Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

TRUYỆN CÁC BẬC CAO TĂNG ĐỜI TỐNG

Đại Sư Thông Tuệ chùa Thiên Thọ ở Tả Nhai Tứ Tử Sa-môn Tán Ninh v.v… vâng sắc soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 20

Mục Lục

 

CHƯƠNG SÁU: CẢM THÔNG

TRONG PHẦN 3 CỦA CHƯƠNG VI

(chánh truyện có hai mươi hai vị, phụ có bốn vị)

1. Truyện ngài Xử Tịch trụ tại Lan Nhã Sơn Bắc ở Tư Châu, thời Tiền Đường:

Thích Xử Tịch, họ Chu, người ở xứ Thục. Sư kính thờ Thiền sư Bảo Tu, làm việc chuyên cần ít muốn, thông hiểu sâu xa.

Lúc Sư ở Bắc Sơn, thực hành pháp Đầu-đà, Thiên Hậu nghe thế bèn ban chiếu mời Sư vào cung, dâng tặng y ma nạp tăng-già-lê. Sư từ giã xin trở về núi, trải qua suốt bốn mươi năm chân Sư chẳng vào xóm làng. Sư ngồi trên chiếc giường người Hồ, lẳng lặng chẳng ngủ, thường có con hổ nằm ở phía dưới như vật nuôi trong nhà. Dân chúng Tư Châu vô cùng kính trọng. Những người học theo Đạo của Sư đua nhau tìm đến. Từ đó, có lắm điều kỳ lạ, như Đại sư Vô Tướng từ nước Tân-la sắp đến tham yết Thiền sư Tiên, Sư biết trước bảo đồ chúng rằng: “Có khách từ ngoài ngày mai sẽ đến, nên lo quét tước để đợi đón rước”. Ngày hôm sau quả nhiên có khách người Tân-la (Ngài Vô Tướng) đến.

Đầu niên hiệu Khai Nguyên (713) có Tân Trừ Thái Thú Vương Hoa, vốn là một vị Hoàng Quan, vào niên hiệu Cảnh Vân (710 – 712) có lập chút công, cắm giữ ở quận đó, cuối cùng có tâm muốn gieo họa đối với Phật giáo. Khi mới lên nhậm xử phân ban, ra lịnh khắp trong cảnh vức phải ứng theo đó. Các Sa-môn bị tìm kiếm gom về, riêng Sư từ lâu chẳng xuống núi, có người khuyên Sư nên sang tham yết để khỏi phải bị để ý. Sư bảo với đệ tử rằng: “Ông xuất gia nhưng vẫn chưa biết nghiệp. Ta đây chưa chết, Vương Hoa làm gì ta được”. Đến lúc Vương Công lên quan 3 ngày, các hàng tăng sĩ đều nhóm đến. Có người nói: “Chỉ có Xử Tịch khi miệt Phiên Hầu chẳng đến đặc giá”. Vương Hoa hơi có chút giận. Lúc chúng tăng đều vào chỗ nghe rồi, Hoa tức giận, hỏi lý do vì sao Sư chống cự. Tự nhiên đổi sắc mặt bừng bừng, chư tăng đều lo sợ. Bỗng chốc Vương Hoa ngã lăn ra đất, mọi người chung quanh, ẵm dìu về nhà. Sau khi về đến sảnh sự đứng lặng như có tiếng đánh tát vào má, giây lát bèn tắt thở. Từ đó mọi người cho đó là vọng muốn thêm các đạo nhân, mới một mà đã đến như thế.

Đến tháng Giêng niên hiệu Khai Nguyên thứ 22 (73) Sư thị tịch, thọ tám mươi bảy tuổi. Trong xứ Tư Châu đến nay vẫn còn tôn sùng kính ngưỡng.

2. Truyện ngài Vô Trước chùa Hoa Nghiêm ở núi Ngũ Đài thời Tiền Đường:

Thích Vô Trước, người xứ Vĩnh Gia, thức đạt khoan minh, tiết tháo cứng cỏi, để tâm nơi Đại Đạo, ước chí du phương. Sư đến chùa Vân Hoa, chỗ Pháp sư Trừng Quán, nghiên cứu tập học giáo điển Hoa Nghiêm. Tất cả các kinh luận, chí Sư gồm thông, đối với biển Pháp Hoa Tạng, Sư trọn hẹn dạo chơi trong đó.

Vào niên hiệu Đại Lịch thứ 2 (767), Sư đến núi Ngũ Đài, Sư muốn dạo đến cảnh giới của bậc Thánh. Tháng , Sư đến chùa Hoa Nghiêm. Ban đẩu ở trong nhà nếm trà, thấy một lão tăng, thân hình thấp xấu, nằm ở giường phía Bắc, nói với Sư rằng: “Ông từ phương Nam đến, còn mang theo xâu chuỗi, xin cho được xem!” Sư cung kính đưa đến, quay lại nhìn thì không thấy vị tăng ấy đâu nữa. Khi đó tinh thần Sư hoảng hốt, vừa nghi vừa mừng, tự bảo rằng: “Xưa kia Tăng Minh vào đây trông thấy cối đá chày gỗ, sau được vào chùa Thánh, được trông thấy các bậc Thánh Hiền. Nay ta nguyện ở đây, đó chẳng vui thích ư?” Kế đến, lúc ở lầu kinh Bát-nhã, Sư thấy được chim Cát tường lông cánh sặc sỡ liệng bay trên đảnh, trông về hướng Đông Bắc có trống dục mà đi. Ngày hôm sau, có hai vầng ánh sáng trắng phóng vào nhà rất nhanh chóng, chỉ khoảnh khắc liền biến mất, có Tăng pháp v.v… ở cùng phòng cũng thấy mà lấy làm quái lạ, nói rằng: “Đây là điềm lành gì vậy? Mong thấy hiện lại để dứt nghi của chúng sanh!” Bỗng chốc thấy lại ánh sáng như trước.

Nhân đó, Sư sang hang Kim Cương, vọng lên hư không kính lễ, vừa ngồi muốn ngủ, nghe có tiếng bò rống ba tiếng rằng: “Uống nước”. Có một ông già dáng mạo suy hoại, mặc áo vải thô ngắn, chân mang giầy gai, khăn lót rất kỳ lạ. Sư bèn đứng dậy đón rước nắm lấy tay hỏi: “Từ đâu đến?” Ông lão đáp: “Ở phương ngoài núi tìm cầu thức ăn”.

Ngài hỏi: “Dùng lại ở xứ nào?” Đáp: “Tìm thức ăn ở Đài Sơn”. Ông lão lại hỏi Sư rằng: “Sư định ở nơi nào?” Sư đáp: “Nghe nói ở đây có hang Kim Cương, nên đến tùy hỷ”. Ông lão hỏi: “Sư có nhọc mệt chăng?” Sư đáp: “Không!” Ông lão bảo: “Đã không nhọc mệt sao vội ngủ vậy?” Sư đáp: “Phàm phu hôn trầm, đâu có gì lạ ư!” Ông lão bảo: “nếu Sư hôn trầm thì hãy đi nếm thử chè nấu đi?” Và liền chỉ về hướng Đông Bắc thấy một Tinh xá cách khoảng hơn vài bộ. Ông lão liền dẫn trâu đi trước, Sư tiếp bước theo sau. Đến cửa chùa, Ông lão kêu ba tiếng “Quân Đề”, có đồng tử đáp tạ và ra mở cửa, tuổi chừng mười bốn, mười lăm, tóc để ngang mày, mặc áo vải thô lót mình. Dẫn trâu vào chùa. Sư trông thấy đất ở đó toàn bằng lưu ly, đường sá mái hiên đều có ánh sáng mầu vàng. Ở đó xinh đẹp, chẳng như cảnh giới ở nhân gian. Ông già ngồi trên giường ngà trắng, chỉ cái đôn gấm, bảo Sư ngồi. Đồng tử bưng hai chung trà đến, cùng uống xong, lại đưa đến hai chén bằng đồi mồi trong toàn là chất tô lạc, mỗi chén một thìa. Sư ngậm nuốt vào mà như có sở chứng, thần phủ hoát tỏ ngộ mọi việc xưa trước. Ông lão hỏi: “Từ lúc Sư xuất gia đến nay, có làm gì, có lo nghĩ gì chăng?” Sư đáp: “Có tu mà không chứng, đối với đại tiểu hai thừa nhiễm chỉ mà thôi”. Ông lão hỏi: “Chẳng hay lúc mới xuất gia là cầu tâm gì ư?” Sư đáp: “Cầu tâm đại thừa Bồ Đề”. Ông già bảo: “Sư dùng tâm ban đầu mà tu tức đắc”. Ông lão lại hỏi: “Sư bao nhiêu tuổi?” Sư đáp: “Ba mươi mốt tuổi”. Ông già bảo: “Sư thuần thục, năm ba mươi tám tuổi thì gốc rễ phước đó trồng ở đất này rất tươi tốt! Vả lại hãy từ từ xuống núi, khéo tìm đường đi, chớ làm thương tổn hại chân. Nay tôi tuổi đã già nua, từ ngoài núi đến rất là mệt nhọc, muốn được yên nghỉ “. Sư hỏi: “Ở lại qua đêm tại đây có được chăng?” Ông lão bảo: “Không được! Vì Sư có hai người bạn đi theo, đêm nay không thấy sư về sẽ rất lo buồn. Đó là Sư còn chấp bám lấy tình”. Sư nói: “Đệ tử Cù-Đàm có chỗ nào để chấp. Tuy có bạn cũng không đoái hoài luyến tiếc”. Ông lão lại hỏi: “Sư có mang theo ba y chăng?” Sư đáp: “Từ khi thọ giới đến nay luôn mang theo”. Ông lão bảo: “Đó là chỗ chấp”. Sư nói: “Cũng có trong Thánh giáo mà, nếu cho phép dừng ở qua đêm thì tạm niệm xả y, nếu có nhân duyên ngoài ý muốn, thì Phật cho phép”. Ông lão bảo: “Nếu theo pháp Tiểu thừa, không nạn chẳng được xả y, phải nên gìn giữ”. Ông lão bèn phẩy vạt áo, Sư cũng rảo bước. Ông lão lại bảo: “Hãy nghe tôi nói kệ đây:

“Nhất niệm tịnh tâm là Bồ-đề
Hơn tạo vô số tháp bảy báu
Tháp báu cuối cùng cũng đổ nát
Nhất niệm tịnh tâm thành Chánh Giác”

Sư lắng thần cúi nghe, cảm tạ rằng: “Được nghe một kệ như uống đề hồ. Dung nhập vào trí môn đâu dám quên chỉ quyết. Trượng nhân có thể gọi là biết lời minh khắc vào tâm phủ”. Ông lão gọi: “Quân đề! Hãy đưa Sư đi”. Khi sắp đi, Ông lão lại vỗ vai Sư, bảo: “Khéo đi!”. Sư lại cúi mình, cùng đồng tử sánh ngang cùng bước. Đến trước hang Kim Cương, Sư hỏi Đồng tử rằng: “Đây là ngôi già-lam gì mà không treo bảng chùa?” Đồng tử chỉ hang Kim Cương, mà lại hỏi Sư rằng: “Ấy là hang gì ư?” Sư đáp: “Đời trước tương truyền tên là hang Kim Cương”. Đồng tử hỏi: “Dưới Kim Cương có chữ gì?” Sư chỉ suy nghĩ giây lát đáp: “Dưới Kim Cương có Bát-nhã”. Đồng tử mỉm cười rồi chỉ vào chùa Bát-nhã. Sư nắm tay Đồng tử vái chào mà từ biệt. Đồng tử đưa mắt nhìn thẳng vào Sư như muốn nói điều gì. Sư nói: “Tiễn đưa tôi có thể dùng lời thay cho vải the và ngọc chuyết chăng?” Đồng tử bén nói kệ rằng:

“Trên mặt không sân đủ cúng dường
Trong miệng không sân nhả hương thơm
Trong tâm không sân là tâm báu
Không nhiễm không dơ ấy chân thường.”

Nói kệ xong, trong khoảnh khắc, đồng tử và chùa Thánh đều biến mất, chỉ còn thấy núi rừng đất đá. Sư buồn bã dâng đầy, sùi sụt không thôi, bèn thán rằng: “Lời đầu dư luận như sênh ca, âm hưởng sau cùng vẫn còn!” Sư nhìn kỹ lại chỗ núi ông lão đứng, có mây trắng ùn ùn nổi dậy cách đất khoảng một lần, biến thành sáng mây năm mầu, trên có đức Đại Thánh cưỡi sư tử và các Bồ-tát vây quanh. Chỉ chừng trong khoảng bữa ăn, ở phương Đông có một đoạn mây trắng tạm che mặt Bồ-tát, các tượng và mây đều biến mất. Sư chợt thấy sáu vị Sa-môn Tu Chính, chủ chùa Bồ-đề ở Phần Châu đều sắp trở về đến trước hang để làm lễ, bỗng nhiên nghe tiếng đá núi rung chuyển như sấm sét, chư tăng vội bỏ chạy, giây lâu vắng bặt không thấy gì. Sư bèn trình bày lại cuộc gặp gỡ, cả sáu vị đều hối hận tự trách không thấy được tôn dung Đại Thánh, chỉ thước miên mạc biết tội chướng khó ngăn che. Sư bèn ẩn cư tại núi đó đến ngày viên tịch.

Vào niên hiệu Nguyên Hòa (806 – 821), môn nhân là Văn Nhất truy niệm thuật lại.

3. Truyện ngài Phổ Hóa ở Phủ Chân Định thời Tiền Đường:

Thích Phổ Hóa, không biết Sư là người xứ nào, bản tánh khác thường có lắm chân suất, cử chỉ phóng khoáng, nói năng chẳng bó buộc.

Sư tự thân kính thờ Thiền Sư Tích ở Bàn Sơn, kín đáo chỉ dạy, vào sâu chỗ mầu nhiệm, khuyên răn Sư gìn giữ, nhưng Sư phát cuồng bột, thường gặp gỡ ngài Nghĩa Huyền – Lâm Tế, mới đối đáp với đó bằng tiếng lừa kêu, đứng hầu bên cạnh mà chẳng mỉm cười. Có lúc Sư ca múa, có khi Sư buồn khóc, hoặc có lúc tiếp người, biến hóa muôn ngàn sắc thái, hời hợt bất thường. Một hôm, Sư vác hòm gỗ đi tuần giữa đường cái, lần lượt từng nhà mà cáo tử rằng:”Ngày mai Phổ Hóa tôi chết rồi”. Khi đó, những người trông thấy biết không thể mắng trách. Dân chúng đất Triệu cùng dẫn nhau đưa ra cửa thành phía Đông. Rồi Sư lớn tiếng bảo rằng: “Hôm nay an táng chẳng hợp với thanh ô!”. Qua hai ngày sau, đi ra cửa Nam mọi người cùng theo đưa. Sư lại bảo: “Ngày mai mới tốt”. Như vậy rồi đến cửa Tây cửa Bắc đi ra rồi trở lại. Mọi người phiền ý biếng lười. Bỗng một hôm, Sư an tọa giữa chỗ hoang vắng như nhập thiền định. Trong Thiền tông có ai soạn thuật gì, lấy đó làm lời phát ngôn, bậc Tiên giác xếp Sư vào trong khoa mục Tán Thánh, lời nói chẳng phải chánh viên.

4. Truyện ngài Đại Xuyên chùa Thê Hiền ở Hán,Châu thời Tiền Đường:

Thích Đại Xuyên, không rõ Sư là người xứ nào. Trằm mặc tự sống, tiết tháo nghiêm khắc, giới không thiếu sót, nói năng chẳng buông lung. Sư trụ tại chùa Thê Hiền ở Hán Châu, thực hành pháp Tứ Thánh Chủng, khắc khổ tinh tấn. Sư vui thích, chẳng trễ nãi, không già trẻ nào chẳng tôn sùng kính phụng. Đến lúc Sư thị tịch, nằm ở ngoài chùa, các hàng tại gia trang nghiêm giường chõng cùng nhau đón rước vào trong chùa để cử hành tang lễ. Bỗng nhiên có hai con nai dẫn trước như đi hầu. Mới đến ngưỡng cửa, biển ngạch tự nhiên rơi xuống đất. Mọi người xa gần đều kinh ngạc, khen ngợi.

Lại nữa, ở núi đó vô cùng kinh dị, chẳng dung chứa thô bỉ. Có Sa-môn Thâm Tạng, bất cẩn chí nguyện, có nhiều trái phạm, bị vị thần ném xuống núi xa chừng bảy dặm, chỉ thương tổn ngón chân. Từ đó, không ai chẳng chừa đổi giữ giới. Vào khoảng đầu niên hiệu Đại Lịch (766), ở phía Bắc núi biến thành mầu vàng ròng, phía trên có lầu gác, có Bồ-tát hành đạo, chỉ trong phút chốc có đến muôn hình ngàn trạng. Sư vốn ở chùa đó, cùng đất đều linh, nên lưu lại di ảnh cúng dường như kính hụng thờ linh từ.

Kế nữa, có Ngài Pháp Cảnh ở đất Mân Thành, không rõ Sư là người xứ nào. Sư hành trì Pháp hạnh Đầu-đà, chuyên cần khắc khổ, khơi bày khuyến hóa dân chúng đất Mân, từ khí thẳng thắn. Nghe ở Giang Nội thuộc luyện môn Hải Đàn có quả chuông lớn, tương truyền rằng: “Xưa kia có người sang Quảng Châu, kính mến chuông trống, đến bằng thuyền lớn nhưng vừa đến gặp phải sóng gió nên bị chìm. Mỗi tháng vào ngày rằm, triều dâng đến, nước thối lui, bờ lau mới xuất hiện có thể dung chứa một người, từ trong xuyên qua chu vi đường kính khoảng hơn một trượng. Vào niên hiệu Đại Lịch (766 – 780), Sư muốn ra chuông đó, trước đó chùa Khai Nguyên thiết đại trai hội, tự chủ sai một vị tăng nhỏ đến Long cung cầu thỉnh chuông để đem về nơi nhân thế đánh lên để cảnh tỉnh hôn mê. Vị tăng nhỏ ấy thấy thần biển nói rằng: “Ta tiếc vì trấn biển, riêng ban tặng ba viên châu nhỏ để làm tin”. Đương lúc dó, vị tăng nhỏ ấy như tỉnh giấc mộng thì có ba viên châu đã ở trong tay.

5. Truyện ngài Nan-Đà ở Tây Vực thời Tiền Đường:

Thích Nan-Đà, Hán dịch nghĩa là “hỷ”. Không rõ Sư thuộc họ gì và người ở nước nào. Sư là người lạ lùng khác thường, cung kính khinh mạn bất định.

