy và nghe sự việc ấy, vĩnh viễn từ bỏ rượu thịt không ăn thức ăn tanh nồng.

Cá “câu” người

Có một y viện huyện thuộc vùng cao nguyên Thái Lan, do giao thông bất tiện, nên bịnh nhận phải đi từ sáng sớm tới bệnh viện để khám và kịp quay về nhà trước khi trời tối.

Một ngày chủ nhật nọ, bịnh nhân cần khám đều đã khám xong, nên chiều nay xem như bác sĩ được rảnh rang. Bỗng một y tá cuống quýt hướng về viện trưởng báo cáo, có người bị mắc xương cá nơi yết hầu, đang chờ cấp cứu, xin viện trưởng đến cho.

Đó là một thanh niên hơn 20 tuổi, hô hấp đã ngừng, thân thể vẫn còn ấm, sắc mặt tái nhợt hiện vẻ đau đớn và sợ hãi tột độ. Theo lời người nhà và thân hữu bịnh nhân kể, thì lúc đưa vào viện anh mới tắt hơi. Mặc dù người bịnh đã chết, nhưng chiếu theo quy luật của bệnh viện, cần phải giải phẫu để làm rõ nguyên nhân tử vong và tiện cấp giấy chứng tử. Sau đó, bác sĩ lắng nghe người nhà kể lại quá trình xảy ra cái chết chí mạng.

Thanh niên bị mắc xương cá chết tên là Thịnh, sáng sớm hôm nay cùng mấy người bạn trai ra đồng bắt cá. Do đêm qua mưa lớn, từ đồng ruộng cho đến các ao mương đều ngập nước, cá tôm có đầy, nên ai cũng bắt được rất nhiều cá tôm. Thịnh bắt được một con cá rô núi, lại nhìn thấy trước mặt có một con cá chép to, trong lòng quá mừng bèn chạy vội tới bắt cá chép, lúc này tay anh đang cầm cá rô, không biết thả đâu cho ổn, nhưng không thể buông nó ra, trong giây phút vội vàng, anh quyết định đưa cá lên miệng ngậm. Không ngờ con cá nhỏ lại chui tọt vào cổ, và “cắm dùi” nơi cổ họng anh. Thịnh thấy cổ họng quá đau, liền dùng tay móc ra, nhưng đã quá muộn, cả mình con cá đều nằm nơi yết hầu, kéo ra không được.

Loài cá rô núi này có rất nhiều ở đồng ruộng Thái Lan, thân mập, dài khoảng 1 tấc, vảy của nó màu vàng, sáng lấp lánh nhưng rất cứng và bén. Nếu vuốt theo chiều thuận thì mình nó trơn, nhưng kéo ngược lại thì kỳ của nó dương lên rất nhọn, sẽ thành những móc câu ghim chặt.

Vì vậy khi Thịnh càng lôi con cá ra, tức là càng bị các “móc câu” này phát huy đại tác dụng khiến anh đau chí tử. Loại cá này đặc biệt sống rất khỏe, rất dai. Nó có thể rời nước lóc lên tuốt trên đỉnh núi, vì vậy mới gọi nó là cá rô núi.

Chưa đầy mười phút, Thịnh bắt đầu hô hấp khó khăn, con cá cứng đầu trụ ngay tại yết hầu, nuốt không được, nhổ không ra, muốn hét to cũng không thể, Thịnh đành dùng tay chỉ vào miệng, hai mắt trợn trắng.

Mấy người bạn thấy vậy hoảng hốt thất kinh hồn vía, vội vạch miệng Thịnh để lấy cá ra, nhưng vô phương. Đành giương mắt nhìn Thịnh thống khổ co giật.

Một người bạn vội kêu xe taxi tới, chở Thịnh thẳng vào viện cấp cứu, nhưng đi được nửa đường thì chàng tắt thở.

Lúc này y viện đang phẫu thuật. Bác sĩ rạch cổ Thịnh lấy cá ra, nó vẫn chưa chết. Y tá đem nó thả xuống ao trước bệnh viện, hóm hỉnh nói với nó rằng:

-Nếu như cảnh sát tra án thì sẽ truy bắt hung thủ, ngươi hãy xuống ao nước lánh đi nhé!

Còn thi thể của Thịnh thì người nhà lãnh đem về lo hậu sự.

Thịnh bị mắc cá sống chết đi, gia đình làm tang lễ cho anh. Theo phong tục Thái Lan, người chết 7 ngày sau thì đem thiêu.

Thịnh chết trẻ bất ngờ, khiến nhiều người thương tiếc. Nhưng sáng hôm đó ngay lúc cử hành hỏa táng cho Thịnh, lại nghe tin có người bị cá rô núi làm chết nữa, thực sự quá bất ngờ. Và còn bất ngờ hơn nữa, khi người chết là ông Thông – ba của Thịnh – cũng bị cá rô núi mắc kẹt nơi cổ y như thế, và do nuốt vào cổ họng mà khạc nhổ không xong, vô phương hô hấp nên dẫn đến tử vong. Giống y chang kiểu chết của Thịnh.

Đây quả là chuyện cực kỳ lạ lùng, gây chấn động toàn huyện, toàn tỉnh.

Bởi vì hôm đó gần tối mới cử hành lễ hỏa tang, thân hữu tề tựu đến dự. Ông Thông ba của Thịnh muốn chuẩn bị đãi khách, nên tờ mờ sáng đã ra mương bắt cá. Để tiện bắt cá tôm, trước tiên phải tát bớt nước trong mương đi. Lúc đó tất cả cá lớn cá nhỏ đều bị dồn lại một chỗ, chen nhau quẫy đạp không ngừng, cứ dùng rọ mà chụp bắt. Ông vừa bắt cá, vừa lớn tiếng kêu bà vợ cầm thùng ra đựng cá.

Kể ra thì chậm, nhưng lúc đó diễn tiến rất nhanh, ngay lúc ông Thông hả to miệng gọi vợ, thì bỗng có một con cá rô núi nhảy lên cao, không nghiêng không lệch, rơi đúng ngay vào miệng ông.

Ông Thông bị nạn bất ngờ, hoảng kinh, vội vàng dùng toàn lực khạc nhổ cá ra, mà không ra được, rồi đưa tay móc… nhưng con cá đã chui thẳng vào yết hầu, trụ lại đó không thèm đi tiếp nữa.

Ông Thông được người thân bồng lên bờ mương. Lúc này hai mắt đã trợn trắng, trên đường đưa đến bệnh viện thì ông đã tắt thở tự bao giờ, giã từ dương thế trong đớn đau đầy nuối tiếc.

Đây thực là chuyện lạ có một không hai nên được đồn vang khắp toàn thôn, toàn huyện, rồi toàn tỉnh.

Y viện trong một tuần ngắn ngủi đã phải xử lý hai tình huống tử vong của hai cha con ông Thông.

Việc này phải nói là chấn động và khó hiểu. Vì vậy Viện trưởng đến nhà tang quyến chia buồn, và cất công tìm hiểu vì sao cả hai cha con trong bảy ngày lại bị cá sống hại chết?

Té ra gia đình ông Thông, tổ tiên mấy đời đều cư ngụ ở đây. Hễ rảnh vụ mùa thì bắt cá, nuôi cá làm nghề phụ. Nếp nhà nhờ đây mà giàu có.

Ông Thông bắt cá phơi khô đem bán, nghĩa là khi bắt cá còn sống, ông dùng que tre đâm từ miệng cá đến cổ họng nó, mỗi que đâm từ 5-10 con, rồi đem đi phơi nắng, có khi ông dùng lửa sấy cho khô. Mỗi xâu cá được treo nơi khung tre, chờ để tiêu thụ.

Từ tổ phụ đến Thịnh là bốn đời, chuyên làm như vậy.

Dân làng thấy ông Thông dùng tre nhọn đâm yết hầu con cá sống khiến nó giẫy giụa đau đớn, thủ đoạn tàn nhẫn thảm khốc đến độ chẳng nỡ ngắm nhìn.

Ngàn vạn lần cũng không thể tưởng được là cha con họ lại bị cá sống hại chết giống y nhau theo kiểu này.

Nếu ngay đây mà đối chiếu cảnh: “Người móc cá, cá móc người”, thì đây chính là diễn tiến lạ lùng của báo ứng. Đúng như nhà Phật từng nói: “Nhân quả báo ứng không hề xử oan người”, có thể nói “Nhân quả xoay chuyển rất công bằng”. Xin mọi người cảnh giác, ngàn vạn lần chớ nên gieo nhân ác.

Chúng ta ai cũng coi sinh mạng mình là quý, là một của báu tuyệt đối. Nếu bị ai mưu hại là mình chống trả triệt để hầu bảo vệ mạng sống. Mình đã biết quý trọng sinh mạng mình, tại sao lại muốn chà đạp sinh mạng người? Suy rộng ra, các loài vật cũng biết quý trọng mạng chúng. Như khi một con bò hay một con lợn sắp bị đập đầu, chọc tiết, ta thấy sự phản kháng mãnh liệt, sự đau thương cùng cực của chúng bằng những tiếng kêu la, những động tác giẫy giụa. Theo lẽ công bằng, điều ta không muốn ai làm cho ta đau khổ thì ta cũng đừng làm cho người khác hay loài khác phải khổ đau. Đức Phật dạy:

“Ai ai cũng sợ gươm đao,
Ai ai cũng sợ cái chết.
Lấy lòng mình suy lòng người,
Chớ giết, chớ sai bảo giết!”.

Đang tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp nghẹt. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật thì tính bạo ác không kém giết một mạng người. Nhẫn tâm làm cho kẻ khác hay vật khác phải giãy giụa, rên siết, quằn quại trong máu đào, trong lệ nóng trước khi trút hơi thở cuối cùng là tự giết lòng từ bi của mình, là bóp chết cái mầm thương yêu quý báu trong tâm hồn chúng ta.

Đức Khổng Tử có nói: “Văn kỳ thanh, bất nhẫn thực kỳ nhục, kiến kỳ sinh, bất nhẫn kiến kỳ tử”. (Nghe tiếng kêu la của con vật không nỡ ăn thịt nó; thấy nó sống, không đành thấy nó chết). Như vậy, người có tâm từ bi hay lòng nhân ái đều không nỡ sát hại người hay vật.

Khi ta giết một người hay một con vật thì sự oán hận của họ tràn trề, khó dập tắt được. Họ vì thân cô thế yếu, vì sức kém nên bị ta giết hại. Trong khi ấy, họ ôm khối căm hận, chờ dịp báo thù, hay con cái, thân thích của họ sẽ báo thù lại. Cứ thế, mỗi ngày ta đều gieo căm hờn cho người và vật, tích lũy lâu ngày khối oan gia ấy to hơn sức ta, chừng ấy ta sẽ bị nó sát hại lại. Càng tạo nghiệp sát, càng lao mình vào vòng đau khổ. Kinh Lăng già Đức Phật dạy: “Thường sinh tâm sát hại, càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sinh tử, không có ngày ra khỏi”.

D/- Tu Thập Thiện Nghiệp

Mười phương chư Phật thường xót thương chúng sanh mê muội mãi tạo gây nghiệp chướng sâu dày, quay lưng với con đường đi đến Phật quả an vui, mà ưa thích những điều khiến cho chìm nổi giữa biển cả khổ đau, mặc ý để cho phiền não ngày đêm hành hạ mà không hề sợ sệt, như ruồi nhặng thích bu xác chết thối tha, tựa ong bướm lao vào đống lửa hừng hực. Bởi vì vô minh mù mờ nhiều kiếp lưu chuyển trong dòng sanh tử trải qua đủ mọi đau khổ, nhận chịu đủ mọi đắng cay đến nay hãy còn bị thiêu đốt. Vì vậy, Như Lai vô cùng bi mẫn không đành lòng từ bỏ, nên đã chỉ rõ sự khổ cần phải nhàm chán, và nẻo thanh nhàn nơi miền Cực Lạc, khiến cho chúng sinh vui nguyện sanh về, sơ lược trình bày về mười điều ác để cố gắng toan lo xa lánh, còn điều lành khá rán thực hành!

*Nghiệp nhân

Phàm phu tạo nghiệp nhiều loại, từ chỗ có tâm ý tương ứng với thân miệng, cũng có lúc thân miệng cùng với tâm trái nhau. Dựa vào đây mà luận, hễ thân miệng dấy động đều là do tâm sai khiến. Nếu tâm bất thiện thì mới có thể làm hại đến vật, nếu trong tâm có thiện thì sẽ thuận với nhân phước. Tuy lợi và hại không giống nhau, nhưng mà gốc rễ của ba nghiệp, thì lấy tâm ý làm nguồn cội.

Bởi vì tâm ý dấy khởi không giống nhau, như trong luận Thành Thật nói: “Có ba người cùng đi vòng quanh tháp, một người là vì công đức niệm Phật, một người là vì trộm cắp, một người là vì sự mát mẻ, tuy là thân nghiệp cùng chung một việc làm, mà có ba tánh chất thiện – ác và vô ký mà sinh ra khác biệt, nên biết tội – phước do tâm, tướng của nghiệp thân – miệng thiện ác không nhất định”. Nghĩa là người vừa đi vừa chí thành niệm Phật thì đang tạo nghiệp thiện; còn người để ý đồ vật quý giá đặng trộm cắp thì đang tạo nghiệp ác; còn người vì sự mát mẻ mà dạo quanh tháp thì thuộc về nghiệp vô ký, tức không thiện không ác.

Tạo nghiệp chẳng khác nào gieo giống,
Gieo thứ nào lên mộng thứ ni;
Đừng tưởng rằng Trời chẳng biết gì,
Luật nhân quả không ly một mãy.
Hại người tất bị người hại lại,
Làm phải thời có phải trả cho;
Ấy tự nhiên của máy thiên cơ,
Nay hay thuở ngàn xưa cũng thế.
Kẻ dân dã hay ông hoàng đế,
Cũng nằm trong định lệ trả vay;
Cân công bằng chẳng vị tư ai,
Có vay tất có ngày phải trả.
Thứ chậm trái, thứ mau có quả,
Tùy nghiệp nhân nặng nhẹ mà ra;
Chớ cho rằng Trời chẳng thấy qua,
Gian dối mãi ấy là lầm lạc.

*Quả báo

Kinh Di Lặc Sở Vấn nói: “Mười nghiệp đạo bất thiện, có ba loại của nó: 1- Quả của quả báo; 2- Quả của tập khí; 3- Quả tăng thượng.

Nếu sanh trong địa ngục thì gọi là quả của quả báo.

Quả của tập khí là nếu từ địa ngục thoát ra sanh trở lại trong loài người, dựa theo nghiệp sát sanh cho nên có quả báo là mạng sống ngắn ngủi, dựa theo nghiệp trộm cắp cho nên quả báo không có tiền bạc sinh sống, cho đến dựa theo nghiệp tà kiến sẽ bị ngu si… Tất cả quả báo như vậy gọi là quả của tập khí.

Quả tăng thượng là dựa vào mười loại nghiệp ác, mà hoàn cảnh cư trú bên ngoài như là đất đai cao thấp, sương mù, mưa đá, gai góc, bụi bặm, dơ bẩn, hôi thối có nhiều rắn rít, hoa màu thu hoạch xấu tệ, sự sinh hoạt vất vả khốn đốn… Như vậy tất cả gọi là quả tăng thượng.

Người dù có tài lương lẹo giỏi,
Cũng không sao chạy khỏi lưới trời.
Có thể mình giấu được người đời,
Nhưng mình chẳng giấu nơi mình được.
Một mình biết đủ làm tội phước,
Khỏi cần người biết được hay không.
Ớt nhai thì mình bị cay nồng,
Người khác biết hay không cũng vậy.
Nhân quả cũng giống như chuyện ấy,
Thưởng phạt không sai chạy tí nào.
Trả nhãn tiền hay trả mai sau,
Đến chậm hoặc đến mau không mất.

1/- Sát sanh

Ở đời, con người thường cướp đi mạng sống của kẻ khác cũng vì tranh giành danh văn lợi dưỡng, chức vị, ái tình, hay thù oán riêng tư, hoặc háo thắng… đây là tội lỗi nặng nề nhất, quả báo khổ đau ở mai sau rất là thảm khốc!

Đối với các loài vật thì sự sát giết còn tàn nhẫn nhiều hơn, giết chúng để thỏa mãn khẩu vị, hay cúng tế, hoặc vui chơi giải trí…

Người đời thường có câu “Vật dưỡng nhơn” với tư tưởng con vật sinh ra là để phục vụ nhu cầu ăn uống cho con người, dẫn đến việc xem sát sanh là chuyện bình thường. Nhưng đằng sau đó là những hậu quả rất thê lương thật khó nỗi đo lường.

Đối với đạo Phật luôn xem trọng sinh mạng của mọi loài chúng sanh, đều bình đẳng như nhau, đều có quyền tự do được sinh tồn. Mỗi chúng ta ai cũng đều ham sống sợ chết, sợ đau sợ khổ thì những loài vật cũng vậy, chúng cũng sợ hãi, đau đớn và sân hận khi bị giết hại. Thế nhưng ham ăn ngon, ăn lạ, hay thích thú ngắm nhìn cái chết của chúng để mua vui đã che lấp trí tuệ, khiến chúng ta trở nên tàn nhẫn ác độc.

Thân thể, sinh mệnh là cái quý báu nhất, vì thế mà mọi loài vô cùng sợ hãi, vô cùng đau đớn đầy phẫn nộ khi mạng sống bị tước đoạt. Tiếng kêu cứu, tiếng rên la gào thét là minh chứng trước ngưỡng cửa tử thần. Chính sự thù ghét này đi theo vòng nhân quả để rồi trả vay, vay trả không ngừng. Những ai đã từng lấy đi sinh mạng của kẻ khác thì nhân quả báo ứng sẽ đến khi có đủ nhân duyên mà không cách nào tránh né được.

Không chỉ thời Đức Phật mà ngày nay chúng ta cũng thấy rõ hậu quả của sự sát sanh, là con người khi mạng chung thường có những hành động kỳ lạ như: sủa vang như chó, đập đầu vào tường, trợn mắt hét gào, sợ nước,….
Một người có thói quen sát sanh và tư tưởng sát giết khiến họ mất đi lòng nhân từ – một tấm lòng biết yêu thương, thông cảm. Họ thường hay nóng giận, khó chịu và dùng vũ lực để giải quyết vấn đề, bởi những kẻ đồ tể thường tiếp xúc với những thú vật giết hại ghê tởm, nghe tiếng kêu cứu của loài vật hằng ngày đã làm trái tim của họ trở nên chai sạn, thấy máu me không còn sợ hãi, áp lực do tiếng ồn ào, nóng bức ở lò mổ khiến tính tình họ ngày càng trở nên hung hăng tàn bạo. Nó là một trong ba con rắn độc, là nhân của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Sát sanh sẽ khiến tuổi thọ bị tổn giảm, thường xuyên đối diện với nhiều họa ương cho bản thân, như: tai nạn giao thông, hỏa hoạn, thiên tai, lũ lụt, bão tố,…bệnh nan y, gieo rắc khổ đau cho gia đình, đồng thời phải gánh chịu nghiệp xấu là sự bám víu của những linh hồn bị sát hại đi theo để phá phách trả thù.

Như luật Tỳ Nại Da nói: “Thuở xưa, vào thời Đức Phật tại thế, trong nước Xá Vệ có một Bà la môn, thường xuyên cúng dường Tôn giả Ca Lưu Đà Di. Bà la môn ấy chỉ có một người con, lớn lên rồi lấy vợ.

Lúc Bà la môn lâm chung căn dặn con: “Sau khi cha mất, con đối đãi với Tôn giả Ca Lưu Đà Di, như cha bây giờ, đừng khiến cho có điều gì thiếu hụt.”
Sau khi cha mẹ qua đời, người con vâng theo lời cha mẹ dạy bảo vẫn tiếp tục cúng dường Ngài, giống như thuở cha còn sống, không có gì sai khác. Sau đó vào lúc con trai Bà la môn đi ra ngoài không ở nhà, dặn dò vợ cúng dường như vậy. Hôm nọ, có năm trăm tên cướp, trong đám cướp có một tên mặt mày rất khôi ngô bảnh trai, người vợ từ xa trông thấy, cho người gọi đến, tiện dịp cùng nhau tư thông.

Tôn giả Ca Lưu Đà Di nhiều lần đi đến nhà ấy, người vợ sợ Ngài tiết lộ chuyện này cho chồng mình, nên sau đó cô cùng tên cướp tìm cách thanh toán Tôn giả.

Vua Ba Tư Nặc khi nghe tin Tôn giả bị giết hại, nhà vua nhớ Tôn giả mà lòng tức giận buồn phiền, lập tức sai chém đầu gia đình Bà la môn, và giết hại mười tám gia đình khác ở xung quanh đó, đồng thời bắt năm trăm tên cướp chém đứt tay chân ném vào trong hào thành.
Các Tỳ khưu trông thấy rồi bèn thưa với Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Tôn giả Ca Lưu Đà Di vốn tạo ra ác nghiệp gì, mà bị vợ của Bà la môn giết hại như vậy?”

Đức Phật bảo với các Tỳ khưu: “Ca Lưu Đà Di, từ quá khứ xưa kia làm chủ cúng tế đền thờ Đại Thiên, có năm trăm người dẫn đến một con dê, chặt lìa bốn chân mang đến cúng tế trời đất, mà cùng nhau cầu xin mong ước. Chủ cúng tế có được con dê rồi lập tức giết chết. Bởi vì giết chết con dê cho nên đọa vào địa ngục nhận chịu vô lượng khổ đau. Chủ tế lễ xưa kia nay chính là Ca

Lưu Đà Di, tuy đạt được quả vị La Hán nhưng ương họa còn lại chưa sạch, nay phải nhận quả báo này. Con dê lúc ấy nay chính là vợ của Bà la môn, năm trăm người chặt lìa chân dê xưa kia chính là năm trăm tên cướp bị nhà vua chặt đứt tay chân hôm nay”.

Rồi Đức Phật kết luận: “Nếu người giết hại, thì quả báo phải nhận chịu trở lại không bao giờ sai lệch”.

Quả báo chính:
Vui cười giết hại các vật mạng,
Đọa vào địa ngục gào thét vang.
Nước dơ hôi thúi sôi sùng sục,
Xối ập lên thân xương thịt tan.
Hoặc tránh núi đao rơi hầm lửa,
Hố rắn rừng gươm khổ vô vàn.
Muôn ngàn vạn kiếp nhận báo ứng,
Thống thiết đau thương chẳng nghĩ bàn!

Quả báo phụ:
Sát sanh phải đi vào nẻo dữ,
Nhận chịu hình phạt ba đường xong.
Được sanh làm người thọ mạng ngắn,
Ngục tù xiềng xích chẳng thong dong.
Đau ốm triền miên thật khốn đốn,
Mãi trả vay nơi cõi bụi hồng.
Nếu có từ bi và trí tuệ,
Giết hại chúng sanh há đành lòng?

*Thời nhà Lương, có người thường lấy lòng trắng trứng gà hòa với nước để gội đầu, nói là làm cho tóc sáng bóng. Mỗi khi gội đầu thì đạp vỡ hai, ba mươi quả trứng. Người ấy đến lúc lâm chung chỉ nghe trong đầu tóc phát ra tiếng chiếp chiếp của hàng ngàn con gà con.

*Thời nhà Lương ở vùng Giang Lăng có người họ Lưu, lấy việc bán lươn làm nghề sinh sống. Sau đó sanh ra một người con, đầu là đầu con lươn, từ cổ trở xuống mới là thân người mà thôi.

*Thời nhà Đường ở vùng Kinh Triệu có Ân An Nhân là người giàu có, xưa nay tôn thờ vị Tăng ở chùa Từ Môn.

Một hôm, có khách đến nhà và xin ở lại nghỉ qua đêm. Khách trộm con lừa của người ta đến nhà ấy giết thịt da lừa thì vứt sau vườn nhà ông.

Đến năm Trinh Quán thứ ba, An Nhân liền gặp một người ở đường đi, nói với ông rằng: “Truy tìm ông mãi khiến ngày mai đến, ông phải chết thôi”.

Ông biết đây là quỷ vô cùng sợ hãi đi thẳng đến chùa Từ Môn, ngồi trong điện Phật suốt đêm không ra ngoài. Sáng hôm sau, quả nhiên trông ra ngoài thì thấy có ba người cưỡi ngựa và mấy chục người lính đi bộ, đều mang theo vũ khí đi vào, nhưng họ đều dừng lại ở bên ngoài chùa, từ xa liền gọi ông ra. An Nhân không trả lời mà cứ tụng niệm càng nhất tâm khẩn thiết.

Quỷ nói với nhau rằng: “Hôm qua không chịu bắt ngay, hôm nay ông ta đã tu phước như vậy, làm sao có thể bắt được”. Vì vậy cùng nhau bỏ đi, để lại một người canh giữ.

Người canh giữ nói với ông rằng: “Ngày trước ông giết con lừa, nay con lừa tố cáo ông, khiến chúng tôi đến bắt giữ ông, cuối cùng cần phải đối diện với nhau, không đi nào có ích gì?”

Ông từ xa đáp rằng: “Ngày trước người ta ăn trộm và tự giết con lừa, chỉ để lại tấm da cho tôi mà thôi, vốn không phải tôi giết, tại sao lại bị truy tìm? Nhờ ông trở về nói với con lừa giúp tôi, tôi vốn không giết nó, mà nay còn làm phước giúp nó, có lợi cho nó, nên bỏ xa tôi đi!”.

Người này hứa hẹn rằng: “Nếu con lừa không đồng ý, thì ngày mai tôi lại đến, nếu như con lừa đồng ý thì không đến nữa”.

Nói xong rồi, quỷ bèn đi ra. Ngày kế, không thấy đến nữa. Từ đó ông và cả nhà ăn chay giữ giới cẩn thận hơn nữa.

Cái chết của Thượng tướng Diệp Kỳ

Quế Lâm là một nơi có phong cảnh rất đẹp thuộc tỉnh Quảng Tây; chủ nhiệm tỉnh bộ là Lý Tông Nhân, phó chủ nhiệm là Bạch Sùng Hy, thượng tướng Diệp Kỳ là tham mưu trưởng.

Trong một căn nhà nhỏ thuộc khu bình dân ở gần thị tứ, bà Tô sống với hai con nhỏ là Ngọc Vân và Bích Vân. Bà Tô là một người đàn bà hiền thục, thích giúp đỡ mọi người; chồng bà là Tô Tiểu

Võ là một binh sĩ thuộc ngành truyền tin, là một đệ tử của Lưu Linh.

Một trưa chủ nhật, bà Tô đang may vá, Ngọc Vân đang học bài, Bích Vân đang chơi bóng, Tiểu Võ như cuồng cẳng đi đi lại lại trong phòng, bỗng bảo vợ:

-Anh ra ngoài phố chơi, thuận tiện sẽ mua óc heo về, mình cứ nấu cơm sẵn, đợi anh về sẽ làm món nhậu chơi.

– Hàng ngày anh ít về nhà, ngày chủ nhật hãy ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe. Bữa chiều đã có sẵn mấy món rau dưa và đậu phụ. Óc heo thì em và các con đều không dám ăn đâu, đừng mua.

– Mình đừng cố chấp. Ngọc Vân đã đi học, Bích Vân cũng sắp đi học; ăn óc heo bổ óc, thông minh biết không?

Ngọc Vân chen vào :

– Bố, đừng mua óc heo, mua bút chì cho con!

Bích Vân cũng nói leo :

– Bố, con không muốn óc heo, con muốn ăn kẹo cơ!

– Ngọc Vân! Con cố học đi bố sẽ mua bút chì cho con; còn Bích Vân, ăn óc heo ngon hơn ăn kẹo con ạ!

Tiểu Võ không nghe lời vợ con, cứ đi ra phố.

Tiểu Võ đi quanh quẩn một vòng, qua tiệm rượu bị mùi thơm quyến rũ bèn vào kêu một đĩa thịt nướng và hai bình rượu. Nhậu nhẹt xong, dường như vẫn chưa thỏa còn mua thêm hai bình rượu đem về, lại ghé qua hàng thịt để mua óc heo. Rượu bốc lên cảm thấy nóng, Tiểu Võ mũ đội lệch ra đằng sau, áo cởi khuy phanh ngực, tay trái cầm hai bình rượu, tay phải chỉ đầu heo bảo đồ tể :

– Lão bản, bán cho ta một bộ óc heo!

Đồ tể ngửi thấy mùi rượu nồng nặc đã phát ghét trong bụng, nhưng thấy là binh sĩ nên ông hạ giọng nói nhỏ nhẹ:

– Đồng chí, đầu heo, óc heo đều có người đặt mua rồi, muốn mua óc heo, ngày mai trở lại.

Thật làm mất hứng, Tô Tiểu Võ trợn mắt, giằng lấy dao chém phăng vào đầu heo:

– Lão tử hôm nay nhất định phải mua, ngươi thấy sao hả?

Đồ tể cũng nổi giận, hai người tranh cãi náo loạn. Bỗng một con tuấn mã phi tới, từ ngựa nhẩy xuống một vị tướng quân. Ai Vậy? Đó chính là thượng tướng tham mưu trưởng Diệp Kỳ. Nguyên lai ông đi qua chợ thấy một binh sĩ đầu đội mũ không chỉnh tề, áo lại phanh ra, tay trái cầm bình rượu, tay phải giơ đồ đao tranh cãi với người dân. Do đó bèn xuống ngựa để hỏi chuyện. Tô Tiểu

Võ dĩ nhiên là nhận ra ông tướng của mình, vội sửa lại mũ, bỏ rượu và đao xuống bàn, đứng ngây ra đó. Diệp Kỳ đưa mắt nhìn Tiểu Võ từ đầu đến chân, rồi lại nhìn đồ tể, trầm giọng hỏi :

– Chuyện gì vậy?

Đồ tể bèn thuật lại đầu đuôi. Diệp Kỳ nghĩ bụng : cầm binh thì không thể hiền, giàu có thì khó mà giữ nghĩa. Đây chính là cơ hội ra oai quân kỷ; mặt lạnh như tiền bảo đồ tể :

– Ta là tham mưu trưởng đây, ngươi giám giết hắn không, ngươi cứ giết đi, ta hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Đồ tể giơ đồ đao lên. Tiểu Võ mắt hoa lên, quỳ xuống:

– Xin tham mưu trưởng thứ tội, vợ con tôi đang chờ tôi về ăn cơm, nào ngờ tôi…

Tiểu Võ nghẹn ngào không nói ra lời.

Đồ tể lên giọng trêu đùa:

– Ngươi sợ chết sao? Quân nhân như ngươi đánh trận gặp địch quân lại quỳ đầu hàng ư?

Diệp Kỳ nổi giận, hướng về phía đồ tể hét lớn:

– Giết!

Đồ tể cất tiếng:

– Uy phong của mày nãy giờ đâu rồi? Sao bây giờ mày lại tỏ ra hèn mạt thế? Để ta thành toàn cho mày!

Nói xong bèn lia một nhát dao; đầu Tiểu Võ rớt xuống, máu chảy lênh láng. Con ngựa hý vang, Diệp Kỳ nhẩy lên lưng nó phóng đi, về tới dinh sai người tới thâu thi thể.

Lại nói về bà Tô nấu xong cơm chiều, đợi mãi không thấy chồng về. Các con kêu đói bụng, đành phải cho con ăn trước, trong bụng không yên ra ngoài cửa nghe ngóng. Thấy nhiều người tụ họp, lại thấy lão Lý bán rau đang nói chuyện với vợ chồng Vương tiên sinh hàng xóm. Mọi người đều trợn tròn mắt, chăm chú nghe lão Lý nói. Bà Vương thấy bà Tô đến bèn đưa mắt cho lão Lý, lão Lý liền ngậm miệng lại. Mọi người đều nhìn bà Tô, khiến bà nghĩ chắc chồng mình có chuyện gì rồi.

Bà Vương lên tiếng:

– Bà Tô, bà đợi ông nhà về ăn cơm có phải không?

Bà Tô gật đầu.

– Muộn quá rồi, chắc ông ấy phải vào trại, bà hãy về ăn cơm đi!

Bà Tô trở về nhà, bỗng có hai binh sĩ khiêng một tấm ván trên đặt thi thể Tiểu Võ. Một vị sĩ quan tay cầm hai bình rượu mà Tiểu Võ đã mua đi theo phía sau, do hàng xóm chỉ, dẫn đến nhà Tiểu

Võ. Ngọc Vân và Bích Vân đều khóc lớn. Vị sĩ quan hướng về bà Tô nói rõ sự tình và đưa ra một phong bao.

– Đây là tiền để lo việc ma chay, chỗ còn lại để nuôi dưỡng 2 cháu.

Nói rồi dẫn 2 binh sĩ đi. Bà Tô nhận tiền không bi thương khóc lóc, đứng yên bất động. Hàng xóm xúm lại an ủi nhưng bà dường như không nhìn, không nghe gì cả. Rất lâu, bà mang bao tiền giao cho Vương tiên sinh:

– Nhờ ông lo giùm!

Nói rồi ngất đi, mọi người dìu bà về phòng.

Vương tiên sinh thấy tình cảnh bi thảm như vậy không thể khoanh tay; hàng xóm cũng giúp vào, người lo mua quan tài, người sửa soạn tang phục v. v… Tất cả đều sẵng sàng đợi sáng hôm sau sẽ an táng.

Bà Vương kéo Ngọc Vân ra dặn riêng:

– Hôm nay con phải coi chừng mẹ, nếu thấy có gì lạ phải kêu ta và Vương bá bá, nghe không!

Ngọc Vân gật đầu.

Lúc gần sáng, bà Vương nghe tiếng Ngọc Vân và Bích Vân khóc gọi mẹ, hai vợ chồng vội chạy sang thì thấy Ngọc Vân và Bích Vân ôm nhau mà khóc nhưng không thấy bà Tô đâu cả. Hàng xóm đều thức dậy, chia nhau đi tìm khắp nơi, các giếng nước, bờ sông đều không thấy tông tích bà Tô. Vương tiên sinh chỉ còn cách an táng Tiểu Võ và nuôi dưỡng hai đứa nhỏ.

Vài tháng sau, một sáng đồ tể sửa soạn đồ nghề chuẩn bị ra chợ sớm, bỗng nghe có tiếng mõ, rồi một ni cô đến khuyến hóa :

– Thí chủ, xin bố thí kết duyên!

Đồ tể đưa tiền, ni cô lắc đầu. Đồ tể đưa gạo ni cô cũng lắc đầu.

– Vậy cô muốn sao?

– Xin thí chủ bố thí đồ đao .

– Người xuất gia không ăn thịt, cô dùng đồ đao làm chi?

– Xin thí chủ buông đao, cải nghiệp đừng sát sanh nữa.

– Thịt tại trước mắt còn Phật ở Tây Phương, cô muốn cả nhà tôi chết đói sao?

– A Di Đà Phật! Thịt ở trước mắt, Phật ở trong tâm.

Ni cô gõ mõ rồi đi. Ni cô đi rồi, người chung quanh bảo đồ tể:

– Vị ni cô vừa rồi là vợ của Tiểu Võ bị ông giết đó.

– Ái chà! Chả trách cổ muốn đồ đao, thì ra muốn báo thù cho chồng. Nếu ta đưa dao cho cổ chắc mạng ta không còn.

Đồ tể nói rồi xoa đầu, ra chợ tiếp tục mua bán.

Vị ni cô thì thành tâm muốn ông sám hối, nhưng ông thì lại nghĩ là trả thù! Đúng là sự nhầm lẫn quá đỗi!

Đến trưa có một người đến mua giò heo. Đồ tể giơ đao lên chặt chân heo. Bỗng nghe tiếng ngựa hý, kinh tâm động phách. Ngẩng đầu lên coi thì thấy con tuấn mã dựng đứng 2 chân trước hất người cưỡi chân chổng lên trời, đầu chúc xuống đất. Người đó là ai? Chính là Diệp Kỳ. Nguyên lai Diệp Kỳ cưỡi ngựa qua đó, con ngựa lần trước thấy đồ tể giết người làm cho sợ hãi, lần này lại thấy đồ tể vung đao lên nên hoảng kinh tưởng đồ tể lại giết người nên cất vó hý lên hất Diệp Kỳ xuống. Đồ tể thấy ngựa chồm tới vội vất dao xuống bàn chạy tránh, chẳng dè hấp tấp xô vào bàn, con dao văng vào cổ đứt lìa chết tốt. Còn Diệp Kỳ thì ngã ngựa đầu bị chấn thương cũng mất mạng. Không lâu, báo chí đăng bộ tư lệnh bổ nhiệm Lý Tiên Châu thay thế Diệp Kỳ. Chuyện này ở

Quế Lâm không ai không biết.

Vụ án cô gái bị chôn ngồi trong thùng phi

Anh Hưng là đội trưởng đội bảo vệ nhà máy bột mì Miền Đông, trụ sở đặt tại quận 6, Sài Gòn. Từ ngày trở về nhận việc ở đây, không đêm nào anh kê cao gối ngủ. Mỗi đêm anh đều mơ thấy một người thiếu phụ nhỏ nhắn, áo trắng quần đen tìm đến tâm sự. Có khi cô còn nói rằng mình thèm ăn đậu phọng luộc, xin anh cúng cho.

Cho đến một đêm cuối năm 1978, giữa tiết trời oi nồng, anh lại mơ thấy người thiếu phụ nọ. Lần này cô không xin đậu phọng nữa mà chỉ muốn nhờ anh giúp cô dọn nhà. Cô cho biết chỗ ở lúc này nóng quá, cô không chịu nổi. Trong mơ anh bèn hỏi người thiếu phụ rằng: “Nhưng tôi nào biết nhà cô ở đâu mà chuyển giúp?”

Người thiếu phụ trả lời: “Nhà tôi ở ngay gần đây, trong cái thùng phi trồng cây sống đời ở trên sân thượng. Anh cứ lên sẽ thấy”.

