Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

TỤC CAO TĂNG TRUYỆN

Sa-môn Thích Đạo Tuyên chùa Tây Minh Thời tiền Đường soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 26 A

Mục Lục

CHƯƠNG VI: CẢM THÔNG

TRONG PHẦN 1 CHƯƠNG VỊ

(chánh truyện có ba mươi ba vị, phụ có ba vị).

1/ Truyện Sa-môn Lặc-na-mạn-đề người xứ Thiên-trúc, trụ chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Kinh, thời Nguyên Ngụy.
2/ Truyện Sa-môn Thích Siêu Đạt ở Vinh Dương, thời Nguyên Ngụy.
3/ Truyện Sa-môn Thích Tuệ Đạt ở Văn Thành, thời Nguyên Ngụy.
4/ Truyện ngài Thích Đạo Thái trụ tinh xá Hành Đường ở Thường Sơn, thời Nguyên Ngụy.
5/ Truyện ngài Thích Tăng Dung trụ chùa Đông Lâm ở Cửu Giang, thời Nam Lương.
6/ Truyện ngài Thích Pháp Lực trụ ở quận Mạt Lỗ, thời Nguyên Ngụy.
7/ Truyện ngài Thích Thực Tướng trụ chùa Thanh Thành ở đất Thục, thời Nam Lương.
8/ Truyện ngài Thích Tăng Lâm ở Đồng Châu, thuộc đất Thục, thời Nam Lương.
9/ Truyện ngài Thích Tuệ Giản ở Kinh Châu, thời Nam Lương.
10/ Truyện ngài Thích Tăng Lãng ở Lương Châu, thời Nguyên Ngụy.
11/ Truyện ngài Thích Tăng Ý trụ chùa Lãng Công Cốc ở Thái Sơn, thời Nguyên Ngụy.
12/ Truyện ngài Thích Tăng Chiếu trụ chùa Đan Lãnh ở Thái Sơn, thời Nguyên Ngụy.
13/ Truyện ngài Thích Đạo Phong trụ chùa Cổ Sơn ở Tương Châu, thời Bắc Tề.
14/ Truyện ngài Thích Viên Thông trụ chùa Đại Trang Nghiêm ở Nghiệp Hạ, thời Bắc Tề.
15/ Truyện ngài Thích Tuệ Bảo ở Thái Nguyên, thời Bắc Tề.
16/ Truyện ngài Thích Tăng Vân trụ chùa Bảo Minh ở Nghiệp Hạ, thời Bắc Tề.
17/ Truyện ngài Thích Tăng Viễn trụ chùa Tiết ở Lương Châu, thời Bắc Tề.
18/ Truyện ngài Thích Tuệ Chấn trụ chùa Nguyên Khai Phủ ở Thượng Đảng, thời Bắc Chu.
19/ Truyện ngài Thích Hồng Hiến trụ chùa Đại Từ ở Tương Châu đời Tùy.
20/ Truyện ngài Thích Tuệ Vân ở Đông Xuyên, đời Tùy (Phó Đại Sĩ).
21/ Truyện ngài Thích Pháp Lãng ở Ngạc Châu, đời Tùy.
22/ Truyện ngài Thích Đạo Tiên trụ chùa Trúc Lâm ở núi Quán Khẩu thuộc Thục Châu, đời Tùy.
23/ Truyện ngài Thích Tuệ Phong trụ chùa Thê Hà ở Nhiếp Sơn, đời Trần.
24/ Truyện ngài Thích Tuệ Nham trụ chùa Trùng Huyền ở Tô Châu, đời Tùy.
25/ Truyện ngài Thích Pháp An trụ tại Đạo tràng Bảo Dương ở Đông Đô, đời Tùy (Pháp Tế).
26/ Truyện ngài Thích Tuệ Khản trụ chùa Đại Quy Thiện ở Tương Châu, đời Tùy.
27/ Truyện ngài Thích Chuyển Minh trụ chùa Hóa Độ ở Kinh đô, thời Tiền Đường.
28/ Truyện ngài Thích Giả Dật ở An Châu, thời Tiền Đường.
29/ Truyện ngài Thích Pháp Thuận trụ chùa Nghĩa Thiện ở Ung Châu, thời Tiền Đường (Trí Nghiễm).
30/ Truyện ngài Thích Đạo Anh trụ chùa Phổ Tế ở Bồ Châu, thời Tiền Đường.
31/ Truyện ngài Thích Hựu Đức trụ ở Lương Sơn thuộc Ung Châu thời Tiền Đường.
32/ Truyện ngài Thích Trí Tắc trụ chùa Biện Tài ở Kinh đô, thời Tiền Đường.
33/ Truyện ngài Thích Thông Đạt trụ chùa Luật Tạng ở Kinh đô, thời Tiền Đường.

 

1. Truyện Sa-môn Lặc-na-mạn-đề:

Sa-môn Lặc-na-mạn-đề, người ở xứ Thiên Trúc. Trong thời Nguyên Ngụy, Sư đến trụ chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Kinh. Sư rất giỏi về Ngũ Minh, thông hiểu Đạo Thuật.

Bấy giờ, Thứ sử Tín Châu Kỳ Mẫu Hoài Văn, là người khéo tư duy, hiểu biết nhiều. Thiên tánh có nhận biết rộng rãi, mỗi lúc nước nhà tạo dựng cung thất, khí giới không chỗ nào chẳng liên quan, ích lợi cho cả công tư, Sư rất ưu việt suốt cả một thời. Vua lại ban sắc bảo sửa sang chùa Vĩnh Ninh, thấy Sư có Dị thuật, thường dâng cúng lễ vật, mong được sự thấy nghe, nhưng Sư vẫn bình thường như lúc đầu không có thừa tiếp. Hoài Văn trong lòng rất tức giận. Bấy giờ, tại Huyền Võ Quán ở Lạc Nam, có một người khách nhuyễn nhuyển (giống mọi rợ) đã từng tương giao với Sư tại Tây vực từ trước, cưỡi ngựa, mặc áo da, khi đi đến chùa, hai người tương đắc nói cười chỉ chỏ vỗ tay, suốt ngày không mỏi mệt. Hoài Văn đứng bên cạnh trông thấy mọi rợ nói, không hiểu để đáp, bèn nói với Sư rằng: “Đệ tử khéo kính thờ người, mọi việc từ trước đến nay cung thừa chỉ mong Sư cho biết ý, mà Sư không hề nói một lời. Còn đây là kẻ Bắc Địch (chỉ vị khách ấy) tâm thú mặt người, giết hại sinh mạng, uống máu ăn thịt, đâu đáng mến chuộng, chẳng mong gặp mặt, bèn thành Đây Kia!”. Sư bảo: “Ngươi chớ khinh thường người khác, dù có đọc muôn quyển sách, thì tự dùng chưa hẳn là hơn”. Hoài Văn nói: “Tôi đây có sự nhận biết có thể cùng đánh cá ngựa”. Sư hỏi: “Ông có tài thuật gì?” Hoài Văn đáp: “Có khả năng về toán thuật. Bất kể là nhìn núi ngắm sông, suy lường cao sâu, vây đố đạp hố, chẳng sai lầm thăng hợp”. Sư cười bảo rằng: “Đó là trò chơi của trẻ con”. ngay trước sân có một cây táo rất lớn, trái rất sum suê, lúc đó là đầu tháng bảy, đều đã già chín. Sư ngửa mặt nhìn cây táo mà bảo rằng: “Ông biết trên cây có được bao nhiêu trái táo chăng?” Hoài Văn lấy làm lạ cười mà bảo rằng: “Chỗ biết của toán thuật hẳn y theo tiêu chuẩn ngang dọc, thì thiên văn địa lý cũng có thể suy lường. Cỏ cây lắm hao hụt có hình dáng gì, xét đó thật làlời nói buông tuồng”. Sư chỉ vị khách nhuyễn nhuyễn mà bảo rằng: “Đây là người đã nhận biết”. Hoài Văn nổi khí tức giận không tin, liền lập khế ước cá ngựa. Chư tăng, những vị lão túc trong chùa đều đến xem, đứng bên cạnh để làm chứng. Sư lại bảo Nhuyễn nhuyễn, Nhuyễn nhuyễn cười mà vâng lời. Hoài Văn lại đòi yêu sách rằng: “Phải biết bao nhiêu trái đã có hạt, bao nhiêu trái bị hư không có hạt”. Đoán bao nhiêu trái đã xong, nhuyễn nhuyễn lấy từ đãy da nơi lưng ra một vật tợ như quả cân ngày nay vậy, xỏ suốt bằng chỉ năm mầu, chỉ riêng xỏ hạt châu mầu trắng, dùng đó để tính về cây, hoặc trên hoặc dưới, hoặc các góc cạnh, kéo chỉ nhắm mắt, xoay chuyển giây lâu, rồi hướng về Sư hồi lâu. Vừa rồi Sư lắc đầu mà cười, mà thuật lại số lượng. Sư liền sai người trút trái xuống hết, mỗi trái đều xem xét, nghi rằng Hoài Văn sẽ vạch ra xem so lường lại số trái có được thành chăng, cuối cùng không bị thiếu thừa, nhân đó, nhuyễn nhuyễn thắng đựơc ngựa mà trở về.

Sư mỗi lúc nhìn thấy mọi người từ xa đến Tung Cao Thiếu Thất để hái củi, Sư tự bảo rằng: “Trăm họ như đất, mang vác khổ cực. Ta muốn tạm kéo lấy hai ngọn núi gối đầu xuống sông Lạc, đợi người chặt đủ củi rồi trả lại bỏ đi, việc ấy chẳng lấy làm khó, đó chỉ là số thuật vậy. Chỉ vì người không biết, nói xằng cho ta là Thánh, vì thế mà không dám”.

Đến lúc sắp tịch, Sư bảo đệ tử rằng: “Ta còn nghỉ lại chừng, năm, ba ngày nữa, sẽ đi đến xứ khác. Các Ông phải luôn nhớn nghĩ tu hành Chánh Đạo, chớ có tâm quyến luyến!”. Sư bèn hiện tướng bệnh, đóng cửa thất mà nằm. Đệ tử lén nhín qua lỗ hỏng cánh cửa, thấy Sư thân chẳng dính nơi giường, mà chỉ nằm ngửa giữa khoảng hư không, bèn mách bảo nhau cùng đến xem, có một vị tăng bỗng nhiên cất tiếng ho. Sư đặt thân mình xuống lại giường như cũ, từ xa nói rằng: “Người ngoài cửa là ai, sao chẳng đi vào? Vì giường nóng nên ta tìm lấy chút mát dịu. Ngươi chớ lấy làm lạ!” Sau đó vài ngày, Sư bèn thị tịch.

2. Truyện Sa-môn Thích Siêu Đạt ở Vinh Dương:

Thích Siêu Đạt, không rõ Sư họ gì. Trong thời Nguyên Ngụy, Sư hành nghiệp làm tăng. Sư là người học vấn nhiều, có sự hiểu biết rộng. Vua thời ấy cấm triệt Đồ sấm rất dữ, đang lúc truy tìm, có người nói xằng bảo Sư thật có, nên bị bắt giam giao vào ngục Vinh Dương. Bấy giờ, Ngụy Bác Lăng Công khám xét, Sư bèn trình bày sự thật, Bác Lăng Công rất tức giận, buộc bánh xe vào cổ Sư canh giữ nghiêm mật. Sư tự biết không còn con đường sống, nên liền chuyên tâm xưng niệm Bồ-tát Quán Thế Âm, đến canh tư trong đêm, bỗng nhiên không còn trông thấy bánh xe, chỉ thấy những kẻ canh giữ đều ngủ say. Nhân đó, Sư chạy ra ngoài, muốn trốn đi xa. Vì từ lâu bị trói buộc trong ngục, hai chân suy yếu không thể đi xa. Đến lúc trời sáng, bọn tù binh cưỡi xe bốn ngựa ra truy tìm. Sư suy nghĩ trốn lánh chắc không thoát khỏi. Nhân đó nép mình trong cỏ, bọn tù binh cưỡi ngựa đến đạp lên cỏ mà không hay biết gì, tuy đi ngang qua gần bên cạnh đối diện mà không thấy. Sư ngước mắt nhìn bọn tù binh thì đều bị dùng da trâu che mắt. Sư nhất tâm chờ chết, chí thành xưng niệm, nửa đêm bọn tù binh đi Sư khỏi rồi, sau đó, Sư liền được thoát khỏi.

Lại có Đạo nhân Tăng Minh là tự chủ chùa Thạch Quật ở Bắc Đài. Họ Ngụy làm Vua trong Thiên hạ, thường nghi ngờ các vị Sa-môn làm giặc, bắt cả mấy trăm vị tăng, trói buộc từ đầu đến chân, đã định kỳ hạn đem ra chém đầu, Sư rất kinh sợ, nhất tâm xưng niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Đến nửa đêm, bất giác thấy sợi dây trói buộc nhỏ dần, riêng trong lòng vui mừng, mong cầu càng tha thiết, đến gần sáng tự nhiên dây đứt, được thoát khỏi Sư liền trốn chạy xa. Đến sáng hôm sau, người giữ ngục đến tìm không thấy Sư, chỉ có sợi dây đứt đang nằm dưới đất, biết đó là do sức thần gia hộ, liền đem sự việc ấy tấu trình. Vua mới tin Đạo nhân không có làm phản, bèn cùng lúc phóng thả tất cả.

3. Truyện Sa-môn Thích Tuệ Đạt ở Văn Thành:

Thích Tuệ Đạt, họ Lưu, tên là Tốt Hoà,vốn người xứ Đông Bắc thuộc Hàm Dương, tức Kê Hồ thuộc Định Dương ở Tam Thành. Tổ tiên Sư chẳng kính tin Phật Pháp, mắt chẳng nhận biết chữ, là người hung dữ, khỏe mạnh, thích săn bắn. Làm Lương thành Đột Kỵ đến trấn thủ ở Tương Dương. Cha mẹ, anh em có tất cả ba người đều hiện còn, gia đình giàu có, hào hoa xa xỉ trong xóm làng, tung hoành không theo lý. Sau nhân tiệc rượu, bị bệnh, chết giấc thần thức trông thấy các thứ khổ nơi địa ngục, nói rộng trong Biệt truyện, có đủ các Thánh Tích.

Về sau, Sư xuất gia tại quận Văn Thành. Nay là bình nguyên Cao Bình ở phía Đông Nam Từ Châu, tức là nơi Sư đã sinh ra. Thấy có miếu tượng, Nhung Hạ lễ kính đặt để ở trong chùa, trị hạ an dân. Sư từng đến xứ Ngô Việt. Đầy đủ như ở truyện trước. Đến niên hiệu Đại Diên thứ nhất (435) dưới thời Vua Thái Võ Đế (Thác Bạt Đào) nhà Nguyên Ngụy, lưu hóa sắp xong, tiện việc Sư về lại phương Tây. Vừa đến hang vọng ngự ở phía Đông bắc quận Phiên Hòa thuộc Lương Châu, từ xa kính lễ. Mọi người không ai hiểu, bèn hỏi lý do. Sư bảo: “Ở sườn núi này sẽ có Tôn tượng xuất hiện, nếu như linh tướng tròn đầy thì đời an vui, thường hưng thạnh, nếu như tôn tượng bị thiếu khuyết thì trong đời loạn lạc, dân chúng cực khổ”. Sư đi đén huyện Tửu Tuyền thuộc Túc Châu, cách phía tây Thành chừng bảy dặm thì thị tịch trong khe đá, xương cốt Sư đều nát như qùy tử lớn có thể xuyên qua. Nay trong ngôi chùa cổ ở phía Tây Thành đắp hóa tôn tượng Sư ở phía trên. Tại chùa đó có văn bia ghi rằng: “Tôi chẳng phải là Đại Thánh, chỉ du hóa lấy làm việc chánh” văn chẳng đầy đủ.

Sau đó tám mươi bảy năm, tức đến đầu niên hiệu Chánh Quang

(520) thời Nguyên Ngụy, bỗng nhiên trời nổi cơn mưa gió lớn, sấm sét đánh làm nứt ngọn núi, xuất hiện một pho tượng bằng đá, cả thân cao trượng tám, hình tướng trang nghiêm, chỉ không có phần đầu, mọi người bèn chọn đá, bảo thợ chạm trổ thành một cái đầu riêng để gắn lên, xong rồi phần đầu ấy lại rơi xuống, nhân đó bèn để mặc như thế, đến lúc ngụy đạo lấn lướt, lời nói trước kia của Sư thật ứng nghiệm. Đến những năm đầu thời nhà Chu, ở phía Đông thành thuộc Lương Châu, cách chừng bảy dặm, trong khe suối tự nhiên có ánh sáng hiện, soi chiếu thấu u hiển, người trông thấy lấy làm lạ bèn đến xem kỹ, thì thấy đó là phần đầu của pho tượng, bèn đón rước về tôn trí trong hang núi, uyển nhiên phù hợp, nghi dung điều quyết. Hơn bốn mươi năm Thân Đầu nằm hai chỗ khác nhau cách xa hơn hai trăm dặm. Tướng tốt của pho tượng hoàn bị, thái bình có được ngay thời bấy giờ. Đến niên hiệu Bảo Định thứ nhất (561) thời Bắc Chu, đặt tên chùa là “Thụy Tượng”, mới có ánh sáng soi chiếu, tiếng chuông vang vọng nối nhau không dứt đoạn. Chẳng lường biết được nguyên do. Đến đầu niên hiệu Kiến Đức (572) thời Bắc Chu, phần đầu tôn tượng bị rơi nhiều lần, Đại Trủng Tể và Tề Vương đích thân đến đó xem, bèn bảo người tôn trí lên lại, đêm đến cũng vẫn rơi như cũ, trải qua đến mấy mươi lần như thế, lại dùng vật khác làm phần đầu để thay thế, cuối cùng cũng vẫn rơi xuống đất. Sau đó, nhà Bắc Chu phá diệt Phật pháp, chỉ được bốn năm mà các nước lân cận đều bị diệt mất. các hàng thức giả xét xem mới biết trước có soi xét, tuy gặp mọi sự phá hoại mà đặc biệt tôn tượng vẫn hiện còn. Đến đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, kinh tượng lại được mở mang, trang sức tôn nghi, càng mở cao chùa Viện. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (610) đời Tùy, Vua Dương Đế (Dương Quảng) đích thân đến đó kính lễ, cúng thí rất nồng hậu, lại tăng thêm sự rực rỡ. Nhân đó, vua đổi biển ngạch cũ, đề lại là chùa “Cảm Thông”. Nên nay mô tả về truyền hình thì lượng thật chẳng lường biết, chỉ cao khoảng trượng tám, nhưng khi đến đo đạc thì hoàn toàn khác, khiến cho đức tin phát khởi ngày càng thêm mới.

Khoảng đầu niên hiệu Trinh Quán (627) thời Tiền Đường. Tôi (Đạo Tuyên) vân du ngoài quan ải, nên đến bái kiến Bổn miếu thờ Sư, thấy đồ tượng trang nghiêm, hằng ngày thêm lớn mạnh sự kính ngưỡng. Từ Thạch Thấp Từ Đan cho đến các Châu như Oai Lam v.v… đều đồ tả hình tượng ấy, đem về tôn trí cúng dường, tôn xưng hiệu là “Lưu Sư Phật”. Nhân đó răn bảo thay đổi Hồ tánh, mọi người vâng hành giới luật rất đông, thấy có văn bia nơi tôn tượng do Diêu Đạo An chế tác.

4. Truyện ngài Thích Đạo Thái ở Tinh Xá Hành Đường:

Thích Đạo Thái, là người sống vào cuối thời Nguyên Ngụy, trụ tại tinh xá Hành Đường ở Thường Sơn. Sư mộng thấy có người bảo với Sư rằng: “Đến năm (…) đó, ông sẽ mạng chung vào lúc bốn mươi hai tuổi!”. Trong tâm Sư rất nhàm chán. Đến năm đúng kỳ hạn, Sư bị bệnh rất nặng, vô cùng lo buồn, đều đem tất cả mọi vật vốn có của thân ra để làm phước. Có người bạn bảo Sư rằng: “Tôi nghe trong kinh nói cúng dường sáu mươi hai ức vị Bồ-tát ngang bằng với một xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, sao bạn chẳng dốc lòng quy y, sẽ được tăng thêm phước thọ.” Sư bèn cảm ngộ, bèn suốt trong bốn ngày bốn đêm chuyên tinh xưng niệm không dứt. Phía dưới tấm màn chỗ Sư ngồi bỗng nhiên thấy có ánh sáng từ phía ngoài cửa chiếu vào, thấy khoảng giữa mắt cá và mu bàn chân của Bồ-tát Quán Thế Âm có ánh sáng mầu vàng ròng soi chiếu, bảo với Sư rằng: “Ông xưng niệm danh hiệu Bồtát Quán Thế Âm ư?” khiến Sư vén màn lên xem, thì không còn thấy, Sư vừa vui vừa buồn đến nỗi đổ mồ hôi, liền cảm thấy nhẹ nhàng, cơn bệnh liền lành hẳn. Đến năm bốn mươi bốn tuổi, Sư bèn nói việc ấy với người đồng ý hướng. Sau, Sư thị tịch lúc năm mươi tuổi.

Lại có một vị Sa-môn khác, nhân duyên cũng giống như Sư, nên ở đây chẳng ghi.

5. Truyện ngài Thích Tăng Dung trụ chùa Đông Lâm:

Thích Tăng Dung, là người sống vào đầu thời Nam Lương. Sư trụ chùa Đông Lâm tại Cửu Giang. Dốc chí trầm lắng sâu rộng, lấy sự du hóa làm việc chính. Sư từng khuyên hóa một gia đình nọ ở tại Giang Lăng thọ trì quy giới, kính thờ Phật pháp làm chánh nghiệp. Nhà đó trước kia vốn có miếu thờ thần, nhưng chẳng còn thờ nữa, mọi vật đều đem cấp thí, Sư bèn lấy đem về chùa để làm việc phước. Sau đó bảy ngày, mẹ của chủ nhà thấy một con quỷ cầm sợi dây màu đỏ muốn trói Bà, Bà rất kinh sợ bèn bảo thỉnh chư tăng tụng kinh hành Đạo. quỷ lấy làm lạ bèn thôi. Sau đó, Sư trở về Lô Sơn, riêng trong đêm nghỉ lại quán trọ, khi đó trời mưa tuyết, trong đêm mới vừa ngủ, Sư thấy một đoàn binh lính loài quỷ số lượng rất đông, trong đó có loài quỷ tướng thân mặc áo giáp tay cắp mủi nhận, hình tướng cao lớn, có mang theo chiếc giường người Hồ, bèn đến trước mặt Sư ngồi xoạc xuống, đanh sắc mặt, cất tiếng bảo rằng: “Vì sao ông cho là Quỷ thần không linh?” và liền kéo Sư xuống đất, các lính quỷ sắp ra tay làm hại, Sư nín lặng xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, lời tiếng chưa dứt thì thấy ở phía sau chiếc giường có một vị thiên tướng thân hình cao hơn một trượng, thân mặc khố da mầu vàng, tay cầm chày Kim Cương đứng đợi. Đoàn Quỷ bèn kinh hãi chay tan, các thứ áo giáp mũ trụ vỡ nát như bụi.

Ở tại Giang Lăng Sư từn khuyên hóa hai vợ chồng nhà nọ đều thọ trì năm giới, sau hai người ấy bị bọn giặc cướp bắt dẫn đi, người chồng bèn chạy thoát, còn người vợ bị trói giam vào ngục. Đang trên đường đi người chồng gặp Sư ở vệ đường, cầu xin cứu giúp. Sư bảo chỉ nên dốc lòng xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, không còn tin theo Đạo nào khác”. Người vợ ấy sau khi đã bị nhốt vào ngục, bèn xưng niện không dứt. Nhân đó mộng thấy một vị Sa-môn đứng trước mặt, giậm chân bảo đi, bỗng cảm thấy thân mình xuyên suốt ba cây gỗ, tự nhiên được mở thoát, nhưng thấy cửa còn đóng, lính canh cửa có nhiều lớp đang trông giữ, nghĩ không cách gì thoát khỏi, bèn ngủ trở lại, bỗng mộng thấy vị tăng trước đó đến bảo rằng: “Sao chẳng sớm thoát ra, cửa sẽ tự mở”. Đã nghe thế rồi liền tỉnh dậy, các lớp cửa đều mở suốt, liền vượt khỏi chỗ mà chạy ra, đi theo hướng Đông nam được vài dặm, gặp được người dân trong xóm, bấy giờ trời đang còn mờ tối. Người chồng trước kia chạy trốn, ban đêm thì đi, ban ngày ẩn núp, hai người bỗng nhiên gặp nhau đều rất kinh hãi, giữa khoảng lao sậy xét hỏi, người vợ mới biết đó là chồng mình. Hai người bèn cùng nhau trốn theo khách buôn đi xa, cuối cùng được thoát nạn.

6. Truyện ngài Thích Pháp Lực ở quận Mạc Lỗ.

Thích Pháp Lực, không rõ Sư là người xứ nào. Sư là người tinh tấn, rất có chí đức, muốn ở tại quận Lỗ xây dựng tinh xá, mà tài vật không có đủ, bèn cùng Sa-di Minh Sâm đến Thượng Cốc, quyên góp suốt một năm, chuẩn bị về lại chùa, đang đi đến trong đầm trống, bỗng nhiên gặp phải lửa đồng, xe đi dưới gió, nên không cách gì thoát được, khi ấy Sư đang mỏi mệt thiếp ngủ, bỗng nhiên tỉnh giấc mà thế lửa đã kịp đến nơi, nhân đó Sư cất tiếng xưng niệm chữ “Quán”, chưa kịp đến hai chữ “Thế Âm”, thì ứng theo tiếng, gió liền chuyển hướng, lửa dữ liền tắt, Sư được an ổn trở về.

Lại có Sa-môn Pháp Trí, Sư vốn là Bạch y (cư sĩ) đi một mình giữa đầm lớn, lửa dữ bốn phía đồng một lúc cháy lên, Sư tự biết phải chết, mới úp mặt xuống đất xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Sư lấy làm lạ không bị lửa thiêu đốt, bèn ngẩn mặt lên nhìn thì cây cỏ nơi đầm không còn lại một mảy may, chỉ tại chỗ Sư núp in dấu thân hình Sư. Nhân cảm ngộ ấy mà Sư bèn xuất gia hành đạo, tinh tấn mạnh mẽ, mọi việc luôn dẫn trước chúng.

Lại có Sa-môn Đạo Tập đến núi Tây Sơn ở Thọ Dương, bị bọn cướp bắt trói vào thân cây, sắp giết hại Sư. Sư chỉ xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm để chết mà thôi, giặc cướp đưa dao chặt đều không thương tổn, tự kinh sợ mà bỏ chạy. Sư nhờ đó được thoát khỏi, lưu truyền rộng việc ấy.

Lại có các Sa-môn Pháp Thiền, v.v… đang đi giữa núi, gặp bọn cướp, các ngài chỉ xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Bọn cướp kéo cung tên muốn bắn nhưng thả tên không được. Bọn cướp lại quy hướng kính thành, ném bỏ cung tên dưới đất, cũng không được, biết là thần nhân, bèn bỏ chạy trốn. Các Ngài nhân đó được thoát khỏi. Các ngài trong câu truyện trên đây đều là người ở cuối thời Nguyên Ngụy, riêng có bộ “Quán Âm cảm ứng truyện”, văn sự bao gồm đầy đủ, nên ở đây không ghi đủ.

7. Truyện ngài Thích Thực Tướng ở chùa Thanh Thành:

Thích Thực Tướng, họ Hác, người ở xứ sông Phù thuộc Tử Đồng, từng nhậm chức Quận lại ở Ba Tây. Thái thú Trịnh Trinh bảo Sư mang các lễ vật hiến cúng xuống Dương Đô. Sư thấy Vua Võ Đế (Tiêu Diễn 502-550) thời Nam Lương cùng các Vương Công tôn kính Tam Bảo, bèn phát nguyện muốn xuất gia. Đến lúc về lại Thượng Thục, giã biệt gia thuộc, và vợ con Sư đã cùng chí nguyện như Sư, nên đồng một lúc cạo tóc.

Sau khi đã xuất gia, vào niên hiệu Đại Đồng (538-546) thời Nam Lương, Sư chuyên tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, thường ngồi giữ chánh tâm suy nghĩ niệm Phật lý, lấy mạng sống làm kỳ hạn. Bấy giờ ở quận Nam Võ, nay tức là huyện Hiếu Thủy, có Đạo nhân Pháp Ái là người có đạo thuật cao huyền, Sư bèn đến đó xem. Đang trong đêm, ngài Pháp Ái dùng năng lực của thần chú hiện ra một thần to lớn, thân mặc áo mão dung tướng kỳ vĩ, đến nâng giường dây cách đất bốn –năm thước, Sư bèn đọc tụng giới bổn. Thần liền bỏ đi. Giây lát thần lại đến đứng trước mặt ngài. Ngài vẫn giữ chánh ý tinh bạch như mới đầu không chút lay động. Sau đó, Thần lại bỏ đi. Ở nơi đầu góc phòng nhà, thần hiện ra khuôn mặt, đánh phá xé trần nhà, tiếng động rất lớn, Sư vẫn không khiếp sợ. Thần thấy Sư không lay động bèn đến lễ bái cầu xin sám hối. Đến sáng sớm, Sư bảo với ngài Pháp Ai rằng: “Điều quý trọng của ông, đó là tà thuật, chẳng phải là Chánh Pháp, ông nên xả bỏ.”

Sau, Sư đến Ích Châu nghe giảng pháp. Vì Sư sinh ở chốn Biên Bỉ, nói năng quê mùa, tuy bị khinh thường, mà không nhớ nghĩ, chỉ hướng về Đạo. Lại nhân trên đường đi, Sư vào nghỉ qua đêm tại Đạo quán. Có Đạo sĩ vốn biết tên tuổi Sư, sợ Sư giáo hoá đồ chúng quyến thuộc của mình nên chống thuận với Sư. Đêm đó, có đàn hổ đi nhiễu quanh viện cùng nhau gầm rống. Các Đạo sĩ v.v… suốt đêm chẳng an. Đến sáng bèn đi tìm, và đều theo Sư xin thọ giới Bồ-tát.

Sư lại từng đến xứ Hoằng Nông, bên cạnh bờ sông, thấy có người buông cần câu cá. Sư khuyên bỏ việc đó, người ấy không nghe lời. Sư liền nhổ nước miếng xuống dòng nước, bỗng nhiên có một con rắn lớn ngóc đầu lên xoay nhìn bốn phía rồi bơi thẳng đến người ấy. Người ấy nhân đó liền quy mạng theo Sư xin xuất gia.

Bấy giờ, gặp lúc thời vận nhà Lương dần suy, và tại đất sông Phù quân lính dấy động. Sư cùng Pháp sư Triện phân phi khác vực. Pháp Sư Trien vào núi Tĩnh Lâm. Còn Sư vào núi Thanh Thành, nhóm kết đồ chúng. Vương Tiêu Huy đời Lương vốn kính trọng Sư, cung cấp cho dân lão để làm doanh lý. Sư chưa đến đó thì đã bị bệnh nặng, biết mạng không thể cứu, nên Sư bảo đệ tử rằng: “Tôi thường nguyện sinh về cõi Tịnh độ, mà không có hạnh nghiệp gì cao quý. Tuy chẳng đọa vào ba đường xấu ác, mà cũng không sinh lên cõi trời. Tôi sẽ sinh trở lại nơi đất sông Phù này để làm Sa-môn. Các ông phải cố gắng hành Đạo mới có thể gặp được tôi!”. Nói xong, Sư ngồi kiết già nghiễm nhiên thị tịch. Lúc đó Sư mới bốn mươi bốn tuổi. Ở bốn phía núi ấy toàn giống dân Lão, thấy Sư ngồi mà thị tịch thảy đều kéo nhau đến khen ngợi việc lạ, lễ bái cúng dường, sửa đổi tập tục mà làm việc lành. Các đệ tử Sư vâng theo Di mạng, bèn đón rước nhục thân Sư tôn trí lộ bày dưới gốc thông.

Xưa kia, mới đầu Sư đặt chân đến Miên châu, trụ chùa Bách Lâm ở phía Tây thành. Phòng viện xây dựng hoàn bị, ngay đầu căn phòng có trồng một cây ngô đồng rất tươi tốt. Bỗng nhiên đến ngày mười lăm tháng tư, vô cớ lá bị rụng hết. Thêm nữa, sáng hôm đó, vị Duy-ma đánh chuông, mới đầu chuông cũng không phát ra tiếng. Mọi người lớn nhỏ đều sinh nghi lấy làm lạ chẳng hiểu nguyên do thế nào. Thượng tọa Tăng Siêu bảo là sẽ có biến động lớn, bèn chống tích trượng mà trốn lánh, chốc lát sau, có tin đưa đến báo là Sư đã thị tịch. Cây khô, chuông câm là tượng trưng cho ngày Sư thị tịch. Chùa Bách Lâm ấy cách núi Thanh Thành hơn bốn trăm dặm mà thầm có cảm vận, hẳn chẳng phải là mưu của con người.

Ở đầu thời Nam Lương, lại có các Sa-môn Đạo Hương, Tăng Lãnh đều là những vị có năng lực thần dị, vết tích hơi giống nhau, cùng loại với Hoà-thượng Chí Công.

8. Truyện ngài Thích Tăng Lâm ở Đồng Châu:

Thích Tăng Lâm, là ngài người đất Ngô, rất có đức trong trắng, mọi hành vi thường cảm động đến vật tình.

Vào niên hiệu Đại Đồng (535-546) thời Nam Lương, Sư lên đất Thục, đến Đồng Châu. Ở phía Tây bắc thành cách một trăm bốn mươi dặm có núi Đậu Thùy, trên núi có đền thờ thần, dân chúng tại vùng ấy rất kính trọng, thường đến cúng tế bái yết. Sư đến ở đó, thiền quán im lặng trải qua nhiều ngày, bỗng có một con trăn lớn đến quấn nằm trước giường, ngẩn đầu như kính vái hộ trì vậy. Sư truyền pháp Tam quy cho nó, trăm lãnh thọ quy giới rồi bèn bỏ đi. Nhân đó mà được bình an, không hề có ương họa gì. Phía Bắc núi đó là thuộc phía nam sông Phù, từ trước đến nay vốn không có loài vượn sinh sống, từ khi Sư đến ở thì tự nhiên có hai con vượn đến nương tựa Sư mà ở. Có người mới đầu trông thấy cho là chúng lội qua sông mà đến. Sau này, Sư ra cửa núi, vượn xoay ngược dòng nước mà bơi đi, như thế chẳng phải một lần. Vì trải qua năm tháng lâu dài nên vượn sinh sản đến mấy mươi con. Có lúc vượn đưa Sư đến cửa Long Môn, đứng đợi Sư trở về. Về sau, Sư đến ở trong chùa xưa nơi hang Xích Thủy, ở đó các phòng đều đổ nát chỉ còn có tòng lâm, Sư liền ngồi ngoài chỗ trống, có một con hổ đến ngồi trước mặt Sư, đưa mắt nhìn. Sư bèn nói Pháp cho nó nghe, giây lâu hổ bèn bỏ đi. Từ đó về sau một mình Sư đi khắp nơi, mạnh dạn không lánh né các loài thú dữ. Sư thường thực hành nhân từ cứu giúp nên cảm hóa rất nhiều.

Về sau, Sư thị tịch tại Đồng Châu.

9. Truyện ngài Thích Tuệ Giản ở Kinh Châu:

Thích Tuệ Giản, không rõ Sư là người xứ nào. Sư hành đạo ở đầu thời Nam Lương. Giới nghiệp Sư rộng thoáng cao vợi, có điểm đặc biệt là mạnh dạn cấp giúp. Phía đông Sảnh sự ở Kinh Châu, trước kia có ba gian riêng lập trai hội, do đó thường có nhiều việc quỷ quái. Bấy giờ, Vương Kiến Võ đến sửa trị, như không một ai ở đựơc, chỉ mình Sư là bậc thầy của các Vương quân chuyên nhậm ở đó. Sư tự ở một gian phòng, còn lại hai gian Sư tôn trí kính tượng. Bỗng nhiên thấy có một người mặc áo đen không có mắt từ trong vách tường đi ra, đúng tựa vào cửa phòng của Sư. Khi đó, mắt Sư mở, tâm biết rõ nhưng miệng không nói được, trong ý vẫn xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, giây lâu, quỷ bảo rằng: “Vì nghe ông tinh tấn nên đến thử xem, nay thần sắc ông bất động, chẳng lẽ ta lại bức hại ông sao?” Quỷ trở vào trong vách tường, Sư từ từ đứng dậy tắm rửa súc miệng, lễ tụng xong trở lại ngủ yên như thường. trong giấc ngủ ngài mộng thấy người trước đó lại bảo rằng: “Kẻ hèn này ở đây từ cuối thời nhà Hán đã qua mấy trăm năm, vì tánh tình cứng rắn ngay thẳng nên có lắm sự chẳng kham. Ông là người tịnh hạnh tốt lành, tướng mạo đặc biệt”. từ đó bèn dứt bặt. Sư ở tại đó nhiều năm vẫn an ổn như mới lúc đầu. Nếu Sư đến nơi khác, thì không có người nào có thể ở đó được.

10. Truyện ngài Thích Tăng Lãng ở Lương Châu:

Thích Tăng Lãng, là người xứ Lương Châu. Khi quân Lỗ nhà Ngụy đánh chiếm Lương Châu. Tại thành đó, dân chúng vốn thiếu, nên bức bách Đạo nhân sung vào quân đội, bày xếp riêng gần đó, đến lúc định án của xe đánh thành phá trận. Cả thành ấy đều bị vùi lấp, bắt lên thành có ba ngàn vị tăng, đến chỗ Quân tướng Ngụy chúa bảo rằng: “Đạo nhân đáng lẽ phải ngồi thiền hành đạo, mà lại làm giặc, rất đáng giết chết, sáng mai hãy chém đầu tất cả”. Đến kỳ hạn lúc giờ ăn, bỗng nhiên có hơi khí mầu đỏ dày đến mấy trượng xuyên suốt qua mặt trời mà chiếu thẳng đến. Thiên sư Khấu Khiêm Chi là người rất được vua tin trọng, tấu trình rằng: “Trên đời ban giáng điềm lạ, chánh vì Đạo nhân thật chẳng có bổn tâm muốn làm giặc, xin chẳng cần phải giết”. Em của Vua là Xích Thụ Vương cũng đồng can ngăn. Vua bèn ban sắc đình chỉ việc giết hại đó, xem như tù binh nên đánh bằng gậy rồi giải tán, bắt làm những việc nặng nhọc. Chỉ có vài vị tăng như Sư, v.v… riêng giao phó trướng hạ. Đến lúc Quân lính nhà Ngụy trở về phương Đông, Sư cùng bạn đồng học đang đi đường thì cùng nhau làm phản, trận phòng nghiêm bày lại không chỗ chạy, hai phía đông tây chẳng có tường vách, không thể lường biết là sâu hay cạn. Phía trên có cây Đại thọ bên cạnh rủ nhánh sát sườn núi, Sư bèn dùng dây buộc cán trống cờ để buộc vào thòng xuống, khi ấy trời tối mịt, dưới đáy sườn núi toàn gai góc, không chỗ đặt chân. Sư muốn trở lên trên đầu bờ lại sợ quân lính phát hiện, đang lúc tính kế bàng hoàng nắm lấy dây treo đứng, thế chẳng thể giữ lâu, bèn nói với nhau rằng: “Nay nguy ách đã đến, chỉ nên xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm!” liền đưa đầu gõ vào đá, nhất tâm chuyên chú xưng niệm. Chỉ phút chốc có ánh sáng chiếu ra từ chỗ mặt trời mọc soi khắp đất trời, mới thấy trong khoảng gai gốc có chỗ xuống được, nhân đó theo ánh sáng xuống được tới đất, bỗng nhiên trở lại tối tăm, Sư biết đó là nhờ sức thần, cùng nhau vui mừng cảm ngộ, bèn thiếp ngủ yên, giây lâu mới sáng, nghe đoàn quân lính cảnh giác sắp khởi hành. Và núi hang nhiều lớp, chẳng biết đường ra, chỉ ngẩng nhìn mặt trời mà đi, gặp một con hổ lớn xuất hiện đứng trước mặt, mọi người bảo nhau: “Tuy thoát khỏi nạn tù binh, lại rơi vào miệng cọp”. Sư bảo: “Không như lời các người nói, Chánh vì chúng ta có cảm do đó mà hiện tỏa ánh sáng. Nay gặp được hổ đây há chẳng là bậc Thánh chỉ đường ư?” Khi đó hai người đi về phía hổ, hổ liền bước đi trước, nếu Sư nhỏ đi chậm, hổ cũng tạm dừng lại, đến sáng được ra đường, thì hổ biến mất chẳng biết nơi nào. Bèn men theo đường đi thẳng đến trước. Bảy ngày sau thì đến ao Vu Cừu, lại đến Lương Hán, ra tới Kinh Châu. Không biết về sau, Sư thị tịch ở đâu.

11. Truyện ngài Thích Tăng ý ở chùa Lãng Công Cốc:

Thích Tăng Ý, không biết Sư là người xứ nào. Sư là người trinh thuần xác thực rất có năng lực tư duy. Mỗi lúc Sư lên pháp tòa giảng dạy thì liền có hoa trời tuôn rải xuống tòa.

Trong thời Nguyên Ngụy, Sư trụ tại chùa Lãng Công Cốc, nhóm chúng giảng dạy, đến lúc tuổi già, Sư vẫn tinh tấn không hề mệt nhọc. Tại chùa đó có pho tượng nước Cao-ly, Tượng Tướng Quốc, Tượng Hồ Quốc, Tượng Nữ Quốc, Tượng Ngô Quốc, Tượng Côn Lôn, Tượng Đại Kinh, bảy tôn tượng ấy đều bằng đồng mạ vàng, đều tôn trí ở chùa và giảng đường, cửa giảng đường thường mở mà chim thú không dám bước vào, đến nay vẫn còn như vậy. Nên Tượng ngài Linh Dụ có lời khen ngợi rằng: “Ứng cảm mà đến, thật không chỉ thuộc, há thần thông ngầm hiển bày và sự bàn luận lý cách tầm thường ư?” Sư kính thờ pháp, tự nuôi dưỡng, đích thân cúng dường. Trước đêm Sư sắp tịch, có một vị Sa-di qua đời trước đã lâu hiện hình đến lễ bái mà thưa rằng: “Từ lúc trái ngược vâng thờ đến nay, con thường bị Thiên đế sai sử, ngừng nghỉ vội vàng không rảnh rỗi, nên phế bỏ tu hành Đạo nghiệp, không bao lâu nữa Vua trời sẽ thỉnh thầy đến giảng kinh. Xin thầy nhân đó mà nói một lời để con được khỏi hình khổ!” Sư bèn tắm gội, đốt hương, ngồi thẳng nơi phòng thất tĩnh lặng chờ đợi thời gian đến. Đến đúng kỳ hạn, quả nhiên có vị trời đến chùa và vào phòng Sư, áo mão vũ tùng rực rỡ đặc biệt. Chúng tăng lúc mới trông thấy chỉ cho là người sang trọng trong đời vào núi tham quan bái yết, nên chẳng lấy làm lạ, và trong ngày đó tự nhiên không bệnh mà Sư thị tịch, mới biết là Linh cảm. Đô Giảng của Sư ở tại Duyên Châu, ngoài ra hương hỏa bối nặc ban rãi nơi các ấp khác. Sau thử xem xét thì đều qua đời cùng ngày.

Có thuyết nói rằng: “Sa-môn Tăng Ý, Chí Trạm là đồng bạn với Lãng Công”. Ở truyện trước ghi chép có thiếu sót, nên ở đây ghi chép lại, ngài Chí Trạm đã chứng đắc Sơ Quả, thấp thờ ngài vẫn hiện còn ở bên cạnh chùa Linh Nham ở Thái Sơn, thấy chép ở Biệt truyện.

12. Truyện ngài Thích Tăng Chiếu trụ chùa Đan Lãnh ở Thái Sơn.

Thích Tăng Chiếu, không rõ Sư họ gì. Sư trụ chùa Đan Lãnh ở Thái Sơn. Tánh tình rỗng rang phóng khoáng, ưa thích tìm kiếm vật lạ, mỗi lúc nghe đến các linh tích lạ lùng, thì không nơi nào Sư chẳng tới.

Nhân phía dưới ghềnh nước có nhiều hang động, là nơi tiên thánh thường dừng ở, nên vào niên hiệu Phổ Thái (531) thời Nguyên Ngụy, Sư đi đến Vinh Sơn, thấy dưới dòng chảy có hang, Sư men theo hang mà vào. Đi được chừng năm-sáu dặm bèn ra khỏi hang, Sư lại đuổi theo đường tắt nhỏ hẹp về hướng Đông bắc leo lên được mấy dặm, gặp một tảng đá lớn rộng chừng vài ba bộ. Có dòng nước từ phía Tây chảy về trong suốt, mang cỏ thuốc lớn trải dài rủ xuống đất. Phía bắc tảng đá lớn có ngôi nhà bằng gạch ba cửa hình dáng rất cổ xưa xấu xí, trước sân bông lúa tung hoành, chim sẻ ăn thức ăn thừa, ở đầu phía đông ngôi nhà có vài cái giá túi vàng, khoảng giữa có hai cái cối sắt cũng có chày giã đều dính bụi bám và đều không có dấu vết nấu thổi. Trong đầu phía Tây ngôi nhà có một vị Sa-môn ngồi thẳng an nhiên bụi bay phủ lấp đến gối. Trông nhìn bốn phía chỉ thấy cây rừng tươi tốt, khe suối chảy dài, lại chẳng có người ở. Chỉ phút chốc Sư gặp một vị thần tăng khoảng sáu mươi tuổi, lông mày dài hơn cả trượng cuộn quanh máng trên lỗ tai, cùng trông thấy vui mừng như gặp người quen cũ. Sư hỏi vị thần tăng ấy từ đâu đến? Vị ấy đáp: “Tôi cùng Bạn đồng học tất cả ba người đến đây để lánh đời, một người hiện ra phía ngoài chưa trở lại, một người chết đến nay đã lâu lắm rồi mà dường như Nhập diệt định, nay đang ở phía Tây trong ngôi nhà, ông thấy chăng? Ngày nay giòng họ nào là chính?” Sư đáp: “Nhà Ngụy”. Vị Tăng ấy bảo: “Nhà Ngụy hưởng vận nước nhà đã lâu, có phải chẳng là họ Tào ư?” Sư nói: “Họ Nguyên) Vị tăng ấy bảo: “Tôi không biết!” Bèn lấy bông lúa giã nhuyễn nấu cháo. Lại đi vào rừng, lấy các thứ trái lê táo trao cho Sư và bảo ăn, Vị Tăng ấy nói: “Ông hãy ăn đi, Tôi không ăn loại ấy”. Lại hỏi Sư “ Ông thường tụng kinh gì?” Sư đáp: “Tụng Kinh Pháp Hoa”. Vị tăng ấy gật đầu bảo rằng: “Lành thay hạnh nghiệp tinh tấn! Nay ở phía Đông trong nhà như có kinh ấy, đồng thời tự đọc tụng. Ông muốn nghe chăng?” Sư chắp tay nói: “Xin được nghe!”. Vị Tăng ấy bèn phân vạch ra riêng tụng đọc, hơi tiếng rõ ràng thấu suốt, cho đến gần suốt đêm, Sư mệt ngủ thiếp đi. Vị tăng ấy bảo: “Ông cần nên ngủ, đây là hạnh nghiệp thường hằng của tôi, đến sáng vẫn chưa buồn ngủ.” Sau đó, lại làm các thứ thức ăn, Sư bèn cảm tạ rằng: “Hân hạnh được được kính phụng bái yết, nay tạm trở về, mong sau này sẽ được tiếp việc!”. Vị tăng ấy cũng không lưu giữ Sư lại, chỉ nói rằng: “Bạn đồng học của tôi đã đi vắng, nếu ông có gặp thì sẽ được khai ngộ lớn. Chỉ tiếc không được trông thấy! Đã nói phải trở về là tốt”. Sư bèn tìm men theo đường trở về nước. Sau đó, Sư nhóm kết đồng bạn cùng đến, nhưng ghềnh nước và hang huyệt ấy không lường biết được là ở nơi nào!

Nay các núi ở Chung Nam cũng có việc ấy, đã lắm sự liên quan, không gì chẳng hợp lý.

13. Truyện ngài Thích Đạo Phong trụ chùa Cổ Sơn ở Tương Châu:

Thích Đạo Phong, không rõ Sư họ gì. Ở đời tôn xưng Sư là người Đắc Đạo. Sư cùng ba vị đệ tử trong chùa Cổ Sơn ở Tương Châu, chẳng mong cầu lợi dưỡng. Hoặc bảo là: “Luyện đan vàng trắng, thuốc trị chiêm tướng”. Với các nghệ thuật trong đời không thứ gì Sư chẳng thấu hiểu. Vua Tề qua lại nơi Tinh nghiệp, thường sang hỏi thăm Sư, Sư ứng đối chẳng cần phải suy nghĩ, tuỳ việc nêu bày. Vua từng bảo người đem rượu và thịt chưng đến để trước mặt Sư và mời Sư ăn uống. Sư liền không từ chối, dốc ý ăn uống no nê. Vua cười lớn hả hê, nhưng chẳng nói năng gì. Sau khi xe giá Vua đi rồi, Sư bảo đệ tử rằng: “Hãy đem vất bỏ ở đầu giường”. Đến lúc mở vật ấy ra thì thấy thịt chưng hồi nãy vẫn còn, đều chẳng bị ăn nhắm.

Bấy giờ, tại chùa Thạch Quật có một vị tăng ngồi thiền, mỗi ngày đến phía Tây thì nhìn về đảnh núi phía Đông thấy có hiện tôn tượng vàng ròng cao trượng tám. Vị tăng ấy vui mừng cho là thấy được điềm lành. Ngày ngày cứ lễ bái như thế trải qua khoảng vài tháng. Sau đó tại nơi phòng nằm nghỉ, bỗng nghe ở gối có tiếng bảo rằng: “Trong nước lại ở xứ nào có Phật, nay ông đã thành đạo, tức là Phật! Ông phải khéo làm thân Phật, chớ tự xem thường.” Vị tăng ấy nghe rồi liền khởi gìn giữ nặng nề, trông xem chư Tăng bên cạnh như cỏ rác, bèn ở trước đại chúng chỉ tay vào ngực mình bảo rằng: “Bọn các ông có biết được Phật thật chăng? Tượng họa nơi khám bùn lời nói chẳng thể phát ra từ môi, trí suy nghĩ thế nào? Các ông thấy Phật thật mà chẳng biết kính lễ, sẽ đoạ vào địa ngục A-tỳ”. Lại nơi tròng mắt đỏ ngầu, kêu réo khác thường, chư tăng cả chùa biết đó là Kinh Thiền. Và trước lúc chưa phát khiêng đến chỗ ngài (Đạo Phong). Vừa đến, ngài liền hỏi rằng: “Hai tháng trở lại đây ông thường thấy trên núi phía Đông có hiện tướng pho tượng bằng vàng ròng phải không?” Vị tăng ấy đáp: “Thật có thấy”. Ngài lại hỏi: “Ông có nghe nơi gối có tiếng bảo thành Phật chăng? Vị Tăng ấy đáp: “Thật có”. Sư bảo: “Đó là gió động mất tâm, nếu chẳng sớm chữa trị, hoặc sẽ bị cuồng loạn khởi, khó có thể ngăn được”. Ngài bèn lấy kim châm vào ba nơi. Nhờ đó mà chẳng phát loạn.

Đến lúc sắp thị tịch, Sư bảo với đệ tử rằng: “Ta ở núi nầy đã lâu, khiến các ông phải khổ nhọc gánh nước nơi hang động. Nay ra đi không có gì lưu lại, chỉ để lại cho các ông một dòng suối. Đã khỏi phải leo trèo lên xuống khổ nhọc, các ông nên phải gắng sức siêng tu Đạo nghiệp!” Nói xong Sư đưa tay búng ra một viên đá vuông bên cạnh khám, bèn có dòng suối huyền lắng óng sánh chẳng đầy chẳng vơi, đến nay vẫn hiện còn.

14. Truyện ngài Thích Viên Thông trụ chùa Đại Trang Nghiêm:

Thích Viên Thông, không rõ Sư họ gì. Ngài xuất gia từ thuở thiếu thời, có lòng thương và sự hiểu biết sâu rộng, rất nẩi tiếng ôn hoà thông minh. Sư trụ chùa Đại Trang nghiêm ở Nghiệp Đô, nghiên cứu đọc tụng kinh Niết-bàn, xét tra rõ ràng văn từ yếu chỉ.

Niên hiệu Võ Bình thứ tư (573) thời Bắc Tề, đang trong mùa Hạ, dưới giảng tòa có một vị khách tăng hình tướng ăn mặc sơ sài mà tiết tháo hoà nhã, vì bị bệnh nên đến các chùa, chư tăng thấy sự bệnh hoạn, thoảng mùi hôi hám nên đều nhàm chán không ai dám giữ lại. Sư xét thấy thức lượng của vị tăng ấy rộng xa, khí độ sâu sắc khác thường, bèn mời ở trong phòng mình. Tuy có sự dơ bẩn, nhưng ngay từ đầu, Sư không hề xem thường lo sợ. Ngày một chứa nhóm tình thật, mở mang ý lượng đó. Sư hỏi vị tăng ấy về sở học thế nào. Vị tăng ấy đáp: “Tu học Kinh Niết-bàn”. Sư bèn đem các yếu chỉ sâu mầu trong kinh và những điều mê hoặc chứa nhóm từ các bậc tiên đức chưa từng được giải thích đều tuần tự luận bàn. Vị khách tăng ấy cũng đồng với điều nêu dẫn ấy lại làm thành chương cú, giải thích rõ ràng cao nha, rất có sự rốt ráo. Sư vui mừng bởi hợp Đạo, càng tinh tấn gấp bội so từ trước đến nay, trải qua chữa trị thuốc thang, sớm tối chăm sóc gìn giữ. Có lần ở trong đêm Sư bưng một bát rượu nói với vị khách tăng ấy: “Có người khách gởi cho, lúc bệnh uống thuốc này đều tốt!”. Vị khách tăng ấy bèn nhăn mày mà nhận uống, chỉ một ngụm bèn thôi. Đến lúc mãn hạ, vị khách tăng ấy bệnh cũng vừa lành, bèn giã biệt Sư để ra đi. Sư bảo: “Nay trao y phục để cách biệt, chùa Quan có lệ được ban tặng y phục, hãy chờ đợi năm-ba ngày sẽ có tặng một áo lót mặc lúc trời lạnh”. Vị khách tăng ấy nói: “Chiếu loạn chẳng thiếu sao phải dung chứa thêm phiền”. Ngài cố giữ vị khách tăng ấy để tặng áo đã. Đến lúc giã biệt, vị khách tăng ấy nắm tay Sư căn dặn rằng: “Hễ là người tu đạo, không nên xem thường lúc một mình trong nhà vắng. Pháp sư trước kia đem rượu ban tặng, vì sợ tổn thương ý tưởng đem đến, nhưng đó chẳng phải chánh lý. Từ nay trở đi, việc ấy nên chấm dứt! Vả lại, Pháp sư đã từng đến chùa Thạch Quật ở Cổ Sơn chăng? Tiểu tăng tôi ở dưới chùa nhà nhỏ thuộc phía Bắc cách chùa Thạch Quật chừng năm dặm. Phải đi vòng quanh, phía Đông khe dịch có một hang nhỏ, đi ra phía Đông tức là chùa Trúc Lâm. Lúc nào có duyên sự nghĩ tưởng nên cùng đến hỏi thăm!”. Sư cung kính cảm tạ lời dạy răn trước và hứa sẽ đến thăm. Từ đó bèn từ biệt nhau.

