TÔNG CẢNH LỤC
Thiền sư Diên Thọ
Tuệ Đăng & Hân Mẫn dịch

 

QUYỂN 9

Hỏi: Pháp tu hành khế ngộ nhiều như cát bụi, tại sao riêng lập nhất tâm làm tông mà cho là tuyệt diệu?

Đáp: Nếu không thấu rõ tâm tông đều trở thành mê lầm điên đảo, chạm vào đâu cũng bị kẹt, không còn cửa để chứng nhập. Như trong tục đế cũng có pháp bí mật, nếu không có được yếu quyết dù học cũng khó thành công; còn như có được phương pháp thì mọi việc đều thành tựu. Nay giáo thừa ca ngợi là pháp bí mật, Thiền tông nêu bày chẳng truyền văn tự thì nhằm đường nào để tiến tu, theo cửa nào mà đi vào? Nếu không có được yếu quyết duy tâm thì chính tín làm sao thành tựu? Vừa có được tông này thì nghìn cửa tự mở ra, đạo không đợi tìm cầu mà liền hiện bày, hạnh chẳng cần tu mà tự viên mãn. Như đất đai gặp tiết xuân thì vạn vật đâm chồi nẩy lộc, cho nên nói: Nếu không có quán tuệ thì sự việc cũng khó thành. Lại nữa, tâm này có khả năng tạo thành tất cả, cũng có khả năng hủy hoại tất cả. Thành thì lập tức thành Phật thiên chân, do đó Chân Giác Đại Sư1 Ca rằng:

Thế nên thiền pháp dạy thông tâm
Thoắt chứng vô sinh từ nhẫn lực.

Một môn vô sinh này thành thì tất cả thành tựu, cho đến tam thân, tứ trí, bát giải, lục thông, muôn hạnh vô lậu vô vi của Phổ Hiền đều do vô sinh này mà nhất thời viên mãn. Cho nên nói vừa nghe một chữ A liền hiểu rõ tất cả nghĩa. Đó gọi là tất cả pháp bất sinh.

Hoại thì từ từ hoại các công đức hữu vi, vô vi, do đó Chân Giác Đại Sư ca:

Tổn pháp tài diệt công đức
Thảy đều do bởi tâm ý thức.

Cho nên nói tâm này không mờ tối, không sáng soi, biết hết các pháp hữu vi, âm thầm xem xét, tinh vi phòng bị, thấu suốt cổ kim, vì thế gọi là linh đài. Tư Mã Bưu nói: “Tâm là đài của thần linh”. Trang Tử nói: “Mọi việc ác không thể nằm ở trong linh đài”. Tịnh Danh Sớ hỏi: “Huyền nghĩa chỗ nào cũng nói về quán tâm, song rất sợ không làm được, trong văn sớ cũng lại như thế há chẳng phải hoại loạn kinh giáo ư?

Đáp: Thuyết kinh vốn là nhập đạo. Bậc hiền nhớ đến đạo gặp đâu cũng quán hạnh, có người tầm cầu niết-bàn Thánh điển mà không quán hạnh sao? Nhưng khéo nói thỏa đáng chẳng những không tổn văn nghĩa mà còn được quán tuệ phân minh, phân biệt pháp môn nếu không phải quán thì làm sao đạt được? Có lỗi hoại loạn kinh giáo chăng!’’.

Những điều nói ra, ý ở ngoài lời nói, bản ý chư Phật đều muốn ta minh tâm đạt đạo, dùng văn nghĩa để chỉ thẳng nguồn tâm, đâu thể chấp lời quên nghĩa, trái tâm cầu đạo! Bài kệ trong kinh Chính Pháp Niệm Xứ nói:

Thiên, long, A-tu-la,
Địa ngục, quỉ la-sát,
Tâm làm người hướng dẫn,
Vua đi trong tam giới,
Tâm sẽ đến thiên đàng;
Lại đi nơi nhân gian,
Tâm sẽ đến ác đạo,
Tâm xoay vần thế gian.

Kinh Bảo Vũ nói: “Làm sao Bồ-tát được xa-ma-tha tỳ-bát-xá-na thiện xảo? Nghĩa là Bồ-tát tâm đã thiện xảo quán sát các pháp như huyễn như mộng, tư duy các pháp đây là thiện pháp, đây là phi thiện pháp, đây là pháp xuất ly, đây là pháp bất xuất ly. Nghĩa là Bồ-tát quán sát tất cả pháp đều nương vào tâm. Tâm là tự tính, tâm là thượng thủ, tâm hay nhiếp thụ, tâm khéo điều phục, tâm khéo liễu tri, cho nên có thể bao hàm tất cả các pháp. Đã khéo điều phục, lại khéo liễu tri, do nhân duyên này mà có thể tu tập pháp xa-ma-tha, hệ tâm như thế, đình chỉ tâm như thế và an trụ tâm như thế. Vì siêng tu xa-ma-tha như thế nên có thể an trụ tâm vào một cảnh tính”.

Kinh Hoằng Đạo Quảng Hiển Định Ý nói: “Gốc của đức biết rõ gốc thức tâm, với tâm hành này thương yêu chúng sinh; biết rõ thức tâm kia rỗng không không có ngã nhân”. Gốc đức của tâm kia giúp ích cho đạo nên biết tâm là gốc đức, tức là tổng tướng. Tâm, Phật, chúng sinh là biệt tướng, tâm là tổng tướng. Muôn pháp muôn loài nhiễm tịnh trong pháp giới không ra ngoài nhất tâm. Tâm này bao hàm tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, vì thế gọi là tổng tướng, còn hai duyên nhiễm tịnh thuộc về hai loại. Tổng tướng nói trong mười pháp giới, lục đạo là nhiễm, tứ Thánh là tịnh; nhưng hai duyên nhiễm tịnh hai đường phàm Thánh đều không ra ngoài nhất tâm. Cho nên kinh nói: Tâm hay dẫn dắt thế gian, tức là nghĩa tự tại; tâm hay nhiếp thụ tức là nghĩa tùy hành. Như thế pháp nhất tâm đều tự tại tùy hành.

Luận Kim Cang Tam-muội nói: “Nhân xuất thế là nhập thật tướng quán, quả xuất thế là nhất vị giải thoát, cho nên biết lúc đầu do tín tâm mà nhập đạo, sau đó chứng tâm mà đắc đạo, trước sau không ra ngoài Tông Cảnh. Bài kệ trong kinh Lăng Già nói:

Duy tâm vô sở hữu,
Chư hành và Phật địa,
Phật quá, hiện, vị lai
Ba đời nói như thế.

Kinh Hiền Kiếp Định Ý ghi:

Nhìn xem tất cả các pháp,
Nguồn gốc đều như vậy,
Thật sự vô sở hữu,
Đây gọi là nhất tâm.

Phẩm Dạ Ma Thiên Cung trong kinh Hoa Nghiêm có kệ:

Ví như người họa sĩ
Phân bố các màu sắc,
Sử dụng màu khác nhau,
Toàn thể không sai biệt.
Toàn thể không có sắc,
Trong sắc không toàn thể,
Cũng không lìa toàn thể,
Mà có được sắc màu.
Trong tâm không bức họa,
Trong bức họa không tâm;
Song không thể lìa tâm
Mà có được bức họa.
Tâm kia luôn thay đổi,
Vô lượng khó nghĩ bàn,
Phô bày tất cả sắc,
Mỗi cái không biết nhau,
Ví như người họa sĩ,
Không thể biết tự tâm,
Nhưng nhờ tâm mà vẽ.
Các pháp tính như thế,
Tâm như người họa sĩ
Hay vẽ việc thế gian,
Uẩn theo đây sinh ra,
Không pháp gì chẳng tạo.
Tâm Phật cũng như thế,
Phật chúng sinh cũng thế.
Nên biết Phật cùng tâm,
Thể tính đều vô tận.
Người nào biết tâm hành,
Tạo tác việc thế gian,
Người ấy liền thấy Phật,
Rõ chân thật tính Phật,
Tâm chẳng trụ nơi thân,
Thân cũng không trụ tâm,
Mà hay làm Phật sự,
Tự tại chưa từng có.
Kẻ nào muốn thấu hiểu,
Tất cả Phật xuất thế
Nên quán pháp giới tính,
Tất cả duy tâm tạo.

Sớ giải thích: Bài tụng này hiển bày về duy thức một cách đầy đủ. Đây là nghĩa không biết nhau. Nghĩa là chẳng phải chỉ có pháp được vẽ tự không biết nhau, dụ cho cánh sở biến không có thể tính. Tâm hay vẽ luôn sinh diệt tự chẳng biết nhau, cho nên cũng không thể biết pháp được vẽ. Hai ví dụ tâm và cảnh đều không tự tính, đều không biết nhau, vì thế nói không thể tự biết tự tâm song nhờ tâm mà vẽ. Lại dù không biết tâm vẽ song do tâm mới có thể vẽ. Dụ cho chúng sinh tuy mê tâm hiện lượng mà tâm thay đổi theo cảnh. Lại do không thể biết cái được vẽ, chỉ vẽ theo tự tâm nên có thể tạo thành cái được vẽ, dụ cho chúng sinh do mê cảnh duy tâm mới có thể hiện vọng cảnh. Lại dụ chính do vô tính mới tạo thành muôn cảnh, cho nên nói các “pháp tính như thị” nên quán pháp giới tính tức là chân như lý quán. Tất cả duy tâm tạo tức là duy thức sự quán. Chư Phật chứng lý quán duy thức tính, đây là thể của sự thành Phật. Chúng sinh đạt sự quán duy thức tướng, đây là cửa của sự xuất ly. Như Hoa Nghiêm Diễn Nghĩa nói: “Chính vì một lời vi diệu bao gồm mọi nghĩa, một bài kệ có công năng phá tan địa ngục, vì thế Bồ-tát Phổ Hiền bảo Thiện Tài: Trong biển pháp ta không có một lời, không có một câu, chẳng phải xả bỏ ngôi vị Chuyển luân vương mà cầu được, chẳng phải xả bỏ mọi sở hữu mà cầu được”. Giải thích: Vì một là một của tất cả, một của xứng tính.

