Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

TỊNH ĐỘ TÔNG

Hiển Mật Đỗ Hữu Trạch

LỜI GIỚI THIỆU

Gần hai chục năm nay, từ khi Tổ Đình Từ Quang, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới được thành lập, đạo hữu Hiển Mật Đỗ Hữu Trạch thường đến lễ Phật và tụng kinh đều đặn. Hơn nữa, đạo hữu cũng tích cực tham gia vào việc Hoằng Pháp. Ngoài những bài tham luận trong các khóa Nghiên Tu An Cư hàng năm, do Giáo hội tổ chức, đạo hữu Hiển Mật vẫn thường đóng góp, nói về Phật Pháp, sau thời thuyết giảng của Hòa Thượng Thượng Thủ, vào ngày chủ nhật.

Chúng tôi biết đạo hữu Hiển Mật là một Phật tử siêng năng nghiên cứu kinh sách và chịu khó tu tập. Trước đây, đạo hữu đã biên soạn ba cuốn Pháp Tuyển, Pháp Tuyển Tân Tu, Six Sermons du Boud dha và dịch quyển Chià Khoá Học Phật của Thiền sư Thích Thanh Từ sang tiếng Anh, dưới tựa đề The Key to Buddhism. Nay đạo hữu lại lựa chọn vài bài nói chuyện về pháp môn niệm Phật của mình, xếp đặt và chỉnh đốn lại để in thành sách.

Chúng tôi, trong ban Hoằng Pháp của Tổ Đình, vô cùng hoan hỷ thấy công việc đã hoàn mãn, với 18 bài. Mỗi bài có một chủ đề rõ ràng, lời văn ngắn gọn và dễ hiểu.   

Chúng tôi xin ca ngợi việc làm của đạo hữu Hiển Mật và trân trọng giới thiệu với đọc giả, như một thiện duyên để tìm hiểu về pháp môn niệm Phật, hoặc như những lời khuyến tấn để kiên trì tu tập.

Chúng tôi tin rằng quý vị sẽ được lợi lạc với cuốn sách này.

Tổ Đình Từ Quang, ngày 06 tháng 03 năm 2006

Hoằng Hữu Nguyễn Văn Phú

 

LỜI TỰA

Tôi có một người bạn cùng tu tịnh nghiệp. Ngoài việc làm Phật sự tại các chùa, thường hay niệm Phật cầu sinh Cực Lạc. Bạn tôi rất thích đọc kinh và nghe Pháp, nên tôi cứ nghĩ là anh đã thông hiểu pháp môn Tịnh Độ. Nhưng không dè, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, bạn tôi lại lo lắng than, chưa đạt nhất tâm và sợ sẽ không được vãng sinh Cực Lạc!

Là tín đồ Tịnh Độ mà khi chết lại hồ đồ như thế thì thực là đáng tiếc!

Thực ra, nếu đạt được nhất tâm thì rất quí. Nhưng nếu chưa đạt được nhất tâm thì cũng không nên vì thế mà chán nản hay bỏ cuộc. Tại sao? Vì điều kiện tất yếu để được về Cực Lạc không phải là niệm Phật đến độ nhất tâm! Tại sao? Vì Cực Lạc vốn là một Phật Học Viện rất lớn, lớn đến độ có thể thâu nhận tất cả những người cầu sinh về đó. Hơn nữa, ở Cực Lạc lại có đủ chín phẩm, từ thấp đến cao, để thích ứng với trình độ của mỗi người. Do đó, muốn về Cực Lạc không cần phải có những thành tích xuất sắc, như tịnh nghiệp hoặc nhất tâm, mà chỉ cần tin tưởng có cõi Cực Lạc và tha thiết nguyện sinh về đó.

Người có tín sâu, nguyện thiết, lại chịu khó niệm Phật, thì dù tội nặng, tâm loạn cũng được vãng sinh về phẩm trật xứng hợp với đạo hạnh của mình. Bậc phát tâm bồ đề, tinh thông Phật pháp, lại sạch nghiệp, không tình thì sẽ được đón về Thượng phẩm thương sinh. Người chỉ biết Phật hiệu và cõi Cực Lạc, lại tội nhiều, công ít thì được đưa về Hạ phẩm hạ sinh. Ai không thuộc hai diện nói trên thì sẽ được chuyển qua bẩy phẩm còn lại.

Nói như vậy, không có nghiã là không cần chuyên tâm niệm Phật, mà chỉ muốn nhắc nhở chúng ta rằng, phải tha thiết nguyện sinh Cực Lạc. Tại sao? Vì muốn được vãng sinh, phải có tín, nguyện. Còn muốn cầu Phật đạo, phải đạt nhất tâm.

Tiếc rằng có nhiều tín hữu chưa rõ lý này, nên tôi mới phát tâm gom góp một số bài nói chuyện của tôi về môn niệm Phật và ba nghi thức tụng niệm thịnh hành tại Gia Nã Đại, soạn thành cuốn “Tịnh Độ Tông” này, ngưỡng mong có thể giúp ích ít nhiều cho bạn đồng tu.

Montréal, ngày 16-02-2006

Hiển Mật Đỗ Hữu Trạch   

 

TỊNH ĐỘ TÔNG

Tịnh Độ là một tông phái Đại thừa chuyên dậy đệ tử niệm Phật A Di Đà để cầu sinh Cực Lạc. Tông này được xây dựng trên ba bộ kinh: Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, Phật Thuyết A Di Đà Kinh và Vô Lượng Thọ Phật  Kinh.

Kinh Vô Lượng Thọ Phật kể lại 48 lời nguyện của Phật A Di Đà và những công đức của người niệm Phật. Trong khi Phật Thuyết A Di Đà Kinh dậy cách trì danh niệm Phật và Kinh Quán Vô Lượng Thọ giảng môn quán tưởng niệm Phật.

Môn quán tưởng dành cho những người có trí nhớ tốt lại nhiều tưởng tượng, rất thích hợp với giới trẻ. Còn những người tuổi tác cao, trí nhớ kém thì nên chọn pháp trì danh.

Trì là giữ; Danh là tên. Trì danh niệm Phật là tưởng nhớ đến Phật bằng cách nhắc đi, nhắc lại tên Ngài.

Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh, đức Thích Ca đã dậy: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà mà phát lòng tin, niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn thì khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng Thánh Chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc. ”

Câu này có ba ý chính là:

  1. Phát được lòng tin, nên niệm danh hiệu Phật.
  2. Một lòng không loạn, nên thấy Phật hiện ra
  3. Tâm không điên đảo, nên được về Cực Lạc.

Trước hết phát được lòng tin là chấp nhận có cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà và muốn được Phật A Di Đà đón về Cực Lạc thì phải chú ý niệm danh hiệu của Ngài đến độ một lòng không loạn.

Thế nào là “một lòng không loạn?” Một lòng không loạn là chỉ nhớ đến Phật, ngoài ra không nghĩ gì nữa! Nếu có thể niệm Phật đến độ một lòng không loạn thì lúc chết chắc chắn sẽ thấy Phật hiện ra. Nhưng thấy Phật là một chuyên, còn được vãng sinh hay không lại là chuyện khác. Tại sao? Vì điều kiện vãng sinh Cực Lạc là “tâm không điên đảo.”

Vậy “Tâm không điên đảo” là gì? Tâm không điên đảo là chỉ cầu vãng sinh chứ không xin gì khác. Nếu niệm Phật để mong học giỏi, đậu cao, thăng quan, phát tài, vợ hiền, con thảo thì theo Phật đó chỉ là chuyện điên đảo mà thôi! Tại sao vậy? Vì công đức niệm Phật rất quí, nếu dùng vào việc thế tục thì chẳng khác gì người điên đem hạt kim cương đổi bánh mà ăn! Thật là dại dột.

Thực ra, muốn được vãng sinh Cực Lạc thì chỉ cần tín sâu, nguyện thiết, đúng theo tinh thần của câu: “Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật! Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thì nên Phát nguyện sinh về Cực Lạc!”

Nhưng, nếu lại muốn được Phật đến đón và thuyết pháp cho, người niệm Phật phải hội đủ ba điều kiện là: Phát được lòng tin (tín), một lòng không loạn (hạnh) và tâm không điên đảo (nguyện).

Muốn phát được lòng tin, thì phải chí thành ca ngợi công đức của Phật A Di Đà mà cụ thể nhất là đọc kinh A Di Đà hoặc đọc một trong hai bài kệ tán thán sau:

Bài thứ nhất:
Thân Phật Di Đà mầu vàng ròng,
Cực kỳ đẹp đẽ, lại trang nghiêm.
Bạch hào uyển chuyển như năm núi.
Hai mắt trong xanh tựa biển khơi.
Trong hào quang hiện nhiều hóa Phật,
Hóa bồ tát chúng cũng vô biên.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh.
Chín phẩm, hàm linh lên giải thoát.

Bài thứ hai:
Quang, Thọ khó suy lường,
Sáng lặng khắp mười phương.
Thế Tôn Vô lượng Quang,
Cha lành cõi Liên Bang,
Thần lực chẳng tư nghì,
Sống lâu a tăng kỳ.
A Di Đà Như Lai,
Tiếp dẫn lên Liên Đài.
Cực Lạc cõi thuần tịnh,
Công đức lạ trang nghiêm.
Nơi tất cả quần sinh,
Vượt lên ngôi Bất Thoái.
Mười phương hằng sa Phật,
Đều ngợi khen Vô Lượng.
Cho nên con một lòng,
Nguyện sinh về An Dưỡng.

Muốn một lòng không loạn thì phải chuyên cần niệm “Nam mô A Di Đà Phật” khiến cho tâm và Phật luôn luôn khế hợp với nhau.

Muốn tâm không điên đảo thì phải thiết tha phát nguyện. Văn phát nguyện rất nhiều, chúng ta nên tự chọn lấy một bài thật vừa ý mà đọc. Tiện đây, tôi xin giới thiệu hai bài điển hình :

1. Bài thứ nhất, tuy ngắn nhưng đủ nghiã là: “Qui mạng lễ A Di Đà Phật ở phương Tây, thế giới an lành. Con nay xin phát nguyện vãng sinh. Mong đức Từ Bi thương tiếp độ.”

2. Bài thứ hai hơi dài, nhưng rất hay: “Đệ tử chúng con lâu đời, lâu kiếp vì tính hôn mê chẳng kể chính, tà gây nên đủ tội, thập ác, ngũ nghich, báng Pháp, hại người, phá giới, phạm trai, huỷ họai chùa tháp, trộm của tăng kỳ, bức người tịnh hạnh, sâm tổn thường trụ, đồ vật thức ăn.v.v…

Hôm nay một dạ chí thành sám hối, chuyên tâm xưng niệm hồng danh muôn đức Phật A Di Đà cầu sinh Cực Lạc. Nguyện Phật từ bi thường lai gia hộ, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng tịnh nhân và khi lâm chung biết ngày giờ trước. Thân không tật bệnh, tâm không phiền não, sáu căn thanh tịnh, chính niệm phân minh, bỏ báo an lành như vào thiền định. Phật và thánh chúng tay bưng đài vàng đến tiếp dẫn con. Trong khoảng sát na con về Cực Lạc. Hoa nở thấy Phật, nghe tiếng Pháp mầu, đắc Bồ tát đạo, quảng độ chúng sinh đồng thành chủng trí. “

Măc dù cốt tuỷ của pháp môn này là Tán thán, Phát nguyện và Tụng niệm, nhưng nghi thức Niệm Phật thông thường ít ra cũng có năm phần là :

  1. TÁN THÁN để củng cố đức tin ở Phật.
  2. LỄ BÁI để tỏ lòng tôn kính Tam Bảo.
  3. PHÁT NGUYỆN để sác định mơ ước của mình.
  4. TỤNG NIỆM để thành tựu vô lượng công đức.
  5. HỒI HƯỚNG để vận dụng công đức tụng niệm vào việc thực hiện những gì mơ ước, mà đặc biệt là giúp cho tất cả chúng sinh đều cùng được về Cực Lạc với mình.

Niệm Phật vừa an toàn, vừa dễ tập. Nhưng tiếc thay chỉ có hai loại người hưởng được mà thôi :

  1. Những người hồn nhiên và chất phác. Nghe nói niệm Phật có lợi là họ tin ngay và tu liền.
  2. Những người thượng căn, đại trí có duyên với tông Tịnh Độ, nên ngay từ đầu, họ đã bỏ được những chấp trước thông thường của thế gian mà hành Đạo.

Còn phần đông chúng ta, đã hay nghi lại thích cãi, nên chẳng những không học được đến nơi đến chốn, mà cứ băn khoăn thắc mắc về hai luồng tư tưởng tuy chân thành nhưng đầy mâu thuẫn là:

  1. Tư tưởng khích lệ của các tín đồ Tịnh Độ, họ cổ võ là có Cực Lạc và phải niệm Phật để cầu vãng sinh.
  2. Tư tưởng chống báng của các đệ tử Thiền Tông. Những người này chủ trương: “Phật tức là tâm, tâm tức là Phật.”  Do đó, chẳng có gì phi lý hơn là đem tâm niệm Phật để cầu vãng sinh.  

Thấy các thầy tranh cãi như vậy, nên chúng ta ai nấy đều thắc mắc. Chính vì vậy mà không thể yên tâm niệm Phật như những người hồn nhiên, chất phác hay các bậc thượng căn, đại trí được.

Thực ra, chúng ta phải biết rằng: Tất cả các pháp đều do tâm mình tạo ra. Lúc tâm tĩnh thì không có Cực Lạc, không có thiên đường, không có nhân gian, không có địa ngục. Nhưng khi tâm động thì hoặc là Cực Lạc, hoặc là thiên đường, hoặc là nhân gian, hoặc là địa ngục. Cũng như cái máy truyền hình, hễ tắt đi thì không có ảnh, còn bật lên liền thấy đầy hình. Hình ảnh rất nhiều và mỗi đài mỗi khác. Dở hay hay đều tuỳ ở người xem.

Hiểu được lý này thì còn gì để thắc mắc nữa? Tất cả đều do mình lựa chọn : Một là ngưng suy nghĩ để nhập chân không, hai là tu tịnh nghiệp để về Cực Lạc, ba là làm việc lành để lên thiên đường, bốn là chịu nhẫn nhục để ở nhân gian, năm là tạo điều ác để xuống địa ngục v.v…

Nói tóm lại, lúc tâm tĩnh gọi là chân không, khi tâm động kêu là diệu hữu. Chân không chỉ có một, còn diệu hữu thì rất nhiều! Muốn về Cực Lạc, nghe Phật thuyết Pháp thì phải lo niệm Phật Di Đà và phát nguyện vãng sinh!

Montréal, viết ngày 20-07-1995

Bổ túc thêm ngày 19-12-2005

 

48 LỜI NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ

Khi còn là tỳ kheo tu hạnh bồ tát, ngài Pháp Tạng, tiền thân của Phật A Di Đà, đã đến trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai phát bốn mươi tám đại nguyện sau đây để cứu độ chúng sinh:

1. Giả sử con được thành Phật, nếu trong nước con còn có địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác .

2. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con, sau khi chết đi, còn phải đọa vào ba đường ác, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

3. Giả sử con được thành Phật, nếu thân thể của hàng trời, người ở trong nước con chẳng toàn mầu vàng ròng, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

4. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con hình sắc chẳng đồng, xấu, đẹp khác nhau, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

5. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng có túc mệnh thông, ít ra là chẳng nhớ được những việc trong trăm ngàn muôn ức kiếp về trước, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

6. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng có thiên nhãn thông, ít ra là chẳng thấy được trăm ngàn muôn ức cõi Phật, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

7. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng có thiên nhĩ thông, ít ra là chẳng nghe thấy trăm ngàn muôn ức đức Phật thuyết Pháp và thụ trì trọn vẹn được, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

8. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng có tha tâm thông, ít ra là chẳng đọc được ý nghĩ của các chúng sinh trong trăm ngàn muôn ức cõi Phật, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

9. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng có thần túc thông, ít ra là trong khoảng một niệm chẳng đi được trăm ngàn muôn ức cõi Phật, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

10. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con còn động lòng tham, mưu tính lợi riêng, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

11. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng trụ chính định mãi cho tới lúc chứng được Niết Bàn, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

12. Giả sử con được thành Phật, nếu ánh sáng của con còn có hạn lượng, ít ra là chẳng chiếu thấu trăm ngàn muôn ức cõi Phật, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

13. Giả sử con được thành Phật, nếu tuổi thọ của con còn có hạn lượng, ít ra là chẳng dài đến trăm ngàn muôn ức kiếp, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

14. Giả sử con được thành Phật, nếu có người tính đếm được số lượng Thinh văn ở trong nước con, hoặc nếu tất cả chúng sinh trong cõi tam thiên đại thiên đều tu thành bậc Duyên giác, cùng nhau tính đếm trong trăm ngàn kiếp mà biết được số lượng Thinh văn ấy, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

15. Giả sử con được thành Phật, tuổi thọ của hàng trời, người ở trong nước con sẽ không có hạn lượng, trừ khi họ có bản nguyện riêng, dài, ngắn tự tại tuỳ theo ý muốn. Nếu chẳng như thế con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

16. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con còn nghe thấy một tiếng ác, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

17. Giả sử con được thành Phật, nếu chư Phật ở vô lượng thế giới trong mười phương chẳng khen ngợi và xưng tán danh hiệu của con, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

18. Giả sử con được thành Phật, nếu chúng sinh ở mười phương, ngoại trừ những kẻ phạm năm tội nghịch và chê bai Chính Pháp, một lòng tin ưa, muốn về nước con, xưng danh hiệu con, trong vòng mười niệm mà chẳng vãng sinh, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

19. Giả sử con được thành Phật, nếu chúng sinh ở mười phương phát bồ đề tâm, tu tập công đức, chí tâm phát nguyện sinh về nước con, mà trong lúc chết, không thấy con và đại chúng hiện ra trước mắt, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

20. Giả sử con được thành Phật, nếu chúng sinh ở trong mười phương nghe danh hiệu con, nghĩ đến nước con, vun trồng công đức, chí tâm hồi hướng, cầu được vãng sinh mà chẳng toại ý, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

21. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con, chẳng có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

22. Giả sử con được thành Phật, các hàng bồ tát ở phương khác sinh về nườc con, rốt cục đều sẽ thành bậc Nhất sinh bổ xứ. Ngoại trừ những người do bản nguyện riêng mà hoá hiện đến. Họ vì chúng sinh mang lời thề lớn: Chứa nhóm công đức, cứu vớt muôn loài, đến nhiều cõi Phật tu hạnh bồ tát, cúng dường các đức Như Lai ở khắp mười phương, khai hoá chúng sinh nhiều như cát ở sông Hằng. Rồi nhân cơ hội, lập đạo Chính nhân cao hơn hết thẩy các lối tu luyện thông thường để cùng tất cả tập hạnh Phổ Hiền. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

23. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở trong nước con nương theo thần lực của Phật để đi cúng dường các đức Như Lai, nếu trong khoảng một bữa ăn mà chẳng đến được trăm ngàn muôn ức cõi Phật, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

24. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở trong nước con đứng trước chư Phật biểu hiện công đức, nếu chẳng có đầy đủ lễ vật cần dùng để cúng dường các đức Như Lai đúng như ý muốn, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

25. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng bồ tát ở trong nước con không thể diễn nói về nhất thiết trí, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

26. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng bồ tát ở trong nước con chẳng có thân kim cương bền chắc, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác,

27. Giả sử con được thành Phật, hàng trời, người cùng muôn vật ở trong nước con thẩy đều đẹp đẽ, trong sạch, rạng rỡ và có hình sắc đặc thù, tinh vi, huyền diệu, không ai có thể suy lường được. Ngay người có thiên nhãn thông cũng không thể phân biệt rõ ràng danh hiệu và số lượng của chúng. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

28. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở trong nước con, ngay cả những vị công đức còn ít ỏi, cũng đều trông thấy cây đạo tràng cao bốn trăm vạn dậm vô lượng mầu sắc, vô lượng ánh sáng. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

29. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng bồ tát ở trong nước con đọc tụng, thụ trì, diễn nói Phật Pháp mà lại chẳng có trí tuệ và tài hùng biện, con nguyên không giữ lấy ngôi Chính Giác.

30. Giả sử con được thành Phật, nếu có người hạn lượng được trí tuệ và tài hùng biện của hàng bồ tát ở trong nước con, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

31. Giả sử con được thành Phật, nước con thanh tịnh soi rõ vô lượng, vô số bất khả tư nghì  cõi Phật trong mười phương, như gương sáng phản chiếu bóng mặt. Nếu chẳng như thế con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

32. Giả sử con được thành Phật, ở trong nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa v.v… tất cả muôn vật đều do vô lượng châu báu cùng các thứ hương thơm kết thành, trang trí tốt đẹp hơn hẳn các cõi trời và người. Mùi thơm của những vật ấy xông khắp các quốc độ trong mười phương, bồ tát nào ngửi được hương ấy, thời đều tu hạnh Như Lai. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

33. Giả sử con được thành Phật, tất cả chúng sinh ở vô lượng bất khả tư nghì cõi Phật trong mười phương được ánh sáng của con chiếu vào thì thân và tâm của kẻ ấy liền được hòa dịu hơn hàng trời, người. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

34.Giả sử con được thành Phật, nếu chúng sinh ở vô lượng bất khả tư nghì cõi Phật trong mười phương, nghe thấy danh hiệu của con mà chẳng chứng được vô sinh pháp nhẫn và các môn tổng trì mầu nhiệm của hàng bồ tát, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

35. Giả sử con được thành Phật, phụ nữ ở vô lượng bất khả tư nghì cõi Phật trong mười phương nghe thấy tên con, vui mừng tin ưa, phát bồ đề tâm, nhàm chán thân gái. Nếu sau khi chết còn thọ thân gái trở lại, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.  

36. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở vô lượng bất khả tư nghì cõi Phật trong mười phương nghe được tên con, thì sau khi chết sẽ tiếp tục tu hạnh thanh tịnh mãi cho đến lúc thành Phật. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

37. Giả sử con được thành Phật, ở vô lượng bất khả tư nghì cõi Phật trong mười phương, hễ trời hoăc người nào nghe được tên con, gieo mình xuống đất, cúi đầu làm lễ, vui mừng tin ưa, tu hạnh bồ tát thì tất cả trời và người đều sẽ kính trọng kẻ đó. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Gíác.

38. Giả sử con được thành Phật, hàng trời, người ở trong nước con muốn có quần áo thì những quần áo tốt đẹp đúng pháp của Phật ngợi khen liền sẽ tuỳ niệm hiện ra trên thân. Nếu còn cần phải cắt, may, nhuộm, giặt, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

39. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng trời, người ở trong nước con chẳng đươc sung sướng bằng bậc lậu tận tỳ kheo, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

40. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở trong nước con muốn thấy vô lượng cõi Phật trong mười phương thì tự nhiên những tịnh độ ấy liền hiện ra ở trong cây báu rõ ràng đúng như ý muốn, chẳng khác gì bóng mặt hiện ra trong gương. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

41. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con thì từ lúc đó đến khi thành Phật, nếu sáu căn của người ấy còn bị hư, xấu hoặc chẳng đầy đủ, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

42. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con thẩy đều thành tựu chính định Giải Thoát. Trụ vào định đó, trong khoảng một niệm, liền cúng dường được vô lượng bất khả tư nghì đức Phật mà vẫn không mất định tâm. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

43. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con thì sau khi chết sẽ được sinh vào các nhà tôn quí. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

44. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con, vui mừng hớn hở tu hạnh bồ tát thì sẽ được đầy đủ cội đức (các công đức căn bản). Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

45. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con thẩy đều thành tựu chính định Phổ Đẳng. Trụ vào định đó đến lúc thành Phật, thường thấy vô lượng bất khả tư nghì Như Lai. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

46. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở trong nước con muốn nghe Pháp chi thì tự nhiên được ngay Pháp đó. Nếu chẳng như thế, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

47. Giả sử con được thành Phật, nếu hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con mà chẳng được ngay bậc Bất Thoái Chuyển, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

48. Giả sử con được thành Phật, hàng bồ tát ở phương khác nghe thấy danh hiệu của con, mà chẳng được ngay đệ nhất, đệ nhị và đệ tam Pháp nhẫn, cũng như không được bất thoái nơi đạo Vô thượng, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính Giác.

Ngài Pháp Tạng nay đã thành Phật, hiệu là A Di Đà, hiện ở Cực Lạc cách đây mười muôn ức cõi về phiá chính Tây.   

Trích Vô Lượng Thọ Phật Kinh

 

CHÚ THÍCH

Chiếu theo lời nguyện thứ 18, nếu không phạm năm tội nghịch và không chê bai Chính Pháp, thì khi lâm chung chúng ta chỉ cần niệm mười câu Phật hiệu là được vãng sinh. Lời nguyện này nhắm vào cận tử nghiệp, tức là hành động, lời nói và tư tưởng của chúng ta trong lúc hấp hối. Nhưng khó có thể tin vào cận tử nghiệp, vì nếu chưa đạt được nhất tâm, thì không ai có thể chắc chắn rằng vào lúc lâm chung, mình vẫn còn đủ sáng suốt để mà niệm Phật, cầu sinh Cực Lạc!

Do đó, người khôn ngoan và cẩn thận thường dựa vào lời nguyện thứ 19 hay lời nguyện thứ 20 để tạo cho mình một thói quen kiên cố, gọi là tập quán nghiệp, đặng bảo đảm việc vãng sinh.

Chiếu theo lời nguyện thứ 19, hàng ngày chúng ta phải phát tâm bồ đề, tu tập công đức, chí tâm phát nguyện sinh về Cực Lạc. Nói như vậy, có nghiã là công đức thì tuỳ theo sức mình mà tu. Người nhiều, kẻ ít, không bắt buộc phải giống nhau. Nhưng phát nguyện thì nhất định phải chí tâm mà làm. Muôn người như một, không thể sai khác!

Chiếu theo lời nguyện thứ 20, chúng ta không cần phát tâm bồ đề, mà chỉ cần hàng ngày tuỳ theo sức mình vun trồng công đức, chí tâm hồi hướng cầu được vãng sinh. Đây quả là một pháp môn rất độc đáo vừa đơn giản vừa dễ tu!

 

ĐIỀU KIỆN VÃNG SINH CỰC LẠC

“Trong lúc cầu nguyện, chúng ta tạo ra một lực, gọi là nguyện lực. Nếu nguyện  lực này mạnh hơn nghiệp lực, thì điều mình cầu sẽ thành hiện thực.”

Hàng tuần chúng ta đến chùa, đọc kinh, niệm Phật, nghe Pháp và sau cùng là hồi hướng công đức xin về Cực Lạc. Việc này chúng ta đã làm rất nhiều lần đến độ nó đã trở thành thói quen và chúng ta vẫn hằng tin tưởng rằng cứ tiếp tục như vậy mãi, nhất định sẽ được vãng sinh.

Nhưng gần đây, có nhiều người quả quyết rằng “Muốn về Cực Lạc thì phải niệm Phật đến độ nhất tâm.” khiến cho một số tín hữu hoang mang, lo ngại.

Hôm nay có duyên gặp được quí vị, tôi xin mạn phép góp ý với những người hiện đang thắc mắc về câu nói trên.

Câu nói này thiếu mệnh đề phụ đi theo, nên không thể nói là đúng và cũng không thể bảo là sai. Thực vậy, không thể bảo là sai, vì nó thực sự đã được trích ra từ kinh A Di Đà. Nhưng cũng không thể nói là đúng, vì nó trái với lý Tịnh Độ. Tại sao vậy? Vì pháp môn Tịnh Độ vốn có thể cứu vớt được tất cả những người thành tâm muốn về Cực Lạc, không kể căn cơ cao hay thấp. Do đó, nếu chỉ độ được những người niệm Phật đến độ nhất tâm thôi, thì Tịnh Độ không còn là Tịnh Độ nữa!

Muốn biết câu này đúng khi nào và sai khi nào, chúng ta phải đọc lại Kinh sách của Tịnh Độ Tông.

Điều kiện vãng sinh Cực Lạc được nêu ra trong ba cuốn kinh chính của Tịnh Độ Tông là:

1. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, do Hoàng Hậu Vi Đề Hy (Vaidehi), một tín nữ tại gia và cũng là mẹ của ông Hoàng ngỗ nghịch A Xà Thế (Ajâtasatru) giết cha, giam mẹ thỉnh Phật nói ra.  

2. Vô Lượng Thọ Phật Kinh do ông A Nan, một  đệ tử xuất gia, thỉnh Phật nói ra.

3. Phật Thuyết A Di Đà Kinh, mà chúng ta thường gọi tắt là Kinh A Di Đà, do đức Phật giảng cho ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất, một người chuyên tu chỉ quán, có cả giới hạnh và định lực.

Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, thì Thánh chúng ở trên Cực Lạc được chia làm chín bậc là: Thượng phẩm thượng sinh, thượng phẩm trung sinh, thượng phẩm hạ sinh, trung phẩm thượng sinh, trung phẩm trung sinh, trung phẩm hạ sinh, hạ phẩm thượng sinh, hạ phẩm trung sinh và hạ phẩm hạ sinh.

1. Bậc thượng phẩm thượng sinh gồm những chúng sinh có ba thứ tâm là chí thành tâm, thâm tâmhồi hướng phát nguyện tâm. Những chúng sinh này gồm có ba loại: Một là bậc có đầy đủ giới hạnh, hai là đọc tụng kinh điển Đại thừa, ba là tu hành sáu niệm, hồi hướng phát nguyên, nguyện sinh Cực Lạc, làm công đức ấy từ một cho đến bẩy ngày, liền được vãng sinh.

2. Bậc thượng phẩm trung sinh, gồm các chúng sinh tuy chẳng thọ trì, đọc tụng kinh điển Đại thừa, nhưng khéo hiểu nghiã lý, tin sâu nhân quả, chẳng nhạo báng Pháp, dùng công đức ấy hồi hướng nguyện sinh Cực Lạc.

3. Bậc thượng phẩm hạ sinh, gồm những chúng sinh cũng tin nhân quả, chẳng nhạo báng Pháp, nhưng chỉ phát tâm cầu đạo vô thượng, rồi dùng công đức ấy hồi hướng nguyện sinh Cực Lạc.

4. Bậc trung phẩm thượng sinh gồm những chúng sinh thọ năm giới cấm, trì tám giới trai, tu hành các giới, chẳng phạm năm nghịch, chẳng có lỗi lầm, dùng căn lành ấy hồi hướng nguyện sinh Cực Lạc.

5. Bậc trung phẩm trung sinh gồm những chúng sinh một ngày một đêm trì tám giới trai, một ngày một đêm trì giới sa di, một ngày một đêm trì giới tỳ kheo, dùng công đức ấy hồi hướng nguyện sinh Cực Lạc.

6. Bậc trung phẩm hạ sinh gồm những thiện nam, tín nữ hiếu thảo, hiền lương, phụng dưỡng cha mẹ, làm chuyện nhân từ. Đến lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức nói về quốc độ của Phật A Di Đà cùng 48 lời nguyện của Ngài Pháp Tạng. Nghe chuyện ấy rồi, thần lìa khỏi xác, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc.

7. Bậc hạ phẩm thượng sinh gồm những chúng sinh, tuy chẳng gièm pha Chính Pháp, nhưng đã tạo nhiều nghiệp dữ. Đến lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức nói cho tên của 12 bộ kinh Đại thừa và khuyên xướng tên Phật A Di Đà. Nhờ nghe tên kinh trừ hết những nghiệp rất nặng trong một ngàn kiếp và nhờ xướng tên Phật trừ hết các tội trong năm mươi ức kiếp sinh tử, nên mới được vãng sinh Cực Lạc.

8. Bâc hạ phẩm trung sinh gồm những chúng sinh không những phạm năm giới cấm, tám giới trai và giới cụ túc, mà còn trộm của tăng kỳ và giảng tà thuyết. Tội đáng đọa vào điạ ngục. Nhưng lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức nói về mười lực, hào quang và thần thông của Phật A Di Đà cùng các pháp như Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Người ấy nghe rồi, liền trừ được những tội của tám mươi ức kiếp sinh tử, trong khoảng một niệm liền được vãng sinh trong đóa hoa sen ở ao thất bảo.

9. Bậc hạ phẩm hạ sinh gồm những người phạm năm tội nghịch, mười tội ác và làm đủ các việc chẳng lành, lẽ ra phải đọa ác đạo thọ khổ nhiều kiếp. Nhưng lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức giảng giải Pháp mầu, khuyên nhớ đến Phật. Người ấy bị khổ bức bách, chẳng rảnh để nhớ đến Phật. Bấy giờ, thiện tri thức mới thúc dục hắn chí tâm niệm  “Nam mô A Di Đà Phật.” được đủ mười lần liên tục chẳng dứt. Nhờ xướng tên Phật mười lần liên tục chẳng dứt, nên trong lúc niệm trừ hết các tội trong tám mươi ức kiếp sinh tử và được vãng sinh Cực Lạc.

Thánh chúng ở Cực Lạc gồm chín bậc. Chín bậc này rút lại thành ba phẩm. Và theo kinh Vô Lượng Thọ Phật thì điều kiện vãng sinh về mỗi phẩm của những người không phạm năm tội nghịch và chê bai Chính Pháp là:

1. Về thượng phẩm gồm những vị lìa nhà bỏ dục, đi làm sa môn, phát tâm bồ đề, một bề chuyện niệm (nhất hướng chuyên niệm) Phật Vô Lượng Thọ, tu tập công đức, nguyện sinh về nước của Ngài. Những chúng sinh này, trước lúc qua đời, thấy Phật Vô Lượng Thọ và hàng thánh chúng hiện ra trước mắt, tức thì theo Phật sinh về Cực Lạc.

2. Về trung phẩm gồm hàng trời, người sống ở các thế giới trong mười phương, chí tâm phát nguyện sinh về Cực Lạc. Tuy chẳng làm được sa môn, chẳng tu công đức lớn, nhưng phát bồ đề tâm, một bề chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ và tuỳ sức mình làm việc phúc thiện, phụng trì trai giới, đúc tượng, xây tháp, nuôi dưỡng sa môn, treo phướn, thắp đèn, rẩy hoa, đốt hương. Dùng công đức ấy hồi hướng nguyện sinh Cực Lạc. Những chúng sinh này, ngay lúc qua đời, thấy Hoá thân Phật đầy đủ tướng chính và các tướng phụ y như Phật thiệt cùng các thánh chúng hiện ra trước mắt, tức thì theo đức Hóa Phật  vãng sinh về nước của Ngài.

3. Về hạ phẩm gồm hàng trời, người sống ở các thế giới trong mười phương chí tâm muốn về Cực Lạc, tuy chẳng làm được công đức, nhưng

4. hoặc phát bồ đề tâm, một bề chuyên ý (nhất hướng chuyên ý), cho chí mười niệm, niệm Phật Vô Lượng Thọ, nguyện cầu sinh về cõi nước của Ngài.

5. hoặc nghe Chính Pháp, hoan hỷ tin theo, chẳng hề nghi hoặc, cho chí một niệm, niệm Phật Vô Lượng Thọ, đem lòng chí thành nguyện sinh về nước của Ngài.

Những chúng sinh ấy, vào lúc qua đời, mộng thấy đức Phật cũng được vãng sinh.

Kinh A Di Đà không nói đến chín bậc, ba phẩm, mà chỉ đề cập tới hai trường hợp rất đặc biệt:

1. Một là trường hợp của những người sẵn có định lực, phát tâm bồ đề, niệm danh hiệu Phật cầu sinh thượng phẩm. Điều kiện vãng sinh của những người này, được đức Thích Ca tóm lược như sau: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà, mà phát lòng tin, niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện thân trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực lạc.”

2. Hai là trường hợp của những người không phạm trọng tội, bỏ ác, làm lành, niệm danh hiệu Phật, cầu sinh Cực Lạc. Điều kiện vãng sinh của những người này, cũng được đức Phật nói rõ ràng rằng: “Này Xá Lợi Phất! Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật! Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.”

Thực vậy, niệm Phật đến độ nhất tâm là đìều kiện vãng sinh của người thượng căn, phát bồ đề tâm cầu sinh thượng phẩm. Tại sao? Vì nếu niệm Phật đến độ nhất tâm thì sẽ tịnh được ý căn. Tịnh được ý căn thì thân và miệng sẽ tịnh theo. Tịnh hết thân, miệng và ý, gọi là đầy đủ giới hạnh, là đáng bậc sa môn. Người thượng căn phát bồ đề tâm, đem công đức nhất tâm niệm Phật hồi hướng cầu sinh Cực Lạc, thì nhất định sẽ được sinh về thượng phẩm.      

Còn như không thể niệm Phật đến độ nhất tâm, mà chỉ chí thành phát nguyện sinh về Cực Lạc, thì người bình thường, không phạm trọng tội, thường tùy sức mình, làm việc phúc thiện, cũng được toại ý.

Nói như vậy, câu “Muốn về Cực Lạc thì phải niệm Phật đến độ nhất tâm” đúng, đúng cho những người thượng căn phát tâm bồ đề cầu về thượng phẩm. Nó cũng lại đúng cho kẻ đại ác, phạm mười điều dữ và năm tội nghịch muốn về Cực Lạc. Và nó còn đúng cho cả những người hiền lương muốn được thấy Phật trong khi tịnh niệm hoặc lúc mộng mơ.

Còn riêng những người không phạm trọng tội, không ý trèo cao, chỉ muốn sinh về Cực Lạc phẩm nào cũng được, thì việc tu tập lại rất đơn giản. Chỉ cần chúng ta phát tâm bồ đề, tuỳ theo sức mình làm điều phúc thiện, mà đặc biệt là chú ý niệm Phật, lắng tai nghe lấy tiếng niệm của mình. Dùng công đức ấy tha thiết cầu sinh Cực Lạc.

Điều khó khăn của pháp môn này là phải điều phục cho được ba tên phá rối. Một là giải đãi, hai là phóng dật, ba là hôn trầm.

  1. Giải đãi là không cố gắng, là lười biếng, bỏ bê công việc khi gặp khó khăn. Thí dụ: Trong lúc niệm Phật, bỗng thấy tê chân, liền bỏ khoá lễ, khất lại hôm khác.
  2. Phóng dật là không chuyên cần, là buông thả,  mặc cho thuận cảnh và vọng tưởng lôi kéo. Thí dụ: Trong lúc niệm Phật chợt có khách tới, liền bỏ khoá lễ chạy ra góp chuyện.
  3. Hôn trầm là tâm không tỉnh táo, thân không linh hoạt. Biểu hiện đơn giản nhất của hôn trần là buồn ngủ.

Nếu có thể điều phục được ba tên phá rối này, thì dù chẳng cầu nhất tâm, nhất tâm cũng sẽ tự đến!  

Lại nữa, chúng ta cũng nên biết rằng: Nếu vừa niệm Phật, vừa lắng tai nghe lấy tiếng niệm của mình thì sẽ tạo được vô lượng công đức. Những công đức này đều có tác dụng biến đổi con người và điều kiện sinh hoạt của chúng ta. Do đó, nếu thấy có sự thay đổi ở ngay chính mình hay xung quanh mình, bất luận là tốt hay xấu cũng đều đáng mừng. Tại sao? Vì đó là dấu hiệu của sự tiến bộ! Chỉ cần vững tin là cách tu của mình đã bắt đầu linh nghiệm. Kiên nhẫn tiến tới, thế nào cũng có ngày rửa được các nghiệp hiện tiền và đắc sinh Cực Lạc.

Montréal, ngày 15-10-1995

Bổ túc thêm ngày 18-02-2007

 

CHÚ THÍCH

Một bề chuyên niệm: Dịch từ câu: “Nhất hướng chuyên niệm.” Nhất hướng là chỉ nhắm một mục đích. Mục đích ấy là vãng sinh Cực Lạc. Chuyên niệm là chỉ niệm một đức Phật. Đức Phật ấy là Phật Vô Lượng Thọ. Một bề chuyên niệm Phật Vô Lương Thọ là lấy việc niệm Phật Vô Lượng Thọ cầu sinh Cực Lạc làm chính hạnh, ngoài ra đều là trợ hạnh.

 

NIỆM PHẬT LUẬN

Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Niệm Phật là pháp môn dễ nhất. Vì chỉ cần niệm đi, niệm lại có sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật để xin về Cực Lạc.”

Mới đầu tôi cũng lầm tưởng như vậy. Nhưng khi quyết định thực hành pháp môn này, thì tôi mới rõ, nó không dễ như chúng ta tưởng.

Đúng vậy, bình thường rảnh rỗi không sao, nhưng cứ đến giờ công phu thì tôi lại nghĩ ra hết việc này đến việc nọ, rút cục đành phải bỏ dở thời khoá tu tập.

Tệ trạng này xẩy ra khá nhiều lần, khiến tôi bực bội và cố tìm cách ngăn ngừa, nhưng cứ hí hoáy mãi mà không có kết quả. Có lần đang niệm Phật, tự nhiên tôi nhớ đến một người bạn cũ, rồi suốt buổi sáng ấy cứ suy nghĩ vẩn vơ, không tu tỉnh gì được! Một lần khác, cũng trong lúc công phu, tôi chợt nghe tiếng hát từ phòng các cháu vọng sang. Tiếng hát quá lớn làm tôi không tập trung được, nên đành phải bỏ ban thờ để dậy cho lũ nhỏ một bài học.

Đại khái có rất nhiều những trở ngại như vậy thay phiên nhau quấy phá tôi, mãi đến một hôm rảnh rỗi ngồi xem nhà tôi trồng cây. Cây lê nhỏ síu mà cao nghều, cứ mỗi lần bị gió thổi là nó đưa qua, đưa lại như muốn gẫy. Để bảo vệ cái cây, nhà tôi phải dùng gậy chống nó!

Bất chợt tôi hiểu ra là cái tâm niệm Phật của tôi cũng yếu ớt giống cái cây của nhà tôi, còn ngoại cảnh thì tựa như cơn gió quái ác kia, cứ vờn qua, vờn lại làm cho tôi phải nhiều phen điên đảo! Muốn được tự tại tất phải tìm cách chống cái tâm niệm Phật của mình!

Rồi qua nhiều ngày tìm kiếm, tôi mới khám phá ra cách bảo vệ cái tâm niệm Phật của tôi, như sau : “Nếu đang niệm Phật mà lỡ lo ra, thì phải cố gắng niệm Phật trở lại và coi như không có chuyện gì xẩy ra. Còn nếu không thể niệm trở lại được, vì sức lôi kéo của ngoại cảnh quá lớn, thì phải ráng sám hối hoặc hồi hướng.”

Khi nào phải sám hối? Nếu đang niệm Phật mà lo ra và trong lúc lo ra ấy, lại nghĩ đến một việc xấu thì phải sám hối.

Khi nào nên hồi hướng? Cũng đang niệm Phật mà lo ra, nhưng trong lúc lo ra ấy, lại nghĩ đến một việc tốt thì nên hồi hướng.

Thế nào là việc xấu? Việc xấu là tất cả những gì làm cho chúng ta hay những người xung quanh trở nên tham lam, giận dữ, mê muội, hoặc buồn phiền. Nghĩ đến việc xấu tức là làm ác. Hễ làm ác tất nhiên có lỗi. Đã có lỗi thì phải sám hối để rửa sạch lỗi lầm!

Thế nào là việc tốt? Việc tốt là tất cả những gì làm cho chúng ta hay những người xung quanh trở nên không tham, không giận, không mê, hoặc không buồn. Nghĩ đến việc tốt tức là làm lành. Hễ làm lành tất có công đức. Có công đức thì nên hồi hướng để chia sẻ với chúng sinh.

Nói rõ hơn, muốn tu pháp môn này, trước phải phát nguyện. Nguyện văn rất nhiều, nhưng đơn giản nhất là:

Đệ tử kính lạy:

Đức Phật Thích Ca,
Phật A Di Đà,
Thập phương chư Phật.
Xin hãy giúp con
Giải trừ hết thẩy
mọi oan khiên, nghiệp chướng,
phiền não và bệnh tật.
Lại dậy cho con
Pháp môn niệm Phật
Để tự cứu mình
Và độ chúng sinh,
Đến lúc lâm chung
Đồng sinh Cực Lạc.
Tiếp theo mới chí thành niệm:

Nam mô A Di Đà Phật.

Trong lúc niệm Phật, nếu lỡ nghĩ đến việc khác, thì phải cố kéo tâm về. Bằng không kéo được thì phải tùy trường hợp mà sám hối hay hồi hướng cho đến khi nào tâm mình bình thản và có thể tiếp tục niệm Phật trở lại mới thôi.

Có nhiều cách sám hối hay hồi hướng, nhưng cách mà tôi thường sử dụng là:

1. Nếu đang niệm Phật mà lo ra và trong lúc lo ra đó, lại nghĩ đến một việc xấu thì tôi nguyện:

Nguyện sám hối lỗi này
Xin chư Phật gíúp cho:
Đệ tử và chúng sinh
Đều được về Cực Lạc.

2. Nếu đang niệm Phật mà lo ra và trong lúc lo ra đó, lại nghĩ đến một việc tốt thì tôi nguyện:

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sinh
Đều được về Cực Lạc.

Điều đáng chú ý là dù sám hối hay hồi hướng tôi cũng đều nguyện sinh về Cực Lạc cả! Điều này rất quan trọng, vì nếu rủi phải chết trước khi đắc niệm Phật tam muội, thì it ra chúng ta cũng có thể nương theo nguyện lực của mình để về Cực Lạc tiếp tục tu học.

Hàng ngày hối tâm niệm Phật như vậy, tất có lúc nó đâm ra nghiền niệm Phật. Bấy giờ hễ bận thời thôi, còn rảnh rỗi là nó sẽ tự động quay về với câu niệm Phật, mà không cần hối thúc nữa!

Nói đến đây,  tôi chợt nhớ ra một câu chuyện khá vui. Đó là chuyện một người tu thiền đi thăm bạn. Đến nơi, ông ta thấy bạn mình đang ngồi niệm Phật, nên mới lén đứng bên cạnh, rồi cứ tên của người ấy mà gọi mãi, cho đến lúc hắn không nhịn được, phải ngưng niệm Phật và gắt lên :

– Tại sao anh cứ réo tên tôi hoài vậy?

Bấy giờ người tu thiền mới chậm rãi nói :

– Tôi mới kêu tên anh có vài chục lần mà anh đã nổi đóa lên như vậy! Còn anh ngày nào cũng lải nhải niệm danh hiệu Phật, không biết Phật có giận anh không?

Nghe như vậy, chúng ta thấy tức cười và lầm tưởng rằng: Người tu thiền chê người niệm Phật đang làm chuyện vô ích. Thực ra, ông ta chỉ muốn giúp bạn mình, nên mới ngầm khuyến cáo rằng: Niệm Phật không phải là chỉ niệm cho có niệm, mà phải biết cách dụng tâm nữa.

Thực vậy, sở dĩ chúng ta nhắc đi, nhắc lại tên Phật là cốt tạo cho mình một thói quen mới, thói quen nhớ đến Phật và muốn thành Phật. Nếu có thể tạo được một thói quen mạnh mẽ đến độ dám bỏ hết mọi việc để chăm chú niệm Phật như ông bạn nói trên, tức là chúng ta đạt đến giai đoạn hai của pháp môn niệm Phật.

Tại sao gọi là giai đoạn hai? Vì tập niệm Phật là dậy tâm niệm Phật. Dậy tâm niệm Phật cũng như dậy vẹt nói chuyện. Dậy vẹt nói chuyện có ba giai đoạn:

  1. Giai đoạn một là ép con vẹt phải nói “có khách”.
  2. Giai đoạn hai là làm con vẹt nghiền nói ” có khách”.
  3. Giai đoạn ba là dậy con vẹt biết ai là khách, để nó chỉ kêu “có khách” khi thấy người lạ mà thôi.

Hồi nhỏ tôi thường ngồi quan sát bạn tôi dậy vẹt nói, nên tôi biết được cái kỹ thuật đặc biệt này :

3. Trước hết, bạn tôi nạo lưỡi của con vẹt cho mỏng đi, rồi nhốt nó vào một cái lồng, trong đó có treo sẵn một tấm gương. Tiếp theo mỗi ngày, anh ta đều nấp sau tủ áo và kêu “Có khách! Có khách!”.

Mới đầu, con vẹt không có phản ứng nào khác, ngoài việc nhớn nhác tìm kiếm và cố nhiên là nó không thấy ai khác ngoài cái bóng của nó ở trong gương. Nhưng rồi một hôm, nó lầm tưởng là con vẹt trong gương đang nhìn nó và nói “Có khách! Có khách!”, nên nó cũng cố bắt chước nói: “Có khách! Có khách!” để đáp lại. Thế là bạn tôi đã hoàn tất việc huấn luyện đợt một, gọi là ÉP CON VẸT PHẢI NÓI CÓ KHÁCH.

4. Từ khi con vẹt nói được câu “có khách”, bạn tôi cứ thúc nó nói hoài, khiến nó mắc bệnh nghiền nói và thường kêu “Có khách! Có khách!” mà không cần chúng tôi hối thúc nữa. Đến đây mới chấm dứt việc huấn luyện đợt hai, gọi là LÀM CON VẸT NGHIỀN NÓI CÓ KHÁCH.

5. Biết con vẹt đã nghiền nói “Có khách! “, bạn tôi liền sửa soạn dậy nó phân biệt ai là khách, ai không phải khách. Để thực hiện việc này, chúng tôi rủ ban bè lại chơi và mỗi khi có người lạ vào nhà thì chúng tôi liền đồng thanh kêu: “Có khách! Có khách! ” để con vẹt bắt chước.

Ban đầu con vẹt không hiểu gì cả và nó cứ nói cho có nói! Nhưng rồi một hôm, nó nhận ra cái tương quan giữa câu “Có khách! Có khách!” và sự hiện diện của người lạ trong nhà. Thế là từ đó, nó không nói bừa bãi nữa, mà chỉ kêu “Có khách! Có khách!” khi thấy người lạ mà thôi! Bạn tôi đã hoàn tất việc huấn luyện đợt ba, gọi là DẬY CON VẸT BIẾT AI LÀ KHÁCH.

Tương tự, người niệm Phật cũng phải trải qua ba giai đoạn :

1. Giai đoan một là “BẮT TÂM PHẢI NIỆM PHẬT” kéo dài từ lúc tâm không niệm Phật đến khi nó chịu niệm Phật.

2. Giai đoạn hai là “LÀM TÂM NGHIỀN NIỆM PHẬT” kéo dài từ lúc tâm chịu niệm Phật cho đến khi niệm Phật trở thành một thói quen không bỏ được. Khi niệm Phật đã trở thành một thói quen không bỏ được, thì lo gì không được vãng sinh Cực Lạc? Tuy được vãng sinh Cực Lạc nhưng vẫn chưa đủ! Tại sao? Vì người niệm Phật có thể thành Phật! Nhưng muốn được thành Phật thì phải hoàn tất giai đọan ba sau đây.

3. Giai đoạn ba là “GIÚP TÂM NHẬN RA PHẬT” kéo dài từ lúc tâm nghiền niệm Phật cho đến lúc tiêu phục căn trần, chứng được Phật tính, tức là tính giác sẵn có của chúng ta.

Phép niệm Phật trình bầy ở trên gồm có ba giai đoạn. Hai giai đoạn đầu thuộc về Tịnh, bảo đảm việc vãng sinh Cực Lạc. Còn giai đoạn thứ ba thuộc về Thiền, dẫn đến quả Chính đẳng Chính giác của Như Lai.

Thực vậy, nếu thuận buồm, xuôi gió thì người niệm Phật có thể đắc Niệm Phật tam muội và thành Phật ngay trong đời này. Còn nếu rủi phải chết trước khi thành đạt, thì ít ra ông ta cũng có thể nương theo nguyện lực của mình để về Cực Lạc tiếp tục tu học.

Về Cực Lạc tiếp tục tu học là một phúc lợi đặc biệt của tông Tịnh Độ mà các tông phái khác không thể nào có được. Nhưng muốn được hưởng phúc lợi này thì phải nhớ nguyện vãng sinh, mà điển hình là đọc bài kệ sau:

Qui mạng lễ A Di Đà Phật,
Ÿ phương Tây thế giới an lành.
Con nay xin phát nguyện vãng sinh.
Mong đức Từ Bi thương tiếp độ.

Tại sao lại phải đọc bài kệ này? Vì muốn về Cực Lạc thì phải nguyện vãng sinh, còn muốn thấy Phật hiện ra thì phải niệm danh hiệu của Ngài đến độ một lòng không loạn vậy!

Montréal, ngày 26-06-1994

Bổ túc thêm ngày 18-12-2005

 

CHÚ THÍCH

1. Thay vì niệm:

Nam mô A Di Đà Phật.

Chúng ta có thể niệm:

Nam mô A Di Đà Phật,

Xin Phật tiếp độ chúng con.

2. Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, người quán được hình tượng Phật (phép quán tưởng thứ 8) hay thân tướng Phật (phép quán tưởng thứ 9), gọi là đắc “Sự niệm Phật tam muội.” Muốn đắc “Lý niệm Phật tam muội,” thì phải kiên nhẫn lắng nghe tiếng niệm của mình mãi cho đến lúc tiêu phục căn, trần, chứng được thực tướng.

3. Danh hiệu A Di Đà có khả năng giúp người trì niệm thâm nhập Như Lai Tạng tâm, tức là cái tâm thâu nhiếp tất cả Đạo pháp và công đức của Như Lai.

 

NIỆM PHẬT YẾU LƯỢC

Mục đích cuối cùng của Phật Giáo là giúp chúng sinh nhận ra bản thể của vũ trụ, gọi là chân tính. Chân tính ở nơi chúng sinh, gọi là Phật tính; ở nơi sự vật, gọi là pháp tính. Nhận ra chân tính và sống thuận với nó, gọi là chứng tính. Người chứng tính, gọi là Tổ hay là Phật.

Muốn thành Phật phải tham thiền. Người tham thiền, nếu đắc Đạo thì sẽ thành Tổ hay thành Phật. Nhưng nếu tu hành còn đang dang dở thì vẫn phải luân hồi trong sáu nẻo (trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục) và có thể bị thoái hoá đạo tâm.

Để giúp chúng sinh thoát ly sáu nẻo và đắc ngôi bất thoái, đức Phật giảng môn Niệm Phật. Người bình dân niệm Phật để xin về Cực Lạc trước, rồi mới tiếp tục tu học để thành Phật sau, gọi là chuyên tu Tịnh Độ. Còn người thượng căn niệm Phật để tĩnh tâm, chứng tính, gọi là tu Hậu Tịnh Độ thiền, tức là pháp thiền mà các tín đồ Tịnh Độ sẽ học ở Cực Lạc.

Tóm lại, có hai cách tu chính : Một là tìm thầy học Thiền ngay trong đời này, hai là niệm Phật xin về Cực Lạc du học.

Tại sao chúng ta lại niệm Phật xin về Cực Lạc du học? Vì về Cực Lạc dễ hơn về bất cứ một Tịnh Độ nào khác trong mười phương. Lý do là Giáo chủ của Cực Lạc đã nguyện sẽ tiếp dẫn tất cả những người thường tưởng nhớ đến Ngài và thực lòng muốn sinh về nước của Ngài! Hơn nữa, Cực Lạc là một Tịnh Độ rất đặc biệt, tại đó mọi người đều được yên vui sung sướng lại có thầy hay, bạn tốt và không sợ thoái hoá nơi đạo vô thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, những người sinh về Cực Lạc được chia thành chín bậc là :

  1. Thượng phẩm thượng sinh.
  2. Thượng phẩm trung sinh.
  3. Thượng phẩm hạ sinh.
  4. Trung phẩm thượng sinh.
  5. Trung phẩm trung sinh.
  6. Trung phẩm hạ sinh.
  7. Hạ phẩm thượng sinh.
  8. Hạ phẩm trung sinh.
  9. Hạ phẩm hạ sinh.

Về thượng phẩm là hàng thượng bối, khi ở Ta Bà tin sâu nhân quả, phát lòng vô thượng, lại thêm giữ giới cụ túc, đọc tụng kinh điển Đại thừa hay là siêng tu sáu niệm, dùng công đức ấy xin về Cực Lạc. Tuỳ theo đạo hạnh hoặc sâu hoặc cạn mà lãnh lấy bậc thượng sinh, trung sinh hay là hạ sinh.

Về Trung phẩm là hàng trung bối, khi ở Ta Bà giữ năm giới cấm, trì tám giới trai hay là làm việc phúc thiện, dùng công đức ấy xin về Cực Lạc. Tuỳ theo đạo hạnh hoặc sâu hoặc cạn, mà chứng lấy bậc thượng sinh, trung sinh hay là hạ sinh.

Về hạ phẩm là hàng hạ bối, khi ở Ta Bà không làm công đức, huỷ phạm giới luật, nhưng lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức giảng giải Pháp mầu. Người ấy nghe rồi vui vẻ tin theo, niệm danh hiệu Phật xin về Cực Lạc. Tuỳ theo nghiệp chướng hoặc nhẹ, hoặc nặng mà chứng lấy bậc thượng sinh, trung sinh hay là hạ sinh.

Theo kinh Vô Lượng Thọ Phật và Quán Vô Lượng Thọ Phật thì điều kiện vãng sinh Cực Lạc là phải niệm được mười câu Phật hiệu vào lúc lâm chung.

Nghe nói như vậy, có người vội cho là dễ, có kẻ lại than là khó. Nói dễ là người chưa hề niệm Phật. Nói khó là kẻ chập chững niệm Phật. Thực ra, niệm Phật không khó cũng không dễ, mà chỉ là thói quen thôi! Chỉ cần hàng ngày giữ gìn giới luật, làm điều phúc thiện, niệm danh hiệu Phật cầu sinh Cực Lạc tới khi việc ấy trở thành thói quen, không dứt bỏ được thì lo gì chẳng được vãng sinh?

Người xin về Cực Lạc sẽ gặp một trong hai trường hợp sau : Một là đã được chấp nhận vào Cực Lạc, nên sẽ biết trước ngày chết. Hai là chưa được chấp nhận vào Cực Lạc, nên phải cố gắng niệm được mười câu Phật hiệu vào lúc lâm chung.

Để bảo đảm có thể niệm được mười câu Phật hiệu vào lùc lâm chung, hàng ngày chúng ta nên niệm Phật thành từng đợt, mỗi đợt mười câu, hoặc tốt hơn là mỗi đợt năm cặp, mỗi cặp hai câu.

Tại sao chúng ta lại niệm Phật thành từng đợt, mỗi đợt năm cặp, mỗi cặp hai câu? Vì như vậy chúng ta có thể dùng năm ngón tay để đếm mười câu niệm Phật. Lối niệm này rất đơn giản và tiện lợi, không cần sâu chuỗi, lại có thể làm bất cứ lúc nào và bất kỳ ở đâu: Khi chờ xe buýt, trong giờ giải lao hoặc lúc nhàn rỗi đều có thể thực hiện pháp môn này một cách tự tại vậy!

Vi phải tập thành thói quen, nên chúng ta cần có nhiều thời giờ tu luyện. Do đó, phải bắt đầu ngay từ giờ phút này. Thanh niên, thiếu nữ vừa niệm Phật, vừa lo làm tròn bổn phận của mình với nhà, với nước. Còn những người gần đất xa trời phải dứt khoát buông bỏ việc đời, tích cực niệm Phật xin về Cực Lạc. Nếu cứ u mê, ngoan cố, viện hết lý này, lý nọ để không tu thì thực là uổng công đến chùa nghe Pháp vậy!

Để khởi đầu, chúng ta nên niệm mười câu Phật hiệu:Nam mô A Di Đà Phật, rồi tiếp theo phát nguyện như sau:

Nguyện đem công đức trì tụng này,
Hồi thí khắp bốn ơn, ba cõi.
Đệ tử và pháp giới hữu tình,
Đồng sinh Cực Lạc, thành Phật Đạo.

Montréal, ngày 18-02-1999

 

NIỆM PHẬT VÀ SÁU BA LA MẬT

của Ngẫu Ích Đại sư

 

Niệm Phật đến độ quên cả thân, tâm và thế giới, gọi là Đại bố thí.

Niệm Phật đến độ không còn chút tham, sân, si nào, gọi là Đại trì giới.

Niệm Phật đến độ không chấp mình, người, phải, quấy nữa, gọi là Đại nhẫn nhục.

Niệm Phật đến độ không hề gián đoạn hoặc xen tạp, gọi là Đại tinh tiến.

Niệm Phật đến độ không thèm theo đuổi vọng tưởng nữa, gọi là Đại thiền định.

Niệm Phật đến độ không còn gì mê hoặc được mình, gọi là Đại trí tuệ.

 

YÊU CHỈ NIỆM PHẬT

Mục đích của pháp môn niệm Phật, như chúng ta đang tu tập, là cầu sinh Cực Lạc.

Cực Lạc không phải là Thiên Đường của người tu thiện nghiệp và cũng không phải Niết Bàn của người đoạn phiền não.

Cực Lạc là một Đại Tùng Lâm, là một Viện Phật Học rất lớn ở phương Tây, do Phật A Di Đà sáng lập ra, nhằm tiếp đón hàng trời và người ở mười phương, muốn được sinh về đó, để học Đạo.

Bởi Cực Lạc không phải là Thiên Đường, cũng không phải là Niết Bàn, nên điều kiện vãng sinh Cực Lạc không phải là tịnh nghiệp và định tâm. Tuy tịnh nghiệp và định tâm không phải là chính nhân để về Cực Lạc, nhưng chúng ta nên siêng năng tránh ác, làm lành để tạo thuận duyên. Tại sao? Vì nếu làm ác, sẽ tạo nghịch duyên và nghịch duyên ấy sẽ ngăn cản chúng ta niệm Phật. Do đó, muốn an nhiên niệm Phật, không sợ nghịch cảnh quấy phá thì phải lo tránh ác, làm lành

Thế nào là lành? Lành là không ác.

Thế nào là ác? Ác là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, ác miệng, xúi xiểm, ba hoa, tham lam, sân giận và si mê.

Thế nào là si mê? Si mê là không sợ sinh tử, không cầu vãng sinh, không tin nhân quả.

Thế nào là nhân quả? Nguyện vãng sinh Cực Lạc là nhân. Được vãng sinh Cực Lạc là quả!

Như trên đã nói, Cực Lạc là một Đại Tùng Lâm, là một Viện Phật Học rất lớn, lại có đủ 9 lớp từ Sơ học đến Đại học. Do đó, muốn sinh Cực Lạc không cần phải có những thành tựu xuất sắc, như tịnh nghiệp và định tâm, mà chỉ cần có Tín, Nguyện và Hạnh.    

Tín là tin tưởng mãnh liệt rằng, có thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây và tất cả chúng ta, dầu có tội hay không tội, cũng đều có thể được sinh về đó.

Nguyện là chí thành hồi hướng tất cả mọi công đức lớn, nhỏ của mình để cầu vãng sinh.

Hạnh là niệm danh hiệu của Phật A Di Đà để tạo công đức. Công đức nhiều thì phẩm trật cao, công đức ít thì phẩm trật thấp.

Nhưng khi tham dự những khóa huân tu Tịnh Độ, hoặc đọc chuyện vãng sinh của người xưa, chúng ta đều thấy các thầy và chư Hiền, Thánh luôn khuyên phải cố niệm Phật đến độ nhất tâm. Điều này làm cho nhiều người hiểu lầm, rằng muốn về Cực Lạc thì phải niệm Phật đến độ nhất tâm! Thực ra, muốn về Cực Lạc thì phải niệm Phật, nhưng không cần phải niệm Phật đến độ nhất tâm. Cũng như muốn thi đậu thì không cần phải có điểm A, nhưng chúng ta ai nấy đều muốn và khuyên con mình phải cố học cho được điểm A vậy!

Kinh A Di Đà viết: “Này Xá Lợi Phất! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà mà phát lòng tin, niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc. Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ấy, nói ra lời này, người nào nghe được thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc!”

Đoạn văn này có ba ý chính: Một là, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đựơc nghe nói đến Phật A Di Đà mà phát lòng tin, niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn thì khi lâm chung người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện ra trước mắt. Hai là người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc. Ba là người nào nghe được đoạn kinh này, thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.

Như vậy, nếu niệm Phật A Di Đà đến độ một lòng không loạn thì khi lâm chung, chúng ta sẽ thấy Phật hiện ra trước mắt. Nhưng thấy Phật hiện ra, cũng chưa chắc được sinh về Cực Lạc! Tại sao? Vì muốn được sinh về Cực Lạc thì tâm mình không được điên đảo! Thế nào là tâm không điên đảo? Tâm không điên đảo là chỉ mong được vãng sinh, chứ không cầu bất cứ một việc gì khác. Tại sao? Vì nguyện sinh Cực Lạc mới là nguyên nhân chính để được vãng sinh.

Do đó, đức Thích Ca chỉ nhắc chúng ta phải lo phát nguyện sinh về Cực Lạc, chứ không nói là phải niệm Phật đến độ một lòng không loạn.

Niệm Phật đến độ một lòng không loạn gọi là niệm Phật đến độ nhất tâm. Niệm Phật đến độ nhất tâm thì có nhiều công đức. Có nhiều công đức thì phẩm trật cao. Cao nhất là Thượng phẩm thượng sinh, được Phật đích thân tiếp đón. Niệm Phật chưa được nhất tâm thì có ít công đức. Có ít công đức thì phẩm trật thấp. Thấp nhất là Hạ phẩm hạ sinh, chỉ được hoa sen đến đón.

Vậy, muốn được phẩm trật cao để Phật đích thân đón tiếp thì phải niệm Phật đến độ nhất tâm. Nhưng niệm Phật đến độ nhất tâm không phải là điều kiện để được sinh về Cực Lạc. Tại sao?

Vì Cực Lạc là một Viện Phật Học rất lớn, lớn đến độ có thể thâu nhận tất cả những học viên nguyện xin ghi danh. Hơn nữa, viện lại có đủ 9 lớp từ dễ đến khó, để thích ứng với trình độ của mỗi học viên. Người tội lỗi chỉ biết Phật hiệu được xếp vào Hạ phẩm hạ sinh. Bậc thánh thiện tinh thông Phật pháp được xếp vào Thượng phẩm thượng sinh. Còn những người ở giữa hai cực đó, thì tuỳ theo Đạo hạnh, được xếp vào bẩy lớp còn lại. Điều này chứng tỏ có nhiều vị chưa đạt nhất tâm mà vẫn được sinh về Cực Lạc. Vậy, điều kiện vãng sinh Cực Lạc là gì?

Điều kiện tiên quyết để được sinh Cực Lạc là phải tha thiết niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nguyện sinh về đó và phải vững tin rằng Phật sẽ đón chúng ta vào lúc lâm chung.

Do đó, Đại sư Ấn Quang mới dậy: “Pháp môn niệm Phật dùng tín, nguyện, hạnh làm tông. Có tín, nguyện, không luận công hạnh nhiều hay ít, sâu hay cạn, đều được vãng sinh. Không tín, nguyện, dù cho tu đến độ quên hết mình, người và cảnh vật xung quanh thì cũng khó có hy vọng được sinh Cực Lạc!”

Đại sư Ngẫu Ích đã giảng: “Sinh hay chẳng sinh đều do tín, nguyện có hay không. Phẩm sen cao hay thấp, đều bởi trì danh sâu hoặc cạn!”

Và bồ tát Diệu Hạnh cũng dậy: “Đức Thích Ca dùng phương tiện hiển bầy cõi Cực Lạc và bảo chúng ta phát nguyện vãng sinh hầu thoát khỏi luân hồi một cách mau chóng. Nhờ nguyện lực nhiếp thọ của Phật A Di Đà, nên hễ ai nghe danh hiệu A Di Đà mà siêng năng thọ trì thời quyết định sẽ được vãng sinh Tịnh Độ.”

Nói như thế, có nghiã là không cần niệm Phật đến độ nhất tâm, nhưng phải nhớ đến Phật và muốn được sinh về xứ Phật! Nếu có thể muốn được sinh về xứ Phật như người đói muốn ăn, người khát muốn uống thì không gì tốt bằng. Nhưng nếu không có được cái tình cảm quí báu đó, thì phải lo niệm Phật càng nhiều càng tốt. Tại sao? Vì niệm Phật tức là nhớ đến Phật. Có niệm là có nhớ vậy!

Kinh A Di Đà viết: “Chúng sinh các nơi sinh sang Cực Lạc đều là những vị chứng ngôi bất thoái. Trong đó, lại có rất nhiều bồ tát Nhất Sinh Bổ Xứ, mà số nhiều ấy chẳng thể tính đếm để biết hết được, nên chỉ nói là vô lượng, vô biên, a tăng kỳ thôi! Này Xá Lợi Phất! Người nào nghe được lời này thì nên phát nguyện sinh về Cực Lạc. Như thế là sao? Vì người nguyện ấy sẽ được cùng với các thượng thiện nhân hội họp một chỗ.”

Hoặc: “Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật! Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc!”

Do đó, muốn về Cực Lạc thì phải tin sâu, nguyện thiết và phải chịu khó niệm Phật. Chịu khó niệm Phật, chứ không phải là niệm Phật đến độ nhất tâm. Niệm Phật đến độ nhất tâm thì rất tốt, nhưng không bắt buộc phải như thế. Sở dĩ các Thầy khuyên chúng ta cố gắng đạt đến nhất tâm, là vì các Thầy muốn chúng ta có phẩm trật cao, được Phật đích thân đón về Cực Lạc!

Bây giờ quí vị đã hiểu sơ qua, ý nghiã của câu “Muốn về Cực Lạc phải có đủ tín, nguyện và hạnh”. Vậy, tôi xin bàn về đặc điểm của mỗi chi này:

Như trên đã nói, tín là tin tưởng mãnh liệt rằng có thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà ở phương Tây và chúng ta nhất định được sinh về đó. Có những người, trong một tiền kiếp đã từng niệm Phật, nên khi nghe nói đến pháp môn Tịnh Độ là họ tin ngay, không cần suy nghĩ hay tính toán chi cả. Nhưng nếu chúng ta không phải là những người có duyên lành ấy, thì phải chịu khó đọc các kinh sách của Tịnh Độ, như: Ba Kinh Tịnh Độ của đức Thích Ca, Niệm Phật Thập Yếu của thầy Thích Thiền Tâm, Tịnh Độ Thập Nghi Luận của Thiên Thai Trí Giả Đại sư; Ấn Quang Đại sư Gia Ngôn Lục và Lá Thư Tịnh Độ của Ấn Quang Đại sư, Tây Phương Hoá Đạo của Thiện Đạo Hoà Thượng, Kinh A Di Đà Yếu Giải của Sa môn Trí Húc, Đường về Cực Lạc của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Tịnh Độ Pháp Ngữ của Triệu Lư Đại sư, Con đường Tây Phương của cư sĩ Tịnh Sĩ và Tịnh Độ Thánh Hiền Lục của cư sĩ Bành Thiệu Thăng, pháp danh Tế Thanh, được thầy Thích Thiền Tâm dịch, dưới nhan đề Mấy Điệu Sen Thanh. Chỉ cần đọc đi, đọc lại những kinh và sách này, chúng ta sẽ mở được lòng tin. Tin vào sự hiện hữu của đức Phật A Di Đà cùng quốc độ của Ngài ở phương Tây, tin vào tác dụng giải nghiệp khai tuệ của thánh hiệu “A Di Đà Phật” và tin vào quyền được vãng sinh, mà đức Phật đã ban cho cả người có tội lẫn người không tội, với điều kiện họ thường nghĩ tới nước Ngài và niệm danh hiệu của Ngài.  

Đã tin là có thế giới Cực Lạc ở phương Tây và mình có thể được sinh về đó. Chúng ta phải lo nộp đơn xin về Cực Lạc, bằng cách phát nguyện vãng sinh. Nguyện vãng sinh là chí tâm hồi hướng tất cả mọi công đức của mình để cầu sinh Cực Lạc. Văn phát nguyện rất nhiều. Chỉ cần tìm được một bài hợp với ý mình, rồi theo đó mà đọc hoài, sáng sớm, trước khi đi làm và chiếu tối, trước lúc lên giường. Siêng năng phát nguyện như vậy, chúng ta sẽ nuôi lớn được lòng khao khát sinh về Cực Lạc, thấy Phật, nghe Pháp.

Có tín nguyện rồi, phải niệm Phật để tạo công đức. Công đức nhiều thì thứ bậc cao. Công đức ít thì thứ bậc thấp. Có nhiều cách niệm Phật, nhưng chủ yếu là:

  1. Trì danh niệm Phật.
  2. Quán tượng niệm Phật.
  3. Quán tưởng niệm Phật.

TRÌ DANH NIỆM PHẬT là nhớ đến Phật bằng cách nhắc đi, nhắc lại tên Ngài.

QUÁN TƯỢNG NIỆM PHẬT là nhớ đến Phật bằng cách chiêm ngưỡng hình tượng của Ngài.

QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT là nhớ đến Phật bằng cách tưởng tượng thấy Ngài hiện ra ở trong tâm hay ngay trước mắt.

Tuy nói có ba cách chính để niệm Phật, nhưng phổ thông nhất là pháp trì danh. Trì danh niệm Phật là nhớ đến đức Phật bằng cách nhắc đi, nhắc lại tên Ngài. Có nhiều cách trì danh, nhưng thông dụng nhất là:

  1. Ức Phật trì danh
  2. Sổ châu trì danh.
  3. Ký thập trì danh.
  4. Tuỳ tức trì danh.
  5. Truy đảnh trì danh.
  6. Phản văn trì danh.
  7. Tham cứu trì danh.

ỨC PHẬT TRÌ DANH: Vừa niệm danh hiệu Phật vừa nhớ đến Ngài, như con nít nhớ mẹ. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, bồ tát Đại Thế Chí có nói: “Chư Phật trong mười phương thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thì mẹ và con sẽ không bao giờ xa cách!”

SỔ CHÂU TRÌ DANH: Miệng niệm danh hiệu Phật, tay lần chuỗi hột. Cách niệm này có lợi điểm là buộc người tu phải giữ định số, tỷ như mỗi ngày 10 chuỗi hay 100 chuỗi chẳng hạn. Vì phải giữ định số, nên chúng ta không thể lười biếng đựơc.

KÝ THẬP TRÌ DANH: Đây là cách niệm ký số, chiếu theo lời nguyện thứ 18 của ngài Pháp Tạng. Hành giả khởi đếm từ 1 cho đến 10 câu Phật hiệu. Rồi lập lại từ 1 đến 10, y như trước.

TUỲ TỨC TRÌ DANH: Nương theo hơi thở mà niệm danh hiệu Phật để điều dưỡng chân khí và lóng lặng vọng tâm. Mỗi hơi hít vào hay thở ra đều được kết hợp với một hay nhiều câu Phật hiệu.

TRUY ĐẢNH TRÌ DANH: Niệm nhỏ tiếng, chữ sau đuổi theo chữ trước, câu nọ gối đầu cầu kia, kín đáo, bền chặt, không hở, khiến tạp niệm không thể xen vào.

PHẢN VĂN TRÌ DANH: Miệng niệm danh hiệu Phật, tai lắng nghe tiếng niệm của mình, kiểm soát từng câu từng chữ cho thật rõ ràng, rành mạch, dần dần quên hết thân, tâm và cảnh vật, chỉ còn tiếng niệm Phật liên tục không dứt, gọi là đạt được nhất tâm.

THAM CỨU TRÌ DANH: Vừa niệm danh hiệu Phật vừa quán sát xem ai đang niệm Phật. Cứ thế, lâu ngày sẽ nhận ra tâm và tâm thể, gọi là giác ngộ.

Pháp trì danh như vừa trình bầy rất đơn giản. Nếu là người có phúc thì có thể tu tập dễ dàng và thoải mái. Nhưng nếu là người nặng nghiệp thì khó mà tránh được mâu thuẫn và dằn vặt. Tại sao?

Vì khi chúng ta khởi công niệm Phật thì dòng nghiệp quả sẽ bị giao động, những thói xấu tật hư sẽ hiện ra mãnh liệt hơn bao giờ hết! Lại nữa, cũng vì niệm Phật nên trí tuệ khai mở, khiến chúng ta có thể phân biệt rõ ràng thiện và ác, tốt và xấu. Vì vậy, trước khi làm một việc gì, chúng ta đều biết là nên làm hay không nên làm. Tuy biết là nên làm hay không nên làm, nhưng chúng ta thường bị thói quen thôi thúc, buộc làm những chuyện không nên làm và bỏ qua những chuyện nên làm. Bởi hay làm những chuyện không nên làm và bỏ qua những chuyện nên làm, nên mới sinh mâu thuẫn. Có mâu thuân, tất bị dằn vặt. Mâu thuẫn và dằn vặt lâu ngày chuyển thành ác bệnh, đặc biệt là bệnh nhức đầu, đau dạ dầy và cao huyết áp.

Để tránh tệ hại này, chúng ta phải hết sức khôn khéo. Ngay khi thấy bị mâu thuẫn phải lập tức tìm cách hoá giải ngay. Muốn hóa giải mâu thuẫn phải sám hối và phải quán tất cả các thói xấu, tật hư đều do nhân duyên sinh ra và cũng do nhân duyên mà diệt, vốn không có thực. Đã không có thực, lại chắc chắn sẽ bị huỷ diệt, nên không cần sợ hãi. Cứ kiên nhẫn sám hối và niệm Phật để chờ chúng diệt. Điều quan trọng là không được nôn nao, không được hoảng hốt, không được gượng ép và nhất là không được quên danh hiệu Phật.

Có nhiều người không tin vào sự hiệu nghiệm của môn niệm Phật, viện lý là số người niệm danh hiệu Phật A Di Đà để cầu vãng sinh càng ngày càng đông, nhưng những người được vãng sinh lại rất ít, chỉ có một vài trường hợp được phổ biến qua băng vidéo hoặc điã DVD mà thôi!

Riêng tôi, rất tin lời hứa tiếp dẫn của Phật vào lúc lâm chung và cũng ý thức rất rõ ràng rằng, có nhiều người niệm Phật,  mà không được sinh về xứ Phật. Tại sao?

Lý do là vì họ không biết điểm thiết yếu của pháp môn này. Thực vậy, đa số chúng ta cứ lo niệm Phật cho nhiều và thường hãnh diện rằng mình đã niệm được mấy ngàn câu Phật hiệu mỗi ngày! Chỉ có ít người biết được, mục đích của việc niệm Phật không phải là đếm được nhiều câu Phật hiệu, mà là phải tin ở Phật, nhớ đến Phật và mong gặp Phật.  

Có người niệm Phật, nhưng lại nghĩ mình đầy tội lỗi hoặc không công đức, chưa chắc Phật sẽ chịu cứu! Nghĩ như vậy tức là thiếu đức tin. Tại sao? Vì đức Phật đã hứa tiếp dẫn tất cả những người không phạm tội nghịch, thích về xứ Ngài và chịu niệm danh hiệu của Ngài vào lúc lâm chung. Riêng những người lỡ phạm tội nghịch thì phải có đủ định lực để niệm được liên tiếp 10 lần danh hiệu của Ngài trước khi thần lià khỏi xác.

Lại có người niệm Phật, nhưng sợ gặp Phật. Để triển khai ý này, tôi xin kể một thí dụ: Tôi có một người bạn thường tu Tịnh Độ. Nhưng khi đau nặng phải đưa vào phòng mổ, thì chị lại không giám niệm danh hiệu A Di Đà. Tại sao? Vì sợ Phật tới đón! Do đó, thay vì niệm danh hiệu A Di Đà để xin về Cực Lạc như chị vẫn làm, thì chị lại niệm danh hiệu Quán Thế Âm, cầu được sống thêm vài ba năm nữa để hưởng thụ cuộc đời! Đây là loại người không thực sự muốn về Cực Lạc, nên khi trẻ trung, khoẻ mạnh thì hăng hái cầu được vãng sinh. Nhưng lúc già nua, bệnh hoạn thì lại sợ chết. Mặc dầu ai nấy đều rõ, phải chết đi, mới vãng sinh được! Nếu thực sự muốn về Cực Lạc, thì chúng ta sẽ không sợ chết. Ngược lại, khi thấy triệu chứng chết xuất hiện, phải vui mừng hớn hở, như người chờ xuất ngọai, được chiếu khán và vé tầu mới đúng!

Phần lớn chúng ta đều thuộc hai loại người trên, một là thiếu đức tin, hai là còn sợ chết, nên mới không được vãng sinh!

Nói một cách khác, muốn được vãng sinh thì trước phải có lòng tin tưởng và khao khát được về Cực Lạc, sau mới niệm Phật để giảm bớt nghiệp chướng và đồng thời cũng để xin Ngài tới đón vào lúc lâm chung. Nếu không có lòng tin tưởng và khao khát được về Cực Lạc, mà chỉ phát nguyện và niệm Phật một cách máy móc thì khó mà vãng sinh được! Đây chính là lý do, tại sao có nhiều người niệm Phật, mà không được sinh về xứ Phật!  

Nếu là người có sẵn lòng tin, lại thực sự nhớ Phật và muốn gặp Phật như con nít mong mẹ về chợ, thì lo gì không được vãng sinh? Nói “Phải nhớ và muốn gặp Phật như con nít mong mẹ về chợ,” thì rất dễ, nhưng không phải ai ai cũng có được cái tình cảm quí báu ấy. Bởi không có được cái tình cảm quí báu nói trên, nên chúng ta mới phải khổ công niệm Phật để tập cho được cái thói quen nghĩ đến Phật, nhớ đến Phật và muốn được sinh về xứ Phật.

Nói rõ hơn, mục đích chính của việc niệm Phật không phải là đếm được nhiều câu Phật hiệu mỗi ngày, mà là tập cho chúng ta nghĩ đến Phật, nhớ đến Phật và muốn sinh về xứ Phật, đặc biệt là vào lúc lâm chung! Tại sao lại như vậy? Vì điều kiện cần và đủ để được sinh về Cực Lạc là: “Vào lúc lâm chung, buông bỏ muôn duyên, chuyên niệm Phật hiệu, chờ Ngài tới đón!”

Nghĩ cho kỹ thì người tu Tịnh độ thực ra chỉ là những người muốn tham dự kỳ thi làm Thánh ở Cực Lạc.

Thi làm Thánh ở Cực Lạc, là thi thực hành, không có lý thuyết, với 5 điều lệ sau đây:

  1. Thời gian ứng thí bắt đầu từ lúc hấp hối đến khi thần thức rời bỏ thể xác để vào Trung giới.
  2. Đề thi được công bố trước là “Vào lúc lâm chung, buông bỏ muôn duyên, chuyên niệm Phật hiệu chờ Ngài tới đón.”
  3. Các thí sinh được quyền mượn người nhắc bài, khuyến khích và cổ võ trong suốt thời gian ứng thí.
  4. Người nhất tâm niệm Phật sẽ biết giờ chết, nên chỉ cần chờ Phật tới đón trước khi lâm chung.
  5. Người tán tâm, không biết giờ chết, nên từ lúc hấp hối, phải lo niệm Phật, chờ Ngài tới đón.

Để sửa soạn kỳ thi hết sức quan trong và độc đáo này, chúng ta phải luyện thi. Luyện thi bằng cách nào? Bằng cách: Nhất hướng chuyên niệm Phật A Di  Đà, cầu sinh Cực Lạc!

Tôi xin nhắc lại là nhất hướng chuyên niệm, chứ không phải nhất tâm chuyên niệm.

Nhất tâm là tâm định tĩnh, không rối loạn, còn nhất hướng là chỉ nhắm vào một mục đích duy nhất. Mục đích ấy là cầu vãng sinh, chứ không cầu tịnh nghiệp, cũng không cầu an tâm!

Nói một cách khác, muốn luyện thi làm Thánh ở Cực Lạc, hàng ngày chúng ta phải quyết tâm chuyên niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật’ hay bốn chữ “A Di Đà Phật,” lắng tai nghe lấy tiếng niệm của mình để cầu xin một việc duy nhất là vãng sinh Cực Lạc!  

Nam mô A Di Đà Phật.

 Montréal, ngày 16-10-2004

Bổ túc thêm ngày 07-03-2014

 

BÍ QUYẾT NIỆM PHẬT

 

A. NHỚ PHẬT NIỆM PHẬT

Trong Pháp hội Thủ Lăng Nghiêm, đức Đại Thế Chí bạch Phật rằng: “Con nhớ hằng hà sa số kiếp về trước, có Phật ra đời hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai. Phật ấy dậy con pháp Niệm Phật tam muội và có nói thí dụ rằng, như có hai người, người này cứ nhớ người kia. Nhưng người kia lại cứ quên người này. Hai người như vậy, in hình gặp nhau mà không gặp. In hình thấy nhau mà không thấy. Bởi một người cứ nhớ hoài, nên dường như có gặp, có thấy. Còn một người cứ quên luôn, nên không gặp, không thấy. Đó là tại bên nhớ, bên quên, nên mới thành ra như vậy. Chớ như hai người đều nhớ nhau. Hai cái nhớ luôn khăng khít, thì chắc là phải gặp, phải thấy, kiếp này qua kiếp khác, như hình với bóng, không khi nào xa cách.

Chư Phật trong mười phương thương nhớ chúng sinh, như mẹ nhớ con. Nếu con cứ trốn tránh hoài, mẹ tuy có nhớ cũng chẳng làm gì được! Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì trải bao nhiêu kiếp, mẹ con cũng không bao giờ rời nhau!

Do đó, nếu chúng sinh thường tưởng nhớ đến Phật thì cách Phật chẳng xa, hiện tiền hoặc tương lai sẽ thấy Phật. Hễ có niệm thì có Phật. Niệm đâu, Phật đó. Cảnh Tây phương toàn ở nơi tâm, chẳng cần mượn phương tiện chi khác mà vẫn được khai ngộ.

Rồi tới khi chết, được Phật tiếp dẫn, đưa về xứ Ngài. Gần Phật, nhiễm Phật, tâm sẽ thành Phật. Cũng như gần hương, nhiễm hương, thân cũng thành hương!”

B. QUÁN PHẬT NIỆM PHẬT

Theo Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, sau khi đức Thế Tôn giảng pháp Quán Phật Tam Muội xong, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với đại chúng rằng: “Về đời quá khứ, vào thời Bửu Đức Như Lai, có đồng tử Giới Hộ, con trai của một ông trưởng giả, từng thọ Tam Qui ngay khi còn ở trong bụng mẹ. Năm lên 8 tuổi, một hôm cha, mẹ thỉnh đức Như Lai về nhà để cúng dường. Đồng tử Giới Hộ thấy đức Như Lai cử chỉ đoan chính, mỗi bước chân đi đều làm hiện ra một đóa hoa sen xinh đẹp, trong khi toàn thân đều tỏa ánh sáng rực rỡ, nên vui mừng, cung kính, cúi đầu đảnh lễ.

Nhân vì thấy Phật, lễ Phật và chiêm ngưỡng thân Ngài, nên trừ được các tội của trăm nghìn ức na do tha kiếp. Từ đó về sau, ông luôn luôn được gặp chư Phật, nhiều đến trăm ức na do tha hằng hà sa số vị khác nhau. Tất cả đều dậy ông pháp Quán Phật Tam Muội.

Sau đó, lại có trăm vạn đức Phật ra đời, cùng một hiệu là Chiên Đàn Hải, đồng tử chầu chực, phục vụ tất cả các đức Phật ấy, lễ lạy, cúng dường, nhìn ngắm. Do công đức quán Phật này, nên lại được gặp trăm vạn a tăng kỳ đức Phật, rồi chứng được môn Niệm Phật Tam Muội và trăm vạn a tăng kỳ đà ra ni…  

Để kết luận, bồ tát Văn Thù dậy rằng, Đồng tử Giới Hộ, do lúc ban sơ nhờ thọ tam qui và một lần chí thành lễ Phật và quán Phật, tâm không nhàm chán, nên được gặp vô số Phật, huống là người chuyên lòng tưởng nhớ đến Phật, thì lo gì không được gặp Phật!

Tiếp theo Ngài nói, Đồng tử Giới Hộ ấy không phải là ai xa lạ, mà chính là tôi đây!”

C. QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT

Quán tưởng niệm Phật bao gồm 16 phép quán sau:

  1. Quán mặt trời.
  2. Quán tưởng nước.
  3. Quán đất báu.
  4. Quán cây báu.
  5. Quán ao báu.
  6. Quán tổng tướng của đất báu, cây báu, và ao báu ở trên Cực Lạc.
  7. Quán tòa sen.
  8. Quán hình tượng của Phật A Di Đà.
  9. Quán sắc thân của Phật A Di Đà.
  10. Quán sắc thân của bồ tát Quán Thế Âm.
  11. Quán sắc thân của bồ tát Đại Thế Chí.
  12. Quán mình được sinh vào sen báu, gọi là Quán phổ tướng.
  13. Quán thấy Tam Thánh hiện khắp mười phương để hoá độ chúng sinh, gọi là Quán tạp tướng.
  14. Quán thấy những người sinh về Thượng phẩm, gọi là Quán thượng bối.
  15. Quán thấy những người sinh về Trung phẩm, gọi là Quán trung bối.
  16. Quán thấy những người sinh về Hạ phẩm, gọi là Quán hạ bối.

Mười sáu phép quán này do đức Thích Ca đích thân dậy cho bà Vi Đề Hy và được ghi lại rõ ràng trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.

Ai mà tu được, thì ngay lúc còn sống cũng thấy Phật Vô Lượng Thọ cùng hai vị bồ tát Quán Âm và Thế Chí ở trên Cực Lạc.

D. TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Sách Tây Phương Xác Chỉ kể rằng, về đời nhà Minh, năm Sùng Trinh thứ 16 và đời nhà Thanh năm Thuận Trị thứ tư, bồ tát Giác Minh Diệu Hạnh có giáng cơ truyền dậy pháp môn Tịnh Độ. Ngài dậy rằng: “Pháp yếu của chư Phật rất vi diệu, bí mật không thể nghĩ bàn. Vì không thể nghĩ bàn, nên không ai có thể diễn nói hết được.

Đức Thích Ca dùng phương tiện đặc biệt hiển bày cõi Cực Lạc và bảo chúng ta phát nguyện vãng sinh, hầu thoát khỏi luân hồi một cách mau chóng. Nhờ nguyện lực nhiếp thọ của đức Phật A Di Đà, nên hễ ai nghe danh hiệu A Di Đà, mà siêng thọ trì thời quyết định sẽ được vãng sinh Tịnh Độ. Nếu người nào dõng mãnh tinh tấn, chuyên niệm đến mức nhất tâm, thời thành tựu Niệm Phật Tam Muội, hiện đời cũng được thấy Phật A Di Đà.

Ngày nay, ta theo lời Phật dậy, mà giảng môn Tịnh Độ. Nghĩ vì các ngươi mê mờ, nên ta mới chỉ cho con đường chân chính. Cực Lạc đường xa muôn ức, một niệm tin chắc thời chính là đây.”

Ngài lại dậy: “Pháp môn Tịnh Độ này là tâm tông của chư Phật, là con đường giải thoát ngắn nhất của hàng trời, người. Nay các người tuy có lòng tin, niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, nhưng tâm không tha thiết, nên chẳng khác gì người vào biển lớn, gặp được châu báu, mà cứ lần lữa, rồi về tay không. Thực là uổng công, vô ích!”

Để ta thuật chuyện của ta cho các ngươi rõ, thời vua Minh Đế, nhà Tần, ta là một gã nghèo hèn, luôn bị thiếu hụt, khốn khổ vô cùng, nên khi biết được pháp môn Tịnh Độ, ta bèn lập nguyện lớn như vầy: “Vì đời trước tạo nghiệp ác, nên nay con mới phải mang lấy quả báo cơ cực này. Đời này, nếu không thấy Phật A Di Đà hoặc triệu chứng vãng sinh, thời dầu có phải hy sinh thân, mạng, con sẽ quyết không ngơi nghỉ!”

Phát nguyện xong rồi, ta chuyên cần niệm Phật trong suốt bẩy ngày, bẩy đêm, liền được tâm khai. Thấy Phật A Di Đà tướng tốt rực rỡ, ánh sáng toả khắp mười phương, đưa tay vàng xoa đầu ta mà thọ ký.

Đến năm 75 tuổi, ta ngồi niệm Phật mà thoát hóa, được Phật và thánh chúng rước về Cực Lạc, nhưng vì bản nguyện độ sinh, nên ta thường trở lại cõi này, tuỳ theo cơ duyên mà dìu dắt mọi người vào Chính Pháp.

Nay, ta lại vì các ngươi mà chỉ rõ chính, tà, mở bầy môn Tịnh Độ. Các ngươi phải một lòng, một ý tu pháp môn này, quyết định sẽ được lợi ích lớn. Kẻ nào tâm ý bền chắc thì không cần đợi tới khi vãng sinh, mà ngay đời này cũng được thấy Phật! Hãy ghi nhớ bài kệ sau đây của ta, mà tiến tu:

Bớt nói một câu chuyện,
Niệm thêm một tiếng Phật
Đánh chết được vọng niệm
Hiển Pháp thân chân thật.

Có ngưới hỏi: “Niệm Phật mà không được nhất tâm thì phải làm thế nào?”

Ngài dậy:”Ngươi nên ngồi yên lặng, dứt hết tư tưởng, từ từ mà niệm. Điều cốt yếu là phải làm sao cho tiếng nương theo tâm, tâm duyên theo tiếng. Tâm và tiếng luôn tương hợp với nhau. Cứ thế lâu ngày, tự nhiên sẽ thấy lòng mình trong lặng. Tâm, cảnh chiếu sáng, dứt mọi đối đãi, chứng được niệm Phật tam muội. Nhưng nhớ, hàng ngày phải niệm cho nhiều, từ ngàn cho đến muôn câu, không để gián đọan thì mới dễ thuần thục. Nếu cố ép tâm, cầu mau chuyên nhất, quyết không thể được!”

Rồi ngài lại dậy: “Vọng niệm tiêu mất, là tâm thường trụ của chư Phật. Vọng niêm mà còn, là tâm sinh diệt của chúng sinh. Nếu các ngươi có thể miên mật gia công, tiếng niệm liên tục, không hở, không loạn, thì mới mong được tương ưng…”

E. CHÚNG HẠNH NIỆM PHẬT

Chúng hạnh niệm Phật là cách niệm Phật của những người không chuyên tu một hạnh, mà kiêm tu nhiều hạnh khác nhau. Giữa Pháp hội Hoa Nghiêm, sau khi ca tụng công đức không thể nghĩ bàn của Phật, bồ tát Phổ Hiền nói với đại chúng và đồng tử Thiện Tài rằng: “Muốn thành tựu công đức ấy thì phải tu 10 hạnh nguyện rộng lớn sau đây:

  1. Kính lễ chư Phật.
  2. Xưng tán Như Lai.
  3. Quảng tu cúng dường.
  4. Sám hối nghiệp chướng.
  5. Tuỳ hỉ công đức.
  6. Thỉnh chuyển Pháp luân.
  7. Thỉnh Phật trụ thế.
  8. Thường tuỳ Phật học.
  9. Hằng thuận chúng sinh.
  10. Phổ giai hồi hướng.

Nói kính lễ chư Phật là như vầy: Có vô số đức Phật ở trong mười phương và của cả ba đời, chúng ta đều dùng thân, miệng, ý để kính lễ… Niệm niệm nối luôn không hở. Ba nghiệp không hề nhàm mỏi.    

Nói xưng tán Như Lai là như vầy: Có vô số đức Phật ở trong mười phương và của cả ba đời, mỗi đức Phật ấy lại có rất nhiều bồ tát vây quanh, chúng ta đều dùng lưỡi vi diệu khen ngợi công đức của các Ngài. Khen ngợi đến tột đời vị lai và khắp cả pháp giới không sót chỗ nào… Niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói quảng tu cúng dường là như vầy: Có vô số đức Phật ở trong mười phương và của cả ba đời, mỗi đức Phật ấy lại có rất nhiều bồ tát vây quanh, chúng ta đều đem lễ vật, như hương, hoa, tàn, lọng, thức ăn, y phục, âm nhạc… đến để cúng dường. Đem lễ vật đến cúng dường chư Phật như vậy, gọi là sự cúng dường. Sự cúng dường tuy rất quí, nhưng không quí bằng Pháp cúng dường. Pháp cúng dường là tu hành đúng theo lời Phật dậy, như: làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thay cho chúng sinh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường, tu tập căn lành để cúng dường, chẳng bỏ hạnh bồ tát để cúng dường, chẳng rời tâm bồ đề để cúng dường. Công đức của Pháp cúng dường này rất lớn, lớn bằng trăm lần, ngàn lần, vạn lần sự cúng dường. Vì sao? Vì theo lời Phật dậy mà tu hành thời sẽ thành Phật. Cúng dường như vậy, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói sám hối nghiệp chướng là như vầy: Chúng ta phải tự nghĩ rằng, từ vô số kiếp về trước, do tham, sân, si thôi thúc thân, miệng và ý tạo ra vô lượng nghiệp ác. Nếu những nghiệp ác này mà có hình tướng thì ngay cả cõi hư không cũng không chứa hết được! Nay chúng ta trọn đem ba nghiệp trong sạch đối trước chư Phật và bồ tát ở khắp pháp giới thành tâm sám hối, nguyện không tái phạm, thường trụ nơi cảnh thanh tịnh, đầy đủ pháp lành. Sám hối như vậy, niệm niệm nối luôn không hở. Ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói tuỳ hỷ công đức là như vầy: Có vô số đức Phật ở trong mười phương và của cả ba đời, từ lúc mới phát tâm, vì muốn chứng nhất thiết trí, mà siêng tu cội phúc, chẳng tiếc thân mạng. Trong vô lượng kiếp, mỗi kiếp đều bố thí đầu, mắt, tay, chân.., làm những hạnh khó làm, tu các món ba la mật, nhập các trí địa của bồ tát, trọn thành quả vô thượng bồ đề của Phật, nhập Niết Bàn, chia xá lợi. Bao nhiêu căn lành ấy chúng ta đều vui theo. Cho đến tất cả các loài lục thú, tứ sinh và các bậc Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, hữu học và vô học có bao nhiêu công đức chúng ta cũng đều mừng cho họ… Tuỳ hỷ như vậy, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói thỉnh chuyển Pháp luân là như vầy: Trong vô lượng cõi Phật ở mười phương và của cả ba đời, tại mỗi cõi, trong mỗi niệm, đều có vô số đức Phật mới thành với rất nhiều bồ tát vây quanh, chúng ta đều đem thân, miệng, ý ân cần mời nói Pháp mầu. Niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp không hề nhảm mỏi.

Lại nữa, nói thỉnh Phật trụ thế là như vầy: Có vô số đức Phật trong mười phương cùng các bồ tát, thinh văn, duyên giác, hữu học, vô học, cho đến các bậc thiện tri thức toan nhập Niết Bàn, chúng ta đều thỉnh cầu các Ngài khoan nhập Niết Bàn, nán ở lại cõi đời để làm lợi ích cho chúng sinh. Thỉnh cầu như vậy, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói thường tuỳ Phật học là như vầy: Như đấng Tỳ Lô Giá Na, từ khi mới phát tâm, tinh tấn, không trễ nải, đem vô lượng thân mạng ra bố thí. Lột da làm giấy. Trẻ xương làm bút. Chích máu làm mực. Biên chép kinh điển chất cao như núi Tu Di. Vì tôn trọng Chính Pháp mà không tiếc thân mạng, huống chi là ngôi vua, thành ấp, cung diện, vườn tược… Lại, thực hành các hạnh khó làm, như thành Đạo dưới cây bồ đề, vận dụng thần thông, khởi các huyễn cảnh, hiện những hóa thân, dùng tiếng viên mãn, tuỳ theo căn tánh mà giáo hoá chúng sinh. Nhẫn đến thị hiện nhập Niết Bàn. Tất cả những đức hạnh ấy đều là những gương tốt để chúng ta bắt chước học theo. Học theo như vậy, niệm niêm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói hằng thuận chúng sinh là như vầy: Có bao nhiêu chúng sinh trong tất cả các cõi ở mười phương, như loài noãn sinh, loài thai sinh, loài thấp sinh, loài hoá sinh, loài có sắc, loài không sắc, loài có tưởng, loài không tưởng, loài chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, chúng ta đều tuỳ thuận, như kính cha mẹ, như thờ thầy cô, như cúng dường các bậc A La Hán và chư Phật không khác. Trong các loài ấy, nếu ai bị bệnh thì chúng ta vì họ mà làm thầy thuốc. Nếu ai lầm lạc thì chúng ta vì họ mà chỉ đường ngay nẻo chính. Nếu ai nghèo túng thì chúng ta vì họ mà giúp cho được của báu. Tuỳ thuận chúng sinh như vậy, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Lại nữa, nói phổ giai hồi hướng là như vầy: Từ hạnh kính lễ ban đầu nhẫn đến hạnh tuỳ thuận có bao nhiêu công đức chúng ta đều đem hồi hướng cho tất cả ba đời chúng sinh ở khắp mười phương. Nguyện cho tất cả đều được an lạc, không bị bệnh khổ. Muốn làm ác không được, tu thiện nghiệp mau thành. Hồi hướng như vậy, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân, miệng và ý không hề nhàm mỏi.

Trên đây là 10 điều nguyện đầy đủ và viên mãn của hàng đại bồ tát.

Người nào chịu khó tu hành theo 10 điều nguyện này thì có thể làm lợi ích cho chúng sinh và tiến tới quả Phật…              

Người nào dốc lòng tin tưởng nơi 10 điều nguyện này, mà thọ trì đọc tụng, thì có thể trừ được 5 tội vô gián và diệt được hết thẩy thân bệnh, tâm bệnh và các khổ não của thế gian cùng những ác nghiệp nhiều như vi trần. Các loài ác thần, ác quỉ đều phải lánh xa, ngoại trừ những vị tình nguyện đi theo để hộ trì…

Lại nữa, những người vừa nói trên đây, vào lúc lâm chung, thân thể hư hoại, quyến thuộc xa lià, địa vị, tiền tài, vợ con… đều không đem theo được. Chỉ nhờ 10 điều nguyện này mà được hóa sinh về cõi Cực Lạc.

Đến Cực Lạc rồi, liền thấy Phật A Di Đà, cùng các bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Di Lạc vây quanh, được Phật xoa đầu, thụ ký, trải qua vô lượng kiếp, dùng sức trí tuệ làm lợi cho chúng sinh ở khắp các thế giới trong mười phương. Rồi chẳng bao lâu, người ấy sẽ ngồi Đạo tràng, hàng phục các ma, thành Đạo Chính Giác, xoay chuyển Pháp luân, giáo hóa hữu tình…

Để tóm tắt lời dậy của mình về 10 hạnh nguyện nói trên, bồ tát Phổ Hiền đọc một bài kệ, trong đó có đoạn văn sau:

Con nguyện đến lúc sắp lià đời,
Tận trừ hết thẩy mọi chướng ngại,
Chính mắt thấy Phật A Di Đà,
Liền được vãng sinh về Cực Lạc.

Đoạn văn này rất quan trọng, vì nó nói lên ước nguyện của những người siêng tu tịnh nghiệp, cầu sinh Cực Lạc!

*

Nhớ Phật niệm Phật (hay Ức Phật niệm Phật), Quán Phật niệm Phật (hay Quán tượng niệm Phật), Quán tưởng niệm Phật, Trì danh niệm Phật và Chúng hạnh niệm Phật kể trên, là 5 phép tu căn bản của tông Tịnh Độ. Tiếp theo, tôi xin trình bầy những kinh nghiệm thực tiễn của chư Tăng.

THEO TRÍ GIẢ ĐẠI SƯ, muốn được vãng sinh thì phải có đủ hai hạnh là chán ghét và ưa thích. Chán ghét là ghét cái thân bằng sương, bằng thịt đầy khổ đau của mình và cõi Ta Bà dơ bẩn này. Ưa thích là thích cõi Cực Lạc thanh tịnh toàn vui, lại có thầy hay, bạn tốt cùng những điều kiện thuận lợi cho việc thăng tiến của chúng ta.  

Nếu thực sự ghét Ta Bà và thích Cực Lạc thì chúng ta sẽ vui vẻ bỏ hết những lợi ích trần gian, chăm lo bố thí, trì giới và niệm Phật để cầu vãng sinh. Đây chính là lý do mà người tu tịnh nghiệp phải cố gắng nuôi lớn lòng chán ghét và ưa thích nói trên. Nuôi lớn chúng bằng cách nào?

THEO THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ (1) Muốn nuôi lớn lòng chán ghét Ta Bà và lòng ưa thích Cực Lạc thì mỗi khi ra đường, thấy rác rến, sình lầy nhơ nhớp, chúng ta nên khởi nghĩ: Cõi này thực là bẩn thỉu, đáng chán. Ở Cực Lạc toàn là bẩy báu, trong sạch, đáng ưa. Ta nhất định bỏ cõi này, cầu sinh Cực Lạc!

Hoặc khi gặp nghịch cảnh bức bách khổ sở, chúng ta nên khởi nghĩ: Cõi này nhiều đau thương, trái ý. Ở Cực Lạc, luôn an vui, mãn nguyện. Ta nhất định bỏ cõi này, cầu sinh Cực Lạc!

Hoặc khi ra chợ, nghe thấy những lời chửi bới, nguyền rủa, chúng ta nên khởi nghĩ: Tại cõi này thường nghe những lời thô tục. Ở Cực Lạc, hằng có nhạc trời và tiếng chim nói Pháp. Ta nhất định bỏ cõi này cầu sinh Cực Lạc!  

Hoặc khi bị bạn bè phản bội, chúng ta nên nghĩ: Tại cõi này, có nhiều người xấu, dễ ghét. Ở Cực Lạc, toàn là người lành, đáng kính. Ta nhất định bỏ cõi này, cầu sinh Cực Lạc!

Hoặc khi sinh kế nhọc nhằn, chúng ta nên khởi nghĩ: Tại cõi này, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Ở Cực Lạc, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, không lo thiếu thốn. Ta nhất định bỏ cõi này, cầu sinh Cực Lạc!

Tóm lại, chúng ta phải khéo léo lợi dụng mọi hoàn cảnh để làm cho tâm chán ghét Ta Bà càng ngày, càng mãnh liệt và lòng ưa thích Cực Lạc càng ngày, càng thiết tha.  

THEO THIỆN ĐẠO ĐAI SƯ, muốn chắc chắn được vãng sinh thì phải chuyên tu: Thân chuyên lễ Phật A Di Đà, không lễ một vị thánh nào khác. Ý chuyên tưởng Phật A Di Đà, không sen tạp tưởng. Miệng chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà, câu nọ nối liền câu kia, miên mật không hở.

Lại nữa, người niệm Phật không được sợ chết. Phải thường nghĩ rằng: Thân này không sạch, vô thường và khổ não. Nếu bỏ được nó để về Cực Lạc thì thực đáng mừng! Do đó, lúc đau yếu chỉ một lòng niệm Phật chờ chết. Lại dặn vợ con, nếu có người đến thăm thì nên vì mình mà niệm Phật, không nói chuyện đời. Rủi bệnh trở nặng mà chết, người nhà không được than khóc, phải đồng thanh hộ niệm càng lâu càng tốt và ít nhất là phải làm cho tới lúc thân xác lạnh ngắt không còn chút hơi ấm nào.  

THEO VĨNH MINH ĐẠI SƯ thì phải tinh tu. Khi nằm, khi ngồi đều hướng về phương Tây. Lúc lễ bái, niệm Phật và phát nguyện phải khẩn thiết, như gặp giặc cướp, như bị nước cuốn, một lòng cầu cứu, mong thoát Ta Bà, vãng sinh Cực Lạc. Khẩn thiết như vậy, chắc chắn sẽ được toại ý. Trái lại, nếu tâm không cương quyết, lòng tin không chắc, nguyện và hạnh không hợp nhau thì khó có hy vọng vậy!

THEO TÔNG BỔN ĐẠI SƯ thì niệm Phật không có phương pháp nhất định. Nếu lập ra qui củ, bắt mọi người phải tuân theo, khiến cho việc tu hành của họ bị trở ngại là sai lầm! Nên biết pháp môn niệm Phật, chẳng lựa trí, ngu, sang, hèn, giầu, nghèo, nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục, chẳng luận người tu lâu hay mới học đều có thể thực hành. Hoặc niệm lớn, hoặc niệm nhỏ, hoặc niệm thầm, hoặc đảnh lễ mà niệm, hoặc kinh hành mà niệm, hoặc tham cứu mà niệm, hoặc lần chuỗi mà niệm, cho đến đi niệm, đứng niệm, ngồi niệm hay nằm niệm đều tốt cả. Chỉ cần giữ cho đều đặn, đừng để sụt lùi, rồi đem công đức ấy hồi hướng xin về Cực Lạc. Nếu có thể làm được như vậy thì không cần tìm học với bất cứ thầy nào.

THEO LIÊN TRÌ ĐẠI SƯ, muốn được vãng sinh, chúng ta phải lo giữ bổn phận, tránh những hạnh ác, làm các việc lành, tin sâu nhân quả, siêng năng niệm Phật. Niệm Phật có ba cách: Niệm thầm thì buồn ngủ. Niệm lớn thì hao hơi. Khẽ nhích môi mà niệm là tốt nhất. Tuy nói là tốt, nhưng không nên chấp chặt vào đó. Nếu tỉnh táo thì có thể niệm thầm. Nếu buồn ngủ thì buộc phải niệm lớn. Tuỳ trường hợp mà thay đổi!

Những người về hưu, mọi việc đã xong. Dưới, trên rảnh rỗi, nên đem hết tâm lực mà niệm Phật. Mỗi ngày từ một ngàn đến một vạn câu. Còn những người duyên đời chưa dứt, nhọc nhằn vì công việc, bôn ba vì gia đình, luôn luôn bận rộn thì mỗi buổi sáng nên cố gắng bỏ chút thì giờ, niệm Phật chừng mười hơi, rồi hồi hướng công đức xin về Cực Lạc. Nếu chịu khó tu hành đều đặn như thế, từ nay cho đến lúc chết không bỏ ngày nào, thì lo gì không được vãng sinh?

THEO TUÂN THỨC ĐẠI SƯ, thường chúng ta phải lo việc này, việc nọ. Ít ai được rảnh rang. Nhưng mỗi khi xong việc, phải lập tức nhớ ngay đến Phật và niệm danh hiệu của Ngài. Nếu là người có quá nhiều trách nhiệm, bận rộn liên miên, thì cũng nên dành chút ít thời giờ, tu môn Thập Niệm Hồi Hướng, như sau:

Sớm mai, thức dậy, thay quần áo xong, quì trước ban thờ hay đứng, chắp tay hướng về phương Tây mà niệm Phật. Niệm liền một hơi, mỗi hơi kể là một niệm, mười hơi kể là mười niệm. Khi niệm, không kể số câu nhiều hay ít, chỉ tuỳ theo hơi thở dài hay ngắn mà thôi. Mục đích của việc làm này là mượn hơi, nhiếp tâm. Niệm Phật xong xuôi, liền hồi hướng mà nguyện rằng: “Con là (Pháp danh), phát tâm bồ đề, một lòng qui mạng Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc. Xưa Phật lập thệ: ‘Nếu chúng sinh nào muốn về nước ta, xưng danh hiệu ta, trong vòng mười niệm, mà chẳng được sinh, ta không thành Phật.’ Nay con nguyện nhờ thệ lực của Phật, tội diệt, phúc sinh. Đến lúc lâm chung, biết ngày ngày giờ trước, Phật và Thánh chúng tiếp dẫn vãng sinh, ngộ được Phật thừa, phân thân vô số, cứu khắp muôn loài, đồng sinh Tây Phương, lên ngôi bất thoái.”

Môn Thập Niệm Hồi Hướng này là phương pháp thiết yếu của tiên đức, nếu chịu khó tu tập như thế, trọn đời không bỏ ngày nào thì quyết định sẽ được vãng sinh.

THEO NGẪU ÍCH ĐẠI SƯ, pháp môn niệm Phật không có chi lạ. Chỉ cần tin sâu, nguyện thiết và gắng sức thực hành mà thôi.

Tin là tin có Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc ở phương Tây.

Nguyện là chí thành mong mỏi được về Cực Lạc, thấy Phật, nghe Pháp.

Hạnh là siêng năng niệm Phật, mỗi ngày đêm, một ngàn, ba ngàn, năm ngàn, một vạn, ba vạn, năm vạn hay mười vạn câu. Chọn lấy một số làm chuẩn. Hàng ngày giữ đủ, quyết không để thiếu. Hành trì như thế trọn đời, không đổi thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. Khi được vãng sinh, tất không sợ thoái chuyển, bao nhiêu pháp môn đều được hiện tiền. Tại sao? Vì một câu A Di Đà bao trùm ba tạng kinh điển, một ngàn bẩy trăm công án và tám muôn tế hạnh vậy!

THEO ĐẠO PHÁI ĐẠI SƯ, khi niệm Phật thì mỗi chữ phải rõ ràng, mỗi câu phải nối nhau. Bởi không rõ ràng là hôn trầm, không nối nhau là tán loạn. Hành trì như vậy, mỗi niệm đều rành rõi nơi tâm. Dù đi đứng, nằm ngồi, ăn cơm, mặc áo cũng đều giữ câu hồng danh liên tục chẳng dứt. Lâu ngày sẽ chứng được Niệm Phật Tam Muội.

THEO NGỘ KHAI ĐẠI SƯ thì vì tâm mờ tối nên bị ngoại cảnh lôi kéo, niệm Phật không đắc lực. Thậm chí vọng niệm dầy đặc không tan. Nhưng đừng nóng nẩy, phải niệm chậm rãi, hiệu Phật phát từ nơi tâm, thành tiếng nơi miệng, rồi vào nơi tai. Tâm tưởng, miệng niệm, tai nghe. Cứ thế tuần hoàn, tạp niệm sẽ dứt.

THEO ẤN QUANG ĐẠI SƯ, muốn không luyến tiếc việc đời, niệm Phật được nhất tâm thì cần phải nhớ cái chết đang rình rập bên mình, không biết xẩy ra lúc nào? Bởi không biết sẽ chết lúc nào, nên phải lo niệm Phật cầu vãng sinh. Trong lúc niệm Phật, mi mắt nên sụp xuống, ít dùng bộ óc. Nếu dùng óc nhiều hơi nóng sẽ bốc lên não, tạo ra những ác bệnh, như cao áp, máu bầm hay nhức đầu. Nếu thấy nhức đầu thì nhớ phải dùng tai lắng nghe tiếng niệm của mình hoặc chú tâm nơi lòng bàn chân (2) thì hơi nóng sẽ đi xuống và ác bệnh sẽ tiêu tan.

THEO PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN, chẳng lo tán tâm hay nhất tâm. Chỉ cần tin lời Phật hứa, niệm danh hiệu Ngài, cầu sinh Cực Lạc. Nếu chúng ta tin sâu, nguyện thiết, lại luôn miệng niệm danh hiệu Phật, thì chắc chắn Phật sẽ tiếp dẫn!

*

Tóm lại, sau khi nghe qua năm pháp:

  1. Nhớ Phật niệm Phật.
  2. Quán Phật niệm Phật.
  3. Quán tưởng niệm Phật.
  4. Trì danh niệm Phật.
  5. Chúng hạnh niệm Phật.

và những kinh nghiệm của chư Tăng, chúng ta thấy: Một là khởi được lòng tha thiết kính mến và ngưỡng mộ đức Phật thì không cần dùng phương tiện chi khác, chỉ việc nuôi lớn lòng kính mến và ngưỡng mộ ấy cho đến lúc mình và Phật không thể rời nhau! Hai là chưa có được lòng kính mến và ngưỡng mộ nói trên thì phải chuyên cần niệm Phật hồi hướng.

Có nhiều cách niệm Phật, nhưng đơn giản nhất là phép Trì danh. Do đó, chúng ta nên tự mình lập ra một qui định rõ rệt, thí dụ: Giữ mười niệm, hoặc một trăm, hoặc ba trăm, hoặc năm trăm, hoặc một ngàn, hoặc ba ngàn, hoặc năm ngàn, hoặc một vạn câu Phật hiệu mỗi ngày. Rồi đem công đức hồi hướng xin về Cực Lạc. Ngoài thường khoá kể trên, mỗi khi rảnh rỗi đều nên niệm Phật. Đến lúc có việc thì phải lo làm. Tuy vẫn làm việc như mọi người, nhưng chớ để những việc làm ấy ràng buộc hoặc lôi kéo. Phải luôn luôn nghĩ rằng, mình chỉ ở tạm cõi này, để chờ ngày về Cực Lạc!

Có người thắc mắc rằng, kinh A Di Đà nói: “Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn, phúc đức, nhân duyên mà được sinh về Cực Lạc!” Như vậy, nếu chỉ tu mười niệm hồi hướng thì làm sao có đủ phúc đức cần thiết cho việc vãng sinh?

Phúc đức của mười niệm hồi hướng có thể không đủ để về Cực Lạc, nhưng nếu cộng thêm phúc đức của lòng tin nhận và công thực hành lời dậy của Phật, trong ba kinh Tịnh Độ thì chắc chắn sẽ được tiếp dẫn!        

Tin nhận và thực hành lời dậy của Phật trong ba kinh Tịnh Độ gọi là thọ trì ba kinh Tịnh Độ. Thọ trì ba kinh Tịnh Độ là tin tưởng có cảnh Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà và 48 đại nguyện của Ngài, rồi tuỳ duyên niệm Phật, cầu sinh Cực Lạc.

Phúc đức thọ trì kinh điển Đại Thừa rất lớn. Tại sao? Vì kinh điển Đại thừa rất khó tin và khó hiểu, chỉ người đại phúc mới có thể tín thọ và hành trì! Vì vậy, kinh nói, phúc đức của người thọ trì kinh điển Đại thừa lớn hơn phúc đức của người đem vô lượng châu báu cúng dường vô lượng Như Lai trong vô lượng kiếp! Đem phúc đức này hồi hướng Tây Phương thì nhất định sẽ được đón về Cực Lạc!

Điều quan trọng là phải chuyên cần. Chuyên, hiểu theo nghiã hep, là chỉ niệm một mình Phật A Di Đà, còn theo nghiã rộng, là chỉ theo một nghi thức tụng niệm duy nhất, trước sau không đổi. Cần là từ nay cho đến lúc chết, muôn ngày như một, quyết không bỏ sót ngày nào!

Montréal, ngày 27-11-2004

 

CHÚ THÍCH

1. Quán Phật: Kiên nhẫn quan sát một hình Phật hay một tượng Phật, mãi cho đến lúc nhắm mắt mà vẫn thấy hình tựơng ấy hiện ra rõ ràng như thực, gọi là đắc thô tướng. Thô tướng chỉ là một cái ảnh trung thực của hình tượng Phật ở trong tâm của hành gỉa, không hơn, không kém.

Tiếp tục quán sát thô tướng đã khởi được, mãi cho đến lúc tướng ấy phóng quang, chiếu khắp mười phương, gọi là đắc quang tướng. Quang tướng là sắc thân của Phật, rực rỡ, trong sạch, không một vết dơ, lại có thể tuỳ ý phóng lớn hay thu nhỏ lại được.

2. Chìa Khóa Học Phật, của Thiền sư Thích Thanh Từ, Suối Trắc Bá ấn tống, năm 1990.

3. Nếu vì quá sốt sắng nghe tiếng niệm Phật của chính mình mà bị nhức đầu hay bi cao áp, thì trong lúc đi, nên chú tâm vào lòng bàn chân; còn trong lúc ngồi, có thể chú tâm vào huyệt Đan Điền, ở dưới rốn để giải tỏa hơi nóng.

4. Muốn niệm Phật được dễ dàng, thì chỉ nên ghi nhớ Phật hiệu, niệm như con nít học bản cửu chương.

 

NGHI THỨC CHUYÊN TU TỊNH ĐỘ

(Tu một ngày: sáng và chiều)

CÔNG PHU SÁNG

 

A. LỄ PHẬT: Đứng hướng về bàn thờ, lạy 3 lạy và vái 1 vái.

B. TÁN HỘI LIÊN TRÌ

Liên Trì hải hội Di Đà Như Lai,
Quan Âm, Thế Chí ngồi trên liên đài,
Tiếp dẫn chúng sinh cùng lên kim giai.
Nguyện lớn mở rộng, mong khỏi trần ai.

Nam mô Liên Trì hải hội bồ tát ma ha tát (3 lần)

Nam mô Liên Trì hải hội Phật, Bồ tát (3 lần.)

C. TỤNG KINH A DI ĐÀ  

Chính tôi được nghe, vào một thời kia, đức Phật ở tại khu rừng Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc, thuộc nước Xá Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi đại tỳ kheo tăng.

Các vị ấy đều là đại La Hán, là bậc trí thức trong hàng tăng chúng, như: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên, Ma ha Câu Hi La, Ly Bà Da, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà v.v…

Lại, có các vị hàng đại bồ tát, như: Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, A Dật Đa bồ tát, Càn Đà Ha Đề bồ tát, Thường Tịnh Tấn bồ tát v.v…

Cả vua Đế Thích, vô lượng chư thiên, cùng với đại chúng đồng đến dự hội.

1. Vị trí Cực Lạc:

Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất rằng: Từ Ta Bà này, hướng về phương Tây, quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc, ở đó có Phật, hiệu A Di Đà, hiện đang thuyết Pháp.

2. Y báo trang nghiêm:

Này Xá Lợi Phất! Tại sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Chúng sinh cõi ấy không có đau khổ và thuần hưởng thụ những sự vui sướng, vì vậy cho nên, gọi là Cực Lạc.

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Cõi Cực Lạc có bẩy tầng lan can, bẩy tầng mành lưới, bẩy tầng hàng cây đều bằng bốn báu  bao bọc xung quanh, vì thế nước đó tên là Cực Lạc.

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc có những hồ ao toàn bằng bẩy báu, đáy trải cát vàng, nước tám công đức tràn đầy trong đó. Và đường bốn bên đều được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê cao quý. Lầu các trên ao cũng trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Trong các ao ấy, có những hoa sen lớn như bánh xe, hoa sen mầu xanh tỏa ánh sáng xanh, hoa sen mầu vàng tỏa ánh sáng vàng, hoa sen mầu đỏ tỏa ánh sáng đỏ, hoa sen mầu trắng tỏa ánh sáng trắng. Các hoa sen ấy có những hương vị thơm tho trong sạch.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc thường trỗi nhạc trời, ngày đêm sáu thời không ngừng rải xuống hoa mạn đà la ở trên mặt đất làm bằng vàng ròng. Vào lúc sáng sớm, chúng sinh cõi ấy đều lấy vạt áo hứng những hoa quí đem đi cúng dường mười muôn ức Phật ở những nơi khác và trong giây lát, họ đã về ngay tới nước của họ đúng kịp bữa ăn. Ăn uống xong rồi, lại đi kinh hành.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc có những giống chim mầu sắc lạ đẹp, như chim bạch hạc, khổng tước, anh võ, cùng chim xá lợi, ca lăng tần già và chim cộng mạng ngày đêm sáu thời hót tiếng hoà nhã diễn nói các pháp: năm căn, năm lực, cùng bẩy giác chi và tám chính đạo. Ai nghe tiếng ấy cũng đều sinh lòng niệm Phật, niệm Pháp, Niệm Tăng. Này Xá Lợi Phất! Ơng chớ nghĩ rằng những giống chim này do tội báo sinh! Như thế là sao? Vì cõi Phật đó, không ba đường ác. Này Xá Lợi Phật! Ở cõi Phật đó không tên đường ác, huống là có thực! Các giống chim ấy do Phật Di Đà muốn cho Pháp âm lan rộng cùng khắp, nên biến hoá ra hình tướng như thế.

Này Xá lợí Phất! Ở cõi Cực Lạc gió hiu hiu thổi, rung các cây báu cùng những lưới báu, phát ra những tiếng êm dịu nhiệm mầu như trăm ngàn nhạc đồng thời trỗi lên. Ai nghe tiếng ấy cũng đều sinh lòng Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

3. Chính báo thù thắng:

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Với đức Phật kia, tại sao lại có hiệu A Di Đà?

Này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng hào quang, soi suốt các nước ở trong mười phương, không bị ngăn ngại, nên có tên hiệu là A Di Đà.

Này Xá Lợi Phất! Cả đức Phật đó và dân của Ngài đều được sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên có tên hiệu là A Di Đà.

Này Xá Lợi Phất! Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã là mười kiếp.

Này Xá Lợi Phất! Phật A Di Đà hiện có vô lượng Thinh văn đệ tử. Các vị đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà biết hết được, hàng bồ tát chúng cũng đông như thế.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

4. Lý do phát nguyện:

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Chúng sinh các nơi sinh sang Cực Lạc, đều là những vị chứng ngôi Bất thoái, trong đó lại có rất nhiều bồ tát Nhất sinh bổ xứ, mà số nhiều ấy chẳng thể tính đếm để biết hết được, nên chỉ nói là vô lượng, vô biên, a tăng kỳ thôi.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có người nào nghe được lời này, thì nên phát nguyện, nguyện sinh Cực Lạc. Như thế là sao? Vì người nguyện ấy sẽ được cùng với các thượng thiện nhân hội họp một chỗ!

5. Nhân hạnh vãng sinh:

Này Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn, phúc đức, nhân duyên mà được sinh về cõi nước Cực Lạc.

Này Xá Lợi Phất! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà, mà phát lòng tin, niệm danh hiệu ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày cho đến bẩy ngày, một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc.

Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ấy, nói ra lời này.

Người nào nghe được, thì nên phát nguyện về Cực Lạc.

6. Chư Phật khuyến tin:

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Di Đà, phương Đông có đức A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi, vừa rộng, vừa dài, bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Nam có đức Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Tây có đức Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Bắc có đức Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương dưới có đức Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU  HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương trên có đức Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghiã Phật, Như Tu Di Sơn Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này!”

Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao kinh này lại có tên là: “KINH TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM?”

Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam và thiện nữ nào nghe và thọ trì kinh giáo này đây, cũng như nghe được danh hiệu chư Phật, thì người thiện nam và thiện nữ ấy sẽ được tất cả chư Phật hộ niệm và sẽ không sợ thoái chuyển nơi Đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác.

Này Xá Lợi Phất! Các ông phải nên tin lời của ta và lời chư Phật.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật!

Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.

7. Kinh pháp khó tin:

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật ấy cũng lại ngợi khen công đức của ta chẳng thể nghĩ bàn, mà thốt lên rằng: “Đức Phật Thích Ca hay làm những việc khó khăn hi hữu. Ở cõi Ta Bà, vào đời ngũ trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, cùng là mệnh trược, mà ngài tu chứng được ngôi vô thượng Chính đẳng Chính giác. Rồi vì chúng sinh diễn nói kinh pháp rất khó tin này!”

Này Xá Lợi Phất! Ông phải biết rằng ta đã làm được hai việc rất khó trong đời ác trược: một là tu chứng được ngôi vô thượng Chính đẳng Chính giác, hai là chỉ vì lợi ích chúng sinh mà nói kinh pháp rất khó tin này!

Đức Phật nói kinh A Di Đà xong, ngài Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, các chúng trời, người và a tu la vui mừng tín nhận, đảnh lễ mà lui.

Phật nói kinh A Di Đà.

D. BẠT HẾT THẨY NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐƯỢC SINH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

Nam mô A Di Đà bà giạ, đa tha già đa giạ, đa điạ giạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lăng đế. A di rị đa tỳ ca lăng đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha (3 lần).

E. TÁN PHẬT A DI ĐÀ

Phật A Di Đà thân kim sắc.
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di.
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hoá Phật vô số ức.
Hoá bồ tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh.
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Đứng yên và niệm “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật (1 vái)”

F. KINH HÀNH NIỆM PHẬT

Vừa đi vừa niệm: Nam mô A Di Đà Phật, khoảng 30 phút.

G. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT

Vừa ngồi vừa niệm lớn 4 chữ “A Di Đà Phật,” khoảng 20 phút.

H. TĨNH TỌA MẶC NIỆM

Vừa ngồi vừa niệm thầm 4 chữ “A Di Đà Phật,” khoảng 5 phút.

I. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT

Vừa ngồi vừa niệm lớn 4 chữ “A Di Đà Phật,” khoảng 20 phút.

J. PHÁT NGUYỆN VÃNG SINH

Nguyện sinh Cực Lạc, cảnh phương Tây
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ.
Hoa nở thấy Phật, chứng Vô sinh.
Bồ tát bất thoái là bạn hữu.

Nghỉ 5 phút.

Đứng lên và niệm “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật (1 vái)”

  1. KINH HÀNH NIỆM PHẬT (30 phút)
  2. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  3. TĨNH TỌA MẶC NIỆM (5 phút)
  4. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  5. PHÁT NGUYỆN VÃNG SINH (Như trên)
  6. LỄ PHẬT:

Đứng hướng về bàn thờ, lạy 3 lạy và vái 1 vái.

CÔNG PHU CHIỀU

 

  1. LỄ PHẬT (Như trên)
  2. TÁN PHẬT A DI ĐÀ (Như trên)

Đứng yên và niệm “Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật (1 vái)”

  1. KINH HÀNH NIỆM PHẬT (30 phút)
  2. ĐẢNH LỄ NIỆM PHẬT (108 lạy)

Có hai cách đảnh lễ niệm Phật: Một là vừa niệm, vừa lạy. Hai là: niệm trước, lạy sau :  

  1. Vừa niệm, vừa lạy là vừa lạy, vừa hát điệp khúc 5 câu:

Di Đà Phật.

A Di Đà Phật.

A Di Đà Phật.

Á Di Đà Phật.

Á Di Đà Phật.

Mỗi năm câu là một lạy. Cứ hát đến chữ À của câu thứ nhất thì cúi xuống. Đến chữ Á của câu thứ tư thì ngẩng lên.

  1. Niệm trước, lạy sau là niệm Nam mô A Di Đà Phật xong, rồi mới lạy.
  1. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  2. TĨNH TỌA MẶC NIỆM (5 phút)
  3. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  4. PHÁT NGUYỆN VÃNG SINH (Như trên)

Nghỉ 5 phút.

Đứng lên và niệm “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ, Đại bi A Di Đà Phật (1 vái)”

  1. KINH HÀNH NIỆM PHẬT (30 phút)
  2. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  3. TĨNH TỌA MẶC NIỆM (5 phút)
  4. TĨNH TỌA NIỆM PHẬT (20 phút)
  5. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC (Quì xuống và đọc bài hồi hướng):

Nguyện đem công đức này,
Trang nghiêm Phật tịnh độ.
Trên đền bốn ơn năng.
Dưới cứu khổ tam đồ.
Bất cứ ai thấy nghe,
Đều phát lòng bồ đề.
Khi bỏ báo thân này,
Liền sinh về Cực Lạc.

K. QUI Y (Đứng lên đọc bài Qui y.)

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng sinh thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy).

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng sinh hiểu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy).

Tự qui y tăng, đương nguyện chúng sinh thống lý đại chúng hết thẩy không ngại (1 lạy).

 

CHÚ THÍCH

Hộ niệm: Theo Gia Tường Pháp Hoa Nghiã Sớ, quyển 9: “Ngăn các ác pháp bên ngoài xâm  phạm, gọi là hộ. Khiến các thiện pháp bên trong nẩy nở, gọi là niệm.” Chư Phật hộ niệm người thọ trí kinh A Di Đà là chư Phật giúp người thọ trí kinh A Di Đà ngăn ngừa các ác pháp bên ngoài và làm nẩy nở các thiện pháp bên trong.

 

NGHI THỨC THANH TU TỊNH ĐỘ

1. LỄ PHẬT

Đứng hướng về bàn thờ, lạy 3 lạy và vái 1 vái.

2. TỊNH TRÀNG

Án! Lam. (3 lần)   

3. TỊNH NGHIỆP

Án! Ta phạ bà phạ truật đà, ta phạ đạt ma, ta phạ bà phạ truật độ hám. (3 lần)

4. CÚNG HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính,
Gửi theo đám mây hương,
Phảng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam Bảo.
Thề trọn đời giữ Đạo,
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật từ gia hộ:
Tâm bồ đề kiên cố,
Xa bể khổ, nguồn mê.
Sớm quay về bờ giác.

5. KỲ NGUYỆN:

Đệ tử chúng con theo lời Phật dậy, phúng tụng kinh chú, trì niệm hồng danh.

Ngưỡng mong mười phương Tam Bảo, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật, Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sinh Di Lạc Tôn Phật, Đại bi Quán Thế Âm bồ tát, Đại lực Đại Thế Chí bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương bồ tát, chư tôn bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng, từ bi gia hộ đệ tử chúng con phiền não dứt sạch, tội chướng tiêu trừ, thường được an lành, xa lià khổ ách, tâm bồ đề bền chắc, chí tu học vững vàng, phúc tuệ song tu, trang nghiêm Tịnh Độ.

Ngưỡng cầu chư chân linh, tứ sinh, lục đạo, sớm rõ đường lành, thoát vòng mê muội, ra khỏi u đồ, siêu sinh Lạc quốc.

Âm, dương đều lợi, ba cõi cùng nhờ, pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.

6. TÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương vô thượng,
Ba cõi  chẳng ai bằng,
Thầy dậy khắp trời, người.
Cha lành chung bốn loại.
Qui y tròn một niệm,
Dứt sạch nghiệp ba kỳ.
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.

7. ĐẢNH LỄ       

Án! Phạ nhật ra vật. (3 lần)

Nhất tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền, Thánh, Tăng thường trú Tam Bảo. (1 lạy)

Nhất tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sinh Di Lạc Tôn Phật, Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ pháp chư tôn Bồ tát, Đạo tràng hội thượng Phật, Bồ tát. (1 lạy).

Nhất tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ, Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại lực Đại Thế Chí Bồ tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, Thanh tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát. (1 lạy)

8. CHÚ ĐẠI BI

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật, Bồ tát (3 lần)

THIÊN THỦ, THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI

Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da, Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đoả bà da, ma ha ca rô ni ca da. Án! Tất bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

Nam mô Tất kiết lật đỏa y mông a ri da, Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô Na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đá sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa na ma bà dà, ma phạt đặc đậu. Đác điệc tha:

Án! A bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế. Di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà, ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô yết mông. Độ rô độ rô phạt dà ra đế. Ma ha phạt dà ra đế. Đà ra đà ra, địa rị ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi. Phạt xa phạt xâm, phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ, Na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ thước bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục kê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô Hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da, Bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án! Tất điện đô, mạn đà ra, bạt đà dạ, ta bà ha (7 lần).

9. TỤNG KINH A DI ĐÀ

Kệ khai kinh

Phật Pháp cao siêu rất nhiệm mầu
Trăm ngàn ức kiếp dễ tìm đâu
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghiã thật sâu.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

Nam mô Liên trì hải hội Phật, bồ tát. (3 lần)

Phật nói Kinh A Di Đà

Chính tôi được nghe, vào một thời kia, đức Phật ở tại khu rừng Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc, thuộc nước Xá Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi đại tỳ kheo tăng.

Các vị ấy đều là đại La Hán, là bậc trí thức trong hàng tăng chúng, như: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên, Ma ha Câu Hi La, Ly Bà Da, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà v.v…

Lại, có các vị hàng đại bồ tát, như: Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, A Dật Đa bồ tát, Càn Đà Ha Đề bồ tát, Thường Tịnh Tấn bồ tát v.v…

Cả vua Đế Thích, vô lượng chư thiên, cùng với đại chúng đồng đến dự hội.

a. Vị trí Cực Lạc:

Bấy giờ, đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất rằng: Từ Ta Bà này, hướng về phương Tây, quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc, ở đó có Phật, hiệu A Di Đà, hiện đang thuyết Pháp.

b. Y báo trang nghiêm:

Này Xá Lợi Phất! Tại sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Chúng sinh cõi ấy không có đau khổ và thuần hưởng thụ những sự vui sướng, vì vậy cho nên, gọi là Cực Lạc.

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Cõi Cực Lạc có bẩy tầng lan can, bẩy tầng mành lưới, bẩy tầng hàng cây đều bằng bốn báu  bao bọc xung quanh, vì thế nước đó tên là Cực Lạc.

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc có những hồ ao toàn bằng bẩy báu, đáy trải cát vàng, nước tám công đức tràn đầy trong đó. Và đường bốn bên đều được làm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê cao quý. Lầu các trên ao cũng trang hoàng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Trong các ao ấy, có những hoa sen lớn như bánh xe, hoa sen mầu xanh tỏa ánh sáng xanh, hoa sen mầu vàng tỏa ánh sáng vàng, hoa sen mầu đỏ tỏa ánh sáng đỏ, hoa sen mầu trắng tỏa ánh sáng trắng. Các hoa sen ấy có những hương vị thơm tho trong sạch.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc thường trỗi nhạc trời, ngày đêm sáu thời không ngừng rải xuống hoa mạn đà la ở trên mặt đất làm bằng vàng ròng. Vào lúc sáng sớm, chúng sinh cõi ấy đều lấy vạt áo hứng những hoa quí đem đi cúng dường mười muôn ức Phật ở những nơi khác và trong giây lát, họ đã về ngay tới nước của họ đúng kịp bữa ăn. Ăn uống xong rồi, lại đi kinh hành.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Ở cõi Cực Lạc có những giống chim mầu sắc lạ đẹp, như chim bạch hạc, khổng tước, anh võ, cùng chim xá lợi, ca lăng tần già và chim cộng mạng ngày đêm sáu thời hót tiếng hoà nhã diễn nói các pháp: năm căn, năm lực, cùng bẩy giác chi và tám chính đạo. Ai nghe tiếng ấy cũng đều sinh lòng niệm Phật, niệm Pháp, Niệm Tăng. Này Xá Lợi Phất! Ông chớ nghĩ rằng những giống chim này do tội báo sinh! Như thế là sao? Vì cõi Phật đó, không ba đường ác. Này Xá Lợi Phật! Ở cõi Phật đó không tên đường ác, huống là có thực! Các giống chim ấy do Phật Di Đà muốn cho Pháp âm lan rộng cùng khắp, nên biến hoá ra hình tướng như thế.

Này Xá lợí Phất! Ở cõi Cực Lạc gió hiu hiu thổi, rung các cây báu cùng những lưới báu, phát ra những tiếng êm dịu nhiệm mầu như trăm ngàn nhạc đồng thời trỗi lên. Ai nghe tiếng ấy cũng đều sinh lòng Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

c. Chính báo thù thắng:

Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Với đức Phật kia, tại sao lại có hiệu A Di Đà?

Này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng hào quang, soi suốt các nước ở trong mười phương, không bị ngăn ngại, nên có tên hiệu là A Di Đà.

Này Xá Lợi Phất! Cả đức Phật đó và dân của Ngài đều được sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên có tên hiệu là A Di Đà.

Này Xá Lợi Phất! Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã là mười kiếp.

Này Xá Lợi Phất! Phật A Di Đà hiện có vô lượng Thinh văn đệ tử. Các vị đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà biết hết được, hàng bồ tát chúng cũng đông như thế.

Này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy!

d. Lý do phát nguyện:

Lại còn đây nữa, ông Xá Lợi Phất! Chúng sinh các nơi sinh sang Cực Lạc, đều là những vị chứng ngôi Bất thoái, trong đó lại có rất nhiều bồ tát Nhất sinh bổ xứ, mà số nhiều ấy chẳng thể tính đếm để biết hết được, nên chỉ nói là vô lượng, vô biên, a tăng kỳ thôi.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có người nào nghe được lời này, thì nên phát nguyện, nguyện sinh Cực Lạc. Như thế là sao? Vì người nguyện ấy sẽ được cùng với các thượng thiện nhân hội họp một chỗ!

e. Nhân hạnh vãng sinh:

Này Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn, phúc đức, nhân duyên mà được sinh về cõi nước Cực Lạc.

Này Xá Lợi Phất! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà, mà phát lòng tin, niệm danh hiệu ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày cho đến bẩy ngày, một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc.

Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ấy, nói ra lời này. Người nào nghe được, thì nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.

f. Chư Phật khuyến tin:

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Di Đà, phương Đông có đức A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi, vừa rộng, vừa dài, bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Nam có đức Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Tây có đức Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương Bắc có đức Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương dưới có đức Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU  HỘ NIỆM này.”

Này Xá Lợi Phất! Phương trên có đức Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghiã Phật, Như Tu Di Sơn Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế, đều ở nước mình, hiện ra tướng lưỡi vừa rộng, vừa dài bao trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, nói lời thành thực, khuyên các chúng sinh: “Chúng sinh các ngươi phải tin những lời ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM này!”

Này Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Vì sao kinh này lại có tên là: “KINH TẤT CẢ CHƯ PHẬT ĐỀU HỘ NIỆM?”

Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam và thiện nữ nào nghe và thọ trì kinh giáo này đây, cũng như nghe được danh hiệu chư Phật, thì người thiện nam và thiện nữ ấy sẽ được tất cả chư Phật hộ niệm và sẽ không sợ thoái chuyển nơi Đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác.

Này Xá Lợi Phất! Các ông phải nên tin lời của ta và lời chư Phật.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật!

Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.

g. Kinh pháp khó tin:

Này Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật ấy cũng lại ngợi khen công đức của ta chẳng thể nghĩ bàn, mà thốt lên rằng: “Đức Phật Thích Ca hay làm những việc khó khăn hi hữu. Ở cõi Ta Bà, vào đời ngũ trược : kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, cùng là mệnh trược, mà ngài tu chứng được ngôi vô thượng Chính đẳng Chính giác. Rồi vì chúng sinh diễn nói kinh pháp rất khó tin này!”

Này Xá Lợi Phất! Ông phải biết rằng ta đã làm được hai việc rất khó trong đời ác trược: một là tu chứng được ngôi vô thượng Chính đẳng Chính giác, hai là chỉ vì lợi ích chúng sinh mà nói kinh pháp rất khó tin này!

Đức Phật nói kinh A Di Đà xong, ngài Xá Lợi Phất cùng các tỳ kheo, các chúng trời, người và a tu la vui mừng tín nhận, đảnh lễ mà lui.

Phật nói kinh A Di Đà.

10. BẠT HẾT THẨY NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐƯỢC SINH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

Nam mô A Di Đà bà dạ đa tha già đa dạ đa điạ dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lăng đế. A di rị đa tỳ ca lăng đa. Dà di nị, dà dà na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha. (3 lần)

11. TÁN PHẬT DI ĐÀ

A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di.
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hoá Phật vô số ức.
Hóa bồ tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh.
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, Đại từ, Đại bi A Di Đà Phật (1 vái)

12. NIỆM PHẬT DI ĐÀ

Kinh hành niệm Phật (30 phút)

Tĩnh tọa niệm Phật (20 phút)

Tĩnh tọa mặc niệm (5 phút)

Tĩnh tọa niệm Phật (20 phút)

Nghỉ 5 phút

Kinh hành niệm Phật (20 phút)

Đảnh lễ niệm Phật (30 phút)

Tĩnh tọa mặc niệm (5 phút)

Tĩnh tọa niệm Phật (20 phút)

13. NIỆM CHƯ BỒ TÁT

Nam mô Quán thế Âm bồ tát (3 lần)

Nam mô Đại Thế Chí bồ tát (3 lần)

Nam mô Địa Tạng Vương bồ tát (3 lần)

Nam mô Đại Hải Chúng bồ tát (3 lần)

14. SÁM NGUYỆN

Cúi lạy phương Tây cõi An Lạc.
Tiếp dẫn chúng sinh Đại Đạo sư.
Nay con phát nguyện, nguyện vãng sinh.
Nhờ lượng Từ Bi thương tiếp độ.

Đệ tử chúng con, vì khắp tất cả bốn ơn, ba cõi pháp giới chúng sinh, cầu đạo Bồ đề, nhất thừa vô thượng, chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật, muôn đức hồng danh, cầu sinh Tịnh Độ.

Đệ tử chúng con phúc cạn, nghiệp sâu, chướng dầy, tuệ mỏng, nhiễm tâm dễ khởi, tịnh đức khó thành, nay đối Từ tôn, kính gieo năm vóc, bầy tỏ một lòng, chí thành sám hối.

Con và chúng sinh, khoáng kiếp đến nay, mê tâm bản tịnh, phóng tham, sân, si, nhiễm nhơ ba nghiệp, vô lượng, vô biên, tội cấu đã gây, vô lượng, vô biên nghiệp oan đã kết, nguyện đều tiêu diệt. Nguyện từ hôm nay, lập thệ nguyện sâu: xa lìa pháp ác, thề không còn tạo; siêng tu đạo Thánh, thề chẳng biếng lui; thề thành Chính Giác, thề độ chúng sinh.

Xin đức Từ tôn, dùng nguyện từ bi, chứng biết lòng con, thương sót đến con, gia bị cho con. Nguyện khi thiền quán hoặc lúc mộng mơ, được thấy thân vàng A Di Đà Phật, được chơi cõi Tịnh của đức Đạo sư, được nhờ Từ tôn, cam lộ rưới đầu, quang minh soi thân, tay xoa đầu con, áo đắp thân con. khiến cho chúng con, chướng cũ tự trừ, căn lành thêm lớn, mau tiêu phiền não, chóng phá vô minh, viên giác diệu tâm, bỗng nhiên khai ngộ.Tịch Quang cảnh thật thường được hiện tiền. Đến lúc lâm chung biết ngày giờ trước, thân không hết thẩy bệnh khổ, ách nạn. Tâm không hết thẩy tham luyến, mê hoặc. Các căn vui đẹp. Chính niệm phân minh. Bỏ báo an lành như vào thiền định. Phật A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí cùng thánh, hiền chúng phóng quang tiếp dẫn, dơ tay dắt dìu, lầu các, tràng phan, nhạc trời hương lạ, Tây phương cảnh Phật, bầy hiện rõ ràng, khiến cho chúng sinh, kẻ thấy, người nghe, mừng vui, khen cảm, phát bồ đề tâm.

Bấy giờ thân con ngồi đài kim cương, bay theo sau Phật, như khẩy móng tay, sinh vào sen báu, nơi ao thất bảo ở cõi Tây phương. Khi hoa sen nở, thấy Phật, bồ tát nghe tiếng pháp mầu, chứng vô sinh nhẫn. Giây phút lại đi thừa sự chư Phật, nhờ ơn thụ ký. Được thụ ký rồi, ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông, vô lương trăm nghìn môn đà ra ni, hết thẩy công đức đều được thành tựu. 

Từ đó về sau, không rời An Dưỡng, trở lại Ta Bà, phân thân vô số, khắp cả mười phương, dùng sức thần thông tự tại khó bàn và các phương tiện, độ thoát chúng sinh đều khiến lìa nhiễm, chứng được tịnh tâm, đồng sinh Tây phương, lên ngôi bất thoái.

Nguyện lớn như vậy, thế giới không tận, chúng sinh không tận, nghiệp và phiền não thẩy đều không tận, đại nguyện của con cũng không cùng tận

Nay con lễ Phật, phát nguyện tu trì. Xin đem công đức hồi thí hữu tình, bốn ơn khắp báo, ba cõi đều nhờ, pháp giới chúng sinh trọn thành Phật trí.

15. PHỤC NGUYỆN

Công đức trì chú, niệm Phật, tụng kinh, hồi hướng Tây phương, trang nghiêm Tịnh Độ. Báo bốn trọng ân, giúp ba đường khổ. Hiện tiền tứ chúng, tăng trưởng thắng nhân, quá vãng chân linh siêu sinh Lạc quốc. Âm dương đều lợi. Ba cõi cùng nhờ. Pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Nam mô A Di Đà Phật.

16. QUI Y

Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh thể theo Đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lạy)

Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy).

Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng hết thẩy không ngại. (1 lạy)

17. HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức trì tụng này.
Hồi thí khắp bốn ơn, ba cõi.
Đệ tử và pháp giới hữu tình,
Đồng sinh Cực Lạc, thành Phật đạo.

CHÚ THÍCH

  1. Hàm linh: Hàm là chứa. Hàm linh là loài có linh tính, cũng gọi là chúng sinh.
  2. Chư Phật hộ niệm: Chư Phật giúp người thọ trì kinh A Di Đà ngăn ngừa các pháp ác bên ngoài và làm nẩy nở các pháp thiện bên trong.
  3. Cõi Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy: Cõi Cực Lạc được trang nghiêm như thế là do công đức phát nguyện và tu hành của Phật A Di Đà.
  4. Bất thoái: Không thụt lùi. Lên ngôi bất thoái là đạt đến mức không sợ bị thụt lùi, mà chắc chắn sẽ tiến mãi, mãi cho đến khi thành Phật. Bất thoái có năm nghiã:
  5. Tất bất thoái: Người niệm Phật, bất luận là nhất tâm hay tán tâm, hữu ý hay vô ý, hiểu hay chẳng hiểu, miễn là danh hiệu Phật đã lọt vào tai họ, thì chắc chắn sẽ có ngày họ được Phật độ.
  6. Nguyện bất thoái: Người niệm Phật còn nặng nghiệp, nhưng không bỏ nguyện vãng sinh thời sau khi chết sẽ được sinh về Thánh Phàm Đồng Cư Độ.
  7. Vị bất thoái: Người niệm Phật mà phá được kiến tư hoặc thì không sợ mất thánh vị và sau khi chết sẽ được sinh về Phương Tiện Hữu Dư Độ.
  8. Hạnh bất thoái: Người niệm Phật mà phá được trần sa hoặc và một phần của vô minh hoặc thì không sợ mất hạnh bồ tát và sau khi chết sẽ được sinh về Thực Báo Trang Nghiêm Độ.
  9. Niệm bất thoái: Người niệm Phật mà phá được vô minh hoặc thì không sợ mất chính niệm và sau khi chết sẽ được sinh về Thường Tịch Quang Tịnh Độ.

Thánh chúng ở Cực Lạc, bất luận thuộc phẩm nào, cũng đều được 3 loại bất thoái sau, nghiã là không sợ mất thánh vị, không sợ mất hạnh bồ tát và không sợ mất chính niệm.

10. Chín phẩm sen: Chín cấp bậc của thánh chúng ở Cực Lạc, kể từ trên xuống dưới là:

  1. Thượng phẩm thượng sinh
  2. Thượng phẩm trung sinh
  3. Thượng phẩm hạ sinh
  4. Trung phẩm thượng sinh
  5. Trung phẩm trung sinh
  6. Trung phẩm hạ sinh
  7. Hạ phẩm thượng sinh
  8. Hạ phẩm trung sinh
  9. Hạ phẩm hạ sinh.

Theo Đại sư Trí Húc:

  1. Người đầy đủ tín nguyện, nhưng thường tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Hạ Sinh. Nếu ít tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Trung Sinh. Còn nếu luôn chuyên tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Thượng Sinh.
  2. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến sự nhất tâm bất loạn, đoạn được kiến hoặc cho đến không khởi tham, sân, si thì sau khi chết sẽ sinh về Trung Phẩm.
  3. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến lý nhất tâm bất loạn, đoạn trần sa hoặc cho đến  phá được một phần vô minh thì sau khi chết sẽ sinh về Thượng Phẩm.

11. Kệ tán Phật A Di Đà: Bài kệ tán Phật A Di Đà ở trên, có nghiã là:

Thân của đức Phật A Di Đà mầu vàng ròng.

Hào quang từ những tướng tốt của ngài phóng ra (thực là tuyệt vời) không có gì sánh được.

Chòm lông trắng ở giữa hai hàng lông mày của ngài, thường gọi là bạch hào, uyển chuyển như năm ngọn núi Tu Di.

Mắt của ngài trong xanh như (nước ở) bốn biển lớn.

Trong hào quang của ngài có vô số Hóa Phật.

Các hóa bồ tát cũng nhiều vô cùng.

(Ngài đã phát) 48 đại nguyện để độ chúng sinh.

Chín phẩm hàm linh (nhờ đó mà) qua được bờ bên kia của biển sinh tử.

Như vậy, bài kệ này có thể tạm dịch như sau:

Thân Phật Di Đà mầu vàng ròng.

Cực kỳ đẹp đẽ, lại trang nghiêm.

Bạch hào uyển chuyển như năm núi.   

Hai mắt trong xanh tựa biển khơi.

Trong hào quang hiện nhiều hóa Phật,

Hóa bồ tát chúng cũng vô biên.

Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh.

Chín phẩm hàm linh lên giải thoát.

 

NGHI THỨC NIỆM PHẬT RÚT GỌN

(dành cho những người quá bận rộn vì cuộc sống)

1. TÁN PHẬT

 

A Di Đà Phật thân kim sắc.
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di.
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hoá Phật vô số ức.
Hoá bồ tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh.
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi  A Di Đà Phật (1 vái)

2. NIỆM PHẬT

Nam mô A Di Đà Phật. (Niệm đúng 10 hơi, không hơn, không kém. Thế nào là một hơi? Một hơi là một hơi thở ra và vào. Niệm danh hiệu Phật liền một hơi. Khi niệm không kể số câu nhiều hay ít, chỉ tuỳ theo hơi thở dài hay ngắn mà thôi.)

3. HỒI HƯỚNG PHÁT NGUYỆN

Đệ tử chúng con, phát tâm bồ đề, một lòng qui mạng Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc.

Xưa Phật lập thệ: “Nếu chúng sinh nào muốn về nước ta, xưng danh hiệu ta, trong vòng mười niệm, mà chẳng được sinh, ta không thành Phật.”

Nay con nguyện nhờ thệ lực của Phật, tội diệt, phúc sinh. Đến lúc lâm chung biết ngày giờ trước, Phật và Thánh chúng tiếp dẫn vãng sinh. Ngộ được Phật thừa, phân thân vô số, cứu khắp muôn loài, đồng sinh Tây phương, lên ngôi bất thoái (1 vái).

 

CHÚ THÍCH

Theo Đại sư Ấn Quang, chúng ta chỉ niệm mười hơi, không hơn, không kém!

Nếu được rảnh rỗi, có thể niệm nhiều hơn mười hơi, thì không nên đếm hơi, mà phải đếm câu. Với cách đếm câu, chúng ta có thể niệm 50 câu, 100 câu, 300 câu hay 500 câu “Nam mô A Di Đà Phật”, trước khi hồi hướng phát nguyện.

 

THIỀN TỊNH SONG TU

Thiền tịnh song tu là một pháp môn hỗn hợp dành cho những người thích học thiền định, nhưng lại không chắc sẽ đắc Đạo ngay trong đời này. Không chắc sẽ đắc Đạo ngay trong đời này, lại sợ bị thoái chuyển ở đời sau, nên ngoài việc thiền định, họ còn niệm Phật, cầu cho kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc, để tiếp tục việc học còn đang dang dở.

ĐỊNH NGHIÃ

1. Tu thiền, hiểu theo nghiã rộng, là tu thiền định. Tu thiền định là tập trung tư tưởng để hoặc chỉ tịnh đặng giữ tâm yên lặng, hoặc quán tưởng đặng khởi các tác dụng, hoặc tham thiền đặng thâm nhập chân tính.

2. Tu tịnh hay tu Tịnh Độ là niệm Phật A Di Đà để xin kiếp tới, sẽ được sinh về Cực Lạc, học Đạo.

3. Thiền tịnh song tu không phải là đứng dạng chân trên hai chiếc thuyền: một Thiền, một Tịnh, như nhiều người lầm tưởng! Thiền tịnh song tu là tập thiền định ở Ta Bà này, rồi đem công đức hồi hướng xin về Cực Lạc du học. Như người vừa đi Hương Cảng, vừa về Việt Nam. Những người này không đứng dạng chân trên hai con tầu: một đi Hương Cảng, một về Việt Nam, mà chỉ dùng một con tầu để đi Hương Cảng. Đến Hương Cảng rồi, mới lại lấy tầu để về Việt Nam. Cũng vậy, người song tu thiền tịnh, hàng ngày siêng năng thiền định, dùng công đức ấy hồi hướng xin về Cực Lạc. Tới Cực Lạc rồi, sẽ tiếp tục công phu cho đến khi đắc Đạo!

LÝ DO CHỌN SONG TU THIỀN TỊNH

Tại sao chúng ta lại chọn song tu thiền tịnh? Vì chuyên tu thiền định rất khó. Ít có người đắc Đạo ngay trong đời này. Nếu không đắc Đạo ngay trong đời này, thì sẽ phải tiếp tục tu học ở đời sau. Nhưng tới đời sau, đã chắc gì chúng ta có đủ thuận duyên để tu thiền?  Bởi đường đời đầy cạm bẫy mà nghiệp báo lại khó lường, nên phần lớn những người chuyên tu thiền định đều gặp rắc rối vì ơn, oán của đời trước, hoặc lầm lẫn của đời này.

Để tránh những rủi ro có thể xẩy ra, làm ngăn trở việc thăng tiến của chúng ta, chúng ta nên chọn song tu thiền tịnh, để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc tiếp tục học Đạo. Một khi về được Cực Lạc, thì sẽ không sợ thoái chuyển nữa! Tại sao? Vì Cực Lạc là một Phật Học Viện rất lớn, tại đó có thầy hay, bạn tốt cùng tất cả những phương tiện cần thiết cho việc tu hành.

Còn nếu không về Cực Lạc, thì kiếp tới sẽ phải trở lại luân hồi. May ra là được làm người hay làm trời. Nhưng dù có được làm người hay làm trời thì cũng vẫn phải đương đầu với trăm ngàn thử thách khó khăn của cuộc sống!

Để cụ thể hoá ý này, tôi xin kể một chuyện có thực, do chính tác giả là Ngộ Đạt Thiền sư thuật lại, trong phần Duyên Khởi của cuốn Từ Bi Tam Muội Thuỷ Sám, như sau:

“Dưới triều vua Đường Ý Tôn, ở bên Tầu, có một vị Quốc sư tên là Trí Huyền, hiệu là Ngộ Đạt.

Lúc chưa hiển đạt, ông thường liên lạc với một nhà sư, trong một ngôi chùa ở Kinh Sư. Nhà sư này mắc bệnh cùi, ai cũng gớm ghiếc lánh xa, chỉ có ông hay gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán.

Nhân khi chia tay, nhà sư vì cảm kích phong thái của ông, nên mới dặn rằng:

– Mai này, nếu gặp nạn chi thì cứ đến núi Cửu Lũng, ở Bình Châu, thuộc Tây Thục tìm tôi, ngay nơi có hai cây tùng lớn!

Sau đó ít lâu, ông được phong làm Quốc sư và dọn đến ở chùa An Quốc. Bấy giờ, Đạo hạnh của ông vang dậy khắp nơi. Vì vậy, vua Ý Tôn mới thân hành đến tận nơi, nghe ông thuyết Pháp, rồi ban cho ông một cái Pháp toạ, bằng gỗ trầm hương rất quí.

Từ đấy, trên đầu gối của ông mọc một mụn ghẻ, có hình mặt người đau nhức khôn xiết. Ông cho mời các danh y về chữa trị, nhưng ai nấy đều bó tay!

Một hôm, chợt nhớ đến lời dặn của nhà sư cùi, ông vội vàng lên đường tìm kiếm. Tới núi Cửu Lũng, vào lúc chập choạng tối, trong cảnh âm u, mây bay, khói toả, ông chợt thấy hai cây tùng sừng sững, liền rảo bước đến gần. Quả nhiên, nơi ấy có lầu vàng, điện ngọc, lộng lẫy, nguy nga, hào quang chói lọi. Trước cửa, có nhà sư mà ông quen biết, đang đứng chờ và mời ông vào nhà.

Đêm ấy, ông kể cho nhà sư nghe nỗi khổ của mình và được nhà sư an ủi:

– Không hề gì! Dưới chân núi có một cái suối, có thể trị dứt căn bệnh của ông. Cứ yên tâm ngủ cho khoẻ, ngày mai sẽ tính!

Tờ mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng đến phòng tìm ông và dẫn ông ra suối. Ông vừa bụm nước, định rửa thì mụn ghẻ ấy bỗng kêu lên:

– Đừng rửa vội! Ông học nhiều hiểu rộng, vậy đã từng đọc chuyện Viên Áng giết Tiều Thố trong bộ Tây Hán  chưa?

– Tôi có đọc! 

– Ông có đọc chuyện đó, lẽ nào không biết, Tiều Thố bị giết ở chợ phiá Đông rất là oan ức? Tiều Thố ấy chính là tôi, còn Viên Áng ấy chính là ông. Cho nên, tôi mới theo ông để báo thù. Song đã mười đời, ông làm cao tăng, giữ tròn giới luật, khiến tôi không thể ra tay. Ai dè đời này, được vua yêu chuộng, tặng cho bảo tọa làm ông khởi lòng tham danh, thích lợi. Do đó, tôi mới có cơ hội trả mối hận năm xưa. Cũng may, ông được tôn giả Ca Nặc Ca giúp đỡ, dùng nước tam muội rửa sạch oán này. Từ nay, nợ nần đã dứt, tôi sẽ không theo phá ông nữa!

Nghe mụn ghẻ nói vậy, ông hoảng sợ, vội vàng bụm nước rửa nó. Tức thời, ông cảm thấy đau nhức dữ dộ, đến độ ngất đi. Lúc tỉnh dậy, thì bệnh đã khỏi.

Ông liền trở lại đường cũ, định về cám ơn tôn giả Ca Nặc Ca, nhưng ngôi bảo điện đêm qua đã biến mất, không còn dấu vết.”

Bây giờ, hẳn quí vị đã thấy: mười đời làm cao tăng, giữ tròn giới luật, chỉ có một chút lỡ lầm cũng đủ cho kẻ thù lợi dụng để báo oán, làm trở ngại đường tu.

Trong “Niệm Phật Thập Yếu”, Hòa thượng Thích Thiền Tâm cũng kể chuyện sư Giám Không, như sau: Ở bên Tầu, về đời nhà Đường, nơi chùa Hương Sơn, đất Lạc Dương, có sư Thích Giám Thông. Sư họ Tề, sinh ở Ngô Quận.

Thuở nhỏ, ông nghèo khổ, tuy siêng năng học hành, nhưng chẳng nhớ được bao nhiêu! Lớn lên thích làm thi văn, song chỉ là loại tầm thường. Ông thường đi lại vùng Ngô, Sở yết kiến các quan Hầu, Bá, nhưng không được trọng dụng. Khi có tiền, thì đau yếu. Hết tiền, bệnh mới khỏi!

Đầu niên hiệu Nguyên Hòa, ông dạo chơi xứ Tiền Đường, gặp lúc mất mùa. Lương thực khan hiếm. Định đến chùa Thiên Trúc để xin ăn. Nhưng vừa tới phiá Tây của Cô Sơn Tự, thì đói quá, không đì được nữa! Nên phải ngồi lại bên bờ suối, rơi lệ, ngâm vài câu bi phẫn. Chợt có vị Phạn tăng, theo giòng suối tới, nhìn ông, mỉm cười và hỏi: “Pháp sư đã nếm đủ hương vị lữ du (voyageur) chưa?”

Ông đáp: “Hương vị lữ du, có thể gọi là đã nếm đủ, nhưng tôi tên là Quân Phòng, chưa từng làm Pháp sư!”

Phạn tăng nói: “Ông không nhớ lúc giảng kinh Pháp Hoa ở chùa Đông Đức sao?”

Đáp: “Từ khi sinh ra đến nay, tôi chỉ quanh quẩn ở vùng Ngô, Sở, chưa từng bước tới kinh đô. Đâu lại có chuyện giảng kinh tại Lạc Trung như thế!”

Phạn tăng nói: “Chắc ông bị lửa đói thiêu đốt, nên quên hết việc quá khứ rồi!” Nói xong, liền lần trong đẫy lấy ra một quả táo lớn bằng nắm tay, trao cho ông và bảo: “Quả táo này sản xuất ở nước của ta, bậc thượng trí ăn vào sẽ biết rõ quá khứ, vị lai; còn người hạ căn thì sẽ nhớ được kiếp trước.”

Ông nhận lấy qủa táo ăn xong, vốc nườc suối uống. Chợt cảm thấy mệt, liền tựa đầu vào tảng đá gần đó mà ngủ. Giây phút tỉnh dậy, nhớ tiền thân làm Pháp sư giảng kinh cùng bốn bạn đồng tu, rõ rệt như việc ngày hôm qua. Rơi lệ, hỏi Phạn tăng rằng: “Hòa Thương Chấn bây giờ ở đâu? “

Đáp: “Công tu tập chưa tới mức, nên chuyển sinh làm tăng ở đất Tây Thục!”

Lại hỏi: “Thượng nhân Trần và Pháp sư Ngô bây giờ ra sao?”

Đáp: “Thượng nhân Trần chưa trả xong túc duyên, nên đã hoàn tục, còn Pháp sư Ngô, bởi có lần, đứng trước tượng đá chùa Hương Sơn, nguyện giỡn rằng, kiếp này không chứng Đạo, đời sau nguyện làm quí thần, nên đã sinh làm Đại tướng thống lãnh quỉ thần.” Trong năm người cùng tu khi xưa, chỉ có ta được giải thoát. Ba vị kia thì như thế, còn ngươi thì bị đói khổ nơi đây!

Quân Phòng nghe xong, khóc và nói: “Kiếp trước, mỗi ngày, tôi chỉ ăn một bữa, thân chỉ đắp một y, việc trần tục đã dứt trừ, cớ sao lại kém phúc, để đến nỗi phải ra người đói khổ?”

Phạn tăng đáp: “Khi xưa, ông ngồi trên Pháp tọa, hay nói chuyện vu vơ, khiến thính chúng sinh lòng nghi hoặc, lại nữa, giới hạnh còn khiếm khuyết, nên mới bị báo ứng như ngày nay!”

Xem như vậy, người tu thiền, muốn được tự tại, thì phải đạt đến mức, nghiệp sạch, tình không. Nếu chẳng được như vậy, thì khó tránh bị đọa lạc! Đây chính là lý do, khiến thiền sư Diên Thọ phải lên tiếng cảnh tỉnh chúng ta, bằng những vần thơ sau:

Có Thiền, không Tịnh độ,
Mười tu, chín lạc đường!
Khi ấm cảnh hiện ra,
Liền theo nó mà đi.
Không Thiền, có Tịnh độ,
Mười tu, mười vãng sinh.
Gần Phật A Di Đà,
Lo gì không khai ngộ?
Có Thiền, lại có Tịnh,
Như mãnh hổ thêm sừng.
Kiếp này được làm thầy.
Đời sau làm Phật, Tổ!
Không Thiền cũng không Tịnh,
Giường sắt, cột đồng chờ.
Muôn kiếp và ngàn đời,
Vẫn không nơi nương tựa!

Nói: “Khi ấm cảnh hiện ra, liền theo nó mà đi” là trường hợp của những người chưa sạch nghiệp, chưa cạn tình, nên khi lâm chung, thần lià khỏi xác, nhìn thấy ấm cảnh, liền động lòng ưa thích, rồi theo đó mà trở lại luân hồi, như chuyện của ông tăng, sau đây:

Một hôm, đang ngồi trong thiền đường, Nam Tuyền bỗng la lớn, khiến cho thiền chúng giật mình, ngơ ngác. Tiếp theo, thầy kêu thị giả xuống nhà dưỡng bệnh, gọi ông tăng đương nằm co cắp ở đó, lên và bảo: “Ông hãy kể lại những gì ông vừa thấy!”

Ông tăng nói: “Con mệt quá, nên thiếp đi và mơ thấy mình đang đứng trước một lầu son lộng lẫy. Con định bước vào! Bỗng nghe thấy một tiếng hét lớn, nên giật mình tỉnh dậy và thấy mình còn nằm trên giường!”

Nam Tuyền nói: “Nếu ta không hét lên, thì ông đã bị đầu thai làm kỹ nữ rồi!”

Qua thí dụ trên, nếu không thể đạt đến mức nghiệp sạch, tình không, thì chúng ta nên qui hướng Tịnh Độ, để khi mãn kiếp sống này, sẽ được sinh về Cực Lạc, tiếp tục tu học một cách an toàn và chắc chắn.

PHƯƠNG PHÁP SONG TU THIỀN TỊNH

Có ba cách song tu thiền tịnh: một là thiền định trước rồi niệm Phật sau, hai là Niệm Phật trước rồi thiền định sau, ba là niệm Phật và thiền định cùng lúc.

1. Thiền định trước rồi niệm Phật sau: Đây là cách dụng công của những người bắt đầu khóa lễ bằng cách tọa thiền, thông qua các tiết mục: điều thân, điều tức, điều tâm, nhập thiền, trụ thiền, xả thiền. Rồi mới niệm Phật và hồi hướng công đức để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc tiếp tục tu học.

2. Niệm Phật trước rồi thiền định sau : Đây là cách dụng công của những người bắt đầu khóa lễ bằng cách niệm Phật để xin: Sống thời yên vui thiền định, chết được sinh về Cực Lạc tiếp tục học Đạo. Sau đó, mới tọa thiền như tất cả các thiền sinh khác.

3. Niệm Phật và thiền định cùng lúc: Đây là một phương pháp rất độc đáo, trong đó hai môn niệm Phật và thiền định tưởng như khác biệt  được kết hợp lại một cách hoà hài, không mâu thuẫn cũng không gượng ép. Có nhiều cách để niệm Phật và thiền định cùng lúc, nhưng phổ thông nhất là: Nhiếp tâm niệm Phật, Điều tức niệm Phật, Quán tượng niệm Phật, Tham cứu niệm Phật và Phản văn niệm Phật.

4. Nhiếp tâm niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa ngưng nghĩ vẩn vơ. Người tu pháp này phải luôn nhớ đến Phật. Mỗi khi thấy một tư tưởng khác lạ khởi lên là phải chặn đứng nó ngay, không cho tiếp tục. Luyện tập lâu ngày, tâm của người ấy sẽ rời bỏ sáu trần,  tự nhiên cảm ứng với nguyện lực của Phật A Di Đà, thấy cảnh Tây Phương hiện ra rực rỡ. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền chỉ tịnh.

5. Điều tức niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa điều hòa hơi thở. Thở ra niệm NAM. Hít vào không niệm. Thở ra niệm MÔ. Hít vào không niệm. Thở ra niệm A. Hít vào không niệm. Thở ra niệm DI. Hít vào không niệm. Thở ra niệm ĐÀ. Hít vào không niệm. Thở ra niệm PHẬT. Hít vào không niệm. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền hơi thở.

6. Quán tượng niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa quan sát hình tượng của Ngài mãi cho đến lúc nhắm mắt mà vẫn thấy tượng ấy hiện ra rõ ràng như thực, gọi là quán được thân Phật. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền đề mục.

7. Tham cứu niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa theo dõi xem ai đang niệm Phật. Cứ thế mà tập mãi cho đến lúc nhận ra tâm và tâm thể, gọi là giác ngộ. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền công án.

8. Phản văn niệm Phật: Miệng niệm Phật, tai lắng nghe, kiểm soát từng câu, từng chữ, rõ ràng, rành mạch. Dần dần quên hết thân, tâm và cảnh vật, chỉ còn tiếng niệm Phật hiệu liên tục không dứt, gọi là thành tựu nhất tâm. Pháp này bao gồm hai môn là niệm Phật hiệu và thiền minh sát, được rất nhiều người ưa thích và tặng cho nó cái biệt danh là Tịnh Độ thiền.

KẾT LUẬN

Nếu không đắc Đạo ngay trong đời này thì sẽ phải tiếp tục tu học ở đời tới. Có ba cách lý tưởng để chuyển thân từ đời này qua đời tới: Một là tái sinh làm người, hai là hoá sinh làm trời, ba là vãng sinh Cực Lạc.

Cho dù làm người hay làm trời thì cũng đều gặp thử thách và dễ sa ngã. Trái lại, làm thánh ở Cực Lạc thì đầy đủ thuận duyên và không sợ lùi sụt trong việc tu hành. Đây chính là lý do khiến người thích tu thiền nên song tu thiền tịnh.

Song tu thiền tịnh là một trong ba phương pháp tu tập thịnh hành nhất của Phật tử Việt nam hiện nay. Thế nào là ba? Một là chuyên tu Tịnh Độ, hai là chuyên tu thiền định, ba là song tu thiền tịnh.

Để cho dễ hiểu, tôi xin lấy một thí dụ: Có một người Việt Nam muốn học tiếng Anh. Thông thường, ông ta có ba cách chính:

  1. Không học Anh văn ở Việt Nam, mà chỉ lo xin đi Anh du học.
  2. Tìm một giáo sư người Việt để học Anh văn ở  Việt Nam.
  3. Học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt, rồi dùng thành tích đạt được để xin đi Anh tu nghiệp.

Như người không học Anh văn ở Việt Nam mà chỉ lo xin đi du học bên Anh, người chuyên tu Tịnh Độ hàng ngày chăm chỉ niệm Phật để xin kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc học Đạo.

Như người chỉ học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt, người chuyên tu thiền định hàng ngày siêng năng chỉ tịnh, quán tưởng hoặc tham thiền với hy vọng sẽ đắc Đạo ngay tại Ta Bà.

Như người học Anh văn ở Việt Nam với một giáo sư người Việt để chuẩn bị qua Anh tu nghiệp, người song tu thiền tịnh hàng ngày siêng năng thiền định, nhưng đồng thời cũng lại niệm Phật, nguyện cho kiếp tới sẽ được sinh về Cực Lạc để tiếp tục việc học còn đang dang dở.

Montréal, ngày 18-04-2005

Bổ túc thêm ngày 23-12-2009

 

VÀI NGHI VẤN VỀ TỊNH ĐỘ

Tịnh Độ là một tông phái của Phật Giáo chuyên dậy đệ tử niệm danh hiệu Phật A Di Đà ở phương Tây để cầu sinh Cực Lạc.

Cực Lạc hiểu theo nghiã này là một Viện Phật Học rất lớn, do đức Phật A Di Đà sáng lập ra để tiếp nhận các tín hữu muốn sinh về đó để tu học.

Chương trình tu học ở Cực Lạc bao gồm ba bậc là Hạ phẩm, Trung phẩm và Thượng phẩm.

Hạ phẩm do các bồ tát phụ trách, giảng dậy những khái niệm về Phật Giáo cho các tín hữu mới bắt đầu vào Đạo. Học khu này là nơi Thánh Phàm Đồng Cư. Thánh là ban giảng huấn gồm các bồ tát, còn Phàm là nhóm học viên đới nghiệp vãng sinh (1).

Trung phẩm do Phật A Di Đà phụ trách, giảng dậy về căn bản của Phật giáo, đặc biệt là Phật Giáo Tiểu Thừa. Học khu này là Thánh địa của bậc Thinh văn (2) hồi tâm Đại Thừa.

Thượng phẩm do Phật A Di Đà phụ trách, giảng dậy về tinh hoa của Phật Giáo, trong đó có Phật Giáo Đại Thừa. Học khu này là Thánh địa của hàng Bồ tát.

Mỗi bậc nói trên lại chia làm ba lớp là Hạ sinh, Trung sinh và Thượng sinh. Như vậy, toàn thể tín hữu ở trên Cực Lạc được xếp vào chín lớp, kể từ dễ đến khó, từ dưới lên trên là:

  1. Hạ phẩm hạ sinh
  2. Hạ phẩm trung sinh
  3. Hạ phẩm thượng sinh
  4. Trung phẩm hạ sinh
  5. Trung phẩm trung sinh
  6. Trung phẩm thượng sinh
  7. Thượng phẩm hạ sinh
  8. Thượng phẩm trung sinh
  9. Thượng phẩm thượng sinh.

Vì ở Cực Lạc có đủ chín lớp từ dễ đến khó. Do đó, muốn về Cực Lạc không cần phải thuộc nhiều kinh sách Phật Giáo, cũng không cần phải có những thành tựu xuất sắc.

Muốn về Cực Lạc phải nương vào nguyện lực của đức Phật A Di Đà, tức là phải cố gắng hội đủ ba điều kiện sau:

1. Tin tưởng có cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà ở phương Tây và tất cả chúng ta đều có thể vãng sinh về đó.

2. Tha thiết phát nguyện sinh về Cực Lạc.

3. Thực hành một trong hai Pháp môn sau: Hoặc là hàng ngày tùy theo sức mình tránh ác, làm lành, vun trồng công đức, rồi đem hồi hướng xin về Cực Lạc. Hoặc là chí tâm niệm được từ 1 cho đến 10 lần danh hiệu của Phật A Di Đà vào lúc lâm chung.

Bất cứ ai hội đủ ba điều kiện trên cũng đều được vãng sinh. Sau khi vãng sinh, sẽ được xếp lớp từ 1 đến 9 tùy theo Đạo hạnh của mình.

*

NGHE NHƯ VẬY CÓ NGƯỜI HỎI: Tại sao lại phải niệm danh hiệu Phật từ 1 đến 10 lần vào lúc lâm chung?

TRẢ LỜI: Vì lúc lâm chung là thời điểm thuận lợi cho việc vãng sinh. Còn niệm Phật trong giờ phút đó là để giảm bớt nghiệp chướng ngõ hầu có thể nhận ra Đức Phật, Bồ tát hay hoa sen hiện đến tiếp dẫn. Tiếp dẫn là gì? Tiếp dẫn là hiện đến chỗ người chết để đón thần thức (linh hồn) của người ấy về Cực Lạc.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Tại sao phải tiếp dẫn phiền phức như vậy?

TRẢ LỜI: Vì Cực Lạc ở rất xa đây, không ai có thể tự mình đến được. Cho nên, vào lúc lâm chung, chúng ta phải buông bỏ việc đời, phát tâm mong đợi đức Phật, Bồ tát hay là hoa sen hiện đến tiếp dẫn.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Người tu thiền thường nói, đức Phật chỉ chỉ đường, chứ không giúp ai hết! Vậy phải hiểu câu này như thế nào?

TRẢ LỜI: Đúng! Đức Phật có thể không giúp được người tu thiền, nhưng chắc chắn Ngài giúp được người niệm Phật! Tại sao? Vì người tu thiền muốn những cái mà Phật không thể cho không được. Tại sao? Vì người tu thiền Nguyên Thuỷ mong đắc quả Niết Bàn, còn người tu thiền Đại thừa cầu chứng được Chân Tính. Nhưng muốn đắc quả Niết Bàn hay chứng được Chân Tính thì phải có một căn bản đạo đức vững vàng và một kinh nghiệm tu tập lâu dài. Thiếu những điều kiện tất yếu này, thì không ai giúp được!

Ngược lại, người niệm Phật chỉ muốn sinh về xứ Phật và được sống gần Phật. Sinh về xứ Phật và được sống gần Phật là những gì Phật có thể làm cho chúng ta với một điều kiện duy nhất là chúng ta chịu bỏ Ta Bà, xin về với Phật. Thực vậy, hãy xem những người có con hư hỏng, trốn nhà đi hoang, xì ke, ma tuý, trộm cắp, lừa đảo, phạm đủ mọi tội. Nhưng họ vẫn mong con họ trở về và sẵn sàng dang tay đón nhận, nếu đứa trẻ ấy biết bỏ lỗi lầm, quay đầu trở lại. Nhận đứa con hư, biết bỏ lỗi lầm, quay đầu trở lại là việc đương nhiên, không những không trái đạo lý, mà còn được mọi người khen ngợi, tán dương! Tương tự, vốn là con Phật, nên bất luận là hạng người nào, chúng ta đều có thể quay về với Phật và được Ngài đón tiếp ân cần!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Đạo hữu nghĩ thế nào về câu Lục Tổ nói với Thứ Sử trong một bữa tiệc trai, như sau: “Người phương Đông tạo tội cầu về phương Tây, còn người phương Tây tạo tội cầu sinh cõi nào?”

TRẢ LỜI: Đây là một hoạt ngữ của Thiền có tác dụng đánh thức người cầu Đạo, nhưng lại không có một giá trị luận lý nào cả! Thực vậy, người phương Đông tạo tội cầu về phương Tây, nhưng người phương Tây không bao giờ tạo tội, nên không cần dời chỗ! Tại sao người phương Tây lại không tạo tội? Vì ở Cực Lạc không có ác duyên và chính đức Thích Ca cũng đã sác định trong ba cuốn kinh của Tịnh Độ rằng: “Ở Cực Lạc không có ba đường ác, không có một tiếng ác… Tất cả tín hữu vãng sinh về đó đều là bậc bất thoái chuyển.”

Vậy, nói người phương Tây tạo tội là chuyện vô lý! Biết là vô lý, nhưng Lục Tổ vẫn nói! Nói để giúp Thứ Sử ngưng nghĩ vẩn vơ, yên tâm tu thiền, chứ không phải để bài xích Tịnh Độ như nhiều người lầm tưởng! Tại sao vậy?

Vì đối với thiền sư, lời nói của các Ngài dù có lý hay phi lý cũng không quan trọng. Điều quan trọng là phải phá được tính cố chấp và lòng hoài nghi của thiền sinh vào ngay lúc tham vấn. Do đó, hai người khác nhau hỏi cùng một câu sẽ được trả lời khác nhau. Thậm chí, cùng một người, cùng một câu, nhưng ở hai thời điểm khác nhau cũng sẽ được trả lời khác nhau! Tại sao vậy?

Vì thiền sư không trả lời câu hỏi của thiền sinh mà chỉ cốt tạo ra một sự ngạc nhiên, giúp đương sự tự lãnh hội lấy. Nếu thiền sinh là bậc thượng căn thì sẽ giác ngộ ngay khi nghe được lời nói của thiền sư. Nếu không giác ngộ ngay khi nghe được lời nói của thiền sư, tức là còn si mê. Biết còn si mê thì không nên tuỳ tiện lập lại lời của các thầy làm cho đại chúng hoang mang để rồi mang tội!

Để chứng minh ý này, tôi xin kể một thí dụ:  

– Một ông tăng hỏi Mã Tổ: “Tổ sư từ Tây Trúc tới là ý gì?”

– Mã Tổ trả lời: “Nếu ta không đánh ông thì thiên hạ sẽ cười ta!”

Sau này, có người đem câu ấy hỏi Triệu Châu. Triệu Châu trả lời: “Cây trắc bá ở ngoài sân!”   

Quí vị nghĩ thế nào về lời nói của Mã Tổ và Triệu Châu? Các Ngài có trả lời câu hỏi của chúng ta không?  

Nhắc lại lời của thiền sư mà không hiểu thâm ý của các Ngài cùng tâm trạng của người hỏi Đạo có thể gây ra đại họa. Cũng như ông tăng kia dại dột tuyên bố:  “Người đại tu không rơi vào nhân quả,”

nên đã bị đọa vào loài chồn suốt 500 đời. Nếu không gặp thiền sư Bách Trượng (3) giải cứu cho thì không biết còn phải chịu khổ đến bao giờ?

Đây cũng chính là lý do, khiến thiền sư Hoài Nhượng phải lên tiếng cảnh cáo những kẻ bất cẩn, như sau: “Nếu đạt được tâm địa thì làm việc gì cũng không bị trở ngại, nhưng nếu không phải là bậc thượng căn thì nên dè dặt, chớ có nói bậy!”

LẠI CÓ NGƯỜI NÓI: Tôi đồng ý không nên tuỳ tiện lập lại lời của thiền sư làm cho đại chúng hoang mang. Nhưng bảo các tín hữu đới nghiệp vãng sinh ở Hạ phẩm không thể tạo tội thì thực là khó tin!

TRẢ LỜI: Những tín hữu ở Hạ phẩm đều đới nghiệp vãng sinh, nên tạng tâm của họ vẫn còn chứa hạt giống của những ác nghiệp đã tạo từ nhiều đời trước. Những hạt giống này gọi là ác chủng. Tuy có ác chủng làm nhân, nhưng họ không thể tạo tội, vì không có ác duyên.

Thực vậy, trong bài “Người có tội có thể vãng sinh không?” tôi có kể chuyện con bò. Trong quá trình luân hồi hàng vô số kiếp, chắc chắn đã có lần nó sinh làm ác thú chuyên ăn thịt sống và hạt giống thích ăn thịt vẫn còn tồn tại trong tạng tâm của nó. Nhưng hiện đời này, với cái thân của con bò, nó chỉ thích ăn cỏ. Cho dù chúng ta có đem thịt cho nó, thì nó cũng chê và không thèm ngó ngàng tới! Cũng vậy, thân thể của các tín hữu ở Hạ phẩm nói riêng và ở Cực Lạc nói chung, chỉ thích ứng với thiện pháp, nên các ác chủng không thể khởi thành ác hạnh được!

Hơn nữa, cũng như con chim biết bay, con cá biết lặn, các tín hữu ở Cực Lạc, ai nấy đều biết làm hiện ra cung điện, quần áo, đồ ăn và các vật dụng. Hễ cần cái gì là sẽ có ngay, không phải chờ đợi. Đến khi dùng xong hoặc không thích nữa thì đồ dư thừa liền biến mất đi không còn dấu vết.

Chính bởi hễ cần cái gì là sẽ có ngay, không phải chờ đợi, nên họ không tham.

Đến khi dùng xong hay không thích nữa thì đồ dư thừa liền biến mất đi không còn dấu vết, nên họ không giận.

Thấy rõ cảnh vật đều tuỳ tâm mình mà hiện hay biến, nhân đó họ hiểu tất cả các pháp đều là huyễn hóa, nên không đắm nhiễm, gọi là không si.

Một người hàng ngày được nghe Chính Pháp, trong tâm lại không tham, không giận, không si thì làm sao tạo tội được? Cho nên, phải biết : “Nói người phương Tây tạo tội là chuyện vô lý!”

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Trong kinh Kim Cương, đức Thích Ca có dậy:

“Tìm Ta nơi hình sắc.
Cầu Ta nơi âm thanh.
Người ấy làm tà Đạo.
Không thấy được Như Lai.”

Vậy, người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc có phải là làm tà Đạo không?

TRẢ LỜI: Không! Tại sao? Vì Phật giảng kinh Kim Cương cho người tu thiền, chứ không phải cho người niệm Phật!

Bậc trí giả tu thiền tìm Như Lai, tức là Thực tướng như như bất động của các pháp, cũng gọi là Pháp thân. Vốn là Pháp thân, nên Như Lai không có hình sắc và không thuyết Pháp. Vì vậy, không thể tìm Ngài ở nơi hình sắc và âm thanh được. Kẻ tìm Như Lai ở nơi hình sắc và âm thanh là làm chuyện không tưởng. Vì nhân tạo ra và quả mong đợi không tương xứng với nhau, nên Phật mới nói là họ làm tà Đạo!

Ngược lại, các tín hữu niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, chỉ mong được Hóa thân Phật hay quá lắm là Báo thân Phật hiện đến tiếp dẫn. Hóa thân Phật hay Báo thân Phật cũng gọi là Hoá Phật hay Báo Phật đều có hình sắc và đều có thuyết Pháp. Do đó, họ phải tìm Ngài ở nơi hình sắc và âm thanh.

Vậy muốn áp dụng cho người niệm Phật thì phải chọn bài kệ hợp với tinh thần của kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, như sau:

“Tìm Phật nơi hình sắc.
Cầu Phật nơi âm thanh.
Người biết cách dụng công.
Sẽ thấy được Hoá Phật.”

Tại sao lại phải chọn bài kệ hợp với tinh thần của kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói trên? Vì kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật mới thực là kinh mà đức Thích Ca giảng cho người niệm Phật!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Người Tầu niệm Phật, thấy Phật Tầu đến đón. Người Việt niệm Phật, thấy Phật Việt đến đón. Người Ấn niệm Phật, thấy Phật Ấn đến đón. Vậy, Phật nào mới là Phật thật?

TRẢ LỜI: Tất cả những ông Phật Tầu, Phật Việt, Phật Ấn ấy đều thật là Hóa thân của đức Phật A Di Đà. Tuy chỉ có một đức Phật A Di Đà ở trên Cực Lạc, nhưng để độ người Tầu, Ngài hiện thân Tầu. Để độ người Việt, Ngài hiện thân Việt. Để độ người Ấn, Ngài hiện thân Ấn. Đây là phép Phổ Môn mà đức Thích Ca đã giảng trong kinh Pháp Hoa.

LẠI CÓ NGƯỜI NÓI: Hoá thân Phật là Phật giả!

TRẢ LỜI : Đây là một trò chơi chữ rất tai hại. Chúng ta nên cẩn thận chớ để bị lừa. Thực vậy, đức Thích Ca là Hoá thân Phật ở cõi Ta Bà, còn Phật A Di Đà là Hoá thân Phật ở trên Cực Lạc. Cả hai đều là Hoá thân Phật. Do đó, nếu nói Phật A Di Đà là Phật giả, thì đức Thích Ca cũng là Phật giả. Còn nói đức Thích Ca là Phật thật, thì Phật A Di Đà cũng là Phật thật. Đức Phật không hề nói mình là thật hay giả. Thật hay giả đều do chúng ta tự suy diễn ra.

Các tín hữu niệm Phật cầu sinh Cực Lạc thấy có tư tưởng và có sắc thân, nên cho chúng là thật và Hoá thân Phật cũng thật như tư tưởng và sắc thân của họ. Bậc trí giả biết tư tưởng và sắc thân vốn do nhân duyên sinh ra, nên cho chúng là giả và Hóa thân Phật cũng giả như tư tưởng và sắc thân của ông ta. Chỉ tiếc rằng kẻ vụng dại nghe nói Hóa thân Phật là Phật giả, liền nghĩ rằng ông Phật giả ấy là đồ vô dụng. Rồi chê người niệm Phật làm chuyện vô ích! Họ đâu có ngờ chữ giả ấy chỉ có nghiã là do nhân duyên sinh ra, chứ chẳng phải là không nhờ vả được!

Cũng như ông kỹ sư kia khéo léo dùng những vật liệu cần thiết kết hợp với các qui luật thiên nhiên tạo ra một cái xe hơi. Xe này do nhân duyên sinh ra, nên bị bậc trí giả gọi là xe giả. Tuy bị gọi là xe giả, nhưng chúng ta lại có thể dùng xe ấy để đi khắp đó, đây!

Tương tự, các tín hữu niệm Phật hiệu dùng công phu tu niệm của mình kết hợp với nguyện lực của đức  Phật A Di Đà làm hiện ra Hoá thân Phật. Nói Hóa thân Phật là thật hay giả đều là hý luận. Điều quan trọng là phải biết Hóa thân Phật chính là người có khả năng giúp chúng ta nhận ra Pháp thân. Vì lý do ấy, nên trong kinh Đại Tập, phẩm Hiền Hộ, đức Thích Ca mới ân cần căn dặn chúng ta rằng:

Niệm danh hiệu Phật A Di Đà
Là tu vô lượng thâm diệu thiền.
Ngay lúc quán tưởng được thân Phật
Liền đắc Pháp bất diệt, bất sinh.

Quán tưởng được thân Phật là thấy Hóa thân Phật, còn đắc Pháp bất diệt, bất sinh là chứng Pháp thân thường trụ vậy!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Thích Ca giảng có nhiều loại ma thường hiện ra quấy phá người tu. Những con ma này đều có thần thông, liệu họ có thể hiện ra thân Phật để đánh lừa chúng ta chăng?  

TRẢ LỜI : Cố nhiên là những con ma này đều có thể hiện ra thân Phật để đánh lừa chúng ta. Nhưng bình thường, họ chỉ phá người tu thiền, chứ không trêu người niệm Phật hay tụng chú. Tại sao vậy? Vì người tu thiền ỷ mình cũng có Phật tính như đức Thế Tôn, buông lời bất kính, nói chỉ có Tâm, không có quỉ thần. Nên quỉ thần mới hiện đến thử thách.

Trái lại, người niệm Phật và người tụng chú đều tin là có quỉ thần, không dám khiêu khích, nên không bị quỉ thần làm khó.

Hơn nữa, chúng ta đang sống trong cõi Dục, dưới quyền kiểm soát của Ma Vương. Do đó, người tu thiền dùng tự lực thoát ly cõi Dục thì có khác gì thuyền nhân đóng tầu vượt biên. Nếu không khéo léo và cẩn mật tất sẽ bị lùng bắt. Còn người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc thì giống kẻ xin đi di dân theo diện bảo lãnh. Đến lúc được đi, tất sẽ có người đến đón tận nhà. Việc chi phải sợ? Đây chính là lý do mà đức Thích Ca không hề nói đến ma chướng trong ba cuốn kinh của Tịnh Độ là kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ Phật và kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật vậy!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Trong kinh A Di Đà, đức Phật nói: “Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn, phúc đức, nhân duyên mà được sinh về Cực Lạc!” Vậy, làm sao biết, mình có đủ hay không đủ thiện căn, phúc đức, nhân duyên để về Cực Lạc?

TRẢ LỜI: Thiện căn thù thắng và sâu sắc nhất là lòng bồ đề, tức là tâm trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. Nhưng thiện căn căn bản và thân cận nhất, lại là lòng tin, là tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà và có 48 đại nguyện độ sinh của Ngài. Do đó, người tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà và có 48 đại nguyện độ sinh của Ngài, được gọi là thiện nhân có đủ thiện căn để tu Tịnh Nghiệp.

Thấy Ta Bà là khổ, Cực Lạc mới vui, rồi tha thiết nguyện bỏ Ta Bà để sinh Cực Lạc, gọi là có đủ phúc đức.

Vui vẻ niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, gọi là có đủ tịnh nhân. Có đủ tịnh nhân, lại có thể an nhiên niệm Phật ở nhà mình hay ở Đạo tràng, mà không bị bệnh tật, sư trưởng, bố mẹ, vợ chồng, con cháu ngăn cản hoăc phá đám, gọi là có đủ tịnh duyên. Có đủ tịnh duyên, lại được những người thân cận hộ niệm cho, gọi là có được thắng duyên!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Trong kinh A Di Đà, đức Thích Ca có dậy:

“Xá Lợi Phất! Nếu thiện nam từ, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà mà phát lòng tin. Niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng Thánh chúng hiện thân trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc.”

Như vậy, muốn về Cực Lạc, phải nhất tâm niệm Phật từ một đến bẩy ngày sao?

TRẢ LỜI: Không phải như vậy! Nếu có thể nhất tâm niệm Phật từ một đến bẩy ngày thì sẽ thấy Phật hiện ra. Nhưng dù thấy Phật, cũng chưa chắc sẽ được về Cực Lạc! Tại sao? Vì điều kiện vãng sinh Cực Lạc là tâm không điên đảo. Thế nào là tâm không điên đảo? Tâm không điên đảo là chỉ mong về Cực Lạc, chứ không nghĩ đến bất cứ một việc gì khác, kể cả việc tịnh nghiệp và an tâm. Tại sao? Vì tịnh nghiệp và an tâm chỉ là trợ duyên, còn phát nguyện vãng sinh mới là chính nhân để về Cực Lạc! Đây chính là lý do khiến đức Thích Ca hối thúc chúng ta phát nguyện sinh về Cực Lạc.

Để cho dễ hiểu, tôi xin kể một thí dụ: Tôi có một người bạn làm giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon. Anh đậu tiến sĩ Toán ở Mỹ và thông thạo tiếng Anh. Năm 1979 anh đến đảo Galang ở Nam Dương, được bầu làm Đảo chủ, đại diện thuyền nhân để tiếp xúc với các phái đoàn của Liên Hiệp Quốc, trong đó có phái đoàn Mỹ. Hàng ngày anh đều làm việc, đi ăn và giải trí với các viên chức có trách nhiệm phỏng vấn và nhận người.

Bạn tôi rất thích đi Mỹ, có bằng Tiến sĩ Mỹ, thông thạo Anh văn, lại quen thân với nhân viên phỏng vấn, nên chúng tôi ai nấy đều tin là anh sẽ được vào Mỹ. Nhưng buồn thay anh bị Mỹ chê!  Đến lúc hỏi rõ nguyên do thì ai nấy đều ngỡ ngàng: Phái đoàn Mỹ đến đảo để đón những người có thân nhân tại Mỹ, chứ không tuyển người có bằng Tiến sĩ hay thông thạo Anh văn!

Cũng vậy, đức Phật A Di Đà chỉ tiếp dẫn những hương linh muốn về Cực Lạc, chứ không chọn người đã tịnh được nghiệp hoặc đã an được tâm! Do đó, trong kinh A Di Đà, đức Thích Ca mới căn dặn chúng ta phải lo phát nguyện sinh về Cực Lạc, như sau:

“Chúng sinh các nơi sinh sang Cực Lạc đều là những vị chứng ngôi Bất thoái. Trong đó, lại có rất nhiều bồ tát Nhất sinh bổ xứ, mà số nhiều ấy không thể tính đếm để biết hết được, nên chỉ nói là vô lượng, vô biên, a tăng kỳ thôi.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có người nào nghe được lời này, thì nên phát nguyện sinh về Cực Lạc. Như thế là sao? Vì người nguyện ấy sẽ được cùng với các thượng thiên nhân hội họp một chỗ!”

Hoặc: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào được nghe nói đến Phật A Di Đà mà phát lòng tin, niệm danh hiệu Ngài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bẩy ngày một lòng không loạn, thời khi lâm chung, người ấy sẽ thấy Phật A Di Đà và hàng Thánh chúng hiện thân trước mắt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc.

Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi ấy, nói ra lời này, người nào nghe được, thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.”

Hoặc: “Nếu có những người trước đã phát nguyện, nay đang phát nguyện, hay sẽ phát nguyện sinh về Cực Lạc, thời những người ấy đều được bất thoái nơi đạo vô thượng Chính đẳng Chính giác và họ cũng được đã sinh, đang sinh, hay là sẽ sinh về nước của Phật.

Này Xá Lợi Phất! Vì thế cho nên, các thiện nam tử và thiện nữ nhân, nếu có lòng tin thời nên phát nguyện sinh về Cực Lạc.”

Nói một các khác rõ ràng hơn, các tín hữu muốn về Cực Lạc, trước phải phát nguyện vãng sinh, sau phải thực hành một trong hai Pháp môn này: Một là hàng ngày tùy theo sức mình tránh các hạnh ác, làm những việc lành, vun trồng công đức, rồi đem hồi hướng xin về Cực Lạc. Hai là phải chí tâm niệm được từ một cho đến mười lần danh hiệu của Phật A Di Đà, vào lúc lâm chung.  

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Căn cứ vào đâu để nói rằng vào lúc lâm chung, mỗi tín hữu chỉ cần niệm từ một đến mười lần danh hiệu của đức Phật A Di Đà là đủ để được về Cực Lạc?

TRẢ LỜI: Kinh Vô Lượng Thọ Phật nói khi còn là tỳ kheo mang tên Pháp Tạng, Phật A Di Đà đã đến trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai phát 48 đại nguyện, trong đó có nguyện thứ 18, như sau:

“Giả sử con được thành Phật, nếu chúng sinh ở mười phương, ngoại trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và chê bai Chính Pháp, một lòng tin ưa, muốn về nước con, xưng danh hiệu con, trong vòng mười niệm, mà chẳng vãng sinh, con nguyện không giữ lấy ngôi Chính giác.”

Riêng những người phạm tội ngũ nghịch và chê bai Chính Pháp nói trên, muốn về Cực Lạc thì lúc lâm chung phải có đủ định lực để niệm được liên tiếp mười câu Phật hiệu, đúng như lời dậy của đức Thích Ca trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, sau đây:

“Về Hạ phẩm hạ sinh gồm những người phạm năm tội nghịch, mười tội ác và làm đủ các việc chẳng lành, lẽ ra phải đọa địa ngục, chịu khổ nhiều kiếp. Nhưng lúc mệnh chung, gặp thiện tri thức giảng giải Pháp mầu, khuyên nhớ đến Phật. Người ấy bị khổ bức bách chẳng rảnh để nhớ đến Phật. Bấy giờ, thiện tri thức mới thúc dục hắn chí tâm niệm “Nam mô A Di Đà Phật” được đủ mười lần liên tục chẳng dứt. Nhờ xướng tên Phật mười lần liên tục chẳng dứt, nên trong lúc niệm trừ hết các tội trong tám mươi ức kiếp sinh tử và được vãng sinh Cực Lạc.”   

LẠI CÓ NGƯỜI NÓI : Mặc dầu đạo hữu đã trích dẫn kinh văn, nhưng nói “Chỉ cần niệm mười câu Phật hiệu là có thể được vãng sinh Cực Lạc thì thực là hoang đường!”

TRẢ LỜI : Đúng vậy, nếu nói “Chỉ cần niệm mười câu Phật hiệu là có thể vãng sinh Cực Lạc” thì thực là hoang đường. Cũng như nói “Người Việt Nam muốn đi Mỹ, thì chỉ cần lấy thuyền chạy ra biển. Họ sẽ được tầu Mỹ vớt đưa về nước Mỹ!”

Nhưng nếu nói “Vào cuối năm 1975, người Việt Nam nào muốn đi Mỹ, thì chỉ cần lấy thuyền chạy ra biển. Họ sẽ được tầu Mỹ vớt đưa về nước Mỹ”, thì đây lại là một sự kiện lịch sử có thực, không ai chối cãi được.

Tương tự, Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật không nói “Chỉ cần niệm 10 câu Phật hiệu là có thể vãng sinh Cực Lạc,” mà dậy rất rõ ràng rằng vào lúc lâm chung, nếu chúng ta niệm được mười câu Phật hiệu, thì sẽ được vãng sinh Cực Lạc.

Then chốt của câu này là vào lúc lâm chung, tức là lúc mà nghiệp cũ đã trả, nghiệp mới chưa lãnh và Cực Lạc lại rộng mở để đón người niệm Phật, nên chúng ta mới có thể vãng sinh một cách dễ dàng. Cũng như ở Việt Nam, vào cuối năm 1975, chế độ Cộng Hòa đã sụp đổ, tổ chức tiếp quản còn sơ hở và tầu Mỹ lại đậu sẵn ở ngoài khơi để đón dân tỵ nạn, nên lúc đó chúng ta mới có thể vào Mỹ mà không cần thông qua các thủ tục di dân rất khắt khe của chính phủ Mỹ!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Về Cực Lạc dễ như vậy ư?

TRẢ LỜI: Về Cực Lạc không phải dễ đâu! Muốn về Cực Lạc phải có lòng tin, tin rằng có cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà ở phương Tây và tất cả chúng ta dù có tội hay không tội cũng đều có thể vãng sinh về đó. Niềm tin ấy mấy ai có được?  

Về Cực Lạc không phải dễ đâu! Muốn về Cực Lạc phải buông bỏ hết mọi tham cầu khác để chỉ lo về Cực Lạc. Đức xả ấy dễ gì học được?

Về Cực Lạc không phải dễ đâu! Muốn về Cực Lạc phải thực hành một trong hai Pháp môn sau: Một là hàng ngày tùy theo sức mình tránh ác, làm lành, vun trồng công đức, rồi đem hồi hướng xin về Cực Lạc. Hai là chí tâm niệm được từ một cho đến mười lần danh hiêu của Phật A Di Đà vào lúc lâm chung. Nhưng hàng ngày, mấy ai chịu tránh ác, làm lành và trồng công đức? Rồi đến lúc chết, năm uẩn tan rã, mấy người có thể tự chủ để mà niệm Phật? Đấy là chưa kể nếu gặp tai nạn hay mắc các bệnh quái ác như suy tim, cứng lưỡi hoặc hôn mê thì lại càng khó khăn hơn!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Nói như đạo hữu thì cần gì phải niệm Phật tới mức nhất tâm?

TRẢ LỜI: Đối với tín hữu, niệm Phật là để lập công, tích đức. Công đức nhiều thì phẩm trật cao. Công đức ít thì phẩm trật thấp. Do đó, nên cố gắng niệm Phật. Niệm Phật tới mức nhất tâm, thời đắc Niệm Phật tam muội, hiện đời cũng được thấy Phật, nghe Pháp!

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Tại sao chư Phật ở trong 10 phương rất nhiều mà chẳng niệm, lại chỉ niệm có Phật A Di Đà ?

TRẢ LỜI: Chư Phật ở trong 10 phương rất nhiều, nhưng chỉ có Phật A Di Đà phát bi nguyện tiếp dẫn những người muốn sinh sang nước của Ngài và niệm danh hiệu của Ngài vào lúc lâm chung.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Người tu Tịnh Độ niệm Phật, để xin về Cực Lạc có giống người theo Thiên Chúa cầu Chúa, để xin về Thiên Đường không?

TRẢ LỜI: Chắc chắn là không! Tại sao? Vì cả mục đích lẫn phương tiện của họ đều khác nhau!

Thực vậy, về mục đích, người theo Thiên Chúa xin về Thiên Đường để hưởng phúc. Thiên đường của họ là một đơn vị hành chính, là một quốc độ quân chủ. Tại đó, Thiên chúa là vua và Thiên chúng là dân. Còn người tu Tịnh Độ xin về Cực Lạc để học Đạo! Cực Lạc của họ là một cơ sở giáo dục, một học viện tự trị. Tại đó Đức Phật là Thầy và Thánh chúng là trò.

Về phương tiện, muốn về Thiên Đường, người theo Thiên Chúa phải một lòng, một dạ kính yêu Thiên Chúa và phải yêu mến người xung quanh như chính mình. Còn người tu Tịnh Độ thường dùng nguyện lực và niệm lực để về Cực Lạc.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI : Trở ngại lớn nhất của người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc là gì?

TRẢ LỜI: Người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc sợ nhất là cái tâm điên đảo, xui họ bỏ nguyện vãng sinh và ngưng niệm Phật hiệu. Để tránh trở ngại này, chúng ta phải thừơng:

  1. Nhớ đến 3 đại nguyện 18, 19 và 20 của Phật Di Đà để củng cố niềm tin. Tin rằng Phật sẽ đón mình vào lúc lâm chung.
  2. Phát nguyện vãng sinh để nuôi dưỡng lòng mong muốn được về Cực Lạc học Đạo.
  3. Làm điều phúc thiện, sám hối lỗi lầm, giữ gìn giới luật và niệm danh hiệu Phật để giảm bớt nghiệp chướng, ngõ hầu có thể thấy Hóa thân Phật và biết ngày giờ chết.

Còn nếu chưa thấy Hóa thân Phật và chưa biết ngày giờ chết thì phải nhớ nhờ người hộ niệm trước khi chết, trong lúc chết và sau khi chết để thúc dục chúng ta niệm Phật xin về Cực Lạc.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Tôi thích thiền định. Vậy có thể vừa thiền định vừa niệm Phật không?

TRẢ LỜI : Tại sao lại không? Vừa thiền định vừa niệm Phật cầu sinh Cực Lạc gọi là thiền tịnh song tu. Thiền tịnh song tu là vừa tu thiền vừa tu tịnh. Vừa tu thiền vừa tu tịnh không phải là đứng dạng chân trên hai chiếc thuyền thiền và tịnh, như nhiều người lầm tưởng!

Vừa tu thiền vừa tu tịnh cũng giống như vừa đi Hương Cảng vừa đi Việt Nam. Những người này không đứng dạng chân trên hai con tầu, một đi Hương Cảng, một đi Việt Nam, mà chỉ dùng một con tầu để đi Hương Cảng. Tới Hương Cảng rồi, mới lại lấy tầu để đi Việt Nam.

Cũng vậy, người vừa tu thiền vừa tu tịnh hàng ngày chăm chỉ thiền định, dùng công đức ấy xin về Cực Lạc. Rồi tại Cực Lạc, đương sự sẽ tiếp tục công phu để thành Chính giác.

LẠI CÓ NGƯỜI HỎI: Tại sao phải song tu thiền tịnh?

TRẢ LỜI: Người tu thiền, nếu không đắc Đạo ngay trong đời này, thì sau khi chết sẽ phải trở lại luân hồi. May lắm là được làm trời hay làm người. Nhưng dù làm trời hay làm người thì cũng đều bị thử thách và dễ sa ngã. Để tránh trở ngại này, chúng ta nên song tu thiền tịnh (Xem bài THIỀN TỊNH SONG TU.).

Montréal, viết ngày 13-12-2000

Bổ túc thêm ngày 07-12-2012

 

CHÚ THÍCH

1. Đới nghiệp vãng sinh: Mang theo nghiệp cũ để sinh về Cực Lạc. Xem: Chú thích “Vãng sinh Cực Lạc” của bài “Điều Kiện Vãng Sinh Cực Lạc”.

2. Thánh địa của bậc Thinh Văn : Theo Kinh Quán Vô Lựợng Thọ Phật thì phẩm vị của những người sinh về Trung phẩm, cao  là  A La Hán và thấp là Tu Đà Hoàn.

3. Bách Trượng: Thầy Bách Trượng cũng có tên là Bá Trượng, là Hoài Hải. Xem “THIỀN SƯ TRUNG HOA, phần nói về thiền sư Hoài Hải” của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, do Thiền Viện Trúc Lâm ấn tống, năm 1999.

4. Điều kiện để về Thiên Đường: Trong Thánh Kinh, thánh Luc (10V25) có kể lại cuộc đối thoại giữa Chúa Jésus và một Luật sư. Theo đó, điều kiện để về Thiên đường là “Một lòng một dạ kính yêu Thiên Chúa và yêu mến người xung quanh như chính mình.”

 

NGƯỜI CÓ TỘI CÓ ĐƯỢC VÃNG SINH KHÔNG?

Có người nói: Kẻ có tội không được vãng sinh Cực Lạc!

Nói kẻ có tội không được vãng sinh Cực Lạc, vì chúng ta nghĩ rằng, tội lỗi thì ô uế, còn Cực Lạc thì thanh tịnh. Do đó, nếu được vãng sinh Cực Lạc thì kẻ có tội sẽ làm ô uế xứ Phật!

Nghĩ như vậy là sai. Tại sao?  Vì ô uế chỉ là tướng của tội lỗi và thanh tịnh chỉ là tướng của Cực Lạc. Tuy tướng của tội lỗi và tướng của Cực Lạc xung khắc nhau, nhưng tính của tội lỗi và tính của Cực Lạc lại đều là không. Cho nên không thể vì lỡ phạm tội, mà mất quyền sinh về Cực Lạc.

Để cho dễ hiểu, tôi xin kể một thí dụ: Tất cả chúng ta đều có máy vô tuyến truyền hình. Có khi máy chiếu phim trộm cắp, bài bạc, đĩ điếm. Nhưng cũng có lúc chiếu cảnh chùa, tháp, đình, miếu, bồ tát, thiên thần. Khi chiếu cảnh ô uế, máy không bị ô uế. Lúc chiếu cảnh thanh tịnh, máy không được thanh tịnh. Tại sao? Vì tất cả các cảnh dù ô uế hay thanh tịnh cũng đều là huyễn hóa, chỉ có cái màn ảnh mới là chân thực. Nhưng màn ảnh ấy lại không dơ cũng không sạch. Bởi không dơ cũng không sạch, nên tất cả các cảnh dơ, sạch đều có thể luân phiên chiếu lên đó mà không hề cản trở lẫn nhau.

Tương tự, khi chúng ta nghĩ thiện thì tướng thiện hiện ra. Khi chúng ta nghĩ ác thì tướng ác xuất hiện. Các tướng thiện, ác ấy luân phiên sinh, diệt ở trong tâm của chúng ta, nhưng cái tâm của chúng ta lại không thiện cũng không ác!

Chính vì lý do này mà chỉ cần ngưng làm ác, tin có Phật, nghĩ đến Phật, mong gặp Phật thì nhất định sẽ được sinh về xứ Phật. Sinh về xứ Phật rồi, thì chủng tử của tất cả những tội lỗi trước kia sẽ bị cô lập và không phát động được nữa.

Thực vậy, tội lỗi mà chúng ta đã phạm trước khi vãng sinh đều được lưu trữ ở trong tàng tâm, dưới dạng chủng tử, cũng như những tài liệu được ghi vào cái điã cứng của máy điện toán, không thể tự nhiên hiện lên màn ảnh hay chạy qua máy in được. Muốn cho những tài liệu này hiện lên màn ảnh hay chạy qua máy in thì chúng ta phải tạo ra một số điều kiện thuận lợi cho việc đó. Bằng không, thì chúng sẽ mãi mãi ẩn tàng trong điã cứng. Cũng vậy, muốn khởi thành hiện thực thì những chủng tử ở trong tàng tâm phải gặp thuận duyên hỗ trợ. Nhưng ở Cực Lạc không có ác duyên. Do đó, những chủng tử của các nghiệp ác không thế nào chuyển thành tư tưởng ác, lời nói ác hay hành động ác được. Tại Sao? Vì thiếu trợ duyên!

Lại nữa, xét trường hợp đơn giản của con bò. Trong quá trình luân hồi hàng vô số kiếp, chắc chắn đã có lần nó sinh làm ác thú, chuyên ăn thịt sống và cái chủng tử thích ăn thịt vẫn còn tồn tại trong tàng tâm của nó. Nhưng hiện đời này, với cái thân của con bò, nó chỉ thích cỏ và sợ thịt. Cho dù chúng ta có đem thịt cho nó, thì nó cũng chê và không thèm ngó ngàng tới!  

Cũng vậy, thân thể và hoàn cảnh của Thánh chúng ở trên Cực Lạc không phù hợp với ác nghiệp mà chỉ thích ứng với thiện pháp. Cho nên chỉ cần có chút thiện căn là có thể thăng tiến dễ dàng. Tại sao? Vì ác tâm không khởi, mà thiện nghiệp thì cứ càng ngày càng tăng theo với thiện duyên sẵn có ở cõi này.

Người chủ trương kẻ có tội không thể sinh về Cực Lạc, vì họ không hiểu Cực Lạc vốn là một Phật Học Viện rất lớn, mà điều kiện nhập học của một Phật tử bình thường không phạm tội nghịch là phải tin tưởng có cõi Cực Lạc, rồi tha thiết phát nguyện vãng sinh về đó. Còn riêng những người trong suốt cuộc đời, không tin nhân quả, phạm những tội nghịch như là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hủy tượng Phật, ly gián chư Tăng thì trước khi chết phải niệm liên tiếp mười câu Phật hiệu mới được vãng sinh.

Tóm lại, không cần biết trước kia đã phạm lỗi gì, miễn là bây giờ chúng ta chịu ngưng làm ác, tin có Phật, nghĩ đến Phật và mong gặp Phật thì chắc chắn sẽ được toại ý.

Montréal, ngày 18-08-1999


TÂY PHƯƠNG DU KÝ

Ghi chú: ở đoạn này nói về quyển sách “Tây Phương Du Ký” của Ngài Khoan Tịnh. Tông chỉ của trang nhà Tạng Thư Phật Học bất cập, tông chỉ và lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa, trong quyển Vấn Đáp, Hòa thượng đã dạy nội dung trong quyển sách là không đúng, và Ngài Khoan Tịnh cũng không được biết là đệ tử của Thiền Sư Hư Vân. Vì nội dung trong quyển sách không hợp với tông chỉ phổ biến của trang nhà, như quyển Niệm Phật Lưu Xá Lợi cũng như vậy. Chúng tôi xin phép soạn giả được ngắt nội dung ở phần này, rất mông soạn giả hoan hỷ cho. Xin chân thành cám ơn. {Ban biên tập -tangthuphathoc.net}


 

TRỢ NIỆM VÃNG SINH

Trợ niệm vãng sinh là pháp trợ niệm đặc biệt của Tịnh tông, bao gồm những nghi thức nhằm giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hay thúc dục một người ốm nặng, hấp hối hay mới chết niệm Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc.

Nghi thức này rất quan trọng đối với những người tu môn Tịnh Độ. Tại sao? Vì các tín hữu tu môn Tịnh Độ đều tin rằng có cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây và tất cả chúng ta, dầu có tội hay không tội, cũng đều có thể được sinh về đó, nếu chúng ta luôn nhớ đến Phật và mong Ngài tới đón về nước của Ngài vào lúc lâm chung. Tiếc rằng chúng ta vốn có thói quen chạy theo ngoại cảnh và vọng tưởng, rồi quên mất Phật, nên mới cần có người giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hay thúc dục.

Lại nữa, nhớ đến Phật và mong Ngài tới đón thuộc về tình cảm, có thể huân tập. Do đó, nếu không sẵn có cái tình cảm quí báu này, thì phải kiên nhẫn tập niệm danh hiệu Phật và phát nguyện vãng sinh. Văn phát nguyện rất nhiều, chúng ta nên chọn một bài thật vừa ý mà đọc. Rồi, nhờ niệm danh hiệu Phật, chúng ta sẽ nhớ đến Phật. Nhờ phát nguyện vãng sinh, chúng ta sẽ mong được Phật đón, vào lúc lâm chung!

Nếu công phu tu tập được thuần thục, chúng ta sẽ biết trước ngày chết. Ngược lại, nếu chưa biết ngày giờ chết, mà đã lâm trọng bệnh, hay lên cơn hấp hối thì phải chuyên tâm niệm Phật hoặc nhờ người trợ niệm cho đến khi thấy được đức Phật, bồ tát hay hoa sen hiện đến tiếp đón.

Còn nếu chưa thấy điềm lành ấy, mà đã tắt thở, thì phải cố tự niệm hay nhờ người trợ niệm cho được 10 câu Phật hiệu trong quá trình thần thức (thần hồn)  bỏ thể xác vào Trung giới.

Rủi thần thức đã vào Trung giới, với thân trung ấm rồi, thì phải gấp rút nương theo tiếng trợ niệm của bà con hay bạn bè mà xướng tên Phật cầu sinh Cực Lạc, càng sớm càng tốt, đặc biệt là trong hai tuần đầu. Tại sao? Vì đây là thời gian mà chư Phật và thánh chúng hiện thân tiếp độ vong linh của những người mới chết. Nhưng phải là những linh có duyên mới có thể nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ.

Nói một cách khác, người niệm Phật cầu sinh Cực Lạc là người chuẩn bị để thi thành Thánh, hay rõ ràng hơn, là thành bồ tát bất thoái ở trên Cực Lạc. Thi thành Thánh có ba kỳ: Kỳ một kết thúc trước khi chúng ta tắt thở. Kỳ hai bắt đầu từ lúc tắt thở và kết thúc trước khi thần thức của chúng ta vào Trung giới, thành vong linh. Kỳ ba diễn ra khi chúng ta đã thành vong linh và đặc biệt là trong giai đoạn trung ấm Pháp tính kéo dài 2 tuần.

Đậu kỳ một gồm những người biết trước ngày chết, hoặc những người thấy được điềm lành trước khi họ tắt thở. Sao gọi là thấy được đìềm lành? Thấy được điềm lành là thấy đức Phật, bồ tát hay hoa sen hiện đến tiếp đón.

Đậu kỳ hai gồm những người niệm được 10 câu Phật hiệu trong giai đoạn trung ấm lâm chung, kéo dài từ sau lúc họ tắt thở đến trước khi thần thức của họ vào Trung giới, thành vong linh.

Đậu kỳ ba gồm những vong linh được tiếp độ sau ngày họ vào Trung giới, như vong linh Chung Nguyệt Chấn, được ghi lại ở cuốn ĐƯỜNG MÂY TRONG CÕI MỘNG của Đại sư Hám Sơn, hồi thứ 12, dưới tựa đề Viên Tịch.

Theo sách này, một hôm sau khi đại chúng đã thọ cơm chiều xong và đang sửa soạn vào ngồi thiền, thì có một nhân viên của sở thuế tới tìm Đại sư Hám Sơn và nói:

 Bạch Hòa thượng! Con tên là Chung Nguyệt Chấn. Lúc còn sống con ăn chay trường và tu môn Niệm Phật. Con đã chết 5 tuần rồi. Lẽ ra con được vãng sinh Cực Lạc, nhưng vì nặng nghiệp, nên cứ loay hoay mãi ở cõi này. Mong Hòa thượng từ bi cứu giúp con!

Nghe như vậy, Đại sư Hám Sơn liền bảo đại chúng rời Thiền đường, lên Chính điện, đồng thanh niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Sau thời niệm Phật, mà sách không nói rõ là bao lâu, Đại sư chuyển ý, giảng pháp MÔNG SƠN THÍ THỰC CHO LOÀI NGẠ QUỈ. Khi nói đến câu “Nên quán tất cả pháp đều do tâm tạo”, Đại sư quất cây quạt, đang cần trong tay và quát:

Hãy mau vãng sinh!

Vong linh Ông Chấn, lúc đó đang nhập vào nhân  viên sở thuế, liền lập lại:

 Hãy mau vãng sinh!

Đại sư quát ba tiếng, vong linh ông Chấn lập lại đủ ba lần…

Rồi, trước khi vãng sinh, vong linh cúi lạy Đại sư và xá đại chúng tạ ơn đã trợ niệm cho ông. Đồng thời, ông cũng không quên gửi lời cám ơn nhân viện sở thuế, đã bị ông mượn xác.     

Vậy, mục đích tu học của tín đồ Tịnh Độ là phải đậu thành Thánh ở một trong ba kỳ thi đó.

Những người biết trước ngày chết, có thể chuẩn bị niệm Phật và chờ Ngài đến đón một cách chính xác. Do đó, không cần trợ niệm. Tuy nhiên, nếu được trợ niệm thì vẫn tốt hơn.

Những người không biết ngày chết, thường quen chạy theo ngoại cảnh hoặc suy nghĩ viễn vông mà quên mất Phật. Do đó, chúng ta cần phải sốt sắng giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hoặc thúc dục họ  niệm Phật A Di Đà, cầu sinh Cực Lạc.

Giúp đỡ, nhắc nhở, khuyến khích hoặc thúc dục một người ốm nặng, hấp hối hay mới chết niệm Phật A Di Đà cầu sinh Cực Lạc, gọi là trợ niệm vãng sinh. Việc làm này hết sức quan trọng, vì nó có thể giúp người thân của chúng ta chuyển phàm thành Thánh. Cho nên, cần phải chuẩn bị rất kỹ lưỡng về cả hai phương diện tâm lý và nhân sự.

Về phương diện tâm lý, chúng ta phải giảng giải cho người thân của chúng ta rằng, họ nên niệm Phật cầu sinh Cực Lạc. Đặc biệt là lúc thần lià khỏi xác, nếu họ có thể niệm được mười câu “Nam mô A Di Đà Phật”, thì chắc chắn sẽ được sinh về xứ Phật.

Về phương diện nhân sự, chúng ta nên mời bà con, bạn bè và nhất là các bậc thiện tri thức đến trợ niệm. Thiện tri thức là gì? Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức trong trường hợp này là những tín hữu tin nhận pháp môn Tịnh Độ, quen biết người sắp chết hay mới chết, lại có lòng tốt chịu đến tận nơi nhắc nhở, khuyến khích và thúc dục người ấy cùng với mình niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, trong những tuần lễ trước và sau khi đương sự tắt thở.

Chuẩn bị tâm lý và nhân sự xong, chúng ta phải học kỹ thuật trợ niệm. Kỹ thuật này gồm hai phần chính: Một là nhắc nhở người sắp chết hay mới chết phải lo niệm Phật. Hai là phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà để họ bắt chứơc làm theo.    

Nếu người cần trợ niệm chưa tắt thở, chúng ta nên nhắc nhở, như sau: “Này đạo hữu (Pháp danh)! Người đang bị bệnh, nhưng chớ lo! Hãy chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Nếu số người chưa tận, thì sẽ sớm được bình phục. Còn như đã đến lúc phải ra đi, thì sẽ được Phật đón về Cực Lạc!”

Tiếp theo, phải luân phiên niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật” hay bốn chữ “A Di Đà Phật” và cố giữ cho tiếng niệm liên tục, không dứt, trong suốt thời gian cần được trợ niệm.

Nếu người cần trợ niệm đã tắt thở, chúng ta nên nhắc nhở, như sau: “Này đạo hữu (Pháp danh)! Người đã chết thật rồi! Không nên nhớ, nghĩ vẩn vơ nữa! Hãy cùng chúng tôi niệm Phật, chờ Ngài tới đón.” Tiếp theo, cũng niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”, hay bốn chữ “A Di Đà Phật” như trên.

Với những người chết ở Việt Nam, chúng ta có thể trợ niệm trước khi chết và khi họ tắt thở, chúng ta có thể giữ xác họ ở nhà, hoặc đưa vào Vãng Sinh Đường để tiếp tục trợ niệm. Nhưng ở các nước Âu Mỹ, phần lớn thân nhân của chúng ta đều chết tại bệnh viện, hai người một phòng, nên việc trợ niệm trước khi chết rất là khó khăn. Rồi khi họ tắt thở, thì thường không có bà con bên cạnh. Tiếp đến, thân hình của họ bị đẩy vào nhà xác để chờ tẩm liệm.

Nếu rủi bị chết vào ngày thứ sáu, thì chúng ta thường đợi đến cuối tuần sau, mới đưa ra nhà quàn để quí thầy, bà con cùng bạn bè trợ niệm và viếng thăm lần cuối, trước khi chôn hoặc thiêu. Nói như vậy, có nghiã là trong 8 ngày đầu, kể từ khi người thân của chúng ta tắt thở, chúng ta không thể trợ niệm cho họ. Mặc dầu đấy là lúc tốt nhất để nhắc họ niệm Phật cầu sinh Cực Lạc!

Để tránh trở ngại này, chúng ta nên điều đình với nhà thương, xin họ cho chúng ta giữ lại xác chết 8 giờ ở một phòng riêng, để trợ niệm và nhớ gài máy niệm Phật vào ngực người chết, trước khi chuyển vào nhà xác.

Lại nhớ, phải đợi 3 ngày rưỡi hay 4 ngày sau, mới có thể chôn hay thiêu xác ấy.

Tóm lại, với người tu Tịnh Độ, thời gian quan trọng để trợ niệm là vài tuần trước và sau khi người thân của chúng ta tắt thở.

Tuy nói, vài tuần trước và sau khi ngừơi thân của chúng ta tắt thở, nhưng vì quá bận với cuộc sống, nên chúng ta thường chỉ trợ niệm trong giai đoạn lâm chung, kéo dài từ lúc người thân của chúng ta tắt thở đến khi thần thức của người ấy vào Trung giới, thành vong linh.

Thời gian này được ứơc tính trung bình là 8 giờ, nhưng cũng có thể kéo dài đến 3 ngày rưỡi hay 4 ngày. Do đó, người Tây Tạng thường trợ niệm trong 3 ngày rưỡi hay 4 ngày, kể từ khi người thân của họ tắt thở. Còn chúng ta nên cố trợ niệm, ít nhất, là 8 giờ. Rồi chờ 3 ngày rưỡi hay 4 ngày sau, mới đưa xác chết ra nhà quàn để quí Thầy, bà con và bạn bè tới trợ niệm và cử hành tang lễ.

Tới khi an táng xong xuôi, chúng ta liền rước vong linh lên chùa để cầu siêu trong 7 tuần liền. Mỗi tuần một lần.

Nói như vậy, có nghĩa là ngoài việc thiêu hoặc chôn xác của người chết, chúng ta còn phải trợ niệm và cầu siêu cho họ. Nhưng trợ niệm và cầu siêu khác nhau như thế nào?

Trợ niệm và cầu siêu rất khác nhau. Thực vậy, trong khi trợ niệm, chúng ta thường chỉ làm có hai việc: một là nhắc người sắp chết, đang chết hay mới chết phải lo niệm Phật cầu sinh Cực Lạc và hai là niệm Phật hiệu để hối họ niệm theo. Trái lại, trong lúc cầu siêu, chúng ta có thể hoặc dùng tên mình, hoặc thay vong linh bố thí, cúng dường, sám hối, tụng kinh, niệm Phật hay trì chú. Rồi đem phúc đức tạo được, hồi hướng cầu cho vong linh vãng sinh Cực Lạc, hoá sinh lên trời hay tái sinh làm người.

Montréal, ngày 13-03-05

Bổ túc ngày 03-06-2009

CHÚ THÍCH

An táng tử thi: Theo Tử Thư Tây Tạng, khi người thân của chúng ta tắt thở, chúng ta nên để xác họ ở yên một chỗ từ 3 ngày rưỡi đến 4 ngày, thêm 2 hay 3 ngày làm tang lễ, cộng chung thành 5 ngày rưỡi hay 7 ngày.

Chết: Khoảng thời gian kéo dài từ lúc một người tắt thở cho đến khi đương sự theo nghiệp để tái sinh vào một trong sáu đường là trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và địa ngục. Hiểu theo nghĩa này, chết thường có ba giai đọan là lâm chung, pháp tính và tái sinh:

1. Lâm chung kéo dài từ lúc người thân của chúng ta ngưng thở, cho đến khi thần thức của người ấy bỏ lại thể xác, vào Trung giới, hóa thành vong linh hay hương linh. Theo người Trung Hoa, giai đọan này thường nằm trong khoảng 8 giờ. Nhưng người Tây Tạng lại nói, nó có thể kéo dài tới 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.

2. Pháp tính kéo dài 2 tuần kể từ khi thần thức của người chết vào Trung giới với thân trung ấm. Đây là lúc mà chư Phật và thánh chúng hiện đến tiếp dẫn. Nhưng chỉ những linh nào có duyên, mới nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ.

3. Tái sinh bắt đầu từ tuần lễ thứ ba, khi chư Phật và Thánh chúng đều đã biến đi. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn, tuỳ theo tâm trạng và hạnh nghiệp của mỗi vong linh. Có những linh không qua giai đọan này, vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó. Có những linh chỉ ghé qua vài giờ. Nhưng cũng có những linh phải lưu lại tới 49 ngày hay lâu hơn 49 ngày. (Xem “Ấn Quang Đại sư Gia Ngôn Lục,” phần Luận về thân trung ấm.)

Chết lâm sàng: Khi mũi hết thở, tim ngưng đập.

Chết thực sự: Khi thần thức rời bỏ thể xác để vào trung giới, tức là nơi tạm trú của những vong linh chờ đi tái sinh.

Đại Hắc (Maha Kala): Hóa thân của Trời Tự Tại, cũng gọi là thần Huỷ Diệt (Shiva).

Hung thần: Thần phẫn nộ.

  1. Thần Minh Vương (Héruka)
  2. Mẫu Tự Tại (Isvara)

Pháp tính: Giai đọan pháp tính, hay nói cho đủ chữ là “giai đọan trung ấm pháp tính” kéo dài 14 ngày:

  1. Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 5, có năm phương Phật là Đại Nhật, A Súc, Bảo Sinh, Di Đà và Bất Không lần lượt xuất hiện, phóng quang chiếu soi vong linh.
  2. Trong ngày thứ 6, cả năm vị Phật nói trên đều đồng thời thị hiện phóng quang chiếu soi vong linh.
  3. Trong ngày thứ 7, có 42 thiện thần (thần ôn hòa), từ trái tim và yết hầu của vong linh xuất ra, phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử Thư Tây Tạng, những vị thần này đều là hóa thân của trời Đại Hắc (Mahakala).
  4. Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14, có 58 hung thần (thần phẫn nộ), chia thành 7 nhóm, từ trong đầu của vong linh, tuần tự xuất ra, phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử Thư Tây Tạng, những vị thần này đều là hoá thân của vua Diêm Vương (Yamaraja).

Cũng theo Tử Thư Tây Tạng, trong lúc chư Phật và thánh chúng phóng quang chiếu soi, nếu vong linh có thể hợp nhất với trí quang của chư Phật hay sắc thân của thánh chúng, thì liền thoát vòng sinh tử!  

Trên đây là đạo pháp của Mật tông, còn theo những người thanh tu tịnh nghiệp, thì: “Chư Phật và thánh chúng phóng quang không phải chỉ để chiếu soi, mà là để tiếp dẫn.” Do đó, trong mười bốn ngày nói trên, nếu vong linh phát tâm niệm Phật, thì cũng có hy vọng được siêu thoát!

Thiện thần: Thần ôn hòa.

  1. Thần Trì Minh (Vidyadhara)
  2. Mẫu Không Hành (Dakini)

Trợ niệm trong giai đoạn cận tử: Việc trợ niệm trong giai đọan cận tử rất quan trọng. Cho dù chúng ta không đạt được mục đích theo đuổi là giúp người sắp chết thoát ly sinh tử, thì người ấy cũng được hưởng vô vàn phúc lợi. Tại sao? Vì theo kinh Địa Tạng, như có người sắp chết, hàng thân quyến trong nhà, nhẫn đến một người, vì người sắp chết mà lớn tiếng niệm danh hiệu của một đức Phật, thời chỉ trừ năm tội nghịch, các nghiệp báo khác của người sắp chết thẩy đều tiêu sạch.

Trung giới: Nơi tạm trú của các vong linh, trong lúc  chờ đi tái sinh.

 

CẦU SIÊU

Chúng ta ai nấy đều biết là những người tu hành đã đắc Pháp thì sẽ được như nguyện. Còn những người có tu nhưng chưa đắc Pháp và những người không tu đều phải theo nghiệp trở lại luân hồi. Nếu là nghiệp tốt, thì họ sẽ được tái sinh làm người hoặc hoá sinh làm trời và chúng ta sẽ chúc phúc cho họ. Nhưng nếu là nghiệp xấu thì họ sẽ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ hoặc súc sinh và chúng ta nên tìm cách cứu họ. Cứu bằng cách nào? Cứu bằng cách cố gắng nhờ một thiện tri thức đắc thiên nhãn giúp đỡ hoặc chí thành làm lễ cầu siêu cho đương sự.

Thiện tri thức đắc thiên nhãn có thể giúp gì cho người chết? Để trả lời câu hỏi này, tôi xin thuật lại một chuyện, do thầy Khế Định kể, như sau: Một hôm Bùi Hưu bị bệnh nặng, nên mới sai con đi mời Thiền sư Hoàng Bá. Hoàng Bá đến đúng lúc Bùi Hưu đang mê man. Hoàng Bá hét lớn: “Bùi Hưu!” làm ông ta giật mình tỉnh dậy.

Hoàng Bá bảo: “Ông vừa thấy cái gì, hãy kể lại coi.”

Bùi Hưu nói: “Tôi vừa thấy một cái hồ, nước ở đó trong xanh rất đẹp. Đang định nhẩy xuống tắm, thì thấy một ông tăng gọi tên tôi, nên giật mình tỉnh dậy!”

Bấy giờ, Hoàng Bá mới giải thích: “Nếu không nhờ lão tăng gọi ông, thì ông đã thác sinh vào loài rồng!”

Qua thí dụ trên, chúng ta thấy bậc thiện tri thức đắc thiên nhãn, có thể giúp người chết một cách rất dễ dàng và chính xác. Tiếc là không dễ gì tìm được một thiện tri thức đắc thiên nhãn! Do đó, thông thường chúng ta chỉ biết giúp người chết bằng cách cầu siêu cho họ!

Cầu siêu bao gồm những nghi thức, cúng dường, cầu nguyện, sám hối, tụng kinh, niệm Phật hay trì chú, nhằm giúp cho một hay nhiều vong linh thoát ly ác đạo. Có hai cách cầu siêu chính: Một là giúp cho vong linh vãng sinh Cực Lạc. Hai là giúp cho vong linh được tái sinh làm người hoặc hóa sinh làm trời.

Cách thứ nhất chỉ áp dụng được cho những người vừa mới chết. Muốn thế, chúng ta nên đọc kinh A Di Đà để khuyến khích họ niệm Phật, cầu sinh Cực Lạc. Tiếp theo, chúng ta phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho họ bắt chước làm theo. Nếu trong lúc chúng ta hành lễ, đương sự phát được lòng tin, niệm danh hiệu Phật, cầu sinh Cực Lạc, thì chắc chắn sẽ được toại ý!

Cách thứ hai có thể áp dụng cho mọi trường hợp và thường được thực hiện dưới một trong hai dạng sau đây:

1. Tu phúc, cúng dường, sám hối, niệm Phật, trì chú, đọc kinh, đặc biệt là kinh Điạ Tạng. Rồi hồi hướng phúc đức, cầu cho vong linh thoát ly ác đạo, tái sinh làm người hay hoá sinh làm trời. Tại sao? Vì theo kinh Điạ Tạng, niệm danh hiệu của bồ tát Địa Tạng hay của một đức Phật mà mình tin ưa sẽ tạo được rất nhiều công đức và chúng ta có thể chuyển nhượng 1 phần 7 số lượng công đức ấy để chuộc tội cho người thân. Trong đó, có cha mẹ bẩy đời của chúng ta.

2. Đợi rằm tháng bẩy, mua sắm lễ vật, cúng dường chư Tăng, cầu xin các thầy, chú nguyện cho vong linh người chết được tái sinh làm người hoặc hoá sinh làm trời.  

Có nhiều người không tin vào việc cầu siêu, viện lý, khi xưa, thần thông quảng đại như ngài Kiền Liên mà còn chẳng cứu đựơc mẹ ruột của mình, thì một vị tăng bình thường của thời đại này, liệu có thể giúp gì cho thân nhân của chúng ta?

Thực ra, trong lúc cầu siêu chúng ta có thể gặp những trường hợp khó mà siêu được, nhưng cũng có những trường hợp có thể siêu được, miễn là chúng ta có nhiệt tình muốn giúp người chết và biết cách xử sự là đủ.

Nói khó mà siêu được, như trường hợp của mẹ ngài Kiền Liên trong kinh Vu Lan. Theo kinh này, sau khi chứng được thần thông, lòng hiếu phát động, muốn độ cha mẹ, ngài Kiền Liên liền dùng mắt tuệ xem xét thế gian, thấy vong linh của mẹ mình bị đọa vào loài ngạ quỉ, thân thể gầy ốm, da bọc lấy xương. Mục Liên thương sót, tức thời lấy bát sới cơm dâng lên. Mẹ ngài vui mừng, tay trái che bát, tay phải bốc ăn. Nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa thành than hồng, không thể ăn được!

Mục Liên thấy vậy, liền khóc oà lên. Tức tốc chạy về, bạch lại với Phật đầu, đuôi sự việc.

Phật bèn dậy rằng: “Mẹ con gây tội, gốc đã ăn sâu, chẳng thể lấy sức của một mình con mà mong cứu được. Không cứ gì con, mà cả đến Thiên thần, Tà ma, Đạo sĩ cũng đều thúc thủ. Muốn cứu mẹ con, phải nhờ oai lực của chư tăng ở khắp mười phương…”

Tiếp theo, Phật khuyên tứ chúng, vào rằm tháng 7, tức ngày Tự Tứ, nên vì bố mẹ đời này và bẩy đời đã qua, mà sắm lễ vật, cúng dường chư tăng, cầu xin các ngài chú nguyện cho họ: Nếu còn tại thế, khoẻ mạnh, yên vui. Nếu đã qua đời, xa lià đường ác, trở lại làm người, hoặc sinh lên trời.     

Nói có thể siêu được, như trường hợp của mẹ nàng Quang Mục trong kinh Địa Tạng. Theo kinh này, về đời xa xưa, cách đây không biết bao nhiêu a tăng kỳ kiếp, có đức Phật ra đời, hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Trong thời tượng pháp của Ngài, có một vị La Hán nhân đi giáo hoá, gặp người con gái, tên là Quang Mục làm cỗ cúng dường.

Vị La Hán hỏi: “Con cúng dường ta để cầu việc chi?”

Quang Mục thưa: “Hôm nay là ngày giỗ của mẹ con. Con muốn mượn công đức cúng dường này để tạo phúc cho mẹ. Không biết mẹ con đã thác sinh chỗ nào?”

Trạnh lòng thương xót, vị La Hán liền nhập định quán thấy mẹ của Quang Mục đang bị đọa trong đường ác, cực khổ vô cùng. Nên khi xuất định, ông mới hỏi Quang Mục: “Mẹ con lúc còn sống đã làm những gì, mà nay phải đọa vào trong đường ác, chịu nhiều cực khổ như thế?”

Quang Mục thưa: “Mẹ con lúc còn sống thường thích ăn cá, ăn ba ba v.v… Không những ăn các loại đó, mà còn ăn rất nhiều trứng của chúng, hại có đến mấy ngàn vạn mạng. Xin tôn giả từ mẫn thương xót, chỉ cho con cách cứu mẹ con!”

Vị La Hán liền khuyên Quang Mục: “Con nên chí thành niệm danh hiệu đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và tô vẽ hình tượng của Ngài thì kẻ còn, người mất đều được phúc cả.”

Quang Mục nghe xong, liền xả những vật sở thích để sưu tầm và tô vẽ tượng Phật, lại dốc lòng cung kính lễ bái. Đến quá nửa đêm, chợt thiếp đi và chiêm bao thấy thân Phật sắc vàng rực rỡ, như núi Tu Di, phóng hào quang rất lớn mà bảo rằng: “Chẳng bao lâu nữa mẹ con sẽ sinh vào nhà con. Vừa biết đói rét, đã biết nói ngay!”

Quả nhiên, ít lâu sau người ở gái trong nhà sinh được một đứa con. Chưa đầy ba ngày mà đã biết nói. Cúi đầu khóc lóc, bảo Quang Mục rằng: “Ta vốn là mẹ của con. Từ lúc bỏ con mà đi, đã bị đọa vào các đại địa ngục. May nhờ phúc lực của con mới được đầu thai làm người hèn hạ, còn bị chết non, chỉ sống đựơc mười ba năm. Rồi lại phải đọa vào đường ác. Con có cách gì cứu được mẹ chăng?”

Quang Mục nghe nói, biết đích thực là mẹ mình, nghen ngào vừa thương, vừa khóc mà thưa với con của người ở rằng: “Nếu quả là mẹ tôi, chắc biết rõ căn nguyên tội cũ, do hạnh nghiệp gì mà bị đọa vào đường ác như thế?”

Con của người ở đáp: “Vì hai nghiệp giết hại và chửi rủa, cho nên phải chịu báo như thế. Nếu chẳng nhờ con làm phúc cứu trừ khổ nạn cho ta, thì hai nghiệp ấy chưa có thể giải đựơc!”

Quang Mục lại hỏi: “Sự thể tội báo trong địa ngục như thế nào?”

Con người ở đáp: “Những nỗi khổ của tội phạm thực không nỡ nói ra. Mà có nói cho đến trăm ngàn năm cũng không hết được!”

Quang Mục nghe rồi, nức nở than khóc, hướng lên trên không mà khấn rằng: “Xin nguyện cho mẹ con thoát khỏi địa ngục mãi mãi. Hết kỳ mười ba tuổi, không còn tội gì nặng, khiến phải trở lại đường ác nữa. Nếu mẹ con được lià hẳn ba đường ác và nơi hèn hạ này, cho đến đời đời, kiếp kiếp không còn phải làm thân đàn bà nữa, thì con xin đối trước tượng Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, nguyện từ nay cho đến trăm ngàn vạn ức kiếp về sau, hễ có chúng sinh chịu khổ trong ba đường ác, thì con thề sẽ cứu bạt hết, khiến cho họ thoát cảnh địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Những chúng sinh bị tội báo như thế thành Phật cả rồi, nhiên hậu con mới lên ngôi Chính Giác.”

Dứt lời, liền nghe thấy đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai bảo rằng: “Này Quang Mục! Con thật có lòng đại từ mẫn, tha thiết vì mẹ mà phát lời nguyện lớn như thế. Ta quán thấy mẹ con khi hết hạn mười ba tuổi bỏ báo thân ấy, sẽ được sinh làm Phạm chí, thọ lâu trăm tuổi….”

Xem như vậy, ngài Kiền Liên không cứu được mẹ mình, vì thái độ của mẹ ngài không thuận lợi cho việc tiếp cứu và cách xử sự của ngài cũng không hiệu nghiệm. Nàng Quang Mục cứu được mẹ mình, vì thái độ của mẹ nàng rất thuận lợi cho việc tiếp cứu và cách xử sự của nàng lại rất hiệu nghiệm.

Thực vậy, mẹ của ngài Kiền Liên chỉ bận tâm về cái khổ đói, khát của loài ngạ quỉ, mà không biết tại sao mình bị sinh làm ngạ quỉ và cũng không hề nghĩ đến việc phải thoát khỏi cảnh ngạ quỉ, đầy khổ đau. Vì vậy, khi ngài Kiền Liên dâng bát cơm lên, bà không bảo ngài phải lo độ bà, mà chỉ sợ các vong khác dành giật, một tay che bát, một tay bốc ăn. Thái độ này làm cho việc tiếp cứu trở nên cực kỳ khó khăn. Khó đến mức phải nhờ oai lực của tăng đoàn. Tại sao? Vì chỉ tăng đoàn mới có đủ oai lực để làm bà thức tỉnh, không cầu no nê, mà cầu giải thoát!

Lại nữa, thấy mẹ đói khát, ngài Kiền Liên không nghỉ đến việc cứu mẹ ra khỏi ác đạo, mà chỉ vội vã dùng thần lực, tự tay dâng cơm cho riêng mẹ mình. Hy vọng bà sẽ được no nê. No nê trong cái thân ngạ quỉ! Đây chính là lý do khiến ngài bị thất bại!

Ngược lại, mẹ của nàng Quang Mục biết rõ tại sao mình bị đọa đầy. Bà không mong được yên vui trong cảnh địa ngục, mà quyết tâm tìm cách thoát ra. Thái độ này khiến cho việc tiếp cứu trở nên dễ dàng.

Lại nữa, biết mẹ bị đọa, nàng Quang Mục không xin cho mẹ mình miễn bị hành hạ và được thanh nhàn nơi đọa xứ, mà chỉ lo nương vào Phật lực, giải bớt nghiệp chướng của bà để đưa bà ra khỏi địa ngục. Nhân đó, nàng lại biết được nỗi khổ của chúng sinh trong cùng cảnh ngộ và phát đại bi tâm, nguyện độ tất cả bọn chúng trước khi đắc quả Chính Giác. Chính cái đại bi tâm này đã phá tan nghiệp chướng còn lại của mẹ nàng để giúp bà, khi bỏ thân phận hèn hạ của con người ở, liền đựơc sinh làm Phạm chí.

Nói một cách khác, tuỳ theo hoàn cảnh, việc cầu siêu có thể có hiệu nghiệm, cũng có thể không hiệu nghiệm, nhưng lý tưởng nhất là khi hội đủ ba điều kiện sau:

1. Vong linh không cầu yên vui nơi ác đạo, mà tha thiết muốn được thoát ra.

2. Tang chủ và thân nhân tham dự buổi lễ phải thực tình thương mến và bằng lòng hy sinh tài vật và công sức để cứu dõi vong linh.

3. Chủ lễ phải tin rằng cầu siêu là hợp tình, hợp lý, hợp pháp và phải ý thức rõ ràng rằng không phải cá nhân mình cầu siêu, mà mình cầu siêu với tư cách đại diện cho tăng đoàn ở khắp mười phương.  

 Lại nữa, khi làm lễ cầu siêu chúng ta nên vì người chết, chứ không nên vì mình. Thế nào là vì người chết?  Vì người chết có ba nghiã:

1. Đăng ký cầu siêu tại ngôi chùa, mà lúc sống, người chết thường lui tới. Tại sao? Vì họ đã quen với cách tụng niệm của quí thầy ở đó và có thể nhịp theo một cách dễ dàng. Nếu suốt đời, người chết chưa hề đến chùa, thì nên đăng ký cầu siêu tại ngôi chùa nào, mà quí thầy thường khai thị cho vong linh trước khi niệm Phật. Tại sao? Vì nếu không được khai thị rõ ràng, thì vong linh sẽ không hiểu tại sao chúng ta lại họp nhau niệm Phật? Rồi chán nản bỏ đi, thay vì hoan hỉ hành lễ cùng với chúng ta!  

2. Chủ lễ phải khai thị, đọc kinh và niệm Phật bằng tiếng Việt, hay đúng hơn là bằng tiếng mẹ đẻ của người chết, một cách thật rõ ràng, rành mạch để cả người chết và người sống đều có thể đọc theo và hiểu được ý nghiã của việc, mà họ đang làm. Không nên ê a, gõ mõ và đánh chiêng rộn ràng, cốt ý làm cho mọi người được vui tai.

3. Tang chủ và thân nhân nên mời một hay nhiều thiện tri thức đến dự lễ, để giúp vong linh của người chết phát khởi lòng tin, bỏ hết tham, giận, hướng về chư Phật, mà cầu giải thoát. Thế nào là thiện tri thức? Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức không cần phải là một cao tăng, mà là một người quen hay một người bạn biết tính tình, sở thích, khả năng của người chết và lại có lòng tốt muốn giúp đương sự được siêu thoát.

Vai trò của thiện tri thức rất quan trọng. Nhờ sự hiện diện của người này, mà vong linh mới vui vẻ tham dự khóa lễ và nghe lời chủ lễ, làm những việc cần thiết để được giải thoát.

Dù muốn hay không, đến một tuổi nào đó, chúng ta, ai nấy đều phải đối diện với cái chết và thường đi dự lễ cầu siêu của bạn bè hay bà con. Tuy thường đi dự lễ cầu siêu, nhưng vẫn có nhiều người không tin là việc làm này có ích lợi thiết thực cho người chết. Vì vậy, tôi xin kể lại một chuyện có thực, của Sư Ông Giác Hạnh, trụ trì chùa Hội Phước ở Bà Rịa, nói về con ma, tên Lê Văn Quốc.

Lê Văn Quốc, nguyên là y sĩ ở bệnh viện Rạch Giá. Làm việc tại đó từ năm 1980 đến năm 2000 thì bị giết chết, hưởng dương 45 tuổi.

Cậu Quốc có một người em cùng cha khác mẹ, tên là Lê Thị Xuân Lan, tức là ni cô Liên Thiền, đệ tử của ni sư Thiền Liên, tu tại tịnh thất Ngọc Nguyên, ở Hội Bài.

Nhân có một nhóm người Nhật qua Việt Nam đầu tư, cần mua đất để lập công ty. Cô Thiền, tức ni cô Liên Thiền về Rạch Giá bán 7 mẫu ruộng và 5 mẫu vườn của mẹ để lại cho cô và gom được một số tiền khá lớn.

Do đó, người chị dâu của cô là bà Quốc mới động lòng tham, xúi chồng là cậu Quốc đi kiện, để đòi chia gia tài. Nhưng cậu Quốc không chịu, nói là hai miếng đất đó là của mẹ cô Thiền cho riêng cô ấy và anh chỉ là người anh cùng cha, khác mẹ với cô ta, thì làm sao kiện được?

Sau nhiều lần hối thúc mà không có kết quả, bà Quốc liền thuê bạn của chồng đi giết chồng bà, để bà tự mình đứng ra kiện tụng! Do đó, ngày 18 tháng 10 năm Canh Thìn, tức là ngày 13 tháng 11 năm 2000, đám người giết mướn ấy mới rủ cậu Quốc đi nhậu. Rồi thừa lúc cậu say rượu đã giết cậu và đem xác về nhà, trả cho bà Quốc. Bà này vội vã lấy chiếu cuốn lại và chôn ở vườn sau.

Ngày 22 tháng 10 năm Canh Thìn, cô Thiền được tin anh mình đã chết và đã được chôn cất xong xuôi rồi. Nghi là có chuyện mờ ám, nên cô mới đến Sở Công An tỉnh Rạch Giá, yêu cầu giúp đỡ để điều tra sự tình.

Bấy giờ, tỉnh cử hai người công an của tỉnh, phối hợp với công an phường đến khám nhà cậu Quốc. Họ tìm thấy chỗ chôn dấu, khai quật xác của cậu lên, đem vào bệnh viên Rạch Giá để khám nghiệm và đồng thời cũng bắt luôn bà Quốc và mẹ của bà. Cả hai người này và gian đảng đều bị xử bắn trong tháng 1 năm 2001.

Riêng cô Thiền, chờ khám nghiệm tử thi xong, mới đem xác của cậu Quốc về nhà cũ của bố, mẹ chôn ở sau vườn. Rồi mới trở về tịnh thất.

Ngày 22 tháng 11 năm Canh Thìn, tức ngày 17 tháng 12 năm 2000, vong linh của cậu Quốc lên tịnh thất, nhập vào cô Thiền, xưng rõ tên họ và trách, vì cô mà cậu bị hại. Sau đó, lại thúc dục cô uống thuốc ngủ tự tử. May có ni cô Thanh, từ Bà Rịa lên thăm, ngăn cản. Trong lúc hai người dằng co nhau, cô Thanh bị cậu Quốc cắn vào ngón tay cái. Đau quá, cô mới phát vào đít cậu và nói: “Chết rồi sao còn làm khổ người khác, mà nó là em mình chứ ai? Tiếp theo, cô khuyên cậu nên thương em, để cho nó tu.”

Nghe ni cô Thanh khuyên như vậy, cậu Quốc mới dịu lại, không làm dữ nữa!

Hôm sau, 23 tháng 11 năm Canh Thìn, cậu Quốc nhập vào chú tám Độ là bà con của cô Thiền, hiện làm Chính Án ở Rạch Giá, nhờ thím tám Độ gọi điện thoại cho Sư Ông, xin cho cậu được qui y với bà thầy, mà cậu đã cắn đêm qua.

Vì vậy, chiều hôm ấy, Sư Ông mới cho người ra đón ni cô Thiền và ni cô Thanh về chùa Hội Phước. Quốc cũng đi theo và năn nỉ xin được qui y với ni cô Thanh.

Mới đầu Sư Ông không chịu, nói cậu nên qui y với ông. Nhưng cậu từ chối và giải thích vì đã nhận ra ni cô Thanh, là sư phụ kiếp trước của cậu. Do đó, Sư Ông mới bằng lòng cho phép ni cô Thanh qui y cho vong linh, cũng gọi là hương linh của cậu Quốc.

Lúc ni cô Thanh nói: “Bây giờ vong linh hãy nói theo tôi: Đệ tử tên là…”

Cậu liền tiếp: “Lê Văn Quốc 45 tuổi, chết ngày 18 tháng 10 năm Canh Thìn.”

Sau khi nhận được Pháp danh là Minh Tâm thì cậu vui mừng đảnh lễ Tam Bảo và sư phụ, rồi thăng liền.

Bốn ngày sau đó, Quốc qua Mỹ, đến nhà cô Út của cậu, tên là Lê Thị Mỹ, nhập vào dượng Út và nói với cô Út: “Con là Quốc nè, cô Út! Con đã qui y rồi. Pháp danh của con là Minh Tâm. Cô Út cho con tiền làm lễ trai tăng.”

Cô Út hỏi: “Bao nhiêu?”

Minh Tâm nói: “$2000.00”

Cô Út bằng lòng hứa cho.

Minh Tâm mừng rỡ trở về Việt Nam, mượn xác cô Thiền, nói với Sư Ông: “Cô Út con đã hứa cho $2000.00, xin Sư Ông làm lễ trai tăng cho con.”

Sư Ông hỏi: “Làm làm sao?”

Minh Tâm nói: “Con muốn mời 100 vị tăng về chùa Hội Phước để cúng dường vào dịp 100 ngày của con.”

Sư Ông chấp thuận.

Từ hồi Sư Ông biết làm Phật sự đến giờ, chưa ai dám sửa bài tác bạch của ông, thế nhưng lần này Minh Tâm đã buộc ông phải sửa đi, sửa lại ba lần, đặc biệt là phần hồi hướng, như sau: “Hôm nay con thỉnh 100 vị tăng về chùa Hội Phước để cúng dường, hồi hướng công đức cho tất cả những vong linh chưa siêu độ!” Vì theo cậu, thì các vong linh này rất tội nghiệp và cần được giúp đỡ.

Lại nữa, trong cuốn hồi ký của ni sư người Nhật tên là Satomi Myodo, được Nguyên Phong dich sang tiếng Việt, dưới nhan đề HOA TRÔI TRÊN SÓNG NƯỚC, cũng có một câu chuyện thực như sau:

“Một hôm, đang ngồi tĩnh tọa, tôi thấy một người lạ mặt, bước vào nhà. Đó là một người đàn ông trung niên, mặt mày sáng sủa, mặc áo kimono hiệu O Shima rất đắt tiền. Ông này đến trước mặt tôi và nói:

– Thưa bà, tôi là cha của Tomaro. Khi còn sống, tôi làm nghề cho vay lãi. Cái nghiệp xấu đó cứ ám ảnh tôi hoài. Nên khi qua đời, tôi bị đọa vào một cảnh giới tối tăm, ô trọc. Lúc nào cũng có cảm giác như đang sống trong một vũng bùn nhầy nhụa. Muốn ngoi lên nhưng không được!

May nhờ vợ tôi là người hiền lương, thường tụng kinh, niệm Phật, hồi hướng công đức cho tôi. Hàng ngày được nghe lời kinh của bà ấy, tôi mới bắt chước đọc theo và quyết tâm sám hối. Đến nay, nghiệp cũ trả xong. Tôi vừa thoát khỏi chỗ tôi tăm dơ bẩn đó để đến một nơi sáng sủa yên vui, nên tôi muốn nhờ bà nhắn hộ với vợ tôi rằng, hãy bỏ qua những món nợ còn lại, đừng đòi nữa! Tôi đã lầm khi cho vay lãi nặng và rất hối hận về việc làm này!

Tomaro là một trong những đứa trẻ hay chơi trước của nhà tôi. Cha nó qua đời từ nhiều năm qua. Mẹ nó ở nhà làm nghề may để nuôi con. Mặc dầu bận rộn công việc, nhưng bà vẫn sớm, khuya tụng niệm rất chân thành. Khi nghe tôi kể lại chuyện này, mẹ của Tomaro gật đầu, nói:

– Quả đúng là chồng tôi, ông làm nghề thương mại và cho vay nợ lãi. Lúc chết, ông còn để lại rất nhiều giấy nợ. Nhưng thấy lãi xuất quá cao, nên tôi do dự, không biết phải xử trí thế nào? Nay nhờ bà cho biết như vậy, thì tôi sẽ đem đốt những giấy nợ ấy, để giải toả nỗi lo lắng của chồng tôi!”  

Qua những câu chuyện trên, chúng ta thấy việc cầu siêu cho người chết rất quan trọng và hữu ích, không nên xem thường. Tại sao? Vì đã có nhưng vong linh hiện về xác nhận như vậy.

Nói đến đây, tôi chợt nhớ có lần đi nghe một thiền tăng thuyết Pháp. Thầy không tin việc cầu siêu, nên tuyên bố: “Nếu cầu siêu có ích lợi thật, thì chúng ta cứ việc tự do phóng túng, rồi đợi đến lúc chết, nhờ người đem một ít lễ vật cúng dường chư tăng nhờ các ngài chú nguyện cho được sinh về lạc cảnh, cần gì phải tu tập?”

Tuyên bố như vậy thì rõ ràng là không biết nguyên tắc cầu siêu! Tại sao? Vì nguyên tắc cầu siêu là cả chủ lễ lẫn tín chủ đều phải tin rằng danh hiệu của đức Phật và lời chú nguyện của chư tăng có tác dụng giải nghiệp, cũng như thuốc tẩy có khả năng xóa sạch mọi chữ sai trên những trang giấy của chúng ta.

Dùng thuốc tẩy để xóa những chữ viết sai, cũng như dùng danh hiệu Phật hay lời chú nguyện để giải trừ ác nghiệp là những việc hết sức đơn giản và hiển nhiên, chỉ tiếc là có nhiều người không hiểu, nên mới bàn ngang, tán dọc hoặc thực hiện một cách cẩu thả làm hư việc của tín chủ!

Lại nữa, tuy thuốc tẩy có khả năng giúp chúng ta xóa mọi chữ sai, nhưng nếu cứ tuỳ tiện viết bậy thì sẽ phải khổ công tẩy xóa. Cũng vậy, tuy danh hiệu Phật và lời chú nguyện có khả năng giải trừ nghiệp chướng, nhưng nghiệp chướng càng sâu thì công phu giải nghiệp lại phải càng nhiều.

Do đó, tùy theo sự sốt sắng của người sống và hạnh nghiệp của người chết, việc cầu siêu có thể lâu hay mau. Nếu muốn chắc chắn được việc, chúng ta phải kiên nhẫn và chí thành cầu nguyện cho đến khi thấy được hảo tướng. Thấy được hảo tướng là gì? Thấy được hảo tướng là mơ thấy hoặc quán được thân hình (1), hào quang hay tiếng nói của Phật.

Montréal, ngày 07-07-2004

Bổ túc, ngày 03-06-2009

 

CHÚ THÍCH

  1. Phạm chí: Người tu phạm hạnh, tu sĩ Bà la môn.
  2. Quán được thân Phật: Thấy Hóa Phật hiện ra như thực.

 

CẦU NGUYỆN

A. DẪN NHẬP

Cầu nguyện là việc chúng ta thừơng làm. Tuy thừơng làm, nhưng vẫn có những ngừơi không tin vào sự lợi ích của nó! Tại sao?

Vì những ngừơi này không hiểu rõ luật Nhân Quả, lầm tưởng rằng: “Tội ai, nấy chịu. Phúc ai, nấy hưởng. Không thể trao đổi, không thể cải biến, cũng không thể huỷ diệt được!” Bởi lầm tưởng như vậy, nên họ mới nghĩ lầm rằng, cầu nguyện không ích lợi gì!

Lập luận như thế là sai, vì quả báo có thể trao đổi, có thể cải biến và có thể huỷ diệt. Thực vậy, phúc có thể hưởng, có thể cho cũng có thể xin. Còn tội có thể đền, có thể bán, có thể giảm, có thể chuộc và có thể diệt.

1. Trao đổi quả báo: Chúng ta thường ăn cam, nhưng trong những người hiện đang ở đây, có ai đã trồng cam chưa? Quí vị không trồng cam, nhưng lại thừơng ăn cam. Cam là phúc báo của người trồng cam, không phải phúc báo của quí vị! Tuy không phải phúc báo của quí vị, nhưng quí vị vẫn dùng tiền mua về, để hưởng dụng. Vậy phải biết, quả báo có thể trao đổi giữa hai hay nhiều người!   

2. Phúc có thể cho: Sau mỗi thời khóa tụng niệm, chúng ta đều hồi hướng phúc đức cho người này hay người khác. Nếu phúc đức không thể cho đi, thì tại sao chư Phật và chư Tổ lại tích cực dậy chúng ta phải hồi hướng?

Lại nữa, kinh Địa Tạng nói rất rõ, nếu chúng ta làm phúc, rồi hồi hướng cho người khác, thì người ấy sẽ hưởng được một phần bẩy phúc đức do chúng ta tạo ra. Điều này chứng tỏ phúc đức có thể cho đi. Phúc không những có thể cho đi, mà nên cho đi. Tại sao? Vì phúc mà giữ lại cho chính mình hoặc cho thân quyến sẽ không sinh lời! Phúc phải cho đi mới tăng trửơng được!

3. Phúc có thể xin: Nếu chúng ta có thể đem phúc của mình cho ngừơi khác, thì ngược lại, chúng ta cũng có thể xin ngừơi khác ban phúc cho chúng ta!  

4. Tội có thể đền: Nếu đã phạm tội thì nên đền tội. Nhưng nếu vì đền tội mà chúng ta bị quá nhiều phiền não, thì phải tìm cách bán, giảm, chuộc hay diệt tội đó!

5. Tội có thể bán: Một hôm, có vị A La Hán, đến lều của một bà lão để hóa duyên. Bà lão nói với vị A La Hán:

  • Con nghèo quá, trong nhà chẳng có gì để cúng dường Thầy!
  • Tại sao bà không bán cái nghèo của bà đi?
  • Nào có ai chịu mua cái nghèo của con!
  • Bà bán nó cho ta?
  • Bán làm sao?
  • Bà hãy cầm bình bát này, ra giếng múc một bát nước, rồi đem cúng dường cho ta. Ta sẽ chú nguyện cho bà hết nghèo!

Các bậc Thánh tăng hiện đang trụ thế đều có thể mua lại tội báo của chúng ta, như Tôn giả Ca Nặc Ca dùng nứơc tam muội rửa sạch óan thù giữa thiền sư Ngộ Đạt và oan hồn Tiều Thố. Thầy Tuyên Hóa ở Vạn Phật Thánh Thành (Hoa Kỳ) và cha André ở Thánh Đường St Joseph (Canada) trong lúc sinh tiền, đã thu mua bệnh khổ của rất nhiều người.  

6. Tội có thể giảm: Giảm, nói cho đủ, là hoán giảm. Hoán giảm là gì? Hoán giảm là thay một tội nặng bằng một tội khác nhẹ hơn. Ÿ Hồng Kông, có người buôn bán thuốc phiện và trở nên giầu có. Bấy giờ, ông ta muốn hoàn lương, đến sở Cành Sát, thú nhận lỗi lầm và tình nguyện hợp tác với Chính Quyền để bài trừ tệ nạn xã hội. Nhờ khôn như vậy, ông không bị kết án “buôn đồ quốc cấm”, mà chỉ bị phạt về tội “thiếu thuế lợi tức”!

Kinh Kim Cương cũng dậy, ngừơi tu thiện nghiệp, lại chịu khó đọc kinh này, có thể đổi tội “đọa đường ác ở kiếp sau” thành tội “bị người khinh trong đời này”!

7. Tội có thể chuộc: Một người bạn của chúng ta, tạt vào quán rượu, uống say, đánh lộn, bị bắt. Chúng ta tới sở Cảnh Sát, ký giấy nhận bồi thường thiệt hại cho chủ quán và những người liên luỵ, rồi chở người bạn ấy về, như không có gì xẩy ra! Đây là một tội có thể chuộc bằng tiền.

Còn có những tội phải chuộc bằng cách sám hối. Chính nhờ pháp sám hối, tên là Lương Hoàng Sám, do Hòa Thượng Chí Công biên soạn, mà vua Lương vũ Đế đã cứu được hoàng hậu Hy Thị thoát kiếp mãng xà và được hóa sinh lên trời Đạo Lợi.

8. Tội có thể diệt: Tội đã chuộc rồi, có thể tái phạm. Tội còn tái phạm, thì chưa bị diệt. Tội nào bị diệt, thì không phạm lại!  

Nói tóm lại, hễ gieo nhân thì phải lãnh quả. Nhưng lãnh quả rồi, chúng ta có thể giữ lấy, trao đổi, cải biến, hay huỷ diệt nó! Quả báo có hai loại chính là phúc báo và tội báo. Phúc có thể hưởng, có thể cho, có thể xin. Tội có thể đền, có thể bán, có thể giảm, có thể chuộc, có thể diệt. Nhưng ai có thể ban phúc cho chúng ta, mà không mong chúng ta phải đền trả? Ai có thể giúp chúng ta giảm tội, chuộc tội hay diệt tội mà không đặt điều kiện trao đổi? Đó chính là chư Phật và chư bồ tát!

Bởi chư Phật và chư bồ tát có thể ban phúc cho chúng ta và giúp chúng ta giảm tội, chuộc tội hay diệt tội, nên cầu nguyện trở thành một việc hết sức quan trong đối với những người có lòng tin và biết đợi chờ.

B. NGUYÊN TẮC

Đức Phật dậy, tất cả các pháp hữu vi đều phan  duyên. Đủ duyên thì sinh. Thiếu duyên thì diệt.

Từ nguyên lý này, chúng ta suy ra 2 hệ luận:

  1. Nếu chúng ta biết rõ nhân duyên của một pháp đã hiện hữu, chúng ta có thể tái tạo pháp ấy, bằng cách quy tụ những nhân duyên của nó.
  2. Nếu chúng ta biết rõ nhân duyên của một pháp đang hiện hữu, chúng ta có thể diệt trừ pháp đó, bằng cách phá huỷ một trong những nhân duyên của nó.

Suy ra, muốn khống chế một pháp, chúng ta phải biết rõ nhân duyên của pháp đó, hoặc cầu người biết rõ nhân duyên của pháp đó giúp đỡ. Nhưng ai là ngừơi biết rõ nhân duyên của mỗi pháp để có thể  giúp chúng ta khống chế nó? Đó chính là chư Phật và chư bồ tát!  

Bởi chư Phật và chư bồ tát biết rõ nhân duyên của mỗi pháp và có thể giúp chúng ta không chế nó, nên cầu nguyện trở thành một việc hết sức quan trọng đối với những ngừơi có lòng tin và biết đợi chờ!  

C. ĐỊNH NGHĨA

Với Phật tử, cầu nguyện là xin một đức Phật hay một bồ tát giúp chúng ta làm một việc gì. Vì chư Phật và chư bồ tát vốn bình đẳng, thương sót chúng sinh một cách đồng đều, nên chúng ta không thể cầu những việc lợi mình, hại người được!  

D. TẠI SAO PHẢI CẦU?

Vì chúng ta muốn làm một việc ngoài khả năng của chúng ta, đồng thời lại biết, việc mình không làm được ấy, chư Phật và chư bồ tát đều có thể làm và có thể dậy cho chúng ta làm. Do đó, chúng ta mới quy hướng Tam Bảo, giao hết tâm tư của chúng ta cho một đức Phật hay một bồ tát, để xin Ngài giúp chúng ta hoàn thành tâm nguyện.

1. NÊN CẦU CÁI GÌ?

Tuỳ theo hoàn cảnh và trình độ hiểu biết của mỗi người, chúng ta có thể:

  1. Cầu thi đậu
  2. Cầu việc làm
  3. Cầu phát tài
  4. Cầu có vợ, hay có chồng
  5. Cầu có con
  6. Cầu bình yên
  7. Cầu khỏi bệnh
  8. Cầu tĩnh tâm
  9. Cầu trí tuệ
  10. Cầu siêu thoát
  11. Cầu vãng sinh
  12. Cầu thành Phật

Mặc dầu có nhiều việc để cầu, nhưng lý tưởng nhất là cầu thành Phật, để độ chúng sinh. Cầu thành Phật, để độ chúng sinh, gọi là phát tâm bồ đề.

Tuy lý tưởng nhất là phát tâm bồ đề, nhưng thực tế nhất lại là cầu được khoẻ mạnh, no đủ, yên vui, cùng với chúng sinh huân tu tịnh nghiệp và được sinh về Cực Lạc, trước khi già yếu không thể tự lo liệu cho mình!

G. NÊN CẦU NHỮNG AI ?

Chúng ta nên cầu một đức Phật hay một bồ tát có bản nguyện phù hợp với tâm nguyện của chúng ta. Tại sao? Vì nếu tâm nguyện của chúng ta phù hợp với bản nguyện của đức Phật hay của bồ tát mà mình cầu nguyện, thì dễ có cảm ứng. Do đó, kết quả sẽ thù thắng hơn là cầu những đức Phật hay những bồ tát khác!

Nói như vậy, có nghĩa là tùy theo tâm nguyện của mỗi ngừơi, chúng ta thường cầu một trong những vị sau đây:

  1. Phật Thích Ca.
  2. Phật Duợc Sư.
  3. Phật A Di Đà.
  4. Bồ tát Di Lạc.
  5. Bồ tát Quán Thế Âm.
  6. Bồ tát Đại Thế Chí.
  7. Bồ tát Địa Tạng.
  8. Bồ tát Văn Thù.
  9. Bồ tát Phổ Hiền.
  10. Bồ tát Chuẩn Đề.

2. PHẢI CẦU LÀM SAO?

Trứơc hết phải có hai thứ tâm là: Chân thành và kiên nhẫn. Sau mới học cách phát nguyện và tụng niệm.

Thế nào là chân thành? Chân thành là chỉ cầu xin những gì mình thực sự mong muốn và tin rằng sẽ được.

Thế nào là kiên nhẫn? Kiên nhẫn là không nôn nao, không sốt ruột, chỉ siêng năng tụng niệm và vui vẻ chờ đợi hết ngày này, qua ngày khác, cho đến khi được việc mới thôi!

Tại sao phải phát nguyện? Phát nguyện để xác định những gì chúng ta thích có hay thích làm, kèm theo lòng mong mỏi được chư Phật giúp đỡ. Bài phát nguyện hay, là bài nói lên một cách rõ ràng, cụ thể và trọn vẹn tâm nguyện của chúng ta.

Tại sao phải tụng niệm? Tụng niệm để lập công, tích đức, hầu có thể hoá giải nghiệp chứơng và tăng trưởng phúc duyên. Nếu có thể chăm chỉ tụng niệm đến độ giải hết nghiệp chứơng và tăng đủ phúc duyện thì điều mong cầu sẽ thành hiện thực!

Tụng niệm như thế nào? Nghi thức tụng niệm được ghi lại rõ ràng trong các kinh, sách của Phật Giáo, chúng ta nên chọn một nghi thức hợp với tâm nguyện và sở thích của mình, rồi hàng ngày, theo đó mà tụng niệm.

3. PHẢI CẦU BAO LÂU? Khi chúng ta niệm Phật, trong tâm liền có Phật. Vì vậy, theo lý mà nói, có cầu là có ứng và cảm ứng tức thời, không cần chờ đợi.

Lý thuyết nói, không cần chờ đợi, nhưng thực tế, có thể ngược lại. Thực vậy, Phật có hiện ra, nhưng chúng ta có thể không nhìn thấy! Phật có ban ơn, nhưng chúng ta có thể không nhận được! Tại sao? Vì bị nghiệp chướng ngăn che! Do đó, theo sự mà nói, thì phải đợi giải hết nghiệp chứơng, mới ứng nghiệm được!

Thời gian phải đợi, để giải hết nghiệp chướng nói trên, phụ thuộc vào tâm trạng, lòng tin, phúc đức và công phu tụng niệm của từng người, không thể quy định chung chung được!

Tuy không thể nói, một cách chung chung rằng, chúng ta phải tụng thần chú, hay niệm Phật hiệu bao nhiêu ngày hay bao nhiêu lần để được việc này hay việc nọ, nhưng chắc chắn, nếu chúng ta có thể tụng niệm đến độ nhất tâm bất loạn, thì sẽ thấy ứng nghiệm liền. Còn như không thể tụng niệm đến độ nhất tâm bất loạn được, thì phải kiên nhẫn tụng niệm cho đến khi được việc mới thôi!

4. GIẢI ĐÁP THẮC MẮC

Có người hỏi: Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dậy: “Dù cho lên non, xuống biển hay vào hang, nghiệp báo đã mang, vẫn theo con người như bóng với hình. Không ai có thể trốn tránh được!” Nếu không tránh được nghiệp báo thì cầu nguyện để làm gì?

Trà lời: Bài kệ này cho chúng ta một bài học rất quí. Bài học ấy là không trốn tránh nghiệp báo, mà phải xử lý chúng. Nghiệp báo có hai loại: Một là những nghiệp báo có lợi cho sự nghiệp của chúng ta, gọi là nghiệp tốt. Hai là những nghiệp báo có hại cho sự nghiệp của chúng ta, gọi là nghiệp xấu. Nghiệp xấu phải cải biến, khiến cho nghiệp nặng trở thành nhẹ, nghiệp nhẹ trở thành không. Nghiệp tốt phải nuôi dưỡng thường xuyên, khiến chúng không thể rời xa mình được. Muốn thế, không gì bằng cầu nguyện. Cầu nguyện để xác định sự nghiệp mà chúng ta đang theo đuổi và để xin chư Phật từ bi gia hộ, giúp chúng ta cải biến nghiệp xấu và nuôi dưỡng nghiệp tốt.

Nghe đến đây, sẽ có người thắc mắc, tại sao tôi lại chế ra chữ nghiệp xấu? Vì với người lương thiện, mọi nghiệp ác đều xấu, nhưng ngược lại, có những nghiệp xấu mà không ác! Mặc dầu chúng không ác, nhưng có thể gây khó khăn cho chúng ta, nên mới kêu chúng là xấu!

Có người nói: Mọi việc vui, buồn đều là nghiệp báo của riêng chúng ta, cầu đức Phật hay bồ tát cứu giúp, là trái luật Nghiệp quả!

Trả lời: Nghĩ như vậy là sai! Vì chư Phật thấy rõ nghiệp duyên nhiều đời của chúng sinh, biết rành rẽ những nguyên nhân làm cho chúng ta buồn khổ, rồi dùng phương tiện thích nghi giúp chúng ta diệt trừ những ác nhân ấy, cũng như các bác sĩ định bệnh, cho thuốc. Tại sao lại bảo là trái luât?

Hơn nữa, nghiệp là một việc làm có ý thức của thân, miệng và ý. Như vậy, cầu nguyện cũng là một nghiệp và chỉ cần có đủ cơ duyên thì cái nghiệp đó cũng sẽ trở thành hiện thực như muôn ngàn nghiệp khác. Tại sao lại bảo là trái luật?

Thực ra, khi chúng ta cầu nguyện một việc gì, thì lời cầu của chúng ta sẽ chiêu cảm thuận duyên và loại bỏ nghịch duyên để trở thành hiện thực.

Do đó, nếu chúng ta cầu những gì hợp với duyên phận hiện tại của mình, tức là không có nghịch duyên, mà chỉ có thuận duyên thì liền được toại ý. Ngược lại, nếu chúng ta cầu những gì trái với duyên phận hiện tại của mình, thì phải đợi giải hết nghịch duyên và tăng đủ thuận duyên, rồi mới ứng nghiệm được.

Tăng thuận duyên, gọi là tăng phúc. Giải nghịch duyên, gọi là giải nghiệp hay diệt tội. Chữ tội ở đây, bao gồm tất cả những hành động, lời nói và tư tưởng quá khứ hoặc hiện tại có tác dụng ngăn cản chúng ta đạt được những gì mình cầu. Còn chữ phúc ở đây, bao gồm tất cả những hành động, lời nói và tư tưởng quá khứ hoặc hiện tại có tác dụng cho phép chúng ta thụ hưởng những gì mình cầu.

Thời gian diệt tội và tăng phúc nói trên có thể là vài phút, vài giờ, vài ngày, vài tháng, vài năm hay vài đời tuỳ theo duyên, nghiệp và công phu tu tập của mỗi người.

Lại có người hỏi: Có cách nào rút ngắn quá trình diệt tội và tăng phúc không?  

Trả lời: Có nhiều cách rút ngắn quá trình diệt tội và tăng phúc, như: sám hối, đọc kinh, niệm Phật và tụng chú. Nhưng đơn giản nhất là niệm Phật.

Như trên đã nói, lời cầu nguyện của chúng ta chắc chắn sẽ biến thành sự thực. Nhưng muốn chóng được việc, thì ngoài chuyện siêng năng niệm danh hiệu Phật, chúng ta còn phải có đủ hai thứ tâm là chân thành và khẩn thiết.

Khẩn thiết là điều cầu xin ấy phải rất là cần, cần đến độ mình có thể tạm thời hy sinh mọi phúc lợi khác để mà được nó. Tâm trạng này thừơng thể hiện ở nơi những ngừơi biết mình rơi vào đường cùng, chỉ mong sớm được thoát ra! Nên họ không ngừng niệm Phật để cầu cứu giúp.

Chân thành là chỉ cầu những gì mà mình thực sự mong muốn và tin là sẽ được. Vì có tin là được, thì mới được cái mình cầu!

Nếu có đủ hai thứ tâm là chân thành và khẩn thiết, lại chịu khó niệm Phật để diệt tội và tăng phúc thì sẽ sớm được toại ý!

Lại có người hỏi: Kinh nói, Đức Phật chỉ chỉ đường thôi, chứ không làm gì khác! Như vậy, cầu Ngài nào có ích gì?

Trả lời: Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt hoặc khẩn cấp, đức Phật thường hay chỉ cho chúng ta con đường phải đi, hoăc cái việc phải làm để đạt được những gì mình muốn. Nhưng nếu biết đựơc một cách cụ thể và chính xác con đường phải đi, hoăc cái việc phải làm, thì chúng ta đã thành công đến 99% rồi! Tại sao lại bảo là không có ích?

Thực vậy, giả sử chúng ta bị mất việc và cầu Phật giúp đỡ. Chắc chắn, đức Phật sẽ không dùng thần lực tạo ra một xí nghiệp, rồi mướn chúng ta vô làm. Nhưng nếu Ngài chịu hiện ra trong một giấc mơ, bảo cho chúng ta biết, có một hãng nọ đang cần những người có khả năng và kinh nghiệm như chúng ta, thì chúng ta sẽ không thất nghiệp nữa!

Lại nữa, giả sử chúng ta đang mắc trọng bệnh và các nhà thương lớn, nhỏ đều chê, nên phải cầu Phật giúp đỡ. Nếu đức Phật chịu hiện ra trong một giấc mơ, nói cho chúng ta biết, nguyên nhân gây ra bệnh và cách thức trừ khử nó, thì còn gì quí hơn?

Tóm lại, thông thường, chúng ta chỉ mong đức Phật chỉ cho chúng ta một cách cụ thể và chính xác, con đường phải đi hay cái việc phải làm để hoàn thành tâm nguyện, chứ không cần xin thêm gì nữa!

Lại có người thắc mắc, ngoài cái việc chỉ đường nói trên, chư Phật còn có phương tiện nào khác để giúp chúng ta không?

Trả lời: Chư Phật có rất nhiều phương tiện để giúp chúng ta, nhưng chủ yếu là: Gia hộ, gợi ý, chuyển báo, xuất tướng và cứu nguy.

  1. Gia hộ: Gia hộ là ngăn các ác pháp bên ngoài, xâm nhập thân tâm của chúng ta và giúp các thiện pháp ở nơi chúng ta, phát triển thuận lợi.
  2. Gợi ý: Gợi ý là dùng trí quang soi sáng tâm tư của chúng ta, khiến chúng ta có linh cảm phải làm cái gì hay phải làm thế nào?
  3. Chuyển báo: Chuyển báo là đổi ác báo khổ đau hiện tại lấy một thiện báo an vui lẽ ra chưa tới. Kinh Duyên Mệnh Địa Tạng Bồ tát nói, chỉ cần chúng ta đã làm được một việc lành, thì bồ tát Địa Tạng có thể dùng Pháp nhãn và Phật lực, giúp chúng ta chuyển khổ báo hiện tại thành lạc báo, mà việc lành ấy có thể đem lại. Tại sao? Vì đời sống của chúng ta chẳng khác gì cảnh mộng, do chủng tử của một nghiệp chủ động ở nơi ý căn ảnh hiện ra. Chủng tử của cái nghiệp đang chủ động ở nơi ý căn, làm hiện ra ngoài đời những tình huống hoặc vui, hoặc khổ, cũng như cuộn băng nhựa trong máy vidéo làm hiện lên màn ảnh, hình này, tướng nọ. Muốn đổi các hình tướng trên màn ảnh ấy, thì chỉ cần thay cuộn băng đang chạy, bằng một cuộn băng khác, ở tủ chứa băng!

Cũng vậy, muốn đổi khổ thành vui, thì chỉ cần niệm Phật hiệu, hoặc tụng thần chú, xin đức Phật giúp chúng ta thay chủng tử của ác nghiệp đang chủ động (active) ở nơi ý căn, bằng chủng tử của một thiện nghiệp còn tiềm ẩn (latent) ở trong tạng tâm của chúng ta!

Nói một cách khác, chúng ta có thể nhờ chư Phật,

  1. Đưa chủng tử của ác nghiệp đang chủ động nơi ý căn về tiềm ẩn trong tạng tâm, để tránh cái khổ, đang làm khó ta.
  2. Đem chủng tử của một thiện nghiệp đang tiềm ẩn trong tạng tâm ra chủ động nơi ý căn, để hưởng cái vui, lẽ ra, chưa đến.   

Khổ là quả báo của ác nghiệp. Vui là quả báo của thiện nghiệp. Nhưng ác nghiệp là gì và thiện nghiệp là gì? Ác nghiệp là những việc dữ, chủ yếu là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, ba hoa, ác miệng, súi siểm, nói dối, tham lam, sân giận và si mê. Thiện nghiệp là những việc lành, như bố thí, trì giới và tu các pháp đọc kinh, niệm Phật, tụng chú hoặc thiền định.

Là những người có máy vidéo, nếu muốn coi một chuyện đã được thâu băng và chúng ta lại có cuốn băng ấy trong tủ, thì rất dễ. Nhưng nếu chúng ta muốn coi một chuyện chưa được thâu băng, thì một là phải có rất nhiều tiền để thuê người đóng phim và thâu băng, hai là phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi có người phát hành cuốn băng ấy.

Cũng vậy, nếu trong tạng tâm của chúng ta, đã có sẵn chủng tử của một thiện nghiệp xứng hợp với niềm vui mà chúng ta mong đợi, thì việc chuyển khổ thành vui không khó khăn lắm! Ngược lại, nếu chúng ta muốn hưởng lạc báo của những thiện nghiệp chưa được huân thành chủng tử, thì một là phải có rất nhiều phúc đức, hai là phải kiên nhẫn cầu nguyện và chờ cho đến lúc huân được chủng tử cần thiết.

1. Xuất tướng: Theo kinh Pháp Hoa, danh hiệu Quán thế Âm không những có khả năng cứu khổ ban vui, mà còn có thể xuất ra 32 tướng khác nhau để độ người trì niệm.

Tương tự, tất cả thần chú và danh hiệu của chư Phật đều có khả năng này.  Do đó, nếu chúng ta chịu khó tụng thần chú hay niệm Phật hiệu, thì sẽ có ngày, thần chú hoặc Phật hiệu ấy sẽ xuất tướng để giúp chúng ta thực hiện mọi ước mơ.  

Xuất tướng là gì? Xuất tướng là khả năng đặc biệt của một câu thần chú hay một danh hiệu Phật, làm hiện ra hình này, cảnh nọ hoặc ở trong mộng, hoặc ở ngoài đời, để giúp người tụng niệm hoàn thành tâm nguyện.

Thực ra, tụng chú hoặc niệm Phật cho đến khi thần chú hay Phật hiệu xuất tướng vẫn chưa đủ, chúng ta còn phải thấy được tướng đó, thì lời cầu mới ứng nghiệm được. Thấy được cái tướng do thần chú hay Phật hiệu xuất ra, gọi là thấy hảo tướng.

Để cho dễ hiểu, tôi xin nhắc lại một chuyện do Thiền sư Thích Thanh Từ kể, như sau: Xưa kia, khi tôi còn là giảng sư của ban Hoằng Pháp, có ông Phó Quận, quận Lộc Ninh, tên là Triền, đứng ra tổ chức một Pháp hội, mời tôi và Thượng Tọa Huyền Vi lên giảng. Ông hỏi tôi:

  • Thưa Thầy, nếu mình thành tâm cầu bồ tát Quán Thế Âm, Ngài có ứng hiện không?
  • Theo đạo hữu thì sao?
  • Con tin chắc là Ngài sẽ ứng hiện!

Rồi ông kể cho tôi nghe, ông có một đứa con 13 tuổi, bị bịnh nặng đưa vào nhà thương Đồn Đất. Chữa trị gần nửa tháng, nhưng không bớt. Bác sĩ bó tay, bảo ông đem con về nhà.

Ông đem con về. Không biết chữa trị ra sao, nên chỉ thành tâm cầu bồ tát Quán Thế Âm cứu giúp.

Một đem ông mơ thấy Bồ tát hiện ra. Ngài đứng trên một đài sen trước mặt ông và bảo: “Ngươi nên sai người đi về hướng Bắc, rước thầy về trị bệnh cho con!”

Tỉnh dậy, ông còn nhớ rõ hình dáng của Bồ tát, nhưng phải chờ đến sáng, mới sai người đi về hướng Bắc. Quả nhiên, thấy có một tiệm thuốc Bắc, liền mời ông lang ở tiệm đó về nhà, xem mạch, hốt thuốc. Con ông chỉ uống ba thang, là hết bệnh.

Vì vậy, ông tin Tam Bảo, thờ bồ tát Quán Thế Âm và rước chúng tôi về thuyết Pháp.

2. Cứu nguy: Cứu nguy là trường hợp rất hiếm, trong đó, chư Phật dùng thần lực để giúp chúng ta tránh khỏi một hiểm họa cực kỳ cấp bách, như chuyện của ông Nguyễn Thanh Hậu, pháp danh Quảng Đạt, được thầy Tịnh Từ, chùa Kim Sơn ở California kể lại, trong cuốn BÀN TAY ĐỨC QUÁN THẾ ÂM, như sau:

Gia đình ông Hậu gồm có bẩy người, hai vợ chồng và năm đứa con, vượt biên với 52 người cùng xóm trên một chiếc tầu nhỏ. Xuất phát từ cửa Thuận An, Huế, vào đêm 28 tháng tư năm Kỷ Mùi, tức năm 1979.

Thực là một đêm đầy kinh hoàng, vì họ vừa khởi hành chưa được 40 phút thì bị tầu biên phòng Bình Trị Thiên phát giác và đuổi bắt. Ai nấy đều sợ hãi và thầm nghĩ, phen này sẽ bị đi tù mút mùa, vì họ đã từng bị bắt và bị giam hai lần về tội vượt biên.

Trong khi mọi người đang bối rối, thì chủ tiệm vải ở chợ Đông Ba là bà Tư Hiền, pháp danh Thiện Yên, hô to, như ra lệnh, bảo mọi người yên lặng. Rồi bà khuyên họ niệm Thánh hiệu bồ tát Quán Thế Âm. Không cần hối thúc, mọi người răm rắp niệm: “Nam mô cứu khổ cứu nạn, quảng đại linh cảm, Quan Thế Âm bồ tát.” Tiếng kêu cứu vang dậy một góc trời…

Lạ thay! Chưa đầy ba phút, một trận mưa lớn đổ xuống, tầm tã trên mặt biển và trong màn đêm dầy đặc, sấm, chớp nổi lên dữ dội như những tiếng gào thét của các vị hung thần đang cơn phẫn nộ. Đồng thời, con tầu nhỏ của họ nhanh nhẹn lướt trên mặt sóng như được kéo bởi một sức mạnh huyền bí nào đó!

Khoảng 10 phút sau, họ ra khỏi phạm vi kiểm soát của đội biên phòng, mưa tạnh, gíó yên! Tiếp tục hành trình thêm 4 ngày nữa thì đến đảo Hải Nam. Tại đó, họ chia tay nhau, tìm đường định cư. Riêng gia đình ông Hậu được nhân viên phủ Cao Uỷ Tỵ Nạn dàn xếp, đưa về Hồng Kông tạm trú, chờ chú em bảo lãnh vào Mỹ.

Lại có người hỏi: “Nếu ai cầu Phật, Phật cũng giúp hết, thì Phật ở đâu mà ra nhiều quá vậy?”

Trả lời: Thực ra, Phật có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hoá thân. Tuy chỉ có một Pháp thân chung cho tất cả Phật và một Báo thân riêng cho mỗi vị Phật, nhưng lại có rất nhiều Hóa thân. Nhiều đến độ không ai đếm được. Tại sao? Vì Hóa thân Phật do nhân duyên sinh ra. Hễ đủ nhân duyên là có Hóa thân Phật. Cũng như chỉ có một mặt trăng ở trên trời, nhưng bất cứ chỗ nào có nước mà không khuất lấp cũng đều có trăng. Trăm ngàn người gánh nước dưới trăng đều thấy trăng hiện ra trong thùng nước của mình. Lại nữa, trăng trong thùng nước của mỗi người đều giống nhau và đều có khả năng phản chiếu ánh sáng như mặt trăng thực. Cũng vậy, có người niệm Phật, Phật sẽ hiện ra. Đức Phật hiện ra ở trong tâm của người niệm Phật gọi là Hóa thân Phật hay Hóa Phật. Những Hóa Phật này không phải Phật thực, nhưng lại có khả năng giải nghiệp và tăng phúc y như Phật thực.

Lại có ngừơi nói: “Còn cầu là còn tham, nên tôi quyết định không cầu xin gì cả!”

Trả lời: Đúng! Còn cầu là còn tham. Chỉ khi nào mình không còn tham muốn, thì mới không cần cầu xin! Nhưng có thực, chúng ta không còn tham muốn gì nữa không? Hay đó chỉ là ảo giác của những ngừơi có nhiều phúc đức, sống trong dư thừa?

Thực vậy, có rất nhiều người, đang được hưởng phúc, thân thể khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt, gia đình êm ấm, mọi chuyện hạnh thông, nên lầm tưởng rằng mình không còn tham muốn nữa! Nhưng khi gặp nạn, thì lại hoảng hốt, lo sợ hơn ngừơi bình thừơng. Bấy giờ mới hiểu, mình chưa phải Thánh, nên vẫn còn lo, còn sợ và còn phải cầu!

Do đó, thay vì tranh cãi, hãy thử tự hỏi, liệu mình có thể không dành ăn, khi đói bụng? Liệu mình có thể không kinh sợ, khi bệnh hành? Liệu mình có thể không lo buồn, khi thua lỗ? Liệu mình có thể không hoang mang, khi sắp chết?    

Nếu nghĩ mình không thể an nhiên tự tại trong cơn hoạn nạn, thì nên tập cầu nguyện ngay từ lúc này! Chớ có dại dột, đợi khát nước rồi, mới lo đào giếng, thời e rằng không kịp vậy!

Lại có người hỏi: “Muốn chư Phật giúp đỡ, phải làm gì?”

Trả lời: Muốn chư Phật giúp đỡ, thì chủ yếu là phải cầu nguyện và phải tin rằng điều chúng ta cầu xin ấy đã thành hiện thực. Đã thành hiện thực, nhưng chúng ta có thể không hay, không biết. Tại sao? Vì bị nghiệp chướng ngăn che! Do đó, ngoài việc chính là  cầu nguyện và tin tưởng nói trên, chúng ta còn phải tích cực tránh ác, làm lành, sám hối, niệm Phật hay trì chú cho đến khi được việc mới thôi!  

Lại có người hỏi: “Mỗi lần làm phúc, chúng ta đều đem hồi hướng cho chúng sinh, đâu còn phúc đức để trừ nghiệp chướng?”

Trả lời: Đem phúc đức hồi hướng cho chúng sinh cũng là làm phúc. Do đó, việc làm này, tự nó sẽ tạo thêm phúc đức, cũng như dùng phúc đã có để tái đầu tư!

Kinh Địa Tạng dậy, giúp người nghèo khó, già yếu, tật bệnh và phụ nữ trong lúc sinh đẻ sẽ tạo được rất nhiều phúc đức.

Riêng những ngừơi đem nhân lành gieo trong Phật pháp, như: cúng dường Tam Bảo, hoặc tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, dù là rất ít, chỉ bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hạt cát, một giọt nước. Rồi đem phúc đức ấy hồi hướng về Đạo vô thượng, Chính Đẳng Chính Giác thời rốt ráo đều sẽ thành Phật, được phúc báo lớn vô lượng, vô biên.

Nếu đem phúc đức ấy hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sinh, thời được hưởng sự vui thượng diệu trong trăm ngàn đời.

Còn nếu chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc giữ cho riêng mình, thời sẽ được hưởng quả vui trong ba đời.

Lại nữa, cứ làm một phần, thì được hưởng muôn phần trội hơn.

Điều này chứng tỏ: Đem phúc cho đi, phúc sẽ sinh lời, chứ không bị mất, như nhiều người lầm tưởng! Đây chính là lý do tồn tại của bài văn hồi hướng:

Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sinh,
Đều trọn thành Phật đạo.

5. KẾT LUẬN

Tóm lại, nếu chúng ta cầu Phật, Phật sẽ giúp chúng ta. Tuy Phật có giúp chúng ta, nhưng chưa chắc chúng ta hưởng được sự giúp đỡ của Ngài!

Cũng như, bà Thanh Đề không ăn được bát cơm, mà ngài Mục Kiền Liên dâng cho! Tại sao? Vì muốn hưởng sự giúp đỡ của Phật, thì phải đợi giải hết nghịch duyên, tức là những nghiệp chướng cản, không cho chúng ta nhận sự giúp đỡ đó.

Vì vậy, nếu chúng ta cầu nguyện đã lâu, mà chưa thấy ứng nghiệm, thì nên biết rằng, nghiệp của mình quá nặng, chớ có bỏ cuộc, mà phải cố lên!    

Montréal, ngày 04-04-2004

Bổ túc ngày 12-07-2008

 

GIẢI NGHIÃ CHỮ KHÓ

A La Hán: Xem “La Hán.”

A tăng kỳ: Dịch âm từ tiếng Phạn, asamkya, có nghiã là rất nhiều, là vô số.

A Tu La: Thần, một trong sáu loại chúng sinh, gồm trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và tội phạm ở điạ ngục. A tu la có phép thuật như trời, nhưng không có phúc đức bằng trời.

Ác chủng: Chủng là hạt giống, gọi cho đủ là chủng tử. Ác chủng là hạt giống của những nghiệp ác.

Ác đạo: Đường ác. Có ba đường ác là Địa ngục, ngạ quỉ và súc vật.

An Dưỡng hay An Dưỡng quốc: An là yên ổn. Dưỡng là nuôi nấng. An Dưỡng quốc là thế giới Cực Lạc, ở đó mọi người đều được no đủ và yên vui.

Âm dương: Âm thuộc về người chết. Âm phủ là thế giới của người chết. Dương thuộc về người sống. Dương gian là thế giới của người sống. Âm dương đều lợi là cả người chết và người sống đều có lợi.

Ấm cảnh: Những cảnh tượng mà mình thấy khi ở trung giới, nghiã là sau khi chết và trước lúc tái sinh.

Ba cõi: Cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

  1. Cõi dục là nơi mà chúng sinh còn có lòng ham muốn, đặc biệt là ham ăn uống và muốn làm tình. Chủ của cõi dục là ngài Tự Tại Thiên Vương, cũng gọi là Ma Vương. Xem “Cõi dục”
  2. Cõi sắc là nơi mà chúng sinh chỉ thích ngồi thiền, không còn ham muốn dục lạc nữa. Chủ của cõi sắc là ngài Đại Tự Tại Thiên Vương. Xem “Cõi sắc”
  3. Cõi vô sắc là nơi mà chúng sinh đã thoát khỏi tình luỵ và hình luỵ. Họ không còn ham muốn cũng không có thân xác nữa. Xem “Cõi vô sắc”

Ba chướng: Phiền não chướng, nghiệp chướng và khổ báo chướng. Ba chướng này che mất chân tính và ngăn cản bước tiến của chúng ta.

Ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh.

Ba hồn:

  1. Sinh hồn: Mệnh căn, Đạo gia gọi là Phách, người Tây Tạng gọi là Chủ mệnh khí. Xem “Mệnh căn”
  2. Giác hồn: Ý căn, tức là căn thứ sáu. Năm căn kia là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Xem “Ý căn”
  3. Linh hồn: Thần thức. Đạo gia gọi là Nguyên thần. Xem “Thần thức”

Ba kinh Tịnh Độ: Phật Thuyết Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ Phật và kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.

Ba kỳ: Vô số. Nghiệp ba kỳ là những nghiệp đã tạo từ vô số kiếp. Xem “A tăng kỳ.”

Ba la mật: Những đức hạnh giúp chúng ta vượt biển sinh tử, băng rừng phiền não.

Ba nghiệp: Nghiệp thân, nghiệp miệng và nghiệp ý.

Ba phẩm: Thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.

Ba thời: Quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ba thứ tâm:

  1. Chí thành tâm: Lòng chân thực muốn được sinh về Cực Lạc để thấy Phật, nghe Pháp.
  2. Thâm trọng tâm: Lòng tin tưởng sâu xa rằng có thế giới Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà và có 48 lời nguyện độ sinh của Phật. Lại cũng có nghĩa là lòng tin tưởng sâu xa rằng Phật A Di Đà có thệ nguyện tiếp dẫn rộng lớn, nếu chúng sinh nào chịu hệ niệm qui hướng thì dù có bao nhiêu tội cũng được vãng sinh.
  3. Hồi hướng phát nguyện tâm: Lòng tự nguyện chia sẻ công đức của mình với chúng sinh, cầu cho tất cả cùng được sinh về Cực Lạc với mình.

Bạch hào: Chòm lông trắng ở trên trán của Phật, nằm ngay giữa hai hàng lông mày.

Báng pháp: Chê bai Chính Pháp.

Báo: Hậu quả của nghiệp. Có hai loại quả báo là y báo và chính báo.

  1. Chính báo: Thân thể của chúng ta.
  2. Y báo: Môi trường sinh sống của chúng ta.

Báo chướng hay Khổ báo chướng: Sự ngăn che của khổ báo. Xem “Ba chướng”.

Báo thân của chúng sinh: Hình tướng do nghiệp báo chiêu cảm.

Bảo tọa: Tọa là chỗ ngồi, là cái ghế hay cái bệ để ngồi lên. Bảo tọa là chỗ ngồi trân quí.

Bát khổ: Tám cái khổ:

  1. Sinh là khổ.
  2. Bệnh là khổ
  3. Già là khổ.
  4. Chết là khổ.
  5. Xa người mình yêu là khổ.
  6. Gần người mình ghét là khổ.
  7. Cầu mà không được là khổ’
  8. Năm ấm xí thịnh là khổ. Xí là lửa phực lên. Thịnh là càng ngày càng mạnh. Năm ấm xí thịnh là năm ấm khởi hoặc tạo nghiệp như lửa phực lên càng ngày càng mạnh. Năm ấm xí thịnh khổ là khổ vì năm ấm không ngừng khởi hoặc tạo nghiệp.

Bát nhã ba la mật: Trí tuệ giúp chúng ta vượt biển sinh tử, băng rừng phiền não.

Bát quan trai giới: Bát là tám. Quan là đóng cửa. Trai là thanh tịnh. Bát quan trai là tám giới:

  1. Không sát sinh,
  2. Không trộm cắp,
  3. Không dâm dục,
  4. Không nói dối,
  5. Không uống rượu,
  6. Không trang điểm,
  7. Không nằm giừơng êm, không ca hát, cũng không xem hát.
  8. Không ăn phi thời.

có tác dụng giúp người thọ trì thanh tịnh (trai) sáu căn và đóng các cửa (quan) vào ba đường ác.

Bất diệt bất sinh: Không chết đi cũng không đẻ ra. Pháp bất diệt bất sinh là chân tính của vạn vật.

Bất khả tư nghì: Không thể nghĩ bàn.

Bất khả thuyết: Không thể nói được.

Bất thoái: Không thụt lùi. Lên ngôi bất thoái là đạt đến mức không sợ bị thụt lùi, mà chắc chắn sẽ tiến mãi, mãi cho đến khi thành Phật. Bất thoái có năm nghiã:

  1. Tất bất thoái: Người niệm Phật, bất luận là nhất tâm hay tán tâm, hữu ý hay vô ý, hiểu hay chẳng hiểu, miễn là danh hiệu Phật đã lọt vào tai họ, thì chắc chắn sẽ có ngày họ được Phật độ.
  2. Nguyện bất thoái: Người niệm Phật còn nặng nghiệp, nhưng không bỏ nguyện vãng sinh thời sau khi chết sẽ được sinh về Thánh Phàm Đồng Cư Độ.
  3. Vị bất thoái (không bị xuống cấp): Người niệm Phật mà phá được kiến tư hoặc thì không sợ mất thánh vị và sau khi chết sẽ được sinh về Phương Tiện Hữu Dư Độ.
  4. Hạnh bất thoái: Người niệm Phật mà phá được trần sa hoặc và một phần của vô minh hoặc thì không sợ mất hạnh bồ tát và sau khi chết sẽ được sinh về Thực Báo Trang Nghiêm Độ.
  5. Niệm bất thoái (không thay đổi quan niệm về đời cũng như về Đạo): Người niệm Phật mà phá được vô minh hoặc thì không sợ mất chính niệm và sau khi chết sẽ được sinh về Thường Tịch Quang Tịnh Độ.

Chúng sinh sinh sang Cực Lạc, bất luận là ở phẩm nào, cũng đều được 3 loại bất thoái sau, nghiã là không sợ mất thánh vị, không sợ mất hạnh bồ tát và không sợ mất chính niệm.

Bất thoái chuyển: Bất thoái. Bậc bất thoái chuyển là những người không sợ lùi sụt trong việc tu hành.

Bẩy báu: Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu và mã não.

Bẩy giác chi: Bẩy yếu tố để giác ngộ:`

  1. Niệm: Ghi nhớ đề mục tu tập (gọi là đối tượng chính) và những hiện tượng đang xẩy ra ở nơi thân hoặc tâm của chúng ta (gọi là đối tượng phụ.)
  2. Trạch pháp: Quán sát một trong những đối tượng nói trên để thấy rõ đặc tính và tiến trình sinh diệt của nó.
  3. Tiến: Cố gắng tu tập, không để gián đoạn.
  4. Hỷ: Vui sướng, một cảm giác mãnh liệt xâm chiếm thân tâm trong chốc lát.
  5. Khinh an: Cảm giác yên vui nhẹ nhàng và bền bỉ.
  6. Định: Tập trung vào đối tượng.
  7. Xả: Không yêu cảnh thuận, không ghét cảnh nghịch, mà chỉ thản nhiên chấp nhận những gì xẩy đến cho mình.

Bỉ ngạn: Bờ bên kia (của biển sinh tử).

Bích Chi: Người hiểu lý nhân duyên, diệt ái dục, phá vô minh, nhập Niết Bàn mà không thuyết Pháp độ sinh. Bậc Bích Chi, nếu sinh nhằm lúc không có Phật, một mình tu học mà giác ngộ, gọi là Độc Giác. Nếu sinh nhằm thời có Phật, theo Phật, học quán mười hai nhân duyên mà đắc Đạo, gọi là Duyên Giác.

Biên địa: Nơi không có Phật pháp, trái với trung quốc là nơi có Phật pháp lưu hành.

Bồ đề tâm: Lòng bồ đề. Xem “Lòng bồ đề”

Bồ tát: Người đã giác ngộ, đã giải thoát, lại tự nguyện giúp người khác được giác ngộ và giải thoát như mình.

Bốn báu: Vàng, bạc, lưu ly và pha lê.

Bốn loại: Tứ sinh. Xem “Tứ sinh”

Bốn ơn: Ơn Tam Bảo, ơn thầy bạn, ơn cha mẹ và ơn chúng sinh.

Bốn thể: Theo Đạo gia, linh hồn hay thần thức được bao bọc bởi bốn lớp vỏ:

  1. Vật thể: Lớp vỏ vật chất, gọi là thân, tức thân căn.
  2. Khí thể: Lớp vỏ sinh lực, gọi là phách, tức mệnh căn.
  3. Thần thể: Lớp vỏ tình cảm, gọi là thần, tức tình căn.
  4. Thánh thể: Lớp vỏ tri giác, gọi là ý, tức ý căn.

Buồn:

  1. Buồn chán (tristesse): Không vui, chữ Hán gọi là ưu, thuộc biến hành tâm sở.
  2. Buồn phiền (ennui): Bất mãn, chữ Hán gọi là não, thuộc phiền não tâm sở.

Cảnh giới: Cõi. Có mười cõi:

  1. Cảnh giới của Phật.
  2. Cảnh giới của bồ tát.
  3. Cảnh giới của Duyên giác.
  4. Cảnh giới của Thinh văn.
  5. Cảnh giới của Trời.
  6. Cảnh giới của người.
  7. Cảnh giới của thần (A tu la.)
  8. Cảnh giới của súc vật.
  9. Cảnh giới của ngạ quỉ.
  10. Cảnh giới của tội phạm trong các địa ngục.

Cao tăng: Nhà sư có đức lớn, lại học rộng và biết nhiều.

Căn: Xem “Sáu căn”.

Căn khổ: Gốc rễ, nguyên nhân của khổ não.

Cây đạo tràng: Cây, mà đức Phật đã ngồi nhập định và thành Đạo, ngay dưới gốc của nó.

Cõi: Xem “Ba cõi”

Cõi dục: Nơi mà chúng sinh còn có lòng ham muốn, đặc biệt là ham ăn uống và muốn làm tình. Cõi dục gồm 4 châu (Bắc Cu Lư châu, Nam Thiêm Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Đông Thắng Thần châu) ở chân núi Tu Di và 6 tầng trung thiên:

  1. Tứ Thiên môn: Cũng gọi là Hộ Thế thiên hay Tứ Thiên Vương thiên, ở trên sườn núi Tu Di, là bốn cổng trời dẫn vào Đạo Lợi thiên. Tứ Thiên môn gồm có:
  1. Trì Quốc thiên ở phương Đông.
  2. Tăng Trưởng thiên ở phương Nam.
  3. Quảng Mục thiên ở phương Tây.
  4. Đa Văn thiên ở phương Bắc.
  1. Đạo Lợi thiên, gồm 33 cung trời nằm trên đỉnh núi Tu Di.
  2. Dạ Ma thiên,
  3. Đâu Suất thiên,
  4. Hóa Lạc thiên,
  5. Tha Hóa thiên, cũng gọi là Tự Tại thiên.

Cõi sắc: Nơi mà chúng sinh chỉ thích tham thiền, không còn ham muốn dục lạc nữa. Cõi sắc có 18 tầng trời, chia thành 5 nhóm là:

  1. Sơ Thiền thiên, gồm có Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên và Đại Phạm thiên,
  2. Nhị Thiền thiên, gồm có Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên và Quang Âm thiên,
  3. Tam Thiền thiên, gồm có Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên và Biến Tịnh thiên.
  4. Tứ Thiền thiên, gồm có Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
  5. Bất Hoàn thiên hay Tịnh Phạm địa, gồm có Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên và Sắc Cứu Cánh thiên.

Ngoài 18 tầng trời kể trên, đôi khi chúng ta cũng nghe nói đến Phạm Thân thiên (thuộc Phạm Chúng thiên), Hòa Âm thiên và Đại Tự Tại thiên (thuộc Sắc Cứu Cánh thiên).

Cõi vô sắc: Nơi mà chúng sinh không bị tình lụy và hình lụy. Họ không còn ham muốn và không có thân xác. Cõi vô sắc có 4 tầng trời là:

  1. Không Vô Biên xứ,
  2. Thức Vô Biên xứ,
  3. Vô Sở Hữu xứ,
  4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ.

Công án: Một câu nói bí ẩn của chư Tổ, dùng làm đề tài để tham thiền.

Của tăng kỳ: Đồ vật của nhà chùa. Xem chữ “Tăng kỳ.”

Của thường trụ: Thường trụ là còn hoài. Của thường trụ là của nhà chùa. Sở dĩ gọi là thường trụ, vì những vật dụng đó không thể đem bán hoặc chuyển chỗ.

Cực Lạc: Thế giới của đức Phật A Di Đà ở phương Tây. Ở đó mọi người đều được sung sướng và có đầy đủ cơ duyên để tu thành Phật.

Cửu huyền: Chín đời, gồm đời mình, bốn đời trườc (bố mẹ, ông bà, cụ, kỵ) và bốn đời sau (con, cháu, chắt, chít).

Cửu phẩm liên hoa: Xem “Chín phẩm hoa sen.”

Chân không: Chân là không giả dối. Không là lià hình tướng. Chân không là cái tâm rỗng lặng của những người dứt được suy tư. Trong đó không có một hình tướng, một cảm giác hay một tư tưởng nào.

Chân linh: Hồn của người chết.

Chân nhân: Người chứng được chân lý và chỗ chứng ngộ của người ấy hoàn toàn chân thực, như La Hán, Bồ tát hay chư Phật.

Chân như: Chân là không giả dối. Như là không biến đổi. Chân như là cái bản thể chân thực của vạn vật, từ xưa đến nay vẫn y như vậy.

Chân như tâm: Tâm bình thường, không thiện, không ác, không sinh cũng không diệt.

Chân tâm: Tâm chân thực không biến đổi theo hoàn cảnh hoặc tư tưởng của chúng ta. Các tướng thiện, ác, khổ, vui đến rồi đi, nhưng cái tâm của chúng ta thì lúc nào cũng vậy, y như cái màn hình không bị dơ khi chúng ta chiếu phim dâm đãng, và cũng không sạch hơn khi chúng ta chiếu phim thánh thiện.  

Chân tính: Bản thể, bản chất của vũ trụ. Chân tính ở nơi chúng sinh gọi là Phật tính, ở nơi sự vật gọi là Pháp tính.

Chết: Khoảng thời gian kéo dài từ lúc một người tắt thở cho đến khi đương sự theo nghiệp để tái sinh vào một trong sáu đường là trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và địa ngục. Hiểu theo nghĩa này, chết thường có ba giai đọan là lâm chung, pháp tính và tái sinh:

  1. Giai đọan lâm chung kéo dài từ lúc người chết hết thở cho đến khi thần thức của người ấy bỏ thể xác để vào trung giới (cõi âm) thành vong linh. Tính trung bình, giai đọan này dài 8 giờ, nhưng cũng có thể kéo tới 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.
  2. Giai đoạn pháp tính kéo dài 2 tuần kể từ khi người chết vào trung giới với thân trung ấm. Đây là lúc mà chư Phật và thánh chúng hiện đến tiếp dẫn. Nhưng chỉ những linh nào có duyên mới nhận ra các Ngài và được cứu độ.
  3. Giai đoạn tái sinh bắt đầu từ tuần lễ thứ ba, khi đã hết hạn tiếp dẫn, cho đến khi vong linh trở lại luân hồi làm trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ hay tội phạm ở địa ngục. Giai đọan này có thể dài hoặc ngắn, tuỳ theo tâm trạng và hạnh nghiệp của mỗi vong linh. Có những linh không qua giai đọan này, vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó. Có những linh chỉ ghé qua vài giờ. Có những linh phải lưu lại đó 49 ngày hay nhiều hơn.

Chết lâm sàng: Khi mũi hết thở, tim ngưng đập.

Chết thực sự: Khi thần thức rời bỏ thể xác để vào trung giới, thành vong linh.

Chí thành tâm: Xem “Ba thứ tâm”

Chỉ tịnh: Chỉ là ngưng lại. Tịnh là yên lặng. Chỉ tịnh là ngừng suy nghĩ để giữ cho tâm được vắng lặng.

Chín bậc: Chín phẩm sen, chín phẩn hoa sen.

Chín phẩm sen: Chín cấp bậc của thánh chúng ở Cực Lạc, kể từ trên xuống dưới là:

  1. Thượng phẩm thượng sinh
  2. Thượng phẩm trung sinh
  3. Thượng phẩm hạ sinh
  4. Trung phẩm thượng sinh
  5. Trung phẩm trung sinh
  6. Trung phẩm hạ sinh
  7. Hạ phẩm thượng sinh
  8. Hạ phẩm trung sinh
  9. Hạ phẩm hạ sinh.

Theo Đại sư Trí Húc:

  1. Người đầy đủ tín nguyện, nhưng thường tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Hạ Sinh. Nếu ít tán tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Trung Sinh. Còn nếu luôn chuyên tâm niệm Phật thì sẽ được sinh về Hạ Phẩm Thượng Sinh.
  2. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến sự nhất tâm bất loạn, đoạn được kiến hoặc cho đến không khởi tham, sân, si thì sau khi chết sẽ sinh về Trung Phẩm.
  3. Người đầy đủ tín nguyện, lại niệm Phật đến lý nhất tâm bất loạn, đoạn trần sa hoặc cho đến  phá được một phần vô minh thì sau khi chết sẽ sinh về Thượng Phẩm.

Chính đạo: Con đường ngay thẳng, xem “Tám chính đạo”

Chính định: Chính là không vướng duyên trần. Định là không khởi vọng niệm. Chính định là ngưng đuổi ngoại cảnh, không nghĩ vẩn vơ để hoặc phản chiếu đối tượng như thực, hoặc để tạo điều kiện cho trí tuệphát sinh.

Chính giác: Giác ngộ chân chính, tức là thấy rõ bản thể của mọi sự, mọi vật. Người giác ngộ chân chính gọi là Phật. Vì vậy, quả Chính giác là quả Phật. Đắc quả Chính giác là thành Phật.

Chính niệm phân minh: Với người niệm Phật, chính niệm phân minh là miệng và ý niệm Phật, còn tai thì lắng nghe tiếng niệm của chính mình, rõ ràng từng câu, từng chữ một.

Chính nhân: Người thật thà, ngay thẳng.

Chính pháp: Phật pháp.

Chúng sinh trược: Xem “Năm trược”

Chủng tử: Hạt giống của mỗi pháp được mã hóa bằng tiếng phạn. Thí dụ: chủng tử của đất là một chữ phạn mầu vàng, dịch âm là “Át” hay “A”.

Chủng trí hay Đạo chủng trí: Trí tuệ của Bồ tát, bậc thấy rõ các pháp tuy không có thực thể riêng biệt, nhưng vẫn có giả tướng. Xem “Trí.”

Chuyên tu: Chỉ tu một thứ, hoặc là thiền, hoặc là tịnh, hoặc mật v.v…

Chuyển báo: Thay nghiệp báo hiện tại bằng một nghiệp báo khác vui hơn.

Chuyển pháp luân: Quay bánh xe Pháp, tức là thuyết Pháp lần đầu tiên.

Danh hiệu: Tên.

Danh y: Thầy thuốc giỏi và nổi tiếng.

Diên: Dài thêm, lâu hơn. Phúc thọ tăng diên: Tăng phúc đức, thêm tuổi thọ.

Diệu hữu: Cái có kỳ diệu. Diệu hữu bao gồm cả chúng sinh lẫn cảnh vật ở trong ba cõi.

Duyên:

  1. Níu kéo, dính lứu, nương vào, liên lạc.
  2. Những yếu tố giúp hay cản một nhân trổ thành quả. Những điều kiện chi phối việc một nhân trổ thành quả. Người ta phân biệt hai loại duyên:
  1. Nghịch duyên cản nhân trổ thành quả.
  2. Thuận duyên giúp nhân trổ thành quả.

Duyên giác: Người nhờ quán 12 nhân duyên do Phật dậy, mà chứng được chân lý. Xem “Bích chi.”

Đại nhân: Người có địa vị cao quí, đáng được kính trọng.

Đại thiên thế giới: Tập hợp của 1000 trung thiên thế giới và một tứ thiền thiên.

Đại thừa: Xem chữ “Thừa”.

Đại trí: Trí lớn. Bậc đại trí là người có nhiều trí tuệ.

Đảnh lễ niệm Phật: Vừa niệm Phật vừa lễ lạy.

Đạo cả: Đạo Phật.

Đạo chủng trí: Xem “Trí” hay “Chủng trí”

Đạo pháp: Những phương pháp giúp chúng ta thoát khỏi sinh tử. Thí dụ: Bốn diệu đế là đạo pháp của Thinh văn. Mười hai nhân duyên là đạo pháp của Duyên giác. Sáu ba la mật là đạo pháp của bồ tát.

Đạo tràng:

  1. Nơi đức Phật thành Đạo.
  2. Chỗ thờ Phật ở trong chùa, thường gọi là Chính điện.
  3. Chỗ mình tụng kinh hàng ngày.
  4. Chỗ thầy tu tham thiền.
  5. Chỗ Pháp sư giảng Đạo, hay truyền giới.

Đạo vô thượng: Đạo Phật, vì không Đạo nào hơn được.

Đạo vô thượng Chính Đẳng Chính Giác: Đạo Phật.

Đắc pháp: Chứng được một pháp môn, tu xong một pháp môn.

Đế Thích: Chủ của cung trời Đạo Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di, cũng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế hay Thích Đề Hoàn Nhân.

Đệ nhất pháp nhẫn: Âm hưởnh nhẫn. Xem chữ “Tam pháp nhẫn.”

Đệ nhị pháp nhẫn: Nhu thuận nhẫn. Xem chữ “Tam pháp nhẫn.”

Đệ tam pháp nhẫn: Vô sinh nhẫn. Xem chữ “Tam pháp nhẫn.”

Điều tức: Điều hòa hơi thở.

Đọa xứ: Nơi đê hèn, khổ sở mà những người làm ác bị sa lạc vào.

Độ sinh:

  1. Giúp chúng sinh vượt qua một khó khăn, một tai hoạ, một khổ nạn.
  2. Giúp chúng sinh thoát ly sinh tử.

Độc giác: Người tự mình quán sát ngoại duyên mà chứng được chân lý, không cần ai dậy bảo. Xem “Bích chi.”

Đối đãi: Đối là đối phó. Đãi là tiếp đãi. Đối đãi là chỉ hai vật tuy xung khắc nhau, nhưng lại bổ túc cho nhau. Thí dụ: Nóng và lạnh, sướng và khổ, no và đói, xanh và đỏ v.v…

Đường ác: Đường ác gồm ba loại là súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục.

Gia hộ: Gia là thêm, như tăng gia. Hộ là che chở, là giúp đỡ. Gia hộ là che chở và giúp đỡ thêm cho.

Giác chi: Yếu tố cần thiết cho việc giác ngộ. Xem “Bẩy giác chi”

Giác linh: Thần thức (hồn) của những người ngộ Đạo đã qua đời.

Giải đãi: Lười biếng.

Giải thoát tri kiến: Tự biết mình đã đoạn hết phiền não và không còn bị sinh tử lôi kéo nữa.

Giới:

  1. Lời răn của Phật. Xem “năm giới cấm”, “tám trai giới”, “giới sa di”, “mười nghiệp thiện” và “giới cụ túc”.
  2. Mỗi phần trong 18 thành phần của con người và cảnh vật xung quanh. Mười tám giới này là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Theo cách sắp xếp này, thì giới đầu tiên là nhãn giới, tức con mắt và giới cuối cùng là ý thức giới, tức ý thức.
  3. Mỗi cảnh trong mười cảnh, gồm cảnh giới của chư Phật, cảnh giới của Bồ tát, cảnh giới của Duyên giác, cảnh giới của Thinh văn, cảnh giới của chư thiên, cảnh giới của loài người, cảnh giới của thần linh, cảnh giới của súc vật, cảnh giới của ngạ quỉ và cảnh giới của địa ngục.
  4. Mỗi cõi trong ba cõi, là Dục giới, sắc giới và vô sắc giới.   

Giới cụ túc: Giới đầy đủ, tức là 250 giới của tỳ kheo tăng hoặc 348 giới của tỳ kheo ni.

Giới sa di: Giới cấm của chú tiểu hay ni cô, gồm mười điều:

  1. Không sát sinh.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không dâm dục.
  4. Không nói dối.
  5. Không uống rượu.
  6. Không nằm giường êm.
  7. Không trang điểm.
  8. Không nghe hát, cũng không múa hát.
  9. Không ăn sau trưa.
  10. Không giữ của riêng.

Giới trai hay trai giới: Giới thanh tịnh. Xem “Bát quan  trai giới”

Hạ căn: Nói người chậm hiểu và vụng về.

Hàm linh: Hàm là chứa. Hàm linh là loài có tính linh, đặc biệt là con người.

Hành:

  1. Pháp hữu vi, gồm tất cả những gì có thể làm ra hoặc huỷ đi. Trong trường hợp này hành đồng nghĩa với tạo vật.
  2. Động lực thúc đẩy chúng ta tạo nghiệp, gồm 49 tâm sở khác thọ và tưởng, như tham, giận, nghi, sợ v.v…
  3. Hành động, tức là vận dụng ý, miệng và nhất là thân để làm một việc gì.

Hành trì: Tu tập và giữ gìn (giáo pháp của đức Phật).

Hành uẩn: Xem “Năm uẩn”

Hạnh nghiệp: Những việc mà mình đã làm, không phân biệt là thiện hay ác. Khác với sự nghiệp là những việc làm nhằm tạo lợi ích cho chính mình hoặc cho người khác.

Hạnh Phổ Hiền: Đức Phổ Hiền tu 10 hạnh là:

  1. Kính lễ chư Phật.
  2. Xưng tán Như Lai (Khen ngợi chư Phật.)
  3. Quảng tu cúng dường (Cúng dường một cách rộng rãi.)
  4. Sám hối nghiệp chướng.
  5. Tuỳ hỉ công đức (Vui mừng thấy người khác trồng công đức.)
  6. Thỉnh chuyển Pháp luân (Mời Phật thuyết Pháp.)
  7. Thỉnh Phật trụ thế (Xin Phật khoan nhập Niết Bàn, lưu lại thế gian để giáo hóa chúng sinh.)
  8. Thường tuỳ Phật học (Theo gương đức Phật mà tu hành.)
  9. Hằng thuận chúng sinh (Tuỳ theo sở thích và khả năng của chúng sinh mà giáo hóa.)
  10. Phổ giai hồi hướng (Chia sẻ công đức của mình cho chúng sinh, cầu cho tất cả cùng thành Phật đạo.)

Hảo tướng: Tướng tốt, tức là những điềm lành, mà chúng ta thấy được trong lúc lễ bái, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, thiền định hoặc nằm mơ. Thí dụ: Thấy đức Phật, bồ tát, tăng chúng hay hoa sen.v.v…

Hằng hà sa: Cát ở sông Hằng.

Hằng hà sa số: Con số rất lớn, bằng với số cát ở sông Hằng.

Hận (haine): Óán giận.

Hoa tạng thế giới: Hoa là bông sen. Tạng là kho chứa. Hoa Tạng thế giới là thế giới của Phật Tỳ Lô Xá Na, bao trùm tất cả các quốc độ trong mười phương.

Hóa bồ tát: Không phải bồ tát thực, mà do thần lực hóa hiện ra.

Hóa Phật: Tướng giả, do Đức Phật dùng thần lực mà hóa hiện ra.

Hóa sinh: Xem “Tứ sinh”

Hoàn tục: Nói thầy tu bỏ Đạo, để quay về cuộc sống bình thường.

Hoạt ngữ: Lời nói sống động, buộc người nghe phải bỏ thói suy luận thông thường để chứng ngộ một chân lý hay một thực tại ngầm chứa trong đó.

Hoặc: Lầm lạc, lừa dối. Có ba loại hoặc chính là:

  1. Kiến tư hoặc: Mê lầm vì thấy sai hay nghĩ sai.
  1. Kiến hoặc: Thấy lầm, tức là thấy không đúng sự thực.
  2. Tư hoặc: Nghĩ lầm, tức là nghĩ không hợp Chính Pháp.
  1. Trần sa hoặc: Mê lầm vì không biết cách đối trị những sự thấy sai và nghĩ sai nhiều như cát của chúng sinh.
  2. Vô minh hoặc: Mê lầm vì không thấy chân tính của chính mình và của vạn vật.

Hộ niệm:

  1. Hộ là giúp đỡ. Niệm là tưởng nhớ. Hộ niệm là thường nhớ đến và giúp đỡ. Giúp cái gì? Theo Gia Tường Pháp Hoa Nghĩa Sớ, quyển 9: Ngăn các ác pháp bên ngoài xâm nhập, gọi là hộ. Khiến các thiện Pháp bên trong nẩy nở, gọi là niệm.
  2. Giúp đỡ một người ốm nặng hay hấp hối niệm Phật A Di Đà để cầu sinh Cực Lạc. Hiểu theo nghĩa này, hộ niệm đồng nghĩa với trợ niệm. Tuy nói là đồng nghĩa, nhưng chúng cũng có chỗ khác nhau, như trong câu: “Ban hộ niệm trợ niệm cho người hấp hối.” Ban hộ niệm trợ niệm cho nhiều người, nhiều đám, việc họ làm có tính cách thường xuyên. Còn mỗi người hấp hối chỉ được trợ niệm trong một thời gian ngắn trước và sau khi chết.

Hồi hướng: Hồi là xoay lại. Hướng là nhắm vào. Hồi hướng công đức là thay vì dùng công đức của mình để cầu phúc lợi trần gian, thì mình xoay nó lại để nguyện cho mình và cho tất cả chúng sinh được cùng vãng sinh Cực lạc hoặc cùng đắc quả Chính Giác.

Hồi hướng phát nguyện tâm: Xem “Ba thứ tâm”

Hôn trầm: Buồn ngủ.

Hồn:

  1. Linh hồn: Phần tinh tuý của con người, không bị huỷ diệt theo thể xác vào lúc chết. Đạo gia gọi là nguyên thần, Phật tử gọi là thần thức.
  2. Hồn ma: Chúng sinh trong cõi âm.
  3. Tên chung của sinh hồn, giác hồn và linh hồn. Xem “Ba hồn”

Hồng danh: Hồng là lớn. Danh là tên. Hồng danh là tên của chư Phật hay của Bồ tát.

Hồng liên: Hoa sen mầu đỏ.

Huyễn: Ảo, lừa dối.

Huyễn cảnh: Cảnh giả, tuy có, nhưng lại không thực.

Huyễn hóa: Có mà không thực.

Hương linh: Tên gọi các vong linh ở Trung giới. Sơ dĩ gọi là hương linh, vì những chúng sinh này chỉ sống bằng cách ngửi mùi hương của các phẩm vật, mà chúng ta hiến cúng cho họ. Xem “Vong linh.”  

Hữu học: Có học. Còn phải học.

Hý luận: Nói đùa, nói chơi, nói cho vui, chứ chẳng có nghĩa lý gì.

Kiến hoặc: Thấy sai. Xem “Hoặc.”

Kiến tư hoặc: Xem “Hoặc”

Kiến trược: Xem “Năm trược”

Kiếp trược: Xem “Năm trược”

Kim giai: Kim là vàng. Giai là cấp bậc. Kim giai là cấp bậc cao quí. Ý nói những chúng sinh vãng sinh về Cực Lạc đều thành Thánh, tức là được cấp bậc cao quí.

Kinh hành: Xem “Kinh hành niệm Phật”

Kinh hành niệm Phật: Vừa niệm Phật, vừa đi vòng quanh bàn thờ theo chiều kim đồng hồ.

Khí:

  1. Theo người Trung Hoa, chúng ta có ít nhất là tám thứ khí, gồm:
  1. Trợ nhãn khí, tức là khí trợ mắt, giúp cho con mắt có thể liếc qua hay liếc lại.
  2. Trợ nhĩ khí, tức là khí trợ tai.
  3. Trợ tỵ khí, tức là khí trợ mũi.
  4. Trợ thiệt khí, tức là khí trợ lưỡi, giúp cho cái lưỡi có thể lè ra hay rụt vào.
  5. Trợ thân khí, tức là khí trợ thân, giúp cho chân, tay có thể cử động và ruột, gan, tim, phổi, thận, tỳ, vị.v.v..có thể vận chuyển bình thường.
  6. Trợ ý khí, tức là khí trợ ý.
  7. Chủ mệnh khí có nhiệm vụ giúp thân thể tăng trưởng và giữ cho nó không bị thối rữa.
  8. Bất hoại khí, khí này không những không bị huỷ diệt vào lúc chết, mà còn theo thần thức đi tái sinh.

Bẩy khí đầu gọi là Phách hay là Vía. Khí thứ tám gọi là Nguyên khí.

  1. Theo người Tây Tạng, chúng ta có 1 bất hoại khí và 10 hoại khí. Mười hoại khí ấy là:
  1. Trợ nhãn khí.
  2. Trợ nhĩ khí.
  3. Trợ tỵ khí.
  4. Trợ thiệt khí.
  5. Trợ thân khí.
  6. Hướng hạ khí.
  7. Hướng thượng khí.
  8. Điều hợp khí có nhiệm vụ điều hợp các khí khác để giúp ý căn.
  9. Toàn thân khí lưu chuyển khắp thể xác để giúp ý thức.
  10. Chủ mệnh khí, cũng gọi là Trợ sinh khí.

Khổ báo chướng: Xem chữ “Báo chướng.”

La Hán: Quả cao nhất của hàng Thinh văn. La Hán hay A La Hán có ba nghiã:

  1. Sát tặc: Dứt sạch phiền não.
  2. Vô sinh: Thoát ly sinh tử.
  3. Ứng cúng: Đáng được hưởng sự cúng dường của trời và người.

Lạc quốc: Nơi mà mọi người đều đựơc yên vui, cũng gọi là Cực Lạc.

Lâm chung: Đến lúc cuối cùng, tức là lúc chết, đặc biệt là khi thần thức (thường gọi là thần hồn) lìa khỏi thể xác.

Lậu tận: Không còn rỉ chảy nữa, ý nói đã dứt hết phiền não.

Lậu tận tỳ kheo: Thầy tu đã đoạn hết mọi phiền não.

Liên bang: Xứ hoa sen, ý nói Cực Lạc.

Liên đài: Đài sen.

Liên trì : Ao sen.

Loài có sắc: Chúng sinh có thân hình.

Loài có tưởng: Chúng sinh biết suy nghĩ.

Lòng bồ đề: Lòng mong mỏi sớm được thành Phật để cứu độ chúng sinh.

Lòng vô thượng: Vô thượng là không gì hơn được. Lòng vô thượng là lòng bồ đề. Sở dĩ gọi là vô thượng, vì không có một ham muốn nào lớn hơn hay tốt hơn nó.

Luân hồi: Trở đi, trở lại trong sáu cõi là trời, người, thần, súc vật, ngạ quỉ và địa ngục mãi cho đến lúc chứng quả Thánh. Mặc dầu chủ trương chúng sinh phải trở đi, trở lại trong sáu cõi, nhưng Phật Giáo không chấp nhận mỗi chúng sinh có một linh hồn vĩnh cửu, mà dậy rằng linh hồn (thần thức) cũng vô thường như thể xác của chúng ta và nó chỉ tồn tại cho đến ngày chúng ta đắc quả A La Hán. (Xem: “Duy Thức Tam Thập Tụng.”)

Lục đạo: Sáu đường, sáu nẻo. (Xem: Sáu nẻo)

Lục thú: Sáu loại thú là trời, người, thần (a tu la), súc vật, ngạ quỉ và tội phạm ở các địa ngục.

Lữ du: Người đi chơi xa nhà (voyageur).

Lưới Đế châu: Cái lưới báu rộng lớn treo tại cung vua Đế Thích ở trên trời Đạo Lợi. Mỗi mắt lưới đều có gắn những hạt châu rất quí, toả anh sáng rực rỡ. Hạt nọ chiếu vào hạt kia, tạo thành một cảnh sắc huy hoàng, tráng lệ.

Ma Vương: Chủ của cõi Dục.

Mệnh căn: Căn này chủ về sự sống, có nhiệm vụ giữ cho thân thể không bị thối rữa và giúp nó tăng trưởng một cách bình thường. Đạo gia gọi là phách. Ngừơi Tây Tạng gọi là khí chủ mệnh hay khí trợ sinh.

Mệnh trược: Xem “Năm trược”

Mộng tưởng: Ý nghĩ viễn vông của người ngủ mơ. Văn học Phật giáo thường ví cái thấy của phàm phu như cái thấy của người say rượu hay của người nằm mộng. Chúng hoàn toàn giả dối, không thực.

Muôn: Mười ngàn, cũng gọi là vạn.

Mười danh hiệu: Mười danh hiệu của Như Lai.

Mười danh hiệu của Như Lai: Thành Thực Luận nói: “Nương đạo như thực mà thành Phật, rồi quay lại độ chúng sinh, gọi là Như Lai”. Kinh Kim Cương nói: “Như Lai là nghĩa như (như) của các Pháp.”. Như Lai có 10 hiệu:

  1. Ứng Cúng: Đáng được hưởng sự cúng dường của trời và người.
  2. Chính Biến Tri: Biết rõ các pháp chân đế và tục đế.
  3. Minh Hạnh Túc: Đủ giới hạnh, đắc tam minh (Xem “Tam minh”).
  4. Thiện Thệ: Thiện là tốt lành. Thệ là đi luôn không trở lại. Thiện Thệ là bậc tu hành, thoát sinh tử, nhập Niết Bàn.
  5. Thế Gian Giải: Hiểu rõ cả hữu tình thế gian, vô tình thế gian và xuất thế gian.
  6. Vô Thượng Sĩ: Bậc tài đức không ai hơn được.
  7. Điều Ngự Trượng Phu: Người khéo dùng phương tiện để thu phục chúng sinh.
  8. Thiên Nhân Sư: Thầy của trời và người.
  9. Phật: Bậc giác ngộ.
  10. Thế Tôn: Được cả thế gian tôn trọng.

Mười hai bộ kinh: Đức Phật đã nói rất nhiều kinh. Những kinh này được sắp thành mười hai bộ là:

  1. Khế kinh (Sutra): Những bài giảng về Đạo lý bằng văn suôi, cũng gọi là Trường hàng.
  2. Trùng tụng (Geya): Những câu thơ lập lại ý chính của bài khế kinh mà đức Phật vừa giảng xong.
  3. Thọ ký (Vyakarana): Những lời tiên báo ai sẽ thành Phật? Hiệu gì? Ở đâu? Khi nào?
  4. Phúng tụng (Gatha): Bài thơ chỉ có bốn câu, thường gọi là kệ. Phúng tụng cũng được gọi là cô khởi vì nó vốn độc lập, không liên hệ đến những bài trước hoặc sau nó.
  5. Tự thuyết (Udana): Kinh do Phật tự nói, không cần có người hỏi.
  6. Nhân duyên (Nidana): Bài giảng về nguyên nhân của những việc đã hoặc đang xẩy ra.
  7. Thí dụ (Apadana): Chuyện hay việc cụ thể do đức Phật kể lại với mục đích giúp cho người nghe hiểu rõ Đạo lý.
  8. Bổn sự (Itivrtaka): Sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh của đức Phật ở các tiền kiếp.
  9. Bổn sinh (Jataka) : Cuộc đời của đức Phật ở các tiền kiếp.
  10. Phương quảng (Vaipulya): Kinh Đại thừa, sở dĩ gọi là Phương quảng vì các kinh này có ý nghiã rất rộng lớn.
  11. Vi tằng hữu (Adbhutadharma): Kinh nói về những chuyện chưa ai thấy, chưa ai nghe; những chuyện vượt ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người.
  12. Lý luận (Upadesa): Lời bình luận về kinh sách, về giáo lý, về cách tu tập của đức Phật hay của các đệ tử.

Mười lực: Mười trí lực của Phật A Di Đà, gồm:

  1. Trí lực biết những gì hợp lý hoặc phi lý.
  2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
  3. Trí lực biết các pháp thiền định và giải thoát.
  4. Trí lực biết được căn cơ và khả năng của chúng sinh.
  5. Trí lực biết cách suy nghĩ và sự ưa thích của chúng sinh.
  6. Trí lực biết cách làm bất cứ một việc gì.
  7. Trí lực biết rõ cách tu tập của các bậc hữu lậu và vô lậu.
  8. Trí lực biết và thấy mọi việc trong vô lượng thế giới.
  9. Trí lực biết đời trước của chúng sinh.
  10. Trí lực biết mình đã đoạn trừ hết các thói hư, tật xấu, không còn triền phược sinh tử nữa.

Mười nghiệp thiện:

  1. Không sát sinh.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không tà dâm.
  4. Không nói dối.
  5. Không xúi xiểm.
  6. Không ác miệng (đặc biệt là chửi rủa).
  7. Không ba hoa.
  8. Không tham lam.
  9. Không sân giận.
  10. Không tà kiến.

Mười phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông nam, Đông bắc, Tây nam, Tây bắc, Trên và Dưới.

Mười tội ác: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, xúi xiểm, ác miệng (đặc biệt là chửi rủa), ba hoa, tham lam, sân giận và tà kiến.

Na do tha: Ngàn vạn, tức là 10 triệu, ý nói rất nhiều.

Não: Buồn phiền (ennui), bất mãn (mécontentement).

Năm ấm: Xem “Năm uẩn” hay “Uẩn.”

Năm căn:

  1. Tín (tin tưởng): Tin vào chính đạo và các pháp trợ đạo.
  2. Tiến (cố gắng): Thực hành chính đạo và các pháp trợ đạo.
  3. Niệm (ghi nhớ): Ghi nhớ chính đạo và các pháp trợ đạo.
  4. Định (tập trung): An trụ chính đạo và các pháp trợ đạo.
  5. Tuệ: Chứng ngộ chính đạo và các pháp trợ đạo.

Năm giới cấm:

  1. Sát sinh,
  2. Trộm cắp,
  3. Tà dâm,
  4. Nói dối,
  5. Uống rượu.

Năm lực: Khi tâm chuyển được cảnh thì năm căn sẽ biến thành năm lực:

  1. Tín lực: Tín căn tăng trưởng, nên không hoài nghi.
  2. Tiến lực: Tiến căn tăng trưởng, nên không lười biếng.
  3. Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng, nên không sao lãng.
  4. Định lực: Định căn tăng trưởng, nên không tạp loạn.
  5. Tuệ lực: Tuệ căn tăng trưởng, nên không si mê.

Năm tội nghịch: Năm tội phản bội, gồm giết cha, giết mẹ, giết bậc A La Hán (hay giết thầy), làm Phật chảy máu (hay phá hủy tượng Phật), chia rẽ chư tăng.

Năm trược: Năm thứ nhơ nhớp che mất chân tính của chúng ta:

  1. Kiếp trược: Thời đại nhơ nhớp, vì đầy những tệ đoan, tội ác và thiên tai.
  2. Kiến trược: Hiểu biết nhơ nhớp, vì không phản ảnh đúng sự thực.
  3. Phiền não trược: Phiền não nhơ nhớp, vì trong tâm đầy tham, giận, nghi, sợ.v.v..
  4. Chúng sinh trược: Chúng sinh nhơ nhớp, vì thường khổ sở, bất mãn và chống đối lẫn nhau.
  5. Mệnh trược: Đời sống nhơ nhớp, vì tuổi thọ thì ngắn ngủi mà mình lại phải vất vả kiếm ăn.

Năm uẩn: Năm pháp cấu tạo nên con người và cảnh vật xung quanh:

  1. Sắc uẩn: Uẩn thứ nhất bao gồm thân thể, cảnh vật và pháp trần.
  2. Thọ uẩn: Uẩn thứ hai chủ về cảm giác, gồm năm loại là sướng, khổ, vui, buồn và xả ( xả là không sướng cũng không khổ, không vui cũng không buồn.)
  3. Tưởng uẩn: Uẩn thứ ba có ba nhiệm vụ chính là nhớ chuyện quá khứ (ức tưởng), biết việc hiện tại (thức tưởng) và dự liệu tương lai (tập tưởng).
  4. Hành uẩn: Uẩn thứ tư chủ về tạo tác, có tác dụng thúc đẩy chúng ta làm việc này, việc nọ.
  5. Thức uẩn: Uẩn thứ năm có tác dụng phân biệt trần cảnh và chứa nhóm hạt giống thiện, ác, nhiễm, tịnh khiến cho bản thể chân như bị che lấp đi.

Niệm:

  1. Nhớ đến, nghĩ đến một người hay một vật nào đó.
  2. Ghi nhớ đối tượng để giữ nó trong tâm.
  3. Nhắc đi, nhắc lại một danh hiệu Phật, một câu thần chú hay một bài kinh để gieo nó vào tâm thức.

     Xem “Sáu niệm”

Niệm Phật tam muội: Người niệm Phật, khi thấy Phật hiện ra như thực, gọi là đắc Niệm Phật tam muội. Vậy, Niệm Phật tam muội là một phép tu giúp hành giả thấy Phật hiện ra như thực. Nếu hành giả chỉ thấy được hóa thân Phật, thì gọi là đắc Sự Niệm Phật Tam Muội. Nếu thấy được pháp thân Phật thì gọi là đắc Lý Niệm Phật Tam Muội.  

Niết bàn:

  1. Niết Bàn: Niết là ra. Bàn là rừng (phiền não). Niết Bàn là cảnh giới của những người đã dứt hết phiền não, đặc biệt là tham, giận và si mê.
  2. Tịch diệt: Tịch là vắng lặng, là trống rỗng. Diệt là dứt sinh tử. Tịch diệt là cảnh giới của những người đã thoát ly sinh tử, chứng được chân không.

Noãn sinh: Xem “Tứ sinh”

Nước tám công đức: Nước có tám đặc tính sau:

  1. Trong sạch,
  2. Mát mẻ,
  3. Ngon ngọt,
  4. Nhẹ mịn,
  5. Nhuận trơn,
  6. Bổ dưỡng (giúp thân thể được khoẻ mạnh),
  7. An hoà (luôn lặng lẽ, không chảy siết, không ồn ào.)
  8. Giải khát.

Nước tịnh: Nước sạch, tức là nước tám công đức, cũng gọi là nước cam lộ. Xem “Nước tám công đức.”

Ngạ quỉ: Ma đói, cô hồn, một trong sáu loại chúng sinh gồm: trời, người, thần, súc sinh, ngạ quỉ và tội phạm ở trong các địa ngục.

Nghịch duyên: Xem chữ Duyên.

Nghiệp chướng: Sự ngăn che của nghiệp. Xem “Ba chướng”.

Nghiệp thiện: Xem “Mười nghiệp thiện”

Nghiệp thức: Thức thứ tám, có nhiệm vụ duy trì chủng tử của các nghiệp thiện và ác để chuyển hóa thành cá tính, thói quen, sở thích hay năng khiếu của chúng ta.

Ngũ nghịch: Năm tội nghịch. Xem “Năm tội nghịch”

Ngũ nhãn: Năm con mắt, gồm: Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và Phật nhãn. Năm con mắt này được người xưa định nghĩa như sau:

Thiên nhãn thông không ngi.

Nhc nhãn ngi không thông.

Pháp nhãn ch quán tc.

Tu nhãn rõ chân không.

Pht nhãn, ngàn mt nht.

Thiên nhãn thấy trong tối, thấy thiên đường, thấy địa ngục và những điều ẩn mật. Nhục nhãn chỉ thấy ở chỗ sáng và không khuất lấp.  Pháp nhãn thấy các pháp thế gian, biết nhân này hợp với duyên kia sẽ sinh ra quả nọ. Tuệ nhãn thấy chân không. Phật nhãn thấy rõ thực tướng của các pháp như được ngàn mặt trời soi sáng.

Ngũ trược: Xem “Năm trược”

Nguyên khí:

  1. Khí căn bản, từ đó sinh ra khí trợ căn và khí chủ mệnh.
  2. Khí bất họai, vì khí này không bị huỷ diệt vào lúc chết, mà theo thần thức đi tái sinh.

Nguyên thần: Danh từ của Đạo gia dùng để chỉ Thần thức. Xem “Thần thức.”

Nguyện độ sinh: Lời nguyện của những người tu đạo Bồ tát, rằng sau khi đắc Đạo sẽ trở lại cõi này để cứu độ chúng sinh.

Nguyện vãng sinh: Nguyện sau khi chết sẽ được sinh về Cực Lạc.

Người không phải người: Người giả do quỉ, thần hóa hiện ra.

Nhãn giới: Con mắt, giới đầu tiên trong mười tám giới, gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức.

Nhân: Người.

Nhập thiền: Vào thiền.

Nhất niệm: Dùng ý thức để duy trì một tư tưởng duy nhất trong tâm, khác với vô niệm.

Nhất sinh bổ xứ bồ tát: Người sẽ thành Phật ở đời sau, như đức Di Lạc.

Nhất tâm: Nhất là một, tâm là lòng. Với người niệm Phật, nhất tâm là một lòng tưởng nhớ đến Phật, ngoài ra không thiết gì nữa.

Nhất thiết trí: Trí tuệ của Thinh văn, bậc thấy rõ các pháp đều vô thường và vô ngã. Xem chữ “Trí.”

Nhất thiết chủng trí: Trí tuệ của chư Phật. Xem “Trí.”

Nhị thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc nhị thiền. Nhị thiền thiên gồm ba tầng trời thứ tư, thứ năm và thứ sáu của cõi sắc. Xem “Cõi sắc”

Nhiếp thọ: Nhiếp là chụp bắt, là thu lại. Thọ là nhận lấy. Nhiếp thọ có nghiã là thu nhận.

Như Lai: Một danh hiệu của Phật,

Như Lai tạng: Kho tàng của Như Lai, tức là Chân như ở trong phiền não, có khả năng thâu nhiếp tất cả đạo pháp và công đức của Như Lai. Nếu ra khỏi phiền não thì gọi là Pháp thân.

Như Lai tạng tâm: Tâm thâu nhiếp tất cả giáo pháp và công đức của Như Lai.

Oai nghi: Cách đi, đứng, nằm và ngồi.

Ô trược: Dơ, bẩn.

Ơn: Xem “Bốn ơn”

Phá giới: Không giữ những điều cấm kỵ.

Phách: Vía. Xem  “Khí” hay “Mệnh căn”.

Phạm hạnh: Tư tưởng, lời nói và hành động trong sạch, xa lià dâm dục.

Pháp:

  1. Đối tượng nhận thức của ý căn, gọi là pháp trần.
  2. Lời Phật dậy, gọi là Phật pháp.
  3. Quy luật chi phối vạn vật, gọi là pháp luật.

Pháp bất diệt bất sinh: Xem chữ “Bất diệt bất sinh”

Pháp cúng dường: Tu theo lời Phật dậy để cúng dường. Khác với sự cúng dường là cúng hương, hoa, đèn, nến và vật dụng.

Pháp giới: Xem “Pháp giới hữu tình.”

Pháp giới hữu tình: Tất cả những loài có tình cảm, biết yêu, biết ghét, biết sướng, biết khổ ở trong vũ trụ.

Pháp mầu: Giáo pháp của đức Phật, vì nó rất mầu nhiệm.

Pháp nhẫn: Xem “Tam pháp nhẫn.”

Pháp tính: Bản thể của các pháp.

Pháp tọa:

  1. Chỗ Pháp sư ngồi để thuyết Pháp.
  2. Cái ghế, cái bục, cái ngai để Pháp sư ngồi thuyết Pháp.

Pháp thân:

  1. Thân chân thật của các pháp, cũng chính là thực tướng của vạn vật.
  2. Chân như ra khỏi phiền não, khác với Như Lai Tạng là Chân như ở trong phiền não, nên bị phiền não che phủ không lộ ra được.

Pháp thân đại sĩ: Bồ tát đã chứng Pháp thân.

Pháp thân Phật: Thực tướng của chư Phật, cũng gọi là Phật tính, Phật tri kiến.

Pháp thoại: Nói Pháp.

Pháp trần: Đối tượng nhận thức của ý căn, gồm sự vật, cảm giác, tư tưởng, học thuyết, lời nói và hành động.

Pháp Vương: Vua của các pháp, tức là đức Phật.

Phẩm hoa sen, phẩm sen: Xem “Chín phẩm hoa sen.”

Phân thân: Biến ra thành nhiều người y hệt như mình.

Phẫn (Bouderie): Giận hờn.

Phật bảo: Chư Phật, coi như ngôi báu thứ nhất của Phật giáo. Hai ngôi báu kia là Pháp bảo và Tăng bảo.

Phật tính:

  1. Phật là giác. Phật tính là tính giác sẵn có của chúng sinh. Xem “Chân tính.”
  2. Tính thấy biết hay cái thấy biết của Phật, cũng gọi là Phật tri kiến.

Phật thừa: Cỗ xe của Phật, tức là giáo pháp đưa chúng ta đến quả Phật.

Phiền não chướng:

  1. Sự ngăn che của tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v… Những phiền não này che mất chân tính và ngăn cản bước tiến của chúng ta.
  2. Những trở ngại do phiền não gây ra. Xem “Ba chướng”

Phiền não trược: Xem “Năm trược”

Phóng dật:

  1. Không siêng năng, khác với giải đãi là không cố gắng.
  2. Không lo làm việc hoặc tu học, mà chỉ ham chơi và thích nhàn thôi. Rồi vì ham chơi, nên thường thuận theo hoàn cảnh và vọng tưởng mà tạo tội.

Phúc đức: Phúc đức có hai nghiã, một là tất cả các việc lành, hai là lợi ích của những việc lành ấy. Muốn tích phúc, thì nên tu các tịnh nghiệp sau:

  1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự thầy cô, tu 10 thiện nghiệp.
  2. Thọ trì tam qui, đủ các giới cấm, không phạm oai nghi.
  3. Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác tu.

Quả Chính Giác: Quả Phật, cũng gọi là quả vô thượng Chính đẳng chính giác.

Quả vô thượng Chính đẳng chính giác: Quả Phật. Đắc quả vô thượng Chính Đẳng Chính Giác là thành Phật.

Quán: Quán có hai nghĩa là quán sát và quán tưởng.

Quán Phật: Kiên nhẫn quan sát một hình Phật hay một tượng Phật, mãi cho đến lúc nhắm mắt mà vẫn thấy hình tựơng ấy hiện ra rõ ràng như thực, gọi là đắc thô tướng. Thô tướng chỉ là một cái ảnh trung thực của hình tượng Phật ở trong tâm của hành gỉa, không hơn, không kém.

Tiếp tục quán sát thô tướng đã khởi được, mãi cho đến lúc tướng ấy phóng quang, chiếu khắp mừơi phương, gọi là đắc quang tướng. Quang tướng là sắc thân của Phật, rực rỡ, trong sạch, không một vết dơ, lại có thể tuỳ ý phóng lớn hay thu nhỏ lại được.

Quán sát: Xem xét kỹ lượng một người hay một vật để ghi nhớ hoặc tìm hiểu nó.

Quán tưởng:

  1. Visualiser: Tập trung tư tưởng vào một người, một vật hay một cảnh để làm cho người ấy, vật ấy hay cảnh ấy hiện ra ở trong tâm rõ ràng như thực. Thí dụ: Quán hình tượng Phật
  2. S’autosuggestionner: Giữ gìn một ý niệm ở trong tâm để khởi những tác dụng tự lợi hay lợi tha. Thí dụ: Quán thân bất tịnh.

Quán tưởng niệm Phật: Gồm 16 phép quán, được giảng giải ở trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật như sau:

  1. Quán mặt trời.
  2. Quán tưởng nước.
  3. Quán đất báu.
  4. Quán cây báu.
  5. Quán ao báu.
  6. Quán tổng tướng, gồm đất báu, cây báu, và ao báu ở trên Cực Lạc.
  7. Quán tòa sen.
  8. Quán hình tượng của Phật A Di Đà.
  9. Quán sắc thân của Phật A Di Đà.
  10. Quán sắc thân của bồ tát Quán Thế Âm.
  11. Quán sắc thân của bồ tát Đại Thế Chí.
  12. Quán mình được sinh vào sen báu, gọi là Quán phổ tướng.
  13. Quán thấy Tam Thánh hiện khắp mười phương để hoá độ chúng sinh, gọi là Quán tạp tướng.
  14. Quán thấy những người sinh về Thượng phẩm, gọi là Quán thượng bối.
  15. Quán thấy những người sinh về Trung phẩm, gọi là Quán trung bối.
  16. Quán thấy những người sinh về Hạ phẩm, gọi là Quán hạ bối.

Quảng độ: Cứu giúp một cách rộng rãi, không phân biệt giầu, nghèo, sang, hèn, trai, gái, già, trẻ, v.v..

Quảng tu cúng dường: Cúng dường một cách rộng rãi.

Quần sinh: Những sinh vật sống với nhau thành từng đoàn, từng nhóm.

Qui mạng:

  1. Đem thân, mạng của mình trao cho một người nào.
  2. Tin tưởng tuyệt đối vào một người hay một pháp nào đó.  

Qui y: Qui là trở về. Y là nương theo. Qui y là quay về để nương theo một người hay một khuôn mẫu nào đó.

  1. Qui y Phật là bỏ tà sư để quay về với Phật.
  2. Qui y Pháp là bỏ tà pháp để quay về với Chính pháp.
  3. Qui y tăng là bỏ bạn ác để quay về với chư tăng.

Sa môn: Thầy tu, người xuất gia.

Sát na: Một khoảng thời gian rất ngắn,

Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Sáu đường: Sáu nẻo.

Sáu nẻo: Sáu cảnh giới của Trời, Người, Thần, Súc vật, Ngạ quỉ và Địa ngục.

Sáu niệm: Sáu phép ghi nhớ, gồm:

  1. Niệm Phật, mà đặc biệt là niệm Phật A Di Đà.
  2. Niệm Pháp, mà đặc biệt là thường đọc một trong ba bộ kinh Tịnh Độ là Phật Thuyết Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ Phật và kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật..
  3. Niệm tăng là nhớ đức thanh tịnh của chư tăng.
  4. Niệm giới là nhớ những giới cấm mà mình đã thọ lãnh.
  5. Niệm thí là nhớ công đức của việc bố thí cúng dường.
  6. Niệm thiên là nhớ mười nghiệp thiện của chư thiên.

Sáu thức: Sáu sự hiểu biết của sáu căn về sáu trần:

  1. Nhãn thức: Sự hiểu biết về sắc của con mắt.
  2. Nhĩ thức: Sự hiểu biết về âm thanh của lỗ tai.
  3. Tỵ thức: Sự hiểu biết về hương của cái mũi.
  4. Thiệt thức: Sự hiểu biết về vị của cái lưỡi.
  5. Thân thức: Sự hiểu biết về xúc của thân thể.
  6. Ý thức: Sự hiểu biết về pháp của ý căn.

Sáu trần: Đối tượng nhận thức của sáu căn, gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp.

  1. Sắc: Hình sắc và mầu sắc, đối tượng nhận thức của con mắt.
  2. Thinh: Âm thanh, đối tượng nhận thức của lỗ tai.
  3. Hương: Mùi, đối tượng nhận thức của lỗ mũi, như thơm, thối v.v…
  4. Vị: Đối tượng nhận thức của cái lưỡi, như: đắng, cay, mặn, ngọt v.v…
  5. Xúc: Cảm xúc, đối tượng nhận thức của thân thể, như nóng, lạnh, đau, ngứa v.v…
  6. Pháp: Đối tượng nhận thức của ý căn, bao gồm sự vật, cảm giác, tư tưởng, học thuyết, hành động, lời nói v.v..

Sắc:

  1. Đối tượng nhận thức của con mắt, gồm hình sắc và mầu sắc.
  2. Sắc uẩn. Xem “Năm uẩn”

Sân: Nổi giận (Colère.)

Siêu Nhật Nguyệt Quang: Một trong 13 danh hiệu của Phật A Di Đà.

Siêu sinh Lạc quốc: Siêu là vượt qua. Siêu sinh Lạc quốc là vượt qua ba cõi, sinh về Cực Lạc.

Siêu thoát: Siêu là vượt qua. Thoát là ra khỏi. Siêu thoát có 2 cảnh giới cao và thấp. Thấp là ra khỏi tam đồ (ba đường ác), cao là ra khỏi tam giới (ba cõi.)

Song tu thiền tịnh: Vừa tu thiền vừa niệm Phật xin về Cực Lạc.

Sơ thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc sơ thiền. Sơ thiền thiên gồm 3 tầng trời đầu tiên của cõi sắc. Xem “Cõi sắc”

Sự cúng dường: Dùng nhang, đèn, hoa, quả, thức ăn để cúng dường. Khác với pháp cúng dường.

Ta Bà: Thế giới rộng lớn bao gồm 1.000.000.000 thái dương hệ, trong đó có trái đất của chúng ta.

Tà kiến: Nhận thức sai trái, như: Không tin tội phúc; Không tin nhân quả; Không tin luân hồi.

Tam Bảo: Ba ngôi báu của Phật giáo là Phật, Pháp và Tăng.

Tam đồ: Tam là ba. Đồ là đường. Tam đồ là ba đường ác, gồm súc sinh, ngạ quỉ và địa ngục.

Tam giới. Ba cõi. Xem “Ba cõi”

Tam giới tôn: Đức Phật, người được cả ba cõi kính nể.

Tam minh:

  1. Thiên nhãn minh, khả năng thấy được những vật ở xa, trong tối hay ẩn mật.
  2. Túc mệnh minh, khả năng biết được đời trước của mình và của chúng sinh.
  3. Lậu tận minh, khả năng đoạn trừ hết thẩy mọi thói xấu, mọi phiền não, mọi mê hoặc.

Tam pháp nhẫn: Ba pháp nhẫn.

  1. Âm hưởng nhẫn: Thản nhiên chấp nhận các lời khen, chê và những tiếng ồn ào xung quanh.
  2. Nhu thuận nhẫn: Thản nhiên thích ứng với mọi người, mọi cảnh.
  3. Vô sinh nhẫn: Đức nhẫn của những người đã nhận ra và sống với thực thể không sinh, không diệt của các pháp.

Tam qui: Qui y Phật, qui y Pháp và qui y tăng. Xem “Qui y”.

Tam thiên: Tam thiên thế giới, cũng gọi là tam thiên đại thiên thế giới, hay đại thiên thế giới. Xem “Đại thiên thế giới”

Tam thiên đại thiên thế giới: Một đại thiên thế giới, gồm 1.000.000.000 thái dương hệ và các cõi trời tương ứng. Xem “Đại thiên thế giới”

Tam thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc tam thiền. Tam thiền thiên gồm ba tầng trời thứ bẩy, thứ tám và thứ chín của cõi sắc. Xem “Cõi sắc”

Tám công đức: Tám công đức của nước ở Cực Lạc và nước ở trong tịnh bình của bồ tát Quán Thế Âm. Xem “Nước tám công đức.”

Tám chính đạo:

  1. Chính kiến là thấy rõ cuộc đời là vô thường và vô ngã. Nhưng trong cảnh vô thường và vô ngã ấy, chúng ta lại si mê, khởi lòng tham giận, không ngừng làm ác, để rồi phải chịu khổ báo.
  2. Chính tư là suy nghĩ theo chính Pháp, để đối trị tham lam, sân giận và si mê.
  3. Chính ngữ là không ba hoa, không ác miệng, không súi siểm và không nói dối.
  4. Chính nghiệp là không sát sinh, không trộm cắp và không tà dâm.
  5. Chính mệnh là chỉ sống bằng những nghề lương thiện không hại đến những chúng sinh khác.
  6. Chính tiến là cố gắng bỏ những tội ác đã phạm, tránh những tội ác chưa phạm, giữ những việc thiện đã làm và tập những việc thiện chưa làm.
  7. Chính niệm là ghi nhớ những hiện tượng đang xẩy ra ở nơi thân và tâm của chúng ta, để biết rõ chúng gồm những gì, sinh làm sao và diệt thế nào?
  8. Chính định là tập trung tâm trí vào một đối tượng mãi cho đến lúc đoạn hết phiền não, đắc quả La Hán.

Tám đức: Tám công đức của nước. Xem “Nước tám công đức.”

Tám giới, tám trai giới, tám giới trai: Xem “Bát quan trai giới”

Tám thức:

  1. Nhãn thức: Sự hiểu biết về hình sắc và mầu sắc của con mắt.
  2. Nhĩ thức: Sự hiểu biết về âm thanh của lỗ tai.
  3. Tỵ thức: Sự hiểu biết về mùi thơm hay hôi của lỗ mũi.
  4. Thiệt thức: Sự hiểu biết về các vị cay, đắng, mặn, ngọt v.v..của cái lưỡi.
  5. Thân thức: Sự hiểu biết về những cảm xúc nóng, lạnh, đau, ngứa v.v.. của thân thể.
  6. Ý thức: Sự hiểu biết về pháp trần của ý căn. Ý thức giữ vai trò cố vấn có nhiệm vụ giải thích hiện tượng, sác định nhu cầu, kiểm soát mọi sinh hoạt của chúng ta và đề nghị sửa sai nếu có.
  7. Mạt na thức: Thức thứ bẩy có nhiệm vụ điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta. Thức này còn được gọi là ý căn, truyền tống thức hay tư lượng thức.
  8. A lại da thức: Thức thứ tám có nhiệm vụ chứa đựng, gìn giữ căn thân và chủng tử của mọi sự, mọi vật, cùng các nghiệp lành và dữ của chúng ta. Thức này có rất nhiều chức năng, tuỳ theo những chức năng này, mà nó mang những tên khác nhau, như tạng thức, thần thức, nghiệp thức, hàm tàng thức, chủng tử thức, dị thục thức v.v…  

Tám trai giới: Xem “Bát quan trai giới”

Tán loạn (Dispersion): Suy nghĩ lung tung hết chuyện này đến chuyện khác, không tập trung được.

Tán tâm: Tâm tán loạn, không chuyên nhất.

Tán thán: Khen ngợi.

Tạng tâm hay Tạng thức. Thức thứ tám có nhiệm vụ giữ gìn căn thân và chủng tử của các pháp. Xem “Tám thức”

Tạp niệm: Nhớ đến nhiều chuyện khác nhau, chuyện nọ sen lộn chuyện kia, không đâu vào đâu.

Tăng diên: Xem “Diên.”

Tăng kỳ: Những người cùng tu một chùa. Của tăng kỳ là tài sản của nhà chùa.

Tâm: Tính dụng, tức là dụng của tính, được biểu lộ qua 4 dạng là thọ, tưởng, hành và thức.

Tâm bồ đề: Lòng bồ đề. Xem “Lòng bồ đề”

Tâm địa: Địa là nền tảng. Tâm địa là nền tảng của tâm.

Tâm khai: Tâm trí mở ra

Tâm sinh diệt (của chúng sinh): Tâm hay vọng động, hay thay đổi, lúc thế này, lúc thế nọ.

Tâm thường trụ (của chư Phật): Tâm không vọng động, không thay đổi, bao giờ cũng vậy.

Tây phương: Phương Tây, cũng có nghiã là cõi Cực Lạc ở phương Tây.

Tế hạnh: Cung cách thể hiện sự tế nhị và phạm hạnh của người tu.

Tiềm ẩn: Tiềm là chìm xuống. Ẩn là dấu đi. Tiềm ẩn là dấu đi, không đưa ra; là chìm xuống, không nổi lên.

Tiên đức: Những bậc có đức lớn ở đời trước.

Tiếp dẫn: Ý nói đức Phật hay Thánh chúng hiện đến trước mặt những người niệm Phật cầu vãng sinh, vào lúc họ chết, để đón thần thức của họ về Cực Lạc.

Tiêu phục: Tiêu là tiêu tan. Phục là ẩn dấu.

  1. Tiêu phục tam độc là làm tiêu tan ba thứ độc hại ẩn dấu ở nơi chúng ta, gồm tham, sân và si.
  2. Tiêu phục sáu căn là làm cho sáu căn tan biến vào chân tính.

Tiểu thiên thế giới: Tập hợp của 1000 thế giới và một nhị thiền thiên.

Tín hữu: Người có cùng niềm tin với chúng ta.

Tín thọ: Tin và nhớ.

Tính:

  1. Tâm thể, tức là thể của tâm. Xem “Chân tính”
  2. Đặc tính.

Tính không: Bản thể rỗng lặng của vạn vật, của các pháp.

Tịnh Độ:

  1. Xứ Phật, đặc biệt là thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây. Có 4 loại tịnh độ là: Thường tịch quang tịnh độ, Thực báo trang nghiêm độ, Phương tiện hữu dư độ và Thánh phàm đồng cư độ.
  2. Một tông phái của Phật giáo chuyên dậy đệ tử niệm Phật A Di Đà để cầu sinh Cực Lạc.

Tịnh hạnh: Hạnh trong sạch, xa lià dâm dục. Người tịnh hạnh: Người xa lià dâm dục.

Tịnh nghiệp:

  1. Nghiệp trong sạch. Những tịnh nghiệp căn bản là:
  1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự thầy cô, tu 10 thiện nghiệp.
  2. Thọ trì tam qui, đủ các giới cấm, không phạm oai nghi.
  3. Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác tu.
  1. Làm sạch ba nghiệp của thân, miệng và ý.

Tịnh nhân: Điều kiện thiết yếu để được sinh về Cực Lạc.

Tọa thiền: Ngồi thiền.

Tội ác: Xem  “Mười tội ác”

Tội nghịch: Xem “Năm tội nghịch”

Tội vô gián: Tội nặng, nếu lỡ phạm phải thì sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián. Năm tội nghịch cũng là tội vô gián.

Tôn pháp: Phật pháp, đáng được mọi người tôn trọng.

Tổng trì: Tổng là gồm vô lượng pháp môn. Trì là chứa vô lượng nghiã. Tổng trì nói chung là thần chú.

Tu Di : Ngọn núi lớn nhất của một thế giới.

Tu La hay a tu la: Thần, một trong sáu loại chúng  sinh còn bị luân hồi. Năm loại kia là trời, người, súc vật, ngạ quỉ và tội phạm ở các địa ngục.

Túc duyên: Duyên cũ.

Tụng niệm: Tụng là đọc. Niệm là nhớ. Tụng niệm là ôn lại những lời dậy bảo cùa Phật và gieo nó vào tâm thức, để chuyển hóa con người của chúng ta.

Tuỳ hỉ: Vui theo. Thấy người khác làm lành, mình vui theo.

: Nghĩ tới, nghĩ lui về một đối tượng để tìm hiểu hoặc giải thích nó.

Tư hoặc: Nghĩ sai, tức là nghĩ không hợp với Chính Pháp. Xem chữ “Hoặc.”

Tứ quả: Bốn cấp bậc của người tu hạnh Thinh văn là: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hoàn, A Na hàm và A La Hán.

  1. Tu Đà Hoàn dịch là Nhập lưu, nghiã là vào dòng Thánh. Người đoạn hết 88 phẩm kiến hoặc ở tam giới, gọi là đắc Tu Đà Hoàn quả. Nếu chưa đoạn đủ 88 phẩm thì gọi là Tu Đà Hoàn hướng. Tu Đà Hoàn cũng gọi là Thất lai, vì những người này còn phải trở lại Dục giới bẩy lần, để tiếp tục tu học.
  2. Tư Đà Hoàn dịch là Nhất lai, tức là còn phải sinh vào Dục giới một lần nữa. Người đọan được kiến hoặc và sáu phẩm đầu của tư hoặc, gọi là đắc Tư Đà Hoàn quả. Nếu chỉ đoạn được từ 1 đến 5 phẩm, thì gọi là Tư Đà Hoàn hướng.
  3. A Na Hàm dịch là Bất lai, nghiã là không còn sinh vào cõi Dục nữa. Người đoạn hết kiến hoặc và 9 phẩm tư hoặc ở Dục giới, gọi là đắc A Na Hàm quả.
  4. A La Hán dịch là Vô sinh nghĩa là nhập vào Niết Bàn, không còn phân đoạn sinh tử nữa. Người đoạn hết kiến hoặc và 81 phẩm tư hoặc ở tam giới, gọi là đắc A La Hán quả.   

Tứ sinh: Bốn loại chúng sinh.

  1. Thai sinh: Loài sinh ra từ bào thai.
  2. Noãn sinh: Loài sinh ra từ quả trứng.
  3. Thấp sinh: Loài sinh ra ở chỗ ẩm.
  4. Hóa sinh: Loài sinh ra bằng cách thay hình, đổi dạng. Thí dụ: Con tằm biến thành con bướm.

Tứ Thiền thiên: Cảnh giới của những người đắc tứ thiền:

  1. Không kể Bất Hoàn thiên, thì trời Tứ Thiền có 4 cảnh là: Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
  2. Kể cả Bất Hoàn thiên, thì trời Tứ Thiền gồm 9 cảnh là: Vô Vân thiên, Phúc Sinh thiên, Quảng Quả thiên, Vô Tưởng thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên và Sắc Cứu Cánh thiên.

(Xem: Cõi Sắc)

Tướng hảo: Tướng là 32 vẻ đẹp chính của thân Phật. Hảo là 80 vẻ đẹp phụ của thân Phật. Tướng hảo bao gồm tất cả 112 vẻ đẹp của thân Phật.

Tướng không: Tướng của các pháp ở trạng thái tịch diệt, khác với tướng có của chúng trong lúc hiện hành. Vì tất cả các pháp đều là huyễn hoá do tâm mình vọng động mà hiện ra, cũng như những lớp sóng nhấp nhô trên biển cả. Khi biển động thì hiện tướng có, có sóng. Lúc biển lặng thì hiện tướng không, không sóng. Tướng không của các sóng là mặt biển yên lặng, còn tướng không của các pháp là tâm không vọng động của chúng ta.

Tưởng: Mường tượng ra hình này, vật nọ và các danh hiệu để gọi chúng. Tưởng có ba loại là:

  1. Ức tưởng: Nhớ chuyện quá khứ.
  2. Thức tưởng: Biết việc hiện tại.
  3. Tập tưởng: Dự liệu tương lai.

Tưởng uẩn: Xem: “Năm uẩn”

Tỳ kheo ni: Người đàn bà tu theo Phật, cũng gọi là bà vãi.

Tỳ kheo tăng: Người đàn ông tu theo Phật, cũng gọi là ông sư.

Thai sinh: Xem “Tứ sinh”

Thái dương hệ: Tập hợp của

  1. Một núi Tu Di,
  2. Một mặt trời,
  3. Một mặt trăng,
  4. Một cõi Dục,  
  5. Một Sơ Thiền thiên của cõi Sắc.

Mỗi thái dương hệ là một thế giới. Chủ của thế giới là ngài Phạm Ma, cũng gọi là Đại Phạm Thiên Vương.

Tham cứu niệm Phật: Vừa niệm Phật, vừa suy nghĩ xem ai đang niệm Phật.

Tham vấn: Thăm hỏi. Đến thăm một Pháp sư hay một Thiền sư để hỏi Đạo.

Thanh tịnh: Thanh là trong trẻo. Tịnh là sạch sẽ. Thanh tịnh là trong sạch, không còn phiền não nữa.

Thắng nhân: Thắng là cao siêu. Thắng nhân là cái nhân cao siêu để được sinh về Cực Lạc hoặc để tu thành Phật.

Thâm trọng tâm: Xem “Ba thứ tâm”

Thân trung ấm: Thân của chúng sinh kể từ khi về trung giới cho đến lúc được tái sinh vào một trong sáu đường. Thân mà một chúng sinh bỏ lại vào lúc chết, gọi là tử ấm. Thân mà nó sẽ có khi tái sinh, gọi là sinh ấm. Giữa tử ấm và sinh ấm có trung ấm. Có hai loại thân trung ấm:

  1. Thân trung ấm trong giai đoạn trung ấm pháp tính là thân ý sinh, làm bằng thánh chất.
  2. Thân trung ấm trong giai đọan trung ấm tái sinh là thân tư dục làm bằng thần chất.

Thân trung ấm của con người có hình người. Nhưng nếu người ấy bị đọa vào loài thú thì thân ấy sẽ chuyển từ hình người sang hình thú trước khi tái sinh.

Thần: A tu la. Xem chữ “A tu la” hay “Tu la”

Thần thức: Thức thứ tám, thức này có rất nhiều tên, đặc biệt là:

  1. Kiết sinh thức có nhiệm vụ tiếp nối sinh tử, từ đời này qua đời khác. Người bình dân gọi là linh hồn. Đạo gia gọi là nguyên thần.
  2. Thức căn bản, từ đó sinh ra sáu thức đầu (gọi là tình thức) và thức thứ bẩy (gọi là ý căn).

Thấp sinh: Xem “Tứ sinh”

Thập niệm: Mười niệm. Mười câu Phật hiệu.

Thất: Cái phòng, cái chòi, cái hang, cái động, nơi thầy tu ở riêng biệt một mình để tập thiền quán. Nhập thất là vào cái phòng ấy, cái chói ấy, cái hang ấy hay cái động ấy để tập thiền quán.

Thất bảo: Bẩy thứ trân quí là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu và mã não,

Thất niệm(Distraction): Không nhớ, không nghĩ đến đối tượng tu học mà lại nhớ hoặc nghĩ đến một pháp khác.

Thất tổ: Tổ là những đời trước ông, bà của mình. Thất tổ là bẩy đời tính từ cụ trở lên.

Thế giới: Thái dương hệ. Mỗi thái dương hệ là một thế giới. 1000 thế giới họp thành một tiểu thiên thế giới. 1000 tiểu thiên thế giới họp thành một trung thiên thế giới. 1000 trung thiên thế giới họp thành một đại thiên thế giới. (Xem: Thái dương hệ, Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới.)

Thể: Xem “Bốn thể”

Thệ lực: Sức mạnh của lời thề.

Thị giả: Người hầu cận.

Thích Đề Hoàn Nhân: Chủ của 33 cung trời trên đỉnh núi Tu Di. Thích Đề Hoàn Nhân cũng có tên là Đế Thích và Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Thiên: Trời. Tiên ở trên trời.

Thiên nhãn: Mắt trời, mắt của ông trời là khả năng nhìn thấy thiên đường, địa ngục, những vật ở xa, ẩn mật hay trong tối.

Thiện căn:

  1. Gốc rễ của mọi việc lành, tức là tâm bồ đề. Còn các pháp như bố thí, giữ giới, tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tham thiền đều là phúc đức hay công đức giúp cho tâm ấy tăng trưởng.
  2. Những tâm sở thiện căn bản từ đó sinh ra những nghiệp thiện. Năm thiện căn chính là tín, tấn, niệm, định và tuệ.

Thiện nam tử:

  1. Người con trai thích làm những việc lành và  tránh các hạnh ác.
  2. Người con trai, khi nghe nói đến Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc ở phương Tây, liền phát lòng tin và niệm danh hiệu Phật cầu sinh Cực Lạc.

Thiện nữ nhân:

  1. Người con gái thích làm nhũng việc lành và tránh các hạnh ác.
  2. Người con gái, khi nghe nói đến Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc ở phương Tây, liền phát lòng tin và niệm danh hiệu Phật cầu sinh Cực Lạc.

Thiện tri thức: Thiện là tốt lành. Tri là nghe tên, hiểu tính. Thức là biết mặt, thấy hình. Thiện tri thức là những người quen biết, hiểu tính tình, sở thích và khả năng của chúng ta, lại có lòng tốt muốn giúp đỡ cho. Có ba loại thiện tri thức:

  1. Ngoại hộ thiện tri thức: Những người cúng dường hoặc hỗ trợ chúng ta.
  2. Đồng hạnh thiện tri thức: Những bạn cùng tu, thường nhắc nhở và khuyến tấn lẫn nhau.
  3. Giáo thọ thiện tri thức: Bậc thầy chỉ đạo và hướng dẫn chúng ta.

Thinh văn: Người theo Phật, nghe Pháp, đặc biệt là pháp Bốn Diệu Đế, rồi theo đó tu hành, nhằm diệt phiền não để vào Niết Bàn.

Thọ: Cảm giác, gồm năm loại là

  1. Sướng,
  2. Khổ,
  3. Vui,
  4. Buồn
  5. Xả (xả là không sướng, không khổ, không vui cũng không buồn.)

Thọ giới: Nhận và hứa giữ một hay nhiều giới cấm của Phật.

Thọ ký: Nói cho biết trước rằng một người nào đó sẽ thành Phật, vào lúc nào, ở nơi đâu và tên là gì?

Thọ trì: Thọ là nhận lãnh. Trì là giữ gìn. Thọ trì là tin và nhớ.

Thọ uẩn: Xem “Năm uẩn.”

Thoát hoá: Bỏ xác thân bằng sương bằng thịt ở Ta Bà để sinh về Cực Lạc.

Thụ trì: Xem “Thọ trì.”

Thuận duyên: Xem chữ “Duyên”

Thừa: Cái xe. Đức Phật ví giáo pháp của ngài như cái xe:

  1. Tiểu thừa là xe nhỏ chỉ chở được một mình hành giả. Đó là pháp thinh văn dẫn đến quả La Hán.
  2. Trung thừa là xe vừa, tức là pháp duyên giác dẫn đến quả Bích Chi.
  3. Đại thừa là xe lớn có thể chở được nhiều người. Đó là pháp bồ tát dẫn đến quả Chính giác.

Thức: Khả năng phân biệt trần cảnh và chứa nhóm thân căn cùng hạt giống của các pháp.

Thức uẩn: Xem “Năm uẩn”

Thực tướng: Tướng chân thực của vạn vật, của các pháp.

Thường trụ: Còn hoài. Của thường trụ là tài sản của nhà chùa. Sở dĩ gọi là thường trụ vì những thứ này không thể đem bán hoặc rời chỗ.

Thượng căn: Chỉ người sáng suốt và lanh lợi, mau hiểu đạo lý, lại khéo thực hành.

Thượng thiện nhân: Những người rất tốt, ý nói chư Phật và bồ tát.

Trai giới: Giới thanh tịnh. Xem “Bát quan trai giới”

Trai tăng: Cúng dường chư tăng, ni.

Trạo cử: Trạng thái giao động của tâm (agitation) mà đặc biệt là lo lắng (souci.)

Trần:

  1. Bụi bậm.
  2. Đối tượng nhận thức của mỗi căn. Xem “Sáu trần”.

Trần ai: Trần là bụi bậm. Ai là đau thương. Trần ai là cuộc đời đầy đau thương.

Trần cảnh: Xem “Sáu trần”

Trần sa hoặc: Xem “Hoặc”

Trí: Trí tuệ. Có ba loại trí tuệ là:

  1. Nhất thế trí: Trí tuệ của hàng Thinh văn, cũng gọi là Nhất thiết trí. Nhất thế trí là trí biết rõ hình, tướng, tên, tuổi, nhân, quả và nhất là hai tính vô thường và vô ngã cuả vạn vật.
  2. Đạo chủng trí: Trí tuệ của bậc Bồ tát, cũng gọi là Chủng trí. Đạo chủng trí là trí biết rõ đạo pháp của Như Lai và chủng tử của muôn loài.
  3. Nhất thế chủng trí: Trí tuệ của đức Như Lai, đôi khi cũng được gọi tắt là Nhất thế trí hay Nhất thiết trí. Nhất thế chủng trí là trí biết rõ mọi sự, mọi vật và thể tính của chúng.

Trí giả: Người có trí tuệ. Người sáng suốt.

Trì danh niệm Phật: Nhớ đến Phật bằng cách nhắc đi, nhắc lại tên Ngài.

Trì giới: Giữ gìn lời răn của chư Phật.

Trợ niệm: Giúp một người ốm nặng hay hấp hối niệm Phật cầu sinh Cực Lạc.

Trung ấm: Xem “Thân trung ấm”

Trung ấm lâm chung: Xem “Chết”

Trung ấm Pháp tính: Xem “Chết”

Trung ấm tái sinh: Xem “Chết”

Trung giới: Nơi vong linh tạm trú để chờ đi tái sinh.

Trung quốc: Nơi có Phật pháp lưu hành, trái với biên địa là nơi không có Phật pháp.

Trung thiên thế giới: Tập hợp của 1000 tiểu thiên thế giới và một tam thiền thiên.

Trược: Nhơ nhớp. Xem “Năm trược”

U đồ: Đường tối, chỗ tối tăm, đặc biệt là cảnh giới của Ngạ quỉ và địa ngục.

Uẩn:

  1. Tích tụ, tức là cùng loại thì hợp lại với nhau thành từng nhóm. Mỗi nhóm gọi là một uẩn. Năm uẩn cấu tạo nên con người và cảnh vật xung quanh là: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Xem “Năm uẩn”
  2. Uẩn cũng được gọi là ấm. Ấm là che đậy. Gọi là che đậy vì khi năm ấm này khởi lên, thì chúng liền che mất chân tính của chúng ta.

Ức: Mười triệu (10.000.000).

Vạn: Mười ngàn. (10.000)

Vãng sinh: Sinh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.

Vi trần:  Bụi nhỏ.

Viên âm: Tiếng nói của chư Phật mà chúng ta có thể nghe được từ rất xa, và dù xa hay gần chúng ta vẫn nghe được nó với cùng một cường độ, chứ không phải như tiếng nói của người thường, ở gần thì nghe rõ, ở xa thì không nghe.

Vong linh: Vong là chết. Linh là hồn. Với người bình dân, vong linh là hồn của người chết. Còn với Phật tử, khi chúng ta chết đi, thần thức của chúng ta lìa sẽ bỏ thể xác, vào Trung giới và có một cái thân mới rất đặc biệt, gọi là thân trung ấm. Trong thời gian mang thân trung ấm, chúng ta không còn là người nữa, mà đã biến thành vong linh.  

Vọng niệm: Vọng là viễn vông, là hão huyền, là sai trái, là không đúng sự thực, là không hợp Chính pháp. Vọng niệm là nhớ sai, là nhớ những chuyện viễn vông, không đúng sự thực, hoặc không hợp chính Pháp.

Vọng nghìệp: Hành động, lời nói hay tư tưởng sai trái, không hợp với Chính Pháp.

Vọng tưởng: Tưởng là mường tượng ra, là hình dung ra, là tự nghĩ ra. Vọng tưởng là nghĩ sai, nghĩ quấy, không hợp chính Pháp. Thí dụ: Trong lúc niệm Phật, đột nhiên nhớ đến một người bạn cũ (vọng niệm). Rồi suốt sáng đó,cứ suy nghĩ vẩn vơ (vọng tưởng) không tập trung được.

Vô học: Không học, không còn gì để học nữa.

Vô Lượng: Vô số. Rất rất nhiều, nhiều vô cùng

Vô Lượng Quang: Vô số anh sáng. Phật Vô Lượng Quang là Phật A Di Đà, vì hào quang của Ngài chiếu khắp mười phương.

Vô Lượng Thọ: Sống lâu vô cùng. Phật Vô Lượng Thọ là Phật A Di Đà vì Ngài sống lâu vô lượng, vô biên, a tăng kỳ kiếp.

Vô minh: Không sáng suốt.

Vô minh hoặc: Xem “Hoặc”

Vô niệm:

  1. Trạng thái của tâm, khi niệm trước đã diệt, niệm sau chưa sinh.
  2. Nói người tu tịnh độ, tuy không khởi tâm niệm Phật, nhưng Phật hiệu vẫn không ngừng vang dội trong tâm.

Vô ngã: Không có thực thể riêng biệt trong không gian.

Vô sinh : A La Hán là bậc thánh đã thoát ly sinh tử.

Vô sinh pháp nhẫn hay vô sinh nhẫn: Đức nhẫn của những người thường an trú nơi thực thể không sinh, không diệt của các pháp. Xem “Tam pháp nhẫn.”

Vô tác: Xem vô vi.

Vô thường: Không có thực thể vĩnh cửu trong thời gian.

Vô thượng Chính đẳng chính giác: Xem những chữ “Đạo vô thượng Chính đẳng chính giác” hay “Quả vô thượng Chính đẳng chính giác”

Vô Trước: Một thánh tăng Ấn Độ, sống vào thế kỷ thứ tư, chuyên tu môn Quán Di Lạc Bồ Tát, với hy vọng sẽ thấy bồ tát và được ngài chỉ giáo cho.

Theo Tạng Thư Sống Chết của Sogyal Rimpoche thì sau 6 năm gia công ráo riết, thầy vẫn không thấy một điềm lành nào. Qúa thất vọng, thầy bỏ thất, xuống núi.

Đi chưa được bao xa, thầy trông thấy một người đang dùng giải lụa để mài một thỏi sắt. Thầy đến gần và hỏi:

  • Ông làm gì đó?
  • Tôi mài thỏi sắt này để làm một cây kim.

Nghe như vậy, thầy kinh ngạc, nghĩ: “Người này phải khổ nhọc để làm một chuyện phi lý như vậy. Còn ta đang tu một pháp môn thực sự có giá trị tâm linh, vậy mà ta lại không chuyên tâm được như hắn. Thôi, hãy trở lại tiếp tục nhập thất!”

Ba năm nữa trôi qua, vẫn không có một dấu hiệu nào về Bồ tát Di Lạc, nên thầy nản chí và nghĩ: “Ta biết mình sẽ không bao giờ thành công được!”

Rồi, thầy lại rời thất thêm một lần nữa.

Trên đường về, thầy thấy một tảng đá rất lớn và dưới chân tảng đá ấy, có một người đang cầm một cái lông chim để trà nó. Thầy bèn dừng chân và hỏi:

  • Ông đang làm gì đó?
  • Tảng đá này lớn quá, ngăn ánh sáng mặt trời chiếu vào nhà tôi. Vì vậy, tôi phải mài cho nó mòn bớt đi.”

Thầy Vô Trước ngỡ ngàng về câu trả lời của người ấy và hổ thẹn, vì thầy không có được niềm tin và nghị lực như hắn. Thầy liền quay trở lại, tiếp tục nhập thất.

Thêm 3 năm nữa trôi qua mà vẫn không có một giấc mơ tốt nào! Thầy mới nghĩ: “Lần này, ta sẽ xuống núi và không bao giờ trở lại nữa!”

Đi trọn một ngày, đến xế chiều, thầy gặp một con chó nằm bên đường. Nó chỉ còn hai chân trước, phần thân sau đã thối rữa và đầy bọ chét. Mặc dù đang trong tình trạng thảm thương như vậy, nhưng nó vẫn không ngừng sủa người qua đường và cố lết tới cắn họ.

Động lòng thương sót, thầy bèn cắt một miếng thịt nơi thân mình cho chó ăn và cúi xuống bắt bọ chét. Nhưng thầy lại nghĩ: “Nếu ta dùng tay bắt bọ thì con chó này sẽ đau đớn vô cùng. Chi bằng ta hãy dùng lưỡi mà đẩy chúng ra.”

Rồi, thầy bèn quỳ xuống đất, hướng về đóng thịt thối ghê tởm, nhắm mắt, lè lưỡi, cúi đầu… Cúi đầu cho đến khi cái lưỡi của thầy chạm vào đất. Thầy mở mắt nhìn lên thì con chó đã biến mất và bồ tát Di Lạc trong hào quang chói lọi đang ở trước mặt thầy. Thầy mừng rỡ reo lên:

  • Tại sao mãi đến bây giờ Ngài mới chịu hiện ra?
  • Ngay từ khi con khởi công tu quán thì ta đã luôn ở bên con, nhưng vì nghiệp chướng ngăn che, nên con mới không thấy ta!

Công đức khổ tu nhiều năm của con chỉ làm tiêu hao được một ít nghiệp chướng, nhưng chính lòng bi mẫn chân thành trong giây lát của con đã hóa giải tất cả nghiệp chướng còn lại, để con có thể thấy ta! Nếu không tin, con hãy cõng ta vào chợ và hỏi xem có ai thấy ta không?

Thầy Vô Trước cõng đức Di Lạc vào chợ và hỏi mọi người:

  • Bác có thấy cái gì ở trên vai tôi không?

Phần đông đều nói:

  • Có gì đâu!

Chỉ có một bà già trả lời:

  • Thầy đang cõng một con chó chết, thối tha trên vai.

Cuối cùng, thầy Vô Trước mới hiểu, có cầu tất có ứng, nhưng phải trừ hết nghịch duyên thì mới hưởng được cái mình cầu xin.

Vô vi: Vô vi không có nghĩa là không làm gì cả, mà là phải chấp nhận mọi người, mọi vật tốt cũng như xấu, để tâm thể được sáng suốt, tậm dụng được nhậy bén, hầu có thể thấy rõ và làm được những việc lợi ích cho mình và cho vô lượng chúng sinh.

Xả:

  1. Buông bỏ.
  2. Thản nhiên trước mọi sự, mọi vật, không yêu, không ghét, không sướng, không khổ, không vui cũng không buồn.

Xả thiền: Ra khỏi trạng thái thiền định.

Xuất tướng: Khả năng của một danh hiệu Phật, của một câu thần chú hay của một bài kinh làm hiện ra ở trong mộng, hoặc ở ngoài đời hình này, cảnh nọ để trợ giúp hành giả..

Xúc: Đối tượng nhận thức của thân thể, như: Nặng, nhẹ, nóng, lạnh, đói, khát, đau, nhức v.v..

Xử sự: Đối phó với một biến cố, một hoàn cảnh.

Ý căn: Căn thứ sáu, năm căn kia là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Ý căn còn có những tên sau:

  1. Tư lượng thức: Thức thứ bẩy có nhiệm vụ quyết định và điều hành mọi sinh hoạt của chúng ta.
  2. Truyền tống thức: Thức thứ bẩy có nhiệm vụ đưa hiện thực của sáu thức đầu vào tạng tâm để gây hạt giống và lấy hạt giống từ tạng tâm ra sáu thức đầu để tạo hiện thực.
  3. Chấp trước thức: Thức thứ bẩy có hai tật xấu: Một là chấp ngã, tức là chấp có mình. Hai là chấp pháp, tức là chấp có thế giới của mình.

Ý thức: Thức thứ sáu có nhiệm vụ giải thích hiện tượng, sác định nhu cầu và đề nghị cách giải quyết.

Ý thức giới: Ý thức, giới cuối cùng của mười tám giới, gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.