Rồi như có một thế lực vô hình nào đó dẫn anh bước ra khỏi giường, lần mò qua những bậc cầu thang, lên tận sân thượng. Cứ đi mãi, đi mãi, cho đến lúc va mình vào cửa sân thượng anh mới giật mình tỉnh dậy, bàng hoàng nhận ra mình vừa bị mộng du, và vừa được người thiếu phụ dẫn tới thăm nhà của cô.

Là người bạo gan, ngay sáng hôm sau, anh đã mở cửa ra sân thượng để tìm thùng phi trồng cây sống đời đúng như trong giấc mơ chỉ dẫn. Và đúng thế thật, anh đã thấy một thùng phi to đổ đầy đất trồng cây sống đời, để ở chỗ nắng nhất trên sân thượng. Chỉ vài nhát xẻng đào đất trong thùng phi anh đã nhìn thấy bộ xương người chôn trong đó.
Sau khi nhận thông tin từ anh Hưng – rằng có một xác chết chôn trong thùng phi trồng cây sống đời, Công an quận 6 đã phong tỏa và bảo vệ hiện trường, đồng thời mời bác sĩ pháp y Nguyễn Thanh Tuyền, khi đó là Giám định viên trưởng Tổ chức giám định Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đến để khám nghiệm tử thi.

Ông Nguyễn Thanh Tuyền kể lại: “Khi tôi đến thì thấy xác chết đã phân hủy nhiều, bị chôn ở tư thế ngồi. Những năm đó, quần áo pha nhiều nilon nên chưa phân hủy. Vì vậy, qua chiếc quần đen và áo trắng của nạn nhân tôi nhận định đây là một nạn nhân nữ.

Sau khi đo khoảng cách tỷ lệ xương tôi xác định người phụ nữ này khoảng 23 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, dáng người nhỏ nhắn. Người phụ nữ này đang mang thai vì tôi thấy cả hài cốt của thai nhi”

Người phụ nữ này là ai, vì sao lại bị giết một cách dã man khi đang mang thai như vậy – tất cả là những câu hỏi làm điên đầu cơ quan điều tra. Để giúp cơ quan điều tra tìm ra tung tích nạn nhân, bác sĩ pháp y đã làm bản mô tả và căn cứ trên đó cơ quan công an đã phát đi thông báo tìm gia đình nào có nạn nhân nữ khoảng 23 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, dáng người nhỏ nhắn, đang mang thai giống như vậy mà đang bị mất tích.

Bản thông báo phát ra, xuống từng ngóc ngách của địa bàn nhưng đã nhiều ngày trôi qua mà không thấy một ai đến báo tin. Các điều tra viên thất vọng tưởng như vụ án đi vào ngõ cụt, thì bỗng một buổi chiều có người phụ nữ tên Trần Thị Hồng tìm đến công an quận 6 để trình báo.

Người phụ nữ này cho biết, đầu năm 1978, gia đình chị có một người con gái tên Nguyễn Thị Mai 22 tuổi đi khỏi nhà và từ đó không thấy trở về. Vì dạo ấy, người đi vượt biên rất nhiều nên gia đình nghĩ cô Mai bị bạn bè rủ rê bỏ nhà đi vượt biên nên không báo với cơ quan công an.

Khi gia đình nhận được thông báo của Công an quận 6, so sánh thấy nhiều đặc điểm giống con gái mình như dáng người, độ tuổi và đặc biệt là bộ quần áo giống với ngày con gái mặc đi khi bị mất tích, nên đã quyết định đến cơ quan công an để trình báo.

Cũng theo lời của chị Trần Thị Hồng thì trước khi mất tích, con gái chị có yêu một người làm Phó Chủ tịch phường. Trụ sở của phường đóng tại địa điểm mà hiện nay đang là nhà máy bột mì.

Sau khi Ủy Ban Nhân Dân phường chuyển đi, sau nhiều lần chuyển giao cho các cơ quan khác nhau, cuối cùng thì nhà máy bột mì tiếp quản và trở thành trụ sở của nhà máy.

Tiếp nhận thông tin từ chị Trần Thị Hồng các điều tra viên mừng như bắt được vàng vì từ chỗ vụ án tưởng như đi vào ngõ cụt, manh mối đã dần hé mở để trả lời câu hỏi nạn nhân là ai, vì sao lại bị giết một cách dã man khi đang mang thai như vậy, vốn đang làm điên đầu cơ quan điều tra và dư luận hết sức quan tâm.

Khi lượng lực công an tung các điều tra viên đi xác minh nhiều hướng, cơ quan điều tra đã thu thập được thông tin khi Ủy Ban Nhân Dân phường đóng ở đây có một người tên là Nguyễn Tấn

Phong là Phó Chủ tịch. Người này một thời gian dài có quan hệ yêu đương với một cô gái trẻ. Nhưng gần đây thì mọi người thấy anh ta không qua lại gì với cô gái đó, mà lại sắp cưới vợ là một cô gái quê ở Bến Tre.

Xác định Nguyễn Tấn Phong có thể là nghi can số một trong vụ án, tuy nhiên vì thời điểm đó đối tượng đang giữ một vị trí quan trọng trong cơ quan nhà nước nên cơ quan công an tập trung điều tra thu thập chứng cứ thật đầy đủ rồi mới mời đối tượng lên làm việc về vụ mất tích của cô Nguyễn Thị Mai

Dường như, có tật giật mình, đối tượng Nguyễn Tấn Phong tỏ ra bối rối và có nhiều điều bất minh trong lời khai và trước những chứng cứ không thể chối cãi đã phải cúi đầu nhận tội.

Tại cơ quan điều tra, kẻ thủ ác khai nhận, trước khi quen cô Mai anh ta đã có người yêu ở Bến Tre. Tuy nhiên do hai người ở xa nhau nên khi quen Mai, thấy Mai xinh xắn mà lại tỏ ra thích mình nên anh ta xác định quen để lấp chỗ trống đỡ buồn. Nhưng sau một thời gian hai người qua lại, Mai thông báo đã có thai và đề nghị cưới gấp.

Tất nhiên là Phong không thể nào cưới Mai vì đã định ngày cưới với cô người yêu ở Bến Tre, nhưng Phong cũng không dám nói ra sự thật này với Nguyễn Thị Mai vì sợ cô sẽ làm ầm ĩ ảnh hưởng đến vị trí công tác. Suy nghĩ tìm cách giải quyết, Nguyễn Tấn Phong nảy sinh ý định giết Mai để bịt đầu mối.

Mùa xuân năm 1978, nhân việc phát động lễ trồng cây, trong vai trò là Phó Chủ tịch phường Nguyễn Tấn Phong đã yêu cầu cấp dưới mang một thùng phi lớn đổ đầy đất đặt lên sân thượng của cơ quan để trồng cây sống đời.

Lấy lý do cây sống đời ưa nắng, Phong yêu cầu phải đặt thùng phi ở chỗ nắng nhất của sân thượng, với hy vọng dưới sức nóng của mặt trời cái xác chôn trong thùng sẽ nhanh phân hủy. Thu xếp mọi việc xong xuôi, tối hôm đó Phong rủ Mai đến trụ sở làm việc để nói chuyện. Không nghi ngờ gì người yêu và khấp khởi nghĩ đến ngày thành vợ thành chồng, hạnh phúc với đứa con trong bụng, Mai trong bộ trang phục quần đen, áo trắng đã tìm đến gặp Phong.

Lợi dụng lúc Mai không để ý, Nguyễn Tấn Phong đã siết cổ Mai đến chết và đem xác lên sân thượng bỏ vào thùng phi trong tư thế ngồi rồi lấp đất trồng cây sống đời lên trên…

Kể lại cho phóng viên câu chuyện giấc mơ báo mộng này, dù vụ án trôi qua đã gần 40 năm nhưng ông Nguyễn Thanh Tuyền nguyên Giám định viên trưởng Tổ chức Giám định Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh vẫn rất nhiều xúc cảm, ông nói: “Tuy những điều kỳ lạ trên nằm ngoài hồ sơ vụ án, và cũng không ai có thể lý giải được vì sao lại như thế, nhưng đúng là cuộc đời này “ân đền, oán trả”, “lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát!”

Con rùa đến đòi mạng

Ngô Linh là người giàu nhất trong vùng. Gia tài có hàng trăm vạn và ông sống rất xa hoa.

Con của ông cũng ham ăn chơi. Ðúng là cha nào con nấy. Hằng ngày ông thích ăn những món ngon vật lạ. Một hôm nhà họ Ngô chuẩn bị tổ chức một bữa tiệc thịnh soạn, người đầu bếp ra chợ mua được một con rùa rất lớn. Tên đầu bếp nói: “Loại rùa này khó kiếm nhưng thịt rất thơm ngon!”.

Người nấu bếp mài dao bén để sửa soạn làm thịt con rùa. Nhưng khi sắp đem đi giết thì con rùa bỗng nhiên rơi lệ, tỏ ý muốn xin tha mạng.

Người đầu bếp liền hạ con dao xuống và thưa với ông Ngô về con rùa kỳ lạ này: “Tôi không thể giết con rùa được khi nó khóc lóc xin tha mạng sống”.

Ông ta nổi giận mắng nhiếc: “Ðồ ngu! Mày không dám giết nó hả? Mày đưa con dao cho tao. Nếu mày sợ thì để tao làm thịt nó cho”.

Ông liền cầm con dao bén xông vào nhà bếp. Khi nhìn thấy con rùa lớn đang nằm rơi lệ, ông không có một chút động lòng thương hại. Tay cầm dao, và nhanh như chớp, ông chặt đầu con rùa lìa khỏi cổ. Vì chặt quá mạnh, cho nên đầu con rùa đã bay lên dính mắc trên đòn dông mái nhà.

Ông nói với người đầu bếp: “Thôi được, không sao! Mày nấu phần còn lại để chiều nay dọn món thịt rùa cho tao thưởng thức”.

Tối hôm đó, cha con ông thích thú dùng món thịt rùa, nhưng họ chỉ mới ăn được có vài miếng thì người con cảm thấy mặt mày choáng váng. Anh ta nhìn lên và kêu thất thanh. Anh chỉ cái đòn dông và la hét “Trông kìa, có một con rùa bự ở trên đòn dông!”

Ông nói: “Tao không thấy cái gì hết”.

Người con vẫn kêu la: “Ôi chao! Hãy đi đi! Chúng bây đi chỗ khác. Những con rùa bu lại cắn con. Ba ơi, cứu con với! Chúng xúm lại cắn con!”

Ông hỏi: “Cái gì cắn mày? Tao chẳng thấy gì ở đây cả!”

Người con đáp: “Những con rùa. Có hàng trăm con đến bu khắp mình và chúng đang cắn con. Hãy giúp con với ba!”

Cậu con nhào lộn trên nền nhà, chân vừa đá vừa kêu la thảm thiết, nhưng không một ai thấy chi cả.

Người con vẫn kêu than: “Vô số rùa xúm lại cắn vào chân tôi, đau… Ôi đau quá! Bà con đến cứu tôi với!”

Nhưng không ai có thể giúp được gì cho anh ta cả, vì họ không thấy những con rùa đang đến trả thù đòi lấy mạng sống của anh. Ba ngày sau, người con của ông đã chết một cách đau đớn.

Mọi người nên nhớ rằng chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm việc làm thiện và ác của mình. Nếu các bạn không muốn ai gây đau khổ cho mình thì quý vị cũng đừng bao giờ tạo sự khổ đau cho kẻ khác.

Hiếu khách sát sanh, hắc khí biểu thị tai hoạ

Một người họ Hứa nọ ở Ngọc Phong, Côn Sơn, Giang Tô, giàu có và hiếu khách, ăn uống cốt phải thịnh soạn, vì vậy giết hại không biết bao nhiêu sanh mạng mà tính. Năm Thuận Trị thứ 2 (1645), nhà bếp bỗng nhiên có khói đen, lớn như bánh xe bay quanh sân nhà một vòng rồi tản mất. Không bao lâu, lính nhà Thanh đánh chiếm toàn thành, 44 người trong nhà đều bị giết sạch.

Lời bàn: Nhà bếp của những người giàu có, là chỗ tụ tập của oán thù sâu nặng. Không gian tuy chỉ vài chục mét vuông, nhưng những tiếng kêu bi thương, hy vọng được cứu, thường là ở đây; động vật mẹ con chia lìa, thường là ở đây; bị cắt cổ nhổ lông, moi tim lột da, thường là ở đây. Tích luỹ thời gian lâu, sẽ xuất hiện khắp nơi tiếng khóc bi thương đầy oán hận, tiếng kêu sầu thảm thâu đêm của ác quỷ. Có khi chúng hiện hình những thi thể không đầu, có khi chúng hiện hình toàn thân máu me, có khi chúng hiện hai mắt kín mít, hai mắt lồi ra, có khi chúng hiện hình đi lắc lư, hai tay vẫy vẫy. Có đứa cười khanh khách miệng phun đầy máu, có đứa khóc hu hu nhận chịu khổ đau. Đứa nào cũng nghiến răng, đấm ngực, nhe nanh múa vuốt, muốn đối đầu với oan gia mới cam tâm. Do đó thần linh trong trời đất, quỷ thần qua lại giám sát, đều đã ghi tên lên cuốn sổ tạo ác nghiệp, lúc sống sẽ phải gặp đủ các tai họa, sau khi chết đọa lạc ba đường ác, không ai cứu được. Xem đó, nhà bếp chẳng lẽ chẳng phải là chỗ tụ tập oan nghiệp lớn hay sao? Các nhân sĩ hiếu khách, xin chớ giẫm lên vết xe đổ này!

Báo ứng của việc sát sanh hại vật

Đới Đại Phan ở vùng Tô Châu là chủ nhân của quán “Thiên Ngư miến” y vốn là con người tự tung tự tác, tàn nhẫn, ưa giết hại. Sự kinh doanh hàng quán của y sở dĩ đắc khách hơn so với quán khác là vì y có một nghệ thuật nấu nướng rất độc đáo. Y đem lươn bỏ vào một cái nồi bằng sắt, đặt cái nồi ấy lên trên bếp rồi chưng, thế rồi y dùng máu của lươn đem trộn với bột mì hương vị thật thơm ngon.

Đới Đại Phan vừa tính toán vừa cười khanh khách, nói: “Thu nhập ngày càng khấm khá nhỉ?

Con trai y là Đới Đại Hỷ nói: “Ba ơi, chúng ta đổi nghề khác đi ba, cái nghề này sao mà tàn nhẫn quá!”

– Cái thằng nhỏ u mê kia chẳng phải tiền vô nườm nượp là gì? Còn mong thứ gì nữa? Đi đi! Đổi nghề gì nào? Đổi nghề khác thì có được nhiều lợi như thế này không? Toàn là ăn nói hồ đồ!

Thế rồi, năm tháng trôi qua. Một ngày kia, người cha đi đâu không thấy về, Đới Hỷ men theo bờ sông đi tìm kiếm cha.

Đột nhiên, Đới Hỷ đau đớn kêu thảm thiết: “Ôi! Cha ơi!”

Thế là người ta chỉ thấy cái thây của Đới Đại Phan trôi tấp vào bờ, trên thân hàng vạn con lươn đeo bám xung quanh.
Trên bờ sông, vô số người kéo nhau đến xem, không ai là không kinh hãi, cùng nhau bàn tán xôn xao. Đúng là nhân nào quả nấy!

Làm việc ác thì phải gặt lấy quả xấu, đó là điều tất nhiên như câu truyện trên. Nhân quả báo ứng ví như vỗ hai bàn tay vào nhau sẽ phát ra tiếng, tiếng đó là tự nhiên mà có, định luật nhân quả cũng vậy.

Nếu gieo nhân lành thì chúng ta sẽ gặt quả báo lành. Nếu làm ác thì bị ác báo. Không làm không có. Nhân nào quả nấy, nhân quả rất công bằng, người xưa thường nói: “Thiện có thiện báo, ác có ác báo”. Nếu chưa có quả báo là do chưa đủ duyên. Người làm thiện chưa hưởng thiện báo, bởi vì thời gian chưa đến, song nhất định sẽ có quả báo. Vì vậy, mà ta không nên nản chí, thối tâm cho rằng trời bất công. Trời Phật không có thưởng phạt ai hết. Nhân quả là định luật tự nhiên do sự sinh tồn của vạn vật mà tự tạo ra nó. Nếu ban thưởng được thì Phật từ bi sẽ cho mình sự hạnh phúc và bình an hết rồi, mình đâu còn khổ nữa, đâu phải cứu độ mọi người làm chi cho mệt mỏi.

Nếu chúng ta làm việc ác thì dù có bay lên trời, trốn trong núi cao, lặn xuống biển sâu đều không thể trốn thoát được. Khi nghiệp báo đến rồi thì phải chịu báo ứng do mình tạo. Chúng ta không thể oán trách hay cầu xin ai được, ai làm nấy chịu và không ai có thể thay thế tội cho nhau được, mình làm thì mình phải chịu. Nhân quả công bằng là vậy! Vì thế, chúng ta nên cẩn thận khi hành động và suy nghĩ để không bị những ác báo khổ đau cho mình.

Việc thiện nhỏ chớ bỏ
Việc ác nhỏ chớ làm
Nhân quả luôn công bằng,
Xưa nay vẫn đúng hết,
Không bao giờ sai lệch.

 2/-  Đạo Tặc

Thọ nghiệp đeo mang xác thân trong sáu nẻo, không loài nào không lấy tham dục làm nguồn gốc; tiếp nhận hình hài do tinh cha huyết mẹ, bất cứ ai ai cũng lấy tiền tài làm căn bản. Tuy rằng người người mặt mày mập ốm cao thấp sang hèn ngu trí giàu nghèo… khác nhau, nhưng mà tham tài tiếc lợi hoàn toàn y hệt. Thế nên đứng trước tiền của tùy tiện có được, chẳng gọi là người trí thức; trông thấy bạc vàng quên hết nghĩa tình, không phải là người hiền đức.

Vả lại, hết thảy ngọc ngà cửa nhà sang trọng, xe tàu bóng lộng , ruộng vườn cò bay thẳng cánh là cái nương cậy bên ngoài; Tin sâu nhân quả hiểu rõ thế sự vô thường, một lòng mong mỏi cầu về Tây Phương, để ra khỏi luân hồi là của báu thù thắng bên trong; Lý nên tỉnh ngộ! Nếu nghèo thì mình nên tùy hỷ với người giàu có, há vì sự nghèo khổ túng thiếu mà sanh tâm tham lam giành lấy tài sản của người ư? Giả như, biết tội lỗi của trộm cướp, thì hãy rán răn chừa sống đời sống công bình chánh đáng ắt hẳn sẽ thơm tho thanh bạch!

Vì vậy, cơm bữa sáng không chỗ nương nhờ, ngủ buổi tối không nơi gởi gắm, như chim dừng cánh hươu nương náo bìa rừng, thân thể trần trụi nằm co quắp bên lề đường, tháng ngày cứ mãi lang thang tìm phương kế sinh nhai. Liền khiến cho con theo ngựa Hồ phi về phương Bắc, mẹ theo đàn én di tản về Nam, vợ tợ nước dòng sông hối hả chảy về biển Đông, chồng như mặt trời bươn bả lặn bóng về non Tây; không có ai trông về cố hương mà chẳng đứt ruột đau lòng, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn mà nước mắt đầm đìa lệ tuôn xối xả, bụng dạ buồn đau mặt mày ủ dột!

Khổ sở như thế, đều do nhân ở đời trước keo kiệt đã không bố thí, lại trộm cướp dối trá lường gạt mà ra. Do đó trong kinh nói: “Muốn biết nhân quá khứ, hãy nhìn quả hiện tại; muốn biết quả vị lai, khá nhìn nhân hiện giờ”. Bởi vậy, nên khuyên nhủ mọi người cố gắng đừng dấy tâm trộm cướp, thậm chí gặp của rơi lòng dạ cũng vẫn an định bình thản như nhiên, chẳng chút động tâm!

Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Nếu kẻ trộm cướp đồ vật bị chủ nhân bắt trói giao cho nhà vua trị tội. Nhà vua lập tức sai người nhốt vào lao ngục, hoặc cắt đứt tay chân, hoặc xẻo mũi móc mắt, hoặc dùng gươm đao chém chặt, hoặc bắn tên… Giết chết bằng các loại đau khổ cùng cực như vậy, chỉ vì phạm tội trộm cướp.

Vì nhân duyên của ác nghiệp này, sau khi mạng chung sanh vào trong địa ngục, lửa dữ đốt cháy trên thân, nước đồng sôi rót vào miệng, vạc dầu lò than, núi đao rừng kiếm, địa ngục tro bụi, địa ngục hầm phân, đàm giải,… giày vò nung nấu, nhận chịu đủ loại đau khổ như vậy, chua xót khổ sở đớn đau không thể kể xiết, trăm ngàn vạn năm không mong gì thoát ra được.

Tội của địa ngục kết thúc thì sinh vào trong loài súc sanh làm thân voi, ngựa, lừa, la, trâu, bò, lạc đà… trải qua trăm ngàn năm dùng sức lực để đền trả nợ cũ cho người.

Tội của súc sanh kết thúc thì sinh vào trong loài ngạ quỷ, đói khát khổ não không thể nói hết. Ngay cả tên gọi của nước mà còn được không nghe nhắc đến, trải qua trăm ngàn năm nhận chịu khổ đau như vậy.

Tội trong ba đường ác kết thúc thì sanh vào giữa loài người.

Khi sanh trong loài người thì phải chịu hai loại báo ứng:

1- Bần cùng, áo không che kín thân, cơm không đủ nuôi miệng;

2- Thường bị vua-giặc-nước-lửa và con hư cướp đoạt những của cải mà mình đang có được”.

Quả báo chính:
Tham lam trộm cướp vào địa ngục,
Núi kiếm non đao bị ném vào.
Chim rắn hùm beo răng bén nhọn,
Mổ não xé tim vang thét gào.
Dùng nước đồng sôi rót vô miệng,
Chạy khắp đông tây thoát đặng nào!
Chày sắt gậy sắt đập thân nát,
Trãi nghìn muôn kiếp chịu khổ đau.

Quả báo phụ:
Trộm cướp đã gây nhận quả báo,
Rơi vào địa ngục moi tim não.
Tội hết sanh lại trong loài người,
Của cải tiêu tan bị lừa đảo.
Phải chịu bần cùng khốn khổ luôn,
Ăn chẳng đủ cơm, mặc thiếu áo.
Thân phận thấp hèn ai cũng khinh,
Chẳng có nơi nào để nương náo.

*Thời nhà Hán có Vương Đồn làm huyện lệnh huyện Mi, trong huyện có Li đình, đình này thường có quỷ, nhiều lần giết người.

Một hôm, có dịp ngang qua đây, Vương Đồn ngủ lại trên lầu, trong đêm có cô gái, nói là muốn bày tỏ nỗi oan, không có áo quần tự che thân. Vương Đồn lấy áo quần đưa cho, mới tiến lên thưa rằng: “Thiếp vốn là thiếp của Bồi Lệnh. Lúc trước vì muốn đi đến quan phủ, khi đi qua đình này ở lại nghỉ đêm, đã bị đình trưởng giết hại thiếp, lớn nhỏ hơn mười người, chôn ở dưới lầu, đoạt lấy áo quần tiền bạc và đồ vật. Đình trưởng nay là Du Khiếu dưới huyện môn”.

Vương Đồn nói: “Thôi được, ta sẽ giải oan cho cô! Từ đây về sau đừng tiếp tục tùy tiện hại người lương thiện bừa bãi nữa!”

Quỷ trả lại áo quần mà biến mất.

Sáng ra, Vương Đồn cho thuộc hạ đi bắt Du Khiếu đến. Sau một hồi tra xét vặn hỏi hắn liền nhận tội. Lại bắt hết đồng bọn liên can hơn mười người, cả thảy đều đem xử tử.

Khai quật lấy các thi hài nạn nhân đem tẩn liệm và chôn cất chu đáo, ngôi đình từ đó về sau mãi mãi yên lành, mọi người chứng kiến vô cùng kinh lạ cảm thán.

*Niên hiệu Đại Nghiệp thời nhà Tùy, hơn hai mươi cây số về phía Đông Nam thành Nghi Châu, có một gia đình họ Hoàng Phủ, ở nhà anh em có bốn người, anh lớn em nhỏ ai cũng chịu khó lo việc làm ăn, vô cùng nhân từ trung hiếu. Người con trai thứ hai tên là Thiên, giao du với bạn xấu chỉ biết ăn chơi chứ không lo làm việc sinh sống.

Hôm nọ, người mẹ lấy 60 đồng tiền muốn đến chợ mua đồ dùng, mà đặt trên giường nằm. Mẹ đi ra nhà sau, Thiên từ ngoài đi vào nhà, quay nhìn xung quanh thấy không có người, liền trộm lấy tiền mang ra ngoài riêng mình sử dụng. Đến lúc bà mẹ quay vào tìm tiền không có, không biết con mình lấy đi mất, thế là tra xét cả nhà, người nào cũng đều nói rằng mình không lấy.

Bà mẹ tức giận vì cả nhà không trong sáng, liền đánh đập từ lớn đến bé, vì thế mọi người đều bị oan ức nên sanh tâm oán trách.

Đến năm sau thì Thiên qua đời, đầu thai vào trong bụng heo mẹ đang nuôi trong nhà, trải qua 3 tháng đẻ ra một con heo con. Hai năm sau, gia đình cần tiền nên bán cho thôn xã tế thần, với giá 600 đồng tiền, quan tế thần bắt đem đi. Vào lúc đầu đêm, Thiên liền cảnh báo làm cho cả nhà lớn bé đều tỉnh giấc, trước tiên dùng mũi chạm vào người vợ, mà nói rằng:

– Tôi là chồng của cô, vì lấy của mẹ 60 đồng tiền, làm oan ức đến cả nhà phải chịu tra khảo khổ sở, khiến tôi làm heo, nay đến trả nợ. Nay đem bán cho người tế thần, người tế thần trói chặt tôi sắp giết, cô là vợ tôi, sao nhẫn tâm không nói với mọi người chuộc tôi về?

Người vợ ban đầu giống như trong mộng, bỗng giật mình thức giấc trong lòng kinh hãi, nhưng vẫn chưa tin; tiếp tục ngủ lại mộng thấy y như vậy, heo lại dùng mũi chạm vào người vợ, người vợ kinh sợ mặc áo đi đến nhà báo cho mẹ chồng biết.

Mẹ chồng đã ngồi dậy, mọi người trong nhà cũng cùng mộng thấy giống y như nhau, nên đêm ấy liền sắp xếp cho anh trai và con trai của Thiên đến chuộc heo về, đồng thời mang theo 1200 đồng tiền. Mẹ nói cho con trai biết rằng: nếu như quan tế thần không chịu, thì cầu xin trả cho gấp đôi số tiền. Sợ rằng trời sáng heo sẽ bị giết nên cỡi ngựa chạy rất nhanh, vì cách xa nhà hơn 15 cây số. Người con trai Thiên khi đã đến nơi, không nói ra lý do của mình, sợ rằng bôi xấu gia tộc, chỉ nói không cần phải giết, nay muốn chuộc lại heo. Quan tế thần không đồng ý, vì giờ cúng tế thần linh cũng đã sắp sửa đến rồi, nên ông không cho chuộc.

Nhiều lần ân cần năn nỉ nhưng không được chấp thuận, người anh của Thiên nôn nóng e sợ rằng heo sẽ bị giết, bèn tìm đến một người có hiểu biết và có uy tín trong vùng, đã từng nhậm chức huyện lệnh, kể lại đầu đuôi sự tình như vậy, sau mới chuộc được, khi đã chuộc được heo rồi xua chạy vào thửa ruộng hoang, người anh nói với heo rằng:

– Ông quả thật là em trai ta, thì ông hãy gấp rút trở về nhà trước!

Người con cũng nói với heo:

– Quả thật là cha tôi, cũng nên tự mình trở về nhà trước!

Heo nghe lời nói này liền chạy nhanh ở phía trước trở về nhà. Sau trải qua một thời gian, mọi người bà con xóm làng đều hay biết nên trai gái trong nhà xấu hổ vô cùng, những kẻ có kiềm khích với gia đình đều lấy heo ra để mắng nhiếc mỉa mai, nói xa nói gần, các đứa con của Thiên không chịu đựng nổi mới lại gần thủ thỉ với heo rằng:

– Nay cha tạo nghiệp bất thiện nên nhận chịu thân heo như vậy, trai gái trong nhà xuất đầu lộ diện không được, ngày cha còn sống, đã cùng với bác Từ Hiền Giả kết giao sâu đậm, bây giờ cha hãy sang bên đó ở, các con sẽ mang thức ăn cung cấp đầy đủ cho cha!

Heo nghe nói lời như vậy, hai hàng nước mắt chảy ra ràn rụa, liền vẫy đuôi rồi tự đi đến nhà họ Từ, nhà họ Từ cách xa hơn 20 cây số.

Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ 11, heo qua đời ở nhà họ Từ. Tin và biết rõ nghiệp báo không lựa chọn thân sơ, rõ ràng như ở trước mắt, há không thận trọng hay sao?

*Cũng trong khoảng niên hiệu Đại Nghiệp thời nhà Tùy, tại Lạc Dương có người họ Vương chuyên tâm hành trì ngũ giới, nên được mọi người xung quanh gọi ông là Vương Ngũ Giới. Ông thường nói đúng những việc sắp sửa xảy ra, tất cả nhân dân trong thôn ấp thảy đều kính tin. Một hôm bỗng nhiên ông nói với mọi người:

– Hôm nay sẽ có người dẫn đến cho ta một con lừa!

Quả thật đến trưa hôm ấy, có người dẫn đến cho ông một con lừa vừa khóc lóc vừa kể lể:

– Tôi sớm mất cha, mẹ sống một mình nuôi một trai, một gái. Khi người con gái lấy chồng chưa bao lâu thì mẹ cũng qua đời, đến nay đã hai mươi năm. Tiết thanh minh vừa rồi, tôi cưỡi lừa, mang thức ăn và rượu đến mộ cúng tế mẹ. Mộ nằm phía đông sông Y, nhưng lừa không chịu qua sông. Tôi dùng roi đánh đập, khiến đầu mặt của lừa đều tuôn máu. Vừa đến mộ, tôi bỏ lừa để bái tế. Lát sau không thấy lừa ở đâu, liền trở về nhà.

Ngày hôm ấy, một mình người em gái ở nhà, bỗng nhiên thấy mẹ hiện về, đầu mặt tuôn máu, thân hình tiều tụy, khóc than với con gái: “Lúc còn sống, mẹ không thích anh con, nên lén lấy năm đấu gạo đưa cho con. Do tội này, hôm nay mẹ phải chịu quả báo làm thân lừa, đền trả cho anh con trong năm năm. Hôm nay mẹ không chịu lội qua sông Y, vì nước sâu, mẹ sợ. Anh con dùng roi đánh mẹ đến nông nỗi này. Lát sau, khi anh con về đến nhà, chắc sẽ lại tiếp tục đánh mẹ nữa. Cho nên mẹ chạy đến đây báo cho con biết. Nợ ta trả sắp hết, sao lại phi lý đánh đập ta khốn khổ thế này!”.

Nói xong người mẹ liền đi, người em gái tôi mới chạy đi tìm kiếm, nhưng không thấy mẹ đâu hết.

Lát sau tôi trở về, em gái thấy đầu mặt của lừa bê bết máu giống như tình trạng của mẹ vừa rồi, vội chạy đến ôm lấy và gào khóc. Tôi lấy làm lạ, mới hỏi nguyên do. Em gái thuật lại tường tận, thật phù hợp với những gì mà tôi đã làm và chứng kiến. Thế là anh em ôm nhau gào khóc, lừa cũng tuôn lệ, không chịu ăn uống gì. Tôi và em gái đồng quì xuống thưa:

– Nếu thật là mẹ, thì xin hãy ăn uống!

Lừa nghe lời liền ăn, nhưng chỉ ăn một ít rồi thôi. Anh em tôi không biết làm thế nào, chỉ chuẩn bị lúa thóc và đưa đến chỗ Vương Ngũ Giới đây.

Sau đó lừa lại chịu ăn uống, không bao lâu lừa chết. Hai anh em mang xác lừa về chôn cất.

*Vào đời nhà Đường, ở huyện Văn Thủy thuộc Tịnh Châu, có người tên là Lý Tín, làm vệ sĩ ở phủ Long Chính. Vào một mùa đông trong khoảng niên hiệu Hiển Khánh đời Đường Cao Tông, Lý Tín theo thông lệ đến Sóc Châu nhận việc, khi đi cưỡi con ngựa ký màu đỏ, có dắt theo một chú ngựa non. Bấy giờ đang lúc trời rất lạnh, gió rét, tuyết rơi dày, đi được hơn mười dặm thì ngựa không cất bước nổi. Lý Tín dùng roi quất ngựa, đến roi thứ mười thì ngựa bỗng cất tiếng nói như người, bảo Lý Tín rằng: “Tôi vốn là mẹ của ông trước đây. Bởi lúc còn sống phản bội cha ông, lấy trộm hơn một thạch gạo cho riêng đứa con gái nhỏ, nên bây giờ phải chịu quả báo thế này. Con ngựa non kia chính là em gái của ông, nhận số gạo ăn trộm ngày trước nên nay cũng chịu quả báo trả nợ đó.”

Lý Tín nghe qua không cầm được nước mắt, liền tháo dây cương với yên ngựa ra, tự mình mang lấy và nói với ngựa: “Nếu đúng là mẹ ta thì xin tự đi về nhà trước.” Ngựa lập tức theo đường quay về nhà.

Từ đó, mấy anh em nhà Lý Tín liền dựng một căn nhà riêng để nuôi dưỡng con ngựa ấy, cùng nhau chăm sóc. Có người bạn đồng nghiệp của bà trước đây thường vì bà mà cúng dường trai tăng, lễ sám. Cả nhà Lý Tín từ đó đều tinh tấn tu tập hành trì.

Tiền bạc của cải có thể chung nhau sử dụng, ắt không đâu bằng trong gia đình vợ chồng con cái với nhau, ấy vậy mà trộm lấy của trong gia đình vẫn phải chịu quả báo nghiêm khắc, tơ hào không sai lệch. Những ai làm cha mẹ mà yêu ghét không công bằng, thiên vị với con cái, lấy của đứa này mang cho đứa khác, nên lấy đó mà răn mình, chẳng đáng sợ lắm sao!

*Ngày xưa, ở vùng Duyên Hải có ông vua đi săn bắn, gặp một Sa môn đang tụng kinh bằng tiếng Phạn trong một hang đá. Do vì đất nước của ông chưa có Phật giáo, nên vua nghĩ rằng vị Đạo sĩ này có tài ca ngâm quá hay, liền ra lệnh quân lính bắt đem về cung. Mỗi khi vua có khách quý thì mời vị Đạo sĩ này ra ca ngâm, để cho mọi người thưởng thức.

Lúc bấy giờ có một đại thương gia là một Phật tử ở nước khác, lần đầu tiên đến xứ này buôn bán, xin yết kiến nhà vua, dâng lên lễ vật để việc kinh doanh của mình được nhiều thuận lợi. Nhân đó, vua bèn truyền lệnh cho Đạo sĩ ra ca ngâm giúp vui.

Vị Phật tử này nghe Sa môn tụng kinh ý nghĩa thâm sâu, trong lòng rất vui mừng phấn khởi, khi hỏi duyên cớ biết rõ sự tình, ông liền thương lượng với nhà vua, bỏ ra một triệu đồng tiền vàng để xin chuộc lại vị Sa môn này. Nhưng nhà vua không chấp thuận.

Sau đó ông phải tăng lên ba triệu, và giải thích tường tận lý do sự việc, lúc đó nhà vua mới bằng lòng cho chuộc. Khi chuộc xong, người lái buôn đảnh lễ Sa môn, mà thưa rằng:

– Thưa Ngài! Con đã đem ba triệu tiền để chuộc cho Ngài, bây giờ Ngài đã được tự do rồi!

Vị Sa môn liền bay lên hư không ngồi xếp bằng, nói rằng:

– Ngươi hãy tự chuộc cho mình, chứ không phải chuộc cho ta. Vì sao vậy? Thuở quá khứ vua là người bán hành. Ngươi đến nơi ông mua hành thiếu trị giá ba tiền. Ta thời ấy đã làm chứng cho ngươi, nên ngươi khỏi trả ba tiền. Từ đó đến nay số tiền vốn lẫn tiền lời đã tăng lên đến ba triệu tiền rồi vậy!

Vua nghe rõ đầu đuôi tự sự vô cùng kinh hãi, liền bái vị Sa môn làm thầy, và xin thọ năm giới, làm cư sĩ tại gia. Vị Sa Môn vì mọi người mà thuyết pháp, cuối cùng kết luận rằng:

– Mang nợ không luận nhiều hay ít, không thể không trả, cũng không thể gánh vác cho người khác được!

*Trong niên hiệu Trinh Quán triều nhà Đường, Vi Khánh Thực là người vùng Kinh Triệu làm Trường Sử phủ Ngụy Vương, có cô gái mất sớm, vợ chồng ông thương tiếc vô cùng.

Hai năm sau, Khánh Thực mời tất cả bà con khách bạn và chuẩn bị thức ăn đầy đủ. Người trong nhà mua được một con dê nhưng chưa giết thịt, trong đêm bà vợ nằm mộng, thấy cô con gái đã qua đời mặc quần áo đen, khăn trắng, trên đầu tóc có một đôi thoa bằng ngọc, là những thứ cô thường dùng lúc còn sống, đi đến gặp mẹ rơi nước mắt nói rằng: “Xưa con đã từng sử dụng đồ vật mà không nói với cha mẹ, vì nghiệp báo này, nay nhận chịu thân dê, để đền trả cho cha mẹ, mạng con sáng mai sẽ bị giết, chính là con dê đen đầu trắng, chỉ mong ân đức thương yêu rủ lòng xin cứu tính mạng!”

Bà giật mình tỉnh giấc, sáng sớm bà tự mình đi xuống nhà bếp để xem dê, quả nhiên có con dê đen, cổ và ức đều trắng, trên đầu có hai chấm trắng, tương tự như hình dạng cái thoa cài tóc bằng ngọc. Bà đứng trước dê đau lòng rơi lệ, ngăn người nhà đừng giết con dê, chờ Khánh Thực đến thả cho đi.

Lát sau Khánh Thực đến thúc giục làm thức ăn, người trong bếp thưa rằng: “Phu nhân không cho phép giết thịt con dê ấy!”.

Khánh Thực giận dữ liền ra lệnh giết dê, người mổ thịt dê treo dê sắp giết, khách bạn có nhiều người đã đến, quả là thấy treo một cô gái dung mạo đoan chánh, nói với những người khách rằng:

“Tôi là con gái của Trưởng Sử họ Vi này, xin chư vị hãy cứu mạng tôi!”

Các vị khách ban đầu kinh ngạc, liền ngăn người mổ thịt dừng tay. Người mổ thịt sợ Khánh Thực nổi giận, lại chỉ thấy con dê kêu gào chứ không nghe tiếng người nói, tức thì giết con dê mổ thịt.

Sau đó khách bạn ngồi vào bàn nhưng không ăn, Khánh Thực cảm thấy lạ lùng bèn hỏi nguyên do, khách bạn nói rõ đầu đuôi sự việc, Khánh Thực đau lòng vô cùng.

Sau đó không bao lâu ông phát bệnh không ngồi dậy được.

*Thời nhà Đường ở vùng làng quê khu chợ nhỏ gần Trường An có phong tục, mỗi khi đến ngày đầu năm, thì theo thứ tự làm đồ ăn thức uống mời nhau, gọi là Truyền Tọa.

Nhà họ Triệu ở chợ Đông theo thứ tự đầu tiên sẽ tổ chức bữa tiệc. Có người khách đến sớm, đi ra phía sau trông thấy trên cối giã gạo, có bé gái khoảng 13 tuổi, mặc quần xanh áo trắng, bị dây thừng buộc cổ, trói vào cây cột của chiếc cối giã gạo, rơi nước mắt nói với người khách rằng: “Tôi là con gái của chủ nhân, trước kia vào lúc chưa chết, lấy trộm của cha mẹ 100 đồng tiền muốn mua son phấn, chưa kịp sử dụng mà chết, số tiền đó nay còn trong góc tường phía Tây Bắc trong nhà bếp, nhưng tôi chưa sử dụng, mà đã lấy trộm tiền, vì vậy phải mang tội, nay cần phải đền bù mạng sống cho cha mẹ!”

Nói xong hóa thành con dê đầu trắng. Người khách kinh hãi nói cho chủ nhân biết, chủ nhân hỏi về hình dáng dung mạo của cô bé, đúng là con gái bé nhỏ của mình, chết đã hai năm rồi.

Bèn vào phía góc tường nhà bếp lấy được 100 đồng tiền, hình như đặt vào chỗ ấy đã lâu.

Ngay sau đó đưa con dê đến chùa Tăng nuôi dưỡng, rồi cả nhà không dám ăn thịt nữa.

*Thời nhà Đường có quan chủ bộ họ Chu ở huyện Quán Đào, thuộc Ký Châu.

Niên hiệu Hiển Khánh thứ11, nhận lệnh đi sứ vào phạm vi của thành Quan Hỗ Lâm Du.

Lúc sắp lên đường, dẫn hai người giúp việc cùng đi theo. Họ Chu mang theo tiền bạc và lụa là hơi nhiều một chút.

Hai người giúp việc nổi lòng tham, nên cấu kết với nhau bèn dùng dao giết ông chết, cướp lấy tất cả tiền bạc lụa là đều mang đi hết, chỉ có áo quần mặc trên người là không lấy.

Trải qua hơn một tháng, ông báo mộng cho bà vợ, kể lại đầy đủ tình trạng bị giết hại, và nói rõ nơi chốn cất giấu tiền bạc đồ vật.

Người vợ bèn trình báo với quan địa phương.

Quan trên y theo giấc mộng của bà mà điều tra vụ án, khi đã tìm được đầy đủ tất cả tang vật của cải tiền bạc lụa là, bèn bắt hai người giúp việc kia xử tội chết.

Lừa tiền hại mạng, sống vẫn thấy địa ngục

Những năm Thuận Trị triều Thanh, tỉnh Giang Tây có người tên Ngô Trạm Thất làm nghề bán vải. Tính y tham lam xảo quyệt, lòng dạ khó đoán. Khi bán vải y thường hay bày vải đẹp làm mẫu, tranh thủ sự tín nhiệm của khách hàng trước, chỉ cần khách hàng chọn được vải, y liền dùng hàng kém chất lượng thay thế hàng tốt, khiến khách hàng mua phải vải xấu. Vải đã bán xong mà mẫu vẫn còn, y hoán đổi rất tài tình.

Có vị thương gia Tây Dương cử một người bạn cùng nghề đi mua vải, bị Ngô Trạm Thất giở trò, mua hàng xấu về. Vị thương gia trách mắng bạn mình, người bạn rất tức giận nói rằng: “Vậy thì đích thân ông đi xem, cũng chẳng tránh được bị lừa!”

Vị thương gia nói: “Đâu có đạo lý như vậy? Nếu lần này đi mua không được hàng thật, tôi quyết không đến tìm gặp ông.”

Ngày hôm sau, vị thương gia đích thân ra đi. Ông vừa tìm đã thấy mẫu vải ưng ý trong kho hàng của Ngô Trạm Thất, vị khách bèn ngồi xổm trên cuộn vải, khiến Ngô Trạm Thất không thể tráo đổi. Ngô Trạm Thất thấy vậy vô cùng lo lắng, bèn bày mưu, vội vàng ra khỏi quầy chào đón, quần áo chỉnh tề, cung kính hành lễ chào vị thương gia như chào một người bạn cũ. Vị khách bất đắc dĩ đành phải vội vàng đứng lên đáp lễ, rồi lại nhanh chóng ngồi xổm trên cuộn vải. Nhưng nhằm vào lúc sơ hở này, Ngô Trạm Thất đã ngầm sai người đổi cuộn vải đó. Vị thương gia không phát hiện ra, trả xong tiền, liền vội vàng trở về nhà. Gặp bạn ông ngay lập tức mang vải ra cho bạn xem. Người bạn lấy vải ra xem, kiểm tra kỹ càng, hóa ra vẫn là loại vải thô vô cùng kém chất lượng, mục nát, mỏng tới mức không thể dùng được.

Người bạn mang ra so với cuộn vải lần trước thì không có chút khác biệt. Người bạn trách vị thương gia: “Ông đích thân đi mua, sao lại thế này?”

Vị thương gia biết mình đã bị lừa, mua lầm vải xấu đã rất phiền lòng, lại nghe bạn khiển trách; ông nhớ tới lời nói cao ngạo trước đây của mình tự lòng thấy vừa xấu hổ, vừa giận dữ liền treo cổ tự vẫn.

Ngô Trạm Thất âm mưu quỷ quyệt, chỉ mưu tính lợi riêng, chỉ thấy cái lợi trước mắt. Đến những năm Thiên Khải, trong một chuyến đi xa y mắc trọng bệnh, nằm ở nhà trọ thường mơ thấy những con quỷ đuổi bắt y mang đi hành hình, khiến y phải chịu đựng đủ mọi hình phạt lao tù. Cho nên y thường hay phát ra tiếng rên rỉ ai oán khủng khiếp, ngày đêm không dứt. Y từng nằm trên chiếu hét lớn: “Cứu ta với! Cứu ta với! Chúng bắt ta trói trên giường lửa rồi!”

Mọi người xung quanh nghe mà rụng rời chân tay, thấy sau lưng y quả nhiên xuất hiện một vệt bỏng màu đỏ như bị thép nóng nung. Y còn lớn tiếng kêu gào: “Ôi trời ơi! Sao lại dùng móc sắt móc lưng của ta mà cân thế này!”

Mọi người càng cảm thấy kỳ dị, chỉ biết lần theo tiếng kêu của y mà xem xương sống lưng, thấy có chút sưng đỏ, dường như quả thực có người đang dùng móc cân y.

Y không ngừng kêu lên những cực hình đau đớn trong ngục, quả thực như sống trong địa ngục vậy, chịu đau đớn trong vài ngày liên tiếp y mới tắt thở.

Kỳ thực bất kể hành vi độc ác của con người có gian ngoan, xảo quyệt và được che giấu kỹ như thế nào, cũng đều đã gieo nhân ác, báo ứng chắc chắn sẽ đến chỉ là chuyện sớm hay muộn mà thôi.

Pháp Quan Kỳ Án

Một buổi sáng tháng 7 năm 1978, tại một cao nguyên huyện Đài Bắc, hai vợ chồng Thái A Vượng và người bạn thân Lâm Thuận Xa cùng nhau quảy gánh lên núi hái trái vải. Khi đi ngang qua một hang động bỏ hoang lâu năm, thì bỗng thấy từ trong chạy ra ba con chó, mồm chúng ngậm nội tạng người đang nhỏ máu long tong. Anh Xa hiếu kỳ rón rén bước vào động xem sự thể thế nào, nhưng cảnh tượng đáng sợ trước mắt khiến anh kinh hoàng đứng chết sững: một tiên sinh hơn sáu mươi tuổi đang nằm trên vũng máu, ngực bụng bị xé rách, nội tạng bị ba con chó hồi nãy ngoạm chạy ra ngoài. Càng khủng khiếp hơn nữa là ngồi bên cạnh xác chết là một cô gái điên đầu tóc bù xù, đang cầm khúc ruột của nạn nhân quấn quanh cổ chơi đùa rất là vui thích.

Anh Xa sợ đến lông tóc dựng đứng, vội quay đầu chạy ra khỏi động, lập tức cùng vợ chồng anh Vượng đi báo án.

Cảnh sát được tin, vội đến hiện trường, nhìn thấy nạn nhân ngoài việc bụng ngực bị moi khoét trống rỗng, thì các chỗ khác không bị thương chi. Điều khó hiểu là cô gái điên bên cạnh vì sao không bị tổn hại gì? Tại sao mấy con chó chỉ cắn lão già mà không cắn cô?

Bao nhiêu nghi vấn nổi lên, tính chất vụ án kì bí này như thách thức khả năng chuyên môn của những người trong ban phá án.

Nhờ sự hợp tác giúp đỡ của dân chúng, cảnh sát đã nhanh chóng điều tra ra tên người chết là Liêu Ký Đức, còn cô gái điên tên Liêu Tú Tú, là con gái ông, hiện bị tâm thần nặng, họ ngụ tại trấn Thọ Lâm gần đấy.

Căn cứ theo hồ sơ thì năm 1949 ông Đức theo chính phủ Quốc Dân tới Đài Loan, làm thẩm phán 28 năm. Ông có kiến thức luật phong phú, nhưng tâm bất chánh, tính tham tài háo sắc cực độ, là vị quan tham nhũng tiêu biểu, một năm trước ông nghỉ hưu, về ẩn cư tại trấn Thọ Lâm.

Năm 1953, một vị công chức thuộc ngành Hải quan Đài Bắc tên Ngưu Đồng Đoan do tham ô mà bị tòa sơ thẩm tuyên án mười năm tù. Trong lần tái xử án thì do thẩm phán cũ đã chuyển đi, ông Đức được cử đến nhậm chức xử lý.

Tại pháp đình, thấy tình nhân của ông Đoan là Phấn Châu cũng đến dự thính, do nàng rất xinh đẹp mỹ lệ, nên thẩm phán Đức cứ nhìn chòng chọc không rời. Sau đó còn cố ý ra oai quát nạt ông Đoan, hăm rằng án tù 10 năm là quá nhẹ, nếu tìm ra tội chứng mới ông sẽ phán ít nhất 15 năm!

Ông Đoan nghe vậy quá sợ, chắp tay van cầu phán quan bao dung giảm án cho. Nhưng ông Đức không chấp nhận.

Mấy ngày sau ông Đức chủ động gọi điện hẹn gặp riêng luật sư biện hộ cho ông Đoan và nói úp úp mở mở rằng án của ông Đoan có thể nặng mà có thể nhẹ, nếu như người đẹp Phấn Châu chịu ra mặt cầu xin thì may ra có thể chuyển đổi được.

Nghe nói thế luật sư đã biết rõ bụng dạ ông Đức, bèn nói sẽ thuyết phục ông Đoan đồng ý cho Phấn Châu đến hầu hạ ông Đức một tuần. Xong việc, ông Đức vẫn không hài lòng, còn bắt người nhà ông Đoan phải nộp một khoản tiền kếch xù. Cuối cùng, khi tài sắc đã vơ vét ưng ý rồi, ông Đức mới tuyên bố giữa tòa là tội chứng không đủ và phán cho ông Đoan sáu tháng tù. Nhưng cho phép nộp tiền phạt thay cho ngồi tù. Thực tế là xem như vô tội, ông Đức tự tiện phóng thích phạm nhân, một tay che cả bầu trời!

Ông Đức một mình đến Đài Loan, làm thẩm phán mới mấy năm, nhờ tham ô mà giàu to. Qua bạn bè giới thiệu, ông cưới Thúy Đào, một cô gái con nhà nông, nhỏ hơn ông 13 tuổi. Cô này vừa hiền, vừa kiều diễm. Năm sau thì sinh hạ bé Tú Tú.

Đáng tiếc là Tú Tú lúc hai tuổi, Thúy Đào bị ung thư ngực qua đời. Ông Đức do “bận rộn công vụ” nên đối với con thiếu sự chăm nom. Vì Tú Tú trong một lần cảm mạo phát sốt quá cao, do không kịp đi bệnh viện mà biến thành ngớ ngẩn trầm trọng.

Đối với cái chết của vợ và con bị ngây ngô, là hai đả kích rất nặng. Nhưng ông Đức chẳng mảy may hiểu biết để thức tỉnh rằng đây là quả báo do mình thiếu đức. Ngược lại ông càng ra sức lợi dụng chức quyền để tranh danh đoạt lợi, vơ vét cho đầy túi riêng. Còn lớn tiếng khoe khoang rằng với chức quyền và danh vị cũng như mưu lược của ông, sẽ có vô số mỹ nữ tìm đến nộp mạng và vàng bạc sẽ tự động đổ vào túi ông.

Vì thế trong suốt 28 năm nắm chức quyền, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm, ông toàn làm những điều thương luân hại lý. Giở đủ thủ đoạn hạch sách, bắt chẹt và tạo ra vô số án oan, án mạng.

Có nhiều người vì ông ăn đút lót tuyên án oan, uất ức sinh bịnh chết trong tù, vợ bất bình tự sát. Biết bao gia đình nhà tan cửa nát vì ông có quyền cao chức trọng mà không có lương tâm.

Trong thời gian làm thẩm phán, ông đã hại chết biết bao sinh mạng, hủy hoại nhiều gia đình. Tội ác dẫy đầy. Năm 1977, ông Đức cuối cùng cũng thoái hưu và cùng một quả phụ ẩn cư tại cao nguyên thuộc trấn Thọ Lâm.

Một sáng nọ ông dẫn con gái đi dự lễ ngang qua cửa động thì Tú Tú đòi vào nghỉ một chút. Ông chìu ý con và khi ông bước vào động thì đột nhiên có ba con chó xông đến, khí thế dữ dằn nhắm thẳng vào ông nhe răng bén, giương móng vuốt hung ác cào ngực, xé bụng ông. Chưa đầy mấy phút chúng đã lôi hết ngũ tạng lục phủ ông ra và ông Đức lìa đời trong thống khổ tột độ.

Ba con chó đao phủ thực hành án tử cho ông Đức rất mau. Khi hoàn thành sứ mệnh rồi, thì chúng chạy đi như làn chớp, biến mất tăm không để lại dấu vết. Chỉ còn Tú Tú ngồi bên cạnh mặt mày cực kỳ vui vẻ, thản nhiên cầm ruột của cha quấn quanh cổ chơi, bộ dạng rất đắc ý như thể vừa làm việc gì tốt lắm vậy.

Chức vị thẩm phán là chấp pháp công minh, thi hành quốc luật, không thiên vị riêng tư! Nhưng ông Đức bị sắc tài làm cho mê muội, toàn lạm dụng chức quyền để thu lợi cho mình, phụ lòng quốc gia và nhân dân ký thác.

Báo ứng hiện tiền của ông là bài học cảnh cáo thế nhân, cho dù có tránh được pháp luật trừng trị, thì cũng chẳng thể nào tránh được báo ứng nhân quả, nên nói: “Thiên lý chí công, trốn một lúc nhưng không trốn được cả đời”.

Nếu tin sâu nhân quả thì chúng ta sống rất bình an, chẳng có gì phải lo phải sợ, bởi vì những thứ thực sự là của mình thì không một ai có thể chiếm đoạt. Nhược bằng chẳng phải của mình thì cho dù có cố giữ gìn cũng luống công vô ích. Giả như tài sản do lường gạt hay trộm cướp mà hưởng dụng được, thì cũng toàn là những thứ trong mạng mình đã có, nếu trong mạng không có thì chưa trộm gì là đã bị cảnh sát bắt giam vào tù rồi. Cho nên, tạo nghiệp ác là tự tổn giảm phước báu của mình, thay vì để tự nhiên thì tài sản ấy cũng sẽ đến nhưng hơi muộn một chút.
Thế nên người xưa có câu: “Quân tử thong dong làm quân tử; Tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân”.

Mời bạn về nhậu, vợ bị giết, chồng bị đâm trọng thương

Ngày 27 tháng 10 năm 2016, tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên xét xử hình sự sơ thẩm đối với Vi Văn Thắng (23 tuổi, ở xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) về hành vi Giết người và Cướp tài sản.

Theo cáo trạng, vào chiều ngày 28 tháng 5, Thắng đến nhà ông Sầm Văn Dần ở cùng xóm uống rượu. Sau khi uống hết một chai rượu, Thắng nằm ngủ lại tại nhà ông Dần. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Thắng tỉnh dậy thấy bà Vi Thị Loan (vợ ông Dần) ngồi trước cửa nhà cho gà ăn, trên tai mang đôi bông tai bằng vàng. Thắng nảy sinh ý định giết người cướp tài sản để mua ma túy.

Thắng dùng dao thủ sẵn trong người bất ngờ đâm nhiều nhát vào người bà Loan khiến nạn nhân gục tại chỗ. Nghe tiếng kêu cứu của vợ, ông Dần tỉnh giấc lao vào cứu vợ thì bị Thắng dùng dao đâm liên tiếp vào người. Thắng lấy đôi bông tai bằng vàng trên người bà Loan rồi tẩu thoát.

Một lúc sau, ông Dần bò được ra ngoài kêu cứu, người dân chạy đến thì bà Loan đã tử vong, còn ông Dần bị trọng thương được người dân đưa đi cấp cứu. Sau khi gây ra án mạng, Thắng bỏ trốn nhưng bị công an bắt giữ tại xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa, bị cáo Thắng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Thắng khai nhận do nghiện ma túy, khi thấy bà Loan có đôi bông tai bằng vàng nên đã tìm cách sát hại để cướp tài sản. Khi ông Dần phát hiện, bị cáo đâm tiếp vào người chồng để bịt đầu mối.

Kết thúc phiên tòa, , Hội Đồng Xét Xử đã tuyên phạt Vi Văn Thắng 5 năm tù về tội Cướp tài sản và tử hình về tội Giết người. Tổng hợp 2 hình phạt, Vi Văn Thắng bị tuyên án tử hình, buộc đền bù thiệt hại cho bị hại tổng số tiền hơn 250 triệu đồng.

3/- Tà Dâm

Tiếng dâm làm bại hoại phẩm đức, người trí thấu đáo tường tận nên không đắm không lụy; tướng dục làm mê muội thức thần, bậc Thánh nhân biết mà lánh mà xa. Bởi vậy, Chu U Vương mất nước ắc hẳn là vì say sưa Bao Tự; Tấn Hiếu Vũ Đế tan nhà, mất mạng thì ra do mê luyến Trương Quý Nhân; Độc Giác tiên nhơn chẳng tỉnh ngộ hổ thẹn bị cưỡi cổ; một mai rơi vào địa ngục, thấu hiểu chăng nỗi khổ cháy thân nơi giường sắt, trụ đồng? Tất cả đều vì chúng sanh cõi Dục không tu hạnh quán bất tịnh để mà xả mà bỏ, cho nên phiền não luôn trói buộc không thể nào điều phục đoạn trừ.

Vả lại, tứ đại là đất nước gió lửa, cái gì làm chủ? Da mỏng da dày bao quanh một đống phân nhơ, ngũ tạng lục phủ ruột gan phèo phổi máu mủ đờm dãi dơ bẩn tanh hôi! Thế mà, bởi ham muốn nó thường lôi dẫn con người tháng năm đọa lạc rơi vào đường ác. Phàm phu điên đảo mặc ý đắm nhiễm mê muội, cho nên vọng thấy dung mạo khả ái mỹ miều, tóc mai mày ngài môi đỏ má thắm, dáng vẻ diễm kiều bên ngoài rồi sanh lòng tham thích.

Lẽ nào chẳng biết hình hài như bọt nước tụ đọng, sắc chất tựa mây trời trôi nổi, cả trong lẫn ngoài đều trống rỗng, trong khoảnh khắc tan rã không còn, mọi chỗ trên thân thảy đều bất tịnh, ngày đêm chín lỗ tuôn chảy bài tiết những thứ nhơ bẩn thúi hôi; tất cả thể xác đều vô thường, mới vất bỏ thân nơi đồng hoang thần hồn đã gá nương vào loài sâu kiến.

Tất cả chúng sanh đều do ham hố tà hạnh nên mãi lưu chuyển sáu đường, chướng ngại ngăn che ngôi vị Bồ đề; Vì cội nguồn sanh tử mà bốn loài phải cảm lấy quả khổ trong ba cõi, thật do nơi dâm nghiệp chiêu cảm mà ra, báo ứng theo nhau như bóng với hình chỉ bởi căn bản ái dục tạo thành. Do tưới thấm nghiệp lực thiên về một phía, cho nên đấng đại trượng phu luôn quyết lòng chế ngự mà tự kiêng dè, để chẳng còn trôi lăn nơi sông mê, nổi chìm trong biển khổ!

Luận Tạng có kệ rằng:
“Đức Từ Phụ bảo rằng, người thế gian dại dột,
Bị dục vọng thiêu đốt, đến chết bỏ được nào,
Làm thành nghiệp đời sau, chịu khổ đau vô lượng.
Như anh chàng ngu bướng, thích quả thơm trên cành,
Trèo lên ăn ngon lành, cứ mãi ngồi trông ngốc,
Người ta xúm chặt gốc, cây ngã nát thân hình,
Máu me tuôn láng linh, chết trong cơn thảm thiết.
Thật đáng than đáng tiếc. Năm dục quả thật là,
Vui tí xíu đấy mà, một khi bị mất mát,
Thảm sầu thì bát ngát. Cũng như con thiêu thân,
Ngỡ hạnh phúc vạn phần, nên lao vào lửa đỏ,
Nó đâu ngờ nơi đó, là hang ổ tử thần,
Bèn kết thúc số căn. Như lưỡi dao thật sắc,
Thoa lên chút ít mật, người tham ngọt liếm vào,
Cái ngon chả là bao, máu đào tuôn xối xả,
Đớn đau dường bể cả! Sanh chúng thật đáng thương!”.

Còn trong luận Thành Thật có kệ rằng:
“Tham dục khổ thật mà, phàm phu vì điên đảo,
Vọng sanh ý tưởng vui, người trí thấy thảm não,
Thấy khổ thì đoạn trừ, thọ dục không thỏa mãn,
Như uống nước biển vào, cơn khát tăng vô hạn,
Bởi vì khát nhiều hơn, vui sướng chi đâu bạn?
Ví như con chó kia, gậm xương khô dính máu,
Thêm nước dãi trộn vào, nó nghĩ đấy tuyệt hảo!
Tham dục cũng thế mà, ở trong chỗ vô vị,
Vì sức mạnh đảo điên, cảm nghe là ưng ý,
Nên biết vì hồ đồ, thấy hiểu sai chân lý
Sắc dục cõi trần dương, đau thương dường bỉ bỉ!”.

Kinh Tạp Thí Dụ ghi: Thời Đức Phật tại thế, có một Bà la môn sanh được hai cô con gái. Khi lớn lên đến tuổi hoa xuân, cả hai cô diện mạo đều vô cùng đoan chánh, ông mới cố tình treo vàng trên cao, trong 30 ngày chiêu mộ tìm người nào có năng lực chê trách con gái mình xấu xí, thì sẽ ban cho vàng.

Cuối cùng không có ai nhận lời chiêu mộ, vị bà la môn ấy bèn dẫn hai cô con gái đến chỗ Đức Phật, Phật liền chê trách rằng: “Hai cô gái này đều xấu xí không có một chút gì đẹp đẽ”.
Tôn giả A-nan bèn thưa với Đức Phật rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Hai cô gái thật là xinh đẹp. Vì sao Đức Thế Tôn lại nói là xấu xí, không xinh đẹp?”

Đức Phật dạy: “Mắt không mê nhìn sắc đó mới là mắt đẹp, tai mũi miệng cũng như vậy. Thân không ưa theo mịn màng trơn bóng, đó là thân tốt đẹp. Đôi bàn tay không trộm cắp tiền bạc của người khác, đó là tay tốt đẹp. Nay quán sát hai cô gái này, thì mắt ưa nhìn sắc đẹp, tai thích nghe âm thanh hay, mũi ưa ngửi mùi hương, thân ưa trơn bóng mịn màng, tay thích lấy trộm tiền bạc, người như vậy thì có gì là đẹp đẽ!”.

Kinh Phật Bát Nê Hoàn nói: “Đức Phật bảo với Nại Nữ: Người đam mê tà hạnh có năm điều tự mình gây trở ngại:

1-Nhiều tai tiếng không tốt;
2- Pháp luật làm cho đau khổ;
3-Lòng luôn đa nghi;
4-Chết vào địa ngục;
5-Tội địa ngục chấm dứt nhận chịu hình hài súc sanh, như các loài bồ câu, se sẻ, uyên ương…

Tất cả đều do tội ác ấy đã gây nên.

Người nào có thể tự diệt trừ tâm tà dâm thì chẳng có năm điều trên, lại còn tăng thêm phước thiện:

1- Nhiều người ca ngợi;
2- Không sợ quan quyền;
3- Thân được yên ổn;
4- Chết sanh lên cõi trời;
5- Thuận theo ý thanh tịnh đạt đến đạo Niết bàn”.

Quả báo chính:
Tà dâm địa ngục đã sanh vào,
Ném vào núi kiếm rớt rừng đao.
Cột đồng cháy đỏ trèo lên xuống,
Giường sắt thiêu thân tránh đặng nào.
Đinh sắt nướng đỏ nuốt vô miệng,
Thi thể rã tan ác thú cào.
Rồng độc phun lửa tiêu xương tủy,
Thấu tận tâm can khổ dường bao!

Quả báo phụ:
Mê muội đắm đeo theo tà hạnh,
Đọa nơi địa ngục chịu khổ hình,
Mãn rồi làm người sẽ lâm cảnh,
Chồng vợ luôn luôn phản bội mình.
Đôi bên thường ôm lòng ngờ vực,
Chẳng ai thuận ý với trọn tình.
Lẽ nào chẳng sanh tâm hổ thẹn?
Mà gìn trinh tiết giữ tánh linh!

* Ở Thường Thục có một tay viên ngoại họ Tiền, cậy vào tiền tài, thế lực, ức hiếp kẻ khác.

Trong làng, có một phụ nữ xinh đẹp, nhà nghèo, ông bèn cho chồng cô ta mượn tiền để buôn vải ở Lâm Thanh hòng nhờ dịp đó, tư thông với vợ anh ta.

Một hôm, chồng cô ta ra khỏi cửa, do thủy triều cạn, không thể đi được, lại quay về, thấy tên viên ngoại họ Tiền đang ôm vợ mình nhậu nhẹt hoan lạc. Chồng vừa thẹn vừa giận, quay về thuyền.

Ông ngầm mưu tính với vợ anh ta, đến đêm sai người giả làm cướp giết chết. Họ hàng biết chuyện, thưa lên quan.

Đã nhận tội rồi, ông lại rải tiền bạc để chạy chọt, thoát khỏi xử phạt. Vừa ra tới cửa thành, bỗng dưng giông tố ùa tới, ông và người phụ nữ ngoại tình kia đều bị sét đánh chết tươi!

Nhận định: Đã thông gian vợ lại còn giết chồng, thiên lý khó dung, oan hồn chẳng nguôi cừu hận được! Vì thế, tuy con người mưu mô xảo quyệt, trời lẫn thần đều báo ứng. Thử xem hạng người như vậy mà được bình yên không bị báo ứng, trăm kẻ chẳng được một, cũng chẳng khác gì vung đao tự giết mình vậy!

*Vào đời Minh, tại Kinh Khê có hai người chơi với nhau khá thân. Một người giàu có, còn kẻ kia nghèo túng. Do vợ người nghèo xinh đẹp, gã giàu liền lập mưu, bảo với bạn rằng:

-Tôi có quen một gia đình bá hộ, anh có thể đến đó làm thuê, chắc chắn tương lai sẽ ổn định!

Anh nghèo nghe lời, cùng bạn chuẩn bị thuyền để chở vợ cùng đi theo. Đến non Chỉ Sơn là một quả núi thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, gã giàu bảo:

-Để vợ anh ở lại trông thuyền, tôi với anh đi trước hỏi thăm!

Gã dẫn bạn vào rừng, bất ngờ rút rìu giắt sẵn sau lưng chém chết. Xong rồi hắn giả vờ khóc lóc bi thảm, quay xuống núi. Tới bờ sông, hắn bảo với cô vợ của anh bạn rằng:

-Chồng chị đã bị cọp vồ chết rồi!

Người phụ nữ ấy bèn la hét ầm ĩ, một hai đòi hắn dẫn đường cho cô lên núi tìm xác chồng mình. Hắn dẫn cô vào trong núi sâu, ôm chặt lấy cô ta, giở trò cưỡng bức. Người phụ nữ phản ứng kịch liệt. Chợt có một con cọp không biết từ đâu nhảy ra, vồ lấy gã tha đi biệt tích. Người phụ nữ kinh hãi bỏ chạy, nghĩ là chồng đã gởi thây trong miệng cọp rồi, buồn, hận khôn khuây!

Bỗng thấy, có một người từ xa vừa đi vừa khóc lóc trông thật thảm thiết, lại gần xem kỹ người ấy hóa ra chính là chồng mình! Đôi bên kể lể sự tình, chuyển buồn thành vui, liền trở về bến neo thuyền.

*Đời Thanh, trong khoa thi năm Quý Dậu (1693) triều Khang Hy, một thư sinh ở Tùng Giang vào trường thi thứ nhất, vừa nhận quyển thi thì bỗng thấy một con quỷ theo vào trường thi, khóc lóc ầm ĩ suốt đêm, cả trường thi đều bất an. Đến chiều hôm sau, thư sanh ấy vừa viết xong bản nháp bài văn sách cho vòng thi thứ ba, quỷ xông vào nắm cổ anh ta. Vì thế, anh kêu gào những thí sinh ở các lều gần cứu mạng.

Anh ta ứa nước mắt, nói: “Năm nọ tôi đến đất Sở, thuộc Hồ Nam, do ưa thích một người con gái, tôi giả vờ hứa hẹn sẽ lấy cô ta làm vợ. Cô ta vui thích bèn tư thông, lại còn tặng tiền bạc cho tôi.

Đến khi đem cô ta về nhà, vợ tôi chẳng dung, cô ta tự tử chết. Nay cô ta đã tới, tôi không thể sống nổi nữa!”.

Các thí sinh ở bên cạnh mềm mỏng an ủi. Một lúc sau, nghe anh ta ở trong lều van lơn cầu xin tha mạng. Lâu sau, tiếng kêu im ắng. Họ bèn gọi người trông nom lều thi đốt đuốc, thì thấy thư sinh ấy dùng sợi tơ đỏ buộc ở đuôi bút để treo bút, tự buộc vào cổ mình, do nghẹt thở mà chết.

Nhận định: Sách Nam Lăng Đơn Quế Tịch ghi: “Do tư thông với một người nữ, ắt sẽ đến nỗi vào trường thi mà chết. Lại còn khiến gã ấy tự nói cho sĩ tử cả trường đều biết nguyên do gây ra cái chết. Trời cao hiển thị sự báo ứng do dâm, răn nhắc tột bậc sâu xa, sát sao vậy”.

*Thời nhà Tấn có Hoàn Đạo Mẫn, là người nước Tiêu. Đến niên hiệu Long An thì vợ mất, Đạo Mẫn băn khoăn về việc nhà rất sâu nặng, đau lòng thương nhớ không nguôi về người bạn đường ấy.

Năm nọ, vào một đêm mới ngủ, ông thấy trước bức bình phong có tay người, lòng kinh hãi ngồi dậy cầm đuốc soi sáng phía ngoài bức bình phong, thì chính là vợ mình. Hình dáng dung mạo trang điểm đầy đủ như lúc còn sống, ông không hề sợ hãi, liền dẫn vào cùng nằm ngủ, chuyện trò qua lại mọi chuyện thăng trầm vui buồn bao ngày xa cách.

Ông hỏi: “Nàng từ ngày mất đến nay, lúc đầu không có hiện tượng gì cả, đêm nay sao có thể bỗng nhiên trở về?”

Đáp rằng: “Thiếp muốn trở về vô cùng, nhưng đạo lý của con người và thần minh khác nhau, mỗi nơi đều có sự quản lý riêng, không thể nào tự tiện tùy ý mình được. Thiếp xét nghĩ, lúc còn sinh tiền mình làm dâu không có tội lỗi gì khác, đích thực chỉ có một việc là luôn ngờ vực chàng thương yêu kẻ tôi tớ trong nhà hầu hạ. Bởi vì tâm đố kỵ này mà phải nhận chịu báo ứng địa ngục, giờ mới được thoát ra khỏi nơi ấy, nay sẽ được sống lại làm người, cho nên thiếp đến đây để chia tay cùng với chàng!”.

Ông hỏi: “Nàng sẽ sanh ở nơi nào, có thể tìm biết nhau được hay không?”

Đáp rằng: “Chỉ biết là sẽ đầu thai, nhưng không biết là ở nơi nào, làm sao tìm kiếm nhau được?”

Đến trời gần sáng người vợ giã từ ra đi, rơi nước mắt mà chia tay. Ông tiễn đưa đến sau hành lang vài bước bỗng nhiên mất dạng, đột nhiên lúc ấy ông bất giác giật mình phát sinh kinh hãi hoảng hốt suốt mấy hôm liền.

*Trong niên hiệu Chánh Đức đời Minh, ở Tứ Minh có vị tú tài họ Phù, sau khi đã chết, báo mộng cho con:

– Khi còn sống, ta đã phạm luật cấm về gian dâm. Ngày mai sẽ đầu thai làm con chó trong nhà Tạ Ngũ Lang ở phía Nam thành, hãy mau gấp làm chuyện lành, sám hối hồi hướng cho ta.

Nói xong, một con quỷ buộc cổ lôi đi. Một quỷ tốt khác lấy tấm da trắng phủ lên đầu ông ta. Ông ta khóc lóc bi thương, tập tễnh ra đi. Đứa con kinh hãi tỉnh mộng.

Sáng hôm sau, con ông y theo giấc mộng đến nhà họ Tạ, quả nhiên tìm gặp được một con chó toàn thân trắng muốt, trong bầy chó con vừa mới sinh ra. Đứa con xin đổi lấy đem về nhà, vì cha rộng làm các việc lành.

Năm sáu năm sau, chó bỏ ăn mà chết. Trải qua hơn một tháng, đứa tớ nhỏ trong nhà, bỗng ngồi giữa nhà, nói lớn tiếng, giống như dáng vẻ của Phù tú tài, gọi hết người nhà đến bảo:

– Ta thật sự chưa từng phạm tà dâm. Do lúc mười tám tuổi, đi qua phòng chị dâu. Chị dâu vừa mới rửa mặt trang điểm, làm rớt cái nhẫn xuống đất, sai ta nhặt lên. Do vậy, ta khởi dục niệm. Về sau, chị dâu lại thường cùng ta cười nói, xém tý nữa là phá sạch lễ nghĩa! Rốt cuộc chị dâu bị bệnh chết, ta cảm thấy tinh thần rối loạn. Năm sau thì ta cũng chết. Sau khi chết, thì có quỷ trói dẫn ta đến dưới sân một tòa quan phủ, ta thấy hai tay ta chống xuống đất, là đã thành hình dạng chó. Nay nhờ các ngươi làm việc thiện có công đức, đã sám trừ sạch nỗi oan nghiệt trước kia, nên sắp sửa sẽ sanh làm con thứ Năm trong nhà thầy lươngy họ Triệu ở Sơn Đông. Ta trở về đây nói đôi lời từ biệt!

Nói xong, đứa tiểu a hoàn ngã lăn ra đất, hồi lâu bèn tỉnh lại.

*Ở Dư Hàng có người họ Trương sang Kim Lăng buôn bán, ở trong quán trọ. Có người đàn bà nói mình sống gần đây, tằng tịu với họ Trương.

Lâu sau, họ Trương tìm hiểu, nhận thấy láng giềng sống quanh đó không có người đàn bà ấy.

Do vậy đâm ra nghi ngờ, tối lại ông bèn cật vấn lai lịch, thì người đàn bà đáp:

– Thật ra tôi có chuyện cần nhờ vả ông, tôi vốn chẳng phải là người. Có một người tên là Dương Xu, chẳng phải hắn ở cùng làng với ông hay sao?

Trương đáp: “Đúng vậy!”