Toản Linh Ký nói: “Có một người ở Kinh Triệu, họ Vương không rõ tên, vốn không giữ giới hạnh, không tu thiện, chết vì tai nạn. Lúc bị dẫn xuống địa ngục, trước cửa địa ngục ông ta thấy một vị tăng, đó là Bồ-tát Địa Tạng dạy ông ta tụng kệ:

Nếu người muốn hiểu rõ
Tất cả Phật ba đời
Nên quán pháp giới tính
Tất cả do tâm tạo.

Bồ-tát truyền kinh xong, nói: Ông tụng kệ này có thể phá tan các khổ ở địa ngục. Ông ta tụng kệ xong liền vào gặp Diêm Vương. Diêm Vương hỏi: Kẻ này có công đức gì ? Đáp: Chỉ thụ trì bài kệ bốn câu. Diêm Vương liền phóng thích. Đang lúc tụng kệ này, âm thanh đi đến đâu thì những người đang bị khổ ở đó được giải thoát. Ba ngày sau ông ta mới sống lại, nhớ trì tụng bài kệ này bèn nói cho mọi người nghe. Ông ta kiểm nghiệm kệ văn, mới biết chính là bài kệ của Bồ-tát Giác Lâm nói cho vô lượng Bồ-tát vân tập tại Dạ Ma thiên cung trong kinh Hoa Nghiêm: “Địa ngục do tâm tạo, Phật cùng địa ngục tự rỗng không. Cho nên biết nếu quán tâm này ngay lời nói liền lìa khổ, không những phá tan cõi địa ngục mà cả đến mười pháp giới đồng loạt tiêu mất. Do vì nhập vào pháp chân không thì bình đẳng chân pháp giới, không Phật, không chúng sinh, đây chẳng phải diệu thuật thần thông nhờ vào thế lực người khác. Vì pháp như thị nên có thể nghiệm tự tâm có sức thần diệu bất khả tư nghì, cao mà không cao, sâu mà không sâu, dài mà không dài, ngắn mà chẳng ngắn, rộng mà không hình tướng, hiển mà không dấu vết, có mà chẳng thường, không mà chẳng diệt, thể chiếu soi độc lập, xứng tính khắp nơi, làm cho vạn vật nhiệm mầu cho nên gọi là thần, sinh ra tất cả gọi là mẹ. Thống trị khắp cả, thông biến vô cùng, mặc tình chiếu soi không mệt mỏi. Nếu nói về hình tượng trong gương ứng duyên vô tác như âm vang trong hang trống, ở chỗ vuông có tướng vuông, ở chỗ tròn có tướng tròn; nếu ngộ thì ngộ thành chư Phật, theo mê thì mê làm chúng sinh, dấu chân đi khắp mọi nơi mà bản địa không lay động. Thiên Thai giáo nói: “Tâm như huyễn hóa, chỉ có tên gọi, gọi đó là tâm. Nói nó có nhưng không thấy sắc chất, nói nó không thì nó lại khởi suy nghĩ, vì không thể lấy có không suy lường nên nói tâm là diệu. Chẳng phải trái với thô kệch trở thành linh diệu nhưng do dứt sạch đối đãi tâm được linh diệu”. Cho nên Phó đại sĩ gọi là diệu thần, còn gọi là diệu thức. Diệu thần tức là pháp thân Phật. Nếu không có diệu thần thì ai lĩnh thụ cái vui tịch diệt.

Luận Bảo Tạng nói: “Sự tạo tác của nó có hình, sự vắng lặng của nó mờ mịt, vốn thanh tịnh chẳng phải tâm địa trong sáng, pháp nhĩ tự nhiên, sáng hơn nhật nguyệt, đức vượt thái hư, vạn vật vô tác, tất cả không tên, xoay chuyển trời đất, tự tại dọc ngang, Hằng sa tác dụng, hỗn độn tạo thành. Ai nghe mà không vui, ai nghe mà chẳng sợ, nhưng sao lại lấy của báu vô giá giấu vào hầm ấm nhập ? Thế nên thể hội nó chính là diệu, chính là thần, hiển bày của báu vô giá, mê thì thành thô kệch thành u mê rơi vào hầm ấm nhập; cho dù học rộng hiểu nhiều cũng không thể giải thích, các bậc Thánh ngợi khen không cùng tận; có thể gọi là cửa huyền nhập đạo diệu quyết thành Phật. Cho đến phàm Thánh nhân quả hạnh vị tiến tu không thể lìa tâm này mà được thành tựu, khế hợp tâm tính thì đức nào chẳng thâu. Vì tất cả pháp tùy theo chỗ y trụ đều nhờ vào nhất tâm mà viên mãn. Những việc như thế đâu chẳng phải là kì diệu của sự dứt sạch đối đãi ư ?”. Như Pháp Hoa Huyền Nghĩa nói: Sự minh diệu của tuyệt đãi có bốn thứ:

1- Nói đến pháp tùy tình tam giả, nếu vào chân đế thì sự đối đãi dứt sạch, cho nên Xá-lợi-phất nói: Ta nghe nói trong sự giải thoát không có nói năng, đây là tuyệt đãi trong tam tạng kinh.

2- Nói đến tùy lý tam giả, tất cả thế gian đều như huyễn hóa, chính là sự mà lại chân, không có một việc gì mà không chân, còn đối đãi vật gì là chẳng phải chân! Hướng về cái tuyệt đãi của tam tạng kinh là bất tuyệt, tức sự mà lại chân, đây là tuyệt đãi của Thông giáo.

3- Nói đến Biệt giáo, hướng về cái tuyệt đãi của chân, tức chân trở lại thành thế đế, cái gì chẳng phải là đại niết-bàn, giống như thế đế sinh tử dứt sạch mà trở lại có đối đãi. Nếu đi vào trong đạo Biệt giáo thì đối đãi liền dứt sạch.

4- Nói đến Viên giáo, nói pháp vô phân biệt, tức nhị biên mà là Trung đạo, thảy đều là Phật pháp vắng lặng thanh tịnh, đâu còn Phật pháp đối đãi với Phật pháp.

Pháp giới Như Lai vượt ra ngoài pháp giới, không còn có pháp để hình dung được. Đối đãi cái gì để là thô kệch, hình dung cái gì để là diệu mầu, không có đối đãi, cũng không có dứt tuyệt không biết gọi gì, gượng gọi là tuyệt.

Kinh Đại Niết-bàn nói: “Đại danh không thể đo lường, không thể nghĩ bàn nên gọi là đại, cũng như hư không không do cái không nhỏ mà gọi là lớn, niết-bàn cũng vậy, chẳng do tướng nhỏ mà gọi là đại niết-bàn”. Diệu cũng thế, diệu gọi là không thể nghĩ bàn, chẳng do thô mà thành diệu. Nếu cho rằng quyết định có pháp giới rộng lớn độc tuyệt thì cái đại này có sở hữu thì sao gọi là tuyệt được? Nay pháp giới thanh tịnh chẳng phải kiến văn giác tri nên không thể nói được. Kinh nói: “Thôi, thôi, không nên nói, pháp ta diệu mầu khó suy tư”. Thôi, thôi, không nên nói tức là tuyệt ngôn; pháp ta diệu mầu khó suy tư, tức là tuyệt tư. Lại nói: “Pháp này không thể chỉ bày”, tướng ngôn từ vắng lặng, cũng dứt cả lời khen ngợi, không thể lấy sự đối đãi để chỉ bày, không thể lấy sự dứt sạch để chỉ bày, hoàn toàn bặt dứt cho nên gọi là tịch diệt. Lại nói: “Tất cả các pháp tướng thường tịch diệt”, hoàn toàn trở về cái không, cái không này cũng không thì không còn tuyệt đãi.

Trung Luận nói: “Nếu pháp do đối đãi mà thành thì pháp này trở lại thành đối đãi, nay thì không nhờ đối đãi cũng không có chỗ thành lập”. Kinh Hoa Thủ nói: “Đã được vô sinh nhẫn”. Cái bất sinh này không sinh, sinh tức là vô sinh, đây gọi là tuyệt đãi. Bỏ điều này ra nếu làm lại thì dứt sạch vật gì hiển bày lý gì, trôi dạt vô cùng thì rơi vào hí luận; đây là mê tình phân biệt tuyệt đãi không dứt tuyệt, phi tuyệt phi đãi đối đãi với cũng đãi cũng tuyệt, ngôn ngữ tuôn ra mãi không dứt. Vì sao ngôn ngữ từ giác quán sinh, tâm lự không dừng thì ngôn ngữ làm sao dứt được, giống như con chó ngu si đuổi theo khúc xương uổng công nhọc sức. Nếu có thể diệu ngộ thì trong vũ trụ ngừng gió giác quán, nước tâm lắng trong, lời nói cùng suy tư đều dứt sạch. Như sư tử khôn ngoan bỏ khúc xương đuổi theo người. Khi diệu ngộ biết rõ ngoài pháp giới không có pháp để luận về dứt tuyệt. Theo hữu môn mà nói về tuyệt là tuyệt cũng tuyệt; theo không môn mà nói về tuyệt liền được vào như ngựa giỏi thấy bóng roi, đây gọi là tuyệt đãi diệu mầu. Do vì ba pháp diệu thượng có hai thứ diệu, pháp chúng sinh có đủ hai thứ diệu nên gọi là diệu; Phật pháp, tâm pháp cũng đủ hai thứ diệu nên gọi là diệu.

Hỏi: Tại sao lấy tuyệt để giải thích diệu?

Đáp: Chỉ gọi diệu là tuyệt, tuyệt là tên khác của diệu như người thế gian gọi là tuyệt năng vậy. Lại diệu là năng tuyệt, thô là sở tuyệt. Cái diệu này có công năng dứt sạch sự thô kệch, cho nên nêu tuyệt để gọi diệu. Sự dứt tuyệt này không phải là đoạn tuyệt, lấy vô tận làm tuyệt. Như Hoàn Nguyên Quán nói: “Một trần sinh ra đầy khắp vô tận trong một trần. Tức lý tức sự, tức nhân tức pháp, tức y tức chính, tức nhiễm tức tịnh, tức nhân tức quả, tức đồng tức dị, tức kia tức đây, tức một tức nhiều, tức rộng tức hẹp, tức tình tức phi tình, tức ba thân, tức mười thân. Vì sao? Vì lý sự vô ngại pháp như vậy. Mười thân có tác dụng tự tại lẫn nhau, đây chỉ là cảnh giới của Phổ Nhãn, sự tướng như trên mỗi mỗi tương dung tương nhiếp lẫn nhau đều có cảnh giới trùng trùng vô tận”. Trong kinh có bài tụng:

Tất cả biển pháp môn vô tận,
Tụ hội trong đạo tràng nhất pháp,
Thứ lớp như thế uyển chuyển thành,
Người vô ngại mới được tỏ ngộ.