Đến đầu mùa Hạ năm sau, vì chùa Thạch Quật chư tăng đến an cư tu niệm ít nên giảm bớt sự trang nghiêm. Các chùa Quan như Định Quốc, Hưng Thánh, Tổng Trì, v.v… hơn trăm vị tăng là một phiên. Bấy giờ Sư tham dự an cư kiết hạ tại chùa Thạch Quật, trong ý muốn hỏi thăm đến chùa Trúc Lâm, bèn nhân lúc khách chủ nhóm họp đông đảo, Sư bèn hỏi chỗ chùa. Chư tăng đều cười rộ bảo Sư rằng: “Chớ rao truyền lời yêu quái ấy, chùa Trúc Lâm không có thật. Đó chỉ là lời thường lưu truyền trong thế tục.” Sư suy nghĩ suy vị khách tăng năm trước hiện đến chẳng thường gặp, nói đến việc ấy, tính chẳng dối bày. Chúng tăng cũng lấy làm lạ. Nên mỗi người bàn cùng Sư mang hương hoa đồng đi. Đến phía Bắc chùa cách chứng năm dặm, có một hang nhỏ rồi ra phía đông có một đường hẹp chỉ một người đi được, đi khoảng năm dặm leo lên gò núi, thấy một ông lão tay cầm khăn bịt trán, mặc quần đùi áo hạt ngắn, cầm cái bừa lớn khai mở đất hoang hơn mấy mươi mẫu. Xa thấy chư tăng thả ngựa mà đến trước mặt bảo rằng: “Các Đạo nhân ở xứ nào mà không đi theo đường tắt?” Chư tăng đáp: “Ở tại chùa Thạch Quật, muốn đến chùa Trúc Lâm”. Ông lão ấy tức giận bảo: “Năm trước chùa Quan thả ngựa ăn phá lúa mạ của tôi, con tôi cản ngăn gìn giữ bèn bị đánh đến chết, nay lại cùng nhau mang mặt mũi đến đây ư?” bèn kéo bừa lại rượt đuổi. Chư tăng có hơn mười vị nhìn lại hang bỏ chạy, riêng ông lão chẳng rượt đuổi Sư, mà bảo với Sư rằng: “Ông là người khoẻ mạnh chẳng trở lui, thả ông vào núi cho hổ ăn.” Sư liền đi về hướng Đông khoảng vài dặm, gặp một khe nước cạn mà cây cối rất tốt tươi, rậm rạp. Sư tìm theo khe cứ đi thẳng về hướng Đông. Chỉ nghe trên ngọn núi phía Nam có tiếng phúng tụng. Sư bèn hỏi “Chùa Trúc Lâm ở nơi nào?” Liền có tiếng hỏi lại rằng: “Từ xứ nào đến đây?”. Vị ấy liền vén rừng giẫm qua hiểm trở đi đến chỗ Sư, và Sư cũng lần lượt mở thoáng tràn đầy vui mừng, nói năng tâm tình. Vị ấy bảo: “Ở dưới núi chùa nhỏ hẹp, tăng đồ ô hợp, tâm tánh nhiều xao động, thật chẳng xứng đáng để chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, đã giáng trọng, thì trọn phải đến núi.” Bèn cùng nhau đi về phía trước chừng mấy dặm, bỗng thấy có cửa cao hai cánh, hàng hiên dài nhiều lớp đường đi, trúc cao đến tận mây xanh, thông che ánh mặt trời. Phía ngoài cửa sơn đen, có máng dài hơn trăm thước, tất cả có đến mười hàng, đều bày đầu ngậm vòng, vàng đồng xen lẫn trang sức, để đựng các thứ thóc đậu. Bên cạnh có dấu chân ngựa mà được quét rưới sạch sẽ. Vị ấy bèn để Sư dừng lại bên trái cửa mà bảo rằng: “Trước nên hỏi ý Hoà-thượng đã.” Chỉ phút chốc liền dẫn Sư vào trong giảng đường, đến phía Tây dưới hàng hiên. Hòa-thượng ngồi trên giường cao. Người hầu toàn là trẻ nhỏ khoảng năm sáu mươi người. Hoà-thượng tuổi khoảng ngoài bảy mươi, mặt mày phong nhã trang nghiêm, tướng trạng như Phạm tăng, tựa án sửa văn thư. Bên cạnh có người thông sự. Sư bèn lễ bái kính yết rồi đứng yên. Hoà-thượng bảo rằng: “Đã ở tại chùa Quan, thì mọi sự cúng dường nồng hậu khó bỏ, đâu thể tự nhận chịu? Chùa này thật không có gì đáng chiêm ngưỡng. Sư bèn trình bày đầy đủ tâm ý của mình. Hoà-thượng bèn bảo an đặt, dẫn Sư nhiễu quanh thăm viếng, lễ bái các phòng. Thấy ở hai phòng, chư tăng mỗi vị đều ngồi nơi màn trướng quý báu, các thứ đan xen giao kết trang sức ánh ngời hơn cả ánh sáng mặt trời. Chư tăng nói với vị tăng dẫn Sư đi rằng: “Đó là ai mà dám vào đây?” Và xua tay bảo vị tăng dẫn Sư đi, tăng tỏ vẻ hổ thẹn ngoái lại bảo Sư rằng: “Tình ý chẳng đồng, cản trở sự trông mong của người, hãy đến phòng của tiểu Tăng để nghỉ ngơi!”. Bèn dẫn Sư vào phòng, kể lại đầy đủ duyên xưa, và bày thức ăn bữa trưa. Thức ăn toàn là mùi vị bình thương như ở Nghiệp Đô. Sau bữa ăn, lại dẫn Sư đi xem các đồ tượng trang nghiêm, ao vườn đài các, rảo bước chung quanh ngắm nhìn nhưng chẳng thể cùng khắp. Nhân đó, Sư tự tỏ bày rằng: “Nếu được ở bên cạnh vết tích phong trần này, thường quét tước, nguyện trọn đời hết lòng!”. Vị tăng ấy bảo: “gặp nhau liền vừa ý. Chỉ cần phải thưa hỏi Hoà-thượng, chưa biết kết quả như thế nào.” Đêm đó, giữ Sư ở lại. Đến sáng sớm vị tăng ấy vì thưa hỏi với Hoà-thượng. Hoà-thượng bảo: “Rất hiểu ý muốn lại nói, và cũng chẳng tiếc gì một phòng. Nhưng vì hễ nhận thọ Quan mời là vì phước báo chẳng phải cạn. Nếu y theo Tăng Pháp, thì không được tên sống ở hai xứ, nên nay hãy trở về, bỏ tên Quan rồi lại đây sẽ dung chứa, chớ lấy làm tiếc!”. Và liền sai đưa Sư đi ra. Đến bên cạnh máng ngựa, Sư nhìn lại mến mộ rơi lệ, tự thương tội nặng chẳng được giữ lại, Sư nắm tay vị tăng ấy mà giã biệt. Đi đến phía Tây chừng trăm bước, xoay nhìn lại vẫn còn nhìn thấy cánh cửa nghiễm nhiên, Sư vừa lần bước đi vừa nhìn lại, đi khoảng chừng vài dặm, tự nhiên thấy núi non cao vợi hiểm hóc, chẳng còn là chùa viện. Sư buồn bã tìm đường đi, đến chỗ đất khai hoang, bèn không còn dấu vết tiếp nối, chỉ có cây bụi vướng vít.

Có những vị thức giả bình luận rằng: Người trước mang bừa xua đuổi chúng tăng, giả làm thần quái lạ để khiến một mình Sư đi đến, đó là chỉ bày hữu duyên. Nói Đại Hòa-thượng, há chẳng phải ngài Tânđầu-lô ư? Như trong Luận Nhập Đại thừa nói: Các Tôn giả Tân-đầu-lô, La-hầu-la v.v… tất cả mười sáu vị Đại Thanh Văn rải rác ở trong các núi bãi. Lại trong các kinh điển khác cũng có nói đến chín mươi lăm ức Đại A-la-hán đều ở trước Đức Phật nhận thẻ, sống lâu ở đời và rải rác khắp các núi biển trong ba phương để giữ gìn chánh pháp. Nay chư tăng ở chùa Thạch Quật thường nghe tiếng chuông lạ và tiếng vang Phúng tụng phát ra khắp cả núi rừng. Nên biết cung thần chùa tiên đều là thật.

Tôi (Đạo Tuyên) đến Tương Châu, tìm đến Cổ Sơn, ở phía Tây Bắc đất Nghiệp xưa trông thấy Đá nằm ngang, tướng trạng như hình chiếc trống. Nên ở đời có lời tương truyền rằng: “Nếu trống đá kêu thì các phương chẳng yên tĩnh”. Vào cuối đời Tùy, đã thường nghe tiếng ấy, bốn biển đều sôi sục. Đó chẳng phải luống dối. Tả Tư Ngụy Lang nói rằng: “Thần Chiêng xa xôi thay đổi nơi núi cao, vọng hưởng thầm linh khi ấy cảnh tĩnh ra ngoài bốn cõi.” Sau khi Thần Võ dời Nghiệp Đô, nhân đó trên và dưới núi đều xây dựng Già-lam. Hoặc tiều phu hái củi lăng di, hoặc thầy thợ vào cùng đục tạc, thần nhân nhàm chán sự ồn ào nhiễu loạn ấy nên vất bỏ rất nhiều, cho nên đời gần đây đến núi ít gặp các linh tích, mà truyền thuyết về Trúc Lâm thường thường khác lạ. Bởi vì Nghiệp hạnh của mỗi người có tinh thô khác nhau, nên sự cảm thấy có nhiều hình thái. Gần đây có người từ Lỗ Sơn đi lên theo hướng Đông, xa thấy trên đỉnh núi có đường lớn, thông xanh từng hàng, tìm men theo đường đến nơi cung, dệt hoa khó gỡ, cây báu, mỹ nữ cùng lần lượt đua vui, hỏi những bậc trượng phu, đều bảo là “. Vừa đến Thiếu thất, vì gấp chiều tối nên phải trở về”. Lại đi thêm mấy dặm nữa, toàn là rừng trúc, tìm theo con đường tắt đi đến hướng Tây mới tới được chùa đó. Chúng tăng thấy khách đến, mừng gặp tiếp đón niềm nở, cung cấp cho thức ăn uống rồi chỉ cho người ấy đi đường về. Người ấy bèn từ núi đi theo hướng Tây Bắc mà xuống, cách huyện Võ An không quá mười dặm.

Đến thời Bắc Chu phá diệt đánh chiếm Bắc Tề, không có y phục riêng khác, tại phường Đông hạ ở Nghiệp đô có cấp sự Quách Di, lấy cớ bệnh nên từ tạ về nhà để tĩnh dưỡng tại Lư Cảng, thấm nghe trong ngoài từ tế ở nỗi lòng, trước phế lão tăng thảy đều gồm thâu dưỡng, tụng đọc nơi vườn nhà. Bỗng nghe có tiếng gõ cửa, liền bảo kẻ tớ ra xem, thấy một vị Sa-môn cầm tích trượng bưng bình bát, bảo là: “Bần đạo trụ chùa Trúc Lâm ở Cổ Sơn gấp đi khất thực”. Quách Di ở gần cửa bèn vọng tiếng đáp từ xa rằng: “Chúng tăng chỉ nói là khất thực, cần gì phải dối là Thánh?” Và tự thân ông ta đến xem, tìm khắp bốn phía mà không thấy, mới biết đó là người phi thường, bèn hối hận vì lời nói khinh thường của mình nên đến nỗi khiến bậc Thánh ẩn đi!

Vào những năm đầu niên hiệu Võ Đức (618) thời Tiền Đường, tại hang Bảo Phúc ở Giới Sơn, có Sa-môn Tuệ Lâm là vị tăng Cao Khiết, sống riêng nơi tĩnh lắng tu thiền. Bỗng thấy ba vị thiền tăng đến bên cạnh Phật đường, ngài Tuệ Hưu lấy làm lạ, cho là chư tăng ở núi, bèn vào phòng lấy tọa cụ đến lễ bái yết kiến, khi đến thì hai vị thần tăng vừa và nhỏ ôm hòm sách đứng phía trước, còn một vị lớn ở sau nương hư không từ từ theo hướng Nam bay lên đỉnh núi cao. Mây trắng từ phía Bắc đón rước che phủ không thấy. Trải qua sau đó một thời gian ngắn, lại thấy một vị tăng từ phía Đông đi thẳng vào vách hang. Ngài Tuệ Hưu bèn đuổi theo đảnh lễ, vị ấy liền lẫn vào trong đá. Tại hang núi ấy thường có tiếng chuông ngân vang, theo đúng thời khắc mà gõ, tuy nghe tiếng mà không được nói. Đó cũng là những sự cảm thấy khác nhau, không thể nhất định. Đại lược mà nói thì những nơi hang hóc linh dị chỉ nên tĩnh lắng rỗng rang. Nếu có sự ồn ào huyên tạp thì ít nghe thấy được các tướng lạ.

15. Truyện ngài Thích Tuệ Bảo ở Thái Nguyên:

Thích Tuệ Bảo, không rõ Sư họ gì. Sư đọc tụng kinh hơn hai trăm bộ. Những bậc ưu đức tiên đạt thời bấy giờ đều nhận biết tiếng tăm Sư.

Niên hiệu Võ Bình thứ ba (572) thời Bắc Tề từ Tinh Châu đến Nghiệp Đô, Sư đi tới Ngãi Lăng Xuyên, bị lạc đường, Sư bèn đi tắt vào núi. Chiều tối, Sư nghỉ lại dưới hang núi. Có một ngôi thất dường như có người ở, nhưng nhìn chung quanh không thấy gì cả. Sư ngồi trước thất nhìn lên cây thông, nơi tàng nhánh rộng, có trên một chiếc khánh, cách đất hơn một trượng. Đêm đến, vào khoảng canh hai, có người mặc áo cỏ từ ngoài đi vào, bảo rằng: “Trong đây vì sao lại có hơi hám người thế tục?” Sư liền kể lại đầy đủ và tỏ bày cung kính, người ấy nói chuyện với Sư và hỏi Sư rằng: “Ngày nay, giòng họ nào thống trị nước nhà?” Sư đáp: “Giòng họ Cao, nước hiệu là Tề”. Sư lại hỏi: “Tôn sư ở núi nầy được bao lâu rồi?” Vị ấy đáp: “Ở từ thời Hậu Hán đến nay! Trưởng lão đã được kinh nghiệp gì? Sư cậy mình tụng đọc thông rộng nên rất lấy làm tự khoe. Vị Sơn tăng ấy bảo: “Người tu Đạo không nên như thế, muốn nghe kinh gì, tôi sẽ tụng cho?” Sư nói: “Thích nghe Kinh Hoa Nghiêm”. Vị tăng ấy chỉ trong thời gian ngắn đọc tụng văn kinh đã xong, lời tiếng hài hòa, ở đời chẳng thể nghe được. Sư lại bảo tụng tiếp các phần khác, vị tăng đều thực hành như thế. Sư kinh hãi ngợi khen rằng: “Do nhân gì mà kinh văn bộ lớn không bao lâu đã đọc xong?” Vị tăng ấy bảo: “Ông có tác Tâm, Tôi không có tác tâm. Hễ quên sự nhớ nghĩ đối với muôn vật thì đây kia tự được”. Sư biết đó là Thần dị, bèn cầu xin ở lại, vị tăng ấy bảo: “Lợi dưỡng trong nước vời gọi ông, làm sao có thể tự an được. Vả lại, tình lụy ông chưa dứt trừ, ở cũng không ích lợi gì”. Đến sáng, vị tăng ấy bèn bỏ đi, Sư liền tìm lối vết để đi. Đến Nghiệp Đô Sư kể lại việc đó.

16. Truyện ngài Thích Tăng Vân trụ chùa Bảo Minh ở Nghiệp Hạ:

Thích Tăng Vân, không rõ Sư là người xứ nào. Sư biện giải thông rành từ lệnh, thấu suốt đầy đủ cả Đại, Tiểu thừa. Sư tôn kính, nương nhờ trai hội giảng pháp, thường lấy làm việc chính. Dưới thời Bắc Tề, tại Nghiệp Đô mở mang Tam Bảo hưng thạnh. Sư rất được nổi tiếng. Sư trụ chùa Bảo Minh ở Nghiệp Đô coi sóc Đại chúng.

Vào ngày mười lăm tháng tư, đến lúc thuyết giới, chúng tăng đều nhóm họp tại Phật Đường. Sư ở ngôi vị Thượng Thủ, bèn bạch với chúng rằng: “Giới bổn là ngăn quấy, mỗi người đều tụng được, sao nhọc phiền chúng tăng tất cả phải ngồi nghe? Hãy bảo một vị tăng lập nghĩa giúp người hậu sinh khai ngộ”. Sư là người khí khái có phong cách ở đương thời, nên không ai dám chống cự, tất cả đều vâng theo. Dần dần đến cuối Hạ thường bỏ phế việc tụng giới. Đến sáng sớm ngày mười lăm tháng bảy, sắp lên tòa cỏ, bỗng nhiên chẳng thấy SƯư đâu. Đại chúng và tuổi mới đầu chưa thọ thay nhau phế bỏ pháp Tự tứ, đồng một lúc tuôn ra khắp bốn phía tìm kiếm Sư, bèn đến nơi cách chùa chừng ba dặm, ở trong gò mã cũ thấy Sư ở đó. Khắp thân thể Sư máu huyết rướm chảy như bị dao cắt. Hỏi về nguyên do, Sư nói: “Có một người cao lớn cầm con dao lớn dài ba thước, sắc mặt nổi giận bảo Sư rằng: “Thay đổi Bồ-tát, vọng sung lập nghĩa”. Dao cắt vào thân đau đớn khó chịu nổi. Nhân đó, bèn dẫn Sư về lại chùa, dốc tận tâm tình, chí thành sám hối. Mới trải qua mười năm thuyết giới Bồ-tát, đọc tụng các kinh, Sư lấy đó làm hạnh nghiệp thường xuyên. Đến ngày Sư thị tịch, có mùi thơm lạ đến đón rước, thần sắc Sư không tán loạn, vui vẻ an nhiên mà thị tịch. Người đương thời đều vui mừng về sự việc của Sư ngay trong đời nay tự sửa đổi, không rơi vào vòng khổ.

17. Truyện ngài Thích Tăng Viễn trụ chùa Tiết ở Lương Châu:

Thích Tăng Viễn, không rõ Sư là người xứ nào. Sư trụ chùa Tiết ở Lương Châu. Tánh tình Sư hời hợt buông lung, chẳng tu tế hạnh, ưa thích truy tìm theo lưu đảng, ham vui với yến tiệc là việc thường.

Niên hiệu Võ Bình thứ ba (572) thời Bắc Tề, Sư nằm mộng thấy có một người thân hình cao lớn, nghiến răng quở trách Sư rằng: “Ông là người xuất gia, mặt mày như thế, còn buông lung tạo ác, sao chẳng lấy kiếng mà tự soi chiếu?” Sư bỗng nhiên tỉnh giấc kinh hãi sợ toát mồ hôi. Đến sáng sớm đem một bát nước để tự soi rọi mới thấy bên cạnh khoé mắt có chấm đen cho là mồ hôi bẩn, bèn chùi thử, lông mày đồng 1 lúc theo tay mà rơi rụng hết. Nhân đó tự trách lỗi lầm, cớ sao ương họa đến nỗi này! Bèn thay đổi thói quen thường, ngày sửa thân đổi tánh, thân mặc áo thô xấu, chân mang dép cỏ, mỗi ngày ăn một bữa chay trường, vâng hành kính thờ Luật nghi, sớm tối sám hối, tự buồn thương ứa lệ. Trải qua hơn một tháng sau, Sư lại mộng thấy người trước kia mỉm cười, bảo ngài rằng: “Biết được lỗi lầm mà sửa đổi, đó là người Trí! Nay tha thứ lỗi lầm xưa của ngươi, chớ nên lại tiếp tục”. Bỗng nhiên Sư kinh hãi vui mừng tỉnh giấc, mồ hôi đổ khắp thân, mặt mắt đượm nhuận, lông mày dần dần mọc lại.

Sư thường cảm hai báo, tin biết được ba đời. Từ đó về sau, Sư dốc tâm tinh thành, vâng hành chánh pháp, trong suốt thời gian chẳng hề tạm biếng trễ. Sau cùng Sư trở thành vị tăng luyện hạnh. Sư về lại Hưng Xuyên, và thị tịch ở quê nhà.

18. Truyện ngài Thích Tuệ Chấn trụ chùa Nguyên Khai Phủ ở Thượng Đảng:

Thích Tuệ Chấn, là người xứ Thượng Đảng. Sư vâng giữ giới luật chánh chân, trinh thuần xác thực, khó ai vượt hơn. Sư trụ chùa Nguyên Khai Phủ ở trong quận, riêng sống tĩnh lặng trong một phòng, thiền quán, sám hối là hạnh nghiệp chính của Sư.

Vào niên hiệu Kiến Đức thứ sáu (577) thời Bắc Chu, Tam Bảo bị phá diệt. Sư bèn mang kinh tượng vào ở ẩn trong núi sâu. Gặp giặc muốn đến cướp, ban đầu, Sư chưa nhận biết, bỗng nhiên thấy một người thân hình cao lớn hơn một trượng, râu tóc đẹp xinh, mặt che khăn sa, mặc áo bào mầu xanh, đeo chín vòng bằng vàng, mang giày da, cưỡi ngựa trắng, bờm đỏ, từ trên đảnh núi đi tắt đến trước mặt Sư, xuống ngựa, bảo với Sư rằng: “Đêm nay giặc sẽ đến. Sư hãy gấp trốn lánh!” Sư ở dưới bờ vực sâu thẳm, dứt bặt không đường nào đến, nên nghi đó là thần núi, bèn nói rằng: “Nay Phật Pháp bị hủy diệt, bần đạo không nơi dung thân, nên lại nương tựa đàn việt, nhưng nay có giặc đến, chánh là có thể nhận lấy sự chết ở ngay đây, chứ đâu còn có nơi nào để trốn lánh!” Thần bảo rằng: “Sư từ xa đến nương nhờ đệ tử, đệ tử cũng có thể bảo hộ Sư, hãy nên ở đây”. Nói xong, bèn biến mất. Ngay trong đêm bỗng giáng hiện tảng tuyết lớn dày hơn cả trượng bao phủ lấy Sư, nhờ đó mà khỏi được nạn giặc. Về sau, bọn giặc lại tìm đến, thần bèn mách bảo dân chúng các thôn ấp dưới núi rằng: “Giặc muốn giết hại sư Tuệ Chấn, phải gấp đến cùng cứu”. Mỗi người tự cầm nắm khí trượng vào núi, giữa đường gặp giặc bèn chống cự, đánh cho tan rã. Từ đó mỗi ngày Sư thường nương nhờ nhờ đó mà an tu Đạo nghiệp nơi núi rừng. Không biết về sau, Sư thị tịch ở đâu.

19. Truyện ngài Thích Hồng Hiến trụ chùa Đại Từ ở Tương Châu.

Thích Hồng Hiến, là người xứ Nghiệp Đô. Thuở thiếu thời, Sư có vào Đạo Môn, sớm tỏ ngộ Luật Kiểm, nghe trải qua khổ nhọc, hai mắt đều mờ tối. Sư trụ chùa Đại Từ ở Tương Châu, đã không có người dẫn dắt trước, nên thường ở trong phòng, lễ bái trì tụng làm đầu, chẳng phế bỏ sớm tối.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn (594) đời Tùy, bỗng nhiên chiêu cảm có một vị thần tự xưng là Đàn Việt Bát-nhã đến xin Sư thọ giới. Qua vài lần đến cùng bàn nói, tại đồng phòng có Thiền sư Tăng

Cương, lúc vào trai đường thọ thực, Bát-nhã bèn lấy một chiếc áo xiêm của Ngài Tăng Cương đến cúng dâng. Sư mà nói rằng: “Luống nhọc tỏ bày Pháp sự, lợi ích chẳng ít, nên xin kính dâng y vật, mong nhận lấy cho!”. Sư nhận lấy và cất vào trong hòm. Sau khi thọ trai xong, ngài Tăng Cương trở về lại phòng lấy làm lạ bị mất áo xiêm, tìm khắp trong chùa, bèn thấy được ở chỗ Sư. Sư trình bày đầy đủ sự việc ấy, nhưng ngài Tăng cương không hề tin. Thần bèn vất mọi thứ y vật của ngài Tăng cương đầy trên bàn, bừa bãi khắp sân, bút viết cân thước bị gãy mấy khúc. Thần ở giữa hư không bảo rằng: “Sa-môn Tăng Cương chẳng khéo thiết lập trai hội cúng dường Tam Bảo, ta gieo tai họa đến ngươi mà chưa hết”. Sư mắt mờ bèn cùng Bát-nhã nói về việc mắt đồng trông thấy. Thần nói với Sư rằng: “Các bạn rất đông và đều ở trên sông Tử Bách, chỉ có ba muơi người cùng đi theo, hãy bảo nhà chùa dọn bày thức ăn”. Chúng tăng bèn bày hội ở phía Tây Viện. Thần bảo rằng: “Tốt lành thay các thứ ăn uống! Nhọc tốn phí của các Sư v.v… Tuy nhiên Thiền sư Tăng Cương không bày trai cúng, sau traihội này sẽ khiến cho biết”. Ngài Tăng Cương không hiểu tại sao mà cứ bị bức bách làm cho sợ hãi chẳng thôi, bèn đem tất cả của cải tài vật riêng tư tạo lập các trai phước. Bát nhã lại bảo rằng: “Đã làm việc Phước, nay sẽ phóng thả”. Và bèn đem hai xấp lụa giao cho Sư mà nói rằng: “Nên cúng thí một xấp cho đại chúng, còn một xấp tặng cho Thiền sư Tăng Cương”. Sư đối trước chúng nhận được và mọi người thảy đều nghe thấy, Sư bèn y theo sự giao mà nhận. Từ đó về sau, Sư càng siêng tu bổn nghiệp. Sư thị tịch ở chỗ Sư ở.

20. Truyện ngài Thích Tuệ Vân ở Đông Xuyên:

Thích Tuệ Vân, là người xứ Phạm Dương, xuất gia năm mười hai tuổi. Sư đi khắp nơi nghe giảng lấy làm việc chính. Năm mười tám tuổi, Sư cưỡi lừa đến dừng ở nhà người chú. Người chú trông thấy con lừa ấy rất ưa thích, nên bày kế muốn làm hại Sư. Vừa mới mang dao đến, bèn thấy dưới tường phía Đông có người mặc áo vàng nắm tay đi ngược lại quát mắng rằng: “Đạo nhân nầy mới là bậc Đại Sĩ thông pháp, sao dám làm hại như thế?” Người chú kinh sợ, nói với người vợ. Người vợ bảo:” Tâm ông không cứng rắn, chánh vì hoa mắt nên khiến như thế”. Nghe thế, người chú lại tìm đến, lại thấy ở dưới tường phía Tây có người mặc áo vàng bảo rằng: “Chớ giết hại Đạo nhân, nếu giết hại thì họa lớn sẽ đến”. Người chú kinh sợ bèn thôi. Đến sáng sớm, Sư từ giã để đi đến nhà người chị gái. Người chú lại mang dao đi theo, bảo với Sư rằng: “Con đường này tối khuất hiểm trở, nên chú sẽ đưa cháu ra khỏi chỗ khó khăn.” Sư đi trước, vừa đến chỗ sâu thẳm hiểm trở, người chú đi sau lưng huơ dao muốn chém, bỗng thấy chồng người chị gái của Sư bên cạnh. Nên được thoát khỏi sự gia hại mà Sư đều không hay biết.

Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, Sư đi khắp Thương ấp, xem đủ các thứ kinh luận. Tiếng tăm vang khắp Đông hạ, vẻ vang suốt một thời. Sau đó, Sư dẫn đồ chúng có cả năm trăm vị lại đến nhà người chú. Người chú thấy Sư đang mở mang giáo hóa ở giữa đường ngã tư, bèn nhớ lạo việc gây hấn ngày trước, bèn dâng cúng Sư mười xấp lụa, vợ chồng cùng nhau tỏ bày hối lỗi. Sư mới biết việc đó. Và liền nói pháp để dứt bỏ, an nhiên không hiềm hận. Sư thường đem việc ấy mà răn dạy các môn nhân đệ tử rằng: “Tôi khi xưa nếu chẳng cưỡi vật tốt đẹp thì việc gì phải khổ lụy đến người. Từ khi dự phần vào học chúng thì không trang sức phù hoa, chỉ được giữ gìn thân mạng lâu dài”. Trở thành lời tụng nơi miệng Sư. Về sau không biết Sư thị tịch ở đâu.

Dưới thời Vua Tuyên Đế (Trần Húc 569-583) đời Trần, ở Song Lâm thuộc Huyện Ô Thương, Quận Đông Dương, có Đại Sĩ Phó Hoằng là người thấu suốt quyền xảo ứng đạo, tiếp nối vết chân Cư sĩ Duy-ma cật. Bấy giờ, có lúc Sư phân thân cứu giúp lấy làm việc chính, nương ở tại Song Lâm, dẫn dắt hóa độ pháp tục, hoặc mầu vàng ròng biểu hiện ở ngực. Có mùi thơm tỏa trong lòng bàn tay, hoặc hiện thân cao hơn một trượng, cánh tay dài quá đầu gối, chân dài hai thước, ngón tay dài năm tấc, hai mắt sáng rực, có hai con ngươi tỏa chiếu ra ngoài. Hình sắc dung mạo trang nghiêm cao vợi, rất có tướng của bậc Đại nhân.

Khi Vua Võ Đế (Tiêu Diễn 502-550) thời Nam Lương dẹp loạn mở Đạo, riêng chú ý đến Thích Môn, tâm tánh trinh thuần cảm khắp đến các Hiền Thánh. Sa-môn Bảo Chí là người mở dẫn vết tích ở Kim Lăng, nhưng Phó Công (Đại sĩ Phó Hoằng ) ở Song Lâm là người thấu suốt dẫn dắt. Người đương thời xướng lời chẳng biết địa vị của Sư, Sư bèn sai sứ mang thư đến tặng vua Võ Đế rằng: “Đại sĩ Thiện Tuệ là người sẽ giải thoát ở tương lai, hiện ở dưới tàng cây nơi Song Lâm, kính bạch với Quốc chúa là bậc Bồ-tát cứu đời, nay chia điều lành có ba bậc thượng trung hạ, mong có thể thọ trì. Điều lành bậc thượng là lược dùng cõi lòng rỗng lắng làm gốc, chẳng đắm trước làm Tông, quên mất tướng làm nhân, lấy Niết-bàn làm quả. Điều lành bậc trung là lược lấy giữ thân làm gốc, trị nước làm Tông, quả báo ở cõi trời và ở nhân gian đều an vui. Điều lành bậc hạ là lược dùng để che chở nuôi dưỡng chúng sinh.” Vua nghe đó, bèn thỉnh Sư đến trụ ở Kiến Nghiệp, bèn xây dựng chùa Định Lâm ở Chung Sơn, ngồi phủ dưới tùng cao, nằm nương trên tảng đá, suốt cùng bốn phía cả sáu tuần, hoa trời cam lồ thường tuôn chảy trên đất. Về sau, Vua đến điện Trùng Vân 73 vườn Hoa Lâm Khai giảng đề Kinh Bát-nhã, bày riêng một tòa, thỉnh Sư cùng Thiên chỉ đối dương. Khi kiệu ngọc lên điện mà Sư vẫn an nhiên ngồi đó. Hiến Tư cơ hiềm hỏi rằng: “Chỉ nói là Pháp Địa bất động, nếu như động thì tất cả đều chẳng an!”. Sư nhận biết thời vận nhà Nam Lương sắp hết, nên xót thương cứu khổ binh tai, bèn đốt cánh tay làm đuốc để cầu nguyện xua đuổi họa đến.

Đến giữa mùa Hạ niên hiệu Thái Kiến thứ nhất (569) đời Trần, Sư ở tại Bổn Châu, nằm nghiêng hông bên phải, lắng dần đến thị tịch. Bấy giờ, gặp lúc trời nắng nóng mà thân thể Sư vẫn ấm, hình sắc dung mạo phô bày nét mặt vui vẻ, ngời sáng trạng thái sạch đẹp. Mọi người cùng nhau đón rước đến an táng trong hang núi, qua mấy tuần hương hoa tán rải chứa nhóm. Sau đó bỗng nhiên mất hẳn dấu vết, những người đến tìm thăm mà không thấy, gào khóc kính mến càng sâu sắc. Tiếng khóc buồn thương quyến luyến nấc nghẹn cả hang núi. Bộc Xạ Từ Lăng đời Trần soạn bài Minh, thấy ở loại văn.

21. Truyện ngài Thích Pháp Lãng ở Ngạc Châu.

Thích Pháp Lãng, ngài còn có tên là Tăng Lãng, họ Hứa, người ở xứ Nam Dương.

Năm ngoài hai mươi tuổi, Sư mừng vuimuốn xuất gia, sau đó được dự phần xuống tóc, không có nơi nương ở cố định, phần nhiều Sư ở tại Ngạc Châu. Hình mạo Sư giống như thế tục mà rất có kỳ tướng, Sư uống ăn đồng như thế tục, nên mọi người đương thời đều xem thường Sư, Sư thường nuôi một con khỉ và một con chó, tướng mạo to lớn mạnh khỏe, màu lông đều vàng đỏ, chẳng quen đùa bỡn với người khác, chỉ nương tựa nơi Sư, ngày đêm cùng đi theo Sư không hề tạm xa rời. Như đến giờ ăn, Sư dùng bát gỗ thọ thực. Sư ăn no, còn dư cho chó dùng, chung một đồ dùng với Sư. Con khỉ liền lấy bát đội lên đầu và cưỡi lên trên lưng chó, dẫn trước Sư mà đi. Nếu có người muốn cướp đoạt, chó liền lớn tiếng gầm gừ. Sư mặc tình để chó dẫn đi vòng quanh, không có thường độ.

Khoảng cuối đời Trần, đầu đời Tùy, Sư đi đến ngoài giang lãnh, mặc đồ thô xấu, oai nghi thoát vượt thứ lớp, giữ gìn roi gậy mang theo che chở nuôi dưỡng thân mạng. Bấy giờ, Sư lại đọc tụng các kinh, nhưng chỉ lấy Kinh Pháp Hoa làm chỗ đặt để chí nguyện. Vốn thiếu tiếng như chim hót, trong trẻo, dồi dào, Sư bèn thanh khiết lập thệ nguyện trì tụng, mỗi lần ngồi tụng suốt bảy biến, như thế chẳng bao lâu, âm thanh Sư vang như sấm động, biết rằng Phước lực ấy có thể lần lượt nương tựa lên, nên Sư trì tụng lấy số bảy làm kỳ hạn, mới dần lên đến bảy mươi biến, bảy trăm biến, bảy ngàn biến và đến cả bảy mươi ngàn biến, âm vận tiếng tăm hài hòa, mặc tình tuôn nhã. Nên với các loại đàn tranh, tiêu sáo, tỏa phát ra rõ ràng nên kinh đã tụng. Bấy giờ, những người bên cạnh sự xem nghe đều mất, môi mép Sư không lay động mà lời tiếng phát ra từ cổ họng, xa gần đều rõ suốt, nhân đó mà nổi tiếng. Nhưng cánh tay, cẳng chân và tay Sư cứ duỗi thẳng mặc lòng, có khi như rùa thụt vào mai, có lúc Sư đồng tụ hội nơi hàng thịt, hoặc vào trong quán rượu, cùng với mọi người, uống rượu ăn thịt, chẳng lường biết là như thế nào. Nên trong đời có lời nói rằng: “ Pháp Hoa Lãng, năm nơi cùng lúc co, thịt heo đầy miệng má.” Hoặc Sư lại đi tuần ngược dòng sông đến đất Biện, khoanh tay ngồi dưới thuyền, khỉ và chó ở bên cạnh, đều không có mái chèo quẫy bơi, tùy ý chỗ nào muốn đến thì đến, tuy lướt giữa sóng gió mà chỉ khoảnh khắc là đến nơi.

Có vị Tỷ-khưu-ni bị Quỷ mỵ dựa nhập, siêu ngộ huyền giải, biện luận khắp các kinh văn, ngồi ở Tông chủ Giảng Đạo, mọi người đến nghe học như mây nhóm, đều không ai lường biết, không ai chẳng khen ngợi sự thông minh tỏ ngộ ấy. Sư nghe thế, bảo rằng: “Đó là tà quỷ gia nhập, đâu phải chánh lý, sau này phải xem xét”. Một hôm, vào buổi sáng, chó và khỉ dẫn thẳng đến chùa ni, Sư theo đến lễ phật, nhiễu tháp, rồi đến trước giảng đường. Cô ni ấy còn đang giảng nói. Sư bèn gằn tiếng quở trách rằng: “Kẻ tiểu tỳ kia, nay ta đã đến, sao chẳng xuống tòa?” Cô ni ấy vâng theo tiếng vội xuống tòa, chạy ra trước giảng đường, đứng đối diện chỗ Sư từ sáng sớm giờ mão cho tới giờ Thân, sừng sững chẳng rời khỏi chỗ, mồ hôi tuôn đổ xuống đất vẫn nín thinh không nói năng gì. Hỏi đến năng lực tuệ giải thì im lặng như ngây như điếc, một trăm ngày sau mới bình phục lại bản tánh. Sư có năng lực hàng phục cảm thông đều đại loại như thế.

Đến cuối niên hiệu Đại Nghiệp (617) đời Tùy, vẫn còn chưa có một hạt bụi bay mà miệng Sư luôn bảo “Giặc” sớm tối không nghỉ. Quan nhân đều lo sợ cho đó là Sư mê hoặc quần chúng, bèn thầm giết hại Sư. Có Sa-môn Pháp Lâm ở Tương Dương là người vốn giao du với Sư, kính quý sự thấu đạt sâu xa của Sư, nhân sự việc mà trình bày, nên liền tuần tự mà ghi chép.

22. Truyện ngài Thích Đạo Tiên trụ chùa Trúc Lâm ở núi Quán Khẩu:

Thích Đạo Tiên, ngài còn có tên khác là Tăng Tiên, người nước Khương Cư. Sư làm nghề buôn bán, thường qua lại xứ Ngô Thục, cũng như trên dưới sông biển chứa nhóm các thứ của báu, nên của cải Sư có được đầy ắp cả hai thuyền. Bấy giờ, có người tính rằng tiền Sư có đến mấy mươi quan, còn vàng báu thì đầy ắp. Tham gá càng sâu, chỉ tiếc chưa được nhiều, lấy nghiệm muốn nuốt luôn biển cả. Sư đi buôn đến tận núi Ngưu Đầu, ở quận Tân thành, thuộc Tử Châu, gặp được Thiền sư Tăng Đạt đang giảng pháp, ngài Tăng Đạt nói rằng: “Sinh tử dài lâu, không ái nào chẳng lìa, tự thân còn như vậy, huống gì các thứ của cải, tài vật”. Ban đầu, Sư mới nghe qua, vui mừng mạnh mẽ chớm phát bên trong. Sư nghĩ sâu xa rằng: “Ta đời nầy tham nhiều, chí ưa chứa nhóm, vừa rồi nghe chánh pháp, thuyết ấy rất cùng cực. Hoặc mất, hoặc lìa, tất yếu phải như thế. Chẳng bằng nhận đắm tất cả vật báu giữa sông sâu để xuất gia, lìa đắm trước, tự nhiên không nhiễu não, như thế há chẳng vui ư?” Ngài liền nhận chìm cả thuyền xuống giữa sông sâu. Sư lại muốn cho chìm tiếp thuyền nữa. Mọi người đều cùng nhau ngăn cản, khuyên Sư nên lấy đó để tu tạo phước nghiệp. Sư bảo: “Đều là rối rắm nhiễu não, khổ nhọc cho chính mình và kẻ khác”. Và Sư liền nhận chìm luôn. Đi thẳng vào chùa Trúc Lâm ở núi Quán Khẩu xuất gia.

Ngày đầu tiên vừa xuống tóc, Sư đối trước chúng tăng phát lời thệ nguyện rằng: “Nếu chẳng đắc Đạo thì không bao giờ ra khỏi núi này”. Sư liền dứt bặt vết tích người đời, dựng lập am thất nơi hang núi quanh co. Đồng bạn học thiền cùng nhau lần lượt kéo đến. Mỗi lần Sư xem kinh, mới đầu mở thấy như Phật ở chỗ ấy, không lúc nào chẳng nghẹn ngào tự nghĩ “cớ sao ta chẳng được gặp mà chỉ thấy di văn!”. Mà Sư vượt trội khác thường so với đồng bạn. Sư nương náu nơi hoang vắng với các cầm thú. Hoặc có người đến hỏi phương thức học, ngài đều đối đáp khéo léo, thầm hợp với khuôn phép chánh. Từ đầu, Sư nhập Định, mỗi lần ngồi đều lấy khoảng thời gian bốn –năm ngày làm hạn thường. Chỉ có lúc khách đến cửa, Sư ngầm nhiên tự nhận biết, đứng dậy tiếp đón nói năng. Nếu không có người đến, thì Sư ngồi thẳng nơi tĩnh thất vắng lặng như hư không, có lúc Sư biết trước ngày mai có khách đến, hoặc đến cả trăm ngàn vị thảy đều như lời Sư nói, không hề có sự dư thiếu.

Đầu thời Nam Lương, Thỉ Hưng Vương Đạm vén màn Tam Thục, kính thờ Sư theo lễ thầy trò mà, cùng dẫn đến nơi Thư Khúc thuộc Thiểm phục. Niên hiệu Thiên giám thứ mười sáu (517) thời Nam Lương, Sư đến núi Thanh Khê, có chí hướng muốn ở trọn đời ở đó. Bấy giờ, Đạo Quán cao thoáng, cân hạc lẫn lộn đông nhiều, thường cùng chê trách rất cậy, làm tâm lo lắng. Sư bèn an nhiên không hề để ý. Một đêm nọ, bỗng nhiên Đạo Sĩ trông thấy ở sườn núi phía Đông có lửa bốc cháy, sợ lửa đồng đốt hại Sư nên mỗi người đều mang bình nước đến cứu giúp, nhưng đến nơi, thấy Sư ngồi ngay ngắn, lửa lớn đang cháy mạnh, đều cùng nhau khen ngợi là “Hỏa Quang thần Đức”. Đạo Sĩ Lý Học Tổ, v.v… xả thí ruộng vườn tạo lập tôn tượng, chùa tháp thành tựu, xa gần đều quy hướng kính tin, mười nhà có hết chín. Châu thứ Sử là Bà Dương Vương Khôi đích thân đến kính lễ thọ pháp.

Đến cuối niên hiệu Thiên giám (520) thời Nam Lương, Thỉ Hưng Vương thầm cảm, nên đến chùa Lương Thái tạo tôn tượng Tứ Thiên Vương, vào sáu ngày trai thường thiết lễ thanh tịnh cúng dường. Sau đó, Sư đến dự trai hội, trên đảnh đầu tôn tượng Tứ Thiên Vương phát ra ánh sáng năm mầu, lò hương Sư bưng tự nhiên khói tỏa. Thái úy Lục Pháp Hòa khi trước vào những ngày vi tàn có mấy lần đến núi cúng dường

Sư và làm cấp sứ. Trong chúng tăng có người quở trách. Sư bảo: “Đó là Tam Đài Quý Công, do duyên gì mà lại nhục mạ?” Bấy giờ không ai lường biết hậu quý. Lục Pháp Hòa quả nhiên bèn lên viên phục. Hoặc có những lúc Sư tật bệnh, thấy có đồng tử mặc áo lụa từ dòng nước Thanh Khê lấy ra một bát đầy thuốc nhiệm mầu đến qùy dâng Sư uống, không bao lâu liền khỏe mạnh. Sư ở tại núi suốt hai mươi tám năm, lại đến Tĩnh Lạc, hoằng hóa Đạo pháp.

Bấy giờ, gặp lúc nắng hạn tàn khốc, trăm họ đều cầu thỉnh Sư liền đến hang rồng, gõ gậy vào cửa mà bảo rằng: “Chúng sinh đang đau khổ, vì sao đam mê ngủ như thế?” Sư nói vừa xong, liền có mây đen kéo khắp bốn phía, mưa lớn tràn đầy, muôn dân đều đội ân đượm nhuần ấy, cùng nhau đến cầu nguyện, kính trọng như thiên thần.Nếu có cầu Xá-lợi, Sư liền vì cầu thỉnh, ứng niệm liền đến đúng như sự mong cầu.

Đến đời Tùy, Thục Vương Tú trấn thủ tại Mân Lạc có tấu trình lên Vua, sau đó Vua bảo Sư truy tìm thỉnh. Nhưng Sư không vâng mệnh. Bỗng nhiên vua đổi sắc mặt đích thân dẫn đầu Binh lính mang theo gậy trượng đến để bắt Sư. Nếu như cố ý không chịu thì có thể giết chết ngay. Sư nghe binh lính đến, đều không tỏ vẽ lo sợ, đòi lấy y Tăng-già-lê đắp mặc, sau đó ngồi thẳng niệm Phật. Vua vừa đi đến chân núi, bỗng nhiên mây mưa tuôn đổ, bão tuyết rơi xuống, nước tuôn vọt tràn khắp sông rạch, lấp phủ quân lính, chưa biết tính toán thế nào, sự tình đã quá quẫn bách, Vua bèn xa quy hướng sám lễ. Nhân đó, trời trong sáng trở lại, mưa gió ngừng dứt, đường núi mở thoáng. Vua và binh lính đến được nơi chỗ Sư. Vua đích thân rất mực cung kính. Sư giảng Pháp cho nghe. Vua lại phát khởi tín tâm, bèn thỉnh Sư về Thành Đô trụ chùa Tĩnh Chúng. Vua rất kính ngưỡng, cúng dường lễ hậu, cả thành quách mọi người đều cung kính gọi Sư là “Tiên-xà-lê”. Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, Sư về lại chùa núi. Đường đi tự nhiên sạch sẽ, bởi có thần núi quét dọn trước. Một đêm, có vị khách tăng đến nghỉ ở trong phòng, Sư đến kéo vị ấy ra, liền đó, căn phòng sụp đổ.

Đến lúc ngoài trăm tuổi, Sư ngồi thẳng mà thị tịch, sau đó an táng tại núi đó. Ở Ích Châu còn có mộc cảnh Bạch Điệp đến nay vẫn hiện còn, mọi người gọi đó là “Thánh Nhân Tiên Xà-lê”.

23. Truyện ngài Thích Tuệ Phong trụ chùa Thê Hà ở Nhiếp Sơn:

Thích Tuệ Phong, không rõ Sư là người xứ nào. Sư trụ chùa Thê Hà, nghe học Tam luận với ngài Thuyên Công, bèn tỏ ngộ sâu xa diệu chỉ đó, rất lấy làm đắc ý, tiếng tăm vang tỏa khắp xa, mọi người đều suy tôn. Thuyên Công có nói rằng: “Sức lực tư duy thấu hiểu của Tuệ Phong, tôi đây không thể sánh bằng. Vì tôi tuổi tác già suy, nên đến cùng nương tựa đó”. Sư đặt tâm nơi Chánh Lý, thân làm khuôn phép luật nghi, nhiếp tĩnh ở chốn tòng Lâm, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, mặc y phục thô xấu, lược không chứa để mảy may, nhìn dáng bước khoan thai rất có phong thái. Sư không hề đến Giang Đô, chỉ giảng dạy Luật Thập Tụng, khen ngợi dẫn dụ tu trước, người đến nghe học rất đông, có người hỏi rằng: “Nay học Đại Thừa, vì sao lại giảng luật?” Sư bảo: “Đó là sự thấu đạt tận cùng, ông chẳng thể biết được. há học Chánh Pháp mà Đại tiểu chống trái nhau ư?”

Vào niên hiệu Thiên gia (560-566) đời Trần, Sư thị tịch, thọ sáu mươi tuổi. Lúc sắp tịch, Sư bảo đệ tử là Sa-môn Trí Côn rằng: “Tôi đi đến chỗ xa xôi, nơi các ông không biết được!”. Sau khi Sư tịch, có một ngón tay co quắp lại, tuy kéo thẳng ra nhưng lại co trở lại, bấy giờ mọi người bàn với nhau cho là Sư đã chứng đắc Sơ Quả.

24. Truyện ngài Thích Tuệ Nham trụ chùa Trùng Huyền ở Tô Châu:

Thích Tuệ Nham trụ chùa Trùng Huyền ở Tô Châu, tướng trạng Sư như si cuồng, chẳng tu giới luật. Người đương thời chẳng hề đếm xỉa. Sư thường ngồi trong phòng, chẳng đồng mọi vật bàn nghị. Bỗng nhiên riêng một mình Sư vui vẻ nói cười đùa bỡn, vào chùa nắm vật chỉ chỏ, bảo rằng: “Chỗ này làm chánh điện, chỗ ấy làm phòng nhà, cho đến hàng hiên, lang vũ, nhà trù, nhà kho, không thứ gì chẳng đầy đủ. Sau đó hơn một tháng, nhân Sư bảo chúng tăng rằng: “Muốn biết được Tuệ Nham tôi, thì khi linh trên tháp rơi xuống, tôi sẽ qua đời”. Đến lúc quả nhiên như thế, Sư trở về khóa cửa phòng, đập phá cửa mở thì thấy Sư ngồi thẳng mà thị tịch. Xa gần nghe thế đua nhau kéo đến đông đầy, mỗi người tự xả thí vàng lụa cúng dường, thành một đống lớn. Mới y theo lời Sư nói trước kia xây dựng thành ngôi chùa nổi tiếng. Mọi việc thảy đều phù hợp. Từ lúc Sư thị tịch đến nay đã hơn bốn mươi năm, mà vẫn như lúc còn sống, hiện tôn trí tại Phật đường, để mọi người chiêm lễ, bái yết.

25. Truyện ngài Thích Pháp An trụ Đạo tràng Bảo Dương ở Đông Đô.

Thích Pháp An, họ Bành, người ở xứ Thuần Cô thuộc An Định. Sư xuất gia từ thuở thiếu thời tại tinh xá Cửu Lũng ở núi Thái Bạch, kính mến Thiền pháp làm chính nghiệp, ăn uống sơ sài, mặc áo thô xấu đến tận tuổi già.

Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, Sư đến Giang Đô, bảo thông Tấn Vương. Bấy giờ, vì hình dáng Sư thấp xấu, nói cười khinh xuất, nên chẳng lấy làm thông. Một hôm, Sư đến trước cửa, mọi người xua đuổi mà chẳng đi, thử lấy làm Thông. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) nghe thế, bèn mời vào cung diện kiến, y như đã quen biết xưa cũ. Nhân đó, Sư trụ ở chùa Tuệ Nhật. Những nơi nào Vua đến, thì cùng có ngài đi theo. Lúc xa giá Vua đến Thái Sơn, bấy giờ gặp lúc khát nước thiếu thốn, nhìn khắp bốn phía toàn là đá núi không do đâu có được nước. Sư dùng dao đâm vào đá thì có nước tuôn ra, lấy đó dâng cho Vua. Khi ấy, Vua vui mừng khen ngợi, hỏi Sư: “Bởi năng lực nào vậy?” Sư đáp: “Sức lực của Vua”. Sư bèn theo Vua vào bãi sa mạc, đến biển bùn sình, trong đó nếu có gặp biến cố, thì Sư đều dự biết mà lánh, nên không bị tổn hại thất bại gì. Sau, lại đến Thái Sơn, Chư tăng chùa Thân Thông đến mời Đàn Việt. Sư thấu đạt việc đó, Vua bèn viết tay trên vách chùa để mở mang hộ trì. Mới đầu, cùng Vua vào hang, Sư thấy một vị tăng thân mặc áo xấu, cưỡi con Lừa trắng đi đến, Vua hỏi: “Đó là ai?” Sư đáp: “Đó là Lãng Công. Tức mới lần đầu tiên đến chùa Thần Thông nên đến đón rước dẫn đường”. Đến lúc vào tới trong chùa, lại thấy một vị thần tướng trạng cao lớn hùng vĩ đứng trên giảng đường, tay tựa vào miệng chim si nhìn xuống đại chúng. Vua lại hỏi, Sư đáp: “Đó là Thần núi Thái Bạch, là người theo vua.” Từ đó về sau, có nhiều việc kỳ đặc, ở đây không chép rộng!”

Đến đầu niên hiệu Đại Nghiệp (605) đời Tùy, Vua Dương Đế (Dương Quảng) càng rất mực kính trọng Sư. Các hàng oai vệ Vương Công hễ trông thấy Sư thì đều qụy gối kính chào. Thường Thị Tam Vệ kính thờ Sư như thần. Sư lại đến các danh sơn thỉnh các vị ẩn dật như các ngài Quách Trí, Biện Thích, Chí Công, Trạm Công, Bôi Độ, v.v… đồng một lúc cùng đến trụ chùa Tuệ Nhật, các hàng Đạo nghệ có hơn hai ngàn vị, cung cấp bốn thứ cần dùng vốn do từ Sư mà lập. Vua lại vì xây dựng lập Đạo tràng Bảo Dương ở Đông Đô, chỉ một chúng của Sư ở trong đó dựng lập đạo nghiệp.

Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười một (615) đời Tùy, Sư tấu trình rằng: “bốn phương nhiều nạn!”. Sư không bệnh tật gì mà thị tịch tại chùa đang ở, thọ chín mươi tám tuổi. Trước lúc sắp tịch, Sư thưa với Vua về Hậu sự rằng: “Sau khi Pháp An tôi qua đời khoảng một trăm ngày sẽ có lửa cháy ở nội cung, Vua càng phải thận trọng”. Đến tiết Hàn Thực, dầu vọt lên thiêu đốt, đang đêm cửa đóng nên cung nhân cả ba viện cùng mỗt lúc bị giết bởi lửa thiêu. Khi đó, Vua Dương Đế chẳng lấy làm lạ, tiễn đưa kim quan Sư đến an táng ở núi Thái Bạch, mọi chi phí cúng dâng đều do Quan cung cấp.