Người đàn bà giậm chân, nghiến răng nói:

– Thằng đó bội bạc lắm! Thiếp chính là kỹ nữ, thuở trẻ dan díu với nó. Nó hết sức chìu chuộng thiếp, không gì chẳng chăm sóc hết mực, ước hẹn, thề nguyền sẽ đón thiếp về nhà, sống chết cùng nhau. Do đó thiếp tin lời, trút hết của cải dành dụm đưa cho nó, bền lòng giữ mình theo lời hẹn. Đã lâu mà chẳng có tăm hơi gì, nghe nói nó đã lấy vợ khác rồi! Vì thế, nuốt hận mà chết.

Quán trọ này chính là chỗ ở cũ của thiếp. Giờ muốn đi theo thuyền của ông để xem vợ mới của hắn như thế nào?

Ông Trương đồng ý. Khi đã đến nơi, bà ta từ biệt ông Trương, tìm tới nhà họ Dương. Do mừng sinh nhật, họ Dương mở tiệc đãi đằng khách khứa, bỗng dưng ngã lăn ra chết đột ngột. Rồi bà vợ do hắn cưới cũng mắc bệnh nguy kịch gần chết. Ông Trương nghe chuyện, hết sức kinh hãi!

Vừa Là Cha Vừa Là Mẹ

Thuở Phật còn tại thế, khi Ngài cư ngụ tại Xá-vệ. Bấy giờ ở thành Soreyya, cậu con trai của vị chưởng khố tên Soreyya, anh đã có vợ và sinh được hai đứa con kháu khỉnh.

Vào một sáng mùa hạ, anh ngồi trên xe kiệu cùng với một người bạn thân và đám tùy tùng đông đảo, ra ngoài thành để tắm sông. Gần đến cổng thành, họ gặp trưởng lão Ðại Ca-chiên-diên đang đứng trước cổng thành chuẩn bị vào thành khất thực. Thân thể vàng óng của trưởng lão đập vào mắt Soreyya khiến anh không khỏi buột miệng: “Ồ! phải chi Trưởng lão này là vợ ta! Hoặc giả vợ ta có được nước da y như thế!” Ý muốn vừa dấy khởi, tức thì anh biến thành đàn bà. Lúc ấy, đường xá đông nghịch, anh bối rối và hổ thẹn, bẻn lẻn lặng lẽ bước xuống xe và chen vào đám đông. Những người đi theo không hề hay biết gì về sự việc xảy ra.

Soreyya mang thân phụ nữ bỏ đi về phía thành Takkasilà. Người bạn chung xe kiếm anh khắp nơi không thấy anh đâu cả. Tắm xong mọi người về nhà. Họ lắp bắp trả lời với cha mẹ anh là anh đã về trước. Ðến phiên cha mẹ anh huy động rất nhiều gia nhân đi tìm khắp các nơi nhưng vẫn không thấy tông tích gì cả, hai ông bà khóc lóc thảm thiết; cuối cùng mọi người ngỡ là anh đã chết đuối nơi sông rồi, nên họ làm đám tang linh đình cho anh.

Soreyya, bấy giờ là phụ nữ gặp đoàn thương buôn cùng hướng về thành Takkasilà, cô lẽo đẽo theo sát xe ông trưởng đoàn. Ông trưởng đoàn chú ý đến cô, và thắc mắc không biết cô là con cái nhà ai. Ði hết một đoạn đường khá dài, ông trưởng đoàn thấy cô dung mạo đoan trang, qua cử chỉ nghi hạnh thì ông đoán chắc cô gái này thuộc hàng thượng lưu danh gia vọng tộc, ông đến hỏi thăm, nhưng hỏi mãi cô vẫn cứ một mực lấy tay che mặt e lệ thẹn thùng không đáp. Ông mời cô lên xe, vì quá đuối sức nên cô liền lên ngồi. Sau đó ông làm mai mối cô cho con trai của bạn mình là chưởng khố thành Takkasilà, anh này tên là Takkasilà, bởi ông là người thường đi đây đó nhiều nơi nên đã nhận lời yêu cầu trước kia của chưởng khố, là tìm cho một cô con dâu xứng đôi vừa lứa với cậu công tử trong nhà. Thấy cô hợp tuổi mình và quá đẹp, anh chàng công tử bằng lòng cưới cô. Thế là lễ cưới được tổ chức rình rang diễn ra đầy náo nhiệt.

Thời gian sau, cô Soreyya sinh một bé trai. Khi đứa bé chập chững biết đi thì cô hạ sinh thêm đứa thứ hai. Như thế Soreyya trước là cha hai đứa con sinh ở thành Soreyya, nay là mẹ hai đứa nữa sinh ở thành Takkasilà, tất cả là bốn đứa.

Một hôm, bạn đồng hành khi xưa của Soreyya, cùng với năm trăm chiếc xe đi đến thành Takkasilà du ngoạn. Lúc đó cô Soreyya đứng trên lầu cao nhất trong lâu đài nhìn xuống đường nhận ra người bạn cũ, cô liền sai tỳ nữ mời anh vào căn phòng lớn, tiếp đãi rất kính trọng thân thiện như bạn tri kỷ tri âm lâu năm mới vừa gặp lại.

Khách lấy làm lạ, bèn hỏi chủ nhà:

– Thưa bà, tôi chưa hề biết bà nhưng bà đón tiếp tôi quá nồng hậu. Chuyện này là thế nào? Bà đã biết tôi rồi hay sao?

Chủ nhà từ tốn đáp:

– Phải đấy, ông ạ! Tôi biết ông rất rõ, ông vừa mới rời thành Soreyya à?

– Vâng, thưa bà!

Và bà chủ nhà hỏi thăm sức khỏe cha mẹ và vợ con mình lúc trước. Khách trả lời tất cả đều khỏe, rồi chất vấn tiếp:

– Bà cũng biết họ nữa à?

– Vâng ông ạ, tôi biết họ rất rành! Và này ông, họ có một anh con trai, tên Soreyya, hiện nay ông có biết anh ta ở đâu không?

Khách buồn bã kể lại chuyện đau lòng năm xưa. Cô chủ bèn thú thật:
– Này ông, chính tôi là anh ta đấy!

– Thôi đi bà ơi! Bà nói gì lạ thế? Anh ta là bạn thân của tôi, anh ta như một thiên thần trẻ trung, đường đường là một nam nhi trượng phu, cơ mà!

– Ấy thế đó! Nhưng tôi lại chính là anh ta đấy, hoàn toàn đúng như thế!

– Chuyện này là thế nào?

– Ngày đó, lần đi tắm sông, ông có nhớ là khi vừa đến cổng thành đã trông thấy trưởng lão Ðại Ca-chiên-diên hay không?

– Vâng, tôi nhớ là có gặp Ngài!

– Bỗng dưng lúc đó tôi chợt nghĩ phải chi Trưởng lão là vợ mình hoặc vợ mình có được nước da như Trưởng lão. Tức khắc tôi biến thành đàn bà. Tôi liền bỏ chạy một mạch đến xứ này… đấy!

– Ồ, thật là tai hại! Tại sao anh không nói với tôi? Mà anh đã sám hối với Trưởng lão chưa?

– Chưa ông ạ, tôi chưa sám hối Ngài! Nhưng ông có biết hiện giờ Ngài ở đâu không?

– Ngài đang ở gần đây, ngay trong thành này!

– Ngài đã đến thành này rồi ư? Tôi rất muốn cúng dường Trưởng lão.

– Tốt lắm, anh hãy chuẩn bị đầy đủ. Tôi sẽ cung thỉnh Trưởng lão giùm cho anh.

Rồi người bạn ngày xưa của Soreyya đến chỗ Trưởng lão, đảnh lễ Ngài trình bày tự sự đầu đuôi câu chuyện, Trưởng lão hứa khả nhận lời cúng dường ngày mai.

Sáng hôm sau Ngài đến đứng trước cửa nhà. Con của chưởng khố dâng cho Ngài chỗ ngồi và những thức ăn chọn lọc. Rồi anh dẫn vợ mình là nàng Soreyya đến phủ phục dưới chân Ngài, xin được tác bạch sám hối. Khi nàng thưa trình lời tác bạch xong, Trưởng lão hoan hỷ đáp từ:

– Tốt lắm, hãy đứng lên! Ta đã tha thứ cho con!

Trưởng lão vừa nói dứt câu, nàng Soreyya lập tức biến thành đàn ông trở lại. Người chồng bèn đến nói với chàng:

– Bạn thân! Vì anh đã là mẹ trong khi tôi là cha của hai đứa bé này. Chúng thật sự là con của cả hai chúng ta. Vậy anh vẫn tiếp tục sống lại đây. Ðừng khó chịu.

Soreyya đáp:

– Này bạn, tôi trải qua hai lần chuyển hóa trong một đời người. Trước tiên tôi là đàn ông biến thành phụ nữ, giờ trở lại làm đàn ông. Ban đầu tôi là cha của hai đứa bé, mới đây là mẹ của hai đứa nữa. Bạn đừng nghĩ rằng sau khi đã trải qua hai lần chuyển hóa trong một kiếp sống, tôi bằng lòng sống đời tại gia nữa. Tôi sẽ đi tu theo Trưởng lão của tôi. Bổn phận của bạn là nuôi dưỡng hai đứa bé này. Chớ xao lãng!

Nói xong Soreyya hôn hai đứa con, ôm vào lòng và trao lại cho người cha, rồi bước theo Trưởng Lão ra khỏi nhà, và trở thành tu sĩ. Trưởng lão chấp thuận cho anh vào Tăng đoàn, dẫn anh cùng về thành Xá-vệ. Và anh trở thành thầy tỳ kheo Soreyya.

Dân cư trong xứ nghe câu chuyện kỳ lạ này rất xôn xao xúc động, họ lũ lượt tìm đến hỏi thầy Soreyya có thật như thế không, và tình cảm dành cho hai đứa con nào mạnh hơn. Thầy trả lời rằng mình thương hai đứa gọi bằng mẹ nhiều hơn.

Do tính hiếu kỳ, hàng ngày quá nhiều người nô nức kéo đến tinh xá xem cho biết, và hỏi đi hỏi lại mãi những câu hỏi xét ra chẳng cần thiết, chẳng lợi ích gì cả nên thầy Soreyya rút lui khỏi đám đông, vào rừng sâu để chuyên tâm tu tập.

Ngài sống độc cư như thế, luôn quán chiếu về sự vô thường hoại diệt, sau đó không bao lâu thầy đã chứng quả A-la-hán cùng những thần thông. Kể từ đó có ai hỏi thầy thương hai đứa bé nào hơn, thì thầy trả lời rằng không đặt tình cảm lên đứa nào cả. Các tỳ kheo nghe vậy cho là thầy nói dối, nên thưa chuyện đến Đức Phật. Phật trả lời:

– Này các tỳ kheo, thầy Soreyya không nói dối đâu. Trước kia thầy ấy chưa chứng quả, bây giờ thầy ấy đã chứng quả các lậu hoặc đã đoạn nên mới đáp lời như thế!

*Lý Đăng đỗ Giải Nguyên lúc mười tám tuổi. Về sau, đến tuổi năm mươi, vẫn chẳng đỗ Tiến Sĩ. Ông bèn đến chỗ Diệp pháp sư để nhờ Sư hỏi nguyên nhân.

Sư dạy ông ta cầu đảo Văn Xương Đế Quân.

Đế Quân sai thư lại cầm sổ đến, chỉ rõ: “Khi Lý Đăng sanh ra, được Thượng Đế ban ấn ngọc, định rằng mười tám tuổi đậu Giải Nguyên, mười chín tuổi sẽ đỗ Trạng Nguyên. Hai mươi tuổi sẽ làm Tể Tướng.

Chỉ vì sau khi thi đỗ Giải Nguyên, ngấm ngầm dòm ngó chọc ghẹo cô gái hàng xóm. Tuy không thành công, lại ngược ngạo kiếm cớ cáo giác, khiến cho cha cô ta bị tù. Do chuyện này, công danh bị chậm trễ mười năm, thứ hạng sẽ kém hơn hai bậc.

Kế đó, lại lấn chiếm nền nhà của anh mình, dẫn tới chuyện kiện cáo. Công danh lại bị chậm trễ thêm mười năm, thứ bậc đỗ đạt giảm thấp hơn ba cấp.

Sau đó, trong khách điếm tại Trường An, lại làm chuyện dâm bôn với một người đàn bà nhà lành, công danh lại bị chậm trễ thêm mười năm nữa.

Nay lại lén lút tằng tịu với gái hàng xóm, làm ác chẳng hối cải, tài lộc hoàn toàn bị tước sạch, sắp tới hạn kỳ chết rồi!”

Sư trở về thuật lại, Lý Đăng nghe xong xấu hổ, hối hận mà chết.

Nhận định: Lý Đăng đáng gọi là “kẻ tự chế tạo gông cùm lặp đi lặp lại” vậy. Nếu sớm sanh lòng hối hận, tu đức để bù đắp oán cừu, ắt sẽ đậu Trạng Nguyên, làm Tể Tướng công danh là một mãng quang minh vô cùng sáng lạn.

Nếu chẳng vậy, lỡ làm quấy một lần, về sau chẳng tái phạm nữa, ắt đối với chuyện đỗ đạt hiển vinh, hãy còn được hưởng một nửa.

Trạng Nguyên, Tể Tướng là do nhân thiện của quá khứ đã khó nhọc tu tạo, do trời đất vun bồi, do tổ tông tích lũy âm đức, nay ông ta tự mình tước sạch! Phụ bạc ân đức của trời đất, cha mẹ tổ tiên quá đỗi!

Lại nữa, thú vui dâm tà so với khoa bảng chẳng bằng một phần vạn; thế mà đem đổi sự phú quý suốt cả một đời bằng niềm vui sướng trong chốc lát, há chẳng phải là quá sức ngu muội ư!

Ôi! Người đỗ Trạng Nguyên sẽ làm Tể Tướng, trong mấy trăm năm chỉ thấy một, hai người!

Do tạo chuyện oan nghiệt ấy, mất sạch chẳng còn sót gì! Huống hồ vận mạng của người khác chẳng bằng một phần vạn Lý Đăng mà cũng tạo nghiệp giống như ông ta, e rằng vị thần chưởng quản tài lộc chưa chắc đã chỉ phạt thứ bậc đỗ đạt thấp hơn, lại còn kéo dài thời hạn để mong ông ta sửa đổi! Nguy hiểm lắm thay!

Những kẻ tài cao học rộng trong hiện thời, đến tận tuổi già vẫn nghèo túng, khốn đốn, hãy nên tự xét những chuyện đã làm, xem có phải là đã phạm vào loại tội nghiệt này hay chăng?

Người Chồng Tài Hoa

Chiêm Nguyệt Quyên là người Đài Loan quê ở Gia Nghĩa, tháng 7 năm 1979 nàng dẫn con gái Tiểu Mẫn 3 tuổi qua thành phố Hoành Tân (Yokohama) Nhật Bản, rồi uống thuốc độc tự sát trong khách sạn.

Khi cảnh sát đến hiện trường, phát hiện dấu vân tay viết chữ “Hận” bằng máu. Lại thấy hai mẹ con đều mở to mắt, và máu lệ vẫn còn đang chảy, chứng tỏ họ chết rất đau khổ, không cam tâm.

Ban cảnh sát hình sự Nhật Bản vốn giàu kinh nghiệm, thầm biết vụ tự sát này có nhiều uẩn khúc, nội tình không đơn giản.

Cảnh sát Nhật Bản rất quan tâm đến vụ án này, lần theo lý lịch hộ chiếu người chết, họ đến Đài Loan trú một ngày tại Cơ Quan Hiệp Trợ và nhanh chóng tìm ra cha mẹ nạn nhân. Phụ thân

Nguyệt Quyên là ông Chiêm Phong Bình làm nghề nông, mẹ là Du Kiều Nguyệt, nội trợ trong gia đình. Quyên là con thứ ba trong nhà, trên có anh và chị, dưới có hai em trai. Cô đang học trường đại học Sư Phạm nổi tiếng ở Đài Bắc, người quanh đấy đều ngưỡng mộ, ngợi khen, nàng là niềm tự hào của gia đình họ Chiêm.

Quyên học đến năm thứ tư, nhân dịp tham gia hoạt động chuyên đội, nàng quen anh Uông Huyền Nhân, người Đài Đại, bề ngoài không có gì xuất chúng, nhưng có lắm tài, tính anh khéo hài hước pha trò chọc người cười vui, nói năng lưu loát, lại khéo nhả ngọc phun châu. Nhờ vậy mà lọt vào mắt xanh của Quyên.

Qua nửa năm giao du, cảm tình ngày một nồng hậu, họ dự định tốt nghiệp xong thì sẽ kết hôn. Trong mắt các bạn, hai người là một cặp trời sanh, “trai tài gái sắc”, khiến người nhìn phải ước ao.

Nhưng thế sự khó lường, năm đó anh Nhân vừa tốt nghiệp thì tham gia leo núi. Trên đường trở về anh bị tai nạn xe. Trong thời gian trị dưỡng, hằng ngày hễ Quyên học xong thì đến bệnh viện chăm sóc anh. Do vậy mà nàng quen biết bác sĩ thực tập Vu Luân Thuận. Thuận trông có vẻ là một người tài hoa mẫu mực, tính trầm lặng ít nói. Lúc đó Thuận đã âm thầm thương yêu Quyên.

Sau khi Nhân tạ thế, Thuận nhiệt tình theo đuổi Quyên, những khi không trực ở bệnh viện, thì anh đến trường Quyên dạy, đón nàng về nhà, đích thân xuống bếp nấu ăn chiêu đãi.

Mỗi lần Quyên về Gia Nghĩa thăm cha mẹ, Thuận đều ra tận ga xe lửa đón nàng.

Thuận kiên trì theo đuổi Quyên suốt một năm rưỡi, cuối cùng nàng cũng bị tình của anh làm cảm động và chấp nhận bước vào lễ đường.

Sau khi kết hôn, Quyên mới biết trước đây Thuận nộp đơn xin du học bên Nhật Bản, đã được chấp thuận, trường thông báo nội trong một tháng Thuận phải đến đăng ký. Vì mới kết hôn nên

Thuận muốn từ bỏ cơ hội sang Nhật Bản để được bên vợ. Nhưng Quyên cho rằng được xuất ngoại du học là dịp may hiếm có, còn vấn đề học phí, nàng sẽ nghĩ cách lo liệu.

Thuận cảm thấy vợ nói có lý, bèn quyết định sang Nhật du học, lòng tràn đầy xúc động và cảm kích.

Trước đêm chia biệt, Thuận ba lần hướng vợ hứa hẹn đảm bảo, rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ xong chàng sẽ quay về Đài Loan ngay, sẽ mở phòng mạch ở Đài Bắc cùng vợ làm việc và sống hạnh phúc bên nhau.

Lời của chàng làm Quyên cảm động không thôi. Nàng tự hào vì tình thương của chồng dành cho, cảm thấy vui sướng vì mình đã lấy đúng người.

Kể từ đó, mọi gánh nặng trút xuống đầu Quyên, nàng phải vất vả lo từ phí học, phí sinh hoạt đắt đỏ cho chồng ở Nhật Bản.

Một năm sau đó, tiền Quyên dành dụm tích lũy đều được gởi cho chồng tiêu dùng. Ngoài dạy ở trường, nàng còn lãnh dạy kèm ở nhà, thỉnh thoảng về cha mẹ ruột để xin tiền, nhưng vẫn vô phương đáp ứng đủ chi phí cho chồng xài. Lúc này con của Quyên đã một tuổi, gánh nặng càng tăng, tiền nuôi đứa con nhỏ, tiền nuôi chồng ăn học tất cả dồn ép nàng bận rộn đến không kịp thở.

Mùa đông năm đó, để giải quyết kinh tế túng quẩn, Quyên bất đắc dĩ phải đến quán rượu làm việc, nhận công tác tiếp khách “bán cười không bán thân” trong thời gian ba năm.

Nhờ vậy mà nàng giải quyết được chi phí tiêu xài cho chồng ở Nhật Bản, nhưng do phải trường kỳ uống rượu thức khuya, dạy học vất vả, nên Quyên mắc bịnh lao nghiêm trọng. Bác sĩ tuyên bố kể từ đây nàng không thể sinh con được nữa, điều này là đả kích cực lớn đối với nàng. Thế nhưng Quyên luôn tự tin: “Tất cả đã hy sinh vì chồng, nhất định ảnh sẽ thông cảm, yêu thương mình hơn”…

Lúc Thuận sắp lấy bằng tiến sĩ, anh có về Đài Loan tham dự lễ tang bà nội. Khi biết Quyên đến quán rượu làm việc bị bịnh phổi thì Thuận chẳng những không tức giận, không truy cứu, ngược lại còn làm như không có chuyện gì. Thuận luôn bình thản và tỏ ra rất quý vợ, khiến Quyên càng thêm tin tưởng vào tình yêu của chồng.

Nhưng Quyên không ngờ được rằng, trước khi về Đài Loan, Thuận đã lén lút kết hôn cùng con gái của giáo sư trưởng và đã mở một y viện nhỏ tại ngoại thành Đông Kinh, tự mình làm viện trưởng, chính giáo sư và con gái ông đã xuất tiền đầu tư cho Thuận nên họ nghiễm nhiên là đổng sự.

Nhưng không bao lâu thì tin này cũng truyền đến tai Quyên. Mới đầu nàng không tin, còn cho là bịa đặt, song thâm tâm vẫn bán tín bán nghi. Thế là nàng quyết định, đợi thân thể khỏe mạnh hơn sẽ dẫn con gái Tiểu Mẫn qua Nhật một lần cho rõ thực hư.

Thuận nhận được tin vợ, biết là sự tình đã đến hồi nghiêm trọng, để việc làm tồi tệ của mình không bị vạch trần khiến chàng phải xấu hổ, Thuận âm thầm dựng lên một âm mưu hiểm độc.

Đầu tiên, chàng lấy lý do bận rộn, phái người đến phi trường đón hai mẹ con Quyên về khách sạn trước và hẹn tối đó sẽ đến gặp…

Sau đó, chàng thuê người đóng giả phục vụ viên, bảo họ mười lăm phút trước khi chàng đến, hãy lẻn vào phòng dùng thủ đoạn thô bạo toan cưỡng hiếp Quyên, ngay lúc đó chàng sẽ xuất hiện.

Tên hại mướn kia làm y theo kế sách của Thuận, trước mặt chàng hắn nói dối mình là gian phu của Quyên, còn Quyên thì quá thực thà, nàng giống như người câm không biết nói lời nào để minh oan cho mình, Thuận liền đanh thép buộc tội, dõng dạc đề xuất ly hôn với Quyên.

Trong khách sạn, sau khi vở kịch thành công mỹ mãn, Thuận lập tức trở mặt phủ nhận nghĩa tình phu thê, phủi luôn bốn năm Quyên gian khổ làm lụng chu cấp tiền cho chàng ăn học, tất cả ân tình sâu nặng, tất cả hy sinh của Quyên, giây phút này đều hóa thành mây khói trôi về chân trời xa xăm tuyệt vọng!

Quyên nhận ra hôn nhân giữa hai người đã vô phương cứu vãn, nàng nghẹn ngào bi phẫn ký tên vào đơn ly hôn. Trước lúc ly hôn tại Đông Kinh, vì muốn cho Tiểu Mẫn gặp lại cha một lần, thông qua hồ sơ và tư liệu nơi trường học, Quyên tìm đến y viện, và nàng phát hiện sự thật phũ phàng: Thuận đã sớm kết hôn vui duyên mới và vụ án cường bạo ở khách sạn là bẫy rập của chàng làm ra để hại nàng. Nàng cảm thấy như đất sụp dưới chân mình, trong cơn phẫn nộ tột độ nàng xông thẳng đến nhà viện trưởng Thuận để hỏi cho minh bạch. Nhưng đến đó nàng đã chuốc thêm nhục nhã chất chồng, Thuận đổ hết mọi điều xấu lên nàng, còn truyền lệnh bảo vệ tống cổ nàng ra. Quyên thân đơn thế cô, chẳng có được cơ hội nào để đối chất. Do thân tâm đều bị đả kích nặng, nàng dẫn con qua thành phố Hoành Tân thăm dì là Hoa Kiều đang ngụ ở Nhật xong thì quay về khách sạn và uống thuốc độc tự sát cùng Tiểu Mẫn.

Mặc dù cảnh sát Nhật Bản đã điều tra ra vụ án, nhưng mẹ con Quyên đã chết, họ không bằng không chứng chẳng thể làm gì được Thuận.

Phần Thuận, khi hay tin mẹ con Quyên tự tử, chàng như trút được gánh nặng, thầm nghĩ kể từ đây tha hồ gối cao đầu ngủ, tha hồ thoải mái không còn phiền lo. Thế là chàng tiếp tục lợi dụng quan hệ và uy tín của nhạc phụ, truy cầu danh lợi tại Nhật Bản.

Sau đó, Thuận được mời đến trường diễn giảng, đề tài là “Bí quyết sống hạnh phúc giữa vợ chồng”.

Thuận đang cao hứng nói thao thao, mới giảng được nửa buổi, thì cái micro vô duyên vô cớ đột nhiên bốc khói, rồi nổ tung. Tại giảng đường, Thuận không chút đề phòng nên bị vỡ đầu chảy máu, mù hai mắt. Do đầu bị trọng thương nên chàng biến thành ngu si ngớ ngẩn, hiện vẫn còn đang trị liệu và điều dưỡng tại bệnh viện Nhật Bản.

Cái micro vì sao có thể phát nổ? Nạn nhân vì sao lại là Thuận, là người chồng bạc tình phụ nghĩa, nhẫn tâm cư xử ác động, ruồng bỏ người vợ ,vừa là người ân của mình? Và đề giảng vì sao lại liên quan đến “Tình phu thê”? Rốt cuộc thì đây là trùng hợp, là thiên ý trừng phạt, hay báo ứng?

Mọi người bàn tán xôn xao. Theo người viết thì Thuận trốn được quốc pháp, nhân luận nhưng không trốn được luật nhân quả báo ứng.

Thông qua câu chuyện có thật này, xin khuyên những cặp phu thê trong thế gian, chớ nên biến quan hệ vợ chồng thành việc mưu cầu lợi riêng. Hôn nhân như thế sẽ không bao giờ hạnh phúc.

Tiến sĩ, kiêm bác sĩ Thuận vì công danh lợi lộc trước mắt mà bước vào nẻo sai lầm, cuối cùng đánh mất cả lương tâm cho nên phải trả giá bằng hậu quả thê thảm như mọi người đã thấy. Đây gọi là “ác nhân gặp ác báo”.

Học pháp là học cái gì? Học cách tu Nhân Quả, bạn phải biết rằng đời này bạn đang nhận Quả gì là do kiếp trước hoặc ngay kiếp này bạn đã gieo Nhân. Còn hiện tại cái mà bạn đang gieo Nhân thì có thể trong đời này hoặc kiếp sau bạn gặt Quả tùy theo Duyên đến sớm hay muộn

Bạn hiểu được Nhân Quả, Tin sâu Nhân Quả thì tự nhiên sẽ không dám nghĩ ác, nói lời ác và làm điều ác mà sẽ chăm lo tích đức tu thiện, gieo các Nhân thiện lành. Quả báo tốt lành đến với bạn không do ai ban thưởng mà là do chính bạn tự gieo trồng mà có đó thôi. “Gieo Nhân gì thì gặt Quả nấy”.

*Người xưa có câu: “Trên đầu ba thước có thần linh”, bất luận con người làm điều gì, thần linh đều biết cả. Và có một quy luật bất biến rằng, những người làm việc thiện và giúp đỡ người khác cuối cùng đều nhận được phúc báo.

Người xưa đối với vấn đề “thiện ác hữu báo” đều có cách lý giải và biểu đạt khác nhau, chẳng hạn cổ nhân có câu: “Tránh được mùng một, nhưng không tránh được 15”, “Giết người phải đền mạng, thiếu nợ phải hoàn trả”, “Kiếp sau nguyện làm trâu ngựa để báo đáp đại ân đại đức” hoặc “Tổ tiên tích đức, đời sau con cháu được phúc báo”.

Khi còn bé chúng ta đều rất thích nghe và tin tưởng vào những điều mà người lớn tuổi thường nói. Mỗi khi ai đó gặp thiên tai nhân họa, các lão nhân hay cảm thán: “Đúng là nghiệp chướng, con người không làm việc thiện tất sẽ gặp báo ứng”, hoặc “Tổ tiên không làm việc tốt, con cháu tất gặp tai ương”. Trong các tài liệu cổ hầu hết đều có ghi chép những câu chuyện về phương diện này.

Năm Khang Hy thứ 4 triều đại nhà Thanh, thành Hàng Châu gặp phải trận hỏa hoạn lớn, ngọn lửa cháy suốt mấy ngày mấy đêm không tắt. Mặc dù tất cả các quan viên đều được điều động đến cứu hỏa, nhưng rốt cuộc hàng ngàn ngôi nhà vẫn bị thiêu hủy.

Tuy nhiên, có một điều vô cùng kỳ lạ đã xảy ra. Trong biển lửa, mọi người đều chợt trông thấy một vị Thần mặc áo giáp vàng, tay cầm cờ đỏ chỉ huy thiên binh thiên tướng bao quanh một ngôi nhà, khi ngọn lửa vừa bén tới đây liền bị dập tắt.

Sau khi ngọn lửa được khống chế, giữa đống hoang tàn đổ nát người ta phát hiện chỉ còn duy nhất một ngôi nhà vẫn bình yên vô sự. Ngôi nhà này chính là nhà của vị quan mới nhậm chức họ

Cố. Bởi vì lúc đó Cố đại nhân đang phụng mệnh đi Giang Nam công tác, trong nhà chỉ có người cha già và mấy đứa con nhỏ. Chứng kiến điều kỳ lạ này, tất cả mọi người đều hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao ngọn lửa không thiêu cháy ngôi nhà này.

Nguyên lai là, khi Cố đại nhân đến Giang Nam công tác đã từng đậu thuyền ở bờ sông Tô Châu. Một buổi chiều, ông chợt thấy có một thiếu phụ ngồi bên bờ sông đang khóc thút thít.

Ông liền đi tới hỏi rõ sự tình, thì thiếu phụ nói: “Chồng tôi bởi vì không có đủ 50 quan tiền để đóng cho quan phủ, nên đã bị nhốt trong đại lao tra khảo áp bức, sống chết chỉ trong nay mai. Tôi vì không muốn thấy chồng mình chết trước, nên muốn đến đây để tự vẫn”.

Cố đại nhân lập tức lấy trong túi ra 50 quan tiền đưa cho thiếu phụ để cô có thể cứu mạng chồng mình. Thiếu phụ ngàn vạn lần cảm kích, bái lạy rồi rời đi.

Cố đại nhân sau khi đã hoàn thành công sự, trong một lần đến tửu quán uống rượu lại tình cờ ở trong căn phòng đối diện với phòng của gia đình người thiếu phụ kia. Người thiếu phụ nhìn thấy

Cố đại nhân, liền nói mọi chuyện cho chồng biết.

Hai vợ chồng liền mời Cố đại nhân về nhà bày tiệc khoản đãi, còn giữ ông ở lại nghỉ qua đêm. Người chồng nói với vợ: “Ân cứu mạng không thể không báo, tối nay em hãy qua phục vụ ông ấy để báo đáp”.

Nửa đêm, thiếu phụ đi vào phòng của Cố đại nhân, nhưng ông nhất quyết cự tuyệt, nhanh chóng đứng dậy quay về thuyền của mình. Sau đó rong thuyền về Hàng Châu.

Khi Cố đại nhân về đến nhà, mọi người thi nhau đến hỏi han, họ đều thắc mắc không biết ông đã tích được công đức lớn ngần nào mà có thể xoay chuyển trời đất như vậy. Cố đại nhân mơ hồ không biết, nhưng sau khi mọi người hỏi cặn kẽ, Cố đại nhân mới kể lại chuyện mấy ngày hôm trước có xảy ra chuyện như vậy. Mọi người bấm tay tính toán, quả là khớp với thời điểm mà hỏa hoạn xảy ra.

Có thể thấy rằng, nơi sâu thẳm trong nội tâm mỗi người, dù chỉ là một niệm rất nhỏ thì Thần linh cũng đều thấy biết rất rõ ràng. Giống như câu cổ ngữ nói rằng: “Trên đầu ba thước có thần linh”.

Việc làm nào của thế nhơn,
Cũng đều có cặp mắt Thần ngó coi.
Trong lòng người mới nghĩ thôi,
Tai Thần nghe rõ như lời sấm vang.
Người dù lấy núi chận ngang,
Mắt Thần vẫn thấy rõ ràng như không.
Làm ra hoặc tính trong lòng,
Việc nào cũng có Thánh Thần xét soi.
Trước khi làm hãy nghĩ coi,
Tội hay là phước để rồi làm sau.
Lời ra khó hốt lại nào,
Phạm rồi muốn gỡ dễ dầu gì ư.

Xem những câu chuyện nhân quả xưa, so với những chuyện xảy ra thời hiện đại, thậm chí là những chuyện quanh mình, chúng ta đều sẽ phát hiện ra rằng quy luật nhân quả báo ứng tồn tại một cách khách quan, dù cho bạn có tin hay không, nó sẽ khởi tác dụng đối với bạn.

Do vậy, nghiêm túc đối đãi với quy luật nhân quả, thuận theo Thiên đạo hành thiện nhiều hơn mới là điều quan trọng nhất khi làm người, mới gặp nhiều may mắn và có tương lai tốt đẹp.

4/- Lưỡng Thiệt

Nói đến vòng tuần hoàn của sinh lão bệnh tử, thì không có hạn kỳ bao lâu là ra khỏi; Tây Phương Cực Lạc nếu đầy đủ tín nguyện hạnh ắt hẳn được sanh về. Sở dĩ xưa nay từ bậc thượng căn lợi trí, cho đến hạng phàm phu nghiệp sâu chướng nặng thảy đều được giải thoát một đời thành Phật, là nhờ chân thật hành trì và thành tâm sám hối nên cảm ứng với lực tiếp dẫn của Đức Từ Phụ A Di Đà.

Vì vậy, hai chữ chân thật chí thành là nền tảng căn bản của sự tu hành!

Nhưng hàng phàm phu tục tử trái lại, thường dựng lên những lời dối trá, nói xấu bên này bên nọ, tạo ra những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh, bởi chuyên tìm cách mưu hại lẫn nhau, mà làm cho quyến thuộc người ta hiểu lầm nhau gây nên hiềm khích rồi phải chia lìa, bạn bè tan rã vì sự thêm bớt thành ra cãi vã gây gổ sanh oán sanh thù, mối tình khắn khít trước kia mà nay bỗng chốc biến thành sương khói; Do ưa thích gieo nghiệp ganh ghét hờn giận bất hòa, sẽ chiêu cảm lấy quả báo đau thương nơi địa ngục ngạ quỉ súc sinh; Nếu sanh được làm người thì thường bị kẻ khác chê bai mắng chửi, họ hàng thân thích toàn là xấu ác phá hoại thâm tình, làm cho đời mình dở sống dở chết, và phải sống trong nỗi khổ phân ly cô độc lẻ loi.

Trong luận Thành Thật nói: “Nếu bằng tâm thiện giáo hóa, tuy là biệt ly nhưng cũng không mang tội. Nếu vì tâm ác làm cho người ta đấu đá hỗn loạn, thì đây là tội hai lưỡi rất nặng, phải rơi vào chốn địa ngục ngạ quỷ súc sanh, nếu sanh trong loài người thì bị miệt khinh phỉ báng, luôn gặp cảnh xích mích dối trá xấu xa phá hoại quyến thuộc”.

Quả báo chính:
Lưỡng thiệt làm người đấu đá nhau,
Chết vào địa ngục bị hành phạt.
Quỷ dữ tách miệng người đó ra,
Dao lửa cắt lưỡi tiêu tan nát.
Móc sắt móc lưỡi bắt trâu cày,
Lại còn chịu khổ vì đói khát.
Trở lại uống nước trong thân mình,
Thời gian dài như cát sa mạc!

Quả báo phụ:
Dèm pha làm hại người quá mức,
Đọa ba đường ác đầy khổ lao.
Đến khi được sinh làm người lại,
Nghiệp báo vẫn còn tiếp theo sau.
Quyến thuộc gặp nhiều điều tệ hại,
Chống đối, nghi ngờ, lường gạt nhau.
Thiên hạ kích động cùng phỉ báng,
Phải chịu cô độc trong nỗi đau!

*Niên hiệu Trinh Quán thời nhà Đường ở vùng Hàm Dương có người phụ nữ họ Lương, ngày nọ bỗng nhiên ngã lăn ra chết, trải qua bảy ngày thì sống lại. Tự mình nói là:

– Bị người ta bắt dẫn đến trong một công đường lớn, thấy có một phòng làm việc rất rộng, có một vị quan, cầm bút dựa vào bàn, người đứng hầu hai bên rất nhiều, sai người quan sát và hỏi rằng: “Người phụ nữ này đã tới số chết hay chưa?”

Có người liền ôm đến một văn bản đối chiếu, bèn đáp: “So sánh với người đã đến lúc chết thì tên họ giống nhau, cho nên bắt nhằm!”.

Vị quan ra lệnh cho tả hữu lập tức phải thả về.

Cô bèn thưa với vị quan rằng: “Không biết con lại có tạo tội lỗi gì khác hay không? Xin chịu tội xong rồi, sẽ trở về!”.

Vị quan liền sai đối chiếu văn bản. Khi thuộc hạ tra xong, trả lời: “Ngươi lúc sống trên đời chỉ có tội lưỡng thiệt và ác khẩu, chứ không có tội gì nữa!”.

Quan liền sai một người kéo lưỡi ra và một người cầm rìu chặt đứt lưỡi, mỗi ngày thường chặt bốn lần như vậy, vô cùng đau đớn. Tất cả trải qua bảy ngày, mới chuyển giao khiến quay về.

Ban đầu cô cảm thấy giống như rơi xuống vực sâu, chốc lát tựa hồ giống như đang ngủ mà giật mình tỉnh giấc.

Cô thuật lại tự sự, và le lưỡi ra mọi người đồng xem, thì thấy trên lưỡi của cô hãy còn sưng tấy rất nhiều.