Hỏi: Theo những điều đã nói thì trên một trần, không lý nào chẳng hiển, không sự nào chẳng dung, không văn nào chẳng giải, không nghĩa nào chẳng thông. Những người tu học ngày nay làm sao tỏ ngộ đạt đến trần xứ, giải quyết ngay các điều nghi? Lại nữa, ở trên một trần thế nào là nhiễm, thế nào là tịnh, thế nào là chân, thế nào là tục, thế nào là sinh tử, thế nào là niết-bàn, thế nào là phiền não, thế nào là bồ-đề, thế nào là pháp tiểu thừa, thế nào là pháp đại thừa, xin rủ lòng khai thị những gì chưa được nghe?

Đáp: Đại trí tròn sáng nhìn qua tơ hào mà quán tính hải, chân nguyên hiện rõ; ở nơi một trần để nhìn toàn thân muôn pháp hiển hiện cùng một lúc, chân lý tuyệt đối không có trước sau. Vì sao? Do tướng hư vọng của một trần này hay che lấp tính chân, chính là nhiễm. Do trần tướng rỗng không không có sở hữu chính là tịnh. Do trần tính bản thể như nhau chính là chân. Do trần tướng này duyên sinh huyễn có chính là tục. Do nơi trần tướng luôn luôn biến đổi chính là sinh tử. Do quán sát tướng sinh diệt của trần không có thật, chính là niết-bàn. Do trần tướng lớn nhỏ đều là vọng tâm phân biệt, chính là phiền não. Do trần thể vốn không, duyên lự tự hết chính là bồ-đề. Do tướng thể của trần không biến kế chính là pháp Tiểu thừa. Do trần tính không sinh không diệt nương cái khác mà tợ như có, chính là pháp Đại thừa. Nói sơ lược như thế, nếu nói đủ, giả sử tất cả chúng sinh hoài nghi mỗi người cùng hỏi Như Lai thì Như Lai chỉ lấy một chữ trần để giải thích, chúng ta cần phải suy tư sâu sắc mới được! Trong kinh có bài tụng:

Tất cả biển pháp môn vô tận,
Một lời diễn nói trọn không dư.

Vì y theo nghĩa lý này nên gọi là một trần sinh ra đầy khắp vô tận. Cái gọi là tức chính là chữ bình đẳng ngày nay, vì vậy pháp môn nhất tâm này như chiếc gương hiện bày cảnh vật không có thứ lớp, như dấu ấn liền thành không có trước sau. Một khi thấy là thấy tất cả, một khi nghe là nghe tất cả, không đợi suy tìm. Nếu chờ liễu đạt mà thành thì đều là quyền tiệm. Nếu có thể quán sát cái nhất như của tâm tính thì là nhất đạo sâu mầu, tức là nhất của chính đạo, là nhất của duy nhất, cùng một đường với nghìn Phật, nhất đạo xưa nay không thay đổi. Cũng gọi là nhất lộ niết-bàn môn, cũng gọi là nhất đạo xuất sinh tử, còn gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương cụ túc vạn hạnh thập phương Như Lai, nhất môn siêu xuất diệu trang nghiêm lộ, như trăm hoa hợp thành một vị mật, do đó biết muôn pháp cùng tụ hội về tông này. Nếu thật sự biết rõ tất cả đều do mình, sinh tử nhậm ý tùy duyên, thị Thánh hiện phàm, sinh ra chết đi, biến hóa khôn lường, vận dụng thần thông vô tác, ẩn hiển đồng thời, xiển dương tam-muội như huyễn, thị phi thầm hiệp, nghịch thuận đồng quy, sinh hoạt thường thuận theo đạo nhất chân, tạo tác sự nghiệp không trái với thật tướng, vận dụng hoạt động mãi không lìa pháp giới, đi đứng ngồi nằm từng bước thường ở trong đó. Còn nếu kẻ nào không tin thì dù đối diện cũng cách xa nghìn dặm. Như thơ của Hàn Sơn nói:

Quý thay vật thiên nhiên
Độc nhất không bè bạn
Co lại trong gang tấc
Duỗi ra khắp mọi nơi
Nếu ông không tin nhận
Dù gặp chẳng biết nhau.

Nếu người hiểu biết sáng suốt xem qua lưu tâm nhớ tưởng thảy đều giác ngộ; còn kẻ chưa gặp có thể do sự việc mà biết, trong mọi sinh hoạt chưa từng gián đoạn.

Như Thái Thuận, tự là Quân Trọng nổi tiếng hiếu thảo đối với cha mẹ. Lúc nhỏ Thuận một mình nuôi mẹ, thường ra ngoài kiếm củi. Ở nhà có khách thình lình đến thăm, bà mẹ trông ngóng Thuận không thấy về, bà liền cắn ngón tay của mình. Thuận cảm thấy tâm động, vứt củi chạv về nhà, quỳ xuống hỏi mẹ việc gì thế. Mẹ nói: Có khách bất chợt đến thăm, mẹ cắn ngón tay để kêu con về.

Vào đời Đường có câu chuyện về Bùi Kính Di, cha ông là Trần Vương Điển bị giết trong lúc Kính Di ở trong thành. Ông chợt bất giác rơi lệ không muốn ăn uống, nói với người khác: Hễ cha tôi có chuyện là lòng tôi bất an. Hôm nay lòng đau đớn, tay chân rã rời, biết có việc bất trắc, liền trở về nhà thấy cha quả thật đã chết.

Đời Đường lại có Trương Chí An ở thôn làng được khen là người hiếu để, giữ một chức quan nhỏ, đang làm việc ở huyện bỗng hay tin mẹ ngã bệnh nguy cấp. Quan huyện hỏi, Chí An bảo: Mẹ bệnh nên Chí An này cũng bệnh. Chí An lo lắng tim đau nhói vì biết mẹ bệnh nặng, quan huyện sai người bắt Chí An, đem giấu ông. Quả thật đúng như lời Chí An nói, sau đó quan huyện dâng biểu tâu việc này và xin cho Chí An được phong làm Tán Cơ thường thị.

Hỏi: Muốn tỏ ngộ tông này cần có thầy không?

Đáp: Đây là chỗ chứng ngộ của tự giác Thánh trí, vô sư trí, tự nhiên trí, không nhờ người khác mà ngộ. Lúc tự chứng, pháp tự tâm hiện, không từ ngoài đến nên nói là vô sư, do khế hợp nên có thể tự được Vô thượng bồ-đề.

Kinh Lăng-già nói: “Đại Huệ bạch Phật: Bạch Thế Tôn, nếu khéo tự giác tướng Thánh trí và nhất thừa, con và các Bồ-tát khác không nhờ người khác mà thông đạt Phật pháp”. Lại kinh nói: “Xá-lợi-phất hỏi: Vì sao chư hiền lại nói từ nay không cần Phật làm thánh sư ? Các tì-kheo đáp: Từ nay tự ở trên đất mình, không ở trên đất người; tự quy về mình chẳng quy về người, lấy mình làm thầy không cần thầy khác cho nên từ đó không cần Phật làm Thánh sư. Khi ấy đức Thế Tôn khen ngợi các tì-kheo: Lành thay! Những người này đối với các pháp không có sở đắc mới thật là chân đắc”. Việc này chỉ có thể tự biết mới thấy chân thật, vì thế nghìn vị Thánh khoanh tay suy tính không thể được. Như bài tụng trong kinh có nói:

Ngôn ngữ nói các pháp
Không hiển bày chân thật
Bình đẳng liền thấy được
Pháp của Phật cũng thế.

Do đó Vĩnh Gia ca:

Không rời đương xứ thường vắng lặng,
Còn tìm thì biết anh chưa thấy.

Cổ đức có bài kệ:

Chẳng phiền hỏi thiền sư
Tâm vương phải tự biết.

Đây là chân chiếu mà không chiếu, chân tri mà không tri. Cái gì nếu có chiếu thì có đối đãi, cho nên nói “theo chiếu mất tông”. Nếu có tri thì sẽ bị tri làm chướng ngại cho nên nói “pháp lìa kiến văn giác tri”. Như Tín Tâm Minh nói: “Dọc ngang không chiếu, rất là vi diệu”. Biết pháp vô tri do vô tri mà biết chỗ thiết yếu. Đạt được chỗ thiết yếu này tức là không một pháp đồng, không một pháp dị, không một pháp đúng, không một pháp sai thì cần gì tìm tri giải bên ngoài. Cổ đức ngâm:

Cổ nhân trọng nghĩa chẳng trọng vàng
Uyên thâm khó hiểu chẳng tri âm
Ngày nay học sĩ đều như thế
Nói nín động dụng thật khó tìm
Thương thay những kẻ lầm đường lối
Cả ngày nhọc nhằn uổng dụng tâm
Chiên-đàn bằng phẳng không chịu lấy
Lại muốn lên rừng kiếm bằng lăng
Cùng tử bỏ cha đi biền biệt
Khước từ nhà cửa bặt tăm tin
Bần nữ trong nhà của vô giá
Lại đem đổi lấy vài kim ngân.

Kinh Đại Niết-bàn nói: “Như trên con đường bằng phẳng tất cả chúng sinh đi không bị chướng ngại. Trên đường ấy có bóng cây râm mát, người đi đường dừng nghỉ nơi ấy, song bóng cây thường còn không mất, không thay đổi”. Con đường bằng phẳng dụ cho Thánh đạo, bóng cây dụ cho Phật tính. Thế nên nếu hiểu rõ tông này quy về chỗ của chính mình, kho báu trong nhà đâu phải tìm bên ngoài, minh châu trong chéo áo chẳng phải kẻ khác cho. Nếu có thể khai phát kho tàng bí mật ngay hiện tại được thụ hưởng sự giàu sang thịnh vượng, dứt cái khổ bần cùng nhiều kiếp, không còn đếm châu báu của người, đâu cần đi theo kẻ khác để tìm cầu vì trí tạng tự lợi không bao giờ cạn cùng, pháp tài lợi tha vô tận.