Khoảng niên hiệu Kiến Trung (780 – 78), tự nhiên Sư đến xứ Mân Thục. Bấy giờ, Trương Ngụy Công mời Sư trấn nhậm ở Thành Đô. Sư tự nói: “Ta đã thành tựu Tam-muội Như Huyễn, từng xuống nước không ướt, vào lửa không cháy, có thể biến ra vàng đá, hóa hiện vô cùng”. Ban đầu, Sư đến đất Thục cùng ba cô Ni trẻ đồng đi, hoặc có lúc say mèm, điên cuồng ca hát, có khi nhóm chúng nói Pháp. Nhung Tướng rất giận ghét, kíp bảo bắt trói, Sư bị bắt đến, bèn nói rằng: “Bần đạo gá vết nơi tăng môn, riêng có dược thuật”. Nhân đó, Sư chỉ ba cô Ni mà bảo rằng: “Đây là những người khéo múa hát”. Nhung Tướng mới tôn trọng Sư, giữ Sư lại thiết bày rượu thịt dạ yến cùng chung ăn uống hát xướng. Sư bèn mượn áo cánh, quần dài, khăn lược, ba cô Ni mới tự son phấn cùng bày ngồi, ngắm nhìn cười cợt trạng thái trội vượt tuyệt trần, cùng uống đến nửa cuộc vui, Sư nói với các cô Ni rằng: “Hãy vì Áp Nha nhảy múa?” Nhân đó, chậm rãi tiến đối, múa men quay vòng, thoắt nhanh đứng dậy xoa đùi, tài khéo chẳng ai bằng. Giây lâu khúc nhạc đã hết mà múa vẫn chưa thôi. Sư mới quát rằng: “phong cách Phụ nữ như vậy hay sao”. Sư vụt đứng dậy lấy dao của Nhung Tướng, mọi người đều cho là tửu cuồng. Những người ngồi thảy đều kinh sợ bỏ chạy, Ngài bèn chặt đầu bacô Ni đều ngã lăn ra đất, máu chảy lan đến vài trượng. Nhung Tướng rất kinh hoảng, kêu mọi người chung quanh bắt trói Sư lại. Sư cười bảo: “Không sao”. Rồi từ từ nâng ba cô Ni dậy và dùng gậy trúc chống đỡ, máu chảy đến chỗ rượu uống. Sư lại bỏ ngồi uống tiếp, riêng sai người chặt đầu dùng đinh đóng hai tai vào cột, đều không có máu dơ, thân thể đã ngồi trên chiếu, rượu mang đến thì đều rót vào chỗ chặt, sắc mặt cũng đỏ, miệng lại ca múa, tay lại đánh vỗ ứng tiết, đến lúc tiệc tan, thân tự đứng dậy đến nơi trụ lấy đầu đặt vào, liền không vết sẹo gì.

Sư thường luôn nói chuyện lành dữ của người, phần nhiều là câu đố, sau đó mới ngộ hiểu. Tại Thành đô có người cúng dường vài ngày, Sư chợt không muốn ở, bèn đóng cửa lưu giữ Sư lại. Sư liền vào vách tường bít lại, và dẫn đó tạm vào, chỉ chừa lại một góc áo ca-sa, xa xa lại chẳng thấy. Ngày hôm sau, thấy trên vách tường có họa ảnh vị tăng, hình dáng như thường ngày, cách ngày dần dần rơi xuống, qua bảy ngày nữa thì không có vết mực đen, đến ngày thứ tám thì vết mực đen cũng biến mất. Có người sớm thấy Sư đã sang cõi Bành Châu. Sau không biết Sư đi đâu!

Liên hệ thử bàn:

Hình trạng vết tích của Ngài Nan-đà là tà hay chánh? Tà mà tự nói đã đắc Tam-muội Như Huyễn thì đồng như vua Vô Yểm Túc. Tammuội đó tức là Đại định của các Đức Phật. Chỉ như huyễn thấy như huyễn, không thể dùng ngôn luận mà phân cảnh giới. Trong bốn thứ thần thông có Như Huyễn thông, có khả năng chuyển biến vật bên ngoài, nên Ngài Nan-đà cảnh giác dân chúng đất Thục phần nhiều kính chuộng quỷ đạo thần tiên. Nếu chẳng phải loại Tam-muội đó thì không đủ để cảm hóa thế tục khó cảm hóa.

6. Truyện ngài Huyền Tông ở núi Tử Kim thời Tiền Đường:

Thích Huyền Tông, họ Ngô, người ở xứ Vĩnh Gia. Sư xuất gia từ thuở thiếu thời, khí độ rộng rãi. Sư ở tự viện Bảo Thọ, núi Vĩnh Định trong bổn bộ, nương tựa Thường Tỉnh làm Sư Chiếu. Sau khi đắc giới, Sư lại du phương tham học. Sư đến môn tịch của Thiền Sư Từ Lãng ở Giang Lăng, như vàng ròng đã được đúc, quyết rõ nghi lầm, Sư lại chống tích đến phương khác, thấy núi Tử Kim mà vui thích ở tự tâm nên dừng lại hành trì thiền quán. Núi đó trước kia có lắm hổ dữ, hoặc cắn người đi buôn, làm tổn thương kẻ tiều phu hái củi. Người lánh hà khắc khóc vợ rất u buồn. Từ khi Sư đến ở thì tiếng gầm thét cũng mất, từ đó, người vào núi không còn phải lo sợ. Một hôm, Thiền chúng nhóm họp, thấy có một ông lão rảo bước đến trước tòa quỳ lạy rất cung kính. Sư hỏi: “Ông là ai” Ông lão đáp: “Tôi vốn là hổ ở trong núi này ăn thịt chúng sinh. Nhờ Đại sư đến hành hóa ở đây, thầm xoay tâm tôi nên được thoát nghiệp thân hổ, đã sanh lên cõi trời, nên trở lại báo tạ, trong khoảnh khắc ông lão biến mất.

Đến niên hiệu Đại Lịch thứ 2 (767), Sư dặn dò giã biệt môn nhân rồi an nhiên thị tịch, thọ tám mươi sáu tuổi, tháng 2 nhập tháp, lập văn bia, nay vẫn hiện còn.

7. Truyện ngài Quảng Phu trụ núi Dương Kỳ ở Viên Châu, thời Tiền Đường:

Thích Quảng Phu, họ Trịnh, người ở xứ Nam Yên, thuở nhỏ Sư nương tựa Đại Đức Tư Hạo ở Kinh Vọng, dưới nương thừa pháp huấn. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư đến hai Kinh Tung Sơ, Thiếu Thất, gặp được Thiền Sư Thần Tú mà tỏ sáng huyền chỉ. Sư đến núi Dương Kỳ ở Nghi Xuân, dừng ở. Là nơi Trung Phong Loan Tích Thúy Động Huyệt Thiệp u nhàn, mầm mống nấm chi bám vào cỏ bôn. Sư suốt ngày nhắm mắt, ăn dùng cỏ cây qua bữa. Khi đó có những người đội mũ cao, choàng khoát áo lông, cỡi hạc ngồi xe loan, ban đầu thì chợt qua chợt lại, sau thì lên am đến cầu cạnh. Đó là các khách tiên đến, hẳn là mây nhẹ sương bạt từng bước màđến, những người theo ủng hộ là thiên đinh lực sĩ khiến đi xa, cùng đối gặp đàm luận qua thời gian. Sau khi đạo hóa đã hoàn thành, đến ngày mùng tháng 3 niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ nhất (78) Sư thị tịch, thọ chín mươi mốt tuổi.

Liên hệ thử bàn:

Thần tiên khác đạo, đàm luận há đồng ư? Thông đáp: Thuở xưa, còn nhỏ có vị chân nhân hay đàm luận về lý Không. Thần tiên các núi bèn xây tháp, tin sùng Phật đạo, chỉ không cạo bỏ râu tóc, không đắp mặc pháp y, gọi đó la Bồ-tát tại gia. Lại nữa, các vị tiên ở núi Tuyết, giỏi về luận ngũ minh mà cầu độ, là đồng. Nhung Đạo tương tự ấy phải phân biệt cho rõ. Như năm trong hai mươi đế ở Tây Vực, chỉ lượng về năm đại thì tên gọi đồng với Pháp của Phật giáo, còn sở chấp thì khác xa, thật là khó phân biệt!

8. Truyện ngài Viên Chấn trụ núi Ô Nha ở Đặng Châu, thời Tiền Đường:

Thích Viên Chấn, họ Trần, người ở xứ Trung Sơn. Từ thuở nhỏ, Sư đã cảnh ngộ mà ham học, vào trường học nghiên cứu Ngũ Kinh. Chợt gặp một vị Sa-môn vân du ở nghỉ qua đêm, cgha của Sư làm Châu Nha lại, rất có Đạo tâm, giữ vị tăng ấy lại cúng dường. Sư kính lễ phụng sự vị tăng ấy, được nghe đàm đạo rất tỏ ngộ nhập thần, bèn bỏ sách Nho, tìm học kinh Phật, chóng giã từ thân thích, sang núi Bạch Tư kính lễ phụng thờ Ngài Trí U làm thầy mà thọ giáo. Sau gặp được thiền Sư Hà Trạch nên đắc Pháp. Sư đến ẩn cư tại núi Ô Nha ở Nam Dương. Trong núi đó trước kia vốn có nhiều con rắn lớn, trong hang đầm lại có rồng độc, dân chúng bản xứ rất lo sợ. Từ lúc Sư đến ở thì hai loài vật đó đều biến mất, từng có một người hình hài sắc phục lạ thường đến lễ bái, thưa Sư rằng: “Tôi ở tại đây đã hai trăm năm, ngày nay cảm được sụ giáo hóa vô tâm, tu hành không lo lắng, bọn chúng tôi thầm cảm được siêu thăng, há chẳng do năng lực của Sư ư?” Đến niên hiệu Trinh Nguyên thứ 6 (790), Sư thị tịch, thọ tám mươi sáu tuổi, đệ tử đón rước toàn thân nhập tháp.

