tăng tịch

Phật Quang Đại Từ Điển

(僧籍) Cũng gọi: Tăng trướng, Cung trướng. Chỉ cho cuốn sổ ghi tên họ, quê quán, các việc xuất gia được độ… của tăng ni. Phẩm Chúc lụy kinh Nhân vương do ngài La thập dịch (Đại 8, 833 hạ) nói: Đặt ra Thống quan để cai quản chúng tăng, coi giữ tăng tịch, Tăng thống lớn, nhỏ cùng nhau ràng buộc, như pháp coi ngục tù, pháp giữ binh lính, lúc ấy Phật pháp sẽ không còn trụ ở thế gian nữa. Ở Trung quốc, đến thời Ngụy Tấn, chế độ Tăng tịch đã nghiêm ngặt, triều đình lập ra Tăng chính hoặc Chiêu huyền tào để thống lãnh, cai quản tăng ni, đời Tùy làm theo chế độ cũ của Bắc triều, đời Đường, tăng ni do Từ bộ của Thượng thư tỉnh và Tả hữu nhai tăng lục ti quản lí. Theo Đường hội yếu thì sổ hộ tịch tăng ni chế độ cũ cứ 3 năm làm một lần, một bản đưa về Từ bộ, một bản lưu giữ ở châu huyện. Tháng giêng năm Thái hòa thứ 4 (830) đời vua Văn tông nhà Đường. Từ bộ ra lệnh cho tăng ni trong nước ghi tên họ trình lên để làm bằng chứng cấp phát độ điệp; năm sau, vua ban sắc cho các châu quận trong nước lập hộ tịch tăng ni. Đến đời Tống thì tăng tịch do ti Tăng lục quản lí. [X. Phật tổ thống kí Q.40; Ngụy thư thích lão chí Q.20; Đường thư bách quan chí Q.38; điều Hồng lô tự trong Tống sử chức quan chí 118]. (xt. Độ Điệp).