Hỏi: Nếu nói không thầy mà tự chứng tức là rơi vào cái chấp tự nhiên. Cái chấp nhờ người khác giải vẫn còn kẹt vào môn nhân duyên. Song tính của đại đạo chẳng phải tự nhiên, cũng chẳng phải nhân duyên, tại sao ngài chỉ dạy trái đạo thể?

Đáp: Vì đả phá tìm cầu nơi kẻ khác nên nói cần phải tự chứng; vì chấp tự hiểu nên phải nhờ người ấn khả. Nếu ngay lúc ấy tỉnh ngộ thì mê ngộ đều không, mình người dứt tuyệt, hạn lượng không đến được, lời nói không thể biểu đạt! Do đó Sơ Tổ Ngưu Đầu nói: “Luận về đạo, nếu một người đắc đạo thì đạo không ở khắp nơi; còn nếu mọi người đắc đạo thì đạo có chỗ cùng tận”. Nếu riêng mỗi người có được thì đạo có thể tính đếm được, còn nếu cùng chung có được thì phương tiện liền không. Nếu do tu hành mà được thì tạo tác chẳng phải chân. Nếu vốn tự có đó, thì vạn hạnh dối bày. Vì sao? Vì lìa tất cả hạn lượng phân biệt, biết rõ nói mình nói người nói được nói mất. Nếu theo Thánh giáo thì là phương tiện dùng lời nói phá chấp theo thế gian; nếu theo ý mà hiểu thì toàn là hạn lượng phân biệt không ra ngoài tình trần, chỉ cần chẳng chấp giáo để theo tình thì mới thấy tính mà đạt đạo.

Hỏi: Người học đạo mới phát tâm ngộ nhập tông này, nếu được tín giải viên thông thì có thắng lực gì?

Đáp: Nếu người nào chính giải viên minh thì quyết định tín nhập, có công năng siêu kiếp, được năng lực chóng thành tựu. Dù đang trong sinh tử mà thường vào niết-bàn, hằng ở trần lao mà thường trụ cõi tịnh, hiện đầy đủ nhục nhãn mà phóng ra ánh sáng tuệ nhãn, chẳng phải thay đổi phàm tâm liền đồng tri kiến của Phật tâm. Giống như vị thái tử có đủ tướng làm vua, chim ca-lăng có tiếng hót hơn các loài chim khác; dùng gân sư tử làm dây đàn thì các âm thinh khác dứt bặt; vì khéo bốc thuốc trị bệnh, các bệnh dần hết. Như công sức của mũi tên na-la-diên xuyên thủng trống sắt, tợ sức mạnh của chày kim cương đập nát núi vàng thì phiền não trần lao không chờ đoạn mà tự diệt, bồ-đề diệu quả không nhờ tu mà tự viên! Cho đến đồng oan thân, cùng tranh luận, đồng phàm Thánh, dứt hết tự tha, một loại khứ lai, y nhau đồng dị, dung nạp dài ngắn, chứa cả trung biên, thế cùng xuất thế gian không thể so lường, không thể nói, không gì có thể vượt qua nó, cũng gọi là Phật lực, Bát-nhã lực, Đại thừa lực, pháp lực, vô trụ lực. Vì thế tiên đức giải thích: Người nắm giữ vô trụ lực thì trọn kiếp không lìa một niệm.

Lại nói sắc bình đẳng là Phật lực thì ý nghĩa duy tâm thành hình. Cho nên biết pháp môn quán tâm không có đạo lý nào qua được nó, tối tôn, tối quí, tuyệt diệu tuyệt luân, nó có công năng thành Phật trong sát-na, có năng lực dứt sạch khổ luân. Kinh Đại Niết-bàn nói: “Ví như cây thuốc gọi là thụ vương, trong các loại thuốc cây thuốc này rất tốt, có thể diệt trừ tất cả bệnh mà cây thuốc này không nghĩ gì cả. Nếu lấy cành lá, vỏ cây v.v… tuy không nghĩ có thể trị các loại bệnh, niết-bàn cũng thế”. Thế nên, nếu người có lòng tin và tu tập đầy đủ với Tông Cảnh, cho đến thấy nghe, tùy hỷ một niệm phát tâm thì không ai không trừ được bệnh tám muôn bốn nghìn trần lao, ba thứ chướng, hai thứ chết.

Kinh Đại Phẩm nói: “Như châu ma-ni ở chỗ của phi nhân thì không được lợi ích. Nếu đeo hạt châu bên mình thì trong tối được sáng, lúc nóng được mát, khi lạnh được ấm, nếu để nó trong nước thì tùy vật hiện sắc, huống là biết rõ linh châu như ý tự tâm này, luôn luôn tin chắc nó thì không bị vô minh trần lao phi nhân xâm hại, ở chỗ ồn náo mà không loạn, đi trong nguy hiểm mà luôn an ổn, trên cao mà không nguy, đầy mà không tràn”.

Thiên Thai Giáo dẫn kinh Phật Tạng: “Trong tướng vô danh nói tướng giả danh, đều là sức không thể nghĩ bàn của Như Lai. Ví như có kẻ ngậm núi Tu-di bay trong hư không, dùng bè đá qua biển chở cả bốn thiên hạ và núi Tu-di, lấy bước chân con ruồi làm bậc thang lên đến Phạm cung, khi kiếp tận thiêu đốt thì chỉ một cái phun nước kiếp hỏa tắt ngấm ngay, thổi một cái thế giới liền thành, dùng cọng sen treo núi Tu-di v.v… Như Lai nói tất cả pháp vô tướng vô vi vô sinh vô diệt khiến cho người tin hiểu rất là khó”.

Nếu một số ít người có sở đắc cùng Phật, Pháp, Tăng tranh cãi thì vào đường tà, không chịu xuất gia, không chịu thọ giới cho đến không chịu uống một chén nước trong chùa. Phải biết kinh thuyết minh cái diệu dụng bên ngoài vô sinh là để hiển bày lý nhân quả vô sinh, đây là không thấu hiểu nhất thể tam bảo thường trụ nên không chịu xuất gia. Không chịu xuất gia là do vì chẳng hiểu đầy đủ giới luật. Nếu căn cứ quán tâm, một sát-na khởi gọi là một chúng sinh, vừa khởi liền diệt gọi là một hạn kỳ. Trong niệm niệm hằng khởi ba độc, tức đương kiếp dứt sạch tam tai. Trong ba độc, tham đứng đầu; trong tam tai, lửa bậc nhất. Thử đem chỉ quán bất tư nghì quán sát ba độc này, một niệm tâm tham không sinh khởi tức là phun một búng nước kiếp hỏa tắt ngấm, rõ biết niệm thành trí tức là thổi một hơi thế giới liền thành hình cho đến tất cả sự việc hi hữu bất tư nghì, Nhưng để đạt được tâm nhất niệm vô minh trở thành Phật trí thì không ai không thấu triệt. Nếu không hiểu điều này thì chẳng những không chịu xuất gia mà tất cả mọi việc thiện đều không thành tựu vì không biết căn bản Phật pháp.

Luận Đại trí độ nói: “Lại nữa có kẻ cho rằng đất bền chắc, tâm không hình chất đều là hư vọng. Vì sao? Đức Phật nói tâm lực là lớn, thực hành Bát-nhã ba-la-mật nên có thể tán nhuyễn quả đất ra thành hạt bụi. Vì đất có sắc, hương, vị, xúc nặng nề nên tự nó không tạo tác. Vì nước thiếu hương nên linh động, hơn đất. Vì lửa thiếu hương vị nên thế lực hơn nước. Vì gió thiếu sắc, hương, vị nên linh động hơn lửa. Vì tâm không có bốn thứ ấy nên sức mạnh của tâm rất lớn. Lại do tâm nhiều phiền não kết sử trói buộc nên làm cho tâm lực suy yếu. Thiện tâm hữu lậu tuy không có phiền não nhưng vì tâm giữ lấy các pháp tướng nên sức mạnh của nó cũng kém đi. Tâm vô lậu Nhị thừa tuy không chấp tướng song trí tuệ có hạn và khi ra khỏi con đường vô lậu thì lục tình theo thế tục phân biệt chấp lấy các pháp tướng cho nên bất tận tâm lực. Còn chư Phật và đại Bồ-tát trí tuệ vô lượng vô biên, thường ở trong thiền định dù ở thế gian hay ở niết-bàn cũng không phân biệt, thật tướng các pháp thật sự không khác. Song trí tuệ có ưu liệt, người thực hành bát-nhã ba-la-mật cứu cánh thanh tịnh tự tại. Trong một niệm có thể làm tan nát tam thiên đại thiên thế giới, quả đất, núi non, vi trần, do đó biết rằng chân tâm có sức mạnh lớn lao này, nhưng vì chúng sinh bị vọng ngăn cách nên không biết được”.

Kim Quang Minh Kinh Sớ nói: “Như ánh sáng mặt trời có thể chiếu soi thiên hạ mà không thể soi chiếu đạo lý. Quang minh của tâm trí hay phát trí chiếu lý nên tâm là quang (sáng suốt, ánh sáng). Nếu tâm si ám thì thân thể tiều tụy, tâm sáng suốt thì thân thể khỏe mạnh. Cho nên nói bát-nhã lớn nên sắc lớn, bát-nhã tịnh nên sắc tịnh, tức là minh”. Muôn vật trong thiên hạ chỉ có con người là quí, tấm thân bảy thước chẳng quý bằng linh trí. Do đó xem tâm là quí, tâm là vàng. Lại biết y báo chính báo gọi là quang, biết tất cả pháp là không gọi là minh. Vì thế, nếu đối với Tông Cảnh vừa có tín nhập liền sinh sự hiểu biết đầy đủ có thể phát tâm bồ-đề chân chính, không còn gì hơn nữa. Đây là vô đẳng đẳng tâm, là tối thắng tâm, là tối thật tâm.

