tào củ trá quốc

Phật Quang Đại Từ Điển

(漕矩咤國) Cũng gọi Tào củ quốc, Tào lợi quốc, Ha đạt la chi quốc, Tạ duật quốc, Xã hộla tát tha na quốc. Tên một nước xưa ở A phú hãn (Afghanistan). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 12 thì nước Tào củ tra chu vi hơn 7 nghìn dặm, đô thành là Hạc tất na. Nước này khí hậu rất lạnh, có nhiều sương tuyết, hoa quả tốt tươi. Tính tình người dân nóng nảy, thích học nghề, nhiều kĩ thuật. Tuy thờ các thần và nhiều đạo khác, nhưng phần lớn dân chúng đều kính tin Tam bảo, trong nước có vài trăm ngôi già lam với hơn một vạn vị tăng, tất cả đều tu học theo giáo pháp Đại thừa. Vị trí này tương đương với vùng đất ở đông nam A phú hãn hiện nay và đô thành Hạc tất na tương đương với vùng Gia từ ni (Ghazni) ở phía nam Khách bố nhĩ (Kabul). Đời Tùy gọi là Tào quốc, lãnh thổ bao gồm cả nước Ca tất thí; nhưng Tùy thư tây vực liệt truyện 48 thì cho rằng Tào quốc tức là nước Kế tân vào đời Hán. Còn điều Kế tân quốc trong Đường thư tây vực liệt truyện 146 thượng cũng ghi rằng Kế tân là chỉ cho Tào quốc vào đời Tùy. Học giả Ấn độ học người Nhật bản là ông Bạch điểu Khố cát căn cứ vào Phạm ngữ tạp danh mà cho rằng Kế tân nói trong Đường thư chính là Ca tất thí, lí do vì Tào quốc ở đời Tùy bao gồm cả nước Ca tất thí. Đến đầu đời Đường, vùng Đông bắc của Tào quốc được độc lập gọi là Ca tất thí quốc, Tào củ tra quốc chỉ còn giữ được vùng Tây nam, về sau lại thần phục và lệ thuộc nước Ca tất thí. Tào quốc cũng nhiều lần đến triều cống nhà Đường. Ngoài ra, tên nước Tào củ tra bắt nguồn từ cuối thế kỉ thứ V khi người Áp thát diệt Đại nguyệt chi, chiếm lãnh thổ nước này ở lưu vực sông Kabul và vùng đất Kandahar, rồi gọi chung là Jabula. Marquart căn cứ vào sự kiện này mà suy đoán rằng tên gọi Tào quốc và Tào lợi quốc là phiên âm của từ Jabula (Jawuda); Củ tra làphiên âm của chữ PhạmKùỉa, nghĩa là đính (chỗ cao nhất). Nhưng Watters thì nói Tào củ tra là dịch âm từ tiếng Phạmjàguđa, có nghĩa là hương uất kim, học giả Bạch điểu Khố cát tán đồng ý kiếnnàyvà nói thêm rằng jabula vàjàguđa là giống nhau. Lại điều Tạ duật trong Đường thư tây vực liệt truyện 146 hạ và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 100 cho rằng Tạ duật, tên khác là Tạviệt, đều là phiên âm từ chữjawada mà ra. Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện cho biết, người nước Tạ duật tự gọi là Xã hộ la tát tha na (Jabulistan). [X. Tuệ siêu Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện tiên thích; Giảithuyết tây vực kí; Kế tân quốc khảo (Bạch điểu Khố cát, Đông dương học báo 7); Ancient Geography of India by A. Cunningham; Erànzahr by J. Marquart; On Yuan Chwang, Vol. I by T. Watters]. (xt. CaTất Thí Quốc).