hương lô

Phật Quang Đại Từ Điển

(香爐) Cũng gọi Hỏa lô, Huân lô. Lư hương, một khí cụ dùng để đốt hương, thường được bày ở trước Phật và Phật đàn. Là một trong 18 thứ vật dụng của tỉ khưu, một trong Tam cụ túc, Ngũ cụ túc. Lò hương được chế tạo bằng nhiều loại nguyên liệu, như vàng, bạc, đồng, đồng vàng, đồng bạch, đồng đỏ, đồng xanh, cũng có loại làm bằng sành, lưu li, ngà voi, gỗ, v.v… Loại lư hương được đặt cố định ở một chỗ gọi là Trí hương lô(cũng gọi là Cư hương lô), loại này thường thấy được điêu khắc ở các di tích tại Ấn độ đời xưa; loại lư hương có cán cầm ở tay gọi là Bính hương lô, loại dùng để bước qua cho thân thể được thanh tịnh gọi là Tượng lô (Hương tượng, có hình dáng con voi), loại này cũng có thể dùng để trang trí trên giường hay trên bàn. Từ loại lư hương nhỏ cầm tay, đến loại lư hương lớn đặt ở trước nhà, có nhiều kiểu dáng, như Văn hương lô, Dũng trắc hương lô, Cử hương lô, Tứ phương hương lô, Hỏa bát hương lô, v.v… Về Trí hương lô thì hương lô Bác sơn là nổi tiếng hơn cả, nắp đậy có hình quả núi, trên chóp núi có một trụ nhỏ. Đây là một khí cụ bằng đồng lớn được chế tạo vào đời Hán, đến thời Lục triều và đời Đườngđã trở nên thịnh hành. Ngoài ra, có Hương lô hỏa xá, giống như cái hỏa xá trong các pháp cụ của Mật giáo, bằng sành phẳng và nông, gồm 3 chân, có thêm cái nắp hình bán cầu, trên nắp có chạm hình quả đào và mây. Ngoài ra, Hương lô của chùa Kim sơn có hình dáng như lồng đèn, nhưng không có nắp và lư hương hình cái vạc có 3 chân, 2 quai, nắp hình bán cầu, thường có chạm sư tử, loại này tương đối phổ biến. Loại lư hương khá nổi tiếng hiện còn là Hương ấn tọa, có hình cánh sen, được cất giữ ở viện Chính thương tại Nhật bản; lư hương Ngột lí tự bằng sành, nắp hình lá sen, có khắc chữ Phạm, được tàng trữ ở viện Pháp kim cương. [X. Thích thị lục thiếp Q.22; Loại tụ danh vật khảo Q.252, Q.254, Q.255; Cổ kim đồ thư tập thành khảo công điển 236]. (xt. Bính Hương Lô).