Chỉ Quán nói: “Người phát tâm này có thể lật ngược cửa trần lao trở thành tám muôn bốn nghìn các môn tam-muội, vô minh chuyển thành minh như băng tan thành nước, chẳng là vật lạ từ chỗ khác đến. Chỉ một niệm tâm đều đầy đủ, như hạt châu như ý chẳng phải quí báu cũng chẳng phải không quí báu. Nếu nói không thì là vọng ngữ, nếu nói không thì là tà kiến, không thể dùng tâm để biết, không thể đem lời nói để trình bày. Chúng sinh ở trong pháp không trói buộc bất tư nghì này mà nghĩ rằng bị trói buộc, ở trong pháp không giải thoát mà cầu giải thoát. Thế nên khởi đại từ bi và bốn thệ nguyện rộng lớn, nhổ sạch gốc hai thứ khổ và hai thứ vui, cho nên gọi là bồ-đề tâm chân chính không ràng buộc, cũng không giải thoát. Đây là phát một tâm bồ-đề chính là tất cả tâm bồ-đề. Ví như vị lương y có một phương thuốc bí truyền, thâu nhiếp hết phương thuốc a-già-đà có công năng bao gồm các thứ thuốc, như đã ăn cháo sữa thì không cần thêm gì nữa, tất cả đều đầy đủ như “như ý châu”. Lại nữa, tâm này là đại trong đại, thượng trong thượng, viên trong viên, mãn trong mãn, thật trong thật chân trong chân, liễu nghĩa trong liễu nghĩa, huyền trong huyền, diệu trong diệu, bất khả tư nghì trong bất khả tư nghì.

Nếu được như thế, hiển bày thị phi biết rõ quyền thật mà phát tâm, đây là dòng giống chư Phật, ví như kim cương sinh ra từ kim loại. Bồ-đề tâm của Phật trước tiên từ đại bi khởi lên trong các hạnh như uống thuốc a-sa-la trước tiên phải dùng nước trong; như trong các căn mạng căn là hơn cả, trong chính hạnh tâm này là hơn hết; như thái tử khi sinh ra đã đủ các tướng của vua, các đại thần đều cung kính, có thanh danh lớn; như chim ca-lăng-tần-già dù còn trong vỏ trứng mà tiếng hót của nó đã hay hơn các loài chim khác. Tâm bồ-đề này có thế lực lớn như dây đàn bằng gân sư tử, như sữa sư tử, như chày kim cương, như mũi tên na-la-diên, đầy đủ của báu hay trừ các sự nghèo khổ như hạt châu như ý. Bồ-tát tuy có chút giải đãi, chút ít mất oai nghi song vẫn hơn công đức Nhị thừa”.

Nói tóm lại tâm này đầy đủ tất cả công đức Bồ-tát, có thể thành vô thượng chính giác ba đời. Nếu giải thích tâm này theo cách tu tập chỉ quán, vô phát vô ngại tức là quán, tính ấy tịch diệt tức là chỉ. Chỉ quán tức bồ-đề, bồ-đề tức chỉ quán. Theo như trên ca ngợi thì người phát được tâm bồ-đề này thật là khó có. Phàm phu ngoại đạo mê tâm này đành phải chịu phần đoạn sinh tử; tạng thông Nhị thừa trái với tâm này thì thành hữu dư niết-bàn. Cho đến bậc Bồ-tát Thông giáo mới phát tâm Đại thừa thể hội tâm này chỉ thành tự tính không. Bồ-tát Biệt giáo cho đến Đại thừa Chung giáo tỏ ngộ tâm này, tuy thấy bất không là chỗ sở y của mười pháp giới, nhưng hiện nay chưa đủ, vẫn phải nhờ biệt tu thứ lớp sinh khởi; họ đều không thể biết một niệm tự tâm đốn viên bình đẳng chính tính, phàm Thánh cùng có một bản thể không sai biệt. Do vì không biết nên không thể phát tâm bồ-đề vô thượng vô đẳng, tối thắng quảng đại bất khả tư nghì, những bi nguyện trí hạnh đều không đầy đủ. Nếu một khi phát tâm này, công đức vô biên niệm niệm tròn đầy mười ba-la-mật. Thế nên trong kinh Tịnh Danh, Duy-ma-cật nói: “Vậy các ông hãy phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đây tức là xuất gia, đây tức là đầy đủ”.

Hôm nay Tông Cảnh chính vì khai thị tâm này, luôn tìm tòi sưu tra trong kinh luận để dẫn chứng, khắp vì tất cả chúng sinh trong pháp giới có tâm học đạo, nguyện cho họ đều tin nhận. Ai vừa tin vào pháp nhĩ tự nhiên phát tâm bồ-đề vô thượng này liền ngồi đạo tràng thực hành đồng thể đại bi, khởi lòng hóa độ với vô duyên từ. Vì thế mười phương chư Phật đều ca ngợi tâm này, ai có thể phát tâm bồ-đề thì công đức vô tận.

Như kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm bồ-đề như hạt giống vì hay sinh ra tất cả Phật pháp. Tâm bồ-đề như ruộng tốt vì hay nuôi lớn thiện pháp cho chúng sinh. Tâm bồ-đề như mặt đất vì hay nâng đỡ tất cả thế gian. Tâm bồ-đề như nước sạch vì hay rửa sạch những nhơ uế phiền não. Tâm bồ-đề như gió mạnh vì thổi khắp thế gian không trở ngại. Tâm bồ-đề như lửa vì hay thiêu đốt tất cả kiến chấp. Tâm bồ-đề như mặt trời vì soi sáng khắp cả thế gian. Tâm bồ-đề như mặt trăng sáng vì làm viên mãn các thiện pháp. Tâm bồ-đề như đèn sáng vì hay tỏa ra ánh sáng soi rõ các pháp. Tâm bồ-đề như mắt sáng vì nhìn thấy tất cả chỗ an nguy. Tâm bồ-đề như con đường lớn vì đưa mọi người vào thành đại trí. Tâm bồ-đề như sự trợ giúp chân chính vì khiến người lìa được tà pháp. Tâm bồ-đề như chiếc xe lớn vì hay chuyên chở các vị Bồ-tát. Tâm bồ-đề như cánh cửa vì khai mở tất cả hạnh bồ-tát. Tâm bồ-đề như cung điện vì an trụ tu tập pháp tam-muội. Tâm bồ-đề như mảnh vườn vì có thể dạo chơi thụ hưởng pháp lạc trong đó. Tâm bồ-đề như ngôi nhà vì đem đến cho tất cả chúng sinh sự an ổn. Tâm bồ-đề như chỗ quay về vì làm lợi ích tất cả thế gian. Tâm bồ-đề như nơi nương tựa vì các hạnh Bồ-tát đều nhờ vào đó. Tâm bồ-đề như người cha lành vì dạy dỗ các Bồ-tát. Tâm bồ-đề như mẹ hiền vì sinh trưởng các vị Bồ-tát. Tâm bồ-đề như mẹ nuôi vì dưỡng dục tất cả các vị Bồ-tát. Tâm bồ-đề như bạn tốt vì làm lợi ích cho các vị Bồ-tát. Tâm bồ-đề như quân chủ vì vượt cả hàng Nhị thừa. Tâm bồ-đề như đế vương vì được tự tại trong mọi điều mong ước. Tâm bồ-đề như biển cả vì tất cả công đức đều ở trong đó. Tâm bồ-đề như núi Tu-di vì tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tâm bồ-đề như núi Thiết-vi vì nhiếp trì tất cả thế gian. Tâm bồ-đề như Tuyết sơn vì nuôi lớn mọi loại thuốc trí tuệ. Tâm bồ-đề như Hương sơn vì sinh ra mọi hương công đức. Tâm bồ-đề như hư không vì các công đức vi diệu rộng lớn vô biên. Tâm bồ-đề như hoa sen vì không nhiễm tất cả pháp thế gian. Tâm bồ-đề như voi ngoan thuần vì tâm tính hiền lành dễ bảo. Tâm bồ-đề như ngựa hiền vì xa lìa mọi tính ác. Tâm bồ-đề như điều ngự sư vì gìn giữ các pháp Đại thừa. Tâm bồ-đề như thuốc hay vì có thể trị tất cả bệnh phiền não. Tâm bồ-đề như hầm hố vì lấp mất tất cả các pháp ác. Tâm bồ-đề như kim cương vì có thể xuyên thủng tất cả pháp. Tâm bồ-đề như cái tráp hương vì hay chứa tất cả hương công đức. Tâm bồ-đề như hoa đẹp vì tất cả thế gian đều thích ngắm. Tâm bồ-đề như chiên-đàn trắng vì diệt trừ sự nóng bức đem lại sự mát mẻ. Tâm bồ-đề như trầm hương đen vì có thể xông ướp tất cả pháp giới. Tâm bồ-đề như Thiện Kiến Dược vương vì hay phá dẹp các bệnh phiền não. Tâm bồ-đề như thuốc Tỳ-cập-ma vì có thể nhổ tất cả mũi tên mê hoặc. Tâm bồ-đề như Đế Thích vì được tôn quí nhất trong các vua chúa. Tâm bồ-đề như Tỳ-sa-môn vì có thế dứt hết mọi thứ khổ bần cùng. Tâm bồ-đề như vị trời công đức vì trang nghiêm mọi công đức. Tâm bồ-đề như vật dụng trang nghiêm, vì hay trang nghiêm các vị Bồ-tát. Tâm bồ-đề như kiếp hỏa vì hay thiêu đốt tất cả pháp hữu vi. Tâm bồ-đề như thuốc có rễ vô sinh vì nuôi lớn tất cả Phật pháp. Tâm bồ-đề như long châu vì hay tiêu trừ các độc phiền não. Tâm bồ-đề như hạt châu thanh thuỷ vì có thể làm trong các vẩn đục phiền não. Tâm bồ-đề như hạt châu như ý vì chu cấp cho mọi kẻ nghèo thiếu. Tâm bồ-đề như chiếc bình công đức vì đầy đủ tâm tất cả chúng sinh. Tâm bồ-đề như cây như ý vì hay tuôn xuống những vật dụng trang nghiêm. Tâm bồ-đề như chiếc lông ngỗng vì không dính những nhơ uế sinh tử. Tâm bồ-đề như sợi len trắng vì xưa nay phẩm chất trong sạch. Tâm bồ-đề như con trâu lanh lợi vì hay cày tất cả ruộng chúng sinh. Tâm bồ-đề như Na-la-diên vì hay phá dẹp mọi ngã kiến. Tâm bồ-đề như mũi tên nhọn vì hay bắn thủng tất cả khổ đau. Tâm bồ-đề như chiếc mâu sắc vì có thể xuyên thủng mọi áo giáp phiền não. Tâm bồ-đề như áo giáp dày chắc vì hay bảo hộ tất cả tâm đúng lý. Tâm bồ-đề như dao bén vì hay chặt tất cả đầu phiền não. Tâm bồ-đề như gươm bén vì hay chém đứt tất cả áo giáp kiêu mạn. Tâm bồ-đề như lá cờ của dũng tướng vì hay khuất phục tất cả ma quân. Tâm bồ-đề như cưa bén vì hay hạ gục tất cả cây vô minh. Tâm bồ-đề như chiếc búa bén vì hay chặt đứt tất cả cây khổ đau. Tâm bồ-đề như vũ khí vì hay trừ tất cả khổ nạn. Tâm bồ-đề như bàn tay khéo vì hay che chở muôn loài. Tâm bồ-đề như cái chân khỏe vì an lập tất cả công đức. Tâm bồ-đề như thuốc nhỏ mắt vì diệt trừ tất cả bệnh lòa vô minh. Tâm bồ-đề như cái kềm, cái nhíp vì có thể nhổ tất cả gai thân kiến. Tâm bồ-đề như tấm nệm vì dứt trừ mọi lao nhọc của sinh tử. Tâm bồ-đề như thiện tri thức vì hay cởi mở những ràng buộc sinh tử. Tâm bồ-đề như của cải, tiền bạc vì có thể trừ hết sự nghèo khổ. Tâm bồ-đề như đại đạo sư vì khéo biết con đường giải thoát của Bồ-tát. Tâm bồ-đề như kho tàng vì hay xuất ra của cải công đức không thiếu thốn. Tâm bồ-đề như dòng suối vì hay sinh ra nước trí tuệ vô cùng tận. Tâm bồ-đề như gương sáng vì hiện ra tất cả hình tượng pháp môn. Tâm bồ-đề như hoa sen vì không nhiễm tất cả tội cấu. Tâm bồ-đề như sông lớn vì lưu dẫn tất cả pháp nhiếp độ chúng sinh. Tâm bồ-đề như Đại Long vương vì có thể trút xuống các trận mưa diệu pháp. Tâm bồ-đề như mạng căn vì giữ gìn thân đại bi của Bồ-tát. Tâm bồ-đề như cam-lộ vì hay khiến an trụ trong cõi bất tử. Tâm bồ-đề như tấm lưới vì thu nhiếp tất cả chúng sinh. Tâm bồ-đề như mạng nhện thâu tóm tất cả mọi thứ ứng hóa. Tâm bồ-đề như mồi câu vì hay kéo chúng sinh ra khỏi vực sâu. Tâm bồ-đề như thuốc a-già-đà vì hay làm cho chúng sinh hết bệnh, luôn luôn an ổn. Tâm bồ-đề là thuốc trừ độc vì hay tiêu hết các thứ độc tham ái. Tâm bồ-đề như khéo trì chú vì hay trừ các thứ độc điên đảo. Tâm bồ-đề như gió xoáy vì hay cuốn đi tất cả mây mù. Tâm bồ-đề như cồn bãi chứa báu vì sinh ra tất cả của báu giác phần. Tâm bồ-đề như chủng tính tốt đẹp vì sinh ra các pháp lành. Tâm bồ-đề như ngôi nhà vì là nơi nương náu của các pháp công đức. Tâm bồ-đề như chợ phố vì là chỗ buôn bán của thương nhân Bồ-tát. Tâm bồ-đề như thuốc luyện kim vì có thể trị tất cả nhơ cấu phiền não. Tâm bồ-đề như mật ngọt vì đầy đủ tất cả vị công đức. Tâm bồ-đề như con đường chính vì đưa Bồ-tát vào thành trí tuệ. Tâm bồ-đề như cái hộp đẹp vì hay đựng vật quí. Tâm bồ-đề như đám mưa vì có thể trừ sạch bụi bặm phiền não. Tâm bồ-đề như chỗ ở vì là ở của các Bồ-tát. Tâm bồ-đề là được sự thụ ký vì không bám lấy quả giải thoát của Thanh văn. Tâm bồ-đề như lưu ly vì tự tính trong sáng không chút vẩn đục. Tâm bồ-đề như báu Đế Thích vì vượt lên trí tam thừa thế gian. Tâm bồ-đề như trống điểm canh vì đánh thức chúng sinh ra khỏi giấc ngủ phiền não. Tâm bồ-đề như nước trong sạch vì bản tính vốn lắng trong thanh khiết không nhơ đục. Tâm bồ-đề như vàng Diêm-phù vì chiếu phá tất cả các việc thiện hữu vi. Tâm bồ-đề như quả núi vĩ đại vì siêu xuất tất cả thế gian. Tâm bồ-đề như chỗ trở về vì không chống lại những kẻ đến đấy. Tâm bồ-đề như việc nghĩa lợi vì hay trừ tất cả sự suy não. Tâm bồ-đề như diệu bảo vì hay khiến tất cả tâm đều hoan hỉ. Tâm bồ-đề như hội đại thí vì sung mãn tất cả tâm chúng sinh. Tâm bồ-đề là tôn thắng vì tâm chúng sinh không thể sánh bằng. Tâm bồ-đề như kho tàng vì hay chứa đựng tất cả Phật pháp. Tâm bồ-đề như lưới nhân-đà-la vì hay chế phục phiền não a-tu-la. Tâm bồ-đề như gió ba-lâu-na vì hay lay động tất cả chỗ ứng hóa. Tâm bồ-đề như lửa nhân-đà-la vì hay thiêu đốt mọi hoặc tập. Tâm bồ-đề như bảo tháp vì đáng được tất cả thế gian cúng dường.

