lễ bàn

Phật Quang Đại Từ Điển

(禮盤) Cũng gọi Cao tòa, Sư tử tòa. Chỗ tòa cao để lên ngồi lễ Phật hay thuyết pháp. Lễ bàn đã có từ thời đức Phật còn tại thế. Chiều cao của tòa này không nhất định, hoặc vuông vức mỗi chiều 3 thước (Tàu), hoặc chiều dài 6 thước, chiều ngang 3 thước, trên tòa trải 1 tấm nệm. Trong Thiền lâm, khi ngồi thiền thường dùng tòa này. Trong Mật giáo, khi tu pháp, phần nhiều lễ bàn được đặt ở mặt chính của đàn Tu di, phía trước lễ bàn đặt án kinh, bên phải để khánh, bên trái để lư hương(có khi để lư hương ở chính giữa). Hành giả lên lễ bàn này, lạy Phật 3 lạy rồi tụng kinh hoặc làm lễ tác bạch. Bốn mặt của lễ bàn có chữ (a) xếp thành cờ xí của địa luân, tượng trưng của đại địa Bồ đề, ý nghĩa này khiến hành giả khi tu quán, làm cho 3 nghiệp của mình khế hợp với tam mật của bản tôn, mà an trụ nơi tâm đại Bồ đề thanh tịnh vốn sẵn có. Lễ bàn có 2 loại: Lễ bàn hình cái rương (hòm) và lễ bàn chân mèo. Lễ bàn hình cái rương lại có 2 kiểu: Lễ bàn 8 sư tử và lễ bàn 1 sư tử. Tức 4 mặt lễ bàn mỗi mặt đều có khắc (hoặc vẽ) 2 con sư tử, gọi là Lễ bàn 8 sư tử; ở mặt chính của lễ bàn chỉ khắc (hoặc vẽ) 1 con sư tử thì gọi là Lễ bàn 1 sư tử. Sư tử khắc tượng trưng cho tòa Sư tử. Sư tử có nghĩa là tâm Bồ đề cho nên tòa 1 sư tử biểu thị cho tâm Bồ đề của Độc nhất thực tướng; còn tòa 8 sư tử thì biểu thị 8 thức của tâm Bồ đề ở Nhân vị. Ngoài ra, cũng có thể dùng hình mẫu đơn, chim công thay cho sư tử. [X. Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ pháp; Hữu bộ tì nại da Q.28]. (xt. Sư Tử Tòa, Cao Tòa).