TÔNG CẢNH LỤC
Thiền sư Diên Thọ
Tuệ Đăng & Hân Mẫn dịch

 

QUYỂN 2

Hỏi: Cảnh giới của chư Phật tịch tịnh, cõi chúng sinh là không thì có nhân duyên gì để khởi giáo tích?

Đáp: Trong chân lý nhất thật tuy không khởi tận nhưng trong môn phương tiện có nhân duyên trọng đại, cho nên bài kệ trong kinh Pháp Hoa nói:

Các pháp thường vô tính
Phật chủng từ duyên khởi.
Vạn pháp thường vô tính,
Không gì chẳng tính không.
Pháp nhĩ hay tùy duyên.
Tùy duyên không mất tính.

Vả lại có vô lượng nhân duyên khởi giáo. Cổ đức nêu ra sơ lược mười nhân duyên:

1- Vì pháp nhĩ
2- Vì nguyện lực
3- Vì cơ cảm
4- Vì là bản
5-Vì hiển đức
6- Vì hiện vị
7- Vì khai phát
8- Vì kiến văn
9- Vì thành hạnh
10- Vì đắc quả.

Nay các vị Bồ-tát biên tập luận Duy thức v.v… đại ý có hai mục đích: một là nhằm đạt đến chính tông của vạn pháp phá tà chấp nhị không, hai là đoạn các chướng phiền não, sở tri, chứng đắc môn bồ-đề giải thoát. Đây chắc chắn là từ chỗ tự chứng chân thật bản giác và nguồn cội các pháp, không phải phô trương chữ nghĩa, văn tự. Nay tôi vì người hậu học mộ đạo nên ghi chép lại, lại chính tôi cũng có hai ý tưởng để biểu hiện bản hoài:

1- Vì người ưa đơn giản nên tóm tắt điều then chốt để thông suốt được ý chỉ khỏi phải đọc văn rườm rà.

2- Vì người chấp tổng quát không rõ được lý riêng nên phải tỉ mỉ trình bày tính tướng viên thông, đem hai thứ rễ sinh tử chen vào con đường bồ-đề nhất vị, trông vào đại chỉ của kinh điển, trực liễu tự tâm. Tuân theo lời dạy của chư Thánh, chợt mở kho báu giác ngộ, trừ cái thấy biết của tri thức, phá tình thức tà chấp; tin sâu chính tông khiến cho người biết mặt trăng không ở nơi ngón tay, xoay ánh sáng tự soi chiếu, khiến thấy tính không chạy theo văn tự, chỉ có chứng ngộ mới tương ưng.

Đó là bản ý không nên ngang trái sinh tri giải mà chìm đắm trong biển kiến chấp, trong quán vô đắc vẫn ôm ấp ý thú hướng, ở trên lý “không” thường khởi tâm thủ xả, tự cho phát xuất từ trong lòng của mình làm nghi lầm người học. Cần phải tự mình thấy tính mới hiểu được tông này.

Hỏi: Đã lo người sau chấp ngón tay chạy theo văn tự sao ngài lại chịu phiền góp nhặt kinh giáo ?

Đáp: Vì người ta thường bỏ quên chính mình, chạy theo trần nên phải nhờ văn tự để hiểu biết, vì sợ vướng giáo kẹt tình nên có lời nói này. Nếu theo lời nói rõ được tông chỉ, ngay giáo sáng tâm thì có gì đâu thủ xả! Do đó Tạng pháp sư nói: “Tự có chúng sinh, truy tầm giáo nghĩa được chân thật, hội lý thì giáo không ngại. Thường quán lý mà không ngại trì giáo, luôn luôn tụng tập nhưng không ngại quán không thì lý giáo đều dung hợp thành nhất quán mới là truyền thông rốt ráo”. Đây là giáo quán nhất như, thuyên chỉ đồng nguyên (lời nói và ý chỉ cùng cội gốc) vậy.

Hỏi: Hầu hết các kinh luận đều có phân đoạn, khoa tiết, tựa, nghĩa, câu rõ ràng sao còn phải ghi chép văn từ rườm rà thành yếu lược?

Đáp: Chỉ vì biển giáo pháp sâu rộng không làm sao biết hết bờ mé, nghĩa lý cao xa vút trời trông xa rộng cũng không thấu tới bờ bến. Nay tôi đem cái thấy biết hạn hẹp như lấy vỏ ốc rót nước biển, như vốc bụm nước trong biển cả, như nhặt lấy một hạt bụi trong hoa sen. Vì giáo nghĩa quá rộng lớn khó có thể biết hết và tâm lý người ta hay dễ lười nản; cũng vì người ta không nương vào chính lý Nhất thừa, chỉ chạy theo nhân duyên bất liễu nghĩa, hiếm người thấu được cửa ngang dọc, đâu biết rõ chỗ bắt đầu và cùng tận. Vì thế nên tôi lược bớt phần phức tạp, chọn lọc và tham cứu chỗ vi diệu ghi ghép giản dị, tuy văn không đầy đủ nhưng nghĩa lý trọng yếu trọn vẹn. Duyên chẳng đủ mà chính lý hiển bày, sưu tầm hết cả yếu chỉ nhất thừa khai thác cội nguồn của vạn pháp, là then chốt bí mật của bát-nhã, là con đường chính yếu của bồ-đề. Như thế chắc chắn tư lương đã sẵn sàng để chóng đến Đại thừa, chứng nhập không nghi, khỏi đi nhầm lối nhỏ.

Bồ-tát Mã Minh tạo Luận Khởi Tín nói: “Hoặc có người tự mình không có trí lực phải nhờ người khác luận giải rộng rãi mới hiểu nghĩa. Cũng có người tự mình không có trí lực, ngại sự giảng thuyết rộng rãi thích nghe giản lược, tóm yếu đại nghĩa để tu hành. Ngày nay tôi vì hạng người sau gom góp vô biên nghĩa thù thắng của Như Lai đề tạo luận này”.

Luận Du Già nói: “Có hai lý do để nói luận này: Một là vì muốn cho giáo pháp vô thượng của Như Lai được tồn tại lâu dài, hai là vì muốn đem lại sự lợi ích bình đẳng và an lạc cho các loài hữu tình”. Lại nữa, vì Thánh giáo cam-lộ của Như Lai đã ẩn mất nên muốn nhớ lại, góp nhặt để Thánh giáo được diễn bày. Còn phần nào chưa ẩn mất thì dùng sự hỏi đáp, chọn lọc làm cho phong phú thêm. Để giúp cho người tinh tiến tu hành thích giản dị nên tôi góp nhặt pháp nghĩa quan trọng của các kinh điển phân biệt sơ lược. Quyển lục này tuy không có công phu sáng tạo rộng lớn, nhưng có chút công biên tập trong một thời gian, cũng biết là ghi chép lối văn trước sau không hoàn hảo, chỉ mong người đọc nhận ra được điều trọng yếu qua lời nói và sáng tỏ tông chỉ, cũng như từ đá nhận ra ngọc, như đãi cát chọn vàng, như trong các thứ thuốc chỉ lấy diệu dược a-già-đà, như trong các thứ báu chỉ tìm bảo châu như ý, đưa lên một trùm khắp tất cả, đem gốc thu về ngọn thì một lời nói đều bao quát hết, chắc chắn không còn lối khác. Tôi cũng mong rằng hậu hiền không đến nỗi cười nhạt xem thường, tôi chỉ muốn quí vị dứt nghi và khởi niềm tin, chỉ một lòng nghĩ đến việc thấy đạo, chẳng chạy theo hư danh để được tiếng khen ở đời. Xin nguyện đến tận thuở vị lai, trong cùng khắp pháp giới, trải qua nhiều đời nhiều kiếp luôn luôn hoằng truyền đạo này. Người có tâm đều vào được tông này, bỏ chấp, trừ nghi, thấy nghe đươc lợi ích. Nương sức Tam bảo gia bị, hộ trì, thệ báo ân Phật và cứu giúp khắp cả muôn loài. Hư không có thể tận, nguyện này vẫn không dời đổi, pháp giới có thể cùng, văn này không hề mai một.

Hỏi: Đại thừa liễu nghĩa đầy đủ rộng hẹp, hiểu được một nghĩa sẽ có đủ cái thấy viên thông, nghe một bài kệ đã có công đức thành Phật, sao phài nhờ đến sự thuật thành, cứ mãi giải thích rườm rà ?

