Tịnh Độ Thập Nghi Luận Giảng Ký
凈土十疑論講記
Đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả đại sư thuyết
Pháp sư Trí Viên giảng giải
隋天台智者大師說
智圓法師講解
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Nguồn: Di Đà Nguyện Hải

Vài nét về pháp sư Trí Viên

          Pháp sư Trí Viên là dịch nghĩa tiếng Hán của danh xưng Khenpo1 Yeshe Phuntosk Rinpoche (người Hoa thường phiên âm là Kham Bố Ích Tây Bành Thố Nhân Ba Thiết, Kān Bù Yì Xī Péng Cuò Rén Bō Qiè). Sư sinh năm 1971, nguyên quán ở làng Tông Khoa, huyện Nhưỡng Đường (Zamtang), châu A Bả (Ngawa), tỉnh Tứ Xuyên. Sư vốn là người Tây Tạng. Từ năm 1978 đến năm 1983, vừa theo học Tiểu Học, Sư đã dành nhiều công sức để học các văn bản truyền thống của Tây Tạng. Năm 1985, Sư xin vào trường Trung Học Văn Hóa Tây Tạng tại tỉnh Tứ Xuyên. Từ năm 1986, Sư theo học Phật pháp (Hiển Giáo và Mật Giáo) với thượng sư Pháp Vương Như Ý Bảo Tấn Mỹ Bành Thố (Jigme Phuntsok) của Lạt Dung Ngũ Minh Phật Học Viện (Larung Ngarik Nangten Lopling) thuộc dòng Cổ Mật (Ninh Mã phái, Nyingmapa) tại huyện Sắc Đạt (Sertha) tỉnh Cam Túc. Sau khi được công nhận là Khenpo, Sư chuyên trách giáo vụ tại Phật Học Viện này, chú trọng bồi dưỡng Tăng tài theo hệ thống truyền thừa Phật giáo Tây Tạng suốt chín năm. Từ năm 1996, Sư vâng lệnh ngài Tấn Mỹ Bành Thố chuyên giảng pháp cho các tự viện nói tiếng Hán tại Trung Hoa. Tuy xuất thân từ Mật Tông, Sư đặc biệt yêu thích Tịnh Độ, và giảng diễn rất nhiều kinh sách Đại Thừa, đặc biệt là các kinh sách thuộc hệ thống Bát Nhã và Tịnh Độ. Điều lý thú là khi giảng về pháp môn Tịnh Độ, Sư hoàn toàn dựa theo Tịnh Độ Ngũ Kinh, chứ không hề chú trọng cách tu Tịnh Độ bằng phương tiện quán tưởng và trì chú như trong truyền thống Mật Tông Tây Tạng.

Lời mở đầu

          Tịnh Độ Thập Nghi Luận được tán dương là “Đông Độ đệ nhất Tịnh Độ luận điển” (bộ luận bậc nhất về Tịnh Độ của Đông Độ) là do có nguyên nhân sâu xa. Trí Giả đại sư thấu hiểu thông suốt cương tông của đại đạo Tịnh Độ, biết đường lối để chúng sanh đạt được lợi ích to lớn “vãng sanh, đạt được thành tựu”, lợi ích do vãng sanh, và tướng đại duyên khởi của pháp môn. Do đó, Ngài dốc sức bài trừ những nỗi nghi hoặc đã tồn tại lâu dài trong lòng người từ trước đến nay. Những nỗi nghi hoặc ấy như: Có kẻ ngờ vực tiến trình theo thứ tự trên đường Bồ Đề, có kẻ ngờ vực chỗ bất đồng giữa các pháp môn theo lối thông thường [và pháp môn Tịnh Độ], có kẻ nghi hoặc giữa sự chuyên tu và phổ tu (tu theo đường lối chung, thông thường, tu phổ quát), có kẻ ngờ phàm phu có thể vãng sanh hay không, làm thế nào để vãng sanh v.v… Do bộ luận này [mà người đọc] giống như nhà tối ngàn năm bỗng được ánh nắng chiếu vào, cũng như người ngồi tàu thủy sẽ nhanh chóng đạt đến chỗ đáng tin2. Những điều ấy đều là do chính sức lực của đại sư tạo nên. Chúng ta học tập bộ luận này, sẽ phát hiện: Mỗi chỗ đều đủ sức đoạn nghi, sanh tín, trọn đủ rốt ráo những luận thuyết chánh đáng đầy sức thuyết phục. Sau khi đã phá trừ mười mối nghi, những mối nghi vốn cao ngất trong tâm đều triệt để sụp đổ; từ đó, sẽ thấy rõ đại đạo Tịnh Độ, kiến lập cơ sở tín nguyện trong tâm. Vì thế, đây là giáo điển căn bản của Tịnh Độ vậy.

Lược truyện Trí Giả đại sư

          Đại sư có pháp danh là Trí Khải3, là tổ sư khai tông của tông Thiên Thai, được cõi đời xưng tụng là Thiên Thai Đại Sư. Họ ngoài đời là Trần, cha Ngài là Ích Dương Hầu4 dưới triều Lương, mẹ họ Từ. Khi đó, mẹ Ngài mộng thấy khói hương ngũ sắc quẩn quanh vùng bụng, toan gạt bỏ đi, bỗng nghe có tiếng nói: “Nhân duyên đời trước ký thác nơi vương đạo, do phước đức tự nhiên mà đến, làm sao có thể gạt bỏ cho được?” Mẹ Ngài lại mộng thấy nuốt con chuột trắng. Đôi ba lượt [nằm mộng] như thế, bà cảm thấy rất lạ lùng, liền đi xem bói. Thầy bói bảo: “Đây là điềm rồng trắng”. Tối hôm đại sư đản sanh, trong phòng là một vầng sáng ngời, liên tiếp suốt hai đêm [như vậy], quang minh mới ẩn mất.

          Mắt đại sư có hai tròng, lông mi chia thành tám màu, có trọn đủ tướng linh dị giống như bậc thánh nhân thời cổ là Đường Nghiêu và Đại Thuấn. Trong ngoài gia đình đều rất hoan hỷ, bày yến tiệc lớn để ăn mừng. Bỗng có hai vị tăng nhân gõ cửa, nói: “Lành thay! Đứa trẻ có công đức sâu nặng như vậy nhất định sẽ xuất gia”. Nói xong, biến mất. Khách khứa đến dự tiệc đều lấy làm lạ. Bà Từ nhớ lại điềm lành khi trước, bèn đặt tên cho đại sư là Vương Đạo. Lại vì sau đó, tướng quang minh hiện đầy nhà, nên gọi là Quang Đạo. Do vậy, thuở bé, đại sư có hai tên gọi là Vương Đạo và Quang Đạo.

          Thuở bé, khi nằm trên giường, đại sư nhất định chắp tay; hễ ngồi dậy, nhất định sẽ ngoảnh mặt về phương Tây. Cho đến khi lớn hơn đôi chút, miệng chẳng ăn tạp loạn. Hễ trông thấy thánh tượng bèn lễ bái, gặp gỡ tăng nhân nhất định sẽ cung kính. Lúc bảy tuổi, Ngài thích đến chỗ thanh tĩnh trong chốn già-lam, các tăng nhân đều kinh ngạc trước tâm ý và chí hướng của Ngài, bèn dạy truyền khẩu phẩm Phổ Môn. Họ vừa nói xong một lượt, Ngài đã có thể ghi nhớ.

          Mười bảy tuổi, Ngài phát thệ làm sa-môn, mười tám tuổi xuất gia, hai mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới, tinh thông Luật Tạng. Sư lại còn thường thích trụ trong Thiền duyệt. Theo Pháp Hoa Kinh Truyện Ký ghi chép, sau khi tròn hai mươi ba tuổi, đại sư theo học với thiền sư Huệ Tư ở núi Đại Tô tại Quang Châu. Thiền sư Huệ Tư thường cảm thán: “Xưa kia, trong hội Linh Sơn, chúng ta cùng nghe kinh Pháp Hoa, do túc duyên theo đuổi, nay lại tìm đến”. Sư liền chỉ dạy Phổ Hiền Hành Pháp, tuyên nói Tứ An Lạc Xứ Hạnh. Trí Giả đại sư ở trên núi ấy tu hành Pháp Hoa tam-muội, mới trải qua ba buổi tối, tụng phẩm Dược Vương [trong kinh Pháp Hoa], tâm duyên theo khổ hạnh [của Dược Vương Bồ Tát], đến câu “thị chân tinh tấn” (là tinh tấn thật sự), Ngài liền sanh khởi sự giải ngộ, thấy chính mình và thiền sư Huệ Tư ở trong Tịnh Độ thất bảo trên núi Linh Thứu, cùng với tám vạn vị Bồ Tát, một vạn hai ngàn vị Thanh Văn, cùng nhau nghe đức Phật thuyết pháp. Do vậy, thiền sư Huệ Tư nói: “Chẳng phải là ngươi không thể cảm, chẳng phải là ta không thể biết. Đấy là tiền phương tiện của Pháp Hoa tam-muội”.

          Trong phần chú thích của sách ấy (Pháp Hoa Kinh Truyện Ký) có chép: “Đạo Tuyên luật tổ (tổ sư Nam Sơn Luật Tông là ngài Đạo Tuyên) đã từng hỏi một vị trời: ‘Thiền sư Huệ Tư đời Trần và Trí Giả đại sư đời Tùy, công đức siêu quần, thuở trước đã từng cùng nhau nghe kinh Pháp Hoa trong hội Linh Sơn, chẳng biết xưa kia các Ngài là ai? Các Ngài cũng đều nói kinh pháp xứng hợp tâm ý của đức Phật hay chăng?’ Vị trời ấy đáp: – Các vị ấy vốn đềlà cổ Phật, hóa hiện làm bậc thánh nhân đến du hóa khắp nơi. Thiền sư Huệ Tư là Quán Thế Âm Bồ Tát, trong phẩm Phổ Môn có nói về công đức của Ngài. Trí Giả đại sư là Dược Vương Bồ Tát, đã xuất hiện nơi cõi đời trong thời Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật. Thuở ấy, Ngài đã nhanh chóng xả thân để cúng dường pháp. Phẩm Dược Vương trong kinh Pháp Hoa đã nói về sự tu hành của Ngài. Các Ngài không chỉ hoằng dương kinh pháp trong hiện thời, mà còn trong thuở lâu xa trước kia, đã giảng kinh Pháp Hoa khi đức Phật diệt độ. [Giảng dạy như vậy] suốt thời một ngàn vị Phật ra đời trong quá khứ, cho đến thời ba vị Phật xuất thế trong Hiền Kiếp, đều giống như hiện thời. Các Ngài khế hội rất sâu yếu chỉ trong kinh pháp của đức Phật”.

          Sau đó, đại sư lại đến núi Bạch Sa ở Tây Châu, nhập Quán giống như trên đây. Hễ xem kinh văn mà có chỗ nào nghi hoặc, liền thấy thiền sư Huệ Tư ở trong cảnh giới bí mật giải thích. Thuở ấy, thiền sư Huệ Tư thường sai Trí Giả đại sư thay mình giảng giải kinh luận, còn chính mình thì cầm cành như ý xem, nghe. Huệ Tư đại sư bảo các học trò: “Đây là ý nhi của ta, chỉ hận là nó còn thiếu định lực” (nghĩa là trí huệ của Huệ Tư đại sư đã truyền sang tâm Trí Giả đại sư). Lại nói, sau khi học thành tài, Trí Giả đại sư từ biệt sư phụ, Huệ Tư đại sư bảo: “Ngươi có duyên với nước Trần, đến đó nhất định sẽ có thể tạo lợi ích”. Huệ Tư đến Nam Nhạc trước, còn Trí Giả đại sư thì sang Kim Lăng (tức Nam Kinh).

          Trí Giả đại sư tới Kim Lăng, trụ tại chùa Ngõa Quan tám năm, giảng kinh Pháp Hoa. Các vị đại đức nhà Lương, nhà Trần đều đến thưa hỏi, nghị luận. Thuở ấy, các vị vương hầu, tầng lớp cao sang đều ngưng chuyện triều chánh để tới tham dự pháp hội. Trong lúc Trí Giả đại sư khởi sự giảng phẩm Tự cho đến cuối phần ngài Văn Thù trả lời câu hỏi [của Di Lặc Bồ Tát], bỗng dưng hội Linh Sơn hiện ra trên hư không, lúc đó có dăm ba người trông thấy. Trên trời tuôn mưa diệu hoa, màu sắc trắng tinh. Hoa ấy có hơn ba mươi cánh, các cánh hoa san sát, lơ lửng trong hư không chẳng rơi xuống, cao hơn một thước, giống như cánh hoa sen vậy. Khi Ngài giảng đến phẩm Bảo Tháp, trong thính chúng có người nằm mơ thấy chùa Ngõa Quan ba lượt biến thành Tịnh Độ, phân thân của Phật Thích Ca trọn khắp tám phương. Lại có người trông thấy cảnh tượng Phổ Hiền Bồ Tát từ phương xa hiện đến. Thuở ấy, những người được lợi ích bởi mưa pháp và những sự kiện ngấm ngầm đạt được lợi ích chẳng thể tính đếm. Trong lúc đại sư giảng kinh Pháp Hoa, Ngài cảm Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng giáng xuống thuyết pháp trước mặt. Thuở đó, đại sư dùng Ngũ Thời Bát Giáo để phán định, giải thích thấu triệt tột cùng giáo pháp suốt một đời đức Phật.

          Từ lúc ba mươi tuổi đại sư đến Nam Kinh, ở tại đó suốt tám năm. Trong khi nói năng hay im lặng, khi nghĩ tới núi rừng, sông, suối, Ngài thường mơ thấy quang cảnh vách đá muôn tầng hiểm trở, vách núi phủ mây trắng vờn quanh mặt trời, dưới đó là biển xanh bát ngát không bờ bến trong suốt, dập dềnh. Lại thấy một tăng nhân vẫy tay, đến bên đường núi, duỗi tay kéo đại sư lên núi v.v… Đại sư kể cho môn nhân nghe về giấc mộng ấy, họ đều thưa: “Đấy là núi Thiên Thai”. Vì thế, đại sư cùng nhóm Huệ Biện v.v… hơn hai mươi người đi về phương Nam, vào núi Thiên Thai ẩn cư.

          Đại sư chọn Phật Lũng để ở, hàng ma tại Hoa Đảnh. Vào tháng Chín năm ấy, đại sư tiến vào hậu sơn của Thiên Thai, trụ tại ngọn Hoa Đảnh. Có một tối, đại sư tĩnh tọa tư duy trên giường đá nơi đỉnh núi, nhằm đang lúc huân luyện hạnh Đầu Đà, bỗng dưng cuồng phong cuồn cuộn, sấm rền hang núi, xuất hiện hai đại ma đầu, một hung hăng, một mềm mỏng, hung mãnh tập kích đại sư. Nhưng đại sư đã thấu triệt rỗng rang Thật Tướng của các pháp, chẳng bị lay động, vẫn ngồi ngay ngắn an định. Do vậy, hai gã đại ma đầu cũng chẳng thể làm gì được, đành chịu thua, bỏ đi.

          Trần Thiếu Chúa5 lại thỉnh đại sư trụ tại chùa Quang Trạch ở Kim Lăng để giảng kinh Pháp Hoa. Thái Tử nhà Tùy (về sau là Tùy Dạng Đế, tức Dương Quảng) xin thọ giới với đại sư, lại còn dâng tặng Ngài danh hiệu Trí Giả. Từ đấy trở đi, Ngài được gọi là Trí Giả Đại Sư. Kế đó, tại Ngọc Tuyền thuộc Kinh Châu, đại sư truyền thọ Ngũ Giới cho Quan Công6, tuyên nói Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán. Lúc năm mươi tám tuổi, Ngài trở về Thiên Thai. Lúc sáu mươi tuổi, Ngài truyền trao các loại pháp môn rồi an nhiên nhập tịch. Nhục thân được đưa vào khám thờ tại ngọn núi Tây Nam ở Phật Lũng. Vào năm Đại Nghiệp nguyên niên (605) thời Tùy Dạng Đế, mở khám ra xem, chỉ thấy giường và trướng trống trơn, chẳng thấy nhục thể của đại sư đâu cả!

          Suốt cuộc đời, đại sư kiến tạo ba mươi sáu ngôi chùa, khắc mười lăm bộ Đại Tạng Kinh, tạc tám mươi vạn bức tượng, thế độ một vạn bốn ngàn người, truyền pháp cho ba mươi hai người, có hơn một ngàn người đắc ngộ, [thế mà] suốt ba mươi năm chỉ có một cái nạp y (áo chằm bằng các mụn vải, tức y ca-sa).

          (Tham khảo các bộ Thiên Thai Cửu Tổ Truyện, Pháp Hoa Truyện Ký, Linh Phong Tông Luận v.v…)

 

Tịnh Độ Thập Nghi Luận
凈土十疑論

1. Mối nghi thứ nhất

          (Luận) Đệ nhất nghi. Vấn: Chư Phật, Bồ Tát dĩ đại bi vi nghiệp, nhược dục cứu độ chúng sanh, chỉ ưng nguyện sanh tam giới, ư ngũ trược tam đồ trung cứu khổ chúng sanh, nhân hà cầu sanh Tịnh Độ, tự an kỳ sanh, xả ly chúng sanh, tắc thị vô đại từ bi, chuyên vị tự lợi, chướng Bồ Đề đạo!

          ()第一疑。問:諸佛菩薩以大悲為業。若欲救度眾生,只應願生三界於五濁三途中救苦眾生。因何求生凈土,自安其生,舍離眾生。則是無大慈悲,專為自利,障菩提道。

          (Luận: Điều nghi thứ nhất. Hỏi: Chư Phật, Bồ Tát lấy đại bi làm nghiệp. Nếu muốn cứu độ chúng sanh, chỉ nên nguyện sanh trong ba cõi, ở trong ba nẻo ác ngũ trược để cứu khổ cho chúng sanh, cớ sao lại cầu sanh về Tịnh Độ để tự sống an nhàn, lìa bỏ chúng sanh, tức là chẳng có lòng đại từ bi, chuyên vì lợi lạc chính mình, chướng ngại đạo Bồ Đề).

          [Đại sư] nêu câu hỏi: Chư Phật, Bồ Tát mang tâm đại từ bi, chuyện cần phải làm là lợi ích chúng sanh. Ngoài chuyện ấy ra, chẳng có chuyện gì khác! Muốn lợi ích chúng sanh, chỉ nên sanh trong tam giới, ở trong tam đồ ngũ trược hòng cứu khổ chúng sanh. Vì sao còn cầu sanh về Tịnh Độ để tự sống an nhàn, lìa bỏ chúng sanh? Thành ra chẳng có lòng đại từ bi, chuyên môn lo tự lợi, như vậy thì sẽ chướng ngại đạo Bồ Đề.

          Có nghĩa là vốn đáng nên ở trong tam đồ thuộc uế độ ngũ trược để cứu khổ chúng sanh, ngươi lại chạy sang Tịnh Độ, ngươi đã đi sai phương hướng mất rồi! Làm kiểu ấy hoàn toàn chẳng đúng! Căn bản của đạo Đại Thừa là tâm đại bi, “bỏ chúng sanh, giữ lấy Tịnh Độ” tức là chuyên cầu tự lợi. Làm như vậy chính là trái nghịch tâm đại bi, sẽ chướng ngại đạo Bồ Đề. Còn có thể nói: Ngươi làm như vậy sẽ làm chậm lại tiến trình thành đạo, hoặc là từ Đại Thừa lùi xuống Tiểu Thừa, hoặc là hành vi ích kỷ v.v…

          Nghe kiểu giải thuyết này, rất nhiều người cho rằng hết sức đúng. Đã tu Đại Thừa, phải vận dụng tâm đại bi lợi lạc chúng sanh, đương nhiên điều thích đáng duy nhất là phải ở trong uế độ, chẳng lìa khỏi các cha mẹ hữu tình, hòng tạo lợi ích cho họ, sao lại coi chuyện tự lợi là điều chủ yếu? Nghe nói kiểu này, rất nhiều người bèn vứt bỏ Tịnh Độ, cho rằng cầu sanh Tịnh Độ là trật, chướng ngại đạo Bồ Đề, hoặc trì hoãn đạo Bồ Tát, lui sụt vào Tiểu Thừa v.v…

          Đối với [cách cật vấn] này, dùng tám chữ để đáp lại: “Phân thanh giai đoạn, quyết trạch nhân duyên” (Phân định rõ ràng từng giai đoạn, để chọn lựa dứt khoát nhân duyên). Phân chia theo từng giai đoạn, Bồ Tát có hai loại: Bồ Tát đã đắc Vô Sanh Nhẫn và Bồ Tát chưa đắc Vô Sanh Nhẫn. Loại trước nên lấy chuyện lợi tha làm chánh yếu; loại sau nên lấy tự lợi làm chủ yếu. Trong việc lựa chọn nhân duyên, đối với hàng tiểu Bồ Tát chưa đắc Vô Sanh Nhẫn, phải xét xem: Thành tựu Vô Sanh Nhẫn trong uế độ dễ dàng? Hay thành tựu Vô Sanh Nhẫn trong Tịnh Độ dễ dàng? Sau khi đã chọn lựa, sẽ phát hiện: Ở trong Tịnh Độ, do nương cậy đức Phật, sẽ có thể nhanh chóng thành tựu Vô Sanh Nhẫn, tăng nhanh đạo Bồ Đề, có thể thật sự hoàn thành sự nghiệp đại bi lợi tha. Do vậy, phải dứt khoát, kiên quyết cầu sanh Tịnh Độ.