Từ đó về sau cô cẩn trọng lời nói, và vĩnh viễn đoạn dứt rượu thịt, cho đến khi qua đời.

*Ngạ quỷ có nước da đẹp như chư Thiên

Câu chuyện này được Bậc Đạo Sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở tinh xá Trúc Lâm, liên quan đến một Ngạ quỷ nọ có miệng thúi!

Trong thời của Đức Thế Tôn Kassapa tại thế, có hai chàng thanh niên thuộc gia đình danh giá, đã xuất gia tu theo giáo pháp của Ngài và có đầy đủ giới hạnh, sống với nhau trong sự hoà hợp, đồng thời thọ trì các hạnh đầu đà và cư ngụ ở một ngôi làng nọ.

Rồi một hôm, có vị Tỳ khưu nọ, xu hướng theo những việc làm ác và thích đâm thọc, đã đến trú xứ của họ. Hai vị Trưởng lão đã tiếp đón vị ấy một cách thân mật và lo cho vị ấy đầy đủ nơi ăn chốn ở.

Vào ngày hôm sau, hai vị trưởng lão cùng với vị Tỳ khưu kia đi vào làng để khất thực. Khi trông thấy những vị này, dân chúng tỏ sự tôn kính tột bậc đến ba vị Trưởng lão và cúng dường đến họ một bữa ăn bằng cơm dẻo và những thứ khác.

Khi vị Tỳ khưu ấy đã đi vào Tịnh xá, bèn suy nghĩ rằng: “Ngôi làng này là một nguồn vật thực hấp dẫn, vì những người ở đây rất thành tín, dâng cúng các thức ăn ngon, có nước đầy đủ và quá ư mát mẻ. Ta có thể sống hạnh phúc ở đây; Nhưng chừng nào hai vị Tỳ khưu này còn cư trú nơi này thì ta không được thoải mái. Vì ta sẽ như một đệ tử thường trú. Thôi được, ta phải làm cho họ xa lìa nhau và khiến họ không thích sống ở đây nữa”.

Bởi vậy vào hôm nọ, khi vị Trưởng lão lớn đã giáo giới hai vị kia rồi thì vị Tỳ khưu đâm thọc đi vào chỗ ngụ của vị ấy, ở lại đó một chốc lát và rồi đi đến vị Trưởng lão lớn ấy. Trưởng lão hỏi vị ấy rằng:

– Này hiền giả, tại sao hiền giả đến vào lúc phi thời như thế?

– Thưa ngài, tôi có chuyện cần nói ra.

– Có chuyện gì thì thầy cứ nói!

– Thưa Ngài, vị Trưởng lão bạn của Ngài khoe mình như một người bạn trước mặt của Ngài, nhưng sau lưng thì nói những chuyện về Ngài như là một địch thủ. Khi được hỏi đó là điều gì, vị ấy nói rằng: “Vị Trưởng lão lớn láo cá, xảo quyệt và gian dối; vị ấy kiếm sống bằng những phương tiện bất chánh”.

– Đừng nói như vậy, này hiền giả, vị Tỳ khưu ấy không nói những chuyện như thế về tôi. Vị ấy đã biết tánh của tôi từ lúc chúng tôi còn là cư sĩ. Tôi luôn luôn có tánh thân ái và dễ thương.

– Nếu Ngài nghĩ như vậy do bởi tấm lòng của Ngài thanh tịnh, thời điều ấy xem như xong đối với Ngài. Nhưng tôi thì không có cảm nghĩ xấu đối với vị ấy như vậy, thế thì tại sao tôi lại nói cho

Ngài biết rằng vị ấy đã nói như vậy nếu vị ấy không nói điều đó?

– Tốt lắm, thưa Ngài, nhưng chính Ngài sẽ tự mình hiểu về điều ấy sau một thời gian.

Nhưng Trưởng lão vốn vẫn còn là một phàm phu, đâm ra bán tín bán nghi, tự hỏi rằng: “Có đúng như vị ấy nói không?” Và sự ngờ vực khởi lên trong tâm của Trưởng lão, lòng tin cậy của

Trưởng lão bị lay động một ít.

Sau khi đã làm ly gián vị Trưởng lão lớn, thầy tỳ khưu ấy cũng đưa vị Trưởng lão còn lại vào tình trạng tương tự như trên.

Vào ngày hôm sau, vị trưởng lão lớn chẳng hề nói chuyện với vị Trưởng lão kia khi mang y và bát ra đi. Thấy thế, vị Trưởng lão còn lại cũng rời bỏ trú xứ đến nơi khác.

Khi các tín chúng trông thấy vị Tỳ khưu đâm thọc đi một mình vào làng, mọi người bèn hỏi:

– Thưa Ngài, hai vị Trưởng lão đã đi đâu rồi?

– Họ cãi lộn nhau suốt đêm. Tôi đã khuyên họ đừng cãi cọ, mà hãy vâng lời Đức Phật dạy sống trong tinh thần hòa hợp, cố gắng nỗ lực công phu để đạt giác ngộ giải thoát, và rằng sự bất hòa sẽ dẫn đến bất hạnh, đem lại nhiều đau khổ trong hiện tại cũng như tương lai, và đưa đến những việc làm bất thiện; Hơn nữa, bấy nhiêu công đức mà mình đã vất vả tu tạo tích lũy được từ trước, xem như bị tiêu tan bởi cơn giận hờn tranh cãi… Nhưng họ đã bỏ đi và không quan tâm đến những lời khuyên của tôi!

Khi nghe điều này, dân chúng nài nỉ rằng:

– Hãy để những vị Trưởng lão ấy đi, nếu các vị ấy muốn như vậy. Nhưng Ngài phải ở lại đây vì lòng bi mẫn đối với chúng tôi. Ngài sẽ không có sự hối tiếc nào!

– Tốt lắm!

Khi đã ở lại đó trong vài ngày, vị Tỳ khưu ấy suy nghĩ, “ta đã gây bất hòa cho những vị Tỳ khưu có giới đức và có tánh dễ mến, do lòng ham hố trú xứ của ta. Chắc chắn ta sẽ làm một điều ác độc rồi!”

Và bị dày vò bởi lương tâm khó chịu cùng cực, vị ấy nhuốm bịnh bởi sức nặng của sự sầu khổ do ác nghiệp chính mình; chẳng bao lâu vị Tỳ khưu đâm thọc mạng chung và đọa vào địa ngục A tỳ.

Khi hai vị Trưởng lão kia ra đi lang thang khắp nơi. Bỗng một hôm, họ gặp nhau ở một chỗ ngụ nọ, và chào hỏi những lời thân thiện với nhau. Họ báo cho nhau biết về những lời ly gián mà vị Tỳ khưu kia đã nói, nên hòa hợp trở lại; bèn cùng nhau trở về trụ xứ cũ.

Khi dân chúng trông thấy hai vị Trưởng lão trở về, họ vô cùng vui sướng, và đầy hạnh phúc, dâng cúng hai vị Trưởng lão bốn món vật dụng. Hai vị Trưởng lão ở lại đó, được cung cấp bởi đồ ăn thích hợp và đã phát triển tuệ quán do sự tập trung của tâm, và không bao lâu sau cả hai đều chứng đắc quả A-la-hán.

Vị Tỳ khưu đâm thọc bị thiêu đốt trong địa ngục trong một thời gian thật dài giữa hai Đức Phật.

Sau đó sanh lên làm một Ngạ quỷ có miệng hôi thối, cách thành Vương Xá không xa. Thân của nó có màu sắc huỳnh kim, nhưng có những con giòi bò ra từ miệng và đục khoét chỗ này chỗ nọ trên mặt. Nó tỏa ra mùi hôi thối, xông khắp cả không trung.

Bấy giờ, khi Đại Đức Narada đi từ ngọn núi Kỳ Xà Quật xuống, Ngài trông thấy và hỏi về hạnh nghiệp mà nó đã tạo bằng câu kệ này:

-Thân ngươi sắc đẹp tuyệt vời,
Ai trông cũng thấy bầu trời phóng quang.
Nhưng nhìn kỹ rất kinh hoàng,
Miệng sao giòi tửa mùi toàn thối tha.
Nghiệp gì ngươi đã tạo ra,
Trong thời quá khứ nói ta nghe nào?

Khi được Trưởng lão hỏi về hạnh nghiệp mà mình đã làm, Ngạ quỷ liền thốt lên câu kệ để giải thích vấn đề:

-Tôi xưa là vị xuất gia,

Nói lời chia rẽ thúi tha không chừa.
Dầu công phu sớm lẫn trưa,
Nhưng về khẩu nghiệp tôi ưa xem thường.
Do tu tinh tấn miên trường,
Thân tôi tỏa sắc kim cương sáng ngời!
Và vì đâm thọc với đời,
Nên nơi cửa miệng mãi thời tanh hôi!
Khi Ngạ quỷ ấy đã trình bày nghiệp mà nó đã tạo, sau đó nó nói lên câu kệ kết luận:
– Chính Ngài đã thấy điều này,
Những người tốt bụng và hay giúp đời.
Khuyên “Đừng đâm thọc hai lời”,
Nếu được như thế cõi trời chờ trông.
Đời sau phước đến khỏi mong,
An vui hạnh phúc thỏa lòng ước ao!
Khi đã nghe qua điều này, Trưởng lão đi đến thành Vương Xá để khất thực. Khi đã độ thực xong trở về. Trưỡng lão đã nêu lên vấn đề này với Bậc Đạo Sư. Bậc Đạo Sư liền lấy đó làm đề tài thuyết giảng. Thời Pháp ấy đem lại lợi ích rất lớn cho đại chúng đang tụ họp ở đó.

5/- Ỷ Ngôn

Đã từng nghe, trung ngôn cho nên nghĩa lý rõ ràng, ỷ ngôn cho nên sai sự thực. Bởi trung ngôn cho nên có lẽ thật, có lẽ thật cho nên công đức phát sinh, công đức phát sinh vốn là nguyên do thành tựu đạo quả. Vì ỷ ngôn cho nên hư vọng, hư vọng cho nên gây ra tội lỗi, gây ra tội lỗi chính là duyên cớ nhận chịu khổ đau. Do đó, hãy nhớ rằng nếu hướng về lý mà tìm cầu giải thoát chứng đắc đạo quả, thì cần phải nói lời chân thật.

Lời nói nếu hư vọng không thật thì trái với chân lý, có nghĩa là lời nói không chính đáng, chắc chắn phải chuốc lấy muôn thảm ngàn sầu. Những lời nói có tính chất ỷ quyền, ỷ thế, ỷ học thức lanh lợi khôn ngoan gian ngoa mà mắng chửi, xài xể, hạ nhục người ta đều tạo ra nhân ác, nó chẳng lợi ích an lạc cho mình và người, chỉ tăng thêm phóng túng, nuôi lớn những mầm mống bất thiện, khi chết rồi rơi vào ba đường dữ. Đến lúc sinh lên làm người phải thọ lãnh thân phận: bạc phúc vô phần, nghèo đói kém hèn ngu dốt, hay bị ức hiếp, gièm pha chê bai sỉ nhục, dù có nói những lời chính đáng nhưng cũng bị khinh thường, chẳng ai tin tưởng.

Ngoài ra, hễ nói đến điều gì mà lời lẽ không biện giải rõ ràng, thì cũng gọi là ỷ ngữ. Vì vậy trong luận Thành Thật nói: “Lời nói tuy là chân thật nhưng không phải lúc không phải thời mà nói, cũng thuộc về ỷ ngôn vậy!”.

Như trong luận Trí Độ nói kệ rằng:
“Ỷ ngữ rơi vào loài ngạ quỷ,
Ngọn lửa từ trong miệng phun ra.
Khốn khổ chạy rong mãi kêu la,
Là vì báo ứng miệng gây ác.
Tuy là kiến thức thật uyên bác,
Thuyết giảng ai nghe cũng tuyệt vời.
Bởi không đúng chỗ và đúng nơi,
Thế nên mọi người chẳng tin tưởng.
Nếu muốn tiếng thơm lan khắp hướng,
Thảy đều quy ngưỡng nguyện phụng hành.
Thì nói ra phải thật chân thành,
Không vướng mắc lỗi lầm ỷ ngữ”.

Quả báo chính:
Ỷ ngử không hợp với chân lý,
Khiến người tưởng nghĩ những tào lao.
Đánh mất thiện căn cùng duyên tốt,
Địa ngục nước sôi miệng rót vào.
Sắt nóng đỏ rực thiêu đốt lưỡi,
Cháy thân chẳng để sót chỗ nào!
Nỗi khổ hãi hùng khó kham nhẫn,
Hét gào thảm thiết thật thương đau!

Quả báo phụ:
Lời nói thêu dệt che lẽ thật,
Vì vậy chìm sâu tam ác đạo.
Tạm rời nơi ấy được làm người,
Khốn khổ nghèo hèn thiếu cơm áo.
Nói ra giải thích không rõ ràng,
Thường bị gièm pha và chế nhạo.
Luôn nhận tủi nhục mang tiếng nhơ,
Suốt cuộc đời sống trong phiền não!

Thuở xưa, Đức Phật trú tại nước La-duyệt-kỳ, sai một vị La-hán tên là Tu Mạn đem tóc và móng tay Phật đến núi phía Nam nước Kế Tân xây chùa tháp Phật. Năm trăm vị La-hán trụ trong chùa đó, sớm chiều đốt hương đi xung quanh.

Khi ấy có năm trăm con khỉ thấy các Đạo nhân cúng dường bảo tháp, liền kéo nhau đến bên khe núi sâu vác đất đá bùn sình bắt chước xây một ngôi tháp, dựng cây làm cột rồi treo tràng phan lên đầu cây, sớm chiều lễ bái cũng như những Đạo nhân.

Một hôm nước lũ trong khe núi dâng cao, nhận chìm chết cả đàn khỉ. Thần thức chúng liền sinh lên cung trời Đao-lợi, là tầng trời thứ hai trong Dục giới. Ở trong cung điện thất bảo, việc ăn mặc tự nhiên hiện ra đầy đủ. Họ đều tự nghĩ: “Chúng ta do nhân duyên gì được sinh lên cõi trời này?”.

Rồi họ liền dùng Túc mệnh thông thấy tiền thân của mình là loài khỉ, nhờ bắt chước Đạo nhân xây tháp lễ bái chơi, tuy bị nước cuốn chết mà thần thức được sinh lên trời. Vì vậy họ muốn trở xuống đền ân thân cũ. Chư Thiên đó liền mang theo người hầu đem hương hoa, kỹ nhạc đến bên thây cũ rải hoa, đốt hương, đi nhiễu quanh thi thể bảy vòng.

Lúc ấy, trong núi có năm trăm vị Bà la môn ngoại đạo tà kiến, không tin tội phước, thấy chư Thiên rải hoa, trỗi nhạc, đi nhiễu quanh thây khỉ đều ngạc nhiên hỏi:

– Chư Thiên quang tướng uy nghi như vậy, cớ sao lại hạ mình cúng dường những cái thây thúi tha này?

Các Thiên nhân đáp:

– Những thi thể này chính là thân cũ của chúng tôi. Ngày xưa, chúng tôi ở đây bắt chước các Đạo nhân lập tháp miếu lễ bái chơi, bị nước khe dâng lên nhận chìm chết. Nhờ chút phước mọn đó nên nay được sinh Thiên. Hôm nay xuống rải hoa là để đền ân thân cũ. Chỉ đùa chơi làm chùa tháp mà còn được phước như thế, nếu chí tâm thờ Đấng Thế Tôn, phước đức đó thật khó mà ví dụ cho được. Các ông tà kiến không tin đạo chân chánh, thì dầu cực khổ siêng tu trăm kiếp cũng không được một chút lợi ích gì. Chi bằng hãy cùng chúng tôi đến núi Kỳ-xà-quật đảnh lễ, cúng dường Phật thì sẽ được phước vô lượng!

Các Bà la môn nghe vậy rất hoan hỷ, cùng chư Thiên đồng đến chỗ Phật, thành tâm đảnh lễ, rải hoa cúng dường.

Chư Thiên bạch Phật:

– Chúng con đời trước mang thân khỉ, nhờ ân Đức Thế Tôn mới được sinh Thiên, hận mình không được gặp Phật, nên nay đến để quy y.

Bạch Đức Thế Tôn, chúng con đời trước có tội gì mà phải mang thân khỉ, dầu xây dựng chùa tháp mà vẫn bị nước cuốn chết?”.

Đức Phật nói với các Thiên nhân:

– Việc này có nhân duyên, không phải tự nhiên mà có. Ta sẽ vì các ông mà nói rõ nguyên nhân.

Thuở xưa có năm trăm vị thiếu niên Bà la môn cùng nhau vào núi muốn học đạo Tiên. Lúc ấy, trên núi có một Sa môn định xây một tinh xá bằng đất bùn. Vị ấy xuống khe suối lấy nước thân thể nhẹ như bay. Năm trăm Bà la môn thấy vậy sinh tâm ghen ghét, đồng thanh cười nhạo: “Ông Sa môn này lên xuống lật đật như khỉ, có gì lạ đâu! Ông lấy nước như vậy mãi, có ngày sẽ bị nước nhận chết chìm!”.

Đức Phật kể xong, bảo với các Thiên nhân: “Ông Sa môn trên núi thuở đó chính là thân Ta, còn năm trăm vị Bà la môn niên thiếu chính là năm trăm con khỉ đó, vì cười đùa gây tội mà phải mắc quả báo như vậy.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Đùa cười lầm lỗi,
Thân đã tạo tội.
Thọ báo khóc than,
Dễ nào tránh khỏi!

Đức Phật nói với các Thiên nhân:

– Các ông đời trước tuy là thân loài thú mà biết chơi đùa xây cất tháp miếu, nên tội diệt phước sinh, được sinh lên cõi trời. Ngày nay các ông lại biết đến đây phụng trì Chánh pháp, do nhân duyên này sẽ mãi mãi xa lìa các khổ.

Đức Phật bèn thuyết giảng Phật pháp cho họ nghe, xong thời pháp, năm trăm Thiên nhân thảy đều ngộ đạo. Năm trăm Bà la môn được nghe giảng về quả báo tội phước đều tự than:

– Chúng ta học theo tà đạo đã trải qua quá nhiều năm tháng mà chưa được chút kết quả nào, không bằng đàn khỉ chỉ đùa chơi làm phước mà được sinh Thiên. Đạo của Phật quả thật vi diệu!

Bấy giờ năm trăm vị Bà la môn đảnh lễ Đức Phật xin làm đệ tử. Đức Phật bảo:

– Lành thay, hãy lại đây các Tỳ kheo!

Năm trăm vị đó liền thành tướng Sa môn. Nhờ tu tập tinh tấn, chẳng bao lâu năm trăm vị ấy đều chứng quả A-la-hán.

Chế giễu người hiền phải chịu quả báo

Tại huyện Hào Châu thuộc tỉnh An Huy có một thanh niên tên là Tô Lan Đình. Anh là con trai duy nhất trong nhà nên được cha mẹ yêu thương, chìu chuộng hết mức. Từ sự chìu chuộng đó khiến cho anh ta trở nên hư hỏng, mặc sức làm theo ý mình.

Hằng ngày anh ta chẳng bao giờ thích làm các việc tốt, mà chỉ thích làm những việc xấu ác. Hễ thấy người làm thiện anh ta liền mắng chửi, cho đó là kẻ tâm ý giả dối. Thấy những thơ sách, kinh kệ thì cho đó là những lời nói bậy bạ để lừa bịp thiên hạ. Thấy người niệm Phật tu hành thì cho là việc mê tín dị đoan.

Năm anh ta ngoài ba mươi tuổi thì cha mẹ qua đời. Nhưng anh ta vẫn quen thói chơi bời lêu lổng nên cuộc sống lâm vào cảnh hết sức túng thiếu, nghèo khổ. Tuy vậy, anh ta vẫn thích ngao du đây đó để trêu chọc, quấy phá, làm cho mọi người phải nổi giận.

Một hôm, anh bỗng mắc một chứng bệnh rất quái dị, thân thể càng ngày càng bị co rút lại, nên mọi người cho đó là điều kỳ lạ; lại thấy toàn thân anh ta mọc đầy lông màu vàng trông giống như một người chó. Sau đó, vào một đêm, anh ta cởi hết quần áo lăn lộn trên mặt đất. Sau một trận gào thét bi ai, anh ta bỏ đi thẳng vào trong núi sâu. Từ đó trở đi, không ai còn trông thấy anh ta đâu nữa.

Người xưa có dạy:
Thiện là nguồn gốc của mọi điều phước.
Nói ít là quý, nói nhiều sẽ dễ sai lầm.

Tô Lan Đình làm việc bất lương, lại thường chế giễu, cản trở người làm việc thiện bằng những lời nói rất ác độc nên bị quả báo nặng nề. Đây là một bài học nhằm cảnh tỉnh đối với những kẻ hay chế giễu người khác làm việc thiện.

*Tấn Hiếu Vũ Đế tên là Tư Mã Diệu. Bình sinh có hai sở thích đó là uống rượu và tiếu lâm. Ông thích rượu như yêu bản thân, uống rượu như uống nước, cũng rất giỏi đùa giỡn người khác, thường khiến người khác phải cảm thấy kinh ngạc.

Tư Mã Diệu tự cảm thấy thỏa mãn với những màn giỡn chơi của mình, thường xuyên nghĩ ra đủ trò để tiếu táo làm vui. Nhưng có lẽ ông không bao giờ ngờ tới bi kịch vận mệnh của đời mình cũng bắt nguồn từ câu nói đùa không đúng lúc mà ra.

Ngày Canh Thân tháng 9 năm 396, ông dậy từ rất sớm thấy tâm trạng vô cùng sảng khoái phấn chấn, có ngẫu hứng, bèn truyền lệnh cho quần thần buổi trưa tụ họp tại Thanh Thử điện trong cung, để cùng uống rượu, bàn chuyện tiếu lâm.

Hôm ấy, ông cùng các quan uống rượu vui vẻ có sủng phi Trương Quý Nhân ở bên cạnh. Sau khi đã uống rất nhiều nhưng ông vẫn cố ép Trương Quý Nhân hầu rượu cho mình.

Trương Quý Nhân không giỏi uống rượu nên tìm mọi cách khước từ. Tư Mã Diệu sắc mặt không vui, tỏ vẻ giận dữ và nói đùa với nàng rằng: “Nàng hôm nay dám kháng chỉ phạm thượng, từ chối không uống rượu ta nhất định sẽ phạt tội nàng!”.

Trương Quý Nhân có chút hơi men nên cũng ương bướng cãi lại: “Thiếp nhất quyết không uống để xem hôm nay bệ hạ phạt thiếp tội gì?”.

Tư Mã Diệu ánh mắt nghi ngờ, đầu óc không còn được tỉnh táo nhưng vẫn làm mặt lạnh quay lại nói: “Nàng năm nay gần 30 tuổi, nhan sắc không còn như xưa, lại không sinh được con cho trẫm, nên phí một danh hiệu quý nhân, ngày mai trẫm sẽ phế nàng tuyển người mới!”.

Nói xong thì không còn tự chủ, nôn thốc tháo vào đầy người Quý Nhân. Trương Quý Nhân vội vàng đưa vua vào phòng ngủ. Tư Mã Diệu thực ra chỉ mượn rượu trêu đùa cho vui, nhưng đối với

Quý Nhân đây lại là chuyện kinh thiên động địa. Nghĩ đến nhan sắc của mình đã tàn phai, nay bị vua ghét bỏ nên vừa tức vừa hận, trong đầu nhen nhóm dã tâm.

Sau khi tắm rửa thay quần áo sạch sẽ, nàng liền cho gọi cung nữ tâm phúc lại nhẹ nhàng trèo lên giường. Thấy vua ngủ say như chết, liền dùng gối đậy lên mặt, sau đó dùng vật nặng đè lên người ông ta. Tư Mã Diệu giẫy giụa, ú ớ một lát cuối cùng thì tắt thở.

Sau khi tự tay giết ông chồng hoàng thượng của mình, Trương Quý Nhân tâm trạng như trút được gánh nặng. Hôm sau, nàng khóc lóc nói với mọi người rằng: “Đêm qua hoàng thượng uống say, ngủ mơ bị bóng đè mà chết”.

Để thoát tội “tru di cửu tộc”, người đàn bà lắm mưu nhiều kế lật lọng bao biện trước quần thần rằng: “Hoàng đế bị bóng đè mà băng hà!”.

Sau đó, Trương Quý Nhân đã âm thầm mang theo vàng bạc châu báu trốn đi mất dạng không ai biết tung tích. Chỉ có Tư Mã Diệu thân là bậc thiên hạ chí tôn, cũng đầy triển vọng vậy mà lại chết một cách lãng xẹt ở tuổi 35 chỉ vì một câu nói đùa không đúng lúc.

6/- Ác Khẩu

Phàm phu hiểm độc ngọn lửa giận hờn lúc nào cũng hừng hực bốc cao, gặp cảnh duyên bất như ý liền phát sinh giận dữ. Vì lẽ đó hễ mở miệng thì liền quát tháo thô lỗ, tục tằn, lời lẽ dơ bẩn, xấu xa, như những hầm cầu bay mùi nồng nặc, ai đi ngang qua cũng phải kinh tởm, nhờm gớm, nín thở vội bước nhanh chân, chẳng dám ngó nhìn.

Lời hung ác chẳng kể đạo lý luân thường, không nể kiêng Phật Trời cha mẹ, chửi bướng mắng càng người trưởng thượng, hiếp đáp dọa nạt kẻ dưới, hăm he huynh đệ họ hàng, trù rủa xóm làng bà con cô bác, nhục mạ hiền nhân réo kêu thần thánh, tợ bom nguyên tử hủy diệt muôn loài, sức tàn phá kinh thiên động địa, như ngọn lửa dữ thiêu đốt tất cả mọi công đức lành, tổn hại thân tâm của mình và người, đau đớn hơn bị dao cắt rồi đem chanh chà muối xát, trái ngược thiện tâm của Bồ Tát, cách xa diệu vợi với lời chỉ dạy từ ái của Đấng Như Lai.

Do đó, kệ trong kinh Nghiệp Báo Sai Biệt nói:

“Những lời thô ác tạo bất an,
Thích nói điều xấu của thế gian,
Cố chấp ngang bướng khó trừ diệt,
Đọa làm ngạ quỷ phun lửa than”.

Vì vậy luận Trí Độ nói: “Lúc ấy có một con quỷ, đầu giống như đầu heo, giòi bọ hôi thúi từ trong miệng sinh ra, thân có ánh sáng màu như vàng. Con quỷ này đời trước làm Tỳ kheo, mà ác khẩu hay mắng nhiếc Tỳ kheo nơi khác mới đến. Bởi thân giữ giới thanh tịnh cho nên thân có ánh sáng, do miệng có nói lời tệ hại cho nên giòi bọ hôi thúi từ trong miệng sinh ra”.

Trong kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Thà dùng kiếm sắc cắt đứt lưỡi của mình, chứ không vì lời nói thô ác mà chịu rơi vào ba đường dữ”.

Kinh Xuất Diệu có ghi: Xưa, thời Đức Phật tại thế, Tôn giả Mãn Túc nhập định, thấy mình đến cảnh giới ngạ quỷ, gặp một ngạ quỷ hình trạng xấu xí khó coi, người nào trông thấy đều phải sợ hãi lông tóc dựng đứng, không có ai không thất kinh hồn vía. Thân phát ra ngọn lửa hừng hực, giống như đống lửa lớn, miệng sinh ra giòi tửa, máu mủ chảy đầy, mùi hôi thối không thể đến gần. Có lúc miệng bốc lên ngọn lửa xa đến mấy chục mét, có lúc mắt tai mũi thân thể tay chân phát ra những ngọn lửa hừng hực, môi miệng xệ xuống giống như heo rừng, thân thể ngang dọc một do tuần. Tay tự cào cấu, cất tiếng gào khóc, chạy khắp mọi nơi thật khốn khổ.

Tôn giả bèn hỏi: “Ông gây ra tội lỗi gì mà nay phải chịu khốn khổ như vậy?”

Ngạ quỷ thưa rằng: “Xưa con xuất gia tham nắm giữ chặt phòng ốc lưu luyến không rời ra được, tự cậy thế mình dòng họ cao sang phát lời xấu xa tệ hại, nếu thấy Tỳ kheo tinh tấn trì giới, thì lại trừng mắt cất tiếng mắng nhiếc làm nhục họ, hoặc gây chuyện rắc rối ác hiểm cho họ.

Cho nên nay chịu khốn khổ như vậy. Thà dùng dao sắc tự cắt lưỡi mình chịu khổ nhiều kiếp, chứ không nên dù một ngày mắng nhiếc phỉ báng Tỳ kheo tinh tấn trì giới.

Nếu lúc Tôn giả trở về cõi Diêm phù đề, đem hình trạng của con để khuyên nhủ các Tỳ kheo, cố gắng giữ gìn lỗi lầm do miệng đừng tùy tiện nói năng, thấy người trì giới nên tán thán ca tụng đức hạnh của họ. Từ khi con nhận chịu hình trạng ngạ quỷ này đến nay đã mấy ngàn vạn năm, thường chịu nỗi đau khổ này, sau này mạng chung sẽ vào chốn địa ngục”.
Nói lời này xong, nó gào khóc rạp mình sát đất, như Thái Sơn đổ sụp, long trời lở đất. Đây là vì lỗi lầm của miệng, vốn khiến cho như vậy.

Kinh Bách Duyên ghi rằng: “Có người vợ Trưởng giả vào lúc mang thai, thân thể hôi hám bẩn thỉu ai cũng xa lánh. Khi đủ ngày tháng sanh con, chỉ là đứa trẻ da bọc xương, ốm yếu tiều tụy không thể nào nhìn được, lại nhiều phân dơ xoa đầy thân thể mà sống. Tuổi dần lớn lên không muốn ở trong nhà, ham thích phân dơ chẳng chịu xa rời. Cha mẹ bà con thân thích ghét bỏ không muốn trông thấy, đuổi ra khỏi nhà chẳng ai cho lại gần. Thế là bé lang thang khắp nơi thường tìm phân dơ ăn, mọi người trông thấy rồi vì thế đặt cho tên gọi là Giãm Bà La.

Một hôm được gặp Phật và xuất gia chẳng bao lâu đắc quả La Hán.

Chư tỳ kheo bèn hỏi nhân duyên quá khứ của thầy, Đấng Đạo Sư cho biết:

Vào thời quá khứ có Đức Phật xuất thế, danh hiệu là Câu Lưu Tôn, vị thầy này xuất gia làm chủ chùa, có những thí chủ giặt rửa cho chúng Tăng xong, lại dùng dầu thơm xoa trên thân thể chúng

Tăng. Hôm nọ, một vị A La Hán từ phương xa mới đến được chư tín chủ xoa dầu thơm, chủ chùa đột nhiên trông thấy, liền giận dữ mắng nhiếc:

– Ông là người xuất gia, dầu thơm xoa ướp thân thể, giống như dùng phân người bôi trên thân thể ông!

La Hán thương xót bèn hiện bày các thứ thần thông, chủ chùa thấy rồi sám hối tội lỗi nguyện xin trừ diệt lỗi lầm. Bởi vì sự mắng chưởi tệ hại này, trong năm trăm đời bị quả báo thân thường hôi hám bẩn thỉu, không một ai dám đến gần. Chủ chùa nhờ xưa kia đã hướng về La Hán kia sám hối, cho nên nay được gặp Phật mà xuất gia đắc đạo. Vì thế cho nên chúng sanh cần phải giữ gìn khẩu nghiệp đừng mắng nhiếc làm nhục lẫn nhau.”

Lại trong kinh Bách Duyên nói: “Thời Đức Phật tại thế, trong thành Vương Xá có một Trưởng giả, tiền bạc châu báu vô lượng không thể tính được. Vợ của Trưởng giả mang thai mười tháng tròn thì đến lúc phải sanh con, nhưng thai nhi không chịu ra.

Về sau lại có thai, đã đủ mười tháng thì sanh được một người con. Thai nhi mang trong bụng trước đây vẫn còn nằm ở sườn bên phải.

Như vậy lần lượt mang thai chín người con, đều đủ mười tháng mà sanh ra, chỉ riêng một người con đầu tiên cố tình ở trong bụng không chịu ra.

Mấy mươi năm sau, một hôm bỗng nhiên bà vương bệnh, ông Trưởng giả cho người mời các danh y đến để chữa trị cho bà. Mặc dù đã thay thầy đổi thuốc lắm phen, nhưng bệnh của bà vẫn không thuyên giảm mà ngày càng trầm trọng thêm hơn.

Bà tự biết mình không thể qua khỏi, nên dặn dò mọi người trong nhà rằng: “Đứa con trong bụng tôi vốn là còn sống chứ chưa chết, nay nếu như tôi có mất đi, thì ắt phải mổ bụng tôi bắt lấy con ra mà nuôi nấng”.

Sau khi bà mạng chung. Những người trong quyến thuộc chở thi hài đến thi lâm, rồi mời Đại danh y Kỳ Bà, mổ bụng coi xét, thì có được một đứa bé, hình dáng vốn là trẻ nhỏ nhưng đầu tóc bạc trắng, lưng còng cúi xuống mà đi, quay đầu nhìn bốn phía và nói với những người thân rằng: “Mọi người nên biết, bởi vì thân đời trước tôi ác khẩu mắng nhiếc làm nhục chúng Tăng, cho nên ở trong chỗ nóng bức tối tăm này trải qua sáu mươi năm, nhận chịu khổ não như vậy khó có thể nói hết được”.

Những người thân nghe rồi khóc sụt sùi xót xa không nói sao nên lời.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ xa biết thiện căn người này đã chín muồi, liền dẫn đại chúng đi đến nơi đặt thi thể người mẹ, bảo cho đứa trẻ biết rằng: “Ông là Trưởng lão Tỳ kheo phải không?”

Thưa rằng: “Bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy!

Lần thứ hai, thứ ba cũng lập lại câu hỏi ấy, đứa bé cũng đáp lại như vậy.

Bấy giờ đại chúng thấy đứa bé này cùng với Đức Phật đối đáp, đều khởi nghi hoặc trong lòng, nên tiến lên thưa với Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Người già này xưa kia tạo ra nghiệp gì, hôm nay ở trong bụng mẹ đến bạc tóc, lưng còng cúi xuống mà đi, lại cùng với Như Lai hỏi đáp qua lại với nhau như thế?”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo với đại chúng rằng: “Trong Hiền kiếp này, có Đức Phật xuất thế, danh hiệu là Ca Diếp. Có các Tỳ kheo vào mùa an cư, chúng Tăng hòa hợp cử ra một Tỳ kheo tuổi đã già nua làm Duy na Tăng. Cùng nhau chế định trong mùa hạ này mọi người cần phải đạt được đạo quả, thì cho phép cùng nhau tự tứ, nếu ai chưa đắc quả thì không cho phép tự tứ!

Khi mãn hạ vị thầy Duy na không đạt được đạo quả, chúng Tăng căn cứ vào quy ước chế định ban đầu nên không cho phép ông tham dự Bố tát tự tứ. Do vì không được tự tứ, tâm tư buồn phiền mà ông phát ra lời nói như vầy: “Một mình tôi vì các ông mà quản lý việc của Tăng chúng, để cho bọn các ông yên ổn hành đạo, nay lại trở ngược còn không cho phép tôi tự tứ Bố tát!”

Tức thì giận dữ mắng nhiếc nhục mạ chúng Tăng, lát sau liền quay vào trong phòng đóng chặt cửa, cất tiếng nói to rằng: “Khiến cho bọn ông thường sống nơi tối tăm không thấy ánh sáng, như tôi bây giờ ở trong phòng tối này”.

Nói rồi tự kết liễu mạng sống của mình, thần thức liền đọa vào trong địa ngục nhận chịu khổ não vô cùng. Nay mới được thoát ra cho nên ở trong thai mẹ chịu sự khổ não như thế.

Chúng Tăng nghe xong đều tự mình giữ gìn ba nghiệp, chán ngán xa lìa sanh tử, có người đạt được bốn quả Sa môn, có người phát tâm Bích Chi Phật, có người phát tâm Vô thượng Bồ đề. Lúc ấy những người thân thuộc dẫn đứa trẻ tuổi già trở về nhà nuôi dưỡng. Thời gian sau đứa bé xuất gia, và đạt được quả vị A la hán.

Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: “Bởi vì ở thời xa xưa cúng dường chúng Tăng và làm Duy na quản lý việc của Tăng chúng, cho nên nay được gặp ta mà xuất gia đắc đạo”.

Còn như bổn phận nữ nhơn,
Chữ trinh là báu của thân khá gìn;
Bên trong của gia đình khéo xử,
Phải rành bề kim chỉ nấu nêm.
Dung nghi cần được đoan nghiêm,
Nằm ngồi đi đứng càng thêm chỉnh tề.
Đừng tập tánh ngồi lê đôi mách,
Đem chuyện người kẻ vạch cho ghen;
Tập lời dịu ngọt cho quen,
Những lời mắng chửi rủa nguyền phải xa.
Làm cha mẹ phải là khuôn mẫu,
Cần tránh xa tật xấu cho con;
Việc mình phải giữ cho tròn,
Tất là sẽ khiến cháu con theo mình.
Con lỡ phạm kêu lên dạy dỗ,
Lẽ nên hư phân tỏ rạch ròi;
Chớ lời thô lỗ khó coi,
Nhứt là tránh việc đòn roi dữ dằn.

Quả báo chính:
Ác khẩu mũi tên tẩm thuốc độc,
Chất độc tàn hại khi dính phải,
Địa ngục mở cửa sẵn đợi chờ,
Hầm rắn núi đao hết phương chạy.
Cắt lưỡi tự mình cầm lấy ăn,
Gào thét đớn đau thật kinh hãi.
Nếu không ích lợi chi cho mình,
Xét suy khi nói tất vô hại!

Quả báo phụ:
Ác khẩu khiến cho người đớn đau,
Phải vào địa ngục mà thọ nạn.
Báo còn sót lại sanh nhân gian,
Bên tai luôn nghe lời súng đạn!
Giả sử có bàn luận điều gì,
Bị mạ lỵ khinh chê thù oán.
Cam phận hèn mọn mãi sợ lo,
Tủi nhục sầu đau quanh năm tháng.

*Thời nhà Đường, Dương Sư Thao là người làng Đông Dương, huyện Lễ Tuyền, Ung Châu. Ông làm quan Tư trúc giám, sau đó chuyển đến nhậm chức Huyện úy huyện Lam Điền.

Năm thứ 21 niên hiệu Trinh Quán, bị bãi chức nên trở về nhà tự cày cuốc làm ăn sinh sống. Nhưng ông vốn có tánh độc ác và bạo miệng, từ nhỏ đến lớn chỉ thích tìm hiểu lỗi lầm của người ta, cứ mỗi lần người trong làng có chuyện gì thì ghi chép tố cáo với quan phủ. Ty huyện thấy ông đã từng làm việc trong triều cho nên cũng giữ chút thể diện. Nhưng ông vẫn cứ ác hiểm không chịu hối cải, nhiều lần quấy nhiễu kiện tụng bừa bãi, kiếm chuyện sai sót của người mà chẳng cần biết gì lớn bé, cứ luôn luôn dọa nạt làm cho họ sợ hãi.

Ở trong thôn xóm của mình, không có chuyện gì cũng bất ngờ tìm mọi cách chỉnh lý, lớn nhỏ mỉa mai chỉ trích, tùy tiện gây ra điều rắc rối; chỉ có trâu dê thả rông, trai gái tranh luận với nhau, ông cũng mang lên tới huyện. Huyện lệnh là Bùi Cù Đàm vì vậy mà rất phiền toái, ban đầu nhiều lần cho là phải, về sau thấy sự việc có nhiều điều không hợp lý; Sư Thao sau đó thẳng đến châu phủ, hoặc dâng biểu khắp nơi.

Ác tâm của ông ngày càng lớn, mọi người đều không ưa gặp mặt.

Lắm lúc ông tự biết tánh ác của mình, cũng hướng về mọi người nói rằng: “Tánh tôi quả thật là nóng nảy bạo miệng”.

Từ thời Vũ Đức về sau ông đã bốn lần thọ giới, giữ gìn thực hành lễ bái, hàng ngày đọc tụng kinh kệ, chỉ bày cho người làm điều thiện; nhưng nếu ai có điều gì hơi xâm phạm đến ông, thì ông không thể nào nhịn được.

Lần nọ, vào đêm mồng bảy tháng tư, niên hiệu Vĩnh Huy thứ nhất, bỗng nhiên có một người từ phía Đông đi đến, cưỡi ngựa trắng mặc áo đen, đi thẳng đến cửa nhà ông.

Sư Thao trông thấy liền cùng chào hỏi chuyện trò với nhau xong, người ấy nói: “Quan Đại giám Đông Dương có ý sai tôi truy tìm ông, bởi vì ông từ lúc sinh ra đến nay, tâm hiểm độc trói buộc mãi không thể nào chịu từ bỏ được, gặp người ta thì giảng giải khuyến khích làm thiện, còn bản thân mình thì trì giới không trọn vẹn; tham lam keo kiệt không hề bố thí, tự nói rằng mình có thiện tâm cúng dường Tam Bảo, nhưng mà chưa hề bố thí một chút tài vật; tuy miệng nói là hổ thẹn, mà trong lòng thì nảy sinh mưu kế khác làm cho phàm tục bị mê hoặc, vì vậy cho gọi ông!”

Lát sau không trông thấy người ấy đâu cả. Sư Thao đang ở trong cổng bỗng nhiên ngã nhào xuống đất, cứng miệng cứng hàm, chỉ có trên ngực còn chút hơi ấm, người nhà khiêng đem vào trong nhà nằm, suốt đêm không tỉnh.

Thế là ông đã đến chốn Đô lục Đông Dương. Lúc ấy Phủ quân Đại nha chưa phân tán.

Ông liền lén theo người trong nha môn đi xem mọi nơi; đâu cũng có bàn ghế giường phãn, thật vô cùng đẹp đẽ sang trọng, cũng có những người bị cầm tù, hoặc mang gông xiềng từ trên đầu xuống ngang hông, hoặc đứng ngồi đi lại, tội nhân như vậy nhiều không thể tính đếm.

Ông hướng về phía Đông đi đến một nơi, ở trong lỗ hổng rất nhỏ, chỉ thấy đốm lửa rất nhỏ tỏa ra mùi khói ngửi thấy khét lẹt, không thể chịu nổi. Lại có hai người, tay cầm gậy sắt sửa lại đầu cổng, ông nhân đó hỏi người cầm gậy: “Đây là nơi nào?”

Người đó đáp rằng: “Đây là địa ngục lửa dữ, định sửa sang để giam người trì giới không trọn vẹn, hoặc là người tu thiện nửa chừng ngưng hẳn, biết mà cố tình vi phạm, chết sẽ vào nơi này, nghe nói có một người tên Dương Sư Thao, cả đời thích nói đến sai lầm của người ta, cứ mỗi lần tố cáo lên quan phủ là nói chuyện hay dở của họ, gặp người ta thì làm ra vẻ biết hổ thẹn, mà có một chút xâm phạm thì thật sự không thể nào nhịn được, nay sắp đẩy vào chỗ này, cho nên phải sửa chữa lại, người đó trong hôm nay là ngày mồng tám tháng tư, người nhà vì Sư Thao đã chết mà bố thí cúng lễ trai phạn, các quan trong phủ bình xét làm sáng tỏ còn tha cho trở về, nhưng chưa được biết quyết định là tiến hay dừng, tôi phải ở nơi này chờ đợi Sư Thao”.

Ông nghe xong liền rập đầu lạy nhận lỗi mà tự nói rằng: “Dương Sư Thao chính là đệ tử này đây, nguyện tìm cách giúp cho, nếu được cứu thoát thì xin sửa mình”.

Người ấy đáp rằng: “Ông chỉ dốc lòng thành kính lễ lạy chư Phật mười phương, tâm thiết tha sám hối chừa bỏ lòng hiểm độc, thì sẽ được vãng sanh, không đến chỗ này đâu, tuy chất chứa ý niệm xấu ác nhưng một khi có thể hối hận thì vẫn được thay đổi, như hành Bồ Tát hạnh xả bỏ thân mạng không tiếc thì được sanh về Tịnh Độ!”

Ông được nghe lời này rồi, lập tức y theo lời dạy phát lộ ân cần sám hối, liền được tha thứ trở về nhà, trải qua ba ngày được sống lại.

Sư Thao khi tỉnh lại rồi kể đầu đuôi sự việc này.

Thời gian sau ông đến chỗ Thiền sư Huệ Tĩnh sám hối sữa chữa lỗi lầm, tuổi đến hơn bảy mươi thường ngày ăn chay lễ sám sáu thời. Sự tu của ông rất chuyên cần và chân thật.

Lần nọ, trên đường đến Lam Điền, nhân tiện đi thăm ruộng lúa, thì ông thấy ba con trâu mặc sức ăn lúa mạ, bèn đến bên trâu mà sanh tâm hổ thẹn, không dám đuổi ra. Trở về nhà, ngày hôm sau đi xem ruộng lúa thì ruộng lúa không hư hại gì, chỉ có dấu tích của trâu để lại.

Đêm ấy nằm mộng thấy có người đến nói với ông rằng: “Tôi là người đi sứ cố tình đến tìm ông, ông đã ngừng hết niệm ác nên không tiếp tục truy bắt ông nữa, ông chỉ cần thường xuyên chân thành tu thiện, không cần phải lo buồn”.

Vùng phía Tây của huyện Kinh Dương có ngôi chùa Trần Vương, nhiều người tụ tập, ông đến giữa mọi người kể lại đầy đủ việc ấy, kẻ tăng người tục thảy đều kinh hãi cảm thấy Phật pháp mầu nhiệm nên lễ sám càng thêm tha thiết.

A La Hán ăn mày

Giáo pháp của Đức Phật vô cùng bình đẳng, không có sự chênh lệch giai cấp, không có sự sai biệt sang hèn.

Lúc Đức Phật trú tại tinh xá Kỳ Viên, đến bữa ăn Ngài đi vào thành Xá Vệ khất thực, không phân biệt phú quí bần tiện, giàu nghèo, khôn ngu, đẹp xấu, Ngài xem tất cả đều bình đẳng khiến cho nhà nào cũng có được cơ hội gieo trồng hạt giống phúc đức.

Mỗi khi Đức Phật dẫn đầu đoàn đệ tử khất thực, thì sau lưng Ngài có rất nhiều người ăn mày đi theo. Nhờ uy đức của Ngài, họ cũng được mọi người phát tâm từ bi bố thí.

Thời gian chầm chậm trôi qua, những người hành khất này nhờ thế mà kéo dài được mạng sống hạ tiện của họ. Có một hôm, người đứng đầu trong đám ăn mày ấy nói với các đồng bạn rằng :

– Chúng ta thuộc về hạng chúng sinh tội khổ, tuy nương dựa vào ánh sáng từ bi của Đức Phật để được mọi người bố thí mà kéo dài mạng sống, nhưng cứ tiếp tục như thế này mãi cũng chẳng đi tới đâu. Tôi thiết nghĩ, hay là chúng ta kéo nhau đến chỗ của Ngài để xin xuất gia, y Pháp mà tu hành, tương lai không phải là được giải thoát cả hay sao? Các bạn nghĩ như thế nào?

Tất cả mọi người ăn mày đều tán thành ý kiến này, thế là họ cùng nhau kéo đến tinh xá Kỳ Viên, cầu xin Đức Phật cho họ xuất gia để tiêu trừ tội khổ.

Đức Phật nói:

– Pháp của Ta bình đẳng, bất kể kẻ trí hay người ngu, giàu sang hay nghèo hèn, ai cũng có thể được truyền trao giáo pháp, được pháp quang chiếu rọi. Pháp của Ta là pháp thanh tịnh, người tốt hay kẻ xấu ai cũng có thể bỏ sự ô uế để được trong sạch, hồi phục lại chân tánh căn bản. Hôm nay các ông xin xuất gia, đó là do thiện duyên của các ông, các ông chỉ cần tuân theo giáo pháp của Ta thì Ta cho phép các ông gia nhập tăng đoàn, thành những vị tỳ kheo.

Các vị hành khất nghe Đức Phật nói xong hết sức vui mừng, cạo hết râu tóc và khoác pháp y vào. Từ đó họ nỗ lực ra công, diệt trừ tham sân si trong tâm, hiểu rõ căn nguyên của sinh tử, nên lần lượt đã chứng được quả A La Hán.

Lúc Đức Phật cho phép đoàn người hành khất xuất gia, trong dân chúng có rất nhiều người nghi ngờ, vẫn còn ôm giữ tà kiến nên dùng lời oán than phản đối, cho rằng tăng đoàn vốn tôn quý thanh tịnh, không nên để cho bọn ăn mày ấy được phép gia nhập. Quan niệm giai cấp trong tâm ý của những người này hãy còn rất nặng nề.

Có một hôm, thái tử Kỳ Đà làm một cỗ chay thịnh soạn để cúng dường Đức Phật và chư tăng, nhưng ông dặn rõ ràng rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn! Ngày mai con rất hoan hỉ cung thỉnh Phật và chư tăng đến nhà con thọ cúng, nhưng không có chỗ cho mấy ông tỳ kheo hành khất nọ, xin Thế Tôn đừng mang họ theo!

Ngày hôm sau, lúc lên đường đến cung điện thái tử Kỳ Đà thọ cúng, Đức Phật nói với các vị tỳ kheo đã có thời làm hành khất nọ:

– Hôm nay ta nhận lời thỉnh của thái tử Kỳ Đà đến nhà ông ấy dùng cơm. Các ông hãy đi về phía bắc, đến châu Uất Đan Việt, hái thức ăn như lúa canh v.v… tới nhà thái tử Kỳ Đà rồi tùy ý tìm chỗ mà ngồi ăn!

Các vị tỳ kheo hành khất hiểu ý của Đức Phật, tuân lệnh lên đường. Họ dùng thần thông nên đến châu Uất Đan Việt trong nháy mắt, hái đầy bình bát lúa canh đã chín mang về. Về tới chỗ, họ làm thành một nhóm 500 người, xếp hàng thành chữ “nhất”, từ không trung bay xuống, uy nghi, chỉnh tề, trang nghiêm, khiến ai nhìn thấy cũng phải tỏ lòng tôn kính tán thán. Khi họ đến cung điện của thái tử Kỳ Đà, 500 người theo thứ tự an nhiên ngồi xuống, mỗi người mở bát lấy lúa canh mang theo mà dùng, mùi hương từ trong bình bát lan xa thơm ngát cả vùng.

Thái tử Kỳ Đà nhìn thấy các vị tỳ kheo này rất lấy làm lạ, bèn hỏi Đức Phật:

– Bạch Thế Tôn, các vị đại A La Hán mới từ không trung bay xuống, thái độ uy nghi lẫm lẫm khiến ai nhìn thấy cũng phải tôn kính ấy, chẳng hay từ đâu mà đến? Thỉnh Phật từ bi nói nhân duyên của họ cho con được biết!

Đức Phật nhìn đại chúng, nhìn sang thái tử Kỳ Đà rồi sau đó mới nói một cách từ hòa:

– Thái tử Kỳ Đà! Ông hãy nghe ta nói: Các vị tỳ kheo ấy chính là những vị tỳ kheo hành khất mà hôm qua ông nhất định không muốn cúng dường. Vì ông không mời họ nên hôm nay họ phải đến châu Uất Đan Việt hái lúa canh đã chín mang về đây dùng.

Thái tử Kỳ Đà nghe thế lấy làm vô cùng xấu hổ, biết mình đã có lỗi khinh mạn và tà kiến, buồn rầu hối hận mà tự trách rằng:

– Con thật là ngu si, không biết đâu là thánh đâu là phàm, có mắt đứng trước núi Thái Sơn mà không thấy, thật là đáng tội!

Nói xong vội vàng bày bàn cỗ thức ăn, thỉnh 500 vị La Hán vào bàn rồi hỏi Đức Phật rằng:

– Bạch Thế Tôn, 500 vị La Hán được Phật giáo hóa không lâu đã chứng đắc quả vị, lìa khổ được vui. Đã được một phúc báu to lớn như thế, thì tại sao lúc ra đời lại sinh ra trong nhà hạ tiện?

Thỉnh Thế Tôn từ bi khai thị cho con!

Đức Phật bèn ôn tồn giảng giải cho đại chúng nghe:

– Vào thời quá khứ thật lâu xa, có một thế giới to lớn gấp bội lần thế giới hiện tại của chúng ta. Trong thế giới ấy có một quả núi cao, trên ấy có nhiều vị tu hành và tiên nhân tu đạo cư ngụ. Vì thế người ta bèn đặt tên cho quả núi ấy là Tiên Sơn.

Trong núi, lúc ấy có hơn 2000 vị tu đạo sinh sống, vị nào cũng đã chứng quả thánh.

Có một năm, trời không mưa trong một thời gian rất lâu nên nạn hạn hán lan tràn, không có cách nào canh nông trồng trọt trên núi, vì thế đời sống trở nên vô cùng khó khăn. Vừa may có một nhà buôn cự phú tên là Tán Đàn Ninh, thiết lễ cúng dường hơn 2000 vị thánh nói trên. Vị trưởng giả rất thành tâm, không hề có ý niệm lẫn tiếc nào, còn bảo mấy trăm gia nhân trong nhà phải mỗi ngày phục dịch hầu hạ các vị thánh nhân ấy. Ban đầu thì những gia nhân này làm việc hăng hái chăm chỉ, nhưng về sau họ đâm ra chán nản, thốt ra những lời trách oán, thái độ càng ngày càng lơ là, lười biếng. Nhưng trưởng giả Tán Đàn Ninh không hề hay biết gì về sự việc này.

Một hôm trời đổ mưa, nhà nông vui mừng như bắt được vàng. Hai ngàn vị thánh nhân lên núi trở lại lo việc làm ruộng, trưởng giả cũng bảo gia nhân bắt đầu gieo hạt. Mọi người lấy nông cụ ra, từ sáng đến tối ngoài đồng làm việc, lúa mạch, lúa mì, đậu, ngũ cốc v.v… không đâu là không có. Những gì họ khổ công gieo trồng mọc lên rất mau, chín vàng, ra quả to như quả dưa. Trưởng giả rất vui mừng, bảo họ phải cố gắng thêm, tưới tẩm thêm, bón phân thêm, đến lúc gặt hái thì thu hoạch càng thêm phong phú, kho vựa đầy ăm ắp. Chỗ còn dư thì đem chia cho mọi người và bố thí cho dân chúng trong nước.

Lúc ấy, những người đã phục dịch thánh chúng lúc trước cảm thấy ân hận, xấu hổ, biết lỗi của mình nên từ đó phát nguyện “mấy trăm người chúng ta đây, lúc trước đã tạo khẩu nghiệp, bây giờ biết sám hối sửa lỗi, từ bây giờ trở đi nguyện làm nhiều việc thiện, phụng sự người khác, cầu mong kiếp tới gặp được thánh hiền, tu hành giải thoát”.

Này Thái tử Kỳ Đà! Mấy trăm người làm công ấy, vì đã tạo khẩu nghiệp nên nhiều kiếp phải chịu cái khổ sinh ra làm ăn mày. Nhưng nhờ biết hối lỗi, nên hôm nay họ đã được gặp Phật. Trưởng giả Tán Đàn Ninh chính là Ta trong kiếp trước. Nhờ những nhân duyên như thế nên kiếp này họ mới được độ.

Đức Phật nói xong, thái tử Kỳ Đà và những người cùng nghe đều hoan hỉ không kể xiết, tất cả đều phát tâm chuyên cần tu hành, sám hối tội lỗi, cầu đạo vô thượng Bồ Đề.

7/- Vọng Ngữ

Nghĩ rằng đeo mang hình hài con người thế gian, gặp thời uế trược này; tiếp nhận bản chất thân thể giả tạm, cảnh duyên hư ảo. Vì thế vọng tưởng hư cấu, lòng thường mê muội, tâm cảnh trái ngược, lời nói đều giả. Trước mọi người dối trá thêm thừa huyễn hoặc, có nói không, không nói có, láo xược trớ trêu, khoe khoang tự đắc, tự ý thêm bớt đủ điều, mặc tình dặm mắm dặm muối, khiến cho kẻ nghe sanh ra hiểu biết lệch lạc sai lầm, tạo nên muôn vàn khổ đau tranh nhau trói buộc, trăm mối ưu sầu cùng nhau tụ tập, mù mờ pháp tắc, hoại loạn lý thật lẽ chân, hết thảy đều do nói dối mà ra. Gieo trồng nhân tố hư vọng, cảm lấy quả báo hung hiểm nơi địa ngục non kiếm rừng đao nước sôi lửa đỏ, kéo lưỡi trâu cày vô cùng khổ đau thống thiết, ngàn đời vạn kiếp chẳng có hạn kỳ thoát ly!

Khế kinh, Đức Phật dạy: “Nói đến vọng ngữ, đó chính là tự lừa dối mình và cũng lừa dối người khác. Vọng ngữ khiến cho tâm hồn xấu xa, ý nghĩ và lời nói mâu thuẩn với nhau, tạo nên cõi lòng ngập tràn phiền muộn. Vọng ngữ là làm cho miệng mình dơ bẩn, làm cho thân mình khốn đốn, Trời Thần đều xa lánh từ bỏ. Vọng ngữ là nhân làm cho thiên hạ khinh khi miệt thị, làm mất đi cội rễ của mọi điều lành, làm cho mình tăm tối ngu si không nhận ra đường đi hướng về nẻo thiện. Vọng ngữ là nền tảng cốt lõi tất cả các điều ác, là nguồn gốc cắt đứt cơ hội hành thiện tích đức, đoạn dứt đời sống thanh thản an lạc cho chính bản thân mình”.

Quả báo chính:
Giỏi khéo vọng ngữ lường gạt người,
Phải vào địa ngục mà thọ nhận,
Cưa lửa cắt xẻ nát hình hài,
Sắt nóng nướng lưỡi ngày ngàn bận.
Nước đồng sôi sục miệng rót vào,
Đinh sắt đâm lưỡi nát thành phấn.
Đau thấu tâm can xương tủy tan,
Thống thiết bi thương vô cùng tận!

Quả báo phụ:
Vọng ngữ đọa vào tam ác đạo,
Tội lỗi ba đường đã trả xong,
Trở lại làm người ắt phải chịu,
Thường bị phỉ báng rất đau lòng.
Chẳng ai thành thật luôn lừa dối,
Oán hận trào dâng tợ lửa hồng!
Người trí khá nên đừng tạo tác,
Siêng tu bi nhẫn dứt cùm gông!

Khi Phật còn tại thế, La Hầu La sau khi xuất gia, vì tuổi nhỏ không biết cẩn thận giữ gìn khẩu nghiệp. Như khi Phật tử đến hỏi:

– Hôm nay Đức Thế Tôn có trong tịnh xá không?

La Hầu La biết có Đức Phật, nhưng cứ tùy tiện nói dối là không. Đến khi Đức Phật đi hoằng hóa nơi khác, Phật tử đến hỏi, thì La Hầu La lại nói là có.

La Hầu La nói dối như vậy nhiều lần, có người bạch lên Phật.

Một hôm, Đức Phật đi khất thực mang bát về, bảo La Hầu La đem nước đến cho Ngài rửa chân. Rửa xong, Ngài hỏi La Hầu La rằng:

– Nước này có thể dùng nấu trà, nấu cơm được không?

La Hầu La đáp rằng:

– Kính bạch Thế Tôn! Không được, vì pha trà, nấu cơm phải dùng nước trong sạch mới được. Nước này đã rửa chân rồi, thành ra dơ bẩn, đâu có thể dùng được.

Đức Phật dạy:

– Đúng thế! Ông cũng như vậy. Ông thường nói lời giả dối với người, cũng như nước đã rửa chân nhơ bẩn không thể dùng pha trà, nấu cơm. Ông thường nói dối thì không thể tu đạo vô lậu.

Phật dạy như vậy rồi, lại bảo La Hầu La đổ nước và đem chậu úp lại chỗ cũ. La Hầu La vâng lời, Phật lại bảo La Hầu La đem nước đổ lên chậu, nước chỉ lưu lại một chút ít trên đáy chậu.

Phật biết rõ, nhưng cố ý hỏi rằng:

– Nước đổ vào chậu sao lại không có?

La Hầu La bạch:

– Kính bạch Thế Tôn! Nước không còn trong chậu vì chậu đã úp lại cất.

Bấy giờ, Phật mới nghiêm khắc quở trách rằng:

– Ông là người không có tâm hổ thẹn, do tội vọng ngữ che lấp tâm tánh như nước không chảy vào chậu, ông không thấm đạo cũng như thế.

La Hầu La được sự giáo huấn của Phật, biết vọng ngữ là điều quyết không được làm. Từ đấy về sau không bao giờ nói một lời vọng ngữ nào nữa!

Một câu chuyện rất thương tâm

Vào một đêm mùa đông, cục cảnh sát nhận được điện thoại thông báo có người tự tử trên một cây cầu ở ngôi làng ngoại ô thành phố. Tới nơi, họ phát hiện trên cầu là một phụ nữ trẻ treo cổ tự tử, thời gian chết vẫn chưa được lâu.

Phía cảnh sát điều tra đến ngôi làng gần đó để tìm hiểu về thân nhân của nạn nhân, lúc tới nơi, lại gặp một cảnh khiến người ta không khỏi kinh động.

Khi họ bước vào nhà của người phụ nữ kia, cảnh tượng đầu tiên là một đứa trẻ chưa đầy 1 tuổi bị chết cóng trên giường. Cạnh đó, cha đứa trẻ đang khóc lóc bi thương trước cái chết của con mình. Anh ta kể lể hết mọi việc nhưng không hề hay biết tin gì về cái chết của vợ.

Thì ra, khi người chồng ra ngoài gặp gỡ bạn bè uống rượu, vợ ở nhà một mình trông con. Sau khi người chồng trở về, người vợ nổi giận đùng đùng trách mắng chồng ra ngoài cặp bồ, có quan hệ qua lại bất chính với một người nào đó.

Khi thấy vợ đổ oan, người chồng có giải thích như thế nào thì vợ cũng không chịu nghe, nên anh ta bất mãn lại bỏ nhà đi uống rượu với bạn tiếp.

Cô vợ trong lúc nhất thời nghĩ không thông, cho rằng như thế này thà chết cho xong chứ sống làm gì nữa. Người vợ liền nhắn tin cho chồng rằng: “Anh về nhà mà trông con, tôi không trông con nữa”. Người chồng trong lúc uống rượu không để ý có tin nhắn.

Đến khi say mèm rũ rượi anh ta mới về nhà, về đến nhà chẳng thấy vợ đâu, chỉ thấy đứa con nằm trên giường đã bị chết vì lạnh. Đến khi cảnh sát thông báo cho người chồng về cái chết của người vợ, nghe xong người chồng đau khổ tột cùng lăn ra ngất xỉu.

Vụ án đơn giản, sau khi xác minh rõ mọi chuyện và đây chỉ là vụ tự sát đơn thuần, vụ việc đi đến kết thúc một cách nhanh chóng.

Thì ra có kẻ gây ra chuyện thị phi.

Ở đầu thôn bên cạnh đường quốc lộ có một người họ Lưu làm nghề sửa xe máy, người này ngoài 50 tuổi, đã ly hôn vợ và sống cuộc sống đơn độc một mình.

Người sửa xe này có thói quen xấu, đó là luôn tùy hứng bản thân mà đơm đặt chuyện của người khác. Ông ta nói với người phụ nữ kia rằng chồng cô đã cặp với người phụ nữ khác, đã thế lại còn miêu tả sống động như thật. Cô vợ tin chắc rằng chồng mình đã có bồ thật và đã dẫn đến xảy ra sự việc đau lòng sau đó.

Khi điều tra chứng thực tất cả mọi chuyện này đều là lời đơm đặt của người họ Lưu, mọi người trong thôn ai nấy đều bừng bừng nổi giận. Họ tố cáo cảnh sát.

Tuy nhiên sự đặt điều của họ Lưu kia không thể kết thành tội danh hay liên quan tới trách nhiệm gì. Phía cảnh sát cũng chỉ có thể giáo huấn cho người họ Lưu kia một trận rồi thôi, hi vọng sau này có thể bỏ thói hư tật xấu này đi.

Vào một đêm nọ, ông Lưu đến nhà bạn bè nhậu say khướt. Sau khi được dìu về tiệm sửa xe của mình rồi, nửa đêm ông bò ra ngoài tìm rượu uống. Ông sờ soạng và vớ được một cái bình, đang mơ màng nên ông ta liền nốc một ngụm. Nào ngờ đó không phải là là bình rượu mà là bình hóa chất. Loại nước này dùng để sơn động cơ kim loại, độ ẩm cực thấp, hễ quét qua rồi thì trong vòng hai giây là có thể làm đông cứng bất kỳ vật gì. Ngay khi đó, ông Lưu ngã xuống ngất đi, may là bên cạnh còn có người phát giác kịp thời chở đi cấp cứu.

Lúc bác sĩ khám cho ông, phát hiện lưỡi ông bị đông cứng như kết băng. Hóa chất này mà bị ngấm thì dù ít thì cũng xem như tiêu rồi. Bác sĩ tuyên bố: “Từ nay, không những ông Lưu không nói được mà kể cả vòm miệng cũng khó bảo toàn… Sau này, ông chỉ có thể ăn uống bằng ống dẫn”…

Quả thực đúng như lời của bác sĩ đã tiên lượng, ông Lưu sau đó không còn chuyện trò gì nữa được, và mỗi lần ăn phải đưa thức ăn trực tiếp bằng đường ống vào dạ dày.

Ông Lưu bình thường sử dụng cái lưỡi của mình để thêm thắt, thêu dệt, đặt chuyện, xem đây là thú tiêu khiển của mình mà không biết làm vậy là gieo Nhân đại ác, gây họa hại cho bao người trong thôn xóm. Nếu cái lưỡi ông còn công năng, thì sẽ có thêm nhiều nạn nhân nữa. Do vậy mà nguyên cái lưỡi và cả vòm miệng ông đều bị triệt tiêu. Đây chỉ là hoa báo còn quả báo ắt hẳn nặng nề hơn rất nhiều!

Luật nhân quả thẳng tay trừng phạt,
Vô luận ai tạo tác bất lương.
Muốn thì làm chẳng chịu suy lường,
Dễ đưa tới con đường tội lỗi.
Biển sâu rớt luống công bơi lội,
Tội ác lâm khó nổi gỡ ra.
Vui nhứt thời để khổ lâu xa,
Sự vui ấy chỉ là thuốc độc.
Chúng sanh biết bao điều thảm khốc,
Vì ham vui trong chốc lát sanh.
Cần nghĩ suy rồi sẽ thi hành,
Tránh bã lợi mồi danh câu nhử.
Hành thiện sự hay là ác sự,
Là nguyên nhân vui khổ trong đời.
Mặc dù là một việc nói chơi,
Cũng ảnh hưởng cho người sâu sắc.
Việc thường bữa nhớ nên dè dặt,
Nói hay làm cân nhắc cho minh.
Đừng để cho thị dục lừa mình,
Cũng tránh thứ cảm tình dụ dỗ.
Thấy vui phải nhớ ngay việc khổ,
Biết thương thân phải độ lấy thân.
Đem lợi danh cung phụng xác trần,
Chỉ là việc nuôi ong tay áo.

*Tóm lại, cần biết rằng, cái khẩu nghiệp này không tốt, sẽ tổn phúc báo một cách ghê gớm. Do tiêm nhiễm nhiều thói quen xấu trong xã hội, nói chuyện đã đốp chát um xùm, không thận trọng chín chắn, không tôn trọng trưởng bối, không tôn kính Thánh Thần Trời Phật, ăn nói càng hàm hồ bậy bạ, tùy tiện nói lung tung nên phúc báo sớm đã từ cái miệng chảy đi hết. Cái miệng ti tiện bao nhiêu thì cái mệnh bần tiện bấy nhiêu.

Khẩu đức đối với bất kỳ ai cũng vậy, rất nhiều phúc báo đều đã thông qua cái miệng làm tổn mất đi. Người xưa nói rằng: “Ngôn do tâm sinh”, lời từ tâm mà ra. Nếu cái miệng chỉ biết nói những lời không tốt, nói những lời thị phi và chửi rủa người khác, như thế thì tổn hại phúc báo của chính mình rất nhanh chóng.

Nghĩ việc chung chớ có nghĩ riêng;
Trọng nghĩa hơn là trọng bạc tiền,
Sửa nhân cách trở nên quân tử.
Lúc nào cũng có lòng tha thứ,
Việc ở đời cư xử công bằng;
Cho đến như lời lẽ nói năng,
Cũng gìn được dịu dàng êm ái.
Lời nói rồi khó mong hốt lại,
Phải cần nên suy nghĩ kỹ càng;
Một lời ra mà vạn sự an,
Nửa câu nói tan hoang sự nghiệp.
Nước đổ rồi hốt sao cho kịp,
Lời quấy ra khi biết muộn màng;
Lời nói mà được phước muôn vàn,
Cũng lời nói tội mang vô số.
Nói lựa lời và ngồi lựa chỗ,
Cách ở ăn của kẻ tu hành;

Không chỉ là nói thị phi, lại còn đi nói những xấu dở của bậc trưởng bối, đấy cũng là tổn giảm phúc báo. Có một số ít người phụ nữ rất thích phàn nàn trách móc người chồng, nói người chồng chỗ này không tốt, chỗ kia không tốt. Khi cãi nhau phàn nàn kêu ca đến cả cha mẹ của đối phương, tổ tông tám đời đều dám nguyền rủa. Như thế là đã tạo khẩu nghiệp rất nghiêm trọng. Cứ như thế thì gia cảnh sẽ ngày càng nghèo khổ khốn đốn nhiều hơn, bởi vì phúc báo đều từ cái miệng mắng chửi mà hao tổn. Cho nên, cái cửa khẩu nghiệp này nhất định chúng ta cần phải chú ý.
Cái miệng cần giữ đức, không nói những lời nghiệt ngã chua ngoa, có như thế mới giữ được phúc báu. Tại sao cái miệng lại có thể làm tổn hại phúc báo? Bởi vì phúc báo là do sinh ra từ tâm tưởng tốt lành.

Người mà oán người trách trời, không trân quý những gì mình đang có, cứ mãi than trách oán hờn, lại thông qua cái miệng rồi cứ lem lẻm nói mãi không dừng. Thế thì chính là tổn phúc báo càng nhanh hơn nữa, cái đó ắt gọi là bạc mệnh.

Khi nghe khi tưởng cũng là,
Ngăn ngừa ý quấy xẹt ra bất ngờ.
Nhứt lời nói bao giờ cũng lọc,
Buông ra rồi khó hốt lại nào;
Tục rằng lưỡi bén hơn dao,
Nói ra một tiếng đoạn bao nghĩa tình.
Sự vui buồn trọng khinh thương ghét,
Thường do nơi mồm mép gây nên;
Chỉ trong một tiếng cất lên,
Hoặc tan sự nghiệp hoặc nên cửa nhà.
Lời nói dễ phá hòa ra nghịch,
Lời nói thường giết chết được người;
Cho nên tất cả người đời,
Trước khi nói phải lựa lời cho thanh.
Nói tổn đức nói sanh thù oán,
Nói chia lìa nói tiếng trây trua;
Thì là nhứt định phải chừa,
Dù ai cạy lưỡi không thưa thốt lời.

Cái miệng mà nói những lời chân thật thiện lương từ ái lợi ích mọi người, thì trong ý của ta tồn chứa nhiều hảo tâm, nó sẽ tạo ra từ trường tốt hơn lan tỏa xa rộng mang đến cho mọi người dồi dào năng lượng yêu thương, giúp cho lòng người thơ thới an tĩnh hòa vui. Và chính chúng ta sẽ được những hồi báo tốt lành, đạo lý này cũng không khó hiểu chi cho lắm!

Phạm Thị

Phạm Thị, người ở Đài Loan, con nhà nghèo, buông nghề này bắt nghề kia, làm ăn tuy giỏi giắn, song cuộc sống vẫn vất vả. Tánh bà rất ngang ngạnh, nóng dữ, không tin ngôi Tam Bảo, chẳng kể trời đất thánh thần cho đến bậc tôn trưởng. Sau bà mang nghiệp báo, bị chứng bướu nhọt lớn như cái chén, máu mủ rỉ chảy, ngày đêm đau nhức rên la.

Vào tháng giêng năm 1927, Phạm Thị nghe được một vị tăng thuyết giảng Phật pháp, nói về việc báo ứng nhân quả. Bà sanh lòng ăn năn sợ hãi, đến ngày mùng tám tháng hai năm ấy, bà quyết định vào chùa đảnh lễ Mậu Phong đại sư, quy y thọ giới, được pháp danh là Liễu Hương. Từ đó Phạm Thị ngày đêm chí tâm niệm Phật không dứt, nên bệnh khổ dần dần thuyên giảm, thân tâm được chút thơ thới an vui. Do đó bà phát lòng tín nguyện sâu thiết, tu trì hết sức dõng mãnh chưa đầy hai tháng, bà đã có thể dự biết trước thời kỳ lâm chung.

Trước khi mãn phần ba ngày, Phạm Thị tự nói mình thấy thần hồn dạo chơi cõi Tây Phương Cực Lạc, mục kích nhiều thắng cảnh kỳ diệu trang nghiêm. Vào nửa đêm ngày mùng sáu tháng tư, bà thấy Phật phóng quang rực rỡ như ban ngày. Trong nhà không có đèn đuốc mà tự sáng tỏ. Người nhà dâu con đồng thời đều chứng kiến, Phạm Thị tự ngồi kiết già chắp tay nói:

– Phật cùng Bồ Tát đã đến tiếp dẫn! Tôi xin đi đây!

Nói xong niệm Phật vài câu, mỉm cười mà vãng sanh. Lúc ấy người nhà đều nghe mùi hương lạ bát ngát, đến sáng vẫn chưa tan. Bấy giờ bà thọ 60 tuổi

8/- Tham Lam

Chúng sanh mắc bệnh mê si bởi vì chấp ngã là đầu mối, phàm phu ngu muội vạy tà bởi vì tham lam là nguồn cội. Vì lẽ đó, điều thiện nhỏ mọn như hạt cát mà điều ác rộng lớn tựa sa mạc mênh mông, phước đức thiện lương ít dường ỏi băng mỏng mùa xuân, mà nghiệp tội lầm lỗi nhiều như mưa bão mùa thu. Ngục tù của tham đắm ngũ dục lục trần không dễ gì có thể thoát ra, bến bờ của ham hố tài sắc lợi danh ăn ngon mặc đẹp chẳng khác vực thẳm khó lòng mà vượt khỏi. Do đó, tạo nên biết bao thảm cảnh kinh hồn như: chiến tranh, cướp bóc, giết người… đã làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nàn khốc hại, ngập tràn sầu hận thương đau; xác thể nặng nề chìm xuống dễ dàng tợ những loài cá sống trong dòng sông to rộng, vỗ đôi cánh muốn bay vút thẳng lên trời cao quá khó, giống như những loài chim bé nhỏ quen lũi bụi chui lùm.

Tham lam đã khiến cho kiếp sống nghèo túng lại thêm nghèo túng, nối dài dính liền theo nhau bức bách hết này ngày qua tháng nọ, đã khốn đốn càng tăng khốn đốn, đau khổ chất chồng đau khổ, cứ bám đeo mãi gây ra họa hại không ngừng họa hại, giống như bươm bướm bay vào ngọn lửa tự nhận lấy cái chết thiêu thân, in như tằm làm kén tự trói buộc thân mình chứ không phải là ai khác. Bởi vì tham lam keo kiệt, tự tư tự lợi mà phải nhận chịu sự thăng trầm chìm nổi đói lạnh bần cùng.

