lạm ba quốc

Phật Quang Đại Từ Điển

(濫波國) Lạm ba, Phạm: Lampàka. Cũng gọi Lam bà quốc, Lãm ba quốc, Bà ca quốc. Tên một nước xưa ở vùng Tây bắc thuộc Bắc Ấn độ. Nước này tương đương với Laghman ở giữa Kabul (thuộc Afghanistan) và miền Tây bắc Ấn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, nước Lạm ba chu vi hơn 1000 dặm, nội thuộc nước Ca tất thí. Khí hậu ấm áp, không có tuyết; phong tục vui nhộn, dân thích hát xướng, ngâm vịnh, tính tình nhút nhát, dối trá, dáng người thấp bé, cử động nhẹ nhàng, phần nhiều mặc áo bằng lông thú mầu trắng. Có hơn 10 ngôi chùa, tăng chúng rất ít và hầu hết tu học theo giáo pháp Đại thừa. Có mấy mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo rất đông. Theo Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện của ngài Tuệ siêu (546-622) người Tân la, thì Lạm ba lúc bấy giờ là thuộc địa của nước Kiện đà la. Ngoài ra, Hữu bộ tì nại da quyển 46; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển trung và phẩm Thuyết mật ấn trong kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 2… đều có nói đến tên nước này. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; Thích ca phương chí Q.thượng; Tống sử liệt truyện thứ 249].