hí khúc

Phật Quang Đại Từ Điển

(戲曲) Những khúc điệu hát để vui chơi (Drama, Opera). Trong các nghi thức tông giáo ở thời đại nguyên thủy, phần nhiều có bao hàm thành phần hí kịch, ban đầu nhằm mục đích dâng hiến thần linh, nhưng về sau dần dần diễn biến thành phương tiện truyền giáo. Nhưng trường hợp Phật giáo thì hơi khác. Phật giáo vốn lấy việc đoạn trừ phiền não, xa lìa tham dục làm chủ yếu, nên Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái đã bài xích tất cả hí kịch, ca khúc. Đến Phật giáo Đại thừa mới dùng các loại thần thoại, thơ tự sự, văn học phổ thông, v.v…… để tuyên dương giáo nghĩa của Phật giáo, trong đó, nhiều tác phẩm được biên soạn theo hình thức hí khúc, như các kinh Pháp hoa, Duy ma là những tác phẩm đại biểu thuộc loại này, có lẽ đã soạn phỏng theo hình thức Duy hữu ca (Phạm:Vyàyoga) trong 10 hình thức về Hí khúc của Ấn độ. Tác phẩm đứng đầu trong thể loại hí khúc của Phật giáo là Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa) do ngài Mã minh sáng tác, đây là tác phẩm sớm nhất trong nền văn học hí khúc Ấn độ. Tác phẩm này được tìm thấy vào năm 1911 trong bản viết tay trên lá bối ở Thổ phồn thuộc vùng Trung á, gồm có 9 màn, nội dung lấy việc ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên bỏ ngoại đạo về qui y đức Thế tôn làm nòng cốt. Vở hí khúc 5 màn Long vương chi hỉ (Phạm:Nàgànanda) tương truyền do vua Giới nhật sáng tác, cũng là hí khúc Phật giáo nổi tiếng. Thời cận đại, trong nhiều hí khúc do thi hào Rabindranath Tagore của Ấn độ sáng tác thì 2 tác phẩm Vũ giả chi cúng dường (Naỉìrapùjà) và Chân đà lợi (Chaịđàlikà) đều lấy tài liệu từ các sự tích trong kinh điển Phật giáo. Hí khúc Trung quốc chịu ảnh hưởng rất lớn về các mặt tư tưởng, đề tài, hình thức, v.v…… của văn học Ấn độ và kinh điển Phật giáo; các tác phẩm trứ danh như: Tây du kí, Mục liên cứu mẹ, Truyện rắn trắng, v.v…… nội dung đều mang đậm tư tưởng nhân quả của Phật giáo. Ngoài ra, văn học giảng xướng như: Phật khúc, bảo quyển, biến văn, trường thiên đàn từ, v.v…… cũng đều chịu ảnh hưởng thể văn kệ tụng của Phật giáo, nhất là đoạn Tám ông vua chia Xá lợi lấy sự tích trong Phật sở hành tán thì nghiễm nhiên là hình thức hí khúc đối thoại; đã đặt nền tảng cho tuồng hát về sau. Nhưng tương đối có giá trị về mặt văn học Phật giáo thì nhiều nhất là loại truyền kì ở các đời Minh, Thanh. Trong đó có 2 tác phẩm nổi tiếng nhất là Khuyến thiện kim khoa và Qui nguyên kính . Khuyến thiện kim khoa là do nhà vua đặt ra, bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian trong kinh Vu lan bồn (tuồng Mục liên), nên được truyền bá rất rộng. Qui nguyên kính chia thành 42 phần, lấy ý nghĩa 42 chữ cái trong kinh Hoa nghiêm. Các khúc bạch trong đó đều bắt nguồn từ Ngữ lục trong Tạng kinh, cho nên có thể được coi là hí khúc Phật giáo. Ngoài ra, còn có các hí khúc truyền kì nổi tiếng lấy Phật giáo làm chủ đề như: Di lặc kí , Phục linh sơn , Hưởng thiên thu , Vô để động , v.v…… Bộ phận ca nhạc trong các hí khúc lấy Phật giáo làm chủ đề sớm nhất là nhạc phủ đời Tùy, Đường, như Phổ kí Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, v.v…… Chư Phật Thế tôn Như lai Bồ tát Tôn giả danh xưng ca khúc được ấn hành vào khoảng năm Vĩnh lạc đời Minh là hí khúc nổi tiếng khen ngợi danh hiệu của chư Phật và là tư liệu quí giá nhất trong những hí khúc tản mạn gồm hơn 400 loại khúc điệu Nam Bắc với tổng số 2177 bài. Bản in sớm nhất của những hí khúc này đã được lưu hành tại Trung quốc từ khoảng năm Vĩnh lạc 15 (1417) đến năm 17 (1419). Ngoài ra, còn có các hí khúc trường thiên như: Thiên vũ hoa, Bút sinh hoa, là bắt nguồn từ thể tài kệ tụng trong kinh Phật. Các vở tạp kịch như: Bố đại hòa thượng của Trịnh đình ngọc, Đường Tam tạng tây thiên thủ kinh của Ngô xương linh, là lấy sự tích của các bậc cao tăng trong Phật giáo; Kim thủy kiều Trần lâm Bão trang hạp(Trần lâm ôm cái hộp đẹp ở cầu Kim thủy) của khuyết danh ở đời Nguyên, là lấy tích truyện nàng Lộc nữ trong kinh Lục độ tập quyển 2 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3; Trương sinh chử hải(chàng Trương nấu biển) của Lí hiếu cổ, là lấy sự tích trong phẩm Đại thi trữ hải của kinh Hiền ngu quyển 8; đến các vở Thiên nữ tán hoa do Mai lan phương soạn ở thế kỉ XX, là lấy tài liệu trong kinh Duy ma; Ma đăng già nữ của Thượng tiểu vân là lấy sự tích trong kinh Ma đăng già, v.v…… đều là những vở kịch được hoan nghinh rộng rãi. Tại Nhật bản, trong các hí khúc cổ điển, đặc biệt có kĩ nhạc và vũ nhạc được truyền vào từ thời đại thái tử Thánh đức; về sau, những hí khúc ấy được kết hợp với tản nhạc của dân gian, từ đó, việc cúng tế trong các chùa viện dần dần được hí kịch hóa. Nói chung, nền ca, vũ, nhạc, kịch của Nhật bản thời bấy giờ đều thường lấy sự tích của Phật giáo làm đề tài, hoặc lấy tư tưởng Phật giáo mà nội dung là tán thán công đức của Phật làm nòng cốt. Chẳng hạn như trong 30 thiên ca vũ kĩ cước bản của tác giả hí khúc vĩ đại nhất ở Nhật bản là ông Cận tùng môn tả vệ môn, thì có khoảng phân nửa kịch bản có liên quan đến Phật giáo. Thế kỉ XVI, XVII ở Nhật bản được gọi là thời đại vàng son của giai cấp thương gia mới nổi lên, hí khúc cũng theo đó mà phát triển mạnh mẽ. Nhưng đến thời đại Đức xuyên, Mạc phủ thi hành chính sách đóng cửa, giới thương gia cũng như dân chúng bỗng thấy nhụt chí, mất hứng. Thêm vào đó là giới tăng sĩ trong các chùa viện bị tha hóa, mất dần uy tín trong nhân dân, cho nên nội dung các hí khúc lúc bấy giờ phần nhiều lấy các ông tăng phá giới không biết hổ thẹn làm nhân vật chính. Loại kịch tác này gồm có: Diên mệnh viện nhật đương, Thập lục dạ thanh tâm, Pháp giới phường, v.v…… Sau thời Minh trị duy tân, nhờ ý chí cách tân của giới Phật giáo để thích ứng với thời đại mới, nên hí khúc cũng theo đó mà rực rỡ hẳn lên. Những hí khúc nổi tiếng ở thời gian này gồm có: Dịch chi hành giải của Bình nội Tiêu dao, Nhật liên thuyết pháp của Lâm hạc ngoại, Đại Phật khai nhãn của Trường điền Tú hùng, Phật đà dữ Tôn ngộ không của Vũ giả Tiểu lộ, v.v…… [X. Sylvain Lévi: Le Théâtre indien, 1890; Sten Konow: Das indísche Drama, 1920; A.B. Keith: The Sanskrit Drama, 1924]. (xt. Bảo Quyển, Biến Văn).