la ngộ không

Phật Quang Đại Từ Điển

(羅悟空) (1442-1527) Cũng gọi: La Nhân, La Thanh, La Tĩnh, La Thanh Am, tự Hoài Thanh, Ái Tuyền, hiệu Vô Vi Cư Sĩ, Tĩnh Khanh, Mạnh Hồng, Nhất Thanh đạo nhân, pháp hiệu Phổ Nhân, người Lao Sơn, Tức Mặc, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Là vị Khai tổ của Vô Vi Giáo, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, 3 tuổi cha qua đời, 7 tuổi mất mẹ, nhờ được chú là La khuê nuôi nấng, đốn củi mưu sinh, nếm đủ mùi đắng cay nhân thế. Năm 14 tuổi sư thay thế cho chú đi theo quân dẹp loạn người Vu ở Vân vệ. Sau khi xuất ngũ về làng, có chí xuất thế, liền qui y Phật pháp. Mới đầu, sư tu theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật 8 năm, tự cảm thấy không khế hợp, bèn chuyển sang nghiên cứu khoa nghi Kim cương bát nhã và đi tham vấn khắp nơi. Sau, sư đến động Bạch Vân ở núi Cửu Hoa tại phủ Trì Châu lễ ngài Lí Đầu Đà thuộc tông Lâm Tế làm thầy, được ban cho pháp danh là Chân Tuệ, hiệu Ngộ Không. Từ đó, ngày đêm sư chuyên tâm tinh tiến tọa thiền. Năm 41 tuổi (có thuyết nói 52 tuổi, hoặc 67 tuổi)sư thấu suốt pháp môn tâm địa, tỏ ngộ được thực tướng các pháp. Sau, sư căn cứ vào tư tưởng kinh Kim Cương Bát Nhã tuyên dương pháp vô vi giải thoát, hoằng truyền tông phong tự học thanh tu, có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa. Đầu tiên, sư đến Bắc Kinh hóa độ nhóm các ông Lưu Mộc Thông, v.v… pháp duyên rất thịnh, từng được vua Vũ Tông nhà Minh ban hiệu là Tề Thiên Đại Đức Hộ Quốc Chân Nhân và được thỉnh thuyết pháp ở điện Kim loan. Không bao lâu, vì số người tin theo sư quá đông, bị ghen ghét và sàm tấu, nên sư bị bắt giam mấy năm. Sau khi ra tù, sư đến Bắc Kinh kiến lập đạo tràng bạch y. Sư mất vào năm Gia Tĩnh thứ 6. Sư có các tác phẩm: Khổ Công Ngộ Đạo, Thán Thế Vô Vi, Phá Tà Hiển Chính Thược Thỉ, Chính Tín Trừ Nghi Tự Tại, Ngộ Đạo Hành Cước Kí.