Sư vốn có đức hạnh trầm lắng bên trong, ở ngoài đồng như người tục, chỉ có lúc ngủ, Sư không kê gối, cổ không co cong, chỉ nghiêng cổ tựa bên mép giường, miệng chảy nước dãi thường có cả thăng. Đó mới là lạ.

Bấy giờ, lại có Sa-môn Thích Pháp Tế là vị Tăng thấu suốt nhận biết khác lạ. Sư phát xuất dấu vết từ thời nhà Trần cho đến cả 2 đời Vua (Văn Đế, Dương Đế) đời Tùy. Sư đều nghỉ qua đêm trong cung cấm. Tuy cùng sống lẫn lộn với các hàng phi hậu, nhưng Sư tinh tấn ít dục thật ít người đạt được như thế. Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) đời Tùy, lúc còn ở Trường An vì Sư mà xây dựng chùa Hương Đài. Sau, Sư đến trụ ở Đông Đô, lại xây dựng Đạo tràng Long Thiên. Vua cấp cho Sư một con ngựa trắng, Sư thường cưỡi trong cung. Nếu có ai bị bệnh hoạn gì, Sư chú nguyện vào nước rồi cho uống, không bệnh gì chẳng lành. Sư lại thấy được Quỷ vật, thấy trước những điều chưa xảy ra.

Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ tư (608) đời Tùy, bỗng nhiên Sư giã biệt Vua Dương Đế (Dương Quảng 605-617) rằng: “Thiên mạng chẳng thường, lại phải đến đời sau, cúi mong che chở, gánh vác chúng sinh!”. Liền đó, Sư bèn ngồi mà thị tịch. Cạo tóc sắp tẩn liệm, bỗng chốc tóc mọc ra dài cả nửa tấc. Vua bảo: “Thiền sư diệt Định, đâu được cạo tóc như thế”. Và bảo mang chuông lớn đến đánh. Sau hơn một tháng, Sư không xuất định, thân tướng Sư vẫn như lúc còn sống. Vua bèn bãi triều, trăm quan đồng mặc sắc phục mầu trắng. Vua ban sắc tiễn đưa đến Tương Châu. Lại lực do Quan cung cấp, đi đến đâu thì thiết trai tại đó. Mọi vật đều lưu xuất tại đó, mỗi ngày cúng dường trai hội cả trăm vị tăng, suốt đến bốn mươi chín ngày. Mỗi người riêng một ngày cúng dường hai mươi lăm xấp, tính gồm tất cả có hơn mười vạn xấp. Đó đều là phước lực của Sư, nên mọi người đều dốc bố thí báu trong nhà.

26. Truyện ngài Thích Tuệ Khản trụ chùa Đại Quy Thiện ở Tương Châu.

Thích Tuệ Khản, họ Dương, người ở xứ Điển Hà thuộc Tấn Lăng. Từ thuở thiếu thời, Sư thọ học với Sa-môn Xà-lê Hòa.

Xà-lê Hoà là người Linh Thông u hiển. Người đời chẳng ai lường biết được tâm Sư cạn sâu thế nào, nhưng Sư cung kính tôn tượng, kính thờ đồng như Phật thật, mỗi lúc thấy tôn tượng đứng thì Sư không dám ngồi ở trước, khuyên người tạo tượng chỉ nên tạo Tượng ngồi. Đi giữa đường nếu gặp các duyên sự nguy ách, Sư đều cứu giúp. Hoặc thấy heo bị trói buộc, Sư liền bảo: “Giải thoát thủ Lăng Nghiêm”. Heo liền được mở trói, chủ nhân đó mà thả. Từ đó, Sư chỉ lấy sự từ bi cứu giúp làm chánh nghiệp. Mỗi lúc đại chúng nhóm họp một nơi, Sư liền nói pháp cho nghe, và đều tùy việc mà khen ngợi dẫn dụ, tức ngay sự vật thành việc chuyên. Đại chúng không ai chẳng tỏ ngộ mà quy hướng về với Chánh đao, sau cùng, Sư đến Nghiệp Hạ, mở mang Chánh Pháp. Đồ chúng quy hướng mãi đến nay vẫn lưu truyền ngâm vịnh. Sư thị tịch tại Nghiệp Đô. Có người hỏi về quả vị chứng đắc của Sư, Sư bảo: “Đạt được gốc lành thành thục.”

Sư kính thờ sức thần hóa của Xà-lê Hoà được mấy năm. Đại chúng biết Sư có năng lực linh dị, ban đầu chưa được rộng lớn, sau, đến Lãnh Nam, Sư quy tâm thọ học với Sa-môn Chân Đế. Nhân đó, Sư được truyền trao pháp Thiền. Sư tinh chuyên thực hành, không bao lâu, đã có sự tỏ ngộ sâu xa. Sau cùng, Sư đến trụ chùa Thê Hà, an chí rỗng lắng, qua lại tự tại, không bị bó buộc bởi núi đồi. Bấy giờ, Sư đến Dương Đô, chỗ Pháp sư Ti. Pháp sư Ti vốn biết đạo hạnh của Sư nên lấy lễ đặc biệt để tiếp đón. Lúc Sư sắp về lại chùa núi, Pháp sư Ti thỉnh Sư ứng hiện thần lực. Sư bảo: “Đâu có gì khó”. Liền từ trong cửa sổ đưa cánh tay ra dài mấy mươi trượng mở ngang sáng ngời cả chùa lên đến trên tấm biển điện Phật, rồi trở lại trong phòng, Sư bảo với Pháp sư Ti rằng: “Người đời không nhận biết được sâu xa, thấy vậy bèn sinh tâm kinh dị. Vì vậy nên tôi không làm”.

Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ nhất (605) đời Tùy, Sư thị tịch tại chùa Đại Quy Thiện ở Tương Châu, thọ tám mươi hai tuổi. Ngày thị tịch, Sư đem ba y xiêm từ xa kéo đến trong giảng đường, tự nói: “Ba y hoàn trả lại chúng tăng. Nay tôi chết đi!”Bèn trở về phòng. Đại chúng kinh sợ đến tìm, chỉ thấy xương trắng đầy đủ hình tướng ngồi kiết già trên giường, cùng nhau xúm lại lay động nghe tiếng leng keng mà chẳng tan.

27. Truyện ngài Thích Chuyển Minh trụ chùa Hóa Độ ở Kinh đô:

Thích Chuyển Minh, họ Lộc, không rõ Sư là người xứ nào. Sư mặc Tăng Nghi, diện mạo chẳng to lớn, dung chỉ ngài trầm lắng, không tỏ vẻ mừng giận.

Niên hiệu Đại Nghiệp thứ tám (612) đời Tùy, tự nhiên Sư đến trụ Lạc Ấp, bảo là có giặc dấy loạn. Đến lúc xem xét, tất cả không dấu vết gì, Vua Dương Đế (Dương Quảng 605-617) bấy giờ cho là Sư mê hoặc quần chúng, nhưng chưa thể gia tội, tạm bảo bắt giam. Mới đầu chẳng ai lường biết tại sao vậy, qua đến tháng sáu năm sau (613) quả nhiên gặp phải Kiêu Cảm phản nghịch, đuổi bức hung ác sung vào dò xét Đông Đô, giết hại rất nhiều. Vua mới gượng tin lời Sư nói có chứng cứ, bèn ban sắc thả ra. Tuy bị ràng buộc hay được thả, tâm tình Sư vẫn như thường, nói bàn với mọi người, không gì chẳng đề cập đến. Gặp lúc Vua đến Giang Đô, đi đến Yển Sư, bấy giờ trong ngục có đến năm mươi tử tù đã định thời gian hành quyết. Sư nghĩ ngày mai ta phải thả những người bị tội chết này”. Liền đến chỗ ngục, giả làm người thăm nuôi, gặp gỡ các người tù mà bảo rằng: “Ngày mai xe giá nhà Vua sẽ đi ngang qua đây, các ngươi đồng một lúc phải hô lớn “Có giặc đến”. Nếu có ai hỏi về nguyên do thì nói là tôi bảo như vậy thì sẽ thoát khỏi tội chết”. Đến lúc Vua đi ngang qua, các người tù bèn thực hành như lời Sư bảo. Vua liền ban sắc thả tất cả các người tù, bắt Sư vào giam cầm. Sư cười lớn mà chấp nhận, không hề tỏ vẻ lo sợ. Lúc bấy giờ khắp bốn phương đều gặp phải nạn đói kém trộm cắp, dân chúng không nơi nương tựa để sống, thật đúng như lời Sư nói.

Đến cuối niên hiệu Đại Nghiệp (617) đời Tùy, Sư vẫn còn bị giam cầm. Khi Việt Vương lên ngôi, Sư mới được thả. Tuy qua lại tự do, mà Sư thường ở trong cửa Càn Dương, nơi phòng viện riêng cung cấp, nhưng sợ Sư ngầm vượt ngục nên thầm sai ba người gìn giữ, riêng canh giữ Sư. Đến lúc quân quốc của Hoàng Thái Kiến Nghị mưu bàn, Sư thường dự cùng nơi màn trướng, trù tính lợi hại. Ngụy Trịnh Thế Sung càng gấp bội kính tin nên gìn giữ nghiêm mật lại kiêm thường độ. Đến niên hiệu Khai Minh thứ hai, tức niên hiệu Võ Đức thứ ba (620) thời Tiền Đường, Sư từ Lạc Cung an nhiên mà ra, chung quanh vây bọc đến năm lớp mà ban đầu không thấy dấu vết. Xét tướng của Ngụy Đô bị thất bại. Sư đi về hướng Tây, đến Kinh đô. Thái Võ Hoàng Đế (tức Vua Cao Tổ-Lý Uyên) sớm kính thờ âm văn, rất tin Thần Dị, thiết bày lễ lớn kính trọng Sư, ban sắc mời Sư trụ chùa Hoá Độ. Có mấy lần thỉnh Sư vào trong cung cấm. Sư trình bày đầy đủ những điều ứng, về sau mọi việc đều khế hợp.

Đến tháng tám năm đó (620) bỗng nhiên không thấy Sư đâu cả. Y phục mọi vật vẫn còn nguyên trong phòng. Sau đó, Vua ban sắc đi tìm, hỏi thăm khắp cả nước nhưng không được. Tìm Sư trên bước đường hành Đạo thầm trải qua điềm lành. Như có người hỏi về sở học, Sư thường dùng một Pháp Bình Đẳng chuyên chí phụng trì. Nhìn lại, Sư trải qua bốn triều đại, với các hạng sang hèn đều là thông thuộc, vì Đạo Sư suốt cùng u cực, nên đều đến sang thọ học. Mà tâm tình Sư bất kể là tươi hay héo, đều thật vâng theo bình đẳng. Nếu người nói năng quỷ quyệt chẳng thường hòa vận thì Sư bảo: “Pháp sư ấy từ trong loài dê mà sinh ra”. Sư dự ghi nêu bày mọi sự chẳng phải một. Đến chùa Tổng trì, nhìn chúng tăng ở đó, Sư bảo: “Không bao lâu nữa, nơi đây sẽ gặp nạn đổ máu, nên phải cùng nhau thận trọng”. Bấy giờ, mọi người cho đó là lạ, cùng nhau xem thường. Đến lúc gặp phải những sự việc như Pháp Cai, v.v… tìm khắp đô thị bị giết chết tại Đô thị, mới hối hận lỗi trước.

Vào cuối đời Tùy, có Bào Tử Minh, không rõ là người xứ nào. Khi ấy, Vua Dương Đế xa thỉnh những bậc danh tăng tài nghệ. Nhưng Sư thấm đượm mặt trời trí tuệ, thường đến các chùa viện chẳng ở phòng nhà, hễ đêm đến thì dừng nghỉ không nơi cố định. Đã nhận lời Quan thỉnh cúng dường nhưng Sư không hề đến dự. Chẳng đắp mặc ba pháp y, chỉ mặc áo tràng, hoặc có lúc kinh hãi kêu réo chạy quàng, nói năng không chuẩn định. Niên hiệu Đại Nghiệp thứ chín (613) đời Tùy, Sư dùng áo dài bịt trán, xướng bảo: “Giặc giặc” mà chạy, người đương thời cho đó là hiện điềm. Đến lúc Kiêu Cảm dấy khỏi phản nghịch, các quân lính đều quấn truân ở cổ, bịt trán tướng trạng như Sư, đều vây quanh Đông Đô. Vời hỏi Sư về mọi sự thông bít, Sư liền mắng nhiếc rằng: “Giặc hại thiên hạ, làm gì có nước nhà ư?” Khi đó, Vua đang ở tại quận Trác, nghe thế rất vui mừng, vời đến mà nhọc đuổi trừ. Sư lại dùng sọt đựng đầy đất, đang lúc gió thổi mà phủ sau. Bọn Kiêu Cảm nghịch đảng đều bị chém giết ở ngoài cửa Trường Hạ, mỗi ngày riêng có đến mấy ngàn xe cùng ứng khắp. Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười (614) đời Tùy, vô cớ mà Sư qua đời tại Lạc ấp.

28. Truyện ngài Thích Giả Dật ở An Châu:

Thích Giả Dật, không biết Sư là người xứ nào. Khoảng đầu niên hiệu Nhân Thọ (601) đời Tùy, Sư đến ở đất An Lục. Sư nói cười úp mở chẳng vượt quá phù sấm. Sư vận mặc luôn biến đổi, lúc đen lúc trắng. Sau, có một thời gian ngài phân thân đến các huyện, đến lúc suy nghiệm, mọi người mới kính trọng đức hạnh của Sư. Hành tích chẳng trải qua mà vì không biết nên xấu hổ.

Có Sa-môn Tuệ Hạo ở chùa Phương Đẳng, là người học hành sâu rộng, Sư nhân có việc nên đến đó, đem năm mươi giấy tặng cho và bảo: “Pháp sư nhờ đây mà được giải mở”. Mới đầu, ngài Tuệ Hạo không biết việc ấy là gì, sau có sự tranh luận khởi lên, ngài Tuệ Hạo bị dẫn vào cung cấm, Quan Ti trách hỏi, ngài dẫn biện mà đáp, giấy vừa hết thì sự việc được xong, đúng như điều Sư nói. Nên điều trưng ứng Sư nêu đại loại đều như thế.

Sau đó, Sư đến một nhà nọ, bảo rằng: “Nhà ông có một cô gái sắp đi lấy chồng”. Nhân đó vào chợ, Sư xướng lệnh xong, bảo rằng: “Nhà kia gả vợ cho ta, cần có được lễ tặng, đòi nhiều tiền gạo, định ngày thành tựu”. Mấy lần, Sư đến cửa nhà người lớn tiếng trình bày. Nhà có cô gái lấy làm xấu hổ, bèn âm thầm giết chết cô gái chôn vùi dưới hầm phẩn. Qua ba ngày sau, Sư đi đến trong chợ, gặp người, bèn nói cho người nghe sự việc bị giết hại.

Khoảng niên hiệu Đại Nghiệp thứ năm (609) đời Tùy, trong nước đang thanh bình an thái, Sư cùng bọn trẻ nhỏ vui đùa bên bờ sông, hoặc cưỡi trên cầu ván, múa tay mà bảo rằng: “Bẻ đầu Dê, quay đầu Dê”. Mọi người thấy vậy chê cười mọi hành động của Sư. Đến lúc tại Giang Đô bị họa loạn, mọi việc đều hợp với lời nói trước của Sư. Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

Bấy giờ, tại Thục Quận lại có Sa-môn Dương Hựu như người rồ dại ở xứ Mân Lạc. Có những vị già cả bảo là: “Từ lúc đầu trông thấy Sư cho đến nay dung mạo vẫn như xưa không thay đổi, tuổi khoảng chừng bốn mươi”. Sư mặc áo sam mầu vàng cũ, ăn uống đồng như người thế tục, không nơi ở cố định. Mỗi lúc có nhóm họp lớn, thì ngài đều tham dự trước. Sư nói cười ứng biến, bàn luận không thương tổn vật. Sư dự ghi những ứng nghiệm về tương lai, người đương thời đều cùng khen ngợi. Mãi đến đầu thời Tiền Đường, vẫn còn thấy Sư ở xứ đó, nhưng về sau, không biết Sư ở đâu!.

29. Truyện ngài Thích Pháp Thuận trụ chùa Nghĩa Thiện:

Thích Pháp Thuận, họ Đỗ, người ở xứ Vạn Niên thuộc Ung Châu. Bẩm tánh Sư nhu hòa, không hề nghĩ duyên men theo việc ác. Sư giã từ cha mẹ làm lính ở phương xa, không sợ gian nan khó khổ. Năm mười tám tuổi Sư bỏ tục xuất gia, kính thờ Thiền sư Tăng Trân ở chùa Nhân Thánh, thọ trì Định Nghiệp.

Ngài Tăng Trân họ Ngụy. Chí luôn giữ kiệm ước, sống nơi đồng nội quen dần thành tánh. Ở phía Đông Kinh thất có gò đất tên là Mã Đầu, bờ không sâu lắm, có thể làm hang Linh. Ngài Tăng Trân bèn bắt đầu xây dựng nền tảng ở đó, khuyên người thế tục sửa sang. Sư ngồi thẳng chỉ huy, nêu bày phép tắc, bỗng nhiên cảm có một con chó không biết từ đâu đến, chân trắng mình vàng tự nhiên thuần quen, đi thẳng vào trong hang, miệng ngậm đất ra, qua lại chỉ trong chốc lát, làm việc nặng nhọc mà không mỏi mệt, ăn thì đồng như chư tăng, qua khỏi bữa trưa thì không ăn. Đã có sự kỳ lạ ấy, nên mọi người ở khắp bốn phương xa đều ảnh hưởng quy hướng. Bèn đem sự việc ấy tấu trình. Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) đời Tùy rất kính trọng, mỗi ngày ban tặng ba thăng gạo để chu cấp theo hạn định thường xuyên. Đến lúc khám hang hoàn thành thì tự nhiên vô cớ con chó ấy chết. Nay gọi đó là chùa Nhân Thánh.

Bấy giờ, Sư đích thân trông thấy việc ấy, càng gấp bội quy y, gắng sức giúp đỡ cùng tạo dựng, tùy tiện thưa hỏi. Sau, Sư hành Đạo hoằng hóa ở Khánh Châu. Khuyên dân chúng thiết hội cúng dường, mới đầu chỉ hạn định năm trăm vị, nhưng tới lúc thọ trai thì gấp bội người đến, nên người chủ cúng dường lo sợ. Sư bảo: “ Không có gì phải lo sợ, cứ việc cung cấp khắp cùng mà đừng sợ số người dự cúng dường, do đó đến cả ngàn vị cũng đều đủ cả”. Từng có Trương Hà Giang và Trương Hoằng Sướng ở nhà chăn nuôi trâu ngựa, tánh tình vốn xấu ác, mọi người đều sợ. Bán không người mua. Sư bèn vì chỉ bày nói năng từ thiện, như có người nghe theo. Từ đó về sau không còn xúc chạm nữa. Sư dẫn dụ khai hóa các hàng dị loại, đại khái đều như vậy.

Sư thường dẫn chúng tăng đến Ly Sơn, trong mùa hạ nương ở nơi vắng lặng. Đất ở đó có nhiều trùng kiến, nên không trồng rau được. Sư sợ có sự tổn hại, nên đến chỗ đất mà chỉ bày, bảo các loài trùng kiến dời đi ở nơi khác, sau đó không lâu đến xem thì như có phạm vi không còn có trùng kiến. Bấy giờ, Sư bị bệnh ung nhọt, máu mủ tanh hôi rỉ ra ngoài, có người kính trọng Sư nên mút lấy, có người dùng bông mới để lau chùi. Sau đó liền lành hẳn, các thứ máu mủ tanh hôi tỏa ra mùi thơm lạ, khó thể sánh ví. Các tấm bông lau chùi ấy cũng còn có mùi thơm không ngớt.

Tại huyện Tam Nguyên có Điền Tát-đỏa từ lúc mới sinh đến nay tai bị điếc, lại có Trương Tô cũng bị câm từ thuở mới sinh. Sư nghe bèn đến cùng bàn luận, liền được như ngày thường, liền khỏi hẳn. tại huyện võ công có vị tăng bị rồng độc quấy nhiễu. Chúng tăng dẫn đến chỗ Sư. Sư bèn khoanh tay ngay ngắn ngồi đối diện. Rồng gá vào vị tăng mắc bệnh nói rằng: “Thiền sư đã đến, nghĩa là không còn được ở lâu”. Rất nhọc quấy nhiểu, sau đó liền được mở giải. Do đó mọi người ở khắp xa gần mắc phải các chứng bệnh chướng độc dịch lệ, dâm tà não loạn ở đâu cũng dẫn đến chỗ Sư. Sư chẳng làm những thuật gì khác lạ, chỉ ngồi đối đáp. Nên những hàng thức giả cho đó là có điều cảm của âm Đức, nên u hiển riêng kính đến cùng, những điều Sư thiết bày nói dạy, phần nhiều không dùng lời suông vô bổ mà nêu chánh lý. Cây thần miếu quỷ đều bị đốt phá. Mọi việc thầy Đồng cúng vái, đích thân Sư thâu nhặt. Thường thấy điềm lành, không hề ngăn ngại, Sư kính thờ Chánh giáo, đại loại như thế. Sư dốc tánh miên mật, tình gồm trầm ái. Các hàng đạo tục sang hèn thảy đều kính thờ, mà Sư chỉ một lời, cõi lòng chẳng hai. hoặc lại có người bị bệnh nặng khó chữa trị, nguyện sâu chưa thành đạt, Sư đều tuỳ thời chỉ bày, và đều được toại như tâm ý. Bấy giờ, có người ngợi khen, có người hủy hoại, nghe đến nơi tai, dường như không biết, cho là lời khác.

Nhân đi đến Nam Dã, sắp vượt qua Hoàng Cự, nước ở đó bị ngập nước, cố gắng vượt qua, bờ đã cao nhẵn dù có lên được cũng lại rơi xuống, bỗng nhiên dòng nước ngừng chảy bèn tùy theo đất mà qua. Đến lúc Sư đã lên lên bờ, thì nước tuôn lại như cũ. Môn nhân đệ tử Sư đưa mắt nhìn mà chẳng lường biết vì sao như vậy. Do cảm thông cả u hiển nên tiếng tăm vang khắp từ triều đình đến thôn dã. Có nhiều những kẻ bỉ phu tham lợi tài thực đó. Lời nói của Sư không dính mắc thế tục, hoàn toàn không lưu tâm. Tùy có sự nhậm dụng mà tình chí rỗng xa, Sư chỉ mặc áo thô xấu, không có gì phụ thêm. Tuy nghe có lời xì xầm nhưng

Sư chỉ cười lớn, không hề đua tranh với chúng sinh. Sư có những việc đại lại như thế thế.

Vua Thái Tông (Lý Thế Dân 627-650) thời Tiền Đường kính phụng đức hạnh Sư, khâm ngưỡng sức thần của Sư nên dẫn vào nội cung, ban lễ cúng dường sùng kính. Các hàng Trữ Hậu, Vương Tộc, đều cung kính như trọng thần, đều theo giới luật, không trái với quy cấm.

Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười bốn (640) thời Tiền Đường, tự nhiên không tật bệnh, Sư răn dặn môn nhân đệ tử, pháp từ thuở bình sinh đến nay Sư thực hành phải nên tiếp nhận hành trì. Nói xong, Sư bèn thị tịch như thường ngồi thiền tại chùa Nghĩa Thiệu ở Nam Giao, thọ tám mươi tư tuổi. Khi Sư thị tịch có hai con chim bay đến phòng Sư buồn sợ kêu rất thảm thiết. Nhân đó tiễn đưa Sư đến gò đất phía Bắc Phiền Xuyên, đào hang mà an táng. Khắp cả kinh ấp mọi người đồng khen ngợi, tang phục khắp cùng thôn dã. Nhục thân Sư không biến đổi sắc mầu qua hơn một tháng lại càng đẹp tươi tắn, an tọa tam châu mà xương khô chẳng tan. Từ khi Sư thị tịch đến nay thường có mùi thơm lạ tỏa ra từ nhục thân Sư. Nên các bạn đồng học của Sư v.v… sợ có kẻ bên ngoài cướp đoạt bèn tôn trí cất giữ vào trong khám. Vào những ngày tốt, bốn chúng thường đến cúng dường đông đúc.

Sư có đệ tử là Sa-môn Trí Nghiêm là bậc nổi tiếng ở chùa Chí Tướng. Từ thuở nhỏ, ngài (Trí Nghiễm) phụng kính nhã nhặn, vâng theo thừa độ, mà thần dụng trong sáng vang đến chốn Kinh đô., với các kinh luận như Hoa Nghiêm, luận Nhiếp Đại thừa về sau Sư thường giảng dạy, điều được Sư giáo hóa, dẫn dắt xóm làng, mảy trần ấy chẳng dứt.

30. Truyện ngài Thích Đạo Anh trụ chùa Phổ Tế ở Bồ Châu.

Thích Đạo Anh, họ Trần, người ở xứ Ỷ Thị thuộc Bồ Châu. Năm Sư mười tám tuổi, người chú của Sư là Luật sư Hưu dẫn dắt Sư xuất gia nhưng cha mẹ Sư vì thương con nên cưới vợ cho Sư. Suốt năm năm đồng chung giường mà thề nguyện trọn không hề xúc chạm Sư vốn buôn bán ở chợ, cùng chung của cải với người, Sư bèn bảo vợ cầm đuốc, Sư phân phán văn sớ, giao phó lưu lụy rồi trốn đi xuống tốc, đến chỗ giảng tọa của Pháp sư Cự nghe học các Kinh Hoa Nghiêm, v.v… Sau khi học đã thành đạt, Sư về lại thôn ấp. Người vợ Sư vẫn còn.

Đến niên hiệu Khai Hoàng thứ mười (590) đời Tùy, Sư mới được Đại độ, bèn suy nghĩ sâu xa rằng: “Pháp tướng có thể nhận biết, tâm mê hoặc phải hiểu rõ”. Bèn đến chùa Bách Thê ở núi Thái Hành, huyện giải, tu hành pháp Chỉ Quán, bỗng nhiên thấu hai thứ không là Nam Đỏa ngộ nhân, Bắc Lãnh ngộ pháp, soi chiếu sâu xa ngồi dưới tỏa cành cây sáng bốn phía, nay đây thấy hiện tại. Nhân đó Sư coi sóc việc chúng tăng, dùng sự để xét Tâm. Sau, Sư đến Kinh đô trụ chùa Thắng Quang, nương tựa Thiền sư Đàm Thiên, thọ học Nhiếp Luận. Ngài Đàm Thiên giảng ngộ mới mẻ nên đại chúng đông đảo có tới năm trăm vị, nhưng phần nhiều là gặt hái Danh giáo mà ít ai có thể đúng như lý. Riêng Sư lựa chọn hợp thời để thưa hỏi Nghĩa, chỉ nêu bày “Chỉ Quán”, không cùng tư duy các Trần, các thiết yếu bàn tiết, Sư hiểu sâu Đại Chỉ. Ngài Đàm Thiên rất mến quý Sư, bảo với môn nhân quyến thuộc rằng: “Các ông tuy khảo xét thông hiểu Văn nghĩa, mà không phân biệt tối sáng. Người thấu đạt được Diệu chỉ ấy, chỉ có Đạo Anh đây”. Từ đó, đối với nghi phục uống ăn, chưa từng chương cú, rất vì thời chăm chú làm người thấu đạt, những lúc rảnh rỗi nghe giảng, ngày thường y cứ theo Kinh Hoa Nghiêm mà phát nguyện cung cấp cúng dường chúng tăng. Nếu có người kính mến Đạo, theo việc Sư làm thì Sư nhân nơi sự mà trình bày lý, điều phục tâm hành, nương cậy để hoằng pháp. Sư thường bảo: “Tôi nhắm mắt ngồi thiền cùng tìm lý tánh, nếu có chỗ thấu đạt thì đến sau khi mở mắt lại hợp như thường nhận biết. Nên đối với việc chuyên du quán sai khiến Tâm, có nhiều huân tập”. Nhưng Sư thường ngồi mở mắt như thức, động vượt qua mấy đêm, mới đầu không chóng máy động. Sau Sư nhập vào thiền định hơi lộ bày vết tích khác lạ.

Đến niên hiệu Đại Nghiệp thứ chín (613) đời Tùy, Sư từng đảm nhận việc trị tuế, tranh đất với người thế tục, đấu tranh không dứt. Bèn nói với người kia rằng: “Tôi chết đây!”. Bỗng nhiên Sư té ngã cứng đờ như chết. Các người thế tục bàn với nhau rằng: “Đạo nhân có lắm sự dối trá, hãy lấy kim châm vào áo giáp”. Tuy kim châm vào sâu nhưng Sư vẫn không lay động, hơi thở ngưng dứt, mầu da biến đổi, sắp muốn sình trướng lên. Bên cạnh đó có người hiểu biết bảo những người thế tục thảy đều nên quy mạng, thề không dám tranh giành nữa, cầu mong Sư sống trở lại, Sư liền ngồi dậy nói cười như thường.

Sư lại đi đến bên cạnh ao Long Đài, thấy cá bơi lội. Sư bèn bảo rằng: “Ta và ngươi cùng đua xem ai là kẻ thắng, ngươi chẳng thể bằng hay ta chẳng bằng ngươi ư?” Sư liền cởi áo nhảy xuống nước. Đệ tử giữ áo Sư đứng đợi. Trải qua sáu đêm Sư mới ngoi lên khỏi mặt nước, bảo rằng: “Dù ở dưới nước nhưng còn tệ hơn ở dưới đất”. Lại gặp lúc giá lạnh, nước băng đóng dầy tướng trạng như tuyết, Sư bèn bảo: “Ở chỗ bằng phẳng sạch sẽ như vầy, vì sao được không ngủ?” Ngài bèn cởi áo nằm ngửa trải qua ba đêm mới thức dậy, bảo rằng: “Vừa mới bị lửa đốt giết hại ta”. Cứ như thế, Sư tùy việc mà dùng pháp đối trị, túng nhậm tự tại thật khó gặp.

Về sau, Sư trở lại Bồ Châu, trụ chùa Phổ Tế, lập ra ba khu vườn. Ruộng lúa thóc mè đều ở tại chỗ sâu ẩn nơi Đông Sơn thuộc huyện Hạ. Chẳng tranh giành với người thế tục, dùng tiếp gởi xa. Nên khiến tám phương bốn bộ, người quy tụ về như rừng. Ban ngày thì Sư dẫn dắt làm việc chúng tăng, đích thân lo việc mang vác chuyển vận, gặp những duyên cớ khó khăn hiểm trở, thì Sư xông vào trước. Đêm đến thì ngồi kiết già giảng nói Pháp Thiền Quán cho chúng nghe, bấy giờ nếu có người mệt nhọc thì nghe pháp không biết mệt nhọc. Một hôm, Sư Luận Khởi Tín đến phần “Chân Thật Môn” tự nhiên Sư nín lặng không nói. Mọi người lấy làm lạ bèn đến xem xét, thấy Sư đã tắt thở, thân lạnh. Đại chúng biết Sư diệt tưởng nên mặc tình để vậy. Trải qua nhiều đêm, Sư mới xuất định.

Bấy giờ ở Hà Đông có Sa-môn Đạo Tốn là bậc danh tăng nổi tiếng ở đời, tu tập tâm đạo, vốn là bạn đồng học của Sư. Ban đầu Sư ở tại huyện Giải, thống lãnh đồ chúng giảng đạo, đến lúc ngài Đạo Tốn thị tịch, cách xa nơi Sư ở một trăm năm mươi dặm chưa kịp báo tin đến. Đêm ngài Đạo Tốn thị tịch thì Sư bảo đại chúng ở đó rằng: “Ngài Đạo Tốn đã thị tịch, hãy đến đưa tiễn?” Mọi người hỏi về nguyên do. Sư đáp: “Đó là việc thế tục, chính là do tâm chuyển.”

Trước đêm Sư thị tịch, Sư nhóm họp đại chúng bảo rằng: “Phải gấp thâu gom chứa nhóm, sáng mai có lắm người nhóm họp ăn uống hao tốn gạo thóc rau trái”. Đại chúng chẳng ai lường biết được lời nói đó. Sư cũng tự thân vận chuyển, thúc giục rất gấp gáp. Đến đêm tối mọi việc đều xong, Sư bảo lấy nước cạo tóc tắm gội, rồi trở về chỗ ngồi, đắp mặc Đại y. Sư bảo rằng: “Người ta cho rằng tôi là Thiền sư Đạo Anh. Tướng của Thiền sư không thể trái nghịch với Đời”. Sư lại bảo môn nhân là Sa-môn Chí Bao rằng: “Thiền sư biết Đạo Anh tôi hơi thở còn bao nhiêu chăng?” Ngài Chí Bao dùng sự để trả lời, Sư tự nói đúng thế. Nhân đó, Sư liền giảng nói Pháp yếu cho Sư nghe. Sư lại bảo: “Vô thường tức là thường, không thể tự xem thường, không thể để chết luống uổng”. Sư bảo đọc kệ tụng của ngài Hiền Thủ trong Kinh Hoa Nghiêm, đến đoạn “Lúc sắp qua đời khuyên nghĩ nhớ chỗ tốt lành”, Minh tướng đã xuất hiện, Sư bèn lặng lẽ thị tịch, mọi người đưa đuỗi tay dần theo xuống mà lạnh. Lúc ấy nhằm trong tháng chín niên hiệu Trinh Quán thứ mười một (637) thời Tiền Đường. Sư thọ bảy mươi bảy tuổi.

Mới đầu, Sư sắp thị tịch,có người hỏi về hậu sự. Sư bảo: “Phật có chỉ dạy rõ ràng, chỉ y cứ theo đó mà thực hành thì không khổ lụy, Đạo Anh tôi đâu cần nói“. Khi ấy cảm có một đàn chim bay đến nhóm họp nơi phòng Sư số đông cả vạn con, buồn kêu thảm thiết. Và trong đêm Sư thị tịch, Sa-môn Chí Bao đứng hầu bên cạnh thấy có hai đồng tử mặc áo xanh cầm hoa đi vào, có hơi mầu tím như ánh sáng từ nơi thân Sư phát ra ánh lửa lên nóc nhà. Đến lúc sáng sớm, sương mốc kết tụ chung quanh hai mươi dặm. Người vật đều mất ánh sáng, qua ba ngày sau mới hết. Ở Bồ Châu và Tấn Châu là nơi Sư hành hóa, mọi người nghe thế, buồn thương đua nhau kéo đến như chịu tang người thân. Xa nghiệm xét lời Sư nói chẳng hề sai chạy. Lại cảm có tăng Ngưu hống kêu rống vang xa mấy dặm, hai mắt tuôn lệ, chẳng ăn uống cỏ nước, suốt bảy ngày. Sắp đến lúc an táng, kẻ tăng người tục đua nhau tranh giành, và đều bảo: “Sư không ưa thích ồn ào náo động, chỉ nên còn giữ đạo nghiệp”. Liền đến chỗ trang trại phía nam, đục đá mà an táng Sư. Vừa đục một cái thì bỗng nhiên đất trời rung chuyển dữ dội, mọi người quấn cỏ nằm rạp xuống đất kinh sợ. Chung quanh mười lăm dặm đều rung chuyển kinh sợ. Lại cảm có ba vầng cầu vồng nối liền phát ra từ nơi khám tôn trí kim quan. Có hai con chim mầu trắng liệng bay trên kim quan, đến lúc mọi việc chỗ khám hoàn tất thì bèn chết. Rõ ràng Sư có khả năng mở Đạo khai ngộ cho chúng sinh, tuệ giải nhập thần, nên được linh tướng khí trời khí đất, còn mất đều nhóm họp, chẳng phụ thân sống ở đời, thật chỉ có người ấy.

31. Truyện ngài Thích Hựu Đức ở Lương Sơn thuộc Ung Châu:

Thích Hựu Đức, họ Từ, người ở xứ Lễ Tuyền thuộc Ung Châu, thân tướng Sư cao lớn, mặt mày cốt cách khôi ngô, đi đứng khoan thai, mặc y phục thô sơ, Sư mở lời nói về mọi việc tương lai thường là chỗ rộng giúp. Gặp năm có những sự hung bạo độc lệ lan tràn, thì trước tiên Sư khuyên dân chúng khắp bốn phương kính thờ Tam Bảo. Những việc Sư thi thiết như là lễ phật, thiết trai cúng dường, xưng danh niệm tụng. Những người thực hành theo lời Sư chỉ bảo thì đều xua trừ được tai họa. Còn những người không tin đều bị ương họa, đến cùng Sư dự nghi mọi điều ở tương lai đại loại như ở trước mắt.

Bấy giờ, gặp lúc rất nắng hạn, mọi người lo sợ bèn đến thưa hỏi Sư. Sư đưa tay chỉ, bảo rằng: “Ngày ấy trời sẽ mưa, và chỉ mưa đến ngang chỗ ấy v.v.” Xét thời gian và nơi chốn mưa đến, đều đúng như lời Sư nói. Hoặc là sâu độc phá hại lúa mạ rộng hẹp, thấm đượm sâu cạn v.v… mọi việc đều phù hợp như gương sáng soi chiếu chẳng sót mất mảy may. Sư giữ chí thanh bạch thận trọng, chẳng lạm đến hình khoa. Điều mà năng lực chưa thực hành được thì chưa thọ nhận pháp ấy. Nên trong độ tuổi tráng niên, đối với Đạo pháp Sư chỉ vâng giữ mười giới, nhưng đối với thiên tụ tạp tướng Sư thường thực hành theo.

Về sau, Sư đến phía Nam núi Cửu Tuấn ở hồ A-nậu-đạt, đồng thời khắc bình bát bằng đá, ở bên cạnh hồ để cứu giúp chúng sinh. Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười hai (638) thời Tiền Đường, Sư thị tịch tại phòng ở núi. Mọi người đều cảm kính, xây tháp trắng thờ Sư.

32. Truyện ngài Thích Trí Tắc trụ chùa Biện Tài ở Kinh đô:

Thích Trí Tắc, họ Phùng, người ở xứ Trường An thuộc Ung Châu. Năm hai mươi tuổi, Sư xuất gia tại chùa Biện Tài, nghe Pháp sư Ngưng giảng luận Nhiếp Đại thừa hơn bốn mươi biến. Tánh thức Sư thấu đạt vượt trội, chỉ quán tìm. Sư thường mặc áo nạp rách rưới, quần rủ trên gối. Có người hỏi lý do, thì Sư bảo: “Y phục dài thì thường đứng”. Sư rảo bước khắp nơi phường chợ, đêm đến nghỉ trong chùa, tiếng tăm khắp cùng kinh ấp gần năm mươi năm. Với mọi thứ pháp tài ăn ngủ, Sư đều đồng như chư Tăng. Trong phòng Sư chỉ đặt một chiếc giường đơn, phía trên trải chiếu cỏ, một bình bát bằng đất, thìa bằng gỗ, ngoài ra không chứa nhóm thêm một vật gì. Hoặc có người thấy Sư lam lũ khổ cực nên sắm sửa cho, Sư có được vật gì thì mặc dùng vật ấy, nói trọn chẳng hết. Sư đồng với chúng tăng là thân hình có qua lại, cửa không mở đóng. Có vị tăng ở chung phòng, không biết Linh dị, gọi Sư là kẻ cuồng. Sư nghe thế, ngửa mặt cười lớn bảo rằng: “Nói kẻ khác là cuồng, mà chẳng tự biết mình là cuồng. Xuất gia lìa tục chỉ vì ăn mặc, đi đứng ngăn ngại, tiêu cửa nát rương, tốn phí thời gian, loạn mất hạnh nghiệp, lắm thứ chứa để, sai khiến chẳng an. Đó mà chẳng phải cuồng, càng chẳng phải cuồng”. Sư vỗ tay cười lớn, tánh Sư thường ưa thích ăn bánh bột, ở phía Bắc chùa có nhà Vương Ma-ha, Sư thường bảo nhà ấy làm, nếu cần thì liền đến. Nhân việc ấy mà dò xét thời gian, cả hai nơi đều thấy, mới gượng cho là Sư phân thân. Sư lời nói và việc làm hợp nhau, không mảy may vết lầm. Vào niên hiệu Trinh Quán (627-650) thời Tiền Đường, Sư thường ở riêng trong phòng. Đêm đến, Sư ngồi thẳng trọn đêm, ho khạc mãi đến sáng.

Tôi (Đạo Tuyên) đích thân trông thấy, nên lược ghi chép lại việc ấy v.v…

33. Truyện ngài Thích Thông Đạt trụ chùa Luật Tạng ở Kinh đô:

Thích Thông Đạt, người xứ Ung Châu. Năm ba mươi tuổi Sư xuất

gia, không có nơi ở cố định. Ban đầu Sư giã từ thế tục, đi khắp nơi tìm hỏi minh sư, gượng hỏi Đạo phương mà đều không xứng ý. Sư bèn vào núi Thái Bạch, không mang theo lương thực, chẳng chọn lựa hang rừng, đói thì ăn lá cỏ, ngủ thì tựa cây. Sư ngồi thẳng tư duy cao xa, trải suốt tối sáng, ý dụng mịt mờ, sự hiểu biết không nơi quy hướng, trải qua như thế năm năm, lo sợ chẳng dứt. Nhân lấy nhánh cây đập vào cục đất. Cục đất bị vỡ hình dáng tiêu tan. Thấy được duyên ấy, bỗng nhiên Sư đại ngộ.

Sau đó, Sư đến trụ chùa Luật tạng ở Kinh đô, đi các nơi nghe giảng giáo pháp Đại thừa, Tánh lượng Sư rỗng thoáng, chỉ mặc một chiếc Quần và một áo tràng vải bố chằm vá nhiều lớp, chân mang đôi giày cỏ suốt ba mươi năm. Với các thứ lụa gấm nhiều mầu Sư không hề khoác vào mình. Bất kể mùa đông, mùa hạ Sư chỉ mặc một bộ, không ngại nóng lạnh. Sư thường ở nơi trường giảng mà bình luận nói bày chỗ sâu mầu. Mà những kẻ bất tiếu ngu phu nói năng hành động mâu thuẫn, cho đến uống ăn chẳng khác người thế tục. Sư bảo rằng: “Học Đại thừa, mà hạnh nghiệp như thế ấy ư? Nếu được bậc Thánh nhớ nghĩ thì thật là phàm thứ. Tôi chẳng đồng như vậy”. Tả Bộc Xạ Phòng Huyền Linh nghe thế bèn kinh lạ, đón rước Sư đến trông Đệ, đích thân tôn thờ kinh trọng. Sư thấu hiểu Đạo là công phu tánh chẳng bó buộc, hoặc mặc quần đơn để bày bụng, hoặc nói những lời khác. Huyền Linh vì Đạo phong của Sư vượt ngoài mà đối xử, chẳng vì hình tướng, lời nói mà gây ra sự ngăn cách. Sư rất được quý trọng đại loại như vậy.

Sư thường uống nước ăn rau, mặc tình đi khắp nơi hoặc nhổ rau cỏ còn sống mà ăn, đến như Đào mận dưa quả Sư đều ăn sống hết cả vỏ hạt. Có người hỏi lý do, Sư bảo: “Của Tín thí khó vất bỏ.”

Từ niên hiệu Trinh Quán (627-650) thời Tiền Đường, về sau, Sư hơi hiển bày thần dị. Đến nhà người mà Sư nói cười thì là điềm lành, còn tỏ vẻ buồn bực tiết tháo thì đó là điềm xấu. Hoặc Sư cần tiền của, hoặc cần công sức thì tuỳ theo Sư bảo ít nhiều liền phải y theo mà đưa, còn nếu trái ngược lời Sư bảo thì sau sẽ hao tốn hơn cả số, Sư bảo. Có người cưỡi con lừa đến chùa tham quan. Sư đến xin, người ấy tiếc nên chẳng cho. Con lừa ấy chẳng bao lâu liền chết. Đại loại Sư có lắm việc như thế, chẳng phải chỉ một lần. Nên khắp chốn Kinh thất các hàng sang hèn đều tôn kính Sư. Mọi việc họa phước đều do nơi một lời nói của Sư. Sư giảng nói dẫn dụ, chỉ giữ lấy sự chẳng đắm trước. Các thứ tài lợi Sư có được do Đàn Việt cúng dường, đều dùng để xây chùa viện.

Đại tướng quân Tiết Bạn Quân ban đầu nghe Sư có Dị hạnh bèn

thỉnh Sư đến vườn nhà để cúng dường. Hơn trăm ngày, Sư chẳng trái khuôn phép chánh Đạo, bỗng một đêm, Sư đòi thức ăn muốn ăn, mới đầu Tiết Vạn Quân không dâng cấp, nhưng Sư đòi mãi không thôi, đành phải dâng cấp, Sư bèn ăn. Từ đó về sau, Sư hơi biến đổi dấu vết trước, chuyên hiển bày biến ứng, hành động có lắm nhỏ hẹp, Sư muốn vào bên trong nghỉ qua đêm. Anh em của Tiết Vạn quân vô cùng tức giận, đánh Sư gần chết. Sư ngửa mặt mà bảo rằng: “Các ông đánh ta thân thịt đều rách nát, máu me dơ dáy bất tịnh, nên cho ta nước nóng để rửa”. Đến lúc nước nấu sôi sùng sục, Sư cởi áo, nhảy vào trong vạc, coi như nước lạnh. Mọi người đứng bên cạnh vô cùng kinh sợ, Sư còn đòi cho thêm lửa. Khi ấy, cả nhà Tiết Vạn Quân bèn kinh sợ, cầu xin Sư tha thứ lỗi lầm ấy.

Sư có nợ tiền người hơn trăm quan, khi Sư có đủ thì không có người để trả. Sư bèn đem tiền đến cửa chùa, dò xét mọi người qua lại, tuỳ theo nợ ít nhiều mà trả, Sư đến thấu phía Tây chợ, mọi người đều thôi nhưng Sư vẫn giao trả và chẳng cấm. Đến lúc tới khám xét Sư trả nợ, thì chẳng thiếu mất một đồng. Thật, Sư có được khả năng đạt lượng hư hoài, định lượng khó có thể chuẩn xác!

Bấy giờ, lại gặp lúc lúa thóc khan hiếm mà Sư muốn thiết cúng Đại trai hội, bèn bảo nhà chùa viết nhiều sở thỉnh mời chúng tăng. Đến sáng sớm Sư đã định, chư tăng đến dự hội có cả ngàn vị, mà người cúng thì mất tăm chẳng biết ở đâu. Đại chúng quở trách lỗi ấy. Sư bảo: “Người ta hứa đưa đồ vật đến cúng dường, thì chẳng phải nói dối.” Đến giờ thọ trai, chư tăng sắp giải tán, bỗng nhiên thấy những thức ăn nấu chín ngon lành được vận chuyển bằng xe, bằng kiệu tiếp nối đầy đường đưa đến, liền lấy đó mà thiết bày cúng dường, bèn thừa thải rất nhiều và đều cúng vào kho của chúng tăng, đều không ủy thác từ nơi nào đưa đến. Lúc thọ trai xong, chỉ phút chốc người xe đều biến mất.

Hiện nay, Sư đang giáo hoá hưng thạnh ở Kinh Liễn. Từ triều đình cho đến thôn quê, mọi người đều chiêm ngưỡng. Trình bày mọi việc rất nhiều nên chẳng ghi chép hết.

TỤC CAO TĂNG TRUYỆN

Quyển 26A hết.

 

 

TRUYỆN NGÀI THÍCH MINH SÂM

(TIẾP TỤC SAU PHẦN MỘT CHƯƠNG IV)

Thích Minh Sâm, người ở đất Tề. Thủơ thiếu thời, Sư đi học ở Lưỡng Hà. Nhờ thông minh mà nổi tiếng. Nhưng kinh luận tuy nhiều nhưng Sư chỉ lấy trưng nạn làm tâm. Dưới thời Ngụy Minh, Phật giáo rất hưng thạnh nhưng Sư chỉ có đi học ở các trường giảng mà thôi, nên sự nhã lượng của Sư chẳng phải nghiệp lớn.

Bấy giờ, có Sa-môn Trí Dực là người có tiếng tăm đạo hạnh hòa mục, xa gần đều trông ngóng, học chúng rất đông đảo. Sư chẳng dằn nỗi u tình, rất kỵ tiếng tăm, riêng thầm kết giao, rộng tìm luận Đạo. Ban đầu, Sư làm “Nhà để luận nghị pháp”, lập biểu đồ, soạn văn. Ngoài thì bày Danh giáo, trong cấu kết ngôn dẫn, trích dẫn ra vào, xem thường mạo phạm tiếng tăm, nghe lời có thể lãnh hội. Đến lúc ghi chép mịt mờ, những người có ý chí mạnh mẽ cùng nhau nương theo như mây nhóm, nhìn vào biểu đồ, đọc xem kinh công lớn như mây mộng. Một lần theo chỉ bày truyền trao vở tan như băng tiêu, nên người đến học, trước phải sắm sửa lụa truyền. Pháp Ốc tử ấy, người vào học rất nhiều. Ngoài ra, nếu có người thành đạt thì không thể ẩn bí, nên tiếng tăm Sư vang vọng ít ai vượt hơn.

Sư lại soạn thuật “Xà Thế Pháp”. Thế ấy giống như đồ trận của Gia Cát Lượng. Thường thì Thế của rắn núi đánh Đầu thì đuôi đến, đại khái như vậy. Lại dùng Pháp so sánh với rắn, chợt độ chợt bỏ, trước sau không đồng nhau. Tôi (Đạo Tuyên) từng trông thấy biểu đồ ấy rất đáng sợ. Họa vẽ làm một con rắn dài ba thước, lúc khuất lúc bày, bên cạnh còn thêm Đạo phẩm. Khoảng cuối niên hiệu Đại Nghiệp (617) đời Tùy, có nhiều người học theo, nay thì chẳng còn thực hành. Tưởng cùng nên bặt dứt. Ban đầu, Sư thực hành Xà Luận khắp vùng Đông Xuyên, có người đạo hạnh rất can ngăn nhưng Sư quyết ý thực hành rộng khắp để làm Đạo nghệ.

Tại Thượng Ấp ở Lộ Châu, Sư nghĩ mở mang Kinh Pháp Hoa, bèn đến chùa Hồng Cốc ở huyện Lâm lự thuộc Nham Châu thỉnh chư tăng (quên tên vị Tăng ấy) đến giảng. Sư vốn có quen biết, nghe thế bèn tìm đến. Vị tăng ấy nghe Sư đến, trong tâm lo sợ như lửa đốt, biết năng lực luận đạo của Sư, không thể nào đối địch lại được, bèn đem tâm tình nói với Sư rằng: “Ở ấp này phần nhiều là những người mới tin. Nên sự việc cần phải quy phục các hàng sĩ tục v.v… đã có khuynh tâm. Mong Pháp sư nể tình xưa cũ, mà cùng thành thật khen ngợi. Nay có ít y tài xin cúng dâng Sư, mong thấu hiểu nỗi lòng nầy!”. Bèn dâng cúng mười xấp lụa. Sư bảo: “Mục đích tôi đến đây, chẳng lẽ có ý như thế sao, mong hãy dứt bỏ ý nghĩ đó!”. Nhưng vị tăng ấy chẳng chịu đi, muốn được một lần lên. Vị tăng ấy càng khiếp sợ, nhưng sự tình chẳng đặng dừng, bèn phải như thường lệ lên giảng. Sau cùng, Sư vào trong giảng đường, mang theo bó lụa nhặt lấy ở trong chúng, mà bảo rằng: “Pháp sư trên tòa cao hôm qua đem lụa quyên này dâng tặng, xin khỏi phải luận bàn. Nhưng phật pháp sâu rộng, phải quấy phải phân biệt. Nếu như đem tà pháp mà chỉ dạy cho người thì biết có bao nhiêu người thế tục mắc sai lầm. Pháp sư trên tòa cao nghe thế có khiếp sợ không? Nên y cứ theo văn thường xướng, như sớ mà giải thích”. Sư liền gọi đứng, muốn luận bàn về chí lý. Khi ấy, pháp sư ở trên tòa cao thần ý mạnh mẽ an nhiên đợi hỏi. Sư bèn nêu bày câu hỏi. Pháp sư tùy theo điều hỏi mà giải thích, lớp lớp nhiều mà không gì chẳng thông nghĩa. Tinh thần Sư bỗng nhiên nhiễu loạn, nghĩ khó có thể không theo, liền từ tòa đứng dậy bảo: “Pháp Sư ở trên tòa cao từ nãy đến giờ mờ tối bế tắt, bây giờ vì sao lại chóng giải mở như thế? đúng là do Thần quỷ trong núi giúp đỡ niệm lực, nếu không như thế thì làm sao có khả năng như vậy?” Pháp sư ở trên tòa cao và mọi người trong giảng đường đồng một lúc cười lớn.

Sư liền ra khỏi ấp cùng hai người bạn đến nhà thế tục khất thực. Đã bị đầy khí nghẹn ứ mà chẳng xuống. Còn các giải dụ khác tranh luận ở đâu ư? Luận nghị chẳng đến, trời thường có lý lớn, do nhân gì chóng khởi phiền não như vậy? Sư chẳng trả lời, đi theo ra hướng đông, từng bước than trách, leo lên đảnh núi, rất mực khốn khổ nên dừng nghỉ dưới gốc cây. Sư nói với hai người bạn rằng:” Nay Tôi bị phiền não thiêu đốt không thể nói. Trong ý sợ sẽ hóa thành rắn”. Liền cởi y, nằm ở trần, lăn lộn bất định, duỗi hai chân. Chỉ phút chốc, hai chân bỗng nhiên hợp thành một, làm thành đuôi rắn ngất nghễu vắt lên, bèn tự chuyển động. Nói với hai người bạn rằng: “Ta soạn luận Xà Thế, nay quả báo đã đến, các ông hãy mau leo lên cây, tâm ta vẫn chưa biến đổi.” Hai người bạn liền leo lên cây, vẫn nói với nhau rằng: “Hối hận soạn xà luận, quả báo đến như thế sao?” Trong lúc đang nói tự nhiên toàn thân Sư biến thành rắn, chỉ còn cái đầu chưa biến đổi mà cũng không còn nói được, bò ngoằn ngoèo dưới đất, ngẩng đầu tự đánh, đánh không ngừng nghỉ, đến lúc nát bỗng nhiên biến thành đầu trăn. Thân hình bỗng biến dài năm trượng, ngẩn đầu nhìn bốn phía, mắt sáng như sao. Khi đó khắp bốn phía các loài rắn đồng một lúc đua nhau kéo đến. Con trăn ấy cất đầu cách đất năm-sáu thước, tìm hang mà chui xuống. Các loài rắn cùng nương theo mà đi. Hai người bạn ấy chính mắt nghiệm thấy quả báo đó, khi đến Nghiệp Đô bèn kể lại.

