tăng già bạt ma

Phật Quang Đại Từ Điển

(僧伽跋摩) Phạm: Saôghavarman. Hán dịch: Tăng khải, Chúng khải. I. Tăng già Bạt ma (?-?) Cao tăng Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Lưu Tống. Sư xuất gia từ nhỏ, giới đức thanh cao, hiểu sâu tạng Luật, đặc biệt tinh thông luận Tạp a tì đàm tâm. Năm Nguyên gia thứ 10 (433) đời Lưu Tống, sư vượt sa mạc đến Kiến nghiệp (Nam kinh), mọi người đều cung kính, tôn xưng là Tam tạng Pháp sư. Mới đầu, sư nhận lời thỉnh của ngài Tuệ quán trụ ở chùa Bình lục, tụng niệm hành đạo, ngày đêm không nghỉ, tăng chúng hướng về rất đông, đạo tràng hưng thịnh. Bấy giờ, Ni sư Tuệ quả ở chùa Ảnh phúc xin sư truyền lại giới Cụ túc, ngài Tuệ nghĩa ở chùa Kì hoàn nhất định không đồng ý. Hai bên tranh luận nhiều lần, sư nêu rõ tông chỉ, hiển bày chính pháp, ngài Tuệ nghĩa liền khâm phục, bảo các đệ tử như Tuệ cơ… phụng sự giúp đỡ. Bấy giờ có tới vài trăm tăng ni xin thụ giới lại. Theo ý của sư, người chưa đủ 20 tuổi mà thụ giới Cụ túc thì phải căn cứ vào thụ giới lại mà tính là hạ lạp thứ nhất; còn người đã đủ 20 tuổi mà thụ giới, đã ở vào địa vị đắc giới thì y cứ vào năm thụ giới đó mà tính giới lạp thứ nhất. Bấy giờ, ở Bành thành có Vương nghĩa khang, vì ngưỡng mộ giới đức của sư nên thiết trai cúng dường, 4 chúng cung kính, tiếng tăm sư vang khắp chốn kinh ấp. Năm Nguyên gia thứ 11(có thuyết nói năm thứ 10), nhận lời thỉnh của ngài Tuệ quán… sư dịch bộ luận Tạp a tì đàm tâm 14 quyển ở chùa Trường can và dịch Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển ở chùa Bình lạc tại Mạt lăng. Chí hướng của sư là du hóa khắp nơi chứ không muốn trụ ở một chỗ nào. Sau 19 năm truyền dịch kinh điển, sư lại theo thuyền buôn của người Tây vực trở về Ấn độ. Dịch phẩm: Luận Tạp a tì đàm tâm 14 quyển, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Phân biệt nghiệp báo lược 1 quyển, Khuyến phát chư vương yếu kệ 1 quyển, Thỉnh Thánh tăng dục văn 1 quyển (đã thất lạc). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.10, 11, 14; Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Anh dịch đại minh tam tạng thánh giáo mục lục]. II. Tăng Già Bạt Ma (?-?) Tương truyền là cao tăng người Ấn độ, hoặc người nước Khang cư vùng Trung á, đến Trung quốc dịch kinh vào thời đại Tam quốc. (xt. Khang Tăng Khải).