ly tác pháp

Phật Quang Đại Từ Điển

(離作法) Phạm: Vyatireka. Đối lại: Hợp tác pháp. Cũng gọi Li, Già khiển. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong Nhân minh, khi áp dụng Đồng dụ thì gọi là Hợp tác pháp, còn khi áp dụng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Đồng dụ là dụ về Đồng phẩm, Dị dụ là dụ về Dị phẩm. Trong một luận thức, đã dùng Đồng dụ để chứng minh, lại đưa thêm Dị dụ ra nữa, thì nghĩa của Tông lại càng rõ ràng hơn, làm cho đối phương (người vấn nạn) không còn nói quanh được nữa. Ví dụ: Hợp tác pháp: – Tông: Âm thanh là vô thường. – Nhân: Vì do sự tác động mà có. – Dụ: Nhữnggì do sự tác động mà có đều là vô thường, ví như cái bình, v.v… (đồng dụ). Li tác pháp: – Tông: Âm thanh là vô thường. – Nhân: Vì do sự tác động mà có. – Dụ: Những gì không phải là vô thường đều không phải do sự tác động mà có, ví như hư không (dị dụ). Như vậy, ta thấy sự khác nhau giữa Hợp tác pháp và Li tác pháp là hoàn toàn ở phần Dụ. Về phần Đồng dụ, trước hết phải nói Nhân– nghĩa là nói: Tất cả những gì có cái Nhân ấy thì đều là có tính cách của danh từ Sau (hậu trần) trong Tông. Về phần Dị dụ, trước hết phải nói danh từ sau– nghĩa là nói: Tất cả những gì không có tính cách của danh từ sau ấy thì đều không có tính cách Nhân. Cho nên, Đồng dụ, vì trước phải nói Nhân, sau mới nói Tông, nên thuật ngữ Nhân minh gọi là Nhân trước, Tông sau; Dị dụ, vì trước phải nói đến Tông (Tông đây là chỉ cho danh từ sau) rồi sau mới nói Nhân, nên gọi là Tông trước, Nhân sau. Khác với Đồng dụ, Dị dụ nói Không tức là nếukhôngcó tính cách của Tông thì cũng không có tính cách của Nhân. Vì thế, về Đồng dụ phải dùng Đồng phẩm của Tông để ví dụ, về Dị dụ phải dùng Dị dụ. [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.6 phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.7].