thanh minh

Phật Quang Đại Từ Điển

(聲明) I. Thanh Minh. Phạm:Zabda-vidyà. Hán âm: Nhiếp đà bí đà. Chỉ cho môn học về văn tự, âm vận và ngữ pháp, 1 trong 5 minh của Ấn độ. Luận Du già sư địa quyển 15 chia Thanh minh làm 6 hạng mục chủ yếu như sau: 1. Pháp thi thiết kiến lập tướng: Thanh minh là danh (tên gọi), cú(câu), văn thân(văn chương)… và lấy những âm thanh tương ứng với 5 đức: Bất bỉ lậu (không thô bỉ), khinh dị(hờ hững xem là dễ dàng), hùng lãng(mạnh mẽ, sáng sủa), tương ứng(ứng hợp với nhau) và nghĩa thiện làm thể. 2. Nghĩa thi thiết kiến lập tướng: Tức nghĩa được bao hàm phải rõ ràng. Có 10 nghĩa: Sáu căn, 4 đại chủng, nghiệp, sự tìm cầu, trái pháp, pháp, hưng thịnh, suy tổn, thụ dụng và thủ hộ, cùng 6 nghĩa: Tự tính, nhân, quả, tác dụng, sai biệt tương ứng và chuyển. 3. Bổ đặc già la thi thiết kiến lập tướng: Tính khác nhau của ngôn ngữ. Tức tính nam, tính nữ(giống đực, giống cái), trung tính và sự biến hóa của chuyển thanh. 4. Thời thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về thời gian. Tức sự biến hóa về quá khứ xa, quá khứ gần, cho đến vị lai xa, vị lai gần… 5. Số thi thiết kiến lập tướng: Sự sai khác về số lượng. Tức số đơn, số 2, số nhiều… 6. Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập tướng: Pháp nói về cách soạn lời, soạn tụng. Khi giải thích về Xứ sở căn tài thi thiết kiến lập, Du già sư địa luận lược toản quyển 6 nói như sau: Xứ sở căn bản của Thanh minh gồm có 4 luận, đó là: Phạm vương bách vạn tụng, Đế thích thập vạn tụng, Ca đơn một la tiên nhất vạn nhị thiên tụng và Ba nị ni tiên bát thiên tụng và 5 luận chú thích là: Tự thể căn tài Thanh minh luận (300 bài tụng), Thanh minh lược bản tụng (1000 bài tụng), Bát giới luận (800 bài tụng), Văn Thích ca luận (1500 bài tụng) và Ôn na địa luận (2500 bài tụng). Vì Thanh minh là 1 trong 5 môn học (Ngũ minh) của Ấn độ nên nói chung người Ấn độ đều học tập nghiên cứu, còn ở Trung quốc thì vì kinh luận đều đã được phiên dịch ra chữ Hán mà văn pháp rất khác với văn pháp tiếng Phạm, cho nên phần nhiều Thanh minh không được giảng dạy học tập. Mãi đến đời Đường, ngài Huyền trang truyền tiếng Phạm, thêm vào đó Mật giáo cũng lưu truyền nên môn học Phạm tự Tất đàm bỗng rộ lên một thời, các trứ tác về Tất đàm học cũng xuất hiện vào thời ấy. Tại Nhật bản, các vị cao tăng như Tối trừng, Không hải… đến Trung quốc tham học, sau khi về nước cũng truyền pháp Tất đàm, do đó Tất đàm học cũng dần dần hưng thịnh. [X. luận Du già sư địa Q.38; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5]. (xt. Ngũ Minh). II. Thanh Minh. Đồng nghĩa: Phạm bái. Chỉ cho sự phúng tụng, ngâm vịnh các bài kệ, tức phương pháp có phụ thêm sự phổ âm để ca và ngâm kệ tụng, danh hiệu… Thanh minh trong 5 minh nghiên cứu tận cùng nghĩa Tam thanh bát chuyển (thuộc văn pháp tiếng Phạm), còn Thanh minh này thì chuyên nói về phương pháp hòa âm, phổ nhạc, ca hát, ngâm vịnh… Sự ngâm vịnh các bài tán ca, kệ tụng đã thịnh hành ở Ấn độ xưa ngay từ thời đại Phệ đà, về sau, Phật giáo cũng sử dụng phương pháp ấy, đức Phật cho phép các tỉ khưu được thanh bái(đọc canh, tán), nhưng không được theo cách ca vịnh của Bà la môn để hòa âm tụng kinh. Ở Trung quốc, phương pháp Phạm bái(đọc canh, tán tụng) đã được truyền vào từ sớm, trong Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, có liệt kê các mục như: Trần tư vương cảm Ngư sơn Phạm thanh chế bái kí, Chi khiêm chế liên cú Phạm bái kí; Khang tăng hội truyền Nê hoàn bái kí…; còn Lương cao tăng truyện quyển 33 có trình bày sơ qua về sự thịnh hành Phạm bái. [X. kinh Tì ni mẫu Q.6; luật Thập tụng Q.37; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; Âm nghệ chí trong nguyên hanh thích thư Q.29; Thanh minh nguyên lưu kí]. (xt. Phạm Bái).