1.1. Phân rõ giai đoạn

          (Luận) Đáp: Bồ Tát hữu nhị chủng. Nhất giả, cửu tu hành Bồ Tát đạo, đắc Vô Sanh Nhẫn giả, thật đương sở trách. Nhị giả, vị đắc dĩ hoàn, cập sơ phát tâm phàm phu. Phàm phu Bồ Tát giả, yếu tu thường bất ly Phật. Nhẫn lực thành tựu, phương kham xử tam giới nội, ư ác thế trung, cứu khổ chúng sanh.

          ()答:菩薩有二種。一者,久修行菩薩道,得無生忍者,實當所責。二者,未得已還,及初發心凡夫,凡夫菩薩者,要須常不離佛。忍力成就,方堪處三界內。於惡世中,救苦眾生。

          (Luận: Đáp: Bồ Tát có hai loại. Một là người đã tu hành Bồ Tát đạo từ lâu, đắc Vô Sanh Nhẫn, [đối với hạng này] thì đáng nên trách móc. Hai là từ hạng chưa đắc [Vô Sanh Nhẫn] trở xuống, và hạng phàm phu mới phát tâm, phàm phu Bồ Tát thì cần phải thường chẳng lìa Phật. Nhẫn lực đã thành tựu thì mới có thể ở trong tam giới, ở trong đời ác cứu khổ chúng sanh).

          Ở chỗ này [đại sư] nói: Chớ nên phán đoán mơ hồ tình huống của các loại Bồ Tát, trong khoảng thời gian từ sơ phát tâm cho đến khi thành Phật, có lịch trình [tu chứng rõ ràng]. Phân định rõ ràng giai đoạn thì sẽ chẳng dùng yêu cầu đối với hàng Bồ Tát ở địa vị cao để phê bình hàng Bồ Tát thuộc địa vị thấp.

          Giống như một người phát triển đến giai đoạn tráng niên làm sự nghiệp to lớn, cần phải có một quá trình. Chẳng thể nói “hễ là người thì phải nên vì xã hội, vì quốc gia cống hiến”, dùng điều yêu cầu ấy để trách cứ bọn trẻ thơ, nhi đồng. Dựa theo giai đoạn tu học của hàng Bồ Tát thì có thể chia thành hai loại:

          1) [Hàng Bồ Tát đã có] thời gian tu hành Bồ Tát đạo lâu dài, đã chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đối với hạng người như thế, đúng là phải quở trách: “Ngươi đã có bản lãnh, ở trong cảnh giới khách trần sẽ chẳng bị mê mất, có năng lực lợi ích chúng sanh, vậy thì đương nhiên phải nên coi chuyện lợi lạc chúng sanh là chánh yếu. Thế mà ngươi lại chạy qua Tịnh Độ, chẳng màng đến chúng sanh!” Chuyện này đáng phải quở trách; giống như một người đã qua giai đoạn thơ ấu và giai đoạn cầu học trong tuổi thiếu niên và thanh niên, đã có năng lực tạo phước cho xã hội, nhưng kẻ ấy lại lìa bỏ xã hội, chỉ cầu sự an nhàn cho riêng mình. Kẻ đó đáng bị trách móc!

          2) Những kẻ kể từ hạng chưa đắc Vô Sanh Nhẫn Lực cho đến phàm phu sơ phát tâm, những vị phàm phu Bồ Tát ấy cần phải thường chẳng lìa khỏi Phật. Đợi cho đến sau khi đã thành tựu Nhẫn Lực thì mới có năng lực ở trong tam giới, ở trong đời ác cứu khổ cho chúng sanh. Đối với loại Bồ Tát này, chẳng nên trách cứ, giống như chẳng nên trách cứ bọn nhi đồng, thiếu niên: “Sao các ngươi không phục vụ xã hội? Vì sao vẫn muốn học hành, chẳng dốc hết sức làm chuyện lợi lạc người khác?” Quở trách kiểu ấy chẳng thích đáng!

          (Luận) Cố Trí Độ Luận vân: “Cụ phược phàm phu, hữu đại bi tâm, nguyện sanh ác thế, cứu khổ chúng sanh giả, vô hữu thị xứ”.

   ()故智度論云,具縛凡夫,有大悲心願生惡世,救苦眾生者,無有是處。

          (Luận: Vì thế, Trí Độ Luận viết: “Phàm phu đầy dẫy triền phược có tâm đại bi, nguyện sanh trong đời ác cứu khổ cho chúng sanh, chẳng có chuyện ấy”).

          Trên đây, người hỏi cảm thấy [bắt bẻ như vậy] rất hữu lý. Là một người tu Đại Thừa, đương nhiên phải sanh trong thế giới ác, cứu khổ cho chúng sanh, vì ta có tâm đại bi. Ở đây, [Trí Giả đại sư] bèn dẫn lời của Long Thọ Bồ Tát trong Trí Độ Luận để lập tông (luận đề chủ yếu). Luận có nói: Một kẻ phàm phu đầy dẫy triền phược mà nói là có tâm đại bi, phát nguyện sanh trong thế giới ác để cứu khổ chúng sanh, chẳng có tí nào đúng cả, sai lầm quá đỗi! Lập luận này khiến cho người nghe hết sức kinh động, vì nó khiến cho mọi người tin chịu. Dưới đây là nêu ra lý do.

1.2. Lựa chọn nhân duyên

          Hiện thời, chẳng nói đến các vị đại Bồ Tát đã đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, các Ngài tự nhiên biết phải hóa thân trong các cõi nước nhiều như vi trần để lợi ích chúng sanh khổ nạn, chẳng cần chúng ta dạy dỗ! Chúng ta chủ yếu chọn lựa cho hàng phàm phu Bồ Tát chưa đắc Vô Sanh Nhẫn Lực phải nên đi theo con đường nào: Lựa chọn sanh vào Tịnh Độ, hay là sanh trong uế độ. Đối với chuyện này, [phải vận dụng] lý trí nhìn thấu suốt nhân duyên để quyết định, hoàn toàn chẳng phải là dựa theo cách nghĩ “tưởng như là đúng, nhưng thật ra sai bét” của cá nhân, hay dựa theo cảm giác, hoặc nói hùa theo! Chỉ dùng sức lý trí để nhìn vào duyên khởi, thấy được con đường nào sẽ có lợi ích, thì mới có thể chọn lựa chánh xác được! Đối với chuyện này, chia thành hai điều để phán đoán, luận định:

a) “Tu hành trong uế độ, đắc Vô Sanh Nhẫn, hoàn thành chuyện lợi tha” là đạo khó hành.

b) “Tu hành trong Tịnh Độ, đắc Vô Sanh Nhẫn, hoàn thành chuyện lợi tha” là đạo dễ hành.

1.2.1. “Tu hành trong uế độ, đắc Vô Sanh Nhẫn, hoàn thành chuyện lợi tha” là đạo khó hành

          (Luận) Hà dĩ cố? Ác thế giới, phiền não cường, tự vô nhẫn lực, tâm tùy cảnh chuyển, thanh sắc sở phược, tự đọa tam đồ, yên năng cứu chúng sanh? Giả linh đắc sanh nhân trung, thánh đạo nan đắc. Hoặc nhân Thí, Giới, tu phước, đắc sanh nhân trung, đắc tác quốc vương, đại thần, phú quý tự tại. Túng ngộ thiện tri thức, bất khẳng tín dụng, tham mê, phóng dật, quảng tạo chúng tội. Thừa thử ác nghiệp, nhất nhập tam đồ, kinh vô lượng kiếp. Tùng địa ngục xuất, thọ bần tiện thân, nhược bất phùng thiện tri thức, hoàn đọa địa ngục. Như thử luân hồi, chí ư kim nhật, nhân nhân giai như thị. Thử danh Nan Hành Đạo dã!

          ()何以故?惡世界煩惱強,自無忍力心隨境轉,聲色所縛自墮三塗,焉能救眾生?假令得生人中,聖道難得。或因施戒修福得生人中,得作國王大臣富貴自在。縱遇善知識,不肯信用。貪迷放逸廣造眾罪,乘此惡業一入三塗經無量劫。從地獄出受貧賤身,若不逢善知識還墮地獄。如此輪迴至於今日,人人皆如是。此名難行道也。

          (Luận: Vì sao vậy? Trong thế giới ác, phiền não mạnh mẽ, bản thân chẳng có nhẫn lực, tâm bị chuyển theo cảnh, bị thanh sắc trói buộc, tự đọa vào tam đồ, há có thể cứu chúng sanh nổi ư? Giả sử được sanh trong loài người, sẽ khó đắc thánh đạo. Hoặc do tu phước Thí, Giới, được sanh trong loài người, được làm quốc vương hay đại thần, phú quý tự tại. Dẫu gặp thiện tri thức, chẳng chịu tin tưởng, tu tập, tham, mê, buông lung, rộng tạo các tội. Nương theo ác nghiệp ấy, hễ vào trong tam đồ, sẽ trải qua vô lượng kiếp. Từ địa ngục thoát ra, chịu thân nghèo hèn, nếu chẳng gặp thiện tri thức, vẫn đọa vào địa ngục. Luân hồi như thế đó, cho đến ngày nay, ai nấy đều là như vậy. Đấy gọi là đạo khó hành vậy!)

          Ở đây, hiển thị tình hình sai lầm quá đỗi [khi chọn sai đường lối], đích xác là chẳng có điều gì là đúng. Chẳng chọn lựa nhân duyên tốt đẹp, chọn sai đường lối, sẽ dẫn đến “một điều sai, sẽ là trăm sai, ngàn sai, vạn sai”, lưu chuyển trong luân hồi vô số kiếp, mãi cho đến ngày hôm nay, vẫn chẳng cứu nổi một người nào thoát khỏi luân hồi. Chính mình còn bị trầm luân vô số kiếp, vẫn là phàm phu. Từ đây, sẽ thấy cách nhìn ấy (quan niệm “người tu Đại Thừa phải ở trong uế độ đoạn phiền não, cứu độ chúng sanh”) chẳng đúng tí nào. Cách nói ấy là cao giọng nói lớn lối, chẳng thiết thực, hại người khác chẳng cạn!

          Đoạn này đã chứng thực chúng sanh phàm phu có bi nguyện sanh trong thế giới ác để cứu chúng sanh thì chẳng có lẽ ấy! [Đoạn này cũng] chứng thực phương pháp [chọn lựa đường lối tu tập thích đáng] là phải nhìn từ trước về sau, [phải cân nhắc] đời này, đời sau, đời thứ ba sẽ phát triển như thế nào, con đường ấy có đi thông suốt hay là không, sẽ là ta lẫn người đều cùng được lợi, hay là ta lẫn người đều bị tổn hại? Ắt cần phải thấy rõ ràng! Sau đấy, sẽ phát hiện đi theo đường này chẳng đúng chút nào; do vậy, hoàn toàn tỉnh ngộ, nỗ lực cầu vãng sanh.

          Để chứng thực con đường này, phải xét theo nhân duyên, trừ nhân duyên trong và ngoài ra, chẳng có sức mạnh nào khác chi phối! Trong là phiền não mạnh mẽ, ngoài là thế giới xấu ác, [chính mình] lại chẳng có Vô Sanh Nhẫn Lực, chắc chắn là tâm sẽ bị cảnh chuyển, bị thanh sắc trói buộc, rơi vào tam đồ, chính mình còn chẳng thể tự cứu, há còn có thể cứu chúng sanh nữa ư?

          Từ câu “giả linh đắc sanh nhân trung” (giả sử được sanh trong loài người) trở đi là nói tới trạng huống “tam thế oan”. Loại thứ nhất là “khó đắc thánh đạo”. Từ vô thỉ tới nay, chúng ta đã tạo nghiệp quá loạn, đời này có thể gặp Phật pháp, đời sau rất khó gặp lại, giống như trong tối tăm chỉ có tia chớp lóe sáng trong sát-na, đôi khi thiện căn phát hiện; sau đó, lại hãm trong các thứ tập khí xấu hèn! Trong thức điền của chúng ta có chủng tử ngộ thánh đạo, mà cũng có chủng tử lệch khỏi thánh đạo, tỷ lệ của loại tập khí sau hết sức to lớn. Do vậy, dẫu chuyển sanh sang kiếp khác, làm thân người, vẫn dễ dàng bị mê mất. Căn bản là chẳng tin tưởng Phật pháp, tạo tội nghiệp, hoặc lọt vào hàng ngoại đạo.

          Loại tình huống thứ hai là vì sức phước đức thế gian to lớn, bèn làm quốc vương, đại thần, phú quý tự tại, nhưng do tâm kiêu mạn to lớn, dẫu gặp gỡ thiện tri thức, vẫn chẳng nghe theo lời dạy bảo, chỉ thuận theo cách nghĩ của chính mình. Toàn là tạo tội nghiệp như vậy, cho nên đời thứ ba đã đọa trong đường ác, mà “tam đồ nhất phục ngũ thiên kiếp” (vừa lọt vào tam đồ bèn là năm ngàn kiếp), hết sức lâu dài! Lại xem sau đó, giả sử vô lượng kiếp sau, từ địa ngục thoát ra, khi đó, hứng chịu tấm thân nghèo hèn, chẳng gặp gỡ thiện tri thức, lại phải đọa địa ngục.

          Giống như thế đó, một niệm sai lầm, chọn sai đường, đúng là từ vô lượng kiếp này lại sang vô lượng kiếp khác. Cuối cùng, đại sư nói: “Như thị luân hồi, chí ư kim nhật, nhân nhân giai như thị” (Luân hồi như thế, cho đến ngày nay, ai nấy đều là như vậy). Cũng tức là người tu hành trong đời này thì đời trước đã đều từng tu tập, lịch trình về cơ bản đều là như thế đó. Từ chuyện này, có thể thấy: Từ quá khứ lâu xa cho đến nay, thích ở trong uế độ, chẳng có ngày ngoi đầu thoát ra! Do vậy, nhìn vào con đường đã đi trong quá khứ, sẽ phát hiện [con đường này] khá khó đi, cho đến nay vẫn luôn luôn chẳng thành công, vẫn là phàm phu Hoặc nghiệp sâu nặng! Nếu vẫn đi theo con đường này, sẽ có thể đoán trước tình huống trong tương lai cũng chẳng khác biệt cho mấy! Như vậy, đương nhiên là đạo khó hành!

          Điều khó khăn ở đây là bất cứ lúc nào cũng có thể đọa lạc, chẳng đọa lạc trong một đời thì sẽ đọa lạc trong hai đời! Ngay cả chính mình còn đọa trong đường ác, làm sao có thể cứu chúng sanh cho được? Hiện thời, hãy suy xét sâu xa, vì sao bị đọa lạc? [Nguyên do là vì] chẳng có Vô Sanh Nhẫn Lực, phiền não mạnh mẽ dường ấy, ở trong một thế giới ác trược ngần ấy, hễ tiếp xúc cảnh giới, sẽ phát sanh tham, sân. Ví như cảnh đẹp ý vừa xuất hiện, sẽ chẳng thể trụ trong Vô Sanh, ngay lập tức dấy lòng tham. Cảnh chẳng đẹp ý vừa hiện tiền, chẳng có cách nào trụ trong tánh Không, kết quả là nổi sân. Phát sanh tham, sân rất nhanh chóng như thế đó, căn bản là chẳng nắm chắc, hễ một nghiệp hiện hành, đã đủ khiến cho chính mình đọa lạc trong đường ác!

          Có kẻ hỏi: “Thật như vậy ư?” Thường là các vị sơ phát tâm Bồ Tát đạo lực chẳng đủ, loại chuyện như thế này quá nhiều! Ví như tôn giả Kỳ Dạ Đa, chín mươi mốt kiếp trước là con của vị trưởng giả. Thuở ấy, Ngài chán bỏ ngũ dục, rất muốn xuất gia. Nếu Ngài xuất gia, nhất định sẽ có thể đoạn phiền não, chứng đắc thánh quả, nhưng cha mẹ Ngài chẳng cho phép, ép Ngài lập gia đình. Sau khi Ngài cưới vợ, đã sanh con, vẫn muốn xuất gia; ngay lúc ấy, cha mẹ Ngài gọi đứa con ấy ôm chặt lấy Ngài kêu: “Cha ơi! Cha lìa bỏ con, sau này ai nuôi con? Nếu cha nhất quyết ra đi, giết con rồi hãy đi!” Ngài thấy vậy, mềm lòng, chẳng nỡ lòng ra đi, bảo: “Vì con, cha không xuất gia nữa!” Do vậy, trong lúc ấy, dấy lòng ái, sẽ chẳng thể xuất ly; sau đấy, một mực trôi lăn trong sáu đường! Có thể thấy là hết sức khó khăn!

          Lại nói, dẫu đã phát Bồ Đề tâm, vẫn rất khó hoàn thành. Như tôn giả Xá Lợi Phất trong quá khứ gặp nhân duyên có người xin mắt. Người đó muốn xin mắt, [Ngài đã móc mắt] trao cho, đối phương ghét con mắt nhơ bẩn, quăng phịch xuống đất, xéo lên. Kết quả là tôn giả không có cách nào chịu đựng nổi, trong sáu mươi kiếp lui xuống Tiểu Thừa. Ngoài ra, kinh Tăng Hộ Nhân Duyên có nói, vào thời Phật Ca Diếp, rất nhiều vị tu hành trái nghịch nhân quả, lập tức đọa vào địa ngục, mãi cho đến khi Phật Thích Ca xuất thế, họ vẫn còn chịu khổ trong địa ngục. Thuở ấy, họ cũng là một phen hảo tâm xuất gia tu hành, nhưng phàm phu chẳng có cách nào nắm chắc tự tâm, hễ lầm loạn nhân quả sẽ bị đọa lạc. Trong kinh Hiền Ngu cũng kể rất nhiều câu chuyện tương tự, họ đều vì lầm loạn nhân quả trước thời đức Phật mà đọa lạc.

          Cận đại, cũng có rất nhiều chuyện thuộc về phương diện này. Chẳng hạn như ông Tăng ở núi Nhạn Đãng chuyển sanh làm Tần Cối. Do đời trước tu đạo mà chẳng cầu sanh Tịnh Độ, đời thứ hai sống trong cõi đời, được đại phú quý. Vì trong tâm ngầm chứa rất nhiều chủng tử phiền não, hễ gặp phải cảnh duyên tương ứng, sẽ dễ dàng dấy lòng gian trá, hư ngụy, ghen tỵ v.v… Kết quả là do tạo đại ác nghiệp mà đọa lạc. Lại nữa, vị ni sư tụng kinh Pháp Hoa, đời sau chuyển thành ca kỹ. Bà ta đời trước thường tụng kinh Pháp Hoa, nhưng do làm người, đã tạo nghiệp rất phức tạp, cho nên chuyển thế phải trôi lăn trong chốn gió bụi!

          Chúng ta hãy khảo sát chính mình, hiện thời đang thuở ngũ trược hết sức lừng lẫy, lại chẳng có sức chứng tánh Không, miệng bàn những điều cao xa hết sức dễ dàng, nhưng vừa gặp cảnh giới, phiền não sẽ lập tức hiện hành. Tốc độ quá nhanh chóng, chẳng có cách nào khống chế. Hơn nữa, hễ phiền não xuất hiện, sẽ là mấy giờ, mấy ngày, mấy tháng luôn hãm trong ấy, cho thấy nghiệp lực mạnh mẽ [cỡ nào]! Thêm nữa, lòng ngã mạn của con người hết sức lớn, hết sức tà! Chúng ta chỉ cần nghiên cứu sâu xa cơ chế Tập Đế, sẽ phát hiện sức mạnh của tánh tà đặc biệt mạnh mẽ. Chẳng hạn như tham sắc, tham tài, tham danh, tham địa vị v.v… đều là bẩm sanh, sức mạnh [của lòng tham ấy] đặc biệt to lớn! Vô Sanh Nhẫn thì như thế nào? So sánh giữa hai đằng, cái nào có sức mạnh lớn hơn? [Quý vị sẽ] phát hiện cái sau chỉ là nói suông, chứ cái trước có sức mạnh hết sức to lớn. Hễ gặp cảnh, nó sẽ nhanh chóng, mạnh mẽ hiện hành. Nó đã thâm nhập cốt tủy, chẳng cần nghĩ tới, vừa xuất hiện nó bèn hiện diện. Đấy là do nguyên nhân gì vậy? Tập khí nhiều đời như dầu dính vào mặt, khó thể trừ bỏ, đã quen thuộc đến mức tùy ý dấy lên. Ví như nhìn thấy kẻ khác phái, nếu như cảnh duyên khá mạnh mẽ, những kẻ phàm phu tục tử chẳng có ai không bị vây hãm, đọa lạc. Tuy tạm thời tránh né hoàn cảnh để tu hành, nhưng vì chẳng thành tựu đạo lực, đời sau do sức phước đức tu tập Giới và Thí, sẽ chuyển sanh thành quan to, bậc phú hào v.v… Khi ấy, thuận theo lòng ham muốn tự tại, sẽ phát triển đến mức độ hết sức đáng sợ! Tận tình hưởng thụ thanh sắc ngũ dục, giống hệt những kẻ đọa lạc trong lịch sử. Khi đó, nếu cảnh duyên sắc đẹp đặc biệt to lớn, ai có thể giữ vững? Hoặc là kẻ ở trong tình cảnh quyền thế rất cao, có ai mà chẳng vì thuận theo sự khoái ý nhất thời của chính mình để rồi chịu tội muôn đời?

          Cân nhắc nhiều phương diện như thế, sẽ phát hiện xác suất đọa lạc hết sức cao. Một đời chẳng đọa, khó tránh hai đời sẽ đọa. Hễ đọa lạc, sẽ là vô số kiếp chẳng thoát ra được. Có thể thấy rằng: Chọn lựa thành tựu ở trong thời ác trược để Vô Sanh Nhẫn Lực hòng độ chúng sanh sẽ hết sức khó khăn! Ngay cả chính mình còn khó tránh khỏi đọa lạc, còn cứu chúng sanh bằng cách nào nữa? Do đó, con đường này rất hung hiểm.