Này thiện nam, tâm bồ-đề thành tựu vô lượng công đức như thế. Nói tóm lại, phải biết tâm bồ-đề đem lại các công đức và tất cả Phật pháp v.v… Vì sao? Vì tâm bồ-đề sinh ra tất cả hạnh Bồ-tát, vì Như Lai ba đời sinh ra từ tâm bồ-đề này. Thế nên thiện nam, nếu có kẻ phát tâm a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì đã sinh ra vô lượng công đức, hay nhiếp lấy tất cả trí đạo. Cho đến thế này thiện nam, như có bảo châu gọi là Tự Tại Vương ánh sáng của mặt trời mặt trăng cũng không sáng bằng, tất cả tài bảo y phục v.v… những vật có giá trị đều không thể sánh được. Bậc đại Bồ-tát phát tâm bồ-đề cũng như báu Tự Tại Vương, chỗ chiếu soi của ánh sáng trí tuệ, tất cả công đức hữu lậu vô lậu của nhân thiên, Nhị thừa đều không bằng được. Này thiện nam, trong biển có báu vật, gọi là hải tạng, hiện bày mọi sự trang nghiêm, tâm bồ-đề của đại Bồ-tát cũng lại như thế, hiển hiện khắp nơi mọi sự trang nghiêm trong biển trí tuệ. Này thiện nam, ví như vàng Diêm-phù-đàn trên trời chỉ trừ tâm vương đại ma-ni bảo ra thì các báu vật khác không sánh được, đại Bồ-tát phát tâm bồ-đề cũng như vàng diêm-phù-đàn, chỉ trừ “tâm vương đại bảo nhất thiết trí” còn các thứ khác không thể sánh. Cho đến thế này thiện nam, tâm bồ-đề thành tựu vô lượng vô biên cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết công đức thù thắng như thế. Nếu có chúng sinh phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề thì sẽ được công đức thù thắng như thế”. Xin ghi chép sơ lược như trên, đại giáo Hoa Nghiêm một trăm hai mươi môn ca ngợi công đức phát tâm này rộng lớn vô biên. Nhưng trong kinh tuy dẫn các thí dụ về trân bảo hiếm có đều là những vật có giới hạn ở thế gian, lấy thô so với diệu, đem cạn sánh với sâu, đâu thể sánh bằng được những vật báu vô tận xuất thế, sao sánh được với ý chỉ của Phật pháp khó lường; cho nên biết những vật quí thế gian và xuất thế gian trong thiên hạ đều không hơn được tâm báu, như sư tử dựng bờm uy mãnh rất lớn, như voi chúa dày xéo thế lực kinh hồn.

Do đó Kinh Đại Thụ Khẩn-na-la Vương Sở Vấn nói: “Khi ấy, Đại Thụ Khẩn-na-la vương bạch: Thế Tôn! Con nghe Bồ-tát có tam-muội gọi là bảo trụ. Nếu Bồ-tát nào được tam-muội này thì tự nhiên sẽ có mọi pháp bảo, mọi công đức pháp. Đức Phật bảo Khẩn-na-la vương: Nếu có Bồ-tát muốn cho chủng tính Phật bảo không mất chủng tính Pháp bảo, chủng tính Tăng bảo không dứt, tu tập sinh ra tám mươi thứ báu, gọi đó là chẳng quên tâm báu nhất thiết trí, cho đến quán sát bảo tâm các môn giải thoát, không, vô tướng, vô nguyện vào cửa cam-lộ nên quán tất cả pháp vô sinh. Vì bảo tâm được vô sinh pháp nhẫn, nên thấy các pháp như huyễn, như mộng, như sóng nắng, như bóng, như vang, như trăng trong nước. Vì bảo tâm không trụ các kiến giải mà quán nhân duyên. Vì bảo tâm lìa kiến chấp đoạn thường nên lìa những cấu uế biên kiến. Vì bảo tâm lìa cả hai nên vào pháp môn bất nhị. Vì bảo tâm giác ngộ nhất đạo nên lìa tất cả hạnh. Vì bảo tâm đạt đến chính vị nên chính quán pháp vị. Vì bảo tâm nhất thiết pháp bình đẳng nên tập tu trợ giúp tất cả pháp bồ-đề. Vì bảo tâm biết rõ tất cả Phật pháp, cho đến dụ như biển lớn chứa đủ các báu vật, tất cả báu vật đều qui về đây. Này Khẩn-na-la vương, Bồ-tát được bảo trụ tam-muội này là chủ của tất cả chúng sinh, tập hợp các báu, tất cả pháp bảo đều hướng về”. Thế nên Tổ sư nói: “Trong tất cả báu, tâm báu là trên hết”. Cho nên biết tất cả pháp bảo đều quay về Tông Cảnh, không có pháp tài trân bảo nào mà không tích tụ.