Lời Phật dạy bố thí chính là nhân tố làm cho đời sống được sung túc vui vẻ bình an hạnh phúc.

Như kệ trong kinh Phân Biệt Nghiệp Báo nói:

“Người nếu thích ưa hạnh trí tuệ,
Nhưng việc bố thí lại lơ là,
Quả báo thường thông minh đấy mà,
Nhưng nghèo túng không có của cải,
Đối với bố thí rất hăng hái,
Mà đường trí tuệ chẳng quan tâm,
Không trân quý kinh kệ thậm thâm,
Đời sau tài sản dồi dào lắm,
Ngu si mọi thứ điều lẩm cẩm.
Nếu cả hai tu tạo đồng thời,
Sinh ra giàu sang trí sáng ngời,
Không tu dưỡng cả hai thứ ấy,
Suốt cuộc đời tất nghèo hèn vậy,
Luôn ngu si dốt đặt cán mai!”.

Vì vậy trong Nhiếp Luận nói: “Keo kiệt là chướng ngại của giàu có, đố kỵ là chướng ngại của tôn quý”. Nhưng chúng sanh dấy khởi tham lam không gì hơn được sắc tài. Thích ham đối với sắc tài sẽ dẫn đến họa tai làm cho phiền muộn đau khổ vô cùng, rời xa đạo nghĩa mất hết thân sơ.

Vì vậy trong luận Trí Độ nói: “Tài vật là các loại phiền não, là nhân duyên của tội nghiệp; giống như các loại thiện pháp trì giới thiền định trí tuệ, là nhân duyên của Niết bàn. Vì lý do này, tài vật hãy còn phải tự mình lìa bỏ, huống gì trong ruộng phước tốt lành mà không bố thí?

Ví như có hai anh em nọ, cùng gánh 10 cân vàng đi giữa đường, lại không có bạn bè nào khác.

Người anh trước tiên dấy lên nghĩ rằng: “Tại sao mình không giết em để lấy vàng, nơi này vắng vẻ người giữa đường không có ai biết được”.

Người em cũng nảy sinh ý niệm muốn giết anh để lấy vàng.

Hai anh em đều có tâm niệm xấu xa, cử chỉ nói năng ánh mắt nhìn nhau đều khác lạ.

Hai anh em liền tự nhiên hiểu ra, lại sanh tâm hối hận, chúng ta không phải là người, so với cầm thú có khác gì đâu, anh em cùng cha mẹ sinh ra mà vì một số vàng, cố tình để nảy sinh tâm độc ác.

Một lát sau, hai anh em cùng đến bên một dòng nước, người anh lấy vàng ném vào trong nước, người em thấy vậy liền nói rằng: “Tốt lành thay, tốt lành thay!”

Em cũng ném vàng xuống dòng nước, người anh cũng nói: “Tốt lành thay, tốt lành thay!”

Hai anh em bèn hỏi lẫn nhau: “Tại vì sao nói là tốt lành thay?”

Cả hai đều tự mình trả lời rằng: “Bởi vì số vàng này cho nên sinh tâm bất thiện muốn làm tổn hại nhau, nay có thể vứt bỏ nó cho nên nói là tốt lành thay!”.
Hai người đều nói như vậy, vì nhân duyên này, hãy thường thuận theo mà tự mình xả bỏ”.

Còn trong luận Đại Trang Nghiêm có ghi: Xưa kia trong nước Xá Vệ, lúc bấy giờ Đức Phật cùng với Tôn giả A Nan đi giữa cánh đồng bát ngát, đến một bờ ruộng thấy có kho tàng ẩn giấu.

Đức Phật bảo với A-nan: “Là rắn độc to lớn”.

A Nan thưa với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Quả là rắn độc hung ác”.

Bấy giờ giữa thửa ruộng có một nông phu đang trồng trọt, nghe Đức Phật và Tôn giả A Nan nói có rắn độc, bèn dấy lên nghĩ rằng: “Mình nên nhìn xem, vì sao Đức Phật và Tôn giả A Nan nói là rắn độc hung ác?”

Liền đi đến chỗ ấy thì trông đống vàng ròng thật sự, anh bèn nói rằng: “Đức Phật và Tôn giả A Nan đã nói là rắn độc, đó chính là vàng ròng quý báu đây mà! Rắn ơi, mi hãy cắn ta đi. Ta rất sung sướng được mi cắn ta!”.

Anh vô cùng vui mừng, liền mang hết số vàng đem về nhà. Trước đây, anh là người nghèo túng, cơm ăn áo mặc không cung cấp đủ cho gia đình, từ khi được số vàng cho nên trở thành giàu có, cơm ăn áo mặc tự nhiên dư giả.

Nhà vua và các quan cảm thấy quái lạ, chẳng hiểu tại sao người ấy bỗng nhiên giàu có, bèn tra xét rồi tịch thâu tất cả, đồng thời bắt anh ta giam vào trong ngục. Cho dù anh ta giao nộp hết thảy số vàng lấy được lúc trước, nhưng vẫn không khỏi tội chết.

Khi sắp bị xử chém, anh ta thốt lên: “Rắn độc, A Nan! Rắn độc, Thế Tôn! Giờ nó đã thực sự cắn con rồi. Xin Ngài từ bi thương xót cứu con! Rắn đã cắn con rồi, Thế Tôn ơi!”.

Người đứng bên cạnh nghe anh nói như thế, liền tâu lên vua. Vua liền cho gọi đến, hỏi anh ta vì sao mà thốt lên những lời như thế.

Anh ta tâu: “Ngày trước, thảo dân đang cày ruộng thì nghe Đức Phật và A Nan gọi vàng là rắn độc, nay thần mới hiểu”.

Rồi anh tường thuật lại rõ ràng mọi việc. Vua nghe xong, liền thả cho anh ta ra về.

Đức Phật bảo với A Nan: “Nếu như người tích trữ tiền của không tự mình ăn mặc đầy đủ, lại không bố thí, thì người ấy thuộc loại ngu nhất trong mọi cái ngu. Vì vậy cho nên người trí cần phải thực hành bố thí, cầu mong xa rời sanh tử, đừng sanh lòng keo kiệt bủn xỉn mà nhận chịu vô biên khổ đau”.

Quả báo chính:
Tham lam giả mạo làm đạo đức,
Gọt giũa làm thành nghiệp tinh xảo.
Lòng luôn toan tính lừa dối người,
Tâm quấn ngàn vòng danh lợi hảo.
Địa ngục nhận chịu muôn khổ hình,
Luôn ngồi bàn chông đội chậu máu.
Đao bén xuyên thân xương thịt lìa,
Trải ngàn muôn kiếp thọ quả báo!

Quả báo phụ:
Bởi vì nhân duyên của tham lam,
Chìm đắm quẩn quanh trong mê lộ.
Tội hết sanh vào trong loài người,
Tập khí bám đeo thường ham hố.
Suốt đời thiếu hụt chuyện áo cơm,
Khốn đốn nối đuôi luôn đau khổ.
Sống cảnh nghèo hèn người bỉ khinh,
Chẳng ai thương mến khi hội ngộ.

Một thời Đức Phật ở thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà cùng năm trăm đại chúng Tỳ kheo.

Bấy giờ, có bốn vị Ðại Thanh Văn là các Tôn giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-diếp, Tôn giả A-na-luật và Tôn giả Tân-đầu-lô đang họp chung một nơi, bàn với nhau: “Chúng ta cùng xem thử trong thành La-duyệt này, có ai không tạo công đức, cúng dường Phật, Pháp và Chư Tăng. Chúng ta hãy đến người không tin ấy trợ duyên cho họ quy y Tam Bảo”.

Bấy giờ có trưởng giả tên là Bạt-đề, nhiều tiền lắm của, không thể tính kể: vàng bạc, xa cừ, mã não, trân châu, hổ phách, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, đầy tớ, đều đầy đủ, nhưng lại xan tham không chịu bố thí; không có một chút thiện cảm đối với Phật, Pháp, Tăng, không hề tin tưởng nhân quả, nên ông ta đã hết phước lại chẳng tạo phước mới. Ông hằng ôm tà kiến cho là không thí, không phước, cũng không có người thọ, cũng không có quả báo thiện ác đời này, đời sau, cũng không có người đắc A-la-hán…

Nhà trưởng giả ấy có bảy lớp cửa, mỗi cửa đều có người giữ, không để cho ăn mày đến cửa. Ông lại lấy lồng sắt vây chụp trong sân sợ chim bay đến trong sân chui vào kho tích chứa lương thực.

Trưởng giả có người chị là Nan-đà cũng xan tham keo kiệt giống hệt như ông

Các Tôn giả bàn với nhau: ‘Chúng ta hôm nay có thể khiến cho Nan-đà dốc lòng tin Tam Bảo’.

Bấy giờ, sáng sớm trưởng giả Bạt-đề đang ngồi ăn bánh. Tôn giả A-na-luật đến giờ, đắp y ôm bát từ dưới đất nhà trưởng giả đứng lên, đưa bát ra trước mặt ông. Ông hết sức sầu lo, đưa một chút bánh cho Tôn giả. Ngài A-na-luật được bánh rồi liền trở về chỗ mình. Ông nổi cơn giận dữ bảo các người gác cửa:

– Ta ra lệnh không cho người vào cửa! Tại sao các ngươi lại cho người vào?

Người gác cửa đáp:

– Cửa nẻo chắc chắn, không biết Ðạo sĩ này từ đâu đến!

Ông im lặng không nói. Ăn bánh xong, ông lại ăn tiếp thịt, cá. Tôn giả Ðại Ca-diếp đắp y ôm bát đến nhà ông, từ dưới đất đứng lên, đưa bát về phía ông. Ông hết sức buồn bực, đem một chút thịt cá cho ngài. Ngài Ca-diếp được thịt liền biến mất, trở về chỗ mình. Ông càng thêm sân giận gấp bội, bảo người gác cửa:

– Trước ta đã ra lệnh không cho người vào nhà. Cớ sao lại để hai Sa môn vào nhà khất thực?

Người gác cửa đáp:

– Chúng tôi không thấy vị Sa môn nào từ ngoài vào đây cả!

Ông càm ràm:

– Sa môn trọc đầu này khéo dùng huyễn thuật cuống hoặc người đời, chẳng có hạnh chân chánh.

Bấy giờ vợ trưởng giả ngồi cách đó không xa. Người vợ này là em của trưởng giả Chất-đa, được cưới từ núi Ma-sư về. Người vợ bảo trưởng giả:

– Nên giữ miệng mồm. Chớ nói rằng Sa môn học huyễn thuật. Vì sao? Các Sa môn này có đại oai lực. Sở dĩ họ đến đây là muốn có nhiều ích lợi cho ông. Này ông! Ông có biết vị Tỳ kheo đến trước chăng?

Trưởng giả đáp:

– Tôi không biết!

– Ông có nghe con trai vua Hộc Phạn nước Ca-tỳ-la-vệ tên A-na-luật, ngay khi sanh, mặt đất chấn động sáu lần. Chung quanh nhà trong một do tuần, các kho tàng tự nhiên hiện ra chăng?

– Tôi nghe có A-na-luật nhưng không thấy!

Người vợ bảo trưởng giả:

– Vị hào tộc này đã bỏ nhà xuất gia học đạo, tu Phạm hạnh, đắc quả A-la-hán, là vị thiên nhãn đệ nhất không ai hơn được. Và Như Lai cũng nói: “Trong hàng đệ tử của Ta, thiên nhãn bậc nhất là

Tỳ kheo A-na-luật”.

Kế đó, bà hỏi tiếp:

– Ông có biết vị Tỳ kheo thứ hai vào đây khất thực chăng?

– Tôi không biết!

– Ông có nghe trong thành La-duyệt này có đại Phạm chí tên Ca-tỳ-la, lắm tiền nhiều của không thể tính kể, có 999 con trâu cày ruộng hay không?

– Tôi có nghe Phạm chí này!

– Này ông! Ông có nghe con trai của Phạm chí này tên là Tỷ-ba-la-da-đàn-na, thân màu vàng, vợ tên là Bà-đà, là vị thù thắng trong hàng nữ lưu. Nếu đem vàng tử ma đến trước cô ấy thì như đem đen mà so với trắng không?

– Tôi có nghe Phạm chí này, nhưng chưa thấy!

Bà bèn giảng giải tường tận cho ông nghe:

– Chính là vị Tỳ kheo đến sau vừa rồi đó. Ông ấy đã bỏ báu ngọc nữ này, xuất gia học đạo, nay đắc A-la-hán, thường hành hạnh Đầu Đà. Người có đầy đủ các pháp theo hạnh Đầu Đà không ai hơn Tôn giả Ca-diếp. Thế Tôn cũng nói: “Trong hàng đệ tử của Ta, Tỳ-kheo hành Đầu Đà đệ nhất là Ðại Ca-diếp”.

Nay Trưởng giả chóng được lợi lành, mới khiến các vị Hiền Thánh đến đây khất thực. Tôi đã quán nghĩa này nên khuyên ông hãy khéo giữ miệng, chớ phỉ báng bậc Hiền Thánh, bảo họ là tạo huyễn thuật. Ðệ tử của đức Thích-ca đều có thần thông và đức hạnh, nên tôi nói lời này!

Bấy giờ, Tôn giả Mục-kiền-liên đắp y ôm bát bay lên hư không đến nhà trưởng giả chui từ lồng sắt xuống, rồi ngồi kiết già trong hư không. Ông thấy Tôn giả Mục-kiền-liên ngồi lơ lửng trong hư không liền sợ hãi hỏi:

– Ngài là Trời chăng?

– Tôi không phải là Trời.

Ông lần lượt hỏi:

– Ngài là Càn-thát-bà chăng? Là quỷ chăng? Là La sát ăn thịt người chăng?

Tôn giả đều lần lượt đáp rằng không phải.

Cuối cùng ông liền hỏi:

– Cái gì cũng không phải! Vậy ông tên là gì?

– Ta tên Mục-kiền-liên.

– Tỳ kheo có điều gì dạy bảo tôi chăng?

– Nay ta muốn thuyết pháp cho ông, hãy khéo nghĩ nhớ!

Trưởng giả lại nghĩ: “Các Ðạo sĩ này suốt đời để ý uống ăn. Nay muốn luận bàn, chính là luận bàn về ăn uống. Nếu theo ta đòi ăn, ta sẽ nói ‘không!’. Rồi ông lại nghĩ: ‘Nay ta hãy nghe người này nói một chút xíu thử xem sao?’”

Bấy giờ Tôn giả biết tâm niệm của trưởng giả, liền nói kệ:

Như Lai thuyết hai thí,
Pháp thí và tài thí,
Nay sẽ thuyết pháp thí,
Chuyên tâm nhất ý nghe!

Ông nghe nói pháp thí, trong lòng hoan hỉ vì không phải cho gì, liền thưa:

– Mong Ngài diễn thuyết cho tôi nghe!

Tôn giả liền nói:

– Trưởng giả nên biết! Như Lai thuyết năm đại thí, nên nhớ tu hành suốt đời.

Ông lại nghĩ: “Vừa rồi Tôn giả Mục-liên muốn thuyết pháp thí. Nay lại nói có năm đại thí, vậy chắc là có tốn kém…”.

Tôn giả biết tâm niệm của ông, nên nói với ông rằng:

– Như Lai nói có hai đại thí là pháp thí và tài thí. Nay tôi sẽ thuyết pháp thí, không thuyết tài thí.

– Cái gì là năm đại thí?

– Không được sát sanh, đây gọi là đại thí, trưởng giả nên suốt đời tu hành. Không trộm cắp, đây gọi là đại thí, nên suốt đời tu hành. Không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, nên suốt đời tu hành.

Ðó là năm đại thí, này Trưởng giả nên nhớ tu hành!

Ông nghe lời này rồi, hết sức hoan hỉ, nghĩ: “Pháp của Phật Thích Ca rất là vi diệu. Nay chỗ diễn thuyết chẳng cần đến bảo vật. Như ngày nay, ta chẳng kham sát sanh. Ðiều này ta có thể vâng làm được. Hơn nữa, của cải nhà ta rất nhiều, ta trọn không trộm cắp. Ðây cũng là việc ta làm. Lại, đàn bà trong nhà ta rất đẹp, ta trọn chẳng tà hạnh với vợ người khác. Ðó là việc ta làm. Lại, ta không ưa người nói láo, huống là chính mình nói láo. Ðây cũng là việc ta làm. Như ngày nay, ta chẳng nghĩ đến rượu, huống là nếm nó. Ðây cũng là việc ta làm”. Ông liền thưa với Tôn giả:

– Năm thí này tôi có thể vâng làm!

Bấy giờ, ông cảm nghe nội tâm vô cùng an lạc lạ thường, một niềm an lạc hạnh phúc mà cả cuộc đời mấy mươi năm, ông chưa từng trãi nghiệm, dù chỉ một lần. Nên ông thầm nghĩ: “Nay ta nên mời Tôn giả Mục-liên ăn cơm”. Nghĩ thế ông ngẩng đầu lên và thưa với Tôn giả:

– Ngài nên hạ cố xuống đây ngồi!

Tôn giả theo lời, xuống ngồi.

Ông tự mình dọn các món ăn uống cho Tôn giả, Tôn giả dùng xong, uống nước. Ông nghĩ: “Ta nên đem một tấm vải dâng Ngài Mục-liên”. Rồi vào kho chọn một tấm vải trắng, muốn lựa cái xấu mà vớ nhằm tấm tốt. Ông lại bỏ ra, lựa tấm khác, cũng tốt luôn, ông lại bỏ để chọn tấm khác.

Tôn giả biết tâm niệm ông, liền nói kệ:

Thí cùng tâm đấu tranh,
Phước này bậc Hiền bỏ,
Lúc cho, không đấu tranh,
Mới nên tùy tâm cho!

Bấy giờ, ông liền nghĩ: “Nay Tôn giả đã biết ý ta”. Ông liền cầm tấm vải trắng dâng lên Tôn giả. Tôn giả bèn chú nguyện cho ông. Khi chú nguyện xong, nhận tấm vải rồi thuyết pháp. Sau một thời pháp, nhờ chí thành cung kính lắng nghe nên ông ở ngay chỗ ngồi đã chứng được pháp nhãn tịnh.

Như áo trắng rất sạch dễ nhuộm màu, trưởng giả Bạt-đề này cũng lại như vậy, ở ngay trên tòa được pháp nhãn thanh tịnh. Do đắc pháp, kiến pháp, không có hồ nghi mà thọ ngũ giới, ông tự quy y Phật, Pháp và Thánh chúng.

Tôn giả thấy ông đã được pháp nhãn thanh tịnh, liền nói kệ sách tấn thêm.

Ông thưa với Tôn giả rằng:

– Từ nay về sau, xin Ngài và bốn bộ chúng nhận lời thỉnh của con mãi mãi. Con sẽ cung cấp y phục, thức ăn uống, giường nệm, thuốc men trị bịnh cho chư Tăng Ni, không có luyến tiếc!

Bấy giờ bà già Nan-đà đang làm bánh sữa. Tôn giả Tân-đầu-lô đến giờ, đắp y, ôm bát vào thành La duyệt để khất thực, dần dần đến nhà bà già Nan-đà. Tôn giả từ dưới đất vọt lên, tay cầm bát đưa ra trước mặt bà để khất thực. Bà nhìn thấy Tôn giả thì hết sức giận dữ, liền nói lời hung ác:

– Này Tỳ kheo nên biết! Dù ông lọt mắt ra, ta trọn không cho ông thức ăn!

Tôn giả liền nhập tam muội cho hai mắt lọt ra ngoài. Bà càng thêm sân giận, nói:

– Dù cho Sa môn treo ngược trên không, ta trọn chẳng cho ông ăn!

Tôn giả lại dùng sức tam muội treo ngược trên không trung.

Bà càng tức giận bội phần liền nói lời hung ác:

– Dù cho Sa môn toàn thân phun ra khói, ta trọn chẳng cho ông ăn.

Tôn giả lại dùng sức tam muội toàn thân phun khói. Bà thấy rồi, sân nộ càng nhiều và nói:

– Dù cho Sa môn toàn thân bốc cháy, ta trọn chẳng cho ông ăn.

Tôn giả liền dùng sức tam muội, khiến thân thể bốc cháy. Bà thấy rồi lại nói:

– Dù cho Sa môn toàn thân ra nước, ta trọn chẳng cho ông ăn.

Tôn giả liền lại dùng sức tam muội khiến toàn thân ra nước. Bà thấy rồi lại nói:

– Dù cho Sa môn chết ở trước mặt ta, ta trọn chẳng cho ông ăn.

Tôn giả liền nhập Diệt tận định, không còn hơi thở ra vào, chết trước mặt bà già. Bà thấy Tôn giả ngưng hơi thở thì sợ hãi, lông tóc dựng ngược và nghĩ: “Sa môn này là con dòng họ Thích, được nhiều người biết, quốc vương cung kính. Nếu họ biết ông ta chết ở nhà mình, chắc chắn ta sẽ không tránh khỏi gặp việc hầu quan lôi thôi”.

Bà bèn nói:

– Sa môn sống lại đi! Ta sẽ cho Sa môn ăn.

Tôn giả liền từ tam muội dậy. Bà bèn nghĩ: “Bánh này lớn quá, hãy làm cái nhỏ cho ông ta”. Bà lấy một chút bột làm bánh, bánh bèn phồng to. Bà thấy xong lại nghĩ: “Bánh này lớn quá nên làm cái nhỏ nữa”. Nhưng bánh lại lớn. “Hãy lấy cái bánh làm trước đem cho”. Bà liền lấy cái trước. Nhưng các cái bánh lại dính vào nhau. Bà bảo Tôn giả:

– Tỳ kheo! Ông cần ăn thì tự lấy mà ăn. Cớ sao làm phiền nhiễu tôi như thế?

– Thí chủ nên biết, tôi chẳng cần ăn. Chỉ cần muốn nói với thí chủ!

– Tỳ kheo muốn răn dạy điều gì?

– Thí chủ nên biết! Nay hãy đem bánh đến chỗ Thế Tôn. Nếu Thế Tôn có dạy bảo gì, chúng ta sẽ cùng vâng làm!

– Việc này rất phù hợp.

Bà đáp xong, bèn bưng bánh đi theo sau Tôn giả, đến chỗ Thế Tôn. Tới nơi bà cúi lạy Phật và đứng một bên. Bấy giờ, Tôn giả liền thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Bà Nan-đà này là chị của trưởng giả Bạt-đề, tham lam, ăn một mình chẳng chịu bố thí cho người. Cúi mong Thế Tôn thuyết pháp cho bà dốc lòng tin và cởi mở.

Bấy giờ Thế Tôn bảo bà rằng:

– Nay bà hãy đưa bánh thí cho Như Lai và chúng Tỳ kheo Tăng.

Bà lấy bánh dâng lên Thế Tôn và các Tỳ kheo Tăng. Kỳ lạ thay, bánh cứ lấy ra mãi mà vẫn còn. Bà liền bạch Thế Tôn:

– Bánh còn dư.

Thế Tôn bảo:

– Lại đem cho Phật và Tỳ kheo Tăng.

Bà nhận lời Phật dạy, tiếp tục đem bánh cúng Phật và Tỳ kheo Tăng một lượt nữa. Sau đó cũng còn dư bánh, Thế Tôn bảo với bà rằng:

– Nay bà đem bánh này cho chúng Tỳ kheo ni, và các nam nữ cư sĩ.

Nhưng vẫn còn dư bánh, Thế Tôn lại bảo:

– Nên đem bánh này thí cho người bần cùng.

Nhưng vẫn còn dư bánh. Thế Tôn lại bảo:

– Hãy đem bánh này để nơi đất sạch hoặc để vào nước thật sạch. Vì sao thế? Ta trọn không thấy Sa môn, Bà la môn, Trời và người nào có thể tiêu được bánh này, trừ Như Lai Chí Chân Chánh

Ðẳng Chánh Giác.

Bà đáp:

– Xin vâng, Thế Tôn!

Bà liền đem bánh này bỏ vào nước sạch, tức thời lửa bừng lên. Bà thấy như vậy, ôm lòng sợ hãi đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy Phật rồi ngồi một bên. Thế Tôn dần dần thuyết pháp cho bà. Các nghĩa lý của bố thí, trì giới, sanh Thiên, dục là tưởng bất tịnh, lậu là ô uế, xuất yếu là vui…

Ngài đã thấy bà tâm khai ý mở. Chư Phật thường thuyết pháp Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Thế Tôn đều thuyết hết cho bà. Khi ấy, bà ngay nơi chỗ ngồi được pháp nhãn thanh tịnh. Ví như vải trắng dễ nhuộm màu, đây cũng như thế: Bà đã dứt hết các trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Bà đã đắc pháp, thành tựu pháp, không có hồ nghi, đã hết do dự, phụng sự Tam Bảo, thọ trì ngũ giới.

Bấy giờ Thế Tôn lại thuyết pháp thêm khiến bà phát tâm hoan hỉ. Bà liền bạch Thế Tôn:

– Từ nay về sau, cung thỉnh bốn bộ chúng hãy thường đến nhà con thọ thí. Từ đây con hằng bố thí, tu các công đức phụng thờ các bậc Hiền Thánh.

Thưa xong, bà đứng lên cúi lạy Phật và lui đi.

Người Hay Làm Việc Thiện Luôn Có Thiện Thần Bảo Hộ

Vào triều Minh, năm đầu niên hiệu Gia Tĩnh có người họ Kim ở huyện Nghi Chân, tỉnh Giang Tô, mở một hiệu cầm đồ trong trấn. Bấy giờ giặc cướp ẩn trú trên dòng Trường Giang, đêm đêm thường xuyên xuất hiện cướp đoạt những nhà giàu có, gần như không một nhà nào thoát được. Duy nhất chỉ có nhà họ Kim chưa từng bị chúng động đến.

Quan địa phương do đó nghi ngờ rằng họ Kim có sự thông đồng với bọn giặc cướp kia. Đến lúc bắt được một tên cướp liền tra hỏi xem vì sao bọn chúng không cướp nhà họ Kim, tên cướp nói: “Trước đây cũng có lần đến đó định cướp, chợt thấy phía trên nhà ấy có vô số các vị thần mặc giáp vàng, nên sợ không dám phạm đến.”

Quan huyện không tin, cho gọi những người ở gần nhà họ Kim lên hỏi, họ đều nói: “Nhà họ Kim đúng là rất nhân đức. Các hiệu cầm đồ khác thảy đều cân ra non, cân vào già, chỉ có nhà họ Kim là giữ đúng mực công bình. Định giá cho người lại hết sức rộng rãi, mà thời hạn chuộc lại cũng được kéo dài, không gấp rút. Nếu biết được có những người gần gũi mà già yếu, có con nhỏ hoặc nghèo khó, khi có việc phải mang đồ đến cầm liền phá lệ không lấy lãi. Nhà ấy còn có lệ mùa đông không tính lãi áo ấm, mùa hè không tính lãi áo mát, năm nào cũng vậy, cốt để người ta dễ dàng chuộc về mà dùng. Ấy là trời giúp người hiền, nên có thiện thần bảo vệ.”

Quan huyện nghe như vậy rồi hết sức ngợi khen tán thán. Quan Trực chỉ chức quan được triều đình giao cho việc tuần sát các địa phương, thẩm tra xử lý các vụ việc sai phạm biết được sự việc liền đặc biệt tuyên dương khen thưởng nhà họ Kim.

*Vua Lương Vũ Đế muốn dựng chùa trên lăng mộ cho Văn Hoàng Đế, nhưng chưa có gỗ tốt, bèn nói rõ ý định ấy với các quan sai người tiến hành hỏi han tìm kiếm.

Trước đó có người họ Hoằng ở vùng Khúc A, gia đình rất giàu có, mới cùng với thân tộc mang nhiều tiền bạc, đi đến Tương Châu làm ăn sinh sống, trải qua mấy năm kiếm được một bè gỗ rất dài, gỗ thuộc loại tốt đẹp hiếm có ở thế gian, vận chuyển về đến Nam Tân.

Hiệu úy vùng Nam Tân là Mạch Thiếu Khanh, hy vọng triều đình sẽ có ý chỉ tuyển dụng bèn tiến hành đo đạc chuẩn mực. Họ Hoằng đã bán áo quần lụa là, hãy còn có thừa lại đôi chút, Thiếu Khanh vu oan cho là đi đường cướp giật mà có, đồng thời lập tức tạo ra tội lỗi để ràng buộc, không phải điều nên làm của người buốn bán, kết thành tội phải xử tử, tịch thu bè gỗ đưa vào làm của công, lấy sử dụng làm chùa. Trình tấu lên trên, liền được thi hành.

Ngày sắp hành hình, họ Hoằng dặn dò vợ con mình, hãy lấy một trăm tờ giấy vàng và đầy đủ bút mực đặt vào trong quan tài, nhất định sẽ giã bày nỗi oan ức. Ông còn viết tên họ Thiếu Khanh mấy chục lần mà nuốt chửng.

Trải qua khoảng chừng một tháng, Thiếu Khanh đang ngồi trong dinh thì thấy họ Hoằng xuất hiện, ban đầu hãy còn tránh né để bảo vệ, sau mới chầm chậm thuyết phục, chỉ nói cầu xin ân đức, nhưng rồi nôn ra máu mà chết. Tất cả các quan lính thuộc hạ nào tham dự vào sự việc như cai ngục và chủ thư xá nhân, cùng với người thay quyền trình tấu, theo thứ tự lần lượt mà chết sạch chẳng sót người nào.

Chưa qua khỏi một năm mà tất cả đều điêu tàn thảm hại. Ngôi chùa to lớn xây dựng mới hoàn thành thì bị lửa trời đốt cháy rụi, không còn mảy may. Cột gỗ đã chôn vào đất cũng trở thành tro bụi.

Quan Chưởng Khố không con

Khi quan chưởng khố tên Aputtaka không có con vừa chết, vua Ba-tư-nặc bèn hỏi các quan cận thần rằng:

– Người không có con trai nối dõi sau khi chết tài sản thuộc về ai?

– Muôn tâu, tài sản ấy sẽ thuộc về bệ hạ!

Vua cho chở tài sản người quá cố về cung suốt bảy ngày mới hết. Rồi vua đến hầu Phật, Phật hỏi:

– Kìa Ðại vương, do đâu giữa trưa đại vương đến dây?

– Bạch Thế Tôn, tại thành Xá-vệ này có quan chưởng khố không con vừa mới qua đời mấy hôm nay. Con vừa cho chở xong tài sản về cung rồi liền đến đây.

Vua bạch tiếp:

– Con nghe mỗi khi thức ăn thượng vị đựng trong dĩa vàng đem đến cho quan chưởng khố, ông ấy nói: “Người ta ăn thức ăn này à? Tại sao bọn ngươi dám đùa cợt với ta ngay tại nhà ta?” Nếu các người hầu đánh bạo dọn cho ổng ăn, ổng sẽ ném đất đá hoặc lấy gậy đánh đuổi họ đi. Ông chỉ ăn cháo cám hoặc cháo chua, nói rằng: “Người ta chỉ ăn những thức ăn này thôi”. Người hầu đem đến những quần áo đẹp, xe cộ tốt, ô dù, đều bị ông đánh đuổi bằng đất đá, gậy gộc như trên. Ông chỉ mặc áo quần vải gai thô, đi cỗ xe cũ kỹ cọc sạch, đầu thì hái lá che.

Bạch Thế Tôn! Quan chưởng khố Aputtaka thuở quá khứ đã tạo nhân gì mà hiện đời giàu có nhưng lại thọ dụng chẳng khác kẻ ăn xin?

Phật bèn kể chuyện kiếp trước của quan chưởng khố:

– Ðại vương, vào thời quá khứ, có một vị Bích Chi Phật tên Tagarasikhi đến nhà quan chưởng khố khất thực. Ông bảo bà vợ rằng: “Hãy đem thức ăn cho thầy Tỳ-kheo”.

Nói như vậy rồi ông đứng lên đi làm việc khác. Bà vợ mộ đạo nghe lời chồng, nghĩ thầm: “Thực lâu lắm ta mới nghe miệng ông ấy thốt ra chữ “đem cho”. Hôm nay, niềm mơ ước được cúng dường của ta đã biến thành sự thật”. Bà đỡ lấy bình bát của vị Bích Chi Phật, múc đầy những thức ăn ngon lành nhất.

Quan chưởng khố quay lại, thấy vị Bích Chi Phật liền hỏi: “Thầy đã nhận thức ăn chưa?”

Ông cầm bát thầy và trông thấy các thức ăn thượng vị, bất giác tiếc rẻ nghĩ thầm: “Phải chi các thứ này để bọn người hầu ta ăn thì tốt hơn biết mấy! Chúng ăn xong sẽ làm việc tích cực. Còn thầy Tỳ-kheo chỉ ăn rồi nằm ngủ. Thực phẩm này cho đi thật chẳng được gì”

Quan chưởng khố lại còn giết chết con trai độc nhất của anh mình để đoạt gia tài. Người cháu thường nắm tay chú dẫn đi chỗ này, chỗ nọ, miệng liến thoắng: “Cỗ xe này thuộc tài sản cha cháu đấy! Bò này cũng là bò của người”.

Quan chưởng khố nghĩ: “Lúc này hắn còn nói thế. Hắn khôn lớn rồi còn có thể thấy được của cải hắn trong nhà này?”. Một hôm, ông dắt cháu vô rừng, xiết cổ cho chết như người ta bẻ một củ cải vậy, rồi quăng xác vào bụi rậm. Ðấy là tội ác của ông trong kiếp trước nữa.

Ðại vương, do quan chưởng khố kêu người vợ đem thức ăn cúng dường vị Bích Chi Phật, suốt bảy kiếp liền ông thọ phước lành rồi tái sanh trên cõi trời. Do dư báo của việc thiện ấy, suốt bảy kiếp ông giữ độc quyền chức chưởng khố thành Xá-vệ. Ðại vương, trái lại do tiếc rẻ việc thiện mình đã làm và thốt lời báng bổ, khi quả báo đến ông không thể dùng thức ăn ngon, mặc đồ đẹp, đi xe tốt, không thể thưởng thức ngũ dục thế gian.

Hơn thế, do giết cháu để đoạt gia tài, ông bị đọa địa ngục hàng trăm ngàn kiếp. Và do một phần của dư báo ác ấy, suốt bảy kiếp liền ông chết không con, tài sản bị tịch biên sung vào kho vua.

Ðây là kiếp thứ bảy của ông. Ðại vương, do ông ta đã cạn phước báo mà không tạo nên phước mới, quan chưởng khố giờ bị đọa tại địa ngục Kêu Gào.

Phật kể xong, vua Ba-tư-nặc thưa:

– Bạch Thế Tôn, quan chưởng khố này tội thật quá lớn. Gia tài đồ sộ thế kia hắn chẳng chi dùng cho hắn hoặc phát tâm cúng dường Đức Thế Tôn, vị Phật đang trú tại tịnh xá gần sát ngay nhà hắn.

Phật dạy:

– Ðúng vậy đại vương. Quả có thế, khi kẻ ngu được giàu sang họ chẳng tìm cầu Niết-bàn. Trái lại, của cải chỉ khiến tham ái nổi lên trong tâm họ làm khổ họ lâu dài thôi. Ngài nói kệ:

Tài sản hại người ngu,
Không tìm về bờ kia,
Kẻ ngu vì tham của,
Hại mình và hại người.

Xưa có một người giàu tột bực,
Nhưng trong lòng sâu mọt nhỏ nhoi;
Của mình một điếu không lòi,
Của người chút đỉnh cũng moi móc về.
Bắt tôi tớ nặng nề công việc,
Nhưng lương tiền keo kiệt không cho;
Tiền bao nhiêu cũng bỏ kho,
Ai nghèo mặc kệ không lo giúp giùm.
Người giàu ấy lâm chung sau đó,
Liền đầu thai làm chó trong nhà;
Thấy ai đến cũng sủa la,
Ngày đêm thường sợ người ta lấy đồ.
Lúc nào cũng ăn dơ ở bẩn,
Thường bị người đánh mắng không yên;
Khi đau chẳng có thuốc men,
Đến chừng chết chẳng ai thèm cất chôn.
Thế mà vẫn chưa xong hết nghiệp,
Còn sanh lên chịu kiếp bần cùng;
Làm thân nô lệ tứ tung,
Cơm không no bụng áo không mặc lành.
Bị nghèo khổ hoành hành đời sống,
Khiến cho lòng oán hận đủ điều;
Sanh ra trộm cướp xảo điêu,
Làm cho nghiệp tội thêm nhiều hơn lên.
Nghiệp trước hiện đang đền chưa hết,
Đã gây thêm khổ nghiệp đời sau;
Nối liền như xích buộc vào,
Luân hồi sanh tử tiếp nhau không ngừng.
Con ơi ! Bắt dửng dưng chăng nhỉ,
Thấy người rồi tự nghĩ đến thân;
Nếu không sớm dứt hồng trần,
E không tránh khỏi chuyển luân như người.
Đã nhiều kiếp vào đời ra thế,
Biết bao lần nay chế mai tang;
Vẫn còn lưu lại thế gian,
Nghiệp xưa đâu phải nhẹ nhàng ớ con!
Khuyên thiện tín gìn tròn mối đạo,
Để kỳ này trực đáo Tây Phương;
Không còn trở lại trần dương,
Chịu đường sanh tử sáu đường mê si.

Tình ân ái là gốc của sự sanh tử

Bóng hồng vừa gác núi. Chim chóc từng đàn lũ lượt bay về tổ, hót vang rộn ràng. Trên con đường mòn khúc khuỷu, các bác tiều phu vội vã cất gánh củi lên vai trở về làng mạc. Tiếng náo động vắng dần. Quang cảnh rừng rú mỗi lúc càng tĩnh mịch.