1.2.2. “Tu hành trong Tịnh Độ, đắc Vô Sanh Nhẫn, hoàn thành chuyện lợi tha” là đạo dễ hành

          Phần này lại thông qua [các luận điểm] chánh diện và phản diện để chỉ rõ, hòng [người đọc] nhận rõ sự thù thắng của con đường này. Trước hết, nhờ vào bốn thí dụ để chỉ rõ: Nếu chẳng sanh về Tịnh Độ, chỉ cậy vào bi nguyện, tức là một loại xung động đơn giản, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Không chỉ là cả mình lẫn người đều chẳng thể được lợi, mà ngược lại, cả mình lẫn người đều bị tổn hại! Kế đó, xét từ chánh diện, chỉ rõ đường lối để vãng sanh Tịnh Độ thành công. Khi chúng ta nhìn vào một, hai, ba lộ trình, sau khi đã phát hiện đây là con đường chỉ tiến chứ không lùi, nhanh chóng hoàn thành Phật đạo, sẽ biết nó là đạo dễ hành.

1.2.2.1. Trước hết, dùng thí dụ tương phản để chỉ rõ

          (Luận) Cố Duy Ma kinh vân: “Tự tật bất năng cứu, nhi năng cứu chư tật nhân?” Hựu Trí Độ Luận vân: “Thí như nhị nhân các hữu thân quyến vị thủy sở nịch. Nhất nhân tình cấp, trực nhập thủy cứu, vị vô phương tiện lực cố, bỉ thử câu một. Nhất nhân hữu phương tiện, vãng thủ thuyền phiệt, thừa chi cứu tiếp, tất giai đắc thoát thủy nịch chi nạn. Tân phát ý Bồ Tát, diệc phục như thị. Như thị vị đắc Nhẫn lực, bất năng cứu chúng sanh. Vị thử, thường tu cận Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn dĩ, phương năng cứu chúng sanh, như đắc thuyền giả”. Hựu Luận vân: “Thí như anh nhi, bất đắc ly mẫu. Nhược dã ly mẫu, hoặc đọa khanh tỉnh, khát nhũ nhi tử. Hựu như điểu tử, xí vũ vị thành, chỉ đắc y thụ truyền chi, bất năng viễn khứ. Xí vũ thành tựu, phương năng phi không, tự tại vô ngại”.

   ()故維摩經云,自疾不能救,而能救諸疾人?又智度論云:譬如二人各有親眷為水所溺,一人情急直入水救,為無方便力故彼此俱沒。一人有方便,往取船筏乘之救接,悉皆得脫水溺之難,新發意菩薩亦復如是,如是未得忍力,不能救眾生。為此常須近佛,得無生忍已,方能救眾生,如得船者。又論云,譬如嬰兒不得離母,若也離母,或墮坑井渴乳而死。又如鳥子翅羽未成,只得依樹傳枝不能遠去。翅翮成就,方能飛空自在無礙。

          (Luận: Vì thế, kinh Duy Ma chép: “Chẳng thể cứu bệnh của chính mình mà có thể cứu những người khác mắc bệnh ư?” Lại nữa, Trí Độ Luận viết: “Ví như hai người, mỗi người đều có thân quyến bị nước nhấn chìm. Một kẻ do tình thế cấp bách, bèn nhảy thẳng xuống nước cứu, do chẳng có sức phương tiện, đôi bên đều chết. Một người có phương tiện, đi lấy thuyền, bè, bơi thuyền ra cứu vớt, thảy đều được thoát khỏi nạn chết chìm. Bồ Tát mới phát tâm cũng giống như thế. Nếu chưa đắc Nhẫn lực, sẽ chẳng thể cứu chúng sanh. Vì lẽ này, cần phải thường thân cận Phật. Đã đắc Vô Sanh Nhẫn thì mới có thể cứu chúng sanh như đã có thuyền”. Luận lại viết: “Ví như trẻ thơ, chẳng được lìa mẹ. Nếu như lìa mẹ, có thể rơi xuống hầm, xuống giếng, khát sữa mà chết. Lại như chim non, cánh chưa mọc lông vũ, chỉ được nương theo cây chuyền cành, chẳng thể đi xa. Cánh đã mọc lông vũ đầy đủ thì mới có thể bay lên không trung, tự tại vô ngại”).

          Ý nguyện của chúng ta thường chẳng phù hợp với tình huống thực tế. Do vậy, phải dùng trí huệ để điều khiển từ bi, tín tâm cũng phải dùng trí huệ để nhiếp trì. Nếu không, sẽ rơi vào hai loại lỗi lầm to lớn: Một là do từ bi mà nẩy sanh tai họa; hai là do tự tin mà thành cuồng vọng. Hai thí dụ đầu, tức thí dụ về bệnh và thí dụ về cứu nạn, nêu rõ: Nếu chẳng có trí huệ, sẽ có trạng huống “từ bi nẩy sanh họa hại”. Sau đó, thí dụ về trẻ con và chim non, phô rõ lỗi lầm to lớn do chẳng dùng trí huệ để nhiếp trì, do tự tin mà trở thành lỗi lầm cuồng vọng to lớn!

          Đầu tiên, hãy xem “từ bi nẩy sanh họa hại” là như thế nào! Thứ nhất là thí dụ về bệnh. Đây là nói đến một loại hành vi từ bi mù quáng, cho rằng thiên hạ có rất nhiều người hứng chịu quá nhiều bệnh khổ, ta nhất định phải cứu họ. Thế nhưng chẳng thể phán đoán trạng huống của chính mình, ngay cả thân thể chính mình mắc bệnh tật giống hệt mà không có cách nào chữa lành, làm sao có thể chữa trị bệnh khổ của thiên hạ? Đấy là ngu si. Nếu vẫn ương ngạnh mà làm, đương nhiên sẽ khó tránh khỏi xuất hiện lỗi họa những kẻ chẳng hiểu biết mà làm nghề y, lang băm giết chết người, chẳng thể trị lành người nào, mà ngược lại, còn khiến cho cả đống người bệnh tình nguy ngập hơn!

          Thứ hai là thí dụ về cứu nạn. Có hai người đều có thân quyến bị chìm xuống nước. Trong ấy, có một người bản thân chẳng có sức phương tiện, khi trông thấy người khác bị nước nhấn chìm, bèn nghĩ “ta phải liều dốc sức, chẳng màng bản thân”, nhất định phải cứu người ấy lên, [mặc dù] ngay cả chính mình không biết bơi cũng chẳng biết! Loại xúc động mù quáng ấy khiến cho mình lẫn người đều bị chết chìm, chẳng cứu được ai; ngược lại, đều vùi thây trong nước. Một người khác tuy có lòng từ bi, nhưng người ấy nghĩ “mù quáng nhảy xuống thì không chỉ chẳng cứu được người, mà còn có thể vùi thân mình luôn”. Sau đấy bèn nghĩ: “Ta trước hết hãy tìm một chiếc thuyền rồi chèo ra”. Do có sức phương tiện ấy, có thể thực hiện tâm nguyện từ bi, không chỉ là chính mình chẳng chết chìm, mà còn có thể cứu ngàn vạn người! Do nguyên nhân này, phàm phu ắt cần phải sanh về Tịnh Độ trước hòng thường thân cận Phật. Đã đắc Vô Sanh Nhẫn Lực rồi, sẽ quay lại cứu chúng sanh.

          Hai thí dụ kế tiếp đã chỉ rõ “lòng tự tin cuồng vọng sẽ hủy diệt chính mình”. Thí dụ thứ ba là thí dụ về trẻ thơ. Trẻ con tự nghĩ chính mình phải độc lập, chẳng cần dựa dẫm mẹ. Nó tự cậy năng lực của chính mình quá cao. Trên thực tế, chẳng có mẹ chăm bẵm, cho ăn, che chở, tất nhiên là nó sẽ sảy hầm, té giếng mà chết rất nhanh, hoặc vì thiếu sữa mà chết. Đấy là lỗi lầm do cuồng vọng.

          Thứ tư là thí dụ về chim non. Chim non cứ ngỡ nay ta ắt phải bay lượn trên trời cao thì mới có thể chứng minh năng lực của ta. Nào có biết trước hết phải trải qua giai đoạn nương theo cây chuyền nhánh để cánh dần dần mọc lông vũ, chẳng thể mù quáng tung mình lên không trung, nhất định sẽ rớt phịch xuống mà chết tốt! Điều này nhằm nói rõ Sơ Phát Tâm Bồ Tát trước hết chớ nên lìa Phật, chớ nên lìa Tịnh Độ, đã được trưởng dưỡng, tràn đầy sức mạnh, sau đấy mới có thể tự tại vô ngại phổ độ chúng sanh. Nếu chẳng biết năng lực tự thân cỡ nào, cứ phô trương cậy vào lòng tự tin để làm bừa, tất nhiên là sanh mạng sẽ bị kết thúc sớm. Đấy đều là do chẳng lựa chọn bằng lý trí.

          (Luận) Phàm phu vô lực, duy đắc chuyên niệm A Di Đà Phật, sử thành tam-muội. Dĩ nghiệp thành cố, lâm chung liễm niệm đắc sanh, quyết định bất nghi. Kiến Di Đà Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn dĩ, hoàn lai tam giới, thừa Vô Sanh Nhẫn thuyền, cứu khổ chúng sanh, quảng thí Phật sự, nhậm ý tự tại. Cố Luận vân: “Du hý địa ngục hành giả, sanh bỉ quốc đắc Vô Sanh Nhẫn dĩ, hoàn nhập sanh tử quốc, giáo hóa địa ngục thọ khổ chúng sanh”. Dĩ thị nhân duyên, cầu sanh Tịnh Độ, nguyện thức kỳ giáo. Cố Thập Trụ Bà Sa luận danh Dị Hành Đạo dã.

   ()凡夫無力,唯得專念阿彌陀佛使成三昧。以業成故,臨終斂念得生決定不疑。見彌陀佛證無生忍已,還來三界乘無生忍船救苦眾生,廣施佛事任意自在。故論云:「遊戲地獄,行者生彼國,得無生忍已,還入生死國,教化地獄苦眾生」。以是因緣求生淨土,願識其教。故十住婆沙論名易行道也。

          (Luận: Phàm phu không có sức, chỉ nên chuyên niệm A Di Đà Phật khiến cho thành tam-muội. Do nghiệp đã thành, lâm chung thâu liễm ý niệm, được sanh về cõi ấy, chắc chắn chẳng nghi. Thấy A Di Đà Phật, đã chứng Vô Sanh Nhẫn, trở lại tam giới, ngồi thuyền Vô Sanh Nhẫn cứu khổ chúng sanh, thực hiện rộng rãi các Phật sự, tùy ý tự tại. Vì thế, Luận viết: “Hành giả dạo chơi trong địa ngục, sanh về cõi ấy, đắc Vô Sanh Nhẫn rồi bèn trở vào cõi này, giáo hóa chúng sanh đang chịu khổ trong địa ngục”. Do nhân duyên này, cầu sanh Tịnh Độ, nguyện hiểu biết giáo ấy. Vì thế, Thập Trụ Bà Sa Luận gọi [pháp môn này] là đạo dễ hành”).

          Đây là chỉ bày con đường thứ hai theo phương diện thuận. Bản thân phàm phu chẳng có sức lực, ắt cần phải chuyên nhất mong cầu nương cậy A Di Đà Phật vãng sanh Tịnh Độ. Con đường này như thế nào? Phải nhìn vào đường lối trong nhiều đời:

          – Đời thứ nhất niệm Phật, lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh.

          – Đời thứ hai gặp Phật đắc Nhẫn.

          – Đời thứ ba sanh vào tam giới cứu độ chúng sanh, tùy ý tự tại. “Đời thứ ba” [như đã nói ở đây] chỉ là cách biểu đạt quyền biến thiện xảo, trên thực tế, chẳng phải là giống như phàm phu có luân hồi thọ sanh, chẳng qua chỉ là tùy thuận nguyện lực của chính mình, bỏ tuổi thọ trong Tịnh Độ để tùy ý tự tại vào trong thế gian hòng cứu khổ chúng sanh. Có thể thấy: Đi theo con đường này sẽ thông suốt, có thể hoàn thành sự nghiệp tâm đại bi lợi tha. Do vậy, sẽ nhanh chóng thành đạo Bồ Đề.

          Bộ Luận này đã chỉ bày con đường như sau: Chúng ta là sơ phát tâm phàm phu, chẳng có năng lực bơi thuyền trong biển sanh tử để cứu chúng sanh, giống như đứa trẻ vừa mới sanh ra, chẳng có năng lực làm những sự nghiệp giống như người đã trưởng thành. Vì thế, trước hết, nó phải nương cậy một bà mẹ, bà mẹ ấy chính là A Di Đà Phật, phải nương nhờ một hoàn cảnh hết sức tốt đẹp, hoàn cảnh ấy chính là thế giới Cực Lạc. Ở bên đó, được bà mẹ A Di Đà Phật và các vị huynh trưởng là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát nuôi nấng, bảo vệ, và thường tắm gội trong đức thủy (nước tám công đức), gió nhẹ, quang minh v.v… Đã được tư nhuận, vun bồi trong hoàn cảnh ấy, khai phát bổn tâm, trừ khử Hoặc nghiệp; do vậy, sẽ dần dần đạt thành Vô Sanh Nhẫn Lực. Sau khi đã đạt được thành tựu thù thắng, có thể vào trong vườn rừng để chơi đùa, tức là vào trong tam giới mà tự tại lợi ích chúng sanh. Đường lối là như thế đó. Do vậy bèn nói, nay chúng ta là phàm phu chẳng có sức mạnh, [phương cách] duy nhất là phải chuyên niệm A Di Đà Phật, thành tựu Niệm Phật tam-muội, nhất tâm trụ nơi niệm Phật. Do vì tịnh nghiệp đã thành tựu, lâm chung thâu nhiếp ý niệm, bèn sanh vào Tịnh Độ, quyết định chẳng nghi hoặc. Đấy là bước đầu tiên, tức “thấy Phật, vãng sanh”.

          Bước thứ hai là sau khi đã sanh trong Tịnh Độ, thấy A Di Đà Phật, được Phật gia bị liền ngộ Vô Sanh, đạt được đại thành tựu.

          Bước thứ ba, sau khi đã chứng đắc Vô Sanh Nhẫn, do thuở ban đầu đã có bi nguyện muốn vào trong thế giới khổ sở để độ chúng sanh, lúc ấy mới có thể sanh trong tam giới, ở trong tam đồ ngũ trược cứu khổ chúng sanh, thậm chí giống như Địa Tạng Bồ Tát vào trong địa ngục độ chúng sanh. Bất luận trong cảnh giới nào, đều chẳng bị thanh sắc trói buộc, tâm chẳng bị cảnh chuyển, sẽ chẳng bị mê mất nhất linh chân tánh, như vậy thì sẽ thật sự thực hiện hạnh nguyện Phổ Hiền. Đó gọi là “ta đã vãng sanh cõi ấy, hiện tiền thành tựu đại nguyện này, hết thảy đều viên mãn hoàn toàn, lợi lạc hết thảy chúng sanh giới”, và cũng “được đức Như Lai ấy thọ ký rồi, hóa thân vô số trăm câu-chi, trí lực rộng lớn trọn khắp mười phương, lợi lạc trọn khắp hết thảy chúng sanh giới” v.v… Vào trong biển sanh tử, nhiếp trì hết thảy chúng sanh, khiến cho họ phát Bồ Đề tâm, đều đặt yên họ nơi diệu đạo Vô Thượng Bồ Đề. Đấy là hoàn thành sự nghiệp phổ độ chúng sanh của Đại Thừa.

          Vì để nhanh chóng thành tựu con đường đại đạo này, nhanh chóng thành tựu viên mãn tâm nguyện phổ độ chúng sanh, phải cầu sanh về Tịnh Độ. Con đường này rất dễ đạt thành, thực hiện dễ dàng, sẽ đạt tới viên mãn. Nó cũng là đạo Nhất Thừa thành Phật, cũng là đạo thành Phật nhanh chóng do được sức bi nguyện của Phật Di Đà nhiếp trì. Vì thế, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận7 gọi [con đường này] là “đạo dễ hành”.

1.2.2.2. Tổng kết

          Nói theo phía Sơ Phát Tâm Bồ Tát thì “quyết định cầu sanh Tịnh Độ” xác định là con đường mười phần sáng suốt. Quan sát từ cả hai phương diện chánh diện và phản diện, nếu lựa chọn sanh trong uế độ, sẽ trở thành “đạo khó hành”. Xét theo tình huống phổ biến, nó sẽ là một tuyệt lộ, hết sức nguy hiểm, hễ đọa lạc, sẽ là vô lượng kiếp, [kẻ khăng khăng đi theo con đường ấy] thuộc loại chẳng biết lượng sức. Đấy là vì lòng từ bi không được nhiếp trì bởi lý trí, đánh giá cao năng lực của chính mình, chọn lựa một cách khinh suất. Rất nhiều người do điều này mà chướng ngại sanh mạng trụ đạo, không chỉ là chẳng thể cứu nổi chúng sanh, mà đâm ra lại bị sức tội nghiệp của chính mình kéo vào đường ác, hoặc phạm lầm lỗi “lang băm hại người”. Ngược lại, nếu lựa chọn sanh vào Tịnh Độ, đây là con đường Nhất Thừa, viên mãn, chẳng thể nghĩ bàn, tột bậc thù thắng, do nương cậy vào nguyện lực đã thành tựu từ vô lượng kiếp của A Di Đà Phật. Nói theo phía phàm phu trong hiện tiền, đây là sự lựa chọn hết sức lý trí. Hiểu rõ đường lối, biết sức lực của chính mình, biết lòng từ bi của Phật, biết sự thù thắng của Tịnh Độ, chỉ cần có tín nguyện, đi theo con đường này, chắc chắn sẽ thành tựu nhanh chóng, đến cuối cùng, sẽ hoàn thành nguyện lực đại bi.

          Sau khi đã thấy như vậy, sẽ biết: Mỗi vị Sơ Phát Tâm Bồ Tát kiến lập bi nguyện, sau khi đã thông hiểu đường lối, đều phải nên đến Tịnh Độ thân cận Phật, vì phải tụ tập hết sức nhiều nhân duyên thì mới có thể nhanh chóng thành tựu Vô Sanh Nhẫn Lực hòng thực hiện bi nguyện. Nhân duyên chẳng tụ tập, sẽ hết sức khó khăn. Dẫu có tâm nguyện, nhưng do sức phiền não của bản thân, sức nhân duyên bên ngoài, cùng với các loại nghiệp lực rắc rối, phức tạp lôi kéo, ngăn trở, sẽ trì hoãn tiến trình, khiến cho vô số kiếp đều chẳng thể thực hiện. Nhưng đi theo con đường vãng sanh Tịnh Độ này, do có Phật lực nhiếp trì, các phương diện đều chuẩn bị tốt đẹp cho quý vị, sẽ tột cùng thuận tiện. Vì thế, sau khi sanh về Tịnh Độ, nhân duyên để hoàn thành Vô Sanh Nhẫn Lực hết sức có ưu thế, hết sức thù thắng. Nhìn từ các nhân tố như cái thân đạt được, thầy bạn để nương cậy, hoàn cảnh cư trụ, nghe pháp môn, cho đến thọ mạng vô lượng, toàn là viên mãn, đáng gọi là thân viên mãn, thầy viên mãn, bạn viên mãn, pháp viên mãn, thời viên mãn v.v… Nói chung, chẳng có tí nào thoái chuyển, toàn là nhân duyên tăng tấn, trong khoảng sát-na có thể tích tập vô số tư lương, nghe pháp gì cũng đều có thể khai phát vô số thiện căn Bồ Đề. Cũng giống như thế, đối với duyên cớ hòng có thể nhanh chóng thành tựu viên mãn Vô Sanh Nhẫn Lực, ắt cần phải noi theo đại duyên khởi này!

          Trong kinh Hoa Nghiêm, trước hết, Phổ Hiền Bồ Tát đối trước Hoa Nghiêm hải chúng tuyên nói mười đại nguyện vương, nhưng đối với phàm phu mà nói, điều này hết sức xa xôi, chẳng có một con đường tắt thù thắng, nhiệm mầu, sẽ khó thể hoàn thành được, nhưng Tịnh Độ của A Di Đà Phật chính là nơi chốn đại duyên khởi để hoàn thành nhanh chóng. Vì thế, Phổ Hiền Bồ Tát suất lãnh hải chúng nhất trí dẫn về thế giới Cực Lạc, vì [ở nơi đó] sẽ dễ dàng hoàn thành Phổ Hiền nguyện hải, mà Phổ Hiền nguyện hải sẽ được thực hiện trong các cõi nước hóa hiện nhiều như vi trần, dùng phương thức trọn khắp, chẳng gián đoạn, thường hằng, hòng lợi ích hết thảy các hữu tình. Đã thấy chỗ quy kết cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là Tây Phương Tịnh Độ, phải nên biết đấy là con đường tắt cùng nhau phải đi của hết thảy các hành giả Bồ Đề. Cũng giống như vậy, thấy mọi người đi theo con đường khác, chẳng đi theo đường lối như thế này (tức con đường cầu sanh Tịnh Độ hòng thân cận Phật), tự tâm bèn chốt lại: “Vì để hoàn thành thệ nguyện đại bi, trước hết, phải vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ!”

2. Mối nghi thứ hai

          (Luận) Đệ nhị nghi, vấn: Chư pháp thể Không, bổn lai vô sanh, bình đẳng tịch diệt, kim nãi xả thử, cầu bỉ, sanh Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, khởi bất quai lý tai? Hựu kinh vân: “Nhược cầu Tịnh Độ, tiên tịnh kỳ tâm, tâm tịnh cố tức Phật độ tịnh”, thử vân hà thông?