9. Truyện ngài Thích Địa Tạng trụ chùa Hóa Thành ở núi Cửu Hoa, thuộc Trì Châu, thời Tiền Đường:

Thích Địa Tạng, họ Kim, là chi thuộc của Quốc vương Tân-la. Sư từ tâm mà dáng mạo xấu ác, thông minh dĩnh ngộ tự nhiên, thân cao bảy thước, đảnh cốt nhô cao, đạc biệt có tài cao, sức lực có thể địch nổi mười người. Sư thường tự hối rằng: “Trong Lục tịch hoàn và Tam thanh thuật, chỉ có đệ nhứt nghĩa hợp với phương thốn”. Khi đó, Sư xuống tóc, vượt biển bỏ thuyền mà đi. Sư chống tích du phương, tình cờ đến Trì Dương thấy núi Cửu Tử mà trong tâm ưa thích, bèn dò bước lên trên đảnh được chỗ đất trong hang, mặt sáng mà khoan bằng. Đất ở đó mầu đen mềm, suối nước ngon ngọt, Sư ở trên khe múc lấy dùng qua ngày. Sư từng bị nộc độc mà vẫn an nhiên doan tọa không lo nghĩ. Bỗng có cô gái đẹp lạ đến lễ bái dâng cúng thuốc men, và thưa rằng: Tiểu nhi không biết, xin nguyện ra khỏi suối để tạ lỗi!” Nói xong, bèn biến mất, Sư trông thấy chúng quanh tòa nước chảy đầy. Khi đó, cho là thần núi Cửu Tử khơi dòng nước để giúp dùng.

Vào niên hiệu Thiên Bảo (72 – 76), Lý Bạch đến núi nầy, gọi là núi Cửu Hoa. Tục truyền rằng thần núi đó là phụ nữ. Trên đảnh núi phần nhiều thường có sương mù mây tụ, ít lúc nào lộ bày đảnh. Sư vốn nguyện hành trì bốn bộ kinh lớn, bèn xuống núi đến Nam Lăng, có Tín Sĩ viết giúp, được kinh rồi Sư thỉnh trở về núi.

Những năm đầu niên hiệu Chí Đức, có Gia Cát Tiết dẫn Thôn Phụ từ chân núi lên chỗ cao sâu không người, thương ngày có mây sáng đẹp, chỉ Sư ở một mình mà lại nhắm mắt xoay vào hang đá. Trong phòng có cái đảnh gãy chân, trong đảnh có đất trắng hòa với gạo rang mà ăn dùng. Quận lão kinh hãi than rằng: “Hòa-thượng khổ hạnh như thế, bọn chúng tôi có lỗi riêng ở dươi núi!”. Bèn cùng nhau xây dựng Thiền vũ, không mấy năm mà thành ngôi chùa lớn. Đến những năm đầu niên hiệu Kiến Trung Trương Công Nghiêm nhậm trị bang đó, do kính mến cao phong của Sư, nhân đó đổi bản ngạch cũ, tấu trình đặt thành chùa, tại bổn quốc (nước Tân-la) nghe thế, bèn cùng nhau vượt biển tìm đến. Từ dó, đồ chúng rất đông mà không vật thực để cung cấp cho đồ chúng ăn. Đồ chúng đó vốn muốn thỉnh pháp để nuôi thần chẳng vì ăn uống mà dưỡng mạng. Ở phương Nam gọi đó là chúng Khô Cảo, không ai chẳng tôn sùng kính ngưỡng. Bên cạnh Long Đàm có đất mài mầu trắng lấy mãi mà chẳng hết.

Đến mùa Hạ niên hiệu Trinh Nguyên thứ 9 (793), bỗng nhiên Sư nhóm chúng mà cáo biệt. Không biết cái gì vụt qua, chỉ nghe tiếng núi đá rơi đổ gõ vào chuông phát tiếng. Sư ngồi kiết già mà thị tịch, thọ chín mươi chín tuổi. Nhục thể Sư an trí ngồi trong hòm, ba năm sau mở đêm ra nhập tháp, nhan sắc cũng như lúc còn sống. Nâng khiêng xương cốt bị động phát ra tiếng như lay lắc xích khóa vàng, bèn xây một ngôi tháp nhỏ ở Nam Đài, đó vốn chỗ đất Sư yên tọa. Bấy giờ, chúng sĩ hữu thâu nhặt di phí, quan khanh tựa sự vẫn còn. Vào niên hiệu Đại Trung (87 – 860), Sa-môn Ứng Vật cũng ghi lại đức hạnh của Sư.

10. Truyện ngài Thần Huyên trụ núi Kim Hoa ở Vụ Châu, thời Tiền Đường:

Thích Thần Huyên, họ Lưu, người ở xứ Kiến Dương. Từ thuở nhỏ Sư đã trầm tĩnh, không hỏi chẳng nói, Sư đến chùa Khai Nguyên mà phát chí nguyện xuất gia. Tự nhiên bổn quận Thái Thú vào chùa hỏi thầy Sư, trông thấy Sư có thần thái lãng luyện, Thái Thú khéo xem tướng người. Ngoảnh trông nhìn kỹ đôi ba phen, lại bảo: “Đứa trẻ nầy thật là pháp khí xuất trần. Ngày sau đến nương thọ Pháp mầu có cả ngàn chúng vây quanh, hẳn vượt thượng quả, chẳng phải là phàm khí”. Và khi trì tụng thần chú Thất Phật Câu-Chi, tối sáng chẳng dứt. Sau khi thọ giới, Sư đến dừng ở trong hang đá tại động Bách Gia Nham thuộc phía Bắc núi Kim Hoa, chẳng dựng lập am thất, thực hành hạnh Đầu-đà lộ địa, lại không giường chõng, nhưng có vị thần nhả mây khí sắc tía che chở, xa trông nhiễm nhiễm như Độc Trụ Quán. Vị thần đó có lúc đến hỏi đạo, khoanh tay thưa Sư rằng: “Đảnh núi phía Đông Động Xích Tùng có rừng suối trác dị, Sư có thể đến ở đó chăng?” Sư thuận theo lời thỉnh sang đó ở vài năm, có nhiều điều ứng tốt lành.

Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 2 (786), gặp Thiền Sư Chí Hiền nói với Sư rằng: “Trì tụng như thế ma sự sẽ sanh. Muốn diệt ma oán phải biết gốc thân. Gốc thân thật không ma không Phật”. Sư hoát nhiên khai ngộ, lý sự đều thành, công năng thần chú càng gấp bội. Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 8 (813), Phạm Dương Tung Thừa biết kính ngưỡng, sai sứ mang sữa, hương, giạ, len, các đồ vật đến cúng dường Sư và hồi thí cùng đại chúng hiện tiền. Tiếp theo có Trung Thư Xá Nhân Vương Trọng thỉnh Sư đến chùa Đại Vân truyền giới Bồ-tát cho đại chúng. Đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ 12 (817), Bình Xương Mạnh Giản Thượng Thư từ Cối Kê thỉnh mà Sư không đến. Tới tháng 8, bỗng nhiên Sư trở về viện cũ, mọi người chẳng lường rõ, bỗng chốc bảo là thị tịch, Sư thọ bảy mươi sáu tuổi, các đệ tử xây tháp thờ.

Có thuyết nói: lúc Sư ở tại núi Kim Hoa, tại phía Bắc lạnh nhiều ít nắng. Vị thần hỏi Sư rằng: “Sư cần vật gì?” Sư bảo: “Phía Nam núi tôi ở bị khổ vì quá lạnh”. Thần nói: “Ấy là việc nhỏ”. Đến đêm nghe tiếng của Sư, đến sáng sớm thấy một ngọn núi nhỏ đã dời đổi.

11. Truyện ngài Đạo Hạnh trụ chùa Khai Nguyên ở Lễ Châu thời Tiền Đường:

Thích Đạo Hạnh, họ Lương, người ở xứ Quế Dương. Từ lúc sanh Sư về sau, Sư vốn thần phủ thông minh, cơ thể như băng tuyết.

Năm mười hai tuổi, Sư phát tâm kính mến đạo, đến thọ học tại Đạo Tràng Bát-nhã ở Nam Nhạc. Ngài đến Chung Lăng cầu quyết trạch, tự thầm chứng pháp, hiệu là Tự Tại Tam-muội. Từ đó Sư mặc áo nạp vải bố, mang giầy cỏ Bồ, để dưỡng hơi tàn mà thôi. Sư đến phía Tây Nam Lễ Dương, chặt cây làm thất phương trượng mà ở. Tại đó có lắm hổ báo thường đến nằm quanh giường chõng. Sau có người mang gỗ tốt đến xây dựng nhà cửa, chưa đến mười ngày đã hoàn thành. Nhìn lại thì vắng bặt không có người nào cả. Mới biết là quỷ thần xả thí gỗ và giúp sức. Thái thú khổ nhọc mới thỉnh được Sư đến trụ chùa Khai Nguyên ở Châu Trị.

Sau đó không lâu, Sư thị tịch vào niên hiệu Nguyên Hòa thứ 1, thọ sáu mươi chín tuổi. Trà-tỳ thâu nhặt xá-lợi xây tháp thờ.

12. Truyện ngài Hoài Không trụ núi An Phong ở Từ Châu thời Tiền Đường:

Thích Hoài Không, họ Lương, người ở xứ Mân Châu. Từ thuở bé,

Sư đến Viện Quảng Phước ở núi Kỳ-Xà thuộc trong bổn Châu, cạo tóc xuất gia. Sau khi đắc giới, Sư du phương tham học. Ngài ở trong thiền pháp của Thiền Sư Đại Tịch gột rửa tỏ sáng. Sau Sư đến núi An Phong ở Bình Thành mà trụ ở đó. Sư trụ ở đó chưa được mấy năm mà đã trở thành một đại già lam, từng có một vị tăng nương giữa hư không mà đến, đi nhiễu quanh tường không nghỉ, hoặc có lúc nhẹ bước trên hoa sen, hoặc có lúc phủ đất, mọi người đều trông thấy. Sau vài ngày, bèn đảnh lễ Sư mà từ giã. Lại nói: “Tôi từ ba đến năm năm trở lại nương nhờ”. Nói xong liền biến mất.

