Thích Chúc Hiền

Phật Nói Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi

Việt dịch: Thích Chúc Hiền

 

Chính tôi nghe như vầy! Một hôm Đức Phật ở giữa hai cây Sa-la, bên bờ sông Bạt-đề. Ngài độ cho nguời đệ tử cuối cùng là Tu-bạt-đà-la xong. Khi đó,Các đại Bồ-tát, các đại đệ tử Thanh Văn, các đại Phạm Vương cùng trời, rồng, quỷ thần, các Quốc Vương.v.v…tất cả chúng sanh, ai nấy đều trang nghiêm, không tán loạn. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo đại chúng: “ Đại-bát-niết-bàn đã nói xong,truớc đó, ta đã nói rõ muời phương các cõi nuớc Phật cho Bồ Tát Phổ Quảng. Giờ đây, trong chúng đây, các ngươi có điều gì còn nghi ngờ thì hãy mau hỏi. Pháp báu vô thuợng không bao lâu sẽ diệt.

Bấy giờ, nghe Đức Phật nói lời ấy, cả đại chúng không nén đuợc cơn xúc động, buồn tủi than khóc, chỉ có các bậc chứng đắc, giải thoát thì không còn vướng mắc đau buồn. Khi đó, trong chúng có một vị Bồ-tát tên là Thuờng Thí, nương vào oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chấp tay, huớng về Phật mà thưa rằng: “ Thưa Đức Thế Tôn!Có điều con muốn hỏi nhưng sợ làm phiền lòng Ngài, xin Đức Như Lai không cho đó là lỗi !” Phật bảo Thuờng Thí: “ Như Lai đã độ tám pháp ở thế gian, cần nghi ngờ gì?”. Bồ Tát Thuờng Thí cung kính thưa Phật rằng: “Thưa Đức Thế Tôn Như Lai! Vào đời sau, tất cả chúng sanh không còn nhìn thấy sắc thân của Đức Như Lai, không còn nghe giáo pháp chân thật. Vào đời vị lai, thời kỳ tuợng pháp, Pháp lành càng ngày càng suy yếu, Pháp ác càng ngày càng mạnh mẽ, lúc đó, nên dạy cho chúng sanh làm phuớc đức gì tốt nhứt?” Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Thuờng Thí rằng: “ lành thay! Lành thay! Thật rất đáng xót thương cho chúng sanh ở đời sau. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh siêng năng khổ nhọc tu hành mà không gặp đuợc chánh lý, làm phước nhiều nhưng được phước báo rất ít.”

Này thiện nam tử! Trong đời vị lai, các tỳ kheo, tỳ kheo ni, Phật tử nam, Phật tử nữ, vua chúa, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn.v.v… mà khinh rẻ giáo pháp ta, không có lòng chân thật kính tín Tam Bảo thì dù cho có làm phước thì cũng chỉ khéo cầu danh, cầu lợi, cầu hơn nguời khác mà thôi. Vì vậy, họ không có một tâm niệm xuất thế.

Này thiền nam tử! Vào đời vị lai,trong thời tượng pháp, xảy ra vô số các việc tai ương, xấu ác. Vì sao? Vì tất cả Tăng tục không biết luật lệ, phép tắc. Đàn việt thì mở hội thỉnh Tăng,nhưng lại sai nguời gìn giữ cửa nẻo, ngăn tỳ kheo không chấp nhận vào hội, hoặc giả có nguời nghèo cùng muốn vào xin ăn cũng không cho. Mở hội như thế chỉ là để ăn uống, chứ hoàn toàn không có phuớc lành gì. Lại có chúng sanh chỉ muốn riêng mình làm thiện mà không giáo hóa cho chúng sanh khác(tr5), thấy nguời khác làm thiện không chịu vui theo trợ giúp ít nhiều, bọn nguởi như thế phước đức kém cõi.

Lại có chúng sanh thấy chùa, tháp, hình tuợng cũ , cho đến kinh điển hư hoại cũng không chịu sửa sang, cho rằng đó chẳng phải do ta tôn tạo truớc kia nên đầu cần sửa chữa làm gì, thà rằng tự mình tạo dựng cái mới. Này thiện nam tử! Tạo dựng cái mới phước đức không bằng tu sửa cái cũ, tu sửa cái cũ phuớc đức rất nhiều.(tr-6)

Lại có chúng sanh thấy nguời khác gôm nhóm làm các việc phước lành, do vì muốn mình cũng được nỗi tiếng, nên đem gia sản ra để bố thí. Còn đến khi thấy nguời nghèo cùng, hay người già cô quạnh không nơi nương tựa đến xin thì lại mắn chửi, xua đuổi, không hề có một mảy may cứu giúp. Các chúng sanh như thế là do vì danh tiếng làm điên đảo mà làm thiện hay vì danh tiếng làm cho si cuồng mà tu phuớc, chứ không phải thực sự làm phuớc. Nguời như thế thật đáng thương xót! Sử dụng tài sản thật nhiều mà đuợc phuớc đức rất ít.

Này thiện nam tử! có lần ta bảo với đại chúng rằng: “Nếu có người ở trong A-tăng-kỳ, đem thân cúng duờng muời phương các Đức Phật, các vị Bồ-tát, và các vị Thanh Văn thì không bằng có người đem cho loài súc sanh một bữa ăn uống, phước của người này hơn nguời kia gấp vô luợng vô biên trăm ngàn vạn lần.

Này thiện nam tử! Trong các Kinh điển ta đã đề cập đến việc bố thí là muốn cho người xuất gia, tại gia tu tập tâm từ bi. Bố thí cho nguời nghèo cùng túng thiếu,nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, hay kể cả bố thí cho loài chó đói. Các đệ tử của ta không hiểu ý ta nên chỉ chuyên bố thí kính điền mà không thí bi điền. Kính điền tức là Phật, Pháp, Tăng.(tr_8) Bi điền chính là những nguời nghèo, nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, cho đến loài kiến. Hai loại ruộng phuớc này, thì Bi điền là hơn hết.

Này thiện nam tử! có nguời từ khi sanh ra cho đến lúc về già, suốt đời đem tài vật làm việc bố thí, lại có nhiều người không giống nhau, nghèo giàu sang hèn, hoặc tăng hoặc tục cùng tương trợ muốn giúp đỡ nguời khác nên thuờng xuất ra rất ít tiền của, gôm tập một nơi, tùy nghi bố thí cho nguời nghèo, nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, hay nguời bị bệnh tật hiểm nghèo thì phuớc đức ấy rất lớn. Giả sử không có của bố thí nhưng trong từng tâm niệm muốn bố thí thì cũng được công đức không thể cùng tận (tr-9). Còn như chỉ riêng mình hành bố thí thì phuớc rất ít.

Này thiện nam tử! Trong đời vị lai, các đệ tử của ta thuờng ưa thích y phục đẹp, ăn những món ăn mùi vị ngon, ham cầu lợi duỡng, chất chứa tham lam, không tu tâm từ, chuyên làm việc sân giận, thấy nguời khác làm việc thiện ganh ghét cơ hiềm.

Tóm lại, những nguời ấy thuộc về tà mạng, dối gạt để mưu cầu danh lợi, nếu thấy có người bố thí cho nguời nghèo cùng xin ăn, thì sanh lòng sân giận, nghĩ như vầy. Nguời xuất gia đâu cần bố thí, chỉ tu thiền định, trí tuệ (tr-10), đâu cần làm những việc rối rắm vô ích. Nghĩ như vậy là quyến thuộc của ma. Nguời ấy mạng chung rơi vào địa ngục chịu khổ vô cùng, từ địa ngục ra lại rơi vào hàng ngạ quỷ thọ khổ không cùng. Từ ngạ quỷ ra, 500 đời sanh làm thân chó, thoát đuợc kiếp chó, 500 đời thuờng sanh vào chỗ nghèo hèn, luôn bị bệnh hoạn, đói khổ bức bách, không có lúc nào tâm được thong thả tự do. Vì sao? Do vì khi thấy nguời khác bố thí không sanh lòng tùy hỉ.(tr-11)

Này thiện nam tử! Ta nghĩ nay ta sỡ dĩ được thành Phật là do trải qua vô số kiếp làm việc bố thí, giúp đỡ các chúng sanh nghèo cùng khốn khổ. Muời phương chư Phật cũng từ bố thí mà đuợc thành Phật. Thế nên, trong hầu hết các kinh đều nói sáu Ba-la-mật thì bố thí là đứng đầu.

Này thiện nam tử! Ví như có người bị cụt hai chân, dẫu muốn đi xa cũng không thể đi đuợc. Tỳ kheo cũng như thế.(tr12) Dù trải qua hằng sa kiếp tu năm Ba-la-mật mà không tu bố thí thì cũng không đến được bờ bến bên kia Niết-bàn.

Này thiện nam tử! Không hành bố thí thì giới không thuần, giới không thuần thì không có tâm từ bi, không có tâm từ bi thì không thể nhẫn nhục, không nhẫn nhục thì không tinh tấn, không tinh tấn thì không thiền định, không thiền định thì không có trí tuệ, không có trí tuệ thì thuờng bị vô luợng khách trần làm cho phiền não. (tr13)

Này thiện nam tử! Pháp môn bố thí này ba đời chư Phật đều kính trọng. Thế nên, trong tứ nhiếp pháp(1) thì tài nhiếp (bố thí nhiếp) là hơn hết.

Này thiện nam tử! Ta có lúc khen ngợi trì giới, có lúc khen ngợi nhẫn nhục hoặc có lúc lại khen ngợi thiền định, hoặc có lúc lại khen ngợi trí tuệ, hoặc có khi khen ngợi hạnh đầu đà, hoặc có khi khen ngợi hạnh ít muốn biết đủ, hoặc có khi khen ngợi hàng Thanh Văn, hoặc có khi khen ngợi Bồ-tát. Đó là do tuỳ theo căn cơ của chúng sanh không đồng. (tr-14) Các ác tỳ kheo trong đời vị lai không hiểu ý của ta nên đều chấp ngã, từng thấy tuớng đó.Người như thế là phá hủy Pháp ta. Các ác tỳ kheo cũng ngồi diễn nói kinh pháp nhưng không thấu hiểu được thâm ý của ta, theo văn, chấp nghiã trái với chơn pháp thật tuớng vô thuợng, miệng thuờng tự khen nghiã lý mình nói điều hợp với ý Phật. Còn các Pháp sư khác thì dối làm mê hoặc Tăng tục. Nguời nói lời như thế mãi chìm trong biển khổ. Các ác tỳ kheo thấy các nguời khác tu thiền định thì lại nói rằng nguời này ngu si, giống như cây khô, không biết kinh luận nào để tu hành. Người nói lời ấy mắc phải tội báo trong nhiều kiếp. Các ác tỳ kheo vì danh lợi, cho nên luân phiên hủy nhục nhau, các ác tỳ kheo hoặc tu phước mà không nương vào kinh luận, tự theo tư kiến lấy trái làm phải, không phân biệt được tà chánh, huớng vào khắp Tăng tục mà nói lời rằng: “Thấy biết của ta là đúng”. Nên biết rằng người ấy chóng làm tiêu diệt giáo pháp ta. Các ác tỳ kheo cũng trì luật, nhưng, đối với tạng luật không thông hiểu nghiã lý sâu mầu, mà còn nói lời như vầy(tr-16): “Trong tạng luật, Đức Phật chấp nhận cho ăn thịt.”

Này thiện nam tử! Nếu ta giải nói nghiã ăn thịt là điều mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát điạ hạ còn mê mờ. Vì thế,Tỳ kheo phàm phu nghe vậy đem lòng chê bai. Tạng Luật chấp nhận việc ăn thịt là điều không thể nghĩ bàn. Này thiện nam tử! Ta từ khi mới thành đạo cho đến nay, có các đệ tử nơi nơi nhận ăn thịt. Người phàm phu thật sự thấy ăn thịt, lại có chúng sanh thấy các tỳ kheo thị hiện ăn thịt(tr-17). Lại có chúng sanh khi biết các tỳ kheo ăn thịt nhưng vào sâu vô luợng các các môn đối trị, vô luợng tỳ kheo đoạn thuợng phần phiền não(1), vô luợng tỳ kheo đoạn trung phần phiền não, vô luợng tỳ kheo đoạn hạ phần phiền não, độ thoát vô luợng chúng sanh, khiến vào Phật đạo. Việc giáo hóa của Như Lai không thể nghĩ bàn. Ta từ khi thành đạo cho đến nay, các đệ tử của ta chưa từng ăn thịt chúng sanh. Ta ở trong tạng luật chấp nhận ăn thịt(tr-18) là vì nhất định biết thịt ấy không từ bốn đại sanh, không từ thai sanh, không từ trứng sanh, không từ nơi ẩm thấp sanh, không do biến hóa sanh, cũng không hợp với thức, không hợp với mạng. Nên biết thế gian đều không có thịt này.

Này thiện nam tử! Các ác tỳ kheo trong đời vị lai ở các nơi giảng nói kinh luật, theo văn chấp nghiã, không biết những điều sâu kín ẩn tàng của Như Lai nói.

Này thiện nam tử! Đức Phật thị hiện ở đời mà khiến các đệ tử ăn thịt chúng sanh thì (tr-19) thật ra không có điều đó. Nếu ăn thịt thì sao gọi là bậc Đại Bi. Này thiện nam tử! Nay trong Pháp tịnh này có số chúng nhiều vô luợng nhưng mỗi nguời đều có cái nhìn khác nhau. Có nguời thấy Như Lai vào Niết-bàn, có nguời thấy Như Lai trụ một kiếp, có nguời thấy Như Lai trụ vô luợng kiếp, có nguời thấy Như Lai có thân cao sáu truợng, có nguời thấy thân nhỏ, có nguời thấy thân lớn, có nguời thấy báo thân ngồi trên biển Thế Giới Liên Hoa Tạng, hóa ra ngàn trăm ức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp môn tâm địa. Có nguời thấy pháp thân đồng với hư không, không phân biệt, vô tuớng, không có ngăn ngại trùm khắp pháp giới.(tr-20) Có nguời thấy đất rừng Sa-la chỗ này đều là đất cát, cỏ cây, đá sỏi. Có nguời thấy chỗ này là vàng bạc bảy báu thanh tịnh trang nghiêm. Có nguời thấy chỗ này là chỗ tu hành của bà đời chư Phật. Có nguời thấy chỗ này là cảnh giới không thể nghĩ bàn của chư Phật.

Này thiện nam tử! Chư Phật ra đời, du hoá, dừng trụ mọi nơi thảy đều xa lìa tuớng thế gian, cũng không lìa thế gian mà hiển bày pháp thật tuớng. Giáo pháp của Đức Như Lai gồm thâu vạn Pháp (tr-21). Khi Đức Phật diễn thuyết một chữ, một câu, một tiếng có thể khiến cho tất cả chúng sanh tùy theo căn tánh chủng loại mà hiểu khác nhau. Pháp bất cộng của Như Lai chẳng phải là chỗ hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Như Lai dùng sức tự tại tùy theo căn cơ trình độ mà giáo hóa chúng sanh. Vào thời tuợng pháp, các ác tỳ kheo không hiểu ý ta, chấp vào sở kiến của mình mà diễn thuyết mười hai thể loại kinh (tr-22) Theo văn lấy nghiã tạo nên thuyết nhất định. Nên biết nguời này làm oan cho ba đời chư Phật, chóng làm tiêu diệt giáo pháp của ta. Này thiện nam tử! Các Đức Phật thuyết Pháp thường y vào hai Đế ( tục đế và chơn đế ), chỉ gần để nêu xa, mượn hình tuợng để hiển bày nghiã lý sâu mầu. Các ác tỳ kheo ở nơi nghiã này không thể hiểu rõ, bài xích không tin, theo tướng lấy nghiã nên phải chịu tai ương nhiều kiếp. (tr-23) Các tỳ kheo này cũng lại tự xưng là Pháp sư, ta là Luận sư, ta là Thiền sư, chính ba hạng học nhơn này làm tiêu diệt Pháp ta chứ không phải nguời nào khác. Ba hạng nguời này đua nhau nói lỗi, đua nhau bài xích. Ba hạng nguời này sa vào trong địa ngục giống như tên bắn.

Bấy giờ, Bồ Tát Thuờng thí cung kính thưa Phật rằng: “ Thưa Đức Thế Tôn! Các tỳ kheo đó khi nào mới thoát đuợc?”. Này thiện nam tử! Sau khi ta diệt độ khoảng ngàn năm Pháp ác dần dần dấy khởi.Sau một ngàn một trăm năm, các ác tỳ kheo, tỳ kheo ni đầy khắp Diêm phù đề, nơi nơi sung túc, nhưng, không tu đạo đức, đa số cầu tài vật, chuyên hành phi pháp, phần nhiều nuôi tám vật bất tịnh, chính họ không đủ mười đức mà nuôi hai hạng Sa-di ( Sadi và Sa-di ni), chính họ chưa đầy mười hạ lạp mà độ nguời làm Sa-di.Vì nhân duyên ấy, khiến cho mọi nguời thế tục coi rẻ Tam Bảo. Từ đó về sau, tất cả Tăng Tục đua nhau cất tháp xây chùa đầy khắp thế gian, chùa tháp, hình Tượng nơi nơi đều có, còn như ở núi sâu, đồng vắng hoặc ở ven đuờng, hoặc hang cùng ngỏ hẻm, những nơi xú uế, bị hư sụp đổ nát thì không người sửa chữa. Bấy giờ, Tăng Tục dù có xây chùa cất tháp cúng dường Tam Bảo, nhưng không sanh lòng cung kính, thỉnh Tăng đến ở Chùa nhưng lại không cúng dường cơm nuớc, y phục đồ nằm, thuốc thang, trái lại mượn cớ lấy xin đồ ăn của Tăng, không sợ một mai rớt vào ba đuờng khổ. (tr-26) Bấy giờ, hết thảy người tục, bất luận sang hèn chỉ muốn trong Tăng làm điều bất lợi, xâm tổn não loạn, không muốn ủng hộ. Bọn người như thế mãi đọa trong tam đồ.