          ()第二疑。問:諸法體空,本來無生,平等寂滅。今乃捨此,求彼生西方彌陀淨土,豈不乖理哉?又經云:「若求淨土,先淨其心,心淨故即佛土淨。」此云何通?

          (Luận: Mối nghi thứ hai, hỏi: Bản thể của các pháp là Không, vốn vô sanh, bình đẳng tịch diệt, nay bỏ cõi này, cầu cõi kia, sanh về Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, há chẳng phải là trái lý ư? Kinh còn dạy: “Nếu cầu Tịnh Độ, trước hết hãy thanh tịnh cái tâm, do tâm tịnh thì cõi Phật sẽ tịnh”, điều này nói sao cho suông đây?)

          Ở đây, nêu ra hai vấn đề:

          – Thứ nhất, cầu sanh Tây Phương có trái nghịch lý “các pháp vô sanh” hay không?

          – Thứ hai, làm sao để nói dung thông giữa cầu sanh Tây Phương và “do tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”?

          Cụ thể là nêu ra câu hỏi như thế này: Các pháp bình đẳng tịch diệt, trong Thật Tướng chẳng có sanh, người vãng sanh, và chỗ để sanh về! Nay liền bỏ phương này, cầu phương kia, sanh về Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, chẳng phải là đã trái nghịch lý Vô Sanh hay sao? Hơn nữa, kinh Duy Ma Cật còn dạy: Muốn cầu cõi nước thanh tịnh, trước hết phải làm sao cho cái tâm của chính mình thanh tịnh. Hễ cái tâm tịnh thì cõi nước bèn tịnh. Làm thế nào để có thể dung thông cách nói kiểu ấy với chuyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ?

2.1. Tổng đáp

          (Luận) Đáp: Thích hữu nhị nghĩa. Nhất giả tổng đáp, nhị giả biệt đáp. Tổng đáp giả, nhữ nhược ngôn cầu sanh Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, tắc thị xả thử cầu bỉ, bất trúng lý giả! Nhữ chấp trụ thử, bất cầu Tây Phương, tắc thị xả bỉ trước thử, thử hoàn thành bệnh, bất trúng lý dã. Hựu chuyển kế vân: “Ngã diệc bất cầu sanh bỉ, diệc bất cầu sanh thử” giả, tắc Đoạn Diệt Kiến. Cố Kim Cang Bát Nhã kinh vân: “Tu Bồ Đề, nhữ nhược tác thị niệm, phát A Nậu Bồ Đề giả, thuyết chư pháp đoạn diệt tướng, mạc tác thị niệm, hà dĩ cố? Phát Bồ Đề tâm giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng.

          ()答:釋有二義,一者總答,二者別答。總答者,汝若言求生西方彌陀淨土,則是捨此求彼,不中理者。汝執住此,不求西方,則是捨彼著此,此還成病,不中理也。又轉計云,我亦不求生彼,亦不求生此者,則斷滅見。故金剛般若經云:「須菩提,汝若作是念,發阿耨菩提者,說諸法斷滅相。莫作是念,何以故?發菩提心者,於法不說斷滅相。」

          (Luận: Đáp: Giải thích bằng hai nghĩa. Một là đáp chung, hai là đáp riêng. Đáp chung là nếu ông nói “cầu sanh Tây Phương Di Đà Tịnh Độ chính là bỏ cõi này, cầu cõi kia, chẳng trúng lý”, [vậy là] ông chấp trước trụ trong cõi này, chẳng cầu Tây Phương, tức là bỏ cõi kia, chấp cõi này, đấy vẫn là thành bệnh, chẳng trúng lý. Nếu lại chuyển sang nói: “Ta cũng chẳng cầu sanh cõi kia, mà cũng chẳng cầu sanh cõi này”, tức là kiến giải Đoạn Diệt. Vì thế, kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Này Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ như thế này, phát A Nậu Bồ Đề (phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), nói tướng đoạn diệt của các pháp, đừng nghĩ như thế, cớ sao vậy? Phát Bồ Đề tâm thì đối với các pháp, chẳng nói đến tướng đoạn diệt”).

          Phần giải thích có hai bộ phận là tổng đáp và biệt đáp. Tổng đáp là trả lời chung cho hai nghi vấn, biệt đáp là phân biệt trả lời từng điều một.

          Trước hết là tổng đáp, dùng cùng một lý để phá. Nếu quý vị nói cầu sanh Tây Phương Di Đà Tịnh Độ là “bỏ phương này, cầu phương kia”, [tức là] thật sự có phương này để bỏ, thật sự có phương kia để cầu sanh về. Nếu [quý vị cho rằng] mong sanh về phương kia là chẳng phù hợp lý vô sanh tịch diệt; vậy thì quý vị chấp trước ở lại phương này, chẳng cầu sanh phương kia, cũng là thấy hai nơi đều thật sự có! Ta chẳng ưa thích phương kia, nên sẽ không đến đó; ta ưa thích phương này liền ở nơi đây. Đấy chẳng phải là “bỏ phương kia, chấp phương này”, do Pháp Chấp mà thấy “có sanh” ư? Đều chẳng phù hợp diệu lý như nhau!

          Nếu đổi cách nói: “Ta cũng chẳng cầu sanh phương kia, mà cũng chẳng cầu sanh phương này”. Đấy cũng là cho rằng: Phương kia lẫn phương này đều chẳng thể cầu sanh; hễ cầu sanh, sẽ trái nghịch lý Vô Sanh. Cho nên chẳng cầu sanh cả hai nơi. Như thế thì sẽ đọa vào Đoạn Kiến. Quý vị lại dấy lên Pháp Chấp, cho rằng phương này lẫn phương kia đều chẳng thể cầu sanh, nhất định phải giữ chặt Vô Sanh! Như thế là khăng khăng chấp chặt nơi Vô, sẽ là Đoạn Diệt Kiến.

          Hơn nữa, đã là phương này lẫn phương kia đều chẳng thể sanh, vậy thì quý vị ngồi ở nơi đây sẽ chẳng thể động đậy! Nếu đi về phương Đông, tức là xả Tây, hướng về Đông. Nếu đi về phương Tây, tức là bỏ Đông, hướng về Tây, đều trở thành “có sanh”, có đến, có đi, đấy đều chẳng phải là trái nghịch Vô Sanh đó sao? Do lẽ này, quý vị hẳn là chẳng nên động đậy mảy may, hoặc là đáng nên biến thành hư không! Nhưng thân thể quý vị hằng ngày đều đổi cũ thay mới, ruột và dạ dày co bóp, trái tim đập đều, lại còn phải đi đông, đi tây v.v… Những điều ấy há chẳng phải đều là trái phạm lý Vô Sanh ư? Chuyện gì cũng đều chẳng thể làm ư? Cũng giống như vậy, quý vị đã từ bên Hữu rơi vào bên Vô, mà cứ tưởng trụ nơi bên Vô bất động thì mới phù hợp Vô Sanh. Đấy gọi là “rơi vào Đoạn Kiến”.

          Do đó, kinh Kim Cang chép: “Tu Bồ Đề! Nếu như ông suy nghĩ như thế này, phát A Nậu Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), nói tướng đoạn diệt của các pháp, đừng nghĩ như thế! Vì duyên cớ nào? Phát Bồ Đề tâm là đối với các pháp chẳng nói đến tướng đoạn diệt, mà cũng chẳng thể dùng hai món Đoạn Kiến và Thường Kiến để quán Như Lai”. Ý của đức Thế Tôn là đừng dùng tướng để quán, đấy chỉ là một cách nói ngăn chặn. Lại phải biết, hết thảy Như Lai đều trọn đủ tướng hảo và công đức, đấy là cách nói biểu lộ. Nếu chẳng lãnh hội như vậy, sẽ đọa vào Đoạn Diệt Kiến. Do vậy, phải biết: Nói đến tướng thì muôn pháp sâm la, trong thực tế, chẳng có gì để đắc. Nói theo Tánh thì tịch diệt như nhau, chẳng trở ngại tùy duyên dấy lên tác dụng, chẳng phải là đoạn diệt! Phải nên lãnh hội như thế đó!

2.2. Biệt đáp

          (Luận) Nhị, biệt đáp giả.

          ()二别答者

          (Luận: Thứ hai là biệt đáp).

          Phân biệt giải thích hai nghi vấn trên đây. Thứ nhất, do Sanh chính là Vô Sanh, hoàn toàn chẳng phải là ở ngoài Sanh bèn có Vô Sanh; do vậy, sanh về Tịnh Độ chẳng trái nghịch lý Vô Sanh. Tiếp đó, [đại sư] dùng chánh lý và thánh giáo để nói rõ.

2.2.1. Biện định bất sanh bất diệt

          (Luận) Phù bất sanh bất diệt giả, ư sanh duyên trung, chư pháp hòa hợp, bất thủ tự tánh. Cầu ư sanh thể, diệc bất khả đắc. Thử sanh sanh thời, vô sở tùng lai, cố danh bất sanh. Bất diệt giả, chư pháp tán thời, bất thủ tự tánh, ngôn ngã tán diệt. Thử tán diệt thời, khứ vô sở chí, cố ngôn bất diệt. Phi vị nhân duyên sanh ngoại, biệt hữu bất sanh bất diệt, diệc phi bất cầu sanh Tịnh Độ, hoán tác Vô Sanh!

          ()夫不生不滅者,於生緣中,諸法和合,不守自性。求於生體,亦不可得此生。生時無所從來,故名不生。不滅者,諸法散時,不守自性,言我散滅。此散滅時,去無所至,故言不滅。非謂因緣生外,別有不生不滅。亦非不求生淨土,喚作無生。

          (Luận: Phàm bất sanh bất diệt là trong các sanh duyên (các duyên tạo thành sự sanh), các pháp hòa hợp, chẳng giữ lấy tự tánh. Cầu tìm cái bản thể của Sanh cũng chẳng thể được. Khi cái sanh ấy mà sanh, nó chẳng từ đâu đến, nên gọi là “bất sanh”. “Bất diệt” là khi các pháp phân tán, chẳng giữ lấy tự tánh, nói là cái Ngã tan tác, diệt mất. Trong khi tán diệt ấy, nó chẳng đi đến nơi đâu, vì thế, nói là “bất diệt”. Chẳng phải là ngoài “nhân duyên sanh” mà riêng có bất sanh bất diệt, cũng chẳng phải là “không cầu sanh Tịnh Độ” thì mới gọi là Vô Sanh!)

          Nói “bất sanh bất diệt” là nói: Trong khá nhiều các nhân duyên có thể sanh ra cái quả, các pháp hòa hợp, chẳng giữ lấy tự tánh, bỗng dưng hiện ra quả pháp (pháp là cái quả của các nhân duyên trên đây), nhưng tìm kiếm thể tánh của Sanh thì cũng chẳng thể được. Cái Sanh ấy, lúc nó sanh thì chẳng có gì từ đâu đến, nên gọi là “bất sanh”. Nếu chẳng quan sát, bèn ngỡ là có chuyện gì đó được sanh; trên thực tế, lúc suy cầu, sẽ chẳng tìm được [pháp nào là] sanh, nên bảo Sanh chính là Vô Sanh”.

          Có thể xét theo phương diện Lý “có nhiều nhân duyên” để nhận định điểm này. Ví như hễ nói đến sanh, nhất định là có một pháp thật sự đưa đến, vậy thì nó đưa đến như thế nào? Nó chỉ do một nhân duyên từ trong các nhân duyên có thể sanh [ra cái quả] mà có, hay là do các nhân duyên hòa hợp với nhau mà sanh ra nó? Nếu xét riêng từng nhân duyên, mỗi nhân duyên đều chẳng thể sanh ra cái quả. Đã là mỗi nhân duyên đều chẳng thể sanh ra quả, [vậy thì] nhiều duyên hợp lại cũng chẳng thể thấy có một cái quả thật sự xuất hiện từ đó. Giống như mỗi hạt cát đều chẳng có cách nào sanh ra dầu, vậy thì gộp các hạt cát lại, cũng sẽ chẳng thể ép ra dầu được. Cũng vậy, trên thực tế, chẳng có một quả pháp thật sự từ nơi nào đó đưa đến, do đó, [tạm đặt cho một giả danh là] Vô Sanh. Hoặc nhìn theo phương diện Lý “lìa tứ tánh mà sanh” để xem xét thì tự sanh (do chính nó sanh ra), tha sanh (do pháp khác sanh ra), cộng sanh (do các pháp cùng nhau kết hợp mà sanh), vô nhân sanh (không có nhân mà sanh ra) đều chẳng thành lập, lại chẳng có phương thức thứ năm nào khác! Do xét theo cách này, sẽ chẳng thể lập ra cái Sanh được. Hoặc là do quan sát như vậy, mối quan hệ giữa cái Sanh ấy và quả pháp là như thế nào? Là cùng một Thể, hay là có một cái Thể nào khác? Nếu là cái Thể nào khác, vậy là cái Sanh ấy ở ngoài quả pháp, làm sao có thể nói là cái quả ấy có sanh cho được? Nếu là một Thể, cái được gọi là Sanh ấy “đang sanh”, chẳng phải là “đã sanh”. Đang sanh thì sẽ không có quả, làm sao có thể thành lập “do sự Sanh ấy mà sanh ra cái quả này” cho được? Nhìn từ hai bên, [cách lý giải nào] cũng đều chẳng thể thành lập. Dựa trên những điều này, sẽ phát hiện: Khi chẳng quan sát bèn nói là có sự kiện Sanh, xét theo thực tế, chẳng thể thành lập Sanh được! Đó gọi là “Sanh chính là Vô Sanh”.

          Thêm nữa, “bất diệt” là nói các pháp khi tán diệt, chẳng có pháp nào giữ lấy một tự tánh nhất định, chẳng phải là nói ta đang tán diệt một pháp nào đó. Trong khi tán diệt, trọn chẳng phải là có một pháp thật sự nào đó đi đến nơi đâu, cho nên nói là “bất diệt”. Cũng tức là nếu thừa nhận thật sự có Diệt, ắt cần phải có một pháp thật sự diệt mất; nhưng khi duyên tán, nó sẽ bỗng nhiên chẳng có, trọn chẳng phải là có một pháp thật sự đi về đâu. Do vậy, chẳng có Diệt. Hoặc là nói Diệt là phát sanh nơi quả pháp”, nếu thật sự có Diệt, vậy thì Diệt và quả pháp có mối quan hệ như thế nào? Là một Thể, hay khác Thể? Nếu khác Thể, vậy thì quả pháp ở ngoài Diệt, bàn đến Diệt chi nữa? Nếu bảo là một Thể, Diệt có nghĩa là “chẳng có”, quả pháp là pháp Hữu, làm sao có thể nói là một Thể cho được? Nói chung, chẳng thể kiến lập Diệt, mà cũng chẳng có Diệt thật sự. Do vậy, khi không quan sát bèn nói “lúc duyên tán, bèn diệt mất”, truy tìm nơi thực tế thì chẳng có Diệt! Vì thế, nói Diệt chính là  Diệt”.

          Còn có thể quan sát như thế này, dùng hai sát-na để làm thí dụ. Sát-na trước thuộc về nhân, sát-na ngay sau đó thuộc về quả. Sát-na trước chẳng có quả pháp, chẳng thể nói là “có sanh”; trong sát-na sau, quả pháp đã có, vẫn chẳng thể kiến lập Sanh, vì Sanh là đang sanh, chẳng phải là đã sanh! Lại xét tới Diệt, trong sát-na trước thì có, trong sát-na sau thì không. Nếu trong sát-na trước, nó là đang có, sẽ chẳng thể nói là Diệt. Nếu trong sát-na sau, nó đã không có, vẫn chẳng thể nói là Diệt, rốt cuộc vẫn chẳng thể kiến lập Diệt! Vì thế, sanh diệt là giả lập khi không quan sát, chứ trên thực tế, sẽ chẳng tìm được!

          Như vậy bèn biết: Hoàn toàn chẳng phải là ở ngoài “nhân duyên sanh” mà có một cái bất sanh bất diệt. Ta cũng hiểu rõ: Chẳng phải là quyết định không cầu sanh về Tịnh Độ, ngồi bất động tại đó mới duy nhất là Vô Sanh! Nói cách khác, ở trong cõi tục mà chẳng quan sát, bèn an lập chuyện cầu sanh Tịnh Độ. Trong chân thật, chẳng tìm thấy Sanh, điều này được diễn tả là Sanh chính là Vô Sanh”. Vì thế, sanh về Tịnh Độ chẳng hề trái nghịch lý Vô Sanh!

          (Luận) Vị thử, Trung Luận kệ vân: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị Không, diệc danh vi giả danh, diệc danh Trung Đạo nghĩa”. Hựu vân: “Chư pháp bất tự sanh, diệc bất tùng tha sanh, bất cộng, bất vô nhân. Thị cố tri vô sanh”. Hựu Duy Ma kinh vân: “Tuy tri chư Phật quốc, cập dữ chúng sanh không, nhi thường tu Tịnh Độ, giáo hóa chư quần sanh”. Hựu vân: “Thí như hữu nhân tạo lập cung thất, nhược y không địa, tùy ý vô ngại. Nhược y hư không, chung bất năng thành. Chư Phật thuyết pháp, thường y Nhị Đế, bất hoại giả danh, nhi thuyết chư pháp Thật Tướng”.

          ()為此中論偈云:「因緣所生法,我說即是空,亦名為假名,亦名中道義。」又云:「諸法不自生,亦不從他生,不共不無因,是故知無生。」又維摩經云:「雖知諸佛國及與眾生空,而常修淨土教化諸群生。」又云:「譬如有人,造立宮室。若依空地,隨意無礙。若依虛空,終不能成。諸佛說法,常依二諦。不壞假名,而說諸法實相

          (Luận: Do vậy, Trung Luận có bài kệ rằng: “Pháp sanh bởi nhân duyên, ta nói chính là Không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi nghĩa Trung Đạo”. Lại nói: “Các pháp chẳng tự sanh, chẳng từ pháp khác sanh, chẳng cùng, chẳng không nhân. Vì thế, biết vô sanh”. Kinh Duy Ma Cật lại nói: “Tuy biết các cõi Phật cùng với chúng sanh đều là Không, nhưng thường tu Tịnh Độ, giáo hóa các quần sanh”. Lại nói: “Ví như có người tạo dựng cung điện, nếu dựa vào chỗ đất trống, sẽ tùy ý vô ngại. Nếu dựa trên hư không, trọn chẳng thể thành công được. Chư Phật thuyết pháp thường dựa trên Nhị Đế, chẳng hoại giả danh mà nói Thật Tướng của các pháp”).

          Do nguyên nhân này, Trung Luận8nói: “Pháp sanh bởi nhân duyên, trên thực tế là rỗng không, chẳng có tự tánh” v.v… Lại nói: “Các pháp chẳng phải là tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh. Do vậy biết các pháp sanh chính là vô sanh”. Thêm nữa, kinh Duy Ma Cật nói: “Tuy biết các cõi Phật và chúng sanh là Không, nhưng thường tu Tịnh Độ, thường giáo hóa các quần sanh”. Lại nói: “Giống như người xây dựng cung điện, nếu xây nơi đất trống, sẽ có thể tùy ý vô ngại; nếu xây trên hư không, sẽ trọn chẳng thể xây thành công. Chư Phật thuyết pháp thường dựa trên Nhị Đế (Chân Đế và Tục Đế), chẳng hoại giả danh mà nói Thật Tướng của các pháp. Vì thế, đối ứng với Sanh trong thế tục mà nói là Vô Sanh”    

          Trên đây, đã dẫn thánh giáo để chứng minh, đức Phật thuyết pháp nhằm vào pháp sanh bởi nhân duyên, hoặc là từ Sanh mà nói Vô Sanh, nói Không. Tuy nói Chân Đế vô tướng, tức là nói “cõi Phật và chúng sanh là Không, nhưng Tục Đế rành rành, nghiễm nhiên vẫn thường tu Tịnh Độ, giáo hóa quần sanh, trọn chẳng phế bỏ sự tướng”. Do vậy, chẳng phải là “lìa khỏi Sanh mà nói Vô Sanh”, [chẳng phải là] rời khỏi sự tướng để nói lý tánh.

2.2.2. Xét theo chuyện cầu sanh Tịnh Độ, liễu đạt “Sanh chính là Vô Sanh. Đấy chính là “do tâm tịnh mà cõi Phật tịnh”

          (Luận) Trí giả xí nhiên cầu sanh Tịnh Độ, đạt sanh thể bất khả đắc, tức thị chân Vô Sanh. Thử vị tâm tịnh cố, tức Phật độ tịnh.

          ()智者熾然求生淨土,達生體不可得,即是真無生,此謂心淨故即佛土淨。

          (Luận: Bậc trí nồng nhiệt cầu sanh Tịnh Độ, liễu đạt “thể tánh của Sanh trọn chẳng thể được” chính là Vô Sanh thật sự. Điều này được nói là “do tâm tịnh, cho nên cõi Phật tịnh”).

          Bậc trí háo hức cầu sanh Tịnh Độ, liễu đạt ngay trong đó chẳng có Sanh. Vì thế, chẳng chấp tướng Sanh. Do vậy, tâm rỗng rang, thanh tịnh, sẽ có thể vãng sanh Tịnh Độ với phẩm vị cao. Đấy gọi là “do tâm tịnh, cho nên cõi Phật tịnh”.

          Chữ Tịnh ở đây nhằm nói người ấy chẳng đắm chấp “thật sự có Sanh”. Từ tầng bậc tịnh này mà có công năng lực dụng Bát Nhã, đạt được quả vị cao, xuất hiện Tịnh Độ càng vi diệu hơn. Đó chính là “do tâm tịnh mà cõi Phật tịnh”, hoàn toàn chẳng phải là rời lìa chuyện sanh về Tịnh Độ thì mới có thể “do tâm tịnh cho nên cõi Phật tịnh”.

