thắng tiến đạo

Phật Quang Đại Từ Điển

(勝進道) Phạm: Vizewa-màrga. Pàli: Vìsesa-magga. Cũng gọi Thắng đạo. Chỉ cho con đường tu hành so với các giai đoạn trước đó thì càng thù thắng hơn và từ đây tiến thẳng đến đạo giải thoát hoàn toàn, là 1 trong 4 đạo. Tức là sau Giải thoát đạo lại tiến thêm bước nữa đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại và tiến tu phương tiện; hoặc ở yên trong các giai đoạn: Gia hạnh(phương tiện), Vô gián, Giải thoát. Thắng tiến đạo có 2 loại, loại thứ nhất vì đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại mà tiến lên, tức là Giải thoát đạo trong 4 đạo; hoặc sau khi đoạn trừ được 1 phẩm phiền não, lại ở trong Vô gián đạo mà tu phương tiện để đoạn trừ các phẩm phiền não còn lại. Ở đây, đối với các phẩm phiền não đã đoạn trừ ở trước, gọi là Thắng tiến đạo, còn trông về các phẩm phiền não sẽ được đoạn ở sau thì gọi là Phương tiện đạo, hoặc Vô gián đạo, Giải thoát đạo. Loại thứ 2 là không cầu thắng tiến mà sinh tướng tri túc (biết đủ), hoặc đối với các phiền não đã đoạn trừ rồi thì chỉ quán sát mà thôi. Tức là sau Giải thoát đạo, không tu phương tiện ở Vô gián đạo, chỉ sinh ý tưởng tri túc đối với các phẩm phiền não đã đoạn ở trước, cho thế là đủ rồi, không cầu thắng tiến, hoặc nguy hại hơn, lại rơi vào tình trạng buông thả, không tiến tu. Hoặc đối với các phiền não đã đoạn trừ, dùng trí quán sát để quán xét kĩ lại một lần nữa, cũng gọi là Thắng tiến đạo. Trong đó, nghĩa trước là nhìn về các phiền não sẽ đoạn ở sau mà tu phương tiện, đây là nguyên ý của Thắng tiến, như thế thì 3 đạo: Gia hạnh, Vô gián, Giải thoát đồng với Thắng tiến đạo, ngoài 3 đạo không có tự thể của Thắng tiến riêng, cũng không cần phải lập riêng Thắng tiến nữa. Nếu nói theo nghĩa sau thì ngoài 3 đạo còn có riêng Thắng tiến đạo, tức ở yên tại các phẩm phiền não trước đã đoạn rồi, hoặc chỉ quán sát tư duy lại một lần nữa mà thôi, chứ không tiến tới các phẩm còn lại ở sau nữa. [X. luận Du già sư địa Q.69; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; luận Đại tì bà sa Q.66; luận Thuận chính lí Q.71].