Đến niên hiệu Hưng Nguyên thứ nhất (78) Sư thị tịch, thọ tám mươi tám tuổi. Sang tháng 2 niên hiệu Trường Khánh thứ nhất (821) mới dời nhập tháp, v.v…

13. Truyện ngài Viên Quán trụ chùa Tuệ Lâm ở kinh đô Lạc Dương thời Tiền Đường:

Thích Viên Quán, không rõ Sư là người xứ nào, Sư ở tại Lạc Trạch, tánh tình đơn giản, hoặc chuyên cần Phạn học, giỏi sanh kế, được lợi ruộng vườn. Bấy giờ, Sư được gọi là”Không môn y đến”. Ngoài ra, Sư có lắm thi vi tuyệt dị, lại thông rành âm luật.

Cuối niên hiệu Đại Lịch (780), Sư cùng Lý Nguyên kết bạn vong hình. Thân phụ Lý Nguyên là Lý Trùng ở Thủ. Khoảng cuối niên hiệu Thiên Bảo (76) bị vùi lấp trong giặc, bèn đem gia nghiệp xả thí vào chùa Tuệ Lâm ở phía Bắc Lạc Thành, tức ruộng nhà riêng của Lý Trừng. Và cho đó là “Công dụng vô tận tài”. Nhưng thường ngày cung cấp một đồ vật, theo chúng tăng ăn uống mà thôi. Như vậy suốt ba năm. Lý Nguyên khéo phục vụ thức ăn. Bỗng hẹn cùng Sư đi đến các núi động như Nga Mi ở Thanh Thành,… để tìm thuốc. Sư muốn đi Trường An từ đường Gia Cốc. Lý Nguyên muốn từ Kinh vào Hạp, tranh luận hai đường đến nửa năm chưa quyết định. Lý Nguyên nói: “Tôi đã không thờ phụng Vương Hầu, nên đi chẳng muốn trải qua đường của hai Kinh!” Bèn từ Kinh lên Hạp, đi đến Nam Phố, ghé thuyền thấy vài phụ nữ điều đạt đeo nhiều châu ngọc, mang thùng gánh nước, Sư cúi đầu khóc nói: “Tôi không muốn đi qua đường này là sợ thấy người phụ nữ ấy!” Lý Nguyên nói: “Người phụ nữ mang thai đó vốn họ Vương, là nơi tôi gá thân, đã qua ba năm còn chưa sanh nở, chỉ vì tôi chưa đến. Nay đã thấy thì thân mạng này sắp kết quy. Đó là việc trong Phật giáo gọi là tuần hoàn. Xin ông dùng phù chú làm cho người đó chóng sanh. Vả lại, xin nán lại thời gian dùng thuyền đưa xác thân tôi an táng nơi hang núi. Và lúc nhà người ấy tắm gội cho đứa bé, cũng mong ông đến hỏi thăm. Nếu ngoảnh lại nhìn cười, thì ấy là còn nhận biết ông.” Sau mười hai năm, vào đêm Trung Thu sẽ cùng gặp ông ở phía ngoài chùa Thiên Trúc thuộc xứ Tiền Đường. Đó là kỳ hạn gặp gỡ ông!”. Lý Nguyên hối hận về chuyến đi đó. Còn Sư lúc đó buồn thương gần tuyệt. Mới kêu gọi ngươi phụ nữ mang thai ấy mà nói cho biết sự việc. Người phụ nữ ấy mừng vui, hớn hở trở về. Trong chốc lát thì bà con thân tộc nhóm họp đông đúc, đem cá khô rượu đục bày tiệc ở trên bờ sông. Lý Nguyên bèn sang trao nước có chú nguyện. Sư tắm rửa xong xuôi thay đổi y phục, và Sư vừa tắt hơi thở thì người phụ nữ ấy liền sanh.

Ba ngày sau, Lý Nguyên sang xem đứa bé mới sanh, đang ấp trong tã bồng đến chỗ sáng, quả nhiên mỉm cười. Lý Nguyên khóc mà nói rõ với Vương Thị. Vương Thị lo việc tang lễ của Sư rất nồng hậu. Ngày hôm sau, Lý Nguyên quay thuyền trở về chùa Tuệ Lâm, hỏi đệ tử của Sư mới biết Sư đã thị tịch. Lý Nguyên luôn nhớ nghĩ ước hẹn đến Hàng Châu. Khi đã đến kỳ hạn bèn đến chùa Thiên Trúc. Đêm đó ánh trăng sáng ngời, bỗng nghe bên bờ giếng Cát Hồng có tiếng mục đồng ca khúc nhạc Trúc Chi, đang cỡi bò, gõ sừng, đầu để hai búi tóc, mặc áo ngắn, từ từ đi đến trươc chùa. Đó chính là thân sau của Sư. Lý Nguyên liền rảo bước lại vái chào hỏi rằng: “Quán Công khỏe chăng?” Sư bảo: “Lý Công thật là kẻ sĩ giữ niềm tin, tôi và ông khác đường, cẩn thận chớ gần nhau, ông chưa hết duyên đời, chỉ nên tinh tấn tu tập, không sa đọa thì sẽ gặp nhau!” Lý Nguyên không do đâu mà mở lời, chỉ biết trông nhìn lặng lẽ. Sư lại ca hát khúc nhạc Trúc Chi, Tra y đi trước, ngôn từ tha thiết, khúc điệu xa vời, chẳng biết nói làm sao. Lý Nguyên bèn khen rằng: “Quán Công thật là vị tăng đắc đạo! Chỉ trong thước tất cách biệt mà thánh phàm khác lối, xét thật có điều ấy!”.

Ban đầu, Lý Nguyên buồn hận cha mình bị giặc làm hại. Lúc đó chỉ mới tám tuổi lại bị bọn giặc bắt tù, trôi giạt khắp Nam Bắc, xoay vần nơi quê người, sáu mươi năm sau mới trở về chỗ gần gũi. Vua Đại Tông nghe thế, trao ban chức Hà Phủ Duyện. Lý Nguyên dứt bỏ hẳn rượu thịt, không lập gia đình, chẳng kẻ tôi tớ chăm sóc, thường nương tựa chùa Tuệ Lâm, ở trong một thất, theo chúng trai thực. Lo trước huyệt mộ ở quê nhà, chuẩn bị mọi việc sau khi qua đời, và thường luôn sang nghỉ ở đó. Còn mọi sự vinh nhục, thị phi mỗi mỗi đều bình đẳng. Bấy giờ, Tướng Quốc Lý Công Đức dụ dâng biểu tiến cử, triều đình bèn ban chức “Giản Nghị Đại Phu”. Khi đó, Lý Nguyên đã hơn tám mươi tuổi, bèn dâng biểu từ chối, hai năm sau thì qua đời, nhằm niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (822).

Liên hệ thử bàn:

Ngài Viên Quán chưa chết mà đã gá thai trước như thế, nghe hẳn không tin. Vì sao? Vì trái với Thánh giáo! Từng nghe Mân-Ni có lắm như thế, làm con ở nơi nhà dòng tộc phụ nữ, nói là “Tiện lai”, và đến khi sắp chết dùng son chấm trên đùi. Ngay ngày đó có nhà sanh con, trên thân có viết hai chữ “Tiện Lại” màu đỏ. Cùng loại như vậy cũng nhiều. Chỗ Trang Tử gọi là Khúc Sĩ không thể cùng nói Đạo. Bó buộc bởi giáo. Đó cũng như dị kế hữu giáo ở Tây Vực chưa truyền đến, Phật hoặc riêng đàm từng hội, thấy có Tông ta tự như thế. Nếu vậy thì chưa thể chấp nhất định đã hành. Đó như ngài Viên Quán quả chứng đã cao sâu, đồng như Luận Trí Độ nói có nhiều thứ không thể suy nghĩ bàn luận. Tâm nghĩ miệng nói ngàn dặm khó đuổi theo.

14. Truyện ngài Pháp Tạng trụ trên ngọn Ngũ Lão ở Lô Sơn thời Tiền Đường:

Thích Pháp Tạng, họ Chu, người ở xứ Nam Khương. Thuở còn nhỏ, Sư đã thông minh giỏi giang, bèn nghiên tầm sách sử và rất giỏi về Y Phương Minh, đồng với diệu dụng của Chi Pháp Tồn. Trong chúng tăng có vị bị bịnh, nhiều người bảo không thể cứu nổi. Sư đến bắt mạch bổ thuốc, chỉ vài hôm trở lại bình phục. Vị tăng ấy hay tiếp Sư bàn nói huyền Pháp, từ đó, Sư nảy ý xuất trần, khi ấy tuổi đã lớn. Sư khẩn thiết giã từ cha mẹ, đến Viện Bảo Tích ở núi Bình Điền trong bổn quận theo Đại Sư Nguyện tầm học thọ giới.