Này thiện nam tử! Ở đời vị lai, hết thảy quan lại thế tục không tin tội phuớc, đánh thuế cuớp đoạt Tăng vật, hoặc thuế súc sanh, lúa gạo, kể cả vật nhỏ như tơ hào cũng đánh thuế nốt, hoặc sai sử những nguời phục vụ Tam Bảo, hoặc cởi trâu ngựa của Tam Bảo. Theo phép hết thảy quan lại thế tục không đuợc ức hiếp đánh đập súc sanh, cũng như những nguời phục vụ Tam Bảo, cho đến không được nhận sự lễ bái của nguời phục vụ Tam Bảo(tr-27)Nếu nhận sự lễ lạy đều bị tội họa, huống gì xua đuổi đánh đập. Báo cho các quan lại rằng nếu có thâu thuế thì hãy đề phòng lưới sắc, cẩn thận đừng thâu thuế tỳ kheo. Nếu ham thâu thuế nguời xuất gia thì chịu vô luợng tội lỗi. Này thiện nam tử! Đương thời, tất cả Tăng tục nếu gieo tạo phuớc lành thì nên bố thí cho những nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, những nguời bần cùng đau ốm. Kế đến nên sửa chữa chùa tháp, hình tượng bị hư hoại, bất luận của mình hay của nguời (tr-28) tùy theo khả năng mà sửa chữa, thì công đức nguời đó không thể nghi bàn, chỉ nên sửa cái cũ, không cần tạo thêm cái mới. Này thiện nam tử! Vì cớ gì mà vào đời vị lai tất cả nguời tục coi rẻ Tam Bảo? Chính vì tỳ kheo, tỳ kheo ni không như Pháp, thân mặc pháp phục mà coi thuờng đạo lý, duyên vào trần tục, hoặc mua bán nơi chợ búa để làm kế sống, hoặc dong ruổi đó đây để buôn bán cầu lợi, hoặc làm nghề họa sư vẽ vời tinh xảo, hoặc coi tuớng nam nữ tốt xấu, ăn uống ca múa say sưa, bấn loạn, sáng tác âm nhạc, hoặc chơi vi kỳ(1), (2) lục bát.

 

Hoặc có tỳ kheo nói Pháp để mong cầu được ý người, hoặc tụng chú thuật để trị bệnh cho người khác, hoặc tu thiền nhưng không thể tự nhứt tâm đuợc, dùng pháp tà định xem coi tốt xấu, hoặc châm cứu, bốc thuốc để mong cầu áo mặc cơm ăn. Vì nhân duyên đó, khiến cho nguời đời đâm ra không kính trọng, chỉ trừ các vị Bồ Tát làm lợi ích cho chúng sanh.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “Này thiện nam tử!(tr-30) Vào đời vị lai, trong hàng tăng tục, có những người tạo lập hình tuợng ta và hình tuợng các vị Bồ Tát rồi đem bán mua đổi lấy tiền của để làm mưu kế sinh nhai, hết thảy Tăng tục không biết tội phuớc, bán mua hay nhận sự cúng dường cả hai đều mắc tội lỗi, trong năm trăm đời, thường bị nguời khác bán mua. Nầy thiện nam tử! Vào đời vị lai tất cả chúng sanh tạo lập hình tượng, đều không thành tựu đầy đủ các tướng tốt, hoặc tạc tượng bán thân, hoặc tạc tượng không đầy đủ tay chân, tai, mũi, mắt, miệng đều không giống, hoặc chỉ ảnh huởng sơ sài mà thôi, hoặc tạo chùa tháp mà không an trí hình tuợng. Nếu có chùa tháp, tượng Phật hư hoại thì không tu sửa. Bọn người như thế mắc vô lượng tội. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, các tỳ kheo.v.v… chỗ ở tự cùng nhau xuớng chế, ngăn cấm Tăng bốn phương, hợp làm hạn định bửa ăn, hoặc một ngày, mười ngày, hoặc năm, bốn, ba ngày, thậm chí một bửa. Các tỳ kheo ấy mạng chung đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chịu khổ vô cùng.

Lại có tỳ kheo hoặc sa-di lấy đồ vật của chúng Tăng coi như mình có, tỳ tiện lấy dùng(tr-32),hoặc cùng bè bạn ăn uống phi thời.

Các tỳ kheo, sa-di ấy nhẫn đến một ngàn Đức Phật ra đời, họ mãi mãi không được nghe Pháp, thường qua lại trong Tam đồ, không thể sám hối.Nếu cùng với nguời ấy ở chung, làm các việc tác Pháp yết ma, Bồ Tát đều không thành tựu, đều phải mắc lấy tội báo.

Này thiện nam tử! Nếu có nguời phạm đủ bốn trọng, năm nghịch còn dễ cầu Sám hối, còn như xâm tổn một mảy tơ, một hạt gạo, ăn uống phi thời, tự do lấy dùng thì mãi chìm trong biển khỗ, không khi nào ra. Hoặc hiện đời chịu các suy não, nếu cùng nguời ấy ở chung, đem ngày mắc tội. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai có những nguời đời không biết tội phuớc, vì cha ông hoặc bản thân mình mà tạo tượng Phật, kinh sách, tràng hoa đem bán cho nguời khác để nuôi vợ con thì không nên mua.(tr-34)

Khi ấy, quan lại nguời có thế lực bắt được người đó cần phải trừng phạt nặng nề, đuổi ra khỏi nước.

Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, tỳ kheo, tỳ kheo ni, Phật tử nam, Phật tử nữ, vua chúa, đại thần hoàng hậu, hoàng phi trong cung, hủy phạm giới cấm, không biết hổ thẹn, không biết sám hối. Vì nhân duyên này, khiến cho giáo pháp ô nhiễm. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, các ác tỳ kheo, chấp chặc vào chỗ ở giống như người đời, giữ gìn phòng nhà của mình, không y theo thời hạn 3 tháng dời đổi một lần,(tr-35) thấy có tỳ kheo y bát tùy thân chỗ ở của họ đầy chín muời ngày thì lại dời đổi. Các ác tỳ kheo đều nói lời này: “Tâm tánh tỳ kheo ấy bất định, làm những việc rối rắm, cuồng loạn, mất trí, toan tính đổi dời.” Người nói lời ấy mắc phải tội báo vô cùng, vô tận. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, khi các pháp ác dấy khởi, hết thảy Tăng tục cần phải tu hạnh đại từ, đại bi, nhẫn chịu sự não hại của nguời khác, nên nghĩ như vầy: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay là cha, mẹ ta, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay đều là anh em, chị em, bà con, quyến thuộc của ta. Vì nghiã này, nên từ bi thương xót đối với tất cả chúng sanh, tùy tâm lực mà cứu giúp. Nếu thấy chúng sanh khốn khổ thì tạo các phương tiện chẳng tiết thân mạng. Khi ấy, nếu là bậc vua chúa, đại thần, hoặc là chủ thành ấp, xóm làng, hoặc trưởng giả có thế lực hoặc là Bà la môn.v.v… hoặc tỳ kheo có năng lực thì nên khuyên can khích lệ người ấy, đừng để họ lui sụt, (tr-37) trợ giúp thế lực cho họ đừng cho người ác làm cho họ phải khốn khó, đừng để cho người ác xâm đoạt tài vật của họ. Người trợ giúp như thế có công đức không thể nói hết. Khi ấy, có người nào khởi lòng thưong tuởng bố thí cho nguời nghèo cùng, trẻ mồ côi, nguời già cô quạnh không nơi nương nhờ, thậm chí bố thí cho cả loài kiến thì phước ấy rất mầu nhiệm. Này thiện nam tử! Nếu ta nói cặn kẽ về công đức của việc bố thí cho nguời nghèo cùng, trẻ mồ côi, hay nguời già bệnh tật không nơi nuong tựa thì cùng kiếp nói cũng không hết. Giờ Niết Bàn đã đến, nay ta chỉ nói sơ lược cho ông hiểu thôi.

Bấy giờ, tất cả đại chúng nghe Phật thuyết các loại tai biến vào cuối thời tuợng pháp trong đời vị lai(tr-38). Từng sợi lông trên người đều dựng đứng, không ngăn được dòng xúc động, ai nấy đều gào khóc thảm thiết!

Phật bảo đại chúng rằng: “Thôi đừng khóc nữa! các Pháp thế gian là như vậy. Có thiện ắt có ác. Có thạnh ắt có suy”. Phật bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “Hãy nên sắp xếp việc ấy, ông dùng tuớng gì Quán Như Lai, dùng tuớng gì Quán chúng sanh?” Bồ-tát Thường thí cung kính thưa Phật rằng: “Thưa Đức Thế Tôn! Con Quán Như Lai không từ mé trước, không đến bờ kia, không trụ khoảng giữa, chẳng có, chẳng không, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng phải sắc, chẳng phải phi sắc (tr39), chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng thường chẳng đoạn, chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, giống như hư không, pháp tánh bình đẳng. Từ khi mới thành đạo cho đến Niết-bàn, trong khoảng thời gian ấy, không thấy Như Lai nói một câu Pháp, còn các chúng sanh thì thấy Như Lai có sanh có diệt, có nói Pháp, có độ người. Cảnh giới của Như Lai không thể nghĩ bàn, không thể dùng nhận thức mà biết đuợc, không thể dùng trí mà biết đuợc, vượt thoát ba đời mà chẳng lìa xa ba đời.(tr-40) Chỉ có Như Lai tự biết pháp này, con Quán như vậy, kính thưa Đức Thế Tôn! Con nay Quán tuớng tứ đại của chúng sanh như mây nỗi trên hư không, như khí nóng thì nóng, như thành Càn-thát-bà, như huyển như hóa, như thôn xóm ở trên không, như ảnh trong gương, như bóng trăng dưới nước, như tiếng vang trong hang trống, thọ tuởng hành thức đều như vậy. Kính thưa Đức Thế Tôn tướng tâm của chúng sanh không thể nghĩ bàn, chẳng phải chỗ hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát địa hạ. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tướng của chúng sanh chẳng đến, chẳng đi (tr41) chẳng có, chẳng không, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, đến thì không từ đâu đến, đi thì không đi về đâu, mà thường lưu chuyển, hư vọng thọ khổ, đều do vì chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay vướng mắc sâu vào ngã kiến, vì vướng mắc vào ngã cho nên làm tăng trưởng lòng khát ái, mười hai nhân duyên, chịu khổ đêm dài không có cùng tận. Tướng của chúng sanh xưa nay rỗng lặng. Do nhân duyên này, hàng Bồ-tát khởi lòng đại bi. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tất cả nghiệp thiện, nghiệp ác của chúng sanh chỉ do tâm tạo, chứ không có pháp nào khác(tr-42). Con Quán tướng mạo của chúng sanh như thế.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “ tốt thay! Tốt thay! Ta rất vui khi nghe ông nói Pháp này. Những gì ông nói hôm nay, chư Phật cũng nói như vậy. Bồ-tát hành tứ nhiếp pháp, lục độ Ba la mật thì nên Quán tướng chúng sanh như thế.

Này thiện nam tử! Khi Bồ Tát bố thí không quán phước điền và phi phuớc điền. Nếu thấy chúng sanh nghèo khổ đều thí cho họ. Khi hành bố thí nên Quán như vầy: “Không thấy nguời nhận, không thấy người cho(tr-43), không thấy có vật để cho. Ba việc đều rổng không, bình đẳng, không hề có sự vướng mắc”. Vì sao? Vì tất cả các Pháp khi hành bố thí không có ta và cái của ta, không mong phưóc báo hiện đời, không mong hưỏng phước báo sung suớng trời nguời ở đời vị lai, chỉ vì chúng sanh cầu đại Bồ-đề, vì muốn cho vô luợng chúng sanh được an lạc cho nên hành bố thí. Vì muốn nhiếp phục các chúng sanh ác khiến cho họ trụ vào pháp lành mà hành bố thí. Lại Quán như vầy(tr-44). Tuớng cảnh giới Bồ-đề, tuớng cảnh giới chúng sanh cả hai đều rổng lặng, y vào văn tự cho nên thấy có độ chúng sanh đắc Bồ-đề. Còn trong pháp chân thật, không có đắc, không có chứng. Này thiện nam tử! Như nguời nằm mộng thấy đủ thứ chuyện, hoặc thấy mình bị quan lại trói giam vào ngục chịu các thứ khổ, sanh lòng lo buồn, sau được thoát khỏi, rồi lại mộng thấy làm vua có oai lực lớn, nghĩ như vầy.(tr-45) Ta đêm qua chịu khổ như thế, nay lại đuợc tự do huởng nhiều khoái lạc. Nghĩ như thế rồi, chợt tỉnh giấc, không còn biết việc khổ vui, nên việc nằm mộng chẳng phải có, chẳng phải không. Tất cả các pháp cũng lại như thế. Quán như thế gọi là chánh Quán. Khi nói pháp này, có vô số Bồ-tát đắc quả vị Phật. Vô luợng Bồtát được vào nhất sanh bổ xứ, vô luợng Bồ-tát, mỗi vị tùy theo sở tu của mình đều được sự thăng tiến. Vô lượng trời người đắc bốn đạo quả. Vô lượng Thanh Văn vào giai vị Bồ Tát, vô lượng tạp loại chúng sanh phát tâm Bồ-đề.

Này thiện nam tử! Vào đời vị lai. Nếu bốn chúng đệ tử được nghe kinh này, sanh lòng hoan hỉ thì sẽ đuợc vô luợng vô biên công đức. Phật bảo A-nan và đại chúng, các ông nên khéo thọ trì, cẩn thận đừng quên! Kinh này tên là Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi, cũng gọi là Kinh Cứu Giúp Nguời Cô Độc, cứ như vậy mà thọ trì. Bấy giờ, đại chúng nghe những gì Phật thuyết, một lòng cung kính vâng lời đảnh lễ Phật rồi đi, ai nấy cũng đếu nhận chân được lẽ thật, lo chu toàn lễ trà tỳ, đất trời cảm động tiếc thương!

 

1)Vi kỳ: Là một loại cờ mà vào thời Xuân Thu Chiến Quốc,có Quan ghi chép về Vi Kỳ. Vào thời nhà Hán trong các vật chôn cất ở mộ phát hiện có bàn đá chế làm bàn cờ, đến đời Tuỳ thì truyền sang Nhật Bản, gần đây lại tryền đến các nuớc ở Âu Mỹ. Xưa kia trên bàn cờ có ngang dọc mỗi bên 11 đuờng. 15, 17 đuờng. Từ thời nhà Đương trở về sau ngang dọc mỗi bên 19 đuờng, giao nhau thành 361 điểm theo cách dùng thông thuờng thì con cờ màu trắng và con cờ màu đen đối nhau ( Hán Ngữ Đại Từ Điển, Quyển.3 thuợng, trang 651)

2) Lục bát.

 

Kinh Tuợng Pháp Quyết Nghi (hết)

Ventura, California,ngày 5 tháng 11 năm 2009 Thích Chúc Hiền (cẩn dịch)

 

Trì Tụng Kim Cương Kinh Linh Nghiệm Công Đức Kí

Thích Chúc Hiền

 

Xưa vào thời nhà Lương có vị tăng tên là Diễm ở chùa Chiêu Đề,mới làm Sa-di, khi đó có vị thầy coi tướng nói với sư rằng:

Ngài rất thông minh trí tuệ nhưng không hiểu vì sao lại có tuổi thọ rầt ngắn. Diễm nghe vậy, liền đi đến thưa hỏi một vị đại đức để rõ về phưóc đức của mình. Ngài hỏi rằng;

Tu công đức gì để kéo dài tuổi thọ?

Đại đức bảo:

Theo lời Phật dạy nương vào pháp thọ trì Kim Cang Bát Nhã thì có công đức rất lớn,hẵn là được tuổi thọ kéo dài

Bấy giờ,vâng theo lời dạy, Diễm tức thì vào núi thọ trì kinh Bát-nhã ròng rã suốt sáu năm mới ra đoạn gặp lại thầy coi tướng hỏi rằng :

Gần đây pháp sư tu công đức gì mà chóng được tướng trưòng thọ như thế

Diễm liền nói trưóc đây bị tướng tuổi thọ ngắn bèn vào núi thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên không cò nghiệp báo nữa.

Thầy coi tưóng khen:

Thật không thể nghĩ bàn. Nhờ công đức nầy cho nên được đức lớn, tuổi thọ của pháp sư hơn trăm tuổi mới thị tịch.

 

Vào đời Lưong, ở chùa Khai Thiện,có vị tăng tên là Tạng sư vang danh giảng thuyết. Bấy giờ, có Dận sư coi tướng rất giỏi,vừa gặp Tạng sư liền nói rằng:

Thưa Tạng sư! Thầy nên dừng sự thông minh làm việc giảng thuyết lại,mà hạ bút nương vào kinh tạng soạn một quyển thì nhất định sẽ được sống lâu.

Thời gian sau, Tạng mới đưọc tìm được kinh Kim Cang Bát Nhã, nên bèn đem kinh Kim Cang Bát Nhã trì tụng suốt ba năm không ra khỏ phòng.

Sau, Dận gặp lại Tạng thì vui vẻ mà hỏi rằng:

Thầy có pháp gì mà thay đổi dung mạo như thế, điều coi tướng của đệ tử không linh nghiệm rồi

Tạng nói:

Thí chủ coi tưóng có linh nghiệm lắm.

Khi ấy bần tăng trãi qua nguy khốn nhưng nhờ vào năng lực thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên nay mới được như vầy.

Dận nói rằng:

Công đức và phưóc báo như vậy là rất lớn không thể nghĩ bàn. Nay Thầy được tướng thọ ngoài trăm tuổi.Về sau quả thật tuổi thọ cuả Tạng đúng như điều mà Dận đoán.

 

Vào đời nhà Tùy có Pháp sư Bà-la-tăng-tạng thường hay trì Kim Cang kinh cấm chú trừ nhất thiết chư ác, có tiểu tăng đến học thành tựu chú pháp trong vòng vài năm phục Ngài,rồi đến bên bờ sông,thấy có một cái miếu của thần hồ tức thì vào ngồi trong miếu,ban đêm tụng cấm chú, thần phạm đến liền chết.

Tạng nghe đệ tử chết,lòng phẫn uất tự mình đích thân đến chỗ thần,cũng ngồi ở nơi miếu tụng chú,nhân đó liền chết

Bấy giờ có vị cúng chùa hằng thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nghe Tạng sư và học trò của sư đều bị thần đánh chết,bèn đến chỗ thần cũng ngồi trong miếu tụng kinh Bát Nhã, đến tối nghe có tiếng gió lưót qua rất nhanh,thoáng thấy một vật kỳ hình hoài dị tráng lệ kì đặc khả úy bội thường chủng chủng hình dung nhãn quang tự điện hình nó tráng lệ kỳ lạ đáng sợ hơn người thường gấp bội,mắt sáng tợ như điện.

Sư ngồi chánh niệm tụng kinh Kim Cang không ngớt,cũng không thấy gì sợ hãi. Thần đến phía trước gôm hết uy thế gối phải chạm đất chấp tay cung kính ,nghe tụng kinh xong, sư hỏi Thần rằng:

Đàn Việt là thần gì mà ban đầu đến thì có vẻ hung hổ nhưng sau lại lặng lẽ bất động?

Thần đáp:

Đệ tử là thần hồ ở miếu nầy,vì có tánh cứng rắn, đến thấy Sư tu tập kinh điển đại thừa không thể nghĩ bàn, do vậy lắng nghe.

Đàn Việt đã hay tin kính như thế. Trước đây có hai vị tăng tụng chú, lý do gì đánh chết?

Thần đáp:

Hai vị tăng kia không trì được kinh điển Đại Thừa. Thấy đệ tử đến thì ngảnh đầu mắn nhiếc, miệng tụng chú thuật mà lại nói lời hung ác, đệ tử không kính phục.Hai vị tăng đó thấy hình dáng của đệ tử thảy đều tự mình sợ hãi mà chết chứ cũng chẳng phải do đệ tử cố sát hại họ.

Mọi ngưòi ở xung quanh vùng biết sư vào nghỉ lại đêm ở trong miếu thần ấy,sợ sư cũng bị đánh chết như hai vị tăng trước nên đến sáng mọi người cũng nhau lũ lượt đến chỗ thần đẻ xen thì thấy sư vẫ bình an hỏi sư duyên do sự việc,sư trả lời tường tận mọi người nhân đó phát tâm thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã rất đông.

 

Vào năm Khai Hoàng thứ mười một Quan Thái Phủ Tự là Triệu Văn Xương qua đời, người nhà không dám tẫn liệm. Nhưng Xương bèn đến vua Diêm La.

Diem La hỏi Xương rằng:

Từ khi sanh ra đến nay ông làm phước nghiệp gì?

Xương đáp:

Không có công đức gì khác, chỉ thường trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã.

Vua Diêm La nghe vậy, chấp tay cung kính khen rằng:

Lành thay! Thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã công đức rất lớn, không thể nghĩ bàn. Liền bảo Chấp nhơn rằng:

Ngưoi tra xét lại,trong tương lai đừng để lầm lẫ nữa! Hễ còn lầm lẫn với bất kỳ người nào nữa trong tương lai thì ta không chấp nhận.

Nói xong, Vua Diêm La lien bảo với Xướng rằng:

Ngưoi có thể hướng vào trong tạng kinh lấy ra kinh Kim Cang Bát Nhã đem đến.

Rồi Diêm La sai một sai một người dẫn Xương đi xuống hưóng Tay Nam đến tạng kinh

Đến nơi,Xương thấy dãy nhà rộng lớn hơn mười gian rất tráng lệ, trong đó chứa đầy kinh đều là pho kinh gấy bằng vàng báu, và chưng bày nhiều hoa đẹp cực kỳ trang nghiêm không thể diễn tả. Xương bèn nhằm mắt nhất tâm rút ra một quyển tên là: Đại Đức Tối Vi Đệ Tử Nhất Kinh. Xương sợ hãi nói đây chẳng phải Bát Nhã cầu mong Ngài sai ngưòi xin đổi nhưng không chịu. Xương liền mở mắt xem thì đó chính là kinh Kim Cang Bát Nhã. Đem đến chỗ vua Diêm La sai chấp nhơn ở bên Tây.

Xướng đứng bên Đông tụng kinh Kim Cang Bát Nhã một biến, đều được thông lợi. Vua Diêm La tức thì thả Xướng nhưng vẫn còn điều ràng buộc là Xướng hãy thọ trì kinh nầy thật sự đừng lãng quên.Vua Diêm La bèn sai một người dẫn Xuớng tiễn ra cửa thì lại gặp Chu Vũ Đế giam cầm ở trong phòng cửa Đông gọi hỏi:

Ngươi là người nước nào? Hãy tạm đến đây cùng nói chuyện.

Xương liền đến gặp Võ Đế vái chào.

Võ Đế hỏi:

Ngươi biết ta chăng?

Xương nói:

Xưa kia,bề tôi từng đảm nhiệm Phục Sự Vệ Bệ Hạ.

Võ Đế vui vẻ nói:

Khanh chính là cựu thần của ta.Khanh có thể vì ta mà hướng trở lại nhà. Nay đế luận về các tội của ta đều xong chỉ có chuyện diệt Phật Pháp thì chưa rõ. Đưong thời, Ta bị Vệ Nguyên Tung sàm tấu nên bị giam giữ chẳng bao lâu thì điều nầy chưa rõ.

Xương nói Võ Đế:

Vệ Nguyên Tung là người ngoài ba cõi chẳng phải nằm trong sự quản nhiếp cuả Vua Diêm La. Vì thế không thể truy được, nay Đế xin ít công đức cầu cứu khổ nạn mới dám mong rõ được.

Xướng về nhà thì liền được sống lại, trãi qua năm ngày hoạn nạn từ từ giảm bớt Xướng bèn đem việc ấy tâu rõ. Văn Đế biết rõ sự việc bèn ban chiếu chỉ cho mời sư tăng ở cá chùa trong nước vì Chu Võ Đế trì trai tu đạo, tụng kinh Kim Cang Bát Nhã cũng như việc ghi chép vao sử ký trong vòng ba ngày.

 

Vào năm Trinh Quán thứ nhất, ở Toại Châu có một người chết nhưng trãi qua ba ngày thì sống lại. Khi vừa chết bị số ngưòi đồng bạn kéo đến Vua Diêm La, trong đó có một vị Tăng. Vua Diêm La thấy trưóc gọi sư đến hỏi trưóc đây đã tu công đức gì?

Sư đáp:

Chỉ tụng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

Vua Diêm La vừa nghe liền chấp tay khen ngợi:

Lành thay! Đã là thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật thì đáng lẽ được lên trời,vì lỗi lầm gì mà phải đoạ vào đây. Diêm La nói chua dứt lời tức thì liền thấy y trời giáng xuống dẫn sư lên trời.

Vua Diêm La ngồi lại thừ tụ hỏi người Toại Châu các ngươi xưa kia đã làm phước báo gì?

Đáp:

Kinh điển đọc tụng một đời đến nay là ưa tập theo văn chương của Dữu Tín và các sách của chư tử. Gần đây học tụng kinh Kim Cang Bát Nhã mà vẫn chưa được.

Vua Diêm La hỏi:

Người có tội lón các ông biết không?

Đáp:

Mặc dù, đọc văn chưong của Dữu Tín nhưng thật sự không biết mặt mũi.

Vua Diêm La liền chỉ người khồ chính là con rùa lớn một mình hai đầu. Ngưòi cho đây là Dữu Tín. Rùa vừa đi khỏi Vua Diêm La nói người này học tụng kinh Kim Cang Bát Nhã lại khiến thả ra, đi đến thấy một người nói rằng:

Ta là Dữu Tín khi còn sống ở đời ưa dẫn các kinh dủng làm văn chưong hoặc sanh lòng chê bai,huỷ hoại kinh văn nay mắc phải tội báo rất lớn, trước đó thì bị đoạ làm thân rùa,do đó sống lại nói nhân duyên này.

Mọi người nghe cảm thấy bi thương, đề rõ đó là sự thực.

Đất đai của người Toại Châu phần nhiều là do người di dân sống nghề săn bắn giết hại mạng sống để làm thức ăn. Đương thời chúng tôi biết rõ sẽ bị cộng thức, để đoạn trừ nhân giết hại sinh linh,nên chúng tôi phát tâm cùng thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã tin nhận sự cung kính của người cúng dường.

 

Huề Ngạn Thông ở Vị Châu suốt một đời thưòng tụng kinh Kim Cang Bát Nhã. Trước kia, Lý Mật Hạ đảm nhận chức Võ Ngục Huyện, khiến bị giặc phá thành mong tìm muốn giết. Ngạn Thông sợ hãi,liền xuống phía Dông thành giêo mình xuống suối để chuốc lấy cái chết.

Dòng suối ấy nằm sâu dưới ngọn núi hơn cả trăm trượng,từ trên không mà gieo mình xuống như có người tiếp giúp thoáng chốc xuống đến đáy suối bèn ngồi an nhiên ngay ngắn trên phiến đá,hồi lâu mới đứng dậy,hoàn toàn không bị hề hấn gì.

Ngạn Thông tự lấy làm lạ vui sợ khác thường than th ở không thôi từ đó trở đi tự biết oai lực của kinh Kim Cang Bát Nhã rất lớn. Nhờ biết oai lực của kinh rất lớn, công đức không thể nghĩ bàn, càng thêm đem lòng tin kính, siêng năng thọ trì, không dám coi thường, thường được vô lượng phước báo.

 

Vị tăng Pháp Tạng ở chùa Bào Thất ở Phu Châu,giới hạnh tinh nghiêm ,tánh tình chất phát ngay thẳng. Vào năm Khai Hoàng thứ mười ba đời nhà Tùy, sư xây một nhà tăng ở thành Lâu Xuyên, Huyện Lạc Giao hơn hai mươi gian, điện Phật cổng tam quan khung sườn đều xây bằng gạch, lợp ngói màu sắc tráng lệ, nhưng trang trí bằng tranh tượng trắng cao sáu trượng, gồm có các bộ khác nhau, đều có mười một việc. Tượng Quán Thế Âm bằng đá, một tượng thân ngàn bình phong, đến năm Đại Nghiệp được nhiều chùa.

Bấy giờ, chùa tượng đều bị lịnh phải dời đến Châu Quách, già lam an trí phá hoại đều được tu bổ thành tựu, lại in chép tất cả kinh điển khoảng được hơn tám trăm quyển, tạo riêng chùa Nguyện Ái ở kinh thành, để người sao chép kinh. Tất cả đều bằng đàn hương cốt là để làm đẹp trang nghiêm.

Đến tháng tư năm Vũ Đức thứ hai,Tạng lâm bịnh suốt hai tuần mộng thấy một người áo xanh ở trên gác cao, tay cầm một quyển kinh nói rằng:

Pháp sư Tạng một đời đã tạo công đức đều rất tốt, duy chỉ có tội nhỏ là dùng đồ của Tam Bao là chưa được tiêu trừ, trong tay ta là một quyển kinh Kim Cang Bát Nhã là bộ kinh điển Đại Thừa bậc nhất do ngươi tư tạo một quyển nhờ đó mà các tội được tiêu trừ.

Tạng nghe vậy đáp rằng:

Nếu được hết bịnh thì đệ tử sẽ nhất định phát tâm tạo trăm bộ Bát Nhã. Đệ tử tự xét một đời đã qua, mặc dù tu công đức nhưng thật sự chưa chép Kim Cang Bát Nhã nay được Chư Phật, Bồ-tát khai ngộ chắc chắn không còn biến lười, đệ tử chỉ có ba y, bình bát khi bày vai bên phải đem hết phó chúc. Đại đức đệ tử đích thân biết dùng tạo Kim Cang Bát Nhã năm ba ngày có thể khỏi tâm nương vào ý nguyện liền đến nước Bà già sa Xá-vệ chép một quyển đem phân phát cho mọi người lưu truyền đọc tụng biết rõ rằng kinh Kim Cang Bát Nhã là bộ kinh điển Đại Thừa có uy lực rất lớn kỳ diệu không thể nghĩ bàn. Nếu có người nào có nhân duyên thì cùng nhau sách tấn thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã thì sẽ được vô lưọng công đức.

 

Vào đời Tùy có vị tăng Linh Thúc có hai người đệ tử. Một hôm Tăng chủ bỗng gọi hai vị đệ tử này đến bảo rằng Ta nghe trong núi Ngũ Đài có Bồ- tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, mỗi khi có ngưòi đến lễ lạy thì Ngài hiện ra để tiếp dẫn, ba thầy trò ta hãy đến đó đảnh lễ Ngài thật là điều tốt lành cho chúng ta! Ý muốn đem hai đầu lừa một giá chở hai trăm tấm lụa sống sai hai đệ tử một đầu còn Tăng tự cỡi để đi đến Ngũ Đài. Vị tăng ấy sống ở đó một năm chỉ trì kinh Kim Cang Bát Nhã không làm gì khác.

Bấy giờ ở nơi đó trong cái tráp chỉ đem kinh Kim Cang Bát Nhã cuộc hành trình trãi qua vài tháng,nhân vì dừng lại nghỉ ngơi, thả lừa trong đầm cỏ, Tăng liền dừng chân nơi gốc cây trải dồ nằm ngủ. Hai người đệ tử bàn bạc chúng ta định giết Hòa Thượng, mỗi người lấy một trăm tấm vải và một con lừa vào kinh dạo chơi. Há chẳng phải là sung sướng một đời sao?

Tâm niệm vừa dấy khởi,một người đệ tử nắm lấy con dao,một người chận ngang hông, liền chặt xuống ba nhát đến chả máu dao thứ tư thì vừa đưa dao lên thì dao mắc trong không, lấy dao không được nhưng tay cũng không rời dao trên dao như có đôi chút thức ăn, bỗng nhiên Hòa Thượng tỉnh giấc, thấy hai người đệ tử qùy gối,hai tay cầm dao im lặng không nói.

Tăng hỏi:

Các thầy khởi ác ý gì?

Hai người đệ tử qùy song song hướng về thầy thưa hết ý nghĩ của mình, Hòa Thuợng cũng có thể bị lỗi lầm của nghiệp qủa nên liền lục trong tráp lấy ra kinh Kim Cang Bát Nhã định đọc, thì giữa hông của cái tráp có ba vết dao đều bị chặt đứt thẳng đến gấy kinh, giữa hông của vị tăng khi sai người xem thì có ba đường mảu đỏ do vì có hai ba lớp y nên nhũng nhát dao đâm không xuyên qua và không làm tổn thưong đến Ngài.

Đó há chẳng phải là nhờ thần lực của kinh Kim Cang Bát Nhã mà được như vậy sao?

 

Xưa kia, tại chùa Ôn Quốc ở Trường An có v ị tăng Linh U bỗng nhiên chết. Trãi qua bảy ngày gặp vua Bình Đẳng.

Vua hỏi:

Khi còn sanh tiền Hòa Thượng có nghiệp kinh gì?

Linh U đáp:

Trì kinh Kim Cang. Vua bằng chấp tay thỉnh niệm,thoáng chốc niệm xong.

Vua lại hỏi:

Hòa Thưọng cho biết mặc dù Hòa Thưọng tụng kinh ấy nhưng còn thiếu bài kệ nào?

Linh U tâu rằng:

Tiểu tăng chỉ nương vào bổn kinh tụng niệm,nhưng không biết bài kệ nào thiếu.

Vua nói :

Hòa Thượng thọ mạng đã hết nhưng còn sống đến mười năm nữa. Kinh ấy ở trên bia đá nằm phía Tây thành Hào Châu từ khi có chơn bản khiến thiên hạ lưu truyền.Vị tăng đó khi sống lại, kể rõ duyên do đầu đuôi sự việc.

 

Vào đời nhà Hán ở Châu Khổng có Mục Điển Trần Chiêu chết trải qua hai ngày thì sống lại kể rõ rằng vừa đến âm phủ phán quan hỏi:

Ngươi làm việc cho Lưu Thưọng Thư giết bốn mươi bảy đầu bò. Chiêu vì cớ gì lấy của ông ấy một đầu?

Chiêu tránh không nhận lấy, bỗng nhiên có một người hiện ra xưng là Giáp đưa Chiêu đầu trâu, khiến Chiêu biết là không thể nào tránh được, Chiêu bèn hỏi phán quan làm sao thoát khỏi tội này.

Phán quan hỏi:

Sanh tìền đã gieo tạo công đức gì?

Chiêu đáp:

Thường trì tụng kinh Kim Cang.

Nói chưa dứt lời thì kinh ấy từ trên không mà đến liền được thả về sống lại đến mười tám năm.

Nếu cư sĩ tích chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang thì hãy phát tâm.

 

Trong thôn phía Tây Bắc của huyện Tân Phồn dùng bút viết kinh Kim Cang cho chư thiên nơi ấy mỗi khi có trời mưa không ướt, ban đầu không ai biết người trong thôn thả trâu ở đó bò lại đến đó núp mưa, sau có một vị Tang người Ấn từ khi qua đó thấy vậy mới bảo với mọi người trong thôm rằng:

Đây là đàn kinh, trong không có kinh, ngày trai có hóa ra báu, mây thường xuất hiện ở đây. Đàn nầy cách thành huyện về hướng Tây Bắc khoảng ba mươi dặm, hiện nay còn thấy

Xưa kia,Vương Đà một đời giết hại vô số bèn phát tâm chuyên trì kinh Kim Cang một vạn biến nhưng tụng được năm ngàn biến bỗng một hôm vào giờ ngọ thấy mấy chục con qủy tới trưóc mặt nói rằng:

Vua có công văn truy tìm ngươi,ngưoi hãy đừng trì kinh.

Đà liền nói khiến qủy theo sau, lại có qủy khiến phi ngựa đến bảo qủy rằng:

Vua ban sắc lệnh hãy thả người trì kinh.