Đáp: Bậc thượng thượng căn một nghe nghìn ngộ tính tướng đều rõ, lý sự đều đầy đủ. Còn người thuộc hàng trung, hạ cần phải nhờ sự khai diễn. Phương tiện phát triển đạo trang nghiêm, công đức của những phương tiện này nếu tính kể nhiều đến không thể ví dụ. Do đó bài kệ trong kinh Pháp Hoa nói:

Ví như hoa ưu-đàm
Mọi người đều ưa thích
Ít có trong trời người
Lâu lắm nở một lần
Nghe pháp vui, khen ngợi
Dù chỉ nói một lời
Cũng là đã cúng dường
Ba đời các đức Phật
Người này thật hi hữu
Hơn cả hoa ưu-đàm.

Bài tụng Bát-nhã nói:

Bát-nhã chẳng hoại tướng
Hơn tất cả ngôn ngữ
Vốn không chỗ nương tựa
Ai hay khen đức ấy
Bát-nhã tuy đáng khen
Ta nay hay được khen
Tuy chưa thoát sinh tử
Cũng xem như đã thoát.

Lại bậc Thánh xưa nói: Nếu Bồ-tát tạo luận, gọi là trang nghiêm kinh, như hoa sen chưa nở, trông thấy tuy vui mừng nhưng không bằng khi hoa nở tỏa hương thơm ngào ngạt, như vàng khi chưa dùng đến, tuy ngắm nhìn thấy vui mừng nhưng không bằng khi dùng vàng làm đồ trang sức. Vì thế, nên biết một niệm thiện nghĩ đến sự hoằng truyền giáo pháp có thể báo đáp ân mười phương chư Phật; luận ít có như hoa ưu-đàm; lời sáng đẹp như vàng được làm thành đồ trang sức. Vì thế nên Bồ-tát giải thích mật chỉ Đại thừa, giúp cho người nghe điều chưa được nghe, hay làm dứt mối nghi sâu và được viên tín. Lợi ích của Chính pháp vô tận, công dức của Chính pháp vô biên.

Kinh Đại Bát-nhã ghi: “Phật dạy: Kiều-thi-ca! Đặt các loài hữu tình ở châu Thiệm-bộ, hoặc các hữu tình ở bốn châu lớn, hoặc các hữu tình ở Tiểu thiên thế giới, hoặc các hữu tình ở trung thiên thế giới, hoặc các hữu tình ở Đại thiên thế giới, hoặc các hữu tình trong mười phương thế giới như cát sông Hằng đều đối với đạo vô thượng chính đẳng chính giác không thối chuyển, đồng nói như vầy: Tôi nay ưa thích chóng chứng bồ-đề vô thượng chính đẳng, cứu giúp mọi thống khổ sinh tử của hữu tình, khiến cho hữu tình được cứu cánh an lạc thù thắng. Nếu có người thiện nam, thiện nữ thành tựu được việc ấy, viết kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, đem vật báu trang nghiêm cúng dường cung kính tôn trọng và khen ngợi; bố thí khắp cho người thụ trì, đọc tụng làm cho mọi người đều được lợi ích và đúng như lý tư duy. Ông nghĩ thế nào ? Những người thiện nam, thiện nữ kia do nhân duyên này được phước nhiều chăng ?

Trời Đế Thích thưa: Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Phật bảo trời Đế Thích: “Nếu người thiện nam, thiện nữ viết kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và đem vật báu trang nghiêm cúng dường cung kính, tôn trọng và khen ngợi; ở trong chúng bố thí cho một người thụ trì, đọc tụng khiến cho được lợi ích và đúng như lý tư duy, dùng vô lượng phương tiện văn nghĩa vi diệu khéo léo giải thích rộng rãi, phân biệt nghĩa thú khiến người hiểu rõ, dạy dỗ khuyến khích người siêng năng tu học; người thiện nam, thiện nữ này được phước nhiều hơn người trước, vô lượng vô biên không xiết kể”.

Kinh Đại Niết-bàn ghi: “Phật dạy: Này thiện nam trừ nhất-xiển-đề, những chúng sinh khác nghe kinh này xong đều hay được nhân duyên bồ-đề. Ánh sáng của pháp âm thâm nhập vào từng lỗ lông quyết định sẽ đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Vì sao ? Vì người hay cung kính, cúng dường vô lượng chư Phật mới được nghe kinh Đại Niết-bàn; người phước mỏng không được nghe. Cho nên chúng ta phải biết được nghe pháp môn thường trụ nhất tâm thật tướng của Tông Cảnh Lục, cũng đã là từ xa xưa kết nhân sâu, từng được dự vào hội Phật, đây là việc trọng đại nào phải nhân duyên tầm thường, nếu chưa từng huân tập làm sao gặp gỡ được !”

Kinh Đại Niết-bàn ghi: “Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp: Các thiện nam, thiện nữ thường hệ tâm mà tu hai chữ này: Phật là thường trụ. Ca-diếp! Nếu có thiện nam, thiện nữ tu hai chữ này nên biết người ấy theo chỗ ta đã đi và đến nơi ta đã đến. Do vì tin được pháp này, người này ngay nơi phàm phu mà là bậc Thánh, tu trì, khế hội, trụ nơi Phật trụ, oai nghi cử chỉ đều noi theo dấu Phật”.

Luận Thích Ma-ha-diễn ghi: “Thứ nhất, nêu Ly nghi tín nhập công đức môn nghĩa là có chúng sinh nghe pháp môn Ma-ha-diễn (Đại thừa) rộng lớn thâm diệu trong lòng không nghi cũng không sợ sệt, cũng chẳng khinh thường, cùng không phỉ báng, phát tâm quyết định, phát tâm kiên cố, phát tâm tín kính, nên biết người này là Phật tử chân thật, chẳng đoạn Pháp chủng, chẳng đoạn Tăng chủng, chẳng đoạn Phật chủng, luôn luôn nối tiếp tăng trưởng đến tận vị lai, cũng được chư Phật thụ ký, cũng được vô lượng tất cả Bồ-tát hộ niệm. Cho nên như luận nói: Nếu người nghe pháp này chẳng sinh e sợ, nên biết người này quyết định sẽ nối tiếp Phật chủng, chắc chắn được Phật thụ ký. Thứ hai, nêu Tỷ loại đối trị thị thắng môn nghĩa là nếu có người khéo hóa độ đầy khắp chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới không sót dạy thực hành mười điều lành, hoặc có chúng sinh đối với pháp sâu xa này quán sát, tư duy trong thời gian một bữa ăn, nếu so sánh công đức của hai người. Người thứ nhất được rất ít công đức ví như hạt cải nghiền nát ra trăm phần, công đức của người thứ hai rất rộng lớn ví như nghiền nát số lượng vi trần trong mười phương thế giới. Thế nên như luận nói: Giả sử có người hay giáo hóa chúng sinh đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới khiến thực hành mười điều lành không bằng một người chính tư duy pháp này trong khoảng bữa ăn, công đức vượt hơn người trước không thể ví dụ. Thứ ba, nêu Thụ trì công đức tán dương môn  nghĩa là nếu có người thụ trì luận này quán sát nghĩa lý hoặc trong một ngày, một đêm được công đức vô lượng vô biên, không thể nói, không thể nghĩ lường. Hoặc giả sử tất cả chư Phật trong ba đời mười phương thế giới, tất cả Bồ-tát trong ba đời khắp mười phương thế giới dùng số lưỡi như vi trần trong mười phương thế giới mỗi mỗi đều ở trong số lượng vi trần thế giới bất khả thuyết kiếp ca ngợi công đức của người này cũng không cùng tận. Vì sao như thế ? Vì công đức của pháp thân chân như đồng như cõi hư không không có bờ mé, hàng phàm phu và Nhị thừa có thể nào khen ngợi một ngày một đêm mà hết được. Người thụ trì trong khoảnh khắc còn được công đức bất khả tư nghì huống chi là từ hai ngày, ba, bốn cho đến một trăm ngày thụ trì, đọc tụng, tư duy, quán sát, thật công đức không thể nghĩ bàn, là bất khả thuyết của bất khả thuyết”.

Cho nên luận nói: “Nếu có người thụ trì luận này, quán sát tu hành, hoặc một ngày một đêm, được công đức vô lượng vô biên bất khả thuyết, dù khiến cho mười phương chư Phật trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp khen ngợi công đức của người này cũng không cùng tận. Vì sao ? Vì công đức pháp tính vô tận, nên công đức của người này cũng như thế, không có bờ mé”. Do đó nên biết tin tâm tông này thành Ma-ha-diễn, đồng với chỗ chứng của chư Phật ba đời, nghĩa lý khôn cùng ! Cùng một chỗ nương của mười phương Bồ-tát công đức vô tận, gặp được sự giáo hóa huyền diệu này thì hạnh phúc càng lớn, vâng theo tông chỉ của Phật để báo ân Phật. Không ra hoằng pháp trước để xiển dương Phật nhật và khai Phật nhãn mà chỉ chú trọng sáng tỏ tâm. Ở trong Tông Cảnh nếu được một câu nhập thần thì như trải qua bao kiếp trồng Phật chủng huống chi là lời chân thật sâu kín tổng nhiếp các kinh điển. Cái một này là một trong vô lượng, nếu thấm được pháp này tức là có hạt giống viên đốn, có thể nói là được cam-lộ thấm đỉnh, đề-hồ rưới tâm, sáng rực đuốc tuệ bất nhị, phá tan bóng tối mê muội của tình căn, rót ra nước trí nhất vị, rửa sạch vọng trần trên đất ý, hay khiến cho những chướng cái sâu dày như lá lay lắt bị gió mạnh cuốn đi, khối nghi rối rắm ứ đọng sẽ như băng tan trước ánh nắng của vầng hồng, như vua Kim luân trong các vua, là ánh sáng rực rỡ nhất trong các ánh sáng, là ngọc báu ma-ni trong các châu báu, là hoa sen xanh trong các thứ hoa, là môn chân không trong các đế lý, là nhà niết-bàn trong các pháp. Cho nên bài kệ trong kinh Kim Cương Tam-muội nói: “Pháp ấn nhất vị do Nhất thừa thành tựu hay đứng đầu trong tất cả chúng sinh, là vị thầy, là ánh sáng, là kẻ dẫn đường”.

Như kinh Thắng Thiên Vương Bát-nhã nói: “Trong tất cả pháp, tâm là thượng thủ”.

Luận Đại Trí Độ nói: “Chư Phật ba đời đều lấy thật tướng các pháp làm thầy”.

Tổ sư nói: “Trong tất cả sự hiểu biết, sự sáng tỏ tâm là hơn hết”.

Bài kệ kinh Pháp Hoa nói:

Vị đạo sư bậc nhất
Được pháp vô thượng này.

Nếu chưa vào Tông Cảnh chẳng những chẳng được thấy đạo mà thực ra là lý tuyệt rồi mới tu hành. Vì khi bản lập thì đạo sinh, trở về cội rễ mới rốt ráo. Như xem kỹ chất liệu ta biết hình vẽ không phải là thật, cũng giống với việc rõ tạng tính thì thấy trần cảnh liền biết là vọng.

Bài kệ trong kinh nói:

Chứng chân như mới rõ được các hành
Như việc huyễn, tợ có mà chẳng thật.

Do đó nếu được gốc tức là được ngọn, vì thế trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Hải Hội dùng vi trần pháp giới làm tam-muội.

Và trong Phẩm Xuất Hiện nói: “Pháp môn này gọi là chỗ bí mật của Như Lai, cho đến gọi là pháp cứu cánh diễn thuyết Như Lai căn bản thật tính bất tư nghì”.

Cổ đức nói: “Chẻ quyển kinh trong vi trần thì niệm niệm quả thành, tận cùng cửa nguyện của chúng sinh thì trần trần hạnh mãn”.

Chưa ngộ Tông Cảnh thì đâu tin được lời này. Nếu tạm tin thì công đức đều bình đẳng. Không dễ gì tu tập đủ các pháp môn: Tức bít, tức thông, tức tà, tức chính.

Do đó người xưa nói: “Người gặp được đạo lý này, nên tự vui mừng, người ấy như kẻ bị chìm đắm giữa biển lớn gặp được thuyền bè, như bị rơi giữa hư không chợt được chim hạc xớt đi”.

Hỏi: Nói về việc hoằng giáo hướng dẫn, giáo hóa người cần phải chính mình tu hành công đức viên mãn và chứng đắc các giai vị mới đáp lại bản nguyện khai mở môn phương tiện, thì sự lợi ích ấy không hư dối và cũng không trái với chính giáo. Những điều được ghi chép này lấy gì chứng minh?

Đáp: Ở đây chỉ góp nhặt lời dạy của chư Phật và Bồ-tát nên gọi là “Lục”. Nếu có vấn đáp giải thích đều căn cứ vào đại ý của Cổ đức, bên cạnh đó là khen ngợi khuyên tu thuật thành đạo lý, đâu dám tự cho là khai thị lếu láo.

Chính tông của chư Phật thì chân duy thức tính mới có chỗ tin đều có thể lợi ích cho người. Nếu luận về môn tu chứng, các vị thiền đức đều bảo: Công chưa bằng chư Thánh. Lại nữa trong giáo cũng chấp nhận Bồ-tát sơ tâm đều có thể so sánh mà biết, cũng chấp nhận theo kinh giáo lãnh hội trước bằng sự nghe, hiểu, tin, đi vào. Sau dùng vô tư (không suy nghĩ) để khế hợp. Nếu vào được Tín môn liền lên Tổ vị. Nay biên tập Tông Cảnh chứng nghiệm vô biên, theo niệm liền thông, ở trong mắt đều đúng. Nay xét trên việc thế gian, trong cõi chúng sinh thứ nhất là so sánh mà biết, thứ hai là hiện chứng mà biết, thứ ba là nhờ Thánh giáo mà biết.

Thứ nhất so sánh mà biết: như thân hữu lậu này ban đêm đều có chiêm bao, trong chiêm bao thấy rõ ràng các cảnh giới đẹp xấu, vui buồn, chợt thức giấc lại lên giường ngủ yên thì đâu có gì thật, đó đều là do tư tưởng ý thức trong mộng làm ra, do đó có thể so sánh để biết; những việc trông thấy lúc thức đều không thật như trong mộng, cảnh giới của ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai chính là tướng phần của thức thứ tám a-lại-da, chỉ do thức biến ra. Nếu là cảnh hiện tại, đó là ý thức phân biệt biết rõ; nếu là cảnh quá khứ, vị lai, đó là ý thức tư duy độc lập thầm kín. Cảnh mộng và thức tuy khác nhưng đều chẳng phải ra ngoài ý thức, như thế cái ý chỉ duy tâm so sánh khá rõ ràng.

Thứ hai hiện chứng mà biết: là đối trước sự việc rõ ràng không đợi lập ra như ngay lúc nhìn thấy vật màu trắng màu xanh. Vật vốn là tự rỗng không nói nó là trắng là xanh, đều là tự tính kiến phần của nhãn thức phân biệt một cách hồn nhiên và cùng lúc minh liễu ý thức suy tính phân biệt là xanh là trắng. Dùng ý phân biệt là sắc, dùng lời nói gọi là xanh; đều là ý ngôn tự dối bày đặt ra.

Chẳng hạn như vì sáu trần vô tri nên thể chẳng tự lập, danh chẳng tự gọi. Một sắc đã như thế thì muôn pháp cũng đều như thế; đều vô tự tính, hết thảy là ý ngôn. Cho nên nói vạn pháp vốn nhàn mà người tự ồn náo. Do đó nếu lúc khởi có tâm thì muôn cảnh đều có, nếu lúc khởi không tâm thì muôn cảnh đều không; không chẳng tự không, do tâm nên không; có chẳng tự có, do tâm nên có, đã phi không phi hữu thì duy thức duy tâm. Nếu không có tâm thì vạn pháp làm sao nương gá. Như cảnh quá khứ đâu từng có, tùy theo chỗ niệm khởi bỗng nhiên hiện ra, nếu tưởng không sinh cảnh trọn không hiện. Đây là việc hàng ngày chúng sinh có thể biết được, không phải đợi đến dụng công mới thành, đâu phải nhờ tu tập mới được, hễ có tâm đều có thể chứng biết. Vì thế Tiên đức nói: Như bậc đại căn biết duy thức, luôn quán tự tâm, ý ngôn là cảnh; lúc mới quán tuy chưa thành bậc Thánh, phân biện biết rõ ý ngôn thì người ấy là Bồ-tát.

Thứ ba nhờ Thánh giáo mà biết: kinh nói: “Ba cõi chỉ là tâm, muôn pháp chỉ là thức”. Đây là chỗ chứng chân lý hay tuyên bày chính tông, nói rộng ở văn tự quả thật chứng nghiệm chẳng phải là một. Như luận Thành Thật ghi: “Phật dạy: Lời nói ở trong, ở ngoài, ở giữa. Rồi liền nhập định. Lúc ấy có năm trăm vị a-la-hán, mỗi vị giải thích lời này. Sau khi Phật xuất định, họ đến hỏi Phật: Người nào giải thích đúng ý Phật? Phật đáp: Không ai đúng ý ta. Họ lại bạch Phật: Đã không đúng với ý Phật thì có phạm tội không? Phật đáp: Tuy không đúng với ý ta, nhưng đều phù hợp với chính lý nên được xem là Thánh giáo, có phước, không có tội”.

Hơn nữa, như nói pháp môn tự chứng của Tiểu thừa vẫn hợp với chính lý huống chi là thuần dẫn Nhất thừa chỉ nói về yếu chỉ của Phật.

Lục Hạnh Pháp ghi: “Người đại trí muốn học đạo chớ hỏi Đại (thừa), Tiểu (thừa), đều nương vào lý giáo. Nếu thấy quyền giáo tuy là do Phật nói, biết chẳng phải thật ngữ thì không nương theo. Nếu thấy phàm nhân nói đúng chân lý, tuy chẳng phải là lời của Phật cũng nên nương theo thực hành. Vì người có trí học Phật pháp khéo hiểu được giáo pháp của Như Lai có quyền có thật, nương theo thật giáo của Phật tuyên thuyết đạo lý ắt hẳn vượt hơn kẻ phàm ngu nhầm lẫn chấp quyền giáo. Do đó người trí nếu có nói ra điều gì, người tuy là phàm tục nhưng pháp đồng với Phật. Như nước rót từ bình này sang bình khác, bình tuy khác nhau nhưng nước rót ra là một. Vì thế kết sử phàm phu tuy chưa hết nhưng không chướng ngại sự hiểu biết và hay nói thật nghĩa; chỉ làm cho hiểu rõ lý tâm tính suy lường. Ban đầu quán lý hẳn đã khác với kẻ tầm thường, nghĩa là tư duy về nhân không là Nhị thừa, nếu quán pháp không là Bồ-tát”.

Cho nên Nhiếp Luận nói: “Lúc mới tu quán, đó là phàm phu Bồ-tát”. Đem văn này dẫn chứng, người mới học quán tuy chưa đoạn kết sử nhưng là Bồ-tát vì hay hiểu được lý đồng với bậc Thánh, cho nên nói ra liền phù hợp đạo lý, mỗi mỗi có thể nương theo.

Kinh Bảo Khiếp nói: “Cũng như ở trong trứng của chim chúa ca-lăng-tần-già, chim con chưa ló mỏ ra mà đã phát ra âm thinh vi diệu của loài chim ca-lăng-tần-già. Các vị Bồ-tát ở trong trứng Phật pháp tuy chưa hết ngã kiến, chưa ra khỏi ba cõi nhưng có thể diễn nói diệu âm Phật pháp, đó là không, vô tướng, vô tác. Chim ca-lăng-tần-già không mang tiếng hót đến trong loài Khổng tước, nó trở về trong bầy ca-lăng-tần-già mới cất tiếng hót; Bồ-tát nếu đến trong chúng Thanh văn, Duyên giác không diễn thuyết pháp chư Phật bất khả tư nghì, chỉ đến trong chúng Bồ-tát diễn thuyết”.

Đem văn này dẫn chứng, còn ở địa vị phàm phu lỗi lầm chưa hết nhưng chẳng phương hại đến sự hiểu biết sâu xa, lời nói có đạo lý đều có thể tin nhận. Nhưng những phàm nhân nói ra có đạo lý đều là nhờ sự huân tập đời trước chẳng phải mới vừa học ở hiện tại. Nếu chẳng nhờ sự huân tập đời trước, ngày nay học đến già, chỉ có thể nói lời nói của người ấy vẫn còn mê lý. Vì mê lý nên tuy lắm lời, chưa hiểu rõ quyền thật thì nói ra ắt trái lý. Nếu hiểu lý mà không kể kẻ lớn người nhỏ, chỉ cầu đạo không màng đến sự, y pháp chẳng y nhân; như ông A-thấp-bà-thị, nhân Xá-lợi-phất gặp A-thấp-bà-thị nên đến cầu pháp, vị tôn-giả này trả lời bằng bài kệ:

Tôi tuổi hãy còn nhỏ
Học đạo còn cạn cợt
Đâu thế nói đạo lý
Nói rộng nghĩa Như Lai.

Xá-Iợi-phất thưa: Xin tôn giả nói điều chính yếu thôi.

A-thấp-bà-thị liền nói kệ:

Các pháp nhân duyên sinh
Pháp này nói nhân duyên
Pháp này nhân duyên tận
Đức Phật nói như thế.

Xá-lợi-phất nghe qua một lần liền chứng Sơ quả, Xá-lợi-phất lại dạy cho Mục-kiền-liên nói lại được đắc đạo.

Câu chuyện này đủ chứng minh cho chúng ta biết người trí cầu pháp chỉ quý trọng đức độ không hổ thẹn hạ mình, không giống như phàm ngu ngã mạn tự cao tuy biết người hơn mình nhưng xấu hổ không chịu học. Phàm phu từ vô thỉ đến nay không thể vào đạo, phần nhiều là vì lý do này nên không thể cầu pháp. Cho nên người ngu mê thật giáo, chưa có thể tự ngộ, chỉ nên thưa hỏi bậc cao đức. Vì người mê lý tuy có thế trí nếu không có thiện tri thức nên thường mê đạo.

Như kinh Thắng Thiên Vương Bát-nhã nói: “Như người bị mù bẩm sinh không thể thấy sắc, phiền não làm chúng sinh mù lòa không thể thấy được pháp cũng như vậy”. Như người có mắt không có ánh sáng không thể thấy sắc; người tu hành cũng như thế, tuy có trí tuệ nhưng không có thiện tri thức không thể thấy pháp. Điều này chứng minh cho biết người tuy có trí tuệ chưa có thể tự ngộ, cần phải có bạn tốt.

Kinh Phó Pháp Tạng nói: “Thiện tri thức là nhân duyên toàn phần đắc đạo”.

Chính Phật đã khuyên chúng ta nên theo thiện tri thức, không nên giữ lấy sự ngu si một đời trôi suông. Do đó chư Phật đều dạy chỉ nên y pháp không y nhân, y nghĩa không y ngữ. Bồ-tát còn biến hình làm súc sinh, thuyết pháp cho người bày việc kỳ lạ khiến người nghe tin nhận, đều làm cho ngộ đạo thể nhập pháp bình đẳng, đâu khiến cho tâm sinh cao thấp.

Theo Hoa Nghiêm Diễn Nghĩa, hỏi: “Ý chỉ này vi mật, ở địa vị tu chứng rất cao (cực vị) mới biết đâu thể đem phàm tình liếc xem đại giáo?”

Giải thích: Căn cứ vào Thánh giáo thì được. Do đó kinh Niết-bàn nói: “Phàm phu có đủ thứ trói buộc mà vẫn có thể biết được tạng Như Lai bí mật”.

Bài tụng trong phẩm Tỳ-lô-giá-na nói:

Như nhờ ánh sáng mặt trời chiếu
Trở lại thấy rõ vầng mặt nhật
Do ánh sáng trí tuệ của Phật
Chúng sinh thấy chỗ Phật hành đạo.

Ngày nay trong Tông Cảnh từ đầu đến cuối đưa ra ánh sáng giáo lý của trí tuệ Phật, trình bày đạo tích Phật đã thực hành; nếu người tin sâu thì đem ánh sáng tâm chúng sinh thấy được hành tích của chúng sinh. Nếu nói rằng phàm phu không biết, đây là người tà kiến, thiếu lòng tin vậy.

Kinh Đại Tập ghi: “Nếu có người nói: Tôi khác, Phật khác, nên biết người này là đệ tử của ma”. Lại nói: “Người thấy suốt rõ ràng, biết tất cả pháp không hai tướng. Quán các pháp bình đẳng, đây là Phật”.

Có người học đến hỏi quốc sư Tuệ Trung: Như Lai nói bát-nhã tức chẳng phải bát-nhã, đây gọi là bát-nhã, đã hết cả đúng sai. Thế nào là bát-nhã ?

Đáp: Cái hay thấy (năng kiến) không tên đó là bát-nhã.

Hỏi: Phật cũng nói như vậy sao ?

Đáp: Xưa nay không khác, được thì nghìn Phật cùng một tâm, muôn Thánh cùng một đường lối.

Hỏi: Giáo môn phương tiện của chư Phật đều theo căn tính chúng sinh để dựng lập; căn tính khác nhau, nên giáo pháp nhiều như cát bụi như pháp môn ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đạo lộ năm mươi hai vị tu hành, sao chỉ lập nhất tâm làm Tông Cảnh ?

Đáp: Pháp nhất tâm này lý sự hoàn toàn đầy đủ. Pháp này là nguyên ủy của kho tàng pháp bảo, cha đại bi, mẹ bát-nhã và vạn hạnh. Vì mười phương chư Phật các đại Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn và tất cả chúng sinh trong tất cả pháp giới đều cùng có một cái tâm này. Chư Phật đã giác ngộ, còn chúng sinh không biết. Nay tôi vì người không biết tìm cách chỉ thẳng; vì sẵn có nên không dối, vì nên nhận được do đó không sai.

Cho nên bài tụng trong kinh Hoa Nghiêm nói:

Ví như người thế gian
Nghe có chỗ kho tàng
Vì chắc được kho báu
Lòng vui sướng vô hạn.

Kho báu chính là tâm chúng sinh, vừa bước vào cửa tin (tín môn) tự nhiên hiển hiện, mới vỡ lẽ biết ra xưa nay vốn đầy đủ, đâu nhờ công phu làm thành, mới biết bản tính không khác, chẳng phải do hành động tạo tác được; có thể gọi là vật tối linh, là nguồn đạo cứu cánh, là môn tuyệt diệu, là nghĩa tinh thật, là nguyên do tạo ra cội gốc mê ngộ của phàm Thánh. Như muôn vật gặp đất tốt liền phát sinh, vạn hạnh chứng lý mà thành tựu; các môn tranh nhau vào, các đức giục nhau về, làm nền tảng hướng đạo của nghìn Thánh, là con mắt xuất thế của chư Phật.

Thế nên, nếu ngộ được tự tâm chóng thành Phật tuệ, có thể nói là gom trăm sông làm thành một tính ướt, góp bụi làm nên một viên đất, nấu chảy vòng xuyến thành vàng, biến tô lạc thành một vị.

Như bài tụng trong kinh Hoa Nghiêm nói:

Chẳng rõ được tự tâm
Đâu thể biết Phật tuệ.

Kinh A-sai-mạt nói: “Chỉ cần chính tâm của minh, chẳng học gì khác nữa”.

Kinh Thiền Yếu nói: “Nội chiếu khai giải” (soi sáng nội tâm, mở rộng kiến thức) là môn Đại thừa, thấy tâm tính của chính mình, gọi đó là chiếu, là chỗ các bậc Thánh đã đi qua nên gọi là môn (cửa).

Bài kệ trong kinh Nhập Lăng Già nói:

Tâm đầy đủ pháp tạng
Lìa kiến chấp vô ngã
Thế Tôn nói các hành
Biết các pháp trong tâm.

Bài kệ trong kinh Nguyệt Đăng Tam-muội nói:

Nếu người thụ trì được pháp đây
Hay thuận sự tu hành chân chính
Do công đức của pháp môn này
Mau chóng đắc thành đạo vô thượng.

Kinh Thắng Man nói: “Bạch Thế Tôn! Con thấy nhiếp thụ chính pháp có những năng lực to tát. Như Lai cho đó là con mắt, là pháp cội gốc, là pháp dẫn đạo, là pháp thông đạt”.

Giải thích: Chính pháp, là đệ nhất nghĩa tâm, ngoài tâm vọng chấp, ngoài tâm riêng tìm cầu đều là lệch lạc một bên, mờ mịt chính kiến. Cho nên hễ được chính nhãn Như Lai trùm khắp cả mười phương, soi sáng hết pháp giới, cùng qui về nhất tâm. Đây là nhiếp thụ Chính pháp.

Luận Khởi Tín nói: “Tự thể tướng của chân như là cái mà tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, chư Phật đều không có thêm bớt, chẳng phải thuở trước sinh, chẳng phải thuở sau diệt, rốt ráo thường hằng; từ vô thỉ đến nay bản tính đầy đủ tất cả công đức, gọi là nghĩa trí tuệ đại quang minh, nghĩa soi sáng khắp pháp giới, nghĩa biết rõ như thật, nghĩa tâm bản tính thanh tịnh, nghĩa thường lạc ngã tịnh, nghĩa tự tại bất biến, tịch tịnh, số nhiều tên gọi hơn cả Hằng sa, chẳng đồng, chẳng khác, Phật pháp bất tư nghì không bao giờ đoạn tuyệt. Vì căn cứ theo nghĩa này nên gọi là Như Lai tạng, còn gọi là Pháp thân”.

Hỏi: Đoạn trên nói rằng chân như lìa tất cả tướng sao bây giờ lại nói đầy đủ tất cả tướng công đức ?

Đáp: Tuy nói thật có đầy đủ tất cả công đức nhưng không có tướng sai biệt, tất cả pháp đều đồng một vị nhất chân cho nên lìa tướng phân biệt, không có hai tính, vì dựa vào tướng sinh diệt như nghiệp thức v.v… mà lập tất cả tướng sai biệt. Đây lập thế nào ? Vì tất cả pháp vốn chỉ là tâm không phân biệt, do bất giác nên tâm phân biệt khởi lên, thấy có cảnh giới, gọi là vô minh. Tâm tính vốn tịnh, vô minh không khởi, thì nơi chân như lập nên nghĩa đại trí tuệ quang minh. Nếu tâm sinh thấy cảnh ắt có cái tướng chẳng thấy, tâm tính vô kiến (vô hình tướng) thì không có gì chẳng thấy, tức là nơi chân như lập nghĩa soi chiếu khắp pháp giới, nếu tâm có động niệm thì chẳng phải liễu tri chân thật, chẳng phải là bản tính thanh tịnh, chẳng phải là thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng phải tịch tịnh, mà là thay đổi khác đi, không tự tại, do đó khởi lên đủ thứ tạp nhiễm hư vọng nhiều hơn Hằng sa. Vì tâm tính không động niệm nên liền lập nghĩa chân thật liễu tri cho đến nghĩa đức tướng thanh tịnh hơn Hằng hà sa. Nếu tâm khởi thấy có cảnh giới khác có thể phân biệt tìm cầu thì chắc chắn đối với nội pháp có chỗ chẳng đủ. Vì vô biên công đức tức là tự tính của nhất tâm, không thấy có một pháp nào khác có thể tìm cầu cho nên đầy đủ pháp bất tư nghì chẳng phải một chẳng khác của chư Phật hơn cả Hằng sa, không bao giờ dứt, thế nên nói chân như là Như Lai tạng cũng gọi là Như Lai pháp thân. Nhưng nhất tâm này không giống như phàm phu, lầm nhận cái tâm suy nghĩ phan duyên, quyết định chấp tâm ấy ở trong sắc thân. Mười phương thế giới đều là chân tâm sáng suốt nhiệm mầu.

Như trong phẩm Nhập Pháp Giới nói: “Ở trong biển thế giới Hoa Tạng, bất luận núi non, sông ngòi, đất liền, hư không, cây cối, rừng rậm, cho đến hạt bụi, mảy lông, thảy đều gọi là chân pháp giới đầy đủ vô biên đức”.

Cho nên Tiên đức nói: Nguyên, hanh, lợi, trinh là đức của quẻ Càn. Bắt đầu từ nhất khí là đức thường lạc ngã tịnh quả Phật, vốn chỉ là nhất tâm. Chuyên nhất khí mà đến nhu, tu nhất tâm mà thành đạo. Tâm chính là tinh hoa vi diệu chan hòa linh minh sáng rỡ không đến không đi, thầm thông ba đời, chẳng trong, chẳng ngoài, ngời sáng mười phương, chẳng diệt, chẳng sinh, tứ sơn[note]Tứ sơn: Bốn hòn núi lớn, dụ cho thân người vô thường, phải chịu sự bức bách của bốn tướng sinh, già, bịnh, chết (Theo kinh Đại Niết-bàn, q.27, bản nam).[/note] đâu thể hại được. Lìa tính, lìa tướng, năm sắc nào có thể làm mù, ở trong dòng sinh tử, hạt châu ly long riêng chiếu sáng trên mặt biển mênh mông, thong dong bên bờ niết-bàn. Vầng trăng đơn độc sáng vằng vặc treo trên nền trời xanh bát ngát. Ôi, rộng lớn vô cùng! Vạn pháp khởi đầu từ đây vậy. Vạn pháp hư dối, duyên hội liền sinh, sinh ấy vốn không, tất cả chỉ là thức. Thức như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm. Tâm lặng lẽ liễu tri, đó là viên giác, đầy khắp hư không mà không chứa đựng gì khác cho nên đức dụng vô biên đều đồng nhất tính. Tính khởi làm ra tướng, cảnh trí rõ ràng, tướng được dung thông với tính thì thân tâm rỗng rang mới là hải ấn, vượt lên thái hư. Lồng lộng thay! Sáng chói thay! Vượt lên sự nghĩ bàn.

Tiên đức lại nói: Như Lai tạng là tên khác của nhất tâm. Cái gì là nhất tâm? Nghĩa là tính của các pháp chân vọng, nhiễm tịnh không hai. Tính không hai (bất nhị) này ở trong các pháp là thật không đồng với hư không, tính tự thần giải nên gọi là tâm. Vì thế, nếu tìm cầu ở bên ngoài, dối học từ người khác cũng như soi băng để tìm lửa, ép cát thành dầu; bởi băng và cát không phải chính nhân của lửa và dầu, muốn tìm cầu sự giúp đỡ luống uổng công sức. Nếu chỉ tu niệm hạnh, rỗng trụ nơi phương tiện (quyền thừa) thì cũng như bức tranh không bột keo, như ngói chưa nung, vì ngói và bức tranh không phải là vật bền chắc, vô dụng. Nếu biết rõ tự tâm, không vọng cầu ở bên ngoài như từ cây vốn có lửa, từ mè có dầu, không hoại chính nhân chóng được thành tựu, như bức tranh có bột keo, như ngói được nung, mới có thể thành vật dụng hữu ích, không bị phế bỏ. Hễ có tạo tác đều có mục đích. Nếu chưa có lòng tin còn ở trong muôn mối thủ xả rối ren, theo cảnh sinh mê sẽ bị pháp làm hại, chẳng quán “không” để đuổi dẹp phiền lụy, chỉ chấp giữ “không” mà phế bỏ điều thiện, chẳng thấu suốt “hữu” để khởi lòng từ, chỉ chấp “hữu” mà khởi tội lỗi, đều là do không biết rõ “không hữu” nhất tâm đến nỗi được mất như thế.

Nếu bước vào Tông Cảnh, lúc mới phát tâm dù hạnh chưa thành, lý chóng đầy đủ liền đồng với cổ Phật không sai. Như kinh Đại Niết-bàn nói: “Ở thành Câu-thi-na có người chiên-đà-la tên là Hoan Hỷ. Phật thụ ký người này, do một lần phát tâm sẽ ở trong cõi này trong số nghìn đức Phật chóng thành đạo vô thượng chính chân”.

Pháp Hoa Huyền Nghĩa nói: “Tâm pháp là chỗ sáng tỏ pháp nào được có tâm khác, nhưng pháp chúng sinh quá rộng, pháp Phật quá cao, đối với người sơ học là khó, nhưng ba thứ tâm, Phật, chúng sinh không khác, chỉ cần tự quán sát tâm mình sẽ thấy dễ dàng”.

Kinh Niết-bàn nói: “Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ tam định. Thượng định là Phật tính. Năng quán tâm tính được gọi là thượng định. Trên bao gồm cho dưới tức là bao gồm tất cả pháp chúng sinh”.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm dạo khắp pháp giới như hư không ắt sẽ biết cảnh giới của chư Phật”.

Pháp giới là trung, hư không là không, tâm Phật là giả; ba thứ này là cảnh giới Phật. Trung, không, giả là cảnh giới Phật. Đây là quán tâm vẫn đủ Phật pháp. Tâm dạo khắp pháp giới là quán căn trần đối nhau từ niệm của tâm khởi, trong mười cõi đều thuộc một cõi, nếu thuộc một cõi liền đủ trăm cõi, nghìn pháp, trong một niệm thảy đều đầy đủ. Tâm này là nhà ảo thuật ngày đêm thường tạo các loại chúng sinh, các thứ ngũ ấm và các loại quốc độ, chỗ gọi là cõi nước giả thật của địa ngục giới cho đến cõi nước giả thật của Phật giới. Người tu phải tự mình chọn lựa đường nào có thể theo.

Như hư không là nghĩa quán tâm tự sinh tâm, không cần nhờ đến duyên, có tâm thì có năng lực của tâm vô sinh, duyên cũng vô sinh, tâm duyên đều không, hợp làm sao có được ? Hợp còn chẳng được, lìa thì chẳng sinh, sinh còn không có huống chi có trăm cõi nghìn pháp? Vì tâm không cho nên từ tâm sinh tất cả đều không, cái không này cũng không. Nếu không chẳng phải không, nhận không lập giả, giả cũng chẳng phải giả, không có giả cũng không có không, tuyệt đối thanh tịnh, đâu phải chỉ có tam quán, vạn hạnh cho đến mười phương hư không cũng vẫn từ tâm biến hiện, huống chi là vật tượng sinh ra trong hư không.

Bài tụng trong kinh Lăng Nghiêm nói:

Hư không sinh ra trong đại giác
Như hòn bọt nhỏ trong biển lớn.

Hoa Nghiêm Sớ nói: “Hai pháp không hữu đều là lý xứng chân thì hữu và không đều tính không”.

Sao Thích: Không hữu đều là lý xứng chân nghĩa là không này là ngoại không; nếu đem lý không đối với ngoại không, ngoại không lìa pháp, đây là đoạn diệt không. Lý không gọi là chân không. Nếu cho ngoại không cũng do tâm hiện, cũng do đối sắc, diệt sắc mới hiển bày thì đây là đoạn không. Từ duyên vô tính tức tính không cho nên trong mười tám không thuyết minh sự rộng lớn, nghĩa là mười phương không, tức là mười phương hư không cũng là tính không. Thế nên nghìn Thánh nhắc nhở cơ duyên khó gặp, nếu đối với bậc thượng căn hoát nhiên có thể chứng nghiệm.

Như Hàn Sơn Tử có bài thơ:

Biết bao bậc Thánh xưa
Đã tha thiết dặn dò
Căn tính người chẳng đồng
Cao thấp có lợi, độn
Phật thật không chịu tin
Phí công luống nhọc nhằn
Đâu bằng tâm trong sáng
Chính là tâm vương ấn.

Tiên đức nói: Muốn biết tâm pháp yếu là căn bản của mười hai bộ kinh, là yếu môn nhập dạo. Phật Tổ ba đời nói chỉ có một môn quán tâm này là thật, còn có gì khác đều chẳng phải chân. Chỉ có pháp nhất thừa, không hai cũng không ba.

Pháp nhất thừa chính là nhất tâm, chỉ giữ lấy nhất tâm tức là tâm chân như môn, tất cả các pháp không thiếu sót, tất cả pháp hạnh không ra ngoài tự tâm. Chỉ có tâm tự biết, lại không có tâm nào khác. Tâm không có hình sắc, không căn, không trụ, không sinh, không diệt, cũng không có giác quán có thể vận hành. Nếu có sự vận hành của giác quán thì đó là thọ, tưởng, hành, thức; chẳng phải là bản tâm mà đều là công dụng hữu vi. Chư Tổ chỉ là lấy tâm truyền tâm, người liễu đạt được ấn khả, không còn có pháp gì khác. Như trong kinh Hoa Nghiêm đồng tử Văn-thù giáo hóa năm trăm đồng tử phát tâm bồ-đề, chỉ có một đồng tử Thiện Tài đạt được bản tâm, đi dạo trong khắp một trăm mười thành để học hỏi về vạn hạnh bồ-đề, học các môn tam-muội, đều như huyễn như hóa không có thật thể. Cho nên ta biết từ tâm sinh đều đồng với huyễn hóa, chỉ ngay đó liễu ngộ chân tâm thì tự nhiên chân thật.

Duy Thức Khu Yếu ghi: “Căn cứ vào năm yếu tố: cảnh, giáo, lý, hạnh, quả trong duy thức, luận này có nghĩa chỉ nói về cảnh duy thức, là bỏ tâm theo cảnh bên ngoài, vì tất cả cảnh không lìa tâm. Có nghĩa chỉ nói giáo duy thức thành bản giáo của luận vì giải thích những điều luận nói đến. Có nghĩa chỉ giữ lấy lý duy thức, thành lập cái lý bản giáo nói đến, vì phân biệt tính tướng duy thức. Có nghĩa chỉ giữ hạnh duy thức vì nói về năm vị tu duy thức hạnh. Có nghĩa chỉ giữ quả duy thức vì cầu đại quả an lạc, gọi là thân giải thoát đại Mâu-ni. Cho đến nay giải thích điều luận nói, chỉ giữ lấy giáo lý nói, y theo giáo lý thành tính tướng kia vì tính tướng bao gồm hết tất cả. Tất cả đều giữ nơi lý là hơn cả nên biết lý duy thức là chính tông thành Phật. Chỉ cần đem lý bao trùm nên nói vạn pháp duy thức”.

Nói về chính ý của Tông Cảnh, xét tận cùng bản hoài của chư Phật chỉ dùng một pháp phù hợp với một căn cơ, không còn ý chỉ nào khác.

Vì thế kinh Pháp Hoa nói: “Trong cõi Phật khắp mười phương chỉ có pháp nhất thừa”.

Kinh Đại Niết-bàn nói: “Sư tử rống nghĩa là nói quả quyết tất cả chúng sinh đều có tính Phật”.

Lại nói: “Chúng sinh cũng thế, ai ai cùng có tâm, hễ có tâm đều sẽ thành tựu vô thượng chính đẳng chính giác”.

Hỏi: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Đây bao quát vạn pháp có nên lập riêng chân như làm tông chăng ?

Đáp: Chân như là thức tính, thức đã bao gồm vạn pháp tức là tính bình đẳng của các pháp hữu vi, vô vi. Cho nên kinh nói chưa từng có một pháp ra khỏi pháp tính.

Tư Mã Bưu nói: “Tính chính là gốc của con người”.

Thái Ung nói: “Tính là gốc của tâm”.

Vì thế chư sư ngày xưa nói: Luận Duy thức là ngọn cờ pháp được dựng lên cao trong mười tông chi, pháp nào mà chẳng thâu, tông nào mà chẳng lập. Duy lấy sự đơn giản làm nghĩa, Thức lấy sự thấu rõ làm nghĩa. Lìa thức không có gì khác chỉ có thể là thức; có cái dụng cách ở ngoài tâm nên gọi là duy. Duy là nói tính tướng đều thu nhiếp; chân như là thức tính; tướng phần y tha như sắc v.v… là thức tướng. Tâm sở lấy thức làm chủ, đều không lìa thức nên gọi chung là duy thức.

Lại hỏi: Ba cõi là pháp hữu lậu, do lệ thuộc sự ràng buộc của ái kết trong ba cõi nên gọi là tam giới, pháp vô lậu vô vi, không bị ái kết của ba cõi ràng buộc nên không gọi là pháp của ba cõi. Vì sao kinh chỉ nói tam giới duy tâm, là không bao gồm các pháp vô lậu vô vi, đây đâu phải Duy thức mà chỉ nói về tam giới ?

Đáp: Pháp trị liệu sự mê loạn trong ba cõi còn gọi là duy thức. Pháp tính vô vi, vô lậu có công năng trị liệu, thể của nó vốn chẳng mê loạn, chẳng nói tự thành, cho nên chỉ nói tam giới duy tâm. Hơn nữa, câu nói chung của các bộ phái là các pháp hữu vi, vô vi, nhiễm tịnh đều lấy tâm làm gốc. Tát-bà-đa v.v… nói: “Vô vi do tâm nên bày, hữu vi do tâm nên khởi”. Từ tâm khởi pháp nhiễm tịnh theo tác dụng và hoàn cảnh mà có nên nói tâm là gốc.

Hỏi: Lập tâm làm tông có bao nhiêu môn công đức, có thể khởi lòng tin thấy nghe chăng ?

Đáp: Tự thể của chân tâm không thể diễn tả được bằng ngôn từ, như hư không trong lặng, bao la, chói ngời như chiếc gương sạch tròn sáng, khen chê đều chẳng dính dáng, nghĩa lý khó thông suốt vì bặt dứt đối đãi giữa hai môn công đức và tổn hại. Nay y theo Tiên đức căn cứ vào tướng để phân biệt tâm. Đại lược có năm nghĩa:

1) Tướng xa lìa sở thủ phân biệt.
2) Chấp giải thoát năng thủ phân biệt.
3) Khắp ba đời thảy đều như nhau.
4) Như hư không bao trùm tất cả.
5) Không rơi vào một bên như nhất dị, hữu vô.

Siêu việt tâm hành và ngôn ngữ. Tâm vô trụ này bặt hết nhị đế nên không có sự khác biệt của ra tục vào chân. Đã không ra vào, cũng không ở nơi không hữu cho nên kinh nói tâm không có nơi chốn, không nơi chốn chỉ là nhất tâm. Thể của nhất tâm xưa nay vốn tịch diệt, không thể đem cái chỗ hữu vô để truy tầm tung tích bí mật của tâm, cũng không thể dùng thức trí để suy luận, nói năng về diệu thể ấy, chỉ có người thể nhập thì chỉ nơi tâm biết thôi. Như giã muôn hạt làm hương hoàn, đốt lên một hạt bụi nhỏ mà đầy đủ mùi thơm, như tắm trong biển lớn vốc giọt nước biển cũng đã dùng nước của trăm sông. Nắm sỏi đá thảy đều thành vàng ròng, vạch tìm cỏ mới thấy không thứ nào chẳng là thuốc tốt, bình rỗng đều chứa đầy vị cam-lộ, đầy nhà chỉ nghe mùi hương chiêm-bặc. Các nghĩa đồng quy về như thái hư bao hàm muôn tượng, nghìn lối tranh vào như nhiều bóng chẳng ngại nơi đầm lặng. Nếu nói một tâm tính khởi vô tận vô biên công đức, há đem cái tâm hữu lượng khen ngợi công đức vô vi, dùng hết thần lực cũng chưa nói được một mảy may; người do tín nhập đều hiện chứng, ngay phàm là Thánh, cảm ứng chẳng dối, tâm bền chắc không dời đổi thì tiếng rỗng của pháp không tự dứt. Rõ ràng thật có thể nghiệm biết. Sóng nắng lấp loáng trên đường chợt mất nào nhờ tâm thần thông mà ma chóng dứt, chẳng nhờ thuật gì khác mà lửa thức tự tiêu tan, trừ kẻ bất tiếu (không phải người hiền) đâu rõ ý chỉ này.

Như người xưa nói: “Y trí chẳng y thức” nghĩa là thức hiện hành theo trần phân biệt là mắt với sắc, tai với âm thinh, đam mê bất giác. Phật đã dạy: Cảnh là tự tâm, kẻ ngu cố chấp trần ở ngoài thức. Người đời nay miệng tuy tụng “không”, mà tâm chưa quên “hữu”, bay lên “không”, chẳng nổi lại lọt vào lửa càng thêm khổ, đều là do tâm bị gói kín trong mê nên ra nông nỗi. Về sau được thông đạt tùy tâm chuyển dụng đâu khác chi cánh chim bay trong hư không một cách tự tại. Tấm vải được giặt bằng lửa đỏ là chuyện cũng chẳng đáng ngạc nhiên vậy. Chỉ vì thức tính của chúng sinh không đồng nên Phật tùy theo tình chấp chúng sinh thuyết pháp khác nhau, nhưng căn cứ theo chí đạo chỉ là tự tâm. Cho nên kinh nói: “Trong ba cõi pháp nghĩa cao thấp đều duy tâm”. Đây là đứng trên y báo thế giới để nói về tâm. Lại nói: “Như như và chân tế niết-bàn và pháp giới các thứ ý sinh thân, ta (Phật) nói là tâm lượng”. Đây là căn cứ trên pháp thể xuất thế để nói về tâm. Chung cùng đến chỗ chân thật tận cội nguồn tâm, theo dòng cảm quả trở về tông liễu nghĩa.

Hỏi: Nhất tâm là tông, có thể gọi là cương yếu, vì sao trong giáo nói rộng các đường lối (đạo), mỗi đạo đều lập tông chỉ kinh ?

Đáp: Các pháp tuy nhiều nhưng chỉ là một tâm làm ra, nơi một Thánh đạo lập vô lượng danh. Như lửa, do đốt cháy có các tên gọi lửa cỏ, lửa cây, cũng như nước là một khi đem dùng có các tên gọi là canh, là rượu. Môn nhất tâm này cũng như vậy. Đối với người căn cơ nhỏ bé thì gọi là Tiểu pháp, thích hợp với người tâm lượng lớn thì gọi là Đại thừa. Tuy phân Đại Tiểu nhưng chân tính không ngăn cách. Nếu quyết định chấp Phật nói nhiều pháp, tức là hủy báng pháp luân thành tội lưỡng thiệt. Do đó kinh nói: Tâm chẳng lìa đạo, đạo chẳng lìa tâm.

Như kinh Đại Niết-bàn nói: “Bấy giờ, Thế Tôn khen ngợi Bồ-tát Ca-diếp: Lành thay! Lành thay! Thiện nam, ông nay muốn biết kinh điển Đại thừa Bồ-tát vi diệu có điều bí mật nên hỏi như vậy. Thiện nam, các kinh điển ấy đều đưa vào đạo đế. Thiện nam, như trước kia ta đã nói nếu có lòng tin đạo, tin đạo như thế, lòng tin này là cội gốc, hay trợ giúp cho đạo bồ-đề cho nên ta nói không có lầm lỗi. Này thiện nam, Như Lai khéo biết vô lượng phương tiện vì muốn giáo hóa chúng sinh nên nói các thứ pháp. Này thiện nam, như người y sĩ giỏi biết nguyên do các thứ bệnh của chúng sinh, tùy bệnh cho thuốc thích hạp và những thứ cấm kỵ với thuốc, chỉ có nước là không kiêng cử, hoặc uống nước gừng, hoặc nước cam thảo, hoặc nước hơi the, hoặc nước đường phèn, nước a-ma-lặc, nước ni-bà-la, hoặc nước bát-trú-la, hoặc uống nước lạnh hoặc nước nóng, hoặc nước nho, nước trái lựu. Vị y sĩ giỏi biết các thứ thuốc trị bệnh chúng sinh tuy nhiều nhưng có thể dùng các thứ nước uống không bị kiêng kỵ.

Như Lai cũng thế, khéo biết các phương tiện, nơi một pháp tướng, tùy các chúng sinh, phân biệt nói rộng các thứ danh tướng. Các chúng sinh lĩnh thụ lời Phật dạy, tu tập đoạn trừ phiền não như người bệnh nghe theo lời dặn của lương y bệnh hoạn được trừ.

Lại nữa, thiện nam, nếu có người hiểu được lời nói, trong đại chúng mọi người đang bị nóng bức, khát nước bức bách đều nói rằng: Chúng tôi muốn uống nước, chúng tôi muốn uống nước; người kia liền đem đến nước mát và tùy theo loại nước mà nói là nước gì, hoặc nói ba-ni, hoặc nói tước trì, sa-lợi-lam, bà-lợi, ba-gia, cam-lộ, sữa bò. Người ấy nói vô lượng tên nước uống cho đại chúng nghe như thế. Này thiện nam, Như Lai cũng vậy, Phật đem một Thánh đạo tuyên thuyết cho các Thanh văn, từ Tín căn v.v… cho đến tám Thánh đạo.

Này thiện nam, như người thợ kim hoàn tùy ý làm các thứ đồ trang sức như: Vòng, xuyến, thoa, thiên quan, bích ấn v.v… tuy khác biệt nhưng các vật này chẳng lìa vàng. Này thiện nam, Như Lai cũng thế, Phật dùng một Phật đạo tùy theo chúng phân biệt thuyết pháp cho họ, hoặc nói một loại, như nói rằng: Một đạo của chư Phật không hai. Lại nói hai loại là định, tuệ; hay nói ba loại là kiến, tuệ, trí; hay nói bốn loại là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo và Phật đạo… cho đến nói hai mươi đạo, đó là : Thập lực, tứ vô sở úy, đại từ, đại bi, niệm Phật tam-muội, tam chính niệm xứ. Này thiện nam, đạo này một thể, ngày xưa Như Lai vì chúng sinh phân biệt các thứ. Này thiện nam, ví như lửa là một nhưng do sự đốt cháy nên có các thứ tên gọi như: Lửa củi, lửa rơm, lửa trấu, lửa rạ, lửa phân trâu bò. Này thiện nam, Phật đạo cũng thế là một chứ không hai, vì chúng sinh nên phân biệt các thứ. Lại nữa thiện nam tử! Ví như chỉ có một thức mà phân biệt nói là sáu, như nơi mắt gọi là nhãn thức cho đến ý thức; cũng như vậy, thiện nam, đạo cũng như vậy là một chứ không phải hai, Như Lai vì giáo hóa chúng sinh nên phân biệt các thứ. Thiện nam, ví như một sắc tướng mắt thấy được gọi đó là sắc, tai nghe được gọi thinh, mũi ngửi được gọi là hương, lưỡi nếm được gọi là vị, thân nhận biết gọi là xúc. Này thiện nam, đạo cũng như thế, là một, chẳng phải hai, Như Lai vì muốn giáo hóa chúng sinh nên phân biệt các thứ. Này thiện nam, do nghĩa này nên bát Thánh đạo phần được gọi là đạo thánh đế. Này thiện nam, tứ thánh đế này chư Phật Thế Tôn lần lượt nói, nhờ nhân duyên này, vô lượng chúng sinh được vượt thoát sinh tử. Lại nói: Nếu nói thập thiện, thập ác có thể tạo ra hoặc không tạo đường lành, đường ác, bạch pháp, hắc pháp; phàm phu cho là hai pháp, bậc trí liễu đạt tính thiện ác vốn không hai. Tính không hai là thật tính”.

Kinh Đà-la-ni nói: “Không có tất cả các pháp, đây gọi là nhất tự pháp môn”. Kinh nói: “Ba đời chư Phật thuyết pháp, ta suốt bốn mươi chín năm chẳng nói một chữ. Chúng ta phải biết môn nhất tâm này hay làm thành tựu đạo vô thượng. Nếu là bậc thượng căn tiến thẳng vào, trọn không lập môn nào khác; còn bậc trung căn, hạ căn chưa vào nên phương tiện phân biệt các đạo. Thế nên chư Phật cùng một ý chỉ, hiền Thánh đều thầm qui hướng, tuy danh khác nhưng thể đồng là vì nhân duyên nên phân biệt còn thể tính hợp nhất.

Bát-nhã chỉ nói không hai; Pháp Hoa chỉ nói nhất thừa. Kinh Tịnh Danh nói không gì chẳng phải đạo tràng ; Niết-bàn nói đều qui về bí tạng; Thiên Thai nói chuyên cần tam quán. Giang Tây nêu thể toàn chân; Mã Tổ chủ trương tâm tức là Phật; Hà Trạch1 chỉ thẳng tri kiến.

Lại giáo có hai thuyết: 1- Là hiển liễu thuyết, 2- Là bí mật thuyết. Hiển liễu thuyết như các kinh Lăng Già, Mật Nghiêm v.v… và các luận như Khởi Tín, Duy Thức… Bí mật thuyết là căn cứ theo tông chỉ của kinh lập các tên gọi khác như kinh Duy-ma-cật lấy bất khả tư nghì làm tông; kinh Kim Cang lấy vô trụ làm tông, kinh Hoa Nghiêm lấy pháp giới làm tông, kinh Niết-bàn lấy Phật tính làm tông, tha hồ lập ra nghìn lối đều là nghĩa khác của nhất tâm. Vì sao ? Chân tâm diệu thể không còn hữu vô, trí không thể biết, lời nói không thể đến được, chẳng phải là cảnh giới tình thức suy lường được nên nói là bất khả tư nghì. Thể hư, tướng tịch, bặt đối đãi, linh thông, hiện pháp giới mà vô sinh, siêu việt ba thời mà không dấu vết, nên gọi là vô trụ, dọc suốt ba thời, ngang khắp mười phương, không giới hạn, không bờ mé nên nói pháp giới là gốc của muôn vật. Vì là chỗ khởi đầu của quần sinh, nơi phàm chẳng bớt, ở Thánh chẳng thêm, cái linh giác sáng rỡ thể ấy luôn như như nên gọi là Phật tính, hoặc gọi linh đài diệu tính, bảo tạng thần châu; đều là tên gọi khác của nhất tâm tùy duyên. Kinh nói: “Ba a-tăng-kỳ trăm nghìn danh hiệu đều là tên khác của Như Lai”, chỉ vì không biết phương tiện của chư Phật, mê danh, trước tướng, chạy theo hiểu biết trở thành sai lầm. Chỉ cần rõ được tông này, khoát nhiên không tịch, nào có danh tướng gì được trình bày; như nước mưa một vị của Long vương, tùy theo nghiệp thiện ác của trời, người, mỗi loài đều thấy mưa khác nhau.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ví như vua rồng Ta-kiệt-la muốn hiện Long vương với sức đại tự tại làm lợi ích chúng sinh và đem đến sự hoan hỷ. Từ cõi trời Tứ Thiên Vương cho đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại tới cõi đất này, ở tất cả chỗ mưa khác nhau như ở trong biển lớn mưa trong, nước lạnh, gọi là vô đoạn tuyệt; nơi cõi trời Tha Hóa Tự Tại mưa là tiếng nhạc, tiếng sáo gọi là mỹ diệu; nơi cõi trời Hóa Lạc mưa là ngọc báu ma-ni gọi là phóng đại quang minh; nơi cõi trời Đâu-suất mưa rơi xuống những vật báu trang nghiêm gọi là thùy kết; nơi cõi trời Dạ Ma mưa hoa vi diệu gọi là chủng chủng trang nghiêm vụ; nơi cõi Tam Thập Tam Thiên mưa các thứ diệu hương gọi là duyệt ý; nơi cõi trời Tứ Thiên Vương mưa thiên y ngọc báu gọi là phú cái; nơi Long Cung mưa trân châu màu đỏ gọi là dũng xuất quang minh; nơi cung A-tu-la mưa dao gậy gọi là hàng phục oán địch; nơi cõi Bắc Uất-đơn-việt mưa các thứ hoa gọi là khai phu. Còn ba nơi khác nhau cũng như vậy. Nhưng tùy theo nơi chốn mà mưa khác nhau tuy rằng tâm của Long vương bình đẳng không phân biệt, chỉ vì thiện căn của chúng sinh khác nhau nên mưa có khác. Một vị nước mưa của Long vương theo chỗ cảm của chư Thiên nên khác cũng như pháp môn nhất tâm của Phật theo nhận thức của chúng sinh nên có sai biệt”.

CHÚ THÍCH

  1. Hà Trạch Thần Hội (686-795) Thiền tăng đời Đường, người khai sáng tông Hà Trạch, họ Cao, người Tương Dương, Hồ Bắc, đệ tử đắc pháp của Lục Tổ Huệ Năng.