tát ca da kiến

Phật Quang Đại Từ Điển

(薩迦耶見) Phạm:Satkàya-dfwỉi. Hán âm: Tát ca da đạt lợi sắt trí. Hán dịch: Hữu thân kiến, Hư ngụy thân kiến, Di chuyển thân kiến. Tát ca da (Phạm:Satkàya), cũng gọi Tát ca tà, Táp ca da. Ca da (Phạm:Kàya), nghĩa là tụ tập, hàm ý là thân. Tát nghĩa là hữu(có), cũng có nghĩa là hư ngụy, di chuyển. Kiến (Phạm:Dfwỉi, đạt lợi sắt trí), nghĩa là thấy. Do đó, Tát ca da kiến mới được dịch là Hữu thân kiến, hoặc dịch là Hư ngụy thân kiến, Di chuyển thân kiến, là 1 trong 5 kiến, cũng là 1 trong 10 Tùy miên, tức vọng chấp trước ngã và ngã sở. Vì các bộ phái có những ý kiến khác nhau về chữ Tát trong Tát ca da, nên cũng phát sinh nhiều thuyết bất đồng đối với danh nghĩa của Kiến. Nay trình bày sơ lược như sau: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ lập Hữu thân kiến(thấy có thân). Bộ này chủ trương Tát nghĩa là Hữu, tức thân là sự tập hợp của 5 uẩn, pháp thể của 5 uẩn này là có thật, cho nên gọi là Hữu thân; còn cái thấy duyên theo thân có thật này mà chấp trước ngã(ta) và ngã sở(của ta), gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Hữu thân kiến. 2. Kinh lượng bộ lập Hư ngụy thân kiến(cũng gọi Hoại thân kiến, Ngụy thân kiến). Bộ này chủ trương Tát nghĩa là hoại, vô thường; tức thân là sự giả hợp của 5 uẩn, sinh diệt vô thường, không có thực thể, vì thế gọi là Hoại thân, Hư ngụy thân; còn cái thấy duyên theo thân hư ngụy này mà sinh ra chấp trước ngã, ngã sở thì gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Hư ngụy thân kiến, Hoại thân kiến. 3. Tông duy thức Đại thừa lập Di chuyển thân kiến. Tông này chủ trương Tát nghĩa là dời chuyển, cũng tức là nghĩa có hay không đều không quyết định được, hoặc chẳng phải có mà tựa hồ như có. Vì thân là do nhân duyên hòa hợp, cho nên thân là phi hữu phi vô, gọi là Di chuyển thân; còn cái thấy duyên theo thân di chuyển này mà sinh khởi ngã và ngã sở thì gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Di chuyển thân kiến. Ngoài ra, nếu nói về việc Tát cada kiến lần lượt duyên theo 5 uẩn thì có thể dùng 20 câu(mỗi uẩn 4 câu) sau đây để hiển bày. Trước hết là 4 câu về Sắc uẩn: Câu thứ nhất: Sắc tức là ngã, như chủ; câu thứ 2: Ngã có sắc, như chuỗi anh lạc; câu thứ 3: Sắc tức là ngã sở, như người giúp việc; câu thứ 4: Ngã ở trong sắc, như vật chứa đựng; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều có 4 câu như trên, tổng cộng là 20 câu. Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) có ghi tên Phạm của 20 câu Tát cada kiến này. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 8, nếu Tát ca da kiến lần lượt duyên theo 2 kiến(ngã, ngã sở), 3 cõi, 5 uẩn, 9 địa, 12 xứ, 18 giới… thì có thểcótừ 1 câu cho đến 936 câu Tát ca da kiến. Nhưng nếu dùng các pháp tướng tương tục, thế, sát na… để phân biệt thì có vô lượng Tát ca da kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.46, 49; luận Thuận chính lí Q.47; luận Câu xá Q.19; luận Du già sư địa Q.58, 87; luận Đại thừa ngũ uẩn, Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối, 9, phần cuối; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.3; Câu xá luận quang kí Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Ngũ Kiến, Tùy Miên).