tán

Phật Quang Đại Từ Điển

(酂) Cũng gọi Xã, Thiền, Thiện, Xà, Tiêu, Nặc, Sa, Ta. Chỉ cho chữ (Jha), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm, là tiếng hàng phục các quân ma, có năng lực chế phục các ngôn ngữ xấu ác, là tiếng tất cả pháp chiến địch bất khả đắc. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì Xã ma la nghĩa là chiến địch, nếu thấy chữ Xã thì biết tất cả pháp đều có chiến địch, như các pháp thiện và bất thiện, ngược dòng sinh tử và xuôi dòng sinh tử, bố thí và xan tham, trì giới và phá giới, cho đến trí tuệ và vô minh… ở thế gian đều đối đãi nhau, được thua vô thường. Cho đến việc đức Như lai ứng hóa ở đời, tất cả trí lực được sử dụng để phá trừ các quân ma đều gọi là chiến. Nhưng tất cả pháp vốn chẳng sinh, cho đến chẳng có bóng dáng, thực không có sự chiến đấu giữa Phật giới và ma giới, cho nên lúc Phật ngồi ở đạo tràng, chỉ thấy rõ các pháp không có tướng đối lập, cái gọi là chiến thắng chỉ là do người đời khi bàn về nghĩa lí mà tự lập ra. Chữ Tán hiện nay không có tiếng Phạm tương đương, hoặc là thuộc tục ngữ. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm bằng tiếng Phạm có câu jhawadhvaja-bala-nigrahaịa-zabda, là âm thanh có năng lực hàng phục thần cá tràng; trong câu này có chữjhawa cũng có nghĩa là rừng rậm. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Thiện nghĩa là phiền não xanh tốt, ví như rừng rậm rất có thểđãcăn cứ vào nghĩa của chữ Tán này. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; kinh Phật bản hạnh tập Q.10; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính].