TÔNG CẢNH LỤC
Thiền sư Diên Thọ
Tuệ Đăng & Hân Mẫn dịch

 

QUYỂN 4

Hỏi: Nói về tâm pháp. Thế nào là tâm ? Thế nào là tâm pháp ?

Đáp: Biết trần rõ tướng gọi là tâm vương, vì nhất tâm là tổng nguyên của các pháp. Nắm lấy trần có tướng (sai khác) riêng gọi là số pháp do bởi vô minh căn bản mê tính bình đẳng. Luận Biện Trung Biên nói: “Nếu rõ biết trần, thông suốt tướng, gọi là tâm. Nắm lấy trần và có tướng riêng là tâm pháp”.

Hỏi: Một thứ tâm pháp này có bao nhiêu nghĩa làm thành ?

Đáp: Tâm pháp gồm có bốn nghĩa: 1- Sự tùy cảnh phân biệt thấy nghe hiểu biết. 2- Pháp luận thể, chỉ là pháp số sinh diệt. Hai nghĩa này là đứng trên thế tục để luận cho nên có, đứng trên chân đế thì không. 3- Không tịch của lý không cùng tột. 4- Thật luận bản tính chỉ là pháp Như Lai tạng.

Trong bốn nghĩa của tâm, hai nghĩa đầu là vọng tâm duyên lự, hai nghĩa sau là chân tâm thường trụ. Về chân tâm thì bản tính u huyền cùng tột lý không tịch, tâm này không có số lượng cũng không thể chỉ ra, còn như vọng tâm thì khắp cả thấy nghe.

Hỏi: Tâm duyên lự sinh diệt này có bao nhiêu hành tướng?

Đáp: Có năm thứ tâm: 1- Tâm trực nhận nghĩa là nghe pháp liền khai mở, vừa mới gặp cảnh liền khởi. 2- Tâm tìm cầu nghĩa là đối với cảnh chưa biết rõ nên có sự tìm cầu. 3- Tâm quyết định, xét biết pháp thể rồi khởi quyết định. 4- Tâm nhiễm tịnh, tùy theo pháp gợi sự ưa thích, hay nhàm chán mà khởi nhiễm tịnh. 5- Tâm đẳng lưu là tâm luôn duyên theo cảnh, trước sau đều như nhau.

Pháp Uyển Nghĩa Lâm nói: “Nói về năm thứ tâm tướng, lại như nhãn thức, ban đầu theo cảnh gọi là trực nhận, đồng thời ý thức trước đó chưa duyên cái này bây giờ cùng khởi cũng gọi là trực nhận”.

Cho nên Luận Du Già nói: “Ý thức tha hồ tán loạn do lúc chẳng thấu biết cảnh quen thuộc (tập cảnh) nên vô dục v.v… phát sinh, lúc ấy ý thức gọi là tâm trực nhận. Lúc có dục sinh khởi nên có sự tìm cầu v.v…”,

Kinh Giải Thâm MậtLuận Quyết Trạch nói: “Năm thức đồng thời nhất định có một ý thức phân biệt cùng lúc chuyển nên nhãn cùng đi với ý gọi là tâm trực nhận vì chợt ban đầu theo cảnh. Đây là duyên ban đầu, chưa biết cảnh nào là thiện, là ác, vì là liễu tri nên kế đến khởi tìm cầu, cùng chuyển với dục vì mong mỏi hy vọng cảnh. Đã tìm cầu rồi, “thức” biết cảnh trước đó, kế đến khởi quyết định tức là vì hiểu rõ cảnh, quyết định rồi thức giới sai biệt, nắm lấy các tướng của chính nhân đẳng tướng, đối với kẻ oán thì trụ ác, đối với người thân thì trụ thiện, đối với kẻ không oán không thân thì trụ xả, tâm nhiễm tịnh sinh. Do ý thức nhiễm tịnh này làm đầu dẫn sinh đồng tính thiện hoặc nhiễm tùy theo trước mà khởi gọi là tâm đẳng lưu như nhãn thức sinh, nhĩ thức sinh, các thức cũng như thế”.

Tiên đức hỏi: Năm tâm ở trong tám thức mỗi thứ có bao nhiêu tâm?

Đáp: Năm thức trước (tiền ngũ thức) có bốn tâm trừ tâm tìm cầu vì không phân biệt. Thức thứ sáu cũng có đủ năm tâm. Thức thứ bảy không có hai tâm trực nhận và tầm cầu, có ba tâm: Quyết định, tịnh nhiễm và đẳng lưu, vì thức thứ bảy thường duyên cảnh hiện tại nên không trực nhận.

Hỏi: Thức thứ bảy hiện có so đo phân biệt sao lại không có tâm tìm cầu?

Đáp: Phàm tâm tìm cầu đều nương vào sự trực nhận, rồi sau đó tìm cầu mới sinh. Thức thứ bảy cũng không trực nhận, không có sự tìm cầu.

Hỏi: Năm thức trước đã có trực nhận sao không có tìm cầu ?

Đáp: Tìm cầu đủ hai duyên mới có: 1- Là tâm trực nhận dẫn phát. 2- Là tâm phân biệt suy tính. Năm thức trước tuy có trực nhận nhưng không có phân biệt suy tính. Thức thứ tám có ba tâm: tâm trực nhận, tâm quyết định, tâm đẳng lưu, không có tâm nhiễm tịnh và tâm tìm cầu.

Hỏi: Thức thứ tám đồng với thức thứ bảy thường duyên hiện cảnh tại sao lại có sự trực nhận ?

Đáp: Thức thứ bảy duyên cảnh không có gián đoạn, thức thứ tám duyên cảnh có gián đoạn vì thức thứ tám lúc mới thụ sinh mở đầu duyên tam giới là ba thứ cảnh.

Hỏi: Lúc mới thụ sinh thức thứ bảy cũng khởi đầu duyên tam giới, thức thứ tám sao không có tâm trực nhận ?

Đáp: Thức thứ bảy tùy theo chỗ ràng buộc thường duyên thức thứ tám của cõi hiện tại. Bây giờ xin giải thích thêm thức thứ bảy thường bên trong duyên một cảnh nên không có trực nhận; thức thứ tám bên ngoài duyên nhiều cảnh mà có trực nhận và vì không phân biệt nên không tìm cầu.

Hỏi: Trong năm tâm, tâm nào huân chủng tử, tâm nào không huân chủng tử ?

Đáp: Tâm trực nhận có hai thuyết: 1- Nói là chẳng huân chủng tử vì duyên cảnh một cách hồn nhiên, chẳng cường thịnh. 2- Nói là nếu duyên sinh cảnh thì chẳng huân chủng tử, nếu duyên cảnh đã từng biết tức là huân chủng tử bởi vì xuyên suốt tập lực (sức mạnh của thói quen). Những tâm khác đều huân chủng tử. Nay xin giải thích: Lại như lúc trực nhận nghe âm thinh, không đơn thuần sinh khởi âm thinh quen thuộc đều huân chủng tử về âm thinh thật, lại có cửu tâm luân (chín tâm làm thành vòng xoay); rộng lược chẳng đồng còn chân lý chỉ là một. Tâm ấy như vòng bánh xe xoay chuyển theo cảnh cho nên kinh nói: Thân chẳng phải niệm luân tùy theo niệm mà chuyển. Nghĩa ấy như thế nào ?

Chư sư Thượng Tọa Bộ lập Cửu tâm luân: 1- Hữu phần. 2- Năng dẫn phát. 3- Kiến. 4- Tầm cầu. 5- Quán triệt. 6- An lập. 7- Thế dụng. 8- Phản duyên. 9- Hữu phần thể. Như lúc mới thụ sinh chưa có thể phân biệt, tâm chỉ hồn nhiên duyên nơi cảnh chuyển gọi là hữu phần. Nếu có cảnh tâm cố muốn duyên lại sinh sự cảnh giác gọi là năng dẫn phát. Tâm kia trên cảnh này đã chuyển nhìn thấy rõ nó, đã thấy nó rồi liền thành tìm cầu, xem xét là tốt hay xấu (thiện, ác), xem xét rồi biết rõ ràng thiện ác để an lập tâm. Khởi lời nói phân biệt việc thiện ác, theo lời nói lại có thể dụng của động tác; động tác đã khởi muốn phế bỏ đạo. Do đó trở lại duyên theo những việc đã làm trước kia, trở lại duyên đã là trở về hữu phần hồn nhiên duyên cảnh gọi là cửu tâm, làm thành cái nghĩa xoay vần. Trong ấy thấy tâm thông sáu thức chỉ còn ý thức, hữu phần tâm thông sinh tử. Phản duyên tâm chỉ có lúc chết. Nếu người ly dục chết chỉ có hữu phần tâm, đã không có ngã ái, không có chỗ phản duyên, chẳng sinh luyến mến; người chưa ly dục vì chết với phản duyên tâm nên còn có sự luyến mến. Nếu có cảnh đến tâm liền sinh; nếu không có cảnh khác, luôn luôn trụ ở hữu phần nối tiếp một cách tự nhiên, nhưng thấy cùng với tìm cầu trước sau chẳng định.

Hỏi: Nếu theo phân biệt lập tâm chân vọng, căn cứ vào hai tâm này tổng cộng có mấy loại?

Đáp: Luận Đại Trí Độ nói: “Có hai thứ đạo: 1- Đạo tất cánh không. 2- Đạo phân biệt tốt xấu. Nếu là đạo tất cánh không còn chẳng có cái một huống chi là nói nhiều. Nếu là đạo phân biệt tốt xấu, lý từ nghĩa sai khác, sự có đến Hằng sa”. Về nhất tâm, người xưa giải thích có bốn: 1- Hất-lợi-đà-na là nhục đoàn tâm tức trái tim, là một trong ngũ tạng ở kinh Huỳnh Đình nói. 2- Duyên lự tâm, đây là tám thức, hay duyên lự tự phần cảnh, sắc là cảnh của nhãn thức, chủng tử của căn thân khí thế giới là cảnh của a-lại-da thức; mỗi thứ duyên một phần nên nói là tự phần. 3- Chất-đa-da là tập khởi tâm, chỉ có thức thứ tám chứa nhóm chủng tử sinh khởi hiện hành. 4- Càn-lật-đà-da là kiên thật tâm, còn gọi là trinh thật tâm, đây là chân tâm. Nhưng thức thứ tám không có tự thể riêng, chỉ là chân tâm do bất giác nên cùng với các vọng tưởng có cái nghĩa hòa hợp và chẳng hòa hợp. Nghĩa hòa hợp là hay gồm có cả nhiễm tịnh, gọi là Tạng thức. Chẳng hòa hợp là thể luôn luôn chẳng biến đổi, gọi là chân như, đều là Như Lai tạng.

Thế nên kinh Lăng Già nói: “Tịch diệt gọi là nhất tâm, nhất tâm là Như Lai tạng. Như Lai tạng cũng là pháp thân tại triền”.

Kinh nói: “Ẩn là Như Lai tạng, hiển là pháp thân”. Cho nên biết bốn thứ tâm vốn đồng một thể, chỉ do mê ngộ phân ra nhiều thứ.

Bài kệ kinh Lăng Già nói:

Phật nói Như Lai tạng
Đó là a-lại-da
Ác tuệ chẳng thể biết
Tạng là lại-da thức.

Phật nói Như Lai tạng là tên của pháp thân tại triền, đó là a-lại-da tức là tạng thức, ác tuệ không thể biết tạng là thức a-lại-da. Có người chấp chân như cùng thể a-lại-da khác nhau, đó là ác tuệ vậy. Nhưng bốn tâm đồng thể, nghĩa chân vọng khác biệt, gốc ngọn cũng khác. Ba tâm trước là tướng, một tâm sau là tính. Tính tướng vô ngại, đều là nhất tâm; cái chân tâm thứ tư được lấy làm tông chỉ.

Cổ đức giải thích rộng nhất tâm, xem Như Lai tạng tâm gồm đủ hai nghĩa: 1- Về thể có nghĩa bặt các tướng là chân như môn nghĩa là chẳng nhiễm, chẳng tịnh, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng động, chẳng chuyển, một vị bình đẳng, tính không sai biệt, chúng sinh là niết-bàn chẳng đợi diệt, phàm phu Di-lặc đồng một cõi. 2- Cái nghĩa tùy duyên khởi diệt là sinh diệt môn nghĩa là tùy huân chuyển động thành nhiễm tịnh, nhiễm tịnh tuy thành tính mà hằng bất động, chỉ do bất động hay thành nhiễm tịnh cho nên bất động cũng tại động môn.

Kinh Lăng Già nói: “Như Lai tạng gọi là thức a-lại-da cùng với vô minh bảy thức như sóng biển cả luôn luôn chẳng ngừng”.

Kinh nói: “Như Lai tạng là chỗ huân các ác tập hư ngụy từ vô thỉ gọi là thức tạng”.

Nếu một cái tâm suy tìm từ ngọn ngành trở về cội gốc có thể nói là chứng đệ nhất nghĩa, chắc chắn được giải thoát. Đệ nhất nghĩa là tính của duyên. Nếu thấy được (duyên tính) tính của duyên thì chắc chắn thoát khỏi sự ràng buộc của duyên.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Đều là do nhất tâm làm ra”.

Luận nói: “Chỉ là nhất tâm, vì tất cả ba cõi chỉ là do tâm chuyển”.

Các kinh giáo đều dẫn chứng thành duy tâm. Thế nào nhất tâm tạo nên ba cõi ? Có ba:

1- Nhị thừa: Cho rằng có cảnh trước mắt nhưng chẳng rõ chỉ là tâm, dù nghe nhất tâm chỉ cho là một thứ chân đế, hoặc nói do tâm chuyển biến chẳng phải thảy đều là tâm.

2- Dị thục a-lại-da gọi là nhất tâm, vì đơn thuần không có ngoại cảnh nên nói là nhất tâm.

3- Như Lai tạng tính thanh tịnh nhất tâm, lý không có hai thể nên nói nhất tâm. Nên biết hai pháp phàm Thánh, hai môn nhiễm tịnh, thảy đều là nhất tâm vậy.

Lại nhất tâm này căn cứ vào các nghĩa tính tướng, thể dụng, bản mạt, tức nhập v.v… có mười môn:

1- Tạm nói nhất tâm: Hàng Nhị thừa nói thật có pháp bên ngoài chỉ do tâm biến động nên nói nhất tâm, chín môn dưới đây thật ra chỉ là nhất tâm.

2- Tướng kiến đều còn nói nhất tâm đây là thông tám thức và các tâm sở và tướng phần biến hiện, bóng ảnh đầy đủ do có sức huân tập của từng phần nên biến hiện y báo, chính báo của ba cõi.

3- Đem tướng đưa về “kiến” nói “nhất tâm”, cũng thông cả tâm vương tâm sở, chỉ là tướng phần được biến hiện không có gì khác sinh, thức năng kiến sinh gá vào cảnh khởi.

4- Đưa các tâm số pháp trở về tâm vương nói nhất tâm, chỉ thông cả tám thức, vì tâm sở kia nương gá tâm vương vô thể cũng là tâm biến hiện.

Giải thích: Đem tướng về “kiến”, bài kệ trong Duy Thức nói:

Duy thức không cảnh giới
Do vô trần vọng kiến
Như người bị đau mắt
Thấy mặt trăng, mảy lông v.v…

Thông thường khi làm luận phải có ba nghĩa: 1- Lập nghĩa là câu thứ nhất. 2- Dẫn chứng là câu thứ hai. 3- Thí dụ tức là hai câu dưới (câu hai và ba).

Luận Sở Duyên Duyên nói:

Nội thức bên ngoài
Là thức sở duyên duyên
Nhận tướng ấy nơi thức
Và vì hay sinh thức.

Ý nói: Nội thức tựa như ngoại cảnh hiện là sở duyên duyên. Nhận các thức như nhãn thức gá vào tướng kia khởi nên từ đó sinh thức. Kết luận rằng: Các thức chỉ có nội cảnh tướng là sở duyên duyên, lý cực thành vậy, nếu thế thì chẳng phải hoàn toàn vô tướng, tướng hoàn toàn thuộc thức cho nên nói trở về kiến (quy kiến).

Còn: Đem các tâm số pháp về tâm vương (nhiếp số quy vương).

Như bài kệ trong Luận Trang Nghiêm, nói:

Tự giới và nhị quang
Si và các hoặc khởi
Các phân biệt như thế
Hai thứ ấy nên lìa (nhị thật).

Giải thích: Tự giới: Từ chủng tử của a-lại-da thức.

Nhị quang: Là hai thứ ánh sáng năng thủ và sở thủ. Các sự phân biệt đều do vô minh và các thứ hoặc làm sinh khởi. Như vậy các thứ phân biệt hai thật lẽ ra phải xa lìa.

Nhị thật là sở thủ thật và năng thủ thật. Hai thứ chấp thủ năng sở thật hữu này nhiễm ô phải nên xa lìa. Do đó luận có bài kệ nói: Năng thủ và sở thủ hai thứ này chỉ là tâm quang, còn tham quang và tín quang, hai thứ quang này không phải là hai pháp.

Giải thích: Người cầu duy thức nên biết năng thủ, sở thủ, hai thứ này chỉ là ánh sáng của tâm (tâm quang).

5- Đem ngọn về gốc nói nhất tâm nghĩa là bảy chuyển thức đều là bản thức vì phân biệt công năng mà không có thể riêng.

Bài kệ nói:

Ví như sóng biển cả,
Chẳng có bao nhiêu tướng,
Các thức tâm cũng thế,
Không có gì khác biệt.

6- Đưa tướng về tính nói nhất tâm, tám thức này đều không có tự thể, chỉ là Như Lai tạng bình đẳng hiển hiện, các tướng khác đều tận, tất cả chúng sinh là tướng niết-bàn. Kinh nói: “Tướng chẳng hoại có tám; vô tướng cũng vô tướng”.

7- Tính tướng đều dung nói nhất tâm: Nghĩa là Như Lai tạng nếu thể tùy duyên làm thành các việc mà tự tính vốn chẳng sinh diệt, tức là lý sự dung thông vô ngại. Do đó nhất tâm, nhị đế đều không chướng ngại.

8- Dung sự tương nhập nói nhất tâm: Do tâm tính viên dung vô ngại, vì tính thành sự, sự viên dung chẳng chướng ngại nhau, một vào tất cả, trong mỗi mỗi hạt bụi đều thấy pháp giới, trời, người, a-tu-la đều chẳng ngoài hạt bụi.

9- Toàn sự tướng nói nhất tâm: Nghĩa là sự y tính, sự không có sự riêng, tâm tính đã không có kia đây khác nhau. Sự cũng là tất cả là một, một là nhiều, nhiều là một.

10- Đế võng vô ngại nói nhất tâm: Nghĩa là trong một có tất cả, trong tất cả có tất cả, trùng trùng vô tận đều là do tâm thức Như Lai tạng tính, viên dung vô tận, bởi vì tính chân như tất cánh vô tận, vì quán tất cả pháp là chân như, vì tất cả mọi lúc mọi nơi đều là mạng lưới của Đế Thích.

Như bài tụng Toàn Phục nói:

Nếu người muốn biết lý chân không
Trong thân chân như trải rộng khắp
Tình với vô tình đồng một thể
Nơi nơi đều đồng pháp giới chân
Chẳng lìa sắc huyễn liền thấy không
Đây là chân như trùm tất cả
Một niệm chiếu nhập vào nhiều kiếp
Mỗi mỗi kiếp niệm thu tất cả
Ở trong một cảnh nhất thiết trí
Ở trong một trí các cảnh giới
Chỉ dùng một niệm quán các cảnh
Tất cả các cảnh đều thể hội
Thời xứ Đế võng hiện trùng trùng
Nhất thiết trí thông vô quái ngại.

Toàn phục là chỗ nước xoáy: 1- Vì rất sâu. 2- Vì xoay trở lại. 3- Vì khó vượt qua. Biển pháp có chỗ nước xoáy cũng như thế, 1- Chỉ có Phật mới có thể xét tột cùng. 2- Chân vọng theo nhau khó có thể rõ cùng tận từ đầu đến cuối. 3- “Văn không” nghĩa là không mà nghe ra có cho rằng có thì chìm đắm trong nước xoáy. Nếu không rõ được Tông này khó vượt biển chấp có; theo sóng thiện ác trôi dạt vào bãi khổ vui, chẳng gặp được thuyền từ làm sao lên bờ giác?

Như bài kệ nói:

Chân như tịnh pháp giới
Một bặt chưa từng còn
Tùy theo duyên nhiễm tịnh
Liền thành mười pháp giới.

Theo nhiễm duyên thành pháp giới lục phàm, theo tịnh duyên thành pháp giới tứ Thánh.

Pháp giới lục phàm: 1) Cõi chư thiên. 2) Cõi người. 3) Cõi a-tu-la. 4) Cõi địa ngục. 5) Cõi ngạ quỷ. 6) Cõi súc sinh.

Pháp giới tứ Thánh: 1) Cõi Thanh văn. 2) Cõi Duyên giác. 3) Cõi Bồ-tát. 4) Cõi Phật.

Chúng sinh ở trên chân tính do tình tưởng khác nhau nên có sáu nẻo thăng trầm. Các bậc Thánh ở trong pháp vô vi do trí hạnh sai biệt nên có bốn bậc Thánh cao thấp. Công nghiệp của phàm Thánh tuy có lên xuống trói mở dường như khác, song trong nhất chân pháp giới ban đầu không lay động.

Lại căn cứ kinh Hoa Nghiêm, nhất tâm tùy lý sự lập bốn loại pháp giới: 1- Lý pháp giới, giới là nghĩa tính, vì vô tận sự pháp đồng một tính. 2- Sự pháp giới, giới là nghĩa phân, vì mỗi mỗi nghĩa riêng có giới hạn. 3- Lý sự vô ngại pháp giới, đầy đủ nghĩa tính và phân viên dung vô ngại. 4- Sự sự vô ngại pháp giới, tất cả sự pháp giới hạn nhất nhất như tính, vì dung thông trùng trùng vô tận. Vì mười pháp giới này nhân lý sự tứ pháp giới tính tướng liền vào chân tục dung thông đi đến vô cùng thành trùng trùng vô tận pháp giới. Nhưng là toàn pháp giới nhất tâm, toàn pháp giới nhất tâm tùy hữu lực vô lực mà lập một, lập nhiều. Do giúp nhau bao gồm nhau mà hoặc ẩn hoặc hiện, như một bầu hư không trùm khắp vật tượng thiên nhiên, như một dòng nước thu tất cả lớp sóng muôn trùng; vào trong Tông Cảnh tự nhiên hiển hiện.

Lại có hai thứ pháp giới năng nhập và sở nhập. Như Thanh Lương Sớ nói: “Trước hết nói về sở nhập đều chỉ là nhất chân pháp giới vô ngại, nói tính tướng kia chẳng ra ngoài lý sự. Tùy theo nghĩa của nó phân biệt sơ lược có năm môn: 1- Hữu vi pháp giới. 2- Vô vi pháp giới. 3- Câu thị. 4- Câu phi. 5- Vô chướng ngại.

1- Hữu vi pháp giới có hai môn: 1- Bản thức hay gìn giữ chủng tử các pháp gọi là pháp giới. Như luận nói: Từ vô thỉ đến nay các cõi bình đẳng đây là căn cứ trên nghĩa nhân, mà thể của cõi kia chẳng căn cứ pháp thân. 2- Pháp của ba thời có bờ mé khác nhau gọi pháp giới.

Phẩm Bất Tư Nghì nói: “Tất cả chư Phật biết tất cả pháp giới quá khứ thảy đều không sót”. Đây là nghĩa giới hạn.

2- Vô vi pháp giới có hai: 1- Tính tịnh môn, vì ở trong địa vị phàm phu tính hằng tịnh nên pháp chân không nhất vị không sai biệt. 2- Ly cấu môn, nghĩa là vì đối trị mới hiển tịnh nên theo công hạnh cạn sâu chia ra mười loại.

3- Cũng hữu vi cũng vô vi pháp giới có hai thứ: 1- Tùy tướng môn nghĩa là thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và năm thứ sắc cùng tám pháp vô vi; mười sáu pháp này chỉ có ý biết được, trong mười tám giới gọi là pháp giới. 2- Vô ngại môn nghĩa nhất tâm pháp giới đầy đủ hai môn: 1- Tâm chân như môn. 2- Tâm sinh diệt môn. Tuy hai môn này đều bao gồm tất cả pháp nhưng vị trí của hai môn này không bao giờ xen tạp nhau cũng như sóng thuộc về nước chẳng phải tĩnh, nước chẳng khác sóng chẳng phải động. Do đó phẩm Hồi Hướng nói: “Nơi cõi hữu vi bày ra pháp vô vi mà không làm hoại diệt tướng hữu vi; ở nơi cõi vô vi bày ra pháp hữu vi mà chẳng phân biệt tính vô vi”. Đây là nói về sự lý vô ngại.

4- Phi hữu vi phi vô vi pháp giới có hai môn: 1- Hình đoạt môn nghĩa là vì duyên không gì chẳng phải duyên của lý nên phi hữu vi; vì lý không gì chẳng lý của duyên nên phi vô vi; pháp thể bình đẳng, hình đoạt đều bặt. Kinh Đại Phẩm ghi: “Tu-bồ-đề bạch Phật: Pháp bình đẳng này là hữu vi, hay là vô vi? Phật đáp: Chẳng phải pháp hữu vi, chẳng phải pháp vô vi, vì sao thế? Vì lìa pháp hữu vi pháp vô vi không thể có được, lìa pháp vô pháp hữu vi không thể có được. Này Tu-bồ-đề, tính hữu vi, tính vô vi này, không hợp, không tán”. 2- Vô ký môn nghĩa là pháp giới này lìa tướng lìa tính, cho nên chẳng phải hai thứ này, cũng không phải nhị đế, cũng không phải hai thứ tên gọi có thể đến cho nên thảy đều lìa. Kinh Giải Thâm Mật nói: “Tất cả pháp đại lược có hai loại là hữu vi, vô vi, trong đó hữu vi phi hữu vi, phi vô vi; vô vi phi vô vi phi hữu vi v.v…”

5- Vô chướng ngại pháp giới có hai môn: 1- Phổ nhiếp môn nghĩa là vì đối với bốn môn trên tùy một tức nhiếp tất cả môn còn lại, vì thế nên Thiện Tài thấy núi, biển, nhà cửa đều gọi là nhập giới pháp. 2- Viên dung môn nghĩa là vì lý dung sự nên khiến sự không giới hạn, vi trần chẳng phải nhỏ mà có thể dung chứa mười cõi nước. Sát hải1 chẳng phải lớn mà nằm ẩn trong một hạt bụi. Dùng sự hiển lý khiến lý chẳng vô phần, nghĩa là một nhiều vô ngại. Hoặc nói một pháp giới, hoặc nói các pháp giới. Nhưng do một chẳng phải một nên tức nhiều, nhiều chẳng là nhiều nên tức một, cho đến trùng trùng vô tận. Thế nên Thiện Tài, tạm thời chắp tay đã trải qua nhiều kiếp, mới vào lầu các đã thấy khắp vô biên, đều là loại này vậy.

Năm môn với mười nghĩa trên đã trình bày tổng quát chỗ vào pháp giới, cần phải đem sáu tướng để dung hợp. Hai là năng nhập cũng có năm môn: 1- Tịnh tín. 2- Chính giải. 3- Tu hành. 4- Chứng đắc. 5- Viên mãn. Năm môn này đối với chỗ nhập pháp giới có hai môn: 1- Tùy một năng nhập thông năm sở nhập, tùy một sở nhập khắp năm năng nhập. 2- Năm năng nhập này theo thứ tự đều vào một môn. Hai nghĩa tâm cảnh trên đây mười môn, sáu tướng viên dung chung làm một nhóm pháp giới vô chướng ngại.

Bách Môn Nghĩa Hải nói: “Nhập pháp giới nghĩa là trần duyên khởi tức là pháp, pháp theo trí hiển, dụng có sai biệt là giới. Pháp này vô tính cho nên không có giới hạn, dung thông tướng không hai đồng với chân tế, cùng với hư không biến thông tất cả, tùy xứ hiển hiện rõ ràng. Nhưng một hạt bụi này và tất cả pháp đều chẳng thấy nhau cũng chẳng biết nhau. Vì sao? Vì mỗi mỗi toàn là pháp giới viên mãn, thu nhiếp tất cả, lại không có pháp khác có thể thấy biết”.

Kinh nói: “Tức pháp giới vô pháp giới, pháp giới chẳng biết pháp giới”.

Nếu như thế không có riêng pháp giới có thể thấy biết. Thế nào gọi là nhập ? Chỗ đã ngộ gọi là nhập. Nhưng tuy nhập mà không có sở nhập, nếu có sở nhập thì đã đánh mất nghĩa “không” của pháp tính, vì đồng với lý vô tính nên nơi nơi nhập pháp giới. Trên đây căn cứ chỗ thấy của tình trí phàm phu nhỏ hẹp, tùy theo duyên nhiễm tịnh thành ra mười pháp giới, tức thành lỗi trên. Nay căn cứ vào pháp môn Hoa Nghiêm tính khởi đều là nhất chân pháp giới, hoặc thành, hoặc hoại, hoặc cấu, hoặc tịnh toàn thành pháp giới.

Như kinh nói: “Phân biệt các sắc vô lượng hoại tướng đây gọi là bậc thượng trí”.

Người xưa giải thích: sắc của lục đạo làm hoại thiện, hoại định; sắc của Nhị thừa làm hoại nhân hoại quả; sắc của Bồ-tát hoại hữu, hoại vô; sắc của Phật hoại trên tất cả hoại hoại, đó là pháp giới, phi hoại phi bất hoại, ấy là pháp giới.

Hỏi: Tâm chia ra bốn tên gọi, nghĩa mở ra mười loại, danh nghĩa của thức ước có bao nhiêu thứ?

Đáp: Nếu căn cứ vào đồng môn, tự tướng không thể phân biệt; nếu căn cứ vào dị môn, cộng tướng tùy nghĩa dường như phân biệt. Căn cứ vào tính tướng danh có chín nghĩa, bao gồm trong ngoài có đủ năm. Danh có chín thứ: 1- Nhãn thức. 2- Nhĩ thức. 3- Tỷ thức. 4- Thiệt thức. 5- Thân thức. 6- Ý thức. 7- Mạt-na thức. 8- A-lại-da thức. 9- Tịnh thức. Nghĩa có năm thứ: 1- Thức tự tướng nghĩa là thức tự chứng phần. 2- Thức biến ra nên tất cả cảnh giới từ tâm hiện khởi. 3- Thức tương ưng nên đồng thời có các tâm pháp thọ, tưởng… 4- Thức phần vị nên trên thức có bốn tướng. 5- Thức thật tướng nên gọi chân như nhị không là thức thực tính.

Các pháp trên đây đều chẳng lìa thức, gọi chung là duy thức, cho nên ta biết hoặc tướng, hoặc tính, hoặc cảnh, hoặc tâm cho đến phần vị sai biệt đều là duy thức, co duỗi chẳng lìa tổng biệt đồng thời như mây mù nương hư không, như sóng mòi trên biển động. Cổ đức cũng giải thích rộng nghĩa duy thức có mười môn, nói về hai chữ duy thức này, trước tiên là “ly giải”, kế đó là “hợp giải”.

Trước “ly giải”, đầu tiên “duy” sau là “thức”. Trước hết chữ Duy có ba nghĩa:

1- Nghĩa giản trì, giản có nghĩa chọn lọc bỏ đi chỗ chấp ngã pháp; trì là gìn giữ, gìn giữ hai tính y tha khởi và viên thành thật. Luận Duy Thức nói: “Chỉ nói là lìa bỏ thức ngã pháp, chẳng phải lìa bỏ các pháp vô vi của thức tâm”.

2- Nghĩa quyết định: Quyết chẳng lìa cảnh của tâm, định có tâm nội thức. Nghĩa là Tiểu thừa lìa tâm có cảnh, luận sư Thanh Biện2 phá không có nội tâm.

3- Nghĩa hiển thắng nghĩa là tâm vương thắng (hơn), tâm sở liệt (kém), nay chỉ hiển thắng, chẳng bày liệt. Nhị Thập Duy Thức của luận sư Cù-ba nói: “Đây nói về duy thức, chỉ nêu tâm vương thắng, lý gồm cả tâm sở, như nói vua đến thì có quần thần kề bên”.

Kế đến giải thích chữ Thức là nghĩa liễu biệt, nghĩa là tám thức tâm vương là thức tự tính. Lý và sự của ngũ vị bách pháp đều chẳng lìa thức, chẳng như thế thì chân như lý đáng chẳng duy thức, thu nhiếp những thứ khác về thức chung lập danh từ thức. Kinh nói: Ba cõi chỉ là tâm.

Kế đến là hợp giải duy thức. Duy là chọn lựa ra, ngăn không có cảnh bên ngoài, cảnh đều có thức liễu biệt, nói rõ có nội tâm, tâm có không phải không; hợp lại gọi là duy thức. Duy là ngăn không có cái dụng này, thức là muôn biểu thị có cái thể này; nhiếp dụng quy thể duy tức là giải thích là thức trì nghiệp.

Văn “lục thích” giải thích rất hay. Nay muốn hiểu rõ tính tướng xin lược dẫn hai lối giải thích trì nghiệp và y chủ có thể gọi là kim văn.

1- Trì nghiệp thích có hai: a. Trì nghiệp, b. Đồng y.

1/ Trì nghiệp: Trì có nghĩa nhiệm trì; nghiệp là nghiệp dụng. Nếu pháp thể hay trì dụng thì dụng hay hiển thể, gọi đó là trì nghiệp; như nói tạng thức, thức là thể, tạng là dụng, thể của thức hay gìn giữ công dụng cất chứa, gọi là trì nghiệp, như diệu pháp tức là liên hoa v.v…

2/ Đồng y: Đa dụng đồng y nhất thể. Như nói phần đoạn sinh tử là thân, biến dịch sinh tử là các thứ thân v.v… cho nên vạn pháp lấy tâm làm thể, vạn pháp là dụng, pháp chẳng lìa tâm, dụng chẳng lìa thể, tâm thể hay gìn giữ vạn pháp, pháp tức là tâm, dụng tức là thể, gọi là trì nghiệp thích. Nếu tất cả pháp không được sự nhiệm trì của tự tâm thì không có một pháp có thể lập. Lại nếu không có pháp thì hẳn không có nghiệp dụng. Không có dụng thì không thể hiển thể. Cho nên biết tất cả pháp là tâm, tâm là tất cả pháp, thể dụng tương thành phi nhất phi nhị.

2- Y chủ thích có hai: a. Y chủ thích, b. Y sĩ thích.

1/ Y chủ thích: Nghĩa là có pháp lấy cái hơn để giải thích cái kém, đem cái kém giải thích cái hơn để bày danh. Như nói nhãn thức, nhãn là sở y tức thắng (hơn), thức là năng y tức liệt (kém), lấy thắng nhãn đế giải thích liệt thức, hoặc đem cái liệt đến gần cái thắng để bày danh, thức của nhãn căn nên y chủ thích. Hoặc dùng biệt giản thông, y chủ thì biệt gọi là thắng, thông gọi là liệt.

2/ Y sĩ thích: Nghĩa là pháp liệt là sở dụng của pháp thắng. Nay đem pháp liệt giải thích pháp thắng, pháp thắng từ pháp liệt để bày danh. Như nói trạch diệt vô vi, trạch diệt là hữu vi tức liệt; vô vi tức thắng, đem thắng đến gần liệt để bày danh gọi là y sĩ thích. Như chúng ta biết tâm vương là thắng, tất cả pháp đều là tâm pháp. Lại tâm là sở y tức thắng, pháp là năng y tức liệt: đem pháp liệt để làm hiển bày tâm thắng, đó là y chủ thích. Không một pháp nào chẳng thuộc về tâm nghĩa là vì tất cả pháp đều hiển tâm, đem tâm liệt hiển bày pháp thắng nên gọi là y sĩ thích. Do đó trong Tông Cảnh nơi trì nghiệp có tài y chủ, y sĩ, lân cận, đái số. Trong sáu lối giải thích, không ra khỏi hai lối giải thích: trì nghiệp và y chủ. Văn dưới không phân tích tỉ mỉ, chỉ lấy một để so sánh nhiều tự nhiên không còn nghi hoặc.

Hỏi: Ở đây nói chỉ phủ định ngoại cảnh chẳng có, là phủ định cảnh lìa tâm hay là phủ định cảnh chẳng lìa tâm ?

Đáp: Nếu hỏi như thế đều có lỗi. Nếu phủ định cảnh lìa tâm là không còn liền có tướng phần chẳng lìa tâm tồn tại, tại sao chỉ nói duy thức mà không nói duy cảnh thức ? Nếu phủ định cảnh chẳng lìa tâm là không thì lý đáng chỉ có ba phần năng biến, thiếu tướng phần sở biến thì giải thích thế nào ? Đáp: Nói duy thức nghĩa là phủ định ngoài tâm không có cảnh, chẳng phải phủ định nội cảnh chẳng lìa tướng phần của thức là không.

Hỏi: Nội cảnh và thức đã chẳng phải là không, sao chỉ nói duy thức mà không nói duy cảnh thức ?

Đáp: Vì Bồ-tát Hộ Pháp3 nói: “Cảnh và danh thông cả bên trong và bên ngoài”.

Nếu nói có cảnh lìa tâm, cảnh chẳng lìa tâm, e xen ngoại cảnh chỉ nói duy thức. Do đó Luận Duy Thức nói: “Người ngu phàm chấp ngoại cảnh khởi nghiệp phiền não, chịu sinh tử luân hồi không biết quán tâm, không cho là tướng phần của nội cảnh như bên ngoài đều không”.

Hỏi: Duy thức tính và duy thức có gì khác nhau và giống nhau ?

Đáp: Mỗi thứ có hai nghĩa: Hai nghĩa của duy thức tính là: 1- Hư vọng duy thức tính là tính biến kế được quét sạch trở thành thanh tịnh. 2- Chân thật duy thức tính là tính viên thành thực được chứng thanh tịnh. Nếu nói duy thức là có hai nghĩa: Một là thế tục duy thức tức là y tha khởi đã dứt thanh tịnh, hai là thắng nghĩa duy thức tức là viên thành thật đã được thanh tịnh. Lại nói duy thức tính tướng chẳng đồng, tướng là y tha, chỉ là hữu vi gồm cả hữu lậu và vô lậu, tính tức viên thành, chỉ là chân như vô vi vô lậu. Lại nói: Thức là nghĩa liễu biệt ý nói rằng lý và sự của năm vị và một trăm pháp chẳng lìa thức, nay gom về thức gọi tên chung là thức vì vạn pháp đều do tâm khởi. Nhưng chẳng phải chỉ là do thức của một người, cũng không phải là chỉ một thứ thức lại không có thức nào khác. Nói về xuất thể của duy thức:

1- Sở quán xuất thể: Tức là lấy năm vị, trăm pháp làm thể vì quán cả các pháp hữu vi và vô vi. Tức là vì thức tướng, thức tính hợp làm thể duy thức nên đều không lìa thức.

2- Năng quán xuất thể: Vì chi giữ lấy tâm, tâm sở làm thể nên tâm sở và thức thường tương ưng; tức là chỉ là “năng” chẳng phái “sở”. Nếu căn cứ vào duy thức quán tức giữ ở trong cảnh lấy tuệ làm thể vì đối với cảnh sở quán quán sát tốt hơn.

Nói về sự sai biệt của duy thức gồm có các duyên và lý có mười loại:

1- Khiển hư tồn thật nghĩa: Khiển là trừ bỏ, dẹp bỏ; hư là hư vọng, nghĩa là quán biến kế sở chấp chỉ từ hư vọng dấy khởi, không có thể dụng cần phải trừ dẹp, vì trên tình chấp là có, mà trên lý thì không có. Tồn có nghĩa là giữ lại, thực là thực có. Tức là quán y tha, viên thành pháp thể thật hữu, hai trí căn bản và hậu đắc phải được tồn lưu vì “lý có tình không”. Bởi tất cả chúng sinh, luôn cả hàng Tiểu thừa từ vô thỉ đến nay vọng chấp ngã pháp có thật nên các Bồ-tát như ngài Thanh Biện v.v… bài bác lý sự là không. Nay ở trong duy thức quán khiển hư là không quán. Đối lập với khiển trừ hữu chấp tồn thực là hữu quán. Đối lập với khiển trừ không chấp phi hữu phi không vì pháp vô phân biệt lìa ngôn thuyết.

2- Xả lạm lưu thuần nghĩa: Xả là lìa bỏ, lạm là xen lẫn, lưu là giữ lại, thuần là không xen lẫn. Tuy quán sự lý có cảnh có tâm, vì tâm không khởi một mình phải nhờ cảnh tâm mới sinh và cảnh cũng không tự sinh, do thức biến cảnh mới khởi. Do cảnh có xen vào (lạm), bỏ cảnh không gọi là duy, chỉ thuần còn lại tâm thể nên nói là duy thức. Vì thế Luận Duy Thức nói: “Ngã chỉ có bên trong, cảnh cũng thông bên ngoài, e xen ngoại cảnh chỉ nói duy thức, chẳng phải nội cảnh như ngoại cảnh thảy đều không”. Cho nên kinh Hoa Nghiêm nói: “Ba cõi chỉ là tâm”.

3- Nhiếp mạt quy bản nghĩa: Nhiếp nghĩa là gom về, mạt là hai thứ tướng phần và kiến phần; quy là hướng về gốc nghĩa là thức tự chứng phần vì là thể sở y. Nay nhiếp kiến phần và tướng phần là phần ngọn quy về gốc là thể tự chứng phần, cho nên nói là duy thức. Do đó kinh Giải Thâm Mật nói: “Các thức sở duyên duy thức sở hiện”.

4- Ẩn liệt hiển thắng nghĩa: Nghĩa là tâm vương tâm sở đều có thể thị hiện, tâm sở yếu kém hơn vì là y tha khởi. Ẩn liệt chẳng giữ lấy. Tâm vương là hơn vì là thể sở y. Cho nên nói duy thức tức là hiển thắng. Luận Trang Nghiêm nói: “Cho tâm dường như là hai hiện ra như vậy như tham v.v…”.

5- Khiển tướng chứng tính nghĩa: Sự biểu hiện của thức có đủ sự lý. Sự là tướng dụng dẹp bỏ, không giữ lấy, lý là thể tính phải cầu tác chứng. Bài kệ trong Nhiếp Luận nói:

Thoạt chạm vào sợi dây,
Lầm tưởng là con rắn,
Thấy dây biết không phải,
Rõ ra mình mê loạn.

6- Cảnh nghĩa: Cảnh là cảnh sở quán, thức là tâm năng quán. Cảnh sở quán này là do thức biến hiện cảnh chẳng lìa thức, lập nghĩa cảnh duy thức. Kinh A-tỳ Đạt-ma nói: “Chư thiên, loài người, quỷ mỗi loài thấy khác nhau”.

7- Giáo nghĩa: Là giáo lý được nói ra, nói có nghĩa duy thức.

Bài kệ trong kinh Lăng Già nói:

Do tự tâm chấp trước
Tâm tợ ngoại cảnh chuyển
Sở kiến kia chẳng có
Cho nên nói duy tâm.

8- Lý nghĩa: Đạo lý duy thức.

Bài tụng Duy Thức nói:

Các thức đây chuyển biến
Phân biệt sở phân biệt
Kia đây thảy đều không
Tất cả là duy thức.

9- Hạnh nghĩa: Hạnh là quán hạnh, tức là Bồ-tát tại định vị, quán bốn thứ tầm tư v.v…tức quán hạnh và định đều chẳng lìa thức.

Bài kệ Luận Du Già nói :

Bồ-tát nơi định vị
Quán cảnh chỉ là tâm

10- Quả nghĩa: Bốn trí Phật quả và công đức của Bồ-tát đều không lìa thức.

Do đó Luận Trang Nghiêm nói:

Chân như không cảnh thức
Là cõi tịnh vô lậu.

Mười nghĩa như trên tính tướng, cảnh trí, giáo lý, hạnh quả đều chỉ là thức, không có một pháp nào chẳng được nêu bày, cho nên xưng là vua trong các kinh điển liễu nghĩa, là cha nương tựa của các vị Thánh. Nếu có gặp được thì liền dứt mong cầu, không có một pháp để cầu, không một việc gì mà chẳng đủ, hoàn toàn được trân bảo của Như Lai đâu giống với ngọc còn ẩn trong hang đá, đã dò tìm hạt ngọc quý trong biển giáo bí mật đâu so sánh được với hạt ngọc dưới hàm con ly long liền được dứt khổ của chúng sinh, chấm dứt gốc bệnh phiền não; một niệm công đúc đầy đủ, muôn lối tự chính.

Do đó kinh Pháp Hoa nói: “Như ao nước trong mát hay làm thỏa mãn người khát nước; như người đang lạnh được lửa ấm, như người trần trụi được áo mặc, như người buôn có chủ, như con gặp mẹ, như qua sông có thuyền, như bệnh gặp thầy thuốc, như tối được đèn, như nghèo được của báu, như dân được làm vua, như thương khách gặp được biển, như đuốc trừ tối”. Kinh Pháp Hoa này cũng như vậy hay khiến cho tất cả chúng sinh lìa tất cả khổ não, tất cả bệnh khổ, hay cởi mở tất cả ràng buộc sinh tử.

Nên biết chỉ có chân thật này muôn pháp đều không, dùng đây để nêu tông, lại không có gì nữa.

Kinh Quán Pháp nói: “Có Bồ-tát tên là Thượng Thủ vào thành khất thực, lúc ấy có tì-kheo tên là Hằng Già hỏi ngài: Ông từ đâu đến ? Thượng Thủ đáp: Tôi từ chân thật đến. Lại hỏi: Cái gì là chân thật ? Đáp: Vì tịch diệt cho nên gọi là chân thật. Lại hỏi: Trong tướng tịch diệt có chỗ cầu và chỗ không cầu chăng ? Đáp: Không chỗ cầu. Hỏi: Không chỗ cầu thì lấy gì cầu ? Đáp: Tôi ở trong vô sở cầu mà cầu. Lại hỏi: Trong hữu sở cầu đâu cần cầu ? Đáp: Hữu sở cầu là tất cả đều không, đắc cũng không, chấp trước cũng không, thật cũng không, đến cũng không, nói cũng không, hỏi cũng không, tịch diệt niết-bàn, tất cả hư không cũng đều không. Tôi vì các pháp không ấy mà cầu chân thật”. Cho nên biết rằng nếu hay trên mỗi mỗi pháp tìm cái không thì nơi mỗi mỗi môn đều giải thoát. Nếu người, pháp hỏi đáp ngôn ngữ qua lại, như hình tượng ở Tông Cảnh, như trí bát-nhã chiếu niết-bàn tịch diệt, như ánh sáng trong Tông Cảnh, do đó hoặc hình tượng hoặc ánh sáng tất cả đều là không, chỉ có cái thể của gương luôn luôn phơi bày, khắp mọi nơi chưa từng ẩn hiển.

Do đó nói: Ta đã lần lượt vì những pháp không kia cầu chân thật, tức là vì biết tất cả pháp đều chân thật nên ở trong vô sở cầu mà cầu. Cũng thế, người cầu pháp nên đối với tất cả pháp không mong cầu. Vì thế Dung đại sư4 nói: “Nếu có một pháp để được tức là cầu không đúng lúc”. Cho nên kinh Tịnh Danh nói: “Tìm cái không ở đâu ? Đáp: Nên tìm cầu cái không trong sáu mươi hai kiến chấp. Hỏi: Sáu mươi hai kiến chấp nên tìm ở đâu? Đáp: Nên ở trong sự giải thoát của chư Phật mà cầu. Lại hỏi: Sự giải thoát của chư Phật nên tìm cầu ở đâu? Đáp: Nên ở trong tất cả tâm hành của chúng sinh mà cầu”.

Người xưa giải thích nói: “không trí” do “kiến” sinh thì “không trí” vô tính; vì vô tính nên trí không, gọi là “không trí”. Tà kiến nhân chư Phật giải thoát mà có; vì tà nhân chính mà sinh nên tà kiến cũng không. Chư Phật giải thoát là do ngộ được tâm hành chúng sinh cho nên sự giải thoát này là không. Đây tức là căn cứ vào cái thể không bất nhị kia cho nên tìm cầu lý bao trùm khắp nơi.

Giải thích: Tà chính đã là thể, vốn đồng với lý không, và chưa hề tạm ẩn. Nếu ở trong tính bình đẳng này thì chẳng phải cầu; nhưng vì người chưa biết nên nói có cầu vậy.

Như Vô Sinh Nghĩa ghi: “Như kinh nói: Nguyện cầu chư Phật tuệ, cũng chẳng chấp trước nguyện cầu, cầu Phật tuệ còn không cho tham trước huống chi là các thiện pháp khác. Lại nữa Bồ-tát vì lìa nguyện cầu, chỉ có chúng sinh không biết nên cầu Phật đạo, cho nên Bồ-tát phát nguyện, chỉ nói: Con nguyện cầu Phật đạo. Nhờ đó chúng sinh mới biết phát tâm cầu Phật đạo đạt được ý tự biết vô sở cầu. Hiểu rõ như trên thì niệm niệm tương ưng với thật tướng không còn có niệm nào khác nữa”.

Cho nên kinh Lăng Già nói: “Mỗi mỗi tướng tương ưng, xa lìa các kiến chấp”.

Nên biết nơi các tướng thường tương ưng với thật tướng, tự nhiên sẽ xa lìa các lỗi lầm, lĩnh hội đệ nhất nghĩa, chân tâm thanh tịnh rỗng sáng, không có một niệm chấp trước, tức sự tức như, duy tâm tiến thẳng, là chỗ hi vọng thành Phật, đến cảnh giới tự giác.

Bài kệ trong luận nói:

Tự biết chẳng theo người
Tịch diệt không hý luận
Chẳng khác chẳng phân biệt
Đây gọi là thật tướng.

Hỏi: Đại khái có mấy loại duy thức ?

Đáp: Sơ lược có hai loại: 1- Cụ phần. 2- Bất cụ phần.

Cụ phần duy thức nghĩa là do vì lý vô tính nên thành cái nghĩa chân như tùy duyên, thì bất sinh diệt và sinh diệt hòa hợp, chẳng phải một chẳng phải khác, gọi là thức a-lại-da tức là cụ phần.

Nếu chẳng hoàn toàn y chân tâm, sự chẳng y lý nên chỉ căn cứ sinh diệt, do đó không phải là cụ phần. Có người nói: Ngoài ảnh có chất là bán đầu duy thức. Chất ảnh cùng với ảnh cụ phần. Đây là cụ phần trong tông Duy thức.

Lại nếu quyết định tín nhập lý Duy thức này sẽ chóng đắc bồ-đề, như lên xe đi thẳng đến phương xa, ngồi trên thuyền dong thẳng đến bờ.

Như luận Thành Duy Thức Bảo Sinh nói: “Nghĩa là y theo Đại thừa thành lập ba cõi chỉ là duy thức”.

Giải thích: Như kinh nói: Đại thừa là con đường Bồ-tát đang đi để đạt đến quả Phật thù thắng, vì muốn đắc đạo quả này nên tu Duy thức quán, đây là con đường chính không cần nhiều phương tiện và cũng vì việc này nên phô bày phương tiện kia mà tuyên nói rộng rãi các thứ hành tướng trong các kinh điển, như đất, nước, gió, lửa đều là chỗ gìn giữ sự vật, phẩm loại khó đầy đủ, nơi chốn vô biên. Do đây xét biết từ tâm tướng hiện. Rồi ở các nơi đều xả bỏ tướng bên ngoài, xa lìa mừng lo, lại quán cả biển ồn náo, yên tịnh không khác. Bỏ Tiểu thừa, dứt hẳn lòng mong mỏi Đại thừa và sự chấp trước các hữu, quán tất cả đều là vực thẳm nguy hiểm đáng kinh sợ rồi tiến thẳng đến Trung đạo. Nếu biết chỉ là do tâm làm ra thì vô biên tư lương dễ được tích tập, chẳng đợi thời gian lâu dài, như dụng công ít mà xong được việc lớn, thong dong dạo chơi như trong lòng bàn tay. Vì lý này nên điều nguyện cầu được trọn vẹn theo ý chuyển.

CHÚ THÍCH

  1.  Sát hải: gọi đủ là sát độ đại hải, chỉ cho mười phương thế giới.
  2.  Thanh Biện (S: Bhavaviveka) Luận sư học phái Trung Quán thuộc Phật giáo Đại thừa ở nam Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6.
  3.  Hộ Pháp (S: Dharmapala): Cao tăng Ấn Độ, sống khoảng thế kỷ thứ 6, là một trong mười vị đại luận sư Duy thức.
  4.  Dung đại sư (594-657) tức là thiền sư Pháp Dung, tổ tông Ngưu Đầu, khai sáng thiền phái tại núi Ngưu Đầu vào đời Đường, Trung Quốc.