Sau, Sư đến tham yết Thiền Sư Đại Tịch nói dụ như đá chọi nước, bỗng nhiên Sư sang phương Bắc xuống Lô Sơn, lên đỉnh núi Ngũ Lão bèn mến thích ở đó linh dị, nên riêng ở nơi rừng lạnh, hái nhặt trái rừng, vốc nước khe suối để qua ngày. Sư dừng ở đó vài năm. Có hai vị tiên cưỡi mây mà đến, suốt ngày bàn luận có lúc ở lại qua đêm, hoặc trải qua cả tháng chẳng đến, hoặc đến nhiều ngày liên tiếp, những người chung quanh có thấy, nói lại khác nhau. Đến lúc học chúng nhóm họp đông đúc thì hoàn toàn không thấy tông tích. Lại một hôm, hai vị tiên cáo từ, nói với Sư rằng: “Xin trở về núi, Sư ở lại an lành!” Từ đó đạo hạnh Sư lan tỏa, đàn việt cùng nhau xây dựng một ngôi viện.

Khoảng niên hiệu Bảo Lịch (827), Sư thị tịch, thọ tám mươi hai tuổi. Ngày mùng tháng 3 năm đó nhập tháp, v.v…

Liên hệ thử bàn:

Lúc Ngài Pháp Tạng ẩn cư ở núi Ngũ Lão, có hai vị tiên đến đàm luận suốt ngày như thế là sao? Thông đáp: Xưa kia, Lưu Hướng ghi tập Liệt Tiên nói rằng: “Có bao nhiêu người thấu suốt nội điển ư? Lại nữa, Bùi Chu Đồng Bách, đệ tử Tam chân nhân, đều học Phật pháp phân nửa, có thể chẳng đến hỏi đạo ư? Trong thơ có nói: “Thảo trùng ứng vơi phụ chung” là đồng.

15. Truyện ngài Giám Không ở chùa Hương Sơn thời Tiền Đường:

Thích Giám Không, họ Tề, người ở Quận Ngô. Thuở bé nhỏ nghèo khổ, Sư siêng năng học tập mà ít ghi nhớ. Đến tuổi tráng niên, Sư làm thơ, chẳng bóng bẩy lắm. Thường khốn khổ qua lại xứ Ngô Sở đã bốn, năm năm. Cầu chỗ đượm nhuần ở Yết Hầu Bá chẳng bao nhiêu. Tiền hoặc xâu đầy thì bịnh sanh, tiêu dùng hết mới lành!

Đầu niên hiệu Nguyên Hòa (807), Sư đến Tiền Đường, gặp phải hoang sơ nghèo thiếu, mới tự bàn nghĩ xin ăn ở chùa Thiên Trúc. Đến chùa Cô Sơn thì quá đói chẳng tiến bước, nhân đó đến bên dòng tuyết, rơi lệ khóc buồn mấy tiếng. Bỗng nhiên có vị Phạm tăng ngồi trên dòng tuyết, ngoảnh nhìn Sư, bảo rằng: “Pháp Sư Tú Tài Lư Du thức ngon nhiều chất bổ đã đủ chưa? Sư đáp: “Lư Du, tư vị đã đủ”. Pháp sư gọi một tiếng sao trái lầm vậy?” Bởi Sư lúc chưa làm tăng tên là Quân Phòng. Vị Phạm tăng ấy bảo: “Ông không nhớ giảng Kinh Pháp Hoa ở chùa Đồng Đức sao?” Sư nói: “Thân tôi nay đã bốn mươi lăm tuổi, quanh quẩn vùng đất Ngô Sở, chưa từng bước đến Kinh Khẩu, làm gì có việc ở Lạc Trung?” Vị Phạm Tăng ấy bảo: “Ông đang bị lửa đói thiêu đốt, chưa rảnh để nhớ lại việc cũ”. Bèn lấy trong đãy ra một trái táo lớn bằng nắm tay, và bảo: “Vật này sản sanh ở nước tôi. Người ăn nó, nếu là thượng trí thì biết được việc ở quá khứ và vị lai, hạng hạ trí thì chỉ biết được việc đời trước”. Sư quá đói bèn ăn táo và vốc nước suối mà uống, bỗng nhiên ngáp dài rồi gối đầu vào đá mà ngủ, trong khoảnh khắc thức dậy, nhớ lại việc giảng kinh ở chùa Đông Đức như mới hôm qua. Nhân đó, lại khóc gào, hỏi vị Phạm tăng ấy rằng: “Hòa-thượng Chấn ở đâu?” Đáp: “Chuyên tinh chưa thấu đáo nên trở lại làm vị tăng ở đất Thục, nay đã dứt bỏ phan duyên”. Hỏi: “Thần thượng nhân ở đâu?” Đáp: “Nguyện xưa chưa mãn”. Hỏi: “Pháp sư Ngộ ở đâu?” Đáp: “Há không nhớ ở trước tượng Hương Tích đùa phát đại nguyện ư? Nếu chẳng chứng Vô Thượng Bồ-đề nguyện làm quỷ thần có sức mạnh. Hôm qua nghe đã được làm đại tướng quân. Trong lúc năm người lưu lạc khắp nơi, chỉ có mình tôi được giải thoát, và riêng mình ông là kẻ sĩ đói lạnh”. Sư khóc, nói: “Tôi bốn mươi năm, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, hơn ba mươi năm chỉ mặc một chiếc áo vải thô. Mải nổi trôi việc trần tục, quyết dứt nguồn gốc, sao cầu phước mà chẳng hoàn bị, lại mắc phải đói lạnh!” Vị Phạm Tăng ấy nói: “Bởi Sư lúc ngồi trên tòa sư tử, giảng nói những việc lạ lùng, khiến người học đối với nghĩa “Không” sanh tâm nghi ngờ. Giới châu từng bị sứt mẻ, mùi tanh hôi hiện còn chút ít, tiếng uế trược ảnh hưởng, thanh tịnh chưa đến được, thân hình gầy còm, báo ứng nên như thế”. Sư nói: “Vậy thì làm sao?” Vị tăng ấy nói: “Việc ngày nay tôi không tính, việc đời khác cảnh tỉnh với ông”. Bèn tìm trong đãy đựng bát lấy ra một cai gương hai mặt đều trong sáng, và nói với Sư rằng: “Muốn biết được thân phận sang hèn, kỳ hạn ngắn dài, Phật pháp hưng suy, Đạo ta thạnh suy, nên nhìn vào gương một cái”. Sư soi chiếu xem xét giây lâu, mơi cảm tạ rằng: “Sự báo ứng, lý hưng suy, cẩn trọng mà biết đó”. Vị Phạm Tăng ấy lấy lại gương cất vào trong đãy, đi chừng hơn mười bước thì vụt biến mất. Đêm ấy, Sư vào chùa Linh Tả xin xuất gia, thọ giới cụ túc. Sau vân du các danh sơn, càng cao khổ tiết.

Niên hiệu Thái Hòa thứ nhất (827), Sư đến Lạc Dương, trụ chùa Thiên Trúc ở Long Môn, gặp Liễu Trình ở Hà Đông. Sư nói nguyên do với Trình, Trình nghe việc Sư nói đều chẳng thường mà lại còn lắm kỳ dị. Sư nói: “Tôi sống nay đã bảy mươi bảy tuổi, ba mươi hai hạ lạp, còn chín năm trì bát khất thực ở giữa đời. Ngày tôi thị tịch là Phật pháp suy diệt!” Liễu Trình hỏi nguyên do, Sư yên lặng không đáp. Mới bảo Liễu Trình đưa bút nghiên đề vài hàng ở vách tường phía Bắc Kinh tàng mà đi. Sư viết rằng: “Hưng chỉ như một hạt cát, suy thì như số cát sông Hằng. Thỏ mà vất bỏ, chó mà bắt lấy. Trâu hổ giao nhau bằng sừng nanh, nhưng không thể nào phá diệt Hoa Đàn bảo”.

Liên hệ thử bàn:

Ngài Giám Không ăn táo của Phạm tăng mà biết được túc mạng. Cùng như thuốc của Tuyết Sơn giải ngôn âm các nước là đồng. Soi gương mà biết được tốt xấu, cùng như dòm ngó Đồ Trừng bôi xoa vào tay là đồng. Ăn táo soi gương há là ngẫu nhiên ư? Đó là sự gặp gỡ của người phi thường. Ngài Giám Không đề sấm mà lấp bít câu hỏi của Liễu Trình. Xét việc phá hủy Phật giáo vào niên hiệu Hội Xương (81 – 87), bấy giờ, vua Võ Tông bắt ép tăng ni hoàn tục có hơn hai trăm lẻ bảy ngàn người, phá chùa viện lan-nhã có đến bốn mươi bảy ngàn ngôi. Nên Sư đề: “Hưng chỉ như một hạt cát mà suy thì như số cát sông Hằng, thỏ mà vất bỏ, chó mà bắt lấy”. Đó là nói tàn hại rất lắm. Vào năm Ất Sửu (8) phá hủy Pháp, đến năm Bính Dần (86) thì xuất gia! Phật pháp dụ như cây đèn báu không bao giờ tắt mất, hoa nó vẫn phảng phất, cho nên nói như vậy. Nếu chẳng phải là dị nhân thì đâu thể giấu diếm việc đã qua và khảo cứu việc tương lai?

16. Truyện ngài Đạo Hạnh trụ núi La Phù ở Quảng Châu, thời Tiền Đường:

Thích Đạo Hạnh, họ Mai, người ở xứ Cối Kê. Cha Sư làm nha lại Việt Châu. Thuở bé, Sư đã sớm biết viết, so với người thì đã thành tựu tốt đẹp. Có vị tăng khất thực, Sư đón rước cùng đàm luận rất tinh thông thiền quán. Sư bèn xin xuất gia, đến Viện Bảo Thọ ở núi Tứ Minh chỗ Thiền sư Trí U mà bẩm thọ tiến tu, thường ngày lo việc lượm củi, múc nước.