Như kinh Nhập Pháp Giới Thể Tính nói: “Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật: Do nhân duyên gì gọi tam-muội là bảo tích ? Đức Phật bảo Văn-thù-sư-lợi: Ví như đại ma-ni châu khéo mài óng ánh được đặt nơi sạch sẽ, tùy theo chỗ này chỗ kia mà xuất ra các bảo trân không cùng tận. Lại nữa Văn-thù-sư-lợi, ta trụ tam-muội này mà nhìn về phương đông thấy vô lượng a-tăng-kỳ thế giới hiện tại chư Phật Như Lai a-la-ha tam-miệu tam-phật-đà. Các phương nam, tây, bắc bốn phía trên dưới, mười phương vô lượng a-tăng-kỳ thế giới, ta đều thấy các Như Lai trụ tam-muội này mà nói pháp cho chúng sinh. Này Văn-thù-sư-lợi, ta trụ tam-muội này chẳng thấy một pháp nào mà chẳng phải là pháp giới”: Giải thích: Bảo tích tam-muội tức là tất cả tâm chúng sinh là vô lượng công đức tụ như tích trữ của báu thế gian. Nếu có thể trụ nhất tâm bảo tích tam-muội này thì có công đức nào mà chẳng biết, vì thế có thể thấy mười phương Phật bảo chiếu sáng khắp nơi không sót, cho nên nói chẳng thấy một pháp nào mà chẳng phải là pháp giới. Thế nên trong muôn loài chỉ có tâm là quí. Như chim cánh vàng sau khi chết đi, thịt xương tan rã chỉ còn lại trái tim, Nan-đà long vương lấy trái tim này làm minh châu, Chuvển luân vương lấy làm hạt châu như ý. Tâm của tất cả chúng sinh cũng lại như thế, huyễn thân tuy mất nhưng chân tâm không hoại. Như kinh nói: “Kiếp hỏa không thiêu đốt được hư không”. Lại Tổ sư nói: “Xương cốt tuy tan rã còn có một vật linh thiêng tồn tại”. Nếu hay biết rõ chân tâm thường trụ này thì giống như được bảo châu như ý. Nếu được nó thì tế độ khắp pháp giới, sử dụng nó thì thấm nhuần mười phương. Bởi vì mười phương chư Phật trong kinh Đại thừa cùng nhau ca ngợi tâm bồ-đề này thì người kém cõi trí cạn cợt nào dám nói đến tâm này. Cho nên tiên đức giải thích ý nghĩa niết-bàn như sau: Các thứ danh mục chỉ là pháp nhất tâm. Pháp này chính là thầy của chư Phật, là mẹ của các vị Bồ-tát. Chư Phật Bồ-tát không thể nói rõ được, phàm phu có nghìn lưỡi cũng không biết tán thưởng, Nhị thừa mù mờ đâu thể vỗ tay. Đây là luận về công đức khai phát tín nhập vô biên, nếu chỉ thấy nghe mà không tin nhận, cũng còn trồng căn lành, không uổng phí đâu!

Như kinh Hoa Nghiêm nói: “Phật tử, ví như bậc trượng phu ăn chút ít kim cương hoàn toàn không thể tiêu hóa, cần phải xuyên qua thân thể mà ra ngoài. Vì sao? Vì kim cương không ở chung với thân thịt nhơ uế này. Đối với Như Lai người trồng ít căn lành cũng như thế, cần phải xuyên thấu thân phiền não, tất cả hạnh hữu vi để đi đến chỗ trí tuệ cứu cánh giải thoát. Vì sao? Vì những người ít căn lành không ở chung với các hạnh hữu vi phiền não. Này Phật tử, giả sử cỏ khô chất cao bằng núi Tu-di, nếu ném một đóm lửa nhỏ như hạt cải vào trong đó tức thì cháy rụi. Vì sao? Vì lửa hay thiêu đốt. Đối với Như Lai mà vun trồng chút ít căn lành cũng lại như thế, chắc chắn cháy sạch tất cả phiền não, rốt ráo được vô dư niết-bàn. Này thiện nam, ví như núi tuyết có cây dược vương tên là Thiện Kiến; nếu ai thấy thì mắt thanh tịnh, ai nghe thì tai thanh tịnh, ai ngửi thì mũi được thanh tịnh, ai nếm thì lưỡi được thanh tịnh ai sờ thì thân được thanh tịnh; nếu có chúng sinh nào lấy được đất chỗ trồng nó thì cũng có thể được lợi ích trừ bệnh. Này Phật tử, Dược Vương Như Lai vô thượng chính đẳng chính giác cũng lại như vậy hay làm lợi ích chúng sinh. Nếu ai thấy sắc thân Như Lai thì mắt được thanh tịnh, nếu ai nghe danh hiệu Như Lai thì tai được thanh tịnh, nếu ai ngửi giới hương Như Lai thì mũi được thanh tịnh, nếu ai nếm pháp vị Như Lai thì lưỡi được thanh tịnh đầy đủ tướng lưỡi rộng dài giảng thuyết chính pháp. Nếu ai tiếp xúc với ánh sáng Như Lai thì thân được thanh tịnh, rốt ráo được pháp thân vô thượng. Nếu nhớ đến Như Lai thì được niệm Phật tam-muội thanh tịnh. Nếu có chúng sinh nào cúng dường đất đai cùng tháp miếu cho Như Lai cũng có thiện căn, diệt trừ mọi phiền não, được niềm vui của Thánh hiền. Này Phật tử nay ta bảo ông, giả sử có chúng sinh thấy nghe nơi Phật nhưng vì nghiệp chướng ngăn che không sinh lòng tin nhận thì cũng có trồng thiện căn, không có uổng phí đâu, cho đến cuối cùng rốt ráo vào niết-bàn. Này Phật tử, bậc đại Bồ-tát cần phải biết như thế, ở chỗ Như Lai thấy nghe thường thân cận để vun trồng thiện căn thì đều lìa tất cả pháp bất thiện, đầy đủ pháp thiện, cho nên biết hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc tin, hoặc không tin thì đều được thiện căn vô thượng cứu cánh, vì thấy được Phật viên giác và pháp phổ môn. Bởi giác viên mãn nên không có khuyết giảm, vì pháp phổ biến nên tự nhiên đầy đủ, đâu chẳng phải cứu cánh”. Do đó trong phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức, kinh Hoa Nghiêm có bài tụng:

Bồ-tát phát tâm công đức lượng
Ức kiếp ngợi khen không thể tận
Vì sinh ra tất cả Như Lai
Độc giác, Thanh văn đều an lạc
Các chúng sinh cõi nước mười phương
Thảy đều ban vui vô lượng kiếp
Khuyên giữ ngũ giới và thập thiện
Tứ thiền cùng với tứ định xứ
Lại do nhiều kiếp ban an lạc
Khiến dứt các hoặc thành La-hán
Các phước tụ họp dù vô lượng
Không thể sánh công đức phát tâm
Còn dạy ức chúng thành Duyên giác
Được hạnh vô tranh đạo vi diệu
Lấy đó sánh với tâm bồ-đề
Toán số thí dụ không thể được
Một niệm vượt qua vô số cõi
Như thế trải qua vô lượng kiếp
Các cõi này số còn đếm được
Công đức phát tâm không biết được.

Lại tụng:

Rất nhiều thí dụ được nói ra
Không gì sánh bằng bồ-đề tâm
Bậc nhân trung tôn trong ba đời
Đều do sự phát tâm sinh ra.

Hoa Nghiêm Chỉ Quy nói: Hiểu rõ kinh được mười điều hữu ích như sau:

1- Kiến văn ích: Nghĩa là nhờ thấy nghe Như Lai và gieo trồng thiện căn đối với các pháp của Như Lai làm thành hạt giống kim cương bất hoại để cuối cùng thành Phật. Vì thế Phẩm Tính Khởi nói: “Này Phật tử, dù tà kiến không tin, chúng sinh thấy nghe Phật, nơi sự thấy nghe ấy chúng sinh kia đã trồng căn lành nên quả báo không luống uổng cho đến cứu cánh niết-bàn”.

2- Phát tâm ích: Nghĩa là tín vị đã mãn xứng với Đức Phật phát đại tâm. Tâm này thuộc về pháp Phổ Hiền, thế nên dung thông tất cả không gian thời gian vô tận đồng pháp giới, tức là nhập vào pháp giới, nhiếp lấy pháp giới; tức là tất cả các hạnh vị đều thành mãn, cho nên kinh nói: “Vì sơ phát tâm chính là Phật, ngang bằng với chư Phật ba đời”.

3- Khởi hạnh ích: Nghĩa là khi khởi một hạnh Phổ Hiền tức là khắp tất cả hạnh, tất cả vị, tất cả đức, tất cả pháp, tất cả xứ, tất cả thời, tất cả nhân, tất cả quả, cùng tận pháp giới đầy đủ tất cả giống như lưới trời Đế Thích. Do đó kinh nói: “Đại Bồ-tát nghe được pháp này dùng ít phương tiện mà chóng được bồ-đề”.

4- Nhiếp vị ích: Nghĩa là năm vị như: Tín vị v.v… trong mỗi vị bao gồm tất cả vị. Nhưng có hai môn: Một là toàn vị tương thị môn, tức là tất cả vị là một vị nên Thập tín đầy đủ liền thành Phật. Hai là chư vị tương tư môn, là trong một vị đầy đủ tất cả vị, như trong Thập tín có Thập trụ cho đến Thập địa. Cho nên kinh nói: “Trụ nơi một địa khắp nhiếp công đức tất cả địa như Thập huyền môn”.

5- Tốc chứng ích: Y theo phổ môn này một chứng tất cả chứng như kinh nói rõ chúng sinh ở trong địa ngục nhờ ánh sáng mà hết khổ, vừa từ cửa ngục bước ra liền lên trời Đâu-suất, nghe phổ môn này liền được Thập địa, đây nói về sự lợi ích sâu xa của pháp này.

6- Diệt chướng ích: Y theo phổ môn này một dứt thì tất cả đều dứt như thiên tử Đâu-suất chẳng phải tự thân liền được Thập địa mà là do hương thơm từ lỗ lông xông ướp chúng sinh liền diệt vô lượng phiền não, đây là sức thù thắng của phổ môn này.