          (Luận) Ngu giả vị Sanh sở phược, văn Sanh tức tác Sanh giải, văn Vô Sanh tức tác Vô Sanh giải, bất tri Sanh giả tức thị Vô Sanh, Vô Sanh tức thị Sanh. Bất đạt thử lý, hoạnh tương thị phi, sân tha cầu sanh Tịnh Độ, kỷ hứa ngộ tai! Thử tắc thị báng pháp tội nhân, tà kiến ngoại đạo dã.

          ()愚者為生所縛,聞生即作生解,聞無生即作無生解。不知生者即是無生,無生即是生,不達此理,橫相是非。他求生淨土,幾許誤哉。此則是謗法罪人,邪見外道也。

          (Luận: Kẻ ngu bị trói buộc bởi Sanh, nghe nói Sanh bèn hiểu là [thật sự có] Sanh, nghe nói Vô Sanh bèn hiểu là  Sanh, chẳng biết “Sanh chính là Vô Sanh, Vô Sanh chính là Sanh”. Chẳng thông đạt lý này, ngang bướng nẩy sanh thị phi, bực tức với kẻ cầu sanh Tịnh Độ, sai lầm lắm thay! Đấy chính là tội nhân báng pháp, tà kiến ngoại đạo vậy).

          “Kẻ ngu” là kẻ chẳng thấu đạt diệu lý, chẳng thể hiểu sự lý viên dung Sanh chính là Vô Sanh”. Kẻ ấy bị hý luận về Sanh ràng buộc, vừa nghe nói Sanh liền tưởng là thật sự có pháp để sanh; vừa nghe nói đến Vô Sanh, bèn nghĩ “giống như hư không, cái gì cũng chẳng có”, chẳng chấp thuận “có điều gì để thực hiện”, rơi vào bên Đoạn. Kẻ ấy chẳng biết Sanh chính là Vô Sanh, Vô Sanh chính là Sanh”. Vì chẳng liễu đạt diệu lý Trung Đạo, sanh khởi cái tâm thị phi vô lý, cho rằng nếu đã nói đến Vô Sanh thì sanh [về Tịnh Độ] chẳng đúng, sanh tâm sân khuể đối với người cầu sanh Tịnh Độ, sai lầm lắm thay! Như vậy thì sẽ trở thành tội nhân báng pháp, trở thành ngoại đạo tà kiến.

3. Mối nghi thứ ba

          (Luận) Đệ tam nghi, vấn: Thập phương chư Phật nhất thiết Tịnh Độ, Pháp Tánh bình đẳng, công đức diệc đẳng. Hành giả phổ niệm nhất thiết công đức, sanh nhất thiết Tịnh Độ. Kim nãi thiên cầu nhất Phật Tịnh Độ, dữ bình đẳng tánh quai, vân hà sanh Tịnh Độ?

          ()第三疑。問:十方諸佛,一切淨土,法性平等,功德亦等。行者普念一切功德,生一切淨土。今乃偏求一佛淨土,與平等性乖。云何生淨土?

          (Luận: Điều nghi thứ ba, hỏi: Hết thảy các Tịnh Độ của mười phương chư Phật Pháp Tánh bình đẳng, công đức cũng bình đẳng, hành giả niệm trọn khắp hết thảy các công đức, sanh vào hết thảy các Tịnh Độ. Nay lại riêng cầu Tịnh Độ của một vị Phật, trái nghịch tánh bình đẳng, làm sao sanh về Tịnh Độ cho được?)

          Nêu lên câu hỏi: Hết thảy các Tịnh Độ của mười phương chư Phật Pháp Tánh bình đẳng, công đức cũng bình đẳng, hành giả lẽ ra phải dùng cái tâm rộng lớn để niệm trọn khắp hết thảy các công đức, sanh vào hết thảy Tịnh Độ, nay lại khăng khăng chỉ cầu sanh vào Tịnh Độ của một vị Phật, trái nghịch tánh bình đẳng, làm sao còn có thể sanh về Tịnh Độ được nữa?

          Đối phương chất vấn, nghi ngờ: Pháp Tánh vốn bình đẳng, vậy thì phải bình đẳng niệm, sanh trong trọn khắp các cõi; nay lại thiên vị cầu một vị Phật, thiên vị sanh vào một cõi Tịnh Độ, [đấy chính là] trái nghịch tánh bình đẳng, làm sao có thể sanh về Tịnh Độ cho nổi? Bởi lẽ, đã trái nghịch Pháp Tánh!

          Trả lời: Đối với vấn đề này, chẳng thể mơ hồ, xí xóa được. Phải biết, Phật có ba thân là Pháp, Báo, Hóa, cõi có ba loại là Pháp, Báo, Ứng. Phàm phu muốn nhập môn bình đẳng, niệm hết thảy Phật, sanh vào hết thảy cõi, lại phải có lịch trình của riêng họ (quá trình tu tập từng bước một), phải có phương tiện tiếp dẫn. Chẳng thể trách móc phàm phu: “Vì sao ngươi chẳng thể ngay lập tức niệm hết thảy Phật, sanh vào hết thảy các cõi?” Do vậy, hiện thời phải xem xét: Có thể thuận lợi dẫn dắt hết thảy chúng sanh vào Tịnh Độ hay không, cuối cùng, sẽ hết sức nhanh chóng đạt đến “niệm hết thảy Phật, sanh vào hết thảy cõi” hay chăng? Đây là điều chúng ta phải chú ý. Vì thế nói: Thiên vị niệm một vị Phật, thiên vị cầu một cõi, đúng là phương tiện nhanh chóng để vào Tịnh Độ, mà cũng sẽ là rốt ráo được thấy hết thảy Phật, sanh vào hết thảy các cõi. Vì thế, [kinh văn] hướng dẫn chúng ta riêng cầu Tịnh Độ của một vị Phật.

          “Riêng niệm một vị Phật” ở đây phải dựa trên sự nhận thức về hiệu quả ứng hợp căn cơ và xác suất thành tựu. Trước hết, cần biết chúng sanh trong cõi này lắm kẻ trược loạn, do tâm loạn sẽ khó đạt được tam-muội (những điều duyên theo quá nhiều sẽ gây nên động loạn, chẳng có cách nào Định được). Do cái tâm chẳng thể định, sẽ chẳng thể hiện trọn khắp hình bóng. Vì thế, nói theo kẻ bình phàm trong cõi này, nếu niệm trọn khắp hết thảy các vị Phật, sanh vào hết thảy các cõi, chuyện ấy hết sức khó khăn, chẳng ứng hợp căn cơ! Kế đó, phải biết: Do vì căn tánh chậm lụt, kém cỏi, nếu dạy họ chỉ giữ lấy một đối tượng để duyên theo, dụng công liên tục chẳng gián đoạn, sẽ có thể thành tựu tam-muội. Sau khi tam-muội đã thành, sẽ có thể thấy hết thảy các vị Phật. Đấy là điều trọng yếu!

          Giống như mặt trời có thể tỏa nhiệt, nếu làm cho ánh sáng mặt trời tụ lại một điểm, nó sẽ rất nhanh chóng đạt đến điểm cháy, sanh ra lửa. Nếu ánh sáng chẳng tụ lại, vậy thì vĩnh viễn chẳng đạt được tí lửa nào! Ở đây, đích xác là vấn đề hữu hiệu. Hễ tụ tập [ánh sáng mặt trời], trong một giờ là có thể đốt cháy. Chẳng tụ tập, mười giờ, một trăm giờ, một ngàn giờ, một vạn giờ, một ức giờ v.v… vẫn chẳng có cách nào đốt cháy; có thể thấy tầm quan trọng của việc ứng hợp căn cơ. Nếu pháp chẳng ứng hợp căn cơ, chẳng thích hợp với họ, họ sẽ chẳng tu nổi. Vậy thì mười ngày tu không nổi, trăm ngày chẳng tu nổi, ngàn ngày chẳng nổi, suốt một đời chẳng tu nổi, mười đời chẳng tu nổi, trăm đời chẳng tu nổi v.v… sẽ khó thể thành tựu! Nếu họ giữ lấy một [đối tượng], dốc hết năng lượng nội tâm ở nơi ấy, tâm thuần nhất liên tục, sẽ liên kết với A Di Đà Phật ngày càng chặt chẽ, càng ngày càng tương ứng, càng ngày càng được gia bị. Như vậy thì qua một khoảng thời gian khó khăn, sẽ bắt đầu thuần thục, bắt đầu thân cận, bắt đầu càng tu càng khá. Trong đời này, dùng thời gian hữu hạn để tập trung vận dụng nơi một điểm, chắc chắn sẽ là một trăm căn cơ thì một trăm người vãng sanh, một ngàn căn cơ sẽ là một ngàn người vãng sanh. Xác suất thành công là một trăm phần trăm. Nếu chẳng làm như vậy, để cho cái tâm tán loạn, căn tánh của họ chậm lụt, kém cỏi, tâm lại tạp loạn, lâu ngày chầy tháng sẽ nẩy sanh rất nhiều tác dụng phụ, dẫn đến chuyện tu lâu ngày mà chẳng thành tựu!

          Thuốc phải đúng bệnh, pháp phải thích ứng căn cơ. Có thể tưởng tượng, nếu có kẻ trọn đủ tín nguyện, chiếu theo đường lối “một mực chuyên niệm” để hành, chuyên tương ứng với A Di Đà Phật, như vậy thì sẽ dần dần thâm nhập, chắc chắn là một trăm người tu, một trăm người thành công. Một khi đã tương ứng với A Di Đà Phật, chắc chắn sẽ được biển nguyện của đức Phật nhiếp thọ, chắc chắn là một trăm người tu thì một trăm người thành Phật, đạo lý là như thế đó. Phật Thích Ca hoàn toàn trông thấy căn tánh của chúng sanh trong thế giới này phổ biến như thế ấy, cho nên Ngài khuyên dạy: Trước hết, hãy chuyên niệm một vị Phật, khởi đầu bằng vị hữu duyên nhất là A Di Đà Phật. Như thế thì chắc chắn sẽ giải thoát ngay trong đời này. Khi đã sanh sang Tịnh Độ, liền dự vào địa vị Bất Thoái Chuyển, sau đó, nhanh chóng thành tựu viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền rồi thành Phật. Lộ trình này hết sức trọng yếu; vì thế, đức Thế Tôn khuyên bảo mọi người chuyên niệm một vị Phật, chuyên sanh về một Tịnh Độ.

          Dưới đây, chia thành hai điều để biện luận và trình bày:

a) Một đằng là thuận tiện, bởi [dốc tâm] nơi một pháp sẽ dễ thành tựu tam-muội, dễ sanh về Tịnh Độ của Phật.

b) Một đằng là rốt ráo, bởi “một chính là hết thảy”.

3.1. Một đằng là thuận tiện, bởi [dốc tâm] nơi một pháp sẽ dễ thành tựu tam-muội, sanh về Tịnh Độ của Phật

          (Luận) Đáp: Nhất thiết chư Phật độ, thật giai bình đẳng, đản chúng sanh căn độn, trược loạn giả đa. Nhược bất chuyên hệ nhất tâm, nhất cảnh, tam-muội nan thành. Chuyên niệm A Di Đà Phật, tức thị Nhất Tướng tam-muội. Dĩ tâm chuyên chí, đắc sanh bỉ quốc. Như Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh vân: “Phổ Quảng Bồ Tát vấn Phật: ‘Thập phương tất hữu Tịnh Độ, Thế Tôn hà cố thiên tán Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, chuyên khiển vãng sanh?’ Phật cáo Phổ Quảng: – Diêm Phù Đề chúng sanh, tâm đa trược loạn, vị thử thiên tán Tây Phương nhất Phật Tịnh Độ, sử chư chúng sanh chuyên tâm nhất cảnh, tức dị đắc vãng sanh. Nhược tổng niệm nhất thiết Phật giả, niệm Phật cảnh khoan, tắc tâm tản mạn, tam-muội nan thành, cố bất đắc vãng sanh”.

   ()答:一切諸佛土,實皆平等。但眾生根鈍,濁亂者多,若不專繫一心一境,三昧難成。專念阿彌陀佛,即是一相三昧。以心專至,得生彼國。如隨願往生經云,普廣菩薩問佛:「十方悉有淨土,世尊何故偏贊西方彌陀淨土,專遣往生?」佛告普廣:「閻浮提眾生,心多濁亂,為此偏贊西方一佛淨土。使諸眾生,專心一境,即易得往生。若總念一切佛者,念佛境寬,則心散漫,三昧難成,故不得往生」。

          (Luận: Đáp: – Hết thảy các cõi Phật đều thật sự bình đẳng, nhưng chúng sanh căn cơ chậm lụt, trược loạn thì nhiều. Nếu chẳng chuyên buộc ý nơi một tâm, một cảnh, tam-muội sẽ khó thành. Chuyên niệm A Di Đà Phật chính là Nhất Tướng tam-muội, do tâm chuyên chí, sẽ được sanh về cõi ấy. Như trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh9 đã chép: “Phổ Quảng Bồ Tát hỏi đức Phật: ‘Mười phương đều có Tịnh Độ, vì sao đức Thế Tôn riêng khen ngợi Tây Phương Di Đà Tịnh Độ, chuyên dạy vãng sanh [về đó]?’ Đức Phật bảo ngài Phổ Quảng: – Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề tâm phần nhiều ô trược, tán loạn. Do vậy, phải riêng ca ngợi một Phật Tịnh Độ ở phương Tây, khiến cho các chúng sanh chuyên tâm nơi một cảnh, sẽ dễ được vãng sanh. Nếu niệm chung hết thảy các đức Phật, do cảnh niệm Phật rộng rãi, tâm sẽ tản mạn, tam-muội khó thành. Vì thế, chẳng được vãng sanh”).

          Ở đây, [đại sư] chỉ ra: Hết thảy các cõi Phật, thực tế đều bình đẳng, nhưng hiện thời, điều cần phải chú trọng là làm thế nào để khiến cho chúng sanh chứng nhập cảnh bình đẳng ấy, vậy thì nhất định phải lập bày một pháp môn khế hợp căn tánh của chúng sanh trong thế giới Sa Bà. Nếu pháp môn có thể khế cơ, dễ thành công, đáng phải nên đề xướng [pháp môn ấy]. Nếu pháp môn chẳng khế cơ, chẳng dễ thành công, sẽ chẳng đề xướng nó. Như vậy, rốt cuộc phải nên lập bày pháp nào, hoàn toàn tùy thuộc căn tánh của chúng sanh.

          Chúng sanh trong cõi [Sa Bà] này căn cơ chậm lụt, kém cỏi, trong tâm phần nhiều là trạng huống chẳng thanh tịnh, tạp loạn. Đối ứng với loại chúng sanh này, nếu chẳng đề xướng chuyên môn buộc tâm chỉ duyên theo một cảnh, sẽ khó thể thành tựu tam-muội. Nhưng chuyên niệm A Di Đà Phật là Nhất Tướng tam-muội, vì tâm chuyên chú nơi một đức Phật, sẽ có thể sanh về cõi ấy. Trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh, đức Phật cũng dạy bảo như vậy. Phổ Quảng Bồ Tát cũng nhắc tới vấn đề này: Mười phương đều có cõi Phật, vì sao đức Thế Tôn riêng khen ngợi Di Đà Tịnh Độ, dạy chúng sanh chuyên môn duyên niệm và vãng sanh? Đức Phật bảo Phổ Quảng: Có quan hệ với căn tánh của chúng sanh trong Diêm Phù Đề! Tâm họ hết sức chẳng thanh tịnh, tạp loạn, do như vậy [đức Phật] bèn tất yếu riêng ca ngợi một cõi Tây Phương Tịnh Độ, khiến cho các chúng sanh chuyên tâm nơi một cảnh, sẽ dễ vãng sanh. Tuy cũng có pháp môn niệm trọn khắp hết thảy các đức Phật, nhưng cảnh giới niệm Phật [trong pháp môn ấy] rộng lớn, tâm chúng sanh tán loạn. Do vậy, khó thể thành tựu tam-muội, sẽ chẳng thể vãng sanh.

          Tóm lại, đức Thế Tôn quan sát căn tánh phổ biến của chúng sanh trong cõi này, nếu đề xướng pháp môn phổ niệm, xác suất thành công sẽ rất nhỏ, dẫu có mà cũng như không, vì chẳng sanh về Tịnh Độ. Nếu đề xướng pháp môn chuyên niệm, sẽ khế hợp căn cơ của chúng sanh, trăm người tu, trăm kẻ vãng sanh, ngàn người tu, ngàn kẻ vãng sanh. Hơn nữa, nhìn vào lúc lâm chung, phàm phu chấp tướng sẽ do phương hướng [xác định] bởi tín nguyện trong tâm để quyết định thọ sanh ở nơi đâu. Chúng sanh lúc lâm chung chẳng có cách nào duyên theo vị Phật này hay vị Phật kia. Nếu cứ làm như vậy, nói theo phía các phàm phu bình phàm, chỉ sợ chẳng sanh vào Tịnh Độ. Thế nhưng, duyên niệm nơi một vị Phật A Di Đà, chỉ cần cái tâm chuyên chú vào đó, ứng hợp với nguyện lực của đức Phật, ngay khi ấy, sẽ có thể vãng sanh. Vì thế, đức Thế Tôn đề cao pháp môn “chuyên niệm một vị Phật, sanh về một Tịnh Độ”.

3.2. Một đằng là rốt ráo, bởi “một chính là hết thảy”

          Phải biết Phật có ba thân, cõi có ba cõi. Một vị Phật Di Đà, một cõi Tây Phương vốn là Pháp Thân Phật, là Pháp Tánh Độ (cõi được kiến lập bởi Pháp Tánh). Do “một chính là hết thảy”, do đường tắt này bèn có thể thông đến chỗ rốt ráo, cũng có nghĩa là “niệm một vị Phật chính là niệm hết thảy chư Phật, sanh vào một cõi chính là sanh trong hết thảy các cõi”. Xác định rành rẽ điều này, sẽ biết “do phương tiện mà đạt đến rốt ráo, do một môn mà thành phổ môn (trọn khắp các môn)”. Từ chỗ này sẽ thấy, do con đường này bèn có thể chứng nhập tánh bình đẳng, đạt tới mục đích “niệm hết thảy Phật, sanh trong hết thảy cõi”; do vậy, phải nên đề xướng. Dưới đây là sự chứng thực về đạo lý ấy.

          (Luận) Hựu cầu nhất Phật công đức, dữ nhất thiết Phật công đức vô dị, dĩ đồng nhất Phật Pháp Tánh cố. Vị thử, niệm A Di Đà Phật, tức niệm nhất thiết Phật; sanh nhất Tịnh Độ, tức sanh nhất thiết Tịnh Độ. Cố Hoa Nghiêm kinh vân: “Nhất thiết chư Phật thân, tức thị nhất Phật thân. Nhất tâm, nhất trí huệ, lực, vô úy diệc nhiên”. Hựu vân: “Thí như tịnh mãn nguyệt, phổ ứng nhất thiết thủy. Ảnh tượng tuy vô lượng, bổn nguyệt vị tằng nhị. Như thị vô ngại trí, thành tựu Đẳng Chánh Giác. Ứng hiện nhất thiết sát, Phật thân vô hữu nhị”. Trí giả dĩ thí dụ đắc giải. Trí giả nhược năng đạt nhất thiết nguyệt ảnh tức nhất nguyệt ảnh, nhất nguyệt ảnh tức nhất thiết nguyệt ảnh. Nguyệt ảnh vô nhị cố, nhất Phật tức nhất thiết Phật, nhất thiết Phật tức nhất Phật. Pháp Thân vô nhị cố, xí nhiên niệm nhất Phật thời, tức thị niệm nhất thiết Phật dã.

          ()又求一佛功德,與一切佛功德無異,以同一佛法性故。為此念阿彌陀佛,即念一切佛。生一淨土,即生一切淨土。故華嚴經云:「一切諸佛身,即是一佛身。一心一智慧,力無畏亦然。」又云:「譬如淨滿月,普應一切水。影像雖無量,本月未曾二。如是無礙智,成就等正覺。應現一切剎,佛身無有二。」智者以譬喻得解,智者若能達一切月影即一月影,一月影即一切月影。月影無二,故一佛即一切佛,一切佛即一佛。法身無二故,熾然念一佛時,即是念一切佛也。

          (Luận: Lại nữa, cầu công đức của một vị Phật chẳng khác cầu công đức của hết thảy các vị Phật, do cùng một Phật Pháp Tánh. Do vậy, niệm A Di Đà Phật chính là niệm hết thảy Phật, sanh vào một Tịnh Độ chính là sanh vào hết thảy Tịnh Độ. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm chép: “Thân hết thảy chư Phật, chính là một Phật thân. Một tâm, một trí huệ, lực, vô úy cũng thế”. Lại nói: “Ví như trăng tròn sạch, hiện khắp hết thảy chỗ có nước, tuy hình bóng vô lượng, vầng trăng chẳng hề hai. Trí vô ngại cũng thế, thành tựu Đẳng Chánh Giác, ứng hiện hết thảy cõi, thân Phật chẳng có hai”. Kẻ trí nhờ vào thí dụ mà hiểu. Nếu kẻ trí có thể thông đạt hết thảy bóng trăng chính là bóng của một vầng trăng, bóng của một vầng trăng là hết thảy bóng trăng, bởi lẽ bóng trăng chẳng hai. Một vị Phật chính là hết thảy các vị Phật, hết thảy các vị Phật chính là một vị Phật, vì Pháp Thân chẳng hai. Khi hăng hái niệm một vị Phật chính là niệm hết thảy các vị Phật).

          Hơn nữa, cầu công đức của một vị Phật chẳng khác [cầu] công đức của hết thảy các vị Phật. Do duyên cớ gì? Vì duyên cớ chư Phật đều có cùng một Pháp Tánh. Phật Phật đạo đồng, Lý Thể và công đức đều bình đẳng. Do đó, niệm A Di Đà Phật là niệm hết thảy Phật, sanh Tây Phương Tịnh Độ là sanh vào hết thảy các cõi. Cũng vì vậy, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chư Phật đều có cùng một Pháp Thân, cùng một trí huệ, cùng một công đức”. Kinh còn nói: Ví như vầng trăng viên mãn, thanh tịnh, hiện khắp trong hết thảy các dòng nước, tuy có vô lượng hình bóng, nhưng chẳng có hai vầng trăng gốc. Trí vô ngại thành tựu Đẳng Chánh Giác, từ Pháp Thân ứng theo cơ nghi của chúng sanh mà hiện trọn khắp trong hết thảy cõi nước, nhưng thân Phật vốn có trọn chẳng có hai!

          Bậc trí sẽ từ thí dụ này mà lý giải, cũng có nghĩa là bậc trí có thể liễu đạt bóng trăng trong hết thảy ngàn muôn giòng sông chính là bóng của một vầng trăng, bóng dáng của một vầng trăng chính là bóng trăng [soi] trong hết thảy sông ngòi; bởi lẽ, vầng trăng chẳng hai. Chẳng thể nói vầng trăng gốc nơi bóng trăng trong một giòng nước ít hơn một chút, vầng trăng gốc nơi bóng trăng trong ngàn sông ngòi sẽ nhiều hơn một chút. Điều này biểu đạt bóng của một vầng trăng chính là hết thảy các bóng trăng. Cũng tức là nói theo cái nguyên gốc (vầng trăng thật sự, Pháp Thân của Phật) thì không hai. Công đức của Phật Di Đà chẳng ít, công đức của chư Phật chẳng nhiều! Pháp Giới Tạng Thân của A Di Đà Phật vốn là như vậy, trọn chẳng phải là ít hơn hết thảy Phật, mà hết thảy Phật cũng chẳng nhiều hơn A Di Đà Phật. Do vậy bèn liễu giải: Do tam thân chẳng hai, niệm một vị A Di Đà Phật chính là niệm hết thảy Phật. Do bốn cõi viên dung, sanh vào một cõi của Tây Phương Tịnh Độ chính là sanh vào hết thảy các cõi. Đây là từ một pháp chuyên môn nhằm dẫn dắt phàm phu dễ thấy Phật, dễ sanh vào cõi tịnh, rốt cuộc là sẽ chắc chắn thấy hết thảy Phật, sanh trong hết thảy cõi, vì bản thể chẳng hai vậy.

          Nói rõ ràng hơn thì hình bóng của thân Phật chỉ là do vọng thức biến hiện. Sở dĩ nói là “vọng” vì trong chân thật sẽ chẳng có [hình bóng ấy], nhưng do chúng sanh có sức tập khí hòa hợp với bi nguyện của chư Phật, nay quý vị trông thấy hình bóng [thân Phật sai khác], nhưng trong chân thật thì chỉ có Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật, thuần túy là Pháp Thân đang khởi tác dụng. Trong chân thật đã không có các hình bóng ấy, những thứ ấy đều là thân Phật bất nhị. Vì thế, đừng nên đối với chuyện này mà dấy lên cách nhìn [so đo] hơn kém, [bởi lẽ], hết thảy các vị Phật đã hiện ra, trên thực tế đều là lực dụng của Pháp Thân, chẳng sai khác. Đã là lực dụng của Pháp Thân, tức toàn là do Pháp Thân khởi tác dụng. Hiểu được điều này, sẽ biết “một chính là hết thảy, hết thảy đều là Pháp Thân, hết thảy đều chẳng hai”.

          Điều then chốt là phải nhìn vào bổn nhân (thân Phật thật sự, Pháp Thân), đừng nên nhìn vào những hình bóng hiển hiện bởi vọng thức, [để rồi so đo] rốt cuộc là “một” thì tốt hơn, hay “nhiều” thì tốt hơn. Nếu so đo nơi vọng thức, đây là “một”, kia là “nhiều”, dường như “nhiều” sẽ hay hơn một! Nhưng phải biết: Phía sau của cái “một” này và phía sau của cái “nhiều” kia, đều vốn là cùng một thứ. Giống như một vị A Di Đà Phật hóa hiện vô số vị A Di Đà Phật, đều là do cùng một Pháp Thân Phật khởi tác dụng, chẳng phải là hai cái Thể khởi lên tác dụng! Phía sau của sắc thân A Di Đà Phật mà quý vị trông thấy trước mặt chẳng phải là Pháp Thân Phật hay sao? Phía sau của bao nhiêu hình tượng thân Phật chẳng phải là cùng một Pháp Thân hay sao? Các thân ấy vốn chẳng hai! Cái thật sự tương ứng chính là một Pháp Thân Phật, do vậy gọi là “niệm một vị Phật chính là niệm hết thảy các vị Phật”.

          Cuối cùng, chúng ta phải nắm vững trọng điểm “do chuyên mà phổ” (từ chuyên nhất niệm một vị Phật mà thành niệm trọn khắp các vị Phật). Đương nhiên là người hỏi [cật vấn như thế] chẳng sai, phải niệm hết thảy các đức10, phải sanh vào hết thảy cõi, chẳng thể thiên lệch nơi một điều nào, vì tâm tánh của chúng ta trọn khắp, bình đẳng. Hơn nữa, hết thảy chư Phật đều ở trong tâm, hết thảy các đức đều ở trong tâm; nhưng cần phải phân định giai đoạn rõ ràng! Thực tế ấy chính là nội hàm (nội dung được chứa đựng) trong đại hạnh Phổ Hiền, nó trọn khắp, vô tận, viên mãn. Vì thế, bất cứ nguyện nào cũng đều nói “tận pháp giới, hư không giới”, “niệm niệm tương tục vô hữu gián đoạn” (niệm nào cũng đều liên tục, chẳng gián đoạn), cũng đều là vào trọn khắp hết thảy các cõi, niệm trọn khắp hết thảy các vị Phật, tu trọn khắp hết thảy các hạnh, không gì chẳng viên mãn trọn khắp. Sau khi đã hiển lộ rõ rệt pháp giới tâm, do xứng hợp với pháp giới tâm mà xuất hiện đại hạnh như thế đó, nhưng phải phân định rõ rệt từng giai đoạn: Chuyện này chẳng phải là phàm phu mà hòng tu được, chênh lệch quá xa! Nếu xét theo trạng huống tu hành trước mắt của chúng ta, chỉ sợ vô số kiếp cũng khó thể đạt được! Phổ Hiền Bồ Tát thống nhiếp, dẫn dắt Hoa Tạng hải chúng đều cùng về thế giới Cực Lạc chính là con đường tắt để thực hiện biển nguyện của Phổ Hiền. Đấy chính là đạo trọng yếu để chứng nhập thế giới Hoa Tạng, phát sanh đại hạnh của Phổ Hiền.

          Thông qua con đường này, ai nấy đều có thể thành tựu viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền. Do vậy, đấy chính là lộ trình “từ chuyên đến phổ”. “Chuyên” là chuyên niệm một vị A Di Đà Phật, chuyên sanh về một cõi Tây Phương. “Phổ” là hễ đến nơi đó, sẽ được thuận duyên hết sức tốt đẹp gia bị, sẽ nhanh chóng khai phát bổn tánh. Hễ trí Văn Thù được khai phát, sẽ nhanh chóng tiêu trừ tập khí vọng chấp (chấp trước hư vọng), pháp giới chân tâm sẽ hiện tiền. Đương nhiên là cuối cùng sẽ giống như Quán Thế Âm Bồ Tát, hết thảy các vị Phật đều ở trong pháp giới tâm, đương nhiên là cúng trọn khắp hết thảy các vị Phật, niệm trọn khắp hết thảy đức, hành trọn khắp hết thảy thiện. Đấy là đạo lý tự nhiên. Do vậy, trước hết phải mong cầu chuyên, sau đấy sẽ đạt đến phổ. Đấy là đường tắt, tránh khỏi vô số ngõ rẽ, vô số đường vòng, vô số dò dẫm mù mờ và thoái chuyển hòng có thể nhanh chóng thành tựu.

          Tiếp đó, lại dùng thánh giáo để chứng minh điều này. Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm nói: “Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ, hiện tiền thành tựu thử đại nguyện” (Tôi đã vãng sanh cõi ấy rồi, hiện tiền thành tựu đại nguyện này). Lại nói: “Trí lực quảng đại biến thập phương, phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới” (Trí lực rộng lớn trọn mười phương, lợi khắp hết thảy chúng sanh giới), hạnh trọn khắp hết thảy, hạnh bình đẳng hoàn toàn được thực hiện. Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Buộc tâm nơi một vị Phật, chuyên xưng danh hiệu của Ngài, như thế thì sẽ có thể niệm nào cũng liên tục nơi một vị Phật, sẽ có thể trong một niệm mà thấy quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật, vì công đức niệm một vị Phật và công đức do niệm vô lượng Phật chẳng hai”. Đã thế, còn nói so sánh: Phật pháp do ngài A Nan được nghe vẫn thuộc vào số lượng hữu hạn. Nếu đạt được Nhất Hạnh tam-muội, đối với các pháp môn trong các kinh, đều phân biệt liễu tri từng thứ một, ngày đêm tuyên nói, trí huệ biện tài trọn chẳng ngưng dứt. Đa văn biện tài của ngài A Nan chẳng bằng một phần trăm ngàn [sự đa văn biện tài của người đã đắc Nhất Hạnh tam-muội]. Có thể thấy là do thâm nhập một môn, cuối cùng sẽ có thể thấy vô lượng Phật, đắc Nhất Hạnh tam-muội, có thể biết trọn khắp vô lượng pháp. Đấy cũng là một chứng cớ rõ rệt cho chuyện “từ chuyên mà đạt tới phổ”.

          Hơn nữa, từ Di Đà nguyện hải, sẽ có thể biết [tánh chánh xác của đường lối “từ chuyên đến phổ”]. Chẳng hạn như trong nguyện thứ bốn mươi lăm [của A Di Đà Phật] có nói: “Các vị Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu của ta đều có thể đắc Phổ Đẳng tam-muội. An trụ trong tam-muội này, mãi cho đến khi thành Phật, sẽ thường thấy vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật”. Đấy cũng là do chuyên mà đạt đến phổ, có thể thấy vô lượng Phật. Lại còn nói đến cảnh giới thành tựu Thần Túc Thông: “Trời, người trong nước chẳng đắc Thần Túc, trong khoảng một niệm tối thiểu là chẳng thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Có thể thấy là hễ sanh về Tịnh Độ, liền được Phật gia bị, trong khoảng một niệm, tối thiểu sẽ vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha cõi Phật, có thể thừa sự, cúng dường vô lượng Phật.

          Tương tự như thế, một mai khai phát bổn tánh, do vì chân tâm trọn khắp, tự nhiên sẽ có thể phát sanh hạnh Phổ Hiền, lại còn sẽ dần dần viên mãn. Tất nhiên rốt cuộc là niệm khắp hết thảy các vị Phật, cúng khắp hết thảy chư Phật, tu trọn khắp hết thảy đức, sẽ thực hiện biển hạnh Phổ Hiền như thế đó.

4. Mối nghi thứ tư

          (Luận) Đệ tứ nghi, vấn: Đẳng thị niệm cầu sanh nhất Phật Tịnh Độ, hà bất thập phương Phật độ trung, tùy niệm nhất Phật Tịnh Độ, tùy đắc vãng sanh, hà tu thiên niệm Tây Phương Di Đà Phật da?

          ()第四疑。問:等是念求生一佛淨土,何不十方佛土中,隨念一佛淨土隨得往生,何須偏念西方彌陀佛耶?

          (Luận: Điều nghi thứ tư, hỏi: Đã đều là niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ của một vị Phật, sao chẳng từ trong các cõi Phật ở mười phương, tùy ý niệm Tịnh Độ của một vị Phật để tùy ý được sanh [về cõi đó], sao cứ khăng khăng niệm Phật Di Đà ở Tây Phương vậy?)

          Kế đó, lại nêu câu hỏi: Cùng niệm Phật, cầu sanh về Tịnh Độ của một vị Phật giống hệt như nhau, vì sao chẳng tùy tiện niệm Tịnh Độ của một vị Phật trong trong mười phương cõi Phật để tùy ý vãng sanh, cớ gì cứ nhất định phải khăng khăng niệm A Di Đà Phật vậy? Có nghĩa là mười phương đều có cõi Phật thanh tịnh, chúng ta tùy tiện chọn một cõi Phật để vãng sanh là được rồi, vì sao cứ khăng khăng chọn Tây Phương Cực Lạc thế giới, khăng khăng niệm A Di Đà Phật vậy?

          Trả lời: Ở đây có khá nhiều nhân duyên, dùng năm nguyên nhân để nói rõ:

a) Do nghe lời đức Phật dạy bảo.

b) Do bi nguyện nhiếp thọ chúng sanh của Phật Di Đà.

c) Do chư Phật đã chứng thực.

d) Do Phật Di Đà đặc biệt có duyên với cõi này.

e) Do các cõi Phật khác đều chẳng bằng cõi Phật Di Đà là nơi được kinh luận ân cần dặn dò, khuyên nhủ vãng sanh.

          (Luận) Đáp: Phàm phu vô trí, bất cảm tự chuyên, chuyên dụng Phật ngữ, cố năng thiên niệm A Di Đà Phật.

          ()答:凡夫無智,不敢自專。專用佛語,故能偏念阿彌陀佛。     

          (Luận: Đáp: Phàm phu vô trí, chẳng dám tự chuyên, chuyên nương theo lời Phật; vì thế, đặc biệt niệm A Di Đà Phật).

          Trả lời: Phàm phu chẳng có trí huệ như Phật, tự mình phán đoán thường không chánh xác, chẳng thích đáng. Vì thế, chẳng dám dùng ý thức của chính mình để quyết định, cần phải nhất tâm nghe theo lời đức Phật chỉ dạy. Do trong kinh, đức Phật đã chỉ dạy duyên cớ, chúng ta có thể xác định “cần phải đặc biệt niệm A Di Đà Phật”.

4.1. Do nghe lời đức Phật dạy bảo

          (Luận) Vân hà dụng Phật ngữ? Thích Ca đại sư nhất đại thuyết pháp, xứ xứ thánh giáo, duy khuyến chúng sanh chuyên tâm thiên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Như Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Kinh, Vãng Sanh Luận đẳng, sổ thập dư bộ kinh luận văn đẳng, ân cần chỉ thọ, khuyến sanh Tây Phương, cố thiên niệm dã.

          ()云何用佛語?釋迦大師一代說法,處處聖教,唯勸眾生,專心偏念阿彌陀佛,求生西方極樂世界。如無量壽經、觀經、往生論等,數十餘部經論文等,殷勤指授,勸生西方,故偏念也。

          (Luận: Vì sao vâng theo lời Phật? Thích Ca đại sư một đời thuyết pháp, trong mọi thánh giáo, chỉ khuyên chúng sanh chuyên tâm riêng niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Như kinh Vô Lượng Thọ, Quán Kinh, Vãng Sanh Luận v.v… hơn mấy chục bộ kinh, luận đều ân cần chỉ dạy, khuyên sanh Tây Phương. Vì thế, riêng niệm [A Di Đà Phật]).

          Vì sao dựa theo lời chỉ dạy do chính miệng đức Phật đã nói mà lựa chọn riêng niệm A Di Đà Phật? Đấy là vì thấy Phật Thích Ca là bậc đại đạo sư của chúng sanh trong giai đoạn này, suốt một đời Ngài thuyết pháp, mọi nơi mọi chốn trong thánh giáo chỉ một mực khuyên bảo chúng sanh chuyên tâm riêng niệm A Di Đà Phật, cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Như trong kinh Vô Lượng Thọ, Quán Kinh, Vãng Sanh Luận v.v… hơn mấy chục bộ kinh, luận đều ân cần chỉ bảo, truyền dạy, khuyên bảo pháp môn vãng sanh thế giới Cực Lạc. Chúng ta chẳng có trí huệ, chẳng biết vì sao phải hành như vậy, nhưng do đức Phật dùng Nhất Thiết Chủng Trí thấy như vậy, đã xếp đặt cho chúng ta như vậy, cho nên chúng ta tin tưởng lời đức Phật dạy bảo. Vì lẽ đó, [chúng ta] riêng niệm A Di Đà Phật.

4.2. Do bi nguyện nhiếp thọ chúng sanh vãng sanh của Phật Di Đà

          (Luận) Hựu A Di Đà Phật biệt hữu đại bi tứ thập bát nguyện, tiếp dẫn chúng sanh. Hựu Quán Kinh vân: “A Di Đà Phật hữu bát vạn tứ thiên tướng, nhất nhất tướng hữu bát vạn tứ thiên hảo, nhất nhất hảo phóng bát vạn tứ thiên quang minh, biến chiếu pháp giới niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả. Nhược hữu niệm giả, cơ cảm tương ứng, quyết định đắc sanh”.

   ()又阿彌陀佛別有大悲四十八願,接引眾生。又觀經云:「阿彌陀佛有八萬四千相,一一相有八萬四千好。一一好放八萬四千光明,遍照法界。念佛眾生,攝取不捨。若有念者,機感相應,決定得生。」

   (Luận: Lại nữa, A Di Đà Phật có riêng bốn mươi tám nguyện đại bi tiếp dẫn chúng sanh. Lại nữa, Quán Kinh nói: “A Di Đà Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, mỗi một tướng có tám vạn bốn ngàn hảo, mỗi một hảo tỏa ra tám vạn bốn ngàn quang minh, chiếu trọn khắp chúng sanh niệm Phật trong pháp giới, nhiếp thủ chẳng bỏ. Nếu có kẻ niệm Ngài, cơ cảm tương ứng, chắc chắn sẽ được vãng sanh”).

          Lại nữa, nói theo bổn nguyện của A Di Đà Phật, Ngài đặc biệt do lòng đại bi mà phát khởi bốn mươi tám nguyện để tiếp dẫn chúng sanh. Quán Kinh cũng nói: A Di Đà Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, mỗi một tướng có tám vạn bốn ngàn hảo, mỗi một hảo tỏa ra tám vạn bốn ngàn quang minh. Quang minh ấy chiếu trọn khắp cả một khu vực to lớn là pháp giới, chiếu đến chúng sanh niệm Phật, một mực nhiếp thủ chẳng bỏ. Chỉ cần niệm A Di Đà Phật, cơ cảm của chính mình hễ tương ứng với bi nguyện của Phật thì sẽ chắc chắn được vãng sanh.

          Nguyện của A Di Đà Phật chân thật, chẳng hư giả, chiếu vào tâm ta. Do vậy, chúng ta riêng niệm A Di Đà Phật, quyết định vãng sanh thế giới Cực Lạc. Bi nguyện của A Di Đà Phật chẳng có nguyện nào hư dối, ta tin tưởng điều này, lại tin tưởng sự chỉ dạy của Phật Thích Ca, cho nên riêng niệm A Di Đà Phật.

4.3. Vì chư Phật đã chứng thực

          (Luận) Hựu A Di Đà Kinh, Đại Vô Lượng Thọ Kinh, Cổ Âm Vương Đà La Ni Kinh đẳng vân: “Thích Ca Phật thuyết kinh thời, giai hữu thập phương hằng sa chư Phật, thư kỳ thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, chứng thành nhất thiết chúng sanh niệm A Di Đà Phật, thừa Phật đại bi bổn nguyện lực cố, quyết định đắc sanh Cực Lạc thế giới”.

   ()又阿彌陀經、大無量壽經、鼓音王陀羅尼經等云:「釋迦佛說經時,皆有十方恒沙諸佛,舒其舌相,遍覆三千大千世界,證成一切眾生念阿彌陀佛,乘佛大悲本願力故,決定得生極樂世界。」

   (Luận: Lại nữa, kinh A Di Đà, kinh Đại Vô Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Vương Đà La Ni v.v… đều nói: “Khi đức Phật Thích Ca thuyết pháp, đều có chư Phật nhiều như cát sông Hằng trong mười phương thè lưỡi che khắp tam thiên đại thiên thế giới, chứng thực hết thảy chúng sanh niệm A Di Đà Phật, nương vào sức bổn nguyện đại bi của Phật, quyết định được sanh về thế giới Cực Lạc”).

          Lại nữa, mười phương hằng hà sa số chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài cùng chứng minh điều này: Niệm A Di Đà Phật, sanh vào quốc độ của Ngài, chắc chắn là sẽ đạt được lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Ta tin tưởng mười phương chư Phật chẳng nói lời dối gạt. Do vậy, nghe đức Phật dạy riêng niệm A Di Đà Phật thì [tin tưởng lời đức Phật dạy] chắc chắn là đúng. Trong các kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Vương Đà La Ni v.v… đều nói: Khi đức Phật nói những kinh ấy, đều có chư Phật trong mười phương thế giới nhiều như số cát sông Hằng cùng nhau hiện tướng lưỡi rộng dài, bao trùm trọn khắp phạm vi tam thiên đại thiên thế giới, chứng thực hết thảy chúng sanh niệm A Di Đà Phật, do nương vào sức bổn nguyện đại bi của A Di Đà Phật, sẽ chắc chắn có thể sanh vào thế giới Cực Lạc.

