lạc

Phật Quang Đại Từ Điển

(樂) Phạm, Pàli: Sukha. Cũng gọi Lạc thụ, Lạc căn. Đối lại: Khổ. Cảm giác vui thích của thân và tâm, 1 trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ căn, 1 trong 22 căn. Nếu phân biệt từ thân và tâm, thì cảm giác vui thích nơi thân gọi là Lạc thụ, còn cảm giác vui thích nơi tâm thì gọi là Hỉ thụ, Lạc là quả báo chung của tất cả thiện nghiệp sinh ra, nên nghiệp ấy cũng gọi là Thuận lạc thụ nghiệp. Lạc có nhiều loại: 1.Tam lạc: a) Thiên lạc: Nhờ tu 10 điều thiện mà được niềm vui ở cõi trời. b) Thiền lạc: Niềm vui khi vào cảnh giới Thiền định. c) Niết bàn lạc (cũng gọi Tịch diệt lạc): Niềm vui trong trạng thái Niết bàn vắng lặng. Tam lạc còn có 1 thuyết nữa là: a) Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức trước (mắt, tai, v.v…) sinh ra. b) Nội lạc: Niềm vui do ý thức phát sinh khi vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. c) Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ vô lậu phát sinh. 2.Tứ lạc: a) Xuất li lạc(cũng gọi Xuất gia lạc): Niềm vui xuất gia cầu đạo mà được giải thoát. b) Viễn li lạc: Niềm vui ở cõi Sơ thiền, là niềm vui đã xa lìa tham dục và pháp bất thiện. c) Tịch tĩnh lạc: Niềm vui ở cõi Nhị thiền trở lên, là niềm vui khi dứt hết tầm tứ. d) Bồ đề lạc: Niềm vui do xa lìa phiền não mà được trí chân thực. Bốn loại lạc này cũng gọi là Tứ vị, Tứ vô tội lạc. Bốn niềm vui này cảm nhận được trong thế giới vắng lặng, siêu việt hơn thế gian. Bốn loại niềm vui này cộng thêm với niềm vui Niết bàn nữa mà thành 5 thức niềm vui. [X. luận Đại tì bà sa Q.14, 78; luận Câu xá Q.3, 15; luận Thành duy thức Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.13, 15 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.7; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.26].