Sau Sư đến Nam Nhạc, nghe Thiền sư Đại Tịch đang hóa đạo tại Giang Tây, Sư bèn sang đó theo hầu nương tựa, nuôi dưỡng mầm Thánh. Thấy núi La Phù kỳ dị, cao ba ngàn trượng, có bảy mươi hang đá, bảy mươi hai khe suối dài, Tiên Nhân cầm cây ngọc lá đỏ mọc ở trên, một nửa duổi xuống biển. Sư ở trong hang đá vắng lặng an thiền. Nhưng cũng có lúc Sơn Tinh Thủy Quái thường hay kêu réo kinh hãi, Sư vẫn xem thường. Có một ông lão dung mạo quắc thước, áo mão sáng đẹp, đến lạy cúi đầu thưa với Sư rằng “Tôi ở trong đây đã hai trăm năm, nay nhờ Sư đến ở, thầm cảm vô cùng, được tiêu dao thoát khổ, sanh lên làm người hưởng vui”. Sư cảm hóa vật tình phần nhiều giống như thế.

Vào niên hiệu Bảo Lịch thứ 9 (82 – 827), Sư thị hiện bị bịnh mà thị tịch, thọ chím mươi lăm tuổi. Ngày 19 tháng 9 năm đó nhập tháp.

17. Truyện ngài Phổ Mãn ở Lộ Châu thời Tiền Đường:

Thích Phổ Mãn, không biết Sư là người xứ nào. Sư từng ở tại Phần Tấn, phóng ý buông lung, chẳng giữ tăng thể, hoặc ca hoặc khóc, chẳng ai hiểu được ý Sư. Sư nói năng bài bác gì, việc qua rồi thì có chứng nghiệm. Nên người đương thời gọi Sư là Vạn Hồi. Hoặc có lúc Sư vào Kê Hồ khuyên người tu điều lành đến nỗi có người bỏ nghề săn bắn.

Đầu niên hiệu Kiến Trung (780), Sư vào trong Phật xá ở Lộ Châu, ghi vào bài thơ mà thị tịch. Sư có viết bài thơ rằng:

“Sông liền sông Kinh
Hai giọt máu đỏ sông
Trâu xanh dắt hổ đỏ
Lại gọi năm thái bình”.

Sư viết vậy mà người sau chẳng biết. Đến Chu Thử là nguồn của sông Kinh, phản đường suy ủng giá đến Phụng Thiên. Khi đó mọi người mới thấy binh quan bổ giặc chiếm cứ vây bức liền đánh. Mọi người mới tỏ rõ. “Sông Thử” (vốn Sư viết là Thử thủy, nghĩa là nước Thử ) tức chỉ sông Thử. “Sông Kinh” tức là Kinh Châu, giặc mới làm loạn. Hai giọt máu đỏ (song chu huyết) tức là sông Thử và sông Thao. Trâu Xanh (thanh ngưu) tức chỉ niên hiệu Hưng Nguyên thứ nhất, là năm Ất Sửu (8). Ất là thuộc hành Mộc, sắc xanh; Sửu là trâu (ngưu). Bính thuộc hành Hỏa, là sắc đỏ, Dần là hổ. Đến lúc đó giặc mới trở lại bình lặng nên Sư viết là”lại gọi là năm thái bình”.

18. Truyện ngài Ta Ta ở phủ Giang Lăng thời Tiền Đường:

Thích Ta Ta, Sư còn tên là Thanh. Vì Sư giao tiếp với mọi người, miệng tự nói Ta Ta, nên gọi Sư như thế.

Dưới triều vua Đức Tông, Ngài lãng du ở Chử Cung, y phục sách rưới, tướng trạng rất ngu si mà lại giỏi ca hát “Hà mãn Tử”. Sư có hành vi buông lung nên không định kiểm, có lần gặp Túy Ngũ Bá, Ngũ Bá ở giữa đường làm nhục Sư, bắt Sư xướng ca. Sư liền cất cao tiếng xướng điệu, trong ngôn từ đều bới móc việc xấu vết ố âm tư từ trước của Ngũ Bá, điều mà mọi người đều chưa nghe biết. Ngũ Bá xấu hổ bàng hoàng. Những người bên cạnh nghe được, biết Sư là Thánh tăng, nên quỳ lạy sám hối tội lỗi.

Khoảng đầu niên hiệu Trinh Nguyên (78), Sư vào trong quán chợ, lũ trẻ con chạy theo. Dân chúng nước Sở đều cười nhạo. Sau, không biết Sư mất ở đâu!

Kế nữa, có một vị tăng cuồng, du hành vô độ. Mỗi lần đoán trúng, chỉ ăn mấy thăng dầu mè. Nếu được ai bố thí cho bát lớn đựng đầy dầu mè thì mừng vui. Có một nhà Kinh chữ đặc biệt mời nếm dầu mè, ngày đó Sư lại ứng trai ở Hồ Nam, Sư phân thân ứng cúng, nên hiệu là “Thực Du Sư” (ông thầy uống dầu).

Liên hệ thử bàn:

Chữ Ta là âm Thương hay Vũ? Thông đáp: “Truyện Gia Thể Lục nên hai hai trường hợp: Một là căn cứ theo văn chẳng âm, hai là miệng trao biết vận. Nay được như thế tức là căn cứ theo văn. Như tiếng thừa của Sở từ thì là Tô cá thiết (tức là âm ta). Vị Sư này là việc ở kinh Sở.

19. Truyện ngài Nghĩa Sư ở Quận Ngô thời Tiền Đường:

Thích Nghĩa Sư, không rõ Sư người xứ nào. Tướng mạo phong cuồng, nói năng đảo loạn. Đầu niên hiệu Trinh Nguyên (78), Sư đến xứ Ngô Uyển để khất thực, các việc thường biết trước. Mọi người vì thế mà sinh nghi về Sư. Dân chúng ở trong phố chợ có vài căn nhà, bỗng nhiên Sư mang vác búa đến chặt phá mái nhà. Mọi người can ngăn mà Sư không dừng. Những người ấy vốn biết Sư là thần dị nên mơi đến lễ bái mà thưa rằng: “Đệ tử nhờ đó mà sanh sống, xin Sư chớ phá nhà chúng tôi!” Sư xoay lại bảo: “Các ông tiếc ư?” rồi ném búa mà đi. Đêm đó trong chợ bỗng nhiên phát hỏa thiêu cháy, chỉ mấy ngôi nhà bị Sư chặt phá là còn. Sư lại thích ở trong chùa đổ nát, chẳng kể Đông Hạ, thường gom các phướn lọng, tượng Phật bằng gỗ bửa chặt đem đốt, lại đem cá chép nướng trên lửa, mà phần nhiều là uy nạ trong tro, than càng đầy dẫy. Sư vỗ tay cười lớn, chẳng có đủ thìa muỗng mà ăn. Mặt mày dơ bẩn nhưng Sư chẳng rửa, nếu rửa thì trời liền mưa. Vì thế dân chúng đất Ngô cho là chiêm hầu. Đến lúc sắp tịch, Sư uống nước tro than chừng vài mươi hộc và ngồi niệm Phật. Các hàng sĩ thứ trông chừng thì mãn bảy ngày Sư mới tịch. Lúc đó, trời nắng rất nóng mà nhan sắc Sư chẳng biến đổi, các chi phần chẳng gãy. Dân chúng thỉnh nhục thân Sư ra ngoại ô mà trà-tỳ.

Kế nữa, tại chùa An Quốc ở Kinh Triệu có một vị tăng. Sự tích cũng bất thường. Đất chín mà đốt Phật gỗ. Chỗ gọi là việc người hẳn không hư phát. Đó cũng là vị tăng chẳng thể lường biết!

Kế nữa, có Ngài Thích Chứng Trí trụ chùa Vĩnh Thọ ở Kinh đô, không rõ Sư họ gì. Khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (87 – 80), Sư ở chùa Kinh, thường phát thần dị mà mọi người không biết. Hoặc ban ngày ở tại Trương Độc Lan-nhã chăm sóc đất ruộng, đêm đến về lại trong chùa. Lan-nhã đó ở tại Kim Châu thuộc Hán Âm. Khu Kinh ấy rất lớn đến bảy trăm dặm. Người thời bấy giờ gọi là Thiền sư Trí. Đó đến trưởng túc An Pháp Vân Công đều có thể đến nơi xa trong nháy mắt. Đạo gia gọi đó là Súc Địa Mạch mà có khả năng vượt xa. Nếu đối với sắc trần mà hóa hiện thần biến thì tuy xa mà gần.

Lại nữa, có vị lão tăng ở chùa Tiến Phước, chuyên tinh trì tụng, ít có lúc khuyết sót. Nói điềm việc chưa đến, xảy ra thảy đều đúng cả. Đầu niên hiệu Thái Hòa (827), Tướng Quốc Vi Công đối xử nồng hậu đãi trọng Không môn, liên tiếp nhiều tháng riêng thỉnh các Sa-môn danh đức thiết trai cúng dường. Lão tăng thấy Vi Công vừa mới đăng dong, bèn bảo rằng: “Kỳ lạ thay! Tướng công có được chỗ qua đời tốt đẹp như thế!” Mọi người đều không hiểu. Sau, nhân đối tấu trước ngai bệ vua Văn Tông, Tướng công vội vã nên bị té nơi thềm cấp điện, lúc khiêng ra cửa điện thì đã tắt thở. Mới nghiệm lời Lão tăng nói chết ở trong điện, nên trước kia Sư bảo là”được chỗ qua đời tốt đẹp”. Lúc đó là khoảng niên hiệu Khai Thành (836 – 81). Sau không biết Sư tịch ở đâu.