Vương Đà liền thoát chết. Sau đó, thọ đến chin mươi tám tuổi mới qua đời.

 

Xưa kia, Vương Xước bị Thiên Thủy Quận Ty Pháp là Tiết Cử làm loạn giết hại binh sĩ đến lượt Vương Xước thì dao liền gãy lại sai lực sĩ là Tống La cầm dao trảm Vương Xưóc nhưng dao cũng bị gãy. Tiết Cử tháy thế lấy làm lạ nói rằng:

Ngươi có pháp thuật gì?

Vương Xưóc đáp:

Thuở nhỏ tôi trì kinh Kim Cang, nên đó là thần lực của kinh.

Tiết Cử nghe vậy, liền thả Vương Xước, Vương Xước sợ hãi vào nấp trong nhà xí thầm niệm kinh Kim Cang, trong nhà xí phát sáng bị chúng giặc tìm ánh sáng đi đén nhà xí thì thấy người hỏi rằng:

Ai đó?

Người trong nhà xí đáp:

Tôi là Vương Xước bị đao hình nhưng không chết.

Giặc nói:

Ngươi không cần phải nấp, các binh sĩ đã biết hết rồi,thôi mau về nhà đi.

Từ đó, Vương Xước được thoát nạn.

 

Xưa kia có Châu Sĩ Hành do tính tình thô ác không kính tín Tam Bảo, bị Tả Bộc của nước Lưong bắn. Vợ ông thuòng ưa chuyên tâm trì kinh Kim Cang, người chồng ấy đi vắng trong lúc người vợ trì kinh Kim Cang, đến khi người chồng từ ngoài về thấy bèn đoạt cuốn kinh trong tay vợ ném vào trong lửa,cho đến khi lửa tắt nhưng kinh không bị cháy cả hai vợ chồng nhặt lấy quyển kinh, đến trước bàn Phật sám hối.

 

Xưa kia, Thôi Thiện Xung làm quan phán ở Huề Châu gặp kẻ phản bội là Thứ Thứ Sử bị giết. Thiện Xung dẫn dắt hơn hai mươi ngườitrang bị đầy đủ cung kiếm đến thành Côn Minh thì gặp lúc trời tối nên không biết đường. Thìện Xung bảo binh sĩ rằng:

Hãy hết lòng niệm Phật!

Riêng Thiện Xung thì niệm kinh Kim Cang. Tín Mã đi trước bỗng thấy một ngọn đuốc dẫn đường đì được vài dặm thì lửu tắt không còn thấy, bèn đến được thành Côn Minh đều là nhờ vào thần lực của kinh.

 

Xưa kia, Đường Yến là quan lại của huyện Tử Châu Thê, thưòng trì kinh Kim Cang do vì làm việc không cẩn thận trở về đến huyện Lộ Bổn ở Toại Châu thì bị Quan Trung sai ngưòi bắt. Yến nghe trên không có tiếng người nói rằng:

Đường Yến! ông hãy đi mau đi.

Yến bèn ngẫn đầu lên thì thấy có một vị tăng người Ấn Yến tức thì đến bên bớng cây dốc lòng niệm kinh người bắt số vài mươi người đối diên mà không thấy. Đường Yến đưọc thoát nạn.

 

Ngụy Hu là người Tần, thường trì kinh Kim Cang, thầm khiến ba lần truy tìm không được, vua mời đến báo là Trẫm tha cho ngươi.

 

Lý Diên là người quận Nam Dương làm quan úy ở huyện Đức Châu một đời trì kinh Kim Cang, mỗi khi đến giờ trì kinh thì có hào quang hiện.

 

Xưa kia, Đậu Thị ban đêm bị đau đầu bèn sai tỳ nữ vào trong bếp lấy lửa, tỳ nữ thưa không có lửa,bỗng nhiên thấy trước thềm có một ngọn đuốc sáng,bèn bước lên thềm thì sáng như ban ngày đầu phu nhân liền bớt đau, thấy thế ai nấy đều thành tâm thọ trì kinh Kim Cang.

Đó đều là thần lực nhiệm mầu của kinh Kim Cang, lại có người trì kinh Kim Cang thì đưọc linh nghiệm như thế rất nhiều vì sợ văn rườm rà nên không thể kể hết ra đây.

TRÊN ĐÂY LÀ NHỮNG ĐIỀU LINH ỨNG KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT.

 

Giả sử có người đem bảy báu trong ba ngàn đại thiên thế giới ra dùng làm bố thí thì không bằng lưu truyền công đức thù thắng của kinh nầy.

Nếu có người biên chép,thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang cũng khiến cho người khác biên chép, lưu bố kinh nầy thì cũng ví như từ một ngọn đèn đem mồi ra hang trăm ngàn vạn đèn thì mọi nơi tối tăm đều được chiếu sáng không cùng.

Nếu có người sao chép kinh văn nầy trên vách chùa thì được vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn.

Khai Nguyên Hoàng Đế khen ngợi công đức kinh Kim Cang rằng:

Kim Cang một quyển nặng Tu Di
Vì thế Trẫm đây chuyên thọ trì
Tám vạn pháp môn đều thấu đạt
Mắt tuệ rạng soi chẳng ngại gì

Ví ngày vịnh hát ca khúc cũ
Lắng nghe trì niệm Kim Cang kinh
Khai Nguyên Hoàng Đế đích thân chú
Chí thành đảnh lễ chớ sanh nghi

Kinh đây trừ sạch bao đau khổ
Phát tâm thiên nhãn dự quán tri
Không bị vô minh sáu giặc dắt
Thoát ngày tăm tối lẫn chấp si

Thế Tôn Niết-bàn vô lượng kiếp
Tăng kỳ trăm ức quá khứ xưa
Quốc vương đại thần truyền thánh giáo
Trẫm nay tín kinh thế gian hi

Mỗi tháng mười trai gìn không giết
Rộng tu nghiệp thiện giúp Tăng ni
Thai sanh noãn sanh siêng niệm Phật
Tinh cần dũng mãnh lớn từ bi

Nhàm thấy ngũ dục ở trong cung
Rõ biết tướng thân là hư ảo
Ở ngôi vương vị còn giác ngộ
Huống gì phàm tục chẳng nghĩ suy

Xưa kia Đề-bà vua nước nọ
Vì cầu diệu pháp bỏ cung phi
Khổ hạnh tinh cần cầu Phật Pháp
Thân làm nô bộc sá quan gì

Nay Đế rõ xa ngàn muôn nước
Cử tâm động niệm quán không ngừng
Uy danh văn võ trùm thiên hạ
Bốn bề yên ấm muôn dân an

Ngự chú Kim Cang nghĩa diệu kỳ
Xuẩn đông hàm linh cùng thọ trì
Hộ pháp thiện thần đều khen ngợi
Chư thiên tán thán chẳng nề chi

Voi trắng giá lâm chùa Kính Thọ
Xe báu tràng phang phủ vây quanh
Minh sư thỉnh dẫn dâng hương hoa
Giá hạc tiên nhơn bay khắp chốn

Tám nạn xoay về sanh cực lạc
Năm trược hóa thành bảy báu ao
Khai Nguyên vang mãi hằng sa kiếp
Ma vương ngoại đạo thảy nương về

Muôn đời ngàn kiếp truyền thánh giáo
Tựa hồ kiếp chẳng phủi thiên y
Do bởi chúng sanh có nhiều phước
Đắc phùng chư Phật trọng khí thời

Diệu lý Kim Cang khó giảng bày
Hết thảy trong kinh Trẫm gôm đây
Vì Phật trãi vàng trùm mặt đất.
Định mua vườn cảnh của Kỳ Đà

Bát bộ quỷ thần cùng theo Phật
Tháp nhạn cung rồng hiện khắp ra
Trên cành Kỳ Thọ chim nương hót
Dưới có suối vàng để rửa chân

Việc ăn ôm bát vào Xá-vệ
Dẫn dắt muôn loài ruộng phước gieo
Bấy giờ Thế Tôn không ngã tưóng
Tu-Bồ-đề kính ngưỡng nhận kim ngôn

Bốn qủa sáu thông là thượng phẩm
Cung rồng hưởng lạc cõi chư thiên
Nơi ở Thánh Vưong là tiên giới
Võ thần Hoàng Đế cũng như nhiên

Lại nói xưa kia Ca-lợi vương
Cắt đi thân thể được sanh thiên
Thi-tì bỏ mạng nuôi cưu cáp
Làm thân La-hán qúa ba ngàn

Chúng sanh Diêm Phù vin nhà lửa
Trẫm đây dắt dẫn khiến sanh thiên
Hết thảy hữu tình như con đỏ
Chỉ là trăm họ đều lợi lanh

Chưng ngôi qủa vị Vô Thưọng Giác
Lại cùng chư Phật kết nhân duyên
Trăm kiếp ngàn đời không thối chuyển
Công đức vô lượng cũng vô biên

Không chỉ như hình nơi chùa quán
Mười phưong thế giới rạng chơn thiền
Đây là diệu nghĩa của Kim Cang
Đệ tử há đâu dám thất truyền

 

