lợi ngôn

Phật Quang Đại Từ Điển

(利言) Cao tăng Tây vực, sống vào đời Đường, Trung quốc, người nước Cưu tư, tên Địa chiến thấp la (Hán dịch: Chân nguyệt), tự Bố na tiện. Khi sa môn Pháp nguyệt từ Đông Ấn độ đến Cưu tư, sư liền đến yết kiến và xin theo học nội, ngoại điển. Sư từng nghe và thuộc lòng 7 nghìn bài kệ trong kinh Đại thừa nguyệt đăng tam ma địa (bản tiếng Phạm), 10 nghìn bài kệ trong Lịch đế kỉ và 5 nghìn bài kệ trong Du già chân ngôn. Năm Khai nguyên 14 (726), sư thụ giới Cụ túc, rồi nghiên cứu các kinh Đại, Tiểu thừa, Phạm thư, Hán thư, cho đến các ngôn ngữ Thạch hành tứ trấn, Hộ mật, Chiến vu, Thổ hỏa la. Năm Khai nguyên 18 (730), sư theo thầy Đông du; năm Khai nguyên 20 (732), thầy trò đến Trường an, Trung quốc, làm thông dịch viên cho thầy. Sư từng vào cung vua, đem Phương dược bản thảo dâng lên vua Đường Huyền tông, sư cũng tham gia công tác phiên dịch Bát nhã tâm kinh. Năm Khai nguyên 29 (741), sư cùng thầy trở về Tây vực, gặp lúc Thức nặc loạn lạc, đường xá bị ách tắc, nên phải qua nước Vu điền. Sau đó, khi thầy thị tịch, sư trở về chốn cũ. Năm Thiên bảo 13 (754), sư lại đến Trung quốc một lần nữa, tháng 2 năm sau, sư vào Vũ uy, trụ ở chùa Long hưng và chùa Báo ân, trợ giúp ngài Bất không dịch kinh. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư vâng sắc vua dịch kinh, khi nhiệm vụ hoàn thành được triều đình ban thưởng. Năm sau (789), sư theo hầu ngài Bát nhã Tam tạng, nhận việc dịch kinh Na la diên lực. Sau không biết sư tịch ở đâu. Sư có tác phẩm: Phạm ngữ tạp danh 1 quyển. Ngoài ra, ngài Viên chiếu chùa Tây minh thu tập những bài văn của sư để lại, làm thành bộ Phiên kinh đại đức Hàn lâm đãi chiếu Quang trạch tự Lợi ngôn tập 2 quyển. [X.Tống cao tăng truyện Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].