 

QUYỂN 26 B

CHƯƠNG VI: CẢM THÔNG

TRONG PHẦN 2 CHƯƠNG VI

(chánh truyện có ba mươi chín vị, phụ có bốn vị)

1/ Truyện ngài Thích Tăng An tu hạnh đầu-đà ở Triệu Châu, thời Bắc Tề.
2/ Truyện ngài Xà-lê Hương trụ chùa Phi Phó ở núi Thanh Thành thuộc Ích Châu, thời Bắc Chu.
3/ Truyện ngài Thiền sư Du trụ chùa Đa Bảo ở Ích Châu.
4/ Truyện ngài Thích Tăng Độ ở Ích Châu.
5/ Truyện ngài Vệ Nguyên Tung trụ chùa Dã An ở Ích Châu.
6/ Truyện ngài Thích Thượng Viên ở Ích Châu, thời Tiền (Nam) Lương.
7/ Truyện ngài Thích Pháp Hạnh trụ núi Ngọc Tuyền ở Kinh Châu, thời Hậu Lương.
8/ Truyện ngài Thích Đạo Mục trụ Thần Sơn thuộc Kinh Châu
9/ Truyện ngài Thích Trí Khoáng trụ chùa Khai Thánh ở núi Tứ Vọng thuộc Kinh Châu, đời Tùy.
10/ Truyện ngài Thích Vô Tướng trụ chùa Tương Tư ở Phù Châu
11/ Truyện ngài Thích Đồng Tấn trụ chùa Đẳng Hạnh ở Lự Châu
12/ Truyện ngài Thích Phú Thượng ở Ích Châu
13/ Truyện ngài Thích Minh Cung trụ chùa Hội Thiện ở Trịnh Châu
14/ Truyện ngài Thích Pháp Tấn trụ núi Trường Dương ở Ích Châu
15/ Truyện ngài Thích Đạo U trụ chùa Xà Lê ở Đại Châu
16/ Truyện Xà-lê Sầm trụ chùa Thiện Cư ở Tương Châu
17/ Truyện Xà-lê Thông trụ chùa Thiên Bảo ở Đan Dương
18/ Truyện ngài Thích Pháp Khánh trụ chùa Ngưng Quán ở Kinh Đô (Đơn Đạo Tông)
19/ Truyện ngài Thích Đức Sơn trụ chùa Thiên Sắc ở Ích Châu (Húc Thướng)
20/ Truyện ngài Thích Đạo Duyệt ở núi Thanh Khê thuộc Kinh Châu
21/ Truyện ngài Thích Tuệ Diệu trụ chùa Nội Hoa ở Kinh Châu
22/ Truyện ngài Thích Đạo Biện ở Đông Nhạc (Thần Biến)
23/ Truyện ngài Thích Tuệ Lâm ở chùa Kiến Minh thuộc Ích Châu
24/ Truyện ngài Thích Hồng Mãn trụ chùa Cứu Độ ở Kinh Đô
25/ Truyện ngài Thích Tuệ Thông trụ chùa Phước Hóa ở Ích Châu, thời tiền Đường.
26/ Truyện ngài Thích Pháp Thông trụ chùa Pháp Hải ở Kinh Đô
27/ Truyện ngài Thích Tuệ Nhân trụ chùa Khai Thánh ở Kinh Châu
28/ Truyện ngài Thích Pháp Thí trụ chùa Hiển An ở Ba Lăng
29/ Truyện Sa-môn Thích Tuệ Ngạn ở Thục Xuyên
30/ Truyện ngài Thích Pháp Vận trụ chùa Khai Thánh ở Kinh Châu
31/ Truyện ngài Sa-môn Đế Thị Giai người xứ Bắc Địch, thuộc U Châu
32/ Truyện ngài Thích Trí Hiển trụ chùa Hộ Minh ở Ky Châu
33/ Truyện ngài Thích Pháp Thông ở núi Thường Lạc thuộc Tô Châu
34/ Truyện ngài Thích Tăng Minh trụ chùa Chiêu Quả ở Đại Châu
35/ Truyện ngài Thích Minh Ẩn ở núi Ngũ Đài thuộc Đại Châu
36/ Truyện ngài Thích Pháp Không trụ núi Ngũ Đài ở Đại Châu
37/ Truyện ngài Thích Minh Tuấn trụ chùa Định Thủy ở Kinh Đô
38/ Truyện ngài Thích Minh Giải trụ chùa Phổ Quang ở Kinh Đô (Tống Thượng Lễ)
39/ Truyện ngài Thích Pháp Xung trụ chùa Pháp Tập ở Duyện Châu.

 

1. Truyện ngài Thích Tăng An tu hạnh đầu-đà ở Triệu Châu:

Thích Tăng An, không biết Sư là người xứ nào. Ngài tinh chuyên giới nghiệp, siêng năng ngồi thiền, giảng dạy. Người đương thời gọi Sư là bậc Đa năng.

Dưới thời vua Văn Tuyên Đế (Cao Dương 550-560) Bắc Tề, Sư ở núi Vương Ốc, nhóm họp đồ chúng khoảng hai mươi người, giảng Kinh Niết-bàn. Lúc mới khai giảng đề kinh, có con chim Trĩ mái bay đến cạnh tòa nằm nghe, đến lúc chư tăng thọ thực thì chim ra ngoài kiếm ăn. Buổi chiều Sư lên tòa giảng, chim lại đúng giờ bay đến. Sư giảng đến chưa hết quyển ba, thì không còn thấy chim đến nghe nữa, đại chúng đều lấy làm lạ. Sư bảo: “Chim trĩ nay đã sinh lên làm người, chẳng có gì lấy làm lạ”. Đến niên hiệu Võ Bình thứ tư (573) thời Bắc Tề, Sư dẫn đồ chúng đến Việt Châu, thực hành hạnh đầu-đà. Bỗng nhiên Sư bảo: “Chim trĩ mái năm xưa sinh ở xứ này.” Sư bèn đi thẳng đến một nhà, xa gọi: “Chim trĩ!” có một bé gái chạy ra, dáng vẻ như đã biết nhau từ trước. Bé gái lễ bái vui mừng. Cha mẹ bé gái lấy làm lạ, mời Sư vào nhà, thiết trai cúng dường. Sư hỏi: “Vì sao bé gái này tên là Thư Trĩ?” Cha mẹ đáp rằng: “Vì khi mới sinh thấy tóc trên đầu bé gái như lông chim trĩ. Lại vì là con gái nên đặt tên là Thư Trĩ!”. Sư cười lớn và kể lại cho ông bà nghe về Bổn duyên. Bé gái nghe thế rồi ứa lệ gào khóc, xin được xuất gia. Cha mẹ vui vẻ bằng lòng. Sư liền giảng Kinh Niết-bàn cho nghe. Bé gái nghe liền nhận hiểu không sót mất chút nào, nhưng đến sau quyển ba, thì mịt mờ không hiểu.

Bấy giờ, bé gái mới mười bốn tuổi đã lên toà giảng kinh, mọi người xa gần đều dự nghe, ngợi khen trước có chứa nhóm. Nhân đó đích thân Sư cùng khuyên, mọi người theo học rất đông.

2. Truyện Xà-lê Hương trụ chùa Phi Phó ở núi Thanh Thành:

Xà-lê Hương, không biết Sư từ đâu đến. Đầu thời Nam Lương, Sư đến trụ chùa Phi Phó ở núi Thanh Thành thuộc Ích Châu. Sư vui mừng như có ý chí muốn trọn đời ở đó.

Bấy giờ có tục lệ mỗi năm đến ngày mồng ba tháng ba, mọi người đều lên núi thưởng ngoạn, thường mang theo rượu thịt cùng nhau chén tạc chén thù mua vui, trước sau Sư nhiều lần khuyên dụ nhưng chưa thể dứt bỏ. Đến tháng ba năm sau, mọi người cũng nhóm họp như trước, bày biện và ngồi xong. Sư sai người ở phía sau tòa đào một cái hầm vuông một trượng. Mọi người không ai biết ý Sư thế nào. Sư bèn nói với mọi người rằng: “Các Đàn Việt v.v… thường tổ chức ăn uống, nhưng chưa từng ăn uống với Hương tôi lần nào, hôm nay vì đông đảo, phải tận hưởng một bữa”. Mọi người tranh nhau dâng rượu hiếm quý. Sư hễ được bao nhiêu thì ăn uống hết bấy nhiêu như lấp hang lớn. Các vị thức giả lấy làm lạ. Đến chiều, Sư bảo rằng: “Ta no say quá, hãy đỡ ta đến chỗ hầm, không thôi bẩn đất!” Khi đến chỗ hầm, Sư há miệng ói, thịt chim trĩ từ miệng tuôn ra, liền bay nhảy ca hót, thịt dê từ miệng tuôn ra liền chạy ngay. Rượu và thức ăn lẫn lộn tuôn ra sắp muốn đầy hầm, Cá Lươn, Ngỗng Vịt bơi lội loạn xạ, mọi người đều kinh hãi, thề nguyện dứt bỏ việc giết hại. Mãi đến ngày nay, rượu thịt dứt hẳn không mang lên núi. Đó đều là do phong thái đức hạnh của Sư.

Tại Ích Châu, Biệt Giá La tên là Nghiên Triều, ở thời Nam Lương, ngài Chí Công hỏi rằng: “Sa-môn Hương ở Ích Châu là người sang hay hèn?” Nghiên Triều đáo: “Rất hèn, mới đầu chẳng thể gọi là người”. Ngài Chí Công bảo: “Đã là người quá hèn, cớ sao lưu lại lâu vậy?” Nghiên Triều cũng không lường biết lời nói ấy, chỉ nói cho người hiểu biết nghe. Hoặc nói: “Sao không chỉ cho Xà-lê Hương ở Thanh Thành ư?” Nghiên Triều bèn đến núi kể lại đầy đủ. Sư bảo: Đàn Việt từ xa đến, chắc chắn là chẳng nói dối”. Đêm đó, Sư bèn thị tịch. Các hàng đệ tử v.v… xây tháp, sắp đến lúc an táng, mọi người đều lấy làm lạ vì Kim quan rất nhẹ, đến lúc phá ra chỉ thấy chiếc gậy mà thôi.

3. Truyện ngài Thiền Sư Du trụ chùa Đa Bảo ở Ích Châu:

Thiền Sư Du trụ chùa Đa Bảo ở Ích Châu tức là Lâm Tất Đạo nhân, họ Dương. Sư siêng năng đọc tụng hơn bốn mươi năm, ngày đêm không bỏ. Phía sau tường vách phòng viện, Sư họa hình cửu tưởng biến, đặt giường dây, dùng chăn Tông phủ lên. Ban ngày Sư y theo khuôn phép chúng tăng, đêm đến thì vào ngủ trong đó. Mỗi ngày mới ra ăn một bữa, như thế dần dần đến bảy ngày mới ăn. Tăng chúng cho đó là thường, chẳng lấy làm lạ. Cứ như thế, trải qua hơn hai mươi năm. Bỗng nhiên trải qua một tháng mà Sư không ra, trong phòng cũng chẳng nuôi người hầu. Mọi người đều bảo Sư không ra tức là đang nhập định, chẳng nhọc phải xem. Bỗng một đêm, mưa to gió lớn, bức tường vách đồ họa bị đổ, sáng sớm mọi người đến xem, thử vén chăn tông lên thì không thấy gì, chỉ có giường dây đệm ngồi mà thôi.

4. Truyện ngài Thích Tăng Độ ở Ích Châu:

Thích Tăng Độ, không biết Sư là người xứ nào. Sư thường qua lại nơi thôn ấp, chỗ hoang vắng, không có nơi ở cố định. Nói năng úp mở như có dự biết. Người đương thời gọi Sư là kẻ cuồng.

Chu Triệu Vương ở tại Ích Châu. Có người ở huyện Bì kết giao với Triệu Vương rất nồng hậu, bèn muốn làm phản. Lúc đó có người mách bảo mà Việt Vương không tin. Đến sáng, binh lính của người huyện Bì quả nhiên kéo đến, rất thân với Triệu Vương nên là làm chủ, bèn tại ngã tư đường lớn ở phía Tây Thành, vừa mới ngồi xuống trên toà lớn. Khi đó, Sư mang đội một chiếc giày da dính phẩn từ phía Tây Thành chạy đến tháp Bàn-đà, vất bỏ giày mà quay trở lại. mọi người đều lấy làm lạ nhưng không ai lường biết. Lại đến lúc sắp làm phản, đem giấy bút thỉnh Sư đoán định tốt xấu, Sư bèn cầm bút viết hai chữ “Châu Độ”. Kẻ làm phản vui mừng bảo: “Châu Độ cho ta, đó là tốt lành. Chọn ngày đến mất. Ta sẽ đến đó mất. Chắc chắn là chế phục được đó.” Bấy giờ, Triệu Vương đóng tại lầu Tây Môn bảo ba ngàn lính tinh duệ cưỡi đến, vừa mới giao chiến liền rút lui, theo sau mà giết. Đến tháp Bàn-đà, chém giết hơn ngàn binh lính của người huyện Bì, làm thành Kinh Quán. Nay đặc biệt cao ở phía Đông tháp. Về sau mới nghiệm biết, Sư mang chiếc giày da để dính phẩn mà chạy nơi đất tháp. Cái gọi là “Châu Độ”. Hai chữ “Đồ Các” nói láy lại tức là “chước”, nghĩa là “chém đầu”. Nhìn thấy trước mắt mà lấy điều nghiệm nhận định về sau. Có người tấu trình sự việc ấy với Triệu Vương. Triệu Vương sai người tìm khắp bốn phương, nhưng không biết Sư ở xứ nào.

5. Truyện ngài Vệ Nguyên Tung trụ chùa Dã An ở Ích Châu:

Thích Vệ Nguyên Tung, là người ở xứ Thành Đô thuộc Ích Châu. Sư xuất gia từ thuở thiếu thời, làm đệ tử Pháp Sư Vong Danh. Sư thông minh dĩnh ngộ ít ai bằng, thường trong đêm vắng đứng hầu bên cạnh nói với thầy rằng: “Người đời quý lỗ tai mà xem thường con mắt, tức biết trắng đen có thể được”. Ngài Vong Danh bảo: “Ông muốn có tiếng tăm, nếu chẳng ngông cuồng thì không thể được”. Trong tâm Sư cho là đúng, bèn ngông cuồng chạy loạn, mọi người đuổi theo thành đoàn. Xúc chạm vật vội bắt ngâm vịnh, rảo khắp mọi nơi hơn hai mươi năm.

Đến lúc ngài Vong Danh vào Quan Nội, Sư bèn dời đến trụ chùa Dã An. Tự chế ra tiếng đàn cầm, bị thiên nữ có oán tâm phá chọc, cũng có người truyền tiếng tăm ấy. Sư từng nói với người anh rằng: “Đất Thục nhỏ hẹp không đủ để bày trải nỗi lòng, muốn đi đến Thượng Kinh, đối kháng với các bậc Quốc Sĩ, ý anh thế nào?” Anh Sư bảo: “Hiện nay Vương Bao Sưu Tín tiếng tăm vang dội khắp nơi, ông biết được gì, chỉ tự chuốc lấy sự tủi nhục”. Sư đáp rằng: “Người ấy đọc nhiều sách, tự làm các Văn. Còn như Thiên tài đại khái chẳng phải la phần ấy ư? Anh hãy nghe xem.” Sư liền coi thường đó mà đến Quan ải, vì không chỗ qua, nên Sư bèn mặc y phục thế tục. Ở tại Quan trung trở về, bị người canh phòng bắt giữ, Sư nói dối rằng: “Tôi là người nhà của Vu Trường Công ở Trường An muốn trốn đến đất Thục”. Quan gia vội đưa Sư đến Kinh đô, Vu Trường Công từng biết Sư ở đất Thục, bỗng nhiên nay được gặp gỡ, nên giao du với ngài. Các nơi thắng địa, không chỗ nào Sư chẳng đến, tấu trình việc phế hoại Phật Pháp, từ đó, Sư hoàn tục. Chu Tổ chấp thuận. Sư lại cùng Đạo Sĩ Trương tân âm thầm thêm sự phiến hoặc. Vua tin theo chẳng hề nghi ngờ, bèn thực hành phá diệt. Sư lại soạn thơ “ngàn chữ” tức như: “Đầu Rồng khói xanh nổi, Trường An loạn một đời”. Và đều phù hợp với sấm vĩ, mọi sự việc về sau mới hiểu.

Đến niên hiệu Khai Hoàng thứ tám (588) đời Tùy, tại Kinh Triệu, có Đỗ Kỳ bị chết, ba ngày sau sống lại kể rằng: “Thấy Vua Diêm Vương hỏi rằng: “Cha của ông làm quan giữ chức gì?” Đỗ Kỳ đáp: “Cha của tôi làm Tư Mạng Thượng Sĩ ở thời Bắc Chu”. Diêm Vương bảo: “Như vậy là bắt lầm, hãy mau thả trở lại dương gian. Nhưng ông có biết Vua Võ Đế (Võ Văn Ung 561-579) thời Bắc Chu không?” Đỗ Kỳ đáp: “Tôi từng làm chức Tả Võ Hầu Tư Pháp, thường ở nơi giai bệ nên biết rất rõ”. Diêm Vương bảo: “Vậy hãy đến xem Vua Võ Đế của ông đi”. Có người dẫn Đỗ Kỳ đến một nơi, cửa sổ ở duyện ngõa đầu làm toàn bằng sắt. Ở trong cửa sắt, thấy có một người rất gầy ốm thân hình mầu như sắt, mang gông cùm bằng sắt. Đỗ Kỳ vừa trông thấy liền òa khóc gọi rằng: “Đại gia! Do đâu mà khốn khổ như vậy?” Võ Đế đáp rằng: “Ta chịu khốn khổ dữ dội, ngươi không thấy hay sao? Nay được đến đây rất là vui mừng”. Đỗ Kỳ hỏi: “Vì tạo tội nghiệp gì mà phải chịu khốn khổ này?” Võ Đế đáp: “Ngươi không biết ư? Ta vì tin theo lời của Vệ Nguyên Tung mà phá huỷ Phật pháp nên phải chịu khốn khổ này.” Đỗ Kỳ hỏi “Đại Gia! Sao không dẫn Vệ Nguyên Tung đến đây?” Võ Đế đáp: “Ta tìm kiếm, nhưng Tào sư tìm kiếm khắp mọi nơi, khắp cả ba cõi, nhưng nói là không thấy. Nếu như Vệ Nguyên Tung đến buổi sáng thì buổi chiều ta sẽ được thoát, đâu có gì phải luận bàn. Ông trở về nói với người ở thế gian hãy làm phước cho Nguyên Tung, sớm đến cứu giúp. Nếu Nguyên Tung chẳng đến thì ta không có kỳ hạn được giải thoát”. Đỗ Kỳ sống lại, không quên việc ở Minh phủ, khuyên người làm việc phước để cứu giúp v.v.

6. Truyện ngài Thích Thượng Viên ở Ích Châu:

Thích Thượng Viên, họ Trần, người ở xứ Hán Lạc thuộc Quảng Châu. Sư xuất gia chuyên dùng chú thuật để cứu chúng sinh. Võ Lăng Vương Tiêu Kỷ thời Nam Lương, trong cung bị các hàng thể nữ quỷ quái yêu mị, hoặc ca hát hoặc khóc lóc, lăng xăng rối loạn cả lên. Vương Tiểu Kỷ bèn bảo người bắn giỏi cầm Đàn giả bộ khảy, Quỷ bèn hiện hình, liền phóng tên bắn, Quỷ liền từ xa tiếp lấy, ném trở lại người. Cứ như thế mãi không thôi. Nghe Sư trì chú nên Vương Tiêu Kỷ thỉnh vào trong cung. Các loài quỷ đua nhau đến trước làm ra các thứ biến hiện. Rồng rắn trăm thú, chợt trước mặt, chợt sau lưng, hoặc giữa hư không hoặc dưới đất, biến thành trăm thứ. Sư ngồi an tĩnh bảo rằng: “Loài Quỷ nhỏ các ngươi do nhân gì dám vào cung vua, nếu có khả năng biến thành thân hình ta thì hãy tự biến ra muôn thứ, chỉ là Quỷ nhỏ, thì hãy đứng nghe ta nói một lời”. Các Quỷ đều chắp tay đứng yên. Sư bèn mở miệng xướng rằng: “Nam-mô Phật-đà”. Các Quỷ đều biến mất, từ đó được yên lặng.

Vua Võ Đế (Tiêu Diễn 502-550) thời Nam Lương nghe thế thỉnh Sư vào cung. Ngài được thưởng ngộ lớn. Đến lúc nhà Lương nhiễu loạn. Sư bèn đến đất Thục, với những nơi có các thứ khổ não, Sư nhân đó cứu giúp. Đến năm tám mươi mốt tuổi, Sư thị tịch tại chỗ đang ở. Trị Thành nay đã bị hoại diệt.

7. Truyện ngài Thích Pháp Hành ở núi Ngọc Tuyền thuộc Kinh Châu:

Thích Pháp Hành, không rõ Sư là người xứ nào. Sư là đệ tử tài giỏi của Pháp sư Luận. Pháp sư Luận vốn ở tại Ngọc Tuyền. Vua Dương Đế (Dương Quảng 605-617) đời Tùy rất kính trọng Ngài. Sự tích ngài thấy trong Biệt truyện.

Tánh tình Sư vốn chẳng thường, nói năng khác với mọi người. Hoặc có lúc ở hang núi, có lúc vào trong chợ ly. Sư từng đến núi Thanh Khê, đường đi phát xuất từ đảnh núi Phúc Thuyền, trông thấy suối nước, cây cối tốt tươi. Sư bèn nhìn lại bảo rằng: “Mười năm sau, sẽ có người đầy đủ phước đức và trí tuệ rộng lớn đến đây xây dựng ngôi Già-lam”. Đến lúc ngài Trí giả xuất hiện, quả nhiên thành tựu như lời Sư báo trước.

Sư lại từng đến thành Đương Dương, cầm cung tên bằng trúc bắn vào đó. Về sau có giặc núi đến vây quanh thành, tướng trạng đều như Sư thi vi ngày trước. Nhưng Sư từng mở lời nói lạ, bảo rằng: “Lỗi của nhà Lương”. Vua Tuyên Đế (Tiêu Sát 557-562) thời Hậu Lương rất ghét lời nói đó, bảo người tìm bắt Sư để giết. Sư theo sử đến, không chống kháng như trước, Sư nói: “Ta thường mạng ở tại đất này.” Sau đó, có người sứ đến, Sư nộp mạng, bèn bị chém, nhưng không chảy máu. Khi sắp tịch, Sư nói những bài kệ tụng quan trọng, Văn từ nghĩa lý rất tha thiết, không thể chép đủ, nếu nói về Nghiệp Báo không thể trốn lánh. Giết xong, trong thời gian ngắn, thi thể Sư bèn biến mất. Bộc Xạ Tiêu Võ đi đến núi Tứ Vọng chỗ Thiền sư Nhân vì vua Tuyên Đế mà sám hối rằng: “Tội tiên nhân giết hại bậc Thánh xin lễ bái sám hối, nguyện tha thứ”.

Người viết truyện (Đạo Tuyên Tôi) nghĩ rằng: “Vì thời Hậu Lương tiếp nối vận nước, oai thế chẳng trội vượt, chỉ riêng giữ một thành, bên cạnh đó lại bị chế ngự vây quanh, đâu có vinh hạnh vẻ vang gì, theo vọng mà tạo tội lỗi, nên giết hại bậc Thánh, trông mong kéo dài vận mạng sâu dày. Cái gọi là Trông mong trước, đã bị mất ở đường sau. Sau đó không lâu bị truy đuổi lưu lạc vào quan ải. Trách người vô tội, thật không thể xem thường.

8. Truyện ngài Thích Đạo Mục ở Thần Sơn thuộc Kinh Châu:

Thích Đạo Mục, người xứ Tùng Tư, tánh tình ưa thích núi rừng, ban đầu, Sư vào Thần sơn ở Kinh Châu. Sắp có việc đi đến nham ẩn, bỗng cảm sấm sét gió lớn nổi dậy rung núi gãy cây. Thần rắn nhiễu quanh giường, bầy hổ tung hoành gầm rống. Tâm Sư vẫn an nhiên thư thái, không nghĩ tưởng cảnh vật bên ngoài. Bảy ngày sau chắc chắn Rắn Hổ sẽ ẩn, Sư mới leo lên núi, nhìn ra xa, thấy phía đông núi đó y theo Lăng hác, phía Tây nhìn lại có dòng sâu, bèn có ý định muốn trọn đời ở đó.

Sơn Thần biến hình sám hối tội lỗi rằng: “Đó là Điền Bá Ngọc đến xin thọ giới”. Đến lúc thực hành Pháp thức, các chất Độc ngầm biến mất. Cúng tế dứt hẳn dâng cúng rượu thịt, cầu đượm ân trạch ứng thời mây mưa. Vệ hầu như thế chẳng phải chỉ có một. Nêu bày có thể biết. Sư ở tại núi hơn ba mươi năm, tiếng tăm vang xa, Tân khách du tuần đều quy hướng cầu thỉnh. Về Sa-môn thì có ngài Tăng Triển, Tăng An. Về các bậc cao sĩ thì có Lưu Cầu, Xa Xuyết, tiếp nối lời mạng đích, không hề trái phong thanh. Sương Đông Vương Tiêu Dịch thời Nam Lương kính trọng đức hạnh Sư nên đến chỗ Sư xây dựng một Đài cao, lập Văn Bia trình bày sự nối pháp. Vua Giản Văn Đế (Tiêu Cương 550551) thời Nam Lương làm bài tụng, lập Bia ở đảnh núi. Đến lúc Sư sắp thị tịch, vui mừng nhìn ra xa, bèn lên núi mà tịch, thọ bảy mươi tuổi.

9. Truyện ngài Thích Trí Khoáng trụ chùa Khai Thánh ở núi Tứ Vọng:

Thích Trí Khoáng, họ Vương. Giòng họ Sư vốn ở Thái Nguyên, có một thời gian dời đến Từ Châu. Về sau cha của Sư lại dời đến ở huyện Tân Phong thuộc Kinh Châu. Mẹ của Sư ban đầu sắp mang thai, mộng thấy xuống tắm dưới dòng nước, có một đứa trẻ ngồi thuyền báu đến lao thẳng vào người bà, bèn tỉnh giấc và mang thai Sư. Đến lúc sinh ra, Sư rất thông minh mà trọng hành.

Đầu niên hiệu Thái Thanh (547) thời Nam Lương, chiến loạn không ngừng. Vua Nguyên Đế đang ở ngôi, bấy giờ Sư đang tuổi thiếu thời rất mạnh mẽ, chiêu mộ các tráng sĩ theo quân lính đi đánh dẹp phương Đông, không bao lâu bèn bị lấp vùi, Sư tỏ ngộ sâu sắc về mọi sự luống dối, nên không cưới vợ, chỉ mong cầu thoát tục. Ban đầu, gặp được Đạo Sĩ Hoàng Cân đem pháp thần tiên dẫn dụ Sư. Trước hết, Sư thọ học Phù lục, tiếp theo là trình bày Chương tiếu. Sư bèn hỏi: “Thuật này có thật đắc đạo hay không?” Đạo Sĩ đáp: Lục đã hộ thân, Chương cũng chiêu vời của cải”. Sư hỏi tiếp: “Đó là bảo trọng khổ khí này, được gọi là Đạo ư?” Sư lại thỉnh cầu Pháp Độ đời, Đạo Sĩ bèn chỉ bày Sư cách thức ỏ hẳn không ăn gạo thóc sẽ đến được Ngọc Thanh, chỉ bảy ngày sẽ có khả năng bay được. Sư thực hành đúng kỳ hạn mà không ứng nghiệm. Đạo sĩ bảo: “Vì ông còn uống nước, nên cuối cùng chưa đến được”. Sư lại trải qua bảy ngày, môi miệng không hề uống một giọt nước, mà vẫn không ứng nghiệm. Đạo Sĩ lại bảo: “Vì ban đêm ông vẫn còn ngủ nên không được cảm ứng”. Sư lại trải qua bảy ngày thường ngồi không nằm. Ba kỳ thường đầy đủ, nhưng chẳng được bay lên trời, mà khí lực của Sư càng yếu đi, xa gần mọi người đều kinh hãi. Sau đó, Sư gặp được bậc Cao Tăng truyền cho giới pháp, làm đệ tử Phật.

Đức hạnh Sư cảm động đến người, dần dần bày hiện dấu vết ngầm. Bấy giờ ở Giang Lăng, có gia đình Trương Thuyên hai đời bị mù mắt. Sư bảo: “Trong nhà ông có phần mộ mà cái hòm gối lên miệng giếng xưa, nên dời phần mộ và khai mở thành giếng, chắc chắn sẽ được khỏi”. Nhân đó, Trương Thuyên bèn y theo lời Sư mà làm. Người bị mù liền thấy được đường đi, nên xin cạo tóc xuất gia. Mọi người đều kinh sợ, bèn chặt củi cúng cúng dường chúng tăng, Sư trụ nơi không nhàn tĩnh lự.

Sư lại nói dưới khe suối có cái chuông xưa, hãy đào lên đem về

treo ở chùa. Thứ sử Nhân châu cho là Sư dối trá, lừa hoặc quần chúng, nên dùng roi đánh vào lưng Sư cả trăm roi, mà Sư không buồn thảm, không tức giận. Bèn đưa ra xứ Đài, giam giữ ở Thượng phương. Người có sức mạnh thử dùng chiếc gông dài tám thước treo làm gối đấm. Mọi người đứng bên cạnh nhìn đều cho là sẽ nát nhừ, nhưng dung mạo Sư chẳng những không nhiễu não, mà thân thịt cũng không thương vết. Người giữ ngục lại bảo rằng: “Tiếp theo cư sĩ phải chịu chịu đói”. Ngài bèn bỏ ăn bảy ngày, mà thân sắc vẫn như lúc đầu. Lại có người thấy Sư đi trong chợ hoặc ở đường ngã tư, nhưng xét trong ngục vẫn có Sư, mới cho là Sư phân thân.

Đến niên hiệu Đại Định thứ ba (559) thời Hậu Lương, Sư xin người giày cỏ, nói là đêm nay phải đi gấp. Đến canh ba cả thành bị lữa cháy, bốn phía cửa người ra không lọt hết nên bị thiêu chết đến bảy ngàn người. Sư ở trong ngục, dẫn hai trăm người thản nhiên đi bộ mà ra.

Đến năm gần bốn mươi tuổi, Sư mới được cạo tóc, sau khi tấn đàn thọ giới cụ túc, Sư tu hạnh đầu-đà ở núi Tứ Vọng. Xưa kia, đất ấy phước đức mới an đặt Thiên Tử, cách thành có sáu mươi con thú dữ đang ở, từ khi Sư đến ở về sau, chúng dần đến nghỉ bên cạnh giường Sư. Ban đêm ở góc núi có bốn ngọn đèn soi chiếu, các hàng sĩ tục đua nhau nhóm họp đông đảo thành chùa Hoa.

Sau, 2 Vua Tuyên Đế (Tiêu Sát 557-562) và Minh Đế (Tiêu Quy 562-586) thời Hậu Lương, thì Bình Lăng và Hiển Lăng đều ở trước chùa, nghiệm đúng với xưa. Còn như đầu thời Nam Lương thất bại, Vương Lâm lên bức bách, thời Hậu Lương dời nước, Sư đều dự trước Biểu biệt. Có một con vịt đầu đàn bị giết để thiết trai. Vịt thần ban đêm bách bảo, Sư bèn nói: “Sao lại giết hại sinh mạng mà sung vào tịnh cúng ư?” Từ đó về sau, bèn dứt hẳn. Sư từng đến sông Hạ Thủy, đồ chúng đồng bạn có mấy mươi người, muốn ở lại cũng không được, muốn đi cũng không theo. Ở bờ phía trước có hai chiếc thuyền không có người, Sư cuời mà cất tiếng gọi đến, thuyền tự cắt dòng nước mà đi thẳng đến, nhân đó mà cả đoàn bèn qua sông. Sư căn dặn chớ loan truyền việc ấy.

Lại, lúc ở Hàm Dương, Sư đến chùa Phật Tích, có một con trâu mẹ sinh nghé con, nó vừa trồi đầu ra lại thụt vào, đã qua mấy đêm, trâu mẹ sắp lìa đời. Chư tăng báo với Sư không biết tính liệu thế nào. Sư bảo rằng:”Con nghé ấy là vị Cư sĩ ở chùa này, vì xâm lạm dùng vật của chúng tăng, nay phải sinh trở lại nơi đây để đền trả, nhưng vì nó xấu hổ nên chẳng chịu ra, còn trâu mẹ thì không sao.” Nhân đó, Sư cầm lò hương, quở trách răn bảo nghé con rằng: “Hãy mau đền trả quả báo, cớ sao xấu hổ mà chẳng chịu sinh ư?” Ứng theo lời ngài nói, trâu nghé liền ra. Nên những điều Thần dị thầm ứng của Sư, không thể ghi chép đầy đủ.

Đến ngày hai mươi bốn tháng chín niên hiệu Khai Hoàng thứ hai mươi (600) đời Tùy, Sư thị tịch tại chùa Khai Thánh ở núi Tứ Vọng, thọ bảy mươi lăm tuổi. Sư tự định kỳ hạn qua đời, có mùi hương trời xông khắp thất. Cả chùa đều nghe có tiếng nhạc từ phía Tây Nam vọng đến. Trước lúc chưa thị tịch hai năm, Sư đã dự báo mọi sự sau khi qua đời, thị hiện bã vai bị đau nhức, Sư hỏi Luật sư rằng: “Người đã chứng đắc quả A-na-hàm còn bị bệnh hay không?” Vị Luật sư chưa trả lời, Sư lại tự nói: “Báo thân, pháp hẳn nhiên như thế” Sau khi Sư thị tịch, có ba ngón tay co quắp lại.

Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ nhất (601) đời Tùy, tại chùa Pháp Tế có Sa-môn Pháp Quý chết, sống lại kể rằng: “Được Vua Diêm-ma thả trở lại, nhờ gặp được Sa-môn Trí Khoáng nương cung điện từ hư không thẳng xuống, các người tội vui mừng cùng nhau bảo là “Thánh tăng Tam Quả đến cứu chúng ta, v.v.” và ở tám ngôi chùa do Sư xây dựng đều có linh kỳ, hoặc như nước suối vọt lên, có lúc giáng hiện dấu chân Phật. Có Sa-môn Pháp Luận ở đạo tràng Tuệ Nhật đời Tùy thấy biết đầy đủ, vì đó làm bia tụng, rộng nêu bày đức hạnh của Sư.

10. Truyện ngài Thích Vô Tướng trụ chùa Tương Tư ở Phù Châu:

Thiền sư Thích Vô Tướng trụ chùa Tương Tư ở Phù Châu, Sư không phải người xứ Ba Thục, không biết Sư ở từ đâu đến. bỗng nhiên Sư đến núi theo chúng tăng mà thôi. Sư chẳng khác người thường. Chùa đó ở thượng lưu Phù Châu, tại phía Bắc một dòng sông lớn. Bên cạnh sườn núi có một tấm bia hình vuông cao khoảng năm thước, chữ viết lớn như bàn tay, mọi người không ai biết. Phía dưới có dấu chân Phật cách chừng chín thước, dài ba thước. Giẫm lên đá như bùn, các hàng Đạo tục thảy đều kính trọng.

Có một lúc nọ Sư qua sông, khi trở về không có thuyền. Sư bèn đặt bình bát trên dòng nước mà bảo rằng: “Vì sao ta phải thường ôm lấy ngươi? Ngươi hãy tự qua sông”. Và Sư liền trải lá chuối trên nước rồi bước lên mà qua sông trở về. Bình bát cùng theo sau, chỉ phút chốc liền đến bờ. Khi đó, có người hái củi trông thấy như thế. Sư tự nói: “Đã có người nhận biết về mình nên giã từ mà đi”. Đại chúng tha thiết muốn giữ lại mà Sư chẳng ở. Đến sông, Sư xuống thuyền, mọi người đi theo lễ bái cầu thỉnh không cho Sư chèo chống. Sư bèn nắm lấy mạn thuyền, thẳng theo dòng nước không nhìn lại mà đi. Mọi người liền đuổi theo nhưng chẳng ai biết Sư đến xứ nào.

11. Truyện ngài Thích Đồng Tấn trụ chùa Đẳng Hạnh ở Lự Châu:

Thích Đồng Tấn, họ Lý, người ở xứ Miên Châu. Khi xưa, Sư xuất gia vào thời Bắc Chu. Sư chẳng bó buộc bởi lễ độ, chỉ ưa thích uống rượu. Sư nói với mọi người rằng: “Rượu nầy có thể rưới khắp thân”. Sư chén tạc chén thù qua lại, tiểu dãi dơ uế. Mọi người đều chẳng chấp nhận như thế. Có người nhận biết sâu xa bảo rằng: “Đây là Hiền hay ngu khó mà biết được.” gặp lúc họ Võ nhà Bắc Chu đánh chiếm phương Đông, nói là cần có thuốc độc, ban sắc chế tạo tại Lự Châu. Đặt Giám Lại lực khoa săn hái thuốc như đầu Rắn độc, đười ươi sắt, ong lớn, dây sắn đồng hoang, lông chim trấm v.v… tất cả mấy mươi thứ, dùng bình sắt để gây men. Khi thuốc đã thành thì mặc áo da, mắt đeo kiếng lưu ly mới được đến gần. Nếu không thì khí độc xông lên thành bệnh nhọt sẽ làm cho chết, nếu thuốc dính vào thịt người vật xuyên qua thì chết liền. Sư nghe thế bèn đến chỗ cất giữ. Quan nhân đùa bảo: “Nếu uống được một bát thì sẽ được gọi là Tửu Sĩ?” Sư bảo: “Được một thăng để tỉnh rượu cũng cần”. Quan nói: “Tha hồ uống ba nhiêu cũng được, đâu luận gì một thăng”. Sư liền cầm muỗng sắt đến chỗ bình rượu múc ra một muỗng và uống, nói cười tự nhiên, đều không bị độc hoạn gì. Các Đạo Sĩ v.v… nghe thế đều đến xem. Sư lại múc thêm một muỗng để mời họ, mọi người đều bỏ chạy. Hoặc có người nói: “Đây là cố ý giết người, làm sao không có tội được?” Sư nói: “Không có khổ vui.” Và Sư tự uống nếu có ai khuyên thì than rằng: “Hôm nay được một bữa say nằm trên tảng đá vuông”. Không bao lâu Sư tiểu dãi, nước tiểu dính vào đá đều bị vỡ. Hồi lâu ngủ thức dậy, Sư tỉnh táo như thường từ đó về sau, Sư uống rượu càng nhiều, ăn cũng gấp bội.

Đến đầu đời Tùy, Sư được độ xuất gia và phối vào chùa Đẳng Hạnh. Ngài bị bệnh hơn một tháng thì thị tịch, thọ hơn chín mươi tuổi. Các đệ tử, đàn việt v.v… sau khi Sư tịch xem xét các y phục và giường nệm của Sư đều có mùi thơm, không hề có mùi rượu.

12. Truyện ngài Thích Phú Thượng ở Ích Châu:

Thích Phú Thượng, không biết Sư là người xứ nào. Sư thường nghỉ qua đêm tại chùa Tịnh Đức ở Ích Châu. Sư thường chôn một chiếc nón lớn ở đường đi, ban ngày ngồi dưới nói đọc Kinh. Mọi người tuy qua lại nhưng Sư không kêu gọi cúng thí. Có người ném cho một tiền, Sư cũng chẳng chú nguyện, ngài thường ở nơi đường vắng, không vào chốn ồn náo. Tướng trạng ngài như độ tuổi năm mươi, tuy qua nhiều năm mà không được gì. Có người tín tâm nói với Sư rằng: “Ở phía Tây thành phía Bắc Thành, người đông cúng thí nhiều, Sư ở đây làm gì?” Sư đáp: “Một tiền hai tiền đủ nuôi thân mạng, đâu cần nhiều.” Thứ sử lăng Châu là Triệu Trọng Thư làm quan suốt ba triều đại, rất không kính tin, nghe nói Sư như thế nên đến thử. Bèn cưỡi ngựa đi thẳng qua, giả vờ rơi một Quan tiền. Sư chỉ đọc kinh, mắt không hề nhìn lại. Đi đã xa, Triệu Trọng Thư gọi bảo Sư nhặt lấy tiền, Sư cũng chẳng đoái hoài. Triệu Trọng Thư bèn quay trở lại bảo: “Ông có thấy tiền của ta rơi dưới đất chăng?” Sư đáp: “Thấy”. Triệu Trọng Thư hỏi: “Vậy hiện giờ tiền ở đâu?” Sư đáp: “Thấy có một người nhặt rồi”. Triệu Trọng Thư nói: “Suốt ngày ông ngồi ngoái đường chỉ xin một tiền, chẳng lẽ có một quan tiền dưới đất mà không nhặt lấy? Lại thấy người nhặt đi sao không ngăn lại.” Sư đáp: “Vì chẳng phải vật của bần đạo. Làm sao nhận bừa được? “Triệu Trọng Thư bảo: “Ta cần chiếc áo ca-sa trên mình ông”. Sư nói: “Muốn thì hãy thử, ông dám mang đi thì tôi cũng có thể tặng cho, có thể gọi là được mất một thứ”. Và Sư liền quấn lấy áo mà trao cho. Triệu Trọng Thư liền xuống ngựa mà sám hối rằng: “Đệ tử là người ở triều đại Bắc Chu, làm quan trải qua ba đời vua, thường qua lại với chúng tăng, nhưng ít người chẳng Tham. Nay nghe danh Sư nên đến bái yết, vốn chẳng có ý xấu. Xin thỉnh Sư đến ở Lăng Châu!”. Sư bảo: “Lành thay! Nhưng vì bần đạo muốn kết duyên rộng với Nguyện Công, giúp nước nhà an ủi vỗ về, tức là mãi được cúng dường!”. Triệu Trọng Thư giã từ, khen ngợi rằng: “Trong Mao có người không thể xem thường đó!”. Sau đó, không còn thấy Sư nữa. Có Tô Tương là người xứ Ích Châu từ Dương Châu trở về lại thấy Sư ở xứ đó, cũng chôn chiếc nón bên cạnh đường đi. Nhan sắc tướng mạo Sư vẫn như thế.

13. Truyện ngài Thích Minh Cung trụ chùa Hội Thiện ở Trịnh Châu:

Thích Minh Cung, trụ chùa Hội Thiện ở Trịnh Châu. Xưa kia khi còn là người thế tục, Sư làm Cao Hạ Chước Kỵ ở đời Tùy, Sư kết bạn tất cả ba người ngang sức tương tự, mà là chỗ rất kỵ ở đương thời. Vua rất lo nghĩ dùng sự để dứt trừ, bèn làm hai gói bánh để dụ, một gói bánh có sừng nai sống, một gói bánh có năm thăng muối, đều ban cho và đều ăn hết. Người ăn muối ra đến Triều Đường, ruột xé mà chết. Còn Sư ăn gói bánh có sừng Nai, hoàn toàn không có cảm giác gì. Sư bèn nhàm chán thế tục mà xuất gia trụ chùa Hội Thiện.

Sức lực Sư mạnh như thần, không ai sánh bằng. Sư từng giành đất với chư tăng chùa Siêu Hóa. Chùa ấy gọi hạng Vô lại có hơn trăm người đến chiếm đoạt lúa thu của chùa Hội Thiện. Tăng chúng chùa Hội Thiện đều lo buồn, Sư bảo: “ Chớ nên lo buồn!” Sư một mình đến chùa Siêu Hóa, tháo chuông lớn ở chùa đó bít lỗ, bỏ sáu thăng cơm khô vào chuông, dùng nước hòa vào có thể ăn được, một tay nâng chịu ở đáy, một tay vốc lấy mà ăn. Chỉ phút chốc, Sư ăn hết cả. Bèn lấy một tảng đá lớn khoảng ba mươi người mới dời nổi mà chỉ riêng mình Sư nhặt lấy như viên đá nhỏ, đứng từ xa ném xuống đất. Mọi người ở chùa Siêu Hóa thấy thế, đồng một lúc kinh sợ, bỏ chạy tán loạn.

Thêm nữa, đến cuối đời Tùy, giặc giã dấy khởi, rảo khắp bắt bớ. Sư bảo trước ở chùa rằng: “Ngày mai sẽ có binh lính đến, nên sửa soạn đầy đủ thức ăn và một con heo lớn”. Chư tăng trong chùa không dám chống chế, bèn theo lời Sư chỉ bảo mà sắm sửa. Đến giờ, sắp đặt chỗ ngồi, bày biện đủ các thức ăn. Sư bất nhẫn với việc ấy, bèn chống gậy đến nơi cùng bọn giặc nói bàn, bọn giặc nhường ăn trước, Sư bèn bày ra vài mươi cái bánh, đặt con heo gói vào trong đó, từ đầu mà cắn ăn, chỉ phút chốc hết cả, bọn giặc kinh sợ khiếp phục, sư bèn vời về làm đàn việt giữ gìn chừa. Bọn giặc chấp nhận. Nên từ đời Tùy đến đời Tiền Đường giặc dã giao chiến lẫn nhau, nhưng chỉ riêng chùa Hội Thiện không hề có một bóng giặc qua lại. Đó thật là do năng lực của Sư!

Lại có lần Sư đang đi giữa núi có một con hổ và một con heo đang giao đấu với nhau, con heo dần dần thua thế. Sư bảo con hổ rằng: “Hãy buông tha cho nó đi.” Nhưng hổ chẳng chịu nghe lời. Sư bèn một tay bắt lấy đầu hổ, một tay nắm lấy đuôi hổ, kéo vào hang sâu. Khí lực của Sư, nói ra có nhiều việc không thể tin được, nhưng thật có.

Sư giữ giới thanh khiết trang nghiêm, thường nương theo chúng tăng thọ thực, thức ăn cũng chỉ như người thường. Có lần Sư ăn mà gặp được cơ hầu, bèn ăn hết phần ăn của cả hai trăm người. Đại chúng chỉ rất nghi ngờ, chẳng ai nhận biết lý do. Đến niên hiệu Võ Đức thứ năm (622) thời Tiền Đường, Sư thị tịch tại chùa Hội Thiện, thọ tám mươi lăm tuổi.

Có thời gian tại chùa Hội Thiện, có vị Sa-di du khách, miệng nói tiếng người đất Ngô, vào nhà trù đốt lửa, lấy khúc tre khô lớn như cánh tay mà chỉ dùng hai tay bẻ gãy để đốt. Khi ấy, Sư lấy làm lạ, cùng dùng tay bẻ thử mà không được. Sau khi vị Sa-di ấy đi ra ngoài, Sư ôm chân cột nhà trù nhấc hổng lên và lấy áo của vị Sa-di ấy đặt lên trên tảng đá rồi để cột nhà trù đè lên đó, vì Sa-di trở vào tìm áo không được, thấy ở dưới cột nhà, muốn lấy mà không được. Sư cười và nhấc cột nhà hổng lên cho vị Sa-di lấy áo. Đó cũng là việc khó suy nghĩ.

14. Truyện ngài Thích Pháp Tấn ở núi Trường Dương thuộc Ích Châu:

Thích Pháp Tấn, người ở xứ Tân Phiền thuộc đất Thục. Khi còn ở thế tục, Sư đã rất mực tinh tấn, chẳng ăn dùng các thứ tanh nồng. Tại chỗ làm ruộng nông, Sư dùng cái mai nhọn làm chuông khánh, đo lường tấc bóng mà dùng bữa, có lúc đưa thức ăn đến muộn, Sư chỉ uống nước mà thôi. Ở chỗ đất ruộng Sư cày không tổn hại thân mạng trùng kiến. Có một lúc, ở giữa hư không có tiếng bảo rằng: “Xà-lêTấn thời cơ xuất gia đã đến!”. Cứ như thế, gọi đến năm-sáu tiếng. Cả nhà đều nghe. Nhân đó, Sư đến núi Lạc Khẩu xuất gia, tu hạnh đầu-đà, chẳng ở nơi phòng nhà chùa viện.

Bấy giờ, Thục Vương Tú đời Tùy nghe tiếng tăm Sư nhưng biết là khó thỉnh được, bèn sai Tham Quân úc Cửu Lư Trưởng Khanh đến thỉnh. Trưởng Khanh cùng dẫn theo tùy tùng có khoảng mười người từ giã nói với Vương Tú rằng: “Vâng thừa có đạo đức, nếu thỉnh mà không đến thì sẽ bày ra tục pháp để ứng xử”. Vương Tú bảo: “Không nên dùng oai thế để bức bách, chỉ nên dùng lý để thỉnh ngày mai phải đến đây!”. Trưởng Khanh ra khỏi cửa thành, nhìn lại bảo rằng: “Ngày nay tôi và các ông lên cung trời Đâu suất thỉnh Đức Phật Di-lặc cũng còn hy vọng được, huống gì Đạo nhân ở trong núi có gì mà không đến”. Mới vừa đến dưới chân núi Cát Dương, mặt trời đã chiều tối, thấy hổ ra ngồi xổm trên đường, Trưởng Khanh bảo người bắn. Đoàn ngựa đều trốn chạy hết. Muốn đến trong thôn nghỉ lại thì sợ trái với lệnh vua. Không bao lâu thì thấy một vị tăng mang xiêm lên núi, Trưởng Khanh bèn bảo ở lại làm bạn. Những người đi theo đều ở lại, đi bộ đến chùa, Sư gọi vào đến giường. Lại thấy hổ nằm dưới giường, Trưởng Khanh kinh sợ chẳng tự an tâm. Sư bảo hổ ra ngoài. Trưởng Khanh trình bày lại đầy đủ ý của Vương Tú, tuy có đối đáp mà sợ hình luật nơi tướng trạng. Sư bảo: “Đàn việt mới vừa ra khỏi cửa thành rất hùng dũng, nay đã đến đây vì sao lại khiếp sợ?” Trưởng Khanh đảnh lễ Sư mà im lặng. Nhân đó nghỉ lại đến sáng. Sư bảo: “Đàn việt hãy trở về Ích Châu trước, bần đạo sẽ đến sau”. Trưởng Khanh về tới Đài Vọng Hương, ngoái nhìn lại thì Sư đã đến kịp, bèn cùng nhau ra mắt Vương Tú. Sư vào nội cung, Vương Tú cầu thọ giới pháp, xong rồi, liền trong ngày đó Sư từ giã trở ra. Với mọi vật Vương Tú dâng cúng, Sư không nhận lấy một thứ gì, Sư nói là đến dừng nghỉ ở chùa Pháp Tụ. Vương Tú ngoái nhìn lại mọi người chung quanh và bảo rằng: “Nhìn thấy vị tăng ấy, khiến khắp mình Quả nhân nổi ốc. Thật là do giới thần giúp đỡ!”. Về sau, Vương Tú lại thỉnh Sư vào Thành, Vương Tú từ xa trông thấy Sư liền đảnh lễ. Sư bảo: “Vua hãy tự an lạc, Pháp Tấn tự an vui. Vì sao lại não loạn nhau, làm nhhũng việc vô ích như thế?” Chư Tăng can ngăn Sư rằng: “Vua người đứng đầu đất nước, nên khéo thăm hỏi, vì sao lại quở trách”. Sư bảo: “Các Đại đức sợ chết nên phải cầu ý Vua. Mắt đã trông thấy việc xấu ác mà đều không dám khuyên răn. Như vậy sao gọi là Hoằng Pháp được? Pháp Tấn tôi không sợ chết, trách lỗi thì đâu có gì hiềm ngờ ư?” Tuy Vương Tú lập bày các thứ ghế ngồi trang sức, thức ăn mùi vị đượm hậu, mà Sư chỉ ngồi trên giường dây xấu cũ, ăn bánh dở mà thôi. Cho đến các cung phi cầu xin thọ giới, Sư chỉ trách buông lung không nghĩ nhớ vô thường. Sư lại giã từ trở về núi. Sau Vương Tú lại mời Sư vào nội cung ba ngày, mãn hạn, Sư trở về lại nơi cũ.

Các hàng Thanh tín đều thiết bày vật thực mà thỉnh Sư. Đến giờ, mọi nhà đều xưng gọi là Sư đến chứng trai, tất cả có đến mười hội, mới là Sư bèn phân thân đến mười nơi. Có lần, Sư cùng chư tăng xuống núi để chứng trai, bỗng nhiên Sư phát cười, có người hỏi về lý do. Sư bảo: Ở chùa núi hiện có tịnh nhân duyên qua vách tường vào trộm đường mật”. Khi trở về quả nhiên đúng như lời Sư nói. Mọi việc như thế chẳng phải chỉ một lần. Ở đây chỉ nêu sơ lược.

Ban đầu, nơi Vương Môn có Sa-môn Từ Tạng làm Tăng Quan ở Châu, lập ra chính sách nghiêm khắc, bình bát y phục hương hoa nếu thiếu sót thì liền bị đánh, nên chúng tăng rất khổ sở. Nhưng vì Sư được Vua kính trọng, nên không ai dám cản ngăn, chỉ thưa trình sự việc ấy với Sư, xin Sư cứu giúp. Sư bảo: “Từ Tạng oai lực như thế, đâu thể nghe lời ư?” Chúng tăng tha thiết cầu xin thưa thỉnh không thôi. Sư bèn đến cửa phòng ngài Từ Tạng. Ngài Từ Tạng đi ra. Sư bảo rằng: “Pháp môn không thể như thế, Ngài thật quá lắm.” Ngài Từ Tạng bèn trở vào phòng. Từ đó, ngài Từ Tạng bèn dứt lời, tăng chúng nhờ đó mà được an.

Đến niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, Sư thị tịch tại núi, thọ chín mươi sáu tuổi.

15. Truyện ngài Thích Đạo U trụ chùa Xà-lê ở Đại Châu:

Thích Đạo U, Sư là vị Tăng trụ chùa Xà-lê ở Đại Châu, rất giỏi về giảng giải kinh luận. Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Sư đang ở tại chùa, giảng “Bà-già” Bát-nhã Tinh luận”, thính chúng có hơn trăm người. Vào giờ ngọ, ngồi trên giường dây, Sư bỗng thấy một vị trời rất cao lớn lạ thường, tự nói rằng: “Ta là Thích-đề Hoàn-nhân đến xin cầu thỉnh Sư lên cõi trời giảng kinh!”. Vừa nghe, trong tâm Sư không chấp thuận, nhưng vì sợ chết, nên Sư đáp rằng: “Vì đang xây dựng Phật đường chưa hoàn thành, vì vậy nên không thể được”. Đến lúc tỉnh giấc, Sư kể lại cho vị thị giả là Pháp sư Như nghe, Pháp sư Như nói: “Việc ấy ít có, người sống cuối cùng sẽ phải chết, lúc chết không biết sinh vào loài nào, nay được sinh lên cõi trời thì tốt đẹp hơn cõi người. Khai thông pháp lợi thì các vị trời thấu hiểu hơn loài người, Sư chẳng đến sao được? Còn công đức xây dựng Phật Đường chẳng đáng nói”. Sư nghe theo. Sau đó không lâu, Sư lại mộng thấy như trước, y như lời vị trời thỉnh mời. Thiên đế bèn rót ít hương vào lòng bàn tay Sư định thời gian đến đón rước. Đến khi Sư tỉnh giấc thấy trong tay có mùi hương xông ngát cả chùa. Sau đó, Sư vẫn như trước nói pháp. Sau khi xuống giảng tòa, Sư đến dưới hàng hiên, Chư tăng ở trên ghế xa thấy hơi khói hương khắp một bên ghế, kinh lạ, bèn cùng nhau đến xem, thấy trên tay Sư đang bưhg lò hương, thân tâm an trú trong chánh niệm mà thị tịch. Khi đó, các hàng đạo tục ở phía ngoài chùa trông thấy hơi mây từ chùa tỏa ra như một ráng mây vọt thẳng lên giữa hư không vùn vụt mà biến mất.

16. Truyện ngài Xà Lê Sầm trụ chùa Thiện Cư ở Tương Châu:

Xà-lê Sầm, trụ ở chùa Thiện Cư thuộc Tương Châu. Không rõ Sư là người xứ nào. Sư ở trong chùa chuyên thiền quán tụng niệm là chánh nghiệp, Sư có sự sáng suốt thấy biết trước, mà chùa ở nơi chốn núi chằm nên mọi sự cung cấp cúng dường vốn thiếu thốn, gạo thóc vật thực không có liên tục. Thường ngày Sư mang chum vào thành xin rượu để uống. Lại xin đầy chum có thể nhiều đến ba đấu, khi trở về trên đường vừa đi vừa uống. Về đến chùa thì chum cũng hết rượu, ngày hôm sau, Sư lại tiếp tục như thế.

Ở chùa mở trai, Sư mang chum đến nhà trù xin cháo khoảng ba thăng, rồi cầm tích trượng đi vào trong chúng, dùng trượng đánh vào đầu chư Tăng từ trên xuống dưới, thường ngày cứ như thế, mỗi người đánh một cái. Mọi người đều cho Sư là người trác việt lạ thường, hoặc nghi là đánh để tan mất tai ương nên chẳng từ chối nhận chịu. Sư đem cháo vào phòng, Ngài có nuôi một cho chó lông mầu đen sạm, và trong chùa có đến mấy ngàn con chuột. Mỗi sáng nhóm họp, chó và chuột cùng ăn chung đầy kín cả sân. Các hàng đạo tục cùng nhau đến xem. Một hôm, mất một con chuột, Sư buồn thảm không thôi, cho là do chó giết, Sư bèn trách phạt chó, chó ngậm mang con chuột đến, Sư trông thấy mà áo não, lấy gậy đánh chó. Sư đem chuột chôn cất rồi buồn thương khóc ròng. Chư tăng trong chùa bị chuột cắn gặm y phục và cả hòm rương, đem việc đó báo mách việc đó với Sư. Sư bèn gọi cả đàn chuột đến, răn bảo mỗi con phải cùng gìn giữ. Có một con chuột không chịu gìn giữ. Sư bảo: “Sao ngươi cắn gặm y phục của người?” Và dùng gậy đánh đó.

Khi ấy vì chua đông nghèo khổ, Sư xuống dưới mé suối Bạch Mã thuộc phía Đông bắc của giảng đường, dự ghi nơi này làm nhà trù, nhà khố, chỗ kia làm kho lẫm, v.v… Mọi người đều cười nhạo. Qua đêm bỗng nhiên nước cuộn lùi đất ra, nên y như lời Sư nói mà làm, bèn khiến cho dồi dào. Sư lại xa dự ghi rằng: “Mười sáu năm sau sẽ có người ngu đến ở phía nam của chùa xây dựng lầu nhiều tầng. Tuy cơ nghiệp của chùa không thiếu, nhưng có sự tranh tụng không thể ở yên”. Đến niên hiệu Vĩnh Huy (650-659) thời Tiền Đường, thì có người đến xây dựng lầu nhiều tầng, do đó kiện tụng lẫn nhau. Thật đúng như lời Sư nói.

17. Truyện ngài Xà Lê Thông trụ chùa Thiên Bảo ở Đan Dương:

Xà-lê Thông, trụ chùa Thiên Bảo ở Đan Dương. Vào cuối niên hiệu Trinh Quán (650) thời Tiền Đường, khi đó Sư đã tám mươi tuổi, mà khí lực vẫn còn khoẻ mạnh, nghi dung khoan thai. Sư thường mặc áo nạp, áo dày một tấc, sợi chỉ lớn bằng ngón tay được dùng để vá nạp, rất là thanh khiết. Sư chuyên trì tụng Kinh Pháp Hoa, vào chợ khất thực, vật xin được chẳng khác thế tục. Có được tiền của thì Sư tu tạo sửa sang chùa viện phòng nhà.

Giảng đường chánh điện chùa đó được xây dựng từ đời Lương. Cát đỏ rưới rửa, tô đắp rất dày. Đến đầu thời Tiền Đường, Thiền sư Thiện khảm tượng đồng lớn, cần có Thủy ngân nên đến xà nhà nạo lấy mà sử dụng đầy đủ, ngoài ra dưới chân cột vẫn còn mầu đỏ. Như thế đủ biết người xưa làm phước rất mực quý trọng, không hề từ nan, nếu chẳng dùng đó thì vật xưa đâu còn. Đến lúc nền chùa cần sự sửa sang tu bổ thì Sư bảo: “Có vàng để giữ nước xưa hãy lấy để sửa chữa”. Bèn đến phía Bắc chùa chừng bốn mươi bộ, y theolời bảo mà đào bới lấy mười cân, dùng hết, lại lấy được ba mươi cân cân. Sư bèn nói: “Dưới đất lớn có nhiều vàng nhưng càng lấy thì phải giết người”. Lúc ấy bèn thôi.

Về sau, Sư tự tạo một cái hang đất ở phía Bắc chùa, để sẵn khi qua đời. Khi đó, chưa ai nghiệm biết. Không bao lâu, Sư bảo với chúng tăng rằng: “Bình thường đến lúc qua đời phải có sự phó chúc, đem các thứ của cải ra chỉ định trao truyền rất rõ ràng”. Sau đó ba ngày, thần khí Sư vẫn sáng suốt khỏe mạnh, nhưng Sư bảo là “Sắp đi!” Bỗng nhiên không thấy Sư đâu cả, mọi người bèn đến xem chỗ hang đất thì cửa đã lấp, chỉ mở một lỗ nhỏ. Ngài nằm dúm nơi đất, hơi thở đã dứt. Sư thọ hơn chín mươi tuổi.

18. Truyện ngài Thích Pháp Khánh trụ chùa Ngưng Quán ở Kinh Đô:

Tai phía Tây Bắc kinh đô có chùa Ngưng Quán bị hoang phế. Chùa đó có một pho tượng Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đứng cao trượng sáu, nghi dung tôn tượng khác lạ, thường phát ra ánh sáng. Pho tượng đó do Sa-môn Thích Pháp kháng ở tại chùa đó đắp vào niên hiệu Khai Hoàng thứ ba (583) đời Tùy.

Khi đắp tôn tượng vừa xong, chưa kịp sơn phết thì ngài Pháp Khánh bỗng nhiên thị tịch. Cũng trong ngày đó tại chùa Bảo Xướng có Sa-môn Đại Trí cũng thị tịch, ba ngày sau sống lại kể rằng: “Ban đầu đi vùn vụt như cưỡi giữa gió mưa, có thể đi khoảng trăm dặm, thấy một cung điện, người vật xinh đẹp khác thường. Lại thấy có một người giống như vua, hai bên nghi trượng rất oai hùng, chỉ trong khoảnh khắc thì thấy ngài Pháp Khánh đi đến mà nét mặt tỏ vẻ u buồn. Lại thấy có một pho tượng lớn nói với người trên điện rằng: “Sa-môn Pháp Khánh đắp tạo tôi chưa xong, vì sao lại chết đi?” Người đó vội bước xuống điện bái lạy xong, gọi người dưới thềm cấp mà hỏi rằng: “Ông Pháp Khánh đã hợp với cái chết chưa?” Người dưới thềm cấp đáp rằng: “Mạng chưa hết mà thức ăn đã hết”. Người ấy bảo rằng:”Hãy cấp lá sen để kết thúc phước thọ của người ấy!”. Nói xong, pho tượng và ngài Pháp Khánh liền biến mất”.

Khi đó, ngài Đại Trí hỏi chư tăng ở chùa Ngưng Quán rằng: “Ngài Pháp Khánh tịch đến nay đã ba ngày, pho tượng cao trượng sáu do Ngài đắp tạo đêm đó cũng biến mất qua đến rạng sáng hôm sau mới thấy lại”. Khi đó, mọi người đều khen ngợi lấy làm lạ. Đang bàn nói chưa xong, thì có người đến báo ngài Pháp Khánh sống lại. Đại chúng đều đến thăm hỏi, thì Sư nói giống như ngài Đại Trí. Từ đó mỗi mỗi sáng mở trai, Sư lấy sáu lá sen, bữa trưa thì tám lá, hễ lúc nào muốn ăn thì trước rót nước nóng vào cho ướt mềm rồi mới ăn. Ngài (Pháp Khánh) đi khắp mọi nơi xa gần khuyến hóa các hàng sĩ tục cúng dường để đắp tạo pho tượng đó. Đến đầu niên hiệu Đại Nghiệp đời Tùy (605) Sư thị tịch, thọ bảy mươi sáu tuổi.

Gần đây có Đơn Đạo Tông người ở Vị Nam thuộc Ung Châu, trong niên hiệu Vĩnh Huy thứ năm (654) thời Tiền Đường, vì bị bệnh phong, nên dung nghi Sư biến đổi, dần dần về sau, với mùi vị các thức ăn uống đều hôi thối, nên Sư chỉ ăn đất uống nước. Người đương thời gọi Sư là “ Nhân Đàn ”. Đến nay đang rảo bước khắp nơi để xin ăn, tuổi có thể đã ngoài bốn mươi.

19. Truyện ngài Thích Đức Sơn trụ chùa Thiên Sắc ở Ích Châu:

Thích Đức Sơn, họ Sơn, không biết Sư là người xứ nào. Bỗng nhiên Sư dứt bỏ vợ con, vào núi tu đạo, râu tóc không rảnh mà cạo, ăn mặt cũng không rảnh để coi sóc, Sư chỉ dứt duyên lắng niệm lấy làm đắc tánh. Mọi người đều không biết về Hành Quán của Sư như thế nào, thấy tướng trạng Sư như người đắc Định.

Bấy giờ, ngài du hóa ở vùng Long Trì thuộc Trúc Lâm, Khai ngộ các hàng đạo tục, lấy sự thanh tịnh đơn giản làm gốc. Sư thường nói rằng: “Pháp phiền loạn thì đạo tục đều tệ xấu. Nên chính sách hà khắc thì nước loạn, tâm phiền não thì ý loạn. Nước lắng trong thì cá, đá đều thấy được, thần lắng trong thì ý tưởng điên đảo nhận biết được. Người học thanh tịnh đơn giản còn tự ồn ào phiền nhiễu, huống gì loạn sứ mà có thể đắc Đạo ư?’

Về sau, Sư vào núi Mã An, ở đó thường có nhiều rắn độc, cắn người thì chết ngay, nhưng Sư qua lại đều không bị làm hại, còn như các trẻ nhỏ theo hầu sớm tối đi lại cũng không lo sợ gì. Có lần đạp phải nên bị cắn, Sư dùng nước tẩy rửa, tự nhiên được bình phục. Sau, Sư lại trở về ở núi Thiên Sắc, an cư kiết hạ dưới gốc cây. Có người đến chỗ Sư, bị hổ rượt, bèn chạy vào dưới giường Sư, hổ đến ngồi đợi trước giường. Sư bảo hổ rằng: “Thịt của Phật từ ở dưới giường mùi vị có hơn thịt bần đạo đây chăng?” Và liền cởi áo để thí xả, hổ bèn đứng dậy đi thẳng. Sau đó, có một đứa trẻ đến thưa hỏi Sư. Sư bảo: “Ngươi đến đây làm gì?” Đứa trẻ đáp: “Từ lâu không được trông thấy, không biết sống chết thế nào, nên đến xem thử?” Sư bảo: “Ngươi hãy đi đi, mỗi người hãy tự tìm sự sống, nếu còn đến đây ta sẽ cho ăn gậy đó.” Đứa trẻ bỏ đi, sau đó mấy năm lại đến. Sư cầm gậy định đánh, đứa trẻ lùi lại nói rằng: “Xà-lê gặp con mà như người khác. Người khác có thể chịu đánh ư?” Ngài cười lớn và bảo: “Ta không đánh ngươi, thì ngươi sẽ làm hư hại Đạo ý của ta!”. Đức trẻ bèn đi thẳng. Đến lúc hơn chín mươi tuổi, Sư thị tịch tại am cốc ở núi.

Bấy giờ, tại chùa Thảo Đường ở Ích Châu, có Sa-môn Húc Thướng, không biết Sư là người xứ nào. Từ thuở thiếu thời Sư đến trụ chùa Thảo Đường, chỉ lấy sự thiền quán, tụng niệm làm việc chính, ngoài ra không tạo tác một việc gì. Ở đất Thục rất chuộng hai ngày mồng tám tháng hai và mồng tám tháng tư, mỗi lúc đến hai ngày ấy, mọi người khắp bốn phương đều nhóm họp thư thả vui chơi, còn chư tăng thì bận rộn vội vàng không chút nhàn nhã. Nhưng Sư vẫn ngồi thẳng bên rừng trúc, điềm nhiên lắng tưởng, bình nước vẫn tự đầy tràn, lò hương vẫn tự đốt cháy. Mọi người ở phía Tây Thành thấy vậy nên cùng theo tham dự. Sư vẫn nghiễm nhiên bất động đồng như vàng đá, sau ba ngày Sư mởi trở lại như thường. Bốn chúng thảy đều kính trọng mà lấy làm lạ, nên xem Sư như mặt trời vừa xuất hiện lúc sớm mai, cùng gọi Sư là Húc Thướng. Sư thọ đến chín mươi tám tuổi mới thị tịch.

20. Truyện ngài Thích Đạo Duyệt ở núi Thanh Khê thuộc Kinh Châu:

Thích Đạo Duyệt, họ Trương, người ở xứ Chiêu Khâu thuộc Kinh Châu. Năm mười hai tuổi, Sư đến chùa Ngọc Tuyền xuất gia thọ giới. Ngài chịu nghèo khắc khổ, rất hay trì niệm các Kinh Đại Phẩm, Pháp Ho, thường tụng làm chánh nghiệp. Tùy chỗ nào có kinh giới, mỗi ngày Sư tụng một quyển. Mọi người đều lấy làm lạ.

Ban đầu, ngài Trí Giả vào trụ chùa Ngọc Tuyền, chưa có chuông Khánh, ở dưới suối nhặt được một mẩu đá lạ, treo lên để đánh, âm thanh vang hưởng trong suốt. Ngài (Đạo Duyệt) trụ tại chùa đó, mỗi lúc tụng xong quyển kinh, đánh một tiếng khánh mà xuống, người nghe thảy đều cung kính. Vả lại, tiếng Sư tụng kinh trong suốt như âm vận của dòng nước chảy, người nghe quên cả mệt nhọc. Do đó, trong cõi sáng tối thường có điềm lành. Có một thời gian Sư bị bệnh nước, bụng trương lên như cái trống. Nhưng Sư không hề cầu cạnh gì, chỉ xưng niệm kinh Bát-nhã, một đêm tụng kinh một biến, bỗng nhiên bụng như xé rách, nước tuôn đổ tràn đầy, bèn thử đưa tay sờ tìm thì chiếc bụng trướng đã tiêu mất, bệnh liền tan biến. Đó gọi là chuyển chướng mà thọ khinh.

Xưa, bọn giặc Chu Sán đến phá nhiễu chùa, chỉ một mình Sư ở lại giữ núi, kẻ trộm đến xin, Sư giảm bớt phần ăn mà ban cấp cho. Kẻ trộm lại lấy thêm để nấu mà không chín, bèn xấu hổ mà bỏ đi. Ngày khác bọn giặc lại đến, định hại mạng Sư, Sư vẫn ngồi dưới đất không lay động, bảo rằng: “Hại ta chỉ ở đây, ta muốn chính mắt trông thấy chùa chiền phòng nhà lấy hết”. “Giặc bèn thả bảo dẫn đường. Đi được vài bước, Sư lại ngồi xuống đất bảo rằng: “Ta là Sa-môn, chẳng phải là người dẫn đường. Với hình hài phù huyễn, mặc tình theo cùng bạch nhận”. Bọn giặc lấy làm lạ về sự cao thượng ấy, bèn đưa Sư trở lại chùa.

Trọn một đời, Sư chẳng mặc áo bằng tơ tằm, chỉ mặc áo vải gai bố. Hán Dương Vương đến núi, thấy phong nghi của Sư mặt mày tuấn tú bèn xin thọ giới phẩm, lại cúng dường dâng tặng nồng hậu. Sư không nhận lấy một vật gì. Hán Dương Vương làm ba pháp y bằng vải bố lớn và một chiếc áo lót để dâng cúng Sư, nhân đó hỏi Sư “Vì sao không mang mặc các thứ gấm lựa ư?” Sư đáp: “Y phục bằng tơ tằm phải tổn hại sinh mạng mới có, trái với tâm của nhẫn nhục, y phục bằng vải bố sạch sẽ tiết kiệm biểu thị tướng từ bi!” Hán Dương Vương nói: “Trọng Do chẳng xấu hổ, Phu Tử được tôn xưng, Sa-môn từ bi nhẫn nhục hẳn là như vậy!”. Sư lường tấc bóng mà ăn, ít khi khạt nhổ, thức ăn Sư lưu lại một phần để thí cho các loài bay chạy bơi lội. Nên do sự xông cướp của đức hạnh từ thiện mà hoặc chim bay lại đâu trên vai Sư, cá bơi nổi vào trong lòng bàn tay Sư. Tuy Sư mặc y phục thô xấu mà không hề có rận rệp. Bấy giờ, ngài lại đi quanh trong thôn ấp xin chấy rận để nuôi, Sư răn bảo mọi người chớ nên giết hại chúng. Sư ở tại núi hơn năm mươi năm, Sư thị tịch trong hang núi, thọ bảy mươi hai tuổi.

Vào niên hiệu Vĩnh Huy (650-655) thời Tiền Đường có người ở núi Thanh Khê thấy một vị tăng, tay cầm tích trượng, đi chân không, tự xưng là “Bát-nhã Sư”, nói xong bèn biến mất. Vì lúc còn sống, Sư thường trì tụng Kinh Bát-nhã, nên mọi người đều gọi như thế.

21. Truyện ngài Thích Tuệ Diệu trụ chùa Nội Hoa ở Kinh Châu:

Thích Tuệ Duệ, họ Kỳ, người ở xứ Tương Dương. Thuở thiếu thời, Sư trầm lặng, nói năng chậm rãi, việc làm nhanh nhẹn, mọi người đều quý trọng. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư đi khắp nơi hỏi Đạo, đến chỗ Pháp sư Mạng ở Trịnh Xuyên, Sư lại đến chỗ Thiền sư Tuệ Tư ở Hành Nhạc, và đều hết lòng thưa hỏi điều lợi ích, quán dụng rõ ràng. Ngài Tuệ Tư ở giữa đại chúng bảo Sư rằng: “Đối với Thật Tướng Quán, ông khéo có được huyền thú”

Ở núi được mấy năm, gặp lúc ngài Tuệ Tư thị tịch, Sư muốn dứt vết ở Võ Đan để mong cầu Tố Thượng, vừa đi đến Ba Khâu, Sư tự bảo rằng: “Ở xứ này, thiền luật ít được nghe, có thể tùy duyên mà hành hóa”. Có Pháp sư Đạo Ý trụ chùa Đạo nhân ở Giang Lăng, nghe chí khí của Sư bèn đến kết giao. Theo hướng Tây, Sư lên trụ chùa Đạo nhân, suốt mười bốn năm Sư không ra khỏi sân cửa chỉ thưởng vị Thiền tĩnh. Gặp lúc ngài Trí Khải trở về quê cũ, than rằng: “Quê cũ không có bạn hiền đủ để làm khuôn phép cho Di pháp!”. Do đó, các hàng Đạo tục ít đến lễ yết. Sư đóng bít cửa chuyên trì mật hạnh chẳng gặp gỡ người thế tục đương thời.

Đến cuối niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy. Sư nói với mọi người rằng: “Ta không muốn làm phiền hà chúng tăng ở đây, muốn đến ở chùa Nội Hoa để có thể thư thả hơn”. Tăng chúng cố lưu giữ mà ngài không chấp thuận. Đến tháng hai niên hiệu Nhân Thọ thứ ba (603) đời Tùy, Sư bị bệnh nhẹ, thấy hai thầy Tuệ Tư và Mạng đến đón rước. Qua ngày mồng sáu tháng ba, Sư ngồi kiết già thẳng lưng mà thị tịch, thọ bảy mươi chín tuổi. Được an táng tại chùa Nội Hoa.

Lúc Sư chưa tịch, trong chùa có ba mươi người đều nằm mộng thấy chùa bị nghiêng đổ, đến sáng sớm mọi người khác miệng đồng lời mà nói lại điều đó. Xưa kia gọi là chùa Đạo Nhân tức nay là chùa Thiên Hoàng. Thấy có Bách điện năm gian hai tầng. Hữu Quân Tuớng Quân Trương Tăng Dao đời Lương tự cầm bút vẽ. Tại điện đó, người thợ, đắp họa tôn tượng Đức Lô-Xá-Na ở phía Bắc, tướng tốt trang nghiêm, ánh sáng thường phát ra. Phía trước điện có năm thềm cấp cũng phát ra ánh sáng. Điềm lành rất nhiều nên chẳng ghi đầy đủ. Do đó điềm lành luôn gá ở đó.

22. Truyện ngài Thích Đạo Biện ở Đông Nhạc:

Thích Đạo Biện, Sư là Danh nhân đất Tề, Sư trụ chùa Linh Nham ở Thái Sơn, dừng ở không nơi nào cố định, Sư chuyên đi khắp các nơi lấy làm việc chính. Sư thấu suốt Kinh Sử, giải rành về số thuật.

Vào niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tùy, Sư đi đến Tương Châu, lúc đó tuổi đã ngoài bảy mươi. Sư lại cùng Sa-môn Thần Biện người cùng ấp, theo nhau roi gậy lên núi nhìn ngắm núi sông. Có nhiều chỗ Sư đi đến như đã từng thấy nghe. Ngài đi đến Lãnh Vọng ở phía Nam chùa Thiền Cư nói rằng: “Chùa đó do Sa-môn… Đạt xây dựng cùng tận thế núi, tăng chúng rất đông rất mực thanh tịnh, trang nghiêm. Vì sao hàng Hậu duệ lại xây dựng lầu gác ở phía trước chùa, chư tăng trong chùa chẳng những giảm ít mà còn thêm tranh chấp, hai nơi liền nhau nhưng không hề bước qua, rất đúng như lời Sư nói. Bấy giờ, Sư đến các chùa nói rõ mọi sự hơn kém. Không đâu chẳng U thông, trước nhận biết soi xét tinh linh, Ngài lại đến các chỗ Tháp mộ, cũng trình bày mọi sự tốt xấu. Có một vị sĩ tục quên mất họ tên. Thỉnh Sư tô lại phần mộ ấy. Sư đi qua các bình nguyên, chỉ chỉ một nơi và bảo rằng:”Trong đây có thể an đặt Phần mộ, đầy đủ ăn uống, giàu có của cải. Đào sâu xuống đất khoảng ba thước được một thăng lúa thóc, lại sâu thêm 1 thuớc có phiến đá năm mầu ánh ngời. Đó gọi là Tài Duyên”. Người ấy y theo lời Sư mà đào, quả nhiên có được lúa thóc và đá, bèn thực hành bốc táng, đến nay có sự hưng thịnh lớn.

Tại Tương Châu, có Viên Sơn Tùng là người xem rộng các kinh cáo, người đương thời gọi đó là Nho Tông. Nghe ngài học rộng nên lại tìm đến, đem Dương Tử Thái Huyền Vương Bật là Dị Đạo để cùng tham cứu sâu mầu. Sư bảo: “Đạo thuật của Dương Vương chưa đủ để tham tầm, hãy ban tặng cho kẻ ngu, không học, không trí tuệ”. Viên Sơn Tùng biến sắc, mặt cười trước sự đè ép và tâng bốc của Sư. Sư bảo: “Ông học chưa khắp cùng, nên tin theo thuật trước đó, hãy trừ bỏ sự bền bỉ của ta, ta sẽ chỉ cho lối trở về”. Bèn viện dẫn Kinh Thái Huyền v.v…, lại đến chỗ lưu tâm riêng của Huyền Tượng, chẳng hề nằm ngủ, ban đêm thấy bày, xét thứ lớp của Tú Đạt, xét quang cảnh của Bột tuệ (sao chổi), Sư bèn nói với người rằng:”Xưa kia, tôi ở chỗ Pháp sư Dụ, học Quán về Thất Diệu. Pháp sư Dụ bảo tôi rằng: “Samôn Đạo An đời Tấn rất giỏi về thuật này. Người tuy đã thị tịch mà di Văn vẫn hiện còn”. Sư có chú giải kinh về Tố Nữ rất là quan trọng, chỉ tiếc là mất bổn văn ấy, làm sao có đựơc!” Khi đó có một vị tăng tình cờ có được bổn văn ấy, nên thỉnh Sư bày giải. Sư thấy có được nên rất vui mừng, liền giải thích rõ. Vị tăng ấy mịt mờ, tình ý giống như biển mộng, bèn đem cho. Sư bảo: “Sao gọi là Di Thiên (cùng khắp đất trời) thật chẳng dối xưng, học gồm Di Luân, sốt thuật cùng tận. Đây tuy chỉ bốn trang giấy mà văn từ bao gồm không sót, yếu ước bao gồm dồi dào hết cả linh đài:. Khi đó, trăng soi đến sao Tỉnh, Sư bèn bảo rằng: “Việc ở Tây Sở, hãy báo cho các hàng Đạo tục biết, nên chuẩn bị nước đầy đủ”. Chưa đầy hai đêm, sông Hán bỗng nhiên nước dâng lên tràn ngập, Tương Ấp Thành Hoàng sắp chìm đắm. Sư có được sáng suốt dự kiến đại loại như thế. Các tài vật có được, Sư đều sung vào dùng làm vàng chợ, dùng việc hợp thuốc để kéo dài thọ mạng. Người báo đến trộm không thể thực hành. Sư bèn nói: “Trộm giả độn giáp sáu Đinh, tôi rất rành về thuật ấy, thường đầu tháng thêm khí, sao được xem thường nhau, Tôi không hề sợ”.

Vào niên hiệu Nghĩa Ninh (617-618) đời Tùy, Sư cùng ngài Thần

Biện đi về hướng Nam đến Lãnh Biểu, sau đó không biết Sư đến xứ nào.

23. Truyện ngài Thích Tuệ Lâm trụ chùa Kiến Minh ở Ích Châu:

Thích Tuệ Lâm, họ Tiết, người ở xứ Thần Tuyền thuộc Miên Châu. Vào đầu đời Tùy, Sư ẩn cư tại chùa Kiến Minh, thanh bạch rỗng rang, Sư chỉ giữ sự tĩnh lắng, chẳng giao tiếp với mọi người. Chùa có một pho tượng đắp, thường được cúng dường, tượng vì mọc ra ba mươi sáu sợi sâu. Đến cuối niên hiệu Đại nghiệp (617) đời Tùy, Sư quét tước nơi một phần mộ cổ, trồng hai cây tre và bảo rằng: “Đây là Thiên nhãn”. Sau đó, bỗng nhiên Sư nhổ bớt một cây, bảo rằng: “Hoằng Nông Dương bị ma nhổ”. Không bao lâu thì đổi sang niên hiệu Nghĩa Minh (617-618) cũng đời Tùy, có lúc Sư mặc áo kép an cư kiết hạ ở trên gò mả cao. Ban ngày tuy nóng như lửa đốt nhưng thân Sư không tỏ vẻ nóng bức. Miệng tuy nói Đạo mà thân đồng với thế tục. Mỗi lúc nói bàn đều lấy lý làm trước tiên. Tại huyện Lạc xưa có một ngôi tháp của vua Adục, có một lúc bỗng nhiên Sư đi ngang qua xóm dẫn theo ba trăm cỗ xe, nói “muốn đến huyện Lạc rước tháp đến tôn trí nơi đây”. Chưa được mười ngày, thì tháp lửa thiêu đốt.

Đến niên hiệu Võ Đức (618-627) thời Tiền Đường, Sư ngầm lắng giữa đồng cỏ, mọi người không ai biết, ở đó có Sa-môn Dương Hựu, không biết Sư là người xứ nào, đi thẳng đến trong đồng cỏ gặp Sư. Từ thuở bình sinh chưa từng gặp gỡ mà hai ngài đối diện nhau vui vẻ như bạn bè xưa cũ. Mỗi người tự nói: “Từ lúc cách biệt đến nay đã tám trăm năm.” Sư từng vì người mà chú nguyện cho lành bệnh, người bệnh bảo người con gái mang khố đến cúng thí, người con gái bèn để lại áo mà đưa thẳng đến. Sư từ xa thấy bảo rằng: “Chỉ đem khố lại, ta không cần tiền”. Cô gái kinh hãi cho là bậc Thánh.

Đến niên hiệu Trinh Quán thứ tư (630) thời Tiền Đường, Sư thị tịch.

24. Truyện ngài Thích Hồng Mãn trụ chùa Cứu Độ ở Kinh đô:

Thích Hồng Mãn, họ Lương, người ở xứ Nam Định. Khi đang còn ở thế tục, năm mười lăm tuổi, Sư bị bệnh hai chân co quắp. Sư thường niệm tụng kinh Quán Thế Âm suốt ba năm, bỗng nhiên có một vị tăng cầm lọ nước tắm đến đứng trước mặt Sư mà không nói gì. Sư hỏi: “ Sư từ đâu đến?” Vị tăng đáp: “Vì Đàm Việt thường kêu gọi nên tôi đến!”. Sư cúi đầu hỏi rằng: “Đệ tử vì tội báo gì mà nay phải bị co quắp thế này?” Vị tăng ấy bảo: “Thân trước của ông thường trói buộc các loài vật, nên ương họa còn lại như thế. Ông cứ việc nhắm mắt, ta sẽ trị liệu cho”. Sư bèn theo lời bảo mà nhắm mắt, và chỉ cảm giác ở trên hai đầu gối mỗi bên nhổ ra đinh gai chừng nănm – sáu tấc. Đnh đã vất bỏ rồi, Sư mở mắt ra, định tạ ân, thì vị tăng ấy đã biến mất. Sư đứng dậy đi lại bình thường như xưa. Và Sư mới biết đó là Bồ-tát Quán Thế Âm, nhân đó Sư tinh tấn chí thành, thề không cưới vợ. Sau bỗng nhiên Sư tự thông hiểu Thiền Quán, Sư chỉ ngồi yên không lay động suốt ba ngày, rồi đến bảy ngày.

Đến đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Sư lìa thế tục xuất gia theo đạo, trụ chùa Cứu Độ. Đến niên hiệu Đại Nghiệp (605-617) đời Tùy, Sư đến trụ chùa Pháp Hải. Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười ba (639) thời Tiền Đường, Sư thị tịch, thọ tám mươi ba tuổi.

25. Truyện ngài Thích Tuệ Thông trụ chùa Phước Hóa ở Ích Châu:

Thích Tuệ Thông, họ Vương. Sau khi xuất gia, Sư đi khắp các trai hội, trường giảng, tay Sư không hề rời quyển kinh. Sư tìm xét chỉ thú trong kinh, tâm sự vui mừng hớn hở. Sư chuyên khổ hình tiết thực, thực hành hạnh tri túc. Sư tự bảo: “Trong Kinh Pháp Hoa nói: “Bồ-tát thường Bất Kinh chẳng chuyên tụng đọc kinh điển, chỉ thực hành lễ bái bốn chúng “còn được thanh tịnh sáu căn, ta đây vì sao chẳng kính lễ Chư Phật, Thế tôn?” Liền ở nơi Viện riêng đóng cửa, thường đảnh lễ danh hiệu mười lăm ngàn Đức Phật, y theo kinh mà tự xướng, mỗi danh hiệu mỗi lễ bái. Chư tăng trong chùa lấy làm lạ về việc làm của Sư, bèn đến chỗ vách tường có lỗ hổng trộm xem xét, thấy lúc Sư lễ bái đầu cúi xuống thì tám bộ trời rồng, v.v… cũng đều cúi đầu. Qua nhiều lần như thế chẳng phải một, mọi người đến chỗ phòng viện ấy không ai trong tâm chẳng kinh sợ nên bỏ chạy ra ngoài, thường nghe có mùi thơm lạ thoang thoảng, đến lúc Sư thị tịch. Vào niên hiệu Trinh Quán (627-650) thời Tiền Đường, thì phòng viện ấy không hề có người nào đến. Hằng đêm thường nghe thấy các tướng búng ngón tay lễ bái hành Đạo.

26. Truyện ngài Thích Pháp Thông trụ chùa Pháp Hải ở Kinh đô:

Thích Pháp Thông, họ Quan, người ở đất Ngạc thuộc Kinh Triệu. Sư xuất gia từ thuở nhỏ, thân hình rất yếu đuối, gió thổi có thể té ngã dường như lưới dệt. Do đó mà các bạn đồng học rất xem thường, Sư liền rơi nước mắt. Một buổi sáng, Sư đối trước tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, khẳng khái bạch rằng: “Pháp Thông con nghe” Bồ-tát là bậc Thánh soi xét các điều ước nguyện đều làm cho toại ý, xin rủ lòng từ dẫn dắt cho con khỏi bị sự khinh thường ấy!”. Nhân dó Sư trì tụng Kinh Quán Thế Âm, ngày đêm không nghỉ. Hơn năm sau, Sư trở về quê cũ hầu thăm mẹ. Sau bữa ăn sáng xong, Sư nằm ngủ dưới bóng cây trước sân, chỉ giây lát từ trong miệng nước dãi tuôn ra nhiều chừng ba thăng, mẹ Sư cho Sư là có sự trái nghịch, vội gọi Sư thức dậy hỏi vì sao như vậy, Sư đáp: “Vừa rồi, thấy có người đem đến cho ba con lừa, chỉ mới ăn được một con, vì mẹ gọi thức dậy nên hai con còn lại biến mất”. Từ đó Sư cảm thấy trong thân sức lực mạnh mẽ, da thịt rắn chắc, Sư gỡ cây gỗ lớn, hoặc tảng đá lớn chẳng lấy làm nặng nhọc.

Trong chùa có Sa-môn Tăng Kham là người rất có sức lực, Sư trộm lấy chiếc áo ca-sa đem để dưới cây cột. Ban đầu không thấy nên ngài tăng Kham cho là thần quỷ làm như thế. Sư bèn cười mà nâng xà nhà lên để kéo lấy áo ca-sa, Ngài Tăng Kham vô cùng kinh phục. Có một cái cối đá lớn nặng hơn năm trăm cân, Sư vác từ Nam Sơn về cúng dường cho chúng tăng sử dụng, nay hiện đang còn chứa nước thí cho các loài chim muông. Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) đời Tùy rất kính trọng Sư. Có người ở Tây phiên cống được gọi là “Đại Tráng” ở cửa phía Bắc muốn thử đấu sức mà không có ai. Vua rất xấu hổ mà nói rằng: “Nước Đại Tùy không có người tráng kiện!”. Bèn mời Sư đến thử cùng đấu sức. Sư bảo: “Đâu có nơi nào mà người xuất gia làm việc này, nếu muốn biết sức lực thì nắm tay sẽ biết ngay”. Sư bèn gọi người kia đến và mặc tình để cho nắm bóp. Người ấy dùng hết sức lực để nắn bóp mà Sư không cảm thấy gì. Sau đó, đến lượt ngài nắm bóp, Sư nắm cả hai tay, bỗng nhiên co quắp, cùng một lúc máu chảy ra ngoài, người ấy liền nằm khoanh dưới đất cầu xin tha mạng. Sư thả người đó, va bảo rằng: “Ta không dám giết hại, sợ tay ngươi dập nát”. Từ đó rất kính phục, khắp cả triều đình đều khen ngợi vui mừng. Các vị lực sĩ ở kinh ấp nghe thế bèn cùng nhau tìm đến. Sư nắm một nắm đậu thóc bóp chặt liền nát vụn, nên những kẻ ấy đều bỏ xe ngựa mà chạy. Bấy giờ, các hàng tráng sĩ đều gọi Sư là “Thiên Lực Sĩ”.

Đến cuối thời Vua Dương Đế (Dương Quảng 605-617) đời Tùy, vì lánh loạn lạc nên ngài đến ẩn cư tại Nam Sơn, mang theo một cối xay và con trâu nghé. Thật là Đại Thần Thông! Sau đó không lâu, mẹ Sư qua đời, nên Sư xuống núi trở về chịu tang, mọi việc xong xuôi, Sư trở lại núi. Tuy sức lực Sư địch nổi trăm người mà Sư không hề trái ngược với mọi vật, tinh tấn chí thành tiết ước, đồng bạn đương thời đều suy tôn, kính trọng Sư.

Đến đầu niên hiệu Võ Đức (618) thời Tiền Đường, Sư thị tịch, thọ năm mươi sáu tuổi.

27. Truyện ngài Thích Tuệ Nhân trụ chùa Khai Thánh ở Kinh Châu:

Thích Tuệ Nhân, họ Trương, người ở xứ Võ Thành thuộc Thanh Hà. Xưa, Sư nương tựa Pháp sư Hiền. Sau, vì Sư có chí khí thanh nhã, cao vời nên rất được tăng chúng suy phục, muốn đề cử Sư trông coi đảm nhận việc chùa. Sư bèn rảo bước đến Thục Xuyên, thưa hỏi cầu học Thiền luật. Bất kể nơi gian nguy hiểm trở, Sư đều tìm đến tham thỉnh. Đến lúc thời vận nhà Tiền Đường mở thoáng, từ đất Thục, Sư trở về. Bấy giờ, mỗi châu đặt riêng một ngôi chùa, chỉ có ba mươi vị tăng. Sư là một trong các vị đó, giữ gìn chí tiết trước sau không quên. Sau, vì chùa Khai Thánh cách Kinh Châu hơn năm mươi dặm, nơi chốn núi chầm rộng thoáng, dứt bặt gió khói. Sư bèn ở một mình tại núi đó, dựng am tranh cỏ làm lan-nhã, hơn hai mươi năm. Mọi người khắp bốn phương xa thảy đều đến nương tựa. Xưa kia, ngài Trí Giả có để lại Di ngôn, nay thật phù hợp.

Đến niên hiệu Trinh Quán thứ mười chín (645) thời Tiền Đường, gặp lúc hạn hán mà suối đá trong chùa không hề khô cạn. Sư bèn tự gánh nước ra ngoài cấp thí. Các loài cầm thú do đó được cứu giúp. Giang Lăng lệnh là Lô hành Dư, nhân nghe tiếng tăm Sư bèn đến đó xin nước cho ngựa uống. Sư bèn mang đến cấp cho. Lô Hành Dư cho là thiếu, lại tuôn lời dơ uế, bèn xua ngựa đến chùa, bỗng chốc gặp một đàn đàn heo chạy đến, mọi người đi đường không dám xâm phạm. Sau đó có hai người trộm bắt lấy làm thịt ăn. Có hổ đến vây quanh gầm gừ, muốn ăn thịt người đó. Bị quẩn bách không phương trốn thoát, Sư nghe bèn đến cứu giúp, hổ mới ngầm bỏ đi. Sư có những việc do giới đức từ bi tỏa sáng đại loại như thế. Chỉ một Bộ Kinh Pháp Hoa, và giới Bổn Tỳ-ni, qua lại Sư thường tụng, không hề quên nơi tâm miệng.

Đến năm bảy mươi lăm tuổi, Sư thị tịch tại chùa Khai Thánh.

28. Truyện ngài Thích Pháp Thí trụ chùa Hiển An ở Ba Lăng:

Thích Pháp Thí, họ Giang, người ở xứ Võ Đang. Từ thuở thiếu thời, mà Sư đã rộng rãi thẳng thắn. Thần trí khó lường biết được, thân không có nơi ở cố định, đi ở chẳng vướng mắc. Sư đến Ba Lăng, trụ chùa Hiển An, yên lặng dưới cây sa-la, mà mọi người chẳng lường biết Sư đoái hoài điều gì.

Theo bộ Kinh Nam Ký nói rằng: “Khoảng niên hiệu Vĩnh Khương thứ nhất (300) thời Tây Tấn, dưới giường trong tăng phòng, bỗng mọc lên một cái cây, hễ chặt thì mọc lại, cứ như thế chẳng phải một lần. Cây lớn lên càng nhanh chóng, mọi người đều lấy làm lạ bèn để tự nhiên chẳng cắt nửa, chỉ khoảng mười ngày mà cành nhánh lên đến tận nóc nhà. Bèn dời phòng khỏi chỗ đó. Từ đó về sau, cây phát triển chậm lại, đến cuối mùa Hạ mới trổ hoa. Lá thì rụng vào mùa thu chẳng khác những loài cây khác. Trải qua nhiều năm mọi người không nhận biết được. Về sau, có một vị tăng người ngoại quốc thấy cây nầy liền rơi lệ nói rằng: “Đây là cây Sa-la, Đức Phật đã nằm dưới tàng cây nầy mà nhập Niết-bàn, tôi nghĩ nhớ về Bổn sự mà rơi lệ. Và hoa nở ra nhỏ trắng không đủ để nhặt xem”. Đến niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434) thời Tiền Tống, bỗng có ra một bông hoa hình sắc như cây hoa sen. Nay vẫn hiện còn tại đây, cũng là kỳ tích của một phương.”

Đến cuối đời Tùy, tan loạn, giặc dã dấy khởi chẳng chỉ một phương. Khi ấy, Tiêu Tiển đang làm La Huyện lệnh. Sư vỗ vào lưng và chỉ thành Ba Lăng mà nói rằng: “Đó là thành của Thiên Tử. Về sau, quả nhiên gạo thóc của Vua rất bình tiện”. Sư răn bảo cất giữ cho kín, mọi người chẳng lường biết được lời nói ấy. Về sau, một đấu thóc gạo giá trị đến mười lăm ngàn quan, dân chúng đói kém rất nhiều. Sư dự ghi như thế, mọi sự việc về sau đều rõ ràng như chỉ tay trong lòng bàn tay. Khi Triệu Quân Vương đánh chiếm Ngụy Lương, Tiêu Tiển hỏi Sư: “Việc ngày nầy như thế nào?” Sư bèn đưa cho hai chiếc đũa đồng. Tiêu Tiển nói: “Khiến tôi cũng đồng”, bèn dẫn cả chúng qui hướng hoằng hóa, trăm họ đều được nhờ. Sư có được đức hạnh rộng lớn như vậy.

Ngài từng ở tại phía Bắc Giang Lăng tu hạnh Đầu-đà, hổ đến nằm bên cạnh giường, có người đến, Sư bảo Hổ rằng: “Phật tử nhắm mắt”. Hổ liền cúi đầu nhắm mắt. Sư gặp thú dữ cũng như chó nuôi trong nhà. Người ấy ở tại đó tụng một Bộ Kinh Thắng Thiên Vương, lắng niệm xuất quán, tụng được tốt lành, tinh tấn vững bền, vượt hẳn hạng thường. Sau Sư trầm hình ở nơi cao xa.

29. Truyện ngài Thích Tuệ Ngạn ở Thục Xuyên:

Thích Tuệ Ngạn, không rõ Sư là người xứ nào, mặt mày tợ như người Hồ, nói năng giống như người Hán Thục. Sư qua lại nơi xóm chợ, nói nín không chuẩn định, mọi người chẳng lấy làm lạ.

Niên hiệu Võ Đức thứ ba (620) thời Tiền Đường, buộc đóng thuế

đến tận Mân Châu, kỳ hẹn rất bức ngặt. Người đất Thục ban đầu chẳng nghe, cho là mình thuộc ngoại lệ. Người có thuê mua đòi đến vạn tiền, lại càng thêm kinh gấp, cho là đến nước quỷ bị bỏ, đều vì kế chết, hao tốn của cải vì chẳng có kế thực hành. Sư ở trong chợ mới đông đúc cười mấy cái. Mọi người vừa đi đến đường Lộc Đầu, gặp được sắc ban đình chỉ. Đó là ứng nghiệm lời nói trước của Sư.

Đến niên hiệu Võ Đức thứ sáu (623) thời Tiền Đường, Sư lại buồn khóc chẳng tự ngăn được, bảo rằng: “Ai thấy được nhân của phiền não, nhỷa xuống nước tìm cái chết”. Mọi người đua nhau nahỷ xuống nước để cứu. Sư bèn an nhiên ngồi thẳng dưới đáy nước mà thị tịch. Sau khi Sư tịch, năm đó hạn hán, mùa màng không thâu hoạch được gì, mọi người bị bệnh dịch mà chết rất nhiều.

30. Truyện ngài Thích Pháp Vận trụ chùa Khai Thánh ở Kinh Châu:

Thích Pháp Vận, họ Đặng, người ở xứ Trường Lâm thuộc Kinh Châu, dung nghi Sư tuấn tú, khôi ngô khác thường. đối với các thứ như Toán, Lịch, ngũ hành, Sư đều thấu suốt. Truyền thuật Sở, Nhị Hối tinh, Sư lấy vận là một. Sau, Sư gặp được Thiền sư Trí Khoáng khuyên xuất tục, Sư bèn dứt bỏ mọi thứ đua vui ở đời, cạo tóc vào Đạo, tu học Thiền yếu. Sư ưa thích nhàn tĩnh, riêng ở phía Tây bắc chùa Khai Thánh, Sư thiết lập một đạo tràng, như thường Quán hành chẳng cách sớm tối. Sư thường trì tụng Chú Thất Phật, v.v… để cứu giúp, không gì chẳng liền ứng cảm.

Đến cuối đời Tùy, có nạn hổ hung bạo, Sư xoa đầu hổ mà bảo rằng: “Thiên hạn đang lúc loạn lạc, trăm họ lo sợ, ngươi hãy nên ẩn tàng cho xa, chớ làm kẻ khác chán ghét”. Đến lúc Bát Doanh giặc chủ nghe tiếng tăm Sư, thỉnh Sư an đặt cung cấp. Kế tiếp có Tiêu Tiển an lập, lại thêm sùng kính, với mọi vật thí có được Sư đều sung vào hai thứ ruộng Bi Kính.

Sư lại đến Châu Nội, lập riêng một Đạo tràng, lấy tên là tinh xá Long Quy. Tiêu Tiển bèn thỉnh hỏi Sư về mọi sự hưng vong. Sư đáp: “Bần đạo đức mỏng chẳng được sống lâu cùng làm bạn lành, thời vận chẳng thể lường biết lời nói ấy vậy, sau đó không lâu, Triệu Quận Vương Cung lại kêu gọi binh lính đến, lại thêm đảnh yết binh lính. Sư lại theo hướng Đông mà đi xuống. Đồ tượng luôn mang theo bên mình. Lại để một bức khiến Sư từ hòa chăm chú. Đáng chỗ gọi là sự cảm động của đạo đức. Sư thường có những vị tín tâm sĩ tục sớm tối cúng thí, yêu tà quỷ quái trông thấy Sư liền hồi tâm, Xã Miếu Thần kỳ đều tham dự lãnh thọ quy giới.

Vào niên hiệu Võ Đức (618-627) thời Tiền Đường. Sư thị tịch, thọ sáu mươi tuổi, an táng bên cạnh tháp Thiền sư Trí Khoáng tại chùa Khai Thánh.

31. Truyện Sa-môn Đế Thị Giai người xứ Bắc Định thuộc U Châu:

Vào niên hiệu Trinh Quán (627-650) thời Tiền Đường, cách thành Liêu Tây có giống dân Mạt-hạt, trong đó có một người tên là Đế Thị Giai. Năm mười tám tuổi Sư trốn vào xứ Cao-ly, nhặt được một pho trượng bằng đồng cao khoảng hai tấc, không biết đó là thần minh gì, Sư cất vào trong đẫy. Mỗi lúc có sự ăn uống rượu thịt, Sư bèn đem ra cúng tế. Bị người xứ Cao-ly bắt được, Sư kể lại đầy đủ “ Tôi là người dân Mạt-hạt ở biên giới phía Bắc”. Người xứ Cao-ly không tin, cho Sư là kẻ trinh thám trong quân, bèn chặt ba nhát dao, nhưng không thương tổn gì đến da thịt Sư, nên nghi Sư là vị thần, hỏi Sư có Đạo thuật gì chăng? Sư đáp: “Không có. Tôi chỉ cúng dường thần minh mà thôi.” Sư bèn đem pho tượng ấy ra cho mọi người xem và nói: “Trong nước tôi gọi đây là Phật”. Nhân đó, Sư nói rõ đầu đuôi ngọn ngành, xem sau lưng pho tượng phía trên có ba vết sẹo dao. Người xứ Cao-ly bèn thả, bảo Sư đến Đường quốc (Trung Hoa) vì ở đó có nhiều Phật sự lớn, đáng để thưa hỏi. Sư được tin tức ấy nhớ mãi trong lòng, lại rất nhàm chán mành lưới thế tục. Nay xuất gia ở tại U Châu, rất thông minh có nghi chỉ, Sư đi khắp các trường giảng để tham thính, hễ nghe điều liền thấu hiểu, nếu có chỗ nghi ngờ liền ghi ra. Những điều Sư hỏi đều là sâu ẩn, tư duy cao xa thật khó

32. Truyện ngài Thích Trí Hiển trụ chùa Hộ Minh ở Ky Châu:

Thích Trí Hiển, trụ chùa Hộ Minh ở Liêu châu. Sư xuất gia từ thuở nhỏ, giới hạnh tiết tháo trinh thuần cao vợi. Sư lập tiết tháo sáng ngời, cõi lòng mạnh mẽ. Nghe sông nghe núi không gì chẳng cao thưởng. Sư chuyên việc ngồi thiền. Mọi người chẳng lường biết chỗ Sư đến.

Cuối đời Tùy, giặc giã loạn khởi, khắp nơi giao đánh liên tục không thôi. Chuyển động suốt cả tháng trời, Sư đến chỗ hai quân trận dùng đạo lý mà hòa thông, qua lại nhiều lần, đều tùy theo hòa tan. Cả Quận đều vui mừng đó và kính trọng. Sau, Sư cùng các hàng đạo tục tất cả mười người đi thẳng đến Đột-quyết và bị đuổi bắt, Sư liền ẩn thân không trông thấy. Sau, có người hỏi, Sư bảo: “Tôi xưng niệm Bồ-tát Quán Thế Âm nên không gặp giặc”. Có người bạn đồng học chuyên giữ sự tĩnh lắng ở tại Ky Sơn, bị kẻ săn cướp đoạt hết lương thực, từ xa Sư nhận biết việc ấy bèn sai người đưa gạo đến cho. Sư có những sự thông u mở lưới, mà mọi người chẳng thể cứu giúp. Nên biết năng lực Đại Bi cứu giúp tùy cách mà làm việc lợi sinh. Tuy hạnh vị khác thường nhưng tâm Sư chẳng khác. Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

33. Thích Pháp Thông ở chùa Thường Lạc tại Tô Châu:

Thích Pháp Thông, ngài giòng họ Trần, ở chùa Thường Lạc tại Tô Châu. Mới đầum ngài mang pho sách vân du khắp các pháp tứ tham thính. Tùy chỗ nghe, tuy hiểu nhưng chưa thấu đạt Bổn ý. Ý tại nơi dứt lời, nhưng lời là Lý thuyên, sự cần phải rộng xem, chẳng đắm trước lấy làm gốc, không được rỗng kéo dài. Thí như Tro trừ bụi sdơ, tro cũng phải sạch.

Sau đó, ngài sang chùa Thê Hà ở Nhiếp Sơn tại Kim Lăng quán nhìn suối đá, Tăng chúng thanh tịnh trang nghiêm, chỉ 1 lần thấy mà liền phát tâm xuống tóc. Bấy giờ, gặp được bạn lành, ngài y theo lời Độ thoát. Bèn trì tụng Kinh Đại Phẩm, không bao lâu được thông. Ngài lại sang cối kê, nghe Pháp Sư Tuệ Mẫn ở chùa Nhất âm giảng đạo. thành đạt tự nơi Tâm, rỗng thoáng không bức lụy.

Đến năm Trinh quán thứ 15 (641) thời tiền Đường, ngài trở về lại Hàng Châu, Tô Châu v.v… khai giảng dẫn dắt nhóm tập chúng, đến thọ học Đạo có hơn 300 người. Từ đó, các Kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn ngài giảng liên tục hơn 20 biến. Đến năm Trinh Quán thứ 19 (645) thời tiền Đường, Cao Vương thần ở huyện Gia Hưng ban giáng lời cầu nguyện rằng: “Hãy nên vì Ta mà Thỉnh Pháp Sư Pháp Thông truyền cho Thọ giới Bồ-tát”. Ngài y theo lời cầu thỉnh mà vì truyền trao. Thần lại ban lời cầu nguyện rằng: “Từ nay về sau, với các thứ rượu thịt ngũ tân thảy đều đoạn dứt. Như có người muốn cầu Phước thì nên thỉnh chúng Tăng đến tại miếu thiết trai hành Đạo”. lại đến năm Trinh Quán thứ 21 (647) thời tiền Đường, Bà Dương quận phủ thần ở huyện Hải Diêm, nhân thường có tế hội, mới ban giáng lời cầu nguyện rằng: “Hãy vì Ta mà thỉnh mời pháp sư Pháp Thông giảng Kinh Niết Bàn”. Các hàng Đạo tục kính nghinh phan hoa tương tiếp, ngài bèn sang đó để giảng. Đến lúc còn lại khoảng vài trang kinh, thần lại ban giáng lời cầu nguyện rằng: “Nhớ Pháp sư giảng thuyết, được bẩm thọ giáo pháp. Ở trong Thần Đạo, nghiệp chướng có lắm sự khổ não, từ khi được nghe pháp trở lại, các loài trùng nhỏ gặm ăn đau khổ nơi vi vảy trong thân đã được nhẹ lên. Mong các hàng Đạo tụ chãy vì Ta mà đảnh lễ cầu thỉnh Pháp Sư tiếp giảng cho 1 biến Kinh Đại Phẩm”. Ngài bèn thẳng trái lời ước nguyện ấy.

Đến năm Hiển Khánh thứ nhất (656) thời tiền Đường, ngài thị tịch, trước đó, ngài bảo cùng các Đệ tử rằng: “Không bao lâu nữa Tôi sẽ xả bỏ Báo thân, có thể đem thí cho các loài chum muôn”. Mà ngài vẫn thường giảng, không dừng nghỉ. Sau, ở nơi cao tòa, bỗng nhiên phất trần rơi rớt xuống, ngài bèn thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi.

34. Thích Tăng Minh ở chùa Chiêu Quả tại Đại Châu:

Thích Tăng Minh, không biết ngài là người xứ nào. Ngài ở chùa Cổ Sa Bà tại Ngũ Đài, tạo dựng phòng nhà hơn 20 gian, giữ gìn tất cả Kinh tạng. Ngài chuyên Thiền Quán lễ tụng lấy làm nghiệp chính. Ngài tự bảo rằng: “Lúc 17 tuổi, theo Thầy lên núi Ngũ Đài, theo hướng đông đến đảnh lễ núi Hoa Lâm, phỏng hỏi Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi. Đến trong hang đá, dần vào sâu, thấy có 1 Cối Đá chày gỗ. Lại thấy có 2 người thân hình rất lớn mà không ảnh bóng, mày dài, vén tóc phủ trên mí mắt. Thần đến đảnh lễ và thỉnh cứu. Người ấy bảo: “Ông ăn thứ gạo thóc nhỏ hôi thối từ đâu xa lại?” Thầy đáp: “Chúng con là Tăng ở chùa Chiêu Quả, u tập thiền pháp vui thích sống Đạo, ẩn cư tại Sa Bà đã vài mươi năm, nhưng ăn dùng ngũ cốc, xin nguyện chân nhân cứu giúp khổ báo!”. Người ấy bảo: “ Hãy chờ đợi cùng chúng bàn nghị đã”. Bỗng chốc có người lại, thân hình cao lớn, mặc áo vỏ cây, bảo rằng: “Ông đến đã lâu, có theo Ta đến chùa”. Đi đến bên cạnh 1 tảng đá lớn, bỗng thấy hang núi khác thường, hiên viện vây quanh, tướng trạng như ở Thiên cung. có 14-15 người đồng ngồi nói cười, hỏi từ đâu lại. nói bàn giây lâu, rồi đưa tiễn ra. Sau đó lại tìm bèn mất dấu đường. Bèn trở về lại theo hạnh nghiệp Thiền định xưa cũ”. Đến năm Trinh Quán thứ 16 (642) thời tiền Đường, ngài thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi. Nay tại chùa Sa Bà có 2 ngôi Tháp gạch hiện còn.

35. Thích Minh An ở núi Ngũ Đài tại Đại Châu:

Thích Minh Ẩn, thủa thiếu thời ngài chuyên hành tập Thiền Học. Thứ đệ Quán, Thập nhập. Ngài ở tại chùa hang Mộc Qua phía bắc Trung Đài suốt 30 năm, chỉ chuyên Định nghiệp, ngoài ra không nhớ nghĩ gì. Ngài lại sang ở chùa núi Phật Quang 7 năm, lại sang ở chùa Đại phu 9 năm. Các hàng có Chí Đạo cùng tìm đến nương theo chẳng dứt.

Các hàng Đạo tục cúng dường mọi sự chất đầy cả núi rừng. Đến năm Vĩnh Huy thứ 2 (651) thời tiền Đường, Đại Châu Đô Đốc vì Tăng Đồ ở chùa Chiêu Quả mọi sự cần phải có người làm giềng mối, nên truy tìm thỉnh mời ngài về đảm nhận việc chùa. Ngài cố khước từ nhưng không khỏi được. đến tháng 10 năm Long Sóc thứ nhất (661) thời tiền Đường, ngài thị tịch tại chùa Chiêu Quả, trong dáng vẻ đoan tọa điềm nhiên như dang nhệp Định.

Tại núi Ngũ Đài có chùa Đảng Xương xưa cũ, ở đó suối ngọt núi đẹp, hễ đi sang đó bèn quên trở về. Có vị Tăng uống nước suối mà được Tiên, thân như xác lưới, thấy suốt cả tạng phủ cốt tủy. Cuới niên hiệu Võ Đức (627) thời tiền Đường đi đến nơi núi đầm, nay tại trong thôn cònc ó hơn 10 người già lão nói đó là “Núi Ngũ D(ài là nơi dừng nghỉ của các vị Thánh Thần”. Tại Trung đài rất cao, đứng ngay đó, trông nhìn các núi đều thấp cả. Trên đó có dòng suối lớn tên là “Thái Hoa”. Bên cạnh có 2 ngôi Tháp, phía sau các Tháp đá nhỏ có cả trăm ngàn ngôi v.v… là do Hiếu Văn (?) từ phía Bắc thường an nên đến đó dựng lập. Trên đá có dấu chân người ngựa chó nghiểm dặm, là đến chùa Đại Phu, Linh Thứu, ở phía nam có vườn Hoa. Trước sau gặp Thánh phần nhiều ở tại xứ đó. Có 2 Đạo tràng ở 2 phía Đông Tây. Ở giữa có 1 hạng, theo hướng Tây Bắc đi lên 8 dặm, có tháp cỉa Vương Tử thiêu thân. Chùa đó vốn do người con thứ 3 của Vua (?) thời nhà Tề dựng lập. Vương Tử có tánh ưa thích Phật Pháp, nghĩ muốn được trông thấy Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, nên lại núim tìm, y như sở nguyện thiêu thân để cúng dường. Nhân đó mà có xây dựng Tháp. Chỗ cùng Nội thị Lưu Khiêm Chi ở trong chùa đó 7 ngày hành Đạo, cầu thỉnh Bồ-tát Văn Thù. Đạ gặp được Thánh Giả, che phủ Trượng Phu, hiểu ngộ nghĩa Kinh Hoa Nghiêm, mới tạo “Hoa Nghiêm Kinh luận” 600 quyển. Nay ở các chùa tại núi Ngũ Đài gom góp lại còn có 300 quyển.

Gần đây, trong niên hiệu Long Sóc (661-664) chúa thượng (tức Vua Cao Tông-Lý Trị) bảo Sa-môn Hội Trách ở chùa Hội Xương 2 lần đem vật công đức sang đó tu bổ Tôn nghi bảo tháp. Cùng các Quan ở Huyện Ngũ Đài đồng sang, đều trông thấy Thánh tích, có mùi hương thơm khác lạ, tiếng chuông ngân vang tương tục chẳng dứt.

36. Thích Pháp Không ở núi Ngũ Đài tại Đại Châu:

Thích Pháp Không, không biết ngài là người xứ nào. Cuối thời nhà Tùy, ngài đảm nhậm chức Nhạn Môn Quận Phủ Ưng Kích Lang

Tướng. Khi ấy ngài 40 tuổi. Bỗng nhiên ngài tự sinh nhàm chán muốn xa lìa, trông nhìn vợ con nhà cửa như là tù ngục gông cùm. Chí ý ngài mến mộ Phật Pháp, nghĩ nhớ không thôi, ngài mới vời gọi tất cả gia thuộc đến bảo: “Tôi cùng các người đắm chìm lâu ngày sớm tối mãi khư khư chỉ là cung cấp. Nên nay mỗi tự tính lấy phương kế, tôi tự quyết định lấy đời Tôi!”.

Ngài bèn bó mạng lương thực, quấn theo chăn xiêm, 1 mình đến núi Ngũ Đài. Đói thì ăn vỏ cây Tùng đọt lá cây bách, lạnh thì vào hang dùng cỏ thiêm phủ che thân hình, chuyên nghĩ tưởng các kệ tụng cốt yếu trong Kinh, cũng không có chỗ để tham hỏi! Bấy giờ giặc cướp dấy khởi khắp nơi, đuổi đánh, chợt bắt ngài đem về Phủ Ty Quận quan sở tại giam giữ, sắp đến nơi chỗ cấm, ngài vẫn giữ Chánh niệm, không nói năng gì. Chí khí lại càng thêm hăng hái, ngồi kiết già không lay động, không ăn không ngủ đã trải qua 5 ngày. Từ thỉ lĩnh trở xuống thảy đều kinh ngạc. Nhân đó, phóng thả mặc tình ngài đi đâu thì đo. Ngài ngồi ở 1 nơi hơn 30 năm, chim thú lấy làm thân gần. Vợ con tìm kiếm gặp gỡ được, muốn mang lương thực đến, ngài bảo: “Tôi nhàm chán thế tục mới sống Đạo, lấy sự giải thoát làm đầu. Từ nay trở đi chỉ xin nguyện làm Thiện tri Thức. Nếu chẳng phải các người ràng buộc, tôi sao giải mở đó? Lại chẳng cần cùng trông thấy”. Từ đó, bèn dứt tuyệt. Ngài ở nơi chỗ sâu xa lâu ngày, thường có tiếng trong trẻo gọi rằng: “Không Thiền!” cứ như thế chẳng chỉ 1 lần. Ngài biết là do cảnh giới nơi tự Tâm, mới dùng pháp dứt trừ đi. Sau đó bèn được an tịnh. Mới đầu, ngài tập học pháp “Cửu thứ Đệ Định”, đem Thiền dụng mới tỏ sáng, sau cùng vì đối trị chướng ngại, ngài bèn học Pháp “Đại thừa ly tướng”.

Như có người theo học, ngài cũng lấy đó để dạy răn. Không biết về sau ngài như thế nào.

37. Thích Minh Tuấn ở chùa Định Thủy, tại Kinh Đô:

Thích Minh Tuấn, ngài giòng họ Tôn, người ở đất tề, khéo giỏi Chương thảo, ngài thường lấy Kinh Kim Cang Bát Nhã làm hạnh nghiệp chính.

Ngày 12 tháng 2 năm Vĩnh Huy thứ nhất (650) thời tiền Đường, tối đó bỗng nhiên ngài chết ngất, trên tim vẫn còn nóng ấm, qua giờ sau sống lại, ngài nói rằng: “Mới đầu có 2 Đồng tử mặc áo xanh dẫn đến chỗ Vua hỏi rằng: “Trọn 1 đời làm hạnh nghiệp gì?” Ngài đáp: “Chỉ tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã”. Vua nói: “Không thể nói Sư có thể trở lại tụng đủ 20 vạn biến, năm sau hẳn sinh về Tịnh Độ. đệ tử không thấy sư nữa vậy!”. và trở lại sai 2 Đồng tử mặc áo xanh đưa ngài trở về lại chùa”. Từ đó, ngài tinh cần khổ tiết gấp bội trăm vạn lần. Qua tháng 3 năm Vĩnh Huy thứ 2 (651) thời tiền Đường, ngài thị tịch. Chúng Tăng trong chùa đều nghe có mùi hương thơm khác lạ.

38. Thích Minh Giải ở chùa Phổ Quang tại Kinh Đô:

Thích Minh Giải, ngài giòng họ Diêu, ở chùa Phổ Quang tại Kinh Đô. Ngài có Thần Minh rộng rãi, hiểu biết tài học, đàn thơ họa viết nổi tiếng tại Kinh ấp. Nhưng ngài điệu tình thoáng hoảng, rất vì hiểu biết mà tự ngạo, đối với mọi người lớn nhỏ, ngài không tâm kính trọng, đến như mọi sự ăn uống cũng không khác thường tục.

Gặp trong khoảng niên hiệu Long Sóc (661-664) thời tiền Đường, Vua Cao Tông (Lý Trị) có nêu mời ở trong Tam giáo những ai có khả năng Quán Quốc, sách để Tân Vương. Nhân lúc đó, ngài đến Đông Đô, sách đệ kịp đó, hàng thứ tướng sĩ, mới cởi áo ca sa, nói rằng: “Nay Tôi cởi bỏ da lừa này, dự tại nơi các người vậy!” Bèn thiết đặt rượu, nhóm tập các hàng sĩ tục, ngâm phú lời thơ rằng: “Nhất thừa vốn chẳng có, Tam Không về chỗ nào v.v…” sau đó không bao lâu, ngài mắc bệnh mà tịch.

Có vị Tăng bạn ngài mộng thấy, ngài bảo rằng: “Minh Giải Tôi vì không tin, nên nay sinh trong ác đạo, rất khốn khổ đói khát, cớ sao chẳng vì tình xưa cũ mà thiết đặt cho 1 bữa ăn ư?” Đến lúc tỉnh giấc, vị Tăng ấy bèn bày các thứ ăn nơi đồng trống mà cúng tế đó. Lại mộng thấy ngài tỏ vẻ rất hổ thẹn v.v… Ngài lại giáng mộng gá cùng người thợ họa mà từ trước đồng cùng làm việc, ngài nói rằng: “Ta vì chẳng kính tin, nên sinh nơi rất xấu ác, nghĩ muốn được công đức không do đâu có thể tạo tác. Ông xưa trước cùng với ta là chỗ quen biết, sao chẳng thể biết giúp cho 1 vài quyển Kinh ư?” Ngài lại để lại cho người thợ họa 1 bài thơ rằng:

“Nắm tay chẳng thể lìa
Vỗ ngực liền tự đau
Khổ thay thời gian ngắn
Buồn thay đường suối dài
Gió Đông thổi chiều sợ
Mã hoang sương lạnh rơi
Lưu tình có gì Tăng
Chỉ Nội điển chương này!”

Người thợ họa ấy không biết viết, bảo tụng 18 biến đã tiện đi. Sau khi tỉnh giấc, người thợ họa đến nói cùng các hàng Tăng tục về việc đó.

Than ôi! Sa-môn Minh giải đáng tiếc 1 đời vọng còn ư? Ta tự lấp vùi ngàn năm. Đó có nghĩa là nhọc sống nhọc chết. Bậc Đại Thánh đâu nói lời hư dối ư?

Lại nữa trong khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-650) thời tiền Đường, tại Lạc Châu có Tống Thượng Lễ là người học rộng rất có Thần minh, khéo giỏi làm thơ phú quỷ quyệt. Đến lúc bải quan huyện trở về, nghèo khổ không có ăn. Lại khéo giỏi xin vay mượn gánh chịu đó, chỉ mong cúng thí lương thực cho chư Tăng thì trọn có được phước lành.” Các quan thái thú, Tể Tướng v.v… mừng cái nghĩa cửa cao đẹp của ngài, bèn chu cấp cúng thí khắp cùng. Ngài mới phân định chư Tăng ở 2 nơi, mỗi nơi đặt để cho 1 bịch gạo, có khoảng 10 hộc. Trong đó, 1 chỗ, Đồ chúng có hơn 40 người thuần học kinh giáo Đại Thừa và tu hành Thiền nghiệp, trải qua cả năm mà gạo ăn vẫn như nguyên vẹn không hao giảm. Và 1 chỗ có khoảng 50-50 vị Tăng, vừa mới qua 2 ngày mà gạo ăn bèn đã hết, do vì chẳng tu Thiền Nghiệp lại chuyên học hành Ngoại giáo/ ngài bảo rằng: “Không có gì đáng lấy làm quái lạ, người hay hành Đạo thì có sự ban huệ của Bạch Hào. Bởi vì Đạo nghiệp, Lý hẳn thường không”. Khi đó, những vị lánh nạn càng thêm đông nhiều, lại gặp tệ hại mưa dầm, không nơi dừng nghỉ. Tại núi có 1 hang lớn là nơi sinh sống của Thú dữ, ngài sang đến hang huyệt ấy, bảo rằng: “Ngày nay, những khách khốn cùng cùng nhau tìm đến, có thể đựơc dung chứa chăng?” Hổ mới cùng dẫn nhau đi chỗ khác. Chư Tăng bèn được có nơi nương tựa. Nhưng nghe các Kinh Hoa Nghiêm v..v. đến những nơi khó hiểu, ngài lại đến An Châu. Tại đó, có Đạo Sĩ Thái Tử Hoảng là người nhàn rồi tập học nội ngoại giáo điển, thực xem thường chư Tăng. Các hàng Đạo tục nhóm tập đông nhiều tại chùa Tăng, mới mới Thái Tử Hoảng khai giảng Kinh Phật. Ngài bảo: “Ông hình tướng đồng với Ngoại Đạo, Tà thuật ràng buộc nỗi lòng. Giả sử có giảng Kinh Phật trọn kết quy vì danh lợi. Tôi đây không tên tuổi trong các hàng Đạo Tục, cốt yếu chỉ là Thích Tử. thân đã đến đây, chẳn không thể đi. Ông sớm có thể nhận biết căn cơ trước, không thì sẽ hối hận ở sau”. Thái Tử Hoảng nghe thế, nín lặng thùi thụt giây lâu rồi rút lui. Khi đó Đại chúng đều tán thán rằng: “Bồ-tát Hộ Pháp, thật là người này đây vậy!”.

Ngài cho rằng áo điển Kinh Lăng Già bị trầm lắng đã lâu ngày, do đó ngài cố truy tìm, không sợ gian nguy hiểm trở, gặp được hàng hậu duệ của Thiền Sư Huệ Khả đang hưng thạnh tập hành Kinh ấy, ngài liền đến nương tựa nghe học, và thường khơi kíc Đại tiết. Vị ấy bèn xả bỏ Đồ chúng, mặc tình ngài chuyển đổi giáo hóa, ngài liền liên tục giảng hơn 30 biến. Lại gặp được Thiền Sư Huệ Khả thân gần truyền trao cho Ngài. Ngài y cứ theo nhất thừa Tông của Nam Thiên Trúc mà giảng đó, lại được 100 biến nữa. Kinh ất vốn do Tam Tạng Pháp Sư Cầu-NaBạt-Đà-La phiên dịch ở thời nhà Tống, và do Pháp sư Tuệ Quán bút thọ, nên Văn từ nghĩa lý đều hài hòa, hành chất cùng suốt, chuyên chỉ Niệm huệ chẳng chú trọng nói bàn. Về sau Thiền Sư Bồ Đề Đạt Ma đem hoằng truyền ở Nam Bắc, lấy “mất lời, mất nghĩ nhớ, vô đắc chánh Quán” làm Tông, tiếp sau đó lại hành hóa tại Trung Nguyên. Thiền sư Huệ khả là người mở đầu thành đạt được then chốt. Tại Đất Ngụy về phần Văn học đại đa số chẳng đếm xỉa đó. Những người lãnh tông đắc ý ở thời bấy giờ hay khải ngộ. Nay vì con người thời đại dần cách xa nên khiến sai lầm ở hàng Hậu học, tại Biệt truyện của ngài Huệ Khả lược có thể rõ ràng đó, nay theo tuần tự từ Thầy thừa truyền để làm tiếp nối, chỗ học rõ ràng có được chứng cứ như sau:

Sau Thiền Sư Bồ-Đề-Đạt-Ma thì có 2 người là Thiền Sư Huệ Khả và Huệ Dục. Thiền Sư Huệ Dục thì thọ học Đạo tâm hành, miệng chưa từng nói. Còn sau Thiền Sư Hiệ Khả thì có Thiền Sư Sán, Thiền Sư Huệ, Thiền Sư Thạnh. Lão Sư Na, Thiền Sư Đoan, Thiền Sư Trưởng Tạng, Pháp Sư Chân, Pháp Sư Ngọc (Những vị trên đây đều dùng miệng giảng truyền Huyền lý, chẳng lưu xuất Văn ký) nên sau Thiền sư Huệ Khả thì có Lão sư Thiện (xuất sao 4 quyển), Thiền Sư Phong (xuất sớ 5 quyển), Thiền Sư Minh (xuất sớ 5 quyển), Thiền Sư Hồ Minh (xuất sớ 5 quyển). Còn tiếp nối cách xa sau thiền sư Huệ Khả thì có Thiền Sư Đại Thông (xuất sớ 5 quyển), thiền sư Đạo Âm (xuất sao 4 quyển), Pháp sư Xung

(xuất sớ 5 quyên, Pháp Sư Ngạn (xuất sớ 5 quyển), Pháp Sư Sủng (xuất sớ 8 quyển) Pháp Sư Đại Minh (xuất sớ 10 quyển). Ngoài ra còn có những vị không tiếp thừa từ Thiền sư Huệ Khả mà chỉ tự y theo Nhiếp Luận thì có Thiền sư Thiên (xuất sớ 4 quyển). Luật sư Thượng Đức (xuất nhập) (Lăng Già sớ 10 quyển). Sau Lão sư Na thì có Thiền sư Thật, Thiền sư Hụê, Pháp Sư Khoáng, Thiền sư Hoằng Trí (Tên ở chùa Tây Minh tại Kinh Đô, nhưng sau khi tịc thì pháp tuyệt). Sau Thiền sư Minh thì có pháp sư Già, Pháp Sư Bảo Du, pháp sư Bảo Nghinh, pháp sư Đạo Oánh (đều lần lượt truyền đăng, mãi đến ngày nay vẫn còn xiển dương hoằng hóa).

Còn ngài (Pháp Xung) tự theo Kinh thuật, chuyên lấy Lăng Già làm mạng gia, trước sau phu tuyên xiển hóa gần 200 biến. Nếu cần liền vì giảng, chưa từng giẫm trải qua văn, mà thông biến vừa duyên, nươngThế đào luyện dẫn dụ, đắc ý như nhất, tùy nói liền khác. Những người cầu học khổ nhọc thỉnh cầu ngài lưu xuất nghĩa giải. ngài bảo: “Nghĩa tức là Đạo Lý vậy. lời nói đã thô, huống hồ buông tuồng trên giấy, lại là Thô của trong thô vậy”. song, sự chẳng thể đừng, nên ngài bèn phải soạn thuật sở 5 quyển, nêu đề là “Tư Ký” (ghi nhận của riêng) nay đang hưng thạnh hoằng truyền đó.

Mới đầu, ngài du hành khắp Đông Xuyên, chẳng nhận Quan quán, từ có lần độ, nhưng ngài cao nhượng chẳng nhận. Đến lúc gần 50 tuổi, có được sắc ban Độ người. Duyên Châu Độ ức khiến vào Độ, lệ thuộc ở chùa Pháp Tập trong Châu Độ, tuy Danh dự nơi Công Quán mà ngài thường nương náu nơi suối đá. Vỗ về tiếp nối thiếu thừa, lấy đó làm tâm. Phòng Công với ngôi vị ở Đài Phụ, gởi thư thỉnh mời ngài vào. Nhận được thư, ngài đề lại sau lưng rằng: “Nơi Tam giới, Ta không chỗ cần. Đến Tam Hoè chỗ ông đã hết”. Phòng Công lại tiếp thỉnh mời. Ngài không còn giữ thái độ thường hằng, vùn vụt đến nơi Đô ấp, tức hoằng dương Đại Pháp, sáng rực lay động các bậc anh tài, mũ lọng may ùn ngợi khen là điều chưa từng có! Trung thư Đổ Chánh Luân đích thân đến nơi pháp tịch, bình luận rõ ràng Pháp Nghĩa. có Pháp Sư Nhuận ở chùa Hoằng Phước mới đầu chưa nhận biết về Ngài, mới hỏi rằng: “Lão Đại Đức ở xứ nào?” Ngài đáp: “Lão Tiểu Tăng ở tại Duyên Châu vậy!”. Pháp sư Nhuận lại hỏi: “Từ xa đến có việc gì?” Ngài đáp: “Nghe ở đây thiếu Pháp nhất Thừa, nên muốn phô bủa lưới Pháp nhất thừa để lọc bắt cá rồng Tín Địa, nên đến đây vậy”. pháp Sư Nhuận tự bảo: “Đây thật là bậc Khai Sĩ Đại Tâm vậy!”

Nhân đi đến chùa Đại Hưng Thiện, gặp lúc Vạn Niên lệnh Trịnh Khâm Thái đến chùa đánh người. Ngài cản ngăn đó và bảo rằng: “Ông chớ được đánh người ở nơi chùa chiền”. Trịnh Khâm Thái nói: “Tội đánh người, Tôi đây tự nhận lấy”. Ngài bảo: “Đạo chẳng tự nhận lấy, có thể khiến kẻ khác nhận. Nhưng, nước nhà dựng lập chùa chiền, vốn muốn an ninh xã tắc, chỉ có hành Thiện ở đó. Nay Ông lại đánh người nơi chốn chùa chiền. Đâu thể gọi là vì nước nhà mà cầu Phước ư?” Trịnh Khâm Thái liền đảnh lễ sám tạ.

Lại nữa, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang không chấp thuận giảng truyền các Kinh pháp đã phiên dịch xưa cũ. Ngài bảo: “Ông y cứ theo kinh điển phiên dịch xưa cũ mà xuất gia. Nếu chẳng hứa thuận hoằng truyền Kinh điển ấy. Ông nên hoàng tục rồi y cứ theo Kinh điển mới phiên dịch mà xuất gia. Tôi mới chấp thuận ý ấy của ông vậy!”. ngài Huyền Trang nghe thế bèn chấm dứt. Đó cũng là bậc sĩ sống ở đời hoàng dương Kinh điển hộ pháp, cường ngự cũng không thể kịp vậy! Nhưng cuộc đời ngài vân du hoằng Đạo lấy làm việc chính, không từng có bến đậu, nên Bộc Xạ Vu Chí Minh nói: “Pháp Sư đây mới là vị Tăng Pháp giới Đầu Đà vậy, không thể lấy Tên thật mà bó buộc đó!”

Trong khoảng niên hiệu Hiển Khánh (656-661) thời tiền Đường, ngài nói trở về lại Đông Hạ. Đến nay đang trong niên hiệu Lân Đức (664-666) thời tiền Đường, ngài đã 79 tuổi.

TỤC CAO TĂNG TRUYỆN

Quyển 26 B hết.

 

QUYỂN 26 C

CHƯƠNG VI: CẢM THÔNG.

TRONG PHẦN 3 CHƯƠNG VI

(chánh truyện có 45 vị, phụ có 2 vị)

  1. Thích Đạo Mật ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  2. Thích Trí An ở chùa Kinh Tạng tại Kinh Đô, thời tiền Đường.
  3. Sa-môn Xà-Đề-Tư-Na người nước Trung Thiên Trúc, thời nhà Tùy.
  4. Thích Minh Đản ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  5. Thích Minh Sán ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  6. Thích Tuệ Trọng ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  7. Thích Bảo Tích ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  8. Thích Đạo Đoan ở chùa Nhân Pháp tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  9. Thích Đạo Sán ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  10. Thích Minh Phân ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  11. Thích Tăng Cái ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  12. Thích Đàm Giai ở chùa Nhật Nghiêm tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  13. Thích Đạo Quý ở chùa Tùy Pháp tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  14. Thích Tăng Thuận ở chùa Huyền Pháp tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  15. Thích Pháp Hiển ở chùa Sa-môn tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  16. Thích Tăng Thế ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  17. Thích Pháp Châu ở chùa Tĩnh Giác tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  18. Thích Tuệ Đảng ở chùa Diên Hưng tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  19. Thích Trí Quang ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  20. Thích Trí Giáo ở chùa Hoằng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  21. Thích Viên Siêu ở Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  22. Thích Tuệ Tạng ở chùa Quang Minh tại Kinh Đô, thời nhà Tùy (Pháp Thuận).
  23. Thích Bảo Hiến ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  24. Thích Pháp Lãng ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  25. Thích Đàm Toại ở chùa Chân Tịch tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  26. Thích Đàm Quán ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  27. Thích Linh Đạt ở chùa Diên Hưng tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  28. Thích Tăng Hân ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  29. Thích Huyền Cảnh ở chùa Không Quán tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  30. Thích Trí Qũy ở chùa Hoằng Tế tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  31. Thích Tăng Phạm ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  32. Thích Bảo An ở chùa Tịnh Ảnh tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  33. Thích Bảo Nham ở chùa Nhân Giác tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  34. Thích Minh Ngự ở chùa Vô Lậu tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  35. Thích Đạo Sinh ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  36. Thích Pháp Tánh ở chùa Thăng Quang tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  37. Thích Biện Tịch tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  38. Thích Tĩnh Ngưng ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  39. Thích Pháp Khải ở chùa Dương Hóa tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  40. Thích Trí Năng ở chùa Chuyển Luân tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  41. Thích Đàm Lương ở chùa Chân Tịch tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  42. Thích Đạo Tung tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  43. Thích Trí Nghi ở chùa Tĩnh Pháp tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  44. Thích Đạo Nhan ở chùa Tịnh Ảnh tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.
  45. Thích Tịnh Biện ở chùa Tịnh Ảnh tại Kinh Đô, thời nhà Tùy.

 

1- Thích Đạo Mật ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô:

Thích Đạo Mật, ngài giòng họ Chu, người xứ Tương Châu. Mới đầu, ngài đến nương tựa Tam Tạng Pháp Sư Da Xá, tập học Phương nghe. Sau, ngài lại đến Nghiệp đô, rộng nghe giảng các Kinh giáo Đại Thừa, Thần thức Tâm Tư đã khai mở, Lý đạt suốt cùng, đến như Tây Phạm Văn Ngôn, ngài tiếp gót những bậc anh tài xưa trước. dị thuật tài năng ưu thắng của ngài vang vọng từ thời nhà Tề. Đến lúc thời vận nhà Tùy mở thoáng, sự nghiệp hoằng truyền Phật pháp lấy việc phiên dịch làm đầu. Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) thời nhà Tùy ban sắc thỉnh mời ngài đến ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô. Thầy trò đạo thành lại hoằng dương Phạm ngữ, nhân đó, ngài theo Pháp bổn để ý truyền trì.

Gặp lúc trong niên hiệu nhân thọ (601-605) thời nhà Tùy, mở đầu công việc tạo dựng các Bảo tháp, chọn lựa những bậc đức hạnh cao vời, Vua Văn Đế lại ban sắc thỉnh mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Đại Hưng Quốc tại Đồng Châu. Chùa đó vốn là nơi Vua Văn Đế chào đời. Chỗ đó vốn là nền móng chùa ni Bát Nhã vậy. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) sinh ngày 13 tháng 6 năm Đại thống thứ 7 (541) thời Tây Ngụy tại trong chùa đó. Lúc ấy có ánh sáng sắc đỏ soi chiếu trong phòng nhà lưu tràn ra ngoài cửa. Hơi khí sắc tía đầy khắp sân, tướng trạng như lầu các, sắc nhiễm vào áo người, trong ngoài đều kinh cấm. Khi ấy mẹ vó nóng bừng, phải đến để quạt, lạnh dứt tuyệt hẳn, khốn khố chẳng thể khóc. Có 1 vị Thần Ni tên là Trí Tiên vốn con gái nhà họ Lưu ở Bồ Phản, Hà Đông, xuất gia từ thủa bé, rất có giới hạnh. Hoà thượng vị mất đó, sợ lo rơi vào giếng, nhưng lại tìm thấy ở trong Phật Thất, nghiểm nhiên tọa Định, khi ấy, Thần Ni chỉ mới vừa 7 tuổi bèn lấy pháp Thiền Quán làm hạnh nghiệp chánh. Đến ngài Vua Văn Đế chào đời, tự nhiên mà đến, Trí Tiên nói cùng Thái Tổ rằng: “Đứa bé được sự che chở của trời Phật, chớ nên lo sợ vậy.” lại bèn đặt gọi tên Vua là “Na La Diên”, nói nghĩa là như Kim Cang, không thể hư hoại vậy. lại bảo: “Trong tương lai, đứa bé sẽ sống khác thường.” và cho là ở nhá thế tục uế nạp, nên Tự vì dưỡng nuôi đó. Thái Tổ mới cắt đất vườn nhà để làm chùa, bên trong trô thông 1 cửa nhỏ. Và đem đứa bé giao cho Thần Ni, không dám hỏi han. Sau đó, có lần Hoàng Tỷ lại muốn bền ẩm, bỗng thấy đứa bé sẽ có được Thiên hạ. Đến lúc Vua được 7 tuổi, Trí Tiên bảo cùng Vua rằng: “Con sẽ được đại quý từ Đông quốc mà lại. phật pháp đang lúc bị hoại diệt, ắt phải do nơi con mà phục hưng lại!”. và, Trí Tiên thường luôn trầm lắng ít nói, nhưng khi nói đến mọi sự thành bại tốt xấu, không gì chẳng phù hợp. Mới đầu, Vua được dưỡng nuôi tại chùa, năm Vua 13 tuổi mới được đưa về nhà, suốt hơn 30 năm, Vua chưa từng bước ra khỏi cửa nhà. Kịp đến lúc thời Bắc Chu phá diệt Đạo Giáo và Phật Giáo, Trí Tiên ẩn cư tại Hoàng Gia, bên trong đắp mặc pháp y, giới hạnh vẫn không cải đổi. Về sau, quả nhiên Vua Văn Đế từ Đông Sôn vào làm Thiên tử, trùng hưng Phật Pháp, đều đúng như lời nói của Thần Ni Trí Tiên vậy. sau khi lên ngôi, Vua thường đoái hoài với Quần thần, nghĩ nhớ đến A Xà Lê (Trí Tiên) lấy làm lợi thật. Vua nói rằng: “Ta được ngôi vị do từ Phật Pháp, mà khéo ăn các thứ mè đậu, Thân trước tợ như từ trong Đạo nhân mà lại. do vì lúc bé thơ ở tại chùa, nên đến nay vẫn luôn ưa thích nghe tiếng chuông”. Mới bảo Sử Quan Vương Thiệu vì Thần Ni Trí Tiên mà viết thuật truyện. trước lúc lên ngôi, Vua ngầm ở trải qua cả 45 châu, nên đồng 1 lúc đều làm chùa Đại Hưng Quốc. Nhân đó, mà cải đổi 1 nơi này là chùa Bát Nhã vậy. năm Nhân thọ thứ nhất (601) thời nhà Tùym Vua Văn Đế và Hậu cung đồng cảm có Xá lợi và đểu tỏa phóng ánh, sáng, dùng chày đá đập thử nhưng vẫn uyển nhiên không vỡ mát, bèn ban rãi nghinh thỉnh đến các Châu Quận, trước sao tạo dựng Bảo tháp có hơn trăm ngôi. Tùy những nơi có đặt hạ Bảo tháp, Vua đều bảo đồ họa ảnh tượng Thần Ni, và có lắm Linh tướng. Nên trong bài Minh viết rằng: “Duy ngày…tháng…năm, Dương Kiên (Khiêm) Hoàng Đế thời nhà Tùy là Đệ tử Phật thọ giới Bồ-tát Kính bạch 10 phương 3 đời hết thảy Phật Pháp Tăng! Đệ tử nhờ phước lành chở che của Tam Bảo, làm Vua cha của muôn dân, nghĩ cùng các các hàng dân thứ đồng kiến lập Bồ Đề, nên nay phân bố Xá lợi đến các châu quận để cúng dường, muốn khiến mọi người khắp nơi đồng tu thiện nghiệp, đồng chứng Diệu quả. Nhưng vì Đệ tử và cả Pháp giới u hiển, 3 đường 8 nạn, sám hối hành Đạo, phụng thỉnh 10 phương thường trú Tam Bảo, nguyện khởi Từ Bi, ghi nhận sự cầu thỉnh của Đệ Tử v.v… mà ứng hiện nơi Đạo tràng chứng minh cho Đệ tử vì các loài chúng sinh mà phát lồ sám hối…!” Văn dài không ghi chép hết.

Ngài (Đạo Mật) vì tiếng tăm vang khắp, nên nghinh đưa Xá lợi đến trong chùa đó, mới đầu lúc hạ Tháp, trong cả 1 Viện ánh sáng tỏa khắp, giữa khoảng sắc màu vàng trắng lẫn lộn sắc đỏ, vây nhiểu suốt cùng, lâu sau mới diệt. Các hàng Đạo tục trong ngoài đều đồng 1 lúc trông thấy. Tại chùa đó có 4 cửa, mỗi cửa dựng lập 1 Văn bia. Nơi ĐiệnTháp hiên vũ cho đến chỗ đất sinh sống thảy đều trang nghiêm tráng lệ ngời sáng khắp cả thành ấp.

Đến cuối niên hiệu Nhân thọ (605) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế lại ban sắc ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Phổ An tại núi Hoàng Hộc. Lúc đào nền móng tới nước, có được 1 Tôn tượng bằng vàng cao 1 thước, nghi chế đặc dị. Ngay lúc hạ Tháp có 1 đàn chim ở đồng hoang đến bay liệng phía trên Tháp, mọi sự hoàn thành bèn liền tản mát. Lại thấy có cành hoa bằng vàng vọt hiện giữa hư không, giây lâu mới ẩn xuống mất. Ở trong nền móng tháp lại tỏa phóng ánh sáng, sau dần rộng lớn ra nhiểu quanh tháp 3 vòng. Chùa đó ở nơi cao vợi, vốn không có suối nước, mỗi lúc cần dùng thì phải xuống gánh múc dưới xa. Chỉ trong 1 đêm nọ, cách nơi tháp khoảng 5 bước, tự nhiên có hơi khí nước suối tuôn vọt ra có đồng như làm sóng ở giếng, rộng như chỗ ghi thuật của Vương Thiệu vậy.

Đến đầu niên hiệu Đại Nghiệp (605) thời nhà Tùy, ngài lại dời đổi từ Lạc Dương đến Vườn Thượng Lâm, thiết đặt Phiên Kinh Quán, nhân đó mà chuyên việc truyền dịch và Ngài bèn thị tịch tại đó. Các kinh điển ngài phiên dịch như ở sự ghi chép của Phí Thị vậy.

2- Thích Trí Ẩn ở chùa Kinh Tạng tại Kinh Đô:

Thích Trí Ẩn, ngài giòng họ Lý, người xứ Bối Châu. Ngài tức là Đệ tử của Tạng Công Hoa Nghiêm (Pháp Tạng). Từ thủa thiếu thời đến lúc trưởng thành, ngài tuân hành hoằng truyền Đạo nghĩa với mọi sự Tuệ giải được truyền trao, ngài đã nhận thọ thì không cầu thỉnh hỏi lại. mà Thần khí ngài tuấn tú trác việt cao nhã, mến chuộng thanh hư. Bấy giờ, những lúc ngài đáp thuật đàm nói, người nghe quên cả nhọc mệt.

Năm Khai Hoàng thứ 7 (587) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh mời chư vị Đại Đức cùng Tạng Công đến ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô, để luyện thông các bộ Đại Trí Độ Luận. A Tỳ Đàm Tâm Luận và Kim Cang Bát Nhã Luận v.v… thấu suốt hang huyệt. Đến năm Khai Hoàng thứ 6 (596) thời nhà Tùy, vì thấu hiểu gồm cả thường lệ cần phải có người tiếp nối làm ngời sáng lớn mạnh, nên Vua lại ban sắc bổ sung các giảng chúng chủ. Và ở tại chùa Kinh Tạng xiển dương các Bộ trước.

Đến trong niên hiệu Nhân thọ (601-605) thời nhà Tùy, mở đầu tu tạo phước nghiệp, Vua Văn Đế ban sắc nghinh đưa Xá lợi đến chùa Pháp Tụ tại Ích Châu. Chùa đó do Thục Vương Tú tạo dựng nên. Trên đường vừa đi đến Ngang Thục, khai hóa càng xương thạnh, nghiêng dốc cả Kim bối ấy, sau đó tức liền thành tựu. Về sau lại vâng phụng sắc chiếu nghinh đưa Xá lợi đến thiết đặt Bảo tháp tại Tân Châu. Trời mưa hoa lạ, mọi người được 1 nữa hợp. Lại tỏa phóng ánh sáng sắc tía, biến thành 5 sắc. Người mù đến lễ sám, bỗng nhiên liền được sáng cả 2 mắt, vất bỏ gậy mà trở về. Những người bị các chứng bệnh phong liệt co quắp v.v… các loại thảy đều đựơc như vậy. đến lúc sắp hạ tháp, trời mưa hoa bạc, tỏa phóng ánh sáng sắc trắng trước sau không chỉ 1 lần. Ngay lúc nhập Tháp, có 6 con chim lớn liệng bay lẫn lộn giữa khoảng mây, khi bít lấp hoàn thành, thì đều tan mác.

Ngài (Trí Ẩn) đem những sự việc ấy tấu trình, Vua Văn Đế rất vui mừng, giao phó ngài trước thuật lại. sau đó, ngài thị tịch tại Kinh Đô.

3- Sa-môn Xà-Đề-Tư-Na:

Sa-môn Xà-Đề-Tư-Na, ngài ở nước Ma Kiệt Đà thuộc Trung Thiên Trúc. Ngài học gồm các tạng, có tài năng khác lạ nghệ thuật lắm nhiều luyện thông ở đời. Khi đang ở tại Bổn quốc quả đất bỗng nhiên chấn động nức nẻ, nơi chỗ mở tung ấy rất sâu không đáy, đến bên cạnh bờ mé có được 1 Bia đá, có lời văn ghi rằng: “Ở phía đông nước Chấn

Đán có nước tên là Đại Tùy, thành tên là Đại Hưng, Vua tên là Kiên (Dương Khiêm-Văn Đế) ý muốn kiến lập Tam Bảo, tạo dựng các tháp phụng thờ Xá Lợi”. Vua tôi nước ấy vui mừng cảm điềm tướng tốt lành, hỷ hoan với điều hiếm có, mới chiêu mộ các hàng Đạo tục có hơn 50 vị, vẫn từ Linh tướng ấy, mới đầu nghinh đưa đều ra Vương Phủ, trên đường đi gặp phải giặc dã bắt bớ tản mác gần hết. Chỉ còn được vài người lánh trốn đến đây (Trung Hoa). Tức năm Nhân thọ thứ 2 (602) thời nhà Tùy, vừa đến cung Nhân Thọ. Tính lại mới đầu từ lúc chỗ đất nức nẻ có được Văn Bia tức là năm Khai Hoàng thứ 14 (594) thời nhà Tùy, rồi đi đường trải mất 9 năm mới tới Đông Hạ.

Khi đó gặp lúc Vua Văn Đế (Dương Khiêm) cảm được Xá lợi, các châu quận khởi tạo Bảo Tháp. Điềm lành từ trời rơi xuống, điềm lành từ đất vọt lên, trước sau mọi sự linh cảm có cả trăm lần, khắp cả nước ngợi ca vui mừng, Phật Pháp trở lại hưng thạnh. Quan Hữu Ty đem mọi sự việc tấu trình, Vua cho đó là sự nơi Đại Hạ nêu bày vết tích Đông hoa. Tốt lành đó từ xa đi đến, nên nghi Ngài là bậc đã chứng Thánh Quả. Lại dẫn mời ngài vào Điện Đại Bảo, tự thân Vua co quắp 4 ngón tay, trông nhìn lại các hàng Quan liêu rằng: “Có hiểu được ý của Trẩm chăng?” Mọi người đều chẳng hiểu gì. Nhân đó Vua hỏi ngài: “Có hiểu ý chăng?” Ngài bảo: “Ý Đàn Việt cho rằng Bần Đạo là người đã chứng đắc Tứ quả ư?” Thật chẳng đứng vậy!” Vua rất lấy làm lạ đó, mới thiết đặt ngài ở vào nơi Biệt quán, cung cấp hoa trọng cổ ăn, dùng men rượu hòa với bột gạo phỏng làm thành bánh điều hòa thời gian mà chẳng dậy. Nhân đó đem hỏi ngài. Ngài đáp: “Đó chẳng hợp thức ăn”. Bèn dùng nước ngào bột nấu đó cùng với men thường chẳng khác. Vua hỏi ngài: “Nay tạo các Linh Tháp ở khắp các Châu. Ở tại Tào Châu và Thiểm Châu có lắm điều ứng tốt lành, ai có thể đến đó ư?” Ngài đáp: “Tại Thiểm Châu hiện cây Bồ-tát Địa Tạng, tại Tào Châu Hoa sáng Hư Không Tạng”. Vua lại hỏi: “Hoa trời tợ vật gì?” Ngài đáp: “Tợ như men mây mỏng, hoặc bay hoặc rơi rớt nơi đất. Tuy rơi rót nơi đất mà ánh sáng vẫn kỳ đặc ưu thắng”. Vua kín đem men may xinh đẹp và chỗ dâng hoa trời mỗi thứ 1 sọt, dùng để chỉ bày cho mọi người, không có khác biệt. Vừa mới đem hỏi Ngài ngài liền nhận biết hoa trời mà thua kém men mây. Kịp đến lúc Hiến Hậu qua đời, giữa không trung có vang vọng tiếng âm nhạc và cảm nghe có mùi hương thơm khác lạ. Vua đem đủ mọi sự việc ấy hỏi ngài. Ngài bảo: “Ở cõi Tịnh Độ tại phương Tây có đức Phật hiệu là A Di Đà. Hoàng Hậu vãng sinh vậy”. vua rất lấy làm kỳ lạ về sự nhận biết soi xét của ngài, nên ban tặng hơn 2000 xấp lụa quyên. Ngài cố khước từ không nhận, nhưng vì Vua quá cưởng thỉnh, ngài mới nhận lấy và ban thí khắp cùng các phước địa. Thấy ở truyện cảm ứng vậy.

4- Thích Minh Đản ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô:

Thích Minh Đản, ngài giòng họ Sử, người ở đất cấp, Vệ Châu. Ngài chuyên hành Luật nghi, giẫm bước trông theo các bậc tiền Hiền. Thông rành các Kinh Thập Địa, Địa Trì, tùy cơ giảng giải. với Nhiếp Đại thừa luận thì càng thấy ngài hoằng dương rộng rãi. Sau, vào Kinh Đô, ngài ở chùa Thắng Quang, ngài luôn ôn hòa thuần hậu, tánh không bức bạo.

Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) thời nhà Tùy có ban sắc thỉnh mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến Tương Châu lên ở chùa Phụng Lâm. Nền tảng chùa đó được xây dựng từ thời Nam Lương, nhưng đến thời nhà Tùy càng mở thoáng rộng. Rừng cao giẫm đến hang cốc nối liền phòng viện, Tùng trúc giao nhau ngời ánh, suối đá nước đổ rì rào, ấp thất cùng trông hết cả nhàn cử. Như có người vân du đến trông xem thảy đều quên cả trở về. Ngày Vua Văn Đế đang còn ẩn dật, nhân sang chùa lễ bái, xin nguyện hoằng hộ, kịp đến lúc lên ngôi báu, nhờ nghĩ phước duyên xa xưa, nên hằng năm Vua thường đến chùa thiết bày cúng dường lớn. Và bèn cải đổi tên hiệu chùa là Đại Hưng Quốc. Kịp đến lúc ngài đến đó thiết đặt nền tháp, tại viện phía đông của chùa đào đục đất đá xuống vài thước, có được 1 Bình Lưu Ly, trong bình có 8 viên Xá Lợi tán tụ phô bày tướng tốt lành. Hình chất chẳng nhất định, hoặc hiện toàn vỡ nát, hoặc hiển phát thần kỳ, ngài liềncùng bảo nghinh đưa về đồng chỗ tạo dựng Bảo tháp. Lại đục xuyên sâu xuống, có được 1 tảng đá, có bài minh ghi rằng: “36 năm sau niên hiệu Đại đồng, khai mở hoằng hóa của Nhân thọ”. Y cứ theo đó mà nghiệm xét thì trong thời Nam Lương có niên hiệu Đại Đồng (535-546) cho đến nay, về niên kỷ có phảng phất phù hợp. Ngài vui mừng cảm được điềm tốt lành ấy mới dâng Biểu Văn tấu trình. Tại chùa đó có 1 Tôn tượng bằng vàng cao trượng 6. Diện Bộ viên mãn, nghi tướng hoàn vị, tôn trí cao vợi giữa Điện Đường, các loài chim không dám giẫm bước chân vào. Trước sân có dựng lập 1 Văn Bua do Sưu tín Văn Tiêu Vàn viết thuật, ở đời xưng gọi đó là Quán tuyệt. Ngài vân du rão bước trông xem Huy du, giảng trao tương tiếp.

Về sau, ngài thị tịch tại chùa Thăng Quang.

5- Thích Minh Sán ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô:

Thích Minh Sán, ngài giòng họ Vi, người xứ Nghi Thủy, Cử Châu. Năm 10 tuổi, ngài xuất gia. Năm 20 tuổi, ngài thọ giới Cụ Túc. Trong suốt 10 năm đó, ngài tìm tòi đọc học thông rành các Kinh Sử. Bẩm tánh ngài điều hòa nhu nhuyến, ngay từ đầu chẳng tỏ bày tức giận. Chưa đầy 3 mùa Hạ mà ngài đã từng giảng giải hoằng dương luận Thành Thật và Kinh Niết Bàn.

Gặp lúc phế hoại Phật giáo, ngài trầm ẩn lánh đời, ở nơi rừng chằm, trở lại dưỡng nuôi Đạo nghiệp cũ, nghiên tầm sâu mầu. Đến lúc Vua Tuyên Đế (Võ Văn Huân 579) thời Bắc Chu tạo lập chùa Trắc Hổ, Sa-môn Tuệ Viễn dẫn đồng bạn đến đó. Khi đó, ngài theo gót trở về Kinh Đô, đến các Châu Bộ, sau đó không lâu, ngài tỏ ngộ sâu sắc, bèn diễn giảng nơi đời. Đồ chúng có cả số trăm, tâm kế sáng tỏ. Ngài khai giảng những điều u ẩn, vạch bẻ điều nghi ngờ, khéo thông cật nạn, tinh cần tư lự thường luôn bộc phát chưa từng lắng ẩn. Lại thêm phước đức tràn đầy, khiến mọi người thấy nghe thảy đều vui mừng.

Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605 thời nhà Tùy) ban sắc mời Ngài đến ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô. Đầu niên hiệu nhân thọ (601) thời nhà Tùy. Vua lại thỉnh mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Thê Hà tại Tương Châu, nay tức là chùa Nhiếp Sơn vậy. vốn nơi nền tảng linh dị, ở truyện trước đã trình bày rõ ràng, mà ngài trông tâm tình vẫn chuyên việc hoằng pháp, trên bước đường tìm cầu phỏng hỏi mới đến tại Giang Biểu, ngài gom nhặt được hơn trăm quyển Kinh, đều là phần sót lại của ghi lục trước, cho đến những nơi khuyết thiếu bổn văn. Tùy được các thứ Phước lợi ngài đều tùy mọi nơi mà truyền trao ghi chép. Sau cùng, ngài lại đến ở chùa Đại Thiền Định, lấy việc hoằng pháp làm sự nghiệp chuyên, xuân thu tốt lành tuần tự, ngài từng đến Lam Điền, leo núi vượt sông, vui mừng với mọi sự đắc tánh. Đến đầu thời tiền Đường thì ngài thị tịch.

6- Thích Tuệ Trọng ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô:

Thích Tuệ Trọng, ngài giòng họ Quách, người xứ Ung Châu. Chí khí ngài cứng rắn oai linh, chẳng sợ tà chướng. Quỷ thần ở chốn rừng ốc. Nghe có nơi nương náu, ngài không sang chẳng chịu hàng phục. Ngài nghiêm trì thanh tịnh Giới Địa, thống rành về Nhiếp Đại thừa luận, giẫm trải Danh giáo, thanh bạch trội vượt khác thường. ngài ở chùa Đại Hưng Thiện, rộng thông cơ yếu. Các hàng vinh đạt đều tuần tự đoái hoài. Ngài bày chương ngôn lệnh, dốc ý dẫn đưa rất có phương pháp.

Trong niên hiệu Nhân thọ (601-605) thời nhà Tùy, với công việc thiết đặt tạo dựng các Bảo Tháp, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Đại nhạc tại Thái Sơn. Ban đầu mới đến, tỏa phóng ánh sáng, cho đến lúc nhập Tháp liên tục thường luôn soi chiếu. Từ trên đảnh núi có 3 luồng khí trắng lưu tỏa xuống nơi nền móng. Cửa Miếu Nhạc Thần vô cớ tự mở, như thế đến 3 lần. Các hàng Thức giả cho đó là Thần Linh quy kính nên vậy. năm

Nhân thọ thứ tư (604) thời nhà Tùy, kiến tạo Bảo tháp, ngài lại nghinh đưa Xá lợi đến chùa Thiền Tịch tại Long Châu. Mới đầu đến thiết trai, bỗng nhiên có nai đồng dã từ Nam Sơn xuống bơi lội qua sông Gia Lăng thẳng đến nơi chỗ Tháp. Có người đưa tay sờ xoa, nai vẫn tự nhiên gần gủi, cho đến lúc hạ Tháp xong, nai mới bỏ đi. Ban đêm có ánh sáng lớn tỏa phóng từ trên điện Phật, sáng rực cao đến vài trượng. Các màu xanh đỏ thảy đều xen tạp, mọi người đều đồng trông thấy. 3 ngày đánh sát, cả chậu đến hỷ xá, mây tía che phủ nơi tháp, mưa hoa vàng bạc khắp cùng thành ấp. Có người lượm nhặt được mới là 5 sắc cùng khắc chạm. Lại có được 5 viên Xá lợi ở trên Hoa Trời, ẩn hiện xoay chuyển, hợp tan tùy tâm. Trong châu ấy có chùa Tu Phạm. Trước kia là do Vua Văn Đế (Dương Khiêm) tạo lập, có được 1 phần Xá lợi, muốn cùng với Bảo tháp nay đây đồng 1 ngày hạ nền móng. Đêm đó ở cả 2 Bảo tháp tỏa phóng 2 luồng án h sáng soi chiếu khắp cùng u hiển, mãi đến sáng hôm sau mới dứt mất. đồng cùng trông thấy điềm tướng lành đó có cả ngàn người. Buổi sáng sớm sắp hạ Tháp, lại mưa hoa bạc, biến chuyển chẳng chỉ 1 lần.

Sau đó, ngài trở về lại Kinh Thất, cải đổi quy cách trước, chuyên tu Thiền Quán sám hối, mỗi một ngày đêm có đến 12 thời, ngài đảnh lễ danh hiệu 53 vị Phật, ngoài ra còn thêm tọa Thiền Chánh niệm, chuyên trì hạnh nghiệp cho đến lúc thị tịch.

7- Thích Bảo Tích ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô:

Thích Bảo Tích, ngài giòng họ Chu, người xứ đất Điều, Ký Châu. Ngài cắt dứt lưới ái, chuyên tâm phỏng hỏi Đạo, Vân du bất định, không nơi thường dừng. Khi nhà Bắc Tề sụp đổ, Phật Pháp bị phá diệt, ngài đến ngầm ẩn tại Thái Sơn, xoay qua trở lại tại những nơi Lỗ Châu, Duyện Châu trải nhiều năm tháng.

Đến năm Khai Hoàng thứ 14 (594) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) xa giá tuần du đến phương Đông, mới cùng thỉnh yết. Chỉ 1 lần trông thấy, Vua bèn rất vui mừng, ban sắc mời ngài vào Kinh Đô ở chùa Thắng Quang, giảng truyền hoằng dương luận Đại TRí Độ và luận Nhiếp Đại Thừa, mà thể lượng ngài rỗng rang chẳng tính tức giận hẹp hòi. Từng có người ngăn ngại hủy hoại tiếng tăm thấu đến Tai ngài ngài mới cởi áo dâng tặng đó và nói rằng: “Ông thấy được lỗi quá của Tôi, thật là Thầy Bạn của Tôi vậy.”

Năm Nhân thọ thứ nhất (601) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế ban sắc đặt cử Ngài nghinh đứa Xá lợi đến chùa Tư Giác ở Hoa Ngạc. Chùa đó vốn do Tả Bộc Xạ Dương Tố dựng lập nên. Buổi sáng sớm mới hạ Tháp, mây bủa khắp 4 phía, tuyết phủ cùng núi ấp, đất trời đều mịt mờ, ngăn cách mắt không thấy, cho đến lúc giờ Ngọ, bỗng nhiên trời trong xanh, mặt nhật tỏ sáng, hiện mày 5 sắc ở trên nền Tháp cách đất khoảng 5 tượng, xoay tròn như vòng xe lọng. Từ xa có người trông nhìn, thấy ở trên lọng có ánh sáng đỏ rực, tròn trặn thẳng lên xa liền giữa ngằn mé trời. Kịp đến lúc lấp phủ xong, mây hợp ánh sáng thâu. Bầu trời trở lại như lúc sáng sớm.

Về sau Ngài thị tịch tại Kinh Đô.

8- Thích Đạo Đoan ở chùa Nhân Pháp tại Kinh Đô:

Thích Đạo Đoan, ngài người xứ Lộ Châu, xuất gia thọ giới Cụ Túc, nghe xem luật tạng. Đến như mọi thứ khinh trọng khai chế, cân nhắc định liệu cương du, nhã làm Tông tượng. Về sau, ngài vào Kinh Đô ở chùa Nhân Pháp, giảng tam Tỳ Ni, thần dụng không hết. Bấy giờ lộ bày các hàng Tuấn cử hậu học đều khâm trọng đó. Lại thêm ngài có được Thể chuộng phương ngôn, phạm văn thư ngữ, mở sách thấu triệt trọn đạt ý thú sâu, chuyên tâm hộ pháp rất có công giúp nhiếp.

Trong niên hiệu Nhân Thọ (601-605) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Phạm Cảnh tại Bổn Châu. Khi mới vào ranh giới của châu ấy, núi non ở đó phần nhiều không có nước, bỗng nhiên Thần suối tuôn vọt lên đảnh, chảy đổ thành dòng chẳng phải chỉ 1. những người mắc bệnh trầm kha cố tật uống được nước ấy không ai chẳng lành. Riêng có 1 dòng suối, người bệnh uống tiếp liền sâm sai, như nghẹn rượu thịt, hẳn lại phát động. Xét lường trì giới, trọn dứt trừ mà mạnh khỏe. Ngài đem sự việc ấy tấu trình cùng Vua.

Sau đó, Ngài trở về ở chùa tại Kinh Đô, thường vui thích hoằng dương diễn giảng Pháp. Cuối cùng ngài thị tịch tại chùa Nhân Pháp.

9- Thích Đạo Sám ở chùa Thắng Quang tại Kinh Đô:

Thích Đạo Sám, ngài người xứ Hằng Châu. Tuệ học như Thần, tiếp nối tìm cầu các thứ Nhiếp Đại thừa luận, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Thập Địa. Nghi sâu đượm phục diệu chỉ, thấu suốt nguyên do tuần tự. Chỉ ngài mến chuộng nơi sâu xa tĩnh lặng, chẳng việc xa hoa, trọng đạo nghĩa, khinh tiền của, từ nhỏ đến lớn. Sau, ngài vào Kinh Đô, ở chùa Thắng Quang, phỏng hỏi Đạo, tìm cầu người hiền. Nơi nương náu vội vã, ngài chẳng từng gá thác.

Đến trong niên hiệu Nhân thọ (601-605) thời nhà Tùy, với công việc tạo dựng Bảo Tháp, vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc mời ngài nghinh đưa Xá lợi đến chùa Biện Hành ở Hứa Châu. Mới đầu vừa đến nơi chùa Tháp, Tôn tượng Đức Phật ở trong chánh điện vốn không Linh dị bỗng nhiên tỏa phóng ánh sáng lớn khắp cùng Viện Vũ. Xá lợi tuôn nhảy ra ngoài bình vàng, lại tỏa phóng ánh sáng xoay chuyển nhiểu quanh Bình. Đã gặp lúc nóng đốt nhưng khi sắp nhập Tháp bỗng cảm mây giăng che mặt nhật đến lúc lấp phủ xong mới tan mất. lại ở bên cạnh tháp làm Hồ để cúng dường,nhân đó có được giếng nước xưa cũ, nước sâu và trong sạch, ngọt ngon dịu dàng. Khắp cả châu đều sai phái đến lấy nước từ giếng đó mà không khô cạn hay vẩn đục, mọi người đền tán thán! Về sau, không biết ngài như thế nào.

10. Thích Minh Phân ở chùa Đại Hưng Thiện tại Kinh Đô:

Thích Minh Phân, ngài người xứ Tương Châu, là Đệ tử Thần Túc của Tam Tạng Pháp sư Da Xá ở thời nhà Tề. Ngài thông hiểu phương ngôn tục ngữ, khéo biết về Phạm văn, truyền đạt u chỉ không gì chẳng là cổ họng môi lưỡi.

Trong công việc phiên dịch Kinh Điển suốt thời gian niên hiệu Khai Hoàng (581-601) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc tìm mời, bảo ngài cùng các vị Phạm Tăng đối truyền Pháp Bổn. Mà ngài chuyên kiểm lỗi thất, ưa thích ở chốn không nhàn, đượm vị ngâm vịnh kinh Thập Địa, hễ nói năng bèn liền dẫn cứ. Hỏi luận suốt tài, thông giải nghi trệ khác thường.

Đến trong niên hiệu Nhân thọ (601-605) thời nhà Tùy, Vua Văn Đế ban sắc mời ngài đến thiết đặt Bảo tháp tại chùa Thanh Quậc ở Từ Châu. Chùa đó tức do Vua Văn Tuyên Đế (Cao Dương 550-560) thời Bắc Tề tạo lập. Phía sau Tôn Tượng nơi hang lớn là lăng tẩm của Vua Văn Tuyên Đế, trong đó ẩn tàng các thứ điêu khắc kinh động người quỷ. Ngài nghinh dẫn Xá lợi đến cách châu khoảng 30 dặm, có mây trắng ùn nổi dậy từ chùa đến nơi kiệu kéo dài không dứt, lấp lánh ngang giữa khoảng không, trong đó có trời tiên bay nhảy, trọn ngày mới dứt. Sáng sớm hôm sau khi mặt trời vừa ló dạng, trở lại có mây trắng kéo dài đến nghinh. Trong mây cũng có Trời Tiên như hôm qua không khác. Mọi người đồng trông thấy, chăm mắt chẳng thể luận bàn. Các hàng Thức giả cho rằng Thạch Quộc và Cổ Sơn liền tiếp kín xa, Tiên Thánh ở Trúc Lâm hưởng ứng nên vậy. đến nơi núi Tháp, ở phía đông có dòng suối, chúng sinh uống nước ở đó đều lành Bệnh.

Về sau, ngài thị tịch tại chùa Đại Hưng Thiện. Các Kinh điển do ngài dịch phiên ghi trước, đều như ghi lục của Phỉ thị vậy.

11- Truyện ngài Thích Tăng Cái trụ chùa Đại Hưng Thiện ở Kinh đô:

Thích Tăng Cái, là người xứ Hằng Châu, có đến Thái Nguyên, nghe giảng Kinh Niết-bàn. Về sau, Sư đến Lạc hạ, lại gồm thâu các nghiệp trước. Sư nghe rằng: “Kinh nêu bày niệm Tuệ, nhiếp tâm tĩnh lự làm đầu”. Sư bèn phế bỏ việc nghe giảng, chỉ chuyên tư duy Định học. Đào luyện tư duy càng sâu thì càng phô bày lỗi lầm của tâm. Sư bèn trọn thực hành việc đó. Về sau, Sư vào Kinh đô, đến thưa hỏi tất cả các vị tu Thiền. Sư trụ chùa Đại Hưng Thiện buông màn xếp gót, chẳng tham dự thế đàm, gần như hạn cục Dị thừa, lược chẳng thấm miệng, mở lời thanh tịnh, không gì chẳng cao.

Niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đón rước Xá-lợi đến Thương Châu. Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ tư (604) đời Tùy, Vua lại ban sắc mời Sư đón rước xá-lợi đến chùa Pháp Tướng ở Chiết Châu. Ban đầu làm hòm đá vốn chỉ mầu xanh, đến lúc mài gọt xong biến thành gấm đẹp, bày hình xoáy ốc, lại thấy hình bóng vị tăng chỉ có nữa thân hình. Đến sáng hôm sau đến xem thì hình bóng vị tăng biến thành Phật, ánh sáng soi chiếu thần nghi đều đầy đủ rõ ràng. Lại hiện nổi ba chữ “ Nhân Vương Tử”. Trước Phật lại hiện ra hình ảnh một con gà trống đầu đuôi đều có đủ. Hoặc hiện ra tiên phụng, trời người, các tướng rất nhiều. Dân chúng ở huyện Nam Hương phần nhiều sống bằng nghề săn bắn giết hại, nhờ thấy điềm lành đó mà phát tâm thọ giới, thề nguyện dứt hẳn sát sinh. Sau đó, vào ngày khác có người đi lượm củi đến phía Nam chùa Pháp Tướng, thấy có cây phác mới sinh quả kỳ lạ chỉ có trăm quả, mầu hồng đỏ như hoa sen sắp nở, bèn hái hai quả đem đến cúng dường nơi Tháp. Các hàng Quan thứ Đạo tục có hơn ngàn người đồng đến bẻ hái lấy, mùi vị giống như nho, và sau cùng dâng biểu tấu trình. Vua kinh lạ về điềm ấy.

Sau đó, Sư lại về trụ chùa Đại Hưng Thiện, đến đầu thời Tiền Đường, Sư mới thị tịch, thọ ngoài chín mươi tuổi.

12- Truyện ngài Thích Đàm Giai trụ chùa Nhật Nghiêm ở Kinh đô:

Thích Đàm Giai, là người xứ Giang Đô. Lúc còn nhỏ, Sư học Luận Thành Thật và các kinh luận như Niết-bàn, Đại Phẩm, chất chứa nơi tâm mắt. Bấy giờ tuy giảng đạo thiếu sót, nhưng nhờ tuệ giải nên Sư nổi tiếng. Sư từng đến các Pháp diên, chóng nêu bày luận quyết, xin cứ văn từ yếu chỉ, khiến các hàng học giả đều kinh sợ. Sư thường xem đọc rất nhiều kinh sách, ghi chú những điều u ẩn đem hỏi các bậc Lão túc. Các vị đều khoanh tay kính nể sự tinh vi ấy, trở lại khai mở chí khí nơi mình, Sư bèn vì châm chước hỏi chung đại khái. Ở Tả hữu Giang đô Sư trải qua rất nhiều năm nên tiếng tăm chẳng sai lầm, thật là chuông hoa vọng.

Vua Dương Đế (Dương Quảng 605-617) đời Tùy, xưa làm Tấn Vương, xây chùa ở Kinh thất, tìm chọn khắp các phương, thỉnh Sư đến ở. Nội Sứ lệnh Tiêu Tông, em út cả nhà tố tầm theo nghĩa học, đều khuất lễ quy tâm, kính thỉnh Sư làm Gia tăng. Dẫn hiện lớn nhỏ, thường ở trong Để Nội, sớm tối cùng thưởng vui. Sư giảng luận Chánh lý chỉ chuyên khai ngộ.

Cuối niên hiệu Nhân Thọ (605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) ban sắc mời Sư đón rước Xá-lợi đến chùa Sơn Cốc ở núi Hoàn Công thuộc Hy Châu. Xưa tương truyền rằng: “Vào đời Tề có người tên là Quách Trí Biện từng đến phía Nam núi Hoàn Công, người đời rất kính trọng, nhân đó lấy tên ông để gọi. Chùa đó do Vua Cao Đế (Tiêu Đạo Thành 479-483) thời Nam Tề xây dựng, mé rừng ngời ánh thông trúc đan xen, trước có một dòng sông bao quanh, lưng phía bắc là đảnh núi cao vợi, dòng sông nhiễu quanh thật thanh nhã. Sư đi khắp xứ đó để xây tháp. Ban đầu, trong tháng giêng đang phỏng nghĩ tìm chỗ đặt nền, thường phát ra ánh sáng vàng ròng như một xấp lụa. Trước chẳng mưu tính mà đồng khế hợp, mọi người đều rất vui mừng. Lại, ban đầu khi vừa đến làm, trời vốn nắng hạn, người vật đều khô khát, đêm đến đổ một trận mưa lớn, cao thấp đều đượm nhuần, không ai chẳng đội nhờ may mắn ấy. Lại phát ra ánh sáng mầu đỏ rực rỡ như đuốc lửa, hành đạo bảy đêm, lại phát ra ánh sáng rực rỡ trùm khắp cả núi. Có hơn năm ngàn người đều nhờ điềm lành ấy, mà sám tội tạo phước, không thể nói hết.

Về sau, Sư lại nối tiếp hạnh nghiệp xưa, cho đến hết đời Tùy. Sau đó, Sư đến trụ chùa Hoằng Thiện. Vì bệnh nên thị tịch, thọ tám mươi ba tuổi. Lúc đó là đầu niên hiệu Võ Đức (618) thời Tiền Đường.

13- Truyện ngài Thích Đạo Quý trụ chùa Tùy Pháp ở Kinh đô:

Thích Đạo Quý, là người xứ Tinh Châu, chuyên học Kinh Hoa Nghiêm làm chánh nghiệp. Từ nghĩa tánh độ khoan nha, đối với ý sâu trong kinh Sư rất có ý sâu, thường phát tinh thể, được tiếng khen ở đương thời. Thêm vì Sư nhàn cư buông tâm, chẳng can thiệp đến phiền nhiễu. Quán chợ hát hò không hề ghé mắt, Danh lợi sang hèn hẳn tự dứt lời, tinh thuần thanh khiết giữ sự trắng trong, thật đáng là bậc chân sĩ. Về sau, Sư đến kinh đô trụ chùa Tùy Pháp, lắng ẩn đạo đức, nhàn giữ thân tâm.

Lúc mới đầu xây tháp, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) nhà Tùy ban sắc tìm hỏi, đặt cử Sư đón rước Xá-lợi đến chùa Hội Thông ở Đức Châu. Ngày mới đến bắt đầu làm, phát ra ánh sáng mầu đỏ như chiếc bình lớn, lâu sau mới tan. Có một người phụ nữ bị bệnh co quắp đã nhiều năm, nghe Xá-lợi đến, bèn đòi khiêng tới chỗ tháp, khổ tâm phát nguyện cầu xin được đi bằng gậy. Y theo lời nguyện liền lành mạnh nhanh chóng trở về. Đến lúc sắp hạ tháp, bỗng có hình tướng mười hai con chim lớn ít có ở đời, không biết tên là gì, lần lượt xếp hàng bay liệng giữa hư không ở ngay trên tháp, đến lúc lấp xong mới bay đi mất dạng.

Về sau, Sư trấn nghiệp ở kinh đô, sau không biết Sư thị tịch ở đâu.

14- Truyện ngài Thích Tăng Thuận trụ chùa Huyền Pháp ở kinh đô:

Thích Tăng Thuận, là người xứ Bối Châu, Sư chuyên tu học Kinh Niết-bàn, Văn sớ tinh tường, ý chí siêng năng xác lập, chịu đựng gian khổ. Sư thường ưa hoằng pháp ở chốn lao tù, không có nhân duyên bó buộc, bèn giả dèm pha những người lương thiện, Văn thư đã xét duyệt, Sư có được phương tiện rửa sạch tội lỗi người khác, gieo thân vào chốn gông cùm, mà tình chí vẫn vui mừng thư tthái. Người coi ngục xót thương nguy ách đó, định thả họ ra. Sư bèn lấy kinh sớ phô bày đọc rõ, vì những người tù bên cạnh mà nói pháp khuyến hóa, sự việc vốn không dấu, nên lại được thả. Ngày ra khỏi ngục, Sư còn tiếc quá sớm. Có người hỏi lý do. Sư đáp: “Tôi nghe các bậc Thánh vào chốn địa ngục giáo hóa chúng sinh. Tuy chẳng bằng với những vị ấy nhưng về thông suốt”.

Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, chánh pháp được phục hưng, Sư bèn đến Quan nội, tham tầm thưa hỏi kinh thuật, và dừng ở tại chùa Huyền Pháp. Mãi đến sau này, khi xây dựng các ngôi tháp, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Tống Châu. Ban đầu, lúc vừa đến Tống thành, trong chợ có một cái giếng cũ từ trước đến nay mùi vị chua đắng, mầu nước đỏ au, không ai dám sái dùng, đến lúc xá-lợi vừa đưa đến, thì mầu nước bỗng biến thành mầu trắng, mùi vị như mật ngọt. Đến chỗ xây tháp, mới đầu phát ra ánh sáng mầu đỏ, lại phát ra ánh sáng mầu trắng chiếu khắp trong chùa. Vào giờ thìn suốt cả bảy ngày, trời mưa hoa trắng như tuyết tuôn rơi lẫn lộn giữa hư không. Đến lúc hạ thấp, có chín con hạc trắng bay liệng trên tháp, khi hạ hòm xong, hạc mới bay thẳng về hướng Bắc.

Về sau, Sư trở lại kinh đô, rảo tìm hạnh nghiệp. Đến đầu đời Đường vận nước mới hưng thạnh, Sư bắt đầu đến núi để nương náu, tuổi tác đã xế chiều, muốn gá tâm trọn đời. Vừa đi đến Bá Xuyên, dưới chân phía nam Ly Sơn, gặp được một ngôi chùa xưa, khám hang đều đổ nát, hình tượng ngã nghiêng. Sư bèn dừng ở lại đó mà sửa sang, trước tiên có chủ gìn giữ, mới tấu trình Biểu Văn xin Võ Hoàng đặc ân chấp thuận, bèn được an phục, nay là chùa Tân Lương. Bộc Xạ Tiêu Võ làm Đại đàn việt, mọi điều cần thiết của Phước sự đều lưu xuất từ nước Tống, tăng chúng đông đúc rất có khuôn phép.

Sau, Sư thị tịch tại chùa đang ở, thọ hơn tám mươi tuổi.

15- Truyện ngài Thích Pháp Hiển ở Kinh Đô đời Tùy:

Thích Pháp Hiển, là người xứ Phù Phong thuộc Ung Châu. Họ Ninh. Lúc bình sinh, chí Sư mến chuộng thiền tịch là chính. Với Văn tự giấy bút, tánh Sư chẳng từng trải qua. Sư luôn trầm lắng ít muốn, chẳng bị thế tục phiền lụy. Thầy của Sư là Sa-môn Pháp Khai là bậc thâm sâu trong Định môn, rất chẳng thể lường biết.

Vào cuối thời Nguyên Ngụy, Sư trụ chùa Vua ở Kinh Triệu, nổi tiếng ngang với Thiền sư Thật từ chốn triều đình đến thôn dã. Kiêm vì giản ước trắng trong, hoa quý khuynh chúc, nên Sư gặp được bậc Minh tượng ấy, kính thờ nhiều năm, truyền tập Sư Tông tiếp nối đầu mối sâu mầu. Sư đến trụ chùa Nhật Nghiêm.

Đến cuối niên hiệu Nhân Thọ (605) đời Tùy, xây tháp tại Lũng Châu, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc mời Sư đón rước Xá-lợi đến đó. Sư phát xuất từ kinh đô rước kiệu đến chùa Dược Vương ở Lũng Châu. Nhưng chùa ấy cách châu hơn mười dặm, nhỏ hẹp nghiêng đổ chẳng có hình thế cao rộng. Sư bèn dời đến gần dưới chân núi Tam Vương ở phía Bắc Châu. Lưng dựa sườn núi đến gần sông nước, cao lớn rộng rãi. Sư bèn xây dựng tháp lớn tại đó, phát ra ánh sáng rực rỡ khắp địa vực đồng trông thấy, vui mừng tội diệt. Sư nhân chỗ lợi ấy liền làm lợi ích, rộng giảng nói Pháp yếu, dốc sạch tâm não đó. Ngay nơi một hội ấy, được vinh hiển thành tựu.

Sau đó, Sư về lại kinh đô, nhóm chúng kết tập hạnh nghiệp. Mỗi năm vào lúc đầu Xuân, người đến cầu thọ giới cụ túc rất đông, Sư bèn khai phát giới duyên, cổ xúy thực hành Đàn sám, dẫn nhóm chúng thanh tịnh, liền vì đó mà thí giới. Sau, lúc Sư thị tịch, thọ gần tám mươi tuổi.

16- Truyện ngài Thích Tăng Thế trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Tăng Thế, là người ở xứ Thanh Châu. Sư mang kinh tìm hỏi đạo, chẳng sợ hiểm nguy. Bước chân Sư gần như cùng khắp Phương Nhạc và chỗ chỉ hướng của hùng khí của mũi nhận bén nhọn cũng khó đương đầu. Bấy giờ, đàm luận là sở trường của Sư riêng mến thích Sư nói năng, Văn từ phong nhã nhiều lớp cật nạn, nêu tiếng tăm Sư vang khắp các xứ Tề Châu, Lỗ Châu.

Vào niên hiệu Khai Hoàng (581-601) đời Tùy, Sư đến kinh đô, trụ chùa Đại Hưng Thiện, đến khắp giảng hội và chuyên về luận quyết. Đầu niên hiệu Nhân Thọ (601) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến tôn thờ tại chùa Hoằng Tạng ở Lai Châu. Qua niên hiệu Nhân Thọ thứ tư (604), Vua lại ban sắc mời Sư đưa Xá-lợi đến chùa Mậu Thắng ở Mật Châu. Vừa đi đến Thanh Châu, dừng nghỉ tại chùa Đạo Tạng, ban đêm phát ra ánh sáng mầu đỏ từ trong phòng lưu xuất ra, chiếu thẳng về phía Đông Nam. Đêm đó ở trong thành Mật Châu lại thấy có ánh sáng từ phía Tây Bắc chiếu đến, nhìn như cây đuốc lớn chẳng phải một, bao quanh khắp trong ngoài thành, sáng rực như ban ngày. Mọi người cùng tham dự không ai cũng trông thấy. Về sau đến lúc dò xét mới biết là dự báo trước. Khi đã đến chỗ làm, suốt hai đêm phát ra ánh sáng, nhiễu quanh thành sáng rực như trước không khác. Và lúc Sư nâng bình muốn đưa cho đại chúng xem thì bỗng nhiên không thấy. Sau đến chỗ tháp chùa, lại phát ra ánh sáng rực rỡ soi chiếu khắp cùng chùa viện. Ngày đầu tiên mới hành Đạo, đả sát giáo hóa, có hai Viên Xá-lợi hiện ở trong bình, đến lúc tạo hộp đá bỗng biến thành vàng, lớn như hạt táo, hạt đậu lẫn lộn nằm dưới đáy hộp, còn các chỗ khác đều biến thành lưu ly mầu xanh. Nhân đó, Sư tấu trình đồ biểu đầy đủ, Vua rất vui mừng.

Về sau, Sư trở lại kinh đô chẳng bao lâu thì thị tịch

17- Truyện ngài Thích Pháp Châu trụ chùa Tĩnh Giác ở kinh đô:

Thích Pháp Châu, không rõ Sư là người xứ nào, thân Sư cao to, nói năng lớn tiếng. Với Kinh Niết-bàn và Luận Nhiếp Đại Thừa là chỗ Sư hằng lưu tâm. Điều hội thắng tập, Sư thường tham dự, thân tướng Sư cao vợi, lắm người trông nhìn vặn hỏi, do đó mà nổi tiếng, lại có đức hạnh.

Ban đầu, Sư trụ chùa Tĩnh Giác ở Khúc Trì, rừng trúc um tùm tươi tốt, ao sen bao quanh, thanh thân một phương, lấy đó làm tự đắc. Bấy giờ, ở Kinh Hoa tình cờ gặp được những vị hình tướng nghĩa học như Sư có đến mười người, đồng khí tương cầu, thường đến nhóm họp vui vẻ, ngửa nghiêng nơi rừng tươi tốt thi phú ngâm vịnh gió trăng. Bấy giờ, mọi người gọi là “Khúc Trì Thập Trí”.

Đến niên hịêu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, xây dựng các tháp. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Tu Tịch ở Hàn Châu. Lúc đầu, mới làm hộp đá, bỗng có một con chim bồ câu bay vào trong hộp, tự nhiên thuần quen, hồi lâu mới bay đi. Tại chùa đó có bốn ngôi tháp gạch, hình dáng cao lớn, mỗi ngôi đó lại có bốn ngôi tháp nhỏ trấn ở bốn góc, được làm bằng sứ xanh. Ở phía trên có đồ họa về Bổn Sự. Trong đêm Xá lợi vừa đón rước đến, mỗi ngôi tháp đều phát ra ánh sáng như lửa xung thẳng lên. Mọi người ở bốn phương cùng một lúc trông thấy, thường phát ra ánh sáng như ráng đỏ dài khoảng ba trượng, đủ các hình tướng Chư Phật, Thánh tăng chẳng phải một, đều hiện bày trong đó.

Về sau, Sư lại đến trụ chùa Đại Thiền Định, khi thời vận nhà Tiền Đường mới đặt nền tảng, vì Sa-môn Cảnh Huy xây dựng chùa Thắng Nghiệp ở Phường Nhân Thọ, thỉnh Sư đến đó đầu tiên. Ban sắc đặt cử Sư trông coi việc chùa. Lại đổi lại tên Phường để hợp với hiệu chùa. Ban đầu, Sa-môn Cảnh Huy cùng chư tăng Đạo bạn ở tại Trường An, về sau thay đổi thường độ, thân mang mặc y phục thế tục nhưng vẫn thường ngơi nghỉ ở chùa, chẳng xả giới nghiệp. Nói năng ẩn phcụ thường hợp với sấm ký.

Vua Cao Tổ (Lý Uyên 618-627) thời Tiền Đường, lúc xưa ở tại Kỳ Châu đã có dự biết trước, nên khi đã tiếp thừa ngôi báu, nhớ nghĩ lại lời xưa, bèn đắp họa hình tượng, tạo lập miếu vũ, làm sáng tỏ huy hiệu. Từ khi Sư đến đó ở trải qua nhiều năm, mà không hề xa hoa, phòng nhà thú sung, mọi việc chúng tăng đều cẩn trọng đầy đủ. Đến đầu niên hiệu Trinh Quán (627) thời Tiền Đường, vì bệnh nên Sư thị tịch, thọ hơn tám mươi tuổi.

18- Truyện ngài Thích Tuệ Đản trụ chùa Diên Hưng ở kinh đô:

Thích Tuệ Đản, là người ở xứ Ung Châu. Sư nghiên cứu, tu học Kinh Niết-bàn và thông hiểu Luận Nhiếp Đại Thừa, do thường lên toà giảng tịch nên có tiếng tăm ở kinh đô. Sư là học sĩ của Pháp sư Đàm Diên, trụ tại chùa Diên Hưng.

Trong niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đến xây dựng ngôi tháp tại chùa Thiên trúc ở Hàng Châu thuộc núi Linh Ẩn, ở đó, rừng đá cao vợi, thật từ trước đến nay là nơi của Tiên Thánh. Lúc mới bắt đầu xây dựng nền móng ngôi tháp, gặp nhiều phiến đá nằm úp, đào được một chỗ là hộp đá xưa, có đặt hiệu bên cạnh, tinh tế chẳng thể lường. Nhân đó, Sư bảo đến đặt trong hộp đá cũ, lớn nhỏ hài hòa như đã lường tính trước.

Sau đó, Sư về lại chùa cũ, giảng dạy bình thường, tuy chẳng phải bậc nổi tiếng, nhưng cũng thuộc về tài năng. Đến đầu niên hiệu Trinh Quán (627) thời Tiền Đường, Sư thị tịch tại chùa Diên Hưng, thọ hơn bảy mươi tuổi. Lúc sắp tịch Sư nói năng vẫn trong trẻo, thần sắc không đổi khác, Sư nhìn khắp tất cả pháp thuộc, dặn dò giữ gìn, và bảo tất cả hãy khéo an trụ, rồi Sư điềm nhiên thị tịch.

19- Truyện ngài Thích Trí Quang trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Trí Quang, là người xứ Giang Châu, là Học sĩ của Luận Sư Ni. Thuở thiếu thời, Sư học Luận nhiếp Đại thừa rất thành khí độ. Nói năng bàn luận trong trẻo văn hoa, lời tiếng hùng thế rõ ràng hòa mục, chí độ của Sư nhẹ nhàng khoẻ mạnh, vui vẻ với người nghịch lời tranh luận, khiêm nhường tự hạ mình, được người đương thời kính trọng.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười (590) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Luận sư Ni. Khi đó, Sư cùng theo vào kinh đô, trụ chùa Đại Hưng Thiện. Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, xây dựng tháp, Vua lại thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Tuần Châu. Trên đường ngang qua Hứa Châu, vừa ra khỏi nam Thành. Mọi người đồng rước Xá-lợi đều trông thấy nơi kiệu, bỗng nhiên phát ra ánh sáng cao hơn một trượng, cả chúng đều vui mừng. Khi vừa đến Phiên Châu, dừng nghỉ trong chùa, đêm đó chuông đồng tự nhiên ngân vang suốt đêm cho đến sáng, làm kinh động cả người vật, mãi đến giờ thọ trai âm vang mới dứt. Lúc đã đến đạo tràng chùa tháp, ngay khi đặt Xá-lợi xuống thì trời tuôn rải cam lồ, trên cây bên cạnh tháp ngưng đọng sắc mầu như váng sữa, có ánh sáng mầu trắng soi chiếu giữa ban ngày.

Sau đó, Sư trở lại kinh đô, dùng giáo pháp để tự vui sống, từng khai giảng luận Nhiếp đại thừa, rất có tiếng tăm ở đất Tần. Đến lúc tuổi già, Sư nhàm chán bàn nói nên trở về nơi suối rừng tĩnh lắng. Rồi Sư lại đến Lô phụ, dứt bặt mọi việc của người đời, chuyên tâm thiền định, tự tiết chế lấy mình. Sư thị tịch tại phòng nhà ở núi.

20- Truyện ngài Thích Trí Giáo trụ chùa Hoằng Thiện ở kinh đô:

Thích Trí Giáo, là người xứ Ung Châu. Sư tụng tập các kinh, nhưng ý vẫn chuyên thiền quán. Ban ngày thì tập đọc, đêm đến thì tĩnh tọa trầm lắng, an nhiên vô vi, chẳng còn phiền lụy sự đời. Sư trụ chùa Hoằng Thiện, nhàn cư tu nghiệp.

Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, xây dựng tháp tại chùa Vĩnh Ninh ở Tần Châu. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến đó. Khi đã đến chỗ tháp, gặp ngay đêm Bồ-tát, có mùi hương lạ như sương mốc cuộn vào trong cửa. Cả đại chúng đồng lấy làm lạ về sự thấy nghe ấy. Lại ở trên tháp, phía trước sát trụ thấy có dấu chân người rất lớn dài một thước hai tấc, đạp lún sâu tới hai phân, tướng đường vân xoắn tròn của mười ngón thảy đều đầy đủ, tìm không thấy dấu vết tiếp nối, do điềm thần ứng nên như vậy. Lại giáng mây lạ đến kết tụ ở phía trên Tháp. Lại hoa trời tuôn rải như mưa, tướng trạng như vàng báu. Lại nghe giữa hư không có tiếng khen ngợi công đức Phật-đà. Các hàng quan dân đạo tục đều cùng nhau mừng vui hớn hở.

Sau đó, Sư về lại chùa cũ, tiếp tục thực hành Đạo nghiệp cho đến năm thị tịch.

21- Truyện ngài Thích Viên Siêu ở kinh đô, đời Tùy:

Thích Viên Siêu, là người ở xứ Phụ Thành thuộc Quán Châu. Các Kinh Thập Địa, Niết-bàn, Sư từng học qua, mọi sự phô bày của nói năng và hành động thảy đều thưa hỏi Đạo. Về sau, Sư đến trụ chùa ở kinh đô, nêu danh nơi Đài Tỉnh.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc mời Sư đến xây dựng tháp tại chùa Hóa Thành ở Quản Châu. Lúc mới đến châu, cách chừng hơn bảy mươi dặm, các hàng đạo tục đều đua nhau treo phướn dài, gió nam thổi mạnh, cây rừng nghiêng ngã về hướng Bắc, chỉ có chân phướn nam bắc cùng phân, tuy bị gió thổi mà không bị dời loạn. Đến lúc mới hành Đạo, lập hai bàn Phật, bỗng nhiên có hai con chuồn chuồn, mỗi con đến đậu trên một bàn tương đương, thân hình thô lớn dài cả năm tấc, mầu xanh lục sáng bóng, lớn như ngón tay người, suốt bảy ngày đứng tương tục như trước. Khi hành Đạo đã tan, bỗng nhiên nó bay đi. Đến sau lúc hạ tháp nó bay trở lại, khi chôn lấp đã xong thì tuyệt nhiên không còn thấy nó nữa. Nay lúc chánh thức hạ đặt, giữa khoảng không trên nền tháp có mây lành năm mầu tướng trạng như chiếc lọng, vuông vứac ngay thẳng như do người làm, phía dưới tán mây thấy một con hạc trắng bay liệng vòng quanh.

Sau khi mọi việc hoàn thành, Sư về lại kinh đô, không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

22- Truyện ngài Thích Tuệ Tạng trụ chùa Quang Minh ở kinh đô:

Thích Tuệ Tạng, là người xứ Ký Châu. Ban đầu, Sư học Kinh Niết-bàn, về sau chuyên việc giảng dạy. Cấm giữ tham ganh, tuyệt vết dèm pha, rõ ràng an đặt từ lệnh, chẳng lệ thuộc nhan sắc. Sư đến kinh đô, thưa hỏi Đạo Pháp, trụ tại chùa Quang Minh.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc Sư đến đặt tháp tại Quán Châu. Mới đầu vừa đến nơi chỗ tháp, thiết trai hành đạo, ngay phía trên tháp, có cảnh mây xuất hiện, gồm năm mầu lẫn lộn, hình dáng như lọng hoa. Dệt thuê gấm vẽ cũng không thể hơn, từ giờ ngọ cho đến giờ Dậu mới tan mất.

Lại có Sa-môn Pháp Thuận trụ chùa Diên Hưng, học Kinh Niếtbàn, giữ chí căn cấm, khiêm nhường tự tiết độ, giữ gìn đức hạnh không kiêu ngạo, được Vua ban sắc đến trụ chùa Đông Lâm ở Lô Sơn thuộc Giang Châu, đặt tháp thờ Xá-lợi, lúc mới vừa đến chỗ đất đó, có người cày ruộng thấy tỏa ra ánh sáng, bèn tìm ra ánh sáng và đào lên, được một pho tượng Đức Phật Di-lặc bằng đồng mạ vàng, hình dạng rất, liền làm lễ cúng dường.

Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

23- Truyện ngài Thích Bảo Hiến trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Bảo Hiến, là người xứ Trịnh Châu, là Học sĩ của Luật sư Bảo Trấn. Từ thuở nhỏ, Sư được nương tựa liền vâng theo khoa điều. Ngài Bảo Trấn xét khí lượng, trông tài năng chắc chắn đầy đủ để tiếp nhận Đại Pháp. Đến ngày thọ giới cụ túc, Sư chỉ còn kính phụng theo văn ngôn, còn như mọi thứ khuôn phép đều đã hoàn bị từ trước. Sư có được tình cảnh thầy trò như thế, và hạnh nghiệp rộng lớn như thế.

Đến đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Sư theo thầy Bảo Trấn, đồng đến trụ chùa Đại Hưng Thiện, oai nghi điều thuận, nói năng không can dự đến thế tục. Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, ngài vâng sắc đến đặt tháp ở Hồng Châu, là đất xưa của Dự Chương. Ban đầu, hướng đến châu đó, đường đi từ giang trở, dòng chánh đã mất, chỉ bùn sình bưng bít chẳng thông, sức người đã hết mà không thể tiến tới được. lộ trình kỳ lại bức bách,nên các hàng đạo tục đều lo sợ, Sư bèn tựa nương vào tâm Xá-lợi xin rũ chỉ đường thông suốt, bỗng giáng hiện một con chim trắng bay liệng ở phía trước thuyền, chợt đến chợt đi như là dẫn lối, Sư liền bảo nương theo đó, bèn gặp được mạch nước, thâu đêm đầy thuyền, bình an đến nơi không chướng ngại.

Sau đó, Sư về lại kinh đô, tiếp tục thực hành Đạo Nghiệp xưa, mãi đến ngày thị tịch.

24- Truyện ngài Thích Pháp Lãng trụ chùa Thắng Quang ở kinh đô:

Thích Pháp Lãng, là người xứ Bồ Châu, Sư học qua Tam Tạng, riêng xét về Tỳ-ni, khai vạch thiên tụ, chẳng ngăn ngại bởi danh văn. Lại thêm khí tiết bình thản ngay thẳng, chẳng chịu xem thường, quyết đoán cứng rắn, không riêng ép buộc. Sau, Sư đến trụ chùa Thắng Quang, mở bày nghiên cứu luật điển, đi ngang qua cửa phòng Sư không ai chẳng kinh sợ.

Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Đại Hưng Quốc ở Thiền Châu. Chùa đó vốn là nơi ra đời của Hoàng Khảo Võ Nguyên. Nên Vua xây chùa dựng tháp để cảm tạ duyên xưa. Lúc vừa đến trong cảnh vực châu đó, cả ba ngôi chùa Đại Thông, Thiện Pháp và Diễn Nghiệp, vào lúc ban đêm ở mỗi chùa đều phát ra ánh sáng, không biết từ đâu đến mà soi chiếu khắp cùng trong chùa, thấu suốt không ngăn ngại, trong chùa Thiện Pháp hiện ra cây có ba hoa, hình sắc rõ ràng. Vào này mồng hai tháng tư, trong chùa Linh Thắng, ban đêm bỗng phát ra ánh sáng năm mầu, hình thái như mây hợp thành một cái lọng, và đều biến thành mầu tím. Khi đón rước linh kiệu vào thành, mây lọng mới tan. Lại có áng thái mây năm mầu rực rỡ từ hai phía Tây Bắc và Đông Nam cuồn cuộn bay đến phía trên tháp hợp lại mà trụ. Đến lúc đào bới nền tháp, sâu xuống năm thước, có một con chim lạ hình dáng như chim Anh Dục, mầu xanh vàng, đi tuần nhiễu quanh viền tháp, mọi người chạm bắt lấy, chim không tỏ vẻ kinh sợ, chỉ ăn hoa vàng, ba ngày sau, chim bị chết. Lại dùng đá xanh làm hộp, bỗng sinh ra bóng sáng, trong ngoài đều thấu suốt, hiện các linh dị. Ở hai mặt Đông Tây đều hiện song thọ, dưới cây đều có lằn nước phát sinh. Mặt phía Tây trong hộp hiện ra hai vị Bồ-tát, vị đứng bên cạnh phía Nam mầu vàng vị, kệ đứng bên cạnh phía Bắc mầu bạc, cùng tương xứng nhau. Lại có hai vị Bồ-tát ngồi trên đài hoa, mỗi vị đều cao một thước và đều phát ra ánh sáng mầu hồng tím. Mặt phía nam trong hộp hiện tượng Thần ni, chắp tay nhìn về hướng Tây. Mặt phía Tây mỗi hộp, hiện Đức Phật nằm nghiêng hông bên phải, đầu hướng thẳng về phía Bắc, mặt xoay về hướng Tây. Mặt phía Đông ở ngoài hộp hiện tướng chim chết ở trước, nằm nghiêng, chỉ phút chốc đứng dậy, ở phía trên đầu chim có ba hoa vàng. Chim ấy theo hướng Tây Nam bay đến dưới chỗ Phật nằm, rồi đứng yên không nhúc nhích. Những tướng sáng trên, từ đã hiện đến chưa hiện, tướng trạng rõ ràng, Sư bèn bảo người đồ họa ghi chép lại trên giấy xong rồi, mới dần dần biến mất. Đến ngày sắp hạ tháp, bỗng nhiên mây nổi như khói, như sương mốc, vây tròn che mặt trời, lại như vòng bánh xe, sắc mầu chia ra riêng biệt, lại như bánh xe ngân căm mầu mây đều như mầu hồng màu tím, mọi người đều ngửa mặt nhìn tướng ấy, ngợi khen lạ lùng ít gặp. Đến lúc phủ lấp đã xong thì bầu trờ trở lại toả sáng, mây mù tan biến. Ngay lúc ấy ở phía ngoài vách tường chùa viện đều thấy có phướn lọng vây nhiễu chung quanh, nói là từ chỗ khác đến cúng dường. Sự việc xong xuôi, tìm hỏi thì không có một dấu vết. Sư vui mừng vớinhững điềmlành thần biến ấy, liền tấu trình lên vua.

Sau đó, Sư trở về kinh đô, vì bệnh nên qua đời.

25- Truyện ngài Thích Đào Toại trụ chùa Chân Tịch ở kinh đô:

Thích Đàm Toại, là người xứ Ung Châu. Ban đầu, Sư tập học Luận Đại Trí Độ. Về sau, Sư lại học Duy thức, nghiên cứu luận Nhiếp Đại thừa, chọn lý sâu kín, Sư thường nói: “Ba cõi luống dối, chỉ là nhất tâm, đuổi tìm cảnh ngoài, chưa ngộ khó dứt”. Nên rất được tôn xưng có Sư thông hiểu. Nhưng Sư lại rất cẩn trọng gìn giữ căn môn, chuyên cần tu trì giới hạnh. Sư trụ chùa Chân Tịch, đóng cửa giũa mài hạnh nghiệp.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Pháp Hống ở Tấn Châu. Lúc mới đến dừng nghỉ ở Công quán thì phát ra ánh sáng chiếu soi khắp cùng cửa tinh xá rõ ràng như màu vàng ròng. Lại phát ra hai lằn ánh sáng mầu vàng nhạt từ nơi Đạo tràng lưu xuất, rất lâu mới tắt mất. Lại từ chỗ kiệu Xá-lợi đến tận chỗ nền móng ngôi tháp đều phát ra ánh sáng lành, có ba vầng cầu vồng bay bổng, mầu sắc như ráng trời lúc sáng sớm, rực rỡ giữa khoảng không cao vợi. Đến ngày hạ tháp, lại phát ra ánh sáng, lúc ẩn lúc hiện, nói chung thì trong bảy ngày, điềm linh xen lẫn các tướng biến hiện chồng chất không dứt.

Sau đó, Sư về lại kinh đô tiếp tục thực hành Đạo nghiệp. Đến đầu thời Tiền Đường, Sư thị tịch, thọ hơn tám mươi tuổi.

26- Truyện ngài Thích Đàm Quán trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Đàm Quán, là người xứ Cử Châu. Năm bảy tuổi, Sư xuất gia, rất kính mến Pháp tự. Mãi đến sau khi thọ giới cụ túc, Sư tìm xét nghĩa môn, chỉ y cứ vào Luận Thành Thật dứt bỏ mọi vướng mắc. sau cho rằng tuệ giải là gốc loạn thần, Sư bèn trở lại lắng nguồn, nhiếp suy nghĩ hang hóc. Với mười sáu pháp đặc biệt, Sư lại rất mực lưu tâm, Thần chí rộng khắp tiêu hết Tà chướng, vang vọng khắp xa đến tận Thiên quyết.

Khoảng đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc tìm hỏi, thỉnh Sư vào kinh đô, trụ chùa Đại Hưng Thiện, mọi sự cúng dường đều nồng hậu, thường ngày hỏi han sức khoẻ. Sư thường lên sân tía ngồi ở nệm hoa. Vua gần gũi hầu cúng, kính trọng đức hạnh Sư mà cầu học đạo Pháp. Sư khoan dung thuần thoáng, nói năng không trau chuốt, rất được Pháp nhẫn rất sâu. Khổ vui đối với tâm hoàn toàn rỗng lắng, nên khiến danh lợi tuy ngày một tăng mà vẫn thường có khí tiết trinh thuần. Mọi vật tín thí cúng dường Sư đều sung nhập vào của chúng tăng, phòng nhà rỗng rang, chỉ có y bát mà thôi. Bấy giờ, các hàng lưu tục đều mến chuộng.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Sư vâng sắc đón rước Xá-lợi đến chùa Định Lâm ở Bổn Châu. Lúc mới, dừng nghỉ ở Công Quán, liền phát ra ánh sáng rực rỡ, đào bới nền móng sâu đến tám thước có được một ngôi tháp bằng đồng, trên đầu ngay bằng, dưới nền vuông vắn, có hai cửa đối xứng, thiết chế như thần tạo, khắc chạm đến kinh hãi người. Sư bèn dùng để đựng Xá-lợi đặt vào bình trong, rất tương dung nhau. Tại châu đó, có người tên là Cầm Cự Hải bị bệnh câm suốt trong sáu năm. Khi nghe đón rước Xá-lợi đến, bèn tự viết thư thỉnh cầu điềm ứng, thấy vốn một viên xá-lợi mà phân chia thành ba phần, mầu sắc như vàng ròng chợt trầm chợt hiện. Lại thấy ảnh tượng ba Đức Phật từ giữa hư không bay đến, tức liền bày thuật. Văn từ ngôn cú như dòng chảy.

Sau đó, Sư về lại ở kinh đô, không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

27- Truyện ngài Thích Linh Đạt trụ chùa Diên Hưng ở kinh đô:

Thích Linh Đạt, là người xứ Hằng Châu. Lúc đầu, Sư học theo Nho Môn, tham cùng kinh sử, chỉ thấy càng thêm tướng đồ lược, bấy giờ tuy có tâm nhân nghĩa, nhưng cuối cùng lại đắm chìm trong các cõi, chưa thoát khỏi được vô thường. Sư bèn cắt tóc Đạo lưu, mong tôn thờ khuôn phép chánh, nương tựa Ngài Viễn Công mà học Đạo nghĩa, đều nhận biết được đại ý. Nhân đó bèn nhất quyết nương theo, ba nghiệp không xả bỏ. Đến lúc Viễn Công vào chốn kinh đô vì kính mến nghĩa nên Sư cùng theo. Về sau, Sư trụ chùa Diên Hưng, lùi ẩn tự giữ, ngồi thẳng thúc liễm thân tâm, suốt ngày thiền mặc, ăn mặc chỉ thô xấu, chẳng mong cầu lòe loẹt.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Long Tàng ở Bổn Châu. Lúc mới định chỗ làm nền móng, nghe có mùi hương lạ, dần dần phân tỏa theo chiều gió lan tỏa khắp trong chùa. Trong dân chúng có một người tên là Kim Huyền Tán, ở bên cạnh chùa, từ trước bị bệnh tịt mũi, hơn hai mươi năm không hề nhận biết các thứ mùi thơm hôi, ngay ngày hôm đó bỗng nhiên ngửi được mùi hương, kinh hãi bèn tìm đến chùa, nhân đó bệnh tịt mũi được lành. Lại có mưa hoa trời từ giữa hư không tuôn đổ xuống, hình thái ánh sáng đẹp sạch rực rỡ như vàng bạc, trước tiên rơi xuống chỗ tháp, sau đó vào trong chùa viện. Các hàng đạo tục đua nhau tiếp lấy nhẹ mỏng như sợi. Sau khi hạ Xá-lợi xong, có hai con hạc trắng báy liệng phía trên tháp, giây lâu mới bay đi.

Sau đó, Sư liên tiếp tìm theo định nghiệp, thưa hỏi khắp núi rừng đồng trống, chẳng đoái hoài danh quán, thực hành hạnh đầu-đà, ở nơi rừng mả. Tuy gặp các thứ quỷ thần mà không hề khiếp sợ. Đến đầu niên hiệu Đại Nghiệp (601) đời Tùy, Sư thị tịch nơi mồ mả trong rừng rậm. Lúc đầu, không ai nhận biết, có người trong xóm lấy làm lạ vì không thấy Sư đi khất thực, bèn đến tìm xem thì thấy Sư đã tịch, thân tướng Sư ngồi kiết già như lúc còn sống. Nhân đó hợp làm chiếc giường vuông tẩn liệm và an táng trong hang Đỗ Thành.

28- Truyện ngài Thích Tăng Hân trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Tăng Hân, là người xứ Thượng Đảng thuộc Lộ Châu. Từ khi Sư vào Đạo Pháp, nghe khắp cả Đại Thừa, Tiểu Thừa. Cho đến cả thiền luật, Sư đều trải qua. Dốc hết thân tâm, không pháp tịch nào Sư chẳng tham dự. Trong sự dạy răn các hàng ngu trí gồm cả ồn náo và tĩnh lắng. Sư một mực giữ gìn chánh độ, cung kính cẩn trọng Kinh luận, nhận hiểu vạch bày, không hề chợt quên. Lúc đầu, chúng tăng thấy sư cúi mặt ít nói, dứt bặt luận đạo nên đều gọi Sư là Lão già mờ tối. Sau, có bậc trí giả hỏi về Văn từ nghĩa lý, Sư đều trình bày áo nghĩa sâu xa. Xem thường chương cú, chẳng hề can dự trong lòng. Có người hỏi về lý do, Sư đáp: “Chớ khinh kẻ chưa học, Diệu đức thường ẩn tàng, chỉ có bậc Đại Giác mới có khả năng tĩnh lắng và soi chiếu, hàng Thanh đức minh ước mới không có vết lỗi nhỏ. Kẻ ngu si theo khuôn phép mọi vật, có lúc sẽ thông ngộ. Chỉ hai mắt đều sáng mới lấy được Hội Tông, chẳng được vì Pháp mà làm khổ lụy tới người, đến nỗi trái với sự mong cầukính phụng!”

Đến lúc nhà Bắc Chu phá diệt Đạo giáo và Phật giáo, Sư bèn lánh ẩn vào Thái Sơn, đến khi thời vận nhà Tùy mở thoáng, Sư lại trở về học tập tu hành, rão bước chốn Lạc Hạ, theo học ở Viễn Công. Với các Kinh Thập Địa, Niết-bàn, Sư đều nghiên cứu tông lãnh. Sau, Sư vào Quan nội trụ chùa Đại Hưng Thiện, thể độ cao sáng, chẳng khuất phục trái lạm. Lúc giảng dạy, ngôn từ bày nêu, đè nén và nâng bốc rất có độ lượng. Còn như mọi việc của chúng tăng tu đạo, tâm tình Sư vẫn đặt trọng chuyên cần tha thiết, đích thân dẫn trước, gánh vác vận thiệp.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Hộ Pháp ở Mao Châu để xây tháp cúng dường. Lúc mới đến dừng nghỉ nơi công quán, Có Sa-môn Đàm Nghĩa là bậc danh tăng cao hạnh, nói rằng: “Nghe các viên Xá-lợi đều phát ra ánh sáng, chỉ vì chúng ta, v.v… tội nghiệp quá sâu nặng nên không có ứng hiện gì!”. Sư bèn cởi áo làm lễ sám, đốt một ngón tay làm đuốc, suốt đêm cúng dường đến sáng sớm bèn phát ra ánh sáng soi khắp người vật. Lại lưu xuất ra bình vàng xoay chuyển hành đạo,có ánh sáng ba mầu xanh, đỏ, trắng soi chiếu khắp cùng, qua mấy đêm ánh sáng ấy mới tan mất. Đến đầu hôm mồng bảy tháng tư, lại phát ra ánh sáng đỏ rực như đốt đuốc khắp trong Phật đường, phút chốc lưu xuất ra ngoài cửa, soi chiếu khắp cả bốn phía mái nhà. Lúc sắp đặt để vào hộp lại phát ra ánh sáng mầu đỏ sáng rực hơn cả mặt trời, suốt đêm lại soi chiếu trong hộp. Qua ngày mồng mười tháng tư, Hoa trời như tuyết từ giữa hư không rơi loạn xuống, năm mầu xen lẫn, mọi người đều nhặt được. Lại cảm có có mùi hương lạ, theo gió nhẹ thoảng xông khắp trong chùa. Hộp đó bỗng nhiên biến thành Lưu ly mầu xanh, trong ngoài thấy suốt. Có người dùng lụa mỏng mầu trắng phủ bọc chung quanh mấy lớp, lại phủ mỏng lên trên hộp đó. Lại dùng tro bụi bùn sình phủ lên trên, sau đó ánh sáng lại soi chiếu qua lớp bùn đó, lại đồng như mầu của hộp. Lại ở trên lớp tro bụi bùn sình ấy vẽ mười bông hoa, dùng vàng mỏng để tô điểm đến sau khi thành tựu chỉ còn lại một mầu vàng ròng, ngoài ra các hoa đều rực rỡ. Lúc chưa hạ tháp, có Tín sĩ Trương Thế Khiêm là người thường tu trì bát Quan trai giới, lìa bỏ vợ con tôi tớ, ở nơi phòng thất tĩnh lắng tụng kinh, bèn nghe có âm thanh phạm tán ở chỗ kiệu rước Xá-lợi, bèn ra cửa nhìn, thấy có chư tăng, mỗi vị đều cầm nắm hoa hương đi nhiễu quanh cúng dường, bỗng chốc bèn biến mất. Lại thấy có trời người cầm các phướn lọng và hương hoa từ hướng đông nam bay lại, ngay trên đảnh tháp biến thành vầng mây lớn, xoay chuyển giữa hư không giây lâu. Lại thấy có hơn trăm vị Sa-môn ở trên nền tháp, cầm chổi quét đất bù đắp thêm. Đến lúc sáng sớm thì vắng lặng không thấy gì. Bấy giờ, đang là mùa hạ nắng nóng, đất đai khô cằn, mọi người đều mong có mưa, ứng niệm liền tuôn mưa xuống, nước mưa dày bốn-năm tấc, khắp sông đồng đều dứt trừ đựoc lo khổ. Tại huyện Sa Khâu có Lệ Như Ý là người hồi tâm kính tin Phật, thấy tướng ánh sáng. Đường tuy xa mà ngời sáng, mắt thấy suốt thấu chư tăng trong chùa có năm vị đang ở trong Phật đường. Lại nghe bên cạnh Tháp có tiếng âm nhạc khen ngợi, tiếng vang rất xa. Lại hoa trời tuôn rải như mưa, khắp cùng bốn mươi dặm, nơi nền tháp thì nhìn gấp bội. Sư vui mừng với các điềm lành ấy, bèn dâng biểu văn tấu trình đầy đủ.

Sau đó, Sư trở về, tiếp tục thực hành Đạo Nghiệp, không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

29- Truyện ngài Thích Huyền Cảnh trụ chùa Không Quán ở kinh đô:

Thích Huyền Cảnh, là người xứ Triệu Châu, Sư lập chí thanh bạch trinh thuần, chẳng can hệ với lưu tục. Đối với luật Tứ Phần, Sư tinh thông văn nghĩa, chẳng thích mở mang, thường tìm nơi dị Bộ, khơi phát trái thuận, phẩm chương phế lập, rất có thần thái. Sư trụ tại chùa Không Quán, nhàn tán ưu nhu, là vị Tăng vô vi.

Niên hiệu Nhân thọ thứ hai (602) đời Tùy, Sư vâng sắc đặt ngôi tháp tại chùa Vô Tế ở Bổn Châu. Ngày làm nền móng, bỗng nhiên phát ra ánh sáng mầu đỏ biến chuyển chẳng thường, hoặc như hình tượng, chợt như lầu gác. Lại phát ra ánh sáng mầu trắng, có lúc ánh sáng lớn nhỏ, nhiễu quanh bên cạnh bình. Đến ngày mồng bốn tháng tư, lại phát ra ánh sáng rực rỡ mầu tím lục xen lẫn, đến ba lượt mới thôi. Lại trong ánh sáng ấy thấy có pho tượng Phật, thân cao hơn hai thước ngồi trên tòa sen, và có các vị Bồ-tát hầu cận ở bên cạnh nghinh dung trang nghiêm, từ giờ mão cho đến giờ dậu mới biến mất. Ngay lúc ấy, mọi người đều trông thấy.