          Người đời đều biết, hễ nói dối thì lưỡi sẽ ngắn, thè ra, ngay cả chót mũi cũng chẳng chạm tới, nhưng chư Phật thè lưỡi che khắp tam thiên đại thiên thế giới, làm sao có chút vọng ngữ nào cho được? Các Ngài muốn chứng minh: Dùng pháp môn đơn giản, dễ dàng như thế này, sẽ có thể đạt được lợi ích tột cùng thù thắng. Tuy chúng ta là nhục nhãn phàm thai, chẳng thấy duyên khởi, sức Pháp Tánh v.v… của chuyện hiếm hoi, lạ lùng này, thật sự là quá sâu, quá mầu nhiệm, quá hết sức chẳng thể nghĩ bàn, nhưng chúng ta tin tưởng chư Phật chẳng nói dối gạt người khác, đặc biệt tin tưởng Thánh Ngôn Lượng, tin lời đức Phật chỉ dạy, chỉ cần riêng niệm A Di Đà Phật, nhất định sẽ đạt được lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, chúng ta riêng niệm A Di Đà Phật, chẳng có mảy may do dự!

4.4. Do Phật Di Đà đặc biệt hữu duyên với cõi này

          (Luận) Đương tri A Di Đà Phật dữ thử thế giới, thiên hữu nhân duyên. Hà dĩ đắc tri? Vô Lượng Thọ kinh vân: “Mạt thế pháp diệt chi thời, đặc trụ thử kinh bách niên tại thế, tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh bỉ quốc”. Cố tri A Di Đà Phật, dữ thử thế giới cực ác chúng sanh, thiên hữu nhân duyên.

          ()當知阿彌陀佛與此世界,偏有因緣。何以得知?無量壽經云:「末世法滅之時,特駐此經,百年在世,接引眾生往生彼國。」故知阿彌陀佛與此世界極惡眾生,偏有因緣。

          (Luận: Hãy nên biết A Di Đà Phật và thế giới này riêng có nhân duyên, vì sao biết? Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Thời Mạt khi pháp diệt, đặc biệt lưu lại kinh này một trăm năm trên cõi đời để tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh cõi ấy”. Vì thế, biết A Di Đà Phật và chúng sanh cực ác trong thế giới này riêng có nhân duyên).

          Phải biết A Di Đà Phật có nhân duyên đặc biệt với chúng sanh trong thế giới này. Vì sao biết? Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật Thích Ca đã nói: “Trong đời Mạt, khi pháp diệt, đức Phật đặc biệt dùng sức từ bi lưu lại kinh này một trăm năm trên cõi đời hòng tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh cõi nước của A Di Đà Phật”. Do vậy biết: A Di Đà Phật có nhân duyên đặc biệt với chúng sanh cực ác trong thế giới này, cũng vì vậy mà chúng sanh có thể nương cậy Ngài. Dẫu thế giới trược ác cách mấy, thậm chí tới thời kỳ Phật pháp bị diệt mất, pháp này vẫn có thể độ sanh. Bởi lẽ đó, Phật Thích Ca dùng sức từ bi đặc biệt lưu pháp này lại trụ thế một trăm năm.

          Chúng sanh trong cõi này và A Di Đà Phật đặc biệt hữu duyên, đặc biệt dễ dàng dùng pháp môn Di Đà để đắc độ. Tới khi những pháp môn khác đều chẳng thể cứu, chúng sanh chỉ cần nhất tâm niệm A Di Đà Phật thì sẽ có thể được tiếp dẫn sang Tây Phương quốc độ. Nếu chẳng có duyên, lại ở trong thời kỳ trược ác như vậy, lẽ nào có thể vượt thoát luân hồi cho được? Chỉ vì hết sức hữu duyên, tâm chúng sanh bèn hướng về nơi đó, giống như con nhớ mẹ. Mẹ con có thiên tánh tương quan, do được Phật lực nhiếp trì mà sanh về thế giới Cực Lạc. Giống như trên cõi đời, hễ có duyên bèn thành mẹ con. Do hữu duyên bèn nhất tâm niệm “mẹ ơi”, cầu mẹ đến giúp đỡ, chẳng cầu ai khác! Duyên phận mỏng manh sẽ chẳng quan tâm tới, hoặc là chẳng dấy lên tác dụng thân thiết. Nếu duyên rất sâu, rất gần, sẽ có thể lập tức khởi tác dụng, nhất định sẽ kéo chúng sanh ra khỏi luân hồi.

4.5. Vì các cõi Phật khác đều chẳng bằng cõi Phật Di Đà là nơi được kinh luận luôn ân cần dặn dò, khuyên nhủ vãng sanh

          (Luận) Kỳ dư chư Phật, nhất thiết Tịnh Độ, tuy nhất kinh, lưỡng kinh lược khuyến vãng sanh, bất như Di Đà Phật quốc, xứ xứ kinh luận, ân cần đinh ninh, khuyến vãng sanh dã.

          ()其餘諸佛,一切淨土,雖一經兩經,略勸往生。不如彌陀佛國,處處經論,殷勤叮嚀,勸往生也。

          (Luận: Hết thảy các Tịnh Độ của những vị Phật khác tuy được một hai kinh đại lược khuyên vãng sanh, chẳng bằng cõi của đức Phật Di Đà, kinh luận nào cũng đều ân cần căn dặn, khuyên nhủ vãng sanh).

          Thích Ca Mâu Ni Phật quán chiếu toàn thể thế giới Sa Bà, [nhận thấy] phàm phu trong đời Mạt trược ác càng cần phải trông cậy A Di Đà Phật cứu độ. Vì thế, trong các kinh, đức Phật Thích Ca luôn ân cần căn dặn, khuyên lơn chúng sanh vãng sanh Di Đà Phật quốc. Chẳng như những cõi Phật khác chỉ được khuyên bảo vãng sanh đại lược trong một hai bộ kinh. Chúng ta phải thấy dụng ý của đức Phật ở nơi đâu!

* Nêu bày điều tâm yếu

          Bản thể của Phật Di Đà và hết thảy chư Phật chẳng hai, lại do Ngài có duyên với chúng ta nhất, cho nên đặc biệt niệm A Di Đà Phật.

          Từ hai câu hỏi như thế trở đi, chúng ta thấy rõ chân tướng của duyên khởi. Ở đây, phải nêu ra một câu hỏi: Hết thảy các Tịnh Độ của chư Phật đều rất thù thắng, vì sao đối với các Tịnh Độ khác, đức Phật chỉ nói đơn giản trong một, hai bộ kinh? Nhưng đối với Di Đà Tịnh Độ, sao lại trong các kinh nhiều ngần ấy Ngài luôn ân cần căn dặn, khuyên dạy vãng sanh?

          Phật Thích Ca trông thấy đại duyên khởi ở chỗ nào, có những chúng sanh hữu duyên với Tịnh Độ của các vị Phật ấy, muốn sanh về đó. Vì thế, đức Phật cũng nhắc đến, nhưng những cõi ấy hoàn toàn chẳng mang tánh chất phổ biến. Do đó, Ngài chỉ nói trong một hai bộ kinh là được rồi. Nhưng pháp môn Tây Phương Tịnh Độ khác hẳn, nó và các chúng sanh trong giáo pháp suốt một đời đức Phật có mối quan hệ đặc biệt to lớn, chủ yếu là hai điều:

          1) Thứ nhất, trong thế giới Sa Bà, mãi cho đến lúc Phật pháp diệt mất, có hết sức nhiều chúng sanh hữu duyên với A Di Đà Phật, giống như người trong thế gian lập gia đình, hoặc là người với người sống chung với nhau, có duyên thì mới có thể ở chung một chỗ được. Lại giống như sư phụ trong quá khứ, thâu nhận đồ đệ đều phải xem xét nhân duyên. Vị ấy chẳng có tâm riêng tư, nếu duyên phận [của trò] với thầy chẳng sâu, thầy sẽ chỉ dạy quý vị: “Ngươi hữu duyên với vị sư phụ ở nơi nào đó, ngươi hãy tới đó”. Hữu duyên thì sẽ có thể đắc độ, thành công hết sức dễ dàng. Vì thế, đức Phật cũng phải xem xét cái duyên. Từ điều này, có thể thấy: Phần đông chúng sanh trong thế giới Sa Bà có duyên cùng A Di Đà Phật.

          2) Chúng sanh trong cõi này chẳng tương ứng với các Tịnh Độ khác, chỉ có Tịnh Độ của A Di Đà Phật là dễ sanh về nhất. Một mai đã tin nhận, chân tâm mong mỏi được vãng sanh, cậy vào phép Trì Danh đơn giản là đã có thể sanh về đó. Từ lúc đức Phật xuất thế cho đến một trăm năm trước khi Phật pháp hoàn toàn diệt mất, trong khoảng thời gian dài như vậy, chúng sanh nhiều ngần ấy thảy đều trông cậy A Di Đà Phật mà giải thoát, mà thành Phật. Chuyện này khá trọng đại. Do vậy, trong kinh đức Phật mới ân cần căn dặn, đặc biệt nhấn mạnh, trong ấy có duyên cớ đại duyên khởi rất lớn.

          Chúng ta không có trí huệ, chẳng biết nhân duyên bao đời nhiều kiếp và mối quan hệ với A Di Đà Phật, chính mình cần phải cậy vào pháp môn nào hữu duyên, phải đi theo con đường nào để được độ thoát, nhưng Phật Thích Ca đã biết hoàn toàn. Chúng ta chỉ cần tin sâu lời đức Phật chỉ dạy, nhất tâm nhất ý niệm A Di Đà Phật, nhất tâm nhất ý cầu sanh về thế giới Cực Lạc, như vậy thì chắc chắn sẽ ở chung với Phật. Quyết định giống như lãng tử đã phiêu bạt nhiều đời, rốt cuộc tìm được mẹ, tìm được quê nhà, tìm được con đường của chính mình. Sau khi đã nhận định như vậy, bèn nhất tâm nhất ý niệm A Di Đà Phật, cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Phải lãnh hội giống như thế đó!

          Những kẻ bình phàm thường cho rằng phổ niệm đặc biệt thù thắng, nhưng qua chọn lựa như vậy, sẽ thấy vẫn là chuyên niệm tốt hơn. [Chuyên niệm] khế cơ, xác suất thành công cao, cuối cùng lại còn có thể đạt tới phổ niệm. Như thế thì sẽ chọn lựa chuyên niệm một vị Phật. Hơn nữa, trong chuyên niệm, lại chọn vị tốt nhất là A Di Đà Phật, Ngài và chúng ta hữu duyên nhất, đặc biệt dễ thành công! Do điều này bèn biết, pháp môn Tịnh Độ đặc biệt tốt đẹp, do Phật Thích Ca đã chọn lựa chắc chắn cho chúng ta, chẳng phải do là chủ trương của người nào khác. Đức Phật trụ thế tám mươi năm rồi ra đi rất nhanh, nhưng Ngài đã sắp xếp tốt đẹp ngàn thu muôn đời cho con người. Nếu chẳng nói ra một pháp có thể nhiếp trọn khắp đại chúng, thực hiện dễ dàng, lại đặc biệt tột bậc thù thắng, người đời sau biết làm như thế nào đây? Cậy vào ai để được độ thoát? Đã chẳng thấy Phật, lại chẳng có duyên y chỉ, làm sao có thể ngay trong đời này vượt thoát luân hồi, hoàn thành chuyện thành Phật cho được? Gần như là chẳng thể nào được!

          Phật Thích Ca lòng Từ sâu xa, tâm Bi to lớn, hoàn toàn thấy duyên khởi, thấy chiếc bè Từ khiến cho chúng sanh đắc độ là pháp môn Di Đà. Vì thế, trong rất nhiều kinh giáo, đức Phật đều đặc biệt chỉ bày Tây Phương Tịnh Độ. Có thể nói là đây là chuyện được căn dặn đi, căn dặn lại, ủy thác, giao phó trọng yếu nhất, có thể suy ra mà biết tầm quan trọng của chuyện này. Sau khi đã hiểu rõ như vậy, chúng ta sẽ nhất tâm nhất ý chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ, chẳng còn có cách nghĩ nào khác!

5. Mối nghi thứ năm

          (Luận) Đệ ngũ nghi, vấn: Cụ phược phàm phu, ác nghiệp hậu trọng, nhất thiết phiền não nhất hào vị đoạn, Tây Phương Tịnh Độ xuất quá tam giới, cụ phược phàm phu vân hà đắc sanh?

   ()第五疑問:具縛凡夫惡業厚重,一切煩惱一毫未斷,西方淨土出過三界,具縛凡夫云何得生?

          (Luận: Mối nghi thứ năm, hỏi: Phàm phu đầy dẫy triền phược, ác nghiệp sâu nặng, hết thảy phiền não chưa đoạn mảy may, Tây Phương Tịnh Độ vượt khỏi tam giới, phàm phu đầy dẫy triền phược làm sao sanh về đó cho được?)

          Nêu câu hỏi: Phàm phu đầy dẫy triền phược, ác nghiệp rất sâu nặng, hết thảy phiền não chưa đoạn mảy may nào, nhưng Tây Phương Tịnh Độ là cõi thánh vượt khỏi tam giới, phàm phu đầy dẫy triền phược làm sao có thể sanh về đó cho được?

          Đây là nêu ra nghi ngờ chất vấn [về vấn đề] nhân và quả chẳng phù hợp: Chỉ cần có Hoặc Nghiệp chừng bằng mảy tóc, sẽ thọ sanh trong tam giới, chẳng có cách nào sanh vào Tịnh Độ ở ngoài tam giới được. Hiện thời, ác nghiệp sâu dầy dường ấy, phiền não chẳng đoạn tí nào, làm sao có thể sanh về cõi Tịnh Độ ở ngoài tam giới cho được? Đơn giản là chuyện viễn vông!

          Khi giải trừ [nghi vấn] này, trước hết sẽ chỉ ra, nhận thức của quý vị đối với luật nhân quả hãy còn rất hẹp hòi. Luật nhân quả không chỉ giới hạn trong nhân quả thuộc về tự lực, mà còn có nhân quả do tha lực thêm vào đó. Hơn nữa, xét theo tha lực, Phật lực đã đạt tới mức tối cao vô thượng. Nếu chỉ nói theo tự lực, đương nhiên là nhân quả chẳng phù hợp, nhưng nói theo [phương diện được] tha lực thêm vào, sẽ hết sức hợp lý. Giống như kẻ mù tịt về kiến thức khoa học, chỉ cậy vào sức mình mà toan phát minh máy bay, computer v.v… làm các chuyện thuộc về khoa học kỹ thuật, đương nhiên là nhân quả chẳng phù hợp. Kẻ đó ngay cả định luật vật lý đơn giản còn chẳng hiểu, làm sao có thể nắm vững nguyên lý khoa học phức tạp, tiến tới phát minh, khai phá cho được? Thế nhưng, dựa vào tha lực làm Tăng Thượng Duyên, kẻ mù tịt về kiến thức khoa học cũng có thể ngồi phi cơ bay lên trời xanh, có thể nghe điện thoại vượt ngoài biển thẳm và đại dương, có thể dùng computer tốc độ cao để tính toán, hoàn toàn có thể lý giải được. Cũng giống như thế, phàm phu đầy dẫy triền phược có thể phối hợp sức tín nguyện với sức oai thần của Phật mà có thể vãng sanh Tịnh Độ.

          Đối với nghi vấn này, [Trí Giả đại sư] đã chia thành ba đoạn để giải thích:

a) Trong tình hình như vậy, chỉ cậy vào tự lực sẽ chẳng thể vãng sanh, kiêm nhờ vào tha lực thì sẽ có thể vãng sanh.

b) Dựa theo luận Tỳ Bà Sa để nhận định Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo.

c) Dùng thí dụ để chứng thực.

5.1. Trong tình hình như vậy, chỉ cậy vào tự lực sẽ chẳng thể vãng sanh, kiêm nhờ vào tha lực thì sẽ có thể vãng sanh

          Đối với tình hình như thế này, phải chia ra hai loại tình huống là tự lực và tha lực. Chỉ cậy vào tự lực, sẽ chẳng thể sanh về Tịnh Độ; cậy thêm tha lực thì sẽ có thể sanh về Tịnh Độ.

          (Luận) Đáp: Hữu nhị chủng duyên, nhất giả tự lực, nhị giả tha lực. Tự lực giả, thử thế giới tu đạo, thật vị đắc sanh Tịnh Độ. Thị cố, Anh Lạc kinh vân: “Thỉ tùng cụ phược phàm phu vị thức Tam Bảo, bất tri thiện ác nhân chi dữ quả. Sơ phát Bồ Đề tâm, dĩ tín vi bổn. Trụ tại Phật gia, dĩ giới vi bổn, thọ Bồ Tát giới, thân thân tương tục, giới hạnh bất khuyết, kinh nhất kiếp, nhị kiếp, tam kiếp, thỉ chí Sơ Phát Tâm Trụ. Như thị tu hành Thập Tín, Thập Ba La Mật đẳng, vô lượng hạnh nguyện, tương tục vô gián, mãn nhất vạn kiếp, phương thỉ chí đệ lục Chánh Tâm Trụ. Nhược cánh tăng tấn chí đệ thất Bất Thoái Trụ, tức chủng tánh vị”. Thử ước tự lực, tốt vị đắc sanh Tịnh Độ.

          ()答:有二種緣,一者自力,二者他力。自力者,此世界修道,實未得生淨土。是故瓔珞經云:「始從具縛凡夫,未識三寶,不知善惡因之與果,初發菩提心。以信為本住在佛家,以戒為本受菩薩戒。身身相續戒行不闕,經一劫二劫三劫,始至初發心住。如是修行十信十波羅蜜等無量行願,相續無間滿一萬劫,方始至第六正心住。若更增進,至第七不退住,即種性位。」此約自力,卒未得生淨土。

          (Luận: Đáp: Có hai thứ duyên, một là tự lực, hai là tha lực. Tự lực là tu đạo trong thế giới này thì quả thật chưa thể sanh về Tịnh Độ được! Do đó, kinh Anh Lạc nói: “Thoạt đầu từ địa vị phàm phu đầy dẫy triền phược, chưa hiểu biết Tam Bảo, chẳng biết nhân và quả thiện ác, mới phát Bồ Đề tâm, lấy tín làm gốc, trụ trong nhà Phật, lấy giới làm gốc, thọ giới Bồ Tát, đời này liên tiếp sang đời kia, giới hạnh chẳng khuyết, trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, mới đạt đến Sơ Phát Tâm Trụ. Tu hành Thập Tín, Thập Ba La Mật v.v… vô lượng hạnh nguyện như thế liên tục, chẳng gián đoạn, trọn đủ một vạn kiếp thì mới đạt đến địa vị thứ sáu là Chánh Tâm Trụ. Nếu tăng tấn hơn, đạt tới địa vị thứ bảy là Bất Thoát Trụ, tức địa vị thuộc vào chủng tánh”. Đấy là xét theo tự lực, rốt cuộc chưa sanh về Tịnh Độ được).

          Nhân duyên thành tựu Tịnh Độ có hai loại là tự lực và tha lực. Xét theo tự lực, tu đạo trong thế giới này, [chúng sanh] ở mức độ này chẳng thể nào sanh về Tịnh Độ. Vì thế, kinh Anh Lạc đã miêu tả cụ thể tiến trình tu đạo. Tịnh Độ là quả vị xuất tam giới đặc biệt cao, nhưng phàm phu do thuộc tình trạng trọn đủ triền phược (phiền não), cậy vào sức của chính mình để phát triển từng bước, sẽ là một quá trình phải tốn thời gian rất lâu dài, đạt tới trình độ tu chứng đặc biệt cao mới vượt thoát tam giới, sanh vào Tịnh Độ. Nói cụ thể, sẽ là như thế này:

          Một phàm phu đầy đủ phiền não triền phược, thoạt đầu từ chẳng nhận biết Tam Bảo, chẳng biết thiện ác, nhân quả, sau khi gặp gỡ thiện duyên, bắt đầu quy y, tin nhân quả. Đấy là phàm phu khởi sự nhập đạo. Nhưng phải biết: Trong tâm thật sự kiến lập [niềm tin để] quy y và [thấu hiểu] nhân quả, đặc biệt khó khăn! Phải là sau khi [đã kiến lập tín tâm và sự hiểu biết] như vậy thì mới có thể phát Bồ Đề tâm, dùng tín tâm làm căn bản, mà cũng là đã chân thật phát khởi đạo tâm, tiến nhập Đại Thừa đạo. Sau đó, thọ Bồ Tát giới làm căn bản, trụ trong nhà Phật, từ đời này tiếp nối sang đời khác, giới hạnh chẳng khuyết, trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, mới đạt tới địa vị Sơ Phát Tâm Trụ. Quá trình chuyển từ cái tâm phàm phu thành cái tâm của bậc Sơ Phát Tâm Trụ rất lâu dài. Sau đấy, tu tập Thập Tín, Thập Ba La Mật v.v… vô lượng hạnh nguyện, liên tục, chẳng gián đoạn, trọn hết một vạn kiếp, mới đạt tới địa vị thứ sáu là Chánh Tâm Trụ. Lại tăng tấn đến địa vị thứ bảy là Bất Thoái Trụ. Tới đây mới được coi là “chủng tánh vị” (địa vị thuộc vào chủng tánh Phật). Có thể thấy rằng, xét theo phương diện cậy vào tự lực, rốt cuộc chẳng thể do trạng huống kém cỏi như thế mà sanh vào Tịnh Độ được! Nhìn từ trạng huống trước mắt của phàm phu, ác nghiệp rất nặng, chẳng đoạn một mảy phiền não, thậm chí còn chưa thể đè nén [phiền não] nổi. Trong tình huống này, tất nhiên là sẽ tiếp tục luân hồi, ngay cả thân người còn khó thể giữ được, làm sao có thể sanh về Tịnh Độ cho nổi?

          Xem tiếp, tuy chưa đoạn một mảy phiền não, nhưng nếu cậy thêm tha lực, tức nguyện lực đại bi của A Di Đà Phật, sẽ có thể ngay trong một đời vượt khỏi khổ luân, sanh vào Tịnh Độ ở ngoài tam giới.

          (Luận) Tha lực giả, nhược tín A Di Đà Phật đại bi nguyện lực, nhiếp thủ niệm Phật chúng sanh, tức năng phát Bồ Đề tâm, hành Niệm Phật tam-muội, yếm ly tam giới thân, khởi hành Thí, Giới, tu phước, ư nhất nhất hạnh trung, hồi nguyện sanh bỉ Di Đà Tịnh Độ, thừa Phật nguyện lực, cơ cảm tương ứng, tức đắc vãng sanh.

          ()他力者,若信阿彌陀佛大悲願力攝取念佛眾生,即能發菩提心行念佛三昧,厭離三界身。起行施戒修福,於一一行中,回願生彼彌陀淨土,乘佛願力機感相應即得往生。

          (Luận: Tha lực là nếu tin vào đại bi nguyện lực của A Di Đà Phật nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, liền có thể phát Bồ Đề tâm, hành Niệm Phật tam-muội, chán lìa cái thân trong tam giới, thực hành Thí, Giới, tu phước, trong mỗi một hạnh, đều hồi hướng nguyện sanh về cõi Di Đà Tịnh Độ kia, nương vào nguyện lực của Phật, cơ cảm tương ứng, liền được vãng sanh).

          Xét theo trạng huống của tha lực, dẫu là phàm phu đầy dẫy triền phược, nhưng do có đủ nội hàm Tín, Nguyện, Hạnh, tương ứng với Phật lực, thì sẽ được vãng sanh. Nói đến Tín thì chủ yếu là tin tưởng vào đại bi nguyện lực của A Di Đà Phật có thể nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật. Vì thế, một dạ gieo mình vào biển nguyện của Phật Di Đà. “Nguyện” là tùy sức phát tâm xuất ly, Bồ Đề tâm dẫn về Tịnh Độ. Cũng là phát khởi cái tâm “ta muốn thành Phật”, chán lìa cái thân trong tam giới, mong sanh về Tịnh Độ ở ngoài tam giới. Đối với mỗi loại thiện hạnh đã hành như Thí, Giới, tu tam phước, đều hồi hướng nguyện vãng sanh Di Đà Tịnh Độ. Đấy là nội dung của Nguyện. Hành Niệm Phật tam-muội, vì để vãng sanh thành Phật mà nhất tâm niệm A Di Đà Phật. Đã có nội hàm ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh, sẽ có thể cảm ứng Phật, được Phật lực nhiếp trì, bèn sanh vào thế giới Cực Lạc. Đấy là tình hình nơi tha lực.

5.2. Dựa theo luận Tỳ Bà Sa để nhận định Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo

          (Luận) Thị cố Thập Trụ Bà Sa Luận vân: “Ư thử thế giới tu đạo, hữu nhị chủng, nhất giả Nan Hành Đạo, nhị giả Dị Hành Đạo. Nan Hành giả, tại ư ngũ trược ác thế, ư vô Phật thời cầu A Bệ Bạt Trí, thậm nan khả đắc. Thử nan vô số trần sa, thuyết bất khả tận. Lược trần hữu ngũ”.

()是故十住婆沙論云:「於此世界修道有二種,一者難行道,二者易行道。難行者,在於五濁惡世,於無佛時,求阿裨跋致甚難可得。此難無數塵沙說不可盡,略陈有

          (Luận: Do vậy, Thập Trụ Bà Sa Luận viết: “Tu đạo trong thế giới này có hai loại, một là đạo khó hành, hai là đạo dễ hành. Khó hành là ở trong đời ác ngũ trược, nhằm lúc không có Phật mà cầu Bất Thoái Chuyển, rất khó thể đạt được. Sự khó khăn này [dẫu sánh ví nhiều] như vô số bụi cát, vẫn chẳng thể nói trọn hết được. Trần thuật đại lược thì có năm điều”).

          Như trong phần trên đã nói, có hai phương thức tu hành là chỉ cậy vào tự lực và [tự lực] cậy thêm Phật lực! Vì thế, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận có nói: Tu đạo trong thế giới này hòng đạt Bất Thoái Chuyển thì có hai loại là Nan Hành Đạo và Dị Hành Đạo. “Nan hành” (Khó hành) là nói trong đời ác ngũ trược, nhằm thời kỳ không có Phật, cầu Bất Thoái Chuyển đặc biệt khó thể thành tựu. Những chỗ khó khăn nhiều lắm, dẫu dùng số lượng lớn như vô số trần sa [để sánh ví] vẫn chẳng thể nói trọn hết được. Nếu với mỗi điều đều nêu cặn kẽ sự khó khăn này, sự khó khăn nọ, đúng là ngàn muôn nỗi khó khăn, có vô số khó khăn. Ở đây, trần thuật giản yếu năm chỗ khó khăn:

(Luận) Nhất giả, ngoại đạo tương thiện, loạn Bồ Tát pháp.

(論)一者外道相善,亂菩薩法

(Luận: Một là ngoại đạo đem những “điều lành” làm loạn pháp Bồ Tát).

          Một là trong chánh pháp của đức Phật, Tiểu Thừa có ba pháp ấn là Vô Thường, Vô Ngã, Tịch Diệt, Đại Thừa có một pháp ấn là Thật Tướng, một mực tu hành, ắt đều đạt được thánh quả. Ngoại đạo chẳng vậy, mê hoặc, tà kiến. Những điều họ nói là tương tự thiện, chẳng phải là thiện chân thật, dùng tà loạn chánh. Ai chẳng thể phân biệt, biện định, sẽ trở thành nhân duyên chướng đạo rất sâu, phá hoại Bồ Tát pháp của người ta.

          (Luận) Nhị giả, vô lại ác nhân, phá tha thắng đức.

          ()二者無賴惡人,破他勝德。

          (Luận: Hai là kẻ ác vô lại phá hoại đức thù thắng của người khác).

          Hai là trong đời ô trược, kẻ ác trông thấy người tu đạo sẽ chẳng giúp cho họ thành tựu, mà ngược ngạo tuyên nói những lời gièm chê, báng bổ, phá hoại, hủy báng, [đấy] cũng là [người tu đạo] bị kẻ ác nhiễu loạn.

          (Luận) Tam giả, điên đảo thiện quả, năng hoại phạm hạnh.

                ()三者顛倒善果,能壞梵行。

          (Luận: Ba là điên đảo thiện quả có thể phá hoại phạm hạnh).

          Chữ “thiện quả” chỉ quả báo nhân thiên, hoàn toàn chẳng phải là vô lậu thiện. Tạm thời hưởng vui, rốt cuộc rơi vào khổ thì gọi là “điên đảo”. Trong thế gian này, thường có những kẻ chấp lấy phước báo nhân thiên, phá hỏng pháp hạnh xuất thế tiến hướng Niết Bàn tịch tĩnh!

          (Luận) Tứ giả, Thanh Văn tự lợi, chướng ư đại từ.

          ()四者聲聞自利,障於大慈。

          (Luận: Bốn là Thanh Văn do tự lợi mà chướng ngại lòng đại từ).

          Thường bị rơi vào tự lợi, đấy chính là sự tác ý chủ yếu của hàng Tiểu Thừa, chướng ngại tâm đại từ bi dấy khởi.

          (Luận) Ngũ giả, duy hữu tự lực, vô tha lực trì.

   ()者唯有自力,無他力持。

   (Luận: Năm là chỉ có tự lực, chẳng có tha lực nhiếp trì).

          Dẫu tiến nhập hạnh Đại Thừa, nhưng vì khuyết thiếu tha lực, chỉ cậy vào tự lực, lại có rất nhiều chỗ khó khăn, chính mình chẳng thể làm chủ, có thể đi vào ngõ rẽ, chẳng có sức giúp đỡ, khó thể khai phát v.v…

          (Luận) Thí như bả nhân bộ hành, nhất nhật bất quá sổ lý, cực đại tân khổ, vị tự lực dã.

          ()譬如跛人步行,一日不過數,極大辛苦,謂自力也。

          (Luận: Ví như người thọt chân đi bộ, một ngày bất quá được vài dặm, tột cùng khó nhọc, đó là nói đến tự lực vậy).

          Cũng giống như vậy, sẽ gặp phải ngoại đạo chướng, phàm phu chướng, Tiểu Thừa chướng, duy tự lực chướng (chướng ngại do chỉ cậy vào tự lực). Giống như một người thọt chân tập tễnh muốn đi đường rất xa, một ngày chẳng đi được mấy dặm, đặc biệt vất vả. Đó gọi là “tự lực”.

          (Luận) Dị Hành Đạo giả, vị tín Phật ngữ, giáo Niệm Phật tam-muội, nguyện sanh Tịnh Độ, thừa Di Đà Phật nguyện lực nhiếp trì, quyết định vãng sanh bất nghi dã. Như nhân thủy lộ hành, tạ thuyền lực cố, tu du tức chí thiên lý, vị “tha lực” dã. Thí như liệt phu tùng Chuyển Luân Vương, nhất nhật nhất dạ, châu hành Tứ Thiên Hạ, phi thị tự lực, Chuyển Luân Vương lực dã.

          ()易行道者,謂信佛語,教念佛三昧,願生淨土。乘彌陀佛願力攝持,決定往生不疑也。如人水路行,藉船力故須臾即至千里,謂他力也。譬如劣夫從轉輪王,一日一夜周行四天下,非是自力,轉輪王力也。

          (Luận: Đạo dễ hành tức là tin tưởng lời đức Phật dạy Niệm Phật tam-muội, nguyện sanh về Tịnh Độ, nương vào nguyện lực của Phật Di Đà nhiếp trì, quyết định vãng sanh, chẳng ngờ chi. Như người đi đường thủy, nhờ vào sức thuyền, nên trong khoảnh khắc có thể đến ngàn dặm, đấy gọi là “tha lực”. Ví như kẻ kém cỏi, do theo Chuyển Luân Vương, trong một ngày một đêm có thể đi trọn khắp Tứ Thiên Hạ, chẳng phải là tự lực, mà là do sức của Chuyển Luân Vương).

           “Dị Hành Đạo” là nói tới chuyện tin nhận pháp môn Niệm Phật tam-muội do đức Phật đã dạy, nguyện sanh về Tịnh Độ, nương vào nguyện lực của A Di Đà Phật nhiếp trì, quyết định vãng sanh, chẳng ngờ chi nữa! Trong đó, “tin lời Phật” là nói đã trọn đủ Tín, “nguyện sanh” là trọn đủ Nguyện, “thừa Di Đà Phật nguyện lực nhiếp trì” chính là sức tín nguyện kết hợp với Phật lực, “quyết định vãng sanh” là nói tới cái quả sanh vào Tịnh Độ. Đây là chỉ dạy rành rẽ hành tướng của Dị Hành Đạo: Bản thân chỉ cần có đủ tín nguyện, do Phật lực gia bị, chắc chắn sẽ đạt được cái quả sanh về cõi Tịnh Độ thù thắng nhiệm mầu, có thể thấy chỗ sai khác vời vợi so với Nan Hành Đạo. Giống như người theo đường thủy, do mượn dùng sức thuyền, cho nên trong giây lát có thể đi được ngàn dặm. Đấy là tha lực.

          Dùng thí dụ để nói thì ví như có một người hết sức gầy gò, yếu ớt, chẳng có một tí năng lực gì, nhưng người ấy đi theo Chuyển Luân Vương, vì Ngài có đủ đức tướng tín, nguyện v.v… Người ấy bằng lòng quy phục, theo hầu Chuyển Luân Vương. Chuyển Luân Vương do lòng từ bi có thể dẫn người ấy theo. Nếu người ấy đã không tin, lại chẳng nguyện, dẫu có năng lực to lớn như chư thiên, Chuyển Luân Vương cũng chẳng dẫn người ấy theo. Nếu năng lực nhỏ yếu, chỉ cần có lòng tín thuận, có đức phát nguyện, mong muốn, sẽ được Chuyển Luân Vương nhiếp thọ, được dẫn lên Luân Bảo, trong một ngày, một đêm, có thể dạo trọn khắp Tứ Thiên Hạ. Đấy chẳng phải là sức mình, mà là do sức của Chuyển Luân Vương. Điều này hiển thị tướng trạng của tha lực.

5.3. Dùng thí dụ để chứng thực

          (Luận) Nhược ngôn hữu lậu phàm phu bất đắc sanh Tịnh Độ giả, diệc khả hữu lậu phàm phu ưng bất đắc kiến Phật thân. Nhiên Niệm Phật tam-muội, tịnh vô lậu thiện căn sở khởi. Hữu lậu phàm phu, tùy phần đắc kiến Phật thân thô tướng dã, Bồ Tát kiến vi tế tướng, Tịnh Độ diệc nhĩ, tuy thị vô lậu thiện căn sở khởi, hữu lậu phàm phu phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, cầu sanh Tịnh Độ, thường niệm Phật cố, phục diệt phiền não, đắc sanh Tịnh Độ, tùy phần đắc kiến thô tướng, Bồ Tát kiến vi diệu tướng, thử hà sở nghi? Cố Hoa Nghiêm kinh thuyết: “Nhất thiết chư Phật sát, bình đẳng phổ nghiêm tịnh, chúng sanh nghiệp hạnh dị, sở kiến các bất đồng”, tức kỳ nghĩa dã.

          ()若言有漏凡夫不得生淨土者,亦可有漏凡夫應不得見佛身。然念佛三昧並無漏善根所起,有漏凡夫隨分得見佛身相也,菩薩見微細相。淨土亦爾,雖是無漏善根起,有漏凡夫發無上菩提心,求生淨土,常念佛故伏滅煩惱,得生淨土,隨分得見相,菩薩見微妙相,此何所疑?故華嚴經說:「一切諸佛剎,平等普嚴淨,眾生業行異,所見各不同。」即其義也。

          (Luận: Nếu nói phàm phu hữu lậu chẳng được sanh vào Tịnh Độ, lẽ ra phàm phu hữu lậu cũng sẽ chẳng trông thấy thân Phật. Nhưng Niệm Phật tam-muội hoàn toàn do vô lậu thiện căn dấy lên. Phàm phu hữu lậu tùy phần được thấy thô tướng nơi thân Phật, Bồ Tát thấy tướng vi tế. Tịnh Độ cũng thế, tuy do vô lậu thiện căn dấy khởi, nhưng phàm phu hữu lậu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, cầu sanh Tịnh Độ, do thường niệm Phật, chế phục, diệt trừ phiền não, được sanh về Tịnh Độ, tùy phần được thấy thô tướng, Bồ Tát thấy tướng vi diệu, chuyện này có gì đáng nghi? Do đó, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết các cõi Phật bình đẳng, trang nghiêm, thanh tịnh trọn khắp, do nghiệp hạnh của chúng sanh sai khác mà mỗi người thấy mỗi khác”, chính là nói về ý nghĩa này vậy).

          Đây là dùng chánh báo để suy ra y báo. Nếu nói phàm phu hữu lậu chẳng thể sanh vào Tịnh Độ, vậy thì nói theo cùng một lý, lẽ ra phàm phu hữu lậu cũng sẽ chẳng thể thấy thân Phật! Thế nhưng, tuy Niệm Phật tam-muội do thiện căn vô lậu dấy khởi, nhưng phàm phu hữu lậu có thể tùy phần trông thấy thô tướng nơi thân Phật, còn Bồ Tát có thể thấy tế tướng nơi thân Phật. Cùng một lý mà suy, tuy Tịnh Độ do thiện căn vô lậu dấy khởi, nhưng phàm phu hữu lậu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề cầu sanh Tịnh Độ, do thường niệm Phật, có thể chế phục, diệt trừ phiền não, được sanh về Tịnh Độ, sẽ tùy phần thấy thô tướng của Tịnh Độ, Bồ Tát thấy tướng vi tế; chuyện này có gì đáng để hoài nghi? Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy các cõi Phật bình đẳng, thanh tịnh, trang nghiêm, chúng sanh do nghiệp hạnh khác biệt mà mỗi người thấy khác nhau”. Phàm phu vãng sanh thấy thô tướng, Bồ Tát vãng sanh sẽ thấy tế tướng. Do được Phật lực gia bị, hữu lậu phàm phu cũng có thể sanh về Tịnh Độ.

          Tóm lại, nếu chỉ nhìn theo tự lực, phàm phu đầy dẫy triền phược sẽ chẳng thể sanh về Tịnh Độ ở ngoài tam giới vì chưa đoạn Hoặc nghiệp. Nhưng do pháp môn này kiêm cậy vào tha lực, do thần lực của Phật chẳng thể nghĩ bàn, kẻ có đủ tín nguyện niệm Phật chắc chắn sẽ có thể vãng sanh.

Pages: 1 2 3

CHÚ THÍCH

  1. Khenpo là một danh xưng cao quý trong Phật giáo Tây Tạng, gần như tương đương với danh xưng Hòa Thượng. Trong truyền thống Tây Tạng, người được mang danh xưng này phải theo học Phật học tối thiểu mười ba năm tại các Phật Học Viện lớn và đậu các kỳ sát hạch nghiêm ngặt. Để được công nhận là một Khenpo, tăng sinh phải có khả năng diễn giảng và bảo vệ các luận điểm của mình trong các cuộc tranh luận trên tối thiểu năm khoa mục chủ yếu của Đại Thừa tức Bát Nhã, Trung Quán, Giảo Lượng, A Tỳ Đạt Ma, và Luật Tạng.
  2. Nguyên văn “亦如人乘上轮船迅速达到信心之地那样.
  3. Đúng ra, pháp danh của Tổ phải là Trí Nghĩ (智顗), nhưng do từ trước đến nay các sách vở thường phiên âm tên Ngài là Trí Khải, nên chúng tôi vẫn vâng theo thói quen xưa nay.
  4. Cha Ngài là Trần Khởi Tổ, giỏi chữ, lại có tài quân sự. Khi Tiêu Dịch làm thứ sử Kinh Châu, ông Trần Khởi Tổ đã làm mạc khách (cố vấn). Khi Tiêu Dịch trở thành Lương Nguyên Đế, đã phong cho ông Trần làm Ích Dương Huyện Khai Quốc Hầu, nên thường gọi là Ích Dương Hầu.
  5. Trần Thiếu Chúa chính là Trần Hậu Chủ (tức Trần Thục Bảo) là vua cuối cùng của nhà Nam Trần thời Nam Bắc Triều. Trần Hậu Chúa là vị vua ham mê tửu sắc, giỏi văn chương, thích đạo Phật, thích nghe pháp, nhưng không nghiêm túc tu tập. Năm 589, kinh đô Kiến Khang (Nam Kinh) của nhà Trần bị rơi vào tay quân đội nhà Tùy, nhà Trần diệt vong. Ông được Tùy Văn Đế (Dương Kiên) quản thúc tại kinh thành Trường An của nhà Tùy và đối đãi tử tế cho đến khi chết.
  6. Theo bộ Thiên Thai Cửu Tổ Truyện do ngài Sĩ Hành biên soạn vào đời Nam Tống, Trí Giả đại sư nhập định trên núi Ngọc Tuyền, bỗng thấy Quan Vũ (Quan Vân Trường, Quan Công) hiện ra cầu xin được truyền Tam Quy Ngũ Giới, và thề sẽ hộ trì đạo tràng của tông Thiên Thai. Do vậy, tông Thiên Thai khởi sự thờ Quan Công làm thần hộ pháp, và gọi ngài là Già Lam Bồ Tát. Từ đó, các tông phái khác cũng thờ Quan Công như vị đứng đầu các vị Già Lam Bồ Tát trong chùa.
  7. Thập Trụ Tỳ Ba Sa Luận (Daśabhūmika-vibhāsā-śāstra), còn gọi là Thập Trụ Luận, do ngài Long Thọ trước tác để chú giải phẩm Thập Trụ của kinh Hoa Nghiêm (tuy dịch là Thập Trụ, nhưng nội dung thật sự là địa vị Thập Địa). Tông Hoa Nghiêm tin rằng: Sau khi đem kinh Hoa Nghiêm từ long cung về, Long Thọ Bồ Tát đã viết Đại Bất Tư Nghị Luận để chú giải bộ kinh ấy gồm mười vạn bài tụng, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận chỉ là một phẩm trong bộ luận ấy. Bộ luận này được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán vào đời Diêu Tần gồm mười sáu quyển.
  8. Trung Luận (Mūlamadhyamakakārikā) còn gọi là Trung Quán Luận, Trung Quán Tụng, hay Trung Quán Căn Bản Luận, là một tác trước tác quan trọng nhất của ngài Long Thọ, được coi là giáo điển căn bản của học phái Trung Quán. Tam Luận Tông của Phật giáo Trung Hoa đã được sáng lập dựa theo các giáo nghĩa trong Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận và Bách Luận. Trung Luận được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, có khá nhiều bản chú giải. Trong Hán Tạng, tối thiểu là có bảy bản dịch các tác phẩm chú giải bộ luận này như bản chú giải của các vị Thanh Mục, Vô Trước, An Huệ v.v…
  9. Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh là tên gọi tắt của bộ kinh Phật Thuyết Quán Đảnh Tùy Nguyện Vãng Sanh Thập Phương Tịnh Độ Kinh, tức là quyển thứ mười một của Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh do ngài Thi Lê Mật Đa La dịch vào thời Đông Tấn. Kinh nói đến danh hiệu các vị Phật và Tịnh Độ của các Ngài, khuyên đại chúng hãy phát nguyện vãng sanh.
  10.  Mỗi danh hiệu Phật là tên gọi của một đức hạnh; do vậy, niệm danh hiệu hết thảy các vị Phật chính là nghĩ tưởng hết thảy các đức hạnh của tự tâm.