Thỉnh thoảng một vài tiếng chuông chùa ngân nga từ xa vọng lại, dường như để thúc hối những người còn chậm bước chưa ra khỏi cảnh hoang liêu ghê rợn của núi rừng. Một vài tiếng hú kêu vang và sâu tận trong hốc núi càng làm cho những kẻ lạc loài khiếp đảm. Các loài thú dữ đã bắt đầu cuộc săn mồi thường bữa, chốc chốc điểm lên những tiếng rống ghê người của chúa tể sơn lâm.

Từ trong thảo am bên mé suối, một vị sư lưng mang dây bố, tay chống gậy tre, lần bước trên con đường mòn, tiến dần về phía xóm nhà cạnh bìa rừng. Trời vừa sắp tối, vị sư đến nơi và đi ngay vào cổng, tìm lại nhà hai vợ chồng vị cư sĩ đã thọ giáo với Ngài. Sau những lời chào hỏi, hai vợ chồng vị cư sĩ trải chiếu mời Ngài an toạ. Trà nước xong, sư liền bảo: “Từ ngày hai ông bà đã thọ giáo theo Phật đến giờ, tôi thường tới lui để thúc nhắc. Độ này việc tu niệm của ông bà được khá lắm, thật tôi rất lấy làm vui mừng. Song sự đời có hiệp phải có tan, hôm nay tôi ghé đây thăm và cũng để ngỏ lời từ giả hai ông bà. Ngày mai này tôi sẽ lên đường đặng đi giáo hoá một nơi khác. Có lẽ cách nhau lâu, vì vậy tôi không dám hẹn ngày tái ngộ. Trước khi lên đường, tôi xin dặn lại ít lời thiết yếu, có thể là châm ngôn tu tập hằng ngày. Hai ông bà phải cố gắng niệm Phật đừng để lãng quên, nếu chẳng may có gặp việc gì xảy ra chênh mếch trong gia đình, ngoài xã hội, nên kiên nhẫn bỏ qua, tự an ủi lấy lòng. Giả như một trong hai người lâm bịnh nặng sắp đến giờ hấp hối, người mạnh cần nhất phải cho tĩnh tâm, sửa sang Phật tượng, hộ niệm cho nhau đến phút cuối cùng; đừng nên rên than khóc lóc, làm cho người chết phải bối rối, loạn niệm, khó được vãng sanh. Đây là một việc khó, mà nhiều người tu hành đã vấp phải. Nên tôi căn dặn hai ông bà hãy ghi nhớ. Được vậy, dù tôi ở cách xa, vẫn yên lòng hóa đạo”.

Dặn dò, chỉ bảo đâu đó xong xuôi, rạng ngày vị sư lên đường…

Ngày tháng qua mau, phút chốc đã được hai thu, nhờ y theo lời dạy của vị sư mà thời gian qua, hai vợ chồng vị cư sĩ ăn ở với nhau rất thuận hòa, hằng ngày làm phước, bố thí tụng kinh niệm

Phật chuyên cần, lối xóm nhiều người cảm mến.

Một hôm người chồng vương phải chứng thương hàn rất nặng. Người vợ chạy thuốc tìm thầy đã hết hơi mà bịnh đâu vẫn còn nguyên đấy. Cuối cùng, có một vị danh y đại tài đã được mời đến do công lao của người anh họ chẳng ngại xa xôi rước về. Sau khi bắt mạch xong, vị danh y bảo: “Bệnh này không qua khỏi ngày nay, vì mạch đã hết. Vậy bà đừng nên chạy chữa làm gì nữa cho tốn công hao của, hãy lo liệu những vật dưỡng già mà thôi”.

Người vợ lúc bấy giờ đã tuyệt vọng, tâm thần bà rối loạn, quên hẳn lời dặn bảo của vị sư, người chồng cứ nằm mê man mãi. Trong tình cảnh này, vì thương chồng, vì tủi phận, người vợ chỉ có nước gục mặt bên chồng khóc kể liên miên. Mãi đến khi người chồng mở đôi mắt thất thần nhìn vợ lần cuối cùng, mà người vợ còn ghé mặt sát mặt chồng nức nở van kêu: “Mình ơi! Mình nỡ nào chết đi để một mình tôi ở lại sống cô độc lẻ loi; hồi nào khổ sở có nhau, vui buồn cùng chịu, ngày nay mình bỏ tôi mình đi một mình! Mình ơi!”.

Tội nghiệp người chồng vì nghe lời lẽ quá bi ai của vợ, cảm tình ân ái bất giác nổi lên, nhìn vợ mà hai hàng lệ thắm tuôn ra, nghẹn thở… rồi… trút linh hồn.

Thần thức ông xuất ra nơi mắt, lẽ ra ông sinh về cõi trời. Nhưng vì người vợ gục mặt gào khóc nức nở, mà ông khởi niệm luyến ái nên thần thức chui ngay vào lỗ mũi vợ, hóa thành một con sâu.

Chồng mất rồi, vợ lo tròn bổn phận, chôn cất xong xuôi, đám ma cũng khá lớn, những ơn nghĩa lối xóm cũng lo tròn.

Đến khi thân quyến ai về nhà nấy, bấy giờ bốn bề lặng ngắt, người vợ vì thương chồng bạc phận xét nỗi cô đơn hiu quạnh, lại thêm lỗ mũi mỗi ngày một lớn và đau nhức vô cùng. Bà cứ ngày đêm than thở khóc thương, làm cho những kẻ ở gần, ai cũng phải động lòng đau xót kẻ xấu duyên bạc phận.

Một hôm, vị sư trở lại và ghé thăm. Khi vừa thấy bóng Ngài bà đã hối hả chạy ra khóc than, kể lể…

Vị sư ôn tồn bảo: “Con hãy nín, chớ quá bi thảm, sống chết là lẽ thường, hễ có sanh là có tử. Người tu hành khi bỏ được thân khổ này như quẳng được cái gánh nặng, con nên mừng giùm chớ sao lại khóc? Con còn than khóc thế là con chưa hiểu đạo. Xin khuyên con hãy nghe thầy, có thương nhớ nên để lòng, lo tu hành cho khuây lãng, nếu còn nặng lòng ái ân thì kiếp sau lại gặp nhau nữa, vay trả, trả vay thành một chuỗi oan gia vô cùng tận”.

Sau khi nghe vị sư khuyên bảo, như giải được sự đau buồn, bà liền sửa lại mái tóc, rồi tình cờ khịt mũi mạnh văng ra một con sâu khá lớn.

Sư cả cười bảo: “Ở đời ít ai có nghĩa hơn con, ai đời thương chồng mà khóc đến có sâu trong lỗ mũi”.

Bà thẹn quá, toan lấy chân dậm chết con sâu. Vị sư vội vàng khoát tay bảo: “Đừng, con đừng nên làm thế, vì con sâu ấy là chồng con đó!”.

Bà lạ lùng hỏi: “Bạch thầy! Chồng con suốt đời niệm Phật, làm phước, tại sao chết lại sanh vào loài sâu bọ như thế?”.

Sư bảo: “Con đã quên lời thầy dặn, khi chồng con lâm chung con không lo tụng kinh niệm Phật và khuyên bảo chồng con khởi chánh niệm, mà con lại còn đem tình ân ái kể lể khóc than, nên chồng con khi sắp mất, bị lòng thương vợ, nặng tình ân ái mà lãng quên chánh niệm. Vì vậy nên thần thức luyến ái không thể vượt lên cao, mà phải chui vào mũi bà thành sâu bọ. Than ôi! Uổng một kẻ tu hành, đã mong thoát kiếp luân hồi lại còn bị ái ân cột chặt. Thật có khác nào con cò muốn cất cánh bay cao để thoát ngoài dò, bẫy; nhưng khốn nỗi nó có bị sợi dây vô tình cột chặt vào chân. Thế có tội nghiệp không?”

Sư lại đến gần con sâu khẽ bảo: “Ngươi trước cũng nghe lời ta chăm chỉ tu hành lẽ ra thời đã được công đức lành mà sanh thiên hay vãng sanh Cực Lạc, song vì tình ân ái của vợ chồng ngươi có còn sâu thẳm ngàn trùng, thành ra khi trút hơi cuối cùng mà còn gây nghiệp chướng nặng nề phải thành loài sâu bọ, thật đáng thương thay!”.

Con sâu nằm im từ này giờ, dường như nó cũng tự biết hổ thẹn ăn năn. Sư chú nguyện cho và nhờ công đức lành đã tạo từ trước, nên con sâu quằn quại một lúc rồi chết, thần thức lại sanh vào cõi người.

Sau đó sư từ giã ra đi.

Nhờ sự khai thị của sư, từ đó về sau người vợ đã sám hối, quyết tâm ngày đêm chuyên tinh tụng kinh, niệm Phật, công phu hành trì, dũng mãnh không thối lui, kết quả ngày lâm chung bà đã được vãng sanh.

Người ta cũng không phải chỉ có một đời sống ngắn ngủi mở đầu trên cái nôi và chấm hết trên cái mồ. Lọt lòng và nhắm mắt chỉ là bình minh và đêm tối của một thời gian lặng lẽ trôi, không bao giờ tạm ngừng, không có đầu, không có đuôi. Vì thế nên biết:

Tham ái là nguồn cội của mọi khổ đau cũng là gốc rễ của sanh tử luân hồi.

Người thế gian có thể lừa gạt nhau nhưng không thể qua mặt cõi âm

Vào triều Thanh, vùng Gia Định, nay thuộc Thượng Hải, có hai anh em nhà họ Trương, khi phân chia gia sản cha mẹ để lại, người anh lẽ ra phải trả cho em mười mấy lượng bạc, nhưng anh ta lại dựng chuyện chỉ hươu chỉ nai, cố ý không muốn trả.

Người em nghèo, tính tình chất phác, không nói lại được anh, liền đến nhờ ông chú phân xử, vì ông là người trước kia đã đứng ra phân chia gia sản. Ông chú thấy người anh giàu có, có thể nhờ cậy được, nên quay sang bênh vực cho người anh. Người em trong lòng hết sức giận tức.

Đến mùa hè năm Đinh Sửu niên hiệu Khang Hy [1697] người em liền viết một bản văn sớ kể lể hết sự tình, mang đến miếu Thành hoàng trong làng khấn vái rồi đốt. Đốt xong, đợi năm ngày mà không thấy chút cảm ứng gì, lại đốt tiếp một bản văn sớ nữa. Qua hôm sau, người chú bỗng lăn ra chết, người anh cũng chết. Rồi cuối cùng người em cũng chết luôn.

Sau khi chết, cả ba người đều thấy mình bị dẫn đến miếu Thành hoàng. Thần nói: “Ba người các ngươi thật chưa chết, nhưng ta triệu cả ba đến đây là vì có sớ kiện, phải thẩm xét cho rõ sự việc.”

Rồi Thần hướng về người anh, nói: “Ngươi quả thật chưa trả mười lăm lượng bảy tiền cho em, sao còn mưu gian cậy thế? Phạt ngươi 30 trượng.”

Lại nói với người em: “Việc này sao không tố cáo với quan ở dương gian, lại xem thường kinh động đến âm phủ? Phạt ngươi 25 trượng.”

Lại trách mắng người chú: “Ngươi là chú sao không phân xét công bằng, lại xu nịnh người giàu, khinh dễ kẻ nghèo, khiến cho hai cháu phải thưa kiện đến đây, phạt ngươi 10 trượng.”

Xử phạt xong, cho cả ba về. Ba người tỉnh lại, hóa ra đã chết hơn nửa ngày, người nào cũng than nơi bắp đùi đau đớn lắm, lại nhìn vào mông đều thấy thịt tím bầm. Cả ba người nằm liệt hơn mười ngày mới dậy nổi.

Người chú họ Trương vốn không có thù riêng với cháu, chỉ là muốn hùa theo điều lợi mà thôi. Đâu biết rằng hết thảy mọi việc ở dương gian, nơi âm phủ đều có sổ sách ghi lại rõ ràng, không sai sót? Cho nên dương thế còn có chuyện oan ức, nhưng âm ty tuyệt không phán xử sai lầm. Trên dương thế còn có ảnh hưởng của tình cảm khi xét xử, nhưng âm ty chỉ theo đúng luật mà làm.

Việc hỏi tội nơi dương thế, bất quá chỉ phán xét theo những việc trong đời này, nhưng âm ty luận tội thì cân nhắc hết thảy mọi việc trong nhiều đời trước. Người gặp việc oan ức, nếu hiểu rõ được nhân duyên đời trước ắt sự uất ức sẽ tự tiêu tan.

Xét suy cho cạn sự đời,
Tu là hạnh phúc của người trần gian.
Dù cho tột bực giàu sang,
Chữ tu không biết như thoàn nước vô.
Lấy gian hùng tạo cơ đồ,
Đâu bằng lấy đức Nam mô xây thành.
Của người lấy sức ra tranh,
Được nay nhưng khó giữ gìn đến mai.
Mình có tay người có tay,
Thắng thì cũng xể mặt mày chớ không.
Sức không thể thắng được lòng,
Lòng không thắng được chớ hòng bình an.
Người đời nay rất khôn ngoan,
Biết thêm đạo đức như vàng khảm châu.
Thông minh mà thiếu đạo mầu,
Uổng thay như cái đèn dầu không tim.
… Giàu sang hay kẻ nghèo hèn,
Cũng là người cả nên xem cho đồng.
Chớ nên lấy cớ dốt thông,
Bẻ bai làm mất lẽ công con người.
Kẻ sanh ra dưới gầm trời,
Cũng đồng số phận luân hồi như nhau.
Như là quyến thuộc khác nào,
Thương nhau thì được hại nhau sao đành.
Không ai được hưởng trường sanh,
Giúp nhau được sống yên lành tốt hơn.
Ban bằng chiến lũy ngã nhơn,
Cho người người được sống gần gũi nhau.
Người ta suốt kiếp khổ đau,
Đâu còn thiếu sót phải đào tạo thêm.
Giúp nhau cho được sống êm,
Chớ làm nhau chịu sống thêm khổ nàn.
Hòa nhau cát cũng hóa vàng,
Nghịch nhau vàng cũng nát tan thành bùn.
Hòa nhau cùng được thung dung,
Nghịch nhau cùng đến đường cùng mà thôi.
Làm lành cũng sống được rồi,
Đâu cần làm dữ mới nuôi được mình.
Sống cho đúng lẽ công bình,
Của người chớ có sanh tình lấy ngang.

Sự kỳ diệu của sám hối

Bà Thu, thời thiếu nữ là hoa khôi trong xóm, nên có rất nhiều chàng trai đeo đuổi cầu hôn. Nhà nghèo, bà xin vào làm việc cho một hãng sữa ngoại và giữ chức thủ quỹ. Nhờ ngày ngày khéo xén bớt tiền hãng giấu làm của riêng, bà để dành được tới hai lon guigoz lượng vàng.

Từ đó, cuộc đời bà phất lên, kinh tế khá giả. Sau một hồi kén cá chọn canh, bà sánh duyên cùng với một bạch mã hoàng tử và sinh được ba con trai, sống sung túc ở thành phố.

Bạn bè trang lứa nhìn vào phải phát ghen với hạnh phúc của bà – đã đẹp mà lại giàu, sinh con như ý, lấy chồng xứng đôi….Trời cao dường như quá ưu đãi bà.

Thế nhưng hạnh phúc ấy cũng mong manh như những giọt sương ban sớm. Chồng bà tự nhiên dần dần đổi tánh, không còn siêng năng làm ăn, tối ngày say xỉn. Đi nhậu xong về lại thẳng tay đánh đập bà. Bà phải bán nhà để cung cấp tiền cho chồng tiêu xài. Chưa hết, lại còn phải nuôi hai đứa con ghiền xì ke. Chẳng bao lâu, chúng đều bị Si-đa mà chết.

Tài sản khánh tận, giờ bà trở thành nghèo cùng, song chồng thì vẫn nhậu nhẹt như xưa. Ngày ngày bà phải đi lượm ve chai bán để nuôi chồng và đứa con trai. Gia đình suy sụp nhưng chồng bà vẫn không tỉnh ngộ. Mỗi lần nhậu xong ông thường đánh đập bà tàn nhẫn, nhất là khi nào bà nộp tiền không đủ cho ông tiêu xài thì đánh không nương tay. Sau đó, ông bỏ đi ở riêng chỗ khác, nhưng mỗi ngày đều ghé qua hạch tiền, không có thì tiếp tục hành hạ bà.

Ông tác tệ đến mức lăng nhục bà đủ kiểu, bắt bà lau dọn vệ sinh, rửa chân, quỳ lạy, hầu hạ ông….thì ông mới tha. Ông lại có tính hay ghen tuông nên đòn roi không ngừng trút xuống bà. Bà sống trong chuỗi ngày cực cùng đau khổ, chỉ muốn quyên sinh…

Sau đó, bà đi chùa, rồi khóc mà kể chuyện cho thầy nghe. Thầy Kiến Châu (thân phụ Ni sư Như Thủy) khuyên bà đừng chán nản và cũng không nên tự sát. Bởi nghiệp báo trả chưa xong mà trốn, thì đời sau lại phải trả gấp đôi, khổ càng nhiều hơn.

Thầy làm lễ quy y cho bà, khuyên bà về nhà lạy Phật sám hối tất cả những tội lỗi đã tạo từ trước đến nay và khẩn thiết phát nguyện dứt ác làm lành, dốc lòng sửa sai, cầu nghiệp ác được tiêu trừ. Thầy giải thích:

– Tiểu sám hối là 80 ngày, trung sám hối 100 ngày, đại sám hối 120 ngày. Nhất định bà phải sám hối thì mới có thể bớt khổ.

Nghe lời thầy khuyên, bà về nhà lễ sám, khẩn thiết phát lộ tội lỗi trộm cắp ngày xưa, niệm thánh hiệu Đức Quán Thế Âm, thành tâm ăn năn, nguyện từ đây sống đời liêm khiết, ngay thẳng, cầu cho chồng hồi tâm sửa tánh, con cái ngoan, gia đình bình an….

Bà sám hối được 100 ngày thì có một đêm nằm mơ. Trong giấc mơ, bà cũng thấy mình là một thư ký trẻ, cũng sống gian dối, lọc lừa, tham lam bòn rút của chủ. Lạ thay, người chủ đó lại là chồng bà hiện giờ….Tỉnh dậy, lòng bà rất hoang mang, ngổn ngang trăm mối. Lúc này, bà không còn oán chồng nữa mà chỉ có nỗi ân hận day dứt khôn nguôi về những hành động xấu xa mình đã từng làm trong kiếp này lẫn kiếp trước. Bà chỉ biết khóc và sám hối, cầu điều lành cho chồng, cầu cho những người từng bị bà xâm phạm tài sản tha thứ….
Sau đó không lâu, chồng bà đột nhiên kiếm được việc làm. Điều bất ngờ là ông hoàn toàn thay đổi, tử tế với bà ngoài sức tưởng tượng, khiến bà ngỡ mình như đang nằm mơ… Ông ân cần bảo bà từ nay về sau cứ ở nhà nấu cơm, niệm Phật lễ sám, để ông đi làm mướn nuôi. Trong cái xiết tay của ông, bà cảm nhận được lòng yêu thương, cảm nhận được sự tha thứ vô hình. Từ đó, bà không còn dám gian tham, ngược lại còn rộng tay bố thí, cúng dường… chân thành hồi hướng đến những người bà từng có lỗi với họ, mong chuộc lại tội xưa.

Hiện tại, bà không còn lao tâm khổ trí vì gia đình nữa. Đứa con trai út của bà giờ đã biết kính tin Phật pháp.

Lúc nào bà cũng giảng về nhân quả cho nó nghe, bà không muốn con bước vào vết xe đổ như bà.

Còn đối với chồng, bà nghĩ ông hoàn toàn có quyền cư xử độc ác, nhưng ông lại thay đổi, biết tu tỉnh chí thú làm ăn, hiền lành tốt bụng đến độ không ngờ. Kỳ lạ là, thấy bà tụng kinh lạy Phật nhiều, ông không hề la lối bất bình, ngược lại còn rất vui.

Bà âm thầm tri ân Phật pháp nhiệm mầu, hối tiếc vì mình biết đạo muộn.

Nếu ngày xưa bà sinh trong gia đình biết Phật pháp, được nghe giảng và hiểu về luật nhân quả, nhất định bà sẽ không bòn rút biển lận của người. Do không hiểu đạo, nên bà đã tích góp của phi nghĩa và phải chiêu cảm lấy một cuộc sống đầy bão táp.

Dù bà sinh toàn con trai, song hai đứa đầu lại phá của, nghiện ngập hút chích và chết vì Sida. Còn ông chồng thì không ngừng giáng đòn trừng phạt cho đến khi bà hồi tâm sám hối, mọi việc mới thay đổi theo chiều hướng tốt lành.

Sau đó, nhờ phúc duyên được nghe quý sư giảng giải về lý nhân quả, bà tỉnh ngộ và quyết tâm sám hối, làm lại từ đầu….Không ngờ kết quả thật kỳ diệu. Đối với Phật, bà chỉ có niềm tri ân vô bến vô bờ. Đêm đêm bà luôn cầu nguyện mọi người ai ai cũng đều biết đến Phật pháp để không gieo nhân lầm lạc, sẽ không phải khổ như bà trước đây.

Bà ước mong bài học về cuộc đời mình sẽ giúp cho nhiều người có thể tránh được lầm lỗi gieo tạo Nhân ác. Hãy tích đức tu thiện, gieo nhân nào ắt gặt quả nấy. Xin hãy ghi nhớ!”.

Chịu thiệt thòi là phước

Vào thời nhà Minh, có người thư sinh tên Ngô Tử Điềm, vợ là Tôn thị.

Mẹ ruột của Ngô Tử Điềm mất sớm, chẳng bao lâu sau cha anh đi bước nữa. Vậy nhưng mẹ kế đối xử với Tử Điềm rất bất công, lại thường xuyên thiên vị em trai.

Kể từ ngày ấy, lòng chàng thư sinh dần sinh ra nhiều bất bình và oán hận. Sau khi lập gia thất, mẹ kế cũng chẳng hề đối xử tử tế với vợ của Tử Điềm.

Nhiều lần Ngô Tử Điềm cảm thấy vô cùng uất ức, muốn cùng mẹ kế nói lý lẽ. Nhưng mỗi lần như vậy, Tôn thị đều khuyên ngăn chồng thôi đi, không nên làm thế.

Khi cha qua đời, ruộng đất và ngân lượng để lại đều bị mẹ kế và em trai chiếm phần tốt nhất. Ngô Tử Điềm chỉ được thừa hưởng một mảnh ruộng xấu.

Tới nước này, chàng thư sinh cảm thấy trong lòng nhịn không nổi, một mực muốn đi tìm mẹ kế đôi co. Nhưng người vợ hiền thục lại một lần nữa ngăn cản chồng.

Chẳng bao lâu sau, con trai của mẹ kế vì ham mê cờ bạc nên đã bán sạch gia sản, khiến hai mẹ con họ rơi vào cảnh túng quẫn chẳng khác nào ăn mày.

Sau khi em trai và mẹ kế rơi vào cảnh túng quẫn, vợ Ngô Tử Điềm đã khuyên chồng đón hai người về nhà mình ở. Về sau, vợ của Ngô Tử Điềm sinh được 3 người con trai. Người xưa có câu “Tam nam bất phú”, nhưng ba cậu quý tử nhà họ Ngô đều thi đậu tiến sĩ.

Người dân trong làng đều nói rằng, đó chính là “phúc báu” của gia đình Tử Điềm.

Đổi lại, nếu bạn là Ngô Tử Điềm, liệu bạn sẽ đối xử thế nào với em trai và người mẹ kế?

Cổ nhân từng dạy, muốn trở thành người có văn hóa, việc đầu tiên phải làm chính là học cách chịu thiệt, học cách nhẫn nhịn. Chữ “nhẫn” ấy không chỉ cần thiết đối với người ngoài mà còn quan trọng với cả người thân.

Bởi lẽ, người thân là gia đình, là ruột thịt, là máu mủ cả đời không thể bỏ rơi. Vì thế, ta hà cớ chi phải so đo, trách cứ? Đối với người thân mà quá sân si, sau cùng người chịu thiệt vẫn là mình.

Trong câu chuyện của Ngô Tử Điềm, vợ anh là một người hiểu lý lẽ, giúp được chồng tránh nhiều tai vạ. Cổ nhân có câu “thê hiền phu họa thiểu”, nghĩa là vợ hiền đức thì chồng bớt gặp họa, âu cũng là như vậy.

Đổi lại, nếu là chúng ta, liệu mấy người có thể hành xử được như Tôn thị? Có chăng, ta sẽ cười lên nỗi bất hạnh của “kẻ thù” mà nói rằng: “Đúng là ông trời có mắt, mấy người cũng có ngày hôm nay!”

Và liệu mấy người có thể buông bỏ mọi thù hận, mở rộng vòng tay đón những người năm xưa từng hành hạ mình về chung một mái nhà, rồi cùng họ vui vẻ ăn tất niên đón năm mới, sống một gia đình hòa thuận, êm ấm?

Người đời nói rằng gia đình Ngô Tử Điềm có tới 3 tiến sĩ thành danh, quả đúng là “ở hiền gặp lành”, là ân đức trời cho.

Lại nói, nếu sinh ra trong một gia đình mà cha mẹ luôn so đo thiệt – hơn với họ hàng, những người con ấy sao có thể thấm nhuần đạo lý của sách thánh hiền, sao có thể lưu danh bảng vàng?

Vì vậy, sống ở đời không cần quá sân si. Thay vào đó, ta nên học được cách chịu thiệt.

Bởi người khác nợ bạn điều gì, ông trời sẽ trả cho bạn thứ khác tương xứng. Chẳng thế mà cổ nhân vẫn thường răn dạy hậu thế: “Chịu thiệt là phúc”.

Phúc phận ấy có được là bởi trời cao có mắt, là nhờ sự công bằng hiển nhiên của lẽ đời. Ngược lại, nếu bị danh lợi làm mờ mắt, con người ta vĩnh viễn sẽ không thấu hiểu được đạo lý, tâm trí cũng chẳng lúc nào được thanh thản.

Vậy chi bằng hãy cứ an lạc mà sống, tin vào sự công bằng của Trời Phật. Không oán hận, không sân si, không so đo, không tính toán, niềm vui trong cuộc sống ắt sẽ chẳng thể mấy đi, mà tương lai còn được hồi đáp bằng hết thảy những gì tốt đẹp nhất.

9/- Sân Hận

Trong bể sanh tử luân hồi các đợt sóng tam độc tham sân si không ngừng gào thét, các ngọn lửa thất tình lục dục hừng hực lan tràn dữ dội, trăm mối não phiền ngày đêm sục sôi nung nấu thân tâm; hoặc vốn có hiềm khích lẫn nhau sâu nặng, thường ôm lòng căm hận, chờ đợi trông mong quan sát những dịp sơ hở, để mà tìm cách thanh toán lẫn nhau, hoàn toàn không có chút nhân nghĩa, lập tức mất hết từ bi, giết chết tánh thiện lương cùng nhân duyên giải thoát.

Hoặc bí mật dùng bùa ngãi tà ma chú thuật, hay ngấm ngầm chế tạo các loại thuốc độc, liền khiến cho tạng phủ chứa đầy chất độc phát ra xé nát tim gan, tổn hại người gánh chịu lắm nỗi đau thương ngậm đắng nuốt cay, suốt đời mang căm hờn xuống tuyền đài, muôn vạn đau sầu chẳng biết cùng ai bày tỏ?!

Trước khi nhập Niết Bàn Đức Thế Tôn có lời răn dạy: “Cái họa hại của sự nóng giận là phá hoại các pháp lành, làm mất danh thơm tiếng tốt, khiến cho hiện tại cùng tương lai chẳng ai muốn gặp gỡ. Nên biết rằng tâm nóng giận nạn tai còn bi ai hơn lửa dữ, phải rán cẩn thận đừng để cho nó thao túng. Vì vậy, nếu dấy lên một niệm sân hận thì ngọn lửa đó sẽ bùng lên thiêu rụi tất cả công đức tốt lành, giặc cướp công đức không có gì nguy hiểm hơn mối ương họa này. Người thế tục sống trong ngũ dục không có cách tự chế ngự, họ nóng giận còn có thể tha thứ; Chứ người tu hành đạo đức, mà còn ôm lòng nóng giận, thật không thể được. Như giữa trời xanh trong mát đột nhiên sấm sét nổ vang, thật không phải là việc đáng có.”

Vì thế những kẻ có tánh ác hiểm thì người và vật đều sợ hãi, họ sẽ không gần được người lương thiện, lời nói của họ thì trở thành chất độc, thích làm hư hỏng tâm người ta, khiến cho người chán ghét, chẳng có ai ưa, thảy đều sợ hãi lánh xa, như tránh xa cọp beo hung dữ. Họ hiện tại thì bị khinh rẻ, chết thì đọa vào địa ngục. Vì vậy cho nên người trí thấu rõ sự nguy hiểm này, dùng nhẫn nhục mà trừ diệt, sẽ không còn lo sợ những điều đau khổ ở tương lai.

Như kinh Chánh Pháp Niệm nói: “Nếu dấy khởi sân hận thì tự đốt cháy thân mình, tâm tư bí hiểm độc địa, nhan sắc thay đổi lạ lùng, mọi người đều kinh hãi xa lánh, đồng thời ruồng bỏ khinh thường phỉ báng, đến lúc thân mạng kết thúc thì đọa vào địa ngục.

Bởi vì ‘giận mất khôn’ cho nên không việc xấu ác nào mà không dám làm. Do vậy, người trí biết tai họa của sân hận nên xả bỏ nó như rời xa ngọn lửa; Vì muốn lợi ích cho mình và lợi ích cho người khác, bèn thuận theo lời Phật dạy cố gắng thực hành hạnh nhẫn nhục.

Ví như lửa lớn đốt cháy nhà cửa có người khỏe mạnh dũng cảm lấy nước dập tắt. Cũng lại như vậy, nước của trí tuệ và từ bi có năng lực dập tắt lửa sân hận. Người luôn an nhẫn là tâm thiện bậc nhất, luôn luôn xả bỏ sân hận, được mọi người yêu mến, mọi người tin tưởng và ưa thích gần gũi, nhan sắc trong sáng tươi tỉnh, tâm tư vắng lặng rỡ ràng, không bồn chồn vội vàng bộp chộp, dễ dàng lắng đọng tâm tư, xa lìa lỗi lầm của thân và miệng, xa lìa sầu não, xa lìa nỗi sợ rơi vào đường ác, xa lìa mọi sự oán ghét, xa lìa mọi sự ưu não, xa lìa nỗi sợ oan gia, xa lìa nỗi sợ người ác mắng nhiếc thô tục dữ dằn, xa lìa nỗi sợ hối hận, nỗi sợ tiếng xấu, nỗi sợ không có lợi ích, xa lìa nỗi sợ khổ đau, xa lìa nỗi sợ ngạo mạn.

Nếu người có năng lực xa lìa những nỗi sợ như vậy, thì tất cả công đức thảy đều đầy đủ, danh tiếng khắp nơi đều nghe biết đến, đạt được niềm vui đời hiện tại và tương lai, mọi người nhìn thấy giống như cha mẹ mình, là người nhẫn nhục thì được mọi người thân cận quý mến.

Vì vậy sân hận giống như rắn độc, như dao bén như lửa nóng, dùng nhẫn nhục mà dập tắt, có năng lực loại trừ hết. Có thể đè nén cơn bực tức, đó gọi là nhẫn. Nếu có người tu tập hạnh lành, nên dấy lên ý nghĩ rằng: “Nhẫn nhục giống như vật báu ta nên cố gắng giữ gìn. Nhưng các chúng sanh thiện ác hiện bày sai khác, người ngu mắng chưởi xúc phạm hơn người thì cho là thắng; người trí hạ mình im lặng cho là bậc nhất. Người ngu bởi vì dấy lên một chút tranh chấp liền trở thành mối thù hận to lớn. Nếu đắc thắng ắt kết oán kết thù càng thêm sâu chắc. Trái lại nếu bị đuối lý hay thua thiệt thì sinh sầu khổ ưu bi”.

Nếu luôn luôn cẩn thận lời nói, không nói đến điều tốt xấu của người, cho dù bị người ta mắng chưởi tự biết rằng thảy đều do nghiệp đời trước mà mình đã gây giờ này trổ quả, hãy nên hoan hỷ chấp nhận trả đền.

“Được thắng cuộc tăng thêm thù oán,
Thua cuộc thì thêm nhiều giận tức,
Người không tranh dù thắng hay thua,
Niềm vui ấy thật là bậc nhứt.”

Thuở xưa ở thành Phong Đức có một gia đình nghèo. Cả chồng lẫn vợ đều keo kiệt, thô ác, và không tin Đạo Pháp. Đức Phật thương xót cho đôi vợ chồng ngu si ấy, nên biến làm một Đạo

Nhân bần khổ và đến ở trước cổng nhà của họ để khất thực.

Lúc đó người chồng đã đi vắng, cô vợ mắng chửi vị Đạo Nhân vô cùng thậm tệ.

Vị Đạo Nhân bảo rằng: “Tôi là một Đạo Nhân. Tôi đi khất thực là để duy trì mạng sống. Xin đừng mắng chửi. Tôi chỉ hy vọng nữ thí chủ có thể cho một chút thức ăn.”

Cô vợ nói rằng: “Cho dù ông có đứng chết ở đây, tôi còn không cho thức ăn. Huống nữa ông đang khỏe mạnh mà muốn xin thức ăn của tôi à! Ông đừng lãng phí thời gian nữa, chi bằng hãy mau mau cút xéo đi!”

Khi ấy vị Đạo Nhân đang đứng ở trước cổng, bỗng nhiên mắt trợn trắng, hơi thở ngừng đập, và liền hiện ra tướng chết. Thân xác trương sình, ở lỗ mũi và miệng có giòi bọ chui ra, vùng bụng nứt vỡ, ruột rữa nát, và chảy ào ra những thứ bất tịnh. Khi thấy thế, cô vợ kinh hoàng sửng sốt và bỏ nhà mà chạy.

Bấy giờ Đạo Nhân hốt nhiên rời khỏi hiện trường và ngồi nghỉ dưới một gốc cây. Lúc đó người chồng đang trên đường về nhà bỗng gặp cô vợ ở giữa đường. Người chồng kinh ngạc về sự hốt hoảng của vợ mình.

Cô vợ nói với chồng rằng: “Có một Đạo Nhân đến nhà của chúng ta khất thực, nhưng bỗng nhiên bị chết, nên mới làm cho em hoảng sợ như thế.”

Nghe xong, người chồng vô cùng phẫn nộ và hỏi rằng: “Hắn đang ở đâu?”

Cô vợ đáp rằng: “Đã bỏ đi rồi! Chắc cũng chưa đi xa chi cho lắm!”

Người chồng lập tức cầm cung tên và mang dao vào mình, rồi tốc hành truy đuổi. Bấy giờ anh ta chạy vội về phía trước, giương cung giơ dao và muốn chém Đạo Nhân. Đạo Nhân liền hóa làm một thành nhỏ bằng lưu ly ở xung quanh để tự bảo hộ. Bấy giờ hắn đi vòng quanh bên ngoài thành vài vòng nhưng chẳng thể nào vào được.

Hắn liền hỏi Đạo Nhân rằng: “Sao không mở cửa?”

Đạo Nhân trả lời: “Nếu muốn tôi mở cửa thì hãy bỏ cung đao của ông xuống.”

Kẻ thô lỗ tự nghĩ: “Mình hãy làm theo lời hắn nói. Một khi được vào trong, mình sẽ dùng nắm tay đánh hắn.”

Rồi kẻ thô lỗ bỏ xuống cung đao, nhưng cửa vẫn không mở.

Kẻ đó lại nói với Đạo Nhân rằng: “Tôi đã bỏ xuống cung đao rồi. Sao còn chưa mở cửa?”

Đạo Nhân trả lời: “Tôi bảo ông bỏ xuống ác niệm và ý nghĩ giết hại của cung đao ở trong tâm, chứ không phải cung đao đang cầm trong tay.”

Khi ấy, lòng của kẻ kia run rẩy sợ hãi và nghĩ thầm: “Đạo Nhân là thần thánh nên đã biết ý nghĩ của mình.”

Ngay sau đó, kẻ thô lỗ khấu đầu sám hối lỗi lầm, rồi cúi đầu thưa với Đạo Nhân rằng: “Vợ của con thật ngu si, đã không biết Ngài là bậc Thánh nhân, và còn khiến con khởi sanh niệm ác. Xin

Ngài rủ lòng từ bi và chớ vội rời khỏi. Con nay muốn dẫn vợ con đến để Ngài khuyên răn và chỉ dạy tu Đạo.”

Người chồng lập tức đứng dậy và trở về nhà.

Cô vợ hỏi rằng: “Đạo Nhân đang ở đâu?”

Người chồng liền kể lại tất cả những sự thần thông biến hóa của vị Đạo Nhân: “Ngài đang ở chỗ kia. Em hãy mau đến để sám hối nghiệp tội.”

Và thế là, hai vợ chồng đến chỗ của Đạo Nhân, đầu đảnh lễ sát đất, sám hối lỗi lầm, và xin làm đệ tử.

Rồi quỳ xuống và hỏi rằng: “Thần thông biến hóa của Ngài đã đạt đến cảnh giới của bậc Thánh. Thành lưu ly do Ngài biến hóa thật kiên cố và không sao vào được. Với tâm minh liễu và ý kiên định, Ngài đã vĩnh viễn chẳng còn ưu sầu và hoạn nạn. Xin hỏi Ngài đã tu hành Đạo gì mà được thần thông diệu dụng như thế?”

Đạo Nhân trả lời: “Ta siêng tu học mà không chán mỏi và phụng hành Phật Pháp mà không lười biếng. Ta tinh tấn trì giới và tu tập trí tuệ mà chẳng buông lung. Do vậy, ta đắc Đạo và tự đạt đến tịch diệt.”

Nhân đó, Đạo Nhân liền nói kệ rằng:

“Nghe pháp vững tu hành
Trì giới làm tường thành.
Chuyên dõng mãnh Tinh tấn