7- Chuyển lợi ích: Phổ hạnh cũng thành tựu tức là lợi ích vô biên chúng sinh, thảy đều cùng được pháp Thập địa, như thiên tử Đâu-suất được Thập địa rồi trong lỗ lông sinh ra lọng mây cúng dường Phật. Kinh nói: “Nếu có chúng sinh thấy lọng mây này thì chúng sinh ấy đã trồng thiện căn bằng với một Hằng hà sa Chuyển luân vương trồng thiện căn”.

8- Tạo tu ích: Như Thiện Tài y theo phổ môn này được một là được tất cả, bởi vì đời trước đã từng nghe phổ môn này trở thành hạt giống kim cương khiến cho đời nay chóng thành tựu giải hạnh.

9- Đốn đắc ích: Như kinh nói về sáu nghìn vị tì-kheo thấy Như Lai liền được Thập nhãn cảnh giới. Trong rừng Kỳ Viên bất khả thuyết trần số Bồ-tát đồng được vô tận tự tại pháp hải.

10- Xứng tính ích: Nghĩa là y theo phổ môn này tất cả chúng sinh đều xứng với bản tính ở trong biển Phật quả, tức là “cựu lai ích”. Như kinh nói trong thân Phật thấy tất cả chúng sinh đã thành Phật, đã niết-bàn.

Thế nên những điều nói trong Tông Cảnh Lục đều phù hợp với chân tính, trên mặt bản thể mà nói, nhân quả đều thật, lý sự đều chân. Vì là tông viên mãn, pháp phổ môn, vì thấy pháp rộng khắp nên gọi là phổ nhãn. Pháp rộng khắp là một đầy đủ tất cả, mỗi mỗi xứng tính đồng thời đầy đủ, ngoài nhãn căn không có pháp nên gọi là phổ nhãn, cũng gọi là Phổ nhãn kinh, khiến cho người thấy nghe đều được đồng tính. Vì tính này vô tận nên sự lợi ích làm sao cùng tận? Cho nên có thể bao quát vô biên, gồm thông tất cả, bao hàm trước sau; như cất bước đâu tiên liền là lộ trình đi đến nghìn dặm, được một thì được tất cả, như nhìn mặt trăng trên trời tức là rõ được tất cả ánh trăng trong nước. Cho nên biết có giáo ắt có vị, có pháp hẳn có người. Như chúng sinh ở địa ngục thấy nghe làm hạt giống, ở trong tám nạn mà vượt lên thềm Thập địa. Đồng tử Thiện Tài hạnh giải tự bản thân ở trong một đời viên mãn quả nhiều kiếp, nội dung lời văn có căn cứ thì quả báo chẳng phải hư dối, đáng dạy cho hậu hiền cùng nối tiếp hạt giống này. Do đó trong tạng kinh, Như Lai so lường công đức thụ trì kinh này cúng dường quá khứ Hằng hà sa hiện tại chư Phật, tạo lập Hằng hà sa đài bảy báu cao mười do tuần, mỗi ngày đều như thế, cho đến năm mươi Hằng hà sa đài bảy báu, cúng dường Hằng hà sa Như Lai không bằng người ưa thích bồ-đề, thụ trì kinh này cho đến tính đếm thí dụ cũng không thể được. Giải thích bảy báu là của cải có hạn lượng, cúng dường là pháp hữu vi. Nếu người thụ trì kinh này thì của báu nhất thừa thường trụ, phước của chân như vô tận như pháp giới so với vi trần sao có thể đo lường được ?

Hỏi: Phát tâm bồ-đề có mấy thứ? Nhờ vào bồ-đề gì mà phát tâm để được công đức như thế?

Đáp: Nếu luận theo chiều ngang (trên mặt không gian) thì tùy theo căn cơ tu chứng mà có bốn thứ bồ-đề. Nếu luận theo chiều dọc (trên mặt thời gian) thì căn cứ theo ba thời ban đầu, chặng giữa và sau cùng mà có ba thứ bồ-đề. Lại phát tâm có hai loại: Một là khởi phát, hai là khai phát. Khởi phát tức là bắt đầu Thập tín của nhất thừa. Khai phát tức là bắt đầu Thập trụ của nhất thừa. Nay chỗ được ca ngợi là y theo bậc thượng thượng căn trong bốn thứ bồ-đề. Nếu Tông Cảnh ca ngợi thì phần nhiều lấy chỗ phát tâm của viên tín khởi phát. Nếu dẫn Hoa Nghiêm thì lấy chỗ phát tâm của Sơ trụ khai phát. Còn bây giờ luận về chỗ phát tâm, không y theo người cũng không y theo pháp, đốn ngộ tự tâm, muôn hạnh đầy đủ nên gọi là phát. Như Hoa Nghiêm Luận nói: “Phát tâm có hai: Một là từ lâu chịu nỗi khổ sinh tử nay chán ghét khổ mà phát tâm, có được tam thừa, quả nhất thừa gọi là tự giác Thánh trí, còn gọi là Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí. Hai là nương theo bậc đã giác ngộ nhờ chỉ dạy cho biết gốc khổ mà phát tâm”.

Luận về phát tâm còn có hai loại: Nếu nói phải nương theo bậc tiên giác mà phát tâm thì mắc vào lỗi thường kiến, giống như thường kiến của ngoại đạo. Bậc tiên giác lấy ai làm thầy, lần lượt kế thừa không lìa thường kiến. Nếu có đức Phật thường hằng từ thuở xưa làm vị thầy xoay vần, tức là vị cổ Phật tự thể tự chân chẳng theo vọng, tức không thể giẫm lên dấu chân xưa, vì chân tự thường chân, không thể lấy chân để theo sinh tử. Tức sinh tử là sinh tử thường hằng, Phật là Phật thường hằng. Nếu như chúng sinh nhất định bị sinh tử thì sinh tử thường hằng, không thể trở thành chân, đây là đoạn kiến. Hai thứ này đều chẳng phải, chẳng lìa thường kiến đoạn kiến vậy. Vì tất cả chúng sinh vô tính vốn không sinh tử, cho rằng sinh tử vốn chẳng phải sinh tử, tất cả chư Phật vốn không tự tính, thật sự không có bồ-đề, cũng không có niết-bàn, nhưng chúng sinh lầm cho rằng chư Phật có bồ-đề, niết-bàn. Nếu có chúng sinh nào biết như thế thì gọi là phát tâm, gọi là chư Phật, gọi là kiến đạo mà có thể khai ngộ tất cả chúng sinh. Nếu có kẻ hiểu rõ vô minh, vô minh vốn không, chư Phật cũng không thì gọi là bậc giác ngộ. Chỉ lấy diệu trí vô y, vô trụ, vô thể, vô tính có thể tùy theo hưởng ứng mà đối hiện sắc thân, có thể đem lý này giáo hóa chúng sinh gọi là đại bi, cho nên không thể có đắc có chứng, có hân có yểm, có thủ có xả, có cổ có kim, có chân có giả mà phát tâm bồ-đề, vì phát tâm bồ-đề như thế sẽ không bị đêm dài vô minh che lấp. Kinh lại nói: “Thiện Tài thưa với tì-kheo Đức Vân: Tôi đã phát tâm vô thượng với ngài Văn-thù-sư-lợi, vì biết rõ bồ-đề không tu chứng, không sở cầu, chỉ cầu Bồ-tát phương tiện tam-muội gia hạnh, tâm bồ-đề kia tự nhiên trong sáng không cấu uế như trong hư không có mây, mây tan hết thì hư không rỗng không”. Không còn nói cầu hư không để thuyết minh dùng Bồ-tát tam-muội quán chiếu để trị chấp chướng. Nhưng tâm bồ-đề không cần tu cũng không cần trừ, tại phàm không giảm, tại Thánh không tăng. Thế nên nay đem ngọn Diệu phong tượng trưng cho hai môn chỉ quán, thất bồ-đề phần hiển bày phương tiện. Tâm bồ-đề tự trong sáng cho đến bồ-đề cũng trong sáng tức là Bồ-tát thực hành các tam-muội chính là bồ-đề, chẳng còn bồ-đề nào khác để tự trong sáng. Vì nói Bồ-tát ở trên thế gian tu muôn hạnh, muôn hạnh thế gian cho đến bồ-đề, niết-bàn tự tính lìa nên đem pháp này giáo hóa quần mê. Chẳng rõ pháp này mà lãnh ngộ đạt được trí tính không, vô cấu để sạch hết các nghiệp khiến khổ không còn sinh gọi là đại bi như hóa nhân giáo hóa người huyễn. Đem trí quán sát nghiệp tùy thời tùy căn mười phương đều được lợi ích, không có tâm ý thức, trí huyễn lợi sinh do nghĩa này vậy. Chỉ cầu tất cả hạnh Bồ-tát để thuyết minh chính hạnh là bồ-đề tất cả không sinh diệt, cho nên nói tôi đã phát tâm bồ-đề vô thượng, do vì biết rõ tín tâm bồ-đề tuy chưa có tam-muội gia hạnh hiển phát mà đã biết vô sở tu, vô sở cầu. Nay cầu Bồ-tát hạnh vì biết rõ phương tiện tam-muội tương ấn mới biết hạnh với bồ-đề thực sự không hai, Trong đây không thể nói các hạnh vô thường chợt sinh chợt diệt. Như kinh nói: “Tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không diệt, nêu hiểu như thế đó, chư Phật thường hiện tiền”. Đây là biết tâm bồ-đề không sinh, không diệt, không đắc, không y. Chỗ nói cầu Bồ-tát hạnh là phương tiện hiển phát, đang lúc hiển phát thì lý hạnh không hai, cho nên trong hội Bát-nhã, Xá-lợi-phất hỏi: Tu-bồ-đề y theo pháp môn nào mà khéo nói bát-nhã ? Tu-bồ-đề đáp: Tôi nhờ vô y mà biện nói như thế. Đệ tử chư Phật đối với tất cả vô y thì pháp nhĩ như thị, chẳng phải do ta làm ra, cũng như trống trời thuyết pháp ở Diệu Thiện Đường, gọi là vô y ấn pháp môn. Cho nên cổ nhân có kệ:

Thấu tỏ nguồn tâm như như Phật
Rốt ráo vô y người tự tại.

CHÚ THÍCH

  1. Chân Giác đại sư: Tức là Huyền Giác (665-713) Thiền Tăng đời Đường, họ Đới tự Đạo Minh, người xứ Vĩnh Gia, Trung Quốc, nối pháp Lục Tổ Huệ Năng, trước tác Chứng Đạo Ca.