lưu di dân

Phật Quang Đại Từ Điển

(劉遺民) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đông Tấn, người Bành thành (Đồng sơn, Giang tô), tên Trình chi, tự Trọng ân. Mới đầu, ông ra làm quan, giữ chức Phủ tham quân, rồi làm Huyện lệnh Nghi xương và Sài tang, sau ông từ chức và cùng với Chu tục chi, Đào uyên minh lui về sống ẩn dật, người đương thời gọi là Tầm dương tam ẩn (ba ẩn sĩ đất Tầm dương). Còn hiệu Di dân tương truyền là do vua Vũ đế nhà Lưu Tống đặt cho những người không vâng sắc lệnh của nhà vua để nêu cao tinh thần bất khuất của họ. Về sau, ông vào Lô sơn thờ ngài Tuệ viễn làm thầy, dựng 1 căn nhà riêng trong núi, chuyên tu Thiền pháp suốt 15 năm, nhiều lần cảm hào quang của Phật. Ông cùng với ngài Tuệ viễn kết Bạch liên xã ở chùa Đông lâm, thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ, soạn Lô sơn Bạch liên xã thệ văn (được thu vào Lạc bang văn loại quyển 2), đến nay vẫn còn truyền tụng. Mùa đông năm Nghĩa hi thứ 6 (410), ông biết trước giờ lâm chung đã đến nên đốt hương lễ Phật, ngồi ngay thẳng quay mặt về hướng tây mà vãng sinh, hưởng thọ 59 tuổi. Ông có tác phẩm: Huyền phổ 1 quyển. [X. Lạc bang di cảo Q.thượng; Long thư Tịnh độ văn Q.5; Đông lâm thập bát cao hiền truyện; Tịnh độ thánh hiền lục Q.6; Lô sơn liên tông bảo giám Q.4, Toàn Tấn văn Q.142].