Sau đó, Sư về lại chùa Không Quán, lại học Thiền tông, dừng ở nơi Đông Viện, nhóm họp các Bạn đồng tu, phần nhiều thực hành hạnh đầu-đà. Sau, Sư thị tịch tại chùa đó.

30- Truyện ngài Thích Trí Qũy trụ chùa Hoằng Tế ở kinh đô:

Thích Trí Qũy, là người xứ Ký Châu, rất kính mến Niết-bàn, tịnh trì giới hạnh, chẳng màng vinh hạnh, thường biết đủ không mong cầu. Sư trụ tại chùa Hoằng Tế, đóng cửa, tu hành Đạo Nghiệp, tăng chúng kính phục trí đức của Sư nên rất xem trọng, thường đặt để Sư nơi chỗ cao quý, tôn xưng danh thật, nhưng Sư chẳng hề đoái hoài, bèn lùi ẩn tự tu, như không hề nghe thấy.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, ở khắp nơi đều xây tháp. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đón rước Xá-lợi đến chùa Khai Giác ở Ngụy Châu. Lúc vừa đến chỗ làm, bèn phát ra ánh sáng rực rỡ mầu tím trắng cùng phô bày lẫn lộn, năm mầu tỏa phát. Có Tỷ-khưu-ni Trí Khoáng mắc bệnh sốt rét đã nhiều năm, nhân kính lễ phát nguyện, bèn thấy được ánh sáng mầu đỏ soi chiếu khắp phòng nhà, bèn nhả vật xấu ác ra, từ đó, bệnh được dứt hẳn. Lại có người mắc bệnh nặng nghe vậy vui mừng, cúi đầu trên gối mà phát nguyện, cũng được ánh sáng soi chiếu và bình phục lại như cũ. Khi đến chỗ tháp, các trình trạng bệnh hoạn được khỏi như thế rất nhiều, không thể ghi hết. Có Dương Đại Nhãn trước kia mắc bệnh hai mắt mờ không thấy, dẫn đến chỗ kiệu nguyện cầu, liền nhìn thấy Xá-lợi như mắt vốn sáng sạch, những trường hợp như thế lại rât nhiều. Đến ngày mồng tám tháng tư, lúc hạ tháp xong, từ phía Tây Bắc có mây nhóm lại, hoa rải trên tháp như mưa, lẫn lộn lã tả như mây, mầu tợ vàng ròng, khắp cùng cả chùa viện. Các hàng đạo tục nhặt lấy, hình dạng như hoa bằng vàng. Lại cảm có một con chó mực, chẳng biết từ đâu đến, đi thẳng vào nơi đạo tràng và nhiễu quanh hành đạo, mỗi ngày đến sau giờ ngọ, cho bánh, nó chẳng chịu ăn, cho nước thì uống. Đến lúc giải trai hội cho cháo mới ăn. Trong chùa có một đàn chó khác thường, cắn xé rất dữ, nhưng khi thấy con chó ấy liền cúi đầu kính sợ, không dám liếc nhìn. Ở chỗ tháp có dựng một bia đá dày ba thước rưỡi, bỗng nhiên phát ra ánh sáng trong vắt như lưu ly, soi chiếu mọi vật, đều thấy rõ ràng. Lại thấy voi sáu ngà đều hiện trong bia đá. Đến cuối tháng năm, ở trong bia ấy có bảy lần biến đổi tướng trạng, hoặc là pho tượng Phật, Thánh Tăng, Song Thọ v.v… các điềmtướng chẳng phải một, Sư đều tấu trình những việc ấy lên vua.

Về sau, Sư dời đến Chung Nam, trụ chùa Thiền Tịch, leo lên non chầm, ra đi chẳng trở lại.

31- Truyện ngài Thích Tăng Phạm trụ chùa Thắng Quang ở kinh đô:

Thích Tăng Phạm, là người ở xứ Ký Châu, Sư học gồm các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa, lắng chuyên Tâm nghiệp, tìm thấy thiền niệm, dốc lòng kính lễ. Các pháp định yếu Sư thành đạt, hẳn gấp bội so với đồng bạn. Sư trụ tại chùa Thắng Quang, nhờ tuệ giải mà được suy tôn.

Đến lúc Vua Văn Đế (Dương Khiêm) đời Tùy xây dựng tháp, ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Giác Quán ở Bổn Châu. Mỗi ngày đến lúc chiều tối, thường phát ra ánh sáng, mầu vàng đỏ đan xen rực rỡ, biến hóa chẳng phải một. Có Sa-môn Tăng Biện bị bệnh tai điếc suốt bốn năm, nghe có tiếng như ở nơi tường vách, chỉ một lần trông thấy Xá-lợi, hai tai bèn được mở thông hơn thường ngày. Tại châu đó, có Tô Pháp Hội chân trái bị co quắp đã hơn mười chín năm. Tự chống gậy đến đảnh lễ cầu nguyện, sau đó bèn được lành mạnh, vất bỏ gậy mà trở về. Chính mắt Sư trông thấy những linh nghiệm thần đạo như thế, tin biết kinh giáo chẳng phải là thứ dối bày, chỉ do chí tiết thành thật chưa hiển bày, nên đến nỗi có sự sai lầm!

Sau đó, Sư về lại chùa cũ, tiếp tục thực hành khuôn vết trước. Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

32- Truyện ngài Thích Bảo An trụ chùa Tịnh Ảnh ở kinh đô:

Thích Bảo An, là người xứ Duyện Châu. Sư giữ chí an bần tu học. Mọi người trông thảy đều kính trọng. Lúc đầu, Sư nương tựa Sa-môn Tuệ Viễn, nghe học Kinh Niết-bàn, rộng nghiên cứu Tông lãnh. Đến lúc nhà Bắc Chu diệt, nhà Bắc Tề mất, Sư đi về hướng Nam đến nước Trần. Đến khi nhà Tùy thống nhất thiên hạ, Sư về lại quê cũ, sau đó Sư đến Triều Lạc, Sư lại theo Sa-môn Tuệ Viễn, nhờ đó mà học nghiệp xưa càng sâu xa hơn.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ bảy (587) đời Tùy, vì kính mến Đạo nghĩa, nên Sư vào kinh đô trụ chùa Tịnh Ảnh. Lúc bấy giờ, ngài Tuệ Viễn hoằng dương Chánh Pháp đang rất hưng thạnh, dưới tòa thính chúng gồm cả ngàn người. Mỗi một chế ước ở trong giảng hội, ngài Tuệ Viễn đều giao hẳn cho Sư. Khi đó mọi người từ phương xa đều tìm đến, danh vọng rất nhiều, khó có thể tiếp nối hài hòa, nên ngay trách nhiệm đó. Sư bèn tùy cơ khuyên dụ, cứu giúp rất có khuôn phép. Tuy nêu bày đủ thứ trừng trị răn đe mà không hề có tâm oán cừu, mỗi người đều nhớ nghĩ kính mến, khen ngợi. Sư giảng các Kinh Thập Địa, Niếtbàn rất thuần thục, khéo léo ở đương thời, nhưng tánh Sư vẫn nhiếp giữ sự im lắng, không thích giảng dạy. Nếu có hỏi đáp, Sư biện đối tợ dòng suối đổ.

Đến niên hiệu Nhân thọ thứ hai (602) đời Tùy, Sư vâng sắc thỉnh đến đặt tháp tại chùa Phạm Tràng ở Doanh Châu, tức là thành Hoàng Long. Xưa có ngôi tháp gồm mười bảy bậc cấp, ngăn che ở trong, đặt Xá-lợi. Đang lúc nửa đêm ở phần trên đều phát ra ánh sáng mầu trắng, tướng trạng như mây mù, ban đầu chỉ có một trượng, dần dần tỏa khắp viện, chói sáng rực rỡ, giây lâu mới dứt. Trước sau có đến ba lần, tướng loại đều đồng. Xưa có một con rùa bằng đá hình dáng rất lớn, muốn làm hộp dùng dẫn đặt rất khó, thợ đá theo quy mô đẻo gọt thành hộp, trong ba phần bỏ hết hai phần. Sư tự nghĩ: “Đá lớn mà hộp nhỏ làm sao chọn thành, sợ lỗi ngày với kỳ hạn, trong lòng lo lắng như lửa đốt”. Nhưng đến sáng sớm đến xem thì đá ấy rất xứng với hộp, tự nhiên phân chiết, chẳng nhọc khắc gọt, rõ ràng thành tựu. Hộp tuy do thần tạo, tính ra đáng rất nặng nề, nhưng kề gần cùng kéo thì nhẹ đi, nhanh như đuổi theo. Chẳng nhọc đến chùa, bèn đúng y như kỳ hạn, Sư rất vui với tình nguyện.

Sau đó, Sư về lại chùa ở kinh đô, không biết về sau Sư tịch ở đâu.

33- Truyện ngài Thích Bảo Nham trụ chùa Nhân Giác ở kinh đô:

Thích Bảo Nham, là ngưới xứ U Châu, Sư nêu ý Kinh Thập Địa, thứ đến học Tỳ-đàm, cuối cùng nghiên cứu về luận Thành Thật. Nên đối với Tông Bộ, Sư trải qua nghiên tầm rất nhiều, cửa nẻo huyền văn suốt cùng nguồn cội. Bấy giờ, đang truyền bá dồi dào rộng rãi mà tánh Sư rất suy xét mọi việc, chẳng ưa thích nói bàn. Mọi người tha thiết mong cầu giải bày, tinh lý lại tuyên dương. Sư trụ chùa Nhân giác ở Kinh hạ, giữ Đạo tự vui, không thích sự giao thiệp nồng hậu.

Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá lợi đến chùa Hoằng Nghiệp ở Bổn Châu. Chùa đó vốn do Vua Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoành 471-500) thời Nguyên Ngụy xây dựng. Xưa đặt hiệu chùa là Quang Lâm, nương vào sườn núi, ở cạnh khe suối, diện thế cao thoáng. Phần nhiều khác lạ, mọi việc đều thanh tịnh trang nghiêm, nên khiến mọi người đi đường hẹp phải kinh sợ. Do đó chúng đây lạm vết mong qua. Từ cuối niên hiệu Khai Hoàng (….601) đời Tùy, Xá-lợi được rước đến trước núi, thường nghiêng vẫy không hề ngừng nghỉ. Đến lúc an trí tháp xong, núi mới dứt hẳn sự rung chuyển. Lại đến đầu niên hiệu Nhân Thọ (601) đời Tùy, từ trời tuôn đổ xuống ba mươi ba cây dao cạo, dùng rất bén nhọn, và hình tướng chế tác cũng rất khác biệt, nay chư tăng thường dùng để cạo gọt. Lại nữa, lúc mới tạo hộp đá, sáng ngời như gương nước, đường văn giống như mã não, sáng tợ lưu ly, trong ngoài chiếu suốt sắc tím rực sáng. Phía ngoài hộp hiện lên những đường vân như tôn tượng Bồ-tát, cho đến Chư tiên, cầm thú, sư tử, cây rừng lắm thứ tạp tướng chẳng phải một. Đến đêm mồng ba tháng tư, phát ra ánh sáng rực rỡ soi chiếu khắp đất trời, mọi người đều trông thấy.

Khi mọi việc xong xuôi, Sư về lại kinh đô, không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

34- Truyện ngài Thích Minh Ngự trụ chùa Vô Lậu ở kinh đô:

Thích Minh Ngự, là người ở xứ Doanh Châu. Lúc đầu, Sư học Kinh Niết-bàn, về sau lại học Luận Nhiếp Đại Thừa, suy tìm nguồn lý, nghiên cứu gồm cả mọi sự vướng mắc. Sau đó, Sư đến Nghiệp Hạ thưa hỏi những điều chưa từng nghe biết. Với mọi nghĩa ẩn cao sâu, Sư đều vạch bày xem đọc.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ tám (588) đời Tùy, Sư vào kinh đô, đến chỗ Sa-môn Đàm Diên, lại học tiếp Luận Nhiếp Đại Thừa. Ý lượng của Sư rộng thoáng, dáng dấp nho nhã, nếu có tức giận, cũng không biến đổi sắc mặt. Đại chúng kính phục sức nhẫn ấy của Sư. Sư trụ tại chùa Vô Lậu, lấy việc giảng tụng làm chánh nghiệp. Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Sùng Phạm ở Tế Châu. Nền móng chùa đó mang thế núi hiểm nguy, có nhiều loại cây lạ, núi suối cuộn quanh, trúc cao phủ trời, thật là chỗ đất tốt đẹp. Định ngày sắp hạ tháp thì ở chùa đó có điềm lành của vua A-dục, phát ra ba luồng ánh sáng thần chiếu khắp trên thân tượng, vàng đá mầu đỏ sáng rực đoạt nét tinh anh, trải qua thời gian khoảng bữa ăn thì dần dần dùng hết. Lại nghe có tiếng khánh kéo dài, trên đảnh núi phía động chùa, có âm vang khen ngợi “Lành thay!” trong trẻo suốt thấu tâm người, nhưng tìm thì không trông thấy gì cả. Lại nữa, trên hộp Xá-lợi, ánh sáng phát ra cao ba thước, hình dáng như cây hoa. Vốn rước Xá-lợi phân thành hai viên, lưu xuất ra ngoài bình lưu ly lần lượt mà xoay chuyển và đều phát ra ánh sáng. Có mây mầu vàng trắng từ phía Tây Nam trôi đến, âm thanh như mưa cùng đổ trôi chảy, tiếng âm nhạc, đến ngay trên tháp, dừng trụ không lay động. Lại thấy có hai cành hoa từ trong mây lưu xuất, hoặc có lúc lên lúc xuống. Có đàn chim lớn bay đến vờn quanh phía trên tháp. Lại ở trong mây hiện ra đầu vị tiên số nhiều đến vô lượng. Ngay lúc đó, người ở thành Tân Châu thấy các vị Tiên từ phía đông giữa hư không bay đến, hướng về Ngụy Châu. Ngài ở ngay vận ấy vui mừng thấy các điềm lành đó, mói không thể hết. Dân chúng đều xả thí tài của chứa nhóm như núi, Sư đều dùng vào công việc tại xây dựng ngôi tháp. Có năm vị Sa-môn thấy được điềm kỳ đặc ấy, bèn xả giới làm đứa ở, cúng dường Tam Bảo, nhân đó khắc vào Minh Ký, nói rộng như trong Biệt truyện.

Đến lúc Hiến hậu qua đời, Vua Văn Đế xây dựng chùa Đại Thiền Định, thỉnh Sư đến trụ ở đó, về sau Sư thị tịch tại chùa ấy.

35- Truyện ngài Thích Đạo Sinh trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Đạo Sinh, là người xứ Bồ Châu. Sa-môn Đại Thống Đàm Diên là thầy của Sư, con của Danh Phụ thuộc hệ vết tích Quyết Sư. Tuy nhã chuộng chưa ngang bằng, nhưng năng lực tư duy thấu đến phương xa. Nhân từ chân chánh, Sư thường đặt để nơi lòng, thanh sắc không hề đắm nhiểm. Sư thọ trì Giới hộ, thích vịnh văn ngôn. Luật Tứ phần rộng đượm nhuần Thanh giáo. Lúc giảng dạy nêu cao khí Pháp khó nghĩ. Sư trụ chùa Đại Hưng Thiện, vời vợi nêu lạ, mắt không hề liếc nhìn, oai nghinh an tường điềm đàm. Đại chúng rất kính sợ.

Niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Sở Châu. Ban đầu dừng nghỉ ở Công Quán, chiêu cảm một con nai hoang đi thẳng vào cửa tháp. Người canh giữ dẫn nó đến chỗ Xá-lợi, tự nhiên nói cúi đầu kính vái, thuần thiện an ẩn. Sư bảo con nai rằng: “Ngươi vì Xá-lợi, hãy bước lên bậc thềm. Còn như duyên khác thì tùy ý mà đi”. Nai nghe lời ấy bèn bước lên thềm cấp, ra vào trước màn trướng, qua lại không ngăn ngại. Sư bèn giảng trao quy giới cho nai, nai bèn cúi đầu nơi hương án tỏ vẻ như có nghe thọ. Nhân đó dùng lụa thêu buộc thắt nơi nó, nai liền liếm tay người. Đêm đến nằm bên cạnh kiệu, hoặc đi sang nơi phòng Sư, dừng ở vài đêm, tự nhiên nói lui ra, trở về đồng hoang. Đến ngày hạ tháp có hai con hạc trắng bay liệng phía trên tháp, lúc lấp đất xong mới bay đỉ. Sư trông thấy các điềm lành ấy, bèn cùng các hàng liêu thuộc, viết lại biểu văn đầy đủ để tấu trình. Và khăc bài minh về việc ấy dựng ở chỗ Tháp.

Sau khi mọi việc xong xuôi, Sư về lại kinh đô. Không biết về sau Sư tịch ở đâu.

36- Truyện ngài Thích Pháp Tánh trụ chùa Thắng Quang ở kinh đô:

Thích Pháp Tánh, là người xứ Duyện Châu. Thuở thiếu thời Sư thực hành Thiền học, siêng năng hành đạo, ít dục, thực hành hạnh đầuđà, một mình Sư vân du nơi eo biển. Có lúc Sư lại vào trong thế tục để giúp hình hài rồi ẩn mình nơi rừng núi, lấy sự trầm lắng làm chánh.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn (594) đời Tùy, Vua Văn Đế (dương Khiêm) tuần du phương Đông, thưa hỏi ở các hang hóc, nhân đó, thỉnh Sư vào kinh đô trụ chùa Thắng Quang. Đến niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy Vua Văn Đế ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Phổ Lạc ở Bổn Châu. Lúc đầu, làm hộp bên ngoài, có đựơc một phiến đá xanh, gọt mài vừa xong, sắp khắc khảm, bỗng biến thành mã não, có năm mầu xen lẫn, đường vân hiện rõ. Ở phía trong hộp loang lổ tạp sinh ngọc trắng, ngưng nhuận sáng sạch khắp cả trong ngoài hộp, sáng như kiếng nước chiếu soi không chướng ngại. Ngay lúc đặt vào hộp, ở trên nền tháp có đôi chim trắng liệng quanh, lượn vòng quanh tháp. Cành lá cây Nại ở phía Tây tháp đều biến thành mầu vàng ròng. Đến lúc Vua Văn Đế băng (605), Vua Dương Đế (Dương Quảng) sắp đặt chùa Đại Thiền Định, thỉnh Sư đến trụ và cúng dường. Về sau, Sư thị tịch tại chùa đó, thọ hơn tám mươi tuổi.

37- Truyện ngài Thích Biện Tịch ở Kinh Đô đời Tùy:

Thích Biện Tịch, là người xứ Từ Châu. Thuở thiếu thời do nhờ năng lực tuệ học mà Sư nổi tiếng. Sư chìm nổi trong nhân thế, lấy việc đi giảng khắp nơi làm chánh nghiệp. Sau, Sư lại đến kinh đô nhà Bắc Tề, chuyên nghiên tầm Luận Đại Trí Độ và Luận A-tỳ-đàm tâm. Chưa hơn một năm mà đã thông hiểu đại khái.

Vào cuối niên hiệu Võ Bình (576) thời Bắc Tề, nước nhà sắp sụp đổ, đạo pháp bị diệt vong, theo hướng Nam, Sư đi về giang âm, lại học Tam luận, thần khí chăm chú soi xét nghĩa lý mới ấy. Đến đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Sư về lại quê cũ. Ở đó, có một số bạn lành đã mất, theo hướng Tây Sư lại đến kinh đô, tìm lại luận xưa là di phong của ngài Long Thọ. Lại từ niên hiệu Quang Viễn, Nhân Thọ (601- 605) đời Tùy, có xây Tháp. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Lưu Câu ở Bổn Châu. Lúc mới đến, tại chỗ tháp Xá-lợi bỗng thấy có ánh sáng lạ chiếu soi ở đảnh núi phía Bắc chùa suốt đến phía Nam núi, sáng rực như mặt trời lúc sớm mai. Lại đến trong núi Thạch Phật tìm chọn đá làm hộp, mài gọt tô điểm vừa xong, thì trong khoảng thể văn bỗng phát ra vằn lửa sáng hiện núi biển chim thú, vị tiên, v.v… các tướng khắp đầy trong đó. Tuy là đồ họa, nhưng mười mà chẳng tấu trình một.

Về sau, Sư lại tiếp nối hạnh nghiệp trước, giảng dạy khắp chốn kinh hoa, mọi thứ phước lợi có được, Sư đều sung cúng vào chùa Phủ. Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

38- Truyện ngài Thích Tĩnh Ngưng trụ chùa Đại Hưng Thiện ở kinh đô:

Thích Tĩnh Ngưng, là người xứ Biện Châu, là môn nhân của Thiền sư Thiên. Thuở thiếu thời Sư đã được nghe học, bít sâu Tà Chánh. Kinh luật Thập Địa là chỗ Sư chuyên tìm cầu. Về sau, Sư học luận Nhiếp Đại Thừa, thấu cùng sâu mầu, nhưng Sư thường ưa thích Chỉ Quán, bít cửa nghĩ chọn, duyên đến thì giảng, tiếng vang như sấm, sự việc xong rồi trở lại tĩnh lặng, hình dáng như lão già ngu dốt. Mọi việc trong đời Sư chẳng hề nói, mọi người không hiểu cho Sư là hạng ngu kém. Cùng ở chung lâu dài mới biết Sư là người có Đạo. Lại vì hành vi của Sư chẳng theo một nghi thức nào, miệng không nói lời ca tụng hay chia buồn, ngồi im tĩnh lắng dường như không biết nói.

Đến niên hiệu Khai Hoàng thứ sáu (586) đời Tùy, Sư theo Thiền sư Thiên vào Ung Châu trụ chùa Đại Hưng Thiện. Đến niên hiệu Nhân Thọ thứ hai (602) đời Tùy, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Kỷ Châu. Lúc mới đến, thường phát ra ánh sáng mầu trắng như mặt trăng sáng sạch, lần lượt soi chiếu khắp cùng. Và đến ngày hạ tháp, giữa hư không có đàn chim trắng bay liệng quanh trên nền tháp, đến lúc chôn lấp xong xuôi nó mới bay đi. Lại còn có các điềm lành khác, Sư giấu tất cả, chỉ nêu bày một vài điều để biết là điềm chung của bậc Đại Thánh. Ngoài ra đều giấu không có ghi chép. Khi về đến kinh đô, lại bị trách cứ, Sư dùng phương tiện được giải mở. Sau đó không bao lâu, Sư thị tịch.

39- Truyện ngài Thích Pháp Khải trụ chùa Dương Hóa ở kinh đô:

Thích Pháp Khải, là người xứ Tào Châu. Năm mười lăm tuổi, Sư xuất gia, nương theo Ngài HiềnThống ở Tướng Kinh làm đệ tử. Sư học Kinh Niết-bàn, hiểu thông Văn nghĩa. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư bèn chuyên nghiên cứu Luật Tứ Phần. Bấy giờ, Luật sư Huy và Luật sư Vân là những bậc Tông tượng ở tại Tề đô, Sư tìm đến đó trải qua nhiều năm tháng thưa hỏi bẩm thọ, và đều được trao cho áo nghĩa sâu kín không sót lại gì.

Đến lúc nhà Bắc Tề sụp đổ, chánh pháp bị diệt vong, Sư bèn đi về hướng Nam để lánh đến phía nam của Thọ Sơn thuộc Hoài Biểu. Đến lúc nhà Tùy mở thoáng Luật giáo, khoảng đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) mở rộng các Pháp môn, Sư về lại Tào Châu,có ý muốn trọn đời sống ở vùng sông núi, khi sắp đến bờ biển thì các hàng đạo tục cố thỉnh Sư ở lại không chịu để Sư đi về phía Đông. Tánh Sư rỗng lắng bèn đến núi Tả Khâu, cách phía Bắc thành ba dặm, xây dựng một ngôi chùa hiệu là “Pháp Nguyên”, đất cao bằng phẳng, dưới đến tận thành ấp. Mọi người từ phương xa phát tâm đều đến thọ pháp. Chưa được an ổn mà lại đổi dời, được người xưa mến chuộng, lâu ở nơi cảnh trần nhàm chán, không ai chẳng lưu chuyển. Sư bèn vào Quan nội, xem xét phong hóa ở kinh đô, và Sư trụ chùa Dương Hoá mở mang giới luật.

Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đới Tùy, Sư vâng sắc thỉnh xá-lợi đến Tào Châu. Vì nền tảng đầu tiên có nguyên do là muốn báo đáp xứ sở đó nên dâng biểu văn tấu trình xin xây tháp tại chùa Pháp Nguyên. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) không can ngăn mặc tình theo điều Sư cầu thỉnh. Lúc mới đến Tào Châu, kiệu đặt vào trong châu, thì hiện nhiều điềm lành rất tốt, đầy đủ như trong Biệt truyện. Chỉ vì học chưa trải qua, nên khó được biết khắp, vì vậy chĩ ghi chép sơ lược, tưởng chưa lắm phiền nhiễu, mỗi ngày riêng thấy khác lạ, nên kể lại đầy đủ như sau:

“Vào giữa trưa ngày mười bốn tháng ba, thấy pho tượng Phật bán thân, diện mạo trắng như ngọc. Trên đảnh Phật ở trước kiệu Xá-lợi hiện các tia sáng mầu vàng đỏ. Đến tối ngày hai mươi chín trời tuôn rải cam lồ, mùi vị ngọt ngon hơn mật. Lại thấy ánh sáng mầu đỏ soi chiếu khắp trên thành, phút chốc chiếu thẳng đến chỗ tháp. Đến ngày mồng năm tháng tư, Xá-lợi tuôn vọt lên mầu trắng sáng đẹp. Đến giờ thân ngày đó, ngay trên bức màn ở mặt phía Bắc chợt thấy bóng sáng, trong đó có hơi mây trắng, bên trong lại mọc một cây, tướng trạng như cây ngô đồng xanh, phía dưới có sư tử mầu xanh, ngồi xổm mặt xoay về hướng Tây. Đến giờ mão ngày mồng sáu lại thấy có bóng sáng, thấy trong hơi mây có ba hoa sen, nơi hai chái nhà ở dưới hai cây có pho tượng Phật, lầu gác cây rừng nhiều lớp xuất hiện. Phía trên có pho tượng Bồ-tát đứng. Đến giờ thìn lại thấy ánh sáng mầu vàng ròng, ẩn hiện lớn dần. Qua giờ Tỵ, lại thấy lầu gác nhiều tầng, phía trên lầu có cây lá hình dạng như lá cây Bối-đa, bên cạnh có vị Thánh tăng đang đứng. Đến giờ ngọ lại hiện hình ảnh Song Thọ, phía dưới có bảy Đức Phật. Đến giờ Thân, từ nơi song thọ lại thấy một pho tượng Phật, hai vị Bồ-tát có ba cành hoa đỡ dưới chân, lại thấy người, trời cầm hoa giữa hư không, có sư tử vàng v.v… Đến giờ Hợi, phía sau trướng thấy có hình ngàn Đức Phật, xá-lợi trong phòng thất phát ra ánh sáng mầu vàng nhạt. Qua ngày mồng bảy tháng bốn, từ nơi song thọ, lại thấy một con chim sẻ mầu vàng và các ảnh tượng như mây sáng, sư tử v.v… Đến giờ Thìn lại thấy chim cánh vàng, rồng bay, cây rừng, lọng báu v.v… Bên cạnh hóa hiện hai vị Bồ-tát và Sư tử vàng. Đến giờ tỵ, lại thấy cờ báu, rừng cây, phía dưới có Bồ-tát cư sĩ áo vàng, có sư tử mầu trắng ngồi xổm trên đá. Lại có các ảnh tượng hơi mây, rừng cây. Lầu gác, Bồ-tát v.v… Đến giờ ngọ, lại thấy hơi mây mầu trắng, cờ báu, rừng cây, sư tử mầu xanh, đến giờ Thân, lại thấy Song thọ tốt tươi, phút chốc biến thành cung điện lầu các, Đức Phật ngồi trên đài hoa, mầu vàng nhạt. Đến giờ Hợi mây nổi từ hướng Tây Bắc, mưa thấm xuống ba tấc. Phía trên mây có sáu vị trời đồng một lúc hiện thân. Đến ngày mồng tám tháng tư, lúc sắp hạ tháp, từ lúc sáng Đến giờ mão, lại thấy các vị trời, lọng báu, bên cạnh cây có Bồ-tát và Sư tử mầu vàng. Đến giờ thìn lại thấy hai lớp lọng lớn, các thứ vật báu trang nghiêm và sư tử ngồi xổm trên đá. Phía trên màn trướng lại thấy bóng sáng và hơi mây, trong hơi mây có ánh sáng mầu vàng ròng chợt lớn chợt nhỏ, phía dưới có hoa sen lúc nở lúc úp, hoa trời lại tuôn rải như mưa, hoa lớn thì ở giữa hư không, bề mặt rộng hơn một thước, hoa nhỏ rơi xuống đất, tướng trạng như hoa đào. Đến giờ Tỵ, ở phía sau màn trướng, thấy có ba vị trời, ba con sư tử và ao hoa sen v.v… Đến giờ ngọ, lúc sắp hạ, lại thấy nơi song thọ đều có các vị Bồ-tát đứng, Xá-lợi bỗng nhiên phân thành năm viên lưu chuyển ngời sáng, qua ngày mồng chín tháng tư, sau khi khỏa lấp bằng, trên bản ở phía sau màn, trong bóng sáng có nhiều lớp đá nổi các đường vân tự. Lại thấy cây lớn, có vị Sa-môn mặc áo xanh, đứng tay bưng lò hương. Lại cảm có mùi hương lạ, thơm ngát mũi người”. Sư ghi thuật lại đầy đủ để tấu trình. Vua Văn Đế rất vui mừng, ban lệnh vẽ lại đầy đủ các hình ảnh đó, lưu truyền khắp trong nước.

Từ đầu niên hiệu Nhân Thọ (601) đời Tùy, với công việc xây tháp trước sau có hơn trăm ngôi, nhưng cảm ứng tốt đẹp thì không ai cao hơn Sư. Về sau, ngài vẫn duy trì thường nghiệp, và thị tịch tại chùa Dương Hoá.

40- Truyện ngài Thích Trí Năng trụ chùa Chuyển Luân ở kinh đô:

Thích Trí Năng, họ Lý, người ở xứ Hà Nội thuộc Hoài Châu, ý

mong xa rời cảnh trần, buộc tâm nơi Luật giáo. Nhờ nghe mà nổi tiếng, đạo phong trùm khắp Hà Hữu.

Đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, Sư tu đạo tại Vị Âm, tùy vâng phụng mà giúp hạnh, và trụ tại chùa Chuyển Luân. Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, có xây dựng tháp, Sư vâng sắc rước Xálợi đến chùa Thắng Phước ở Thanh Châu. Đặt nơi núi cao, chóp đảnh đến tận trời xanh, cây gió giao kết, nhìn xuống xa cả ngàn dặm. Xưa gọi là Đạo tràng Nham Thế. Vào cuối thời Nguyên Ngụy mới đặt biển ngạch đó. Lúc đầu, ngày Sư đến thiết đặt nền móng, đục núi đào đất vào sâu chừng ba thước, có được một hộp đá xưa, dài chừng tám thước, sâu sáu thước, trong ngoài bằng phẳng trơn nhẵn, sức người chẳng thể chuyển vận, cái gọi là Chí cảm thầm thông, có cầu hẳn ứng. Đến lúc hạ Xá-lợi, bỗng phát ra ánh sáng rực rỡ vượt trội tràn khắp cả núi. Các hàng Đạo tục đều trông thấy, cho đến ẩn hiện lưu chuyển, tướng trạng biến đổi không thể nào nói được.

Sau đó, Sư về lại chùa Chuyển Luân, lại chuyên sùng định nghiệp, rồi nương gá chốn suối rừng, chẳng can dự vào việc chúng tăng, ẩn danh vĩnh viễn. Không biết về sau Sư thị tịch ở đâu.

41- Truyện ngài Thích Đàm Lương trụ chùa Chân Tịch ở kinh đô:

Thích Đàm Lương, họ Lật, người ở xứ Lộ Châu. Năm mười sáu tuổi, Sư xuất gia, chuyên tầm kinh điển. Lúc lớn lên thành tựu đức hạnh, Sư chuyên nghiên cứu luận Đại Trí Độ mà nổi tiếng, kiêm giảng các Bộ kinh nhỏ, dẫn dắt lần lượt các hàng thế tục ở đương thời, chóng phát khởi tâm quy tín. Sư rất được các bậc Hiền giả khen ngợi. Sư vào kinh đô, đi khắp nơi nghe giảng, trụ tại chùa Chân Tịch.

Vua Văn Đế (Dương Khiêm) đời Tùy, ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Khai Tịch ở Hào Châu. Lúc sắp xây tháp, việc trước tiên là làm hộp đá, tại xứ đó chẳng phải là làng núi, nên tìm khắp nơi khó có được. ngài bảo: “Đợi tìm được đá, kỳ hạn khó thành. Chỉ nên phát tâm thù thắng thì duyên gì chẳng đến”. Bèn dốc lòng cầu thỉnh mong được ban cấp. Bỗng nhiên trong châu đó tìm được ba tảng đá, đáy, thùng và nắp mỗi thứ ở mỗi huyện khác nhau, nhưng đem đến hợp lại thì rõ ràng là một vật. Mọi người đều vui mừng lấy làm lạ. Tấu trình đầy đủ về Đài Tỉnh.

Tánh Sư lại rất ưa thích các thứ Dị tích, nên đi khắp để xem. Trong thành Cốc Dương thuộc Tây Bộ ở Hào Châu có ngôi nhà của Lão Quân, nay là miếu thờ, trước sân có hơn ba mươi gốc Bách. Văn Bia do Tiết Đạo Hành soạn. Về phía đông của Miếu hơn trăm bước là nhà mẹ của Lão quân, cũng có nhà miếu, kế đến phía Tây khoảng mười dặm có thành Khổ, mà xưa nay trong các truyện ghi rằng: “Lý Đam là người ở huyện Khổ” tức là đó.

Sau đó, Sư về lại chùa Chân Tịch, chí thành lễ sám, ngoài lúc ăn ngủ ra, Sư thường đối diện trước Phật. Đến đầu thời Tiền Đường, Sư mới thị tịch, thọ hơn tám mươi tuổi.

42- Truỵên ngài Thích Đạo Tung ở kinh đô, đời Tùy:

Thích Đạo Tung, họ Lưu, người ở xứ Hà Giang thuộc Doanh Châu. Năm mười ba tuổi, Sư xuất gia. Đến nghe giảng ở Lạc hạ, thưa hỏi những bậc Minh Triết, suốt ngày nương náu thảnh thơi, thân mặc áo đơn thô sơ, hoàn toàn không chú tâm. Gặp lúc Pháp sư Tuệ Viễn đang giảng các kinh luận, Sư trải qua thời gian đào luyện đượm nhuần, được thấu đạt sâu mầu. Theo ngài Tuệ Viễn đồng vào kinh đô, làm Học Sĩ Mộ Nghĩa, những vị đồng bạn đồng suy tôn Sư là người có đạo tâm.

Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, có xây tháp, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Tô Châu. Khi Xá-lợi sắp đến, nơi giếng nước bỗng phát ra tiếng rống suốt hai ngày mới dứt. Khi đào đất làm nền móng, có được một hộp gạch cổ, bên trong có hộp bạc, được một viên Xá-lợi đặt trong bình nước, xoay nhiễu vòng quanh hiện bày các điềm lành, đồng tôn trí nơi đại tháp.

Sau đó, Sư về lại kinh đô, trụ chùa Tổng hóa, đượm nhuần Pháp vị của Kinh Niết-bàn, y cứ hành trì sám hối, thân giới tâm tuệ đều kính vâng, một bát ba y, ngoài ra không chứa để gì. Vâng hành trải qua thánh hạnh, dứt bặt mọi hiềm tật ở đời. Về sau, Sư thị tịch tại chùa ấy.

43- Truyện ngài Thích Trí Nghi trụ chùa Tỉnh Pháp ở kinh đô:

Thích Trí Nghi, họ Khương, vốn là con cháu của Vua nước Khương Cư. Khi đất nước loạn lạc tổ tiên Sư bèn đi về hướng Đông trở về nước Ngụy, được phong ở Tương Dương, đã trải qua hơn mười đời.

Năm bảy tuổi, khi mới bắt đầu học, Sư tự tìm văn nghiên cứu đến cùng, không thầy chỉ bảo mà tự ngộ. Sư rất mực kính trọng Phật Tông. Ban ngày tuy tạm theo tục duyên, nương theo bạn đồng học, nhưng ban đêm, Sư riêng tụng Kinh Pháp Hoa, cuối cùng Văn nghĩa thuần thục. Mới đầu cha mẹ Sư không hay biết. Đến năm mười ba tuổi, Sư lễ bái xin từ giã, bèn được chấp nhận cho xuất gia. Sư lại thưa hỏi Đại Bộ, dụng tâm càng hiển rõ. Năm hai mươi bốn tuổi, Sư mới thọ giới cụ túc, mang sách đến Lạc Tân, nương tựa tiếp thừa từ Pháp sư Tuệ Viễn và được trao truyền Kinh Thập Địa, Niết-bàn, Sư đều có khả năng giảng dạy. Sau đó, vào Quan nội, Sư trụ chùa Tịnh Ảnh.

Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, xây dựng các ngôi tháp. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Sùng Kính ở Qua Châu. Lúc mới đến sắp đặt nền móng thì có con rồng vàng xuất hiện nơi hồ lớn bên cạnh châu, ngà sừng thân đuôi rõ ràng khắp cả vùng mọi người đều trông thấy, bèn dâng biểu tấu trình lên vua đầy đủ.

Sư trụ tại chùa nhiều năm thường tư duy định tuệ. nếu không phải việc lớn quan trọng thì Sư không bước chân ra khỏi cửa, nên mọi người đến tham hầu ít được thấy mặt Sư. Về sau, lúc tuổi tác càng cao, Sư Tinh tấn Đạo nghiệp, việc tăng trong chùa, Sư đều giao cho nguời khác. Đến đầu thời Tiền Đường, Sư thị tịch, thọ hơn bảy mươi tuổi.

44- Truyện ngài Thích Đạo Nhan trụ chùa Tịnh Ảnh ở kinh đô:

Thích Đạo Nhan, họ Lý, người ở xứ Định Châu. Ban đầu, Sư đến chỗ Pháp sư Tuệ Viễn, tập học các Kinh Thập Địa, Niết-bàn, lãnh hội được then chốt, rất phong phú đầy đủ. Sư thường giảng trao, người học nối nhau, Đạo khai giảng ở Đông Xuyên, mọi người nghe tỏ ngộ không ít. Sau, Sư đến kinh đô, trụ chùa Tịnh Ảnh. Đang lúc ngài Tuệ Viễn đang hưng thạnh ở đời, Sư được tiếp nối đạo nghiệp.

Đến Niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy, xây tháp ở huyện Xích. Vua Văn Đế (Dương Khiêm) ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến Quế Châu. Lúc vừa đến châu, có đàn chim mấy ngàn con bay ngang xếp thành hàng đến đón rước trên kiệu từ chỗ vắng vào đến trong thành, giây lâu mới bay đi. Và đến lúc an đặt, cảm có mây năm mầu kéo dày đặt đến tuôn đổ nhóm họp trên nền. Ngoài ra đều mở thoáng trời trong xanh, sáng rực cả đất trời.

Sau đó, Sư trở lại kinh ấp, thường giữ theo nghiệp trước. Đến đời Đường, thời vận đổi mới, Vũ nội đang còn nghẽn tắc, nên mọi sự thiết lập trai hội, giảng Đạo v.v… lần lượt theo chùa Tịnh Ảnh. Đến niên hiệu Võ Đức thứ năm (622) thời Tiền Đường, vì bệnh nên Sư thị tịch, thọ hơn bảy mươi tuổi. Lúc sắp tịch Sư tắm rửa sạch sẽ, tay bưng lò hương, như thấy được điều gì, và bèn an nhiên thị tịch.

Khi Sư còn sống, thường mặc y phục thô sơ, chẳng vọng theo bạn bè, hành vi đều hợp thời, lánh mọi hiềm tật xấu xa, nói năng thì rõ ràng xét sâu, suy nghĩ thì trái với chúng sinh. Lại cứu giúp các loài súc cầm, từ bi nuôi dưỡng trong tâm. Hơi giẫm qua não hại thì Sư liền rơi lệ, chẳng sao nhãng đối với trẻ nhỏ, chẳng hành động quát rầy, giả sử như chúng có sự khinh thường, thì Sư xem đồng như gió thoảng. Sư thường nhìn các hàng pháp thuộc mà bảo rằng: “Không bao lâu thì đi rồi, sao lại phiền lụy đến mọi người?” Cho nên đối với pháp Vô thường, Sư rất được ý chỉ.

45- Truyện ngài Thích Tịnh Biện trụ chùa Tịnh Ảnh ở kinh đô:

Thích Tịnh Biện, họ Vi, người ở xứ Tề Châu. Thuở thiếu thời, Sư đã từng trải qua Nho môn, nghe giảng đầy đủ Khâu sách. Với Khổng, Mặc, Trang, Lão là chỗ Sư thường tìm học. Bỗng nhiên nhàm chán phù hoa hư giã, nên lắng vết xuất gia. Kinh Luật Sư đều tưởng thưởng, rộng thông sâu mầu. Sau, bị ràng buộc bởi Danh giáo, Sư lại lánh đời vào ở chốn núi rừng, thọ học thiền môn, dứt duyên tĩnh lự.

Đến đầu niên hiệu Khai Hoàng (581) đời Tùy, mở thoáng giáo pháp, Sư bèn vào trụ kinh đô, nương tựa Ngài Viễn Công trụ chùa Tịnh Ảnh, càng tập học Định Cảnh. Sau, Sư lại theo Sa-môn Thiên, thọ học Luận Nhiếp Đại Thừa. Trải qua năm tháng nghiên cứu tìm cầu, bèn kết trọn ở Đạo Nghiệp ấy. Sư từng cùng ban thân cũ vì có sự trái ngược nhau, nên người bạn ấy có lắm lời chê trách. Sư chẳng hề phân trần, đến lúc hỏi, Sư đáp rằng: “Tôi nghĩ bạn ấy lúc đầu kết giao tình vui vẻ như dây đàn, đâu ngờ sau này xa nhau lại bày ra lỗi ấy!”. Người đương thời đều cho đó là sự cao thượng của Sư.

Sau đó, Vua Văn Đế (Dương Khiêm) đời Tùy ban sắc thỉnh Sư đưa Xá-lợi đến chùa Nhạc ở Hành Châu, chùa ấy vốn hiệu là “Đại Minh”, do Vua Tuyên Đế (Trần Húc 569-583) đời Trần vì Thiền sư Tư mà xây dựng. Sư vừa đến Giang Lăng, sóng gió chập chùng ngăn trở, suốt ba ngày phải dừng nghỉ nơi bến, sóng vẫn chưa yên tĩnh. Lại bức bách qua lộ trình, lo sợ không phương kế bèn nhất tâm niệm Phật, vượt qua sóng gió mà thẳng tới, liền được gió ngưng, an ổn theo dòng men xuống. Khi đã vào sông Tương phân dòng rất khó khăn, Sư lại y theo trước mà xưng niệm, căng buồm nhanh chóng vượt qua. Chưa đầy nửa tháng, đã đến được Hành Châu. Khi đến chùa Nhạc, nương tựa sông nước không kham, men theo đường núi, dừng ở nơi bằng phẳng, có thể xây tháp. Ở phía Nam chùa có tảng đá nằm úp. Sư bèn bưng lò hương phát nguyện rằng: “Nếu có thể xây dựng tháp thì xin nguyện hiện điềm lành”. Bèn thấy trên đảnh núi có mây trắng từ trên bủa xuống, rộng khoảng một thất, dài bốn mươi dặm, đến chỗ tháp xoay quanh ba vòng, lâu sau mới tự hết. Lại cảm có thứ hương lạ, hình dáng như tước trầm, thâu nhặt được vài cân,hơi khói gấp bội khác thường các thứ hương ở đời. Các hàng đạo tục đều khen ngợi vui mừng. Nhân đó mà xây dựng hoàn thành.

Lúc đầu, tại chùa đó, có Thiền sư Tăng Khải là người tinh thông, trông coi tất cả chúng tăng, Sư có một viên Xá-lợi, rất muốn xây dựng một ngôi tháp lớn, tôn trí trong chùa trải qua mười năm mà chưa từng có tướng gì đặc biệt, đến nay. Ngài Tịnh Biện rước Xá-lợi đến, mới hiện khởi điềm ứng. Có các mầu vàng trắng, lớn nhỏ tan tụ bất định. Và ngay trong ngày đó, nơi tháp chùa Hiển Minh thuộc huyện Hành Sơn phát ra ánh sáng rực rỡ soi chiếu khắp cùng Thành Ấp, các hàng Đạo tục đều trông thấy. Các vị Cổ Lão tương truyền rằng: “Chùa ấy xây dựng đến nay đã hơn ba trăm năm, hễ có việc lành thì phát ra ánh sáng. Đến nay đã ba lần. Nếu chẳng phải Đế vương tạo ra phước nghiệp thì nghĩ đồng với chúng, việc chiêu cảm thấy, được thật có nguyên do”. Sư vui mừng với các điềm lành ấy, tập hợp mọi sự nghe thấy trước sau làm thành một bộ Truyện “Cảm Ứng” gồm mười quyển. Sau, hưng khởi Thiền định, lại thỉnh Sư đến trụ chùa (Hiển Minh) ấy.

Vào những năm cuối niên hiệu Đại Nghiệp đời Tùy, Sư thị tịch.

Thử Luận Bàn:

Phàm ngâm reo cổ xúy gió mây, luật điệu chung cho mưa nắng, vật lý gặp nhau có như tự trời, huống gì Thần Đạo huyền mưu, nghĩa trái thường ứng mà có thể suy nghĩ được ư? Nên những Bậc Thánh vì lợi ích, tạm bày các đường khéo léo để nhiếp sinh, vì đôn đốc hàng sơ tín hiện ánh sáng mà trao truyền vật. Tâm ở tại Ngộ tông, Đạo quy mô đã mở rộng, công lao dắt dẫn không rơi lạc. Còn như lẫn lộn nhỏ lớn chẳng phải có, đều là Bỉ ngã nơi thường nghi, ngang bằng sắc tâm với tánh không, dứt bặt hình hữu trôi lăn, u thông mà mở mang hoằng hóa cội gốc, cực biến để thấu đạt nguồn thần. Chẳng được như thế thì khó mở mang, trước dùng oai quyền mà khơi động, sau dùng lời tiến để dẫn dắt. Xoay chuyển phát khởi niềm tin do nhờ khơi mầm dần. Vào thời Tượng Mạt ghét ganh, giáo pháp dần sụp đổ lìa tan, thần lực lắng dòng, cảm thông dứt bặt. Ở đời Thạch Lặc, Thạch Hổ, mà ngài Phật Đồ-trừng được nêu danh. Đến thời Tiêu Diễn (Vua Võ Đế-thời Nam Lương ), mà ngài Chí Công nêu đức, đầy đủ các ghi chép mà chưa dám rõ ràng. Khoảng đời mờ tối trần tục, tình nhiều phù lạm. Lúc bày linh tướng hoặc thêm trang sức, xét kiểm bổn cứ chóng rơi lạc dâm tà. Lời đồn yêu dị ngùn ngụt như rừng, luận bàn đúng sai tợ ong vỡ tổ. Còn như Bồ-tát Quán Âm cứu giúp, tin mà có xác chứng. Đức Đại Thánh thông mộng hoa thật cùng một nửa. Cho nên gá sự gần gũi, mịt mờ khó khỏi, nói ý không liên can, ngoài ra là mong cầu tưởng tượng, thật giả ngầm duyên, cho nên có được luân hư chỉ. Nhân đó để mà nói thì rất có lý do. Viên Thông đi đến chùa Thánh, Chiêu Đạt giẫm tới cung tiên, rất đáng tin lời ấy mà khó thấu cùng sự việc ấy. Đầu mối của truyện trước, Bồng lai không trái Bỉ lệ. Xưa kia, hiển tông thông cảm, khai mở nền tảng của huyền hóa. Pháp vốn nội truyền đầy đủ bày ứng của Linh thông. Hoặc nhảy lên hư không mà hiện tướng kỳ đặc, hoặc phát ra ánh sáng mà hiện điềm lành, có tướng tốt lành ở đời Tấn mà lẫn lộn đến đây. Ngài Đàm Dực cảm tháp của Vua A-dục, ngài Đào Khản gặp được Bồ-tát Văn-thù, từ đó về sau phồn hoa khó trình bày đầy đủ.

Vào niên hiệu Nhân Thọ (601-605) đời Tùy xâ dựng nhưng ngôi tháp cao lớn, vọt hiện các điềm lành rất nhiều, ánh sáng thần soi chiếu khắp mọi vật, đến nỗi đượm nhuần cùng khắp các thứ bệnh tật dịch lệ. Hoa trời và Cam Lộ đồng tuôn rải, linh chi lẫn nai lành đều hiện bày. Vân du giữa hư không Tiên Thánh nhóm sương mù cùng đến, loài thủy tộc rùa cá xếp thành hàng ra nghe. Có hơn trăm ngôi tháp thảy đều đủ sự ngầm thông. Vua tôi cùng vui mừng, tăng tục đều hân hoan. Đức ấy vẻ vang sáng ngời không thể thêm. Nhưng vào năm ấy ở đời hoặc rơi lạc lưu ngôn, thói quen thế tục thường bàn về năm thứ phước, hân hoan được thọ khảo, thần thông, đạt mạng. Ba thứ sợ ấy là chỗ mở mang của Quân tử. Đến thời Vua Dương Đế (Dương Quảng) đời Tùy, đúc nắn ở Cao Dương, mở ra khuôn phép, bắt mới đầu hình tượng ấy, trên đảnh nhóm kết búi tóc, thân phát ra ánh sáng mầu vàng tím. Ánh sáng linh thiêng soi chiếu khắp, phô bày năm mầu hiếm lạ. Hoa tốt lành đầy khắp sân, mở tướng khác biệt của sáu thể. Trên dưới đồng an thái, không đức nào sánh bằng, bèn ban sắc chiếu Đồ họa đó để ban khắp các quận trong nước. Nghĩa đáng hưởng ân dầy ấy, đội phước Vô Cương. Di quyết Tông Xã bền chắc như núi. Sau đó lại giặc giã đói kém nối nhau, khắp vũ nội đổ nát. Mất thời gian, tan ngôi báu, cuối cùng sự chết đến thân. Gồm rõ trọn xưa, năm vận đều đưa đẩy đổi dời. Gần thì dùng tình tìm cầu họa phước, mê lầm sự cậy phục ấy.

Lại như Thánh Mẫu lên cõi trời, công cao bèn khắp, Luân Vương xây tháp mà họa đến khi sắp qua đời. Làm sao rõ được việc ấy ư? Tin do Nghiệp mạng mỏng dày nên cảm Quả báo có tốt xấu, đâu thể dùng tai mắt của người thường mà xa trù tính Đạo của ba đời ư? Như làm lời của Bốc Thương giả nghị, là trước luận của Ban Bưu Lý Khương, chỉ biết lẫn lộn mà gọi đó là Mạng, chẳng biện rõ Mạng vì sao như vậy, đâu khác gì thấy lưới tròn nơi rương tráp mà không biết nó được thành từ khung dệt. Thấy trăm thứ lúa nơi kho lẫm mà chẳng biết nó có được là do từ cấy cày, gặt hái. Điều Nho giáo gọi là mạng thì Phật giáo gọi là Nghiệp. Mạng lệ buộc bởi nghiệp, nghiệp hệ thuộc từ tâm. Tâm phát sinh đó đã lắm thứ sai biệt, nghiệp thành nên cũng không chuẩn định. Do đó, những bậc Khai sĩ thấu đạt về Mạng Nghiệp, biết quả báo đã thành thục nên không trốn tránh. Sư thường mê lầm nhân quả, cho là nói suông mà không ứng, cho nên Mã Thiên than rằng bố thí là sai lầm, chứa nhóm nghi ngờ mà chẳng thông, Phạm Bàng lầm tuyên thiện ác, ngậm tình mà không sao mở giải. đó đều là những kẻ trông thấy dòng mà không tìm xét đến nguồn, chỉ thấy một mà không biết hai. Xem xét Hoằng Giáo của Thích Môn đâu lại đắm chìm trong lưới ấy ư? Tạo nghiệp có muôn mối, cảm báo có muôn manh. Hoặc trước thiện sau ác nên có được trước tốt tươi mà sau xấu kém. Hoặc tốt xấu lẫn lộn cùng khởi, nên họa phước đồng một lúc cùng tới. Chì có Sắc là một, bình đẳng về hình về mặt khác nhau và khác nhau, chỉ có tâm là một, ngang bằng trăm hóa mà không chuẩn định. Nên Vô học hoặc Nghiệp dứt ngay đời nay, nghiệp xưa hết ở đời hiện tại, có buộc cảm do bởi đã đến thọ Báo, chưa dừng ở thời nay. Nên ngài Xá-lợi-phất là người thông minh ngộ lý mà thường bị tật não, ngài Mục-kiền-liên là người đạt sĩ oai hùng, song lúc qua đời vẫn bị buộc ràng nát thân. Đức Thích Tôn là bậc Chí Thánh chịu đựng lời Phỉ báng ở Kỳ Viên. Vương tử bị dèm pha giữa chúng thanh tịnh. Nho Tông bặt hết gạo thóc nơi Trần Nhưỡng, Nghiêu Thang gặp biến tại Trung Nguyên. Tuy tướng Huyền Sách hoặc trái mà duyên của Nghiệp Mạng không sai lầm. Vậy đủ biết ngôi báu của các Vua Văn Đế (Dương Khiêm 581-605) Dương Đế (Dương Quảng 605

-617) đời Tùy, phước xưa chung kết ở đời nay. Và đời nay tôn kính tạo dựng tháp tượng là hạnh nghiệp tạo khởi cho tương lai, giao vận cùng gieo. Không biết nhân nào đưa đến chiêu cảm, tùy gặp hai gương soi, thông mạng đâu ở tại đó? Lại như ngài Pháp Tế đến nơi cung sâu, nhờ Thần chú mà tiêu trừ tai ương, ngài Pháp An ở chùa Tuệ Nhật nhờ chẻ đá mà có dòng suối chảy. ngài Chuyển Minh vượt cự tẩm, ngài Thông Đạt tắm nước đun sôi, Quỳnh Công báy lạy mà tà tượng sụp đổ. Đạo Anh thị tịch mà đất liền rung chuyển. Các đức hạnh ấy rất nhiều và đồ chúng các ngài cũng rất đông.

Đã nói là Thần hóa, thì hẳn không thể lấy nguyên do từ trước đến nay mà phỏng theo, liền tiếp nối trong thiên chương, biết tăng luân khó tình cợ được gặp.

TỤC CAO TĂNG TRUYỆN

Quyển 26 C hết

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.