Phàm người muốn tụng niệm kinh Kim Cang trước hết cần phải khải thỉnh tên gọi của tám vị đại thần Kim Cang, tám vị Kim Cang nầy tự đến thường ủng hộ cho người trì kinh

1. Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang
Có thể trừ tất cả tai ương đời trước

2. Phụng thỉnh Tích Độc Kim Cang
Có thể trừ tất cả những bức bách bịnh khổ của chúng sanh

3. Phụng thỉnh Hoàng Tùy Cầu Kim Cang.
Có thể khiến cho những điều mong ước của tất cả chúng sanh đều được thành tựu

4. Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang
Có khiến cho khổ não bức bách của tất cả chúng sanh được tiêu trừ

5. Phụng thỉnh Xích Thanh Kim Cang
Có thể chiếu soi khiến cho tất cả chúng sanh thấy được ánh quang minh Phật

6. Phụng thỉnh Định Tai Trừ Kim Cang
Có thể trừ nỗi khổ tam tai,bát nạn cho tất cả chúng sanh

7.Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang
Khiến cho tất cả chúng sanh tỏ ngộ phát tâm bồ-đề

8.Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang
Có thể khiến cho tất cả chúng sanh thành tựu mầm trí tuệ lực tăng trưởng

Đại thân chân ngôn:
Nam Mô Bà Già Phiệt Đế Bát La Nhưỡng Ba-la-mật-đa Duệ Úm Y Lợi Để Y Thất Lợi Du Lô Đà Tỳ Xá Da Tì Xá Da Ta Bà Ha. (3 lần)

Tùy tâm chân ngôn:
Nam Mô Bạc Ca Phiệt Đế Bát Lạt Nhạ Ba-la-mật-đa Duệ Đát Điệt Tha Úm Hô Phiệt Chiết La Miệt Lệ Ta Bà Ha. (3 lần)

Tâm trung tâm chân ngôn:
Úm Ô Luân Nê Ta Bà Ha. (3 lần)

Kim cương nhi chú:
Nam Mô Bạt Chiết Cưu Ma La Ca Nễ Độ Ám Bà. (3 lần)

Phật mẫu chú:
Nam Mô Đà Xá Nam Mô Đà Câu Nam Úm Hộ Lỗ Hộ Lỗ Tử Đà Lô Già Nễ Tát La Sa La Tha Sa Đạt Nễ Ta Bà Ha. (3 lần)

Văn-thù Bồ-tát tâm trung chân ngôn:
Ôm A Ra Ba Sa Na Đi (3 lần)

Người nào hết lòng trì tụng thần chú nầy giống như tụng một biến tạng kinh trong thiên hạ.

Tiếng Phạn nói:Vì sao ở nơi kinh nầy rốt tráo đến bờ kia?Xin Phật khai giảng diều vi diệu sâu kín vì chúng sanh mà nói rõ,vì chúng sanh mà chuyển pháp luân.

 

Nam mô A Di Đà Phật

v/v Lời Kêu Gọi Ủng Hộ, Trợ Duyên Ấn Tống Máy Nghe Pháp Âm Tịnh Độ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

- Kính thưa quý Phật tử, thiện hữu tri thức!

"Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài; tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể dự vào trong số ấy. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được thoát khỏi luân hồi; ngay trong một đời này chắc chắn lên cõi Phật. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, bỏ pháp môn này làm sao yên được?"

Lời dạy trên của tổ Ấn Quang quả thật là kim chỉ nam là chỗ nương tựa cho hàng hậu học chúng ta. Ở thời buổi mạt pháp nếu không nương vào Pháp môn Niệm Phật Đới Nghiệp Vãng Sanh thì lấy gì để ra ngoài sanh tử? Trong Đại Tạng Kinh có rất nhiều Kinh Tạng và Luận Tạng đã nói về sự lợi ích của Pháp niệm Phật, là phương tiện thuyền từ qua sông sanh tử. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng thích hợp, bởi vì sao? Vì chưa gieo trồng được thiện căn nên không những không phát lòng Tin tuyệt đối vào Pháp môn phương tiện này của Chư Phật. Nghiệp thì dầy phước mỏng hầu hết ưa chuộng theo những thứ tà thuyết sai trái, không hiểu và nhận được rõ ràng đối với Pháp môn Tịnh Độ. Dù có thực hành nhưng không hiểu cốt lỗi, tôn chỉ của pháp môn nên thực hành không đúng như lời Phật, Tổ dạy. Còn hơn thế, vì không hiểu rõ ràng để có đủ lòng tin nơi pháp môn của mình đang tu học, sanh tâm thối lui đối với phát tâm ban đầu, trước những lời bày xích ở một nhóm người.

Một pháp môn mà ngay cả từ miệng vàng của Đức Thế Tôn còn phải bảo rằng: "Ta có thể ở trong đời đủ năm món trược thực hành tu tập để thành Bậc Vô Thượng Chánh Giác còn dễ hơn là nói ra pháp môn khó tin này (nan tín chi pháp)" (trích lược ý Kinh A Di Đà).

Chúng tôi với tâm nguyện hoằng truyền những lời dạy của Phật, Tổ để lợi ích cho mọi người nên tuyển tập hết tất cả những lời dạy, khai thị, thiển giải vô vàng quý giá, thành một tập để Ấn tống trong chương trình Ấn Tống Pháp Âm Tịnh Độ trước là để gieo duyên đến với những ai chưa có đủ duyên lành biết đến pháp môn này, và khai sáng trên bước đường tu học theo tông chỉ của bổn môn qua những Kinh Tạng nói về Pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là chúng tôi trích tất cả những lá thư gởi, trả lời của tổ Ấn Quang dạy, khai thị cho người hậu học đang trên đường tu học.

Nhận thấy những nơi vùng sâu vùng xa không hội đủ phương tiện, truyền thông, internet để có thể nghe được lời vàng của bậc tổ sư trong bổn môn, được quý thầy ở những nơi vùng sâu vùng xa khuyến tấn và số đông Phật tử ngỏ ý là nên làm gì đó tạo duyên lớn cho hàng Phật tử ở nơi đây được nghe đến những lời quý báu của bậc chân tu thạc đức, hầu vững bước trên đường tu học, nương vào đại nguyện, đủ ba thứ tư lương, Tín-Hạnh-Nguyện mà thoát vòng sanh tử triền miên. Nên chúng tôi xin tha thiết kêu gọi chư thiện hữu, Phật tử đạo hữu gần xa, những ai có tâm hoan hỷ cùng chung chí hướng lợi mình hữu ích cho người cùng chung tay trợ duyên cho việc ấn tống máy nghe Pháp Âm Tịnh Độ.

Pháp Âm Tịnh Độ gồm có những Kinh và sách về pháp môn này, và những bộ luận nói về Nhân Quả, mà nổi bật nhất là quyển Pháp Uyển Châu Lâm của pháp sư Đạo Thế, sách này được tổ Ấn Quang nhiều lần khuyên nên đọc*. Chúng tôi cũng trích ghi âm hết tất cả các Thư Gởi và Thư Đáp ** của tổ Ấn Quang để làm kim chỉ nam trong đường tu qua lời khai thị, dạy của tổ trong tông môn.

Mong quý đạo hữu hoan hỷ giúp chúng tôi tạo duyên lành, gieo trồng thiện căn với Pháp môn mà chư Phật trong ba đời khắp mười Phương đều hộ niệm, hầu lợi ích cho mỗi chúng sanh, bằng cách khuyên tấn, giải thích cho con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, bạn bè v.v.... hoan hỷ cùng chung đóng góp vào việc làm đầy ý nghĩa này, Bằng cách đóng góp đôi chút tịnh tài, 5 hoặc 10 ngàn cũng là trân quý vô cùng. Nếu bản thân của mỗi người có thể hiểu ý nghĩa qua việc làm này phát tâm hoan hỷ, cùng chung tay lăn chuyển bánh xe Pháp với tâm không nhiễm trước, trên tinh thần lợi mình lợi người tam luân thể không (tam luân không tịch ***) thì phước báu của việc làm này không thể so sánh được.

Nguyện do công đức này, tiêu trừ túc hiện nghiệp, tăng trưởng các phước huệ, viên thành thắng thiện căn, tất cả kiếp đao binh, các nạn như đói kém, thảy đều tiêu trừ sạch, ai nấy tập lễ, nhượng. Hết thảy người nghe kẻ thấy đồng sanh tâm hoan hỷ cùng người trợ duyên mỗi người đều gieo trồng dầy thiện căn trong pháp môn Tịnh Độ, thấm nhuần chánh pháp đồng trang nghiêm cõi Phật, đồng vãng sanh Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật!

Trân trọng,

Ban biên tập Tạng Thư Phật Học
https://tangthuphathoc.net

Ngày 14 tháng 09 năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 (nhằm ngày 22 tháng 10 năm 2018)

https://tangthuphathoc.net/thu-van-dong-tro-duyen-an-tong-may-nghe-phap-am-tinh-do/

Thanks for signing up. You must confirm your email address before we can send you. Please check your email and follow the instructions.
Chúng tôi tôn trọng sự riêng tư của bạn. Thông tin của bạn được an toàn và sẽ không bao giờ được chia sẻ.
Nam mô A Di Đà Phật!
×
×