20. Truyện ngài Thần Giám trụ núi Linh Tú ở Đường Châu thời Tiền Đường:

Thích Thần Giám, họ Hàn, người ở xứ Tầm Dương. Thuở bé, Sư thuần tĩnh lặng, chẳng xen tạp với các đứa trẻ khác. Cha của Sư là nhân viên huyện Tề An, tâm rất quy hướng Phật pháp, thường ở nơi dinh sở thiết trí tôn tượng, thỉnh mời tăng chúng tụng kinh bái sám, xướng trỗi pháp nhạc. Sư vốn có dáng vẻ xinh đẹp, luôn theo chư tăng chẳng tạm rời, cầu xin xuất gia. Cha mẹ Sư không phương kế gì để ngăn cản được. Sư bèn đến chùa Đông Lâm, dưới pháp tòa Thiền Sư Trinh Tố cầu xin tu học. Sau giảng thông Kinh Đại Niết-bàn, Sư bèn đến dự chương ở phương Nam, tham vấn Thiền sư Đại Tịch rồi tiếp tục đến phía Tây Bắc núi Hoài An và ở tại đó. Núi đó trước kia có nhiều thú dữ, cứ đến gần trưa hay phá hoại. Kể từ lúc Sư đến ở thì tai họa bởi hổ cũng biệt tăm, mọi người xa gần đều khen ngợi. Bỗng có một người nam đội khăn, vén tóc ngang bằng, hướng về pháp tòa lễ kính rất tôn trọng, trong chốc lát liền biến mất. Bảy ngày sau có người mang đội mão xiêm uyễn dị ở trước phương trượng của Sư bay lên hư không xướng lời rằng: “Đại Sư đây thật là pháp bảo, khai mở mắt mũi cho trời người nên đến báo”. Đồ chúng nghe thấy, biết Sư đạo cao. Sư thị tịch vào niệu hiệu Hội Xương thứ (8). Đến ngày 1 tháng 8 nhập tháp.

Hễ là người tu hành đắc đạo thì địa thần báo với không thần, lần lượt cho đến cõi trời Hữu Đãnh, ở đây thấy rõ.

21. Truyện ngài Thanh Quán trụ chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai thời Tiền Đường:

Thích Thanh Quán tự là Minh Trung, người ở xứ Lâm Hải, họ Khuất. Lúc mới sanh, giữa các kẻ ngón tay ngón chân đều có màng mỏng liền nhau, như trong kinh gọi là “Võng man tướng”. Đến độ tuổi nhi đồng, Sư có thần thái thông minh trội vượt, bèn phát chí xuất trần. Sư bèn đến chùa Quốc Thanh nương Luật sư Nguyên Chương, chấp trì bình bát, cha mẹ không ngăn trở được. Như chim Ca-lâu-la mổ xé muôn trùng vây. Năm mười tám tuổi, Sư thọ giới cụ túc. Bởi do căn lành đã trồng sâu từ trước nên Sư ngộ giải thiên nhiên. Giáo văn của Thiên Thai, Sư thấu suốt tam quán, kiêm đắc đại định sâu mầu, thần dị cảm thông, 2 chúng ta chẳng thể biết được. Chỉ một thời gian ngắn, Sư xem đọc Bách Gia nên càng thông Tam Giáo. Sư khéo thuộc văn lại có sở trường thơ bút. Phàm các bang bá du hiên đều ảnh hưởng đạo phong của Sư mà đến tham yết. Ngài trì tụng như nghiêm quân, nên vừa trông thấy thì liền nể sợ kính phục, chỉ đến nơi kỷ trượng để tiếp đãi quý nhân. Nếu có người cúng thí vật báu, Sư đều đưa hết vào của thường trụ, không chứa nhóm riêng tư. Có người nói với Sư rằng: “Quý nhân cúng dường Sư đều là thí riêng, sao Ngài chẳng để riêng mình sử dụng?” Sư đáp rằng: “Còn hận chưa thể xả bỏ đầu mắt, huống gì là của cải trong đời!”

Đầu niên hiệu Đại Trung (87), chùa viện trong nước được trùng hưng, Sư vào kinh thỉnh Đại Hồng Chung về chùa để đóng và trùng huyền sắc ngạch, thì nhờ Hiền Viện Học Sĩ Liễu Công Quyền để viết. Liễu Công Quyền lại có bài thơ đề tựa”Tiễn đưa Sư trở về phương Đông”. Sư lại đi thỉnh tạng Kinh về chùa. Năm Quý Dậu (83), thuộc niên hiệu Đại Trung, tại Giang Biểu có nhiều người bị đói khát mà chết, Sư bèn dốc hết lương thực mà ban thí cho họ.

Kế nữa,trong sơn tăng có Ngài Vật Ngoại Độ Hoang, tự nhập thất thiền định, bảo với đệ tử rằng: “Nếu ta không chết thì đến lúc lúa thóc chín, nên gõ khánh để dẫn ta ra!” Qua như lời nói, tới năm sau Sư mới xuất định. Một hôm, có người ở Khê Nam thỉnh Sư đến chứng trai diên thường cách xa chùa hơn hai mươi dặm. Đêm đó nước khe suối dâng tràn, không người nào vượt qua được nên cho rằng “Sư không đến”. Chỉ trong khoảnh khắc thì Sư đến và cũng không bị thấm ướt gì. Tác dụng thần diệu của Sư có thể biết như thế nào, mọi người đều lấy làm lạ. Dân chúng xa gần đến chiêm lễ ngày một đông đảo, ồn ào phiền nhiễu đáng chán, Sư bèn sang núi Thúy Bình lập lan-nhã ở riêng một mình. Kế đó thì chúng tăng ở núi Thiên Thai lại thỉnh Sư làm Tăng chánh, Sư giả vờ rồ dại mà ẩn tránh. Châu Mục Đỗ Hùng bèn tấu trình lên vua Chiêu Tông ban sắc tặng Sư y phục sắc tía, Sư nghe thế mà như buồn lo không vui. Sau, không bịnh tật gì mà Sư thị tịch.

22. Truyện ngài Hy Vận trụ núi Hoàng Bá ở Hồng Châu thời Tiền Đường:

Thích Hy Vận, người đất Mân. Vào tuổi đến trường làng, đồng bạn đều xem Sư là người thông minh nhanh nhẹn. Sư bèn giã từ thân thích đến chùa Hoàng Bá, ở Cao An xin xuất gia. Tới tuổi trưởng thành, thân lượng giảm dần, vương thương giảm bớt một thước, nơi ngạch cửa lớn đề hiệu là “Nhục Châu”. Nhưng Sư thoải mái, chẳng ràng buộc mà người chẳng lường được. Sư vân du đến núi Thiên Thai, gặp một vị tăng cùng đi, nói cười tự tại. Sư lén nhìn vị tăng ấy trong ánh mắt lóng lánh ngời sáng như bắn tóe vào người, cùng sánh vai mà đi. Đến cùng đường gặp một khe lớn, nước bồng bềnh tràn ngập. Sư bèn cầm nón chống gậy mà đứng. Vị tăng ấy đốc thúc Sư lội qua, Sư bèn nói rằng: “Sư cần lội qua cứ lội”. Nói xong, vị tăng đó liền vén áo đạp sóng đi qua như bước trên đất bằng không thấm ướt gì. Khi đã đến bờ kia rồi, vị tăng ấy xoay lại đưa tay vẫy gọi bảo Sư: “Lội qua!”. Ngài chỉ tay quở rằng: “Ôi! Nếu tôi sớm biết thì đã chặt chân ông”. Vị tăng ấy ngợi khen rằng: “Sư thật là pháp khí Đại thừa, tôi đây không sánh bằng. Giả sử có làm tổn thương, tôi chỉ nhận lấy nhục mà thôi!”. Rồi trong khoảnh khắc đã biến mất. Sư bàng hoàng chợt tỉnh.

Đến lúc Sư đãng du chốn kinh quyết, đến một ngôi nhà, nghe sau cây ngăn che có tiếng bà lão nói: “Rất không nhàm chán!”. Sư hỏi: “Chủ chẳng đãi khách, làm sao không chán?”. Bà lão bèn mời Sư vào cúng dường. Sư thọ thực xong, bà lão nói: “Thân hèn năm chướng hổ then từng đến đảnh lễ Quốc sư Tuệ Trung. Xin khuyên Sư hãy sang tìm Thiền sư ở núi Bách Trượng. Chỗ đáng ghi nhớ, lồng lộng thay! Lớn lao thay! Thật là pháp khí Đại thừa! Sư nhớ nghĩ nhận hai lời dự ký vừa qua là đồng, bèn trỏ lại Hồng tỉnh, gặp được Thiền sư Hoài Hải khai rõ tâm thú, danh tiếng càng cao, và Sư bèn vâng lệnh đến ở tinh xá Hoàng Bá.

Bấy giờ, Thăng Bình tướng Bùi Công Hưu rất khâm phục kính trọng Sư nên đến lễ yết, có đề thơ dâng tặng Sư, đề rằng:

“Từng truyền ấn trong tâm Đạt sĩ
Ngạch có châu tròn, thân bảy thước
Treo gậy mười năm gá đất Thục
Chén nổi ngày nay lội sông Chương.
Một ngàn long tượng theo bước cao
Muôn dặm hương hoa kết nhân tốt.
Nguyện muốn thờ thầy làm đệ tử
Không biết trao pháp cho người nào!

Cho nên Bùi Tướng Công đắc pháp xuất phát từ môn tịch của Sư.

Vào niên hiệu Đại Trung (87 – 860) Sư thị tịch tại chùa. Vua Tuyên Tông sắc phong thụy hiệu là “Đoạn Tế Thiền Sư”, tháp tên là “Quảng Nghiệp”. Sư có ngữ lục lưu hành ở đời.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.